Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận: Tô Phạm Liệu: Người Trở Lại Charlie

thoibao.com

Tuấn Hoàng

Post on 25/04/2020

Bác sĩ Phạm Anh Dũng

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Lật qua tờ nhật báo Người Việt ngày 5 tháng 10 năm 1997, một tin cáo phó làm tôi giật mình chú ý đọc ngay: “… Tô Phạm Liệu (1941-1997) Y Sĩ Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù…đã không còn với chúng ta kể từ 29 tháng 9 năm 1997…”

Vậy là anh Liệu đã từ giã cõi đời này! Hình ảnh của Tô Phạm Liệu trở về từ dĩ vãng xa xưa.

Lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu đã lâu lắm rồi, gần 28 năm trước đây. Ngày đó, vừa học xong lớp Y Khoa Năm Thứ Nhất ở trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, tôi và một số khá đông bạn bè cùng lớp rủ nhau nộp đơn, đi thi và đỗ vào trường Quân Y.

Tháng 1, 1970, vào ngày nhập ngũ, chúng tôi rủ nhau nao nức đi trình diện ở trường Quân Y. Một đám sinh viên Y Dược Nha đến và được tập trung ở cổng trường, chỗ gần trạm kiểm soát ra vào. Chúng tôi đều là tân sinh viên quân y. Người đầu tiên ra gặp chúng tôi mặc quân phục xanh bộ binh. Ở cầu vai, anh đeo lon trung úy, hai bông mai vàng trên một nền nhung đỏ thẫm. Ở ngực áo, có dấu hiệu con rắn vàng của ngành quân y, và dấu hiệu một cánh dù màu xám, bằng nhảy dù. Thoáng gặp anh, chúng tôi phải để ý ngay, vì anh là một người có tầm vóc đáng kể, vừa to vừa cao trông như một “ông hộ pháp.”

Không cười đón niềm nở chút nào và với giọng nói to, vang vang trong buổi chiều nắng gió, anh tự giới thiệu. Rất ngắn và gọn, anh cho biết anh tên là Tô Phạm Liệu, sinh viên sĩ quan quân y năm thứ sáu, được cấp trên đề cử làm Sinh Viên Sĩ Quan Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên.

Anh Liệu dẫn khoảng bốn năm chục người chúng tôi vào một sân rộng lớn có một cột cờ với lá cờ vàng ba sọc đỏ khá cao, Vũ Đình Trường của Trường Quân Y. Và ở đó đã có thêm hai sinh viên sĩ quan quân y khác đứng chờ sẵn. Chúng tôi được lệnh xếp hàng. Rồi ba ông đàn anh dẫn chúng tôi chạy vòng quanh sân cờ, cho đến khi tất cả hầu như hết sức lực, khi một người trong hàng đã phải ngất xỉu.

Đó là kinh nghiệm đầu tiên của đa số chúng tôi đối với quân đội. Lần hành xác này để mở đầu cho Tám Tuần Lễ Huấn Nhục của Đại Đội Tân Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y. Đối với những “thư sinh trói gà không chặt” mà còn “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, chỉ biết việc sách đèn, đây quả là một thử thách khá lớn lao. Đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu.

Trong tám tuần lễ của “mồ hôi, nước mắt” chúng tôi được các đàn anh của các khóa trước “chỉ dậy” một cách rất tận tình bằng mọi cách. Chúng tôi học qua căn bản quân sự, căn bản thao diễn. Và mọi người được thay nhau tập hít đất, tập thở, tập chạy, tập cười… theo lệnh các huynh trưởng.

Các đàn anh chia ra làm từng toán ba người. Anh Tô Phạm Liệu đích thân làm trưởng một toán. Mỗi toán có nhiệm vụ hướng dẫn các tân sinh viên một ngày. Riêng anh Liệu, hình như ngày nào cũng có mặt để quan sát các hoạt động, tiến triển trong việc huấn luyện các tân sinh viên Quân Y. Anh Tô Phạm Liệu rất tận tâm bỏ khá nhiều thì giờ vào việc dẫn dắt đàn em mới nhập ngũ. Những người nào có vẻ lười biếng công việc tập tành thật khó qua khỏi mắt của đàn anh. Ai đau thật hay chỉ ốm giả anh cũng biết. Hình như anh biết rõ về bản chất, tính tình của từng người một. Anh là người gần gũi với chúng tôi nhất trong những ngày đầu tiên khi mới gia nhập quân ngũ.

Sinh hoạt với anh một thời gian ngắn, chúng tôi nhận thấy ngay ngoài “cái vỏ” lạnh lùng nghiêm nghị của anh còn có một bề trong khác hẳn với một tâm hồn đầy tình cảm và hiểu biết. Anh Liệu thường là người thấu hiểu gần như mọi chuyện xẩy ra trong đại đội tân sinh viên quân y và thường giải thích hay giải quyết, thường là bằng tình cảm, những vấn đề khó khăn hay khó nói nhất. Nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn đôi khi làm anh có vẻ khó khăn và khô khan. Nhưng những lúc nói chuyện với anh Liệu trong khi rảnh rang đã làm chúng tôi thấy anh là một người rất nhiều tình cảm, rộng lượng và rất thương mến những anh em trong gia đình Y Dược Nha trong ngành Quân Y. Một điều đặc biệt nhất là Tô Phạm Liệu nói chuyện rất hay, rất lôi cuốn người nghe, nhất là những khi anh đứng trước hàng quân. Tôi được biết anh đã là một huynh trưởng trong ngành Hướng Đạo Việt Nam. Việc anh giỏi về diễn thuyết hay chỉ huy là do đã có kinh nghiệm từ lâu.

Nhiệm vụ khó khăn của anh trong sự hướng dẫn chúng tôi có được những khái niệm ban đầu về Quân Đội rồi cũng thành công. Tất cả đám tân sinh viên Y Nha Dược đều qua khỏi tám tuần lễ huấn nhục gian lao. Chúng tôi sau lễ gắn alpha, trở thành những sinh viên Quân Y hiện dịch thực thụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đêm hôm gắn alpha, anh có nói chuyện riêng khá cảm động với một vài người chúng tôi. Anh cho biết anh rất hài lòng với kết quả, đồng thời cũng nhắn nhủ công chuyện tương lai. Tô Phạm Liệu có nói, ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu rõ đàn anh hơn khi đứng ra hướng dẫn những đàn em sau này. Riêng tôi, về sau này tôi rất thông cảm anh vì chính bản thân lại “được” cử ra làm nhiệm vụ của anh, dẫn dắt các tân sinh viên quân y, khi khóa sinh viên sĩ quan của chúng tôi trở thành khóa đàn anh lớn nhất trong trường Quân Y.

Năm 1970, chúng tôi gia nhập Quân Y, cũng là năm khóa 17 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y của anh Liệu sắp ra trường. Năm 1971, khi chọn đơn vị, anh Liệu chọn binh chủng Nhảy Dù và nhiệm sở đầu tiên là một tiểu đoàn nhảy dù. Tô Phạm Liệu đã chính thức trở thành y sĩ của một tiểu đoàn tác chiến binh chủng nhảy dù, đúng như ý định của anh.

Những ngày tháng ngay sau đó, tôi rất ít gặp anh Liệu. Chúng tôi ở lại hậu phương hoàn tất công chuyện học hành ở những trường Y Nha Dược. Anh Liệu và các anh khác tản mác trong những đơn vị của quân đội khắp bốn vùng chiến thuật. Tôi chỉ gặp lại anh Liệu một hai lần trong một khoảng thời gian độ một năm trời khi anh về ghé thăm trường Quân Y trong những dịp nghỉ phép. Những ngày đó anh vẫn cao lớn và đội mũ đỏ, mặc quần áo rằn ri nhảy dù trông rất oai hùng. Chúng tôi chỉ có dịp nói chuyện chào hỏi chút ít và tôi được biết là anh đã trải qua khá nhiều thử thách ngoài mặt trận.

Rồi… đến một ngày tháng, vào một nơi… của định mệnh:

Thời điểm năm 1972, mùa Hè nắng cháy.

Địa điểm là Charlie, Cao Nguyên Nam Việt Nam.

Tôi được nghe đến, được biết và được hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn.

Bốn năm trước đó, năm 1968, vào dịp bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ cũng là khi Bắc Việt cho tổng tấn công và thất bại trên các chiến địa Tết Mậu Thân. Tuy Cộng Sản thất bại nặng nề trên bình diện quân sự, nhưng phải công nhận họ đã gây ảnh hưởng khá mạnh trong việc tuyên truyền chính trị. Hình ảnh chiến tranh tại Việt Nam, một nơi xa xôi ở bên kia nửa quả địa cầu, được người dân Mỹ chứng kiến mỗi ngày, ngay tại nhà riêng, qua hệ thống vô tuyến truyền hình. Dân chúng Hoa Kỳ đã bắt đầu chán sợ cuộc chiến tranh đẫm máu và dai dẳng. Đầu óc thực tế của họ nghe nhiều đến số tiền đã và phải trang trải thêm cho cuộc chiến. Hình ảnh quan tài những quân nhân Hoa Kỳ chết ở Việt Nam đem về Mỹ được chiếu rõ trên truyền hình, làm nao núng cả quốc gia. Các phong trào phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh hơn. Các ứng cử viên Tổng Thống Mỹ đều biết rõ tầm quan trọng của việc cần phải chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam.

Năm 1972, cũng lại là năm bầu cử Tổng Thống Mỹ . Do đó, thêm một lần nữa, Bắc Việt muốn có tiếng vang vọng với bất cứ giá nào. Đại Tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp còn nghĩ là có thể chiếm đoạt miền Nam vào lúc này.

Cũng như Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã “thí quân”, quyết định tấn công với ba mặt trận lớn đã bùng nổ vào mùa Hè 1972.

Thứ nhất: Mặt Trận Giới Tuyến tại vùng Phi Quân Sự. Việt Cộng đã bất chấp tất cả mọi ký kết của chính họ ở Hiệp Định Genève 1954. Họ cho hai Sư Đoàn 304 và 308, tăng phái bởi bốn Trung Đoàn Đặc Công với hơn 200 chiến xa của Trung Đoàn 203 và 204 cộng thêm ba Trung Đoàn Pháo Binh, vượt khu Phi Quân Sự đánh chiếm Quảng Trị. Cùng lúc đó, Sư Đoàn 324B và hai Trung Đoàn đặc biệt 5 và 6 đến xâm nhập Huế. Còn Sư Đoàn 711 Cộng Quân thì quấy phá Đà Nẵng.

Thứ hai: Mặt Trận Biên Giới chiếm đánh Lộc Ninh, An Lộc do các Sư Đoàn Cộng Sản 5, 7 và 9 cùng với hơn 200 xe thiết giáp. Trong khi đó, Sư Đoàn 1 Bắc Việt quấy rối vùng Đồng Bằng Cửu Long để cầm bớt quân đội Việt Nam lại vùng IV chiến thuật.

Thứ ba: Mặt Trận Cao Nguyên thì có hai Sư Đoàn 2 và 320 với một trung đoàn chiến xa đánh chiếm vùng Kontum, Pleiku. Đồng thời, Sư Đoàn 3 Cộng Sản đánh vùng Bình Định. Tại Cao Nguyên, Tướng Võ Nguyên Giáp mưu định cắt miền Nam thành hai mảnh.

Thời điểm là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Địa điểm là Charlie của Chiến Trường Cao Nguyên.

Trong quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam “Mùa Hè Đỏ Lửa,” Phan Nhật Nam đã viết trong đoạn đầu tiên “Charlie, tên nghe quá lạ:”

“Quả tình nếu không có trận chiến mùa hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie hay Cải Cách hay [C] đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Poko và đường 14, Đông Bắc là Tân Cảnh, với 12 cây số đường chim bay, Đông Nam là Kontum thị trấn cực Bắc của vùng Tây Nguyên… Charlie lọt giữa bị bao vây bởi căn cứ 5, căn cứ 6, ở phía Bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngỏ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa “mưa rào”, báo chí hàng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống miền núi non xương sườn cực Tây của quê hương Việt Nam…

Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa của 1971 qua đầu xuân của 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua hai cửa ngỏ. Căn cứ 5, Căn cứ 6… Cộng quân đổi hướng tiến lòn sâu xuống phía nam của 2 căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt đường 14…”

Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù được cử đến lập một vòng đai để giữ những yếu điểm trong vùng quanh Quốc Lộ 14 và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù có nhiệm vụ đóng giữ Charlie. Vào ngày 2 tháng 4, Tô Phạm Liệu, người y sĩ của tiểu đoàn và cũng là một sĩ quan nhảy dù, đã được thả đến Charlie cùng với Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Đây là tiểu đoàn nhảy dù mới nhất của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.

Sau đó, tại Charlie, một trận đánh oai hùng và bi thương của người lính nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đã xẩy ra.

Lúc bấy giờ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù là Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tốt nghiệp khóa 14 Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trung Tá Bảo là một sĩ quan chỉ huy rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ông gia nhập Nhảy Dù ngay sau khi ra trường võ bị, đã tham dự nhiều trận chiến khốc liệt, đã chiến thắng nhiều và đã bị thương hai lần ở mặt trận.

Tuy vậy, lần này Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù bị hơn một sư đoàn Bắc Việt bao vây. Đó là Sư Đoàn 320 có mang danh là Sư Đoàn Điện Biên và cũng được gọi là Sư Đoàn Thép tăng phái thêm Trung Đoàn 64 của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản. Trước chiến lược thí quân của Bắc Việt, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù và Trung Tá Nguyễn Đình Bảo trở nên “hổ trong lồng.”

Ngày 11 tháng 4, Cộng Sản sửa soạn tấn công. Hàng trăm quả pháo rót vào Charlie kể cả đại pháo 130 ly với đạn xuyên phá “delay” Đây là loại đạn đặc biệt nguy hiểm, không nổ ngay khi chạm đất, mà sẽ nổ sau khi đã xuống dưới mặt đất khoảng hơn một thước, để tàn phá những hầm trú ẩn.

Ngày 12 tháng 4, Cộng Quân tiến đánh. Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù kể cả Bác Sĩ Quân Y Tô Phạm Liệu đã quần thảo với lính Cộng của Sư Đoàn Điện Biên. Họ đã đổ máu để tranh thủ từng thước đất.

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, nhiều sĩ quan và binh sĩ nhảy dù đã hy sinh tại mặt trận.

Ngày 15 tháng 4, 1972 Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã. Chính bản thân Tô Phạm Liệu cũng bị thương ở chân. Tô Phạm Liệu và Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó đã dẫn một nhóm nhỏ còn lại và các thương binh rút khỏi Charlie. Và nhóm này cuối cùng được trực thăng “bốc” đi thoát. Một số khác chạy bộ băng rừng về.

Xác chết của nhiều quân nhân và của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã không đem được về và đành để lại Charlie.

Nhiều chiến sĩ nhảy dù đã anh dũng “ở lại” Charlie.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sau đó cảm xúc sự hy sinh của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo và những chiến sĩ nhảy dù khác tại mặt trận Charlie đã sáng tác “Người Ở Lại Charlie”, một bản nhạc khá hay và cảm động:

“Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.

Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí.

Vâng, chính anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng.

Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.

Anh! Vâng, chính anh là loài chim quí.

Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý, một lần dậy cánh bay, người để cho người nước mắt trên tay…”

Sự kiện Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Charlie, khi bị hơn một Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt tấn công với đại pháo và chiến xa, là chuyện dĩ nhiên phải xẩy ra. Nhưng điều quan trọng hơn là sự hy sinh dũng cảm của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Những chiến sĩ nhảy dù đã gây tổn thất nặng cho đối phương và làm ảnh hưởng nhiều đến tinh thần của Cán Binh Bắc Việt.

Tuy là ngay sau đó, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù phải bỏ cả Tân Cảnh về Kontum. Tuy là các Sư Đoàn Bắc Việt kiểm soát được Quốc Lộ 14. Tuy là họ đã bao vây thành phố Cao Nguyên Kontom. Tuy là họ dốc toàn lực đánh Kontum hai lần ngày 14 tháng 5 và ngày 25 tháng 5. Nhưng họ vẫn thất bại. Cuối cùng Cộng Sản Việt Nam vẫn không đạt được mục tiêu vào năm 1972 và phải rút lui tại mặt trận miền Cao Nguyên.

Mặt Trận Biên Giới nổ lớn tại An Lộc-Bình Long. Bộ Đội Cộng Sản hàng hàng, lớp lớp, “biển người”, được yểm trợ bởi hàng trăm chiến xa tối tân và đại bác hỏa tiễn hùng hậu, tràn ngập mặt trận. Nhưng họ đã phải đứng khựng lại ở quận An Lộc, cứ điểm quan trọng ngăn cản đường tiến của Bắc Quân đến Quốc Lộ 13 để về “giải phóng” Sài Gòn. Trong khoảng 100 ngày, gần 60 ngàn quả đại bác đã bắn vào độ một cây số vuông của quận lỵ nhỏ bé An Lộc. Năm lần Việt Cộng đã mở những cuộc tấn công. Cả năm lần Bắc Quân phải chùn bước. Người hùng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng và các lực lượng phòng thủ, với sự phụ lực của Đại Tá Lê Quang Lưỡng và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ, đã cho Bắc Việt một bài học cay đắng: họ cho tướng Võ Nguyên Giáp biết thế nào là “tử thủ”. Ngày 8 tháng 6, 1972 Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tiến vào thành phố, đã “bắt tay” được với tiểu đoàn nhảy dù”bạn”, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù là đơn vị đã được trực thăng vận đến An Lộc mấy ngày trước.

An Lộc hoang tàn. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững…

An Lộc đẫm máu. An Lộc đầy lửa khói. Nhưng An Lộc vẫn còn…

Cuối cùng Bắc Quân phải rút lui.

Mặt Trận Vùng Hỏa Tuyến: ngay những ngày đầu tiên Việt Cộng đã tràn ngập Quảng Trị và Sư Đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam sau đó phải tan rã chạy về phía Nam. Dân chúng Quảng Trị ghét sợ Cộng Sản chạy theo quân. Hỗn loạn! Kinh hoàng! Nơi nơi máu đổ nhiều! Quân dân chạy giặc dưới làn đạn làm hàng ngàn người chết ở Đại Lộ Kinh Hoàng.

Bắc Quân tràn lan, đánh chiếm khắp nơi, tiến sâu thêm phía Nam.

Nhưng họ đã bị chận đứng lại ở sông Mỹ Chánh. Nơi đây ngày 2 tháng 5, Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đã bắn hạ 17 chiến xa Bắc Việt. Cùng một lúc Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng được cử ra giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thế cờ được lật ngược.

Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Tân Cảnh nhưng không biến mất mà đã phối trí lại. Chẳng những vậy, chỉ độ một tháng sau ngày tan rã ở Charlie, Tô Phạm Liệu và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã là có mặt chiến đấu lại ngay ở miền Hỏa Tuyến.

Tháng 6, 1972 Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tổng phản công tại vùng giới tuyến. Họ đã anh dũng chiến đấu, quần thảo với tổng cộng sáu Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt. Hai sư đoàn Cộng Sản 304 và 308 lúc này đã thêm bốn Sư Đoàn 312, 320B, 324B và 325.

Cuộc chiến đẫm máu kéo dài đến tháng 9, 1972 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được những người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa dựng lại tại Cổ Thành Quảng Trị và khi tàn quân Bắc Việt chạy ngược trở về bên phía Bắc dòng sông Thạch Hãn.

Giấc mơ chiếm đoạt miến Nam vào mùa Hè 1972 của tướng Võ Nguyên Giáp hóa ra “chỉ là một giấc mơ thôi.”

Có lẽ hàng nhiều ngàn hay có thể đến hàng chục ngàn người “sinh Bắc” đã “tử Nam” trong mùa Hè này.

Y Sĩ Đại Úy Tô Phạm Liệu được Sư Đoàn Nhảy Dù trao tặng danh hiệu “Quân Nhân Xuất Sắc Nhất Của Sư Đoàn Nhẩy Dù.”

Tháng Ba

dongsongcu.wordpress.com
Laikhe 75

Posted on April 21, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Ảnh minh họa

Tháng ba của tôi là thời điểm đau buồn nhất cuộc đời chiến chinh. Mọi người hay hỏi sao lại tháng ba mà không tháng tư. Tôi thường trả lời, vâng, đối với mọi người thì là tháng tư đau buồn, nhưng tháng ba là tháng tôi mất nhiều bạn thời chiến của tôi. Chúng tôi di chuyển dọc theo quốc lộ 13 của tháng ba nắng cháy. Nhiều người ngã gục vào tháng ba của lệnh rút quân. Nhiều chiến sĩ QLVNCH đã ra đi không một tiễn đưa, không một nén hương cho linh hồn bình yên. Nhiều ngôi mộ chôn vội trên đường rút quân. Và cũng nhiều kẻ hèn hạ lòi mặt chuột trong tháng ba binh lửa.

Tháng ba của Đức Phong, Bảo Lộc, Đồng Xoài, những địa danh tôi đã đi qua, đã để lại những mảnh tình nho nhỏ với cô gái hậu phương.

Có tháng ba rút quân mới đưa đến tháng tư thất thủ. Những thằng lính như chúng tôi luôn tuân lệnh cấp chỉ huy. Đó là truyền thống của quân đội. Nhưng lệnh của tháng ba làm cho chúng tôi xao động và ngỡ ngàng. Chúng tôi tin tưởng mình đủ sức kháng cự với cộng quân, dư sức đối đầu với bất cứ quân đội nào của cộng sản miền Bắc.

Nhưng vào tháng ba chúng tôi phải bỏ lại những thành phố thân yêu miền Trung, bỏ lại những người dân hiền hòa đã nuôi dưỡng chúng tôi suốt đời quân ngũ. Chúng tôi phải gấp rút từ giã những người con gái thương yêu, bỏ lại những mảnh tình trong trắng, thánh thiện. Chúng tôi bị phục kích vì không có kế hoạch hành quân, để thương đau mất đi những người bạn chiến binh chết tức tưởi vì lệnh rút quân cấp tốc trong đêm.

Ôi tháng ba oan nghiệt, tháng ba của mất mát. Mỗi tháng ba tôi lại hụt hẫng trong đau buồn và tiếc nhớ, tôi lại tìm về quá khứ, để tiếc thương những người bạn đời quân ngũ. Còn đâu những đêm nhậu đứng sau những chuyến hành quân dài. Còn đâu những đêm ngồi dưới giao thông hào, chia nhau từng điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ.

Ôi thương quá từng ngụm nước đục dưới hố bom của những ngày nắng cháy giữa vùng Tam Giác Sắt. Những bát canh măng le giữa mật khu Long Nguyên đầu mùa mưa. Những ly cà phê gạo sấy của Bầu Bàng ngồi chờ giặc tấn công.

– Minh Mạng đây Bắc Bình gọi, nghe rõ trả lời!

– Bắc Bình đây Minh Mạng tao nghe 5/5.

– Mầy cho tao điểm hẹn, đại bàng bảo tụi mình cắm trại đêm nay với nhau.

– Lên 12, phải 24, tao gặp mầy khoảng 6 con gà.

– OK, 6 con gà, hết.

Trả máy lại cho thằng truyền tin, tôi chỉ điểm hẹn cho thằng em mở đường dặn nó chuyển hướng đi. Đã bốn giờ chiều, rừng Long Nguyên dày kịt không một chút gió. Trời tháng ba có khác, nóng oi, nóng bức Tuy đi dưới bóng cây rậm nhưng vẫn nóng như ai trùm mền không cho thở. Dù có thở được thì cũng toàn mùi ẩm của lá cây mục, của côn trùng, của rừng nhiệt đới. Giây leo giăng đầy ngang dọc chận lối, thằng em mở đường phải khó nhọc lắm mới tìm được lối cho mấy thầy trò. Tôi nhìn lại bản đồ và định hướng của mình, chỉ hai cây số là sẽ ra khỏi khu rừng rậm này, đến con suối nhỏ, xong băng ngang cái trảng chiều ngang khoảng 300 mét là sẽ đến điểm hẹn với tụi thằng Mẫn.

Bốn thầy trò tôi đi chuyến công tác này đã hơn hai tuần. Toán thằng Mẫn được lịnh vào thay để toán của tôi về lại Lai Khê, chuẩn bị cho chuyến đi vào Xuân Lộc. Hai đứa cùng được biệt phái cho Sư Đoàn 5, đóng tại Lai Khê. Chúng tôi liên kết với Đại Đội Trinh Sát 5 thi hành những chuyến công tác dài khoảng một tháng cho mỗi chuyến đi. Mỗi ngày chúng tôi nhận lệnh từ bộ tư lịnh sư đoàn, di chuyển theo từng toán nhỏ, lục tìm những tin tức và di chuyển của cộng quân trong địa bàn kiểm soát của sư đoàn 5.

***

Theo tin tình báo tôi nhận được thì sư đoàn 3 sao vàng của bắc việt đã di chuyển từ Pleiku về hướng Nam. Đây là một sư đoàn thiện chiến của miền bắc, từng tham dự trận Quảng Trị, Kontum. Tôi nhìn lại bản đồ, nếu sư đoàn nầy muốn vào Sài Gòn thì phải đi dọc theo quốc lộ 13, ngang Long Nguyên, chỗ tôi đang công tác. Tôi quay ngang thằng em truyền tin bảo nó đổi tần số cho tôi gọi về tiểu đoàn 53 pháo binh.

– Đà Điểu đây Bắc Bình, nghe rõ trả lời.

– Bắc Bình đây Đà Điểu nghe 5/5.

– Mầy cho tao hai quả về lên 12, phải 24, chỉ bắn khi nào tao gọi.

– OK lên 12, phải 24, bắn khi nào mầy gọi.

Giọng thằng Đắc đề lô trong máy có vẻ hơi thắc mắc:

– Bắc Bình sao bữa nay mầy gọi yểm trợ sớm quá vậy?

Tôi chửi thề trên máy: tao gọi thì cứ làm đi, tao đang cuốc bộ mệt bỏ xừ không có thì giờ giải thích đâu.

Hình như nó linh tính một cái gì đó không tốt nên gọi lại.

– Bắc Bình, tao muốn cho mầy một điếu thuốc lào cho bảo đảm. (Trái khói).

– Bộ mầy muốn chỉ cho tụi VC biết chỗ của tao hay sao vậy.

– Tao thấy có gì không ổn nên muốn ăn chắc không dội lên đầu mầy.

– Tao tin tài của mầy, từ xưa giờ mầy gọi đâu trúng đó nên tao không sợ.

– Mầy lại nâng bi tao nữa rồi, chừng nào về hậu cứ tao thưởng mầy một chầu bia.

– Ráng để dành tiền đi em trai, tao mà uống bia thì mầy chỉ có sạt nghiệp.

***

Phải nói ngày xưa tụi tôi uống bia như uống nước lạnh. Sau mỗi chuyến công tác về là bọn tôi kéo nhau xuống câu lạc bộ sĩ quan, mỗi thằng gọi bốn két bia 33 (mỗi két 24 chai) chất sau lưng, ngồi uống cả đêm, đến sáng hết bia mới về trại ngủ. Mỗi lần bọn tôi về là ông bà chủ câu lạc bộ rầu thúi ruột, phải thức đêm lo mồi nhậu cho mấy thằng trời đánh. Nhưng hai ông bà lại khoái tôi, không phải vì cô con gái đang đến tuổi lấy chồng, mà vì tôi trả tiền sòng phẳng, không ghi sổ. Những thằng lính như tôi mà cho ghi sổ lỡ có ngày hòm gỗ cài hoa thì mất hết cả vốn lẫn lời.

Bốn thầy trò tôi đến men rừng khoảng 5 giờ 30 chiều nhưng không đi ra vội. Đó là kỹ thuật, đó là luật sinh tồn, phải thám sát chung quanh trước khi đi ngang cái trảng trống trơn, chỉ có cỏ mọc ngang đầu gối. Tôi lấy ống nhòm ra quan sát bên kia bờ rừng. Nhìn lên, nhìn xuống chẳng thấy gì nhưng linh tính tôi như báo có cái gì đó không ổn. Tôi bảo thằng em nhỏ nhất trong đám đi dọc xuống bia dưới khoảng 100 mét rồi quăng một tàn cây nhỏ ra. Trong khi nó đang di chuyển, tôi quan sát trên ống nhòm, khi thằng em quăng tàn cây, đúng như linh tính, có một vài vật di động bên kia bờ rừng. Thằng em trở lại nói nhỏ với tôi: Mình bị phục kích ông thầy ơi!

Tôi bảo thằng truyền tin đổi tần số tôi gọi thằng Mẫn:

– Minh Mạng đây Bắc Bình, nghe rõ trả lời.

– Bắc Bình đây Minh Mạng, tao nghe 5/5.

– Cho tao điểm đứng.

– Tao đang chờ mầy ở điểm hẹn.

Tôi vội vàng cảnh giác nó:

– Cách mầy nửa ống chân (cây số) bên phải (hướng Đông), dọc theo bìa rừng, tụi nó đang nằm chờ tao băng ngang để làm thịt.

– Mầy chờ tao dọn bãi rồi hãy đáp.

– Đừng, tụi nó đông lắm, mầy chỉ có 4 thằng làm gì được. Để tao gọi thằng Đắc.

_Thằng em truyền tin hiểu ý, bèn đổi máy sang tần số pháo binh:

– Đà Điều đây Bắc Bình nghe rõ trả lời.

– Bắc Bình đây Đà Điểu tao nghe.

– Mầy có tần số của tao và thằng Minh Mạng không? Đổi qua đó ngay đi, tụi tao có việc cần đến tụi mầy.

– Rồi, tao sẽ qua bên đó gặp mầy.

Thằng em truyền tin lại đổi tần số một lần nữa:

– Đà Điểu đã bay về tổ, Bắc Bình, Minh Mạng, tụi mầy nghe tao không.

– Đà Điểu đây Bắc Bình, mầy cho tao một trái lên 12, phải 24 rưởi, bắn khi nào mầy sẵn sàng.

– Lên 12, phải 24 rưởi, bắn ngay.

Chừng hai phút sao, tiếng 155 ly xé gió rớt ngay giữa trảng cỏ, đất trộn lẫn với cỏ non bay mù mịt.

– Đà Điểu đây Bắc Bình, mầy cho qua phải khoảng ¼, bắn khi nào mầy sẵn sàng.

– OK, lên 12, phải 24-3/4 có ngay.

Chỉ không đầy 30 giây, quả 155 ly thứ hai rớt ngay lên đẩu bọn chúng, vài thằng quýnh quáng chạy ra trảng cỏ.

– Đà Điểu bắn hết, bắn hết.

– Minh Mạng, coi chừng tụi nó chạy về phía mầy.

Tôi quay ngang bảo mấy thằng em chuẩn bị băng ngang trảng cỏ khi dứt pháo. Từng quả 155 ly rớt ngay trên đầu bọn phục kích. Hàng ngũ chúng bắt đầu xôn xao. Tôi gọi thằng Mẫn:

– Minh Mạng mầy chuẩn bị khi tao gọi thì tiến đến bìa rừng nhưng coi chừng có bọn tao đi từ bên trái vào (hướng Tây).

Giọng thằng Mẫn khẩn cấp trong máy:

– Tụi nó đang chạy về hướng tao, đông lắm. Đà Điểu mầy cho tao hết lên 12, phải 24, bắn hết, bắn hết.

Tôi nghe thằng Mẫn gọi tọa độ mà kinh hoảng, đó là điểm hẹn của hai đứa, thằng Mẫn đang lâm nguy. Tôi ra lịnh cho toán băng ngang trảng cỏ. Tôi vừa cầm khẩu M16 vừa chạy đến bìa rừng bên kia, từng tia đạn bay tới tấp về hướng tôi. Tôi bất chấp, gọi thằng Đắc pháo binh cho bắn hết vào điểm hẹn. Tôi thay băng đạn hai lần, không biết tôi chạy bao lâu, xác bộ đội bắc việt nằm ngổn ngang vì trúng pháo 155 ly, nét mặt còn non choẹt, tuổi chừng 14-15. Tôi cứ vừa bắn vừa chạy về phía thằng Mẫn. Mấy thằng em chạy theo cũng vừa chạy vừa la xung phong.

Bọn tôi cứ chạy và bắn cho đến khi không còn nghe tiếng bắn trả lại mới ngừng chạy. Không gian bây giờ im lìm như thần chết vừa đi qua. Thây người chết ngổn ngang, cây gãy đổ vì đạn pháo. Mùi khói súng khét lẹt giữa rừng chiều. Gió bỗng nổi lên như thần chết rảo vòng chiến địa. Mùi tanh của máu, mùi khét khói súng quyện nhau giữa những thây người nằm ngã gục. Tôi đứng như chết giữa bãi chiến trường đã chấm dứt mà phần thắng chẳng về ai. Mấy thằng em lục lọi tìm toán thằng Mẫn. Bốn thầy trò nó nằm ngửa mắt vẫn mở như trông chờ ai. Tôi vuốt mặt từng đứa rồi lấy poncho gói xác Mẫn lại.

Ngủ yên đi Mẫn, đã 34 năm rồi đấy, tao thỉnh thoảng cứ nghĩ lại buổi chiều hôm đó, nếu tao không gọi pháo binh thì mầy đâu có bị tụi nó tràn ngập sang hướng của mầy.

Có phải lỗi của tao không hả Mẫn ?

laikhe 75

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Phần 10

Chuẩn Bị Vượt Ngục Aran 

Để chuẩn bị vượt ngục Aran Jail, tôi bắt chước tù Thái, dùng cánh cửa gỗ lớn ra vào ép hai đầu koòng cho rộng ra. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ra chỗ bửa củi, tôi dùng búa, lấy gỗ lót để đừng gây tiếng động, đập nới koòng ra. Làm nhiều lần, hai koòng đã đủ rộng để có thể rút chân ra được.

Vượt ngục theo đường nào? A ran Jail đặt dưới sự kiểm soát của Đồn Quân cảnh Aranyaprathet. Nhà tù là một khu đất nhỏ, trung bình, được bao bọc chung quanh bằng hàng rào tôn dựng đứng. Bên trong là một ngôi nhà gỗ hai tầng, với nhiều song sắt kiên cố. Bên dưới là phòng làm việc của quân cảnh Aran Jail một bên và một bên là bàn ăn cơm và cầu tiêư cho quân cảnh. Phía sau là nhà bếp, nhà ăn và cầu tiêu cho tù, sau vườn là một hồ nước rộng. Trên lầu, một nửa là phòng ngủ của lính gác nhà tù, một nửa chia làm ba phòng, phòng ngủ của tù Thái, phòng giam kỷ luật gồm ba phòng nhỏ và một phòng để giam tù Việt Nam tị nạn.

Trong thời gian tôi ở Aran Jail, có hai lần tù Thái bỏ trốn. Một tù Thái nạy tấm tôn hàng rào, chun qua tại một địa điểm kín đáo nhờ một đống củi che khuất với hai koòng đã được tháo rộng sẵn. Hai tháng sau, anh ta bị bắt và bị giam trở lại tại Aran. Một tù khác trong giờ trưa vắng, leo lên thanh cột chống nằm nghiêng, nhảy qua hàng rào, lội qua suối và bị bắt ngay sau đó. Ngoài ra còn có hai Khmer Heng Samrin cũng lợi dụng cơ hội tốt bỏ trốn. Hai tên lính nầy đóng vai người tín cẩn để được đi lại công tác dễ dàng, thừa lúc sẩm tối, lén đi ra cổng, trốn trở về Kampuchia. Chỉ hai ngày sau, mặc dù vừa nói rành tiếng Thái, lại giỏi tiếng Khmer, hai tay tù trốn bị chận bắt lại tại biên giới Thái—Miên. Cái đêm được dẫn giao trả lại Aran, “Quỷ báo cốt” trong lúc say rượu đã phạt và hành hạ hai tù Khmer suốt đêm. Mấy hôm sau, hai tên đi trốn vẫn còn nằm bất động như hai đống thịt, toàn thân bị lở loét không mặc được áo quần, phải nằm ở truồng nhiều tuần để chữa trị vết thương.

Mặc dù chuyện đi trốn khó thoát, tôi vẫn cương quyết giữ ý định nhưng hoạch định một kế hoạch qui mô. Trên trần phòng giam có một lỗ ô vuông có nắp đậy, ăn thông với một lỗ tương tự trong phòng ngủ lính gác. Mỗi ngày đi kiểm soát bộ phận lau nhà, tôi thường qua đó nghiên cứu cách trèo xuống.

Sát lỗ xuống, có một bóng đèn. Lỗ gần tường, có những thanh nẹp ngang leo lên xuống dễ dàng. Trong phòng lại còn có một sợi dây ni lông máng áo quần lớn và dài. Vào đêm tối, thường các lính gác hoặc say rượu hoặc ngủ say khi bắt từ Việt Nam đâm bóp xong, chưa kể có tay bắt tù thủ dâm cho mình như “thằng ăn trộm” hoặc “thằng gà mái.” Đúng ngày ra đi, nửa đêm tôi sẽ tháo koòng dấu trong mùng, canh chừng tên tù Thái trực đêm, leo theo song sắt chun lên trần nhà. Bò dọc trần nhà sang phòng lính gác ngủ, mở nắp đậy, thò tay mở bóng đèn, tắt điện, tụt xuống theo tường, xong, mở sợi dây ni lông cột vào cửa sổ và tụt xuống đất. 

Tôi sẽ đi men theo vách nhà, đến hàng rào tôn, leo theo cột chống nằm nghiêng gần nhà tắm, nhảy qua hàng rào và dông!

Thoát ra rồi đi đâu? Thỉnh thoảng kiếm được một số tạp chí như Time, Newsweek, một số sách xuất bản tại Thái bằng Anh ngữ và đặc biệt tờ Bangkok Post, tôi đã có một kiến thức và nhận định tổng quát về tình hình các nước Đông Nam Á, Châu Á, Trung Đông…

Đầu tiên tôi dự định trốn qua Miến Điện, xứ này theo Chế độ Kinh tế Xã hội Chủ nghĩa nhưng có Chính sách Trung lập. Giữa biên giới Thái và Miến Điện, Lực lượng Kháng chiến chống Chính phủ tuy mạnh nhưng chỉ đủ sức để tự vệ và chống trả các cuộc tấn công. Họ kiểm soát các đường buôn lậu huyết mạch từ Thái qua Miến Điện để sinh sống. Từ Bangkok sang tới biên giới Miến chỉ khoảng ba trăm cây số, con đường ngắn nhất để thoát ra khỏi Thái Lan. Tuy nhiên theo Gabriel, trưởng đoàn ICRC tại Aran, Miến Điện không có Tòa Đại Sứ Mỹ và Văn phòng ICRC. Nếu qua Miến không được giải quyết, tôi sẽ vượt tiếp đi qua Pakistan, Ấn Độ, Iran, Iraq… đến Pháp. Tôi dự trù đi bộ trong vòng hai năm và sẽ vượt ngục nhiều nhà tù trên đường đi qua.

Dự định thứ nhì là đột nhập Cung điện nhà Vua để trình “Thỉnh nguyện thư.” Mặc dù quyền lực Quốc gia thực sự nằm trong tay Chính phủ, nhưng tôi nghĩ, nhà Vua và Hoàng hậu Thái là Chủ tịch danh dự các Hội cứu giúp người tị nạn tại Thái. Trong một phạm vi nào đó, vì công lý, hai vị có thể cứu xét những trường hợp bất công. Trong cuốn sách Thailand’s 80s viết bằng Anh ngữ, tôi đã nghiên cứu các hình ảnh liên quan đến Hoàng cung, cũng như sinh hoạt của Hoàng gia. Đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, vượt ngục Nhà tù 7708, tôi nhận thấy sự đột nhập Hoàng cung là một việc dễ dàng nhưng tiếc thay có quá nhiều bạn bè đã ngăn cản tôi trong dự mưu nầy: “Mầy sẽ bị thủ tiêu ngay.”

Và kế hoạch thứ ba là đi Singapore. Ở Thái Lan việc kiếm một bản đồ du lịch từ Thái đi Singapore thật dễ dàng. Tôi chỉ nhầm lẫn về khoảng cách của eo biển Singapore. Trên tờ Bangkok Post, trong một bài viết về Quân đội Singapore và cuộc tập trận hỗn hợp với Đệ Thất Hạm Đội, eo biển Singapore rộng 60 dặm là một eo biển chiến lược, là đường thủy huyết mạch của các hạm đội và thương thuyền liên đại dương. Với 60 dặm, tôi chỉ cần dùng một ruột banh bóng chuyền thổi căng lên, đem theo ít nước uống, bơi trong ba ngày ba đêm. Tôi có thể chịu lạnh trong những đêm ngâm mình dưói biển, còn vấn đề cá mập, đó là chuyện của Thượng Đế, nếu thuốc trừ cá mập không công hiệu hoặc không kiếm được. Trong bản đồ, eo biển giữa Mã Lai và Singapore chỉ chừng vài cây số. Sau khi nghiên cứu kỹ, tôi mới phân biệt được Singapore Strait và Johore Strait. Singapore đang cần tuyển Phi công nhưng có qui chế tị nạn rất nghiêm khắc: Tàu vượt biên vào Singapore sẽ bị Hải Quân kéo ra khỏi hải phận đuổi đi nước khác, nhưng nếu được một Quốc gia nào bảo lãnh, người tị nạn chỉ được nhận cho tạm trú tối đa ba tháng. Tôi muốn đến Singapore vì tôi sẽ không phải phí thì giờ lâu dài trong các Trại Tị nạn Mã Lai. Time is killing me! Tôi khác với những người đang killing the time.

Chuẩn bị kế hoạch xong xuôi, tôi vẫn chưa dứt khoát thực hành, bởi những lời hứa hẹn của Văn phòng Tumi, Phòng Thẩm vân của Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathet. Aran Jail có khả năng chứa không quá 90 người, do đó từ ba đến bốn tháng, phải có một đợt giải quyết chuyển đi trại Panat Nikhom. Trước mỗi đợt đi, lại có nguồn tin từ Tumi cho biết tôi sắp được mở koòng và sẽ lên làm việc tại phòng Tumi. Tôi chờ đợi rồi thất vọng, rồi hy vọng, rồi thất vọng. Sau cùng khi đã quyết định chuẩn bị sẵn sàng và đã nới rộng koòng để vượt ngục, Chaning, lính gác nhà tù, vì cảm tình mở koòng cho tôi. Anh Đại Tá Mập nghe tin lại phóng xuống ra lệnh đóng koòng lại. Koòng đóng chật lại như cũ, nghĩa là bao nhiêu công khó tháo koòng của tôi đều đã trôi sông trôi biển. Chaning vì thương tôi mà hại tôi. Để phản đối hành động lạm quyền, bất công của anh Đại Tá Mập, tôi bắt đầu tuyệt thực. “Ống bô,” một cai tù mới đổi tới “lớn mồm” còn bỡ ngỡ năn nỉ tôi:

–  Nếu mầy không ăn nhiều thì ăn vài muỗng cũng được. Mầy không ăn cơm là kẹt cho tao lắm.

– “Ống bô” mới đến đâu biết chúng tôi vẫn thường bị cắt cơm mà vẫn chẳng kẹt cho ai cả. Tôi cương quyết không ăn. Buổi tối “Ông bô” lên phòng bảo tôi:

–  Nhà tù cấm tuyệt thực. Nếu mầy không ăn, tao buộc lòng phải có biện pháp.

Nghe “Ống bô” đe dọa, tôi nổi nóng đáp: “Tôi sẽ tuyệt thực đến chừng nào được mở koòng thì thôi,” và tôi nằm lì trên phòng không thèm xuống trong giờ ăn. Sau ba ngày đêm, một buổi tối, “Ống bô” tuyển lựa sáu tù Thái tình nguyện. Thời gian nầy có một băng tù Thái ba gai và hung dữ, lại ghét Việt Nam, rồi dẫn tôi xuống nhà dưới.

–  Lần cuối cùng mầy có chịu ăn cơm không?

Tôi không trả lời, thế là sáu tên nhảy vào đánh hội đồng. Nhiều cú đá bay vào cổ, vào ngực, vào lưng. Tay tôi cầm sợi dây buộc koòng đứng gồng người chịu trận. Tôi khám phá ra một điểm kỳ lạ của cơ thể: Trong tình trạng đói khát kiệt lực, cảm giác đau đớn bị giảm và khả năng chịu đựng hành hạ càng tăng.

Tôi chẳng thấy đau, chẳng thấy sợ hãi, trái lại bỗng dưng tôi bật cười gằn. Như lửa đổ thêm dầu, họ nổi xung, dùng những đòn nặng và hiểm cố tình đốn ngã tôi. Tôi bị té xuống sau một cú chặt vào cổ và một cú nốc ao vào bụng, khi lồm cồm đứng dậy lại bị đốn ngã tiếp. Trận đòn hội chợ tiếp tục đến lúc tôi bị đá trúng cánh tay cầm dây Koòng và giây tuột rơi xuống sàn. Hai tay tôi được tự do nên cung lên, đứng thủ thế. Tên Trưởng toán ẩn mặt phía ngoài tưởng tôi chuẩn bị đánh trả và tưởng nhầm tôi là một “đại cao thủ” (do sức chịu đựng kỳ lạ trong thời gian bị đánh đập) nên chạy vào ngăn lại và dẫn tôi lên phòng giam để tránh đổ máu. Biết dùng vũ lực, tra tấn không khuất phục được tôi, họ chuyển sang kế hoạch khác: Đánh tù Việt Nam.

Thật là một thời kỳ kinh hoàng. Mỗi tối, sau giờ ăn cơm chiều, tất cả Tù Việt Nam đều bị đặt trong trạng thái tinh thần căng thẳng sợ hãi. Băng côn đồ Thái được bật đèn xanh thẳng tay đánh đập. Có người bị đánh bất tỉnh nhiều lần trong đêm, rồi đổ nước lạnh cho tỉnh lại, đánh tiếp. Có đứa bị đốt râu, lông dái như thằng Nuộc. Trời vừa tối, tiếng ầm ầm, bịch bịch vang dội hỗn loạn khắp phòng. Lúc đầu bị đánh, mọi người đồng thanh la lớn kêu cứu nhưng không những không được can thiệp lại còn bị trừng trị nặng hơn. Từ những tay mập mạp khỏe mạnh, đến những kẻ ốm yếu bệnh hoạn, mỗi đêm ít nhất cũng bị bất tỉnh một lần.

Tôi bị giam ở phòng kỷ luật riêng, nghe tiếng đánh đập la hét mỗi đêm đau đớn như mình đang bị hành hạ. Mỗi lần thấy các bạn đi ngang, mặt mày thiểu não, hốc hác và bầm tím, tôi cảm thấy xúc động mãnh liệt. Cuối cùng đám Bộ đội trẻ năn nỉ lạy lục tôi:

—Tụi em lạy Đại Ca. Đại Ca ăn cơm lại dùm tụi em. Nếu Đại Ca không ăn cơm họ sẽ đánh tụi em đến chết!

Dương Bá Linh là tay ăn nói khí phách, hồi trước thỉnh thoảng thường đến luận bàn với tôi về những mẫu người và thái độ sống trong tù. Tôi kể cho Linh nghe về một vài chuyện trong Nhà tù cũ. Tôi nhắc lại một vài mẩu đối đáp với Đạm trong nhà tù 53. Đạm nói với tôi:

–  Không quì trước kẻ thù, bạn đã làm một tấm gương sáng cho anh em ngưỡng mộ. Tôi sẽ học tập gương bạn. Nhưng theo tôi, nếu Việt Cộng bắt tôi quì trước đám đông, tôi sẽ không quì như bạn. Trái lại, nếu họ đem tôi vào rừng vắng một mình có lẽ tôi sẽ quì bởi vì tôi cần phải sống để dạy dỗ các con tôi nên người.

–  Không. Không thể được. Tôi phản đối. Bạn không thể dạy con cái bạn sống hiên ngang, sống bất khuất, sống hào hùng, sống xứng đáng nên người bằng thái độ hèn hạ đó. Bạn trả lời với con cái thế nào khi chúng hỏi bạn: “Con nghe người ta kể lại rằng, ngày xưa có lần ba đã hèn nhát, khiếp nhược quì phục trước mặt kẻ thù, phải không ba?” Thà bạn chết đi, chết hiên ngang bất khuất. Chắc chắn con cái bạn sẽ học được bài học quí báu bằng chính tấm gương sáng của cha mình. Bạn cứ chết đi, và những bạn khác cứ chết đi một cách anh hùng, không khuất phục. Kẻ thù sẽ khủng hoảng tinh thần, sẽ điên loạn, sẽ chết, sẽ sụp đổ vì sợ hãi tinh thần, khí phách của chúng ta.

Linh sau đó cũng đã phải thú nhận:

–  Tôi nghĩ tôi có thể làm được như anh. Cho dù họ đem tôi đi xử bắn, tôi vẫn không sợ. Thế mà khi tụi nó áp lại đánh tôi, chẳng biết thế nào mà tôi quýnh lên chắp tay quì lạy trối chết.

Tôi cười trả lời:

–  Phải thử lửa mới biết được đá vàng. Phải thử thách quá giới hạn chịu đựng của con người, mình mới hiểu được mình, mới có thể tự xác định được mình. Từ ý nghĩ đến hành động phải qua một quá trình tôi luyện và thử thách.

Tôi có thể chịu đựng mọi sự tra tấn hành hạ dã man tàn bạo nhất, nhưng không thể chịu đựng được khi thấy những người khác bị đánh đập hành hạ vì mình. Hơn nữa, từ ngày thứ tư trở đi, cô y tá của ICRC mỗi ngày lại được phái đến để theo dõi tình trạng sức khỏe của tôi. Tôi thân với Daniel từ đó. Daniel, cô gái Thụy Sĩ, ngồi bên tôi, nhìn tôi với cặp mắt trìu mến, nói với tôi bằng những lời chân tình:

–  Anh nên ăn lại đi, anh cần phải sống. Cuộc đời bên ngoài còn có bao nhiêu điều tốt đẹp, bao nhiêu xứ sở tốt đẹp để anh thưởng ngoạn. Anh còn trẻ, đời còn dài…

Tôi nhìn Daniel ráng “tán” một câu, mặc dù hơi thở đã gần thoi thóp:

–  Anh đã đi nhiều nơi, từ Nhật Bản, Guam, Hawai, Texas, California, Cam Bốt… Anh đã thấy đủ và hưởng đủ. Giờ phút nầy anh chỉ còn một hạnh phúc duy nhất là nhìn em mỗi ngày ngồi cạnh anh. Vì vậy anh phải tiếp tục tuyệt thực để được hưởng cái hạnh phúc tuyệt vòi đó!

Daniel bối rối. Trong đôi mắt chơm chớp xúc động của nàng, tôi đọc được những dòng chữ sau đây: “Chàng ơi, chàng gần chết mà sao chàng còn đa tình thế? Chàng thì gần chết trong khi em đã chết vì chàng rồi, chàng biết không?”

Sau nầy khi nhận được thư của Tổng Thống Reagan, có đoạn “With Daniel, you walked through the lions’ den, sustained by your faith in God, and emerged victorious,” tôi lại càng thêm tin tưởng về sự kỳ bí của sự trùng hợp của các tên tuổi hoặc con số.

Dù sao thì tại một nước tự do, dù chỉ tự do một nửa, nhân quyền và nhân đạo cũng còn được quan tâm và tôn trọng. Tôi nằm tuyệt thực tại nhà tù Thái Lan, mỗi ngày đều được một người đẹp ngồi bên cạnh khuyên can, săn sóc, trong lúc Chiến hữu, Bạn bè tôi tại nhà tù Cộng Sản Việt Nam, chẳng hạn như tại Lam Sơn, một đứa trốn trại bị dẫm mìn đứt bàn chân, sau khi bị bỏ lơ nửa ngày mà nạn nhân chưa chịu chết, y sĩ trại đã dùng loại cưa sắt lớn, không thuốc tê, thuốc mê, không cả điều kiện vệ sinh tối thiểu, bắt các tù khác đè nạn nhân xuống, kềm chặt, cưa chân nạn nhân như cưa một khúc gỗ. Trị bệnh đã trở thành trị tội bệnh nhân. Nạn nhân quằn quại la thét đến chết bởi những “lương y như ác mẫu.”

Sau một tuần, tôi bắt đầu ăn lại vì không muốn gây đau khổ và phiền muộn đến nhiều người khác: Từ Tù Việt Nam đến ICRC. Hôm đầu tiên xuống lầu ăn cơm lại chứng kiến cảnh đau lòng mới. Giờ ăn, mỗi người cầm một cái khay đi đến vị trí phát cơm và canh. Trước khi phát thức ăn, tên tù Thái phụ trách tát mỗi Tù Việt Nam một bạt tai hoặc ký đầu một cú mạnh rồi bắt họ nói lớn:

–  Khập khun, khấp! (Dạ, cám ơn!)

Chữ khấp là tiếng dạ của kẻ dưới đối với kẻ chức quyền, với người trưởng thượng. Nghe nó mất sĩ khí quá. Đến phiên tôi, tên đầu gấu không dám đánh nhưng bắt tôi nói khập khum, khấp. Tôi không lập lại bằng tiếng Thái mà nói bằng tiếng Anh: Thank you rồi đi về bàn ngồi.

Tên nầy sau khi phát cơm xong, đến chỗ tôi đầu bàn, dùng tay vỗ mạnh vào vai tôi. Y vỗ mạnh như một cú chặt Karaté rồi bắt tôi phải lập lại bằng lời quát lớn:

–  Khập khum, khấp!

Tôi không thèm trả lời, đứng bật dậy, phóng một quả đấm tận lực vào mặt tên côn đồ Tù Thái. Y bật ngửa đụng bức tường cao gần một mét ngăn cách phòng ăn và nhà bếp nên lộn ngược qua phía bên kia, đập mặt xuống đất, mồm bị bể và phun máu. Tên bạn y đứng bên cạnh nhảy vào đấm tôi. Tôi vướng koòng bị ngã ngửa trên ghế, tiện chân đạp luôn đôi koòng vào ngực y một phát, rồi mất đà té lọt giữa ghế ngồi và bàn ăn đóng dính nhau. Chiếc bàn dài có ghế ghép hai bên trở thành vật cản giúp tôi tránh đòn. Đám Tù Thái đồng bọn nhảy vào ăn có, bề hội đồng nhưng nhờ trở ngại bàn ghế và phần lớn đều mang koòng như tôi, nên những cú đá, đạp và gậy phang bị vướng víu không gây ảnh hưởng nặng. Tay Trưởng toán tù Thái thấy ấu đả bèn chạy tới ngăn lại. Tay nầy mới lên thay chức nhưng có cảm tình và tốt với Tù Việt Nam. Tối hôm đó có hai Tù Thái kéo Dũng và Thơm, hai Bộ đội trẻ mới bị bắt vào, tới trước phòng giam của tôi và nói:

–  Mầy đánh bạn tao. Bây giờ tao đánh đàn em mầy.

Họ chỉ ra hai đòn, chặt một phát karaté vào cổ, móc một cú nốc ao vào bụng là hai Bộ đội bị đốn ngã xuống dãy đành đạch. Họ nhảy lên ngực đạp mạnh cho tỉnh lại rồi đánh bất tỉnh một lần nữa trước khi lôi trở về phòng. Ngày hôm sau, tên bị tôi đánh gãy 3 răng mồm mang một cục băng lớn tiến về phía tôi. Tưởng y muốn gây chuyện, tôi đứng thủ thế chuẩn bị ra đòn thì y xua tay làm hòa, bảo:

–  Mặc dù sau bảy ngày tuyệt thực Phú Còn (Ông lớn) tuy sức yếu lại đang bị koòng mà một mình dám đánh lại cả đám tụi tui, tôi rất phục sự can đảm và hùng tính của Phú Còn!

Nói xong y mời tôi hút thuốc. Từ đó mỗi buổi trưa, y gọi tôi đến cửa sổ, bảo thả dây xuống, kéo gói cơm chiên thịt bò y để dành chiêu đãi tôi. Tôi dễ dàng hòa hoãn thân thiện với kẻ biết điều, nhờ vậy mà không khí căng thẳng giữa Tù Việt Nam và đám Tù Thái hung dữ lắng dịu dần. Những người tù Thái mới vào thường hỏi thăm:

–  Lý Tống khôn nãy? (Lý Tống là người nào?)

Và đến làm quen do nghe các câu chuyện những tù Thái cũ mến tôi kể lại.

Tôi nhớ thời kỳ ở Nhà tù Cộng Sản, mỗi lần bị chuyển đến các Trại tù mới, các Quản giáo và Vệ binh Việt Cộng thường lãng xăng háo hức hỏi nhau:

–  Tên Giặc lái Lý Tống là đứa nào đâu?

Các tay Cai tù cũ có vẻ thích thú và hãnh diện khi chứng tỏ sự hiểu biết của mình về cái anh chàng Giặc lái Ngụy mặc áo quần sọc đỏ, đi chân đất với đủ loại huyền thoại. Hay những người Tù trong bộ phận chăn nuôi ở Lam Sơn, những lần thả trâu bò gần khu vực dân chúng ở Dục Mỹ, gặp những cô bé học trò, những cô gái bán hàng vẫn thường hỏi thăm:

– Anh Phi công Lý Tống còn ở nhà cùm không? Anh ấy có đẹp trai không?

Tâm lý của con người thật kỳ cục. Đối với nhiều người, đẹp trai cũng là một yếu tố để nâng phẩm chất của thái độ hào hùng! Nếu Napoléon cao thêm vài tấc, chắc chắn sẽ có thêm hằng triệu người ái mộ nhà Đại Anh hùng nước Pháp!

Cảm động nhất là những bà cụ bán hàng ngoài chợ. Có lần, một bà cụ bán cá đã nhờ các Tù nhà bếp đi chợ, gởi vào mấy con cá:

–  Gởi cho thằng Phi công Lý Tống. Nói với nó, tao vẫn nhớ cái ngày nó nhảy dù, nó trốn vào trong đám mía nhà tao. Cái thằng! Giặc đuổi tới đít mà vẫn tỉnh queo cứ nằm lè phè ăn của tao hết mấy cây mía!

Đa số tù Thái ở với chúng tôi rộng rãi và thân hữu, một thiểu số xấu, hung dữ cũng biết phục thiện. Ngay cả ông Đại Tá Mập, sau nầy khi nghe tôi đến được Singapore lại là người sốt sắng nhất cung cấp các tin tức về tôi cho các phóng viên săn tin. Thật ra ông ta cũng chỉ vì tận tụy với nghề nghiệp, vì tính tự tôn Dân tộc mà tôi đã xúc phạm khi yêu cầu chuyển tôi qua Tòa Lãnh Sự Mỹ để điều tra. Người Thái, chính phủ Thái rất tự tin và hãnh diện về sự độc lập và chủ quyền của Quốc gia họ.

Trên thế giới nầy, có được bao nhiêu Quốc gia nhược tiểu, ở trong quĩ đạo của Hoa Kỳ vẫn còn giữ được tính độc lập và quyền tự quyết của mình như Thái Lan? Cũng nhờ sự mâu thuẫn giữa tôi và Đại Tá Mập mà tôi có một dịp đặc biệt để tự khám phá những khả năng, những giá trị, nhũng đức tính tiềm tàng ẩn kín trong bản chất tự nhiên của mình. Tôi cám ơn, vì anh Đại Tá Mập, như một tấm gương, mà qua đó tôi nhìn ngắm được dung mạo của mình, thấy rõ những góc cạnh, chi tiết mà bản thân trong quá khứ chỉ cảm nhận mơ hồ huyền hoặc. Tôi mong muốn tình bằng hữu khắp mọi nơi trên bước đường mình đã đi qua, mỗi một con người, mỗi một Dân tộc ngoài những khuyết điểm, đều có những ưu điểm nổi bật để mình học hỏi và ngưỡng mộ. Tôi mong mỏi phát triển về sự thông cảm, tình thân ái giữa các con người, giữa các Dân tộc: “Cộng Sản nhìn vào mỗi con người lương thiện để thấy một tội phạm. Chúng ta nhìn vào mỗi con người, ngay cả mỗi tội phạm, để thấy được cái phần bản chất người tốt đẹp.”

Thù hải tặc Thái hay thù một số tên Cai ngục Thái tàn ác ở các Trại Tị nạn dọc biên giới, không phải là thù cả Dân tộc Thái hay cả nước Thái. Chính phủ Thái trên một phương diện, có trách nhiệm về các hoạt động chống hải tặc thiếu hữu hiệu, trong lúc các thương thuyền ngoại quốc từ chối cứu thuyền nhân, trên phương diện khác, cũng có trách nhiệm nhân đạo tương đương. Mỗi Quốc gia trên mỗi khía cạnh, trong mỗi hoàn cảnh đều có mặt tích cực và tiêu cực. Và chính chúng ta, những người Việt Nam hải ngoại đã có hoạt động nào hữu hiệu để cứu người tị nạn? Và những người tị nạn đi trước, trong một số trường hợp đã góp phần tăng thêm thảm cảnh nầy. Chẳng hạn trường hợp của những người từ chối định cư tại các Quốc gia đã cứu vớt họ, chỉ khăng khăng đòi đi Hoa Kỳ, làm xúc phạm đến lòng nhân đạo của một số Nước thứ ba, làm họ thay đổi thái độ với vấn đề tị nạn.

Ta chỉ trích người mà quên tự chỉ trích mình. Những người dân di tản từ miền Trung vào Sàigòn trong những ngày đầu miền Nam thất thủ vẫn còn chưa quên hình ảnh tàn bạo khủng khiếp của những tên côn đồ, hải tặc Việt Nam đối với chính đồng bào ruột thịt của mình. Nếu ta là Thái Lan, ta có chắc hoàn toàn tránh được thảm trạng đó không? Bởi vì ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ, những tên “bộ tặc” vẫn hàng ngày gây nên những tội ác kinh khủng mà chúng ta vẫn chưa đóng góp tích cực để ngăn chận và trừng trị hữu hiệu. Con sâu làm rầu nồi canh, nhưng con sâu không phải là đại diện của nồi canh. Ngay cả với Cộng Sản, tôi cũng không hận thù theo kiểu Đạm. Với Đạm, phải lóc từng miếng thịt, phải rút từng sợi gân, lột da, moi mắt… nếu một ngày lật được thế cờ.

Không. Chúng ta ghét Cộng Sản bởi Cộng Sản tàn bạo, bất nhân. Nếu chúng ta cũng tàn bạo, bất nhân, chúng ta không có lý do để nguyền rủa Cộng Sản, chúng ta không có Chính nghĩa để thắng Cộng Sản. Một ngày nào giải phóng đất nước, chúng ta sẽ không lập lại hoặc duy trì những hình ảnh tương tự Trại Cải Tạo cho kẻ địch bại trận.

Phải rộng lượng, nhân đạo để cải hóa giáo dục những con người lầm lạc, hoặc bị cưỡng bức phải làm điều lầm lạc, bởi vì bao thanh niên trẻ, con cháu, anh em chúng ta sinh trưởng ở miền Nam hiện đang bị bắt đi lính, đẩy ra chiến trường mặc dù cha, anh họ vẫn đang bị cầm tù trong Trại Cải tạo vì tội Ngụy quân, Ngụy quyền. Và từ đó suy ra, Bộ đội miền Bắc phần lớn cũng ở trong hoàn cảnh sinh bất phùng thời, tử bất phùng nơi và họ dù muốn đào ngũ cũng khó thoát được màn lưới kiểm soát chặt chẽ của Cộng Sản.

Với những tên ngoan cố, bất trị, những tên lậm thuốc Cộng Sản quá nặng không thể chữa trị, hãy cho chúng đi tị nạn về đất thánh tổ Lenin để họ hưởng hạnh phúc trong Thỉên đàng Đại đông tại Tầy Bá Lợi Á. Và những tên đầu sỏ trong Bộ Chính Trị phải bị treo cổ để trả nợ máu với Nhân dân và Tổ quốc.

Mặt khác cũng nhờ Cộng Sản mà tôi thấy được ý nghĩa đời sống. Tôi biết hưởng hạnh phúc trong tầm tay, những hạnh phúc bình dị, đơn giản. Nhờ Cộng Sản, tôi biết sống để trở thành con người hữu fch, biết nâng cao tâm hồn mình vì những mục đích cao thượng. Tôi tiến bộ được nhờ mười mấy năm trong tù ngục Cộng Sản. Chỉ những lúc sắp chết mới thấy hết giá trị sự sống, chỉ những lúc đói khát cùng cực mới biết thưởng thức những hương vị bình thường. Tôi đã từng nói với ông Julian, Cao Ủy trưởng Cao ủy Tị nạn tại Galang trong một bữa tiệc khoản đãi tôi ngày đầu tiên tôi đến Trại:

— Nếu không sống với Cộng Sản, giờ nầy tôi cũng còn mang bản chất của một playboy. Nhờ có kinh nghiệm với Cộng Sản tôi đã có ý thức mới để trở thành một Chiến sĩ tận tụy và dũng cảm. Kẻ ác, kẻ xấu là bậc thầy vĩ đại nhất dạy tôi trở nên người tốt

Vâng, tôi học được từ những người xấu nhiều hơn từ những người tốt. Chính những cái xấu xa, đê tiện, cái độc ác, cái gian xảo, cái hèn hạ được phô bày tràn truồng trước mắt làm cho tôi cảm thấy ghê tởm, phẫn nộ, khinh bỉ… Chính những cảm giác đó đã giúp tôi tránh được những lầm lỗi mà kẻ khác đã phạm phải, cho tôi một chỗ đứng khách quan để nhìn ngắm chủ quan, giúp tôi hạnh phúc trong những lựa chọn hướng thượng… Suốt cuộc đời chiến đấu, tôi chưa bao giờ ra trận với động cơ của sự hận thù, nhưng chính vì Công lý, vì Chủ quyền lãnh thổ cần được bảo vệ và tôn trọng, và quyền tự do lựa chọn định chế chính trị của người dân. Và trong tương lai, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì sinh mệnh của 50 triệu người dân Việt Nam đang quằn quại rên siết dưới gông cùm thống tri của Cộng Sản. Bởi vì hạnh phúc và quyền sống của con người, chúng ta phải tiêu diệt bất cứ thế lực nào bóp chết hạnh phúc và quyền sống của con người.

Vụ tôi tuyệt thực đã gây tiếng vang lớn. Có những Sĩ quan cấp Tướng của Thái tại Bangkok đã quan tâm đến trường hợp tôi, và Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathat đã phái nguời đi điều tra về tông tích tôi. Tại Trại Sikew có Đại úy Nguyễn Bảy, Phi công cùng phi đoàn Ó Đen 548 và là tù binh cùng Trại tù A30. Ngoài ra còn có Y sĩ Ngọc, Phi công Sô, Mai, hoặc cùng Không đoàn hoặc cùng Nhà tù đã xác nhận những điều tôi khai báo. Ngoài ra còn có Hồng, đánh cá ở Đài Côn Kampuchia cùng tôi, biết rõ tôi, đang tị nạn tại trại NW82. Người ta buộc lòng phải mở koòng chuyển tôi lên Phòng Thẩm vấn của Victor (thay thế Tumi đi định cư ở HoaKỳ). Văn phòng Victor có danh hiệu Black Eagle. Tôi có cảm tưởng mình đang trở về mái gia đình Không Quân thân thương cũ, về Phi đoàn 548 Black Eagle của mình. Ngày qua Galang, Indonesia, chi hội Không Quân tại đây cũng lấy danh hiệu Eagle! Số phận cứ đưa đẩy tôi gặp hoài những con số, những tên tuổi và danh hiệu tiền định.

Tôi được thử qua máy dò sự thật. Nguyên tắc của lie detector căn cứ vào nhịp tim, mạch. Một người khi nói dối thường hồi hộp, lo lắng làm rối loạn mạch tim. Nhưng nếu uống rượu say hay uống thuốc trước khi lên máy, thần kinh tê liệt có thể làm giảm sự bối rối và máy sự thật khó dò ra. Có một điều máy sự thật và người làm ra máy sự thật không lường trước được, đó là sự nói dối có chính nghĩa. Nói dối vì mục đích cao thượng, vì lòng nhân từ, vì nghĩa khí.

Tôi cảm thây lương tâm trong sáng khi nói dối, tôi cảm thấy hạnh phúc khi nói dối bởi vì tôi chấp nhận phần thiệt thòi, phần đau khổ về mình để bảo vệ hạnh phúc và sự an toàn của những người vô tội, những ân nhân tốt bụng. Hơn nữa, tôi đã từng tập chế ngự xúc cảm của mình, tập làm chủ bản thân mình qua lửa đạn chiến trường, qua gông cùm tù ngục. Vì vậy khi chuyên viên phụ trách lie detector hỏi tôi:

–  Anh có điều gì nói dối Chính quyền Thái không?

Tôi nghĩ đến số tiền 40 bahts, nghĩ đến gia đình người đàn bà Việt kiều ân nhân và tôi đáp thoải mái:

–  Không.

Và máy sự thật cũng đành chấp nhận cái sự thật không thật kia. Victor đã nói đùa về máy sự thật, về sự tin tưởng tuyệt đối của người Mỹ vào máy sự thật như sau:

– Nghe Tổng Thông Mỹ vừa tuyên bố một câu thật xúc động, thật tình nghĩa, một người Mỹ vội hỏi: “Câu nói nầy đã qua máy sự thật chưa?” “Chưa.” Một thẩm quyền trả lời. “Nếu chưa qua máy sự thật thì tôi không tin những điều Tổng Thống vừa tuyên bố.” Người nầy khẳng định. 

Bị đuổi trở lại biên giới 

Đã có nhiều người chứng nhận về background của tôi, đã có máy sự thật chứng nhận những lời khai của tôi, Chính quyền địa phương đành phải giải quyết trường hợp tôi. Thay vì được chuyển đi Trại chuyển tiếp Panat Nikhom như thông lệ, tôi lại bị trả ngược về biên giới với một lý do thật “sáng tạo”: Theo một sắc lệnh mới, Aran Jail chỉ dành riêng cho giới Bộ đội đào ngũ tị nạn!

Bốn người dân sự khác phải gồng gánh đi theo tôi cho có vẻ hợp lý. Khi đưa lên xe, anh Đại Tá Mập còn chơi chữ nói móc với các bạn đi cùng chuyến với tôi:

–  Em Khang có một có lỗ sâu sau ót làm bùa hộ mạng chắc đạn bắn không lủng. Còn Khiêm và Bằng nói tiếng Khmer rành chưa?

Các bạn tôi quá mất tinh thần, cố ráng năn nỉ, cầu khẩn vào phút chót:

–  Xin Đại Tá thương tình giúp đỡ tụi con.

Tôi bực mình cự lớn tiếng:

–  Đù mẹ, đi đâu thì đi. Chết là cùng chứ đếch gì mà sợ. Năn nỉ ỉ ôi làm đéo gì cho nó mệt người.

Anh mập tái mặt gườm tôi, tôi nhìn gườm lại anh mập và trong giờ phút đó, nghĩ bụng: “Thưa ngài. Ngài thật là may mắn Ngài biết không? Có những lần ngài đứng gần tôi, tôi lại đứng gần cái búa. Tôi đã có ý nghĩ… May mà còn chút sáng suốt, lạc quan nếu không tôi đã giáng cho Ngài một búa rồi.” Ngay cả có lúc, trong kế hoạch vượt ngục Aran Jail, tôi cũng có ý định tìm về nhà anh Mập “cắt bộ đồ nghề” của anh ta, bởi vì tuy già, nhưng ngài vẫn còn ham trò chơi trống bỏi.

Chuyển về biên giới, nếu được vào trại NW 82 thì chúng tôi cũng đã được giải quyết trong đợt cuối năm 1982. Nhưng thực tế, chúng tôi chỉ được đưa vào cổng trước và đuổi ra cổng sau để qua trại Nong Samet. Ôi, Nong Samet vĩnh viễn là mồ chôn của những người tị nạn bất hạnh, nếu không chết vì pháo kích, vì bị Việt Cộng tràn ngập, Nong Samet cũng sẽ là nhân chứng ngày tàn của những con người tuyệt vọng. Đã bao nhiêu Phái đoàn ghé đến chỉ biết lắc đầu để cảm thông, chia sẻ những số phận bất hạnh.

Đa số nguời Việt tị nạn tại Nong Samet thuộc thành phần Kampuchia Krom hoặc Muslim, ngoài tiếng Việt, họ còn có ngôn ngữ riêng thông dụng hơn. Buổi tối, năm đứa chúng tôi đánh vòng đi dạo mát để cảm thấy mình trở thành lạc lõng, trở thành người ngoại quốc trong Cộng đồng Tị nạn được mang danh hiệu Việt Nam. Tiêu chuẩn ăn uống của Nong Samet thật bi thảm: Gạo phát một ngày chỉ đủ để ăn một bữa. Một hộp cá mòi 114 grams một tuần, chưa kể có những hộp cá mòi hư thối, vừa mở nắp, là cá xì hơi mạnh văng bắn lên nóc nhà hôi thối cả gian nhà.

Chuyện ăn cá mòi làm tôi nhớ đến một viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ. Trong một lần ghé thăm trại Nong Samet, ông ta hỏi han về cách sinh hoạt và ăn uống của người tị nạn. Một anh bạn sau một hồi giải thích cặn kẽ bèn kết luận:

–  Tôi nghĩ ông không cần phải hỏi làm gì phí công. Cứ nhìn chúng tôi gầy ốm hốc hác thế nầy là ông đoán ra được chế độ ăn uống ở đây rồi. Người viên chức Mỹ tuổi trung niên vóc dáng mập phì, ông ta mập đến phát mệt, và mập một cách khổ sở. Nghe nói thế ông ta bèn hớn hở như vừa tìm ra một chân lý:

–  Vậy hả? Thế thì tôi sẽ về bắt chước ăn giống các anh để được ốm như các anh. Tôi thích được ốm và tìm đủ cách diet mà vẫn cứ mập!

Chuyện đời thật tréo cẳng ngỗng, chỉ một thí dụ nhỏ đó cũng cho thấy sự mâu thuẫn của cuộc đời, sự khó thông cảm giữa các con người. Mỗi đất nước đều có một kiểu hạnh phúc và đau khổ trái ngược nhau. Người Việt thì nghèo nên khổ ví ốm, người Mỹ thì giàu nên khổ vì mập. Kỳ cục không kém, người Việt Nam tại Mỹ lại thèm ăn rau muống nên rau muống trở thành đắt giá. Người Việt trong nước lại chán ăn rau muống, bởi vì rau muống là món rẻ tiền họ phải ăn thường ngày, và là món duy nhất. Nhưng điều khó hiểu và tôi thường thắc mắc nhất là các cựu Quân nhân Mỹ. Hầu như cả ngàn Veterans Mỹ tôi gặp tại Mỹ đều thích thú kể lại các kỷ niệm thời chiến đấu tại Việt Nam. Người nào cũng mong có dịp trở lại Việt Nam để chiến đấu và sống lại thời huy hoàng cũ. Nhưng mỗi lần nghe báo chí, truyền hình phỏng vấn, lại chỉ nghe họ tố cáo và chống lại chiến tranh Việt Nam. Hình như mỗi lần gặp phóng viên họ lại sống và nghĩ bằng một con người khác: Một nhà chính trị, một triết gia. Nhưng sau đó họ lại trở lại con người bình thường, trần tục và những lối hưởng lạc cũ, nghĩ và nói những điều tầm thường phát xuất thực sự từ đáy lòng của họ!

Tôi phải đi dạy kèm tiếng Anh cho các người Khmer và các English Teachers cấp thấp khác, những người còn dấu diếm được chút vốn liếng vàng bạc, để có thêm gạo và cá nuôi nhóm năm người. Ngoài giờ dạy Anh văn, tôi trau dồi thêm Anh ngữ bằng cách đọc truyện tiếng Anh và đi ngồi chầu rìa nghe những người Mỹ làm việc tại Bệnh Viện tán dốc.

Ở Nong Samet, tôi làm quen với những người ngoại quốc đã từng đi du lịch qua Mã Lai, Singapore để dò đường. Miss Canada, cô gái đẹp nhất trong đám, khi nghe tôi nói về dự định đi bộ từ biên giới Kampuchia sang Singapore đã “phán” một câu lạnh lùng:

–  Are you crazy?

Tôi nhún vai:

–  Có thể. Bởi vì thiên tài và kẻ điên chỉ khác nhau một điểm duy nhất: Sự thành công.

Cô ta trầm trọng hóa hệ thông an ninh kiểm soát trên đường đi, tại bến xe bus, tàu hỏa, như một mạng lưới nhện kín không con ruồi nào có thể qua lọt. Cô nhấn mạnh.

— Ngay chính Thái Cộng, Mã Cộng còn dầu hàng không hoạt động được.

Miss Canada muốn dập tắt ngay tia lửa hy vọng vừa đang leo lét trong tôi. Chỉ có một người có quan điểm trái ngược với các ý kiến trên là Esther, một cô gái Phi Luật Tân.

–  Tôi nghĩ khả năng anh có thể đi lọt qua các trạm kiểm soát và đến được Singapore!

Esther cho tôi biết rõ ràng và chi tiết hơn những con đường cô đã đi, những nơi cô đã đến mà tôi cần tìm hiểu. Tôi làm quen Esther bằng một cách thật kỳ cục. Esther làm Trưởng Phòng thí nghiệm, mỗi lần mệt mỏi vì học quá độ, tôi thường đi tản bộ hoặc ghé ngang qua phờng thí nghiệm. Tôi đứng ngoài cửa sổ ngắm nhìn Esther. Mỗi khi đôi mắt rời kính hiển vi ngưng quan sát nhìn ra, nàng lại thấy tôi đang tựa bóng mát địa nàng.

Ngày xưa thời sinh viên Sĩ quan Không Quân, mỗi lần vào các tiệm cà phê, tôi vẫn thường dùng đôi mắt ruồi-lửa của mình để chinh phục các cô thu ngân. Tôi có thể ngồi đồng đến lúc đóng cửa và nhìn không chớp mắt. Khí giới lửa-ruồi phối hợp đó đã làm nhiều cô bé bứt rứt da thịt, không chống nổi phải đầu hàng. Ngày nay luồng nhãn lực kênh mặt trời đã mất nhiều hiệu lực bởi bùn, sình, cứt vịt của những ngày đi cày cấy trong Trại tù hóa giải. Sự kiên trì, lợm của tôi cũng làm cô Trưởng Phòng thí nghiệm mềm lòng, mặc dù kiểu trồng cây si đó đã thất bại với Miss Canada chỉ vì Miss Canada thì quá đẹp mà nàng Phi Luật Tân thì nhan sắc trung bình.

Mỗi lần quen thói ngẩng đầu lên khỏi kính hiển vi mà không thấy tôi, nàng đảo mắt tìm. Đôi mắt rõ ràng tự biểu lộ lòng trong tuy đã mặt ngoài còn e. Một hôm tôi đánh bạo đi thẳng vào phòng thí nghiệm gặp nàng kiếm chuyện xin thử nước tiểu:

–  Tôi nghi tôi bị đau lậu.

Nàng nhìn tôi bối rối ngạc nhiên. Buổi chiều thông báo:

–  Kết quả thử nghiệm nước tiểu negative…

Hôm khác tôi lại vào xin thử máu:

–  Tôi có cảm tưởng tôi bị bệnh giang mai.

Nàng lại thử máu dùm tôi và mỉm cười cho tôi biết kết quả:

–  Anh không có bệnh gì cả.

Tôi quả quyết:

–  Chắc chắn là tôi bị bệnh mà. Cô có biết không? Mỗi lần đi qua đây, tôi cứ thấy trong người bứt rứt, nôn nao, nóng sốt như là đang bị bệnh. Hay là tôi đã bị nhiễm bệnh bởi con vi trùng tình yêu của cô rồi?

Esther đỏ mặt xao xuyến. Qua ánh mắt nàng, tôi biết nàng muốn nói:

— Chàng ơi. Chắc em không thoát khỏi tay chàng nổi rồi. Em sắp khổn khổ điêu đúng vì chàng đây! 

Trại Tị nạn Nong Samet 

Sống ở Trại biên giới, chúng tôi như lọt vào vòng vây khổn; thế lực nào cũng muốn giết người Tị nạn Việt Nam. Nước Thái như bức tường thành của giác đấu trường, chận chúng tôi để làm con vật tế thần. Việt Cộng lên án chúng tôi là kẻ phản quốc, tội chỉ đáng lăng hình. Khmer Heng Samrin chủ trương “Kẻ thù của bạn ta là kẻ thù của ta.” Khmer Kháng chiến cũng chẳng nương tay: “Việt Nam Tự Do hay Việt Nam Cộng Sản cũng đều là Việt Nam. Mà Việt Nam là kẻ thù truyền thống!” Đến nỗi cả những người Khmer tị nạn, cùng hoàn cảnh, cùng số phận bi thảm như chúng tôi, thế mà đã có người tuyên bố công khai:

–  Ngày nào Việt Cộng tấn công vào đây, ông sẽ pẹt xà át bọn duôn tị nạn (giết đẹp bọn tị nạn Việt Nam).

Khmer Kháng chiến rất nể Thái. Ta phải thông cảm vì họ có nhiều lý do để nể Thái, họ nể vì phải ăn nhờ ở đậu trên đất Thái, nhờ sự bảo bọc của Thái, và ngoài ra còn là mặc cảm Dân tộc. Khi cái nể quá đáng cứ ấm ức trong lòng, họ bèn trút cái ấm ức đó xuống đầu Dân Tị nạn Việt Nam. Bao nhiêu thảm cảnh của người Việt trên đường tị nạn đi nhờ qua đất Kampuchia, bao nhiêu xác chết sình thối, dòi bọ, bao nhiêu bộ xương khô lăn lóc gió mưa, bao nhiêu người con gái bị cưỡng bức, lăng nhục, có người kiệt sức vì bị cưỡng hiếp hằng đêm, có người phải đem đi bệnh viện cứu cấp, vì vi trùng hoa liễu đã làm ung thối tử cung.

Nhỏ, một thanh niên Việt Nam nằm cạnh tôi đã kể đi kể lại nhiều lần, cho nhiều người nghe cầu chuyện: Một buổi tối bỗng nhiên có hai người lính Khmer vào bắt dẫn đi người bạn nằm cùng chiếu với anh ta. Mười lăm phút sau thấy họ xách trở về một bộ đồ lòng máu me còn chảy dòng dòng. Họ đã chiên xào để nhậu và bắt Nhỏ ăn thử một miếng gan.

Tuy nhiên từ ngày có Mặt Trận Liên Hiệp ba thành phần: Sihanouk, Son San, Khieu Samphon, những điều lệ, kỷ luật nghiêm khắc mới đã thay đổi một phần lớn những tệ hại kinh khủng đã xảy ra trong nhiều năm đẫm máu. Lực lượng Kháng chiến có quân số, có vũ khí, nhưng tinh thần chiến đâu còn bị ảnh hưởng bùa ngải và thần linh. Quân đội không có khả năng tự túc kinh tế, và ít nhận được viện trợ kinh tế. Họ sống chung với Cộng đồng Tị nạn, hưởng lương thực tiêu chuẩn của người tị nạn do Liên Hiệp Quốc cấp phát và tư lợi riêng duy nhất kiếm được là kiểm soát các đường buôn lậu Thái Miên. Mặc dù lực lượng của Sihanouk yếu nhất, nhưng ảnh hưởng của Sihanouk lại lớn nhất. Người dân Khmer từ Nam Vang đến vùng biên giới đều yêu mến và tin tưởng vào Sihanouk. Không có Sihanouk thì Mặt Trận Liên Hiệp sẽ không còn đủ uy tín và ảnh hưởng đối nội cũng như đối ngoại.

Tuy vậy nhìn chung Mặt Trận Liên Hiệp chỉ có hình thức hơn là thực chất vì Khmer Đỏ vẫn thỉnh thoảng ngoài việc tấn công lực lượng Son San bằng các trận phục kích, tấn công, còn len lỏi vào tận các làng do Son San kiểm soát để phá hoại. Ném lựu đạn, đặt mìn tại các rạp xi nê dã chiến, các chỗ giải trí của Khmer Son San tại làng Nong Samet đem lại nhiều tác hại nghiêm trọng. Bệnh viện Nong Samet là nơi thường xuyên nhận những người dân hoặc lính bị thương trong các vụ nổ mìn, lựu đạn giữa các phe Kháng chiến Khmer trước sự chứng kiến trong nỗi kinh hoàng của người Tị nạn Việt Nam.

Qua các cuộc tấn công của Việt Cộng vào Nong Chan, Nong Chak, tôi chẳng ngạc nhiên khi thấy chỉ trong một vài ngày, Việt Cộng đã hoàn toàn làm chủ các khu vực quân sự của Kháng chiến quân. Điều đáng ngạc nhiên là những Toán Đặc công, Trinh sát Việt Cộng không ám sát nổi các lãnh tụ Khmer Kháng chiến. Tôi chui khỏi Trại Tị nạn đi nghe ông Son San nói chuyện hai lần, lần nào cũng đứng gần trong vòng mươi thước. Tôi nghĩ nếu muốn, chỉ cần một trái lựu đạn, một khẩu súng hãm thanh hay một quả mìn chôn trên đường, Khmer Kháng chiến trở thành rắn mất đầu. Ôi huyền thoại của các tay ám sát quổc tế! Những công tác dễ dàng như thế mà các tay đồ tể cũng đành bó tay bất lực.

Lính Heng Samring là loại lính kiểng, một loại bù nhìn. Họ ít tham chiến và có một số, lại còn làm nội tuyến cho Khmer Kháng chiến. Đường buôn là phương tiện hoạt động mạnh nhất của các phe nhóm. Phe nào cũng gài gián điệp vào đám con buôn để lấy tin tức phe đối nghịch.

Riêng tại trại NW 82, từ ngày “ông cọp” (một cai tù Thái) bị đổi, tình hình đã khả quan nhiều. Ông cọp không chỉ là một đao phủ thủ, một con quỉ râu xanh đối với người Tị nạn Việt Nam, y còn dám cưỡng hiếp Phu nhân thứ năm của một Phum trưởng Khmer Kháng chiến vừa bị ám sát chết. Mỗi loại “thú người” đều có một nhân dáng đặc biệt. Trong nhiều năm bôn ba, tôi cũng đã thấy được nhiều khuôn mặt rùng rợn, bệnh hoạn, của những con người có sẵn bạo lực và dùng bạo lực để thỏa mãn những thú tính đê tiện của mình trên sự đau đớn, kinh hoàng và chết chóc của đồng loại. Cái nét chung của loại thú-người là cái sắc thái âm u chập chờn trên khuôn mặt họ, cái u ám của địa ngục môn. Trước ngày trốn khỏi Nong Samet, tôi có được hai chuyện vui.

Thứ nhất là được nhảy đầm. Tôi là kẻ crazy about dancing nên nhiều lần tôi khổ sở khốn đốn vì sở thích nầy. Trong thời gian vượt ngục A30 trở về Sàigòn, Nhà Văn Hóa Thanh Niên (gần Nhà Thờ Đức Bà) có tổ chức nhảy đầm tại sân quần vợt nên tôi chạy đôn chạy đáo kiếm hai đồng vào cửa mà không có, cuối cùng năn nỉ “băng kiến càng” thể dục thẩm mỹ giữ cổng xin vào. Gặp vũ sư Nguyễn Trọng (thầy dạy khiêu vũ cũ) đem theo một số nữ môn đệ, tôi chọn một partner để thi nhảy valse. Thế hệ trước 1975 có bỏ nghề lâu vẫn còn phong độ, nhờ thế mà tôi giật Cúp đêm đó. Tất cả khán giả đều cười ồ vỗ tay khi thấy kẻ đi chân đất, đôi dép quá cũ bị đứt quai khi nhảy, với quần vá đít, cái quần độc nhất, đi lên nhận Giải thưởng Valse.

Khi qua Kampuchia, tôi suýt bị bắt lại sau khi vượt ngục Nhà tù 7708 cũng vi tội mê nhảy đầm. Dân Khmer chỉ nhảy điệu Lâm Thôn, nên khi thấy tôi và một người bạn Việt Nam đánh cá khác nhảy Bebop, Cha cha cha khác lạ, họ để ý và hỏi giấy tờ. Nhờ may mắn và lanh trí, tôi đã lọt được lần đó. Ở Nong Samet, tôi phải kiếm công tác để được vào Trại NW 82 để nhảy đầm ké trong dịp tổ chức khiêu vũ Tết. Cái sân đất, bụi mù mịt như lốc xoáy khi hàng chục cặp Dân Tị nạn Việt Nam cùng Lính Thái quay cuồng khiêu vũ trên đó. Cuối cùng tôi bị hăm dọa và bị đuổi về vì nhảy quá nổi làm cho các ngài Lính gác Thái khó chịu.

Ngay cả thời kỳ ở tù Aran, Thái Lan, mặc dù mang đôi koòng khá nặng, trong những dịp lễ vui, tôi cũng không ngần ngại lót vải vào cổ chân để khỏi bị trầy, sướt chân khi nhảy biểu diễn điệu Cha cha cha theo lời yêu cầu của các bạn tù. Tiếng koòng khua rổn rảng theo từng nhịp sauter, cùng tiếng sàn gỗ kêu lầm rập là một trong những âm điệu hiếm hoi, khó quên trong ký ức của những ngày tháng đầy biến cố buồn vui của những người Tù Việt Nam tại Aran JaiL

Chuyện vui thứ hai là gặp lại Daniel, nàng mãn hợp đồng và trở về Thụy Sĩ đã mấy tháng. Không biết có phải vì “cái anh chàng gần chết mà vẫn còn đa tình” hay vì yêu mến chung tất cả người Tị nạn, Daniel đã xin trở lại phục vụ tại Thái Lan. Thật là một cuộc tái ngộ bất ngờ vì Daniel ghé Aran Jail hỏi thăm tôi, nhưng mọi người đều cố tình dấu nhẹm tin tức về tôi. Nàng ghé Nong Samet trong một công vụ đột xuất. Tôi cho nàng biết tôi sắp đi.

–  Anh đi dâu? Nàng hỏi.

–  Thân anh như cánh chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khỉ buồn thì

bay!

Tôi mượn câu ca dao diễn tả ý mình. Thông cảm hoàn cảnh tôi, nàng tặng tôi một bức hình khổ căn cước của nàng và vét hết tiền còn trong bóp để share your journey.

Mỗi ngày đứng nhìn người từ NW82 từng đợt lên đường đi Panat Nikhom, lòng tôi rối bời vì số phận cay đắng của mình. Tôi đang tính toán để chọn ngày khởi hành thuận tiện thì có hai biến cố ảnh hưởng trầm trọng đến quyết định, rút ngắn thời gian dự trù của tôi. Thứ nhất, ông Đại Tá Mập vừa ghé NW82, gặp “Long đen,” một cựu Sĩ quan, ông hỏi thăm tôi và nhắn nhủ với tôi qua Long đen:

–  Thằng Phi công Lý Tống ngày đầu tiên đến Thái Lan đã chửi tôi như tát nước vào mặt. Em báo cho nó biết, nó đừng hòng rời khỏi đây để đi định cư nước thứ ba. Nó phải chết rục xương ở tại vùng biên giới heo hút nầy!

Sự kiện thứ hai là cuộc tấn công đầu mùa khô của Việt Cộng vào trại Nong Chan. Ở Aran Jail, tôi đã biết trước, qua các tin của Bộ đội đào ngũ, Việt Cộng sẽ đánh chiếm các căn cứ của Khmer Kháng chiến trong đầu mùa khô, sẽ làm hàng rào điện tử MacNamara dọc theo biên giới Khmer—Thái… Chỉ có một điều đáng ngạc nhiên là Việt Cộng mở đầu Chiến dịch trễ hơn dự trù.

Ở trại Nong Samet, hình như chỉ có những gia đình có con nít là tương đối tạm đầy đủ vì mỗi ngày bệnh viện Nong Samet đều phát riêng khẩu phần cho trẻ con mỗi đứa mỗi tô cháo thịt lớn, một quả trứng, một trái chuối hoặc trái cây khác, nhờ thế mà cha mẹ chúng có thể ăn ké vào để tạm no. Ngoài cái khổ vật chất, cái khổ tinh thần nặng nhất là không có hy vọng được giải quyết. Ngay chính một vị Linh mục phụ trách các Trại Tị nạn vùng biên giới cũng đã một lần tự thố lộ:

–  Các con biết tại sao người ta không muốn giải quyết vấn đề tị nạn không? Cứ tưởng tượng ai đến được đây cũng sẽ được nhanh chóng đi Mỹ, đi Pháp… Đến nước thứ ba các con sẽ viết thư về báo tin làm phân khởi các thân nhân ở Việt Nam. Thế rồi 50 triệu dân Việt Nam đều rủ rê nhau lần lượt lên đường đi tị nạn. Vậy ai sẽ đủ sức lo hết cho các con, nước nao sẽ thu nhận hết các con đây? Vậy giữ các con ở lại đây thật lâu, hoặc sẽ không giải quyết, đó là cách hữu hiệu nhất để ngăn chận làn sóng tị nạn!

Mỗi Trại Tị nạn đều có mỗi sắc thái riêng, nhưng cái chung nhất vẫn là sự thiếu thốn, tù túng, thất vọng, nhục nhã… Môi trường của Trại Tị nạn dễ làm con người biến chất. Đó là gạch nối mong manh giữa Tự do và Nô lệ, giữa Đau khổ và Hạnh phúc, giữa Kinh tế và Chính trị. Nhiều bạn tị nạn vẫn thường than thở:

–  Mình sống ở đây thua một con chó Mỹ.

Vâng! Sự thật là như vậy. Nhưng ước gì được nghe những câu

nói:

–  Tôi sống ở đây khổ hơn một con chó Mỹ. Nhưng tư cách tôi thì những người Mỹ khả nhất cũng phải nể phục, yêu mến.

Vâng! Vượt biên, hãnh diện với danh xưng vượt biên, nhưng mấy ai đã vượt qua được cái biên giới tầm thường hèn mọn trong mỗi cá nhân mình. Sau mỗi cuộc vượt biên thành công, mỗi cá nhân tự thấy thỏa mãn về thành tích mình, tự xem trời bằng vung, chẳng chịu hòa hợp, nể phục ai. Vì thế mà hành trang lý tưởng, nhiệt tình của ngày đầu bước chân lên tàu đã bị Chủ nghĩa Cá nhân, Chủ nghĩa Tự mãn thui chột tất cả. Kẻ chia bè chia phái, kẻ thành lập vương quốc riêng, bất cứ mọi hành động tốt xấu của tha nhân đều bị chỉ trích, bài bác. Có kẻ còn quên bẵng kẻ thù chính là Cộng Sản, cứ rắp ranh mũi dùi thù địch về phía bạn bè, chiến hữu.

Người Tàu đi đâu cũng đoàn kết giúp đỡ nhau, người Do Thái mấy ngàn năm vẫn ôm mộng phục quốc và đã thực sự phục quốc, người Nhật mổ bụng không chịu đầu hàng, người Pháp thủy chung, tình nghĩa. Còn chúng ta, những người Việt Nam lưu vong với một lịch sử oai hùng, một truyền thông bất khuất, há lẽ nào lại xuôi tay làm kẻ vong quốc suốt đời? Cuộc sống nặng khuynh hướng vật chất làm một số người đánh mất mục đích đời sống. Có kẻ sống đời sống của những xác chết và nhận thức lầm lạc về những giá trị chân chính. Và ngay chính bài học Cộng Sản, bài học Tự Do, mỗi người còn nhận thức một cách khác nhau.

“Hùng mập,” một trong những người được hưởng tiện nghi vật chất trong một xã hội nheo nhóc lầm than, nhờ những của chìm của nổi còn dấu được và nhờ sự tài trợ của thân nhân từ ngoại quốc, đã than trách và tiếc nuối những ngày sống huy hoàng tại Sàigòn dưới Chế độ Cộng Sản: –  Biết đi vượt biên khổ thế nầy, thà ở lại Việt Nam sướng hơn!

Chương III 

Vượt Ngục Tại Thái Lan 

Trốn Trại Tị nạn Nong Samet

Vượt Biên Giới Thái-Miên Lần Nhì

Trại Nong Samet, trại NW82, chỉ cách nhau một hàng rào tre tăng cường kẽm gai, phía Bắc và Tây là khu nhà dân Khmer tị nạn, phía Nam là con đường chạy Đông Tây thẳng qua biên giới Thái Lan. Trại Nong Samet chỉ là một phần phụ thuộc trong khu vực Bệnh Viện Nong Samet, gồm hai gian nhà lớn bằng tranh và tre, chứa hơn 150 người tị nạn phần đông gốc Khmer Krom và Muslim.

Hai giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1983, căn gác tre rùng rùng chuyển động bởi sự xô đẩy, chen lấn và tiếng chân chạy rầm rập. Nhiều người không kịp theo ngõ cầu thang, nhảy bừa lên mùng kẻ đang nằm gian dưới, tiếng người đạp, đè lên nhau kêu la inh ỏi. Sự hỗn loạn tăng dần với tiếng đạn ầm ầm pháo kích, tiếng đại liên gầm rú và tiếng xích sắt xe tăng. Nghe và định vị trí, chúng tôi tiên đoán cuộc đụng độ ác liệt đang diễn ra tại Nong Chan. Tình hình căng thẳng đã lâu, và đã có lệnh chuẩn bị di tản người Tị nạn theo kế hoạch sang đất Thái Lan trong trường hợp khẩn cấp. Tôi chờ đợi thời cơ thuận tiện để dọt luôn. Điều đau khổ nhất trong buổi sáng hôm đó là sự biến mất của đôi giày ba ta. Tay bạn gian ác nào đã chôm, đã chặt đôi chân của tôi rồi. Tin từ các người Khmer chạy loạn từ Nong Chan cho biết Việt Cộng đã chiếm được Trại Tị nạn và tàn sát hết các người Việt tị nạn tại đó. Mọi người chờ đợi số phận mình trong kinh hoàng. Tôi quyết định bỏ trôn càng sớm càng tốt. Không thể chờ nước đến chân mới nhảy.

Tám giờ tối hôm đó, tôi đánh lừa người trực đêm, xách túi hành trang chui hàng rào kẽm gai đi về hướng biên giới. Một toán lính Thái đi phục kích với một cây đàn và một chai rượu. Khmer Kháng chiến rải quân khắp nơi, đặc biệt trên đoạn đường biên giới tôi sẽ băng qua. Súng khắp nơi sẽ nổ dòn khi phát hiện một kẻ lạ đang bôn tẩu trong bóng tối. Tinh hình báo động làm cuộc đi trốn của tôi càng khó khăn nguy hiểm hơn. Tôi đi về hướng mà theo những tin tức kể lại có rất nhiều con buôn người Khmer đã bị chết trong những năm tháng đầu tiên vượt bãi mìn biên giới để chuyển hàng lậu từ Thái Lan, tránh các đường mòn để khỏi lọt vào ổ phục kích, tránh các vị trí thường gài mìn theo qui tắc chung. Đã từng trải một mình với những hiểm nguy tương tự, tôi thấy bình thản, tuy vẫn cẩn thận trong các động tác di chuyển.

Đến được địa phận phân chia ranh giới, tôi lội qua khỏi con mương ngập sình, nước. Tiếng xe Jeep và xe Honda tuần tiễu râm ran bên cạnh, ánh đèn xe và tiếng động cơ giúp tôi phát hiện vị trí của Đội Tuần phòng biên giới để ẩn nấp, trốn tránh kịp thời. Tôi bò qua con đê và đặt bước chân đầu tiên xuống lãnh thổ Thái Lan. Tôi đã thuộc nằm lòng đoạn đuờng nầy qua các bản đồ di tản treo tường, qua các câu chuyện hàn huyên với các người bạn ngoại quốc.

Từ con đường dọc biên giới đến trục lộ song song chạy về Aranyaprathet khoảng cách mươi cây số. Sau khi qua biên giới, tôi sẽ cắt theo hướng Tây Nam, băng qua con đường nằm ngang nối liền hai trục lộ, len lách giữa các trạm kiểm soát dọc đường. Khoảng cách chim bay băng rừng là mười lăm cây số, rồi từ đó theo trục lộ chính bốn mươi cây số về Aranyaprathet.

Vì muốn tránh các đường mòn, nên khi qua được biên giới chừng hai cây số, tôi đi lạc vào rừng tre, trời tối tăm gây nhiều trở ngại cho cuộc hành trình. Tôi quyết định ngồi nghỉ một tiếng đồng hồ chờ trăng lên, dùng mền đem theo lau sạch bùn sình để khỏi làm dơ áo quần khi mặc vào và trải mền nằm nghỉ trong khi chờ đợi. Trăng mọc cao, ánh sáng lồng lộng khắp không gian, tôi đã nhìn rõ những bụi tre, gai góc, những chướng ngại vật trên đường. Lấy mặt trăng phối hợp sao định hướng, tôi đi tiếp. Tôi đã thức hàng đêm ở Nong Samet để nghiên cứu sự chuyển dịch của những ngôi sao chuẩn. Rừng tre lùi dần và tôi gặp năm, sáu con sông liên tiếp chận ngang đường và một lần nữa, tôi lại cởi hết đồ để tranh thủ thời gian. Tôi dùng mền gói quần áo lại để vượt sông, rồi vác trên vai đi một mình dưới ánh trăng vằng vặc. Trăng sáng đến rờn rợn da thịt. Ánh trăng làm nổi bật những đường nét, những góc cạnh hấp dẫn nhất của thân thể người đàn ông trần truồng. Tưởng tượng một thiếu nữ nào đó bỗng dưng vô tình bắt gặp tôi đang tồng ngồng như vầy, có lẽ cô ta sẽ lính quýnh thẹn thùng mắc cỡ vì cảnh tượng kỳ cục. Ánh trăng sáng nhễ nhại cùng ý nghĩ bâng khuâng đã làm tôi động tình trong một hoàn cảnh không thích hợp.

Nhiều chòi gác trên đường bị bỏ hoang. Tôi băng qua những cánh đồng trống sau mùa gặt, vượt qua con đường cắt ngang, tôi thấy nhẹ nhàng vì đã đi hết tám cây số của nửa đoạn đường đầu tiên. Từ đây tôi phải toàn đi xuyên rừng, không rậm nhưng phải đi vòng tránh né những chỗ đáng khả nghi làm mất thời gian và kéo dài khoảng cách. Những ngôi sao chuẩn Tây Nam đã chuyển dịch về Nam. Sao Nam Tào sáng lộng lẫy như một ngọn đèn treo lơ lửng. Trong suốt cuộc hành trình 2,500 cây số vượt biên tôi chưa bao giờ trông cậy được vào sao Bắc Đẩu.

Những chòi canh rải rác mà tôi đã thận trọng né tránh, không còn đáng quan tâm nữa. Quân đội Thái mấy trăm năm hòa bình nên tinh thần cảnh giác hời hợt, họ quá tin tưởng vào những lực lượng trái độn của Khmer Kháng chiến như là một bức rào cản kiên cố và hữu hiệu. Sau mười lăm cây số đi xuyên rừng và đồng ruộng, tôi ra trục lộ chính, một mình thênh thang trên đường rộng đi về hướng Nam. Qua những nơi có buôn làng, tôi lại vòng vào rừng để tránh Trạm gác, những Đội Tuần tiễu hoặc phục kích ban đêm. Một trục lộ chạy từ Bắc xuống Nam không có nghĩa là lúc nào, bất cứ đoạn đường nào cũng nằm theo hướng Bắc Nam. Tôi quên nghĩ đến điều đó, nên sau khi vừa băng rừng trở ra lộ, gặp một con đường hẹp chạy theo hướng Đông Tây, tự cho là một đường rẽ phụ nên tôi băng qua đường tiếp tục dò tìm lộ chính. Đi mãi vẫn không gặp đường và vì lỡ đi nên cứ ráng đi tiếp.

Sau khi băng qua một con đê, tôi đã đi lạc ngược về hướng lãnh thổ Kampuchia, gần trận địa chiến giữa quân Kháng chiến Khmer Nong Chan và Lực lượng Việt Cộng. Trời đêm đang yên tĩnh bỗng nổ rền tiếng súng, mở đầu cho một trận đánh mới. Tôi phải chạy ngược trở lại và cuối cùng lạc vào khu vực đám người Tị nạn Khmer chạy loạn qua đất Thái. Tiếng Khmer và tiếng Thái văng vẳng đây đó. Tôi đi suốt đêm tranh thủ tìm lại đường cũ, đến sáng, đang mò mẫm đi theo đường mòn, tôi bỗng gặp một toán người đi ngược chiều. Tôi phát giác ra họ trễ nên khi rẽ tránh đường khác, họ đã lên tiếng bắt dừng lại. Tôi liền phóng chạy, họ nổ súng rượt theo. Sau một đoạn đường, tôi bỏ rơi họ và nấp trong một bụi tranh nằm chờ tình hình yên lắng, rồi tìm cách vượt qua con đê phòng thủ. Vừa đến chân đê, tôi lại bị một tên gác trong lô cốt phòng thủ phát hiện, nổ súng. Tôi nhanh chân đào tẩu và đi bọc rừng về hướng Nam trong nhiều giờ để tránh khu vực tuần tiễu nghiêm ngặt.

Cuối cùng tôi chọn được một vị trí thuận lợi để vượt đê và băng qua nhiều đường ngang dọc thuộc hệ thoing phòng thủ. Một dãy Chòi gác được bố trí cách đều nhau từng khoảng một trăm thước, trâu bò và mục đồng thấp thoáng đó đây. Ngoài kia, trên trục lộ chính xe cộ rộn ràng. Có lúc tôi đi bình thản như một người dân địa phương, có lúc tôi phải nấp lén theo từng gốc cây, từng lùm bụi, cỏ tranh để tiến về trước. Trên đường nhiều xe chở nước uống mang nhãn hiệu ICRC. Tôi phải nấp vào lề để tránh mỗi lân gặp xe của ICRC, bởi vì ông Khôn, người Thái, nhân viên ICRC Trưởng Trại Nong Samet biết tôi quá rõ, đã từng khiển trách và ra lệnh cấm khi bắt gặp cô bạn Phi Luật Tân một lần chở tôi đi theo xe ICRC, làm như đi công tác, nhưng thật tình là để nghiên cứu ngõ ngách đường vượt biên giới. Giờ nầy ông ta đang ruồng xe đi kiếm bắt tôi.

Đường phố, thành phố là nhũng nơi chốn tương đối an toàn cho kẻ đào tẩu. Biết bao người bạn của tôi đã vượt ngục, thoát khỏi các Trại tù Cộng Sản, nhưng cuối cùng đói khác, kiệt lực, lạc lối, bệnh hoạn, chết trong rừng hoặc bị bắt chuyển giao lại cho Trại Tù, trong khi tôi ung dung trên những đường quốc lộ và đường phố an toàn. Đoạn đường càng trống trải thêm vì những bìa rừng được đốt khai quang, có nhiều cổng gác hơn sự dự trù. Tôi chỉ đem một bộ quần áo nên mỗi lần băng rừng phải lộn ngược áo quần mặc bề trái để khỏi dơ vì càn lướt các cây cỏ cháy đen. Ra đến đường tôi lộn ngược lại, mặc vào.

Gai góc, gốc tranh đâm xuyên qua đôi dép Nhật cũ mỏng dính làm bàn chân tôi rướm máu, sưng tấy. Tôi đến gần vùng có nhiều người đang câu và bắt cá quanh những vũng nước rộng. Tôi đánh bạo đi vào kiếm chỗ vắng uống nước và tắm giặt, thái độ bình tĩnh của tôi không làm họ nghi ngờ. Hưởng trọn vẹn thú vệ sinh, sạch sẽ và mát mẻ, tôi mặc quần ướt, đi phơi nắng cho khô. Từ giờ, mỗi lãn gặp trạm gác, tôi phải ở trần để băng rừng để giữ sạch áo quần. Cỏ tranh, gai góc đâm, cắt rách nát toàn thân nhưng tôi chịu đựng đau đớn, lấy da thịt để thay thế áo quần. Sau khi đi bọc qua được một trạm gác gay go, tôi ngồi nghỉ bên lề đường quan sát. Những chiếc xe ba gác chở than lóc cóc chạy cùng hướng với tôi, thấy họ đi qua trạm gác trước mặt đường hoàng chẳng bị chận hỏi. Vì quá mệt mỏi và khổ sở với những đoạn băng rừng, tôi quyết định đi theo họ để đỡ tốn sức. Khi gần đến cổng, tên gác nhìn tôi hỏi bằng tiếng Thái:

–  Bai nãy? (Đi đâu?)

–  Phủm cặp ban. (Tôi đi về nhà.)

Ở những khu vực xóm làng nhỏ gần biên giới hầu như người cùng địa phương đều biết mặt nhau do đó họ nghi ngờ tôi vì thấy lạ mặt. Tôi vừa trả lời vừa đi tỉnh, tên gác hỏi với theo:

–  Có giấy tờ không?

Tôi nhún vai:

–  Có chứ. Nhà tôi đằng kia kìa.

Và tôi cứ thản nhiên đi tiếp. Tôi cảm thây thú vị và tự phục mình khi không còn nghe tiếng hỏi nào hoặc thắc mắc nào phía sau. Tưởng đã thoát, nhưng đi được chừng năm mươi thước bỗng có xe Honda đằng sau chạy đến, chận tôi lại.

–  Đi đâu đó?

–  Về nhà.

–  Nhà ở đâu?

– Phum Sung. Tôi trả lời theo đúng địa danh đã nghiên cứu trước.

–  Mầy trở lại cổng gác để xét giấy tờ!

Nói xong tên ngồi sau nhảy xuông xe định giữ tôi lại vì thấy tôi cứ tiếp tục vừa đi vừa trả lời. Bất ngờ tôi phóng vụt chạy về phía rừng. Tiếng súng Colt .45 nổ chát chứa đầu tiên và tiếng súng AR15 tiếp sức, rồi nhiều loại súng khác nổ rền khi toán lính gác chạy theo tiếp viện. Tôi đã nắm qui luật qua các lần chạy dưới lằn đạn nên hoàn toàn yên tâm.

Giai đoạn đầu khi tôi bật vùng chạy, phản ứng bất ngờ làm tên Lính lính quýnh hốt hoảng trong động tác mở khóa an toàn và bắn viên đạn khai hỏa. Khi tôi chạy được một khoảng xa, họ vẫn còn có ý định bắn dọa dẫm để bắt sống. Khi tôi cách xa chừng một trăm thước, vì súng ống nặng nề, áo quần, giày vớ trở ngại, lại vừa chạy vừa bắn nên khả năng tác xạ mất chính xác, hữu hiệu. Do đó họ không còn làm chủ lằn đạn của mình.

Tôi chạy vì sống còn, chạy thoát hoặc chết, họ chạy vì nhiệm vụ, bắt được cũng tốt, không bắt được cũng chẳng mất mát gì. Tôi càng chạy càng yên tâm vỉ càng có hy vọng thoát, họ càng chạy càng bất an, càng lo ngại bởi vì biết đâu tôi có vũ khí tấn công lại họ. Tôi chạy nhẹ nhàng bởi vì sinh tử cũng một mình ta, họ chạy nặng nề bởi vì gánh nặng vợ con, gia đình, vì gái, rượu đang chờ họ. Tôi chạy trong những niềm tin tuyệt đối hướng về Thượng Đế, tôi chạy bằng sức mạnh của cái đầu mặc dù cơ thể tôi đã hoàn toàn kiệt lực. Có lẽ tôi đang có súc mạnh của một Hercule, cái sức mạnh tưởng tượng mà hồi trẻ tuổi, thỉnh thoảng những lúc sinh lực cuồn cuộn trong người, tôi có cảm tưởng mình đủ súc xô đổ một gốc dừa lớn hay phóng bay từ cây nầy sang cây nọ như một Tarzan. Tôi đã từng chứng kiến cảnh thằng Cứt anh, mười tuổi, nhảy qua một hàng rào thép gai cao gấp rưỡi thân mình khi nó ăn cắp đồ bị phát giác và bị rượt đuổi. Người mất đồ đứng ngẩn ngơ bất lực trước hàng rào cao và kinh ngạc nhìn nó tẩu thoát.

Tôi đã từng phóng qua một bức tường cao, gắn miểng chai, mà lúc bình thường leo trèo tận lực cũng khó qua được, khi tay không một mình đụng độ một đám đông du đãng và suýt bị thanh toán. Những súc mạnh huyền nhiệm nào đã nâng bổng con người qua nhũng trở lực quá lớn lao và tôi chỉ kịp nhận ra mình sau khi té chúi nhũi vào đám cỏ tranh cằn cỗi, còi cọt, khi bóng dáng kẻ đuổi theo mình đã mất hút. Lồng ngực khẩn cấp bơm xả tranh thủ hút lượng dưỡng khí tối cần mà cơ thể đang đòi hỏi gấp rút. Tiếng tim đập đùng đùng như tiếng trống dồn săn thú, chưa kịp lấy lại hơi đã nghe tiếng chân người chạy lại. Tiếng chần dẫm thình thịch át hẳn tiếng tim đập rộn ràng lồng lộn trong ngực, tôi cảm giác tê dại đi vì sự xúc động đang dồn nén lại.

Cách tôi năm thước, hai tên Lính dừng lại, lục tìm xung quanh một bụi rậm. Tôi đã đoán trước những chỗ thường hay bị lục soát nên đã quyết định không chun vào đó trốn. Họ đảo mắt nhìn quanh quan sát. Tôi chẳng biết y nhìn phía nào, quan sát ở đâu, bởi vì tôi đã bắt đầu nhắm mắt lại, một cảm giác âm ấm ở đôi mắt. Đã lâu lắm rồi, tuyến nước mắt của tôi đã ngưng làm việc nên cuộc đời dù có đau đớn ê chề, cũng không bao giờ làm tôi chảy nước mắt. Thế mà giờ nầy, một giọt nước mắt vùa tiết ra đủ làm ướt con ngươi. Tôi hướng về Thượng Đế cầu nguyện trong im lặng:

– Lạy Thượng Đế. Nếu tôi không còn xứng đáng để sống, nếu tôi không còn xứng đáng để phục vụ Ngài, xin Ngài hãy giết tôi bằng chính bàn tay Ngài, đừng để tôi rơi vào bàn tay tàn độc của kẻ thù.

Cầu nguyện xong, tôi cảm thấy hoàn toàn yên tâm vì đã giao trọn sinh mạng vào quyền quyết định của Đấng Tối Cao. Có tiếng nổ lép bép như tiếng cây cỏ khô đang bị đốt cháy, có lẽ họ định đốt rừng để xua đuổi tôi ra khỏi chỗ ẩn nấp? Tiếng động phát lên từng chập và cuối cùng im hẳn, hình như cỏ không chịu bén cháy và họ bỏ đi. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, nằm nghỉ dưỡng sức đến chiều tối. Sửa lại áo quần, tôi ra chỗ hai tên lính, đứng nhìn vào chỗ mình nằm. Trời đã về chiều hẳn mà tôi còn nhìn thấy nhũng chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đám cỏ tranh lưa thưa, xơ xác. Thật kỳ diệu, lạ lùng. Bàn tay nào đã che những đôi mắt kia cho tôi nằm tràn trụi bình yền, an toàn?

Từ giờ phút đó, tôi không còn biết e ngại lo lắng trước nhũng hiểm nghèo, tôi biết rằng tôi còn sống, bởi vì tôi xứng đáng để sống và tôi bắt đầu nghĩ đến một tín ngưỡng riêng cho mình: Thượng Đế.

Đạo Thượng Đế

Tôn giáo như một bàn tay và các Đạo như Phật, Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái, Hồi… là những ngón tay. Về hình thức, mỗi ngón tay đều có những đặc tính riêng, nhưng tựu trung đều bắt nguồn từ bàn tay. Nhân loại đến với Thượng Đế thông qua Giáo Chủ của các Đạo. Tôi tiếp cận trực tiếp với Thượng Đế thông qua Đạo Thượng Đế  bởi tôi là tên Hề của Thượng Đế. Thượng Đế tạo ra vũ trụ và vạn vật. Người đang điều hành mọi sinh hoạt của muôn loài. Thượng Đế ở khắp mọi nơi và hiện hình trong muôn vật. Thượng Đế có trong mỗi con người và mỗi con người có trong Thượng Đế. Vậy Thượng Đế và con người là một. Thượng Đế được biểu tượng bằng hình người hành lễ qua các nghi thức. Đạo Thượng Đế có biểu tượng chính là Tình Yêu. Những biểu tượng khác gồm sự Quán thông, Sức mạnh, Vũ trụ, Trí thức và Lao động. Đạo Thượng Đế được thể hiện qua 7 Biểu tượng và 7 Nghi thức.

  1. Biểu Tượng Đạo Thượng Đế
  2. God: Đạo Thượng Đế
  3. Vương miện số 7:  Sự quán thông, tinh tấn.1
  4. Tóc dài: Sức mạnh (theo huyền thoại thần Samson, khi bị cắt tóc ngắn sẽ mất thần lực).
  5. Love: Tình Yêu. Chữ Love tạo thành các bộ phận chính trên thân thể:

L: Lỗ mũi.

O: Ngực đàn ông.

V: Ngực đàn bà.

E: Bộ phận sinh dục Nam-Nữ.

  1. Ngôi sao ở rốn: Biểu tượng vũ trụ.
  2. Sách: Bàn chân phải, hình cuốn sách, tượng trưng Trí thức
  3. Búa: Bàn chân trái, hình cái búa, tượng trưng Lao động.

Đạo Thượng Đế có tính cách thần linh nhưng thực tiễn và nhập thế. Tin tưởng vào Thượng Đế để dấn thân phục vụ nhân loại, góp tay xây dựng nền tảng xã hội dựa trên hai giới: Trí thức và Lao động.

Đạo Thượng Đế chỉ quan tâm đến sự sống, con người đang sống, không quan niệm Địa ngục hay Thiên đàng sau khi chết, vì “Địa ngục trần gian” hay “Thiên đàng hạ giới” đã thực sự hiện hữu trên trần thế, trong tâm thức và ý tưởng mỗi con người đang thực tồn và hiện hữu. Nhân quả cũng có tác động trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày.

  1. Nghi Thức Đạo Thượng Đế
  2. Nơi hành lễ: Trên giường ngủ, trên bãi cỏ hoặc trong một nhà thờ hình vòm bằng kính trong suốt.
  3. Bàn thờ: Là bầu trời nơi Thượng Đế đang ngự trị.
  4. Khăn lễ: Màu đỏ: Tượng trưng cho sự hy sinh bằng máu. Màu trắng: Tượng trưng cho sự tinh khiết, trong sạch.
  5. Nhân sự: Người cầu nguyện hoàn toàn khỏa thân trở về nguyên trạng hình hài lúc tạo sinh. Người cầu nguyện nằm ngửa trên khăn lễ, chân tay và thân mình xếp thẳng hướng về bầu trời.
  6. Thông tri: Đạo Thượng Đế khi cầu nguyện nhắm mắt, im lặng (nói bằng tâm thức) và tập trung tư tưởng để thông tri với Thượng Đế.
  7. Hành lễ: Trước khi đi ngủ, Tín đồ hành lễ qua các giai đoạn:
  8. Đối tượng Đối diện:

(1) Chấp tay trên trán: Đối diện với Thượng Đế. Bắt đầu kiểm điểm sinh hoạt và tư tưởng trong ngày, dựa trên Chân lý phục vụ tha nhân và quần chúng, hướng thiện để xây dựng một tâm hồn đẹp, một tri thức trong sáng. Kiểm điếm lại những khuyết điểm.

Cầu nguyện Thượng Đế ban cho sự sáng suốt để phân biệt chân-giả, thiện-ác, để tìm giải pháp thích ứng giải quyết những trở lực trong trong Sứ mệnh phục vụ Thượng Đế.

(2) Mở rộng vòng tay: Đối diện Tha nhân. Yêu thương tha nhân. Không thù ai. Không giận ai. Không xúc phạm làm thương tổn ai. Không ích kỷ, thiên vị, ganh tị. Cảm hóa Tha nhân cùng hướng về một cứu cánh lương hảo.

(3) Xếp tay bên hông: Đối diện Bản thân. Tự chế, tự khắc kỷ bản thân để phục vụ Chân lý, Chính nghĩa tức phục vụ Thượng Đế.

  1. Đối tượng Tri ân:

(1) Chấp tay trên trán: Tri ân Thượng Đế.

(2) Chấp tay trên ngực: Tri ân tha nhân.

(3) Chấp tay trên bụng: Tri ân tự thân.

  1. Chấm dứt Hành lễ: Lấy khăn lễ đắp thân thể ở trần để ngủ.

Trong các lần cầu nguyện, chỉ có thời gian sau ngày đi Penang gặp Anthony Paul, phóng viên Nguyệt san Reader’s Digest tôi cảm thấy hạnh phúc nhất vì tôi đã dùng tất cả số tiền thù lao từ cuộc phỏng vấn tặng các Hội đoàn. Nghĩ đến các trẻ vị thành niên có được một buổi picnic tắm biển, Cộng đồng Tị nạn Khmer và các Hội đoàn Việt Nam có thêm chút tài chánh sử dụng vào việc hữu ích, thiết dụng, lòng tôi êm ả, thú vị. Đây cũng là dịp để tôi kiểm nghiệm lại tâm hồn mình. Tôi không hề tiếc nuối khi làm việc tốt vì tha nhân bởi Tất cả mọi người đều có quyền ngăn tôi làm đĩều xấu. Nhưng không một ai có thể ngăn tôi làm điều tốt đẹp, hữu ích. Tôi đang thực sự biết hưởng cái Hạnh Phúc kỳ lạ mà 8 năm gian khổ, đày đọa đã mở ra trước mắt tôi một Chân Lý mới. Con người có thể lừa dối con người, nhưng con người không thể tự lừa dối Lương Tâm và Thượng Đế. Đó là yếu tố căn bản để sự Cầu Nguyện có ý nghĩa trung thực và thành khẩn.

Chú Thích: 1  Sự kỳ diệu của số 7.

Đức Phật khi đản sinh, 7 bước nở 7 đóa sen tiêu biểu toàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và sự thanh khiết để hóa độ chúng sinh. Số 7 còn biểu thị sức tinh tấn, siêu thoát 6 cõi sanh tử luân hồi.

Số 7 còn tượng trưng 7 tầng địa ngục, Đức Chúa Trời mất 7 ngày sáng tạo vũ trụ, Adam lấy xương sườn số 7 tạo ra Eva, tuần có 7 ngày, nghệ thuật có 7 ngành, âm nhạc có 7 nốt, văn minh nhân loại có 7 kỳ quan thế giới, 7 giai đoạn tiến hóa, 7 lỗ trên mặt người hay thất khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, và miệng), 7 trạng thái tình cảm tức thất tình (ái, ố, hỉ, nộ, lạc, ai, dục), thứ quý báu nhất tức thất bảo (vàng bạc, ngọc, hổ phách, mã não, xà cừ, san hô và lưu ly)…

Xem thêm Số 7 kỳ diệu tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/7_%28s%E1%BB%91%29

Trở Lại Aranyaprathet 

Trở lại đoạn hành trình, tôi đang đối chiếu các dữ kiện để xác định phương hướng, tôi cảm thấy bối rối trong những bài tính không có giải đáp. Tôi đang đi về phương Nam, tách vào rừng bên phải đường trong lúc chạy trốn. Thế thì tại sao mặt trời lại lặn phía bên kia đường? Và phía đổi diện là tiếng nổ của trận địa pháo binh bắt đầu khởi sự? Như vậy để tới Aran phía Nam tôi phải đi ngược về hướng mình đã đi suốt ngày hôm nay? Có lẽ nào tôi đã đi quá địa phận Aran và bây giờ tôi phải đi trở lại? Chỉ vì không xác định được điểm đứng nên giờ nầy tôi bị lạc đường mặc dù vẫn có hướng chuẩn của mặt trời và các vì sao. Cuối cùng tôi chợt nghe nhiều tiếng xe nổ dòn dã, và đặc biệt, một góc bầu trời hướng Đông rực sáng ánh đèn. Đèn điện, đô thị là điểm chuẩn quan trọng nhất, đi lạc vào đô thị an toàn hơn đi lạc vào rừng. Tôi quyết định đi về hướng ánh sáng và tiếng động, gặp một con đường nhựa, những giải lụa bạc nhỏ nằm lờ mờ bên lề đường là những vũng nước tôi đang cần để giải nhiệt cổ họng khô rát.

Sau mấy giờ lầm lũi đi, tôi đến một chiếc cầu bắc ngang sông, có đèn pha cực mạnh và nhiều lính gác. Bên trái đường, một dãy nhà nằm dọc theo bờ sông, đèn điện và các máy hát hoạt động inh ỏi từ một khu chợ búa. Tôi chuyển sang phía lề phải đường, khu vực bên nầy tương đối vắng vẻ và tối, có một con đường rẽ nằm phơi mình lõa lồ dưới ngọn đèn pha sáng rực. Tôi quyết định băng qua đường bằng cách lăn tròn. Nếu tôi trườn bò ngang đường, chiều dài của thân mình dễ làm toán lính gác chú ý và phát hiện. Nằm dọc theo đường rồi lăn tròn qua đường, chân quay về hướng trạm gác và đèn pha, tôi có thể quan sát họ và họ chỉ thây bàn chân của tôi, còn thân hình dài có thể bị nhầm là một cái bóng, chỉ là một con chồn hay một con thỏ chạy qua đường và cái bóng của nó. Chắc chắn họ sẽ nghĩ như vậy nếu bất chợt thấy tôi.

Tôi vượt qua đường và bắt đầu băng rừng đi về hướng xa hơn, có ánh đèn điện sáng hơn và tiếng nhạc vọng lại thật lớn từ một rạp chiếu bóng của một thành phố. Tôi quá mệt vì suốt một đêm, một ngày đi không ngưng nghỉ, chưa kể mấy lần bị rượt chạy hụt hơi. Tôi lại bắt đầu khát nước kinh khủng, cái thứ nước dơ bẩn uống vào làm lả người đi rồi bỗng đột nhiên bốc hơi nhanh chóng. Cái khát đạt đến mức độ có thể thông cảm được trường hợp những con người phải đổi vài nắp bi đông nước bằng một chỉ vàng hoặc đâm chém nhau tranh giành một ngụm nước. Tôi dùng một khúc cây, chống đi dò dẫm, lết từng bước một. Tôi phải tìm thêm một khúc gậy thứ hai, bởi vì phải hai gậy, tôi mới đỡ nổi thân mình kiệt sức không té quị xuống trên những đoạn đường gập ghềnh đầy chông gai.

Tôi nhớ những ngày đi rừng khiêng gỗ. Đường dốc cao hiểm hóc phải trèo hàng giờ mới đến đỉnh, những khúc gỗ nặng, lớn như những thớt voi khổng lồ mà đám Tù binh bệnh hoạn bu bám vào như một bầy kiến. Có những khúc đường trơn trợt, chúng tôi phải bám trụ vào đòn khiêng. Bước xô lệch nghiêng ngã vì sức nặng oằn vai, vì những khúc quẹo gắt, những dổc dựng đứng, hồi hộp như đi dây tử thần, bởi vì chỉ một nguời té, sẽ làm cả toán tuột vai. Khúc gỗ đổ dốc sẽ cán chết người khiêng đằng trước. Lúc dò dẫm từng bước qua những con suối cạn, đầy ghềnh đá nhọn trơn trợt, những quãng đường thăm thẳm mù khơi. Như bầy nô lệ thời Trung cổ, chúng tôi dùng sức người trong thời đại máy móc hiện đại.

Càng lúc càng quá mệt, thấy mặt mình quắc lại, nhăn nhúm, hổc hác vì kiệt lực, tôi ngừng vài phút nghỉ chân, móc túi lấy chiếc gương nhỏ soi mặt để chợt nhận ra dáng dấp thiểu não của mình. Tôi bật cười, tự nhủ với hình mình trong gương:

– Lý Tống. Bạn phải đẹp trai, phải tươi tỉnh, phải coi khinh gian khổ thì kẻ thù của bạn mới sợ bạn!

Tôi đứng bật dậy, phủi bụi áo quần, chải lại đầu tóc, lau sạch mặt mũi và tiếp tục lên đường. Nhưng chỉ một đoạn, bước đi lại khó khăn trở lại, tôi cố gắng lê bước len lách giữa các lùm bụi, hốc hố, và chướng ngại vật. Không khí nhộn nhịp đàng trước thúc dục những bước chân rời rã mệt mỏi. Mười giờ rưỡi tối, tôi đến Aranyaprathet. Sau khi chạy thoát bầy chó hùng hục đuổi theo sủa vang rền cả khu vực, tôi bước lên đường lộ chạy vòng phía ngoài thành phố. Thị trấn Aran đông vui, tấp nập về đêm nhân dịp tổ chức triển lãm. Tôi tìm điện thoại gọi Esther nhưng số lại cho sai. Tôi đi dọc theo các đường phố náo nhiệt nhất để ngắm người, ngắm cảnh, vào khu hội chợ, xem qua phòng triển lãm và kiếm chỗ ngồi ăn uống. Xong, đón xe Honda thồ đi tìm nhà Esther. Nàng cho tôi một địa chỉ không có tên đường, không có số nhà ngoại trừ nhũng check points đặc biệt trên lộ trình.

– Đưa tôi đến ngã ba đường đi Bangkok và đường đi Khao Y Đang. Tôi dùng tiếng Anh để diễn tả.

Xe chạy bon bon trên đường rộng. Nhà cửa vắng dần.

– Tới chưa? Người tài xế hỏi.

–  Ngã ba đâu rồi?

Qua lâu rồi. Đây là đường đi Khao Y Đang!

Tôi lập lại chậm rãi để người lái xe biết tiếng Anh bập bẹ hiểu rõ ý định của mình. Xe chạy ngược trở lại ngã ba, quẹo phải, có trạm xăng bên đường.

–  Đúng rồi. Quẹo trái ở con đường rẽ trái đầu tiên.

–  Chầm chậm, quẹo phải ở đây. Stop!

Mối Tình Việt-Phi 

Điều làm tôi yên tâm nhất là chiếc xe hòm chở thuốc của Bệnh viện Nong Samet đang nằm chình ình trước mặt tôi. Tôi phải trả gấp đôi giá đã đồng ý trước vì đoạn đường đi lạc. Căn nhà với phòng khách bề bộn đồ đạc, vắng người, tôi tự tiện đi vào, gõ đúng phòng số 3 nàng dặn. Cửa mở. Esther mở tròn xoe mắt kinh ngạc nhìn tôi. Tôi lách vội vào và khép cửa lại, sự kinh ngạc và sợ hãi đã xâm chiếm toàn bộ cảm giác của Esther, đánh bại nhũng xúc cảm mừng vui của đêm gặp mặt.

Esther lo lắng hỏi:

–  Có ai thấy lúc anh vào không?

–  Không.

–  Lỡ bà Giám đốc biết, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra đây? Esther bối rối.

Tôi cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Trí tưởng tượng đã hoàn toàn phản bội tôi. Tôi cứ nghĩ nàng sẽ ôm chầm lấy tôi mừng rỡ khi vừa thấy mặt. Sự thật quá phũ phàng, Esther ngồi ngây người, nhìn vô hồn vào đống giấy tờ đang làm dở dang, đầu óc rối bời. Tôi dựa lưng vào tường, nhắm mắt, lẩn quẩn với những ám ảnh của cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường đã qua. Thật lâu lắm, như vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, Esther mỉm nụ cười đầu tiên tiến về phía tôi. Nàng lấy nước, bánh mời tôi ăn, rồi lấy chăn nệm trải xuống sàn nhà và bảo tôi nằm nghỉ. Tôi nằm dưới sàn nhà, nàng ngồi trên giường, nhìn tôi. Tôi khoanh tay, nhắm mắt lại trong nỗi cô đơn lạnh lùng. Bỗng nàng bước xuống giường, tiến đến ngồi sát bên tôi. Tôi chậm rãi mở mắt, theo dõi những diễn biến trên mặt nàng.

–  Em sợ quá. Nhưng không sao.

Tôi cầm lấy tay nàng để trên ngực mình, hôn nhẹ. Nàng ngã người xuống, tôi ôm siết lấy nàng.

–  Ly Tong, are you a spy? Nàng hỏi.

Tôi mỉm cười:

–  Có lẽ, trong tương lai. Nhưng hiện tại anh chỉ là một amateur spy, em có thể nghĩ vậy, nếu muốn!

Mùi nước hoa đặc biệt ưa thfch của nàng làm tôi ngây ngất những cảm xúc đê mê. Tôi và nàng quấn lấy nhau như đôi trăn trong cơn động tình. Nàng quên rằng tôi đang dơ dáy, bẩn thỉu sau cuộc hành trình gian nan. Tôi quên rằng, tôi đã cạn sinh lực cho những cuộc rượt đuổi, những cơn đói khát. Chúng tôi quên hết, chỉ còn tiếng thở mạnh dồn dập, chỉ còn tiếng rên rỉ trở trăn. Esther nhắc lại:

–  Coi chừng anh lây bệnh hoa liễu cho em đó.

Tôi cười đáp:

–  Ôi, con vi trùng tình yêu của em rỉa rói lở loét cả trái tim anh rồi.

Tôi không ngủ và không buồn ngủ, mặc dù vừa mới mấy giờ trước đây, tôi ước mơ được chợp mắt một chốc lát. Nàng không ngủ và không buồn ngả vì nàng đã ngủ thừa thãi nhiều năm nhiều tháng một mình cô đơn. Giữa khuya tôi đột nhập vào phòng tắm bên ngoài như một tên ăn trộm để tắm rửa. Cảm giác mát lạnh của nước càng tăng cường cái sinh lực vốn không bao giờ cạn của mình.

Cuộc xung đột vùng biên giới vẫn tiếp diễn. Nhân viên Bệnh viện được tiếp tục nghỉ việ. Esther kín đáo lén lút đem thức ăn, rượu vào phòng để bồi dưỡng ông khách bất hợp pháp.

Bia rượu, âm nhạc như nhũng cơn gió vần vũ, lay động những cành lá vốn đã không muôn nằm yên.

– Ta chẳng cần nói những lời phải nói. Ta chẳng cần nghe những lời muốn nghe. Bởi tuyệt đỉnh tình yêu chỉ cần một hình thức duy nhất để diễn tả… cùng nhau!

Tôi đã thực hiện đúng câu phương châm bất hủ của mình. Nơi chốn nầy là nơi chốn hạnh phúc, nhưng không phải là nơi chốn cuối cùng. Tôi phải tiếp tục lên đường đến nơi mình dự định. Esther muốn tiễn tôi một đoạn đường, vì hai đêm ngày thiêu đốt, ngọn lửa tình vẫn còn cuồn cuộn bốc cháy trong tấm thân tràn trề sinh lực kia.

–  Em thuộc loại oversexed. Esther thú nhận.

– Anh thuộc loại born to make love. Em yên chí! Tôi cười bảo.

Tôi bỏ lại tất cả áo quần cũ, thay vào nhũng bộ đồ vừa mua cho phù hợp hoàn cảnh mới. Đôi dép bèo nhèo bị đứt quai và hàng chục gai nhọn bị gãy còn nằm trong đế mút cao su đã được thay bằng đôi giày ba ta mới. Nếu không có đôi giày nầy liệu đôi chân cửa tôi có còn chịu đựng nổi biết bao gai góc, bụi bờ, đá nhọn trên đoạn đường tiếp nối nữa không?

Chúng tôi rời căn phòng đầy dấu tích cuộc tình để lên đường. Khi qua Bệnh viện, nếu không nhanh mắt tôi đã bị “Tây lai” và “Vua xét mâm” (hai quân cảnh gác Aran Jail) bắt gặp. Không phải chỉ quân cảnh Aran Jail mà tất cả những Lính Thái nào đã ở Aran Jail cùng thời, đều biết mặt và biết chuyện của tôi vì vậy tôi phải thật cẩn thận trong phạm vi khu vực Aranyaprathet. Chúng tôi ngồi trong tiệm ăn kín đáo chờ giờ xe buýt khởi hành lúc 12 giờ.

Những đô thị lớn nối liền nhau bằng những cánh rừng cao su trẻ bạt ngàn. Tôi hồi tưởng lại dự định đi bộ khi chưa có tiền, nghĩ đến những ngôi chùa phải ghé trên đường để xin cơm ăn. Nhưng thực tế chẳng có bao nhiêu ngôi chùa và chẳng có ai đi bộ trên những con đường liên tỉnh. Những đường phố, dinh thự cũng giống ở Đà Nẵng, Sài Gòn của Việt Nam tuy lối kiến trúc tập trung hơn. Đến Bangkok lúc 5 giờ chiều, chúng tôi đón xe taxi về khách sạn dành riêng cho người ngoại quốc.

Bangkok thật tấp nập, rộn rịp. Những dãy phốba bốn tầng lầu trùng trùng điệp điệp không dứt, xe cộ chạy chen chúc trên đường, người Bangkok ăn mặc thật dễ thương. Trang phục hòa điệu Âu Á. Tuy nhiên vì hạn chế hàng hóa nhập cảng, nên màu sắc và chất liệu nội hóa đã làm giảm bớt sự sang trọng, đài các của họ. Những ngôi chùa dát vàng, nhũng di tích lịch sử và kia, cung điện nhà vua. Thực dễ dàng để đột nhập hơn những toan tính dự trù trước kia. Thủ đô đông đúc chuyển động trong nhịp độ nhanh, hệ thống An ninh, Cảnh sát thiếu chặt chẽ, chỉ cần một túi xách nhỏ với vài khối chất nổ, một kẻ phá hoại tầm thường cũng làm được những vụ nổ lớn tại đây. Chúng tôi mướn khách sạn sang trọng nhất, ăn những nhà hàng đắt tiền nhất. Bangkok về đêm, Bangkok buổi chiều, buổi sáng. Cứ lúc nào cần take a break để thay đổi không khí và giản gân cốt, chúng tôi lại đi ngắm cảnh, ngắm người và ăn uống. Những khu trung tâm thương mại hiện đại, tân thời, những cô bán hàng lộng lẫy, duyên dáng. Đã đi qua Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore, tôi thấy thương cho Sài Gòn nghèo nàn của mình. Câu khen ngợi Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông đã trở thành câu châm biếm chua chát!

Chưa có ai vi phạm luật lao động trầm trọng như chúng tôi. Trong những tấm gương lớn treo quanh tường, tôi không nhận ra mình trong những hình bóng chập chờn. Vừa có cảm tưởng mình là khán giả đang xem diễn một đoạn phim sex sống vừa chợt nhận ra nhân dáng xa lạ kia là mình, một diễn viên chính của hoạt cảnh yêu đương.

Esther người Phi Luật Tân nên khi sướng nàng rên bằng tiếng Phi. Tôi lại thích nghe tiếng Việt nên dạy nàng rên bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Âm thanh tiếng Việt có dấu nên những người ngoại quốc khó bắt chước thật giống hoàn toàn. Cái giọng ngọng ngịu, lơ lớ của Esther lúc rên “Em suong qua” nghe vừa kích thích vừa tức cười.

Rời Bangkok 

Thế rồi tôi phải lên đường. Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, nhưng cuộc chia tay của chúng tôi bứt rứt hơn nhiều. Sau khi đưa tôi ra nhà ga xe lửa, Esther phải sửa soạn hành trang rời Thái Lan trở về Phi Luật Tân, bởi vì hành động giúp đỡ cho một kẻ đào tẩu là trực tiếp làm hại đến nền an ninh của Thái Lan và hành động đó không thể tha thứ được.

Không hiểu cổng gác lúc thường có soát giây không, nhưng nhờ đến trễ và tàu lửa sắp sửa khởi hành, nên khi thấy tôi vội vã chạy vào, người gác cổng không chận lại còn ra dấu dục tôi chạy gấp cho kịp chuyến. Là người khách cuối cùng, nên khi vừa mua được vé, vừa bước lên bậc cửa tàu, xe lửa vừa lăn bánh.

Tôi tìm một chỗ ngồi rồi dựa mình ru giấc ngủ. Tôi phải ngủ bù cho bốn ngày đêm không ngủ, để lấy sức đối phó những gian truân, để khỏi bị quấy rầy bởi những câu chuyện nhảm nhí của người lân cận nhưng giấc ngủ vẫn khó đến mặc dù đầu óc váng vất mệt mỏi. Một người đàn bà khều tay tôi hỏi:

— Mi khôn năng? (Có ai ngồi đây không?)

Tôi lắc đầu, nhìn chỗ trống trước mặt. Người thanh niên bên trái cứ lăng xăng gợi chuyện người chung quanh. Tôi lấy miếng băng keo mua ở nhà thuốc tây dán kín hình bản đồ Việt Nam khắc trên tay. Thỉnh thoảng giả vờ giật mình tỉnh thức, tôi dụi mắt nhìn ra ngoài, nhìn cột cây số dọc theo đường để tính nhẩm đoạn đường đã qua và còn lại. Những thửa ruộng sau mùa gặt nằm trơ gốc rạ. Nước Thái chỉ có một Bangkok vĩ đại hào nhoáng, những thành phố khác thuộc loại trung bình.

Tôi ăn uống tại chỗ khi những người bồi nhà hàng chạy tới lui rao bán. Kiểm soát viên bấm vé một cách máy móc. Trời về chiều cảnh vật hoang vắng, tôi nhìn hai bên đường tàu, nghiên cứu những trở ngại gặp phải nếu mình phải đi bộ, quan sát địa thế ở nơi nầy để suy diễn địa thế những nơi sắp đến. Cảnh sinh hoạt của những thôn làng trên đường xe lửa đi qua cũng có những nét tương tự với đoạn đường đi bộ sắp phải dấn thân. Trời đã gần khuya, hành khách sửa soạn chỗ để ngủ, kẻ ngồi tựa lưng vào ghế, kẻ nằm dưới sàn tàu, tôi ngủ được một giấc ngon trong tiếng xinh xịch đều đặn của xe lửa về đêm. Sáng thức dậy sớm hơn mọi người, tôi làm thủ tục vệ sinh buổi sáng, sửa sang lại áo quần, tóc tai, mặt mũi cho vai tuồng quan trọng sắp tới. Mỗi ga xe lửa đều có viết tên theo mẫu tự La Tinh. Hành khách lần lượt xuống dọc đường, nếu không nghiên cứu kỹ bản đồ, làm sao tôi biết được mình đã đến đâu, và xuống tại đâu, lúc nào? Gần đến cây số 900, những cột ăng ten và nhà cửa lớn xuất hiện. Sắp đến Hạt Yai, hành khách chuẩn bị xuống đông đảo, tôi nhìn ra ngoài. Hatyai, cây số 900. Tại sao lại có sự sai số nầy, bởi vì theo cột cây số ghi trên bản đồ du lịch Hatyai phải là cây số 950.

Tôi định đi theo đường rầy xe lửa, nhưng trạm gác và nhân viên đang hoạt động làm tôi đổi ý. Ra cổng, tôi chọn con đường gần nhất, song song đường rầy để đi nhưng phải quay trở lại vì chợt nhận ra con đường đang hướng vào một cư xá. Tôi chọn con đường khác, rộng rãi, xe cộ tương đối tấp nập mặc dù xa đường rầy. Trên lề đường, những dãy hàng quán vắng khách, lười biếng trong ánh nắng đầu ngày. Hatyai là một trung tâm du lịch nổi tiếng, trong trí tưởng tượng, tôi thấy những villa đồ sộ, những bãi biển trữ tình và khách ngoại quốc đông đảo, nhưng thực tế, Hatyai chìm đắm trong vẻ vắng lặng của một thị trân đìu hiu ít hoạt động. Tôi gặp hai đường rầy xe lửa rẽ về hai phía, tôi chọn đường thứ nhì, bởi đường thứ nhất sẽ chạy về Songkla. Cẩn thận hơn, tôi đã vòng theo đường nhỏ bọc ra khỏi thị trấn, luồn lách giữa các cánh đồng cỏ hoang, trước khi bám theo trục lộ xe lửa.

Hai bên đường, đồn điền cao su nối liền nhau chạy xa tít về cuối chân trời. Vài trăm thước lại có một cầu xe lửa bắt qua suối cạn. Gần cạnh đó là nhà của nhân viên trông coi đồn điền cao su trú ngụ. Đường dài, vắng vẻ thỉnh thoảng mới gặp một xóm nhỏ lấp ló trong những rừng cây. Tôi nghĩ đến những missions phá hoại. Chỉ cần một số mìn nổ chậm loại đặc biệt có thể tích nhỏ, có gắn đồng hồ giờ, kẻ phá hoại có thể cho hằng chục cây cầu nổ đồng loạt. Sống với Cộng Sản nhiều năm, cái góc cạnh nhìn sự vật của con người cũng bị ảnh hưởng. Ngày xưa nhìn vào những dinh thự, đền đài, cảnh vật để thấy vẻ đẹp và nghệ thuật, bây giờ khi nhìn sự vật tôi lại ước tính số lượng chất nổ, con đường đột nhập, kế hoạch rút lui. Cái nhìn méo mó không mang Chủ đích tàn phá, bạo động nhưng bảo vệ, phòng thủ. Phải thấy được con đường kẻ thù sẽ sử dụng để chuẩn bị con đường ngăn chận.

Người đầu tiên tôi gặp và bị nghi ngờ là một thanh niên trẻ. Mặc dù đi ngược chiều đã khá xa, anh ta thỉnh thoảng vẫn quay lại dò xét tôi. Tôi càng cẩn thận khi đoạn đường thấp thoáng bóng người đi làm về. Một chiếc xe bò ệt được năm chú bé đẩy chạy trên đường rầy xe lửa, các chú bé xăm xoi, hiếu kỳ nhìn người khách đỉ một mình, lạ mặt. Tiếp sau đó bốn người đàn ông lớn tuổi đi ngang tôi, một người nhìn tôi hỏi:

–  Pai nãy? (Đi đâu đó?)

–  Phủm cặp ban. (Tôi về nhà.)

Có lẽ họ ngạc nhiên vì nhà cửa, người ngợm trong khu vực nầy họ đều biết và quen mặt. Mặc kệ họ, tôi thản nhiên đi tiếp. Tôi đã sẵn sàng, nếu có sự báo cáo và truy nã, tôi sẽ phóng chạy. Lần nầy thấy một người từ xa, tôi thận trọng tìm chỗ ẩn nhưng quá trễ, anh ta đã thấy tôi, nên sự mất dạng của tôi làm anh ta ngạc nhiên, nghi ngờ, vừa đi vừa đảo mắt tìm kiếm. Tôi quá chú ý đến một mục tiêu, nên vô tình bị mục tiêu khác phát hiện. Hai người đàn ông bên kia mương ruộng đang theo dõi hành động của tôi. Tôi kịp thời khám phá tình trạng nguy hiểm, bước nhanh lên đường bỏ rơi họ, đi qua chỗ một xe Honda, một xe đạp dựng ở ngã ba đường.

Yên tĩnh. Tôi tiếp tục đi, cảnh giác. Bỗng linh cảm có sự đe dọa, bèn quay người nhìn lại phía sau thì thấy một thanh niên đang chạy đuổi theo tôi. Tôi phóng người bương qua những bụi gai rậm rào kín bên đường, gai cào xướt mặt mũi, vướng víu áo quần. Tôi bước càn tới để len lách thật lẹ. Băng qua những hàng cây cao su già ngổn ngang cỏ tranh và các bụi cây nhỏ, tôi chạy hết tốc lực về hướng lùm bụi rậm rạp đằng trước. Quay lại kiểm soát trước khi chun vào chỗ ẩn tránh, tôi yên tâm thây đã bỏ rơi được anh ta. Tôi càn lướt những giây nhợ chằng chịt, những nhành gai, những chướng ngại vật, băng mình vội vã nhanh về đằng trước. Hơn một tiếng đồng hồ, tôi xa khỏi bụi bờ rậm rạp và băng qua mảnh đất cày xới xong đang chuẩn bị ươm trồng cao su.

Vài chiếc xe đạp chạy lách cách trên con đường cắt ngang mặt. Tôi cẩn thận băng qua đường rồi tiếp tục xuyên rừng, phải tranh thủ tránh xa khu vực nguy hiểm càng sớm càng tốt, khi cảm thấy an toàn, tôi đi tiệm tiến trở lại đường chuẩn. Những khoảng đất trông trải dễ đi bị người từ những ngôi nhà của nhân viên coi sóc đồn điền canh phòng trông thấy. Con đường an toàn duy nhất là xuyên rừng và tôi chọn con đường khó nhọc cho mình.

Mặt trời đã lặn, chiều tối hẳn, tôi đổi phương thức đi khi trước mặt mình chỉ còn bóng đen và những chướng ngại vật trùng trùng điệp điệp không thể nào di chuyển được. Tôi trở ra đồng trống, đường xe lửa hoàn toàn mất dạng không còn dấu vết. Tôi đi vòng sau vườn một ngôi nhà đang đốt lửa chập chờn để rút ngắn khoảng cách. Tiếng người nói chuyện nghe rõ mồn một, không tiếng chó sủa. Gặp con đường mòn và đi mài miệt gần đứt hơi qua bao nhiêu quanh co, gập ghềnh, tôi gặp lại đường xe lửa.

Phải đi rừng gay go vất vả mới thấy được sự thoải mái nhẹ nhàng của con đường rầy thân yêu. Tôi lượm mấy cục đá lớn để phòng thân. Đá là một vũ khí hữu hiệu cho những bất trắc về đêm. Tôi bỗng nghe tiếng chân người nên vội tạt nhanh vào lề, nấp sau một bụi rậm nhỏ. Điều rõ ràng là đối thủ khám phá tiếng chân tôi trước vì sự mệt nhọc đã làm giảm khả năng thính giác của tôi. Tiếng chân rón rén, sục sạo, cái đòn gánh giáng lên cao… và rầm, rầm, tôi ném bốn cục đá liên tiếp vào ngực y trước khi y kịp phang đòn gánh vào đầu mình. Tôi bỏ chạy trong khi y đang ngơ ngác, đau đớn, kêu la cầu cứu, báo động.

—  Mặc mẹ chú mầy. Chú mầy tự kiếm chuyện vào thân thì ráng mà chịu. Tôi lẩm bẩm.

Thoát nạn nhưng chắc sẽ có xe hoặc người đuổi theo. Lại nghe tiếng chân người, tôi nhảy lẹ vào lề đường nấp, nghe ngóng, chuẩn bị. Lại một tên đang lớ ngớ dò tìm tôi, tên nầy hình như là Lính gác nên có súng. Tôi ném một viên đá vào bụi phía tay trái làm y quay người lại nổ súng vào chỗ có tiếng động. Tôi ném một cục đá lớn trúng lưng y rồi vụt chạy. Phần bị đau, phần trời tối, y chỉ bắn theo mấy phát báo đông chứ không dám rượt theo tôi. Tôi lại đi tiếp. An toàn trên xa lộ! Không biết những người nầy nghĩ sao về tôi nhỉ? Một thằng ăn trộm? Một tay buôn lậu? Một tội phạm? Một Thái Cộng?

Tôi đến vị trí, theo sự phỏng đoán, là khu vực phòng thủ biên giới vì những xe tuần tiễu, những ngọn đèn pha, vì trước mặt là dãy Doanh trại nằm chắn ngang, đèn điện sáng rực. Tôi mò mẫm men theo sợi dây thép lớn căng dọc theo đường rầy, nằm sát dưới mương cạn khi một xe tuần tiễu pha đèn về hướng mình. Bò qua một bãi đất rộng, tôi đi xuyên bờ bụi của những vườn tược bỏ hoang. Phải dò dẫm từng bước vì thế đất cao thấp, vì cây cối rậm rạp, tôi băng từ vườn nầy sang vườn khác, sau vườn các ngôi nhà lớn chìm đắm trong ánh lờ mờ của các ngọn đèn điện từ con đường chính chiếu hắt lại. Tôi bọc bên hông đi về hướng ánh trăng vừa mọc, băng qua một con đường lộ lớn sát ngoài Doanh trại, rồi đi sâu vào khu rừng cao su có những ánh đèn chuyển dịch chập chờn.

Đây đó dọc theo từng hàng, những người thợ đang lấy mủ cao su về đêm. Tôi nương theo từng thân cây tìm chỗ che chở và tiến bước, một vài ngồi nhà nằm thầm lặng trong đêm yên ngủ, bỗng có tiếng động rộn ràng của xe cộ và những ánh đèn xe. Sự khác biệt của hai địa thế cho tôi cảm giác đã đi an toàn qua biên giới Thái. Một bức tường chắn ngang từ Đông sang Tây như Bức Tường Ô Nhục Đông Bá Linh, tường cao, kiên cố với hàng lớp kẽm gai giăng kín bên trên, bên trong và những chòi canh vươn cao ngạo nghễ. Tôi đi dọc theo bức tường trong khoảng cách an toàn và cảm nhận bức tường cứ dài thêm ra mãi, đành quyết định chui qua.

Có thể đây là hàng rào biên giới thứ nhì thuộc lãnh thổ Mã Lai. Tôi cởi hết áo quần bỏ vào túi xách, không một mảnh vải nào có thể làm bận bịu công tác nguy hiểm sắp tới. Tôi dùng cảm giác đau đớn của da thịt để luồn lách qua những ô kẽm gai nhỏ. Khi trèo qua tường, tôi bị kẹt cứng giữa một hệ thống kẽm gai được rào xen kẽ, kẽm gai lưỡi lam cắt ngọt lớp da trần. Loay hoay xoay sở từng gang tấc, tôi vận dụng mọi kỹ thuật, mọi sáng kiến trong suốt một giờ rưỡi để lọt qua hoàn toàn hàng rào chướng ngại rắc rối, gay go. Tôi qua được nhờ hàng rào không mắc điện, và những tên gác quá tự tin vào hệ thống phòng thủ của mình. Tôi đi xuyên qua bãi đất trống rộng, nhiều hào rãnh, mô đất, đường bố phòng ngang dọc.

Mã Lai. Mã Lai. Tôi mừng rỡ như nhắc tên một người thân yêu đang chờ đợi, bỗng thấy một tấm bia đá đề tên thị trấn cuối cùng của Thái! Có lẽ đây là dấu hiệu bang giao thân hữu của hai nước láng giềng? Có lẽ nào tôi vẫn còn ở Thái Lan sau khi đã vượt qua những địa điểm bố phòng đặc biệt như vậy? Tôi đi vào một ngõ vắng và bất ngờ lạc vào một nhà ga xe lửa. Thây kệ! Trời sắp sáng, hãy nghỉ ngơi rồi tính sau.

Tôi bò vào một toa xe lửa nằm riêng rẽ, phế bỏ, nằm vật xuống và đắm chìm vào giấc ngủ vùi. Tôi giật mình thức giấc vì tiếng nhạc chào cờ Thái Lan quen thuộc nhiều lúc đã hát nhại theo bằng tiếng Việt với những lời khôi hài, diễu cợt.

Thật chán chường, thất vọng, tôi chẳng thể làm gì khác hơn ngoài việc ngủ tiếp để duỡng sức. Tôi phải ẩn nấp tại đây suốt ngày để tối lại tìm đường đi tiếp. Đang mơ mơ màng màng, tôi giật minh vì một chấn động mãnh liệt.

–  Cái gì đây?

Tiếng “rầm, chảng” vừa dứt thì có tiếng chuyển động. Hình như tôi đang bồng bềnh, lắc lư trong cảm giác tốc độ. Tôi vùng đứng dậy, chỉ kịp chụp lấy xách áo quần và phóng lao xuông đất khi cái chỗ nằm của mình đang chạy vun vút về phía Bắc. Tôi té lăn một vòng và lồm cồm ngồi dậy. Hú hồn! Thì ra một đầu tầu vừa móc vào toa tôi đang ngủ, kéo đi. Áo quần lấm đầy bụi bẩn, tôi phải tìm nơi giặt giũ. Khu vực nhiều buildings, nhiều Công nhân Sở Hỏa xa, có những tia mắt nhòm ngó nghi kỵ. Tôi mặc quần đùi, khoác chiếc áo thun còn sạch, tay xách bộ áo quần dơ dáy thản nhiên đi ra như một công nhân lao động vừa bốc xếp hàng trở về. Ra phố, tôi vào một quán ăn sáng bình dân định vào cầu tiêu để giặt đồ, nhưng quán nghèo không có toilet. Một người đàn ông Thái ngồi bàn đối diện nhìn tôi chăm chẳm.

–  Gì nữa đây? Tôi phân vân nghĩ ngợi.

Tôi vội ăn xong, trả tiền rời quán. Người đàn ông chận lại hỏi

tôi:

–  Làm gì nơi đây?

–  Ờ! Tôi làm trong nhà ga xe lửa. Dơ quá. Mệt quá. Tôi trả lời bằng tiếng Thái.

Tôi bước ra cửa, y lật đật trả tiền, vội vàng đi theo tôi. Tôi nhanh nhẹn lẩn mình qua các đường hẻm lắc léo và bỏ rơi y. Khi cảm thấy an toàn, tôi trở lại đường lộ chính bỗng thấy y vừa quẹo xe Honda ở ngã tư trước mặt, lơ láo tìm kiếm. Tôi lủi vội qua cổng một ngôi nhà, ngồi bệt xuông một gốc cầy làm vẻ ngồi nghỉ mệt. Một bà cụ già từ trong nhà đi ra nhìn tôi dò hỏi. Tôi mỉm cười, chào bà, phân bua:

— Làm về mệt quá.

Xong đứng dậy đi ra. Quanh co, tránh né nhiều đường hẻm, tôi quẹo vào một mảnh đất bỏ hoang đầy bờ bụi. Tôi tìm chỗ ẩn nấp vì không thể đi lại ngờ ngờ ngoài đường với y phục như thế nầy. Ước gì có thêm một bộ đồ sạch sẽ, tôi đã tránh được nhiều rắc rối. Đang ngủ, tôi bỗng giật mình vi tiếng rầm rập như là của hàng chục đôi giày bottes de saut đang hùng hổ chạy về phía tôi. Có lẽ có người phát giác và báo cáo nên lính gác đang chạy lùng kiếm bắt tôi chăng? May thay chỉ là một bầy bò vừa được lùa đến đang rượt nhau tranh giành đám cỏ tốt. Không có an toàn, tôi phải rời nơi đây ngay.

Mớ tóc tôi vốn đã quăn queo giờ lại bù xù, rối rắm vì đống hột cắc ké trong bụi gai tôi nằm nghỉ. Tôi ngồi gỡ vội bằng tay và bằng lược, hột ké dính đầy tóc, khó gỡ, cuối cùng tôi phải bứt đứt từng mớ tóc để nhặt sạch những bông gai kia. Lấy gương soi xem lại khuôn mặt, chùi sạch vết dơ, tôi rời bụi đi tiếp. Bất ngờ, sau khi qua khỏi hàng rào kẽm tôi bắt gặp đường rầy xe lửa và một hố nước rộng xanh thẳm có dân chúng tắm giặt và câu cá khá đông. Tôi lựa một bến vắng, cởi hết áo quần tắm giặt kỹ càng và chậm rãi. Tôi định phơi khô áo quần, nhưng vì một người đánh cá đang trên đường đi về hướng tôi, nên đành mặc đồ ướt lên đường đi tiếp.

Dọc đường rầy, những dãy nhà có trồng nhiều cột ăng ten cao làm cho tình trạng của đường có vẻ bất trắc. Đến một đường xa lộ cắt ngang qua đường rầy, tôi đổi hướng đi dọc theo xa lộ, theo bản đồ, đường rầy sẽ ở phía phải và cách xa đường xa lộ khoảng ba mươi cây số nhưng thực tế, đường rầy vẫn ở phía tay trái cho đến tận Kangar. Tại sao? Tôi chẳng hiểu.

Xa lộ chạy hun hút giữa rừng cao su mênh mông, đây đó lẻ loi vài xóm nhà nhỏ, tôi đi băng vào rừng tránh những ngôi nhà nằm gần đường. Càng về chiều, lượng xe cộ thưa thớt dần, tại một trạm gác lớn, nhiều xe Honda bị chận lại hỏi giấy nhưng họ phóng chạy luôn. Tôi đi luồn giữa những đám cây gai góc càng lúc càng rậm, bước thấp bước cao, té lên té xuống nhưng ráng đi nhanh để tránh Trạm Kiểm soát. Suốt đoạn đường, tôi vẫn phân vân không biết mình đã qua biên giới chưa hoặc bao giờ mới đến biên giới.

Trời tối hẳn, nhịp độ xe cộ đông đảo trở lại, ánh đèn xe chóa mắt phía trước và sáng lóe đằng sau. Những nơi có nhà cửa, tôi đóng vai người địa phương đi lại, còn những vùng hoàn toàn trơ trọi, hoang vắng? Một chiếc xe tuần tiễu sẽ nghĩ thế nào về một kẻ đi bộ lang thang đầy khả nghi? Vì thế, tôi phải nấp vào lề đường chờ xe ngược chiều chạy qua khỏi mới đi tiếp, hoặc khi xe cùng chiều vừa qua mặt, tôi vội vàng phóng nhanh từ chỗ nấp ra đường lợi dạng ánh đèn xe quan sát đoạn đường trước mặt. Thà chậm bình an hơn nhanh tai nạn! Nhưng cái chậm không quan trọng bằng cái mệt mỏi vì hai bên lề đâu phải chỗ nào cũng bằng phăng cả đâu, nên có lúc tôi té đau bởi vì hào sâu, đá nhọn, có lúc gai góc đâm xuốt da thịt và có lức phải bò lên lề đường thay vì nhảy ra đường.

Cẩn thận tối đa trong đoạn đường quyết định cuối cùng. Đang chạy thẳng, xa lộ bỗng bị chắn ngang bởi một con đường lớn và một dãy núi đồ sộ chễm chệ trước mặt.

–  Quẹo trái hay phải? Tôi phân vân quan sát dấu kẻ giữa đường và quyết định rẽ trái. Từ đoạn đường nầy, xe cộ bắt đầu vắng hẳn, tôi đi theo đường, vừa đi vừa ngủ gật, mắt không mở nổi vì sự mệt mỏi đang đè nặng trên mi. Thỉnh thoảng tôi ráng hấp him mắt để xem mình có đi ngay ngắn trên đường không. Chỉ cần ngồi xuống là tôi có thể ngủ vùi một giấc đến ngày mai. Tôi phải thức, phải đi vì đây là đoạn đường sinh tử, vì qua khỏi đây tôi có thể trút bỏ gánh nặng tù tội, gánh nặng ưu phiền của những ngày tháng vô vọng trong các Trại Tị nạn dọc biên giới Thái Lan.

Đói quá, tôi chui vào bếp một nhà cạnh đường lục cơm nguội ăn để tỉnh táo lấy sức. Mặc dù có thể nhịn ăn như từng đã nhịn, bỗng nhiên tôi có ý định muốn thử xem mình có khả năng mưu sinh bằng cách liều lĩnh đó không. Ăn xong, đi được một đoạn đường, tôi bỗng gặp một dấu hiệu lạ: Ba ngọn đèn đỏ đặt nằm ngang thấp sát mặt đường và Toán Kiểm soát đi lại rộn ràng. Tôi linh cảm rằng chính đây mới thực sự là Trạm Canh phòng Biên giới và lần nầy tôi đã đoán trúng. Tôi lại rời đường băng rừng, trời tối đen như mực, đoạn rừng biên giới rậm rạp và gai góc quá mức bình thường.

Tôi cố gắng nhiều lần, tại nhiều vị trí khác nhau mà vẫn không tiến tới được. Không thể nào nằm chờ đợi trời sáng. Chỉ còn hai trăm thước cuối cùng. Tôi vạch kế hoạch táo bạo:

– Vượt biên giới bằng cách đi xuyên qua khu vực đồn trú của lính biên phòng.

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Phần 9

Đến Sisophone, Biên Giới Kampuchia

Trước khi lên đường, tôi ghé vào một quán cơm ăn chiều, mùi cơm khê thật khó chịu. “Cơm khê là một điềm không tốt,” tôi lẩm bẩm. Cổng trạm gác phía Tây đi ra thành phố thật nghiêm ngặt, bọn gác đứng quan sát với cặp mắt cú vọ. Đây là một trong những cửa ngõ mà dân buôn lậu hàng hóa Thái Lan phải chi tiền rất đậm. Tôi lách sau lưng một tên gác vừa đi qua giữa đường chận một xe Honda. Trọng tâm kiểm soát là hướng vào thành phố. Tôi đang đi ra khỏi thành phố, chỉ một chút nhột nhạt khi có cảm tưởng đang bị chăm chú nhìn vào sau gáy. Đường Battambang đi Xoai có hơi hướm của xa lộ Biên Hòa — Sàigòn, mặc dầu đường không rộng, sự đi lại của xe cộ, nhất là xe Honda thật tấp nập. Đây là con đường độc nhất xe Honda chạy tốc độ tối đa, xe rượt đuổi nhau, lao vun vút qua mặt nhau, xe nào cũng chở nặng ăm ắp. Trời đã về chiều, hai bên đường có những đống rơm rạ lớn, những cánh đồng đang gặt hoặc đã gặt xong. Đằng xa, một ngọn núi lớn, bên kia núi, đèn sáng rực. Chẳng lẽ sắp đến Sisophone? Tôi dự trù đi trong hai ngày đoạn đường 160 cây số từ Pursat đến Sisophone, thế mà chỉ trong một ngày, tôi đã thấy cái điểm chuẩn đáng yêu đó. Tôi quyết định ngủ lại.

Tìm một chỗ ngủ ngoài đồng tại đây thật khó. Đang mùa gặt, xe bò chở lúa đi lại suốt đêm. Giữa những cánh đồng trống trải vừa gặt xong, lúa được chất lại thành những đống dài. Có người ở lại giữ lúa, có người đi tuần ban đêm, đây đó ánh lửa chiếu sáng rực những góc trời đêm. Tôi nằm ngủ trong tiếng lạch cạch, lóc cóc của những chiếc xe bò chạy qua những mặt ruộng gồ ghề, đất nứt nẻ và gốc rạ ngắn. Trời về đêm thật lạnh, sương xuống ướt hết áo quần, chẳng có một tàn cây để tránh sương đêm.

Sáng dậy sớm, tôi lên đường. Sau cái ngọn núi tôi tưởng nhầm là núi Xoai còn có những ngọn núi khác. Ánh sáng của những đống rơm rạ cháy bừng bừng cho tôi ảo tưởng ánh sáng đèn điện của đô thị. Tôi đi vào một khu làng, sự sinh hoạt khá phồn thịnh. Ăn xong một tô hủ tiếu, tôi qua hàng khác gọi thêm một tô cháo lòng. Đường bỗng rẽ làm đôi, tôi lẩn thẩn lựa chọn, và rẽ trái, bởi đường rầy xe lửa đi gần cạnh con đường bên trái. Đi được một đoạn thì đường xe lửa bỗng cắt qua phải, tôi phân vân nhưng vẫn tiếp tục đi. Bên kia, một chiếc cầu dài, có nhiều toán lính đang kiểm soát. Tôi dừng lại gần cầu, uống một ống thốt nốt chua ngâm lạnh. Thốt nốt chua là một loại rượu nhẹ. Đã ở Kampuchia là phải ghiền thốt nốt chua. Tôi đứng giải khát, nhìn người đi lại và phương thức kiểm soát. “Thấy vậy mà không phải vậy!” Lính gác thật đông nhưng lại ít chận xét người. Rượu thốt nốt làm ấm lòng và bừng bừng khí thế. Tôi thản nhiên đạp xe đi qua. Tại Xoai, những hàng tiệm tấp nập người mua bán. Tôi đạp quanh một vòng phố thị để tìm đường ra, vừa tìm xem chỗ bắt giữ người vượt biên. Hồi ở tù 7708, có người kể rằng ở Sisophone, Việt Cộng bắt người vượt biên nhốt hai bên đường, trong những phòng nhỏ như chuồng khỉ, chuồng cọp ở sở thú.

Phòng làm bằng những song sắt lớn, người vượt biên bị cạo trọc đầu, bắt ở truồng để làm nhục, bây giờ tôi chẳng thây đâu cả, thì ra chỉ là chuyện tưởng tượng.

Ở Pursat tôi hỏi đường đi Battambang, tới Battambang tôi hỏi đường đi Xoai, không lẽ ở Xoai lại hỏi đường đi Thái Lan? An ninh chìm và cớm ở Xoai dầy đặc, người đến Xoai chỉ để buôn lậu và vượt biên, vì vậy sự kiểm soát tinh vi và chặt chẽ quá độ. Tôi nhìn dãy núi chạy từ Đông sang Tây, nhìn con đường chạy song song dãy núi, con đường đông đúc tất bật nhất thị xã.

–  Chắc là con đường nầy! Tôi tự nhủ.

Tôi đã không lầm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, phải có đau đớn khốn khổ mới có những kinh nghiệm, những nhận xét sắc bén. Lý thuyết trường học lắm lúc xa lạ với thực tế. Tôi rong ruổi theo đường và chợt thấy một trạm gác trước mặt. Tôi chưa gặp trạm gác nào gay cấn như thế trong suốt đoạn đường đã qua. Xe Honda thồ cũng bị chận, xe đạp cũng bị chận, đi bộ cũng bị chận. Tất cả hành khách đều bị xét giấy, xét hành lý và bị tra hỏi. Thế là xong! Đi qua đường nầy giống như thấy một sợi dây thòng lọng treo sẵn mà vẫn đút đầu vào, rồi hy vọng sợi dây treo cổ sẽ đứt. Tôi quay xe trở lại tìm một đường hẻm bên trái để rẽ phải nhưng gặp một đường hẻm cụt nên đành dẫn xe băng qua sân vườn của những ngôi nhà cuối ngõ, giả vờ cần tìm chỗ đi tiêu ở cánh đồng đằng sau. Có vài đứa con nít và đàn bà nhìn tôi tò mò. Tôi phải giả bộ tuột quần ngồi xuống, sau khi đã đi một đoạn xa để ngầm giải thích với họ. Một cô gái đi vệ sinh ở một bụi che khuất thấy tôi, vội vã quấn xà rông đứng dậy. Trước mắt là đường rầy xe lửa. bên kia là cánh đồng đầy bụi bờ gai góc, tôi dẫn xe băng qua hướng dự định, gặp hai chiếc cầu dài và lớn nằm song song, một chiếc cầu xe lửa và một chiếc cầu xe hơi. Ở đầu cầu xe lửa là một ngôi nhà lớn nằm tách biệt.

–  Chắc đây là nơi đồn trú của bọn lính gác cầu!

Tôi nghĩ thầm, đi bọc sau lưng, vòng qua phía trái ngôi nhà. Ruộng có nơi đầy sình và nước, có nơi gai góc rậm rạp, tôi phải cẩn thận để khỏi làm lủng lốp xe và tránh để người trong nhà trông thấy rồi gặp một con sông chảy ngang. Làm sao qua con sông rộng với một chiếc xe đạp? Thấy hai chiếc ghe nhỏ đang thả chài bắt cá tôi quyết định gọi ghe nhờ chở xe sang sông, vờ keo kiệt trả giá để hỏi bị nghi ngờ.

–  Cho tôi qua dùm bên kia sông, 2 riels nhé!

Người thanh niên đánh cá nhìn tôi, không trả lời, tôi tăng lên 3 riels, rồi 5 riels. Bỗng nhiên người thanh niên bơi ghe lại gần chiếc ghe ông già nhỏ to trao đổi ý kiến. Có lẽ anh ta xin phép ông già ngưng bắt cá để chở tôi qua sông kiếm vài riels xong chèo ghe vào bờ. Tôi yên chí, định đẩy xe xuống khi ghe cặp sát bờ, nhưng ngạc nhiên vì y đi qua mặt tôi, không hề nhìn tôi mà đi về hướng ngôi nhà, gọi lớn rồi nói gì với người trong đó.

–  Bỏ mẹ rồi!

Tôi lẩm bẩm và lật đật đẩy xe đi, băng qua nhiều bụi gai mọc lan tràn khắp nơi rồi xách bổng xe lên chạy miết. Được một đoạn khá xa, tôi nhìn lại, chẳng thây có ai đuổi theo. Cẩn thận, tôi dấu xe vào một bụi cây, rồi ẩn mình vào một bụi cây khác. Mười lăm phút trôi qua, chẳng có gì động tĩnh, tôi trách mình: “Đúng là thần hồn nhát thần tính rồi! Mình có tật nên hay giật mình chứ có gì đâu mà vội xách xe chạy như vậy?”

Nếu không có gì trở ngại tôi lại tiếp tục đi nhưng qua sông thì không được, vì ghe không chịu chở. Tôi vẫn dấu xe tại chỗ, đi bộ thám sát đường sá, băng trở lại đường xe lửa, đi dọc theo đám ruộng giữa đường rầy và đường quốc lộ. Tôi muốín xem lại, sau cái trạm gác hồi nãy, còn có trạm gác nào ở trên cầu nữa không, nếu không có, tôi sẽ dẫn xe băng đồng rồi qua cầu. Vừa leo lên lộ đất để ra lộ chính, tôi bỗng nghe tiếng xe Honda. Tôi liếc mắt và thấy một tên lính Khmer mang khẩu A.K. choàng qua vai. Tôi vẫn thản nhiên đi.

–  Bòn bòn, xốp xốp! (Anh, anh đứng lại!) 

Tôi biết đã bị đổ bể, nhưng vẫn làm tỉnh đi thẳng coi như chú mầy gọi ai đó, nhưng không thoát được vì chiếc xe đã tốp trước mặt tôi.

–  Bòn mi cỏn? (Anh có xe đạp phải không?)

Đúng là tên nầy đang đi kiếm tôi đây, tôi gật đầu và chỉ về hướng ruộng, vừa chỉ, vừa đi, làm như đang đi chỉ chỗ để chiếc xe. Tên gác chạy xe Honda trên đường, tôi đi bộ băng đồng, qua một khoảng bụi rậm, tôi né mình lẩn tránh. Không thấy tôi, y dựng xe, bước quành lại để tìm và y phát hiện tôi, ngoắc lại. Tôi chỉ tay về hướng trạm gác rồi tất tả bỏ đi, được chừng mươi thước, tôi nghe y kêu:

–  Xốp xốp! (Dừng lại!)

Tôi bỗng vùng chạy và y bắt đầu nổ súng. Tôi chạy về hướng trạm gác và nhà dân, nên chắc chắn y chỉ bắn chỉ thiên. Được nửa đoạn đường, tôi quẹo mặt chạy dọc theo sau lưng vườn nhà dân, tên lính đã nhảy phóng từ trên đường rầy cao xuống ruộng đuổi gấp theo tôi, vừa chạy rượt theo tôi vừa bắn liên tục. Tôi chạy nước rút. Y mang giày bốt nặng, súng nặng nên không đuổi kịp tôi, khoảng cách giữa hai người xa dần. Tôi bỗng vấp và té. Tôi biết đang chạy mà té là đã quá kiệt sức, có người quá sợ còn không chạy nổi.

Hồi vượt ngục trốn về Sàigòn, tôi chứng kiến cảnh một tay xì ke bị Công an bắt và đánh, y sợ hãi bỏ chạy, được năm thước, y lả người quị xuống như một búp bê cao su bị xả xì hết hơi, oằn lại rồi té sụm, hai tay luỗi đi không nhấc lên nổi để chống đỡ người, nên cái cằm phải đỡ toàn thân mình ngã xuống. Chỉ thế mà y bị bể cằm, gãy mấy cái răng, miệng bể toét đầy máu me!

Tôi không té sụm vì sợ hãi kinh hoảng nhưng nhưng tôi biết tôi đã quá đuối sức vì chạy nước rút. Những lực sĩ chạy bộ, sau khi bức qua mức đến trong cuộc chạy đua, nếu có kiệt sức, cũng có người dìu dùm. Tôi không may mắn bằng họ, bởi tôi không có mức đến và phải chạy nước rút từ lúc mới khởi sự. Tôi nhìn lại, những bụi cây đằng sau đã che khuất cả người lẫn súng. “Chém vè!” tôi quyết định lủi đại vào một bụi rậm sát bên cạnh chỗ bị té. Vừa nằm co rút người lại, tôi đã nghe tiếng chân nặng thình thịch của y đang đuổi dồn đến, chạy qua khỏi chỗ tôi nấp nhưng chẳng thấy tôi. Vừa lúc có một người đi ngược chiều, y hỏi:

–  Có thấy ai chạy ngã nầy không?

–  Không. Tiếng người đàn bà trả lời vọng lại.

Y đưa súng lên trời bắn thêm hai phát báo động để huy động toàn nhân lực tìm bắt tôi. Đầu tiên là toán lính gác ngoài trạm kiểm soát tiếp viện, rồi loa phát thanh loan báo:

–  Có một tên mặc áo quần đen, khăn cà ma xanh vừa chạy trốn. Ai thấy bắt lại hoặc báo cho cảnh sát!

Không phải chỉ có cảnh sát, lính du kích, mà cả dân chúng trong vùng, đặc biệt là chó, những con chó săn hiếm hoi, may mắn còn sót lại, cùng lên đường tìm tôi trong tiếng trống bùm bùm cắc cắc như một cuộc săn thú đại qui mô. Cũng may là họ bắt đầu khởi hành cách chỗ tôi một trăm thước thẳng về phía trước và đồng thời lúc đó, điều đáng quan tâm hơn hay làm tôi giảm sự quan tâm đến cuộc bố ráp bên ngoài: Kiến.

Một tổ kiến đỏ lớn đã bắt đầu tấn công tôi tự hồi nào, tôi nằm trân mình chịu đựng. Một con giun khi bị kiến cắn còn được quằn quại, lăn lộn, tôi thì không được làm như vậy, bởi vì bất cứ động tác nào của tôi trong bụi nầy cũng có thể gây sự chú ý của người đi đường lác đác qua lại trên con đường nhỏ cách bụi cây tôi nằm chừng một thước.

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi đã từng dùng kiến để rèn luyện ý chí mình. Đọc sách thấy một Nhà Bác học làm việc mỗi ngày 22 giờ, tôi bèn noi gương, rút 5 giờ ngủ còn lại 3 giờ. Tôi tập ngủ đêm 2 giờ và ban ngày 1 giờ theo kế hoạch mới. Đang say ngủ, bị đồng hồ báo thức dựng đầu dậy, tôi tung mền, rời giường, chạy ra trời làm vài động tác thể dục. Bầu trời đêm mát lạnh và trong lành làm tôi tỉnh táo hẳn nhưng khi ngồi vào bàn học, cơn buồn ngủ lại thì thầm ru dỗ tôi. Tôi vốc nước lạnh đắp vào mặt, sự mệt mỏi quá sức của cơ thể chống đối lại. Tôi vào phòng trong của gian nhà thờ cũ kỹ, ngồi thiền cầu nguyện. Những giây phút hướng về thần linh cho tôi một chút minh mẫn và tỉnh táo nhưng ngồi vào bàn học lại buồn ngủ tiếp. Tôi giận mình và tìm cách trừng trị mình. Tôi tìm một góc phòng tối tăm, nhiều muỗi và kiến, lấy cây thọc vào ổ chọc những con kiến ngái ngủ, lười biếng nổi giận thức dậy cắn tôi. Cứ mỗi lần không thắng được sự yếu đuối của cơ thể, tôi lại dùng muỗi và kiến để trợ lực cùng ý chí.

Cắn đâu cũng được, trừ mắt và mũi. Mắt sưng không thấy đường làm sao tiếp tục hành trình? Cắn vào mũi, cái mùi nồng nồng của nọc kiến làm tôi cồn cào muôn hách xì. Tôi phải bịt mồm, bóp cổ nhiều lần để chận đứng cơn buồn hách xì đã bò nhột nhạt lên tới cổ. Tôi ngồi dậy lấy khăn cà ma che bịt mặt lại, kiến bu vào khăn cà ma dày đặc không phân biệt được màu sắc của khăn. Tôi vò khăn thật mạnh để giết kiến, xong chà khăn khắp đầu tóc, mặt, cổ rồi nhanh chóng chùm bít lại, thế mà kiến vẫn bò ngổn ngang trong khăn, trên mặt. Mỗi lần tôi nhúc nhích, giết kiến ở mắt và mũi, kiến lại báo động và cắn dữ hơn, cuối cùng tôi đành nằm xuống, ghìm người thật yên để chịu đựng, nhưng sự tuân lệnh của thân thể cũng có mức độ.

Có những người lính lúc bị cấp chỉ huy chửi mắng, họ nhẫn nhục chịu đựng nhưng có lúc người lính bỗng phản ứng kịch liệt và chống lại cấp chỉ huy. Trung tâm hệ thần kinh là cấp chỉ huy tối caơ của thân thể. Thần kinh hệ ra lệnh nằm yên, cơ thể nằm yên, thế nhưng cơ thể cũng đành bất lực mặc dù đã dùng toàn bộ ý chí để kềm chế. Tay chân vẫn nằm yên chịu đựng, nhưng bắp thịt bắt đầu co giật, rồi toàn thân tôi co giật, run rẩy từng cơn, vì hàng ngàn, hàng vạn miếng thịt li ti bị cắn, bứt khỏi cơ thể. Tôi vẫn cố gắng kìm người, dùng ngón tay rê nhẹ nhàng trên mặt, thận trọng giết từng con kiến đang bu cắn ở khóe mắt, hoặc chun vào mũi.

Có tiếng chân người đi qua. Kềm chế sự đau đớn còn dễ hơn kềm chế cơn buồn nhảy mũi làm tôi cồn cào ngứa ngáy. Đôi lúc tôi lả người sắp mê đi, tôi cố phấn đấu để tỉnh táo. Tiếng trống rập rình rập rình, tiếng con nít reo hò văng vẳng như đang dự một hội vui lớn. Tiếng loa phóng thanh nhắc đi nhắc lại nhiều làn, tôi nghe mơ màng như từ một cơn mê, như từ một thế giới xa lạ. Tôi cương quyết ở lại trong bụi và một ý nghĩ bỗng nảy ra trong đầu: Thà chết dưới nọc độc, dưới sự tra tấn của loài kiến đỏ hơn là chết trong bọn quỉ đỏ. Tôi không muốn nhìn kẻ thù cười đắc thắng khi bị rơi vào tay chứng, kẻ thù sẽ thất đởm khi ta can trường chịu chết dưới nọc độc của bầy kiến vô tâm. Sáu giờ đồng hồ chậm chạp trôi qua, dài hơn cả một đời người đã sống, đã đau đớn, và cuốỉ cùng, kẻ đầu hàng là họ.

Tôi nghe mơ màng tiếng nói chuyện, tiếng thảo luận trên đường về:

— Biến mất tiêu rồi. Hay thật.

Tôi ở ngay trước mắt họ mà họ không thấy, bởi vì tôi ngồi dưới lỗ mũi họ. Lắm lúc những nơi kém an toàn nhất, ít đáng nghi nhất, lại là nơi an toàn nhất. Một lần ở Sàigòn, nửa đêm bị kiểm tra hộ khẩu, xét nhà, tôi đã ngồi yên lành nơi góc bếp trống trải, sau một cái ghế có phơi một cái mền nhỏ trong khi bọn công an cứ lục lọi trong những ngõ ngách kín đáo nhất. Chúng chui cả vào cái lỗ nhỏ trên trần nhà xem có ai nấp trong cái chỗ kiên cố kia không.

Trời về chiều, khi tất cả mọi hoạt động lùng kiếm đã chấm dứt, tôi chậm rãi bò ra khỏi bụi cây với sự cảnh giác và quan sát cẩn thận. Sau khi cởi chiếc áo đen, và lột khăn cà ma xanh để đề phòng sự nhận diện theo đúng trang phục mô tả trên loa phóng thanh, tôi đứng dậy và bước đi như một người dân thường, mặc dù mệt mỏi, đau đớn trong cơn sốt váng vất chập chờn. Băng qua đường rầy xe lửa, tôi chui vào một bụi lớn kín đáo, sau khi đã kiểm soát ngoại cảnh. Tôi cởi hết quần áo, bắt đầu giết kiến, giết hết kiến trên đầu tóc, mặt mũi, chân tay, thân mình, trên quần áo, mặt ngoài, mặt trong, kiểm soát từng chỗ thật kỹ lưỡng. Phải một giờ đồng hồ tôi mới làm xong cái công việc tỉ mỉ kia, rồi nằm duỗi người nghỉ ngơi. Bỗng có tiếng động bên ngoài, thì ra mẩy chú trâu bò trên đường về đang nhởn nhơ gặm cỏ và bứt những đọt cây ở bụi rậm tôi đang trốn nên tôi phải nằm co rút thu mình lại đến khi trâu bò lũ lượt về chuồng và sau cùng thiếp đi trong cơn mệt lả, đau đớn.

Trời sẩm tối, tôi giật mình thức dậy, bóng tối đã bao phủ khắp cảnh vật, không ai còn đủ khả năng thị giác để nhận ra kẻ đang đi lạc lõng trong bóng đêm giữa nơi quạnh vắng nầy. Tôi đi tránh xa hướng dấu xe đạp, đề phòng sự phục kích có thể có tại đó, tụt xuống sông, ngâm mình thật lâu trong nước để những vết thương khắp thân thể dịu dần, và hưởng cảm giác thống khoái của sự mát lạnh và tỉnh táo và uống nước sông đến căng bụng. Bơi qua dòng sông, tôi đi men theo những đường mòn xuyên qua một cánh rừng cây thấp, đường chạy về hướng Tây, hoàn toàn vắng người, vắng nhà. Tôi đi mải miết, đứng phân vân ở những ngã rẽ, ở những đoạn đường quanh co lệch hướng.

Sau đó tôi lại gặp một dòng sông, có phải đây là con sông mà tôi đã bơi qua? Vài ba ngôi sao lác đác trên bầu trời đen thẩm. Tôi đi dọc theo bờ sông, đường bị cắt ngang bởi những mương nhỏ dẫn nước từ sông vào. Tôi cởi quần áo lội sang, lại mặc vào đi tiếp, lại gặp mương, hoặc những đoạn sình ngập nước, lại cởi quần áo. Lần nầy để khỏi mất thì giờ, tôi không mặc quần áo vào nữa, ở truồng đi một cách thong dong. Một ý nghĩ khôi hài chợt đến: Tôi nghĩ đến hình ảnh ông Táo về chầu Trời, ông mang hia, đội mão, mặc áo nhưng không mặc quần. Tôi ngước mặt lên trời nói:

— Sư phụ! Sư phụ đi chầu Ngọc Hoàng cởi cá và sexy 50%, con đi tìm tự do, đi bộ lại phải sexy 100%. Nếu nghĩ đến tình đồng hội ở truồng, xin Sư phụ phù hộ con đi đến nơi đến chốn an toàn.

Tôi liên tưởng lần biệt phái Tây Ninh, một phi trường vắng chỉ có phi cơ của biệt đội. Giữa trưa trời nóng nực say ngủ — tôi có tật mỗi khi vào phòng riêng thì trần truồng như nhộng — bỗng nghe điện thoại gọi đi bay. Tôi chỉ mặc vội duy nhất chiếc quần lót nhỏ, rồi mang giày botte de saut, đội helmet và giây đeo súng, chạy ra phi cơ. Sau khi hướng dẫn đánh bom xong, tôi trở về làm nhiều low pass chào các người bạn Thiết Giáp. Nhiều Chiến sĩ lái xe bọc thép ngạc nhiên đến kinh dị, leo lên pháo tháp xe tăng để chiêm ngưỡng một phi công ở truồng tồng ngồng đi đánh giặc vì cái ghế chắn đạn đã che mất phần chiếc xì líp.

Trên con đường thăm thẳm hiu quạnh, bỗng dưng có chiếc mùng trắng giăng ngang giữa đường, có một người đang nằm ngủ. Phải chăng tôi đã đến vùng đất Khmer Đỏ và đây là người lính trinh sát trên tuyến đầu tiên? Tôi lén bò qua, đi tiếp, thấy một chiếc ghe chài nằm dưới dòng sông, có lẽ một người đánh cá đi làm ăn xa một mình. Sương đêm và hơi lạnh bao trùm tấm thân trần truồng. Tôi không thấy lạnh lắm vì phải bương bả đi liên tục. Có chăng là những cảm giác ngai ngái rờn rợn khi một đợt gió thoảng nhẹ lùa qua. Con đường dọc bờ sông càng về khuya càng lệch hướng nam và cuốỉ cùng dòng sông đổ vào một hồ nước mông mênh. Tôi đứng phân vân giữa ngã ba đường, những ngôi sao làm chuẩn đã lặn làm tôi mất phương hướng vì thiếu điểm chuẩn. Bỗng một đốm lửa bằng trái banh quần vợt đang lượn lờ trước mặt như có người đang mang đuốc soi ếch hoặc bắt cá ban đêm, nhưng lửa đuốc phải lập lòe, còn lửa nầy giống như một cục sắt tròn bị nung đỏ. Tôi bò lại để xem xét, ghé tai sát đất để nghe ngóng, không có tiếng chân mà cục lửa cứ lượn lờ quanh quẩn trước mặt. Một bóng ma trơi lạc loài trong đêm? Thật lâu, chẳng tìm hiểu được gì về cục lửa kỳ dị, tôi bất cần nằm xuống giữa cánh đồng hoang vắng ngủ chờ sáng. Ma trơi ơi! Hãy cùng ta chia sẻ một đêm cô đơn!

Tôi thức dậy khi nghe tiếng reo hò văng vẳng từ một khu làng xa tít phía trước, ngồi thơ thẩn đợi mặt trời lên. Bỗng có tiếng xe cộ từ phía hướng tay phải. Tôi đã ước tính chính xác, tôi biết mình hơi đi chếch về hướng Tây Nam và giờ nầy còn kịp lúc để đổi hướng. Định phương hướng không phải chỉ sử dụng thị giác, có lúc cần phải vận dụng cả thính giác và xúc giác, tôi đang nghe để đi về điểm chuẩn. Trời đã sáng tỏ, mặt trời lên cao ở phía sau lưng.

Tôi nhớ lại lúc còn nhỏ, sáng sáng ra sân đứng “kênh” mặt trời. Để chế ngự người đổi diện, mắt là phương tiện tối hữu hiệu. Muôn dùng mắt chế ngự con người, trước hết phải tập chế ngự mặt trời. Những ngày đầu, tôi nhìn mặt trời vào buổi sáng, và mắt phải nhấp nháy liên tục để chống lại những tia sáng chói lòa, nhưng về sau, tôi có thể quắc nhìn mặt trời đứng bóng mà mắt vẫn trơ trơ. Sự luyện tập mắt đưa đến một vài hậu quả khác thường. Có nhiều cô gái bảo tôi:

–  Mắt anh như có lửa, có ruồi. Mỗi lần anh nhìn em, mắt anh nhìn đâu em thấy nóng như bị lửa đốt và nhột nhạt như bị ruồi bâu.

Thế mà sau nhiều năm tháng khổ hình đày đọa, nào biệt giam phòng tối, nào phải ngụp lặn trong những thửa ruộng bùn sình dơ bẩn, đôi mắt tinh anh, mạnh mẽ ngày xưa giờ đã yếu kém, mệt mỏi. Mới đây, tôi nhận được một bức thư từ một người con gái Tây Đức, đề cập đến đôi mắt mình:

–  Em không phải là loại người con gái gặp ai cũng yêu. Nhưng nhìn hình anh trên Reader’s Digest, đôi mát buồn của anh đã đi vào trái tim em!

Con đường quốc lộ chạy song song với đường xe lửa. Người bên con đường nầy trông thấy người bên con đường kia và trên đường nầy chỉ còn có một mình tôi. Đi trên đường rầy xe lửa, thoải mái và nhanh nhưng tôi không thể đi lâu, bởi trên đoạn nầy chắc chẳng có ai đi như vậy. Do đó tôi phải tuột xuống bên trái đường rầy, lợi dụng cái hào sâu khô nước chạy giữa đường xe lửa và ruộng lúa để đi. Con đường trũng thuận tiện vì cây cối mọc che khuất hai bờ, tôi đã chọn một thời điểm đúng như một sự sắp đặt của Đấng Bề trên, bởi vì con đường hào vừa đúng thời kỳ khô ráo nhưng vẫn còn vài vũng nước. Nhờ khô ráo, tôi không phải lội nước, lội sình vất vả khó khăn, và nhờ vài vũng nước nên thỉnh thoảng tôi còn có chỗ giải khát dọc theo đường. Có những vũng nước khô rút lại bằng cái rỗ, những con cá nhỏ quần tụ lúc nhúc tranh nhau chút nước cuối cùng, như thể linh cảm được ngày tàn sắp tới, sau cơn nắng gắt nay mai. Tôi ngồi xuống, từ tốn lượm từng con cá nhỏ bỏ vào miệng ăn sống theo kiểu Sushi Nhật Bản.

Tôi đến đúng lúc mùa gặt lúa vừa xong, mọi người nghỉ ngơi sau những ngày rộn ràng mệt nhọc. Nếu sớm hoặc trễ hơn, bao nhiêu Nông dân, Du kích trên đồng có thản nhiên bàng quan với một kẻ lạ khả nghi đang rong ruổi trên vùng đất của họ hay không? Thỉnh thoảng một con đường đất rẽ từ quốc lộ vào buôn, cắt ngang hào, ở những chỗ nầy tôi phải cẩn thận. Con đường vắng có dâu vết lạ: Dấu chân của một con chó và một con người đã khô cứng lại. Họ đi đâu theo lối nầy suốt một quãng đường dài trên mười lăm cây số? Tuần tra chăng? Buôn lậu chăng? Hay họ cũng đi trốn như tôi?

Xe trên đường chạy tấp nập, đặc biệt không có xe đạp bởi xe đạp cũng gởi trên xe Honda thồ hoặc xe đò. Nếu đi xe đạp, tôi vẫn là người đi xe đạp duy nhất trên đoạn đường xa lạ nầy. Đường có nhiều trạm gác nhỏ. Theo các Bộ đội VC đào ngũ ở tù Aran, con buôn đi ngang mỗi trạm chỉ cần đóng một riel, nhưng đi suốt lộ trình, con số riels đã lên đến hàng trăm. Ngoài một số nằm dọc theo đường, những phum làng còn nằm cách xa trục lộ vài cây số và Doanh trại Quân đội Nhân dân Việt Cộng thường đóng đầu phum.

Có những đoạn đường xe lửa và xe hơi quá gần nhau, những cây gai dưới hào sâu mọc lan tràn bít lối, tôi phải tách ra xa, đi len lỏi giữa các lùm cây, bụi cỏ tranh cao. Đến một vị trí tưởng chừng là biên giới Miên—Thái, có một con đường đê cao và một ngôi nhà nằm chơ vơ giữa đồng trống, nhịp độ xe giảm dần. Trong thời gian trước khi đi vượt biên, thời gian ở Nhà tù 7708, tôi thường dò hỏi những đặc điểm của biên giới. Có người bảo là một con đê cao ngăn chia hai nước, có người bảo là một chiếc cầu, là một cánh rùng. Có nhiều đoạn cỏ quá thấp, tôi phải đi lum khum hoặc bò chậm chạp bởi vì thỉnh thoảng lính gác đạp xe đi tuần tiễu quanh khu vực. Trời nắng gay gắt, nước bắt đầu khó kiếm. Mỗi lần gặp vũng nước, tôi phải uống lấy uống để, uống xong, ngưng lại lấy hơi uống tiếp, uống đến lúc nào bắt đầu ói mửa mới thôi. Từ khi bỏ xe đạp, tôi chẳng còn gì để đựng nước uống. Ngoài hai tô hủ tiếu sáng hôm qua, tôi chẳng có gì để bỏ vào miệng ngoài mấy con cá sống, suốt ngày hôm sau, tôi vẫn phải nhịn đói để đi. Nhịn đói suốt ba ngày đêm để đi liên tục, lần đầu tiên tôi nhận chân được giá trị tiềm tàng của sức khỏe bản thân trong tình trạng đói khát, mệt mỏi, thần kinh luôn luôn căng thẳng.

Tôi trở lại đường xe lửa khi đoạn đường tương đối an toàn, thỉnh thoảng vài tiếng đại bác vọng lại mơ hồ. Các chú con nít vùng nầy có vẻ cảnh giác, hoặc hiếu kỳ, vì mỗi khi tôi đi ngang, chúng đều nhìn tôi chăm chú. Tôi đi tiểu liên miên, mặc dù chỉ đi tiểu khô bởi vì đi tiểu là một thế đứng tốt nhất để dò thám quan sát. Nếu có gì đáng nghi ngờ, tôi phải sẵn sàng để bôn tẩu. Những chú bé dắt trâu đi cùng một hướng, lâu lâu quay lại nhìn tôi một cách kỳ cục, tôi lại phải giả vờ đi cầu để chờ các chú đi khuất hẳn. Về chiều, trâu bò và mục đồng khắp nới lũ lượt trở về làng. Đường quốc lộ và đường xe lửa song song chạy xuyên qua làng Mimit, tôi bọc trái vòng phía ngoài phum để tránh các trạm kiểm soát đầu làng, cánh đồng trống trải thênh thang lác đác một vài bóng cây, nhuộm màu tím thẫm.

Mặt trời đang lặn. Đã lâu lắm tôi mới được chiêm ngưỡng lại một chân trời tím. Một buổi chiều thời thanh xuân mộng mị, đang đi lang thang, tôi chợt bắt gặp một bóng giai nhân. Nàng đi về hướng mặt trời, một mặt trời rực rỡ trong bầu trời chiều màu tím kiêu sa man dại, dáng nàng lồng trong bóng mặt trời. Tóc dài, mượt mà tung bay cùng tà áo trắng, bàn tay cầm nón nghiêng nghiêng.

Những đường nét, vóc dáng thanh lịch tuyệt vời, đại lộ chiều rộng thênh thang chỉ một mình nàng độc hành. Màu tím lộng lẫy của chân trời được cẩn bạc lóng lánh bằng những cụm mây tuyết. Tôi đứng ngẩn ngơ rung động nhìn nàng đắm đuối. Bóng dáng yêu kiều diễm lệ mờ dần, nhỏ đần, chìm lẫn vào bóng hoàng hôn. Tôi chưa từng gặp và chẳng bao giờ gặp lại nàng nhưng buổi chiều hoàng hôn màu tím, mấy mươi năm, vẫn sống động dạt dào trong xúc cảm đắm mê.

Màu tím thẫm dần và hòa lẫn vào bóng tối màn đêm. Một con đê thật cao chạy vắt ngang đằng trước, tôi bò chậm rãi, bờ đê vắng người, bên kia là dòng sông rộng, có một chiếc thuyền nhỏ lẻ loi. Có phải đây là biên giới Thái— Miên? Sisophone cách biên giới 45 cây số. Tôi đi suốt một đêm, một ngày với tốc độ khá nhanh, tôi suy luận như vậy, nhưng thật lạ, từ con thuyền kia, có tiếng người vọng lại, cái tiếng Bắc của lính Cộng Sản:

— Đù mẹ, hồi năm 75 tớ giết biết bao nhiêu thằng Ngụy.

Một thoáng thất vọng, bối rối lướt qua. Kẻ thù nguy hiểm hiện diện khắp nơi, tôi một mình đương đầu với một thế lực lớn như con châu chấu trong câu ca dao ưa thích nhất, có dạo đã trở thành biểu tượng riêng của mình:

– Nực cười châu chấu chống xe. Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng.

Tôi đi về tay phải, cần đi gần đường chuẩn để khỏi lạc lối, và hơn nữa, càng về phía phải, con sông rộng mênh mông càng hẹp dần. Cứ khoảng hai mươi thước tôi lại ngồi thụp xuống, ép tai sát xuống đất nghe ngóng và quan sát đằng trước. Vào ban đêm, từ dưới thấp nhìn lên sẽ thấy rõ hơn nhìn từ cao xuống và đôi tai lúc nầy còn hữu dụng hơn đôi mắt, để phát giác sự di chuyển của đối phương. Cứ theo phương thức đó, tôi đi gần đến đập nước lớn, không thấy lính canh, tôi chống tay bò chậm qua đập. Có tiếng nhạc vọng lại từ một chiếc radio và ánh sáng của ngọn đèn bão từ một gian nhà nhỏ. Tôi đi qua nhàn rỗi như một kẻ đi hóng mát, 

gặp một cổng không có lính gác, tôi thối lui và men xuống bờ sông cỏ mục rậm rạp nghiên cứu tình hình. Một lúc sau, có tiếng chân từ cổng đi lại. May quá, tôi đã ẩn nấp kịp thời trước khi tên gác trở về, tôi quyết định bơi qua sông. Cởi tất cả áo quần, tôi đội lên đầu và lấy khăn cà ma cột choàng qua cằm, bơi chậm, nhẹ nhàng cố không gây tiếng động. Đêm tĩnh mịch âm vọng những xao động nhỏ bé nhất của tiếng nước khua. Nếu lặn qua sông, sẽ ít gây tiếng động, nhưng tôi cần giữ quần áo khô để mặc. Bên kia bờ là một bến tắm vắng vẻ, tôi vẫn ở truồng cho tiện. Sau con sông nầy, có lẽ còn phải vượt nhiều sông nữa, tôi nghĩ vậy, nên bước lên bờ trần truồng. Trời tối đến nỗi khi nhận ra bốn người đang hướng về phía bến, tôi không kịp lánh mình, chỉ kịp thối lui xuống cạnh sông, ngồi xuống vờ kỳ cọ như đang tắm. Bốn tên mặc đồ Bộ đội, nhỏ người vừa tới nơi. Họ nhìn thấy tôi mập mờ, dừng lại:

–  Ai đó? Một giọng hỏi.

Tôi lúng túng chưa tìm ra cách đối phó, nên vẫn im lặng. Lại có tiếng khác:

–  Đứa nào tắm đó.

À! Tôi chợt nhận ra một điểm lạ trong giọng nói, cái giọng ấp úng run run như đang bị tràn ngập bởi cơn sợ hãi. Tôi nhanh trí đoán ra nguyên nhân. Giữa đêm tối đen, một con vật kỳ lạ, phần dưới là một thân người trần truồng, phần đầu là một khối đen xù xì to lớn. Tôi nhảy chồm đến tên gần nhất, vồ hù nó với tiếng rú kinh rợn ma quái:

–  Whooo… ooo… ooo!

Bốn tên mặc dù có súng cũng hoảng hồn chạy tán loạn và tôi chạy biến về hướng ngược chiều. Lội qua một áo rau muống tôi ẩn mình trong một khu vườn rậm rạp. Mấy phút sau, một đám đông nhốn nháo với đèn pin, đuốc sáng rực:

–  Ở đâu, ở đâu? Nhiều giọng hớt hãi hỏi lớn.

Tiếng trả lời vẫn còn run rẩy sợ hãi:

— Ở đây. Đây nầy. Rõ ràng là MA, nó vừa vồ tao. Một con ma rà trần truồng, tóc tai rũ rượi. Khiếp quá!

Tôi cố nín cười đến tức cả ngực, thật là chuyện quái đản. Chính tôi, tôi cũng không ngờ được cái phản ứng linh hoạt của mình trong một trường hợp xuất thần như vậy. Bỗng nhiên, tôi nhận ra mình đang ở giữa một Doanh trại Bộ đội rộng lớn của Việt Cộng với nhà ván hai tầng chung quanh rộn rịp bóng người. Ngày mai là Giao thừa và tối nay có đãi những món ăn Tết. Lính Cộng Sản biết rõ, nhớ rõ ngày nào và mấy ngày trong năm được ăn no, có thịt. Nhiều ngày trước lễ, họ nôn nao chờ đợi, bàn luận và tưởng tượng. Cuộc sống thiếu thôn đã tập cho họ những thói quen, lối suy nghĩ, cách sống lẩn quẩn chật hẹp. Có người suốt ngày chỉ bận bịu với ấm nước trà, với điếu thuốc lào và tự xem đó như một phong thái sống phong lưu. Có người thèm thuồng quá mức nên phải ăn hàm thụ, nghĩa là kể đi kể lại không chán những món ăn thích khẩu mà mỗi ngày họ mơ ước được ăn.

Nỗi đau nấy đâu phải của riêng ai. Không những “Mỗi lứa tuổi đều có một nỗi đau riêng,” thông thường, mọi người dân Việt Nam dưới chế độ hiện tại, giờ phút nầy, đều có cùng một nỗi đau chung. Không phải chỉ Sĩ quan, Binh lính hay Nhân viên Chính quyền cũ Sàigòn, hay Dân chúng miền Nam mới khổ, mà chính miền Bắc, những Bộ đội, Công nhân, Nông dân Xã hội Chủ nghĩa cũng cùng chung số phận. Những tên lính gác đêm đêm lén ăn cắp mì của tù để ăn, những nhân viên cấp lớn cũng phải bịa đặt những lý do có vẻ chính đáng để được tổ chức những buổi tiệc để được ăn uổng đớp hít, bởi vì đói và thiếu thốn là căn bệnh trầm kha chung của Chế độ Cộng Sản.

Tôi định chờ khuya sẽ tìm cách lọt ra ngoài nhưng nếu không ra kịp thì sao? Tôi phải nằm kẹt trong này suốt ngày và sẽ bị bại lộ! Tôi nhịn đau bương qua các bụi tranh chằng chịt dây mắc cỡ, gai móc, cào làm sướt da thịt, rách áo và vướng bước đi. Bò qua sân nhà bếp trong ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn dầu, tôi băng qua một con lộ bằng đất rộng và đi xuyên về hướng những cánh đồng. Theo đường mòn dọc theo mương nước, nửa giờ sau, tôi gặp xóm nhà nhỏ đầu tiên, quẹo phải tìm đường xe lửa làm chuẩn. Một hàng bóng đèn tù mù nằm cách đều trên đoạn đường vòng cung. Có phải đèn biên giới không? Tôi đi tìm đường lầy, nhưng lại gặp một con lộ lớn khác.

Những gian nhà tranh nằm dọc bên kia lề đường, thì ra chỉ là ánh đèn từ những ngôi nhà nầy. Tôi lần mò đến gần nghe ngóng, tiếng trò chuyện bằng tiếng Miên làm tôi phân vân thắc mắc. Tôi đã qua đê, qua sông, qua lộ lớn như những lời diễn tả về đặc điểm của biên giới, nhưng cuối cùng tôi vẫn còn trên đia phận Kampuchia! Tôi đi theo khoảng đất trủng cạnh đường lộ về hướng Tây và nhà cửa vắng dần, đường đi bắt đầu có chướng ngại vật, những giây kẽm gai, cọc tre, phên đăng rào ngang chận bắt cá. Tôi đành bước lên lộ lớn đi tiếp, thoải mái nhưng nguy hiểm. Tôi vừa nghĩ vậy thì bỗng phát giác một thanh gỗ chận ngang đường, có treo tấm bảng tròn vẽ dấu hiệu dừng lại. Tôi ngồi thụp xuống đất với ý định, nếu chưa bị phát hiện, tôi sẽ bò qua cổng gác và đi tiếp nhưng một tiếng quát lớn vang lên:

–  Nẻ na? (Ai đó?)

Tôi đứng lên thản nhiên bước tới.

–  Bòn tâu na? (Anh đi đâu?)

–  Tâu te. (Về nhà.)

Tôi vừa trả lời và khom mình lách qua thanh cổng gác tiếp tục

đi.

–  Xốp! (Dừng lại!)

Tôi bật chạy đồng thời với tiếng cơ bẩm lên đạn, những tràng đạn bay xối xả trên đầu. Bên trái đường, cách một trăm thước là xóm nhà nhỏ, tôi chạy nép về phía lề trái. Phần trời tối không thấy, phần sợ đạn lạc vào khu nhà dân, tên lính gác chỉ bắn những lằn đạn lửa bay vun vút bên phía phải. Tôi bèn rẽ qua trái chạy theo một đường mòn nhỏ biến mất, tiếng chửi thề của tên gác còn vọng lại rõ ràng. Đợi tình hình lắng dịu, tôi len lỏi qua khu nhà, có nơi phải đi sát vách để tránh chướng ngại vật ngổn ngang trên sân, vườn. Tôi gặp một đường xe bò đi ra khỏi làng. 

No-Man’s Land, Vùng Đất Tử Thần 

Đường chạy đúng hướng Tây, cỏ tranh hai bên đường cao quá vai, cỏ ở giữa hai lằn bánh xe cũng đã mọc xanh tốt vì đường không được sử dụng thường xuyên. Con đường tiến dần vào rừng, với cây thưa giữa những tàn lá cao, ánh sao đêm lập lòe nhấp nhánh, đây đó những đốm lửa sáng như những ngọn đuốc lớn. Ngày vượt ngục Trại tù A30, tôi xuyên rừng ban đêm để đi ra lộ lớn, những ánh đuốc đêm lần đầu tiên trông thấy làm tôi chùn bước ngại ngần. Phải chăng là những đống lửa sưởi ấm của bọn lính đi kích đêm hay của một trạm kiểm soát? Sự thật là, để luôn luôn có lửa sẵn dùng, người đi rừng đốt những bộng cây chết khô để giữ lửa, có lúc gió lớn, gỗ khô toàn cây bốc cháy như một cây đuốc vĩ đại. Phải đi đêm, đi rừng mới thấy cái tính chất thiết yếu của lửa, mới thấy thâm thìa hai câu thơ:

–  Em ơi “lửa tắt,” bình khô rượu.

Đời vắng em rồi, vui với ai?

Tốỉ như đêm 30. Hôm nay 29 Tết, nhưng càng vào sâu, bầu trời càng đen như mực, mắt tôi không còn phân biệt được lối đi, có lúc đi lệch, chân vấp vào mu đất lấp xấp cỏ thấp giữa đường, tôi phải dùng cùi chỏ tay trái để giữ hướng. Khi cùi chỏ chạm mạnh vào tranh, có nghĩa là tôi sắp sửa lũi vào lề trái, khi cùi chỏ mất cảm giác đụng chạm, tôi sắp lệch qua phải. Đi và định hướng bằng cùi chỏ tạo nên cảm giác lềnh bềnh lều bều như đang đi trên những chiếc phao nổi trên sông bởi đường gồ ghề, thấp cao, khi hụt hẫng, khi vấp váp.

Rừng vắng ngắt, tiếng tắc kè, tiếng vượn hú nghe âm vang rờn rợn. Đường có lúc vòng vèo sang trái, lúc quanh co sang phải tùy địa thế, nhưng tính bù trừ lại, vẫn theo đúng hướng Tây. Bỗng nhiên chân tôi bị vấp mạnh, người bắn lên và rơi xuống. Cái gì đây? Tôi ngồi xuống dùng tay mò mẫm, sờ soạng tìm thấy một sợi dây thép giăng ngang đường, tầm cao nửa đầu gối, như vậy là có chận đường, có kiểm soát. Tôi quan sát chung quanh chẳng thấy bóng người, chẳng thấy bóng nhà, bóng chòi, cách chừng vài trăm thước, tôi lại bị vấp nữa. Một điềư lạ là mặc dù mệt mỏi, nhưng phản ứng cơ thể khá nhanh, chân vừa vấp vào giây, cả người tôi đã phóng bay lên như một diễn viên có cột dây kéo lên trong những pha phi thân trên sân khâu, và rơi xuống nhẹ nhàng, không bị té. Bị vấp ba lần bởi giây thép chặn đường chưa đủ, tôi lại bị vấp lần thứ tư bởi một cảm giác khác lạ. Tôi lại ngồi xuống dùng tay mò xem, thấy một cái nạng cây chẻ hai được đóng thấp giữa đường.

Quá nửa đêm, gặp một dòng suối khô cắt ngang đường, tôi chọn hướng rẽ trái, đi một đoạn, thì hoàn toàn lạc lối và lạc hướng, xung quanh tôi là rừng tre rậm. Phương hướng bây giờ chỉ là sự tính toán trong đầu, tôi cộng trừ bao nhiêu lần rẽ trái, rẽ phải để ước đoán mình đang đi về hướng nào. Cùi chỏ tay không còn hữu hiệu vì những nhành tre gai nhọn, tôi phải đi đến lúc nào gục xuống như một thân cây bị đôn đứt lìa bởi một nhát rìu bén ngọt. Tôi đang ở giai đoạn cuối của cuộc đua, thắng hay bại chỉ lệ thuộc vào nỗ lực cuối cùng.

Bị kẹt lâu trong rừng, sự đói, khát, càng ngày càng trầm trọng. Tôi lượm một nhánh cây gãy cầm ở tay phải quơ qua quơ lại dò dẫm đằng trước, đồng thời dùng tay trái gạt lên gạt xuông liên tục để bảo vệ mặt mũi khỏi những nhành tre đầy móc gai nhọn. Tôi nhắm mắt đi quờ quạng như nhân vật “Hiệp Sĩ Mù nghe gió kiếm” của điện ảnh Nhật Bản. Cây gậy trở thành cặp mắt của người đi đêm, và xúc giác giờ nầy trở thành bộ phận độc nhất để dẫn đường. Có nơi chỉ có một lỗ trống nhưng tôi phải bò sát đất để chui qua, mấy tiếng đồng hồ đi trong trạng thái mò mẫm tối tăm làm tôi chóng mặt quay cuồng. Tôi hoàn toàn không còn ước định được phương hướng, tệ hơn nữa, tôi còn không tìm được cái khoảng trống mới chui vào để thoát ra. Gai góc như kẻ thù bao vây tôi, rồi gai góc cuối cùng trở thành người bạn che chở tôi. Tôi đành nằm xuống nghỉ mệt.

Trong thời gian chạy và bương bả đi vào rừng, tất cả mọi nỗ lực đều tập trung vào một đối tượng duy nhất: Việt Cộng. Kẻ thù đã thu hút tất cả mọi ý nghĩ, ưu tư, cảm giác của kẻ trốn chạy nhưng khi nằm xuống một chỗ an toàn, ngoài tầm tay sát hại của con người, những đối tượng khác xuất hiện ngay. Tiếng chim kêu, vượn hú lạc lõng trong rừng sâu làm cho bóng tối càng thêm phần ma quái, đe dọa. Tôi nghĩ đến những loài rắn độc đang trườn bò dưới những lớp lá rừng ẩm mốc, loài hổ beo đang rón rén từng bước tính toán để vồ chụp con mồi lạc lõng. Tôi nhớ đến Xuân, một anh bạn cũ, cao lớn gần 30 tuổi, thế mà mỗi lần đi tiểu đêm ở dãy nhà vệ sinh bên ngoài lại phải năn nỉ nhờ cậy một người khác đi theo vì sợ ma! Mặt đất ẩm lạnh lẽo, rừng khuya âm u sương giá, tôi nằm co rút người, run lật bật. Cái run rẩy của thể xác không chỉ đến từ thời tiết lạnh lẽo mà còn do nỗi sợ hãi vô cớ nào đó vừa lướt qua, và sự yếu đuối chỉ đến một thoáng là biến mất. Tôi đã trấn tỉnh được tinh thần, suốt cả quá trình dấn thân tranh đấu, tôi đã trải qua bao nhiêu hiểm nghèo, bao nhiêu gian truân vất vả, sự luyện tập hàng ngày đã có ảnh hưởng tốt đẹp trong những giờ phút cần thiết!

Cơn mỏi mệt quá độ dần dần đẩy lùi tất cả nỗi lo toan, chiếm toàn bộ trí não. Tôi ngủ vùi bất kể trời đất. Trong cơn mơ màng, tôi nghe tiếng gà gáy đằng trước, như vậy tôi đã đi đúng đường, sắp đến một thôn làng thuộc địa phận Thái Lan. Lát sau lại có tiếng gà gáy bên phải, rồi bên trái. Quanh đây chắc có nhiều phum, bỗng nhiên có tiếng gà gáy hướng đàng sau tôi vừa đi qua. Tôi chợt hiểu và nhận ra sự thông minh ngớ ngẩn của mình. Gà rừng! Đúng rồi, tôi đã từng ăn bao nhiêu trứng gà rừng trong nhũng ngày lên rừng làm công tác trại tù.

Trời sáng dần, mặt trời nhô lên dưới những tàng cây cao, tôi chui ra khỏi lùm tre và thích thú khi thấy một con đường mòn hiện ra trong vòng hai mươi thước. Tôi đi thong thả như một người đi dạo để hưởng cái cảm giác hào sảng của buổi sáng đẹp trời trong một khu rừng thanh vắng. Chim bướm bay lượn chập chờn, những chú sóc nhảy nhót trên cây, cái hạnh phúc thanh thản bình yên đã gột rửa những cảm giác mệt mỏi, ưu tư. Đường đi rộng rãi, trên đường mòn vương vãi đây đó những bọc ni lông, vỏ thuốc lá, nước ngọt. Vài nơi, còn có những manh áo quần rằn ri treo lủng lẳng trên những nhánh cây thấp, những dấu vết vừa cũ vừa mới. Đây là một con đường buôn vẫn còn được sử dụng. Tôi chợt nghe tiếng xe. Trời ơi! Tôi sắp ra khỏi rừng rồi sao! Tôi bước cuống quýt, hớn hở, tiếng xe nghe đó rồi mất đó, cuối cùng, tai tôi cứ lùng bùng vì thể xác quá mệt mỏi. Có lẽ nào? Giống như một người đi bộ trên sa mạc nắng cháy, cơn khát nước, cùng những qui luật khúc chiết, phản xạ của ánh sáng đã tạo ra những hồ nước ảo ảnh và tôi đang bị ảo giác về thính giác?

Càng lúc tôi càng không còn phân biệt, nhận định được, đó là tiếng xe cộ hay tiếng động lạ của núi rừng, bởi vì tiếng động chợt vang dội rồi biến hút, có đó rồi mất đó. Vị trí cảnh sắc trước mặt có phần biến đổi, một khoảng rừng rộng bị đốt còn nham nhở, đó đây còn mùi của cỏ cây cháy khét, một vài lượn khói nhỏ leo lét vươn lên mệt mỏi. Tôi lượm vài chú ốc, nhái bị nướng chín vì không kịp thoát thân, tôi phủi sơ sài lớp tro đen, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Cơn khát nước vật vã đã làm cho những miếng thịt cháy đen trở thành đắng nghét, và làm cổ họng khô rát.

Bất giác nghe tiếng nói chuyện, tôi ngồi thụp xuống đất núp và quan sát. Bốn thanh niên mặc đồ dân sự, áo sơ mi màu xanh, đỏ, vàng sặc sỡ, vai mang súng dài đang đứng chỉ trỏ về những hướng chung quanh. Không nghe rõ, tôi không đoán được họ nói tiếng gì nhưng rõ ràng là da họ không được trắng, họ bắt đầu đi ngược con đường tôi định chọn đi. Tôi mặc áo quần đen, nằm co rút sau một bụi tranh cháy sém đen thui, cách đường trong vòng năm thước mà họ không thấy. Màu tro đen và màu người lem luốt hòa lẫn nhập nhằng với nhau, tôi đợi họ đi khá xa, mất hút mới lên đường đi tiếp.

Đến Biên Giới Miên-Thái 

Đi chừng vài trăm thước, tôi bỗng phát hiện hai người lính trẻ, mặc đồ treillis, mang súng, đứng ở đoạn đường trước mặt. “Nguy hiểm,” tôi tự nhủ và quyết định rời đường mòn băng xuyên rừng.

Rừng chằng chịt những cỏ tranh, bụi tre, cây gai và lác đác những tàn cổ thụ lớn. Đi theo đường mòn không có mìn bẫy nhưng có trạm gác, đi băng rừng tránh được người nhưng phải đối diện với sự rình rập của những khối sắt thép vô tri sẵn sàng hủy diệt sự sống một cách máy móc.

Thời gian đầu ở tù Lam Sơn, tôi đã tình nguyện vào Đội gỡ mìn để học nghề, trong khi những tay chuyên nghiệp lại cố tình trốn tránh. Gỡ mìn theo phương thức của Cộng Sản thật đơn giản, họ đơn giản hóa vì mạng sống của một con người, đặc biệt của một tên tù, đối với họ đơn giản, chẳng có giá trị gì, chết đứa này còn đứa khác, chết càng nhiều càng tốt. Dụng cụ gỡ mìn là những thanh tre vót nhọn dùng xăm nghiêng mặt đất chừng 30 độ hoặc dùng lưỡi liềm móc đất. Nếu đụng vật cứng, sẽ moi đất chung quanh để lấy lên, thường thường chỉ moi trúng đá, thỉnh thoảng mới moi được một trái mìn trên bãi mìn phòng thủ cũ. Sau vài ngày, coi thường nguy hiểm, tôi dùng cuốc để lật đất cho nhanh. Tôi làm sớm nghỉ sớm, đủ chỉ tiêu diện tích trong buổi, tôi kiếm chỗ ngồi nghỉ, trong khi các bạn trong toán cứ mò mẫm, xăm xoi tỉ mỉ. Có lần vừa cuốc xong miếng đất, bỗng có tiếng gọi trở lại khẩn cấp, người trưởng toán dẫn tôi đi ngược con đường, chỉ tôi xem dấu chân mình cách hai trái mìn không quá ba phân, tôi cười pha trò:

—  Số moa lớn lắm. Đâu chết được!

Tôi tin mình khó chết, nhưng bạn bè lại nghĩ, bản thân họ thật dễ chết nếu để tôi làm chung toán gỡ mìn. Họ yêu cầu Quản giáo loại tôi ra khỏi Toán, hoặc họ sẽ xin rút lui khỏi Toán vì họ không muôn đùa với Tử Thần. Từ đó tôi đã có khái niệm về cách gài mìn, vị trí gài mìn và cách gỡ mìn, tránh mìn. Đi qua những nơi có mìn, điều căn bản là phải tránh những gốc cây, những ụ mối, những lùm cây rậm. Mìn thường gài ở những chỗ ẩn núp, trốn tránh tốt, kín đáo. Những nơi trống trải, thưa thớt, ít được gài, và nếu có, cũng dễ phát hiện. Biết kỹ thuật là điều cần thiết, nhưng cái vận hạn của con người lại có phần quyết định hơn. Tôi không thể ngồi xuống, cẩn thận xăm đất trên một khoảng rừng cả chục cây số, cũng không thể chú ý hết những sợi dây gài mìn trong các trảng tranh lớn bạt ngàn. Một nửa tin vào sự nhạy bén, sắc sảo có tính cách kỹ thuật khoa học của bản thân, một nửa tin vào quyền năng của Thượng Đế, với số phận mình đã được định đoạt.

Đôi dép đứt quai nhiều lần không sửa được nữa đành phải vất bỏ, bàn chân bắt đầu nhói buốt vì những gốc tranh, gai góc dưới đất. Tôi phải đi chậm dần và nhón nhén từng bước. Tôi cảm thấy tiếc nuối bàn chân trần mấy năm về trước, trong những năm tù tội, tôi đã tập luyện cái đầu và cái chân của mình cho xứng đáng với câu “Đầu đội trời, chân đạp đất.”

Gần sáu năm, bàn chân trần đã dẫm đạp biết bao nhiêu gai góc, vấp váp bao nhiêu gốc cây, đá cục trên đường. Chân tôi có thể đạp gãy nhũng loại gai bình thường và chỉ thấy “ngứa” khi dẫm phải kẽm gai. Nhiều người tặng tôi dép, kể cả các tù nữ, kể cả các cô gái đi thăm nuôi khi nghe kể chuyện về tôi, tôi chỉ giữ chơi và biếu lại những người bạn cần dùng. Những người nằm ngủ bên cạnh đã than phiền đôi chân dày, cứng, dơ dáy bụi bặm không bao giờ rửa đó. Tôi trả lời:

— Tao chỉ cần giữ cho cái đầu sạch là đủ. Chú mầy chỉ suốt ngày lo đôi chân cho sạch mà lại bỏ quên cái đầu!

Đôi chân quí, đôi chân đã tạo thành huyền thoại, sau mấy tháng ăn nằm tại Sàigòn trong thời gian trốn tránh sự săn đuổi của bọn Công an Trại tù A30, đã lột, tróc hết lớp da vàng sần sùi dày cộm. Những vết nứt nẻ cũng biến dần vì thế mà giờ nầy tôi đang chịu đau đớn với những gốc tranh tầm thường, những bụi gai hèn mọn.

Những đồi tranh trùng điệp dày đặc làm tôi nhớ những ngày đi cắt tranh với từng hàng người nhễ nhại dưới cơn nắng hừng hực bốc lửa, chen chúc giữa những cụm đế, lác ẩm mốc để mót tranh. Gai nhọn, cạnh đế sắc bén cắt, cứa, đâm nát da thịt. Đói, khát hợp đồng hành hạ làm run rẩy những đôi chân xương xóc, những cánh tay rã rời, chiếc liềm vẫn ráng liếm soèn soẹt liên tục trong cơn chấp chới mê thiếp của thần trí.

Có đoạn đường tôi phải bò qua những lỗ hổng nhỏ giữa các bụi tre, giữa những nhánh nè đầy gai nhọn. Tôi nhớ nỗi gian nan vất vả ngày đi chặt tre. Thứ nhất chặt tre, thứ nhì ve gái. Mỗi bụi tre là một trận đồ bát quái, rối rắm khó vào, muốn tấn công phải từ ngọn đánh xuống, xông vào loạn đả ở gốc chỉ đem thương tích và thất bại về mình.

Tranh cao gần khuất đầu, tôi có lợi điểm hơn địch thủ. Đoạn nầy có nhiều đường chạy cắt ngang để các toán kiểm soát đi tuần tiễu ngăn chận sự đột nhập biên giới. Tôi đảo mắt quan sát về phía xa, những đọt cây cao nằm sắp hàng ngang trên đường chân trời cho tôi cảm giác lầm lẫn về giới hạn của cánh rừng. Bỗng dưng tôi phát hiện trên cây me lớn trơ trụi lá, một cái chòi gác nằm ngất ngưởng và một tên gác mặc áo màu xanh lục nổi bật như một con két đậu lẻ loi, tôi vội lẩn mình vào dãy bụi rậm. Nếu tôi phát giác trễ, y từ trên cao nhìn xuống, chắc chắn sẽ thấy tôi rõ mồn một, súng sẽ nổ và những toán lính sẽ bao vây, lùng kiếm.

Tôi nằm xuống nghỉ và trận đòn tra tấn của kiến đã có ảnh hưởng, hành hạ tôi trở lại. Tôi lên cơn nóng sốt và nhức chân trái, khoảng từ bắp vế đến trái chân, vết kiến cắn đã sưng lên làm độc. Tôi không duỗi chân thẳng được nữa. Thật khốn khổ, đang đi yên lành thế mà vừa nằm xuống một chốc, thay vì khỏe ra, chân tôi lại trở chứng một cách nguy hại. Tôi khát nước đến cồn cào cổ họng. Hơi nóng toàn thân đang thoát qua cổ, như một máy sưởi mở độ lớn làm rát bỏng những lớp màn mỏng trong thanh quản.

Từ chiều tối hôm qua, sau khi bơi qua sông đến giờ phút nầy, đã 40 giờ liên tiếp, tôi đi không hề nghỉ, đã nhịn đói gần ba ngày đêm. Trên đường đi, tôi cố lục lọi những lon, thùng, bịch ni lông vất bừa bãi mong tìm một chút nước cặn còn thừa sót. Người đã khô nước nên đi giữa nắng và đi nhiều giờ vẫn không hề có một giọt mồ hôi. Tôi nghĩ đến giải pháp uống nước tiểu như vẫn thường nghe nói nên bẻ một ngọn lá lớn làm phễu chứa nước tiểu. Chút nước tiểu vàng sẫm, hiếm hoi như đặc lại, vừa đến cổ đã nôn ọe ra ngay. Tôi ráng nuốt xuống một ngụm nhỏ chờ xem phản ứng cơ thể. Cái mùi nồng, cái vị đắng đặc biệt đó vừa đột nhập vào trở lại đã bị chận đứng tại cổ. Hình như cơ thể đã lên tiếng phản đối “Cái đồ cặn bã dơ bẩn kia ta đã kinh tởm, đã thải ra, tại sao giờ lại trở ngược vào ngõ nầy?” Thế là gan tim, phèo phổi ùn ùn quặn mình dùng sức đẩy lên. Sức nuốt xuông và sức đẩy lên giằng co nhau tại yết hầu và bỗng dưng “ựa” nước tiểu cùng đàm giải bị bắn vọt ra. Tôi nằm ôm lây cổ, hối hận. Ước gì tôi được khát như hồi nãy, một cái khát bình yên như con cá nằm lặng lẽ trên cạn chờ chết. Cái khát hiện tại thật hung bạo, nó quằn quại, bức rức như kẻ đã uống nhầm thuốc độc và giờ nầy thuốc độc đang công phá.

Cổ quá khô, tôi muốn nuốt nước miếng, nhưng hạch nước miếng đã ngưng hoạt động vì thiếu nước. Tôi muôn nhắc chân lên, nhưng chân như đang bị một khối đá nặng đè lên, mỗi lần nhúc nhích, đá càng đè nghiến đau đớn. Nhưng tôi không thể nằm chờ chết ở đây được. Tôi phải đi, phải đi nhanh vì tên gác đã leo xuống từ hồi nào. Tôi nghe tiếng xe, và đây là trạm gác, chắc chắn sau trạm gác là biên giới Thái Lan. Tôi cũng dự trù kế hoạch thứ hai, nếu hệ thống tuần tra biên giới quá nghiêm ngặt chưa qua được, tối nay tôi sẽ bò vào dãy Doanh trại phía bên trái trạm gác đó, và tôi nghe được tiếng radio, và tiếng nói chuyện, để kiếm thức ăn và nước uống cầm cự trong vài ngày. Tôi chống tay lết lại gần một thân cây, bám tay vào đó tìm điểm tựa để kéo người lên. Khi vùa đứng thẳng, máu tụ xuống vết thương làm tôi nhói lên từng cơn đau nhức. Cuối cùng tôi cũng đi được, đi khập khểnh một đoạn rồi ráng đi với vẻ bình thường.

Có một con đường đất cắt ngang, dọc đường có giây điện thoại. Bỗng tiếng xe gắn máy rồ lên, tôi vội tụt nhanh xuống cỏ ẩn núp. Một xe Honda tuần tiễu chay vọt qua, bên trái ở một góc khuất kín có trạm gác và hai tên lính đang ngồi. Tôi bò sát đất, vừa liếc nhìn vừa tiến tới, lăn chậm xuống mương và băng trảng tranh đi tiếp. Tôi đi qua trạm gác trên cây khá lâu mà vẫn còn lạc lõng trong rừng, có lúc tôi tự hỏi, còn bao nhiêu ngày nữa tôi mới ra khỏi đây được và tôi còn đủ súc chịu đựng bao lâu, sự thất vọng trải rộng cùng ánh nắng gắt muộn màng của chiều. Chợt có tiếng xe âm vọng lại, có tiếng trẻ con la réo một cách mơ hồ, có lẽ tôi mệt quá nên tôi mê thiếp trong lúc đang đi. Nhưng không, rõ ràng những tiếng náo nức đó càng lúc càng lớn dần và đột nhiên tôi thấy mình đã ra khỏi rừng, thấy những đám ruộng gặt xong vừa đốt rạ, có nơi còn ngún khói. Trong bóng tối chập chờn, tôi lảo đảo mỗi lần vấp mạnh vào những cục đất khô cứng. Ôi những cục đất khốn nạn, mà những ngày lao động ở trại tù Cộng Sản, mà những buổi trưa nắng gay gắt, phờ phạc, tôi đã phải tưởng tượng là nhũng cái đầu của bọn Việt Cộng gian ác, mới đủ sức nâng cuốc lên, ráng sức đập một phát thật mạnh cho tan nát thành từng mảnh vụn.


Đến Aranyapathet tỉnh địa đầu Thái Lan 

Ánh sáng của đèn điện rực sáng trước mắt. Tôi đến gần ngôi nhà đầu tiên, vì đã bị hố nhiều phen, nên lần nầy tôi phải kiểm tra cẩn thận, mò vào sân một ngôi nhà có các cháu nhỏ đang tập hát. Bài hát Việt Nam do các cô ca sĩ thích nuốt lời, sửa giọng nghe còn không rõ, làm sao tôi phân biệt được các em bé đang hát tiếng Miên hay tiếng Thái khi vốn liếng tiếng Miên của tôi quá sơ sài. Bỗng có tiếng chó sủa, một con sủa rồi nhiều con sủa theo, làm tôi thối lui trở ra và ẩn mình cạnh mép bờ ruộng. Hai người Du kích nghe tiếng chó chạy ra, đứng trên đường sát ngay trên đầu tôi và soi đèn pin xuống thửa ruộng, bước qua trên người tôi để xuống ruộng và đi thẳng tới trước. Tôi bò theo mép ruộng đến vị trí khác, hai người Du kích săm soi từng lùm bụi, từng nhánh cây.

Tôi tin là mình đã tới đất Thái, bởi vì sáu, bảy năm sông dưới chế độ Cộng Sản, những người dân nghèo khổ đã phải ăn tất cả những thứ gì có thể ăn được, chưa kể đến những thứ không thể ăn
được để rồi ngộ độc mà chết, huống gì thịt chó? Chỉ có những nước tư bản, có dư thừa cái ăn, cái mặc mới nghĩ đến chuyện nuôi chó để làm bạn, làm cảnh không tính đến việc ăn thịt. Tuy nhiên để xác định chắc chắn, tôi lẻn vào sau vườn ngôi nhà làm bánh tráng lắng nghe kỹ các lời đối thoại và biết là không phải tiếng Miên. Tôi bèn bò theo mép đường băng qua một vị trí khả nghi, gặp một hồ nước nhỏ, tôi lội xuống tắm, mặc kệ tiếng chó sủa đuổi dồn bên kia bờ.

Tôi vục mặt xuống nước uống cho đã khát, đã thèm. Chưa bao giờ tôi uống một hộp bia, một chai nước ngọt hay cả một ly Martell, Cordon Bleu, Champagne nào ngon lành như những ngụm nước hồ vẩn đục này. Phải, hạnh phúc thật khó tìm, nhưng hạnh phúc cũng thật gần gũi. Làm thế nào để biết thưởng thức những hạnh phúc đơn giản bình dị, tôi đã học được qua những trại tù Cộng Sản.

Có hạnh phúc nào không vươn lên từ đau khổ?

Và thăng hoa nào… không tổn thương?

Tôi đi ra đường cái quan và gặp lại đường rầy xe lửa. Hai bên đường nhiều ngôi nhà xinh xắn tiện nghi với ánh đèn sáng rực đằng xa. Tôi nghĩ đến Chợ Trời biên giới và tiến bước về hướng đó, tới nơi, lại gặp một chiếc cầu và một nút chặn của Cảnh sát soát giấy.

Tôi đành quay trở lại, định kiếm Chợ Trời để ăn uống, mua một bộ áo quần, đổi ít tiền để sáng mai tìm đường đi Bangkok. Gặp con đường quốc lộ rẽ làm hai nhánh, tôi phân vân lựa chọn. Đã đến một nước tự do, tôi có thể đi bộ, đi xe buýt hoặc xe lửa, chắc chẳng ai bắt tôi, vì tôi là người vượt biên đi tìm tự do! Tôi nghĩ vậy. Tôi định tìm người để hỏi đường, tôi cứ ngỡ người Thái nào cũng nói được tiếng Anh, nhưng khi gặp một bót gác rộng đúc bằng xi măng, có cửa kính và có mặt bàn rộng vắng người, tôi leo lên nằm nghỉ. Định ngủ một giấc, bỗng có người đàn bà trong tiệm tạp hóa đi ra. Tôi vội chạy ra chận đường hỏi bằng tiếng Anh, người đàn bà bỡ ngỡ nên tôi hỏi bằng tiếng Miên.

— Ở đây Kampuchia hay Thái Lan, thưa bà?

– Thái Lan. Bà trả lời bằng tiếng Việt. Cậu là người Việt Nam hả?

–  Dạ đúng rồi.

–  Cậu định đi đâu?

–  Tôi đi vượt biên tìm tự do.

– Trời ơi, cậu không biết gì sao? Mới cách đây mấy tháng, 16 người vượt biên qua đây bị lính Thái bắt giết sạch. Cậu trở lại Việt Nam ngay đi, nguy hiểm lắm!

Tôi há hốc mồm kinh ngạc.

– Tôi là người Việt Nam thuộc chế độ tự do mà. Chúng tôi là đồng minh của Thái Lan, của Hoa Kỳ. Có lẽ họ giết bọn Bộ đội Hồ Chí Minh đó. Hồ Chí Minh thuộc phe Liên Xô, Cộng Sản.

Tôi phải dông dài giải thích bởi vì biết rằng, những người Việt kiều lớn tuổi ở nước ngoài đã lâu năm, nhiều người đã quên tiếng Việt và chẳng hiểu tí gì về tình hình đất nước.

– Cậu không phải Việt Nam Hồ Chí Minh à? Nhưng ở đây người Thái họ ghét Việt Nam lắm, cứ Việt Nam là họ giết ráo.

– Những người vượt biên qua đây được ở trong Trại Tị Nạn, vậy những trại đó ở đâu?

–  Hồi trước thì có. Giờ nầy họ dẹp hết rồi, họ không cho tị nạn nữa.

–  Dì có gì cho tôi ăn với, tôi nhịn đói đã ba bốn ngày rồi.

– Cậu đi theo tôi, nhưng nhớ đi cách xa xa. Coi chừng họ thấy là phiền phức, nguy hiểm cho gia đình tôi.

– Vâng. Tôi sẽ cẩn thận.

Người đàn bà nhìn trước ngó sau, vẻ sợ sệt. Tôi vừa vào nhà, bà vội khép cửa lại ngay. Ngôi nhà nhỏ nhưng thật đẹp, mỹ thuật. Trên giường có một người đàn ông đang ngủ. Bà đánh thức ông ta dậy và nói gì đó, người đàn ông nhìn tôi bỡ ngỡ.

– Chồng tôi người Thái, tôi cũng thường đi buôn vải theo đường cậu đi qua đó. Phải đút lót nhiều tiền, nhiều trạm mới qua được. Làm sao cậu đi qua đó mà họ không phát giác được? Hay thật! Lính gác đầy dẫy khắp biên giới!

Bà dọn ra một mâm cơm với năm món thịnh soạn. Tôi hỏi:

– Đồ cúng Tết đó hả?

– Đâu có. Đồ ăn thường ngày thôi. Bữa nầy mấy Tết rồi hở cậu?

– Dạ, tối Giao thừa.

Tết nhất đối với một số người Việt ở hải ngoại lâu năm đã không còn ý nghĩa gì nữa. Họ không thể giữ những thủ tục rườm rà đó nữa, vì họ là người Việt duy nhất trong nhà, trong xóm. Tôi tưởng mình sẽ ăn thật nhiều để bù nhũng ngày đói khát vừa qua, thế mà mới hai chén, tôi không thể nào nuốt thêm được nữa. Đang ngồi nói chuyện chợt có một cô gái chừng 18 tuổi, thật xinh đẹp đi vào. Khi đi ngang tôi, cô khom người người xuống chào thật lễ độ. Sự cung kính giống như một người mộ đạo đi qua một nơi thờ kính quá trang nghiêm. Tôi phải đổi chỗ ngồi, tránh gần chỗ đường đi, bởi cô bé mỗi lần đi qua, lại phải gập mình xuống một cách quá đáng.

– Tôi có thể ngủ nhờ đêm nay không?

– Chết! Không được đâu. Ở đây tụi an ninh đông lắm. Nguy hiểm lắm.

Người đàn bà lấy cho tôi một bộ áo quần tây hãy còn mới và

đẹp.

– Cậu thay đồ đi, mặc đồ đen dơ dáy đó ra đường người ta bắt ngay. Đây, tôi biếu cậu ít tiền, tôi sẽ đưa cậu xuông một cái chùa để cậu trú đêm. Cậu phải cẩn thận, nếu không người ta sẽ nghi ngờ. Việt kiều ở đây bị kiểm soát chặt chẽ, đi đâu cũng phải xin giấy tờ. 

Người con gái đẩy chiếc Honda scooter ra. Cô ta lái xe, bà mẹ ngồi giữa và tôi ngồi sau cùng. Đêm thật lạnh, đường vắng vẻ, mùi thơm con gái được ướp bằng hương hoa của các loại xà phòng, nước hoa đắt tiền từ nhỏ theo gió tràn ngập khứu giác làm tôi đê mê, ngây ngất.

Tôi nhớ những năm tháng đã qua. Sáu tháng bị nhốt conex không hề được đánh răng, rửa mặt, tắm và thay áo quần. Người dơ dáy đến nỗi, chính tôi còn ngửi thấy được cái mùi hôi thối của thân thể mình. Và ngay cả khi đã trốn về được Sàigòn, tôi chỉ đánh răng bằng muối và ngay cả xà phòng cô Ba loại rẻ tiền, cũng không có đủ dùng. Tôi quen Vân, cô bé có mái tóc dài mượt mà như một dòng suối, mê nhất là được vục mặt vào suối tóc nàng. Những sợi tóc dài mềm mại thơm ngát che khuất hình ảnh bi thảm, rùng rợn của tương lai, xóa nhòa những nhục nhằn tủi cực của quá khứ. Mùi tóc thơm đến rợn người, bởi tất cả mỹ phẩm nàng dùng thường ngày đều được gởi về từ Mỹ Quốc. Tôi vẫn thường đùa giỡn:

– Dù có ghét Mỹ, người ta cũng phải mê “mùi” Mỹ.

Mặc dù không có đủ xà phòng, cái loại xà phòng rẻ tiền để tắm mỗi ngày, tôi vẫn cố dấu một chút kem đánh răng còn lại để mỗi dịp nàng qua, tôi chui vào buồng tắm, đánh răng thật kỹ. Thêm vào đó một miếng kẹo chewing-gum tôi phải dấu kỹ như một người nhà nghèo dấu mấy chỉ vàng hồi môn, chuẩn bị cho một nụ hôn thật trang trọng. Nhờ thế, mặc dù tồi tàn, tôi vẫn được nàng khen:

– Miệng “chú” hôn thơm và ngọt quá!

Phải ở trong hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực, thiếu vệ sinh cùng cực, người ta mới biết thưởng thức và trân trọng cái mùi kem, mùi xà phòng rất thông thường và rất tầm thường tại các nước tư bản giàu có. 

Chùa ở trong một vườn cây rậm mát, tôi chờ bên ngoài rồi sau đó được đưa vào một phòng nhỏ gần cạnh chánh điện để nghỉ ngơi.

–  Cậu ngủ lại đây. Sáng mai tôi sẽ tới đón.

Trời tối, tôi không nhìn được bao quát ngôi chùa. Nhưng tiếng tụng kinh và mùi hương trầm phảng phất lại, đưa hồn tôi phiêu diêu tới vùng đất thanh tịnh, yên bình, thoát tục. Tôi trùm mền phủ người và có cảm giác như mình đang nằm trong cỗ quan tài, và ngoài kia, các sư cụ đang làm lễ cầu siêu an táng mình. Tôi đang chết để rồi thoát thai và tái sinh trở lại kiếp con người sau nhiều năm bị Cộng Sản tước bỏ danh vị làm người. Tôi có cái cảm giác của một người chết, biết mình đang chết, biết mọi chuyện đang xảy ra quanh mình, biết mọi nghi lễ đang chuẩn bị cho mình, và tôi cầu nguyện và tôi tri ân Thượng Đế về những hồng phúc đã nhận được.

Tôi là một kẻ ngoại đạo, nhưng số phận tôi cứ bị ràng buộc với tôn giáo. Ngày yêu Minh Châu, tôi bắt đầu yêu mến hàng trăm bậc thang đá cao dẫn lên Nhà Thờ Núi Nha Trang, yêu những giờ lễ nhạc và tiếng hát thanh thoát, phiêu bồng. Tôi cảm thấy cần thiết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, lặng lẽ một mình đi vào nhà thờ, quì phủ phục trước tượng ảnh Chứa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá. Hình ảnh Chúa lồng lộng giữa những màu sắc lộng lẫy rực rỡ của giáo đường, đưa tâm hồn tôi vào chốn thanh thoát, gột bỏ hết những phiền lụy thế nhân.

Những ngày đi học, những ngày ở trại tị nạn Galang, tôi bước độc hành lên dốc đồi, đi giữa những tàn cây lộng bóng, nghe tiếng chuông chùa vang dội choáng ngợp mọi cảm xúc. Tiếng mõ, tiếng chuông, nhịp điệu đều đặn nhưng không đơn điệu, những âm thanh đơn giản nhưng không tẻ nhạt. Không khí thiền môn nâng cao tâm hồn con người, xóa bỏ những bon chen, tị hiềm, những bận bịu tầm thường. Một người bạn thân cũ có lần nhận xét về tôi:

– Toa có một đức tính lạ lùng, mà nếu đi tu, toa có thể trở thành Phật. Đó là toa không thù ghét ai. Toa yêu thương, thân thiện với tất cả mọi người nhưng không bao giờ dành một cảm tình đặc biệt riêng cho một cá nhân nào cả.

Tôi cười đáp:

— Moa mà đi tu, chắc các ni cô phải bỏ chùa hết.

Tôi có số nhờ cậy nhà chùa. Nhớ lần đầu tiên rời Huế, quê của tôi, vào Sàigòn để tình nguyện đi lính Không Quân. Trong thời gian chờ đợi ngày khám sức khỏe, tôi đã xài phí hết số tiền nhỏ nhoi của mình vào các thú tiêu khiển xa xỉ: Nhảy đầm và thuê xích lô đi dạo ngắm cảnh sắc Sàigòn. Tôi chỉ để đủ tiền mua vé xe về Quảng Đức thăm người anh, nhưng nhiều chuyến xe đò bị hủy bỏ vì đường mất an ninh, do đó người chủ xe, vì biết được hoàn cảnh của tôi, đã phải đãi tôi ăn uống và cho phòng để ngủ trong những ngày chờ xe. Sáng ngày lên xe đi, còn nhét thêm một ổ bánh mì lớn để đỡ lòng đường xa.

Năm 1964, thời kỳ mà cuộc tranh chấp giữa Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng còn ở giai đoạn tương đối êm dịu. Ban tối, Việt Cộng trở về bắt dân phá đường, đắp mô để chận đường tiếp tế. Sáng hôm sau, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu dân phá mô, sửa đường để cho xe cộ lưu thông. Ngày phe Quốc Gia, đêm Cộng Sản, Dân chúng thôn quê một cỗ hai tròng, chẳng có quyền theo ai, chống ai. Xe bị kẹt đường, tôi phải theo đám hành khách chuyển sang phương tiện khác: Xe Lam chạy băng đồng.

Vì không có tiền, nên mỗi lần đi tôi phải chờ xe bắt đầu chạy, mới bám xe, leo lên nóc xe ngồi, và đến khi xe gần tới bến, tôi lại phải phóng từ nóc xe xuống đất để khỏi trả tiền. Đường lắc, dằn, xóc mạnh, tôi chịu thân người trên hai tay, phần để khỏi té văng xuống đất, phần không gây tiếng động làm người tài xế lưu ý. Ba lần nhảy xuống xe ở tốc độ nhanh và trong tư thế không thích hợp, tôi suýt bị trật giò và toàn thân đau ê ẩm. Không may, chặn xe cuối cùng, tên Tài xế xe đò đi tới bến xe Lam để đón khách nên thấy được chuyện đi xe “cọp” của tôi. Y cương quyết từ chối không cho tôi leo lên chiếc xe đò duy nhất đi về Quảng Đức của anh ta. Chờ y chạy, tôi lại bám vào sau xe, nhiều lần ngừng lại đuổi không được tên khách lì lợm, không tiền, anh ta bèn báo cáo với một tên Du kích Việt Cộng đang gác tại Bến Cát (vùng Bến Cát thời đó là chiến khu quan trọng nhất của Việt Cộng). Đồng chí Việt Cộng “ăn có” với đám tài xế xe đò bắt tôi xuống xe. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Việt Cộng bằng xương bằng thịt. Cảm tưởng đầu tiên là sự khôi hài bởi vì vũ khí trang bị của họ thật thô sơ so với những lời tuyên truyền khoác lác, rẻ tiền của họ.

Trời ngả về chiều, tất cả xe bắt đầu rục rịch lên đường, bởi vì chốc nữa đây, như thường lệ, sẽ có những phi vụ khu trục đến thả bom quanh vùng. Dấu tích những tàn cây gãy, những hố bom chạy song song dọc đường quốc lộ vẫn còn mới mẻ. Mùi bom đạn và mùi tử thi vẫn còn phảng phất trong không khí âm u của núi rừng. Tôi bỗng nổi hứng bảo tên Việt Cộng:

–  Anh đuổi tôi xuống xe, giờ nầy anh phải kiếm xe khác cho tôi đi. Nếu không tôi sẽ ở lì lại đây và anh phải nuôi cơm tôi vì tôi không còn đồng xu nào dính túi cả.

Có thời kỳ Việt Cộng chận xe đò bắt Dân vào vùng chiến khu bắt phải học tập chính sách vài ngày rồi thả về. Tôi đến không đúng vào thời điểm đó, và chính vì tôi dọa ở lì lại, càng làm họ tìm cách đuổi tôi đi càng sớm càng tốt. Tên Du kích, dẫn tôi đến gặp người Tài xế xe đi Ban Mê Thuột, bắt phải đưa tôi ra khỏi vùng, đến một làng kế cận thuộc quyền kiểm soát của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi xuống xe giữa một buôn làng xa lạ. Trời về chiều hiu hắt, buồn thảm. Tôi nghĩ đến đêm tối, lạnh lẽo, sương giá và tôi chợt nghĩ đến nơi luôn luôn mở rộng vòng tay để đón những kẻ lỡ đường bất hạnh như tôi: Nhà chùa! Và như mọi ngôi chùa thân yêu trên đất nước quê hương Việt Nam, tôi được dọn một mâm cơm chay linh đình nhân ngày lễ Rằm, và được ngủ một giấc bình yên trong không khí yên lặng, tĩnh mịch và trang nghiêm của nơi thờ phượng.

Sáng hôm sau, chờ mãi không thây người ân nhân ghé lại, hơn nữa, những chú tiểu đồng và sư cụ trong chùa đã có vẻ e ngại và nghi ngờ người khách lạ vì thấy chân tôi bị thương đi lại khó khăn, tôi đành chào từ giã họ rồi đi ra đường, đón một xe Honda thồ và hỏi:

–  Có Tòa Đại Sứ Mỹ hay Hồng Thập Tự Quốc Tế đâu đây không?

May quá, người tài xế biết tiếng Anh, trả lời:

–  Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, ở đây có ICRC.

Tôi hỏi giá cả và thấy mình chỉ đủ tiền đến ICRC thay vì Bangkok, nên lên xe và đến nơi không dự định trước, bởi vì vết thương kiến cắn đã nhiễm độc nặng nề.

Trong cuộc phỏng vấn, tôi khai rõ mọi chi tiết, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ngủ lại trong chùa. Sau bữa cơm trưa thật thịnh soạn, họ khám chân tôi, cùng những vết thương kiến cắn khắp người rồi chích thuốc và chuyển tôi qua chính quyền Thái.

–  Đây chỉ là thủ tục, ông đừng ngại gì cả. Chúng tôi sẽ lo vấn đề định cư cho ông, và hàng tuần sẽ đến thăm và khám bệnh.

Ông Gabriel, Trưởng Phái đoàn cho tôi biết như vậy. Tôi được thẩm vấn sơ khởi tại Bộ Chỉ Huy của Thái rồi đưa về một phòng điều tra khác, cuối cùng bị chuyển vào Nhà tù Aran.

Thế là sau bảy năm tù tội, vượt ngục gian khổ, tưởng rằng mình đã đến được ngưỡng cửa tự do, tôi lại bị nhốt vào tù. Số phận của tôi thật bi đát. Tôi bị bệnh suốt một tháng và thời gian nằm trăn trở trong tù tôi hồi tưởng lại những giờ phút hấp hối của Sàigòn khi Cộng Sản tổng tấn công xâm chiếm miền Nam.

Bị Giam Vào Trại Tù Aran 

Hai chuyên viên điều tra người Thái nói tiếng Việt rất rành, thường được gọi là ông Đại Tá Mập và ông Thái Đen. Hai người tị nạn Việt Nam được tuyển lựa phụ tá cho họ. Tôi tưỏng mình sẽ được tiếp đón niềm nở, nhưng sự thật phũ phàng. Tôi chán nản đau đớn còn hơn những đêm ngày lầm lũi trong rừng. Tôi kể lại chi tiết tỉ mỉ đoạn đường đi qua, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ở lại trong chùa. Cũng may khi bị dẫn vào phòng thẩm vấn thừa lúc họ vô ý tôi vò miếng giấy nhỏ xíu ghi địa chỉ gia đình người ân nhân, mà tôi định sau khi qua Mỹ sẽ gửi thư thăm và quà biếu, kín đáo búng xuống đất. Họ không những không tin chuyện tôi bị kiến cắn mà còn cho đó là trò khổ nhục kế. Họ không tin một người bình thường, không có tiền bạc lại có thể một mình đi bộ từ Việt Nam qua Kampuchia, vượt bao ngục tù, rồi đi lọt vào sâu đất Thái, qua mặt các trạm gác biên phòng một cách dễ dàng như vậy.

–  Có ai đưa anh đi? Tiền Thái đâu anh có?

–  Tôi đổi tiền Thái ở Kampuchia. Tôi đi một mình.

Nói chung họ kết luận tôi là một gián điệp Cộng Sản, định lợi dụng lòng tin của cơ quan ICRC để hoạt động gián điệp quanh vùng biên giới.

Tôi nói châm biếm:

– Thưa ông! Tôi nghĩ rằng một Sĩ quan từng ở trong Ngành Điều tra gần hai mươi năm như ông, chỉ cần thoáng nhìn qua cũng biết được người thật, người giả. Huống hồ gì tôi, một kẻ mà tên tuổi đã thành quen thuộc đến nỗi những tù binh khác, như Liêu “y tá” trong buổi phát biểu học tập đã quen miệng nói nhầm “Lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc, kinh qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý Tống” làm các bạn cùng nhà cười ầm lên, phải lật đật sửa chữa “Xin lỗi, các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn,” mà ông lại còn nghi ngờ.

–  Đồng ý là nếu thật sự có Lý Tống, nhưng Cộng Sản đã giết Lý Tống và cho một tay gián điệp đội lốt Lý Tống thì sao?

– Tôi thiết tưởng rằng Cộng Sản không ngu xuẩn như vậy. Họ có thể đội lốt tên Xoài, tên Mít, tên X, tên Y nào đó, nhưng không dại gì đội lốt Lý Tống bởi vì tôi có quá nhiều bè bạn, tôi có quá nhiều đặc điểm, bởi vì có quá nhiều người quen biết tôi.

Tôi thì vì bệnh, vì thất vọng nên bực mình. Vị Đại tá lại từng quen với sự sợ sệt, khúm núm, bây giờ lại gặp một tay ngang bướng, cãi lý, cũng bực mình, do đó không khí cuộc điều tra càng lúc càng gay gắt. Có lẽ tất cả những đày đọa, cực hình mà tôi phải gánh chịu sau nầy đều bắt nguồn và bị ảnh hưởng bởi câu nói sau đây:

– Đại tá là một Sĩ quan của Quân đội Thái Lan, tôi là một Sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nếu Đại tá không kính

trọng một Sĩ quan đồng minh cũ thì, xin lỗi, tôi cũng sẽ không kính trọng Đại tá.

Người tị nạn Việt Nam tự khai là trung úy Phi công tên Thạch Xen, người Kampuchia Krom, phụ giúp công tác điều tra, vì muốn kiếm điểm, nên về hùa phe có quyền thế. Sau khi hỏi tôi về kỹ thuật bay bổng, cái kiểu hỏi của những người nghe lóm, học lóm chứ không phải dân bay chuyên nghiệp (có người sau nầy cho biết anh ta là Không Quân giả mạo), anh ta xác nhận những hiểu biết về Không Quân của tôi là không chính xác!

–  Anh đi du học Hoa Kỳ đầu năm 1966, vậy lương lãnh mỗi tháng bao nhiêu?

– 180 dollars.

– Tầm bậy, láo khoét, làm gì nhiều vậy! Tôi là sĩ quan, cũng đi Mỹ năm 1965 mà lương có 40 dollars mỗi tháng. Ông Đại Tá Mập chất vấn.

Tôi tức giận, cái giận của người bị kẻ ngu đòi làm thầy, bị thứ ấm ớ lên mặt dạy đời. Tôi bẻ lại.

–  Xin lỗi. Vậy ông thuộc hàng Hạ sĩ quan, chứ không phải Sĩ quan.

Tôi còn nhớ rõ mỗi bữa ăn tại Mess hall bao nhiêu cents, và cả một short time ở A-cú-nhà, ở Mexico bao nhiêu dollars nữa. Tôi còn nhớ cái cô bé có lông chân cứng như rễ tre mà sau khi làm tình xong, da thịt tôi đỏ ửng và ê ẩm. Tôi nhớ cái thủ tục vào phòng tắm, hai người cùng cởi truồng, một cái thau nhỏ đựng nước âm ấm, một cục xà phòng thơm để cô gái rửa chim khách và luôn tiện xem khách có bị bệnh không. Có người không chịu nổi bàn tay điệu nghệ, sự cọ xát kích thích của xà phòng, nước ấm, sự khêu gợi của thân hình tuyệt mỹ của cô gái, đã “khóc ngoài quan ải” vào luôn thau nước, để rồi phải trả tiền một cách oan uổng, tiếc rẻ. Đứa bản lĩnh hơn, qua được màn saxo điêu luyện, cũng phải tả tơi với “cái máy bơm, ” bởi nàng sẽ ngồi xổm lên, quay quanh bốn hướng, để bơm tất cả máu huyết, sinh lực rạo rực của khách chơi lên đến tuyệt đỉnh. Có đứa tiếc tiền phải bôi thuốc Nhật “ông già mang kính” trước để cầm cự thêm vài phút, thế mà đến phiên tôi, không những đã coi khinh mọi thứ thủ tục, lại còn câu giờ đến nỗi cô ta phải líu quíu:

–  Excuse me! Excuse me!

Tôi đang phân vân, thắc mắc, thì nàng đã với tay lấy khăn lau khô, và hăm hở trở lại trận đấu cờ người. Cô ta phải sorry đến bốn lần tôi mới hoàn tất nhiệm vụ trả thù Dân tộc.

Tôi cười hỏi cô bé:

– Làm nghề nầy mà em sorry nhiều vậy làm sao thọ cho nổi.

– Em làm nghề nầy không phải chỉ vì tiền mà còn vì em dâm quá. Những thằng kép không đứa nào chịu nổi em. Anh là tay có hạng lắm!

Tôi còn có thể chỉ cho quí vị xem cái thẹo nhỏ trên mặt, mà một lần cỡi ngựa tại San Antonio, Texas, tôi đã bị thương. Số là trong khu vườn cỡi ngựa, có một chiếc xe lửa con cóc chở khách chạy quanh ven đồi. Tôi đang cỡi con ngựa dữ nhất chuồng và mải mê chạy theo nhìn những cô gái xinh xắn lộng lẫy như những nàng tiên nữ trong thần thoại, đang vui đùa nghịch ngợm trên xe lửa. Đến một ngã rẽ, vì quen thói quẹo theo đường rẽ phải, ngựa bất ngờ bị tôi giật cương rẽ trái chạy theo xe lửa nên lỡ trớn phóng lao cả thân mình vào thân cây nằm sừng sững giữa ngã rẽ. Con ngựa bị thương một bên hông phải quị nằm một góc, tôi bị bắn vào gốc cây mê man bất tỉnh, và các cô bé trên xe lửa đã la hét báo động để toán kiểm soát đến đem tôi đi cứu cấp. Và những đêm một mình lang thang đến những phòng ca nhạc dưới tầng hầm, tiếng kèn saxo rên rỉ thê thiết làm tôi đứng chết lặng ở góc thang lầu, để rồi nửa chừng bỏ đi, mang theo cái âm hưởng ngây ngất choáng ngợp cảm giác trong bước độc hành vào đêm sâu thẳm vô cùng.

Vâng! Tất cả những kỷ niệm yêu dấu của ngày du học Hoa Kỳ sau mười mấy năm vẫn còn tươi mát trong phần ký ức. Thế mà họ dám cãi tôi, dám giỡn mặt với tôi.

Tôi nói lớn:

–  Các ông chẳng biết mẹ gì cả. Nói chuyện với các ông mệt quá, mất thì giờ quá, vô ích quá.

Họ lại xoay qua chuyện vượt biên.

–  Thế trên đường qua Cao Miên, anh thấy bao nhiêu căn cứ quân sự của Việt Cộng, quân số bao nhiêu, tên đơn vị là gì?

Tôi cười chán chường, gằn giọng:

– Thưa ông, đến một đứa con nít chăn trâu gặp trên đường tôi còn phải tránh. Tôi đi vượt biên chứ có phải đi thám sát đâu mà quan tâm, nghiên cứu những điều đó.

– Bây giờ anh có thể đưa tôi đi trở lại con đường đã đi qua không?

Nghe tới đó, tôi thấy bủn rủn tứ chi. Những giây phút kinh hoàng vừa trút bỏ đằng sau, chợt tái hiện.

–  Tôi mệt lắm rồi. Tôi chẳng đi đâu nữa cả.

–  Anh biết rằng nếu anh không giúp cho tôi tin tức tốt thì tôi không thể giúp anh đi định cư tại nước thứ ba không?

–  Tôi đã khai rõ, khai chi tiết những gì tôi biết được. Nếu ông không tin, ông giao tôi cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, họ sẽ xác nhận lý lịch của tôi. Có khó gì đâu?

–  À, nếu anh muốn nhờ Tòa Đại sứ Mỹ, muốn nhờ ICRC, thì một ngày nào đó, tôi sẽ đưa anh trở về biên giới Kampuchia, họ sẽ tới đó giúp anh.

Câu nói tưởng vô tình, thế mà hơn một năm sau, chính vị đại tá mập đã thực hiện để trở thành hiện thực!

Tôi bị bịt mắt đẩy lên xe chở về Aran Jail. Tôi bị đóng koờng mặc đầu chân đang bị thương vì kiến cắn không đi được, và cơn sốt đang hành hạ cơ thể.

Hôm sau tôi lại bị lôi đi điều tra tiếp. Vừa được hai tù khác dìu xuông lầu dưới, tôi đã bị “Thái đen” đấm phủ đầu một cú tóe lửa, tối tăm mày mặt, tiếp đó, tôi còn bị kéo đi xềnh xệch, cùng lời đe dọa dằn mặt:

–  Nếu lần nầy mầy không khai thật, tao sẽ cho đem mầy vào rừng bắn bỏ!

Vừa bị đẩy lên xe, tôi đã nghe một giọng nói phụ họa thêm:

–  Đem nó đến cái bìa rừng hôm trước thủ tiêu thằng Gián điệp hay dẫn tới cái phòng chứa xác đằng kia?

–  À! Súng đâu rồi? Đại tá đem theo mấy khẩu?

Tôi yên lặng mỉm cười trong bóng tối. Mẹ! Ông đã từng bị Việt Cộng nửa đêm đem cuốc xẻng đào hố để chôn mà ông còn coi khinh, bốn lần đối diện họng súng VC vẫn hiên ngang không quì, huống gì cái trò ấu trĩ nầy?

Xe giả vờ chay loằng ngoằng, quẹo đường nầy, hướng nọ nhưng khi dẫn lên thang gác, tôi nhận ra ngay cái Phòng Thẩm tra cũ qua các lối định hướng bằng trí nhớ dù không thấy đường. Những cú đấm như trời giáng vào mặt, vào ngực, vào bụng từ trái, từ phải, từ phía trước. Tôi ngã té mấy lần nhưng vẫn gượng đứng dậy. Tôi đứng dậy mà không hề thấy sự đau đớn của vết thương ở chân như thường lệ, bởi vì sự đau đớn các nơi khác đã trầm trọng hơn, và bởi sự đau đớn tinh thần của sự xúc phạm. Xong xuôi, họ ấn tôi ngồi xuống ghế và nạt lớn:

–  Sao! Giờ nầy mầy đã chịu khai thật chưa?

Tôi ngồi thẳng người, mắt bị bịt kín như một tử tội trong giờ hành quyết. Những tiếng la hét của những chuyên viên điều tra như tiếng tru rống của quỉ dữ dưới chín tầng địa ngục.

–  Tôi đã khai thật. Khai hết. Chẳng còn gì để nói nữa.

–  Vậy thì thôi. Sửa soạn đem nó đi bắn bỏ.

–  Mầy có muốn nói gì lần cuối trước khi chết không. Một giọng khác xen vào.

Tôi nghiêm giọng, chậm rãi và dõng dạc:

–  Vâng! Đây là lời nói cuối cùng của tôi trước khi chết. Được nghe nói anh Thạch Xen là một Phi công, vậy tôi nhờ anh một chuyện. Một ngày nào được định cư ở Mỹ hay ở một Quốc gia thứ ba nào đó, nếu anh gặp những người bạn Phi công của tôi, những người bạn Tù của tôi, hoặc bất cứ người Việt Nam nào biết tên Lý Tống, nhờ anh nhắn lại với họ rằng: “Phi công Lý Tống đã vượt ngục thoát khỏi gômg cùm của bọn quỉ đỏ và đã hy sinh tại Thái Lan, một đất nước tự do.”

Tôi chơi chữ vì Thailand cũng có nghĩa là đất nước tự do. Thấy tôi cương quyết và khí khái, họ bèn đổi giọng bảo tôi:

— Được rồi! Vậy anh cứ khai lại từ đầu cho chúng tôi ghi chép.

Từ đó tôi không còn bị thẩm vấn lần nào nữa nhưng những tay ăng ten thân tín được chỉ định tìm cách moi tin tức bằng cách lân la đến đấm bóp phục vụ tôi hoặc chuyện trò với tôi. Tôi vẫn tiếp tục bị mang koòng chân. Khi số tiền Thái 20 bahts tịch thu của tôi được đem đi nhà băng kiểm nghiệm, chính vì tiền quá mới được phát hành cách đó mười lăm ngày, đã làm rắc rối lâu dài vấn đề của tôi mặc dù tôi đã nhấn mạnh:

–  Các ông nên hỏi các tay buôn lậu đường biên giới vì đó là nghiệp vụ của họ.

Tôi vẫn nhất định giữ vững lập trường trong vấn đề đổi tiền tại Kampuchia nhưng họ vẫn tìm mọi biện pháp để chiêu dụ tôi.

–  Nếu anh khai đã đổi tiền tại Thái hoặc có gặp một người Thái nào trước khi đến trình diện ICRC, tôi sẽ mở koòng và cho anh đi Trại Tị nạn chuyển tiếp.

Không! Tôi không thể nào làm điều đó được. Tôi tự khẳng định. Thà rôi chịu chết chứ không làm hại những người tốt giúp đỡ tôi.

Tôi tưởng tượng đến gia đình người đàn bà ân nhân bị xét nhà, bị thẩm cung, bị bắt bỏ tù v.v… trong khi tôi hạnh phúc đi Mỹ.

– Không! Không đời nào!

Tôi lẩm bẩm một mình mỗi lần các tay điều tra yêu cầu tôi khai lại vụ tiền bạc. Trong thời gian nầy, tôi được đọc tờ báo Bangkok Post nói về lịch sử thành phố nghỉ mát Phu Kien của Thái. Người sáng lập ra Phu Kien là một thanh niên Trung Hoa trẻ, nghèo, tên Phu Kien, đến Thái Lan lập nghiệp, làm ăn, xây dựng cơ đồ. Trong thời gian Nhật xâm lăng Thái, những người Anh bỏ chạy về nuớc có nhờ ông ta giữ một số hồ sơ bí mật. Mặc dù bị tra tấn hành hạ, ông ta thà chết không chịu phản bội người đã tin cậy mình. Sau khi Anh Quốc trở lại Thái, ông là người được nước Anh mang ân và trả ân. Nhờ đức tính đặc biệt đó, mọi người kính phục và ngưỡng mộ ông.

— Thưa ông Phu Kien, noi gương ông, làm theo gương ông, đó là hình thức biểu lộ sự kính phục và ngưỡng mộ ông cao quí nhất. Tôi sẽ làm điều đó.

Tại nhà tù Aran, ông Đại Tá người Thái thuộc phòng điều tra của Bộ Nội Vụ thất bại vì không làm cho tôi khai ra người Thái nào giúp tiền bạc, bèn yêu cầu:

–  Bây giờ tôi cần anh xác nhận rằng, anh đi vượt biên tốn vàng và có người dẫn đường, tuy nhiên vì muốn tạo huyền thoại để làm bạn bè khâm phục, anh đã dựng chuyện ly kỳ rùng rợn về cuộc vượt biên tưởng tượng của mình. Nếu anh xác nhận vậy, anh sẽ được mở koòng.

Tôi lắc đầu trả lời:

–  Chỉ có những kẻ đời sống quá khô khan nghèo nàn mới dùng trí tưởng tượng để tô màu cho cuộc sống. Còn tôi, cuộc đời tôi vốn phong phú và giàu có để trở thành huyền thoại.

Trại tù 7708 ở Nam Vang vẫn còn đó, chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 tại phi trường Tân Sơn Nhất với nét khắc tên Lý Tống ở nosegear vẫn còn đó. Các ông có thể nhờ các phóng viên đang công tác tại Kampuchia, tại Sàigòn để kiểm soát lại, có khó gì đâu?

Tôi được “quỉ báo cốt” hớt tóc theo kiểu Mr. T, một trong những kiểu tóc punk quen thuộc của nhà tù Aran. Trong nhà tù của kẻ thù Cộng Sản, tôi luôn tự đấu tranh để giữ mái tóc dài và bộ râu chướng mắt. Trong ý thức về thái độ sống, sự đầu hàng từng bước sẽ đưa đến sự đầu hàng toàn diện. Tóc và râu không còn mang ý nghĩa của thẩm mỹ, đó là biểu tượng của một lập trường, của một lựa chọn: Để râu dọa Việt Cộng. Tôi vẫn thường nói đùa như vậy.

Với Việt Cộng, hoặc tuyệt đối tuân phục, hoặc chống đối đến kỳ cùng. Dở dở ương ương, lưng chừng, dễ bị ăn đòn oan mạng. Mỗi đối tượng đều đưọc trải qua một sự thử thách. Sự thử thách đến tận cùng của mỗi giới hạn: Giới hạn của đau đớn, của sợ hãi, của sống chết…

Bản năng sinh tồn thường bắt con người phải đầu hàng, nhiều người chỉ đi được nửa chặng đường thử thách. Thiểu số vượt qua được mọi thử thách hoặc sẽ bị thủ tiêu, hoặc sẽ được yên thân, tùy tình hình mỗi Trại. Sống hay chết trong trường hợp nầy thuộc vào số mạng con người.

Tôi nhớ những ngày ở Phan Rang. Tôi cạo trọc đầu nhưng vẫn để râu Hitler để phản đối sự khắt khe của Đại Tá “Phúc ròm.” Đại

Tá Phúc ròm là một trong những chỉ huy trưởng khó tính nhất, khó đến nỗi bắt nhốt cả người tài xế quân cảnh, chỉ vì người nầy dùng xe jeep quân cảnh đưa dùm thân sinh của chính Đại Tá từ cổng vào nhà, khi ông ta đi vắng. Lý do: Sử dụng quân xa vào việc tư nhân bất hợp pháp!

Đại Tá Phúc đã trách Đại Tá Thảo:

–  Ai cho phép thằng Lý Tống cạo trọc đầu? Nó có giấy phép của Bác sĩ không?

Đại Tá Thảo chịu bênh vực những đàn em dám nói, dám làm, nên tỉnh bơ trả lời:

–  Ông đừng chọc thằng khùng đó thì hơn!

Đại Tá Phúc ròm từ đó không những không chọc tôi mà còn đau khổ phân trần:

–  Trong cuộc đời tao, chỉ có hai người có quyền bắt tao phải nhảy đầm là Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân. Mầy là người thứ ba bắt tao nhảy đầm và tao phải nhảy!

Đại Tá Ông Lợi Hồng, một Sư đoàn phó chằng ăn của Sư đoàn 4 Không Quân, đã từng bắt “Chấn Django,” Thiếu Tá, trong năm phút phải trình diện với bộ râu kẽm cạo sạch sẽ, thế mà đã tự tay ký giấy phép cho tôi để râu khi tôi chuyển đơn xin phép để râu với lý do: “Râu Hitler độc đáo! ”

Râu, tóc là một lề lối sống, cạo hay giữ lại, đều phải có một ý nghĩa nào đó.

Một số quân cảnh nhà tù Aran khá tốt bụng. Chính Chaning và Anh mập nhà bếp đã hai lần tự ý mở koòng cho tôi và hai lần, Đại Tá Mập vội vã tức tốc xuống quạt đám cai tù một trận và ra lệnh đóng Koòng lại. Tổng cộng tôi bị koờng ba lần trong mười tháng.

Tôi phá kỷ lục nhà tù Aran vì tù Thái bị giam giữ và bị koòng tại đây từ xưa đến giờ chưa ai bị quá ba tháng.

Sinh hoạt Trại tù Aran đơn giản. Buổi sáng, mở cửa “pai khang lẳng” (đi xuống lầu), để chùi rửa nhà cầu, lau sàn nhà, nhặt rác, nhổ cỏ rồi ăn sáng. Xong “pai khang bôn” (lên lầư). Nằm nhịn đói suốt buổi trưa, chiều xuống công tác như cũ, tắm, ăn cơm xong lên lầu nhốt lại. Cái thời kỳ sau cùng, khi tôi làm Trưởng toán, một Trưởng toán bất đắc dĩ vì tôi là người duy nhất còn lại nói được tiếng Thái vì ở quá lâu. Nhờ vận động ICRC cung cấp thêm gạo, đồ ăn, các dụng cụ thể thao, vì có dư dã “chấm mút” được đôi chút nên cai ngục Thái hòa hoãn và cải thiện một phần nào tiêu chuẩn ăn uống. Ngoài ra, Tù Việt Nam còn được đá banh, đánh bóng chuyền, đá cầu Thái chừng nửa giờ vào buổi chiều.

Hình phạt của Aran Jail gồm có: Đẹt khao (cắt cơm), Áp nam suôn (tắm nước cứt, ngâm người dưới hầm cầu tiêu), tể (đánh) và cấm tắm, ăn tàn thuốc lá, cùng các hình phạt thông thường khác. Lỗi thường phạm nhiều nhất là làm ồn ào. Sàn Nhà tù bằng ván, chỉ cần bước mạnh cũng đã nghe ầm ầm, thế mà các chú thanh niên trẻ, mặc dù đói, mặc dù bị đánh đập, cũng cứ đùa giỡn và nói chuyện um sùm. Lỗi khác không kém phần thông dụng: Làm tạp dịch, vệ sinh không hoàn chỉnh, sạch sẽ. Lỗi nặng nhất là đánh lộn.

Bản tính con người cũng thật lạ, gặp kẻ có quyền thế, có sức mạnh, đàn áp, lăng nhục bao nhiêu cũng chịu được, cũng nhẫn nhục được, nhưng với kẻ dưới tay, kẻ thất thế, kẻ đồng hoàn cảnh khốn nạn như mình lỡ đụng chạm chút xíu là nổi máu anh hùng ngay, là phẫn nộ ngay! Ôi cuộc đời! Tại sao các người không biết nộ khí xung thiên, không biết chơi xả láng khi bị những thế lực lớn, tàn bạo, bóc lột, hà hiếp, đàn áp, chà đạp và rộng lượng, dễ dãi, hòa thuận với những kẻ khốn cùng? Thời kỳ ở tù, tôi vẫn thường nói với một số bạn:

— Không phải moa bắt chước lời Chúa dạy, ai đánh má trái đưa má phải, nhưng nếu bạn nào giận moa, moa sẽ đưa mặt cho bạn đó tát mà không đánh lại. Ở với anh em, mà anh em không thương mình đã là một cái tội. Huống hồ làm cho người ta ghét, tức giận, khinh bỉ muốn đánh mình, thì đó là một cái tội không tha thứ được.

Tôi tập sống để thấy những ưu điểm của người khác và khuyết điểm của mình. Tập sống để rộng lượng với người và nghiêm khắc với mình. Mặc dù để đạt được đức tính đó, con người phải vượt ra ngoài tầm vóc và giới hạn bản thân. Nghĩ như vậy và tập sống như vậy, dù không đạt đến mức độ hoàn thiện, ít nhất cũng tìm thấy được sự bình an, hạnh phúc của tâm hồn.

Tôi vẫn nghĩ rằng, niềm tin và lòng kính trọng của tha nhân giúp buộc chặt con người vào vị trí đạo đức và nhân cách. Một kẻ xấu sẽ bị nhận chìm xuống đáy sâu tội lỗi nếu ta tiếp tục đả kích họ. Một kẻ xấu sẽ ngần ngại hoặc thay đổi nếu họ nhận được sự đổi xử tốt. Những kẻ vốn đã được kính trọng, ca ngợi, cũng khó lòng thực hiện được những điều xấu, dù đôi lúc, là con người, trong tư tưởng họ, có lúc lóe lên những ý nghĩ sai trái, đen tối.

Aran Jail có Tù Việt Nam và Thái. Tù Việt Nam gồm lính Bộ đội đào ngũ, cùng các thành phần khác vượt biên đường bộ bị bắt hoặc trình diện trên lãnh thổ Thái Lan. Tù Thái gồm các lính say rượu, đánh lộn, chơi bời, xì ke, ăn cướp, ăn trộm… cùng các tù hình sự khác. Khoảng 90% người Thái thích boxing và biết boxing nhưng võ sĩ và tinh thần võ sĩ đạo không phải lúc nào cũng là một thể thông nhất. Do đó mỗi lần lính gác đánh tù, cảnh tượng rùng rợn như phim võ hiệp Tàu. Tráo, một tay ngỗ ngáo đã từng tuyên bố “Tính tao nóng lắm. Tính tao không nhịn được, không dằn được. Thằng nào, kể cả ông Trời, chọc tao, tao đập bỏ mẹ ngay.” Thế mà sau một trận đòn đã rên rỉ, ỉ ôi: “Giờ nầy thằng nào leo lên đầu ông nội tao ỉa một bãi, tao cũng đéo dám giận, đéo dám đánh lộn.”

Tình hình của Aran Jail có lúc tồi tệ, một phần lớn cũng do lỗi của tù nhân. Có nhiều quân cảnh lúc đầu rất dễ dãi, tốt bụng, biết điều, thế mà sau một thời gian, trở thành khó khăn hoặc dữ dằn. “Ở để cho người đang thương mình thành ghét mình, cho người không thương, không ghét trở thành thù địch, muốn đập mình, đối xử tàn tệ với mình,” đó là nghệ thuật sống của một số các tù Việt Nam tại Aran Jail! Dần dần những ông Phật Sống, những ông Thiện, đã trở thành ông Ác, trở thành quỉ báo cốt.

Bộ đội đào ngũ qua Thái thuộc nhiều thành phần: Sĩ quan, Lính, miền Nam, miền Bắc. Một số mới ra trường từ các lò huấn luyện quân sự tại Việt Nam vừa mới đặt chân tới trình diện đơn vị ở Kampuchia hôm trước, hôm sau đã bỏ trốn vượt biên. Có trường hợp đặc biệt của nhóm 28 người, định trốn về Việt Nam lại đi lạc, bị Khmer Son San phục kích bắt được, đưa qua Thái và được chấp nhận theo qui chế tị nạn. Có số hành quân gần biên giới hay đóng gần biên giới, thừa cơ hội ôm súng trốn qua Thái. Cũng có một số lính bụi đời, đào ngũ, đi chận đường buôn, ăn cướp, giết người, đến khi không làm ăn được nữa, bị truy lùng quá, đành vượt biên.

Đúng ra, Bộ đội Việt Cộng bỏ ngũ hồi chánh xứng đáng được xếp hạng Tị nạn Chính trị, đáng đuợc giúp đỡ định cư sớm. Chính sách hiện hành đã dồn họ vào thế bi thảm, đường cùng, nếu giải quyết thỏa đáng thành phần tị nạn nầy, Quân đội Việt Cộng sẽ tan rã và suy sụp nhanh chóng.

Lính Thái đa số theo đạo Phật, nhưng đồng thời lại thờ Thần Dương Vật. Trong lớp áo nhà binh, người lính nào cũng đeo một sợi dây quanh bụng, lủng lẳng một Ông Thần. Tại một cái miếu nhỏ, bên trong trang thờ, đặt hai khúc gỗ đỏ khắc chạm hai “của quí” thật bự, đằng trước để một cây gậy, cũng khắc hình dương vật. Mỗi lính Thái bị đưa vào Aran đều phải qua hình phạt sơ khởi với sự chứng kiến của gậy Thần. Người trưởng toán cầm đầu gậy dộng xuống đất ba cái như ông Chánh án cầm búa gõ khai mạc phiên xét xử. Có điều lạ, là những đứa cộc cằn thô bạo bao nhiêu, như tên “Giàu khùng” lại giỏi và thuộc kinh Phật nhiều hơn nhũng người hiền lành khác. Ban ngày “Giàu khùng” dùng những ngôn từ thô bỉ, cộc cằn, dùng hành vi thô bạo, độc ác để hành hạ tù Việt Nam. Ban đêm, cũng con người ấy, cái giọng ấy, ngân nga lớn những câu kinh dẫn đạo, hướng dẫn các Tù khác đọc kinh, nghe thật bứt rứt khó chịu.

Điều khôi hài thứ nhì là tên của Thái Lan. Tờ Bangkok Post trong một bài có chiều hướng giáo dục và xây dựng thế hệ phụ nữ Thái tương lai đã đề cập:

— Làm thế nào để xóa bỏ được thành kiến của người phương Tây khi họ gọi Thailand, miền đất tự do thành Thigh Land, vùng… đùi non.

Gái Thái tràn ngập các khu chơi bời khắp các Quốc gia giàu có lân cận, đến tận Trung Đông, châu Âu. Thời kỳ tạm giam tại Immigration Department ỏ Singapore, hàng ngày sinh hoạt giải trí nhộn nhịp, hấp dẫn nhất của tù nhân là chen chúc ở cửa để nhìn các cô gái Thái cư ngụ bất hợp pháp và làm nghề bất hợp pháp mới bị bắt vào. Họ vào rồi ra, đến rồi đi, tấp nập, đông đảo như những hội chợ triển lãm người.

Lần đầu tiên tắm chung với lính Thái — chúng tôi vẫn tắm trần truồng như là một thông lệ của Aran Jail — tôi trố mắt kinh ngạc hỏi một lính Thái: “Trời ơi! Bạn bị bệnh bao lâu rồi? Đã chích thuốc gì chưa? ” khi thấy dương vật của anh ta nổi lên nhiều cục lớn như hạt bắp. Tôi đã thấy nhiều loại bệnh hoa liễu khác trái ngược với loại nầy, chẳng hạn một người lính Mỹ, trong khi ngồi uống bia trong một snack bar lại lôi cái của quí đùa. Cái đầu dương vật bị lõm, sứt mẻ nhiều lỗ, mà khi đi tiểu, như lời anh ta nói, nước tiểu xòe chung quanh giống như một vòi douche tắm!

Anh lính Thái cười vì sự quê mùa của tôi, giải thích cách làm và công hiệu:

–  Mài các mảnh đít chai cho thật tròn lẳng, xẻ da qui đầu khâu vào. Effet vô cùng!

– À! Hèn gì hồi ở Sàigòn, con nhỏ Bé bạn cháu gái tôi vẫn thường khoe: Chồng cháu có độn ba cục kim cương trong dương vật!

Khi nhìn Bé cứ càng ngày càng xanh xao, gầy gò, nhìn Madame Giám đốc Bệnh viện Nong Samet, người Mỹ trẻ đẹp, cứ đeo anh chàng tình nhân nguời Thái tài xế như sam, tôi cũng dư đoán được công hiệu của loại kim cương nầy!

Lính Thái là lính cậu, lính bóng, khi chiều về, họ bôi son, trét phấn, xức nước hoa như là các diễn viên sắp lên sân khâu cải lương. Họ rất quí vàng vì vàng rất hiếm ở Thái. Hai Quốc gia Miên—Thái ở sát nách nhau lại có những điểm dị đồng đặc biệt. Vàng thì quá thường đối với người Khmer, những gia đình bình dân cũng có vài lượng, gia đình khá giả thì tích trữ vàng bằng kí lô. Do đó mà nhiều nữ Bộ đội Việt Cộng đã trở nên giàu có chớp nhoáng vì chỉ cần chịu chơi tí xíu với một chàng Khmer, trong chớp mắt đã có một sợi dây chuyền vàng mấy chỉ.

Người Thái trái lại hình như ít có vàng, họ xọp thỏn (thích vàng) đến nỗi, nhiều tay Cai ngục hoặc Tù Thái, hễ gặp bất cứ Bộ đội Việt Cộng đào ngũ nào có răng vàng đều gạ gẫm đòi mua. Có tay bạo hơn, đòi bẻ răng vàng nếu không chịu bán!

Trong tù Aran, lính Thái ít khi đánh lộn nhau, nếu có thì chỉ đánh tù Việt Nam mà thôi. Chẳng bù trong nhà tù Việt Nam thời chế độ cũ, những cuộc thanh toán, tranh giành ngôi vị Trưởng phòng, hoặc trừng trị đàn em thường xảy ra như cơm bữa.

Ban đêm Aranjail nhộn nhịp như một cái chợ nhỏ. Lính Thái ngồi hoặc nằm bên ngoài hành lang, tù Việt Nam thò tay qua song sắt đấm bóp. Coi chỉ tay và giặt áo quần cũng là những nghề để kiếm thuốc lá hút hoặc kiếm áo quần để mặc, vì lính Thái khi được thả khỏi tù trở về đơn vị, thường để lại một ít quà cho tù Việt Nam.

Riêng tôi lại được coi là Hủ Na (ông lớn) nên họ thích tiếp chuyện hoặc nhờ tôi chỉ dẫn Anh văn. Họ thường biếu tôi thuốc lá, bánh kẹo, trái cây và thỉnh thoảng mời nhậu. Nói chung đa số tù Thái dễ thương, thân hữu, thỉnh thoảng mới có vài tay thô lỗ, du côn.

Ở trong các nhà tù Việt Cộng, hoặc thời gian vượt ngục về Sàigòn, tôi cũng đã nghiên cứu, quan sát và đánh giá về đám Bộ đội Việt Cộng về khả năng và tinh thần chiến đấu của họ nhưng chính ở Aran Jail, tôi mới thực sự biết rõ đích xác bản chât của Quân đội Việt Cộng. Hầu hết Bộ đội Việt Cộng, trong thời gian huấn luyện quân sự, không mấy ai được tập bắn tổng cộng trên 30 viên đạn. Vì thế ngày thi bắn, Đơn vị Huấn luyện phải đưa các Huấn Luyện viên hoặc một vài tay súng giỏi hiếm hoi đi bắn thế để báo cáo về phẩm chất và thành quả của Khóa Huấn luyện.

Cũng chính vì biết rõ khả năng của các tay súng Cộng Sản và một phần tin tưởng vào số mệnh mình, mà một lần, trong lúc làm nghề cá tại Đài Côn (Kampuchia), tôi đã đánh cuộc với một tên lính Heng Samrin thuộc toán lính gác bảo vệ khu vực, với một điều kiện rẻ mạt:

— Tôi sẽ ngồi trên một trụ gỗ giữa dòng sông Cửu Long trong vòng 200 thước và cho y nhắm bắn tôi hai viên đạn. Nếu trúng, y sẽ không bị trách nhiệm gì cả. (Việc bắn chết một người dân tại Kampuchia, thực tế, cũng chẳng có gì đáng quan trọng, chưa kể, nếu biết được tôi là một tên tù vượt ngục, chắc chắn y còn được thưởng công thêm!) Còn nếu bắn trật, y thua tôi một tháng lương và tôi sẽ dùng số tiền đó để đãi các bạn Thợ lặn một chầu nhậu bình dân (lương lính Miên 60 riels chỉ bằng 3 dollars).

Khi hay được có cuộc đánh cá nguy hiểm đó, chính Chủ nhân của Công ty đã ngăn cản vì họ tin dị đoan rằng nếu lỡ có đổ máu, chết chóc, Công ty của họ sẽ xui xẻo, sập tiệm.

Có lần ông Đại Tá Mập hỏi một Bộ đội Việt Cộng:

–  Tại sao có Đơn vị, khi đánh chỗ nầy thì xuất sắc, đánh chỗ kia thì dở ẹc?

Họ cười giải thích:

–  Có gì đâu? Cứ chỗ nào có chợ búa, phum làng giàu có, tụi con tranh nhau chạy trước, chạy nhanh để hốt vàng, bạc, radio, vải vóc… Còn chỗ nào thâm sơn cùng cốc, thì dại gì mà xông xáo!

Một trong những mục tiêu Bộ đội Việt Cộng thèm khát và nhiệt tình nhất để tấn công là Thái Lan. Đi Thái Lan một chuyến về tiêu mấy năm chưa hết, chưa kể, buồn buồn, vượt biên luôn càng tốt. Điều đó xác nhận lời tuyên bố của một Cán bộ Cộng Sản cao cấp:

–  Nếu cần, trong vòng mười ngày, Việt Cộng sẽ chiếm toàn bộ Thái Lan!

T’rừ đám Nghệ Tĩnh, quê hương của “Bác” là còn trung kiên, còn tất cả Bộ đội đều nghĩ và chuẩn bị thực hiện ý nghĩ vượt biên để tránh đói khát, bệnh tật thường trực ám ảnh họ, hoặc sự chết chóc phải trực diện hàng ngày mà phần lớn số thương vong đều do đạp mìn bẫy, hoặc bị đột kích, phục kích.

Tại nhà tù Aran Thái Lan, tôi bị koòng chân đến ba lần, tổng cộng mười tháng, và tôi thường đánh cá với các Bộ đội ở chung phòng:

–  Anh cam đoan và dám cá rằng anh sẽ bị koòng ba lần và chắc chắn sẽ có ba con chó bị giết.

Ba lần koòng, ba con chó sẽ hy sinh thế mạng. Không ai tin, nhưng cuốỉ cùng đúng ba con chó bị giết cho tù ăn thịt, không hơn không kém. Nhưng có điều ngoài sức tiên tri, Aran bỗng nhiên xuất hiện ba ông đạo sĩ, chúng tôi gọi đùa ba người tù mới đến như vậy, vì khi họ bị giải giao tới Aran, họ đã bị cạo trọc đầu trước và sau đó ba ông đạo sĩ bị chuyển về Nong Samet, trốn trại rồi bị bắn chết.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Chương hai mươi hai

Đột nhiên, Eliot Ness trở lại ty cảnh sát vào lúc 2 giờ sáng. Chàng đánh thức toán 6 người có nhiệm vụ trực hành quân dậy, mời vào phòng họp gấp. Sáu cái đầu còn ngái ngủ ngồi xoay quanh chiếc bàn dài có trải tấm bản đồ. Eliot Ness chỉ vào một góc phố:

-Tối nay chúng ta hành quân thật. Chúng ta sẽ ốp cái lò này ngay đường

số 127 và Broadway, lò nấu bia hạng trung của bọn nó.

Câu nói của Eliot Ness làm mọi người tỉnh ngủ. Đã hai tuần nay, ngày nào

Eliot Ness cũng xin lúc thì một toán, lúc thì hai toán để đi hành quân bắt rượu với chàng nhưng chẳng bao giờ đi cả. Bây giờ thì việc đó đã trở thành một thông lệ. Ai được cắt đi hành quân với Eliot Ness đều coi đó là một ngày nghỉ dưởng sức. Họ cứ việc ôm mền chiếu vào ty ngủ một giấc rồi về nhà thưởng thức 2 ngày nghỉ theo luật lệ. Tối nay, chuyện này xảy ra bất thường.

Eliot Ness đang cắt nghĩa và giảng giải về kế hoạch tấn công thì một bàn

tay đưa lên xin ý kiến:

-Xin lỗi ông thanh tra, tôi phải đi tiểu.

Eliot Ness chưa kịp trả lời thì một giọng khác cất lên luôn:

-Tôi cũng vậy, hồi nãy đi ngủ chưa kịp đi tiêu nên bây giờ nhịn không

được. Để tôi đi ra ngoài rồi trở lại ngay.

Tiên sư mấy thằng này, đi tiêu đi tiểu mà cũng dành nhau kỹ vậy sao?

Làm như hễ mặc đồ cảnh sát vào là phải đi … đái lia lịa. Eliot Ness đâu có lạ gì cái trò con nít này. Làm bộ đi tiêu đi tiểu để đi luôn một đường điện thoại thông báo tin tức cho tụi Al Capone chứ gì? Chàng làm mặt ngây thơ:

-Mấy ông này làm ăn cái gì kỳ quá, đang briefing mà mấy ông làm vậy là

tôi mất hứng. Mà thôi đi đi, đi mau lên rồi trở lại chúng ta bàn tiếp.

Hai thầy đội khoái chí đứng dậy, vọt ra liền. Một thầy cảnh sát còn rất trẻ

đá đá vào chân Eliot Ness mấy cái như ngầm ra một dấu hiệu gì đó. Eliot Ness ngạc nhiên thích thú. Thì ra cảnh sát Chicago này đâu có phải là ai cũng hư hết, ít ra cũng có một thầy đội còn lương tâm như ông thày đội vừa đá vào chân chàng ra hiệu. Từ lúc xuống Chicago đến nay, lần đầu tiên chàng thấy mình có thể tìm được một đồng minh trong cái đám cảnh sát này. Eliot Ness liếc nhìn vào cái bảng tên của người vừa đá vào chân mình. Tên của thầy đội trẻ tuổi rất ngắn: LITE, Robert Lite.

Chàng đưa mắt nhìn Lite. như ngầm bảo “Cám ơn” rồi tiếp tục bàn thảo tiếp kế

hoạch tấn công. Miệng thì nói bô bô nhưng đuôi mắt chàng kín đáo quan sát anh chàng Lite.

Típ người này có thể xài được. Vẻ bất mãn hiện lên thấy rõ trên khuôn

mặt non choẹt của hắn. Cặp mắt rực lửa của hắn như muốn xông tới quát to lên vào mặt Eliot Ness: “Sao mà ông cớm liên bang ngu quá vậy? Ông để cho hai thằng đó đi ra ngoài thế kia thì nó nói mẹ nó cái chỗ tấn công cho người ta nghe hết rồi, còn chó gì nữa? Ngu thấy mẹ hèn gì chả làm ăn gì được.”

Eliot Ness nhẹ nhàng thò chân ra, khều nhẹ vào chân hắn như ngầm bảo:

“Yên chí đi chú em, qua lo liệu hết rồi, lát nữa sẽ biết tay nhau.”

Sau phần thuyết trình, Eliot Ness chần chờ cho đến ba giờ sáng mới cho

mọi người đồn hết lên hai chiếc xe. Chàng nói với người tài xế chiếc xe thứ hai:

-Ông phải bám sát xe tôi nghe không. Tôi đi đâu ông đi theo đó.

-Thì mình cùng đi lên khu Broadway và đường số 127 mà.

Eliot Ness lắc đầu, cười:

-Không, chỗ đó mình sẽ đi tuần sau. Bây giờ mình đi chỗ khác, cứ việc

theo tôi.

Trong xe tối mù nên Eliot Ness không nhìn thấy những vẻ thất vọng hiện ra

trên khuôn mặt hai ông thầy đội ban nãy. Chàng quay lui, leo lên chiếc Ford rồ

máy. 3 giờ sáng mà thành phố Chicago cũng chưa chịu đi ngủ. Trên đường tới

mục tiêu, thỉnh thoảng chàng vẫn gặp những hàng quán còn mở cửa, những chiếc xe đi ngược đường lái lạng quạng. Đó đây vẫn còn thấy hình ảnh các cô gái ăn chơi đứng ngoài đường trong những bộ xiêm y loè loẹt quá đáng, dấu hiệu của gái giang hồ.

Chiếc xe dừng trước một toà building cũ kỹ ở khu South Side. Ông thanh

tra và 6 cảnh sát ào xuống một lượt. Eliot Ness ra dấu kêu họ bao quanh mình, ra lệnh dưới ánh đèn mập mờ của tòa nhà:

-Kể từ giờ phút này, tôi trực tiếp chỉ huy các anh em. Trước hết, tôi phải

thông báo cho anh em biết tại sao tôi lại thay đổi địa điểm tấn công vào giờ chót: Vì tôi đã học được bài học quý giá cách đây hơn một tháng. Tất cả những tin tức gì tôi nói ra tụi Caponi đều biết. Giờ phút này, tôi không muốn đánh thấp giá trị của bất cứ ai, nhưng xin anh em thông cảm, tôi có nhiệm vụ phải thi hành. Điều thứ nhì, là những cảnh sát chuyên nghiệp, tôi mong anh em hiểu chuyện chúng ta sắp làm rất nguy hiễm, anh em phải triệt để nghe lệnh tôi.

Điều thứ ba, những tin tức tôi thuyết trình với anh em về cái lò nấu rượu

hồi nãy đều dùng được. Đúng ra nó là chi tiết của toà nhà này đây, khi vào anh em sẽ thấy. Có ai còn hỏi gì không?

Không có câu hỏi.

-Chúng ta cứ theo kế hoạch hồi nãy mà thi hành được rồi.

Eliot Ness lôi một cây búa bửa củi từ dưới gầm xe ra, tới đứng sát bên cánh

cửa sắt đồ sộ. Lite đứng bên cạnh, 5 người cảnh sát khác vây quanh, súng cầm tay sẵn sàng. Chàng dơ tay nhấn chuông:

-Cảnh sát liên bang có trát đến khám nhà, xin vui lòng mở cửa.

Không có tiếng trả lời, chàng bấm thêm lần nữa. Vẫn không có tiếng trả

lời. Cái điệu này thì phải phá cửa rồi, phí thì giờ làm chi? Eliot Ness ra dấu cho tất cả chuẩn bị rồi đứng lui lại lấy thế. Sáu cây Shotgun của cảnh sát đồng loạt lên đạn, chĩa thẳng vào phía trước. Eliot Ness dơ cao cây búa bửa củi lên cao nhắm vào cái ổ khóa to tướng nằm ngang phía trước. Lúc chàng vận hết sức, sắp sửa phang xuống thì có tiếng nói từ trong vẳng ra:

-Ai đó, giờ này muốn vào đây làm gì?

Eliot Ness dừng tay lại kịp thời:

-Cảnh sát, cảnh sát liên bang có trát tòa đi lục soát nơi đây. Yêu cầu mở

cửa gấp. Ai ở chỗ nấy, không được gây nhốn nháo, không được bỏ ra khỏi building. Chỉ trong tích tắc, một loạt đèn phía ngoài cửa bật lên, chiếu sáng cả khu vực như ban ngày. Không ngờ hệ thống phòng thủ của bọn nó ghê gớm đến như vậy.

Một cánh cửa sổ nhỏ mở ra trên góc trái, kèm theo giọng nói thách thức:

-Xin vui lòng cho tôi coi trát tòa.

Đã tính trước, Eliot Ness thò tay vào túi áo bành tô móc trát ra. Ủa, không

thấy trát đâu hết. Chàng nhớ chiều nay khi ra khỏi nhà, đã kiểm soát kỹ càng rồi kia mà. Có lẽ mình bỏ quên nó trong túi khác. Eliot Ness buông cái búa, dùng cả hai tay lục mấy túi khác. Cũng chẳng thấy đâu hết. Eliot Ness tái mặt:

-Chờ đây chút, để tôi ra ngoài xe lấy trát.

Eliot Ness chạy trở ngược ra xe, Lite phóng theo. Hai người lục lọi một

hồi, cũng không thấy tờ trát đâu hết. Dù biết là vô ích, Eliot Ness chạy qua chiếc xe thứ hai, giỡ tung tất cả mọi thứ lên để kiếm cũng không có.

Sau mười phút tìm kiếm, chàng lủi thủi trở lại nhặt cây búa lên. Thật ra lúc

này, chàng muốn thẳng tay bửa cây búa này không phải vào cánh cửa sắt mà vào sọ cái thằng khốn nạn nào đã thò tay rút mất cái trát của mình. Đệ nhất cớm của Hoa Kỳ lại bị đưa vào xiếc lần thứ hai. Lần này không có phóng viên, không có rầm rộ như lần trước nhưng cũng là một vố ra gì.

Suốt hai tuần qua, chàng đang ở thế công. Ngay mới vài phút đồng hồ

trước đây, chàng cũng đang còn ở trong thế công, bây giờ, tự nhiên lọt vào thế bị động. Trong trí, chàng đã chuẩn bị sẵn sàng cách đối phó như thế nào với cái lò nấu rượu này.

Giọng nói từ cánh cửa sổ có kèm theo một nụ cười:

-Ha ha … xin lỗi ông bạn, không có trát tòa tôi không thể mở cửa cho quý vị

vô được. Quý vị muốn gì xin liên lạc với luật sư của chúng tôi ngày mai. Chúc quý vị ngủ ngon.

Không biết nói gì, Eliot Ness hất đầu ra hiệu cho đám cảnh sát rút lui. Lite

tức lắm, kề vai Eliot Ness nói rất nhỏ qua hai hàm răng nghiến lại:

– Cứ nhoà vô đại đi ông thanh tra, trát mẹ gì. Để tôi lấy đại ra một tờ giấy gì

đó rồi dí đại vào mặt nó cũng được. Tranh tối tranh sáng, nó biết đường nào mà mò?

Ý tưởng vừa mới nói qua nghe hay nhưng không thể nào thi hành được.

Thằng chó đẻ nào đã thò tay đỡ nhẹ cái trát của Eliot Ness chắc phải có kế hoạch để gây khó dễ cho chàng. Một cảnh sát liên bang không thể làm việc trái luật pháp như vậy được. Chàng lắc đầu.

Giọng nói từ trong lại vang ra, giễu cợt:

-Lần sau có đi hành quân thì nhớ mang trát theo nghe mấy cha, làm phiền

người ta quá. Đem theo cỡ mười cái càng tốt.

Eliot Ness ngạc nhiên khi nhìn thấy Lite xoay người phóng một đá vào

cánh cửa sắt nghe rầm một tiếng:

-Ngày mai tao sẽ trở lại đây với cái trát tòa. Tao nhớ giọng mày nghe

không thằng khốn, tao sẽ xúc mày lên xe cây đầu tiên. Đừng quên là tao có quyền nhốt mày 24 tiếng nghe không?

Cánh cửa sổ nhỏ đóng lại, tiếng cài then nghe đánh xọet. Eliot Ness ngạc

nhiên vì lần đầu tiên chàng nhìn thấy một anh cớm địa phương có thái độ quyết liệt như vậy. Cái mũi của Eliot Ness đã ngửi cái gì rồi thì có khi nào trật.

Trên đường về lại ty cảnh sát, Eliot Ness nhớ đến lần thất bại đầu tiên của

chàng về cái chết của thằng mật báo viên Stash Mose. Nhìn những khuôn mặt lầm lì trên xe, Eliot Ness nhủ thầm: “Được, hãy cứ coi như các chú vừa thắng một keo nữa đi. Nhưng Eliot Ness sẽ thắng keo cuối cùng.” Bấc giác, chàng nghĩ đến người cảnh sát tên Lite. Tối hôm nay chưa chắc đã thua hoàn toàn, chàng vừa gặp được một ông cớm thứ thiệt. Kể từ ngày mai, cuộc chiến đấu của chàng sẽ bớt cô đơn hơn.

Sáng hôm sau, đang ngồi trong văn phòng thì điện thoại lại reo vang. Đầu

giây bên kia là cái giọng nham nhở của thằng phóng viên Ferguson:

-Kính chào ông Eliot Ness, ông khỏe không?

-Cám ơn. Ông muốn biết tin tức của cuộc tấn công ngày hôm qua hả?

Đúng. Tôi nghe nói ông đi hành quân cảnh sát mà không có trát của tòa

án, có đúng không ông?

-Đúng. Đúng ra là có nhưng tôi làm mất …

Một tràng cười nổi lên:

-Ha .. ha … , hành nghề phóng viên mấy chục năm, hôm nay là lần đầu tiên

tôi nghe chuyện cảnh sát đi lục sóat mà bị mất trát. Ông bị móc túi à? Cảnh sát mà còn bị móc túi như vậy thì người dân chúng tôi làm sao sống được?

Eliot Ness đáp tỉnh:

-Ông muốn biết ai đã móc cái trát của tôi không?

-Xin ông cho biết, tôi sẽ đăng lên báo.

-Cảnh sát Chicago.

Giọng nói của Ferguson trở nên sững sốt:

-Ông nói chơi hay nói thiệt. Đây là chuyện tin tức, xin ông đừng đùa.

-Tôi không đùa và tôi muốn ông cho đăng chuyện này lên. Tôi muốn dân

chúng Chicago biết sự thật. Tôi muốn cho họ biết sức mạnh của bọn Al Capone ở Chicago này. Chúng đã “nắm” luôn được cả cảnh sát.

-Vậy ông tính làm gì?

-Tôi sẽ chẳng làm được gì hết vì tôi không bắt được thủ phạm. Nếu tôi bắt

được thủ phạm, tôi sẽ đưa họ ra toà. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục công việc làm của tôi.

-Diệt Al Capone như lời ông hay tuyên bố.

-Đúng. Tôi sẽ diệt thằng Al Capone. Đừng quên câu “I come here to get

Capone … “

Vừa gác điện thoại, người thơ ký cảnh sát gõ nhẹ vào văn phòng Eliot

Ness:

-Thưa ông thanh tra, có một người tên Oliver Randal muốn gặp ông thanh

tra

Eliot Ness nhíu mày ngạc nhiên:

-Oliver Randal! Tên nghe lạ quá, tôi có gặp hắn bao giờ đâu?

-Không biết, hắn nói hắn có chuyện muốn trình bày với ông.

-Cho hắn vào.

Eliot Ness lịch sự đứng dậy khi người khách lạ tiến vào. Ủa, sao hắn có

xách theo cặp táp làm gì nhỉ? Cặp mắt điệu nghệ của Eliot Ness nhìn lướt qua thật nhanh để cố đoán xe thử hắn để gì trong đó. Chắc chắn là không có súng. Mà có thì đã sao? Đấu súng tay đôi thì ai qua nổi ông đệ nhất cớm Eliot Ness?

Người khách lạ bỏ mũ cười rất tươi, miệng tét ra đến tận hai bên tai, bắt tay

Eliot Ness với một vẻ rất thân thiện và chân thành:

-Kính chào ông thanh tra. Tên tôi là Oliver Randal, ông có thể gọi tôi là

Ollie. Tôi chẳng muốn phiền ông lâu, tôi chỉ có chút chuyện muốn thưa với ông.

Eliot Ness để ý thấy bàn tay hắn mềm xèo, đầy những thịt. Như vậy thằng

này không phải là dân giang hồ rồi. Tướng mạo của hắn cũng không có vẻ ác ôn nữa, để xem hắn muốn gì đây:

-Tôi là Ness. Eliot Ness! Mời ông ngồi.

Vài câu xã giao để làm quà, Oliver Randal đứng dậy, đặt cái cặp táp trên

mặt bàn Eliot Ness. Chàng đang còn ngạc nhiên thì hắn vô đề luôn:

-Kính thưa ông Ness. Tôi có một người bạn tên là … Al Capone. Xin ông

đừng nóng. Người bạn tôi có một món quà muốn nhờ tôi đem đến cho ông.

Nghe đến tên Al Capone, Eliot Ness thấy thái dương mình giựt giựt. Chàng

đâu có lạ gì cái trò dụ dỗ mua chuộc này. Từ Hoa Thịnh Đốn tới New York, rồi đến Chicago, chàng đã nhiều lần được bọn bất lương mua chuộc và gạ gẫm bằng đủ thứ: từ gái đẹp cho đến tiền bạc. Cái làm cho chàng thích thú nhất là, trong bất cứ chiến dịch nào cũng vậy, hễ chúng nó bắt đầu gởi người tới để mua chuộc là chúng nó bắt đầu lâm vào ngõ bí. Tuy mới tối hôm qua, chàng bị móc túi mất cái trát tòa nhưng chúng biết lần sau, cái trát sẽ không bị mất nữa.

Eliot Ness vẫn giữ bộ mặt bình tĩnh, coi thử xem nó đáng giá mình đáng

bao nhiêu đây rồi hạ hồi phân giải.

-Món quà đó là gì?

– Thưa ông, đang nằm trước mặt ông đó.

Eliot Ness chồm người tới trước, mở nắp cặp táp. Chàng nhìn thấy từng

xấp giấy bạc 100 đô la mới tinh nằm ngay ngắn.

-Bao nhiêu đó?

-Thưa ông 200 ngàn.

-Nếu tôi từ chối?

-Xin ông nghĩ lại, 200 ngàn không phải là ít.

-Điều kiện để nhận mớ bạc này là gì?

-Chỉ xin ông làm lơ cho người bạn tôi được làm ăn. Mỗi tháng, người bạn

tôi sẽ cung cấp đều đều thêm cho ông.

200 ngàn đô la. Vậy ra là tụi này cũng biết giá trị của chàng. Chưa bao

giờ một ông cớm được trả một giá cao như vậy ở Chicago này. Dĩ nhiên, bọn nó đem đến 200 ngàn chứ một triệu chàng cũng nhất định không thèm mó tới. Đã đến lúc chấm dứt cái màn này.

Eliot Ness đứng giậy:

-Ông bạn Oliver Randal.

Tự nhiên, Oliver Randal nhận thấy ánh mắt của ông cảnh sát liên bang như

tóe lửa ra. Hắn trả lời giọng run run:

-Dạ thưa ông Ness.

Eliot Ness thò tay đóng nắp cặp táp, thảy nó trở lại xuống người Oliver

Randal:

-Tôi xin thông báo cho ông bạn một tin buồn. Nếu ông tưởng là có thể

mua được tôi với giá 200 ngàn đô la là ông lầm to. Đừng nói 200 ngàn, ngay cả đến 200 triệu cũng không mua được. Đáng lẽ tôi còng tay ông lại và truy tố ông ra tòa về tội âm mưu hối lộ nhân viên công lực, nhưng tôi tha cho ông vì biết ông không phải là một người trong bọn nó. Ông là dân lương thiện và chỉ làm một người trung gian thôi. Tôi cho ông về và nhờ ông nói với thằng Al Capone như thế này: “I come here to get Capone”. “Tôi xuống đây để diệt Capone”. Ông nghe rõ không?

Oliver Randal chỉ nghe tới đó thôi là đứng dậy liền cấp kỳ. Từ lúc lên New

York nói chuyện với Luciano, hắn đã hiểu Eliot Ness là hạng người nào.

“UNTOUCHABLE”. “Không mua được”. Thực ra, trước khi bước vào đây, hắn có phần nào đoán trước được kết quả buổi gặp gỡ. Là một con nhà buôn lương thiện và không ngoan, hắn cũng biết sự nguy hiễm của chuyến đi này. Với tang chứng là 200 ngàn đô còn rành rành ra đó, Eliot Ness có thể còng tay hắn lại, nhốt vào xà lim để chờ ngày ra tòa về tội âm mưu hối lộ. Tội này chạy cho khéo lắm cũng còn là 2 năm. Than ôi, 2 năm nằm nhà đá thì còn gì cuộc đời của Oliver Randal?

Kẹt cái là hắn đã nhận quá nhiều ân huệ của xếp Al Capone nên đành phải

miễn cưỡng nhận lời. Bây giờ Eliot Ness đã nói vậy thì còn chờ gì nữa? Phải dọt cha nó ra khỏi cái văn phòng ghê gớm này, ở lâu thêm chút nữa thằng cớm mất dạy đổi ý là bỏ mẹ.

Oliver Randal cúi đầu một cái thật sâu, quên cả bắt tay người ân nhân đã

tha án tù cho hắn. Tự nhiên Eliot Ness gọi giật hắn lại:

-Oliver Randal.

Oliver Randal hãi quá, vừa ra khỏi cửa đã dừng bước. Nó đổi ý rồi chăng?

Eliot Ness đưa cho hắn cái mũ:

-Ông bỏ quên mũ.

-Dạ xin cám ơn ngài thanh tra. Vội quá tôi quên.

-Ông nhớ đấy nhá, lần sau mà còn mò đến đây như vậy là ông sẽ vào tù

chớ không về nhà đâu.

-Dạ, dạ tôi xin nhớ.

Xuống tới đường cái, Oliver Randal leo lên chiếc Limousine do Frank Nitti

lái đã đậu sẵn. Nhìn nét mặt tái mét của sứ giả, Frank Nitti biết là chuyện đã bất thành. Nó quay ra sau nói với thằng cận vệ:

-Lát nữa về, mày gọi thằng Racco, bảo toán của nó lo chuẩn bị. Cú này,

mình sẽ đi làm thịt thằng Ness …

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Chương hai mươi mốt

Sáng nay, Oliver Randal lại được xếp triệu tới để lo một chuyện. Như

thường lệ, không ai có đủ khả năng để báo cho nó biết chuyện gì. Cứ tới rồi tính sau. Ngồi chờ xếp nơi chỗ làm việc của Guzick, Oliver Randal có cảm tưởng như đang ngồi trong văn phòng của một ông tổng giám đốc nhà băng nào đó. Chễm chệ đằng sau cái bàn giấy đồ sộ đóng bằng thứ gỗ quý chở đến từ một nơi xa xăm bí hiểm ở Á Châu, Guzick như ngập người trong công việc. Thằng Guzick này quả là một thiên tài. Tay thì ngoáy lia lịa cây viết, đầu óc tính toán đến độ cả trán nhăn lại, miệng thì trả lời điện thoại một cách điệu nghệ đàng hoàng. Có những cú điện thoại đến tận nơi thật xa như ở Âu Châu, sổ toàn tiếng Ý hay tiếng Pháp làm thằng quản lý gốc Do Thái này chới với. Lại có vài cú điện thoại của các nhân vật quan trọng trong chính quyền như thị trưởng Thompson, và một vị quan tòa. Không hiểu người ta gọi đến để làm gì nhưng cứ nhìn cái vẻ mặt bình thản của thằng Guzick thì Oliver Randal biết những cú điện thoại đó gọi đến đây rất thường.

Bên cạnh Oliver Randal, cũng ngồi chờ như nó không biết đến lúc nào là

thượng nghị sĩ Phil, đảng Dân Chủ của tiểu bang Illinois. Xa hơn chút nữa, gần tuốt trong góc là một ông già mặt mày coi chững chạc nhưng không dấu được vẻ lo sợ.

Ba người khách ngồi im lặng như đang suy nghĩ lát nữa được gặp xếp mình sẽ ăn nói thế nào. Không ai nói với ai một câu. Nơi cửa ra vào, một thằng cận vệ ăn mặc complê nguyên bộ rất sang trọng đang đứng khoanh tay bất động như một pho tượng.

Oliver Randal thầm nghĩ: “Mẹ, trụ sở đảng cướp mà coi oai vệ hơn cửa nhà quan. Đồng tiền và thế lực có khác, nó làm thay đổi cả con người. Từ hèn đến sang, từ ăn cướp đến trở thành quyền lực vô biên … “

Gần mười giờ sáng, Guzick chuẩn bị đón xếp. Chương trình của xếp ra sao,

thằng Guzick này phải biết rõ nhưng nó thủ khẩu như bình. Sau lời thăm hỏi, nó làm như không biết đến những người khách ngồi trước mặt, cứ cắm đầu cắm cổ mà làm việc. Ông thượng nghị sĩ cũng có moi được một câu nào đâu? Oliver Randal nhận thấy đàn em của xếp, nhất là những đứa thân cận, thằng nào cũng kín miệng kín mồm, chả bù với xếp, chưa thấy người đã nghe giọng nói oang oang đi trước.

Khoảng hơn 10 giờ một chút, cánh cửa phòng bật mở, xếp Al Capone bước

vào, điếu xì gà nơi tay phải, ly cognac nơi tay trái. Hôm nay xếp có vẻ yêu đời chứ không gắt nhặng lên như lần trước. Xếp bắt tay ngài thượng nghị sĩ, la ầm lên:

-Guzick, lâu lâu mới có ngài thượng nghị sĩ đến thăm, sao không báo trước

cho tôi để chuẩn bị tiếp đón. Ngài khỏe không? Làm một ly cognac cho ấm bụng chớ hả? Gần trưa rồi, hay là ở đây ăn trưa luôn với tôi?

Khỏi cần chờ câu trả lời của ngài thượng nghị sĩ, xếp đưa ly rượu cho thằng

cận vệ, quay sang ông khách già lạ mặt, dùng cả hai tay bắt lấy tay ông ta:

-Dạ thưa cụ, cụ đây là …

-Dạ thưa tôi tên là Westley, hôm nay tôi đại diện hàng xóm khu Fleurd’or

đến gặp xếp tính nhờ vả xếp một chuyện …

-Quý hóa quá, quý hóa quá. Capone này có làm gì được cho cụ thì luôn

luôn sẵn sàng. Tụi bay đâu, lấy cái gì mời cụ giải khát coi. Cụ dùng gì? Cụ cần gì bảo tụi nó đem lên cho cụ, cái gì không có thì xuống dưới nhà hàng lấy đem lên.

-Qúy hóa quá …

Người cuối cùng xếp tiếp đón là Oliver Randal:

-Hello Ollie, ông bạn già của tôi. Ông chờ lâu chưa? Tụi bay đâu, làm

cho ông bạn Ollie một ly cognac tổ chảng coi. Mà nhớ phải lấy thứ thật quý mới được. Tao biết tính ông buôn bán bất động sản này, phải có chút rượu vào thì mới nói chuyện đất đai được. Tình hình thế nào, buôn bán có khá không?

Xếp vừa chào hết một vòng, Guzick lễ phép mời ông thượng nghị sĩ vào

văn phòng trước. Xếp lịch sự nhường bước cho ông nghị:

-Mời ông nghị vào, chúng ta nói chuyện.

Chờ cho Guzick và ông Thượng nghị sĩ vào xong, xếp gật đầu ra dấu cho thằng cận vệ đóng cánh cửa văn phòng lại. Guzick mở hộp xì gà Cu Ba để trên bàn

rồi vòng ra phía sau pha hai ly cognac thật lớn. Hắn chuẩn bị xong khay rượu rồi ngồi vào cái ghế xéo xéo sau lưng xếp. Xếp cầm ly rượu, chỉ vào hộp xì gà:

-Mời ông nghị một điếu. Lúc này có chuyện gì đặc biệt không?

-Cũng thường thôi Al. Công chuyện buôn bán lúc này thế nào?

Xếp đưa bàn tay ra, lật úp lại, lắc lắc:

-Mỗi cơ sở thương mại có một khó khăn riêng. Lúc này, hình như trên Hoa

Thịnh Đốn có vẻ để ý đến tôi nhiều, ngài có nghe thấy gì không?

-Thực tình mà nói, tiếng tăm của ông đã vang dội không phải chỉ trong lục

địa Hoa Kỳ mà cả đến Âu Châu nữa. Một người bạn tôi kể là tháng trước sang

Pháp, ông ta đã thử hỏi người tài xế Taxi là có biết tên của tổng thống Mỹ là gì

không? Người tài xế thành thật nói không biết tên tổng thống Mỹ nhưng có biết Al Capone ở Chicago.

Xếp Al Capone bật lên một tràng cười to và dài. Dường như xếp khoái chí

lắm. Tổng thống mà người ta không biết, lại đi biết đến tên thằng Al Capone này thì đáng cười cũng phải. Nhưng nụ cười vụt tắt ngay khi xếp nghĩ đến thằng cớm Eliot Ness:

-Ông có biết là Hoa Thịnh đốn vừa gởi xuống đây thằng cớm kỳ lạ lắm

không?

-Không.

-Còn thằng cha Thượng nghị sĩ Brown, tôi có làm gì nó mà nó lại cay cú tôi

dữ vậy?

Thượng nghị sĩ Phil châm lửa điếu xì gà, hồm hỉnh:

-Nếu tôi nghiện xì gà là ông bạn Al phải chịu trách nhiệm đó nghe … Để

tôi giải thích cho Al hiểu. Vấn đề nó như thế này: Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ, chính phủ Hoa Kỳ làm việc theo ý kiến của nhân dân, mà người đại diện nhân dân chính là các nghị sĩ. Ông Brown, theo tôi nghĩ, cũng vì cử tri của họ làm áp lực mà phải lên diễn đàn để công kích ông như vậy thôi, ông không nên để ý đến. Tôi xin nói thật, dù sự thật có hơi đau lòng: Ông biết ở Hoa Thịnh Đốn, ai nghe nhắc đến tên Al Capone cũng đều ghét.

Mới cười cười nói nói đây mà mặt Xếp Al Capone bỗng đỏ rực, ánh mắt

chiếu ra những tia hung dữ khác thường. Nhưng xếp ráng giữ giọng mình cho thật thấp:

-Bọn chánh khách khốn nạn! Tụi nó chỉ nhìn thấy những cái xấu của Al

Capone do báo chí đăng tải, còn những cái tốt, những việc hay sao không thấy thằng nào nhắc đến hết như việc Al Capone đã mở ba cái tiệm cơm xã hội cho những thằng thất nghiệp ăn uống khỏi trả tiền đã mấy năm nay, phát quà Noel cho các trẻ em nghèo ở khu lao động, đóng tiền xây mấy cái khu vườn chơi cho trẻ ở Chicago v.v … Những chuyện đó sao không có thằng nào nhắc đến hết? Và còn nhiều nữa?

Sao tụi nó bất công vậy?

-Tôi không muốn phê bình, chỉ kể lại cho bạn Al nghe những gì xảy ra ở

quốc hội. Đa số các nghị sĩ mới, nhất là những người trẻ đều cho rằng đạo luật cấm rượu là vô lý, những gì xảy ra trên đất nước Hoa Kỳ chỉ là hậu quả của đạo luật đó. Hiện nay, có một nhóm nghị sĩ đang vận động để hủy bỏ đạo luật cấm rượu vô lý này.

Câu nói cuối cùng của Thượng nghị sĩ Phil làm xấp Al Capone giựt mình.

Xếp nhỏm người tới trước, tròn mắt lại:

-Ngài thấy tụi nó có thể thành công không?

Thượng nghị sĩ Phil gật đầu:

-Hiện thời họ đang gặp phải phản ứng mạnh của các nghị sĩ ở miền Bắc và

miền Trung là nơi bị nhiều ảnh hưởng của tôn giáo, nhưng tôi nghĩ họ sẽ thuyết phục được các nghị sĩ này trong một thời gian ngắn.

Xếp dụi tắt điếu xì gà. Bực tức làm gì cho vô ích, tụi nó ở mãi Hoa Thịnh

Đốn, đâu có gởi người về đó để làm thịt cho hết được. Thượng nghị sĩ Phil nói đúng, Al Capone chỉ là … hậu quả của đạo luật cấm rượu. Nếu cách đây 10 năm không có đạo luật Volstead Act cấm dân nấu, cấm sử dụng và tàng trữ mọi loại thức uống có chất cồn thì đã không có đế quốc Al Capone. Đế quốc đang trên đà phát triễn ngày càng mạnh, người ta có thể diệt được Al Capone này nhưng sẽ có một Al Capone khác xuất hiện ra liền để tiếp tục con đường đang lên của đế quốc. Sẽ không có ai triệt hạ đế quốc này được cả ngoại trừ, phải, ngoại trừ một đạo luật cho phép người ta xử dụng rượu bia trở lại …

Xếp nhíu mày suy nghĩ. Từ lâu, xếp biết một ngày nào đó dân chúng Mỹ

sẽ cho hủy bỏ đạo luật vô lý này nhưng xếp không muốn nó xảy ra quá sớm. Xếp chỉ cần chừng 5 năm nữa, không, đúng hơn là 3 năm thôi, đế quốc Al Capone sẽ có đủ tiền và sức mạnh để trở thành một hãng sản xuất bia rượu lớn nhất trên thế giới, có đủ các chi nhánh tại mọi thủ đô để thao túng thị trường. Xếp biết ngay việc làm trước mắt nên vào đề liền:

-Ông nghị đến thăm tôi chắc có việc cần … bàn?

-Đúng. Ông biết mùa bầu cử lại sắp đến …

Xếp cười:

-Người dân Chicago chỉ cần đếm số lượng mấy ông dân cử ra vào văn

phòng tôi là có thể biết ngày đi bầu đã sắp tới … ha … ha … Mà người ta nói ở đất Mỹ này, chỉ cần trúng cử quá hai lần là từ đó về sau có trốn trong nhà cũng bị dân lôi cổ ra để bầu. Ông đã làm đến bốn nhiệm kỳ rồi, cần gì đến tôi nữa?

-Có thể đúng như vậy … nhưng lần này khác hơn mọi năm.

-Ông bị cái sì căng nào đăng?

-Ông bạn Al Capone quả thật là người cao kiến, cái gì cũng biết hết. Thật

ra, đó là một chuyện tình … buồn.

-Chuyện tình nào chả buồn, nói tiếp đi.

-Năm ngoái, con nhỏ thư ký của tôi … ông hiểu chuyện lửa gần rơm lâu

ngày cũng bén mà, hai đứa chúng tôi trở thành một cặp nhân tình, tôi vô ý nên

em … có bầu.

-Thì có sao đâu, mua cho em căn nhà, cho em vài chục ngàn để em nuôi

con. Chuyện này xảy ra hằng ngày như cơm bữa mà.

-Nếu tôi đã làm vậy thì cũng đỡ. Đàng này, tôi lại ép em đi phá thai. Con

nhỏ nhất định từ chối. Trong lúc bối rối, tôi cho người thuốc cho nó mê rồi đem đi … nạo cái bào thai mấy tháng ra …

Xếp Al Capone nhăn mặt:

-Tàn nhẫn vậy ông nghị? Ông hơn tôi ở cái khoảng này, em còn sống

không?

-Còn! Sau đó, tôi biết lỗi của mình, đã tính ly dị vợ tôi và cưới em để

chuộc lại cái lỗi lầm xưa nhưng em nhất định cự tuyệt. Em coi tôi như kẻ thù truyền kiếp và có thề rằng sẽ làm mọi cách để đưa vụ này ra ánh sáng để tôi không thể ra tranh cử lần sau nữa …

Xếp cắm điếu xì gà vào môi, Guzick lẹ tay châm lửa cho xếp. Vụ này hơi

khó nghĩ. Xếp Al Capone xưa nay chuyên đi ăn thua với dân dao búa, chưa bao giờ ăn thua với đàn bà, đặc biệt với người đàn bà trong hoàn cảnh như vậy.

-Ông muốn tôi làm gì nó?

-Tôi muốn bạn bảo đảm là nó sẽ không mở miệng hay đưa vụ đó lên báo

chí.

Xếp Al Capone ngồi im một lúc, đắm chìm trong sự suy nghĩ. Điếu xì gà

trên tay đã tắt lửa xếp vẫn không biết. Lát sau, xếp nhìn Thượng nghị sĩ Phil, nói chậm rãi từng tiếng:

-Thượng nghị sĩ Phil, ông biết đây là một chuyện rất khó khăn, nói đúng

hơn là vô cùng khó khăn đối với tôi. Giả dụ như ông muốn bắn gục cái thằng nào dám ra tranh cử chống lại ông tôi làm được, hoặc ông muốn tôi đặt một trái bom 500-pound ngay giữa Thượng Viện tôi cũng có thể làm được, nhưng đứa con gái mà ông vừa nhắc đến thật là khó. Khó nhưng không phải không làm được. Trước khi trả lời ông, để tôi hỏi ông coi ngược lại, ông sẽ làm gì cho tôi?

-Tôi sẽ bỏ phiếu chống lại đạo luật bỏ rượu.

Xếp lắc đầu:

-Chưa đủ.

– Tôi sẽ thành lập một ủy ban vận động để đạo luật cấm rượu được tồn tại.

– Khá hơn nhưng vẫn chưa đủ.

-Tôi sẽ bảo đảm với ông đạo luật cấm rượu đó sẽ tồn tại trong một thời

gian nữa …

-Ba năm. Tôi chỉ cần ba năm nữa là xây dựng xong đế quốc Al Capone

của tôi.

-Tôi sẽ cố gắng, hy vọng có thể làm được.

Xếp châm lửa điếu xì gà đã tắt ngấm:

-Còn điều này nữa, ông có thể làm áp lực gì với bên tư pháp không?

-Thời buổi này ông bạn biết, tư pháp rất mạnh, nhưng với tư cách của một

Thượng nghị sĩ, tôi cũng có thể nói chuyện được, mà phải tùy theo chuyện gì mới được.

-Tốt. Ông làm sao kiếm ra một cái cớ gì đó, nói với họ để họ triệu thằng

thanh tra tên là Eliot Ness về lại Hoa Thịnh Đốn. Tôi không ưa thằng đó.

-Eliot Ness, tên này nghe như quen quen .. à phải cái thằng đem cảnh sát

hành quân vô khu hàng của ông không?

-Đúng.

-Nó cũng là một thằng cớm liên bang thôi. Ông đừng giả vờ, xưa nay ông

đã cho bao nhiêu thằng cớm như vậy về chầu diêm chú rồi, sao lại ngán thằng này như vậy?

-Ông Thượng nghị sĩ, xin ông đừng bắt tôi cắt nghĩa. Tôi hỏi ông có thể

làm được không?

Thượng nghị sĩ xích người gần sát Al Capone:

-Ông bạn Al, hồi nãy, tôi đề nghị với ông một việc, ông cho rằng khó. Ông

biết cái chuyện mà ông vừa nói với tôi nó còn vô lý và con nít gấp mấy lần. Ông biết quốc gia Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ chứ không phải là một quốc gia độc tài. Dù là một Thượng nghị sĩ, tôi lấy tư cách gì để bắt họ kéo thằng thanh tra đó về?

-Thì ông cứ nghĩ ra một cái tội gì đó, như là tội xử dụng pháp luật quá nặng

tay hay gì gì đó mà kêu réo lên. Có thể vì sợ tai tiếng, họ có thể kéo nó về. Tôi biết ông có nhiều trò lắm mà.

Thượng nghị sĩ Phil vẫn lắc đầu:

– Không thể được. Chính phủ Hoa Kỳ đâu có làm việc như vậy. Nếu người

đó có tội, pháp luật sẽ trừng phạt họ, tôi lấy thẩm quyền gì …

Xếp Al Capone cắt ngang:

-Nếu ông nghị không đồng ý thì ông có quyền từ chối ngay liền bây giờ.

Coi như chúng ta không có ràng buộc gì với nhau hết.

Thượng nghị sĩ Phil đứng dậy, tiến tới sát bên xếp Al Capone, nói bằng một

giọng rất ân cần, rất tha thiết:

-Al, chúng ta cần nhau. Tôi mong bạn hiểu chuyện đó, bạn dư biết rằng tôi

sẵn sàng làm bất cứ mọi chuyện gì trong khả năng tôi cho bạn vừa ý. Nhưng bạn nghĩ coi, người ta sẽ nghĩ như thế nào khi thấy đương không một ông thượng nghị sĩ nhảy vào bộ tư pháp đòi họ rút một … nhân viên cảnh sát từ Chicago về. Cổ kim chưa có chuyện nào vô lý như vậy. Tôi có thể và có quyền đòi tổng thống thay thế một bộ trưởng tư pháp vì một lý do nào đó nhưng không thể nào có thể đòi bộ tư pháp rút một nhân viên của họ về. Bạn thông cảm cho tôi.

Xếp Al Capone nhìn ông Thượng nghị sĩ mặt vẫn không đổi sắc:

-Vậy thì ông nói thẳng với ông bộ trưởng tư pháp rằng nếu không rút thằng

chó đẻ Ness về thì ông sẽ đòi ông ta từ chức.

Ông Thượng nghị sĩ thở dài, ngồi phịch xuống ghế. Trong một giây phút,

ông muốn đứng dậy bước ra khỏi căn phòng trang trí loè loẹt này. Thằng du đãng này ngu quá sức. Nó cứ tưởng hễ là thượng nghị sĩ thì muốn làm gì thì làm. Nhưng ông không làm thế được. Ông biết thằng Al Capone này không bao giờ tha thứ cho ông việc đó, nó sẽ đoạn giao với ông. Và làm vậy, có nghĩa là cái ghế Thượng nghị sĩ kỳ tới coi như khó giữ vững được.

Xếp Al Capone lại đẩy tới phía ông hộp xì gà mở nắp sẵn:

-Làm một điếu đi rồi trả lời tôi.

Ông Thượng nghị sĩ châm lửa điếu xì gà thứ hai, không chừng chút khói

này sẽ làm ông sáng suốt trở lại. Giọng của xếp Al Capone vẫn đều đều:

-Tùy ông đấy ông Thượng nghị sĩ Phil. Nếu ông muốn hợp tác thì đó là điều

kiện của tôi. Cũng như khi tôi nhận điều kiện của ông, tôi đâu có ý kiến gì đâu?

Thượng nghị sĩ trả lời sau một lúc suy nghĩ:

-Tôi đồng ý là tôi sẽ cố gắng. Còn kết quả ra sao thì tôi xin chịu.

Xếp Al Capone đứng dậy tiễn ông Thượng nghị sĩ ra cửa:

-Tôi biết ông làm được mà ông Phil. Tiểu bang Illinois thường bảo ông là

“người có nhiều quyền lực nhất thượng viện Hoa Kỳ mà … “

Ông Thượng nghị sĩ bắt tay Al Capone rồi gấp rút đi ra cửa, làm như nếu

còn ở lại thêm chút xíu nào nữa thì Al Capone có thể nghĩ ra thêm vài việc khác để “nhờ cậy” vậy. Xếp xoay người nói nhỏ với Guzick đang đứng sau lưng:

-Ông theo dõi vụ này. Giao cho thằng Frank Nitti điều tra coi thử xem con

nhỏ đó ở đâu, làm nghề ngỗng gì, báo cáo gấp.

Guzick ghi trọn những điều xếp nói vào cuốn sổ xong tiến ra mời ông cụ Wt vào. Ông già đã trên 75 tuổi mà vẫn còn lanh lẹ lạ thường. Ông tiến vào phòng,

ngồi xuống cái ghế bành trước bàn giấy xếp bằng một cử chỉ khoan thai, tự tín.

Không chừng coi còn có vẻ ngon lành hơn cha Thượng nghị sĩ hồi nãy.

Cánh cửa phòng đóng lại, ông già từ chối điếu xì gà của xếp Al Capone:

-Cám ơn ông Al Capone, ở tuổi tôi, hút thuốc là tự sát.

-Cụ Wt, Al Capone có thể giúp được cho cụ gì đây?

-Tôi đại diện khu Fleur d’or đến đây, đúng hơn, tôi là chủ tịch của cộng

đồng Fleur d’or. Họ cử tôi đến để nhờ ông giúp cho chúng tôi một chuyện chúng tôi không làm nổi, mà các cơ quan pháp luật cũng chẳng giúp gì được …

-Cụ khỏi cần dông dài, cứ vào đề, tôi xem thử nếu giúp được thì sẽ sẵn sàng.

-Chuyện nó như thế này: Cộng đồng chúng tôi ở xưa nay vốn là một nơi lý

tưởng nhất Chicago. Chúng tôi không giàu, ông biết, nhưng chúng tôi sống đàng hoàng, ai lo chuyện nấy, chăm sóc nhà cửa v.v … Trong suốt hai mươi năm qua, chúng tôi chưa hề có một vụ trộm cắp, một vụ ấu đả hay tai nạn nhỏ nào cả …

Ông cụ nhìn về xa xăm như ráng nhớ lại thưở vàng son yêu dấu.

-Như ông biết, tôi năm nay tuổi đã lớn, tưởng sẽ được yên ổn sống như thế

cho đến ngay giã từ cuộc sống. Nhưng đâu được, cách đây khoảng sáu tháng, có một gia đình không hiểu từ đâu dọn về. Họ mua căn nhà đầu ngõ, của một bà góa bán để về ở với con gái. Đúng ra, tôi phải nói đây là một đảng cướp chứ không phải một gia đình. Gia chủ là một con người khó tánh, dơ dáy, gian ác và say sưa tối ngày …

-Say sưa tối ngày?

– Vâng, để tôi kể tiếp về chuyện say sưa tối ngày này. Mới đầu chúng tôi

cũng chẳng để ý, nhưng chúng nó cứ càng ngày càng lộng hành, nuôi chó nuôi mèo, nuôi luôn cả gà cả ngỗng nữa mới chết chứ. Ông coi, cái khu phố của chúng tôi đẹp như vậy mà chỉ trong vòng vài tháng sau khi bọn nó dọn về, đi ngoài đường nhìn và ông sẽ không còn nhận ra nó nữa. Nó dơ dáy, bẫn thỉu, chó mèo gà vịt chạy khắp xóm … Chúng tôi bèn ngồi lại để bàn tính và cử người đại diện đến nói phải trái cho chúng nó nghe …

Xếp Al Capone gật gù cái đầu.

-Nhưng nào chúng nó có thèm nghe. Chẳng những không nghe, nó còn lấy

súng ra hăm dọa người đại diện của chúng tôi, bảo rằng lần sau mà bước chân vào khu đất nhà nó là nó cho ăn kẹo đồng. Chúng tôi gọi cảnh sát. Họ có tới nhà ngồi nói chuyện với gia chủ nhưng lúc trở ra, thầy nào thấy nấy … uống rượu say mèm, đi đứng lạng quạng nghiêng ngã. Chúng tôi lên gặp ông cảnh sát trưởng thì ông ấy bảo cảnh sát không có thẩm quyền về vấn đề “ăn ở dơ dáy” của người khác. Tôi có đề cập tới vấn đề nấu rượu lậu của thằng này, cảnh sát bảo họ không có đủ nhà tù để nhốt hết những người nấu rượu lậu …

-Bác cho tôi địa chỉ của thằng đó đi. Ông muốn chúng tôi giết nó chết hay

làm gì?

Ông cụ già nhảy lên như người ngồi trúng một hòn than nóng:

-Không không, xin đừng giết nó, tôi chỉ muốn làm sao mà nó dọn ra khỏi

khu chúng tôi đang ở là được rồi. Chúng tôi có người sẵn sàng mua lại cái nhà nó đang ở với giá phải chăng hoặc mắc hơn cũng được. Chúng tôi chỉ muốn bảo vệ và làm đẹp cái khu phố của mình thôi.

Xếp quay sang Guzick:

-Giao chuyện này cho thằng Frankie Rio, bảo nó làm đúng như lời bác nói

đây. Nếu nó cứng đầu quá thì tùy ý mà hành động. Chicago này có chết thêm một thằng “ăn ở dơ dáy” lại biết nấu rượu lậu nữa cũng chẳng sao.

Cụ già bây giớ mới đề cập đến vấn đề khó khăn nhất:

– Thưa … thưa ông Capone, để đền ơn ông, xin ông cho biết chúng tôi phải

làm gì để đền ơn ông ạ?

Xếp xua tay:

-Ôi, ơn nghĩa gì một cái chuyện cỏn con này. Tôi nghĩ đây là một bổn

phận công dân nhỏ, một “Civic Duty” mà tất cả mọi người phải đóng góp. Nhưng trong tương lai, nếu thằng AI Capone có cần gì, chúng tôi sẽ đến nhờ bác sau. Nhé.

Ông già cầm mũ đứng dậy từ giã xếp. Bắt tay ông cụ, xếp Al Capone để ý

thấy bàn tay ông ta run lên bần bật, bèn trấn an:

-Nói vậy thôi chứ tôi cũng chẳng bao giờ dám phiền đến bác đâu. Bác lớn

tuổi rồi, nên tận hưởng cuộc đời còn lại của bác.

Ra tới cửa, xếp bảo một thằng cận vệ:

-Mày lấy cho tao hai chai Whiskey Canada để tao biếu cụ, nhớ lấy thứ

ngon nhất. Nhờ cụ gởi lời chào của Al Capone này đến cộng đoàn của cụ nhé.

Ông cụ ôm hai chai rượu quý, cám ơn hai ba lần trước khi ra về. Xếp nhìn

Oliver Randal, sắp sửa ngủ gục trên cái ghế vì chờ đợi lâu quá:

-Phần quan trọng nhất là người bạn của tôi, mời ông bạn Ollie vào đây.

Trong văn phòng, sau một tua rượu, xếp vỗ nhẹ nhẹ vài vai Oliver Randal:

– Tôi có chuyện này muốn nhờ ông.

-Xếp biết tôi luôn luôn sẵn sàng với xếp mà.

-Good! Lần này cũng là một chuyện liên quan đến thằng Ness. Tôi muốn

ông lên gặp nó cho tôi.

Oliver Randal giựt mình, suýt tí nữa thì té xuống ghế. Nó biết xếp không

nhờ nó xách súng đi săn thằng này. Dưới tay xếp có cả bao nhiêu thằng để lo những việc như vậy. Hay là xếp muốn mình ôm một cái cặp táp đầy bom để tới gặp nó?

Hay mang thuốc độc tới thuốc nó. Oliver Randal không dám nghĩ thêm.

Xếp nhìn thấy vẻ mặt hốt hoảng của Oliver Randal, cười lớn:

-Bình tĩnh lên chút xíu ông bạn. Al Capone này không có nhờ ông bạn làm

gì nguy hiễm đâu.

-Xếp muốn tôi làm gì nó?

-Tôi muốn nhờ ông xách một … va li bạc lên gặp nó.

Thì ra thế, Oliver Randal thở phào nhẹ nhõm. Gì chớ ngoại giao liên lạc là

sở trường của nó mà.

-Thì xếp muốn nhờ gì, tôi có bao giờ từ chối đâu? Nhưng báo cho xếp biết,

thằng này không thuộc vào hạng dễ mua đâu.

Xếp đứng dậy, nụ cười trên môi im bặt. Xếp tới bên cửa sổ, nhìn xuống

đường:

-Tất cả mọi người, … mọi người, ai cũng vậy, đều có thể mua được. Cái vấn

đề là ta có chịu trả đúng giá hay là không?

Xếp hỏi thằng Guzick:

-Ông định giá nó bao nhiêu?

-Lần đầu, 50 ngàn đô. Chúng ta chưa bao giờ ra mắt ai bằng cái giá đó.

Sau đó, tùy theo công việc, có thể hơn.

-Oliver Randal, ông nghĩ sao?

-Dạ xếp, tôi thấy cái giá đó có hơi quá. Theo tôi, cỡ 20 ngàn là đủ.

Xếp ngậm điếu xì gà vào miệng, đưa tay ra dấu cho thằng cận vệ đứng sát

bên cạnh vừa chìa cái hộp quẹt ra khỏi cần mồi lửa:

-Giá bắt đầu của nó phải là 200 ngàn.

-200 ngàn?

-Không thể ít hơn 200 ngàn được.

Guzick tính phát biểu một câu gì, xếp Al Capone ra dấu cho hắn:

-Quí vị có biết tại sao Al Capone này từ một thằng không ra gì, chỉ trong

mười năm mà xây dựng được một đế quốc to lớn như thế này không? Tôi đã nói nhiều lần, đã nhấn mạnh hàng trăm lần là cái bí quyết của sự thành công là biết lúc nào cần phải tiến, lúc nào cần phải lùi, biết chi đúng chỗ, và chịu chi chớ không tiếc tiền. 200 ngàn đô la, lớn thật, nhưng so với một đế quốc như đế quốc của mình thì 200 ngàn có đáng vào đâu?

Guzick cho ý kiến:

-Đồng ý rằng nó quan trọng, nhưng dù có tài giỏi đến đâu nó cũng chỉ là

người, một người như bao người khác, tại sao chúng ta lại phải trả giá nó cao quá.

Xếp biết trên Hoa thịnh Đốn họ còn thiếu gì thằng như thằng Ness này? Nếu mỗi tháng họ cứ gởi xuống đây một thằng như nó thì mình làm gì còn tiền để trả cho hết?

Xếp búng tay. Cái bật lửa trong tay thằng cận vệ mở ra nghe đến cách một

tiếng cho xếp mồi điếu xì gà. Xấp nói qua hơi khói:

– Không. Sẽ chẳng có thằng cớm nào như thằng Ness này cả. Cả Hoa

Thịnh Đốn, cả nước Mỹ này chỉ có mình nó. Nó là một thứ siêu nhân. Để tôi hỏi thiệt quý vị cái này, quý vị có bao giờ tin vào cái mà người ta gọi là linh tính không?

Không ai trả lời.

-Linh tính là một cái gì siêu phàm, là một cái gì mình biết mà khoa học

không thể cắt nghĩa được. Những nhà lãnh đạo giỏi trời đều cho một cái linh tính đặc biệt. Lăn lộn giang hồ đến nay gần ba chục năm, sỡ dĩ tôi còn sống được đến ngày hôm nay là nhờ trời phú cho một cái linh tính đặc biệt. Đã bao nhiêu lần, thằng này đã thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, thoát một cách lạ lùng làm như có bàn tay vô hình bí mật nào giúp đỡ mà không ai hiểu hay cắt nghĩa được.

Cả phòng vẫn im lặng. Xếp đi đi lại lại, tiếng chân gõ trên nền nhà nghe cồm cộp:

-Trước khi thằng Ness xuống đây, tự nhiên tôi đã cảm thấy có một cái gì

kỳ lạ sắp sửa xảy ra. Một mối lo lắng lạ lùng, bất thường, không hiểu đến từ đâu. Một buổi sáng, khi nhìn thấy cái mặt thằng Ness trên báo, tôi biết nó chính là cái mà tôi đã lo sợ từ bao lâu nay. Coi, nó chỉ là một thằng cớm như bao thằng khác. Đời tôi, nói về cớm thì chính tay tôi đã bắn chết vài thằng, còn ra lệnh thủ tiêu thì cũng ít nhất chục thằng, có bao giờ lại thấy sợ hay lo lắng gì đâu?

Xếp tới bến quày rượu, rót một ly:

-Cái đó tôi không thể nào hiểu được. Nghe tin nó đến từ New York là tôi

gởi Oliver Randal lên đó liền để điều tra thử xem thằng này có đáng sợ không? Linh tính của tôi không lầm. Nó là thằng rất đáng sợ. Luciano có nhắn với tôi là nếu không mua được nó thì nên giết liền tức khắc, vì nó hành động rất lẹ và khôn ngoan vô cùng. Băng của thằng Galverio ngon lành như vậy mà chưa kịp ra tay đã bị nó đập cho tơi bời hoa lá, chỉ thủ chứ không có công được và cuối cùng bị dẹp tan. Ba mươi mấy đứa ra tòa với tổng số án tù là gần 500 năm chia đều cho tất cả. Nhiều thằng bị bắn gục ngay tại bến tàu, còn thằng Galverio thì bị đàn em nó còng tay lại rồi … thảy xuống sông. Nếu nó còn ở thêm New York chừng một năm thì không những thằng Luciano mà ngay cả đến “ngũ đại gia đình New York” cũng sẽ bị khốn đốn.

Oliver Randal đứng lên rót một ly cognac. Hắn tính hỏi “sao xếp không ra

tay thịt nó liền đi, để lâu làm gì” nhưng không dám. Hắn ráng giữ đúng cương vị của một người mua bán bất động sản, không xía vào chuyện người khác, nhất là những chuyện có dính dáng đến máu như vầy.

-Cách đây mấy tuần, khi Oliver Randal vừa về, tôi thấy khó mà mua nó

được nên đã tính cho thằng Frank Nitti đi làm thịt ngay ngày hôm đó. Chúa còn

thương nó. Đang tính toán thì tôi bị lên cơn bệnh nằm liệt giường mấy ngày liên tiếp, khi khỏe khoắn thì lại quên luôn ý định của mình. Vậy bây giờ, Oliver Randal, tôi muốn nhờ ông xách cái va li bạc này lên gặp nó.

-Tại đâu?

-Đâu cũng được, cái đó tôi để tùy ông.

-Theo lời xếp nói chắc khó mà mua nó nổi nhưng tôi sẽ cố gắng.

-Cố gắng và đừng nản chí. Nếu nó chê 200 ngàn, mình sẽ tăng số tiền.

-Nếu nó cũng không chịu?

Xếp Al Capone nhíu mày, nhìn ra khung cửa sổ:

-Lúc đó mình không còn cách nào cả.

Đang bước, xếp bỗng dừng chân, giơ cao cái ly đang cầm rồi thả cho nó rớt

xuống nền nhà. Cái ly vỡ tung nghe đến xoảng một cái, rượu văng tung tóe khắp nơi.

-Sự nghiệp của mình, nói đúng ra là cái đế quốc mà mình đã đổ máu ra

trong mấy chục năm để xây dựng, không thể nào để cho nó vỡ tan như ly rượu này được. Không bao giờ …

Alaska đi về xứ tuyết

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on August 5th, 2022

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Kỳ cuối

Được các tạp chí du lịch đánh giá là một trong những tiểu bang đẹp nhất của nước Mỹ, Alaska vẫn đang chào đón những du khách muốn tìm thấy những vẻ đẹp hoang sơ và thô nhám của thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên cũng không là điều vĩnh cửu và cần sự quan tâm của con người để giữ gìn trọn vẹn cái đẹp của nó. Chuyên mục xin kết thúc loạt bút ký du lịch trên số báo hôm nay qua một đôi cảm nhận về thiên nhiên mà hành trình đi về xứ tuyết Alaska đã mang lại.

Kỳ cuối

Alaska, bài học về thiên nhiên

Khi chở du khách về lại bến cảng sau chuyến dạo quanh  thành phố và công viên quốc gia, người tài xế kiêm hướng dẫn du lịch giới thiệu thêm cùng chúng tôi một vài nhà hàng quanh bến cảng và ngay khu trung tâm thành phố Juneau. Giới thiệu vài nhà hàng hải sản lẫn giá cả, ông giải thích thêm lý do tại sao cua cá Alaska đang mắc hơn. Tất nhiên ngoài việc đắt đỏ của những điểm du lịch, Jon – một nhân viên chính phủ lâu năm đã nghỉ hưu và làm thêm công việc hướng dẫn du lịch trong dịp Hè bảo rằng, bởi Alaska đang ấm hơn.

Nhiệt độ có tăng hay giảm một đôi độ có thể là chuyện thay đổi khí hậu thông thường về mặt địa lý và với con người. Nhưng chỉ cần sự thay đổi nhỏ nhiệt độ nước biển đã có thể ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái trong lòng đại dương. Jon bảo nước biển Alaska ấm hơn đã làm các loài tôm cua, cá biển di chuyển lên mạn Bắc xa hơn để tìm nhiệt độ thích hợp và quen thuộc với chúng. Việc đánh bắt hải sản do vậy có phần khó khăn và khan hiếm hơn, dẫn đến việc giá cả tăng theo.

Xe bus chở du khách đến công viên băng hà quốc gia Mendenhall.

Ra vậy! Câu chuyện của ông khá tự nhiên và không hề mang ngụ ý đến vấn đề to lớn nào khác. Nhưng nó khiến tôi liên tưởng đến một vấn đề toàn cầu được nhắc đến nhiều trong những năm qua: sự biến đổi khí hậu.

Một số người có thể xem câu chuyện biến đổi khí hậu là chuyện xa xôi hay là việc muôn đời của tự nhiên nhưng thật ra nó có ảnh hưởng thật sự đến hệ sinh thái và rồi đến con người như Jon nói là điều tất nhiên.

Cảng Victoria tại Canada, điểm dừng cuối của các du thuyền Alaska.

Nếu nhìn vào những cơn hạn hán hay các trận bão lụt ngày càng dữ dội và thường xuyên hơn ở khắp mọi nơi trên quả địa cầu này thì đó không là câu chuyện giả tưởng hay bị thổi phồng. Tương ớt Sriracha tăng giá hay thậm chí thiếu hụt trong mùa Hè này được nhà sản xuất bảo rằng hạn hán đã làm mất mùa loại ớt chỉ chuyên để chế biến tương ớt này. Con người sẽ khó lòng chống chọi thiên nhiên nếu không nhìn ra nguyên do cùng vấn nạn của nó mang lại.

Tại công viên quốc gia Mendenhall, trong trung tâm đón du khách có để những hình ảnh và thước phim chạy chữ rằng, vài chục năm trước tòa nhà này nằm ngay gần sát dải băng hà. Nhưng hiện nay nó đã tan dần, cách xa bờ đất liền chúng tôi nhìn ra cũng một đôi dặm.

Cáp treo đưa du khách lên núi ngắm cảnh

Ði một ngày đàng, học thêm đôi điều ngoài lý thuyết hay sách vở. Tại khu vực Hubbard Glacier, tôi mới thật sự hiểu ra tại sao có những tảng băng trôi lững lờ giữa đại dương nhiều như vậy. Khi du thuyền tiến gần hơn ngọn núi tuyết, du khách nghe những tiếng ầm ầm như sấm nổ và có thể chứng kiến được nhiều vách băng đang sụp đổ xuống biển. Phải những tảng băng to lớn lắm mới gây nên tiếng sấm động nghe được từ xa. Các tảng băng đó trôi ra biển rồi tan dần khi gặp vùng nước ấm hơn. Tuyệt tác của thiên nhiên đang bị tan vỡ dần dần. Chúng sẽ tồn tại bao lâu nữa không ai biết được.

Vài ngày trước chuyến khởi hành của chúng tôi, báo chí đưa tin một du thuyền Alaska đã va phải một tảng băng khá lớn. Nó không gây thiệt hại cho thuyền nhưng do tuân thủ các yêu cầu an toàn nghiêm ngặt cho du khách, du thuyền phải tấp vào lại Juneau và hủy hải trình còn lại, cũng như đưa thuyền vào ụ khi về lại Seattle để thẩm định trước khi cho thuyền tái hoạt động. Nó làm lỡ dịp của các du khách trên tàu và các chuyến kế tiếp, có cả đứa cháu trai tôi lẽ ra cũng sẽ lên tàu trong chuyến đi ngay sau đó.

Câu cá hồi

Chuyện các quần đảo băng sơn Alaska và những nơi khác trên quả địa cầu này đang tan dần và tan nhanh so với vài chục năm trước thật ra có ảnh hưởng gì đến chúng ta? Nó có quan trọng hơn chuyện lạm phát, giá xăng tăng giảm hay thiếu tương ớt Sriracha?

Thưa có! Và đó là sự giải thích và mối quan tâm của khoa học, trí tuệ của loài người.

Nhà hàng giới thiệu cua Alaska sống cho du khách

Khoảng gần ba phần tư bề mặt quả địa cầu được bao phủ bởi đại dương và hơn 10% đất liền là các dải băng hà hay những ngọn băng sơn. Khi các sông băng và những ngọn núi tuyết này tan chảy, chúng làm tăng mực nước biển, xói mòn bờ biển. Sự thay đổi về áp suất, nhiệt độ, thủy triều, hải lưu… do điều này gây ra như vậy đã tạo ra những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đại dương cũng như có thể gây nên các trận sóng thần, cuồng phong hay mưa lũ cuồng nộ nơi này và hạn hán khắc nghiệt chỗ khác trên trái đất.

Và các thiên tai này tấn công ngược lại vào chính đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Ðó là sự đình trệ trong khai thác, vận chuyển xăng dầu, tôm cá, lương thực thực phẩm hay thất bát mùa màng mỗi khi thiên tai xảy ra. Nhiều người ắt không quên hình ảnh những hàng xe dài xếp hàng đổ xăng trong những trận bão lớn.

Nhân viên một tiệm hải sản đang luộc càng cua Alaska

Phần lớn các núi tuyết nằm tại Greenland và Nam Cực, Alaska hay Bắc Cực chỉ là một phần trong nhóm này. Tuy nhiên Bắc cực là khu vực được các nhà khoa học ghi nhận là đang ấm nhanh hơn bất cứ khu vực nào trên quả địa cầu. Kỹ nghệ đánh bắt thuỷ hải sản là kỹ nghệ quan tâm đến điều này nhất nên thường lên tiếng cảnh báo về nó vì trực tiếp ảnh hưởng đến công việc của họ cùng nguồn cung ứng cho người tiêu thụ.

Môi trường thay đổi, tôm cá hay động vật hoang dã cũng thay đổi bản năng tự nhiên của mình. Các nhà khoa học bảo rằng việc thay đổi khu vực sống hay thời gian sinh sản của tôm cá cũng là hệ lụy tất nhiên. Ðó cũng là lời người hướng dẫn du lịch nhắc đến việc tôm cua chuyển dời vùng sinh sống trong câu chuyện đời thường.

Du khách xếp hàng trước một tiệm hải sản

Tôi không kết thúc bút ký du lịch của mình khi kể thêm về dăm điều thú vị nào đó trong hành trình Alaska mà chia sẻ riêng đôi điều cảm nhận được về thiên nhiên từ chuyến đi. Bởi cũng có thể có người sẽ bảo rằng, chỉ cần mở phim ra là bạn có thể thấy được vô số điều ngoạn mục khác, có cần gì phải lặn lội đi xa. Cũng xác đáng! Xét theo cách sống và suy nghĩ của mỗi người.

Nhưng cho riêng tôi, tầm mắt của mình nếu bị giới hạn chỉ đến cái màn hình chiếc máy điện toán, cái truyền hình hay màn ảnh điện thoại thì cũng khó cảm nhận hết được sự kỳ vĩ của thiên nhiên để có sự trân trọng hay ý thức bảo vệ nó, hay vô số điều khác nói chung.

Tác giả tại Ketchikan, nơi được mệnh danh là thủ phủ cá hồi của thế giới

Ngạn ngữ của những người thổ dân da đỏ bảo rằng, “Chúng ta không thừa hưởng trái đất này từ tổ tiên mà chúng ta đang vay mượn nó từ con cháu”. Bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên, chống chọi lại những bất trắc của đất trời, chúng ta sẽ trả lại cho những thế hệ tương lai một thiên nhiên còn nguyên vẹn, không bị tàn hủy quá nhiều bởi bàn tay con người.

Xin tạm biệt Alaska! Cảm ơn những cố gắng gìn giữ cái đẹp để những du khách như tôi được một lần chiêm ngưỡng và học hỏi thêm đôi điều trong một lần đi về xứ tuyết.

Ráng chiều giữa đại dương

ĐYT

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Phần 8

Ngài Chủ Tịch
Sang 16 tuổi, da hơi đen, khuôn mặt ốm và cặp mắt, đặc biệt cặp mắt, thật sắc, trong đó tiềm ẩn một chút bóng tối, một chút hận thù, một chút toan tính, một chút lạnh lùng. Nét mặt Sang giống như đúc khuôn mặt người thanh niên Việt Nam trẻ, đứng lạc lõng giữa một buổi Hội nghị đông người, trang trọng, như là một kỹ thuật ghép hình kém tinh vi, của những thành viên Đệ nhị Quốc tế Cộng Sản tại Pháp. Rất ít người có loại khuôn mặt nầy, và đặc biệt là đôi mắt. Thật khôi hài khi những đồ đệ cuồng tín của Ngài nhìn vào phim ảnh treo dán khắp nơi lại quả quyết đôi mắt Ngài có bốn con ngươi! Đôi lúc nhìn ngắm Sang, tôi không ngăn được sự liên tưởng kỳ cục là tôi đang đi chung với Đồng chí Chủ tịch HCM và biết đâu thời Đồng chí Chủ tịch còn nhỏ, bỏ Việt Nam đi giang hồ, làm bồi bếp và đủ thứ nghề lao động khác khắp thế giới, Ngài cũng giống như Sang bây giờ, đang trên đường vượt biên đi Thái.

Tôi nhớ tới Bác, một trong những người sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp nhưng không phân biệt được giữa Quốc tế Ba và Quốc tế Hai, phải nhờ một nữ đồng chí Pháp giải thích. Bác, một nhà thơ vĩ đại đã được đàn em bồi bút đánh bóng quá trớn thành chơi xỏ trong một bài nhận định Kiều Trong Thơ Bác. Có nghĩa là Bác đã đạo thơ của Nguyễn Du một cách trắng trợn, một cách lố bịch. Một Bác mà theo các người đồng thời đã tiết lộ, được nổi tiếng chỉ nhờ lì lợm và quỉ quyệt. Số là khi hoạt động tại Pháp, một số Nhà Ái quốc Việt Nam đã xuất bản một tờ báo để đấu tranh và dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc để nói lên lòng yêu nước. Vì tờ báo thường đụng chạm đến nhà cầm quyền đô hộ Pháp nên thỉnh thoảng vẫn bị theo dõi và bắt bớ. Nhờ lì lợm và gan dạ, bác Hồ đã tình nguyện tự nhận là Nguyễn Ái Quốc để đi ở tù thế cho các Nhà Cách mạng dùng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc khác. Không ngờ, nhờ thành tích ở tù nhiều, bác Hồ dã được Đảng Cộng Sản Pháp lưu ý và sau đó được Đảng Cộng Sản Nga thu dụng, trong khi thực sự lúc đó Bác chẳng có tài cán gì ngoài nghề tình nguyện đi ở tù thế thay vì vất vả mưu sinh.

Từ tên Nguyễn Ái Quốc bất đắc dĩ, lý do sau nầy Bác đổi sang tên Hồ Chí Minh còn ly kỳ không kém. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc vâng lệnh quan thầy về Quảng Châu hoạt động, bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam. Cụ Phan Bội Châu và Nguyễn Hải Thần đứng ra can thiệp giúp trả tự do và giới thiệu cho cụ Hồ Học Lãm, bí danh Hồ Chí Minh (mất năm 1942). Sau nầy khi bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa truy lùng, Nguyễn Ái Quốc đã dùng thông hành “Hồ Chí Minh” của cụ Hồ Học Lãm đi trốn và từ đó chính thức đổi tên thành Hồ Chí Minh. Bác đã mạo nhận tên của người chết, tự nhận là Hồ Chí Minh và thay đổi tên Đảng Cộng sản thành Việt Minh, lập lờ đánh lận con đen, nhờ thế mà nhiều đảng phái và lực lượng khác đã hậu thuẫn Bác đánh đuổi thực dân Pháp, và sau nầy Bác cướp công rồi tiêu diệt dần các thành phần khác để đưa đất nước vào quỹ đạo Cộng sản. Một Bác trong thời gian ở tù tại Thượng Hải chỉ có một niềm khoái lạc lớn nhất: Mỗi lần được kêu lên điều tra lại đi mót các đót thuốc thừa vứt dọc đường và vừa tự nguyện “khai thật, khai rõ” vừa xin xỏ để được quan thẩm vấn “bồi dưỡng” vài điếu thuốc thơm thỏa mãn cơn ghiền!

Phải phục cái tài của Bác, một người Việt Nam bình thường chỉ nhờ dùng tên tuổi của người khác và chịu khó đi ở tù thế mà sau nầy cũng có khả năng làm nên nhiều chuyện kinh hoàng đáng bị Trời tru Đất diệt và đáng bị lịch sử nguyền rủa tội rước voi dày mã tổ nhưng lại được đồ đệ vẽ vời và đánh bóng bằng những huyền thoại tưởng tượng cao tít tận trời xanh. Với tôi, thật khó mà dứt bỏ được cái ám ảnh về hình ảnh một người tù đi xin thuốc cai ngục, dù chữ xin được dùng văn vẻ thành chữ biếu, bởi những hình ảnh nghiện ngập vẫn xảy ra hàng ngày trong các nhà tù, bởi những vẻ mặt, điệu bộ thê thảm, tồi tàn, đôi khi đê tiện của những kẻ đi xin thuốc, hoặc chầu rìa để được kéo một hơi thuốc mà tôi đã thường chứng kiến. Con người có ý chí mạnh không bao giờ bị lệ thuộc bất cứ một thứ gì cả.

Và một Bác theo sự phân tích của các Nhà Tư tưởng Việt Cộng đã bị nền văn hóa thực dân kiểu mới bôi nhọ qua hình ảnh một Nhạc Bất Quần, một Đông Phương Bất Bại trong các tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Không biết khi viết các cuốn truyện một thời nổi tiếng kia về các giáo chủ của các môn phái tà đạo mà hầu hết đều bị bệnh đồng tính luyến ái, Kim Dung có định ám chỉ Bác hay không, nhưng rõ ràng thực sự trong con người Bác phải có một cái gì đó bất bình thường, đặc biệt mà các đệ tử của người biết rõ, nên có tật giật mình, họ cứ bị ám ảnh với ý nghĩ là Kim Dung đã cố tình vẽ chân dung của Bác trong các nhân vật chính độc đáo của mình. Hay cũng có thể như tác giả bài Kiều Trong Thơ Bác, người viết bài chỉ trích Kim Dung cũng lại là một tay chơi xỏ, giả vờ công kích Kim Dung với ý đồ hé mở một chút bí mật về đời tư của Bác để cho bàng quan thiên hạ biết chơi.

Bác có đồng tính luyến ái hay không, chỉ có Bác biết và các người thân cận Bác biết, bởi vì trong các xã hội Cộng Sản, tất cả những điều bất lợi đều được dấu kín như mèo dấu cứt. Ngay chính chuyện lãnh tụ họ còn sống hay đã chết, tình trạng súc khỏe thế nào, thì các nhà báo, các viên chức phương Tây đầy kinh nghiệm cũng chỉ có thể đoán mò qua sự vắng mặt của họ trong các dịp lễ quan trọng mà thôi.

Bác có mắc bệnh đồng tính luyến ái hay không, chuyện đó ta chưa thể hàm hồ công nhận ngay như các tin đồn hoặc các bài viết nói bóng gió về Bác. Nhưng chuyện rõ ràng nhất, có bằng chứng xác thật, đó là Bác đã một thời làm đơn xin theo học tại Pháp với ý đồ trở thành một viên chức tay sai Pháp để trở về thuộc địa Việt Nam giúp nhà cầm quyền bảo hộ Pháp cai trị dân chúng Việt Nam. Nếu thời đó chính phủ Pháp thu nhận Bác, chắc chắn lịch sử Việt Nam và Đông Dương đã hoàn toàn thay đổi hẳn. Bị từ khước, Bác nổi giận vì bất bình và trở thành người quyết liệt chống Chế độ Thực dân Pháp, rồi bỏ qua Nga Sô tầm sư Lénin học đạo.

Trong bài Một Ngôi Trường Cho Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh), nhà văn Nguyên Vũ đã sưu tầm được lá đơn viết tay xin đi học của Bác còn cất giữ tại thư viện Pháp để cho chúng ta thấy được một khía cạnh đặc biệt về Hồ Chí Minh. Dù Hồ đã chết, nhưng ảnh hưởng ghê gớm của đầu óc một kẻ gian hùng giờ phút nầy vẫn còn ám ảnh không chỉ Việt Nam, Đông Dương, mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Vượt Ngục Nhà Tù 7708 

Để tránh buồn ngủ nhưng lại ru cho kẻ khác dễ ngủ, tôi kể một chuyện dài từ tác phẩm bằng tiếng Anh Jane Eyre. Câu chuyện có những tình tiết kinh dị, những tiếng gọi ma quái âm vọng qua không gian của người tình si, một mối tình đầy ngưỡng mộ và thần phục. Khi tôi ngân dài chữ Jane Eyre, Jane Eyre, Jane Eyre, đồng hồ chỉ 11 giờ tối, phần lớn mọi người đã ngủ say. Tôi lướt sang phần kết thúc để dìu số còn lại vào cơn buồn ngủ. Tôi dừng lại, tằng hắng, chẳng ai thúc giục tôi kể tiếp, thế là xong. Quen với ánh sáng chói chang của ngọn đèn điện bực bội mỗi đêm, lần đầu tiên nằm trong bóng tối, sự êm dịu, mát mẻ, thoải mái giúp giấc ngủ đến sớm và ngon lành. Hôm nay cái chỗ người bỏ trốn lại là chỗ nằm tốt nhất, sạch sẽ nhất, nên được nhiều người tranh giành. Tôi gợi ý dàn xếp:

—Người bị nằm chỗ tồi nhất sẽ được ưu tiên một. Chỗ tồi nhất là chỗ cánh cửa sổ vì hàng ngày nước canh, nước cá, nước cháo, nước uống chuyền qua đó nên thường dơ dáy và bận rộn.

Sau khi người này dời qua chỗ mới, tôi làm bộ nhân nghĩa:

—Để tao nằm chỗ cửa sổ mấy hôm xem thử có chết thằng Tây đen nào không mà tụi mầy lại chê bai, né tránh dữ vậy.
Chẳng ai can mà họ còn mừng vì được lấn một tí qua chỗ nằm sạch sẽ của tôi. Thật tiện, thật may, nhờ nằm ngay cửa sổ, tôi dễ dàng làm công tác của mình. Tôi nắm lấy thanh sắt số 1, dùng sức kéo ra. Thanh sắt chỉ rung nhẹ. Tôi tiếp tục kéo, thanh sắt chỉ chuyển dịch vài ly. Tôi leo lên cửa sổ. Dùng sức nặng của người, sức kéo của tay, sức đạp của chân để đu, nhún và kéo. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, thanh sắt chỉ chuyển dịch hai phân. Tay tôi đã phồng và chảy máu. Tôi quá mệt, thở dồn dập, cảm thấy bất lực. Độ dày và cứng của sắt vượt ngoài khả năng. Bỗng có ánh đèn dầu lập lòe và rõ dần. Đã đến chu kỳ hai tên gác đi tuần — khoảng nửa giờ các tên gác lại đi vòng chung quanh để kiểm soát. Trước kia Bộ đội gác dùng đèn pin, trừ những lúc cần rọi sáng một vật gì nghi ngờ để xem xét, họ thường đi yên lặng trong bóng tối, vì thế có lúc họ đến gần vẫn không hay. Mấy hôm nay, chẳng hiểu vì lý do gì họ lại dùng đèn dầu. Nhờ thế, dù không nghe tiếng động, ánh đèn dầu báo hiệu trước để tôi ngưng công tác. Trong suốt thời gian bẻ cửa sắt, tôi phải ngưng nhiều lần chờ họ.

Thể thức tuyển Công an và Cai ngục của Cộng Sản có nhiều điểm khác biệt, Cộng Sản ít chú ý đến thể lực, võ nghệ hay khả năng bắn súng, họ chỉ cần trung kiên, mặc dù khẩu hiệu cố hữu “Hồng và Chuyên” (Red and Expert) được lập đi, lập lại trong các bài diễn văn. Hai tên gác tối nay là thí dụ điển hình. Ngay từ chiều, tôi đã để ý họ. Thật tức cười khi thấy hai chú oắt con trong bộ đồ Bộ đội rộng thùng thình, mang hai khẩu AK lòng thòng kéo lê trên mặt đất. Tôi không quá tự tin, nhưng có cảm tưởng có thể dùng hai tay bóp cổ hai chú cùng một lúc. Với loại lính gác nầy, chỉ cần ra tay là hạ đo ván trong tích tắc.

Trong phút thất vọng, tôi quyết định hủy bỏ kế hoạch, leo lên cửa sổ ép thanh sắt về vị trí cũ. Khổ thay! Kéo ra đã khó, ép lại còn khó gấp nhiều lần vì lúc ép vào, tôi chỉ dùng được sức tay phải, còn tay trái dùng bám vào cửa sổ, sức ép vào bằng một phần ba sức kéo ra. Thật là tấn thối lưỡng nan, kéo ra không được, đẩy vào cũng không xong. Cứ tình trạng thế nầy, sáng mai tụi gác khám phá ra, sẽ đập cả phòng ngất ngư cho đến khi tìm ra thủ phạm và điều chắc chắn tôi không bao giờ để cho người khác bị đòn oan vì việc làm của mình.

Tưởng tượng sáng mai nằm sóng soài giữa sân, dưới những trận đòn thù, bị nhét vào phòng tắm hơi của Phòng Kỷ luật, và xa hơn, Khám Chí Hòa tại Sàigòn. Chưa ai từng vượt ngục thoát khỏi khám Chí Hòa, hoặc chưa ai từng dám nghĩ đến chuyện đó, trừ trường hợp Điền Khắc Kim, một tay anh chị nổi tiếng, mua chuộc và được bọn cai ngục lén dấu trong thùng đựng rác giúp đi trốn. Qua bao nhiêu thời đại thuộc địa, nền văn minh của các nước thực dân, đặc biệt nền văn minh về kỹ thuật xây dựng nhà tù, đã củng cố và thiết kế khám Chí Hòa thành một nhà tù bất khả vượt ngục.

Tôi nghĩ đến nhà tù Lam Sơn, nhà tù A30… Tôi nghĩ đến những Đồng bào, những Chiến hữu yêu mến và tin cậy tôi: Giữa cái chết danh dự và cái sống nhục nhã, tôi chọn cái chết, bởi vì đã từ lâu tôi không còn có thói quen sống riêng cho bản thân mình nữa. Cái tên tuổi đó đã trở thành niềm tin, niềm hãnh diện của tập thể Tù binh, của Tuổi trẻ nhiệt thành của các thị trấn vùng duyên hải.

Lý tưởng và ý chí đã động viên toàn bộ nghị lực và sức lực dự trữ tiềm tàng trong người. Tôi dùng quần đùi vải dày lót tay cho đỡ đau và bắt đầu công tác trở lại. Kỳ lạ thay, quyết tâm hy sinh, lý tưởng và ý chí đã động viên toàn bộ nghị lực và sức lực dự trữ tỉềm tàng trong người… Tôi tiếp tục nhún, đu, trì, kéo… Những hình ảnh khủng khiếp của ngày mai bi thảm đã có tác dụng hữu hiệu. Thanh sắt chuyển động, nới dần. Tôi tiếp tục nhún, đu, trì, kéo. Ước gì lúc nầy có thanh sắt lớn để làm đòn bẫy, tôi mơ mộng. Tình trạng thật khả quan. Thanh sắt đã bung ra gần một gang tay kể từ múi hàn, từ vị trí nầy tôi có thể đẩy trở lại tương đối nhẹ, kéo ra, đẩy vào, động tác càng lúc càng nhanh, càng nhẹ dần.

“Koong…” Tiếng kêu chát chúa của sắt gãy xé tan màn đêm tĩnh mịch. Tôi suýt bị té bật ngửa xuống nền nhà bởi mất điểm tựa bất thình lình. Có tiếng giày botte de saut ùng ùng chạy lại. Ngọn đèn dầu run rẩy chập chờn:

–  Cái gì đó? Cái gì đó?

Hai tên Bộ đội gác quát lớn khi vừa đến cửa chính ra vào. Tôi đã nằm xuống nền nhà, tay cầm “bi đông con rùa nước” đập mạnh xuống nền đá hoa. Nắp sắt đụng xi măng cứng kêu chan chát như búa thợ rèn đập vào đe dội lại.

–  Muỗi quá Cán bộ ơi. Tôi đáp.

–  Đù mẹ. Giờ nầy mà chưa chịu ngủ còn muỗi với mòng. Coi chừng ăn đòn đó.

Tôi còn ráng quơ thêm vài cái, nhẹ hơn như vừa nhượng bộ, như vừa phân trần, chờ hai tên gác bỏ đi, tôi tiếp tục bẻ thanh sắt thứ hai. Cuộc đời lắm lúc còn rắc rối hơn một bài toán vì bài toán dù có nhiều cách giải, những lối giải khác nhau, cũng có thể tiên đoán, dự trù trước được, nhưng cuộc đời lại có những biến chuyển không thể ngờ trước được. Một múi hàn, nói một cách khoa học, phải yếu hơn một thanh sắt còn nguyên, thế mà thay vì múi hàn A bị gãy, thanh sắt cong lại bị gãy làm đôi, ngay tại chỗ múi hàn A, đồng thời múi hàn B1 cũng gãy luôn.

Tôi nắm thanh sắt số hai bẻ tiếp. Giai đoạn nầy chỉ tốn bảy phần sức lực của giai đoạn đầu, mặc dù đã rút kinh nghiệm, tôi vẫn chưa tính được chính xác thời điểm. Bỗng tiếng “koong” rền lên, múi hàn A bị gãy lìa, hai tên gác lại hối hả chạy lại.

–  Cái gì… Cái gì đó?

Lần nầy tôi không trả lời, cứ đập cái nắp sắt xuống nền nhà như giận dữ, bực bội vì những con muỗi khốn nạn. Bỗng nhiên, có tiếng đập rầm rầm như tiếng trống, có tiếng koòng khuya leng keng như lục lạc xe ngựa từ trong buồng vọng ra.

–  Đù mẹ, ông vào vặn cổ hết tụi mầy bây giờ. Nửa đêm làm rầm rầm không cho ai ngủ cả.

Chửi xong, hai tên gác bực bội bỏ đi. Tôi ngừng một chốc nghe ngóng, thầm cám ơn những người bạn tù buồng trong đã vô tình giúp tôi đúng lúc. Cũng may hai tên gác chỉ đứng ở cửa ra vào, nếu đứng tại cửa sổ, những thanh sắt gãy sẽ nói cho họ rõ chuyện gì đang xảy ra nơi đây. Tôi cẩn thận lấy khăn cà ma che ngang cửa sổ, từ bên ngoài nhìn vào chỉ thấy khăn và bóng đêm. Những người bạn tù ở bên trong nhìn ra cũng khó nhận ra cái bóng người đứng giữa cửa sổ.

Lần nầy rút kinh nghiệm, trong thời gian bẻ, thỉnh thoảng tôi ngừng lại, đập ầm ỷ vài cái và nhất là khi sắp gãy, tôi đập nắp sắt liên tục vào tường. Tiếng gãy của múi hàn C lẫn trong tiếng đập chát chúa, tôi ngừng công tác nghỉ ngơi xem động tĩnh. Hai tên gác không thèm lưu ý đến nhũng tiếng động kỳ cục vô vị kia nữa. Yên tâm, tôi bẻ những thanh sắt kế tiếp, công việc tiến triển khả quan. Mặt trăng chợt hiện lên mập mờ sau tàn cây lớn.

–  Chết cha. Đã gần hai giờ sáng!

Tôi đã khổ công nghiên cứu mặt trăng, ngày và giờ trăng mọc, trăng lặn, để biết được giờ giấc và để tính toán kế hoạch, lợi dụng chu kỳ trăng mọc-lặn trong những trường hợp nguy hiểm như vượt hàng rào, trạm gác, vượt biên giới. Phải gấp rút lên mới được. Hai tiếng đồng hồ nỗ lực với những giây phút toát mồ hôi lạnh dài bằng cả một đời người. Chỉ còn đoạn chót là phá hủy múi hàn d1 và uốn đầu vòng tròn O trung tâm xuống thấp dưới thanh gỗ M3 M4. Bỗng người nằm cách tôi lên tiếng:

–  Đứa nào làm gì ồn quá vậy?

–  Ông Tuấn đó chứ ai!

Tên Bộ đội Bắc Kỳ trong nhóm bốn người trả lời.

Chết rồi, tụi trong phòng đã thức chăng? Có bao nhiêu đứa đang theo dõi việc tôi làm hay chỉ hai tên nầy vừa giật mình thức dậy? Tôi hơi ái ngại, nhưng thời gian không cho phép tôi đợi họ ngủ trở lại.

–  Mầy có biết cũng mặc. Tôi tự nhủ. Đứa nào muốn theo thì theo, đứa nào lộn xộn sẽ biết tay tao!

Và tôi tiếp tục. Khi bẻ xong múi hàn chót, tôi vận dụng sức uốn vòng tròn O trung tâm xuống thấp, hình thang MI M2 M3 M4 hoàn toàn trống trải. Tôi móc xách đựng đồ vào cái đinh Q và lấy cái nịt da móc choàng qua viên gạch G, để thòng ra ngoài. Kiểm điểm lại tổng quát, tôi leo lên cửa sổ chui ra. Theo kế hoạch, tôi sẽ đưa hai tay ra trước, rồi đầu, rồi vai, rồi ngực, xong lật ngửa người, nắm lấy dây nịt kéo người ra. Nhưng oái oăm thay, khi ngồi tính toán, tôi chỉ tính bề dầy của bờ vai, giờ nầy, tôi bị kẹt vì hai bắp xô và ngực. Thật khổ đời. Tôi loay hoay mãi vẫn không chèn nhét được người qua ô cửa. Bỗng nhiên, tôi rút tay phải để cặp theo thân mình, luồn tay trái, vai trái và đầu ra trước. Tôi nghiêng, lách người và may thay, cuối cùng, kéo được vai phải, rồi tay phải ra.

Khi lật ngửa người níu dây nịt, tôi lại gặp một trở ngại khác là xương hông phối hợp với mông lại rộng hơn vai. Tôi nằm kẹt cứng, nửa trong, nửa ngoài. Tưởng tượng giờ phút nầy hai tên Bộ đội gác vô tình đi ngang. Những báng súng, mũi súng đập vào đầu, vào ngực và tôi sẽ nằm chết vắt ngang ở cửa sổ.

Tôi bặm môi kéo mạnh, nghe một tiếng cộp như có miếng xương hông bị mẻ và mảng da, thịt đệm ngoài rách tướt và máu chảy. Cảm giác vừa thoát nạn đã thắng lướt những cảm giác đau đớn. Tôi đứng yên một giây bên ngoài cửa sổ, kéo bọc hành lý và đảo mắt về phía trái quan sát. Hai tên gác vẫn khuất bóng ở một vị trí chưa đầy hai mươi thước bên kia hông nhà. Yên chí, tôi nép sát vào tường và đi về phía trái, đi giữa vách và hàng rào kẽm gai.

Đến giữa hàng rào, tôi nương theo trụ sắt đu lên tường, cọc sắt và hàng rào phía trên quá yếu, rung mạnh. Tiếng kẽm gai rung rền đều, đằm thắm như những ngón tay vừa lướt nhẹ qua các phím dương cầm giữa đêm thanh vắng. Tôi đứng yên vài giây tại chỗ rồi khéo léo bước qua rào kẽm gai từng chân một và trèo xuống nhẹ nhàng. Mọi vật đều lặng im. Tôi đi luồn sau nhà bếp hàng xóm của dân, băng qua một bức tường khác và đi ra đường. Mọi động tác đều nhẹ nhàng, khoan thai, cẩn thận. Đường vắng và tối đen, nhà nhà đều ngủ say. Tôi đi khoảng hai trăm thước, rẽ vào một chỗ kín bên đường, mặc áo quần và choàng khăn cà ma tươm tất. Tôi luôn luôn trần truồng trong những missions như vậy, bởi vì quần áo, dù chỉ một quần xì líp nhỏ cũng sẽ gây trở ngại trong khi chun luồn hay trèo qua hàng rào kẽm gai.

Giờ nầy có tên nào thấy, tôi cũng phớt tỉnh Ăng lê như người dân lương thiện, hay hơn nữa, một viên chức đi tuần tiễu nào đó. Đi chừng hai cây số, tôi dừng lại, trước mặt là bãi sình lầy. Khu vực lân cận đèn đóm sáng trưng. Có tiếng chó sủa, tiếng sủa cô đơn nhưng vội vã, khẩn thiết như để tự chứng tỏ sự hữu hiệu của một loài vật cần được tồn tại để thi hành chức năng canh phòng hơn là bị tiêu diệt vì nhu cầu ăn thịt trong một xã hội thiếu thốn, nghèo đói.

Tôi ngồi nghỉ một chốc, ngắm sao định hướng rồi đi về hướng tây bắc, gặp con đường lớn nhất Nam Vang. Tại một ngã tư, nhiều xe Honda thồ ngái ngủ chờ đợi khách, tôi đi dọc lề đường, bình thản, trên đường gặp một toán gác đêm vừa tan hàng về. Hai bên đường, Doanh trại Quân đội Nhân dân nằm tiếp nối, trắng trợn và ngang nhiên. Tất cả những dinh thự, những khu nhà lớn đều có mang nhãn hiệu Cộng Sản Việt Nam. Càng đi sâu, càng thấy nhiều doanh trại, đằng cuối con đường có đèn điện sáng trưng.

Thấy bất an, tôi rẽ trái ở một con đường nhựa nhỏ, đằng xa, trước mặt lại có ánh đèn sáng. Tôi quẹo phải vào một con đường tối nhỏ khác đi chừng ba mươi thước, tôi thấy trước mặt mình một cỗng gỗ và trạm gác. Là Phi công, tôi có đôi mắt toàn hảo 20/20, nhưng sự mệt mỏi, kiệt sức và thức đêm đã làm mắt tôi không còn tinh anh nữa. Tôi nhận ra Trạm gác khi cánh cổng chỉ còn cách mười thước. Sự tối tăm của con đường, của Doanh trại hòa lẫn trong bóng đêm mờ nhạt. Tôi quay trở lại tự nhiên như người đi nhầm đường. Bỗng có tiếng hỏi lớn bằng tiếng Việt:

– Ai đó?

Tôi tỉnh bơ như người Khmer… Có tiếng chân bước vội theo và tiếng quát:

–  Đứng lại.

Tôi vùng bỏ chạy như mũi tên vừa buông khỏi cung. Tên gác ngớ người trong một giây rồi rượt đuổi theo. Đến bức tường hàng rào sắt, tôi phóng mình leo lên, nhảy lao vào, băng qua nhũng bụi cây rậm. Im lặng. Tiếp tục tìm đường lẩn trốn, băng qua một ngôi nhà tôi thấy những dụng cụ nón đồng, ống nước của một bộ phận cứu hỏa. Qua khoảng đất rộng của sân đá bóng bỏ hoang, tôi leo rào ra đường. Phía bên trái, một Cổng trại lớn đèn sáng với nhiều Bộ đội đứng gác. Tôi quay trở vào, đổi hướng. Những gian nhà lớn vẫn chìm đắm trong giấc ngủ, một vài ngọn đèn điện tù mù, một văn phòng nhiều xe đậu của Câu lạc bộ Thể thao. Tôi rẽ trái và phát hiện một Cổng gác nằm im lìm. Đứng nấp vào gốc cây, quan sát thấy Trạm gác vắng vẻ, không người, tôi dón dén đi qua cổng. Bỗng có tiếng quát:

– Ai đó?

Tôi quay người lại bước đi.

– Đứng lại.

Tiếng quát lớn hơn, và tôi vùng bỏ chạy. Tên gác đuổi theo đến khi tôi chạy quanh co mất hút. Chắc y tưởng tôi là một tay Bộ đội cùng trại dù đi chơi, hoặc chôm đồ đi bán nên chỉ đuổi theo lấy lệ. Hai lần bị rượt không nghe súng bắn, không nghe báo động, tôi thấy yên tâm hơn, nhưng sự yên tâm không kéo dài lâu vì sau thời gian chạy đảo điên trong căn cứ trùng trùng điệp bủa vây như thiên la địa võng, tôi bắt đầu hoang mang không biết nên đi hướng nào, trong khi trời bắt đầu sáng dần.

Tưởng tượng phải nằm kẹt lại một ngày trong khu vực nầy, không nước uống, không thức ăn, không chỗ ẩn nấp kín đáo và ngày mai một cuộc bố ráp để tìm tên tù vượt ngục, bao nhiêu nỗ lực, công sức trong cuộc vượt thoát nhà tù 7708 đều trở thành vô ích nếu tôi không thoát khỏi chỗ nầy.

Nhớ lại khuôn mặt của tên thẩm vấn và những lời đe dọa nguyền rủa ngay đối với Đồng chí của mình, tưởng tượng bị bắt và bị điệu về đứng trước cái cửa sổ sắt đã bị bẻ gãy và những đòn thù… Tôi phải nhanh chân, phải tranh thủ thời gian hạn hẹp, chạy vòng vòng, cuối cùng tôi gặp một hàng rào thấp. Lần nầy tôi quyết định bò qua đường, mặc dù rất gần Cổng trạm gác lớn. An toàn, tôi đi vấp té liên miên trong một khu vườn rậm, nhiều đất trũng thấp cao và nhiều chướng ngại vật. Tiếng lạc xạc, răng rắc của lá, cành khô, những đồ vật bừa bãi dọc theo vách nhà làm tôi chậm lại, ngại ngần từng bước. Gặp một con đường bằng đất nhỏ, tôi dò dẫm đi qua những dãy nhà hoang, và sau đó, những dãy nhà khang trang tề chỉnh bỗng xuất hiện.

– Đã thoát ra đường phố rồi chăng? Tôi tự hỏi.

Tôi bước lên lề đường rộng, thấy một người mặc quần sọt áo thun đứng trước hiên nhà. Bất chấp, tôi bình thản đi qua. Vừa qua mặt y được vài thước, bỗng tiếng tu huýt ré lên, tôi giật mình vì có tiếng chân rùng rùng của nhiều người dồn dập ào tới. Từ các hẻm hóc, từ các ngôi nhà, Bộ đội ùng ùng chạy ra để tập thể dục buổi sáng.

Tôi vẫn đi chậm rãi quan sát đằng trước, một cánh cổng làm bằng lưới B40 sơn trắng toát. “Có cổng là có trạm gác” tôi thầm nghĩ, và rẽ trái để tránh cổng. Một vài ngôi nhà đổ nát, một số bụi chuối mọc bừa bãi, có vài dấu hiệu của một khu vực nhà cầu, chỗ nuôi gà vịt. Một dãy nhà chắn ngang trước mặt, tôi chợt thấy một khoảng trống hẹp giữa hai ngôi nhà được rào kín bằng kẽm gai, và một tấm ván dài bắt qua lén lút. Có lẽ con đường nầy được các chú Bộ đội dùng để vượt hàng rào trốn đi chơi chăng? Tôi vừa đặt chân lên tấm ván, bỗng có tiếng hỏi lớn sau lưng:

– Ai? Đi đâu đó?

Tôi phóng nhanh qua hàng rào nhảy bừa ra ngoài, quẹo hướng trái. Đảo mắt nhìn ngược về sau, tôi không thấy ai đuổi theo nhưng cũng rẽ vào một hẻm khác tìm chỗ nấp ngay. Chờ mười phút, thấy vẫn yên tĩnh, tôi trở ra đường, hội nhập cùng đám nguời lao động vừa rời nhà đi làm sớm. Sau một đoạn đường, tôi bị một người đi xe đạp ngược chiều chận lại, y nạt nộ có vẻ giận dữ. Mười lăm ngày học tiếng Miên chưa giúp tôi hiểu hết những từ ngữ y đang nói nhưng rõ ràng, qua dáng điệu, tôi đoán được điều y muốn nói:

– Có phải mầy là cái thằng suốt đêm bị lùng đuổi trong các căn cứ Bộ đội không? Mầy đi đâu? Làm gì đây?

Chắc chắn y chính là người có nhiệm vụ đi tìm tôi, khi các khu vực doanh trại báo cáo tình hình và biến cố trong đêm. Thấy không ổn, tôi trừng mắt nhìn y, dợm tay đe dọa như sắp đấm vào mặt y và đồng thời quát lớn bằng tiếng Việt:

— Đù mẹ, mầy muốn gì? Cút đi không ông vặn cổ mầy bây giờ. Cút đi…

Tôi vừa xông tới, vừa gằn từng tiếng qua hai hàm răng nghiến chặt. Nghe nói tiếng Việt, lại thấy cái dáng diệu dữ dằn chẳng biết là thứ hung thần nào, y quýnh quáng lật đật đạp xe đi tuốt. Tôi đoán chắc y chạy đi kiếm một tên có súng trở lại bắt tôi, nên vội lách vào một nơi ẩn trốn rồi lén băng qua vườn để đến một đường khác. Tôi vứt bỏ khăn cà ma, thay áo khác và đi ra đường, chọn những con hẻm nhỏ để đi.

Trời sáng dần, mặt trời ngoi lên khỏi các hàng cây, nóc nhà, vầng thái dương rực rỡ trong vẻ chói lọi huy hoàng. Có bao nhiêu lần ta đã ngồi chờ trăng lên, có bao nhiêu đêm ta đã trông đợi mặt trời. Mặt trời. Mặt trăng. Sự thông cảm trong nỗi cô đơn, sự trở lại nồng nhiệt của niềm hy vọng và ánh sáng dẫn đạo. Mặt trời. Mặt trăng. Vẻ đẹp, vẻ thẩm mỹ được nâng lên cùng những giá trị nhân bản. Mặt trời nằm hướng tay phải, có nghĩa là tôi đang đi đúng hướng Bắc. Phố xá, xe cộ, người ngợm đông dần, tôi đã tới Trung tâm Thủ đô. Trên đường đi buổi sáng, tôi cẩn thận để ý đến những chiếc xe tuần tiễu, những toán người có nhiệm vụ săn đuổi tôi, sau khi trại tù 7708 bừng mắt thức dậy với cái tin kinh khủng động trời: “Phá nhà tù vượt ngục.”

Tôi tránh đi ngang nhà ga xe lửa và hỏi đường đi về xà tôi (chợ nhỏ). Tôi từng xem nhiều cuốn phim, từng chứng kiến nhiều cảnh chận bắt trên đường, sự hối hả vội vã, sự lo lắng hồi hộp, sự bối rối lúng túng, những động tác thừa thải… là những yếu tố để nhận dạng kẻ bị tình nghi. Tôi đã tập đi qua cổng kiểm soát nhà tù với những đồ cải thiện quốc cấm dấu trong người, tôi đã tập bẻ lén những buồng chuối ngay sau lưng những tên Cán bộ Quản chế, những hồi hộp, bối rối ban đầu dần dần trở thành tê liệt, chai cứng.

Làm sao tìm được con đường đi vào, con đường đi ra thành phố khi những đô thị lớn chằng chịt những con đường mà ta lại không có bản đồ. Tôi đi dọc theo bờ sông, so sánh đối chiếu giữa lời chỉ dẫn và thực tế bao giờ cũng có nhiều dị biệt. Sự tưởng tượng đối chiếu thực tế thường hoàn toàn sai lạc, dù là trí tưởng tượng thiên tài. Không thể đón bất cứ chiếc thuyền nào đi trên sông như lời Tại nói khi bờ bãi mênh mông, tàu bè xuôi ngược lạnh lùng. Ngay chính cái vị trí, cái khuôn mặt của vựa cá theo sự phác họa của Tại cũng gây cho tôi một ấn tượng nhầm lẫn. Vựa cá thực sự là một khu vực đông đúc náo nhiệt với tàu bè tấp nập trên sông. Nhà tranh, nhà sàn nằm rải rác với các loại “tàu đục” và ghe thuyền khác bu bám vào như một con heo nái có nhiều vú để cho một đàn con chen chúc cùng bú một lúc. Nhiều doanh trại Bộ đội VC và Khmer đóng dọc theo đường đi. Tôi hỏi thăm anh Sáu Hài như lời Tại dặn, nhưng ở đây không có ai tên đó cả. Khu vựa cá hầu hết đều do người Việt kiều làm chủ.

– Ở đây chỉ có anh Ba Hiên nhưng anh ấy đi Kampong Chanang rồi, một tháng nữa mới về.

Một thanh niên trả lời tôi một cách không sốt sắng. Tôi gặp một người đàn bà khác. Khi nghe tôi hỏi thăm về công ăn việc làm, bà không trả lời điều tôi muôn biết mà lại khuyên nhủ:

–  Cậu không biết tiếng Khmer đi tới đi lui hoài coi chừng bị bắt đó!

Thật chán, nhưng không chán như cơm nếp, bởi vì thật sự giờ nầy nếu có cơm nếp để ăn thì thật tuyệt. Tôi lủi thủi bỏ đi. Đường dài, nắng cháy, lộ phí chỉ có một gói thuốc Samit, tôi cảm thây vô vọng. Tôi chẳng trách Tại, vì dù sao, cũng chính lời bịa đặt của Tại đã gây thêm niềm tin trong thời gian chuẩn bị và thực hiện cuộc vượt ngục của mình. Đang mơ màng, tôi bỗng dẫm phải một con chuột chết nằm trên đường. Tôi lẩm bẩm nói lái từng chữ chuột, chết khi ghép chung với tên mình. Tống-chuột — Tuột chống. Sáu Hài đúng là cái chống để nâng đỡ tinh thần tôi, bây giờ không có Sáu Hài, tôi mất chỗ nương tựa, bị tuột chống. Tống-chết — Tết chống. À! Như vậy tôi có cơ hội để tết lại, cột lại hay củng cố lại cái chống của mình, tôi sẽ nhận được sự giúp đỡ khác! Tôi thích chơi chữ vẩn vơ và thỉnh thoảng cũng tin vơ vẩn. Như khi nghe Sang khai tên, tôi đã ghép hai tên và nói lái lại: Tống-Sang—Táng sông, như vậy nếu đi cùng Sang tôi dám chết sông, chết suối lắm. Trong khi bị giam ở nhà tù 7708, tôi đã nghĩ, nếu không trốn thoát được tại đây, trên đường bị áp giải về Việt Nam, tôi sẽ lợi dụng bến phà Nikluong nhảy xuống sông để lặn đi trốn và như điềm gỡ ghép tên, tôi sẽ bị chết đuối tại Nikluong. Nhưng có ai ngờ khi tôi đến Đài Côn, người thợ lặn đã chết đuối trước mắt tôi và tôi cứ nghĩ, có lẽ người nầy đã chết thế mạng cho tôi.

Tôi đã quá mệt, quá đói và khát, nhưng thiên hạ vẫn thờ ơ không ai biết, không ai cảm thông và rất buồn để nhận ra rằng trên cuộc đời nầy, ít ai có được cái giác quan thứ sáu đáng yêu đó. Trên bờ sông, một nhóm thuyền chài tụ tập ăn trưa, tôi quyết định quẹo vào chờ cơ hội vét nồi kiếm tí cơm thừa. Cặp vợ chồng Việt kiều vừa ăn trưa xong, thấy tôi trờ mặt tới đã báo cáo một cách tiếc nuối:

–  Không còn lấy một hột cơm!

Tôi đưa mắt nhìn một toán người Khmer đang ngồi ăn. Thấy ánh mắt đói khát thèm thuồng của tôi, cặp vợ chồng kia chặn ngay:

–  Không được đâu, họ không cho đâu. Coi chừng nguy hiểm đó.

Thế là tôi đành vờ xuống bờ sông rửa mặt mũi, nhưng đồng thời uống một bụng nước sông thật thỏa thích để vừa đỡ khát lại vừa đỡ đói. Tôi lại đi, nhiều lúc cảm thấy mình không còn một chút sức lực, nhưng như một cái máy tự động, chân tôi vẫn cứ bước đều và bước mãi. Tôi không dám ngồi nghỉ, sợ rằng ngồi xuống lại không còn sức đứng lên được nữa.

Hai bên đường, xe đạp của người đi câu, đi làm ruộng để rải rác lăn lóc. Tôi dập tắt ngay thoáng ý nghĩ vừa lướt qua: Đánh cắp một chiếc xe đạp. Thật tiện lợi và thật thoải mái biết bao nếu giờ nầy ngồi lên yên một chiếc xe đạp. Nhưng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì xấu trong quá trình đi tìm tự do của mình. La fin justifie les moyens? Không, cứu cánh dù tốt đẹp bao nhiêu cũng không thể biện minh cho những phương tiện xấu. Tôi thà cam nhọc nhằn vất vả, chứ không thể làm một điều gì trái với lương tâm. Chỉ có một lần duy nhất trên đoạn đường gần biên giới Thái—Mã, đang đêm, tôi chun vào bếp một nhà bên đường ăn vụng cơm nguội. Tôi làm điều đó không chỉ vì quá đói, bởi vì đã có nhiều lần tôi nhịn đói hằng mầy ngày và cả nhịn khát, phấn đấu đi bộ liên tục và vẫn chịu đựng được. Tôi làm thử điều đó để tự chứng tỏ với mình rằng, tôi có đủ khả năng để làm những việc như vậy. Tôi đã không làm và sẽ không làm một lần nào nữa, không phải vì tôi nhát gan sợ sệt hoặc tôi kém tay nghề mà vì những ý nghĩ hướng thượng, đạo đức căn bản của một con người lương thiện.

Để tự xác nhận bản chất thực của mình, tôi đã phải đánh đổi cả một tương lai đang rực rỡ trước mặt với những gian khổ, phong trần, trong một bước ngoặc bi tráng của cuộc đời mình, khi tôi bị đuổi trở về Việt Nam trong thời gian du học Hoa Kỳ năm 1966. Tôi muốn xác định rõ rệt giữa sự nhẫn nhục và sự hèn nhát.

Sự nhẫn nhục và sự hèn nhát không có biên giới rõ rệt. Không thiếu gì kẻ lạm dụng từ ngữ nhẫn nhục để che đậy sự hèn nhát, khiếp nhược của mình. Sau khi xong phần Anh ngữ, tôi chỉ còn ba hôm để chuyển sang trường bay Pensacola của Hải Quân Mỹ tại Florida. Tôi đánh “Trọng khùng” hiện định cư tại Australia, không phải vì một hận thù cá nhân, mà vì Trọng khùng là biểu tượng, là đại diện của thế lực hà hiếp, áp bức, trong một phạm vi nào đó.

Nhịn nhục Trọng khùng cũng dễ thôi, bởi vì tôi đã nhịn nhục cả một năm rưỡi trời kể từ ngày tôi bước chân xuống chiếc tàu Hải Quân chở chúng tôi, những tân Air Cadet, đến bờ biển Nha Trang. Trọng khùng đã tình nguyện bỏ phép Tết ở lại Quân trường đày đọa, hành hạ cả khóa 65A KQ. Khi đi Mỹ, Trọng khùng cũng không bỏ được trò ác độc, thâm hiểm khi được cất nhắc làm Cán bộ Khóa sinh. Trên xứ sở văn minh mà nền tảng xã hội được xây dựng trên bình đẳng, công lý và nhân đạo (đó là ấn tượng của tôi về Mỹ Quốc ngày xưa!), hành động của Trọng khùng nổi bật như một con sói dữ điên cuồng.

Hôm thực tập báo động, anh em trùm poncho đập Trọng khùng một trận dưới basement. Nhẫn nhục với Trọng khùng thêm ba ngày nữa, tôi sẽ đi trường bay, sẽ đỗ đạt vinh quang, và trở thành một chàng Phi công Khu trục. Nhưng thật sự, tôi nhẫn nhục hay tôi sợ hãi vì Trọng khùng có quyền hành của một cấp Cán bộ và có thân thể đồ sộ và khỏe gấp hai lần tôi? Tôi muốn trắc nghiệm để tự tìm hiểu mình. Tôi bỏ lớp học trở về nhà một mình, và đến phòng Trọng khùng. Tôi dùng sức mạnh tinh thần, dùng ý chí để áp đảo một kẻ hoàn toàn thắng thế mình mọi phương diện, ngoại trừ cái đầu. Tôi đánh Trọng khùng bằng chiếc ghế sắt đến lúc Trọng khùng quì sụp xuống lạy như tế sao và năn nỉ tôi tha mạng. Ngay chính giờ phút đó, tôi cảm thấy nguôi dịu những cơn bão lửa cuồn cuộn như một hỏa diệm sơn đã bùng nổ và phun cạn tất cả những nham thạch âm ỷ réo sôi trong lòng trái đất. Tôi thấy tội nghiệp cho đối thủ và ngưng tay. Bỗng nhiên Trọng khùng vùng bỏ chạy, tri hô cầu cứu khi tôi vừa ra khỏi cửa. Hình ảnh Trọng khùng chạy băng qua khu trường học với một chiếc xì líp duy nhất trên thân thể bầm tím, đầy dấu vết của trận đòn đã gây nên một cuộc báo động toàn căn cứ Lackland. Xe cứu thương khẩn câp chở Trọng khùng đi bệnh viện và Quân cảnh bắt đầu mở cuộc lùng kiếm tìm bắt. Tôi bị đuổi về nước trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Vâng, nếu tôi chịu nhẫn nhục Trọng khùng trong ba ngày nữa để có một tương lai sáng lạn, thì tôi sẽ suổt đời nhẫn nhục, bởi vì cuộc đời có biết bao nhiêu Trọng khùng và bởi vì tôi cần yên thân để tiến thân! Một con người nhẫn nhục, một dân tộc nhẫn nhục. Ách nô lệ của ngoại bang, gông cùm của kẻ thù sẽ suốt đời áp đặt, đè nặng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.

Nếu tôi không chấp nhận thiệt thòi để chống lại những áp bức, những bất công nhỏ hôm nay, làm sao tôi có thể xả thân cho những mục đích cao cả sau nầy. Tôi không hiếu chiến, tôi không tàn bạo, đó không phải là một hành động vô kỷ luật như lý do được nêu ra trong tờ giấy sa thải, nếu sự thật mục đích của kỷ luật là hướng dẫn người Quân nhân trở nên hoàn thiện, hoàn chỉnh trong ý thức phục vụ Công lý và Tổ quốc. Đó là một hành động dũng cảm, đó là một ý chí vươn lên, đó là một tinh thần hy sinh trong sáng, đó là một hành động có giá trị thể hiện sự khao khát, mong mỏi của tất cả những bè bạn cùng Khóa, cùng đi du học, của tất cả những con người biết yêu mến cuộc sống tốt đẹp và Chân lý! Tất cả Sinh viên Sĩ quan Không Quân khóa 65 A đều công nhận và minh chứng điều đó, và bạn bè tôi, những khóa đàn anh, khóa đàn em, đã thực sự yêu mến cái tên Lý Tống từ đó. Tất cả những quyết định quan trọng trong suốt đoạn đời về sau của tôi đều vươn lên từ bước đầu thử thách đó.

Một chiếc xe Honda thồ cùng chiều chạy lại… Xe trống khách, tôi đánh bạo chận lại, dùng tiếng Miên học được trong Nhà tù 7708. Người đạp xe chịu nhận lộ phí bằng gói thuốc Samít. Khi xuống xe, tôi cò kè tính toán:

— Cuốc xe 10 riels, gói Samit 14 riels, anh thối lại tôi 4 riels.

Mặc dù gói thuốc của tôi lăn lóc phong trần suốt đêm đi trốn, đã dẹp lại và gần gãy đót. Tôi không đủ chữ nghĩa để diễn tả bằng lời, nhưng bàn tay tôi, cứ chỉ, cứ ép vào cái bụng xẹp lép, cái thứ hand language đó lại còn hiệu quả hơn. Tôi bỏ túi 4 riels đi tiếp. Đang mệt mỏi, bỗng tôi thấy một lò thợ rèn nhỏ bên đường, một ông già hiền hậu đang đập búa rèn dao chung với một chú bé. Tôi tạt vào, lấy cái áo ca rô bèo nhèo của mình ra gạ bán, ra giá 15 riels.

Tôi thật bạo khi ra một giá cao như vậy vì khi ở trong tù tôi gạ bán 3 riels mà chẳng ai thèm mua. Ông già cầm áo lên, xoay qua, xoay lại ngắm nghía:

–  10 riels.

Ông trả giá. Tôi mừng húm nhưng vẫn kèo nài:

—10 riels cũng được, nhưng ông phải thêm cho tôi một tô cơm nguội!

Ông già sai chú bé chạy vào bếp lục nồi cơm nguội nhưng cơm đã hết sạch. Cuối cùng vì lòng nhân từ, ông đưa thêm 3 riels bảo tôi ra chợ mua cơm ăn. Tôi lại đi, mặc dù đói, tôi vẫn cố nhịn vì số tiền nhỏ nầy chỉ để dùng trong trường hợp khẩn cấp hoặc thật cần thiết. Tôi lại gặp một chiếc xe Honda thồ khác, tính giữa ăn cơm và đi xe thì đi xe lợi hơn vì cùng một đoạn đường, nếu đi bộ, số tiền ăn uống cho đủ sức để đi sẽ đắt hơn giá một cuốc xe lại mất thời gian tính. Tôi chận xe lại, xe đang chở hai bao gạo, một số hàng tạp hóa và hai cô gái người Miên. Tài xế xe thật lí lắc, vừa chạy vừa tán khách nhưng oái oăm thay, một trong hai cô khách lại để ý tôi. Ông Trời thật tức cười. Trong đời, biết bao nhiêu người sống cùng xóm, cùng làng, cùng thời, cả chục năm, cả đời người, cũng không chịu nhau. Thế mà kỳ cục, vừa mới leo lên xe, tôi cảm thấy ngay là tôi đang bị cô ta chịu. Người tài xế cũng nhận ra thế, nên chuyển đề tài, cặp đôi tôi với cô khách. Để biểu lộ cái chịu của mình, cô khách ỏn ẻn nhờ tôi ôm dùm bọc bánh kẹo, trong đó có ổ bánh mì. Tôi đang đói nên chịu ổ bánh mì hơn cô khách, móc tiền hỏi mua nhưng cô ta cười bảo:

– Anh đói cứ lấy ăn. Tôi biếu đó!

Đúng là đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh, tôi ăn lấy ăn để. Thường thường người phụ nữ thích những người đàn ông lịch sự, ăn uống thanh nhã và kiểu cách nhưng cái tác phong chết đói của tôi trông lại gợi tình hơn. Cô mời tôi thêm mấy miếng bánh ngọt. Tôi ăn nốt! Cô hỏi tôi:

–  Anh đi đâu?

Tôi cũng chẳng biết mình đi đâu nữa, tôi không thể nói đi Kampong Chanang, chứ chưa nói đến đi Thái Lan bởi vì người ta chỉ đi xe đò để đến đó. Xe Honda thồ chỉ đi từ phum nầy đến phum nọ, tôi lại không biết cái phum sắp đến tên gì. Tôi không đi xe đò, vì xe đò dễ bị chận xét trên đoạn đường nầy. Chỉ đi xe Honda thồ, đi xe đạp, đi bộ là an toàn nhất. Đến ngã tư đường, xe quẹo vào một ngõ khác, tôi bắt buộc phải xuống xe. Tôi đã tính trước, nên dấu bớt một số tiền, chỉ để đủ 4 riels ở túi trên, móc tiền trả nhưng tài xế không chịu. Tôi vờ móc hết túi nầy túi nọ để chứng tỏ đã hết tiền, y đành bỏ đi. Cô gái ngồi trên xe nhìn tôi thương cảm. Qua ánh mắt hình như cô có ý muốn mời tôi ghé nhà cô ta, ăn uống, ngủ lại và… gì gì… đó, chỉ có trời hiểu, nhưng ngại cô em gái, hay ngại anh tài xế quen, lắm điều lắm mồm. Tôi gật đầu chào, bỏ đi, lòng cứ tiếc. Đi một đoạn khá xa, lại thấy chiếc xe hồi nãy lù lù xuất hiện đàng sau. Xe đã có ba khách khác, tôi lại đón xe, tài xế hỏi tôi:

–  Có tiền không?

Tôi cười đáp:

–  Có.

– 10 riels. Y ra giá.

Tôi gật đầu và leo lên xe. Xe chạy đến gần trạm gác, y chạy chậm rồi ngừng lại để đón thêm khách. Không có khách, y vẫn không chạy. Trời về chiều, xung quanh nhiều Bộ đội đang chơi bóng chuyền hoặc tản bộ vòng vòng. Tôi thấy bối rối vì người tài xế, tôi chẳng hiểu y muốn trả đũa tôi vì chỉ trả 4 riels cuốc xe trước hay sao mà cứ mỗi lần gặp Trạm gác, y lại dừng xe nghỉ một chốc. Một tên gác đến gần nhìn vào đồ đạc trên xe rồi bỏ đi. Mỗi lần như vậy, tôi lại giả vờ nhìn tảng lờ hướng khác, kéo sửa lại khăn cà ma để che bớt khuôn mặt quá trắng. Da tôi vốn trắng lại vừa ở tù ra càng trắng toát so với những thổ dân da đen sậm cùng xe. Cái lối ỡm ờ của tên lái xe đôi lúc làm tôi thót ruột. Cuối cùng, xe dừng ở một trạm chót. Tôi móc 10 riels trả và vội vàng bỏ đi, đi khuất mắt tên nầy càng sớm càng tốt. Biết đâu buồn buồn, y lại kể chuyện về một hành khách kỳ dị, nếu du kích trong làng nghe được, sẽ ngờ vực và đi tìm bắt tôi. Tôi lẩn nhanh ra khỏi phum khi trời đã nhá nhem tối, chỉ còn lẻ tẻ một vài người đi ngược chiều. Trong bóng tối nhờ nhờ, tôi chợt phát hiện hai tay Du kích Heng Samrin đi ngược hướng mình. Thấy tôi, họ dừng lại và hỏi:

–  Bòn tâu na? (Anh đi đâu?)

–  Khnhum tâu te (Tôi về nhà).

Tôi chỉ biết chừng đó chữ để trả lời nhưng khi trả lời xong, tôi biết mình bị hố. Tâu te là phải đi vào phum, tại sao tôi lại đi ra khỏi phum? Bởi vì hôm sau tôi biết ra, từ đoạn đường tôi đang đi trở ra, trên mười lăm cây số không có một te (nhà) nào cả! Tên Du kích hỏi tiếp. Tôi chưa hề học những chữ y dùng, nhưng hiểu là y đang diễn tả sự ngạc nhiên về kiểu tâu te của tôi. Y hỏi ríu rít, lẹt khẹt như tiếng bầy khỉ đang cãi nhau, và giành ăn trên cây. Bí quá, tôi bèn nạt lớn bằng tiếng Anh:

–  I’m going home. God damn it! What do you want?

Y thực sự kinh ngạc, không phải chỉ vì không hiểu tôi đang sử dụng loại ngôn ngữ gì, mà có lẽ vì sự dữ tợn của tôi. Y lúng túng. Tên thứ hai bỗng nói một tràng ríu rít với y. Tôi đoán chừng y muốn nói: “Gặp thứ dữ rồi. Nó đi đâu kệ mẹ nó. Coi chừng lại lôi thôi bây giờ,” và hai tên cùng bỏ đi. Thật hú hồn! Tôi mỉm cười, định bụng nếu hai tên nầy còn lộn xộn, muôn kiếm chuyện, lợi dụng trong đứng gần và trời tối, tôi sẽ tấn công bất thình lình, giật súng, hạ đo ván và thoát thân.

Đi chừng ba trăm thước, tôi rẽ trái vào cánh đồng lúa tìm nơi ẩn nấp, vì trước mặt tôi, lại có một cây cầu và trạm gác. Có lẽ hai tên Du kích kia vừa đổi gác ở đây về. Vào mùa nước lên, ruộng lúa đều ngập nước, chỉ còn những khoảnh đất quanh các gốc thân cây lớn nổi cao trên mặt nước làm thành những gò đất nhỏ. Tôi kiếm một gốc cây, bẻ một ít lá lót đất và nằm nghỉ.

Nằm chưa ấm đất, tôi đã nghe tiếng bàn bạc nói chuyện của một toán lính đi ngoài lộ lớn. Có lẽ khi nghe báo cáo chuyện lạ vừa gặp trên đường, cấp chỉ huy của họ đã phái toán nầy đi lùng kiếm tôi. “Mặc kệ chúng mầy!” Tôi tự nhủ, biết rằng họ chỉ đi kiếm dọc theo đường lộ chính, chẳng ai mất công lội từ ruộng nầy qua ruộng khác, săm soi từng gốc cây. Dù họ có làm như vậy, tôi chỉ cần tụt xuống những đám lúa xung quanh tìm chỗ nằm nấp. “Mầy kiếm đằng trời cũng không ra, trừ khi có chó,” nhưng ở Kampuchia nhà quê sau khi được Cộng Sản “giải phóng” thì làm gì còn có chó vì người Kampuchia và nhất là Bộ đội VC lại rất khoái món cầy tơ nầy.

Họ sục sạo lui tới nhiều lần và cuối cùng nằm phục kích trên đoạn đường ngang chỗ tôi nằm. Họ có kiểu phục kích thật lạ, vừa phục kích, vừa hút thuốc, vừa nói chuyện như khứu. Tôi phải nằm yên chịu đựng sự tra tấn của từng bầy muỗi đói. Tôi nghe nói: “Vùng Cà Mau muỗi nhiều như vãi trấu. Đêm ngủ, trâu bò cũng phải giăng mùng.” Tưởng là người ta nói quá đáng nhưng so với chỗ nầy, muỗi Cà Mau không thể so sánh được.

Tôi nằm thiêm thiếp một chốc và tỉnh dậy. Tiếng nói chuyện vẫn còn dòn dã bên ngoài. Trăng còn sáng quá, tôi phải đợi, đợi hoài không được, tôi quyết định đi tiếp. Tôi đi song song, cách đường lộ chừng hai trăm thước, có lẽ tôi đã qua khỏi khu vực cầu rồi. Tôi định trở ra đường đi tiếp nhưng làm sao chắc được sẽ không có toán Du kích, hoặc Trạm gác nào khác trên đường. Để được an toàn tối đa, tôi chấp nhận giải pháp gian khổ. Nhìn theo hướng sao đêm, tôi băng đồng, lội nước, đi mài miệt suốt đêm, đến khi trời gần sáng, tôi quẹo phải, trở lại đường lộ, tìm một gốc cây kín đáo, nằm nghỉ, bù lại cả ngày đêm mệt nhọc, định bụng nếu toán An ninh có phái xe Honda chạy đi kiếm tôi, tôi tính thừa thêm giờ trở về của họ. Hoàn toàn khỏe và an toàn, tôi theo đường lộ đi tiếp.

Tôi bắt đầu để ý đến cột mốc cây số bên đường. Cây số 70, tôi thử tính tốc độ đi bộ của mình, đếm chầm chậm 1, 2, 3, 4… như nhịp của kim giây đồng hồ. 1 giây, 2 giây… chừng đếm được 900, tôi gặp cây số 71. Tính ra 900 giây = 15 phút, mỗi 15 phút đi được một cây số, như vậy mỗi giờ đi được 4 cây số, đến khoảng trưa tôi sẽ tới Kampong Chanang. Tôi ghé vào một quán nhỏ vắng vẻ bên đường, ăn tô cháo. Tôi hỏi:

–  Có trạm gác Bộ đội VC trên đường đi Kampong Chanang không?

Người đàn bà Miên già tốt bụng cho biết:

–  Có hai trạm.

Ở trạm đầu tiên, tôi bắt đầu tách vào rừng thưa, đi vòng phum, rời đường đúng ở cây số 77. Tôi vừa trốn thoát Nhà tù 7708!  Lại số 77 định mệnh. Khoảng 3 giờ đồng hồ sau, tôi trở lại đường, gặp cột cây số 88. Lại số 88 định mệnh. Tôi thấy yên tâm. Ở vùng nầy có nhiều núi đá, một sắc thái đặc biệt nhất trên suốt lộ trình. Tôi lại ghép chữ nói lái: Tống Đá — Tá đống. Tôi tự diễn dịch vào hoàn cảnh hiện tại: “Tá tức là tá túc, đống có nghĩa là nhiều. Có nhiều chỗ tá túc ẩn thân trên đoạn đường sắp tới!”

Cổng trạm vào thành phố Kampong Chanang kiểm soát thật nghiêm nhặt. Có 3 loại cổng gác trên đường đi. Loại một, cổng kéo lên, mở thường xuyên và đi qua dễ dàng. Loại hai, thanh cài cổng hạ xuống chắn ngang đường đi, xe cộ phải dừng lại kiểm soát, nên cẩn thận. Cổng trạm Kampong Chanang thuộc loại thứ ba, vừa hạ xuống chận đường, lại vừa có thêm nhiều khung kẽm gai hình chữ A tăng cường thêm, rất nguy hiểm.Ở  đây không chỉ xét xe đò, xe lôi, xe đạp mà cả người đi bộ nữa! Tôi bọc vòng sau các dãy nhà, ruộng lúa. Khoảng đất trông trải dễ bị phát hiện.

Tôi đi thủng thẳng như người dân địa phương đi thăm đồng. Qua Trạm gác an toàn, mặc dù thỉnh thoảng gặp vài người dân nhìn tôi ngờ vực. Qua một cây cầu dài, tôi đi vào đoạn đường đô thị đầu tiên. Ở bên phải một ngôi trường lớn, nhiều Sĩ quan Bộ đội đi học về. Tại Trung tâm thành phố, tôi lưỡng lự giữa ngã ba đường. Tôi chận một cô gái Miên đi ngược chiều, hỏi:

– Thơ trẩy náu na? (Đánh cá ở đâu?)

Tôi tránh hỏi những người đứng trước nhà vì biết đâu trong nhà lại có Công an! Tôi cũng không hỏi những người đi cùng chiều vì cùng chiều, tôi phải ở trong tầm ảnh hưởng của họ một đoạn đường dài. Người đi ngược chiều, nếu có nghi ngờ, thì khoảng cách giữa họ và tôi càng lúc càng xa và chắc chắn, không phải lúc nào người ta cũng sẵn sàng chia sẻ sự nghi ngờ với những người trên đường. Cô ta chỉ:

–  Đi thẳng, hết đường quẹo phải.

Tôi gặp những dãy nhà nằm san sát dọc theo bờ sông. Bộ đội ngược xuôi tấp nập. Nghe Tại nói ở Kampong Chanang toàn người Việt kiều, xin việc đâu cũng có nhưng từ nãy giờ, tôi chưa thấy một ngườỉ dân Việt Nam nào cả, trừ các chú Bộ đội VC. Tô cháo lỏng bỏng buổi sáng đã tan thành những giọt mồ hôi.

Đang chán nản bỗng nghe giọng một người đàn bà Việt Nam dưới bờ sông. Tôi mừng rỡ quẹo xuống. Trong một mái nhà nhỏ che đậy tạm bợ, hai người đàn ông đang vá víu lại một chiếc ghe cũ bị hư.

–  Thưa dì, ở đây có ai cần mướn người làm không ạ?

– Mướn gì nổi. Ai cũng chạy ăn không đủ bỏ vào miệng tiền đâu, việc đâu mà mướn?

–  Tôi nghe nói… Tôi lắp bắp.

–  Cậu qua thử bên Cồn kia xem sao. Ở đó có những tổ đánh cá lớn, may ra…

–  Ở đâu? Làm sao qua đó?

–  Mướn ghe 2 riels. Phía đó!

Tôi có cả thảy 17 riels, đi xe và ăn tô cháo hết 15 riels. Còn đúng 2 rỉels. Vừa đủ một cách lạ lùng! Theo hướng người đàn bà chỉ, tôi đi cuối đường và quẹo trái, gặp một chợ trời nhỏ, những chiếc tàu thủy chở khách, một cổng gác bán vé. Tôi hỏi nơi đón ghe qua Cồn đất giữa sông Mê Kông, đi theo lời chỉ dẫn, tới khu vực đồn trú của Bộ đội.

Phía bên kia cổng gác, Bộ đội và dân chúng đang khiêng gạo, than, vô ra tấp nập. “Không vào hang hùm làm sao bắt được cọp?” tôi nhủ thầm và lẫn theo mọi người đi vào. Có lẽ đây là nơi xuất phát chính của những tên Bộ đội tôi gặp đi ngoài đường vì nhà nhà đều có bóng áo treillis, nón cối.

Vừa đến bến ghe đậu, đã thấy chiếc ghe sửa soạn rời bến, tôi ngoắc vội vàng và nhảy lên. Hành khách duy nhất là Việt kiều, đánh cá tại Biển Hồ, Tonle Sap. Biển Hồ là hồ chứa cá thiên nhiên vĩ đại nhất của Kampuchia. Cá biển Hồ đủ nuôi sống cả dân tộc Kampuchia và số cá thừa, theo dòng nước Cửu Long đi về hướng biển Đông, làm trù phú nhũng vùng Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ Việt Nam.

Biển Hồ lại gần Siêm Rệp, từ Siêm Rệp qua biên giới Thái khá gần, nhưng tiếc thay, người thanh niên không đem tôi theo được. – Không có giấy tờ sẽ bị bắt dọc đường. Chắc chắn không đi được. Anh ta qua Cồn để tìm một người quen nhưng không gặp nên theo ghe trở về, còn tôi ở lại. Khi nghe người đàn bà bảo qua đây xin làm gạch, trong một giây, tôi liên tưởng đến nhà tù A30, đến đội làm gạch ngói.

Có lần vài người bạn rủ tôi qua đội làm gạch ngói với họ cho vui, nhưng tiếc thay, mặc dù Trại đang cần thêm người tình nguyện, tôi lại bị từ chối dứt khoát vì tôi thuộc thành phần nguy hiểm nhất, ngoan cố nhất, phản động nhất… theo sự đánh giá của Cán bộ Quản giáo. Đội gạch ngói lại thường làm ngoài, dễ có cơ hội đi trốn. Nhưng sau sáu năm tù tội, làm đủ thứ nghề, đủ thứ công tác, giờ nầy có việc gì tôi không làm được? “Kể cả việc làm Tông Tông!” Tôi nói đùa với mình.

Tôi Đi Tìm Việc Làm 

Trước mắt tôi là một gian nhà lá đang lợp dở dang. Gần hai mươi người đang ngồi trên mái nhà làm việc. Tôi đến gần, hỏi vọng lên bằng tiếng Việt.

— Bác ơi, ở đây có cần thêm người làm không?

Nghề lợp nhà vốn là nghề ruột của tôi trong tù. Có tiếng những người Khmer đang hỏi nhau trên kia, và nhiều tiếng cười rộ. Sau đó một giọng nói tiếng Việt vọng xuống.

–  Đủ người rồi.

Và họ thản nhiên làm việc như không hề có tôi đứng dưới. Đứng hồi lâu, thấy lạc lõng, ngớ ngẩn, tôi đi về hướng một người đàn bà đang ngồi trên võng vá áo quần, tôi không lầm, vì người nầy cũng là Việt kiều. Tôi chào bà ta, ngồi xuống và trần tình tự sự.

–  Tôi ở vùng kinh tế mới…

Tôi kể lại đời tôi, một cuộc đời bi thảm tưởng tượng mặc dù không bi thảm hằng cuộc đời thực tế và cuối cùng, tôi kết luận:

–  Hai ngày nay tôi nhịn đói, dì còn cơm nguội cho tôi một ít.

Người đàn bà hòa nhã và tốt bụng. Bà có vóc dáng giống dáng người đàn bà mà thầy bói diễn tả với tôi về những nữ nhân phù hộ trong những đoạn đường gian khổ. Và chính một người đàn bà khác ở Thái Lan giúp tôi cũng có nét hao hao chị em với bà nầy. Bà kêu một trong hai cô con gái chừng 18, 19 tuổi, xinh xắn dễ thương, vào bếp dưới thuyền lấy cơm và cá khô cho tôi ăn.

–  Cơm và đồ ăn còn ít. Cậu ăn đỡ chờ chiều ăn thêm.

Cái phần ăn đỡ của bà thật vĩ đại đối với tôi trong lúc nầy.

Nó còn ngon hơn cả thời kỳ ăn ở Nhà hàng Bát Đạt, Bạch Cung, những nhà hàng sang trọng nhất Chợ Lớn. Bà có người em trai làm Giám đốc Tổ hợp đánh cá nầy và hứa sẽ giúp đỡ khi em bà đi công tác trở về ngày mai. Buổi cơm chiều thật huy hoàng. Số canh và cá thừa đổ xuông sông, nếu cho tôi trong thời kỳ trốn chui trốn nhủi ở Sàigòn, hâm đi hâm lại, ăn cũng được mấy ngày.

Trời bắt đầu chiều tối, cô con gái lại đem mùng, mền và chiếu đến cho tôi ngủ. Tôi nằm hưởng thụ những hạnh phúc ngây ngất đang tràn ngập tâm hồn. Tôi tự nhủ: “Tia sáng hy vọng cuối đường hầm đã lóe lên rồi chăng?”

Tối đó có một buổi họp của Tổ hợp đánh cá. Buổi họp kéo dài, ồn ào vì có nhiều ý kiến. Khi buổi họp chấm dứt, một người đánh cá trẻ lại gặp tôi, báo một tin như sét đánh:

– Tổ hợp có đề cập đến trường hợp của anh. Họ nghi anh là Bộ đội đào ngũ nên không dám chứa chấp. Do đó, Ban Điều hành, phần lớn là người Khmer, trừ Giám đốc Việt kiều quyết định: Anh được phép ngủ lại đây tối nay nhưng sáng mai phải đi nơi khác!

Tôi như cánh diều đang nương gió bay cao, bỗng giây bị đứt, tôi lảo đảo, quay cuồng, chóng mặt. Hy vọng càng lớn, thất vọng càng nhiều. Tôi đang đối diện với một thực tế phũ phàng. Từ sau buổi họp, người đàn bà buồn bã, né tránh tôi. Tôi nằm trăn trở suốt đêm không ngủ được. Có những lúc trên đường đi nằm bờ nằm bụi, nằm trên đất ướt, dưới mưa, tôi vẫn có được những giấc ngủ ngon, thế mà giờ nầy, mùng mền, chiếu, gối, giấc ngủ lẫn tránh, không chịu đến. Sáng sớm khi xếp dọn những đồ mượn ngủ hôm qua đem trả, tôi lại hỏi ý kiến người đàn bà, xem còn cách nào khác không.

–  Tiếc quá, cậu đến trễ có một ngày. Hôm qua Ba Hiên vừa kéo thuyền bè đi làm gạch rồi. Ba Hiên hay Sáu Hiên, gọi theo thứ tự của mình hay bên vợ, tốt và chịu chơi lắm. Tổ đánh cá của Ba Hiên là tổ tư nhân muốn mướn ai cũng được, tổ của chị thuộc Tổ hợp nhà nước, khó khăn lắm.

Chị Tư, tên người đàn bà, giải thích với vẻ tiếc nuối.

–  Chỗ làm gạch ở đâu? Tôi hỏi.

Người đàn bà chỉ về hướng thật xa, sau một rặng núi dài trùng điệp ẩn hiện:

–  Đó!

Một ngọn núi nhỏ, lẻ loi, nằm tách ra như một dấu chấm, hoàn tất bức tranh sống núi non sông hồ.

–  Sau ngọn núi đó có một ngã ba sông, có một làng đánh cá. Đến đó hỏi, người ta chỉ cho. Từ đây đến đó khoảng mười lăm cây số.

–  Tôi có thể bơi tới đó được không?

–  Đâu có được! Ở đây ai cũng đi ghe thuyền. Cậu bơi giữa sông, tàu tuần tiễu bắt ngay.

–  Có tàu đi qua đó không? Giá tiền bao nhiêu?

–  Có tàu, nhưng tôi không nhớ giá cả.

–  Chị có thể cho tôi mượn ít tiền đi tới đó. Đánh cá có tiền, tôi trở lại trả lại chị.

–  Chúng tôi cũng mới bắt đầu vụ cá đầu năm, đã làm gì ra tiền đâu?

Tuy vậy, người đàn bà cũng lần túi lấy biếu tôi 5 riels. Tôi chợt nảy ra ý kiến đi vòng vòng chung quanh bắt đầu hành khất. Đám người đông, nhưng tiền bố thí lại ít. Tôi bỏ tiền vào túi ni lông, ngậm vào miệng, cởi quần áo bơi từ ghe nầy đến ghe nọ, tiếp tục xin tiền. Tôi bơi gần ba tiếng đồng hồ, có nơi cho nửa riel, có nơi một riel, nhiều nơi từ chối, cuộc bơi lội hành khất cuối cùng chấm dứt.

Tôi kiếm được 35 riels, từ giã mọi người, đi nhờ ghe qua bến tàu để mua vé. Một Việt kiều chỉ cho tôi con tàu nhỏ sắp sửa khởi hành. Tôi vội nhảy xuống, vừa lúc lúc tàu chạy, chiếc tàu nhỏ nhưng đông người. Tất cả khách đều là dân Khmer thuần chủng, da đen sậm, có năm tên Bộ đội Heng Samrin, súng ống lựu đạn đầy người. Tôi ngồi xuống, tự nhiên, bình tĩnh, im lặng lạc lõng giữa những câu chuyện ồn ào của họ. Cũng may là không có ai hỏi chuyện tôi. Tàu cặp bến một phum bên bờ sông, mọi người lũ lượt đi xuống. Tôi tưởng tàu còn đi tiếp, ngồi lại, vì hòn núi vẫn còn cách xa. Người tài công thấy tôi còn ngồi nấn ná, đến bảo tôi xuống tàu.

Vừa bước chân lên bờ đã nghe nhiều loạt súng nổ, có tiếng chân chạy đuổi. Thì ra toán lính gác đang rượt bắt hai người buôn hàng lậu vừa xuống tàu trước tôi. Một Trạm gác nằm bên trái cách hai mươi thước, có nhiều Bộ đội đứng đó. Tôi đi vào mái hiên đợi tàu, ngồi chen chúc với hành khách, quan sát và nhận định tình hình. Người tài công lại đến bên tôi, hỏi tôi đi đâu.

–  Tôi đi đánh cá ở Chí Lức, đằng kia.

Anh ta không hiểu ngạc nhiên hỏi lại:

–  Chí Lức?

Sau nầy tôi mới biết Chí Lức là tên người Việt đặt ra. Tên Khmer là Đài Côn. Tôi hỏi:

–  Ở đây có ai biết nói tiếng Việt không?

Y dẫn tôi đến một căn nhà đối diện Trạm gác.

–  Đây là nơi duy nhất có người biết nói tiếng Việt.

Đến nơi, được biết bà ta dời nhà đi phum khác đã lâu. Tôi liếc nhìn trạm gác. Những người lính Khmer trông mặt mày dữ dằn, đang chụm nhúm thảo luận một vấn đề nào đó. Tôi đến quán bán thuốc lá của một người đàn bà da tương đối trắng duy nhất tại đây, mua hai điếu thuốc lẻ. May thay bà bán thuốc nói được ít tiếng Việt. Bà bảo tôi:

–  Muốn đi Đài Côn, phải đón ghe câu ở đằng kia, gần trưa mới có. Hoặc có thể nhờ tàu tuầu tiễu của Bộ đội VC tới đó!

Ngay lúc đó có một Bộ đội VC đi qua. Tôi đánh bạo ra hỏi chuyện. Anh ta người Nam, dễ tính và càng dễ tính hơn khi nhận điếu thuốc tôi mời. Mặt anh ta rạng rỡ hẳn lên như vừa ngủ dậy và đang thèm một điếu thuốc.

–  Cả tuần mới có một chuyến tàu đi tuần. Nhưng chẳng chắc chắn ngày nào. Anh ta bảo.

Tôi cám ơn, đi về bến ghe câu nhưng chẳng thấy chiếc ghe nào cả bèn đánh một vòng đi ngắm đường sá, nhà cửa, lội xuống một chỗ nước cạn, đến một nhà sàn có mấy người đàn bà đang ngồi nhàn rỗi, thừa mứa thì giờ. Những người đàn bà Miên vui tính, dễ dãi. Tôi nghe tiếng được tiếng mất, hiểu lờ mờ những câu trả lời, và tôi xác định thêm về việc đón ghe câu.

Tại bến ghe câu thấy một người đàn bà Miên đang đứng giã gạo dưới bóng một tàn cây, tôi đến gần hỏi chuyện. May quá, một chiếc ghe đang chèo qua, người đàn bà vẫy tay gọi lớn. Ghe cặp vào bờ, trên ghe có hai vợ chồng già và một số đồ nghề đi câu, làm chài. Họ thuận cho tôi đi nhờ. Ghe cứ chèo, chèo mãi, tôi gợi chuyện nửa Miên nửa Việt vì người đàn ông cũng biết bập bẹ tiếng Việt. Con sông rộng mênh mông, nhưng đường ghe đi càng lúc càng hẹp, bởi vì các loại cỏ nước mọc lan tràn khắp nơi. Đã tới cạnh núi vẫn chẳng thấy gì. Tôi năn nỉ:

–  Bác ráng đi chút nữa xem.

Ghe đã qua khỏi núi, đường sông đã gần bít lối bởi cỏ nước, bỗng thấy một chiếc ghe khác có hai vợ chồng già đang giăng lưới bắt cá, tôi nhờ ông ta ghé đến hỏi tin tức. Người đàn ông kia cũng biết chút ít tiếng Việt, xác nhận hôm qua có thấy tàu và bè như tôi diễn tả, đi qua phía bên kia núi. Chúng tôi đang ở bên trái núi và thuyền bè thì đi bọc bên phải, nhưng chẳng biết đi về đâu. Tôi mừng quá bảo:

— Họ đánh cá gần đó thôi, chở dùm tôi tới đó. Tôi còn 30 riels (tôi đã xài 3 riels đi tàu và 2 riels mua thuốc) tôi sẽ biếu hết các bác.

Họ lưỡng lự và từ chối. Tôi nghĩ có lẽ họ đánh cá bán được nhiều tiền hơn và nhất là cái nơi tôi muốn đến lại mù mờ quá. Tôi phải khẩn khoản, năn nỉ, đồng thời, nhét tiền vào tay họ, cuối cùng họ thông cảm, nhận lời.

Hai người đàn ông cùng tôi lên chiếc ghe tốt, để lại một ghe cho hai người vợ, bắt đầu chèo đi. Từ bên trái băng qua bên phải núi, ghe đi chen chúc giữa cỏ lác, bụi lùm như người đi bộ len lách trong rừng. Qua tới dòng sông lớn, họ dăng buồm lên và chèo tiếp, gió xuôi chiều đẩy ghe đi băng băng, ánh nắng ấm áp rực rỡ trên dòng sông rộng. Tôi thấy hứng khởi, cởi áo quần, chỉ mặc xà lỏn, với tay lấy một điếu thuốc rê của chủ ghe vấn lên và bặp bặp hút. Tôi đứng ngắm cảnh vật thiên nhiên, lòng lâng lâng vui thú như một Nhà Tỉ phú du lịch Địa Trung Hải.

Tôi huýt sáo, ngâm thơ. Hai người đàn ông nhìn tôi kinh ngạc, họ vẫn nỗ lực với mái chèo và tôi vẫn thong dong ngắm cảnh. Tôi mường tượng đến một đoạn phim trong đó một Bá tước trẻ quyền quí đứng chỉ huy trên một bong tàu và những người nô lệ nhịp nhàng mải mê đẩy mái chèo rộng. Một kẻ bần hàn lao nhọc trong suốt sáu bảy năm như tôi, một người vừa bơi ba tiếng đồng hồ đi hành khất, bỗng dưng một phút, trở thành người phong lưu nhàn nhã. Cuộc sống vốn có những trò bất ngờ kỳ lạ và tôi luôn luôn rơi vào những hoàn cảnh bất thường. Cái hào hứng, cái hạnh phúc tuyệt vời đó dần đần bị tan vữa như một bức tranh màu đang vẽ chưa khô bị một trận mưa bất ngờ trút xuốing. Người chèo thuyền nhìn tôi hỏi:

–  Ở đâu?

Ở đâu giữa dòng sông nước mênh mang ngút ngàn? Bờ bụi, cỏ cây trùng trùng xanh thẳm? Tôi đi đâu? Tôi tìm ai? Làm sao tôi biết chắc chắn được? Cơn mộng du đã đưa những bước chân tôi mơ màng về miền đất hứa không có thật. Một vài chiếc thuyền nhỏ, một nhóm người giữa trùng trùng hoang vắng? Họ ở đâu? Họ có thật không? Tôi ra đi với một niềm tin mơ hồ, với những chiếc bong bóng ảo ảnh mà trên cao kia Thượng Đế đang thổi xuống, trong một lúc cao hứng đùa cợt. Thượng Đế ơi! Nếu Ngài sinh tôi ra đời chỉ để thỉnh thoảng dùng vào trong một vài trò tiêu khiển, trong những phút giải khuây, tôi cũng đành phải làm tròn nhiệm vụ hèn mọn của một tên Hề.

Tôi nhớ lại chuyện phim cao bồi tân thời, người hùng cô độc lỗi thời bị cuộc đời hiện đại rượt đuổi khắp nơi, một người, một ngựa, một súng rouleau, tay cao bồi một thời lừng lẫy đã chạy thoát bao nhiêu cuộc truy lùng trong rừng sâu bởi các chiếc máy bay trực thăng săn đuổi. Cuối cùng, thoát nạn, người ngựa băng qua một xa lộ lớn, một chiếc xe lô bồi dài chạy băng băng dưới sự điều khiển của một tài xế đang mơ màng trong cơn ngủ gật vừa trờ tới. Con ngựa hốt hoảng cất vó lên hí một tiếng dài thất đảm, và bóng người, ngựa đổ xuống dưới tốc độ lạnh lùng của những bánh xe nghiền nát!

Vâng, cuộc đời đã, đang và sẽ xảy ra những trò oái oăm như vậy. Có gì đáng ngạc nhiên đâu, có gì đáng lo âu, thắc mắc đâu. Chính tôi, người trong cuộc, không lo âu, thắc mắc, nhưng người ngoài cuộc, hai người chèo ghe lại cứ lo âu, thắc mắc. Bởi vì họ quen sống cuộc sống bình thường, và họ quen suy nghĩ những chuyện bình thường, quấn quít họ hàng ngày trong đời sống.

– Nếu không tìm thấy thì sao? Chúng tôi không thể đi xa hơn được nữa!

Tôi biết họ còn có vợ con, còn có nghề nghiệp, còn có đủ thứ để lo toan. Làm sao họ chia sẻ, cảm thông được cái định mệnh kỳ lạ đó.

— Bác chèo dùm cho nửa giờ nữa. Nếu không gặp, thả tôi xuống bất cứ chỗ nào cũng được.

Vâng, tôi sẽ xuống bất cứ một nơi nào đó giữa nơi hoang vu không bóng người, bóng nhà, không có phương tiện để sinh tồn, và tôi… “Hãy để cho ngày mai lo chuyện ngày mai, hãy để cho người chết lo chuyện xác chết!” Tôi nhủ thầm.

Bỗng nhiên có một vật gì khác lạ vừa chợt xuất hiện. Nhập nhòa giữa những bóng xanh rừng cây hậu cảnh, hình như có một mái nhà. Tôi điều tiết mắt tối đa để nhận xét, nhiều năm tù tội đã làm cho đôi mắt tinh anh của một Phi công kém phần hiệu lực. Tôi kêu và ra dấu chỉ cho hai người chèo ghe, hai người nầy lớn tuổi, lại làm nghề chài lưới, mỗi ngày phải lặn dưới nước sâu, cái thứ nước đầy rong rêu, phù sa, mắt phải mở lớn trừng trừng để quan sát, tìm kiếm, nên mắt còn kém hơn tôi nhiều. Nhưng một chút hy vọng cũng đủ kích động những bắp thịt, những gân tay đã mỏi mệt nhịp chèo đường xa. Mắt tôi không rời mái nhà, như con mồi bị “đóng đèn” không rời khỏi ánh sáng chói lọi chiếu từ đầu người thợ săn đêm.

Rõ ràng là chuyện mò kim đáy biển, và số phận kỳ diệu đã giúp tôi tìm thấy được cái kim bé nhỏ, lạc loài kia. Trên nóc nhà, một lá cờ đuôi nheo nhỏ xíu bay phần phật. Đó là một ngôi nhà duy nhất trong vùng, nằm đối diện với hai cột xi măng cao bên kia bờ sông rộng, phần còn lại duy nhất của một ngôi chùa đã bị đốt cháy. Tất cả khu vực trù phú giàu có một thời, sau một thời gian cầm quyền của Chế độ Pôn Pốt chỉ còn lại chừng đó dấu tích. Giữa cảnh hoang tàn, lòng tôi tràn ngập bao nhiêu đợt sóng xúc cảm dạt dào. Có thể đầy là nhóm đánh cá nào khác nhóm của Ba Hiên. Không quan trọng, chỉ cần có sự sống, có sự sinh hoạt, thế là đủ. Tôi nghĩ dù bất cứ là ai, ở chốn hoang vu nầy, chắc chắn họ không nỡ từ chối một người chỉ mong làm việc để kiếm ngày hai bữa cơm, không đòi lương bổng.

Giờ phút nầy tôi chưa thể nghĩ đến vấn đề làm ra tiền, tôi đang đói khát, tôi đang bị săn đuổi, tôi chỉ cần một chỗ ẩn thân. Và chính nơi nầy, tôi đã tìm được một chỗ ẩn náu dưới đáy lòng sông Cửu Long, cùng nhóm người đánh cá Miên Việt, tự tách ra khỏi thế giới loài người, âm thầm cặm cụi với từng con nước và sự khắc nghiệt của thời tiết giá lạnh để tranh đấu với cuộc sinh tồn.

Cách xa ngôi nhà lá hai trăm thước, một số người đứng trên bè kết bằng những cây gỗ lớn, đang cùng hô lớn để giữ nhịp:

–  Lên-xuống, lên-xuống…

Họ dùng một cái vồ bằng gỗ, lớn như một cái trống thường treo ở các đình chùa, bên hông được đẽo thành những tay cầm. Tám thanh tay cầm cho tám bàn tay, bốn người đứng bốn góc, chập chờn trên làn nước, đồng loạt nâng lên và đóng xuống một cây gỗ dài chừng mười lăm thước cắm sâu vào lòng sông. Nghe tiếng Việt, tôi mừng quá vội hỏi lớn:

–  Ở đây có phải là Tổ hợp của anh Ba Hiên không?

–  Đúng rồi. Một người trả lời.

–  Cho tôi làm với được không?

–  Vào gặp các ông Chủ trong nhà kia đi.

Ghe cặp sát một ngôi nhà nổi. Tôi nhảy lên, hai người chèo thuyền vội vàng đẩy ghe đi tuốt. Tiếng lia hơi (từ giã) vừa đến tai thì bóng ghe đã xa tít. Họ chèo như chạy trốn, như sợ hãi một bóng ma. Họ mừng thoát được cái con người kỳ dị!

Tôi đứng giữa nhà, mặc quần xà lỏn, quần áo vắt trên tay, thân hình gầy, trắng xanh nổi bật giữa đám người lực lưỡng đen đúa. Cảm giác đầu tiên của họ khi nhìn thấy tôi, như lời họ nói sau nầy:

–  Một cậu Công tử hay một ông Mỹ xì ke đi lạc!

Tôi nói với họ, tôi tìm anh Ba Hiên để xin việc. Người nầy nháo nhác nhìn người kia dò hỏi và họ cùng bật cười khi một cậu thanh niên người Việt dịch lại. Nhóm trong nầy gồm toàn người Khmer, và anh chàng Việt kiều bị bệnh nằm nhà bỗng trở thành thông dịch viên bất đắc dĩ.

–  Anh Ba Hiên còn ở Nam Vang chưa về. Quen biết với anh Ba Hiên thế nào?

Tôi cố gắng giải thích cho qua chuyện:

–  Bạn tôi là anh Tại quen biết với anh Ba Hiên (thật ra anh Ba Hiên mập nầy chẳng có giây mơ rễ má gì với anh Sáu Hài ròm của Tại) giới thiệu tôi đến xin anh Ba Hiên để làm việc.

Người ta vừa tò mò, vừa ngạc nhiên, vừa lạ lùng tự hỏi: “Một anh chàng như thế nầy đến đây làm gì, làm được gì? Đây là chỗ đánh cá, người ta cần thợ nhà nghề, biết lặn lội, đánh cá. Chúng tôi đâu cần Ngài Công tử đến đây để nhảy đầm, để rong chơi. Ngài nhầm chỗ rồi!”

Sau một hồi thảo luận, họ cho biết hiện giờ không có Ba Hiên ở đây tuy nhiên các ông Chủ Khmer (Tổ hợp nầy gồm bốn ông Chủ Khmer và Ba Hiên là ông Chủ người Việt thứ năm) quyết định:

–  Anh là người lạ, không nói được tiếng Miên, ở đây không ai dám mướn. Các ông Chủ chỉ cho anh ngủ lại đây một đêm, sáng mai phải rời đi chỗ khác!

Thật là sét đánh ngang tai! Tôi ngồi ngẩn ngơ như người mất hồn. Đám thợ Việt kiều ngoài kia ùn ùn kéo vào. Họ lăng xăng lít xít hỏi chuyện, kéo tôi vào ăn cơm trưa chung với họ. Ăn xong, họ lên ghe đi làm, tôi cũng nhảy đại lên ghe đi theo họ. Họ làm gì tôi làm nấy, họ làm một tôi làm bốn năm, họ ngần ngại, tôi xung phong. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đã đạt đến tột đỉnh của sự lao động tự giác. Họ ngạc nhiên, không ngờ tôi cũng chịu khó, cũng biết làm việc. Nếu biết tôi đã ở tù Cộng Sản sáu năm, chắc họ sẽ “ngượng” về sự đánh giá ban đầu của mình. Khánh, một thanh niên người Việt trẻ, từ Việt Nam bụi đời qua đây làm việc, bắt đầu tập sự mùa cá năm ngoái, có tiền, về Việt Nam ăn chơi rồi trở lại làm việc tiếp, góp ý:

— Anh nhờ mấy ông già Việt Nam kia xin dùm. Họ có uy tín vì họ là thợ chính, mình xin làm tạm một vài tuần kiếm ít tiền rồi đi đâu thì đi.

Chỉ có bác Tư Niên, người chịu trách nhiệm kỹ thuật toàn bộ của giai đoạn đầu là tận tụy còn những bác khác, hình như họ chỉ bàn ra, chẳng có gì khả quan. Buổi tối, tôi được mời ngủ chung mùng với một người thanh niên Việt khác còn rộng chỗ. Tôi hỏi chuyện để biết sơ tình hình người và việc ở đây.

Sáng sớm, tôi thức dậy sớm khi mọi người, vốn dĩ vẫn dậy sớm, còn đang ngủ. Tôi nhìn những chiếc thuyền nhỏ, sau một đêm, nước rỉ vào khá nhiều, bước xuống từng ghe, dùng gàu tát nước, tát hết ghe nầy đến ghe nọ. Sự mệt mỏi vì những động tác chưa quen làm cho lưng tôi mỏi nhừ, hai tay rã rời, tôi phải vận dụng ý chí để vượt qua sự yếu đuối của cơ thể. Những người Chủ dậy sớm nhất, thấy tôi đang làm việc tỏ vẻ hài lòng. Tôi lại vào ăn sáng và leo lên ghe theo các toán đi làm, chẳng ai đá động hay ngăn cản nên tôi hơi yên tâm.

Công việc làm gạch của họ không phải là làm gạch ngói như tôi tưởng nhầm mà là đóng những trụ cây lớn xuống dòng sông cách khoảng nhau chừng một thước, xong trải đăng xuống để chận cá trên đường xuôi dòng nước. Cá bị chận lại sẽ theo đăng đi tìm lỗ trống chui qua. Những lỗ trống là những cái đơm chỉ vào mà không ra được. Đơm được gắn ở rọ chứa cá. Cá rọ chim lồng như gái có chồng. Giai đoạn đầu làm gạch là giai đoạn nặng nhọc, cần nhiều thợ, tất cả cọc được xếp trên bè, làm bằng những cọc lớn ghép lại, có bộ phận đo độ sâu dòng sông để chọn cọc, có bộ phận kéo và thả cọc.

Cọc thả tới đâu, có bộ phận đóng cọc hoàn tất tại đó. Bốn người đứng trên hai tấm ván bắt chênh vênh trên mặt nước, nhịp nhàng hô lớn: Lên-xuống, lên-xuống theo từng động tác. Chỉ cần một trong bốn người yếu sức hoặc không quen nghề, vồ sẽ bị lệch đi, không đủ mạnh, hoặc trượt ra ngoài nguy hiểm. Một bộ phận khác lại nối cọc bởi cầy chỏi nằm chéo dài hơn… Những ngày đầu, chưa quen việc, tôi chỉ được phụ vào những việc đơn giản, dùng sức. Nhưng từ từ, nhờ các đồng nghiệp lười biếng, nhất là thợ Khmer chậm rãi, nhàn nhã mặc dù bị rầy rà, nên giao công chuyện cho tôi. Nhờ kiên trì, chịu khó lại có chút đầu óc toán học, khoa học, tôi dần chiếm được uy tín. Hôm hoàn tất giai đoạn đầu, ông Chủ Ba Hiên từ Nam Vang xuống, đem theo heo cúng để ăn mừng. Nghe các thợ chính báo cáo về tôi, Ba Hiên quyết định:

–  Nếu nó chịu khó và giỏi thì để cho nó làm tiếp.

Chủ Ba Hiên thích ăn nhậu thoải mái và cũng thích làm việc đâu ra đó. Tinh thần làm việc trở nên khẩn trương gấp bội, Ba Hiên vừa cười toe toét đó, lại vừa chửi như tát nước vào mặt sau đó. Khi lặn xuống kiểm soát các chân cột và nẹp chân cột, Ba Hiên khám phá có một chỗ làm dối trá không kỹ lưỡng, thế là hai người thợ lặn bị mắng như tát nước. Người thợ lặn trẻ bị bắt buộc phải sửa chữa lại ngay lập tức. Anh ta lặn hụp nhiều lần mà vẫn chưa xong. Sợ bị đuổi việc, anh ta phải cố gắng quá sức. Lần lặn cuối cùng khi trồi lên, anh ta bị hụt hơi vì thiếu dưỡng khí trầm trọng. Anh ta mất sự tỉnh táo bình thường, ngoi lên không đúng thể thức, nên đụng mạnh đầu vào cây chỏi, bất tỉnh và buông tay chìm lỉm. Một người Khmer thấy, nhưng chẳng hề nói gì, đến khi chờ lâu không lên, hỏi ra mới biết tự sự. Anh Khmer phân bua một cách ngớ ngẩn:

–  Tôi tưởng anh ta trồi lên, rồi quên cái gì đó nên lặn xuống tiếp. Tôi đâu biết!

Báo động đỏ! Tất cả thợ các nơi khác đều đổ dồn về, nhưng chẳng ai chịu nhảy xuống nước. Dân đánh cá ít khi cứu kẻ chết đuối vì sợ bị ma rà trả thù. Có bốn người thợ lặn, hai Khmer, hai Việt Nam, hai người Khmer thì im lặng như tờ, chỉ còn một thợ lặn già Việt Nam. Bác ta nói ân nghĩa, nói luân lý: “Vì tình Dân tộc, vì nghĩa Đồng bào…” một hồi lâu rồi mới chịu nhảy xuông, lặn vài hơi rồi leo lên. Tôi thấy sốt ruột và bứt rứt từ khi biết tin đó nhưng nghĩ rằng ở đây toàn thợ lặn chuyên nghiệp, mình nhảy xuống chỉ làm trở ngại cho người khác. Đến lúc nầy, tôi không còn chịu được nữa. Làm thế nào có thể đứng yên, khi có người chết đuối ngay trước mắt mình. Chỉ có những kẻ ích kỷ, thiếu lương tâm mới có thể yên lặng trong giờ phút nguy nan.

Tôi nhớ hồi 13 tuổi, một buổi tối, nghe tiếng la cầu cứu, tôi vội chạy nhào xuống bờ sông lặn tìm một cô bé lớn tuổi hơn bị chết đuối theo sự báo động của người hàng xóm. Tôi ngụp lặn một mình trong khi hàng trăm người lớn đứng tần ngần bàng quan trên bờ. Tôi mò mẫm từ bờ ra giữa dòng sông, lặn khá lâu, bất ngờ đụng được bàn tay chìa lên dưới đáy sông của cô bé. Cái cảm giác nhờn nhợt, lạnh tanh của bàn tay dưới lòng sông đen tốỉ, như dòng điện lạnh chạy suốt từ cột xương sống đến óc não, làm tôi kinh hoảng ngoi lên mặt nước kêu cứu và báo động. Chẳng ai tình nguyện xuống phụ giúp, tôi đành thu hết can đảm, lặn xuống nắm tay cô bé bơi kéo vào bờ. Xong vác hai chân cô bé lên vai, dốc ngược đầu xuống đất, tôi chạy bộ đến nhà thương vì thời đó ở địa phương nhỏ chưa có phương tiện cấp báo. Đến nơi, tôi đuối sức, té xuống bất tỉnh, trong khi cô bé bắt đầu tỉnh dậy, khi bùn nước, máu me, xổ ra hết dọc đường chạy cứu cấp. Tôi được tặng bằng khen thưởng “Em bé can đảm” nhưng nhiều đêm sau đó, tôi bị ác mộng kinh dị bởi dòng sông đêm đen thẳm. Cảm giác bàn tay nhơn nhớt, lạnh tanh mãi mãi in một dấu vết sâu đậm trong trí nhớ của cảm xúc. Tôi không dám đi gần bờ sông, và không dám tắm sông gần nửa năm.

Không lẽ giờ nầy khôn lớn, tôi lại thiếu tinh thần tương trợ, nghĩa hiệp, thua kém chú bé Lý Tống ngày xưa. Tôi nói lớn:

–  Để tôi xuống lặn thử.

Ông Chủ Ba Hiên vội ngăn ngay:

–  Mầy biết gì mà lặn.

Ông ta nói đúng, không biết mà lặn là chết ngay, bằng chứng là sáng hôm qua, tôi đã suýt chết. Nguyên tắc mỗi lần lặn xuống và lên đều phải bám theo một cây cột chuẩn, thế mà khi trồi lên, tôi lại thả tay, nên bị lạc vào bè. Tôi ngoi lên không được vì những thanh gỗ bè tạo thành một bức rào cản trên mặt nước. May quá, khi sắp ngột thở, vô tình gặp một lỗ trống nhỏ nhờ hai thân cây cong khuỳnh ra, tôi chun đầu lên thở lấy thở để. Nếu không có cái lỗ trống bất ngờ kia, chắc tôi đã chết ngộp trước người thợ lặn trẻ. Lặn phải mở mắt lớn, nếu lỡ lạc tay, cứ tìm chỗ sáng mà trồi lên, tuy nhiên vì dưới dòng sông nước dơ và rất tối, nên người thợ lặn thường dùng xúc giác nhiều hơn thị giác. Tôi cả quyết:

–  Tôi lặn được.

–  Rồi! Mầy muốn cho mầy thử.

Để chuẩn bị cho tôi lặn, người ta thả một sợi dây, đầu buộc một cục sắt, thả thòng từ ghe xuống. Ông thợ lặn già lặn lẩn quẩn ở gần, nên chỉ bám theo các chân cột, tôi lần theo giây đi xuống. Dưới độ sâu hơn tám thước, tai tôi bắt đầu đaư buốt, tôi tiếp tục lặn xuống, cảm giác đau đớn lên đến cực độ, như có kim lớn chọc thủng màng nhĩ. Tôi cắn răng chịu đựng. Sự đau đớn thể xác không thể đánh bại sự đau đớn của tinh thần, sự cắn rứt của lương tâm. Tôi xuống nữa, khi chân chạm đất, tôi ôm cục sắt một tay, tay kia quờ quạng đi tìm. Những người thợ lặn lâu năm đều có kinh nghiệm: Khi đã lặn quen, lặn xuống càng sâu càng thấy êm, thấy đằm dễ chịu và thời gian nhịn thở dưới sâu còn lâu hơn lặn cạn.

Nhưng trong giờ phút đó, tôi thấy tức thở quá, bao nhiêu áp lực của nước ở độ sâu, đang ép vào ngực tôi đến ngột thở, và nhất là cơn đau buốt trong đầu, trong tai, giữa trán. Tôi ráng lặn đi thêm vài đoạn nữa, đến lúc không chịu đựng được vì hụt hơi, tôi cuống cuồng búng nhanh người lên. Mặt nước thăm thẳm ở đâu trong giờ phút kinh hoàng nầy? Tôi há mồm nuốt luôn mấy ngụm nước thế không khí và cuối cùng ngoi lên được mặt nước. Toàn thân rùng mình mạnh, tất cả tế bào, bắp thịt trong người đồng loạt quẫy mình táp không khí cùng một lúc. Ba Hiên ngồi trên ghe la lớn:

–  Thôi lên đi, lên đi.

Tôi ngạc nhiên:

–  Tại sao?

–  Không được đâu. Máu tai, máu mũi mầy phun ra tùm lum đó không thấy sao?

À ra thế! Tôi đáp:

– Không sao đâu, tôi chịu được.

Và không đợi trả lời, tôi hụp xuống, lặn lần thứ nhì. Sự đau đớn quá độ làm cảm giác dần tê dại đi, tôi bớt thấy đau đớn, lặn mò đi quờ quạng một phạm vi thật rộng, thật xa. Nước đáy dòng sông chảy xiết, tôi cảm tưởng chỉ đi một đoạn ngắn, nhưng mỗi lần trồi lên, ghe lại chuyển dịch cả hơn trăm thước. Tìm kiếm hồi lâu không gặp, dòng sông mùa nước lớn bạt ngàn, như không còn bờ bến. Một xác chết chìm, biết trôi về đâu? Cuối cùng, tôi đành leo lên ghe, chấm dứt cuộc tìm kiếm vô vọng.

Từ hôm đó, một số người được biệt phái đi tìm xác chết. Họ chèo thuyền đi lòng vòng từ bờ nầy, bụi nọ, tìm xem xác chết tấp ở đâu. Người ta thường bảo: “Nam sấp, nữ ngửa.” Có lẽ cái quan niệm “người đàn ông quen nằm sấp, người đàn bà nằm ngửa khi làm tình” nên khi chết đuối cũng theo thế bộ quen thuộc này và đến ba ngày sau xác mới nổi lên. Không biết Anh Hai, tên chàng thợ lặn, có theo môn phái hiện đại, fantasy thường kiểu cọ trente-six modes hay không, nhưng chỉ vừa đúng hai hôm, đã nghe một chiếc ghe nhỏ đi qua báo có thấy một xác chết nằm ngửa! Tôi ở trong toán tìm xác, chở quan tài vừa đóng vội xong đến nơi. Một điều lạ khác, chúng tôi nghĩ là xác trôi theo dòng nước đi xuống nên chỉ quanh quẩn tìm ở khu vực dưới dòng, anh Hai lại nổi ở khu vực phía trên!

Xác chết bập bềnh cách trăm thước ngược chiều dòng nước, kể từ chỗ bị chìm, da thịt căng phồng như hình quảng cáo vỏ xe Michelin. Phần cổ bị cá rỉa ăn mất một mảng lớn, đôi mắt lòi tròng như hai trái nhẫn lột vỏ, máu mũi, máu mắt đóng lại, khô sẩm trên mặt, tay chân bỗng ngắn cũn cỡn bởi vì một phần co quắp lại, phần thân hình và các bộ phận khác đều nở lớn bề ngang và bề dày tối đa. Anh Hai lúc còn sống thân người ốm, nhỏ thó, dễ nhìn, lúc xác nổi lên lại trông phì nộn, lũn cũn. Tôi đảo mắt nhìn Hồng, chợt thấy lạ là vì giờ nầy anh Hai lại giống thằng Hồng như hệt! Từ đó mỗi lần thấy mặt Hồng, trong trí tôi lại hiển hiện hình ảnh anh Hai nổi lều bều trên mặt nước. Anh Hai chết để lại một vợ và hai con nhỏ. Ngày thấy xác anh Hai, chị Hai khóc la thảm thiết:

— Anh ơi là anh ơi. Anh chết đi ai nuôi tôi, ai nuôi con anh?

Vâng! Người đàn bà nầy đang than khóc cho mình chứ không khóc thương cho chồng. Chị ta khóc thương những ngày tháng nhàn nhã cũ, chỉ biết ăn rồi nằm ngửa, người chồng phải tận tụy dãi dầu để hầu hạ nuôi nâng mình. Giờ nầy, sau khi nổi lên từ đáy sông lạnh lẽo, âm u, lại được chôn vào một vùng đất cô liêu quạnh quẽ. Do đó chỉ hơn một tháng sau, người ta xầm xì về sự đi lại thân mật của chị ta và Hồng. Có lẽ khi chết, anh Hai linh cảm được điều đó, nên biến dạng của mình giống như Hồng, để chị Hai thấy khuôn mặt xác chết ghê rợn trên khuôn mặt của Hồng mà kinh hãi Hồng, nhưng trớ trêu thay, chị Hai không những không sợ Hồng, lại còn muốn yêu chồng qua hình ảnh của Hồng, một Hồng bằng xương bằng thịt, đầy đủ sức khỏe và tay nghề để thay người chồng qua đời tiếp tục phục vụ chị ta. Còn tôi được thế chân chỗ anh thợ lặn bỏ trống.

Có người chết là có cúng, có cúng là có ăn. Chuyến này bị tổ trác, sau khi ăn một bụng thịt heo, tôi bị đi tiêu chảy tận mạng. Đi tiêu chảy cả đêm, cả ngày, đến nỗi, hậu môn lòi ra ngoài, đau rát không đi lại được bình thường. Tôi được cho vào làm Tổng Khậu (đầu bếp). Bạn bè ở tù ai cũng học được nghề nấu bếp, riêng tôi, đành chịu, bởi vì ở tù chẳng có ai thăm nuôi, chẳng có đồ ăn để tập nghề nấu bếp. Tôi đành làm liều với nghề mới. Mỗi bữa ăn bốn năm chục người, tôi nấu một nồi lớn loại 70 người ăn. Nấu xong, tôi lấy lớp cơm tốt phía trên còn phần khê cháy khét bên dưới, đổ xuống dòng sông cho cá. Có bữa khê nặng, đổ nhiều, nồi 70 không đủ cho 40 người ăn. Tệ hơn, tôi lại còn chiên cháy đen số cá làm đồ nhậu mà ông Chủ rất quí, đem từ Nam Vang về.

–  Tổng Khâu cà chớn! Ngày mai cho đổi trở về làm công tác cũ.

Tôi phải đi làm dù chưa lành bịnh. Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí. Đúng là đã tới thời kỳ vận mạt, hôm qua tôi ngồi chơi bỏ thõng chân xuống nước, Ba Hiên chèo ghe ngang qua thấy vậy cau mặt, cự nự:

–  Mầy có biết trong nghề đánh cá, ngồi thõng chân kiểu nầy là tiêu tan sự nghiệp không?

Từ ngày anh Hai chết, phần thấy điềm xui, phần phải bồi thường tiền tai nạn lao động, nên các Xếp của tôi càng ngày càng khó tính. Ngồi thõng chân, huýt gió, và nói tiếng Việt là những điều tối kỵ. Người Khmer không thích nghe một thứ ngôn ngữ nào khác lạ trên đất nước mình, nhất là tiếng Việt. Đó là lý do vì sao toàn lãnh thổ Kampuchia chỉ có một ngôn ngữ Khmer, trong lúc ở Việt Nam lại có trên 60 thứ ngôn ngữ khác nhau của các dân tộc thiểu số!

Bữa nay vừa thả đăng xong, lại cúng. Làm gạch có nhiều giai đoạn và cứ xong một giai đoạn lại có cúng ăn mừng. Lần nầy cúng lớn nhất, đặc biệt nhất. Lớn và đặc biệt vì thả đăng là giai đoạn chót, bắt đầu chuẩn bị hái ra tiền. Để kịp cúng, tối hôm qua, chúng tôi đã dồn mọi nỗ lực đến hơn 10 giờ đêm mới hoàn tất. Làm nghề đánh cá khổ nhất là lạnh, và cá chỉ đợi mùa mưa, lạnh mới rời nguồn đi về xuôi. Ngày xưa, người ta uống nước mắm cho đỡ lạnh, ngày nay lại uống rượu mỗi lần lặn. Vừa lạnh, vừa ngứa, ai cũng bị ghẻ lác đầy người, lại bị bù mắt cắn thật kinh khủng. Không những thế, tối qua chúng tôi còn phải lặn đêm, thả đăng xuống, chúng tôi phải lặn theo xuống đáy sông cột đăng vào nẹp, lại ôm đá được ném xuống đặt đè lên để giữ chân đăng. Vừa bám vào đăng vừa run lập cập, cái lạnh thể xác đã vượt quá giới hạn và đạt đến cái lạnh của tâm linh. Mỗi lằn mò mẫm dưới đáy sông âm u, tôi có cảm tưởng như đang một mình đối diện với tử thần.

Dân đánh cá người Miên rất tin thần linh, ma quỷ. Cúng là một hình thức để tạ ân sự giúp đỡ hay để tạ lỗi một cơn thịnh nộ của thần linh. Và cúng là dịp để ăn nhậu, đàn địch, ca hát và nhảy múa. Chín giờ sáng, mọi công tác chuẩn bị đều xong, chúng tôi đưa những dĩa, mâm, son nồi đựng đồ cúng thịnh soạn lên tàu. Tàu chạy ngược hướng sông, cái hướng chính và duy nhất tất cả cá sẽ từ đó đổ vào rọ. Ngoài ý nghĩa đi thăm viếng đất đai, thần linh còn có mục đích tuần tra sông lần cuối. Phải ngăn chận kịp thời sự phá hoại của địch thủ hoặc sự xâm phạm quyền lợi vì dòng sông nầy trong mùa cá nầy, thuộc quyền sở hữu của Tổ hợp chúng tôi. Tàu vừa nổ máy chạy, chúng tôi đã quây quần trên boong tàu, những loại cá ngon nhất đã được nướng sẵn. Chúng tôi dùng tay bốc ăn và uống rượu đế. Tiếng đàn cò í ò í e cùng tiếng ca của người nhạc công bản xứ vang rền, một số đã đứng dậy nhảy múa điệu Lâm thôn. Rượu khiêu khích cơn khao khát cựa quậy, những bước chân rầm rập nhảy múa, những tiếng la hét náo nhiệt. Bác Ba, khi tàu ghé vào một am nhỏ, thắp nhang, cúng rượu và đồ nhắm cho thần linh đã hát một đoạn lễ nhạc trang nghiêm trong đó có một câu vừa tục vừa tức cười:

– Bà đi… có cặp lông công. Bà về… bà xách cái lồn không bà về!

Cái không khí huyên náo vui nhộn đã khích động những cuộc cụng ly thách thức và mời mọc. Tôi chỉ còn nhớ lờ mờ những tiếng vỗ tay reo hò và tôi cứ liên tiếp uống rượu, cụng ly, cạn một hơi những ly cối rượu đế lớn từ tay người nầy người nọ mời ép.

“Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn” là qui luật của những tiệc rượu.

Bỗng dưng tôi thức giấc, đầu choáng váng nặng trĩu. Tôi định đứng dậy đi kiếm nước uống vì quá khát, chợt thấy đau buốt ở chân phải. Tôi nhìn xuống đầu gối, kinh hoàng vì một nùi vải lớn băng bó dơ dáy. Máu cùng những chất thuốc cầm máu (đường nhảo trộn thuốc lá) loang lỗ trên mặt vải.

–  Cái gì thế nầy? Tại sao thế nầy?

Tôi hỏi với giọng thảng thốt. Chị Hai đem lại cho tôi một ly nước, vừa kể chuyện vừa trách tôi:

–  Người Khmer rất kỵ máu đổ. Máu đổ là xui xẻo. Anh uống rượu kiểu gì say đến nỗi đi trên boong tàu lại té xuông chỗ xếp đồ cúng, đầu gối chấn vào mép nồi cháo lòng lớn, máu phun có vòi, không biết bao nhiêu lít. Xé hết cả cái áo của anh để băng, nhét bao nhiêu đường, thuốc rê vẫn không cầm máu được, chắc bị đứt mạch máu lớn rồi. Người ta khiêng anh về mà anh không biết sao? Anh Ba Hiên giận lắm, anh bảo ngày mai đuổi anh đi luôn.

Tôi bực mình và trách mình. Đã bao tiệc cúng qua, tôi giữ được lời tự nguyện và cương quyết chỉ ăn, không nhậu. Có nhiều đám nhậu chê tôi cù lần, phá mồi, bởi vì tôi biết khi đã cầm ly rượu nâng lên, tôi chẳng bao giờ từ chối sự mời mọc, thách thức. Tôi tin khả năng uống rượu của mình có thể hạ nhiều đối thủ nhưng không ngờ, tôi thường bị chơi gác, bị đòn xa luân chiến. Hôm đó có lẽ vì bài lễ cúng thần khôi hài: “Bà đi… có cặp lông công… Bà về bà xách cái lồn không bà về” đã làm tôi hào hứng đến phải phá cái lệ nghiêm khắc kia. Tôi biết giờ nầy, dù Ba Hiên có giận, có muốn đuổi, cũng không đuổi được vì dù muốn dù không, cái chân què quặt kia bắt buộc tôi phải trở thành lì lợm, cố đấm ăn xôi, phớt tỉnh Ang Lê, chẳng đi đâu cả. Tôi vẫn cứ nằm lì, ăn ngủ một thời gian, nhưng tiền đâu để tiếp tục cuộc hành trình về miền đất Tự Do?!

Vài hôm sau, tôi tập lết, đi bằng mông, bởi vì đứng dậy, máu tụ ở vết thương nhức nhối không chịu được. Khi ngủ phải có người giăng mùng, khi đi cầu thì thật là khốn khổ. Tôi xin Chủ Ba Hiên được làm việc nhẹ là ngồi vót đăng. Ngồi trong nhà, nhìn các bạn lao động ngoài trời, tôi thèm khát được khỏe mạnh và thèm làm công việc nặng nhọc. Một cái bè cá cũ được kéo về để sửa chữa lại, người ta dùng những bó tre, những thùng phuy để nâng sức nặng ngàn tấn từ dưới nước lên và dùng áp suất của nước để làm thay đòn bẫy, công tác rộn rịp cần nhiều sáng kiến.

Đã gần một tháng, vết thương vẫn còn chảy mủ vì thiếu thuốc chữa. Tôi xin đi làm bên ngoài, dùng phương pháp tự sáng chế để trị bệnh: Ngâm nước lạnh. Tôi tình nguyện công việc ít người thích làm là thường xuyên ở dưới nước để cột dây. Tôi ngâm nước suốt ngày để cho những con cá nhỏ bu lại đầu gối rỉa sạch những đống mủ rỉ ra liên tục. Nước làm cho da thịt nhăn nhúm teo lại. Cuộc đấu tranh gay gắt giữa người và vi trùng tiếp diễn nhiều ngày, cuối cùng tôi vẫn bình an, và đám vi trùng bị tiêu diệt dần.

Đã đến thời kỳ sinh lợi. Cá đẻ xong theo dòng nước về xuôi, dù cá nhiều hay ít, chúng tôi vẫn lãnh đúng số lương nhất định nhưng không người thợ nào lại không chia sẻ cái hạnh phúc kỳ lạ khi nhìn cá tràn ngập. Những buổi sáng ngồi trên rọ cá, tôi nhìn mải mê những bầy cá chen chúc đổ về, những con cá bông lớn hung hãn rượt đuổi những con mồi nhỏ. “Bập, bập” tiếng cá táp dưới sâu. Tiếng lóc chóc, lóc chóc của hàng tỉ con cá linh nhỏ, lội đặc sệt đang tớp nước, và “soẹt, soẹt” như tấm thảm màu bạc lóng lánh dưới ánh mặt trời, hàng ngàn con cá nhỏ phóng mình lên mặt nước tìm đường thoát thân khi bị săn đuổi.

Những bầy chim, cò, vạc, nông, đậu từng hàng dài giữa sông cùng với bầy vịt, ngỗng trắng để ăn cá. Bầy hải âu bay lượn từ sáng bằng những kiểu và đường bay tuyệt đẹp. Đây đó, những chú chim bói cá treo mình đứng sững giữa trời, rồi bổ nhào thẳng xuống mặt sông như một mũi tên vừa buông khỏi giây cung. Cá đã đạt đến cực đỉnh của thời kỳ nước mùng. Một buổi sáng tờ mờ, bỗng có tiếng kêu la inh ỏi, chúng tôi vội vàng chèo thuyền bơi đi. Thật kinh khủng, thật huy hoàng tráng lệ. Trong một đêm, cá đã vào đầy nghẹt rọ, những con cá mỏi mệt vì chen chúc tìm chỗ thở, há miệng táp táp nước liên hồi. Chúng tôi nhảy vào rọ, dùng tay đẩy cá, nghiêng người lấn cá, những mẻ cá quá nặng phải xả lưới bớt, chúng tôi dùng lưới hoặc dùng rọ quây để bắt cá lên.

Cái giai đoạn dồn cá vào góc rọ thật nguy hiểm và nổi gai ốc. Cá bị dồn tìm đường thoát, phóng lên cao. Cái cảm giác vùng vẫy, chen chúc cùng khối cá hung hãn tìm đường sống thật kinh rợn. Vi đuôi cá lướt trên da thịt như những lưỡi kiếm, lưỡi gươm bén liếc trên đá mài. Người bắt cá ở trong rọ trông giống như một hiệp sĩ cô đơn, không vũ khí tự vệ, giữa trừng trùng điệp điệp gươm giáo cung tên của địch thù đang khép chặt vòng vây. Bị đâm, bị húc mà không được la, không được nhăn nhó cho thỏa cơn đau đớn, bởi vì theo dị đoan, và cũng là điều có thật, càng la càng bị đâm nhiều hơn.

Thấm thoát đã đến thời điểm dự định tôi phải ra đi. Làm việc ba tháng tôi lãnh được 1,500 riels. Tết âm lịch đã kề cận, ngày Tết là dịp thuận tiện nhất để vượt biên giới vì sẽ có ngưng chiến, hoặc “vui xuân quên nhiệm vụ” là chuyện thường xảy ra hàng năm. Bây giờ khi tôi đòi nghỉ việc, thì chính những ông Chủ lại nằng nặc yêu cầu tôi ở lại làm việc như người xưa vẫn nói: “Đừng sợ người không dùng ta, chỉ sợ ta bất tài.”

Họ còn dụ tôi, nếu làm đến tháng sáu năm đến sau chuyến tàu vét cuối cùng của mùa cá, họ sẽ chia tiền lời cho nhũng thợ đã góp công từ đầu mùa đến cuối vụ. Tôi dứt khoát từ chối, nghĩ thầm: “Dù trả một tháng một lượng vàng, mình cũng từ chối” vì tôi đã có đủ tiền cho những chi phí cần thiết. Ôi tiền bạc! Mới ngày nào đây, tôi chỉ mơ ước có một riel để ăn một tô cháo lấy sức trên đoạn hành trình lao nhọc, giờ nầy, đồng tiền chẳng còn sức hấp dẫn như xưa. Tôi từ giã đám thợ bạn và cả đám lính Khmer Heng Samrin bốn người có nhiệm vụ coi an ninh khu vực. Những người mà tôi vẫn vờ vịt khờ khạo như một anh mán rừng, nhưng đồng thời đã dự tính cướp súng trốn đi trong những đêm nằm nghe súng nổ trong các trận đụng độ ác liệt giữa phe Khmer Kháng chiến và Việt Cộng dọc theo dãy núi nằm hướng Bắc cách Đài Côn mười cây số. Những người khi sống chung, tôi cố tình đóng vai kẻ bần hàn, cơ cực, đói khát, tục tĩu để họ khỏi nghi ngờ mà vẫn bị họ gọi đùa là Lục Thum Việt Nam (Ông lớn Việt Nam).

Lên Đường Đi Thái Lan 

Tôi phải trở lại Nam Vang để lãnh tiền, vì có sự tranh chấp giữa các ông Chủ, nên tiền bạc đều bị chận đứng tại chỗ vựa bán cá. Tôi theo “tàu đục” lên đường, lần đầu tiên tôi ngồi ghế tài công, bởi chú Paul đang bận rộn đùa giỡn với chị Hai đi cùng chuyến. Tôi ngạc nhiên thấy lái tàu thật dễ. Trong đoạn hành trình nầy, tôi nảy ra một ý định mới: “Nếu mọi đường bộ đều bế tắc, tôi sẽ đánh cướp một tàu thủy của Việt Cộng để lái đi vượt biên một mình.” Ở Nam Vang cả tuần vẫn chưa có tiền, tôi cứ bị làm khổ, làm phiền bởi các ông Chủ. Hồi ở Vị Thanh làm nghề thợ máy, thợ hàn, tôi cũng bị điêu đứng một dạo. Làm việc cả ngày lẫn đêm, xong việc, Chủ nhận lãnh đủ mọi khoản tiền hợp đồng, nhưng kiếm cớ chạy làng, không chịu trả lương nhân công, giận quá, tôi đem hết dụng cụ trong kho bán rẻ để phát lương cho các bạn. Còn làm nghề nầy, không lẽ tôi lại chở nguyên chiếc tàu đánh cá đi bán trừ lương? Trong khi chờ đợi, tôi phải đi gánh cá thuê để lấy tiền xài. Cuốỉ cùng, tưởng đã mất cả chì lẫn chài, bất ngờ chúng tôi nhận được tiền lương khi Tổ hợp giải quyết xong việc tranh chấp nội bộ, loại hết các ông Chủ, chỉ còn lại anh em ông Chủ Hông độc quyền. Tôi mua một chiếc xe đạp 500 riels, một số vật dụng cần thiết 250 riels, và chai rượu Hennessy hết 350 riels, còn 400 riels bỏ túi đi đường. Các tay Chủ Tổ hợp chỉ thường dám uống rượu đế, rượu thốt nốt, năm thì mười họa, gặp khách quan trọng mới dám mua ít hộp bia, thế mà một tay giang hồ cù lũ, bụi đời như tôi, lại dám bỏ gần một tháng lương để nhậu Hennessy làm mọi người ngạc nhiên. Theo kinh nghiệm tôi nghĩ chỉ cần đem theo đủ tiền để xài, để tiền dư, lỡ bị bắt, tụi nó lấy hết cũng phí thôi. Hơn nữa, quen thói cậu, lâu ngày gian khổ, tôi muốn hưởng lại cái hương vị phong lưu đài các của một thuở nào.

Ngày 19 tháng 1 năm 1982 (nhằm 24 âm lịch), tôi đưa xe đạp lên tàu đục đi nhờ về Kampong Chanang. Tôi chọn đi tàu đục vì hệ thông đường sông bảo đảm an toàn. Không hiểu thời Sihanouk và Lonnol, sự tham nhũng đạt đến mức độ nào, nhưng cũng như dưới Chế độ Cộng Sản Việt Nam, sự tham nhũng dưới thời Heng Samrin đã vượt qua cả sự tục tĩu và bần tiện. Suốt một dãi bờ sông Cửu Long dài, phum nào cũng có trạm kiểm soát đường sông, các ghe tàu đi ngang (trừ của Quân đội) đều phải ghé trạm và giây thông hành thật giản dị: Chỉ vài kí lô cá. Cũng như tại khu vực đánh cá của Tổ hợp, sự tấp nập của các Phái đoàn cao cấp thật đáng phiền nhiễu. Năm mười hôm lại có tàu ông lớn ghé lại, chỉ cần đãi ăn một bữa cá, liệng thêm một mớ cá vào khoang tàu khi ông lớn về, thế là hai đàng đều thoải mái.

Sự lận đận vẫn đeo đuổi tôi. Tàu đi được mười lăm cây số thì hỏng máy, thợ chữa không xong, tài công quyết định kéo tàu trở lại Nam Vang. Tôi đành dẫn xe đạp lên đường tiếp tục cuộc hành trình. Tôi đạp xe qua những con đường gay cấn, đầy kỷ niệm ngày nào đi bộ. Nơi đây bốn chiếc xe tăng bị bắn hư, lần trước tôi định chui vào ngủ, nơi kia, chỗ tôi nằm đợi cái đêm bị nhóm du kích lùng kiếm. Đi xe đạp là một phương tiện an toàn, thú vị. Mặc dù đã tu bổ xe trước khi lên đường, tôi đã thiếu sót một điểm trầm trọng: Quên cho dầu mỡ vào đùm xe. Đang đạp ngon trớn, bỗng nhiên nghe tiếng rắc, tôi ráng đạp thêm vài đoạn, và xe bị kẹt cứng. Xe khô dầu mỡ, ổ đạn bể nên trục bánh không xoay được. Tôi phải mở ốc hai bên cho trục lăn tự do và dẫn xe đi bộ. Khoảng xế chiều, tôi đến gần một phum làng.

Hai bên đường cây thốt nốt đã đến mùa ra bông trái, hoạt động làm rượu thốt nốt thật rộn ràng. Những thang tre buộc dọc theo thân cây để leo lên xuống gắn các ống tre chứa rượu ở đọt cây. Một toán du kích Khmer ngồi nghỉ chân bên đường, chuẩn bị phục kích ban đêm. Tôi tìm một tiệm sửa xe sửa tạm, xong lẩn vào đám đông người nhộn nhịp rộn ràng đi làm về. Tôi đạp chậm rãi quan sát cổng ra vào, rút kinh nghiệm, tôi quẹo vào một đường mòn nhỏ, tìm chỗ ngủ đêm. Tôi dựng xe nằm ngủ trong một khoảng đất trống, nhỏ, vừa đủ nằm giữa những lùm bụi. Tôi giật mình vì những tiếng la khóc của con nít trong khu vực quạnh quẽ hoang vắng. Thì ra đó là tiếng kêu của một loài chim đặc biệt. Nếu tôi quyết định đi xe đạp từ dầu, giờ nầy tôi đã nằm ngủ tại Kampong Chanang.

Sáng hôm sau, đợi khi dân chúng bắt đầu di chuyển, tôi tiếp tục lên đường. Trên những con đường đi sớm hoặc muộn, vào những lúc vắng vẻ ít người, tôi thường chờ đợi để đi theo người hoặc xe nào đó. Họ là lính trinh sát của tôi, là nhũng tấm bia đỡ đạn cho tôi, chỉ cần thấy họ đi lọt an toàn, tôi bám theo ngay. Nếu họ bị chận, tôi có đủ thì giờ đổi hướng. Tên trinh sát bất đắc dĩ của tôi bị chận tại đầu cầu, tôi thắng chậm lại, y móc túi lấy cái gì đó, giấy tờ chăng? Không phải, một hộp quẹt. May thay, nếu tôi là kẻ đầu tiên qua cầu bị chận lại để mồi thuốc, biết đâu vì không biết chữ hộp quẹt bằng tiếng Miên, tôi sẽ lúng túng và tên gác sẽ nghi ngờ, khám phá ra tôi. Cuộc đời nhiều lúc chỉ kẹt một sợi lông nhỏ, sự hên xui may rủi thật khôn lường. Một phút sớm hoặc trễ, sẽ gây bao hậu quả bi đát, và làm sao có thể biết chính xác, tại một điểm nào đó, trong một lúc nào đó, sẽ xảy ra một chuyện bất ý, hiểm nguy? Cũng không thiếu gì người tài ba, bản lãnh, đã từng vào sinh ra tử bình an, đôi khi lại phải đầu hàng trong một phút giây xui xẻo rất tầm thường nào đó đúng như câu nói: Không chết tại chiến trường lại chết lỗ chân trâu.

Gần đến Kampong Chanang, tôi ghé một tiệm hủ tiếu bên đường ăn sáng. Ăn xong khi trả tiền, người chủ tiệm Khmer ngạc nhiên nói với tôi:

— Từ nãy giờ tôi tưởng chú là người Khmer chứ.

Giả dạng làm một người Khmer, tôi đã đóng tuồng xuất sắc, nhưng bắt chước tiếng nói Khmer, tôi cần có thời gian. Ngôn ngữ là một phạm trù khó giả dạng nhất.

Tôi đạp xe qua trạm gác Kampong Chanang đúng lúc vắng xe đò, dân địa phương qua lại thoải mái. Nhìn lại trụ cây số 88, tôi giả vờ cúi xuống lượm đồ dưới đất, nhưng thật ra để hôn vội con số hộ mệnh đáng yêu. Tôi vào Kampong Chanang tìm một tiệm sửa xe đạp, vô đầu mỡ và thay trục, bi đạn mới, chuẩn bị hành trình ngày mai, đồng thời ghé chợ trời mua một số đường đậu. Tôi đến thăm ông Chủ Hông, biếu nửa số đường đậu, nhờ cúng tạ thần hoang tại Đài Côn và để chiêu đãi một bữa chè cho các bạn đánh cá cũ. Tôi ghé lại nhà chị Tư, với nửa số đường đậu còn lại, nhờ cúng tạ nơi giúp tôi bữa ăn, giấc ngủ, chỉ dẫn đường lối đầu tiên.

Nước đã rút, cái vùng nước bát ngát ngày nào giờ trở thành một bãi đất rộng với một số nhà cửa cất tạm. Hai cô bé không nhận ra tôi bởi tôi mập và đen thui như người Khmer bản xứ. Cá, nước, nắng đã hoàn toàn thay đổi nhân dạng, ngoại hình của một con người qua một quá trình lao nhọc, chịu đựng. Cảnh cũ người xưa, tình cảm có nhũng giây lát chỉ thoáng qua, nhưng vĩnh viễn nằm sâu trong ký ức, ân nghĩa buộc chặt tình người hơn quyền lợi. Trời đã sáng, tôi vẫn còn nằm ngủ nướng, bù những ngày vất vả ở Đài Côn, Nam Vang, những sáng dậy sớm cùng cơn lạnh lẽo run rẩy đầu ngày và mùi cá chết, tanh tưởi, nồng thối trong khoan tàu đục chật hẹp. Tôi giật mình vì có tiếng kêu thảng thốt:

–  Máu, máu!

Chẳng ai biết do đâu, tại sao, đây đó, những đống máu vương vải từ trong phòng ra đến sân ngoài. Tôi chui ra khỏi mùng đi xem chuyện lạ. À. Máu! Một điều báo hiệu có ý nghĩa. Máu tiếng Khmer là Xiêm, Thái Lan tiếng Khmer cũng là Xiêm, hoặc phát âm gần tương tự. Tôi thầy máu, tức là tôi sẽ thấy được Thái Lan, và phấn khởi theo sự suy luận của mình. Tôi từ giã gia đình chị Tư lên đường. Từ xa tôi quan sát trạm gác lớn cửa ngõ hướng Tây thành phố. Người đi xe đạp xuống xe, dẫn đi bộ chui qua thanh gỗ gác ngang đường. Chỉ có thế, tôi bắt chước theo họ. Nhiều lính gác đứng chờ xét hỏi các xe đò chạy liên tỉnh, có ai ngờ được một tên tội phạm đang thản nhiên đi qua mặt họ!

Ra khỏi thị xã, vùng đất sét thạch cao và con đường nhựa phủ bụi trắng toát dưới ánh mặt trời. Trên đỉnh ngọn đồi kia, ngày trước có một phi trường nhỏ, tôi vẫn còn giữ ý định đột nhập phi trường trong những hoàn cảnh thuận tiện. Khi bị giam ở nhà tù 7708, tôi vẫn để ý lắng tai nghe tiếng Boeing cất cánh rời rạc từ phi trường Pochentong. Ước gì phi trường trên đồi còn có phi cơ, tôi sẽ chờ tối bò lên tìm cách đột nhập. Từ Kampuchia đến Thái Lan con đường ngắn, chỉ cần ít xăng nhớt, ngay cả phi trường Battambang, sự vắng vẻ tiêu điều của các hoạt động Không Quân đã dập tắt niềm khao khát nóng bỏng. Đoạn đường hoàn toàn hoang vắng, trống trải, suốt gần hai mươi cây số, thỉnh thoảng có xe đò và Honda xuất hiện. Tại một khúc cua quẹo gắt đằng trước có ngôi nhà nằm lạc lõng bên đường, tôi chạy chậm lại xem xét. Thấp thoáng qua những tàn cây cổ thụ lớn, trên nóc xe đò, có hai tên gác đang lục soát. Chiếc xe qua mặt tôi đã lâu vẫn còn nằm đó, sự kiểm soát chắc chắn phải nghiêm ngặt. Tôi dẫn xe đạp đi vòng, băng rừng, nhiều nơi gai góc dày đặc, tôi phải vác xe lên vai. Xe đạp vừa mới là tên nô lệ giờ đã nghiễm nhiên trở thành ông Chủ, bắt tôi phải phục vụ. Tôi phải len lỏi xuyên rừng hết mấy tiếng đồng hồ. Qua khỏi phum, khoảng hai giờ chiều, xe bị xẹp lốp sau, cái lốp xẹp còn chút hơi thừa nên còn dẫn đi được. Đoạn đường dài dằng dặc chẳng có một chỗ sửa xe, trên đường đi, có chú bé Khmer đeo theo tôi gạ gẫm:

— Bubu, tinh xà kọ? (Chú ơi chú, mua đường không?)

Tôi phải lắc đầu nhiều lần chú mới chịu đi. Có những người Khmer tốt bụng khác đi xe đạp ngược chiều, là dân đi xe đạp, họ thông cảm được hoàn cảnh vất vả của tôi:

– Đằng trước kia có xe đò đang đậu. Nhanh chân lên để đón xe mà đi.

Rõ ràng, người dân Khmer lầm lẫn tôi với họ. Xe đò đang bị chận xét tại một trạm gác của Bộ đội VC. Lần đầu tiên tôi thấy một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng lớn quá khổ bay phần phật một cách ngạo nghễ như đe dọa người dân bản xứ. “Trên lãnh thổ nầy, ta là người làmChủ.” Lá cờ muốn nói lên điều đó!

Tôi tránh đi gần cùng lề chiếc xe đò, bọn gác bận bịu với hàng hóa và hành khách chẳng thèm lưu tâm đến tôi. Tôi sắp đến Pursat, theo lời đồn đại là trạm kiểm soát chặt chẽ nhất trên lãnh thổ Kampuchia. Hành khách phải xuống xe, xếp hàng một, bọn gác không chỉ xét đồ, túi áo, túi quần mà còn lận xem trong cổ áo, tà áo, gấu quần để kiếm đồ dấu diếm. Bao nhiêu người đi vượt biên bằng xe đò có tổ chức đều bị chộp tại đây. Giờ nầy đã xẩm tối, bọn gác đang du hí với số tiền ăn hốỉ lộ trong ngày, tôi đi bình yên như qua chỗ không người. Vào tới Pursat, tôi cho thay luôn toàn bộ vỏ, ruột cả bánh trước lẫn sau để yên tâm trong đoạn đường kế tiếp, tuy nhiên tôi lựa loại rẻ tiền nhập cảng từ Việt Nam, vì chỉ định sử dụng ngắn hạn. Trong khi chờ xe, tôi lân la vào một tiệm uống nước vắng người để giải khát và hỏi đường:

–  Tôi ở phum đằng kia và định đi Battambang. Tôi trả lời khi cô chủ quán hỏi tôi.

–  Hình như ông không phải là người ở Pursat?

Tôi lên xe đạp qua cầu ra khỏi thành phố. Trời đã tối hẳn, Pursat thật lắm cầu, cầu tiếp nối cầu. Khi đường vắng người, tôi dẫn xe vào một khu ruộng hoang vắng, trời quá tối, tôi phải đi mò mẫm. Tôi ngủ dưới một tàn lá rậm để tránh sương khuya và ngủ mê mệt đến tờ mờ sáng. Việc đầu tiên khi thức dậy là kiểm soát lốp xe. Thật khôn khổ, cái lốp xe mới lại bị xẹp hơn phân nửa, tôi chẳng hiểu lý do vì đã cho thử kỹ trước khi gắn vào. Có lẽ một lỗ mọt nhỏ nào đây? Thà lủng một lỗ lớn còn dễ tìm để vá chứ lỗ quá nhỏ, nhiều lúc phải bỏ cả ruột xe bởi vì khó tìm ra trong lúc thử. Tôi càu nhàu với chiếc xe:

–  Chú mầy công trạng lớn mà tội cũng không kém!

Tôi lại đẩy xe đi. Một cô gái Khmer vừa đạp xe ra khỏi nhà, tôi thấy một cái bơm trắng gắn ở sườn xe nổi bật lên, tôi đón lại mượn. Bơm tốt, nhưng nút vặn vào van xe lại hỏng. Do đó, sau khi bơm một hồi, bánh xe bị xẹp lép hoàn toàn. Cái vỏ xe ngoại quốc khi xẹp, niền, lốp vẫn còn bám chặt vành xe, có thể đẩy đi được, còn lốp xe nội hóa của Hà Nội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đặc biệt khác lạ. Khi xẹp, lốp bung ra ngoài. Nếu dẫn đi bộ, tôi phải khiêng bánh xe sau lên để đẩy đi. Vừa mệt vì nặng lại mệt vì cái bàn đạp cứ đụng vào chân thật vất vả. Tôi hỏi nơi sửa xe, người ta chỉ ngược hướng đàng sau trong một dãy nhà cách xa hai trăm thước! Tôi đẩy xe trở lại, chú sửa xe mấy hôm nay bị bệnh nghỉ việc. Tôi lại đẩy xe ra đường. Một tên Bộ đội Khmer đi ngược chiều cười thông cảm hỏi tôi:

–  Sao đó?

Tôi cười buồn, trả lời:

–  Xe bị hư rồi.

Tôi nói lí nhí bằng tiếng Khmer như vừa mệt vừa thở, nên y không chú ý cái lối phát âm chưa được chỉnh của mình. Tôi lại dẫn xe trở lại đoạn đường mới qua. Tôi phải đi gấp ba đoạn đường cần đi chỉ vì một lời chỉ dẫn không chính xác. Nếu hồi nãy người ta chỉ dùm chỗ nầy thì đỡ biết bao. Thợ sửa xe có vẻ kinh nghiệm, nhìn thấy lốp ruột xe còn mới tinh, y chỉ dùng kềm bẻ lại cái vòi xe, bơm thật cứng và bảo:

– Xong rồi.

Muốn chắc chắn, tôi để xe tại tiệm, đi ra ngoài ăn sáng, khi trở vào, thử lại thấy vẫn còn cứng, tôi yên tâm lên đường. Phum làng phía Tây Pursat rộn ràng không khí chiến tranh. Những đoàn xe chở lính Khmer, Bộ đội VC chuyển bánh, lính tráng đi bộ trên đường cũng mang súng ống đạn dược sẵn sàng. Đâu đây văng vẳng tiếng súng nhỏ và tiếng đại bác ì ầm. Tôi đến Battambang một cách bất ngờ. Mới ba giờ chiều, tôi đã gặp cái không khí tấp nập của một đô thị lớn, phố xá nhiều đường, thật khó chọn đúng đường. Tôi hỏi thăm một người đàn bà rồi đạp xe đến bến xe trung tâm thành phố. Tôi lại phải kiếm đường ra. Tôi đến một xe bán nước giải khát uống nước và hỏi chuyện:

— Ông đến cái cầu cao, trắng và lớn kia, quẹo phải đi về Nam Vang, quẹo trái là đường đi Xoai (tên địa phương của Sisophone).

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Phần 7

Nhà Tù 7708
Lại bị thẩm vấn, cũng chừng đó chuyện, tôi đã dự trù sẵn những câu trả lời nên vẫn chưa bị lộ tung tích. Lại tiếp tục chuyển đi nơi khác. Dọc đường, tôi chờ đợi một cơ hội tốt để nhảy xe bỏ chạy, nhưng ý định không thực hiện được. Chúng tôi được đưa đến phòng thẩm vấn Nhà tù 7708. Trong thời gian chờ đợi, tôi nằm dài thoải mái dưới đất nhai lương khô, như nhũng kẻ bụi đời. Nhiều Bộ đội được dẫn vào và cuối cùng, cuộc thẩm tra bắt đầu. Bộ đội VC bị bắt thuộc nhiều thành phần: đào ngũ, ăn cướp, ăn trộm hoặc những thành tích bất hảo khác. Tôi đã từng xem nhiều đoạn phim thẩm vấn trong trại tù Cộng Sản, những chuyện phim dựng nên những khuôn mặt gian ác, thâm độc của Công an Cảnh sát ngụy, mà các tay đạo diễn và tài tử đã cường điệu quá đáng nhưng chưa từng thây cuộn phim nào, tay tài tử nào diễn xuất đặc sắc như tên Cớm VC hiện tại. Cái bản măt vênh váo, cái đôi tay khuỳnh khuỳnh và những màn đấm đá đồng chí đồng rận tận lực.
— Đù mẹ, mầy muôn chết hả? Láo! Có phải mầy cùng băng thằng Bình không? Đù mẹ, tao mà bắt được thằng khốn nạn đó, tao sẽ phanh thây, tao sẽ bắn ngay tại chỗ.

Tên điều tra quát tháo luôn mồm. Thì ra Cộng Sản không chỉ tàn ác với kẻ thù, họ đối xử đồng chí và kẻ thù bình đẳng trong những lúc cần phải khát máu. Có phải đó là bản chất hay truyền thống cố hữu của họ? Bắt đầu đến lượt tôi, không biết vì mệt, đau tay chân, vì đấm đá quá nhiều, hay vì sắp hết giờ, họ chỉ làm lấy lệ. Thật phí, tôi đã chuẩn bị sẵn cho một trận đòn, cuối cùng vô sự.

Chúng tôi sắp hàng một dãy dài đi ra cửa, đường tối đen như mực, kẻ trước người sau không thấy rõ nhau. Đoạn đường ngắn nhưng có nhiều tên áp giải, tên Công an điều tra cầm súng chạy tới chạy lui quát tháo:
— Đứa nào ra khỏi hàng, ông bắn bỏ!

Tôi chẳng thấy được địa hình địa vật chung quanh nên chưa nắm vững tình thế, định bỏ chạy mà không thấy hướng để chạy. Hai bên có hàng rào kẽm gai không? (Sau nầy khi đã biết rõ địa thế, tôi cứ tiếc mãi.) Dịp may một lần tôi đã bỏ qua, vì đó là tối duy nhất bị cúp điện. Tôi và Sang bị phân tán qua hai phòng riêng rẽ. Vừa vào phòng, tôi đã được đón tiếp nồng hậu, những tay tù cũ bu quanh hỏi chuyện và xin gói lương khô nhỏ của tôi để liên hoan, và “Bọn bốn người” xếp sòng ra lệnh dồn chỗ lại để nhường cho tôi một chỗ thật tốt để nằm. Sau nầy khi quen với thông lệ chào phòng, tù nào mới vào phòng cũng bị đám tù cũ hù dữ lắm, tôi bèn hỏi lý do tại sao các chú tù cũ lại tương đốỉ nể nang tôi lúc đầu, họ bèn trả lời:
— Trông tướng đại ca ngầu lắm, đứa nào mà dám hù!

Nhà tù 7708 gồm ba phòng giam và một phòng kỷ luật, xây bằng bê tông, cửa sắt có gắn kính. Những thanh sắt uốn theo hình trang trí thay vì song song như những nhà tù thông thường. Thì ra đây là một căn nhà thuộc Khu Dinh thự cũ của ông Hoàng Sihanouk, chung quanh có tường bao bọc, tăng cường bằng kẽm gai và tôn. Mỗi phòng ngăn làm hai buồng, chung một cầu tiêu và một ngọn đèn.

Theo lời các tù cũ, 7708 là nhà giam kiên cố nhất so với các nhà tù khác trên lãnh thổ Kampuchia. Ở đây có nhiều cách đi trốn, trừ cách phá nhà giam vượt ngục. Chưa ai nghĩ đến và dám vượt ngục bằng cách phá nhà giam.

Hàng ngày tôi chăm chỉ học tiếng Miên, Bộ đội VC đa số đều nói được tiếng Miên, có người còn lấy vợ Miên. Những lúc nghỉ mệt, tôi lân la nói chuyện để dò đường, tìm cách trốn. Chưa có nhà tù nào gấu như 7708, Bộ đội Cộng Sản hát nhạc vàng inh ỏi suốt ngày, họ chửi Cộng Sản ngang nhiên thoải mái.

Tôi bắt đầu quen với các khuôn mặt mới. Có người đào ngũ, chuyên dùng giấy tờ giả, lận súng từ Việt Nam qua Miên ăn cướp rồi về Sàigòn ăn chơi, có người chuyên đi ăn trộm.

Ăn trộm bên này thật dễ. Người Miên họ nhát gan và quí mạng sống hơn vàng, chỉ cần đột nhập vào nhà, chĩa súng hăm dọa là biết chỗ dấu vàng. (Họ hay dấu trong bao gối, dấu dưới giường hay trong các vật dạng lỉnh kỉnh.) Đi vào chẳng ai dám la, dám chống cự, đi ra cũng yên tĩnh, an toàn. Đó là kinh nghiệm của một số Bộ đội VC.

Có Bộ đội đã từng bỏ hàng ngũ theo Kháng chiến Khmer, bị phục kích bắt lại; có người từng theo đạo quân đánh sâu vào Thái, qua những câu chuyện và những lời dọ hỏi, tôi nắm được ý niệm căn bản về con đường đi Thái. Nhà tù 7708 cũng như các cơ quan, bộ phận khác của Việt Cộng trên lãnh thổ Kampuchia đều ăn gạo của Liên Hiệp Quốc viện trợ cho dân Khmer. Và còn biết bao nhiêu thứ được chuyển đến đây vì mục đích nhân đạo lại được dùng để nuôi dưỡng một chế độ chủ trương làm những điều vô nhân đạo. Tù 7708 người nào cũng có âm mưu bỏ trốn, trừ vài người đã chạy chọt sắp sửa được thả và một chú bé 13 tuổi. Chú bé một mình lang thang từ Sàigòn qua Nam Vang, sinh sống bằng nghề đấm bóp, giác hơi quanh nhà ga. Kiếm ăn ngoài xã hội quá khó khăn, chú bé cảm thấy yên tâm khi bị bắt và được làm phụ nhà bếp. Sướng nhà kho, no nhà bếp, chưa kể các dịch vụ mua dùm đồ để kiếm lời.
Năm bảy hôm lại có một tù đi trốn, người đầu tiên ở cùng phòng tôi, bị sốt nặng, sau khi y sĩ chẩn bệnh, anh ta được chuyển xuống bệnh viện thành phố và tối hôm đó, bệnh nhân biến mất. Kế đến là hai người làm tạp dịch và gánh nước, trong vài phút lơ đễnh của tên gác, hai người tháo chạy làm lính gác báo động và tổ chức cuộc bố ráp. Kết quả một người chạy thoát và một người bị bắn chết.

Ở nhà tù 7708, tôi không được phép làm những công tác lặt vặt bên ngoài vì là tù mới. Mỗi ngày tôi tình nguyện đi đổ thùng phân vào buổi chiều. Mấy chục con người cả ngày đêm đái, ỉa trong một cái vại bằng sành (dung tích 30 lít). Mỗi lần khiêng thùng, phân đầy tràn, nước phân chảy nhểu khắp sàn nhà, văng tung tóe vào người. Chỗ đổ phân ở ngoài hàng rào hai mươi thước, đổ phân xong được tắm rửa năm, mười phút.
Trên đoạn đường ngắn có ba chỗ có thể bỏ chạy nếu gặp thời cơ: Hầm phân, giếng tắm và dãy hàng rào bên hông nhà giam. Bên kia hầm phân là khoảnh vườn cây, sau bức tường thấp là khu nhà dân chúng. Giếng tắm chung quanh có nhiều bờ bụi nhưng bị rào kín bằng kẽm gai, bên hông nhà phải leo qua một bức tường giăng giây thép gai. Tên gác luôn luôn kè súng đi sát sau lưng hoặc đứng cách năm, mười thước. Chỉ cần một dịp thuận tiện với hai phút vô ý của tên gác là phóng chạy liều, một ăn chín thua, nếu chấp nhận.
Tôi tính một cách khác, bất ngờ nhất, nguy hiểm nhất, nhưng lại bảo đảm nhất. Có đêm nằm ngủ, tôi chợt giật mình thức giấc bởi nhũng tiếng động lạ, có tiếng giống như sắt thép bị bẻ, có tiếng giống như tiếng sấm ầm ì trong cơn chuyển giông, có tiếng không giống tiếng gì. Chẳng biết những tiếng động từ đâu, bởi nguyên nhân nào, nhưng hình như ai cũng quen và xem thường những tiếng động lạ. Ngay cái tiếng đập và quạt muỗi cũng có nhiều âm thanh. Có người quạt bằng giấy kêu lạch phạch, có người đập muỗi bằng miếng cạt tông kêu bì bùng, tôi lại dùng “con rùa đựng nước” có nắp bằng sắt, tiếng kêu chát chúa như tiếng đập búa lò rèn, có tiếng khua leng keng của những kẻ bị koòng. Đêm hỗn loạn và huyên náo bởi đủ thứ tiếng động và tôi chợt khám phá một điểm yếu bất ngờ của chiếc cửa sổ sắt.
Tôi vừa trốn khỏi Trại tù A30, bao nhiêu huyền thoại được dựng lên để làm phấn khởi và khích động tinh thần tù bỉnh cùng Trại. Tưởng tượng bộ mặt vênh váo, hớn hở của bọn cai tù A30 khi nghe tin tôi bị bắt lại, và sự hoang mang tuyệt vọng của những tù binh đang hăm hở chuẩn bị vượt ngục. Tôi sẽ nói thế nào với Khảo, Đại úy Nhảy Dù, người đã có lần bày tỏ:
— Không biết hồi này bạn nghĩ gì và tính gì mà âm thầm quá. Bạn có thể cho tôi biết chút ít về dự định của bạn được không? Bạn biết rằng, đám tù binh chúng ta giờ nầy hầu như phân hóa làm hai khối, khối những người già từ tôi trở lên, vì tuổi tác, vì gia đình nên tinh thần sa sút, tiêu cực, chỉ còn hy vọng vào khối trẻ, những thanh niên vẫn còn đầy nhiệt huyết và tinh thần vững mạnh. Và trong giới trẻ, bạn là người được anh em yêu mến, trông cậy nhất…
Tôi sẽ nói thế nào với Ngọc, Đại úy Trưởng phòng Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã ghé lại Nha Trang nhân đi công tác trại tù, đã chuyển lại lời của những thanh niên Nha Trang đến tôi:
— Anh cho chúng tôi gửi lời thăm Lý Tống, nói với Lý Tống là chúng tôi luôn luôn theo dõi tin tức của Lý Tống. Đối với tất cả chúng tôi, Lý Tống xứng đáng là thần tượng của tuổi trẻ Nha Trang.
Tôi xúc động đến chảy nước mắt. Tình cảm của anh em thanh niên, của những người bạn tù thật quí, chính họ đã giúp tôi giữ vững tinh thần và cũng vì họ, vì niềm tin yêu cao quí đó, tôi sẵn sàng hy sinh để luôn luôn giữ được hình ảnh trong sáng trong tâm hồn và tình cảm anh em.
Không. Tôi thà chết tại đây, dưới một tên tuổi khác, tôi không thể nào để bị áp giải về những trại tù cũ ở Việt Nam. Hình ảnh cuộc vượt ngục A30 vẫn còn rờn rợn trong từng cảm giác và hình ảnh những ngày bi đát cuối cùng.

Chuẩn Bị Vượt Ngục Trại Tù 7708
Tôi tìm được điểm yếu khác của cánh cửa sắt do sự tò mò bất ngờ, ngoài mảnh kính vỡ được thay thế bằng ba thanh gỗ đóng chéo ngang. Hàng ngày các loại canh, cháo và nước thường được chuyền qua cửa sổ bằng một máng xối, trừ cơm được đưa vào bằng đường cửa chính. Tại cánh cửa sổ đã xảy ra bao cuộc giành giựt, cãi vã, kẻ cò kè xin thêm vá cháo, người nài nỉ thêm chút nước canh, đặc biệt, những tù cựu trào lại chuyền bi đông sắt qua đó xin nước sôi.
Có một điểm mà kẻ thường chú ý những điều đặc biệt như tôi bắt buộc phải quan tâm. Ô số I và số II hoàn toàn giống nhau vì cùng xuất thân từ một lò đúc, nhưng ô số I là ô duy nhất bi đông sắt có thể đút lọt. Tôi giả vờ đứng hít thở như kẻ đang ngộp hơi cần không khí, nhưng thật ra để quan sát nguyên nhân, thật bất ngờ khi thấy hai múi hàn A3 và A4 đã bị hở. Tôi vờ cầm thanh sắt số 1 kéo mạnh vào người như đang tập thể dục thử xem có đủ sức lay chuyển không thì thanh sắt rung nhẹ. Tôi trở về chỗ ngồi, mừng rỡ vì từng học nghề thợ hàn trong hai tháng, tôi có thể lường được sức chịu đựng bền bĩ của mỗi múi hàn. Tôi tính khoảng trống của hình thang M1 M2 M3 M4 bằng cách đến cánh cửa chính ra vào (cũng làm cùng một kiểu mẫu) để đo đạc. Từ vòng sắt ở trung tâm đến điểm A, chiều cao khá rộng rãi so với đầu và bề dày của lồng ngực.
Bề ngang Ml—M2 hẹp hơn bề ngang của vai tôi nhưng cạnh chéo M2—M4 lại rộng hơn. Để xác định chắc chăn hơn, tôi đối chiếu M1—M2 với đường kẻ gạch ca rô sàn nhà, xong tôi dùng một que gỗ nhỏ đánh dấu bề rộng vai mình. Tôi ngồi tại chỗ của mình giả vờ nghịch ngợm với que gỗ để so sánh, đối chiếu thật chính xác để cuối cùng nhận ra rằng, muốn chui lọt qua khoảng trống M1 M2 M3 M4, tôi phải lách nghiêng vai và sẽ phải nén ép người lại mới hy vọng chui qua lọt sau khi đã bẻ toàn bộ những thanh sắt nằm trong diện tích của hình thang Ml M2 M3 M4. Một người thanh niên nằm bên cạnh vừa bị bắt vào mấy hôm trước về tội chở sắt thép và máy móc lậu về Việt Nam bán. Anh tên Tại, dân đánh cá, lực lưỡng khỏe mạnh. Theo lời Tại, ở Kampuchia kiếm việc làm rất dễ và nhiều tiền, hoặc làm bồi trong các tiệm ăn của người Tàu, hoặc xin giúp việc tại vựa cá phía tây bắc Nam Vang 10 cây số. Tốt nhất là xin làm nghề đánh cá tại Kampong Chanang cách Nam Vang 90 cây số về hướng Thái Lan. Tại không muốn trốn theo tôi bởi vì anh có một ông chú làm lớn ở Battambang đang can thiệp dùm hơn nữa dự định của tôi qụá táo bạo và nguy hiểm ngoài khả năng của Tại. Vốn liếng còn một gói thuốc Samit, Tại biếu tôi để làm lộ phí dọc đường. Dù Tại có muốn trốn theo tôi cũng không thể được, bởi vì khổ người lực lưỡng của Tại không thể chui lọt qua ô cửa sổ. Nếu tôi cũng vạm vỡ như Tại, chắc tôi không thoát được 7708 bằng con đường nầy.
Thiên Mệnh! Thượng Đế quả đã tính toán cẩn thận từng điều kiện sinh hoạt của mỗi con người trên trái đất. Xin đừng ngạc nhiên vì một kẻ đã từng khai trong lý lịch mình là vô tôn giáo và sau đó pensée libre, mặc dù chữ ký của tôi từ mười mấy năm qua có nghĩa là “Lạy Thượng Đế,” thay vì Lý Tống như kiểu ký tên bình thường, giờ nầy lại cứ lập đi lập lại: Số phận — Thiên mệnh — Thượng Đế. Bởi vì phải trải qua bảy, tám năm đầy hiểm nguy, sự sống và chết như chỉ mành treo chuông, cái vị trí đầu sóng ngọn gió đã liên hệ đến những sự kiện huyền nhiệm, như một đấng linh thiêng nào đó đã xếp đặt, dàn dụng. Giờ nầy, cũng không thiếu gì nhân viên lập hồ sơ phải bối rối khi hạ bút viết chữ God trong phần tôn giáo của hồ sơ lý lịch tôi. Thượng Đế, một tôn giáo riêng của tôi, với những thủ tục, nghi lễ hoàn toàn riêng biệt và đặc biệt.

Ngoài yếu tố cửa sổ, còn một yếu tố quan trọng khác: Đèn điện. Những âm mưu đen tối thường phù hợp với bóng tối. Tối ngày 6 tháng 10 năm 1981, tôi chuẩn bị phá hỏng đèn điện trong phòng. Một phòng hai buồng có một bóng điện tròn gắn ở khoảng giữa và một bức tường ngăn phòng ngủ và cầu tiêu. Tường cao hai thước, đứng trên tường đủ tầm cao để gỡ bóng đèn và phải tắt đèn mới bắt đầu bẻ cửa sắt được. Thêm một điều may mắn là bóng đèn hành lang gần cửa sổ tối nay lại bị đứt bóng. Đã 12 giờ đêm, các tù nhân buồng ngoài đã yên ngủ, tôi giả vờ đi tiểu. Buồng trong có hai người bị sốt không ngủ được, họ rên rỉ, trăn trở suốt đêm. Hai người tù nầy thuộc loại thân tín của bọn gác nên tôi cần phải cẩn thận. Một tên nằm quạt, một tên mở mắt thao láo, đờ đẫn. Thời gian cứ trôi qua, tôi cứ đi tiểu, đi dón dén sợ họ trông thấy và nghi ngờ cái bệnh đi tiểu của mình.

Gần 4 giờ sáng, hai người bệnh mới chịu ngủ, giờ này không đủ thì giờ để bẻ cửa sắt, nhưng còn đủ thì giờ để phá hỏng điện. Chỉ cần gỡ bóng điện là phòng tối ngay nhưng để gỡ một bóng điện, như tối hôm nay, tôi phải đợi gần năm tiếng đồng hồ. Nếu bây giờ gỡ bóng điện để tối mai đi trốn, thì sáng mai chuyện gì sẽ xảy ra khi bỗng nhiên mất bóng điện? Tôi bước lên tường thấp số 1 cao hơn nửa thước làm chỗ ngồi để đi vệ sinh, leo lên tường số 2, đi dọc theo tường đến chỗ bóng điện và dùng khăn tay tôi nắm bóng điện gỡ ra. Gian phòng tối sầm lại.

Tôi lấy miếng ni lông nhỏ chuẩn bị sẵn chèn vào giữa đít bóng và đui đèn, gắn vào lại. Vừa ấn vào, đèn chớp sáng, tôi lại gỡ ra. Quái lạ. Ni lông là vật cách điện, tại sao đèn vẫn cháy? Tôi đổi ý, cầm bóng đèn lắc mạnh liên tục cho đến khi nghe tiếng lạt xạt của những sợi dây tungstene bị đứt va chạm nhau trong bóng đèn. Chưa chắc bụng, tôi còn vặn cho phần đui bằng đồng và phần thủy tinh của bóng lỏng ra, lỏng đến nỗi phần thủy tinh bóng đèn suýt rời ra, rơi xuống đất khi tôi cầm đuôi đèn, miếng giấy ni lông vẫn chèn thêm vào giữa cho bảo đảm.

Tôi ấn bóng vào, đèn lại chớp sáng. Cái chớp lóe vụt tắt nhờ tôi nhanh tay, nếu không đã bị lộ, vì tôi vừa nghe tiếng hộp quẹt Zippo bật tách và một người nằm buồng ngoài vừa mồi thuốc hút và người nầy hôm sau đã khẳng định chính y thấy bóng đèn xẹt cháy! Bực mình, tôi bỏ bóng đèn vào túi áo, dùng hai tay mò mẫm tìm dây điện để bứt đứt. Sợi dây nhỏ nhưng dai, tôi bẻ qua, bẻ lại, dây nhùng nhằn một hồi lâu mới gãy. Tôi sửa lại sợi dây đứt ngay ngắn để nếu có ai có chú ý, cũng không thể nào nhận ra. Trước khi gắn vào, tôi còn nhét một cục mạng nhện dính mồ hóng đen cho yên tâm, cái tay dính mồ hóng đen vô tình làm đen một khoảng bóng đèn, cũng là một trong những yếu tố để các người tù trong phòng hôm sau giải thích và suy luận:
— Bóng đèn bị nám đen chắc là bị cháy rồi. Chán thật, sớm nhất cũng phải ba ngày mới được thay bóng.

Một người tù cũ có nhiều kinh nghiệm càm ràm.

Ngày 7 tháng 10, tôi và Sang được gọi lên thẩm vấn. Trong thời gian ở khác phòng, theo lời các người chuyển phòng, Sang cứ đổ tội là tôi đã rủ rê em đi, vì tôi mà giờ nầy em phải bị tù. Tôi hơi bực mình nhưng tội nghiệp cho em, khi gặp lại Sang tôi hỏi:
— Sinh hoạt trong phòng em thế nào? Có dễ trốn không?

Sang cho biết người trong phòng mình được tin tưởng nên được cho đi làm ngoài lai rai, nếu muốn, có thể hy vọng trốn được. Tôi khuyên Sang, nếu có dip tốt nên trốn đi, rồi kiếm phương tiện trở về Việt Nam với gia đình. Ở đây khoảng vài ba tháng lại có chuyến chuyển tù về Việt Nam. Tù Dân sự bị đưa về khám Chí Hòa, tù Bộ đội chuyển về Bùi Gia Mập, tội vượt biên hiện giờ bị kết án nặng. Tôi nói:
— Anh tiếc là chúng ta ở khác phòng nên không thể giúp gì cho em được, từ nay em ráng tự lo cho mình. Vài hôm nữa, có thể anh sẽ không còn ở đây. Sang bị kêu vào thẩm vấn trước. Tôi lại nghe tiếng khóc lóc, cầu khẩn của Sang và tiếng quát:

— Mầy đã dám đi vượt biên lại không dám chịu nhận tội còn khóc lóc van lạy gì nữa?

Trong khi ngồi đợi, tên gác vớt được một con cá phi lớn hơn bàn tay, lờ đờ sắp chết vì trời nắng gắt và trao cho tôi. Tôi nhờ người nấu bếp nướng dùm, chờ khi Sang ra, tôi trao cho Sang nguyên con cá nướng. Gần nửa tháng nay chỉ ăn muối với một chút cá bằng đót điếu thưốc mỗi bữa cơm Sang lính quýnh mừng rỡ, hai tay vồ lấy con cá như sợ tôi đổi ý. Mặt Sang cúi gầm xuống tránh những cặp mắt của những người tù ngồi cạnh đang thèm thuồng vì sợ họ xin và sợ phải bị chia phần. Em há to miệng, ngoạm lấy ngoạm để, trái táo Adam ở cần cổ hối hả lên xuống cho kịp theo nhịp nhai, nuốt ngấu nghiến cuống quýt của em. Tôi nhịn thèm, ngồi nhìn Sang ăn, tự nhiên cần cổ mình cũng nhấp nhô, bởi vì phải nuốt những dòng nước miếng cứ ứa ra vì thèm khát. Sau khi đã thanh toán hết phần thịt, Sang bắt đầu từ từ gặm mút phần đầu và xương cá. Giờ nầy chắc chắn chẳng còn sợ ai xin, mặc dù nếu Sang chìa ra cho, cũng sẽ có một đám bàn tay phóng ra tranh nhau giành giựt xương và đầu cá. Sang nhai kỹ, nhai nát ngứu từng cái xương và tận hưởng hạnh phúc quá lớn và bất ngờ đó.
Tôi vào phòng thẩm vấn, vẫn một lời khai như cũ. Chuyên viên thẩm vấn thuộc A50 được mệnh danh nhóm chuyên gia kỹ thuật hỏi tôi câu cuối:
— Nếu cách mạng khoan hồng thả anh ra, anh sẽ làm gì?
— Tôi sẽ tiếp tục đi vượt biên.

Tôi trả lời ngắn gọn, và yêu cầu trả lại gần 5 kg lương khô như lời chỉ dẫn của bạn tù.
— Chờ giải quyết.

Cán bộ thẩm tra hẹn. Nếu được nhận lại, tôi sẽ chia cho Sang một nửa, một ít cho bạn cùng phòng và một phần tôi sẽ đem theo làm lương thực. Trong hoàn cảnh thiếu thôn của nhà tù, lương khô là một món ăn quí báu, thịnh soạn và trở thành đề tài hấp dẫn nhất của mỗi ngày. Trên đường về phòng, trong khi chờ đợi tên gác mở cửa phòng cho các người khác, tôi lân la đến ô cửa nhỏ vuông vức bằng hai bàn tay nhìn vào phòng kỷ luật

Kinh khủng! Phòng kỷ luật mù mịt như một phòng tắm hơi vì hơi người và hơi nóng, các tù nhân đứng ngồi lổn ngổn, mồ hôi đầm đìa khắp người. Tiếng cửa sắt nặng nề mở ra, một loạt người đứng dậy cầm chiếu, áo quần vội vã quạt hơi khói mù mịt ra ngoài, luồng hơi bốc ra cuồn cuộn như từ một đám cháy. Tôi bước thối lui bởi sức chuyển động của không khí và bởi mùi hôi hám nồng nặc khó chịu với cảm tưởng tù nhân ở phòng kỷ luật quá một tháng, phổi phèo tim gan có thể bị hấp chín. Làm sao phá được phòng xà lim kiên cố nầy để trốn thoát?!

Vừa bước vào phòng, tôi đã nghe một tin sốt dẻo: Một người trong bọn bốn người, băng Bộ đội Bắc Kỳ xếp sòng phòng số 1, đi công tác vào rừng đốn củi đã trốn thoát. Công tác đốn củi nửa tháng mới có một lần, xe GMC chở mười người tù và năm Bộ đội nhà giam đi theo kiểm soát.

Tình hình trại giam trở nên căng thẳng. Có một điểm trùng hợp đặc biệt là mỗi lần đúng ngày tôi vượt ngục hoặc trốn trại, bao giờ cũng có một biến cố quan trọng xảy ra: Tôi rời Nong Samet ra đi cùng ngày Việt Cộng tấn công trại tị nạn Nông Chan; rời nhà tù A30 cùng hôm hai người bạn tù vượt ngục trốn đi được hai tháng bị bắt trở lại… Những biến cố khách quan đó cũng có tác dụng tương đối tiêu cực hoặc tích cực về phương diện tinh thần.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương hai mươi

Sáng hôm sau, trước khi vào sở, Eliot Ness phóng xe một vòng qua vị trí

dự tính tấn công tối hôm qua. Từ phía ngoài, chàng có thể nhìn thấy dấu vết của

những sự tẩu tán vội vàng các tang vật. Coi, mấy chú lái xe vận tải lính quýnh làm sao mà ủi cả vào hàng rào. Vui bằng thích. Nước bia trong thùng bị đục chảy ra ngoài từ tối qua vẫn thấy được lênh láng khắp nơi trên mặt đất.

Đang còn đứng ngắm ngía trước hàng rào, một thằng mặt mũi cô hồn từ trong bước ra. Nó nhìn chiếc xe Ford có gắn đèn cảnh sát nơi tableau, bèn chạy tới

nhổ một bãi nước miếng vào cánh cửa rồi quay sang nhìn Eliot Ness sủa:

-Ê, đù mẹ thằng … cảnh sát kia, mày muốn gì? Muốn kiếm ai?

Eliot Ness thấy hai lỗ tai mình như bốc lửa nhưng cứ vờ đi, làm như không

nghe thấy. Thằng cô hồn nhổ thêm một bãi nước bọt, lần này xuyên qua cửa sổ,

dính vào thành ghế của chàng. Xong nó chùi miệng, từ từ tiến tới sau lưng Eliot Ness, cất giọng nạt lớn:

-Mother fuck … thằng cớm, đù mẹ mày điếc hả, tao hỏi mày muốn gì? Mày

kiếm …

Câu nói chưa dứt thì đã nghe “chát” một tiếng. Nhanh như chớp, Eliot Ness

xoay người, tung một quả đấm thôi sơn vào giữa mặt nó. Cú đấm mạnh quá làm bàn tay chàng cũng tê dại đi. Thằng cô hồn té ngữa ra sau, chưa kịp bò dậy, Eliot Ness đã phóng tới, đạp gót giày lên ngực nó:

-Mày vừa Mother Fuck ai? Ai cho mày nhổ nước bọt vào xe chính phủ?

Tao nhổ nước bọt vào mặt mày được không?

Thằng khốn ú ớ không nói nên lời vì máu từ miệng đang chảy ra. Đù mẹ

thằng này ăn cái gì mà đánh mạnh quá sức, nhức nhối không tả được, gãy có đến vài cái răng là ít. Thật tình, nếu nó biết ông cảnh sát này hung dữ vậy thì đâu nó đâu có dám biểu diễn màn nhổ nước bọt và chửi thề làm chi để bị ăn đòn. Xưa nay, dân giang hồ Chicago có cái tật là thích nhổ nước bọt bào xe cảnh sát. Đúng ra, cái trò du côn này của xếp Al Capone đem từ New York xuống. Cảnh sát là biểu tượng của pháp luật, của sự an ninh. Xe cảnh sát lại càng quan trọng hơn nữa. Thời đó, xe hơi còn ít nên chiếc xe cảnh sát sơn màu đen là một cái gì uy nghiêm cần được tôn trọng, một dấu hiệu của luật pháp. Nhổ vào xe cảnh sát nói lên hai điều. Thứ nhất nó biểu diễn một sự thách thức, một sự chứng minh về cái tính “coi luật pháp không ra gì” của mình. Thứ hai, đó là một cách thử lửa coi thày cảnh sát này ngon lành cỡ nào, phản ứng ra sao. Cảnh sát không thể khơi khơi nhốt tù một thằng vì nó nhổ vào xe của mình. Nếu gặp mấy thầy đội dữ một chút thì chỉ bợp cho nó vài bợp tai, bắt nó chùi xe rồi cho đi. Gặp mấy thầy hiền thì phe lờ luôn. Ăn thua gì chút xíu đó mà

gây oán thù? Những ngày còn trẻ, xếp Al Capone chuyên môn áp dụng cái màn này để thử lửa cảnh sát.

Đau lắm, nhưng nó cũng ráng thều thào, giọng không thành tiếng vì thiếu

mất vài cái răng cửa bất ngờ:

-Thì nói trống không vậy đó.

Eliot Ness móc cái mộc cảnh sát đặc vụ của ty ngân khố ra, cúi người dí sát

vào mặt nó:

-Mày biết đọc không? Đọc thử mấy chữ này coi.

– Tôi … không biết đọc nhưng biết đó là mộc cảnh sát … thiệt.

Eliot Ness dần từng tiếng:

-“Special Agent of the Treasury & Justice Department,” có nghĩa tao là

ông nội của cảnh sát. Tao đến từ Hoa Thịnh Đốn, nên không có quen mấy cái cách ăn nói mất dạy ngang ngược của tụi mày, hiểu không? Từ này về sau, phải ráng mà học để biết kính nể và quý trọng cảnh sát như cha mẹ mày vậy vì cảnh sát phục vụ và bảo vệ dân. Tuy bảo vệ nhưng nếu cần, cảnh sát cũng có quyền đục thấy mẹ những thằng nào ăn nói cục cần thô lỗ. Hiểu chưa?

Eliot Ness nới lỏng bàn chân, đứng lùi ra cho nạn nhân đứng dậy. Mới bị

có một quả đấm mà mặt mày thằng cô hồn đã hết chất … cô hồn, coi thấy xụi lơ.

Eliot Ness móc ra cái khăn mu soa:

-Cầm lấy cái khăn này mà chun vô xe tao chùi cho sạch bãi nước bọt của

mày đi. Lần sau mà còn ngu dại chơi cái màn này thì tao bắt mày liếm sạch bãi nước miếng của mày đó, hiểu chưa thằng mất dạy?

Thằng cô hồn làm y lời rồi lễ mễ bỏ vào trong. Hoảng quá, nó quên trả lại

cho Eliot Ness cái khăn mu soa. Chằng lắc đầu, leo lên xe lái thẳng về ty cảnh sát.

Hãy còn sớm, Mike Casey chưa tới, Eliot Ness lại trở ra đi dạo một vòng. Bước

chân tình cờ đưa đẩy, Eliot Ness thấy mình đứng trước cái ghế đá công viên ngày nào, nơi Gary Malone đã đập bể tan nát chiếc xe của thằng Frank Nitti tháng trước. Chàng mua một tờ báo, ngồi xuống ghế đá, bình thản ngồi hút thuốc, ráng tận hưởng những giây phút nhàn hạ của buổi sáng.

Có tiếng chân lóc cóc của gót giày đinh nện vào vĩa hè. Khỏi cần nhìn lên,

Eliot Ness cũng biết đó là tiếng chân của Gary Malone. Lâu rồi không gặp được cố nhân, chẳng biết có gì thay đổi? Chàng chưa kịp nhìn lên đã nghe tiếng chào:

-Chào thanh tra Ness. Trời hôm nay đẹp quá nhỉ?

Thái độ vui tươi của Gary Malone khác hẳn thường ngày làm Eliot Ness

ngạc nhiên. Chàng nhớ đến lần gặp gỡ cuối cùng với hắn tại quán cà phê. Thằng cớm khó chịu này âm mưu gì dây? Hay nó đã thay đổi? Mặc, chàng không còn có hy vọng quá nhiều vào hắn như ngày xưa nữa. Tất cả những kế hoạch để diệt Capone, Eliot Ness đều đã hoạch định lấy đặt căn bản trên nhân vật chính là mình.

-Chào ông bạn Gary Malone, trời đẹp thật. Giá có được một công việc

nhàn nhã, cứ chắp tay sau đít đi bách bộ như ông thì tuyệt.

Gary Malone cười. Giọng cười của hắn ồ ồ, sảng khoái, đúng điệu một tay

lãng tử lang bạt kỳ hồ:

-Có gì khó đâu, ông cứ việc làm đơn xin đổi về ty cảnh sát Chicago, tôi

hứa sẽ can thiệp cho ông.

-Can thiệp với ai?

-Mike Casey!

Gary Malone nhìn Eliot Ness nháy mắt cười hóm hỉnh sau câu nói. Eliot

Ness cũng cười theo. Tiếng cười của hai ông cớm vang lên trong đường phố, giữa một buổi sáng ngày đẹp trời. Gary Malone lột cái mũ két thảy lên ghế, ngồi xuống bên cạnh Eliot Ness:

-Coi vậy chớ không phải … vậy đâu, ông Ness. Ông quên một điểm là một

năm 365 ngày, chỉ có chừng vài chục ngày là đẹp như vậy thôi. Ngoài ra, toàn là những ngày hoặc là nóng như cái lò bánh hoặc là lạnh như ở miền Bắc cực. Những con người xui xẻo mới phải làm những công việc này.

-Nhưng tôi thấy hình như ông mê nó lắm.

Nụ cười trên môi Gary Malone tắt ngúm. Hắn nhìn ra xa xà, có dáng mỏi

mệt:

-Mỗi người có một tâm sự riêng, nếu ông biết được tâm sự riêng của tôi,

ông sẽ hiểu tôi.

Gary Malone móc bao thuốc lá từ túi áo trên, rút một điếu xong bỏ lại,

không quên gài nút cẩn thận trở lại:

-Này ông Ness?

-Gì?

-Ông còn cay cú tôi không?

-Không. Công việc chung, cay cú làm gì. Tôi chỉ nói là tôi sẽ không cần

ông làm việc chung với tôi nữa thôi.

Tự nhiên, Gary Malone chìa bàn tay ra:

-Xin chúc mừng sự thành công của ông tối hôm qua.

-Sao ông biết?

Gary Malone cười:

-Không có chuyện gì xảy ra trong ty mà tôi không biết. Gary Malone mà.

Eliot Ness bắt tay hắn, nhận lời chúc mừng:

-Thật ra đó chỉ là cái kế vặt. Chương trình của tôi còn dài dài.

-Được lắm, nhưng đừng tưởng là tụi Capone sẽ chịu thua. Chúng nó sẽ

nghĩ ra một kế hoạch khác để đối phó với ông. Hơn nữa, thiệt mất một vài chỗ nấu rượu như vậy không làm cho hắn suy xuyển được. Cần phải thay đổi kế hoạch luôn luôn.

-Thú thật với ông, ngay cho đến giờ phút này, tôi cũng vẫn chưa có một kế

hoạch gì đặc biệt cả. Ông có ý kiến gì không?

-Ông muốn tôi vào làm việc với ông?

-Tôi đã nói, bây giờ thì hết rồi. Gary Malone cười cười, nửa đùa nửa thật:

-Được. Nếu tôi là ông, tôi sẽ cho đặt một trái bom cở 2 ngàn cân tại đại

khách sạn Lexington.

– Thứ nhất, làm vậy là trái luật. Thứ hai, giết thằng Capone này sẽ có

thằng Capone khác nổi lên, ích lợi gì?

Gary Malone không trả lời, đứng dậy, đội mũ các két lên đầu. Hắn dùng

hai tay xoay xoay cái mũ để sửa lại cho ngay ngắn:

-Nói đùa với ông thôi ông thanh tra. Tôi chẳng có ý kiến gì cả. Chào ông.

Cũng chẳng thèm đợi trả lời, Gary Malone lặng lẻ cất bước. Đột nhiên,

hắn quay lui, trở lại đứng trước mặt Eliot Ness:

-Tôi có một câu chuyện để tặng ông.

Eliot Ness cười:

-Chuyện gì?

-Lúc tôi còn nhỏ, ba tôi có kể cho tôi nghe câu chuyện một người bạn của

ông ta, đã một mình chèo thuyền từ Canada, xuyên qua mấy ngàn dặm trên going sông Mississipi để về đến New Orleans.

– Một công tác rất khó khăn vào cái thời phôi thai đó.

-Đúng. Ông biết, sau cuộc hải trình ngoằn nghèo dài gần một năm đó, ông

ta tiết lộ cái lý do giúp ông ta thực hiện được việc làm khó khăn đó. Ông sẽ ngạc nhiên. Ông nói với cha tôi rằng sỡ dĩ tôi vượt được mấy ngàn dặm đường mà không có gì nguy hiểm và không hề nản chí là bởi vì tôi biết áp dụng đúng quy tắc này:

“Tôi chỉ để ý đến quãng đường ngay trước mặt mình thôi. Hết đoạn đó tôi lại để ý cái đoạn kế ngay trước mặt. Chính quảng đường gần nhất ngay trước mặt mình là quãng đường nguy hiểm nhất … “

Eliot Ness gật đầu ghi nhận một tư tưởng hay.

-Tôi biết ông là một người thông minh, có can đảm, có tài nên mới kể cho

ông câu chuyện đó. Tôi nghĩ ông sẽ thành công.

Nói xong Gary Malone lại quay lui toan cất bước. Eliot Ness gọi giật hắn

lại

-Gary Malone!

-Gì?

-Ông có quen người con gái nào tên Collen Parker?

Cái tên “Colleen Parker” như nói lên một chuyện gì làm Gary Malone

quay người lại, tiến tới gần Eliot Ness:

-Con bé ở nhà hàng The Red Horse?

Eliot Ness nháy mắt cười:

-Đúng, Collen cẳng dài.

Gary Malone không cười. Dĩ vãng chạy về trong trí hắn. Hắn lại lột cái

mũ kết ra rồi ngồi xuống bên cạnh Eliot Ness. Cặp mắt hắn tư lự nhìn ra xa xa:

-Đó là một chuyện tình đẹp.

Eliot Ness ngạc nhiên, lúng túng:

-Tôi xin lỗi, tôi không biết gì về chuyện tình đó. Tôi chỉ nhắc đến tình cờ

vì cô ta nói có biết ông.

Nụ cười trên môi Gary Malone méo mó:

-Đúng hơn, chúng tôi đã yêu nhau nhiều lắm.

Eliot Ness nhún vai:

-Cả hai rất xứng đôi vừa lứa, tôi thấy đâu có gì trở ngại?

-Cái trở ngại là chúng tôi. Nàng muốn tôi từ bỏ nghề cớm để cả hai sẽ đi

một nơi thật xa xây tổ uyên ương.

Eliot Ness cười:

-Cũng nên lắm chứ, nhưng ông cho đó là những đòi hỏi vớ vẫn của một em

bé?

-Ông biết, Gary Malone này mà cởi bộ đồ cảnh ra, mặc vào thứ gì đi nữa

cũng thấy mình như trần truồng. Máu cớm nó đọng trong huyết quản rồi, không dễ gì bỏ được.

Eliot Ness đột ngột hỏi:

-Năm nay ông bao nhiêu tuổi rồi?

-Gần 50!

-Ai nhìn ông cũng tưởng ông vào cỡ 40 là cùng.

-Cái hàng râu mép nó giấu dùm tôi độ 10 tuổi.

-10 năm nữa, tôi sẽ để một hàng râu mép giống ông.

Hai ông cảnh sát cùng bật cười lên một lượt. Chưa bao giờ chàng thấy thân

thiện với Gary Malone hơn lúc này. Hắn đã đổi ý rồi chăng?

-Ông còn liên lạc gì với em Collen không?

-Không! Ông biết tính tôi mà. Dứt khoát. Nếu mình không thể thay đổi

được tình hình thì ít nhất cũng đừng để tình hình nó kiểm soát mình. Giữa tôi và Collen bây giờ chỉ còn là hai người bạn.

-Bạn thân?

– Rất thân và rất kính trọng nhau nữa. Tôi coi nàng như đứa em gái.

Eliot Ness nheo mắt, cười cười:

-Có khó lắm không?

-Không bảo toàn được chuyện nhỏ, làm sao lo được chuyện lớn?

-Anh hùng thường hay bị kẹt bởi những chuyện cỏn con như vậy, ông có

biết không?

-Tôi không phải là anh hùng.

Eliot Ness suy nghĩ không biết có nên nói chuyện xảy ra tối hôm nọ cho

Gary Malone nghe? Thôi, cứ để từ từ đã, chuyện đâu còn đó.

Gary Malone lại đứng dậy, đội cái mũ két vào đầu, lấy tay sửa sửa lại cho

ngay ngắn:

-Tôi phải đi ông Ness! Chúc ông may mắn và quan trọng nhất, đừng quên

câu chuyện tôi kể với ông: “Khúc đường trước mặt là khúc đường quan trọng

nhất … “

Eliot Ness chìa tay ra, Gary Malone bắt lấy. Lần đầu tiên kể từ khi gặp

hắn, Eliot Ness cảm thấy con người hắn cũng không đến nổi khó chịu lắm.

Trên con đường trở lại ty cảnh sát, chàng cứ suy nghĩ mãi về câu nói đó

“Khúc đường trước mặt là quan trọng nhất. Chỉ để ý đến nó mà thôi … “

Phần Eliot Ness, chàng cũng không ngờ cái đòn hư hư thật thật này lại

thành công quá mức mình dự đoán. Mike Casey như người ngồi trên đống lửa. Bây giờ, thái độ thù ghét Eliot Ness của lão, lão không còn giữ trong lòng mà cứ tự nhiên để cho nó hiện ra trên nét mặt. Cả ty cảnh sát cũng chới với. Lần đầu tiên, người ta thấy bọn Al Capone trở về thế bị động. Đúng như sự lo sợ của Al Capone, Eliot Ness kéo dài cái trò chơi này luôn hai tuần lễ liên tiếp. Cứ mỗi ngày chàng đi vào, quăng ra vài cái trát toà ký sẵn với những địa chỉ vu vơ cho lão Casey coi, rồi đi lo việc khác. Riêng xếp Al Capone thì khỏi nói. Xếp gần như muốn điên. Lần nào cũng vậy, hễ mỗi lần Mike Casey gọi điện thoại tới thông báo các địa điểm sẽ bị tấn công, dù biết rằng đây chỉ có thể là những vụ hành quân ma, xếp Al Capone cũng lập tức cho ban hành lệnh báo động. Làm ăn kỹ càng lắm nên xếp quan niệm, chẳng thà bị mất bia rượu còn hơn để tụi cảnh sát liên bang khám phá ra sào huyệt.

Xếp biết số tiền lo lót cho đàn em, cho mấy ông tòa cũng không kém gì số tiền rượu bia bị mất mát kia, và có khi còn nhiều hơn. Vả lại, ở Chicago này, tiếng tăm của Xếp đã quá nổi. Xếp rất sợ đọc được những bài báo, những trang phóng sự dài lê thê về các lò nấu rượu của mình. Có lần, xếp nói thẳng với Frank Nitti:

-Nếu từ đây cho đến cuối năm nó cứ cái mững này soạn lại mỗi ngày một

lần, mình cũng phải báo động từ nay cho đến cuối năm.

-Nhưng nếu nó làm hoài như vậy, mình sẽ lỗ hoặc không còn lời nữa.

Xếp lắc đầu:

-Lỗ thì chắc chắn là không, nhưng tiền lời sẽ ít đi. Mà mày biết ai sẽ chia

phần lỗ lã với mình không? Thì bọn thấy chú ở ty cảnh sát Chicago chớ ai. Đù mẹ mình phát lương tháng cho chúng nó để được bảo vệ khỏi mấy cái vụ hành quân lẩm cẩm này. Nếu chúng không bảo vệ được, để thằng cớm khốn nạn kia đi tấn công hằng ngày thì chúng nó phải chịu chia phần sự lỗ lã. Tao đã chỉ thị thằng Guzick cắt hết một nửa phần lương trả cho bọn thầy chú. Tháng sau, nếu vụ này còn, tao sẽ cho cắt thêm nữa.

Nạn nhân đầu tiên của chiến dịch “Eliot Ness” là mấy thày chú cảnh sát.

Đương không tiền phụ trội bỗng rớt xuống một nửa. Ăn quen nhịn không quen, có thầy giận quá còn giở trò hạch sách, đòi bắt bớ vài thằng. Riêng lão Mike Casey thì cái vé uống rượu chùa mỗi tối đã bị thâu hồi. Chỉ thị mới nhất của Frank Nitti là từ nay, lão uống bao nhiêu phải trả tiền bấy nhiêu. Vì thế, Mike Casey hận Eliot Ness lắm.

Nạn nhân thứ nhì là bọn đàn em của xếp và các caporegime. Bia rượu bây

giờ ở Chicago tự nhiên trở nên khan hiếm vô cùng vì nấu được một thùng bia đâu phải là chuyện dễ dàng. Còn phải cất, phải ủ, phải chờ cho nó lên men rồi mới san qua sớt lại cả mấy tuần lễ mới xong. Công trình như vậy mà nhiều khi tiến hành được nửa chừng lại bị Caporegim gọi điện thoại tới, quát lên như sấm: “Đù mẹ tối nay nó tấn công khu mày đó. Dẹp, dẹp hết. Bao nhiêu bia rượu phải đổ xuống cống hết … ” thì thằng nào còn tinh thần làm việc? Cũng may mà xếp Al Capone còn mấy chục lò nấu vĩ đại ở ngoại ô Chicago chứ không thì chỉ còn nước đóng cửa dẹp tiệm.

Đòn phép của thằng cớm này độc quá. Vừa độc lại vừa tốn tiền nữa.

“Cái quãng đường trước mặt” xem ra hấp dẫn lắm, Eliot Ness vừa huýt gió

vừa nhảy hai tam cấp một trở lại ty cảnh sát. Cả ty cảnh sát như ngừng lại mọi sinh hoạt để chỉ chú ý đến chàng. Vài tiếng bình phẩm vang lên. Khen cũng có mà chê cũng nhiều. Eliot Ness nghe hết, thấy hết nhưng vẫn tỉnh bơ bước vào. Chàng tự nhủ: “Ít ra cũng đỡ hơn lần tấn công hụt cách đây chừng một tháng. Lúc ấy, bọn nó chỉ thương hại mình …. ” Eliot Ness lại mỉm cười, trong đầu chàng còn nhiều kế hoạch độc đáo hơn …