This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cả đời tôi hay tự đặt câu hỏi: “Vì sao cảm xúc của người Việt vẫn còn chia rẽ?”. Từ sau 30/4/1975 đến tháng Tư này, năm 2026, tôi cũng ngót nghét bảy mươi tuổi rồi mới dám đưa ra một câu trả lời, cũng chỉ là câu trả lời chung chung. Có những vết thương của lịch sử không nằm trên thân thể con người, mà nằm trong ký ức, mà ký ức thì nó không biết tính thời gian. Có lẽ cũng vì vậy mà cảm xúc của người Việt luôn thay đổi, vẫn chưa đồng nhứt, hổng phải vì họ muốn vậy, mà vì thời cuộc đã để lại những dấu hằn khác nhau trong lòng mỗi người. Nhứt là người miền Nam. Trong mỗi con người là một câu chuyện riêng. Có người mất mát, có người hy sinh, có người ra đi và người ở lại…
Lịch sử không chỉ là những trang sách, mà còn là những bữa tiệc nhậu dang dở, những cuộc chia ly bịn rịn đầy nước mắt, cũng có những cuộc chia ly không kịp nói lời gì, có những cái chết tức tưởi; có những cái vinh quang trong sạch và cũng có thứ vinh quang điểm tô trên xương máu của đồng loại, đất nước tôi phải hứng chịu những điều như vậy đó. Đã trải qua hơn nửa thế kỷ và cũng đã qua hơn ba thế hệ rồi. Cho nên ký ức mỗi người khác nhau, cảm xúc khác nhau là lẽ thường tình. Không phải ai cũng muốn tranh cãi, tại vì họ đang bảo vệ những gì từng nâng đỡ họ trong những năm tháng khó khăn, gian khổ.
Người Việt miền Nam ra nước ngoài mang theo quê hương trong vali, trong giọng nói, trong món ăn, trong nỗi nhớ. Họ nhìn Việt Nam qua khoảng cách, qua ký ức, qua những điều đã mất. Với họ, quê hương đôi khi là một thời đã qua, một miền Nam cũ, một chế độ tự do, nhân văn và nhân bản mà họ đã sống.
Tôi nhớ quê hương, hướng miền Nam cũ, nhớ bằng mùi, bằng tiếng, bằng cái cảm giác mênh mang miệt đồng ruộng của miền sông nước Cửu Long với mùa nước nổi, dân ngư chèo xuồng đánh bắt cá linh, tôm tép; hái bông điên điển, bông súng, khai thác sản vật thiên nhiên. Nhớ tiếng máy ghe đánh cá rầm rộ vô ra trên vàm sông và nhớ tiếng nói rì rào của những bà, những cô chèo xuồng từ trong đồng ruộng ra thị tứ, nhóm chợ lúc hừng đông. Nhớ nhứt là cái nắng màu mật ong trải lên ruộng lúa chín vàng mênh mông.
Mỗi lần nhớ tôi lại thấy lòng mình dịu xuống. Như là bao nhiêu chuyện lớn, chuyện nhỏ của lịch sử, của thời cuộc cũng hóa thành hạt phù sa lẫn trong nước sông quê tôi.
Vì tôi nghĩ đơn giản là mình thương cái gì thì mình giữ gìn cái đó trong lòng vậy thôi. Mà mỗi người thương một cách. Có người thương một lá cờ, một thời tuổi trẻ, một miền Nam tự do. Có người thương cái ngày đất nước liền một dải, thương cái cảm giác không còn cảnh chiến tranh chết chóc nữa. Có người thì chỉ thương quê nhà, không cần biết nó mang màu sắc chính trị nào, chỉ cần nó còn là nơi mình sinh ra. Thành ra, cảm xúc chia hai cũng là chuyện thường tình. Như hai nhánh sông Tiền – sông Hậu, chảy hai hướng nhưng cuối cùng cũng đổ ra biển.
Cho nên, người Việt hải ngoại và người Việt trong nước có hai nỗi nhớ khác nhau. Người đi xa nhớ quê bằng ký ức, nhớ cái miền Nam tự do ngày cũ, nhớ tiếng vọng của một thời đã mất. Người ở lại thương quê bằng hiện tại, họ sống với Việt Nam bây giờ, nhứt là ở những thành phố lớn: kẹt xe, cà phê, những con đường mới mở, những đổi thay mỗi ngày… Hai nỗi nhớ đó không giống nhau, nhưng đều là nỗi nhớ thiệt lòng. Giống như hai người con trong một nhà, mỗi người thương ba, má theo một cách. Có bao nhiêu cách nhớ, kiểu thương khác nhau nhưng cùng một niềm hy vọng. Hy vọng đất nước mỗi ngày một tươi đẹp hơn.
Theo tôi thấy, yêu nước là thương con người hiền hòa, thương tiếng nói, thương món ăn, thương cái cách người Việt cười với nhau dù đời còn nhiều cơ cực. Còn chuyện ủng hộ một hệ thống chính trị nào đó, cái đó là lựa chọn. Lựa chọn thì mỗi người mỗi khác và quan niệm mỗi người cũng khác. Người yêu nước là yêu con người, yêu tiếng nói, yêu mảnh đất, yêu ký ức, yêu những điều làm mình thuộc về. Nó không cần giấy chứng nhận, không cần khẩu hiệu, không cần phải đứng về phía nào.
Có người ủng hộ một hệ thống chính trị rồi nhảy vào hô hào cho đó là yêu nước, rồi mê luôn đến đổi đánh tráo khái niệm rằng yêu nước là yêu một cái chủ nghĩa nào đó. Nhưng lựa chọn này có thể thay đổi theo thời gian, theo trải nghiệm, theo hiểu biết và niềm tin.
Nhưng tình yêu quê hương thì không ai độc quyền, không ai cấm ai. Chúng tôi, những người miền Nam mà tôi quen biết, họ hay nói: “Thương đất nước này vì nó nuôi mình. Còn chuyện “chánh chị chánh em” thì dẹp qua một bên.” Câu nói nghe nhẹ hều mà thấm. Vì với chúng tôi chính trị là hệ thống tổ chức xã hội, nó là nghề nghiệp, là quyền lực, là lựa chọn của từng người, từng thời kỳ. Chúng tôi sống trong chính trị, nhưng nghề nghiệp của chúng tôi hổng phải là chính trị.
Thứ làm cho con người ta thương hoài không dứt là một Việt Nam đẹp theo kiểu cách rất Việt Nam: đẹp cái nụ cười hiền của bà bán bún nước lèo, bán xôi và đẹp cái chơn chất của người miền Tây “thấy khát nước thì ghé vô uống miếng”, đẹp cái tình làng nghĩa xóm, đẹp cái cách người ta chia nhau trái ổi, trái xoài, ly rượu đế mà không tính toán, đẹp cái mùi lúa chín, cái tiếng gió thổi qua hàng dừa, đẹp cái sự chịu thương chịu khó và cái tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” của những con người tứ xứ gặp nhau. Đẹp nhứt là cái tấm lòng bao dung, miền Tây mà, nước lớn nước ròng, lúc mưa lúc nắng, người ta quen với chuyện thay đổi. Nên lòng người cũng rộng như sông: chuyện cũ cho qua, chuyện mới cứ sống. Cũng như tư duy mới của thời đại mới, tôi tin rằng thế hệ bây giờ không muốn cãi nhau hoài về chuyện cũ. Người ra đi, người ở lại, dù có tranh cãi nhưng họ muốn hiểu nhau hơn là thắng thua. Muốn nối lại hơn là phân chia. Muốn nhìn về phía trước hơn là đứng mãi ở sau lưng. Không ai bắt ai phải quên, nhưng chọn cách nhớ sao cho nhẹ lòng.
Dù ở đâu, người Việt vẫn mang theo những điều đẹp đẽ: sự hiền hòa của người miền Tây, sự chơn chất của người miền Nam, sự bền bỉ của người miền Trung, sự tinh tế của người miền Bắc, tiếng rao buổi sáng, mùi cà phê phin, tiếng sóng biển Nha Trang và mùi khô mực nướng, những buổi chiều Sài Gòn mưa bất chợt, những mùa lúa chín vàng ở mệt đồng bằng sông Cửu Long.
Việt Nam đẹp không chỉ vì phong cảnh, mà vì con người biết bao dung, biết cười khi gian khổ và biết chia sẻ trong lúc khó khăn, biết đứng dậy sau giông bão.
Theo tôi, yêu nước chỉ đơn giản là giữ trong tim những điều đẹp của quê hương, tôn trọng ký ức của nhau, và để cho mỗi người được thương yêu nước Việt Nam theo cách của riêng mình, như vậy mới gọi là văn minh.
Má tôi mất, dể lại một khoảng trống lớn trong nhà. Nhìn vật gì, tôi cũng liên tưỡng đến má. Hình bóng má tôi vẫn chập chờn đâu đây. Phía sau ót, đầu tôi bị lép một bên, Má tôi nói, hồi tôi còn bú, hay nằm nghiêng gối đầu lên cánh tay má. Lúc đó, xương sọ tôi còn mềm nên đầu bị lép. Mỗi khi sờ lên chỗ lép, tôi nhớ má tôi. Cùng với nỗi tiếc thương mất mát, tôi thấy căn nhà bỗng rộng ra, trống trải lạ lùng. Vậy mà trước kia, khi còn má, tôi không thấy được điều này. Thiếu má, tôi mới cảm thấy trên đời cần thiết có một người mẹ biết bao. Ba tôi vốn ít nói. Từ ngày má tôi mất, ông càng khép kín hơn. Tôi không hiểu ba tôi. Giữa ông và tôi có một khoảng cách. Khoảng cách đo bằng sự im lặng. Rồi ba tôi di thêm bước nữa, với người đàn bà khác. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Tôi hy vọng sẽ tìm được hơi ấm khi nép mình nương tựa bên bóng dáng của người đàn bà thay thế má tôi. Nhưng dì cũng là người ít nói. Ít nói đến ghẻ lạnh. Trước sau, dì vẫn là người dưng nước lã. Tôi không thương, cũng không ghét dì. Ngày trước, ba tôi răn dạy con cái bằng roi vọt. Bây giờ, ông bảo dạy dỗ nặng tay với tụi bây, thì miệng đời kêu rêu ác độc. Tôi có lỗi, ông chỉ trừng mắt ném cho tội cái nhìn sắc lạnh, làm tôi rét tận xương, đồng thời hồn tôi rát bỏng còn hơn cả đòn roi. Sợi dây ràng buộc gia đình lỏng lẽo đến nỗi tôi nghĩ, nếu đi xa cũng không làm tôi thương nhớ.
Cuối năm tiểu học, tôi lên tỉnh học trung học, ở nhà trọ. Tôi mang dáng dấp của đứa học trò miền quê. Tôi không mặc cảm. Chính tôi cũng không hề muốn thay da đổi lốt. Tôi sống tự nhiên với những thói quen dã có ở quê nhà. Mỗi ngày, tôi vẫn cắp sách đến trường. Hay ngáp trong giờ học. Cố gắng theo dõi bài giảng một cách khó khăn. Gần ba năm kiên nhẫn, tôi khám phá ra rằng tôi đần độn hơn những đứa bạn cùng lớp. Và tôi cũng biết, tôi không có năng khiếu về bất cứ môn học nào. Những bài học khô khan làm tôi chán ngán. Tôi thường la cà đi chơi, hoặc nằm dài đọc sách. Tôi chỉ đọc loại sách nào tôi thích. Đọc truyện phiêu lưu đường rừng, yêu cảnh sắc thiên nhiên. Mơ ước thực hiện những chuyến đi dài. Đường phố lao xao của tỉnh thành, không thích hợp với tôi. Tôi lớn lên từ đồng nội. Gần gũi với những luống cày, gốc rạ. Quen nghc chim kêu, dế gáy, tiếng côn trùng trong bờ lau, bụi dứa. Bạn thiết của tôi là những đứa chăn trâu, chăn bò. Những đứa này không có trong lớp học. Tôi yêu mến kẻ chân lấm tay bùn, muốn cận kề bên những nông dân chất phác, hòa mình sống với thiên nhiên. Vì thế, tội hay nghỉ học. Càng về sau, càng nghỉ học nhiều hơn. Thầy hiệu trường gọi ba toi lên văn phòng. Trước mặt hai người ấy, tôi hứa những điều không muốn hứa. Rồi cũng khộng giữ được lời hứa của mình. Tôi lại nghêu ngao ngoài đồng ruộng. Và cái hậu quả là ôm gói đi luôn.
Đó là năm tôi mười sáu tuổi.
Chiều xuống rất chậm. Màu chiều thê thiết đổ vàng trên sân đình. Mông lung, huyền hoặc. Hồn tôi lơ ngớ buồn bã nơi chân trời viễn mộng đâu đâu. Trong khoảnh khắc, thời gian như dừng lại và cảnh vật im lìm như bức tranh bất động. Từ sau đình, người đàn ông vác củi thông gỗ đi qua. khuấy rộn cả không gian yên tĩnh.
Thấy tôi vẫn còn đó, ông hỏi: “Mày tính ngủ ở đây thiệt hả? Coi chừng có ma.”
Tôi hỏi lại: “Ông có ngủ ở đây không?”
“Ai dám? Ngủ để con ma nó khiêng đi à?” Ông đi luôn ra cổng.
Hai lần ông bảo, coi chừng có ma. Tôi biết ông ta dọa vì không muốn tôi ngủ ở đình, Biết thế, nhưng vẫn sợ. Sự sợ hãi một hình bóng hoang tưởng, bao giờ cũng khác thường rùng rợn.
Người đàn ông đi khỏi, tôi cũng có ngay một quyết định, đi xa. Chả lẽ cứ lẩn quẩn nơi xó đình này, mà sống được sao?
Tôi đi lên bến xe. Mua ổ bánh mì, ngồi xe đò di Sài Gòn. Tôi ăn bánh mì, ngủ gật trên đoạn đường dài sáu mươi cây số, từ quê tôi đến Sài Gòn. Mấy năm trước. Ba tôi chơi bài, thắng lớn. Ông dẫn tôi đi Sài Gòn, mua cho quần áo mới và đôi giày hàm ếch. Ông đưa tôi di dạo nhiều nơi. Nơi nào cũng đèn điện sáng rực, tôi không biết đâu là đâu. Quần áo mới và đôi giây hàm ếch, chỉ dùng được một lần vào dịp Tết, rồi cất lại trong tủ. Thời gian sau, tất cả đều chật. Lâu lâu, lấy ra ngắm nghía săm soi món đồ kỷ niệm. Bây giờ, tôi đi Sài Gòn một mình. Thành phố lớn quá. Người ta đông quá. Ai cũng là người lạ và khôn lanh quá. Tất cả đều làm tôi sợ. Cái sợ của một dứa nhà quê, ngờ nghệch trước sự ồn ào tấp nập. Tôi tự hỏi, không biết người ta làm gì mà ngày đêm lúc nào cũng ngược xuôi tất bật trên đường phố? Bến xe Sài Gòn, Tây Ninh nằm kề ga xe lửa. Chếch phía bên kia là chợ Bến Thành Tôi không dám đi đâu xa. Ngày, quanh quẩn khu chợ Bến Thành. Đêm, ngủ trên băng ghế dài, trong phòng đợi ở nhà ga. Đói, ăn bánh mì với đường. Khát, uống nước máy công cộng. Số tiền trong túi vơi dần. Tôi lo sợ những ngày sắp tới. Sống vất vưỡng ngoài đời không dễ dàng như tôi tưởng. Về ư? Tôi không nghĩ sẽ quay về. Tôi như con diều đứt dây, chấp nhận sa xuống ở một nơi nào xa lạ, chứ nhất định không sa xuống ở nơi mà từ đó đã bay đi. Chiều chiều, tôi thường đứng trước nhà ga, nhìn những cuộc đưa tiễn chia ly. Tình huống nào rồi có lúc cũng phải chia ly. Đời người là một chuỗi dài những đưa tiễn chịa ly. Lòng tôi buồn vời vợi. Rồi một chiều, tôi thấy một cụ già xách hai cái va li nặng. Cụ đi không người đưa tiễn. Tôi đỡ tay với cụ và hỏi: “Xe lửa này chạy về đâu?”
Cụ nói giọng trọ tre khó nghe: “Tầu suột Huệ.”
Tôi hỏi: “Tàu đâu?”
Cụ chỉ vào sân ga: “Trong tê.”
Tôi chợt hiểu. Cụ gọi xe lữa là tàu. Đối với tôi, thứ nào chạy trên mặt đấi là xe, dưới nước là tàu, trên không là máy bay. Huế mơ hồ ở góc biển chân trời nào, tôi không biết. Qua sách vở, tôi nghĩ Huế với thành vua cung diện lâu ngày hoang phế. Thời gian phủ lên triều xưa một lớp bụi mờ mờ u ẩn. Sông Hương núi Ngự mơ màng như tranh vẽ. Những con vua cháu chúa, dù đã hết thời, cũng không làm gì cực nhọc động đến tay chân. Đàn bà con gái Huế toàn là những thục nữ vô cùng yểu điệu. Các cụ người Huế để móng tay dài, làm thơ vịnh nguyệt, bình luận văn chương ở Phú Vân Lâu. Trong tâm tưởng của tôi, Huế như một hoài niệm chiêm bao. Cụ gia tôi gặp chiều nay, mặc âu phục bình thường. Tôi nghĩ cụ không là người Huế. Người Huế ai lại vất vã xách cái va li nặng nề như hàng dân dã? Chắc cụ là người ở nơi khác đi Huế mà thôi. Tôi cũng quyết dịnh đi Huế. Ở đây, Sài Gòn tôi không quen với ai. Không có gì lưu luyến giữ lại chân tôi. Nơi nào rồi cũng thế, cũng vẫn là người dưng. Đi xa, may ra xứ Huế với những tấm lòng độ lượng của con cháu hoàng triều, tôi còn có chỗ dung thân. Tôi nghĩ được cách đi Huế, khỏi mua vé xe lữa. Phải tiết kiệm tối đa. Chỉ mấy ngày lang thang bụi đời, tôi hiểu được giá trị của đồng tiền. Không thể phung phí khi có thể tránh được tốn hao. Tôi mang cái va li theo cụ già qua cửa soát vé, như một người thân đưa tiễn. Vào sân ga, cụ cho tôi một đồng. Tôi lắc đầu, không lấy. Tưởng tôi chê ít, cụ thêm một đồng nữa. Số tiền đủ mua một ổ bánh mì, tại sao từ chối? Tôi đưa hai tay đỡ lấy số tiền, miệng lí nhí nói lời cám ơn. Lần đầu tiên trong đời, tôi làm ra hai đồng bằng công sức của mình. Cụ già cười nói điều gì đó, tôi không hiểu, Giọng cụ có quá nhiều âm dấu nặng và những tiếng lạ đời mô tê răng rựa. Cụ lên toa. Tôi quay đi, chen chân lên một toa khác. Hai bên hông xe lữa là hai hàng băng ghế dài, hàng hóa chất ngổn ngang ở giữa.
Bẩy giờ năm phút, xe lừa khởi hành. Tôi nhìn qua cửa sổ, thành phố lên đền sáng trưng. Nhà nhà san sát, tiếp nối chạy giật lùi, Sài Gòn phồn tạp ồn ào. Nếu ở lại đây, tôi sẽ bị cuốn mất trong dòng cuồng lưu hỗn độn. Tôi đang ra khỏi thành phố. Ngờ ngợ cảm giác như bị đuổi xua, trốn chay. Về khuya. Đèn vàng vọt trong toa như vàng thêm. Hành khách mỏi mê, ngã nghiêng ngũ gục. Bên ngoài, cảnh vật mờ mờ. Tôi chập chờn thiếp đi. Bồng bềnh nửa thực nửa hư. Cảm tưởng như xe đang lao vào cõi đêm sâu hun hút của thời gian vô cùng tận. Không biết thời gian dã qua bao lâu. Có ai đó, lay tôi dậy.
Người dàn ông mặc đồ trắng, đội kết trắng, một tay cầm đèn pin, một tay chìa ra trước mặt tôi, hỏi một tiếng cộc lốc:
“Vé?”
Tưởng lọt qua cửa nhà ga là ăn gian được cái vé. Ai ngờ. trên dường đi còn kiểm soát.
Tôi ấp úng: “Tôi chưa mua vé. Tôi nghĩ lên xe rồi trả tiền như đi xe hơi.”
“Thằng xạo! Mày muốn gì?”
“Tôi muốn mua vé.”
“Mày giỡn mặt với tao hả?” Muốn mua vé phạt không?”
Tôi lễ phép một cách thảm não: “Da thưa, không.”
“Mày đi đâu?”
“Đến chỗ nào cuối đường xe lửa.”
“Đi Huế hả? Không được. Đọan đường này, tao tha. Sáng mai, tới ga Nha Trang mày phải xuống. Muốn đi Huế thì mua vé đi tiếp tục.”
Tôi nói: “Dạ.”
Ông ta chuyển hướng ngọn đèn pin qua người khác. Tôi thoát được một đoạn đường khỏi mua vé. Kinh nghiệm này cho tôi biết rằng, tạo bộ mặt thảm não sẽ có lợi hơn là bộ mặt bình thường, Bộ mặt bình thường của tôi vốn đã thảm não, chỉ cần cộng thêm giọng nói buồn rầu và cử chỉ yếu ớt là có thể gợi được lòng thương hại của người khác.
Đây là một truyện ngắn. Đại khái, truyện ngắn gồm một ít tưởng tượng, một ít sự thật. Có thế người đọc mới hình dung được khung cảnh, diễn biến của câu chuyện. Sau đây các bạn đoán xem, phần tưởng tượng (hư cấu) của người kể là chỗ nào? Có thể hắn và cô Hồng chui vào hầm chống pháo kích mấy đêm liền, nhưng hắn thề là không làm gì cô ta cả! Cũng có thể là lúc hắn gặp lại cô sau hơn hai mươi năm xa cách? Nhưng sự đời, có những chuyện xảy ra mà mình không thể nào tin được! Đôi khi lại cho rằng đó là linh tính, thần giao cách cảm hoặc tình máu mủ, ruột thịt dun dủi. Năm 1967 hắn học Hành Chánh năm thứ hai Ban Đốc Sự. Như thường lệ, sinh viên học ở trường một năm, năm kế tiếp thực tập tại địa phương, nghĩa là về tỉnh, quận làm việc, rồi lại về trường học tiếp, năm cuối thực tập tại trung ương trước khi tốt nghiệp. Thế nên năm đó hắn được đưa lên Hậu Nghĩa. Đi với hắn còn có ba người bạn cùng lớp. Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa là trung tá Mã Sanh Nhơn. Tên ông nầy thì những người trên năm mươi tuổi đều biết. Nghe nói ông ta không còn trên cõi đời nầy nữa nên bình luận về ông ta, chẳng khác gì nói xấu người khuất mặt. Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa chỉ là một cái ấp nhỏ, ấp Bàu Trai, có một cái chợ nhỏ. Nó tương tự như Dầu Dây, nhưng thưa thớt và buồn hơn nhiều. Khi lập tỉnh ly mới có tòa hành chánh, tiểu khu, ty cảnh sát … Rồi dân tứ xứ đến sinh sống nên trông cũng ra vẻ thành thị. Từ Sài Gòn lên Hậu Nghĩa độ vài chục cây số. Cứ theo đường Sài Gòn-Tây Ninh, đến Củ Chi quẹo trái, rồi quẹo phải một đoạn là đến Hậu Nghĩa. Tỉnh ly chỉ là con đường duy nhất, độ một cây số, nằm trên con lộ Đức Hòa- Đức Huệ, thẳng băng, cho nên đôi khi về chiều hay tối, Việt Cộng cứ ra đường, nơi xa và vắng, đặt đại liên, bắn bừa dọc theo con lộ là làm gì cũng có người lãnh đạn, đa số là đồng bào, vì giờ đó, lính tráng rút cả vào đồn rồi. Sau nầy chính quyền cho xây một bình phong ngay giữa lộ mới hết nạn lạc đạn. Khi bọn hắn lên Hậu Nghĩa trình diện, phó tỉnh là khóa đàn anh, phân phối đến các ty sở để học việc. Thực ra bọn hắn chẳng học được gì. Sáng cà phê, bún phở gì đó, rồi vô tòa hành chánh xem mấy cái văn thư lưu trữ, như đọc báo tàu, chẳng hiểu mô tê gì cả! Có hỏi cũng chẳng ông ty sở nào giải thích, họ không có thì giờ, vả lại họ dấu nghề, đúng ra là dấu mánh lới, mà những mánh lới nầy mà đưa vào báo cáo của sinh viên nộp cho giáo sư thì chỉ làm các vị nầy điên đầu. Ông Mã Sanh Nhơn, cũng như bao ông tỉnh trưởng, quận trưởng khác, vốn là quân nhân, chẳng cần biết luật lệ, thủ tục gì cả, cứ làm cho xong việc, giấy tờ tính sau. Chẳng phải độc tài quân phiệt hay tham nhũng gì mà thời chiến thì thế. Nghĩa là ông tỉnh trưởng quyết định, ông phó tỉnh trưởng hành chánh chịu trách nhiệm. Mà hễ ông trưởng ty, phó tỉnh nêu trở ngại thì được bảo “Mấy anh học ở trường Hành Chánh ra là để giải quyết những việc đó. Łàm cách nào thì làm!” Thành ra bọn hắn chỉ học được một điều duy nhất là đừng thấy mấy cô thư ký trẻ đẹp mà cà rà tán tỉnh như gặp mấy em ở Sài Gòn. Các cô đều là hoa có chủ cả rồi. Vả lại làm như vậy mất cái uy tín, nghiêm trang của một người sắp trở thành trưởng ty, phó tỉnh, phó quận. Tay phó tỉnh giao cho bọn hắn “nhà vãng lai” làm chỗ trú ngụ. Đó là một căn nhà nhỏ, mỗi bề chưa đến mười mét, để mấy cái giường sắt, phía sau, sát vách là nhà ông trưởng ty mục súc, tiếp đó là một cái giếng, bên cạnh có một cái vại lớn đựng than, cát, sỏi … dùng để lóng phèn. Muốn lấy nước tắm rửa, giặt giũ, nấu nướng thì để cái xô chỗ vòi của cái vại, kéo nước giếng đổ vào vại, nước sẽ được lọc, trông cũng sạch sẽ, không như nước giếng, đục vàng như nước trâu đầm. Ông trưởng ty mục súc có vợ và một đứa con nhỏ, cùng ở chung có cô em vợ tên Hồng. Cô là thư ký tòa hành chánh. Cô không đẹp lắm nhưng trông rất hấp dẫn, cô đi ngoài đường là bọn đàn ông nhìn theo, tâm trí xáo trộn. Người cô tròn trịa, chân tay mũm mĩm, mặt bầu bỉnh, đôi môi dày vẻ mời gọi, nhất là đôi mắt, ươn ướt mà lại lừ nhừ như người ngái ngủ. Thật ra cô rất hiền, ai nói gì cũng cười cười, trả lời nhỏ nhẹ, dịu dàng. Mỗi buổi chiều, đi làm về, cô thường đi qua trước nhà vãng lai, nếu hắn nhìn ra, cô thường gật đầu chào hắn một cách yên lặng. Cô ngon lành như thế mà lại ở chung với ông anh rể, người đời cho rằng “Hoa thơm đánh cả cụm”, nhất là các chàng sĩ quan, đâm ghen tức bèn gọi ông ta là “tên mục súc” cho bỏ ghét. Mỗi buổi chiều, hắn ra sau nhà kéo nước về tắm, cô thường ngồi trước cửa cho cháu ăn cơm. Cô nhìn thoáng hắn rồi hơi mím mím cười, hắn cũng mím miệng chứ không dám chào hỏi, sợ ông anh rể bắt gặp. Cái nhà vãng lai đó chỉ có mình hắn. Chẳng hiểu tại sao ba cậu kia nhất định đi ở trọ nhà đồng bào, không chịu ở đấy. Mấy hôm sau hắn mới biết là chúng sợ bị pháo kích. Ra khỏi chu vi tỉnh ly là gặp nguy hiểm, cho nên Việt Cộng chẳng cần canh nông, đại bác gì cả, cứ súng cối cũng đến nơi. Thế nên tiểu khu phải hành quân thường xuyên. Lính hành quân về là đồng bào xúm lại hỏi “tin chiến sự”. Hễ nghe nói bữa nay bắt được hay giết được sĩ quan pháo binh Việt Cộng là tối đó đồng bào ngủ dưới hầm. Lý do đơn giản là tay pháo binh nầy tiêu tùng thì phải bổ nhiệm tay pháo binh Việt Cộng mới. Mấy cậu nầy bắn theo kinh nghiệm, linh tính chứ chẳng có chuyên môn gì. Thế là anh ta cứ nã búa xua vào tỉnh lỵ nhiều lần để lấy yếu tố tác xạ. Nghĩa là anh ta nã một loạt rồi vác súng chạy vì nếu nấn ná là bị phản pháo. Sau đó lắng nghe đồng bào ở thôn quê đichợ về bàn tán. Ví dụ “Khi hôm Việt Cộng pháo vào mấy nhà sau chợ, chết mấy người” Thế là đồng chí biếtmình phải chỉnh trái phải, xa gần gì đó, rồi lại pháo, lại chạy, chỉ mấy lần là trúng đích. Mục tiêu pháo là tiểu khu, tòa hành chánh, ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng … Đồng bào xuống hầm ngủ cho đến khi nào pháo kích trúng y bon các nơi đó mới yên tâm lên giường nằm. Hắn nhớ, có một gia đình gần chợ bị pháo kích, ông chủ nhà chết. Hòm còn để đó, buổi tối đang khóc lóc thì bị nguyên một quả pháo kích. Thêm mấy người nữa chết. Hôm đưa đi chôn, có đến bốn cái quan tài, đi một dọc mà chẳng thấy ai khóc cả! Có lẽ cả bốn xác người trong quan tài đang khóc cho nhau!
Cái nhà vãng lai hắn ở nằm sát tòa hành chánh tỉnh, phía trước, bên kia đường là dinh tỉnh trưởng. Tối đến, lính đặt mìn Claymore tua tủa. Hễ Việt Cộng tấn công vào, họ chỉ bấm một cái là nhà vãng lai của hắn bay tuốt. Hắn cho rằng giày dép còn có số huống gì con người, cho nên cơm hàng cháo chợ xong hắn về nằm vểnh râu đọc sách báo. Cho đến khi tỉnh bị tấn công hắn mới biết mình dại. Hình như vụ Mậu Thân 68, khởi đầu ở Hậu Nghĩa thì phải. Khuya đó, đang ngủ say, hắn bỗng giật mình vì tiếng đạn pháo nổ rổn rảng khắp nơi, rồi tiếng súng như bắp rang. Thời đó phe Quốc Gia chỉ có súng Garant, carbine … thời đệ nhị thế chiến, chỉ có lính Mỹ trang bị tối tân như AR15, 17 … Phía Cộng Sản đã có AK 47, 50, tiếng nổ toát toát như trung liên, hắn nghe, tưởng như sát bên tai. Tiếng súng càng lúc càng dồn dập. Mùi thuốc súng nồng nặc. Hắn vội chui xuống giường, nằm nép vào góc tường, cố thu mình thật nhỏ. Hắn đã qua mấy khóa quân sự học đường, cá nhân chiến đấu, bắn súng, cận chiến hắn cũng rành, nhưng lúc đó, súng không có, lựu đạn cũng không, cái dao rọc giấy còn không có thì lấy gì tự vệ với chiến đấu! Hắn nhớ có đọc đâu đó câu “Ngoài chiến trường, khi đã hết cách thì chỉ còn chờ đợi” Thế nên hắn nằm chờ một trái pháo trúng nhà hắn hoặc bên dinh tỉnh trưởng bấm mìn Claymore là xong cuộc đời. Lúc đầu hắn sợ đến run người, nhưng khi thấy mình đã cùng đường, hắn đâm bình tĩnh, nằm nghe tiếng súng nổ khắp nơi. Súng từ dinh tỉnh trưởng bắn ra, Việt Cộng sau tòa hành chánh bắn vào, ào ào như bão táp, mưa sa. Đạn cối nổ ngoài đường, trên mái nhà bên cạnh nghe lảng cảng như người ta ném mấy miếng gang để đùa chơi, đạn nhỏ thì xuyên mái nhà, xuyên cửa gỗ cộc cạch như chuột chạy. Cứ tưởng tượng ngày Mồng Một Tết, một tay ba tàu giàu có, treo mấy dây pháo, cùng đốt một lượt rồi bắt bạn đứng vào giữa. Pháo tép, pháo tống, pháo đại … nổ túi bụi, bạn chỉ biết ôm đầu chịu trận! Hắn nằm suy nghĩ đến cái chết. Sáng mai, người ta mở cửa nhà vãng lai, sẽ thấy hắn nằm chết dưới gậm giường. Cái nền nhà, lát gạch, bùn đất, ẩm ướt dơ dáy … hắn sẽ giống một con chó chết dưới mương, thật thảm hại! Trước kia, đọc sách, trong chuyện Cách Mạng Pháp, có bà hoàng hậu, vợ vua Louis 14, chỉ xin được trang điểm cho tươm tất trước khi lên máy chém. Hắn cho rằng bà ta lẩm cẩm, chết là hết, cần gì ba cái lẻ tẻ. Bây giờ hắn lại thấy có lý. Trước cái chết, con người chiến đấu, tìm mọi cách để thoát hiểm, nhưng khi đã cùng đường, phải nhận cái chết, thì lại nghĩ đến sau cái chết. Có thế mới có tôn giáo, có lăng tẩm, xác ướp, kim tự tháp … Hắn cũng thế. Hắn không nghĩ đến linh hồn sẽ về đâu mà chỉ không muốn người ta bàn tán, thương hại hắn khi lôi xác hắn từ gậm giường ra, rồi lại còn lột áo quần hắn để thay áo quần sạch sẽ hơn, nghĩa là sẽ nhìn thấy thân hình trần trụi của hắn, thật đáng mắc cỡ! Thế nên hắn mới bò ra, lấy bộ đồ mới may, thay vào rồi lên giường đắp mền nằm “Kệ mẹ nó, đàng nào cũng chết, chết sạch sẽ lại được tiếng là can đảm!” Rồi mặc cho súng nổ, hắn bình thản nằm chờ viên đạn vô tình nào đó. Thực ra, kể thì dài dòng, chứ hai bên đánh nhau chỉ độ vài giờ. Hắn lên giường nằm một lát thì tiếng súng lặng dần. Vì mất ngủ lại quá căng thẳng nên hắn ngủ thẳng một giấc, cho đến khi nghe các bạn hắn đứng ở cửa sổ dòm vào và bàn tán “Nó chết thật rồi, không thấy thở gì cả” hắn mới vùng dậy, nhe răng cười, lại còn khoác lác là hắn không sợ, không thèm xuống đất núp đạn.
Trước giờ hắn chỉ thấy chiến tranh trong các rạp cinê. Cứ bắn nhau ầm ầm, ôm súng chạy, tài tử nào có nhiệm vụ chết chỉ việc ngã xuống nằm yên, vị nào bị thương thì cứ băng chỗ bôi thuốc đỏ là xong chuyện.
Chiến tranh thật, rất khác xa. Khi hắn và các bạn kéo nhau ra chợ ăn điểm tâm thì xác chết còn nằm đầy hai bên đường. Trên vách tường, những vệt máu kéo dài một quãng rồi mới đến xác chết, chứng tỏ anh ta bị thương ở lưng hay bụng gì đấy, cứ tựa bức tường mà lần đi cho đến khi ngã gục. Có những xác bị bắn đứt đôi, ruột banh ra. Tim, gan, phèo, phổi … ruồi đậu đầy. Mùi máu người tanh khủng khiếp. Khắp nơi đều có xác chết, nhưng không thấy súng đạn. Dĩ nhiên là xác việt cộng, phe ta cũng có chết nhưng đã được thu dọn. Xác địch cứ để đấy triển lãm, đến chiều mới chở đi chôn. Chiều hôm sau, xe nhà binh lại chở về mấy xe xác chết nữa, nghe nói hành quân truy kích sau khi B52 bỏ bom ngăn chặn địch rút lui. Những xác nầy lại không có thương tích, có lẽ chỉ bị sức ép của bom. Người ta bu đông, hắn cũng chen vào xem. Bỗng có tiếng kêu “Có người còn sống, cục cựa kìa” Hóa ra có mấy chàng chiến binh Việt Cộng vừa tỉnh dậy. Cũng may, nếu đem chôn ngay thì chết luôn rồi. Thế là xe quân y đến chở đi. Tối đó hắn tò mò vô bịnh xá, thấy mấy chàng nầy bị xích chân vô giường, được chuyền nước biển nhưng chưa tỉnh hẳn. Các chàng chỉ độ 16, 17 tuổi nằm thiêm thiếp nhưng thỉnh thoảng kêu lên, giọng miền Bắc “Mẹ ơi, con chết mất, mẹ ơi!” Không rõ ở miền Bắc xa xôi, người mẹ khốn khổ có nghe được tiếng đứa con thân yêu kêu gào không? Lúc ở quán ăn, hắn nghe lóm các cậu sĩ quan bàn tán là các chiến binh miền Bắc không được huấn luyện tác chiến trong thành phố, cứ phá bức tường sau tòa hành chánh, tràn qua là xong, chứ pháo kiểu đó, lính đồn trú chúi đầu trong công sự, chỉ độc có mấy cậu cảnh sát chịu trận với cây đại liên suốt đêm ở cái trạm gác đầu đường, bắn đỏ nòng thì đái vào áo đắp lên …
Trở lại chuyện cá nhân hắn. Các bạn hắn sợ quá, rút về Sài Gòn, một số công chức, có cả ông trưởng ty mục súc, cũng đem vợ con về quê, dĩ nhiên ông nhândịp đó đi phép mấy ngày, cho nên cô Hồng đi làm về, ngang qua nhà vãng lai, thấy hắn thì vui vẻ chào hỏi:
– Lúc tối anh có sợ không? Nghe nói mấy anh kia về Sài Gòn cả rồi.
– Sợ chứ, nhưng có lẽ Việt Cộng không đánh ngay đâu, phải ít lâu nữa.
Cô đứng ngoài cửa nhìn vào, có vẻ sợ hãi khi thấy nhà trống hoác:
– Không có hầm núp pháo kích, rủi có chuyện gì thì sao?!
Hắn trổ mòi:
– Được chết gần cô Hồng cũng là hạnh phúc cho tôi rồi.
Cô cười thành tiếng:
– Đừng có nói liều mạng. Vô nói ông phó (tỉnh) cho người xây cái hầm, có pháo kích thì chui xuống. Khi hôm em nằm dưới hầm mà lo cho anh, mấy cô trong tòa hành chánh bảo rằng anh bị bịnh điếc nên không sợ súng.
– Cám ơn lòng tốt của cô Hồng. Nhưng trong lúc chờ xây cái hầm, hễ có pháo kích, cô cho tôi qua núp nhờ bên hầm nhà cô được không?
– Được chứ, em cũng định nói như thế. Nhưng hễ nghe còi báo động thì anh chạy qua nghe, em không kêu đâu. Tối nào em cũng ngủ dưới hầm, không dám đi đâu cả, sợ lắm!
Hắn làm vẻ e ngại:
– Nhưng ở đây cũng chết mà xuống hầm nhà cô cũng chết …
Cô ngạc nhiên: Sao vậy?
– Thì ông anh rể cô bụp cho một phát là rồi đời ngay!
Cô cười:
– Anh nói gì kỳ vậy! Nhưng ổng về quê, tuần sau mới lên, lúc đó thì hầm của anh đã xây xong rồi.
– Vậy cũng tốt, khi nào hầm bên tôi xong thì cô Hồng qua núp mấy hôm để trừ nợ, được không?
– Gì cũng được, nhưng nhớ qua em, đừng liều mạng, em để cửa chứ không gài chốt …
Hắn chỉ nói mua vui chứ không để tâm. Ở Hậu Nghĩa có cái tháp canh, lính đứng trên cao nhìn quanh, tối đến, hễ thấy chớp ngoài rừng là biết việt cộng “depart” súng cối. Một mặt bấm còi báo động cho đồng bào xuống hầm, mặt khác hướng dẫn cho pháo binh phản pháo. Có bữa ngủ gật, mắt nhắm mắt mở báo động lầm, khiến đồng bào thất kinh lại bị mất ngủ. Thế nên, ối đó, khoảng mười giờ, nghe báo động, hắn cứ nằm ỳ tại chỗ đọc sách, chuyện lúc chiều với cô Hồng chỉ là đùa thôi, sớn xác gõ cửa nhà cô mà cô không mở thì mất mặt nam nhi. Ây vậy mà một lát sau, cửa sổ phòng hắn mở ra, cô Hồng ra dấu bảo hắn qua nhà. Hắn ôm mền gối, lò dò đến, cô Hồng chờ ở cửa, hắn vào, cô gài cửa và đi trước dẫn đường. Nhà ông mục súc không rộng, nhưng cái hầm rất lớn và kiên cố, phía trên lạichất bao cát, trong hầm là cái sạp gỗ rất tiện nghi. Cô Hồng vào hầm, lên sạp, nằm nép vào một góc, kéo mền đắp, yên lặng như ngủ say, nhưng hắn biết cô đâu có ngủ nhanh như vậy … Tuần sau khi ông anh rể cô Hồng trở về thì cái hầm nhà vãng lai cũng vừa xây xong và hắn cũng vừa hết thời gian thực tập tại tỉnh và về quận Trảng Bàng thực tập tiếp.
Câu chuyện trên, hắn kể cho tôi nghe có phần đúng vì chính tôi cùng đi thực tập với hắn tại Hậu Nghĩa. Cả bọn bốn đứa mà chỉ mình hắn ở tại nhà vãng lai, ba đứa tôi thì ăn và ngủ trọ nhà đồng bào ngoài xóm. Hôm Việt Cộng tấn công Hậu Nghĩa, tụi tôi tưởng hắn đã chết vì đến nhà vãng lai thấy hắn nằm im lìm, không ngờ hắn vẫn sống nhăn, áo quần lại bảnh bao như đi dự đám cưới. Nhưng có một điều hết sức vô lý mà chính hắn nói ra là, qua mấy đêm trong hầm núp pháo kích, hắn chẳng làm gì cô Hồng cả. Tôi biết thằng trời đánh đó, súng đạn còn không sợ thì chuyện đó, chỉ trừ hoạn quan, chứ đến thánh cũng phạm tội. Hắn thề sống thề chết là không làm gì cả. Hắn lý luận:
– Thà em không biết mình là ai hoặc ăn bánh trả tiền, xong rồi đường ai nấy đi. Đằng nầy em biết tao là sinh viên hành chánh, ra trường cũng ông nọ ông kia, nếu chạy làng em, không phải riêng tao bị nguyền rủa là sở khanh mà tập thể dân hành chánh bị mang tiếng lây. Hơn nữa, rủi em có bầu, níu áo thì là đại họa.
– Tao chẳng tin được mầy. Mầy cũng biết ông anh rể em, người ta gọi là tên mục súc, thì chuyện gì xảy ra cho em, hắn ta lãnh đủ, cả đến chuyện em có bầu cũng vậy, cứ bán cái cho hắn ta thì yên chuyện ngay, em đâu có dại mà khai ra mầy.
– Mầy nói thế chứ còn lương tâm, đạo đức nữa. Mầy thấy em cũng lớn, trông hấp dẫn, tưởng em sành đời.
-Không phải đâu, em còn con gái!
Tôi bắt mọn ngay:
– Sao mầy biết em còn con gái? Mầy phá hại đời em, phải không?
Hắn ú ớ chối quanh, vẫn cứ thề thốt, toàn những lời độc địa. Tôi hỏi hắn, sau đó còn lên lại Hậu Nghĩa thăm em không thì hắn bảo có nhưng không gặp em. Hắn chỉ đứng trước đường chờ em, chứ không vô tòa hành chánh, sợ gặp em, người ta dị nghị. Sau năm 75, hầu như tất cả dân hành chánh đều đi tù, gọi là học tập cải tạo. Sau năm, bảy năm có người trên mười năm, ra tù, được Mỹ cho đi Mỹ. Ở Mỹ, tôi và hắn tuy khác tiểu bang nhưng thường gọi nhau, đôi khi thăm viếng nhau. Hắn cứ nhắc lại chuyện tập sự, chuyện pháo kích, chuyện cô Hồng … ở Hậu Nghĩa như một ám ảnh. Năm 93 hắn rủ tôi về Việt Nam. Người lớn tuổi như tôi, về chỉ cốt thăm thân nhân, bạn bè, nhưng với hắn mục đích thăm lại Hậu Nghĩa, cái tỉnh ly hắn thực tập hành chánh và suýt chết vì Việt Cộng tấn công năm 68. Khi về đến Sài Gòn, hắn rủ tôi lên Hậu Nghĩa. Sau khi gửi cái passport ở chỗ cho mướn xe gắn máy, coi như thế chân, chúng tôi có một chiếc Honda, chạy cũng tạm. Hai đứa đèo nhau lên đường. Tất cả đều đổi thay, tưởng như chúng tôi chưa hề đến đó bao giờ. Con đường liên tỉnh trước kia chạy giữa đồng không mông quạnh, bây giờ hai bên là nhà cửa, xe cộ qua lại tấp nập, nhất là tỉnh lỵ Hậu Nghĩa trước đây, nhà cửa khang trang, buôn bán sầm uất. Cái nhà vãng lai không biết chỗ nào! Thằng bạn tôi ngồi sau xe cứ lầu bầu “Cảnh cũ không còn, người cũ cũng không còn!” Tôi dửng dung nhưng hắn có vẻ bồn chồn, kích động ghê lắm, cứ bắt chạy lòng vòng, hết ngoài đường lại vào trong hẻm, chỗ nào đông người bắt dừng lại nhìn dáo dác mọi người, mọi nơi. Tôi không hiểu hắn tìm cái gì.
– Bộ mầy tưởng em Hồng của mầy còn ở đây sao mầy tìm?
Tao không nghĩ vậy, nhưng tao linh tính như tao sẽ gặp một cái gì hay một người nào. Hơn hai mươi năm, dù có gặp em Hồng, tao cũng không nhìn ra, mà em gặp tao cũng không biết tao là ai, nên tao đâu có hi vọng gặp em. Nhưng không hiểu sao tao cảm tưởng như tao sẽ gặp …
Sau khi chạy là rà đầu làng cuối xóm một cách vô ích, chúng tôi ghé tiệm cơm chỗ chợ ăn qua loa rồi chuẩn bị về. Trời đã về chiều, không khí oi bức khó chịu. Chúng tôi ra khỏi chợ hướng về Sài Gòn. Mới một quãng ngắn, hắn ngồi sau vỗ vai tôi, chỉ một cái quán nhỏ bên đường:
– Ghé vô uống chút gì, tao khát nước quá!
Đó là một quán nước bình thường, lợp tranh vách ván. Quán chia hai phần, phía trước bán đủ bánh kẹo, nước ngọt, trái cây … có cả mấy thứ gia dụng như đèn, thuốc lá, giấy, vở, bút mực .. như một tiệm chạp phô. Phía sau, cách một vách ngăn, tôi thấy không rõ một chị đàn bà đang đưa nôi có lẽ ru một em bé. Chúng tôi dựng xe ngồi xuống một ghế dài, chờ đợi. Chẳng có ai ra tiếp khách! Con đường nhựa hừng hực nắng, mấy cơn gió không làm hết cái oi bức của buổi xế chiều, lại thêm giọng ru em của người đàn bà vọng ra nghe mỏi mệt, chán nản “Đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam … Âu … ơ … Rạm đồng nấu với bẹ môn, đói no mẹ cũng nuôi con nên người … ” Chị ta chợtnhìn ra, thấy chúng tôi thì kêu lên:
– Thứ ơi, có khách, con!
Một cô gái từ sau nhà đi ra, có lẽ cô đang nấu nướng, giặt giũ gì đấy. Cô tầm thường, mặt hơi dài nhưng môi lại dày và đôi mắt như ngái ngủ. Cô cao và ốm, có lẽ vừa mới sinh con nên ngực cô căng cứng dưới áo. Chúng tôi gọi nước ngọt. Trong lúc cô ta đi lấy thức uống, tôi bảo thằng bạn:
– Con nhỏ nầy chân tay dài lòng thòng, mặt cũng dài, giống mầy, tên cũng giống nữa.
Trong lớp học hắn có biệt danh là “Thứ mặt ngựa”, bạn bè thường chế giễu hắn “Đố mặt ai dài bằng mặt Thứ” hắn chỉ cười, không mặc cảm. Thế nên khi cô gái bưng nước ra, hắn bảo cô:
– Bác nầy nói con giống bác (là hắn). Con có biết, con giống ba con hay mẹ con?
Cô gái cười tự nhiên:
– Mẹ con nói con giống mẹ.
– Nhưng con cũng có phần giống bác. Vậy thì con làm con gái của bác được rồi.
Cô gái chỉ “dạ” mà không nói gì. Chúng tôi uống vội vã để lên đường. Lúc trả tiền, hắn đưa tờ bạc quá
lớn, cô không đủ tiền thối nên gọi mẹ:
– Mẹ ra thối tiền dùm con, con không có tiền lẻ. Để cháu đó, con ru.
Cô đi vô nhà trong với tờ bạc. Hai người chuyện trò một lát rồi chị đàn bà đi ra với nắm bạc trên tay. Tôi đẩy xe ra đường nổ máy chờ thằng bạn lấy tiền thối. Sau khi hắn ngồi lên yên sau, tôi rồ ga, cho xe chạy tới.
Bỗng tôi nghe tiếng chị đàn bà thảng thốt kêu:
– Anh Thứ, anh Thứ!
Hắn cũng kêu:
– Ngừng lại, ngừng lại!
Tôi ngừng xe, quay nhìn, thấy chị đàn bà đứng sửng như trời trồng, mặt tái mét. Hắn đi như chạy vừa nói với chị ta:
“Lợi dục thật ra không có phương châm nhất định, nó tùy phương hướng mà theo đuổi, tuỳ thời buổi mà đồi thay, tuy công việc mà châm chước.”
(J.B. Bossuet. 1627-1704)
Niên trưởng của tôi rất ghét Cộng Sản, không những ghét mà còn thù hận nữa. Chẳng là khi Cộng Sản chiếm Saigon, quân đội tan hàng, niên trưởng mất hết, từ địa vị, quyền lực cho đến tài sản. Vào nhà tù tập trung, niên trưởng sống những ngày đen tối nhất của một đời người, vất vả, đói khổ, nhục nhã. Ra tù, niên trưởng tôi già đi chừng ba mươi tuổi, mang trong lòng nhiều nỗi tuyệt vọng. Tài sản đã tiêu tan, gia đình đã kiệt quệ, nhưng nhờ nước Mỹ giang tay đón nhận, niên trưởng và gia đình cuối cùng cũng dắt díu nhau đến đất tự do. Khi ra đi, trong lòng niên trưởng thề rằng không bao giờ trở lại quê nhà, dưới cái chế độ đã cướp đi của niên trưởng tuổi trẻ, sức lực, hy vọng, tự do và tiền của.
Đến Mỹ, những ngày đầu để sống còn, không phải đơn giản, thiếu Anh Ngữ, không chuyên môn, một lần nữa, chưa qua khỏi được cuộc đổi đời bi thảm, niên trưởng tôi lại phải vào xưởng thợ, shop may, cần cù khuya sớm để kiếm đồng tiền nuôi con khôn lớn và ăn học. Nhìn những người đi trước, lòng niên trưởng không khỏi mang đầy mặc cảm. Vì thế, mối căm thù Cộng Sản lại càng chất chứa trong lòng. Gần hai mươi năm qua, vết thương trong lòng niên trưởng tưởng chừng như đã lành lặn, ngày nay, gia đình niên trưởng đã có cơ ngơi, con cái đã đỗ đạt, giàu có, nhìn quanh gia đình niên trưởng thấy chẳng thua ai. Nhìn lại quãng đời qua, niên trưởng thấy như không có biến cố gì lớn lao xẩy ra. Đi Việt Nam nhiều lần, khi thì mãn tang khi thì về sửa mộ, không ai làm khó khăn người trở về, trái lại nhờ có đồng tiền, niên trưởng được chào đón, trọng vọng. Tôi không biết những thuộc cấp của niên trưởng ngày trước, nay là thương binh lê lết giữa chợ đời sẽ nhìn niên trưởng như thế nào? Cuộc đời bây giờ của niên trưởng xem chừng thong dong, thoải mái hơn cả những ngày xưa khi có quyền có chức.
Vì có tiền bạc rủng rỉnh, đi về được ăn ở, tiếp đón như một thượng khách, niên trưởng tôi thấy nước nhà bây giờ không những vừa sang, vừa giàu, vừa đẹp, nhất là con gái Việt Nam trông thật mát mắt. Niên trưởng không hiểu nổi các cuộc biểu tình của đồng bào ở hải ngoại đòi hỏi dân chủ hay lên án sự đàn áp trong nước. Dần dà niên trưởng không thấy Cộng Sản có chỗ nào đáng ghét, mà còn than phiền bạn bè, đồng bào hải ngoại là quá khích.
Thật tình nếu sau tháng 4-1975, niên trưởng thôi làm lính, nhưng Cộng Sản cho niên trưởng một chức gì đó có chút quyền, có tiền, nhà cửa, tài sản còn nguyên vẹn, thì làm gì có chuyện niên trưởng chống Cộng hay ghét Cộng Sản. Bây giờ không những niên trưởng của tôi không còn chống Cộng, mà còn khuyên chúng tôi nên “xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước,” vì bản thân niên trưởng và gia đình bây giờ đã “no cơm ấm cật, rậm rật đi về”, nói chung là thoả mãn rồi, có chống thì một ngày gần đây, quá lắm là chống gậy, chứ đâu có còn chống Cộng nữa. Những người lính trong tập thể Quân đội cũng lấy làm xấu hổ khi có một đàn anh đã từng có quyền cao chức trọng, ăn trên ngồi trốc, bây giờ chỉ vì chút lợi lộc, lại trơ mặt, xun xoe, lơ láo trước sự khinh miệt của kẻ thù cũ lẫn anh em cùng một chiến tuyến ngày trước. Thương hay ghét cũng chẳng qua vì miếng ăn, nếu cần thì thoả hiệp, chịu nhục miễn để có lợi, chúng ta tin cậy gì nơi những con người ấy chuyện lý tưởng hay quốc gia, dân tộc gì! Chị cũng như bao nhiêu người dân miền Nam khác, đã biết thế nào là đổi đời Nhiều người giàu có cũng như thế, bị đánh tư sản mại bản, từ giàu có rơi xuống cảnh sống nghèo hèn, trong cuộc thay đổi lớn lao chưa từng thấy. Dưới chế độ Cộng Sản, hai lần đổi tiền cướp cạn đi bao nhiêu tiền của, mồ hôi nước mắt của dân chúng. Xưa chỉ nghe Cộng Sản, bây giờ mới thấy Cộng Sản và sống chung với Cộng Sản, cuộc đời từ đây xem như không thể vực dậy nổi, chỉ một con đường duy nhất là bỏ nước ra đi. Chị đã phải từ bỏ quê hương, mồ mả ông cha, tiêu phí hết của cải cho những chuyến vượt biển, bị tù đày nhiều lần, trăm điều gian khổ. Cảnh vượt biển đã đem lại cho bao nhiêu gia đình nỗi tang tóc, chia lìa, kẻ còn người mất, thảm cảnh ô nhục xẩy ra trên đường đi, đến những ngày đói khát tuyệt vọng. Kề cận với cái chết, chị chỉ mong được sống, được đến đất liền, thề không đội trời chung với những kẻ đã gây ra thảm cảnh này. Đến được đất liền tự do, chỉ một thời gian ngắn, đỏ da thắm thịt, chị đã quên mùi biển mặn, quên những ngày gian truân với lòng biển mịt mù, không còn nhớ gì chuyện ra đi. Về Việt Nam, giữa đồng bào khổ đau, chị cũng là giai cấp mới, giai cấp của những người ở ngoại quốc về để phè phỡn tiêu những đồng tiền làm ăn khó khăn, để bỏ những tự ty mặc cảm của một thời vất vả làm lại cuộc đời. Phấn khởi, ăn chơi, hãnh diện trong một thời gian ngắn rồi lại ra đi. Cứ nhìn quang cảnh phi trường Tân Sơn Nhất, mỗi lần có chuyến bay ở ngoại quốc về, “Việt kiều” đẩy một xe nặng quà cáp tư bản, đi giữa đám đông người chờ đợi, chào đón, quan sát, chăm chú, thèm thuồng nhìn mình, đã thấy hãnh diện, bỏ những giờ phút “kéo cày” trong shop may, xưởng thợ. Chị cũng không biết gì đến chuyện chính trị, tranh đấu hay tự do, chị biết chị đang có được cái sung sướng là kẻ có tiền giữa những kẻ bần cùng, hãnh diện được có nhiều người ao ước có được đời sống như chị. Ở đây người ta đang vất vả bán thân chỉ vì đồng tiền, người ta lao đao bỏ nước ra đi kiếm việc làm cũng vì đồng tiền, người ta chấp nhận phiêu lưu mong có tấm chồng viễn xứ cũng vì đồng tiền. Nhưng những người khác, nếu về Việt Nam trong lúc có một số người đang giàu có lên vì cơ hội, mà kiếm tiền được thì sao lại không về. Hồng Y người Pháp Bossuet đã nói “Lợi dục thật ra không có phương châm nhất định, nó tuỳ phương hướng mà theo đuổi, tuỳ thời buổi mà đổi thay, tuỳ công việc mà châm chước.” Câu nói này có thể giải thích chuyện nhiều ca sĩ hải ngoại lần lượt theo nhau về hát hỏng kiếm tiền ở trong nước, mặc dầu họ là những người đã vượt biển, hay con em cựu tù nhân chính trị. Ngày xưa họ đã từng bị xua đuổi, trốn tránh để được ra đi, ngày nay lại được đón mời, nếu cần thì phát biểu dăm ba câu để biểu diễn lập trường thương nhớ quê hương, rồi trở lại Mỹ kiếm sống nhờ hải ngoại. Chúng ta đừng cho là hải ngoại đã nuôi sống họ cho “trắng da, dài tóc”, tại vì chúng ta lỡ dại ham vui, mê lời ca tiếng hát, bỏ đồng tiền ra, chẳng qua là trao đổi. Còn trách móc là vì đôi khi còn thương yêu, tin cậy hay đánh giá cao những con người ấy, mà nên xem đó là chuyện thường tình. Chuyện đời chỗ nào nhiều lúa thóc thì có chim sẻ, bồ câu đến, đâu có gì để ngạc nhiên.Đi từ cái ghét đến cái thương, lòng người thay đổi theo điều lợi trước mắt hơn là lẽ phải, nói chi đến sỉ khí, danh dự của con người. Thương ghét cũng theo mùa như bầy chuột đồng giữa hai mùa: mùa gặt no đầy căng bụng và mùa đông mưa bão, chui nhủi trong hang mà oán trời trách đất. Có điều là hải ngoại, chúng ta quá nhân từ, thiếu lòng cương quyết, chổ đông vui vẫn có mặt, lúc đấu tranh thường ngại ngùng, đã lắm lúc chúng ta cũng quên, trách gì người khác chóng quên.
Từ ngày vảo trại tập trung cộng sản, tôi mới nghe nhiều đến hai tiếng “chỉ tiêu.” và cũng khốn khổ vì hai tiếng này. Người tu ăn theo định mức nhưng làm theo chỉ tiêu. Mỗi ngày theo lệnh trại, dưới sự quản chế của cai tù, nhất là với sự đốc thúc của những tên dội trướng chỉ huy, đội phó kế hoạch, mà trước đây chính la “chiến hữu” của mình, theo dõi, kiểm soát. Một người tù phải lao động vất và để hoàn tất mỗi ngày việc vun 6 luống khoai, 15 hố sắn, chặt đủ 12 cây luồng, 2 bó củi hay cuốc nửa sào đất tuy theo “lệnh” mỗi ngày. Chỉ tiêu chưa đủ, tranh thủ làm thêm. Nghĩ đến phải đào những cái hố sắn, mỗi bề chỉ có 8 tấc trên những ngọn đồi đất đá, mỗi lần nhát cuốc chạm vào những hòn đá, sức mạnh bật ngược trở lại cái thân thế ốm đói của người tù, như những ngọn roi tra tấn khó quên. Người lính thất trận hạo gầy, ốm yếu theo năm tháng tù đày và không ít người dã nằm lại trên những vùng đồi núi, không bao giờ trở về.
Chế độ Cộng Sản dùng chỉ tiêu để cai trị và dùng thành tích để khoa trương, lừa dối dân chúng. Chỉ tiêu này đã nhiều lần vấy máu, mà dù lịch sử dã được những người cộng sản viết lại cũng không bao giờ rửa hết múi tanh. Cuộc “cải cách ruộng đầt” tại vùng đất “độc lập-tự do-hạnh phúc” Bắc Việt từ năm 53-56, theo sự “chỉ tiêu” thoả thuận của cố vấn Tàu và Trường Chinh, tổng bí thư đảng. Trưởng ban chỉ đạo cuộc đấu tố “cải cách ruộng đất” là phải có 5% địa chủ trên tổng số nông dân. Theo tài liệu của Vũ Thư Hiên, con số địa chủ bị thàm sát rất khó thống kê, ước tính từ 4.000 đến 5,000 người.
Hai tiếng “chỉ tiêu” đã giết và cầm tù bao nhiêu người dân. Chỉ tiêu “làm sạch tệ nạn xã hội” không căn cứ vào thực trạng của mỗi dịa phương, mà đảng ra lệnh mỗi xã bao nhiêu dân thì phải có bao nhiêu thành phần cần tập trung vảo trại “cải tạo,” do đó dã xẩy ra không biết bao nhiêu số phận oan khuẩt. Năm 1980, ở trại tù Phú Sơn, Bắc Việt, tội đã được gặp một người tù trẻ tuổi, nhưng khuôn mặt già cỗi và thân hình ốm yếu. nhỏ bé của em khó có thể đoán được tuổi đời. Em cho biết tuổi của em là 13, nhưng dã có 5 tuổi tù, bị đày đọa qua nhiều trại “cải tạo,” bây giờ chẳng còn biết cha mẹ là ai, nhà cửa ở đâu. Năm em lên 8 tuổi, tại trường học, chỉ vì đánh lộn với một thằng bé, con trưởng công an xã, nhân lấy cho đủ chỉ tiêu, em được liệt vào thành phần băng đảng xã hội, chúng giật em ra khởi vòng tay của cha mẹ, cho em lảm người tù không bản án. Từ đó đến nay, mỗi lúc nhớ đến những trại tù cộng sản, tôi lại nhớ dến hình ảnh của em. Thực tâm, tôi không mong là em còn sống trên đời này, khi cuộc sống còn thua một con chó, khi tôi trông thấy em lần mò dưới những chiếc bàn để kiếm một miếng xương vịt của những người “tù cải tạo” chúng tôi vừa nhả ra, trong một bữa ăn “bồi dưỡng” trước khi phải lên đường chuyển đến một trại lù khác. Chính vì chỉ tiêu và chiến dịch thi đua, vượt chỉ tiêu trước ngày hạn định nên những công trình xây dựng chỉ chuộng hình thức, ngay cá những phương tiện liên quan đến sự chết sống của dân, như những cây cầu, những hầm xuyên nủi, những con đường, những đập chắn nước, chưa khánh thành dã phải tu sửa. Các công trình này chỉ cố gắng làm cho nhanh để hoàn tất trước thời hạn và chỉ tiêu được cấp trên giao phó, mà không chú trọng đến chất lượng …
Cần đạt được chỉ tiêu để báo cảo thành tích, nên con người phải gian dối cho vừa lòng cấp trên của chế dộ. Thời chiến tranh, dân nghèo miền Bắc, mỗi năm ngày lễ Tết, dân nghèo mới có được một bát com trắng, mà Nguyễn văn Tý cũng đẻ ra được một “Bài Ca 5 Tấn” để ca tụng thành tích của nông dân. Chỉ một việc “hạn chế đà gia tăng dân số” tại Việt nam đã là một chuyện buồn cười. Được trung ương giao “chỉ tiêu,” suốt hai năm liền, huyện Châu thành A, Hậu Ciiang dẫn đầu tỉnh về phong trào triệt sản. Một người triệt sản được phát 2 triệu đồng, không có tiền thì quy ra gao. Có người đàn ông dộc thân cũng được ghi danh triệt sản để lãnh tiền. Có người dã có con, vợ đã bị mổ tử cung, không còn sinh nỡ được cũng có tên trong danh sách tình nguyện triệt sản, Nguyên tắc triệt sản là tự nguyện và không ai đi vận động những người chưa có gia đình hay chưa có con, Chính quyền địa phương, điển hình là huyện Châu Thành A, Hậu Giang, vận dộng không đúng người hay gian dối để “vượt chỉ tiêu” bằng cách ghi tên một phụ nữ không còn sinh nỡ được vào danh sách những người tình nguyện triệt sản. Do đó địa phương này dã “vận dộng” được 329 trường hợp, có thị trấn trong khi chỉ tiêu là 8, nhưng vượt chỉ tiêu đến 98. Vừa được bằng khen vì thành tích, vừa có cơ hội kiếm tiền, dó là “ưu điểm” của những tên “đầy tớ của nhân dân,” Giáo dục hẳn là quan trọng đối với một quốc gia. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam vừa công bố “chỉ tiêu” đào tạo tiến sĩ ở ngoại quốc theo đề án 911 năm 2013, là 1.100 người. Iên cho Hà Nội ngày nay tiến sĩ chạy đầy đường như xc gắn máy!
Trọng các trường học, thầy, cộ giáo chỉ chú trọng đến vấn dể làm sao tỉ lệ học sinh tốt nghiệp cao vượt qua chi tiêu đã dặt ra, để vượt qua các trường bạn, kết quà là học sinh nào cũng tốt nghiệp, dẫn đến hiện tượng một nhà giáo tốt nghiệp đại học, với kiến thức “canh gà Thọ Xương” cũng dại loại như “bánh cuốn Thanh Trì” hay “nem Thủ Đức!” Đạt chi tiêu để “lập công dâng đảng” là điều quan trọng, còn chất lượng, kiến thức thì sao?
Không nghe nói đến “chì tiêu” vơ vét của cấp lãnh đạo thì bao nhiêu cho đủ và các ông đã vượt chỉ tiêu, nâng thành tích lên dược bao nhiêu? 16 tấn vàng vu oan cho ông Nguyễn Văn Thiệu đem ra nước ngoài, được chở về Bắc, các động chí trong bộ chính trị, mỗi người “cấu” một ít, hay 5 tấn vàng sau vụ đánh tư sản, mại bản miền Nam, hơn 5 nghìn kg vàng trong vụ đuổi người Tàu ra khỏi nước, không tính kim cương. hột xoàn, bất động sản, xe cộ, tàu bè.. dà chia chác với nhau ra sao, để cho đảng giầu dân đói.
Nhưng hiện nay đa số dân chúng nghèo, mà Bộ Chính Trị và quan chức nhà nước thì giàu “nứt đố, đổ vách.” Chỉ tiêu của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đưa ra trong Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976, rất khiêm nhường là mỗi gia dinh có được một cái “phích” nước vả bữa ăn có nước chấm, nay đã vượt bực rồi. Nhưng làm sao hạn chế. đừng để gian dối, bất nhân, vô đạo “vượt chi tiêu,” may ra mới cứu được đất nước này.
1. Tôi vừa về đến nhà. Ba tôi ngồi nơi chiếc bàn, đang trầm tư điều gì đó. Thấy mặt tôi, ông nói như đã chuẩn bị từ trước: “Thôi, con đi luôn đi. Về làm gì nữa?” Nguy rổi. Ông nói một cách bình thản lạnh lùng, không có vẽ gì hằn học. Sao nghe nặng nề như đá tảng. Bình thường, ông hay “mày tao” với đám con cái. Những khi giận dữ, ông lại nói giọng nhẹ nhàng. Đó là sự nhẹ nhàng êm ả báo hiệu cơn giông lớn. Tôi rụt rè hỏi lại: “Ba nói chơi hay nói thiệt vậy?”
Lời vừa thốt, tôi biết đã lỡ. Thật là một câu ngu muội, vô tình như khiêu khích. “Hừ!” Ông khịt mũi, “Cha của mày đâu thể nói chơi”?”
Tôi đứng tần ngần, đo lường thái độ của ba tôi. Ông tiếp, giọng trầm trầm: “Hôm qua. thấy hiệu trưởng cho người gọi ba lên văn phòng, báo tin con vắng mặt trong lớp đã ba ngày rồi. Đây là lần thứ hai, ba gặp thầy hiệu trưởng. Lần trước, con hứa sẽ học hành đàng hoàng tử tế. Nhưng rồi con lại trốn học nữa. Con đi đâu, làm gì không ai biết. Nếu con không thích học, thì nghỉ. Đi chơi cho sướng. Nhưng cũng đừng về nhà nữa. Ba không muốn nuôi tốn cơm một thằng lêu lổng.”
Ba tôi đứng dậy, vào nhà trong. Tôi nghĩ, như vậy là ổng đuổi mình rồi. Đuổi thì đi. Mấy thằng nhỏ lang thang bụi đời, nó vẫn có cách sống của nó. Trời sinh vơi sinh cỏ. Lo gì! Tôi vào buồng, gói hai bộ đổ, cẩn thận nhặt luôn cái thẻ học sinh vào túi, Có cái thẻ này làm tôi yên tâm hơn, nó chứng minh tôi là người lương thiện. Nhưng lại nghĩ, tiền đâu mà dii? Lấy gì ăn? Ba tôi đã cạn tầu ráo máng. Tôi ở vào cái thế không lùi được. Thôi thì cứ đi. Mọi chuyện tính sau. Tôi bước ra cửa buồng, chợt thấy một xấp tiền dằn dưới cái tách nước trà, nơi chiếc bàn ba tôi ngồi khi nãy. Thoáng trong dầu tôi ý nghĩ ăn cắp. Tôi đi vơ vẫn qua lại. Mặc cảm phạm tội, làm tôi sợ. Dì tôi từ nhà trong bước ra: “Nhìn gì nữa? Ông để cho mầy đấy. Lấy đi,”
Dì gom bình trà và ly tách đem rửa. Dễ dàng đến thế sao? Tôi ngó dáo dác, nghi ngờ. Có thể ba tôi giăng một cái bẫy, khi tôi vừa thô tay cầm xấp tiền, thì chiếc roi bất ngờ quất xuống. Tôi chấp nhận bị đuổi đi vì lý do bề tha chuyện học hành, chứ không muốn mang tiếng là thằng ăn cắp vặt. Nhưng không có ai đang rình rập cả. Tôi chộp lấy, thoát nhanh ra khỏi nhà. Đếm xấp tiền, đúng bốn trăm đồng. Đó là tiền một lháng ăn ở nhà trọ, khi tôi học trên tỉnh. Đi đâu? Nhất thời, tôi chưa nghĩ được nơi nào sẽ tới. Tôi đi vô định, lòng hoang mang, Nhà cứa, đường sá, cây cối như cũng buồn hơn. Không dưng mà cầm thấy mệt mỏi. Nỗi mệt mỏi bắt nguồn từ trong tâm hồn. Lúc ngang qua ngôi đình Tân của bang hội Triều Châu, tôi nghĩ, hãy vào đây nghỉ tạm. Việc gì, từ từ cũng có cách giải quyết của nó.
Phía trước sân đình có cái hồ sen thả cá. Những con cá nhỏ lội tung tăng. Lâu lâu, lại có con rùa to như cái thúng, lờ đờ nổi lên mặt nước. Trông nó rất đần độn và an phận. Nếu đời người cũng trồi lên lặn xuống một chỗ, như con rùa trong chiếc hồ này, thì biết đâu là sông dài biển rộng? Tôi sợ một đời sống ao tù chật hẹp như thế. Tôi đi quanh đình, không thấy ai. Nhìn vào khe cửa, bên trong u ám. Bàn thờ chính có màn che, không biết thờ thần gì. Ào vọng về thần linh là những cánh cửa bí mật luôn luôn đóng kín. Gần vách, trên cái bệ thấp có bức tượng ông thần mặt đỏ. Tôi đoán là ông Quan Công. Thầm vái ông phù hộ cho tôi trên bước đường lưu lạc. Chân còn lẩn quần nơi xó đình, tôi đã tự nhận mình là giang hồ lưu lạc. Từ một kẻ có nơi chốn trở về, tôi bỗng thành đứa bơ vơ, mất nơi nương tựa. Nghĩ đến ngày mai. Nghĩ đến xã hội, đến người đời. Tôi có cảm tưởng như mình bị xô giạt ra ngoài, đứng bên lề cuộc sống. Mọi người đều thờ ơ. Có tôi hay không, đời này vẫn thế. Giữa trưa, từ ngoài ngõ có người đàn ông đi vào. Ống quần ông ta dài tới gối, lưng quần vận như người Ấn Độ quấn xà rông. Ngang hông thắt sơi dây nịt da to bản. Áo ngắn cũn cỡn như dế non mọc chưa đủ cánh. Hai vạt áo được gài lại bởi những khuy nút bằng vải. Một người Tàu.
Ông ta hỏi: “Thằng nhỏ, mày làm gì ở đây?”
Tôi nói: “Ngồi chơi.”
“Muốn câu cá hả?”
“Không.”
“Mày câu cá, tao quánh gãy giò.” Ông lại chỉ gói đồ,
“Mày ăn cắp cái gì kia?”
“Quần áo của tôi. Tối nay, tôi ngủ ở đây được không?”
“Ngủ ở đây? Coi chừng có ma.”
Nói thế, rồi ông ta đã ra sau đình, mở cửa dọn dẹp gì đó. Tôi nghc tiếng va chạm của những đồ vật bằng kim loại. Tôi nằm xuống thềm hiên, gối đầu lên gói quần áo. Mắt mở lớn, nhìn lên mái đình. Trên thanh xà ngang, hai con thằn lần đuổi nhau. Lại có tiếng tắc kè trên tàng cây cổ thụ. Tiếng kêu khô khốc như tiếng gỗ đội vào tịch mịch cô liêu, giữa trưa thanh vắng.
Theo thông lệ, sáng Mồng Một Tết, quân, cán, chính, tập họp trước quận đường làm lễ chào cờ đầu năm. Tay trưởng ban thông tin, từ sáng sớm, đã đem máy phóng thanh đến, lui cui cùng với mấy người cán bộ thử tới, thử lui, cứ nghe rột rẹt, rột rẹt, rồi tiếng đếm thử máy một, hai, ba … một, hai, ba … thỉnh thoảng cái máy bỗng hú lên điếc óc … Tôi ngồi ở văn phòng nhìn qua cửa sổ, bầu trời vẫn u ám, mưa lất phất nhưng ít gió nên không lạnh lắm. Quận Quảng Điền, thuộc tỉnh Thừa Thiên, nơi tôi đang làm việc, nằm gằn chợ Sịa. Từ cố đô Huế theo quốc lộ 1, đi về hướng Bắc độ mươi cây số, qua khỏi cầu An Lỗ, quẹo phải trên một con lộ nhỏ chừng mười lăm phút là đến quận đường. Đó là nói đi xe gắn máy hay công xa chứ đi xe đò thì phải ba tiếng đồng hồ trên quãng đường chừng hai mươi cây số. Nhớ ngày đầu ra quận nhận việc, từ sáng sớm, tôi đón xe đò Huế-Sịa, đến quận vừa đúng ngọ! Những chiếc xe đò gốc quân xa thời pháp thuộc, đã chậm mà dọc đường còn lên xuống khách đi buôn rau quả, cá, mắm … Quận đường là tòa nhà xây theo hình chữ công. Bên phải quận đưòng là bộ chỉ huy chi khu, lo việc quân sự, bên trái là cơ quan cảnh sát, phụ trách trị an trong quận.
Chung quanh có hàng rào kẽm gai đầy mìn bẫy với công sự bố phòng, giao thông hào. Về mùa nắng, cỏ trên đồi hay bốc cháy bất ngờ, nếu không dập kịp, cháy lan vào hàng rào phòng thủ, mìn gài sẵn sẽ nổ vang trời. Quận đường xây mặt ra lộ, bên kia lộ là bãi tha ma. Chiến tranh càng căng, bãi tha ma càng bành trướng, xâm lấn cả khuôn viên một trường trung học gần đấy. Trước văn phòng quận, dưới chân cột cờ, có tượng một con bò bằngđá xanh, to cỡ con bò thật, nằm hướng đầu về phía bãi tha ma, nghe nói để yểm trừ oan hồn uổng tử ngoài kia không quấy phá quận. Có lẽ đó là tượng thờ của người Chiêm Thành mà dân làng Bác Vọng, xã Quảng Phú đào đất, bắt gặp, đem đến. Thời chúa Nguyễn mới vào Thuận Hóa trấn thủ, có đặt hành trạm tại Bác Vọng, sau thiên di về Huế …
Trong lúc tôi suy nghĩ vẫn vơ thì ngoài sân đã lác đác vài sĩ quan đang tụ tập chuyện trò, phía hành chánh có nhân viên quận, cán bộ các ban ngành, cảnh sát quốc gia … Rồi một tiểu đội nghĩa quân bồng súng tiến ra, đó là toán hầu kỳ, đi trước là một quân nhân tay bưng lá quốc kỳ. Tiểu đội đến trước cột cờ, dừng lại ở thế
nghiêm, hai quân nhân tiến lên, buộc cờ vào dây, đứng yên lặng. Mọi người ngưng chuyện trò, về vị trí của mình. Từ bên chi khu, đại úy Châu, chi khu phó, đến, tôi, phó quận hành chánh, cũng sửa lại quần áo, bước xuống thềm văn phòng, đến bắt tay đại úy Châu rồi cùng tiến đến chỗ hành lễ, đứng trước hàng quân cán chính. Không khí như ngưng đọng hẳn. Thiếu Tá Biên, quận trưởng, quân phục thẳng nếp, từ văn phòng xuất hiện. Trung úy Đính, trưởng ban ba, tiến đến trước toán hầu kỳ, hô lớn “Chú ý! Thao diễn .. nghỉ. Nghiêm!… Súng chào, bắt” Toán nghĩa quân bắt súng chào. Tiếng quai súng đập vào báng súng nghe “rốp” đều một tiếng. Thiếu tá Biên, đứng nghiêm chào toán hầu kỳ rồi quay người về phía cột cờ. Trung Úy Đính lại hô “Đem súng .. xuống. Thao diễn … nghỉ. Nghiêm!… Súng chào … bắt!
Thượng Quốc Kỳ! Quốc Ca” Tiếng “rốp” lại nhịp đều rồi yên lặng. Đằng góc văn phòng quận, anh trưởng ban thông tin mở bản quốc ca “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống … ” Hai quân nhân từ từ kéo lá cờ nền vàng ba sọc đỏ lên, những người khác lẩm nhẩm hát theo. Bài hát vừa dứt thì lá quốc kỳ vừa đến đỉnh cột cờ. Trung úy Đính lại hô “Đem súng, xuống. Thao diễn, nghỉ!
Nghiêm!” Thiếu tá Biên nói “Nhân danh quận trưởng tôi chúc mừng dân, quân, cán, chính, một năm mới an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý.” Tôi tiến lên một bước nói lớn “Thay mặt dân, quân, cán, chính trong quận, tôi cám ơn thiếu tá và kính chúc thiếu tá và quí quyến một năm mới sức khỏe, nhiều may mắn, vạn sự như y.” Thiếu tá Biên nói “Cám ơn” đến bắt tay tôi và đại úy Châu. Buổi lễ chào cờ đầu năm ở quận coi như chấm dứt. Trung úy Đính lại hô khẩu lệnh, hướng toán quân trở về chi khu. Thiếu tá Biên đi trước, đến tôi, phía sau là đại úy Châu, lần lượt đến bắt tay từng người dự lễ “Chúc mừng năm mới!” và được đáp lại “Chúc mừng năm mới!” … Mọi người lần lượt lên xe gắn máy về đón Xuân với gia đình, chỉ còn lại ban chỉ huy chi khu, phó quận, trưởng các ban ngành. Thiếu tá quận trưởng mời tất cả lên xe xuống chợ Sịa điểm tâm. Chợ Sịa, xưa kia còn gọi là chợ Ngũ Xã, trước chiến tranh sầm uất, nay buôn bán cầm chừng. Chợ thôn quê, sang lắm cũng chỉ bún giò, cháo lòng. Điểm tâm xong chúng tôi phân công đi về các xã. Thiếu tá Biên, tôi và đại úy Túc, chỉ huy trưởng cảnh sát thăm cán bộ xã ấp. Đại úy Châu và các sĩ quan thăm các trung đội nghĩa quân, các tiền đồn.
Thiếu tá Biên bảo:
– Năm nay xuất hành hướng Đông hoặc Đông Bắc sẽ phát tài, mình đi ngã nầy, ra xã Quảng Lợi.
Tôi bảo:
– Vậy thì thấy chỗ nào bọn trẻ chơi bầu cua, mình nhào vô kiếm ăn.
Nói cho vui thôi, Tết ở vùng quê nghèo khó, trẻ con đâu có biết đến món xa xỉ đó. Tết nhất, cầu cho được no bụng đã là quí, ăn thịt, cá hay áo quần mới, chỉ là giấc mơ. Chiếc xe jeep chạy trên con đường gập ghềnh, hướng về phá Tam Giang “Thương em anh cũng muốn vô … ” rồi quẹo trái. Một bên là ruộng còn trơ gốc rạ, một bên là bờ phá, mưa bụi mịt mù, không thấy bờ bên kia. Xe chạy qua mấy xóm vắng. Những ngôi nhà tranh lẻ loi nép dưới tàng cây cằn cỗi. Con đường nầy, nếu đi tiếp năm, bảy cây số nữa sẽ đến quận Phong Điền, nhưng nơi giáp ranh hai quận là vùng không được an ninh, ban đêm địch thường mò về quấy phá. Ruộng vườn dầy đặc mìn và bom đạn chưa nổ, có vãn hồi an ninh cũng chẳng ai dám bước xuống cày cấy. Chúng tôi tạt vào một ấp có trụ sở xã Quảng Lợi. Các cán bộ, viên chức xã ấp đang uống trà, hút thuốc, chuyện vãn. Thấy xe quận, mọi người vui vẻ ra chào, bắt tay, chúc Tết. Đây là dịp họp mặt ngoài công vụ, ai cũng trút bỏ vẻ nghiêm trang của chính quyền, chỉ còn lại thân tình trên nụ cười cùng những lời bông đùa như trong một gia đình. Trong ấp chẳng thấy một chút gì của Tết nhất cả. Mấy đứa bé lem luốc chơi đùa tha thẩn trước cửa, bên cạnh con chó nằm ngủ. Tiếng một con gà gáy đâu đây, rồi tiếng người già la mắng trẻ con … chỉ có thế. Người lớn vẫn phải đi làm. Mùa Đông đã đi qua, trời đã bớt lạnh, ai cũng phải lo làm đất gieo mạ hoặc cuốc đất trồng khoai, sắn … Chuyện vãn một lúc, thiếu tá Biên nói:
– Bây giờ mình đi thăm đồng bào. Ở đây có gia đình nào nghèo khó, neo đơn nhất?
Ông xã trưởng nói:
– Nếu thiếu tá bỏ chữ nhất thì mình đi cả ngày không hết. Hạng nghèo nhất cũng nhiều. Để tôi đưa thiếu tá với ông phó (quận) thăm bà già nầy. Chúng tôi ra khỏi ấp, tiến về phía rừng cây. Ngay bìa rừng là một mái tranh nhỏ, mới nhìn tưởng cái chuồng heo. Tôi hỏi:
– Sao lại để bà già nầy sống lẻ loi ngoài bìa rừng, đáng lẽ phải ở trong ấp cho bà con tiện thăm nom, săn sóc.
Ông xã trưởng nói:
– Bà nầy thì ông quận rành lắm, bả bắt cất cái chòi cho bả ngoài bìa rừng, tối đến thằng con ra kiếm ăn.
Trước đây, bả hay vô chợ Sịa xin ăn, đợt lạnh rồi bả bịnh, đi không nổi, nằm trùm chiếu. Lúc đầu rên hù hụ, sau thở không nổi, mấy đứa cháu thường ra săn sóc. Ông quận có cho cán bộ y tế ra chích thuốc hoài, nhưng bả yếu quá, sợ qua không khỏi.
– Chồng con đâu?
– Chồng chết lâu rồi, có thằng con trai, theo Việt Cộng …
Chuyện trò đến đấy thì phái đoàn cũng vừa đến cái chòi tranh. Trong chòi tối om, lặng trơ. Trên một cái chõng tre, lờ mờ một người đắp chiếu nằm im lìm. Một cái ghế bên cạnh, trên để tô cơm với con cá khô nướng gác lên trên. Ba người chui vào đã chật cứng, lại phải cúi xuống mới khỏi va đầu vào mái chòi. Đại úy Túc và các người khác phải tránh xa cửa chính mới đủ ánh sáng bên trong. Ông xã trưởng kéo mép chiếu ra:
– Mệ dậy chưa? Có ông quận đến thăm.
Người đàn bà trở mình nhưng vẫn nhắm mắt:
– Ai rứa?
– Ông quận, mệ biết ông quận không?
– Biết, ông quận cho tiền.
Tôi nhớ lại, mỗi khi đi chung xe, ngang qua chùa, tay quận trưởng thường hay dừng lại, móc túi cho tiền một bà già ngồi đấy.
– Mệ dậy ăn cơm.
Người đàn bà không già lắm nhưng quá gầy yếu, hai má tóp lại, mắt thụt sâu vào hốc mắt. Có lẽ bị chói nên bà ta chỉ hé mắt nhìn mọi người.
– Mệ dậy ăn cơm, có ngồi nổi không? Hay là ăn cháo, tôi biểu chúng nấu.
Bà ta xoay nhìn tô cơm, hỏi nhỏ: Cơm còn?
– Cơm còn đây, dậy ăn.
Nghe nói cơm còn, bà nhắm mắt lại, nằm im. Ông xã trưởng lại phải nói lớn, sợ bà ta lãng tai không nghe rõ:
– Mệ ăn cơm đi, chiều ni sẽ có cơm khác. Để lâu cơm thiu, ăn bịnh chết. Ông ta giải thích với tôi: “Lúc còn mạnh, bà ta vô Sịa xin cơm. Người ta cho, không chịu ăn, đem về để đó cho thằng con khuya về ăn, nếu nó không về thì sáng ra bà ta ăn một ít, còn đem phơi, cất kỹ, rồi lại vô Sịa xin tiếp, bây giờ bịnh, cũng bắt nấu cơm để đó.
– Mình không phục kích nó sao?
– Thì mục đích cho bả ở ngoài nầy để rình thằng nhỏ về nên thường cho nghĩa quân phục kích quanh nhà ban đêm. Nhưng bên nầy với bên kia đều là bà con, anh em, họ hàng, dây mơ rễ má với nhau. Tụi nó thấy nhưng làm lơ, ai biết được! Nhờ vậy mà thằng nhỏ thường về với mẹ.
Thiếu tá Biên cúi xuống nói vào tai bà ta:
– Lâu nay không thấy mệ ngồi trước chùa nên tôi đến thăm. Năm mới chúc mệ mau lành bịnh.
Bà ta cố gắng nói, giọng run run:
– Cám ơn ông quận. Tôi yếu quá rồi, sắp chết rồi, e không nhắm mắt!
– Chết thì phải nhắm mắt chứ. Bây chừ mệ ưng chi?
Gạo cơm, mắm muối hay thuốc men?
– Cám ơn, chỉ ưng cái hòm.
– Rứa là biết rồi đó. Ít bữa nữa sẽ có cái hòm để dưới giường, cho mệ yên tâm nhắm mắt.
– Chưa nhắm mắt mô!
– Ủa, chớ mệ đòi cái chi nữa?
Bà già nằm yên, không trả lời, ông xã trưởng nói:
– Bả muốn gặp thằng con trước khi nhắm mắt. Chưa gặp thì chưa nhắm mắt. Bữa trước, nghe bả sốt, mê
sảng, tôi ra xem, bả thấy tôi cứ đòi trả thằng con cho bả. Ông y tá ra, bả bắt ăn cơm, không ăn, bả khóc. Khi tỉnh khi mê. Chừ có ý đòi ông quận thằng con.
Thiếu tá Biên nói vào tai bà ta:
– Thằng con mệ là lính phía bên kia, không phải lính của tôi, nhưng không răng mô, cứ nhắn hắn về với mệ, quận không cho phục kích hắn mô. Bà ta hé mắt nhìn nhưng không nói gì. Tôi cũng cúi xuống nói:
– Mệ yên tâm, có cái hòm rồi, ngày mệ mất, sẽ có thầy đến tụng kinh cho mệ siêu thoát. Sẽ có gạo, thịt để làm cơm cúng mệ, để bà con ăn uống lo đám cho mệ.
Bà ta, có lẽ nghe rõ, nhưng chỉ hé mắt nhìn rồi nhắm lại. Sau khi khuyên nhủ bà ta cố gắng ăn uống để sống mà gặp thằng con, phái đoàn chui ra khỏi cái chòi. Thiếu tá Biên dặn ông xã trưởng nói với bà con trong ấp, có ai liên lạc được với thằng nhỏ thì biểu nó về thăm mẹ bịnh nặng, sắp chết, quận không phục kích nó đâu, còn cái hòm thì vào trong xóm nói ông thợ mộc đóng một cái chở đến bỏ trong chòi cho bà già rồi lên quận lấy tiền trả. Tôi cũng dặn ông xã trưởng chuẩn bị mua ít gạo và ít vật thực, xong ghé tôi thanh toán đừng đưa vô ông quận. Thiếu tá Biên cười bảo tôi:
– Ông phó thấy tôi nói có linh ứng không? Xuất hành hướng nầy phát tài.
– Công nhận ông tài thực, nhưng mà phát ra!
Trên đường đi, ông ta chép miệng:
– Đánh đấm kiểu nầy, chắc mình thua quá. Bên kia thì lấy hận thù, chém giết làm động cơ, làm phương tiện, còn mình thì … Nhưng mà bả đâu có tội tình gì. Bả cũng chỉ là một bà mẹ, như mẹ mình …
Tôi ở Sài Gòn, hàng xóm có ông thiếu tá quân đội, có nuôi thằng cháu, nó là Việt Cộng, cảnh sát đến bắt, ông thiếu tá không cho bắt, chán không?!
Hôm Mồng Bốn Tết, quận làm việc lại, ông xã trưởng lên báo cáo:
– Hòm đã đóng xong, đặt ngay dưới giường của bà già. Bả nghe nói có gạo, cứ hỏi mãi, tôi phải mua về bỏ luôn vô hòm cho chuột bọ khỏi phá. Ý bả muốn thằng con về lấy gạo nên tôi phải vô hai bao cát (Loại bao bằng vải hay nhựa dùng đựng cát làm công sự chống đạn) hy vọng thằng con về đem đi một bao cho mẹ vui lòng. Tôi móc tiền trả lại ông xã trưởng. Cũng chẳng bao nhiêu, như rủ bạn đi điểm tâm buổi sáng.
Việc giúp đỡ coi như xong, chúng tôi không quan tâm đến nữa. Cho đến gần một tháng sau, nhân một buổi họp cán bộ xã, ấp, chợt nhớ lại tôi hỏi ông xã trưởng:
– Bà già có thằng con theo Việt Cộng khỏe không?
– Bả chết rồi, ông phó.
– Chết có nhắm mắt không?
– Nhắm chứ! Thằng con có về thăm.
– Sao ông biết?
– Thằng nhỏ ăn tô cơm bả để phần như mọi khi, hắn lấy theo bao gạo.
Tôi cười bảo:
” – Cũng nên cám ơn nó, về vuốt mắt cho mẹ, nếu không, bả cứ sống dở, chết dở, tội thân bả.
Ông xã trưởng còn nói:
– Tôi đoán khuya đó, hắn đi, về ít ra cũng vài bận.
– Sao ông biết tài thế?
– Sáng bữa đó, con cháu bả ra thăm rồi chạy vào báo, bả đã chết, tôi ra xem, thấy có cái mền, rách bươm,
đắp xác bả, trên phủ chiếc chiếu. Có lẽ thằng con về, thấy thế, chạy lại vô rừng lấy cái mền ra đắp cho mẹ.
Thằng nhỏ ở lại với mẹ đến gần sáng mới đi.
– Vụ nầy thì khó tin ông quá!
– Thiệt mà ông phó! Có người đi làm sớm, thấy hắn thất thểu đi vô rừng …
Kỹ thuật trấn áp của các chế độ độc tài là gây sự sợ hãi trong quần chúng, để tạo sự tuân thủ tuyệt đối của nhân dân. Thời Việt Minh thì cắt đầu mổ bụng, bỏ bao bố thả sông, thời “giải phóng” thì nửa đêm đập cửa xét nhà, tập trung cải tạo không thời hạn. Công an lùng sục, nhòm ngó khắp nơi, mà chế độ Cộng Sản đã hãnh diện cho rằng đó là tai mắt nhân dân. Dân tộc miền Bắc từ năm 1954 và toàn dân Việt Nam từ sau tháng 4-1975 đã biết sợ, sợ để sống còn, đến nỗi trí thức dưới chế độ sắt máu như nhà văn Nguyễn Tuân đã phải thốt lên câu:“Sở dĩ tớ còn sống là vì biết sợ!” Tôi phỏng đoán Nguyễn Tuân nói câu này đang lúc saynên không bị ai bắt tội, chứ nếu biết sợ thì đã không ai dám nói là mình sợ. Cũng như ngày nay vượt qua được nỗi sợ, nhạc sĩ Tô Hải mới viết được “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn.” Người ta sợ vì biết rằng sẽ không có ai bênh vực mình, sẽ không có công lý nào đứng về phía mình, vậy tốt hơn là tự bảo vệ lấy sự an nguy của mình bằng cách dấu mình hay thuận theo dòng nước, làm kẻ “ngu si hưởng thái bình”. Những người vượt biển hai mươi năm trước vì không chịu nỗi sự sợ hãi mà phải ra đi. Nỗi sợ hãi chế độ “hà chính mãnh ư hổ” khiến người dân quên hết nỗi sợ hãi vì nguy hiểm, đói khát, chết chóc và ô nhục. Khi ra đi là một người trốn tránh bước xuống ghe, thấy bóng dáng công an, bộ đội sợ là phải, ngày nay trở về mang quốc tịch một quốc gia khác, ung dung xuống phi cơ mà nỗi sợ chưa hết. Lần này không bị bắt, không vào tù mà vẫn sợ. Ở các quốc gia khác người lương thiện sống trong “rừng luật” cũng không có gì đáng sợ, nhưng ở dưới chế độ Cộng Sản hiện nay, người dân bình thường phải sợ “luật rừng”. Bạn có chắc chắn là bạn không bị giữ lại cho đến giờ phút chót, thùng hành lý của bạn không bị banh ra để khámxét vì nghi ngờ có hàng quốc cấm và ở dưới chế độ này liệu người ta cũng có thể bỏ một khẩu súng vào hành lý của bạn rồi hô hoán lên để còng tay bạn lại, như người ta đã làm với một nhà hoạt động chính trị về Tân Sơn Nhất trước đây ít lâu không?
Không phải khi người ta về nước có đem thêm mấy thứ máy móc mà họ phải đút lót cho hải quan, mà chính người chỉ mang quà cáp về cho bà con cũng muốn hối lộ cho xong sau mười mấy giờ bay mệt nhọc, giữa trưa nắng gắt và trước sự lóng ngóng trông chờ của thân bằng quyến thuộc ngoài kia đường. Người về nước không sợ bắt bớ, tù đày nữa mà sợ sách nhiễu, sợ gây khó khăn trong khi bạn không hề được che chở bằng luật pháp của quốc gia hay với một thứ quy luật nào của cái phi trường “chết tiệt” này. Nỗi sợ này được trấn an bằng 10 đô la kẹp vào giữa passport không phải là đắt.
Do vậy, khi Nhật Báo Người Việt ở Nam Cali mở mục tham khảo ý kiến độc giả và đặt câu hỏi: “Người Việt hải ngoại về Việt Nam thăm nhà, có nên hối lộ hải quan hay không?” thì câu trả lời vẫn chưa dứt khoát giữa “Yes” và “No”. Người thì nhất quyết không bỏ một đồng, kẻ lại cho rằng dùng đồng tiền để mua sự yên thân, khỏi rắc rối, thì vì sao lại không làm. Tôi thật không đồng ý với một bạn nào đó đã tự xưng là thương binh miền Nam, cho rằng “việc lên án những tệ nạn ở các phi trường Việt Nam là mang tính cách chống Cộng, và biện minh rằng: – thật ra các anh công an cửa khẩu không đòi hỏi gì và không một ai phải đưa tiền hối lộ cả”. « Chỉ vì có một số người mang vào VN những hàng không đóng thuế có tính cách buôn bán nhỏ làm lộ phí cuộc hành trình, cho nên mới chịu kẹp tiền vào passport mà được gọi là hối lộ.”
Nếu đã đi nhiều nơi trên thế giới này, dù là đến một đất nước bán khai, có nơi nào bạn thấy khi người ta làm thủ tục nhập cảnh mà phải đút lót như đến Việt Nam không? Nếu như đến các phi trường Mỹ, Pháp, Đức, Anh … lúc du khách trình Passport cho nhân viên quan thuế ở phi trường mà kẹp vào đó tờ giấy 10 đô la thì bạn phải nhận hậu quả như thế nào? Hay ở Mỹ, chắc chắn bạn sẽ bị còng tay và tống giam, bị đưa ra toà nếu như lúc bị ngừng xe vì vi phạm luật đi đường mà lại “xuỳ” ra tờ 20 đô la cùng một lần với bằng lái xe cho cảnh sát. Bạn lại biện minh rằng “các anh công an cửa khẩu không đòi hỏi gì cả”, vậy thì việc nhận hối lộ ở các quốc gia văn minh khác có là một trọng tội không. Chính vì “không đòi hỏi gì cả” nhưng “biết làm khó” và “biết ăn” mà bao nhiêu lần ma tuý đã được đưa lên phi cơ ra khỏi Việt Nam, khi thì bị phát giác tại Singapore, khi thì ở Sydney. Tôi cho rằng những chuyện xẩy ra tại các phi trường quốc tế tại Việt Nam là một sự ô nhục. Khốn nỗi là công an phi trường Việt Nam chỉ là bọn “khôn nhà dại chợ”, chỉ biết hà hiếp đồng bào ruột thịt, mà sợ hãi kiêng dè, mang khuôn mặt hiếu khách đối với người ngoại quốc. Một bạn đọc có kinh nghiệm với những chuyến đi Việt Nam đã kể chuyện có lần công an hô lên là đã có người lấy nhầm visa của khách (mà không thấy nói là có visa của người kia bỏ lại). Cuối cùng người khách gợi ý thưởng 100 đô la cho ai lấy nhầm visa trả lại, thì chỉ một phút sau đã có ngay visa. Có ý kiến lại bênh vực cho rằng cử chỉ bỏ 5 hay 10 đô la vào passport khi vào việt Nam cũng như tiền tip,“đây là văn hóa và là cách đôi xử công bằng với người phục vụ mình”. Xin cám ơn loại “văn hoá xã hội chủ nghĩa” này, như vậy thì nước Úc quả đã thiếu văn hoá với vụ in tiền polymer của ông Lê Đức Thúy để lấy tiền nuôi con ăn học. Và Nhật Bản cũng đối xử mọi rợ với dự án đại lộ Đông Tây Sài Gòn của ông Huỳnh Ngọc Sỹ. Một ý kiến khá độc đáo mà không kém phần khôi hài thì cho rằng chính vì hối lộ là nuôi dưỡng tham nhũng nên chúng ta lại càng nên hối lộ thêm: “Một đô la hối lộ cho Cộng Sản là một bước giúp cho chế độ Cộng Sản suy tàn vì tham nhũng.” Nhưng Huỳnh Ngọc Sỹ nuốt vài triệu đô la Mỹ, Lê Đức Thúy được chôm tới 15 triệu cũng chưa ăn nhằm gì, chúng ta cứ tà tà bỏ 10 đồng vào passport mỗi khi vào Việt Nam thì bao giờ cho đủ đinh đề đóng nắp quan tài cho chế độ này. Các giới chức có thẩm quyền các ngành liên hệ đến chuyện công an phi trường tại Việt Nam làm tiền đồng bào về nước, có lẽ còn cho đây là chuyện quá nhỏ nếu so với chuyện ăn bạc triệu của các Uỷ viên Trung Ương Đảng. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền đâu chưa thấy, nhưng thấy ngay cái bộ mặt quốc gia mỗi khi ra vào như thế, người có liêm sỉ phải biết ngượng. Sợ tù đày, sợ chết cũng là sợ, thì sợ phiền, sợ bị quấy nhiễu, sợ mất thời giờ cũng là sợ. Dù biện minh đồng bạc kẹp giữa passport là tip, là bố thí, là tránh phiền phức, là góp nhát búa đánh vào chế độ thì đó cũng là đồng đô la nói lên sự sợ hãi. Sợ hãi để sống còn. Bây giờ ở ngoại quốc nơi xứ sở văn minh, tự do, bạn chẳng thấy sợ hãi là gì, vậy mà bước chân về đến Tân Sơn Nhất đã thấy sợ, hay sợ mà không ý thức được là mình sợ, vậy thì đừng về nữa. Sau hết, chế độ Cộng Sản luôn luôn tạo ra sự sợ hãi để khống chế, trấn áp con người. Sự sợ hãi sẽ chấm dứt, nếu thật sự chế độ Cộng Sản không còn tồn tại trên hành tinh này nữa.
” Có một thời mà người ta nói dối ngay cả trong giấc mơ! “
Nhà văn Ba 1.an Stanistaw Jerzy Lec (1909-1966)
Ngày 22/11/12, tại Anh Quốc người ta dã tổ chức cuộc thi để chọn người vô địch nói dối của thế giới, Cuộc thi kéo dài hai giờ ớ quán rượu Bridge Inn, tỉnh Cumbria, các thí sinh có 5 phút để kể một câu chuyện nói dối gây đủ lý do để thuyết phục ban giám khảo. Giới chính trị và luật sư không dược tham dự cuộc thi này, vì họ là những người sở trường nói dối có thành tích. Câu nói dối đơn giản dược xem là hay nhất, được truyền tụng là của một giám mục vùng Carlisle: “Cả đời tôi chưa bao giờ nói dối!”
Cuộc thi được sáng lập để tưởng nhớ một điền chủ tại địa phương tên Will Ricson sống ở thể kỳ 19, nổi tiềng là người ba xạo. Cuộc thi này do một công ty sản xuất bia địa phương tổ chức, trong dịp này, công ty đã sản xuất một loại bia dặc biệt mang tên “Người nói dối trắng trợn hay nhất ” để kỷ niệm cuộc thi.
Người nói dối để vui chơi, đùa giỡn, nhiều khi không hại đến ai, nhưng làm chính trị mà nói dối sẽ giết biết bao nhiêu người. Đặc tính đó, những con người Cộng Sản và chế độ Cộng Sản phải là những tay vô dịch. Chúng không nói dối một người hay một nhóm người mà nói dối cả một dân tộc, nói dối nhiều thế hệ bằng cách sửa lại lịch sử, đạp lên sự thật dể có lợi cho mình. Những người nói dối đoạt chức vô địch trong cuộc thi trên, theo tôi là “đồ bỏ,” mà phải kể đến những tay dối trá trứ danh là Hồ Chí Minh hay những người trong Bộ Chính Trị của nhiều đời cộng sản. Cuộc nói dối được chấm giải nhất phải trao cho Hồ Chí Mình và đồng lõa trong Bộ Chính Trị vì họ đã nói dối được, không phải vài người mà cả nước. luôn cả những thế hệ tiếp nối. Trước ngày 19 tháng 5-1948, khi có tin Đô Đốc D’Argenlicu viếng thăm Hà Nội, nhưng Bộ Chính Trị không biết cách gì để huy động quần chúng treo cờ mừng “khách quý.” “Bác” chỉ cần hỏi một câu “xuất thần:” “- Các chú biết ngày mai là ngày gì không?” Các chú đang ngớ người ra thì “bác” phán: “- Ngày mai là ngày sinh nhật bác!”. Thế là cả Hà Nội tưng bừng treo cờ mừng sinh nhật “bác.”(Theo lời kể của kịch tác gia Bừu Tiến). Những chuyện ký tên Trần Dân Tiên, T.Lạn; những chuyện “cây đuốc sống” Lê Văn Tám, những nhân vật Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Bé … đều là những chuyện láo khoét có hạng, được ghi vào sử sách cộng sản, xem như những chuyện thật, cả nuớc cần phải học tập, trong đó chuyện “học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một chuyện dổi trá nhất Hậu quả của sự nói đối này là bây giờ cả nước đều quen thói dối trá, lừa lọc.
Một trong 13 lý do vì sao ông du khách Craig Ileimburgur ghét Việt Nam (reason-to-hate-Viet Nam)” là:
“Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam (I Hate Vielnam’I.ies.) Tội thật sự mệt mỏi bởi bị lửa lọc. Nó giống như trở thành một thỏi quen lừa lọc của người dân xứ này!” Trong bải tham luận dự định đọc trong kỳ Đại Hội Nhà văn Việt nam, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã can đảm nói sự thật: “Ông cha chung ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tổng, Nguyên, Minh, Thanh … để bảo tồn đất nước. Tất cả các thử giặc trên cộng lại cũng không ghê góm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta.” Nền giáo dục của quốc gia cần đào tạo con người lương thiện, đào tạo cho lớp người “tổ quốc mong cho mai sau” nhưng dưới chế độ Cộng Sản, cũng theo ý kiến của Trần Mạnh Hảo: “Đạo dức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thầy dối trá thầy, trò dối trá trò. quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa …là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau lảm Thạc sĩ, Tiến sĩ … lấy bằng thật nhưng học giả.” Ngay cả Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, đã trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên:
“Cơ chế hiện nay tạo kẻ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước … Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải la tiền, dù số tiền bị mất lên dến bằng trăm tỷ, mà cải lon nhất bị mất là đạo đức. Chúng tạ hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo dức đó rất mất đạo đức”.
Phần ông Nguyễn Khai, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS thì phát biểu can đảm hơn, bộc bạch hết lòng mình vì chính ông đã ở trong gan ruột cộng sản: “Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hể biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vi muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo!”
Ba mươi sáu triệu người chết vì nạn dđi hay bị bạo hành tại Trung Quốc trong suốt 4 năm (1958-1961) là kết quả của chủ nghĩa lừa bịp láo khoét trong những năm cầm quyền của Mao Trạch Đông. Đảng Cộng Sản Trung Cộng tuyên truyền hay đến nổi bao thế hệ thanh nien lúc ấy đều tin rằng: “Mao Chủ tịch là một vị thần, chủ nghĩa cộng sản là thien đường và phần còn lại cua thế giới chỉ là địa ngục. Thảm họa cho dân Trung Cộng chính là hậu quả của chủ trương tập thể hóa và “bước đại nhảy vọt.” Đàn em Việt Nam, thì theo ký giả Dennis Prager, trong một bài xã luận hàng tuần, cho rằng chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đem lại cái chết vô nghĩa cho hai triệu người Việt Nam vì những lời dối trá lịch sử. Lời nói dối chính là câu trả lời của Cộng Sản Việt Nam, cũng như bầu hết mọi lời nói dối của Cộng Sản và đã được khối Thiên Tả không Cộng Sản trên Thế Giới lập lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là Cộng Sàn Việt Nam (tức là Bắc Việt) và Việt Cộng chỉ tranh đấu giải phóng cho Việt Nam khỏi tay ngoại bang do sự xâm lăng của Hoa Kỳ. Ông cho răng: “Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trị họ. Sự thật là, chính đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới – trừ những người Mỹ hậu thuẩn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khao khát tự do – cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để thành lập “đế quốc Mỹ” trong khi cộng sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.” (PBD dịch)
Cho nên, chúng la phải hiểu rằng, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” là một khẩu hiệu dối trá, biện minh cho sự xâm lăng và áp dặt sự cai ưị của đảng cộng sản lên cả nước.
Trong một cuốn phim do Romania sản xuất năm 1968, cuộc chiến tại Bắc Việt, nhất là trong các trại tù tập trung trên đất Bắc, mà nhiều người tù còn nhớ mãi, mang tên “Trẻ Mãi Không Già,” trong đó có một đoạn nói đến – “Vương Quốc Lừa Dối,” nơi mà những người nói sự thật đều bị ném đá, đã khiến khán giả liên tưởng ngay đến đất nước cai trị bởi đảng cộng sản Việt Nam hiện nay. Không phải vô cớ mà người Việt Nam đã có thành ngữ “Nói dối như Vẹm” (Nói nhanh hai tiếng “Ve Em” (VM-Việt Minh: viết tất của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội). Xã Hội Chủ Nghĩa (XHICN) thì được hiểu rằng “Xạo Hết Chỗ Nói,” và chúng ta cũng chưa quên câu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói … ” vì chúng chỉ nói những điều dối trá!
Dân chúng cũng thường gọi cộng sản là “Anh Ba,” xin chớ vội mừng! Đó là Ba Láp. Ba Hoa, Ba Xàm và Ba Xạo! Tôi nghĩ độc giả, nếu có thời giờ, có thể lục trí nhớ tìm ra vài mươi tiếng “Ba” nữa.
May 19, 2016 by Ban Tu Thư Post by Sơn râu 8 May 2026
Trung tuần tháng Tám, năm 2006, trong một tiệc cuới, tôi ngồi cận Bác Sĩ B. Q. M., bạn cùng khóa.
– M. Toa còn nhớ bị nhốt ba ngày trong conex không?
– Đâu phải ba ngày. Một tháng với ba ngày.
– Mà toa có viết cái thơ võn vẹn chín chữ đó không?
– Moi đâu có viết. Tụi nó chỉ nghi thôi mà nhốt moi suýt toi mạng.
Đêm hôm đó, bổng nhiên cả một khung trời dĩ vãng hiện lại trong trí tôi.
Nhân dân cho lên lon.
Đài phát thanh thông báo lệnh của Thượng Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh (tên mới của Sài Gòn): Các sĩ quan chế độ cũ phải trình diện “học tập cải tạo”. Những sĩ quan cấp thiếu tá trở lên phải đi trình diện từ ngày thứ Bảy 15 và Chủ Nhật 16 tháng 6, 1975, thời gian “cải tạo” là 30 ngày và điạ điểm trình diện là các trường học rải rác khắp Sài gòn, Chợ lớn, Gia định như Petrus Ký, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Don Bosco…
Gia đình tôi ở đường Nguyễn Trải, Quận 5, gần Nhà thương Phước Kiến, căn phố lầu, tầng một và hai. Tầng trệt làm phòng mạch. Khuya thứ Hai 7-6-75 (hết hạn trình diện học tập cho cấp tá và tướng), có người nhận chuông. Nhìn đồng hồ: Một giờ sáng. Tôi xuống mở cửa, bực và lo. Không phải một, mà năm người: Bốn bộ đội với súng AK và một người đeo K54 mà tôi đoán là hạ sĩ quan. Vừa bước vào bên trong, hắn hỏi ngay:
– Anh tên Nguyễn Sơ Đông phải không?
– Phải.
– Sao anh chưa đi trình diện học tập?
– Đài ra thông cáo: cấp thiếu tá trở lên trình diện, tôi chỉ là đại úy thôi.
Tôi đưa cho hắn xem giấy tờ của Cao Đăng Chiếm, đại tá Công An/Tình Báo Cộng Sản ký.
– Tôi có lịnh mời anh đi trình diện học tập ngay.
Làm sao tôi cải lại được với AK và K54: Lệnh gấp như vầy, các anh phải cho tôi sửa soạn áo quần, thuốc men, thực phẩm chớ…
Vừa nói tôi vừa bước trở lại
hướng cầu thang để lên lầu.
– Không, anh không được đi đâu hết. Muốn gì, gọi người nhà anh lấy.
Đành chịu thôi. Bà xã tôi vừa sắp xếp áo quần, thuốc suyễn, thức ăn tiền bạc cho tôi, vừa khóc thút thít. Trước khi bước ra cửa, tôi còn bình tĩnh dặn:
-“Má” đừng sợ.. Nếu họ muốn giết thì chắc đã giết rồi chớ còn dẫn đi đi đâu.
Ra khỏi nhà, tôi đi giữa, bốn người bộ đội đi bốn góc. Thì ra chúng dẫn tôi xưống Chi Cảnh sát Chợ Hoà Bình. Vào trong chi cảnh sát, đã thấy ba ngườI tôi đoán là sĩ quan ngụy như tôi. Đến gần ba giờ sáng, lục đục bộ đội dẫn về thêm hai người nữa. Cộng với tôi là sáu. Chất lên xe cảnh sát cũ (màu xanh và trắng), chở lên Ty Cảnh Sát Quận Năm, đường Đồng Khánh. Chúng tôi được đưa vào một phòng nhỏ có vài cái bàn, mươi cái ghế và bốn năm người ngồi chờ. Mỗi người được phát một tờ giấy học trò.
Khai lý lịch. Cấm “liên hệ” với nhau. Gần bốn giờ sáng, một công an, có vẻ là sĩ quan đến, ngồi sau một bàn viết, kê ở góc phòng, gọi từng người, “khai thác“ lại.
– Anh khai là trung úy. Tình báo nhân dân bảo anh là thiếu tá. Tại sao?
– Dạ, vì tôi mang lon Hải Quân, bà con nhìn không ra chớ tôi mới 23 tuổi, làm sao lên thiếu tá được?
– Anh thì sao? Anh khai là binh nhì đào ngũ?
– Dạ phải, tôi thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê. Tôi đào ngũ. Vì tôi muốn o con nhỏ ở trong xóm, nên tôi mang đại lon thiếu tá giả. Tôi học chưa hết lớp ba, làm sao làm thiếu tá được?
– Anh thì sao? Tình báo nhân dân “nhất trí“ anh là thiếu tá mà? Hắn hỏi tôi.
– Tôi mang lon đại úy từ năm 68; lúc sau này, mỗi lần về thăm nhà, tôi mặc dân sự, bà con tưởng tôi lên thiếu tá rồi, chớ thật tôi còn là đại úy.
Mỗi người đều có một lý do riêng. Cuối cùng, tên công an bảo:
– Các anh xác nhận không phải sĩ quan cấp tá ngụy phải không?
– Dạ đúng.
– Khai mang “cách mạng” kỷ luật nặng lắm. Được, tôi cho các anh về chờ lệnh.
Lục tục, chúng tôi mang đồ đạt hướng ra cổng Ty Cảnh Sát Quận Năm. Bổng tên công an gọi lại. Hồi hộp. Hắn bảo: Mới 5 giờ sáng, còn giới nghiêm (cho đến 6 giờ), mấy anh ra đường bộ đội bắn chết. Thế là xe cảnh sát chở tôi về nhà. Hú vía. Nhận chuông. Bà xã tôi tưởng tôi “hiện thân về”.
Tự chui vào rọ.
Chủ Nhật 23–6-75, khoảng một giờ trưa, bạn tôi, Nguyễn Lộc Thọ, giáo sư Trường Quốc Gia Nghĩa Tử đến chở Honda tôi đi trình diện “học tập cải tạo”.
Lần này, trình diện đúng ngày, đại úy thật, 10 ngày. Địa điểm: Trường Nữ Trung Học Trưng Vương, gần Sở Thú.
Sắp hàng. Vai mang túi áo quần, thuốc men… và một cái võng nylon.
Đến lượt tôi, đứng trước bàn một bộ đội tôi không biết cấp bực. Hắn ngồi ngay ngắn, nhìn tôi khá lâu và hỏi:
– Anh đứng trước cán bộ cách mạng mà còn mang kính?
Tôi chưa kịp hiểu anh ta nói gì, đã nghe lệnh:
– Gỡ kính xuống.
Gỡ thì gỡ. Tôi là kẻ bại trận mà. Tôi gỡ kính, cầm tay, không dám để trên mặt bàn.
– Ngồi xuống.
Ngồi thì ngồi. Giờ tôi như cá nằm trên thớt. Hắn đưa tôi tờ giấy, bảo khai lý lịch. Tôi cầm tờ giấy, chậm rãi:
– Kính thưa… Tôi không biết gọi anh ta bằng gì? Đồng chí thì không đúng và không được. Cấp bực thì tôi không biết. Gọi bằng ông sợ bị mắng.
– Cho phép anh gọi tôi là cán bộ.
-Vâng, kính thưa cán bộ, kính tôi mang là kính cận, tròng trong vắt, không phải kính râm. Tôi cố đọc trọ trẹ “râm-dâm”, sợ cán bộ không hiểu nếu tôi phát âm theo “Nam kỳ rặc” là “râm”. Gọi là kính mát, chắc chắn hắn không hiểu rồi. May mà tôi không mang verre fumé.
Cán bộ ra lịnh tôi gỡ kính xuống, tôi không thấy đường để viết, đọc gì hết. Hắn nhìn tôi, nhìn sang kính tôi đang cầm tay, gật đầu:
– Cho phép anh mang kính lại.
Tôi biết, từ đây đời mình sẽ còn nhiều giông bão.
Tập họp chia nhóm: 18 người thành một A. Tôi cũng không thắc mắc tại sao 18, không phải là 15 hoặc 20. Bốn A thành một B. Tôi thuộc A8 B12. Lên lầu, vào lớp học, tạm trú.
Tôi đã đến trường Trưng Vương nhiều lần rồi. Trong những năm ở Đại học Y khoa ở số 28 Đường Trần Quý Cáp, tôi là giáo sư dạy giờ, môn vạn vật, Trường Petrus Ký. Năm nào cũng đi gác thi, chấm thi Tú tài I và ÌI ở Petrus Ký, Gia Long, Chu văn An hoặc Trưng Vương. Đâu ngờ, đây là lần cuối cùng… vào Trưng Vương “Tử Cấm Thành”.
Khoảng 5 giờ chiều, lệnh xuống sân lãnh cơm. Trời! Cơm do Nhà hàng Đồng Khánh mang đến. Tôi nghĩ là phải ngon lắm vì nhìn cũng giống cơm chiên Dương Châu mà mỗi lần đi dự tiệc cưới ở Đồng Khánh người ta hay đãi. Nhưng nuốt cho đỡ đói thôi chứ có biết mùi vị gì. Nhìn chung quanh, anh em đồng cảnh… cũng lặng thinh. Mỗi người một tâm sự, ánh mắt lo âu.
Ăn xong tập họp. Nghe lệnh. Những điều cấm không được làm… không được nói.
Màn đêm từ từ buông xuống.
Trở lên lầu, tìm cách giăng mùng giữa các bàn học, ngủ đỡ, qua đêm.Trằn trọc mãi.
Bao nhiêu câu hỏi. Tương lai về đâu? Bao nhiêu lo âu.
Nửa khuya, có tiếng tu huýt, lệnh trở xuống sân. Tập họp theo đơn vị A, B. Nhận lệnh mới. Di chuyển. Tuyệt đối cấm, cấm, cấm. Nhiều điều cấm lắm. Anh nào ra khỏi hàng là bắn bỏ. Thòng lọng ở cổ từ từ siết lại.
Xe Motorola chờ sẳn trước cổng Trường Trưng Vương. Lên xe. Kiểm soát. Tấm bạt mui xe khép kín lại. TrờI tối càng thêm tối om… như đờI của kẻ bại trận. Có tiếng AK đạn lên nòng. Xe chuyển bánh. Quo vadis?
Sau nhiều lần quẹo, xe chạy thẳng và êm hơn. Mình ra xa lộ. Anh ngồi ngoài cũng hé chút mui cố nhìn và định hướng. Chạy mãi đến sáng thứ hai 24-6-75.
“Ê, mình đến Long Khánh rồi đó mấy cha. Vừa qua khỏi vườn cây của Đại Tướng Lê Văn Tỵ, chạy nữa. Đi đâu cà?” Cuối cùng, bộ đội mở tấm bạt. Xuống xe. Hai chân tê cóng. Anh nào đó nhìn ra: Đây là Long Giao, doanh trại cũ của Trung Đoàn 48, Sư đoàn 18 Bộ Binh, trước là căn cứ Black Horse của Mỹ.
Tập họp. Mỗi B gồm 72 người vào một nhà, gọi là lán, do một cán bộ gọi là quản giáo chỉ huy. Nhà trống, đầy bụi rác. Đủ thứ rác.
“Thế mình ở đây à?” Có giọng ngây ngô hỏi.
– “Ngủ ở đâu?”- “Nằm ngay trên sàn nhà mà ngủ”. Nhưng trước hết phải tìm cách quét cho sạch cái sàn nhà đã.
Một đoạn đời mới từ đây.
Đời sống vô sản.
Mỗi người mang theo một túi vải, trong chứa áo quần, thuốc men. Đứa nào cũng có môt lon “gô”(lon sữa Guigoz bằng nhôm). Riêng tôi còn có thêm mấy lưỡi câu, dây nylon và cái võng nylon có mùng luôn. Thuốc suyễn uống và bơm. Hơn 100 viên chloroquine. Mỗi tuần một viên, tôi sẽ chịu đựng được trên hai năm. Tôi không tin mình sẽ đi 10 ngày, nhưng tôi dự trù có sáu tháng thôi. Đâu ngờ phải đi ở tù lâu quá vậy!
Mỗi người được 40 cm sàn ciment. Tôi nằm đong đưa trên võng, không đụng ai và rộng thêm chỗ cho hai bạn tù bên phải và trái.
“Khôn dại cùng chung ba thước đất Giàu sang chưa chín một nồi kê!”
Vua Tự Đức mà còn cam ba thước đất, mình được bốn tấc… mà còn than nổi gì?
Tổ chức thành “tổ” (A) và lán (B) chia phiên bữa củi, kéo nước giếng, nấu ăn (gọi là anh nuôi) hoặc ra ngoài trại lao động. Thật tình, đối với những người không bị đưa ra Bắc, phần lớn là sĩ quan cấp úy, thì lao động không đến mức “cực hình, khổ sai” nhờ nhiều yếu tố. Bắt đầu cuối năm 1976, đầu 1977, họ nhận được thơ, thực phẩm, thuốc mencủa gia đình, nâng đỡ tinh thần lắm; họ còn trẻ, trên dưới hoặc vừa bốn mươi ngoài, thân thể còn tráng kiện; thời tiết trong Nam không khắc nghiệt như ở thượng du Bắc Việt, trại Hà Nam Ninh, Hoàng Liên Sơn, Cổng Trời… tối đến lạnh xuống 3-4 độ Celsius; mỗi lần ra khỏi trại làm lao động gặp dân địa phương còn có cảm tình với “ngụy”, nhiều khi họ giúp cho thức ăn như chuối, bắp cũng thấy “ấm lòng”.
Đói vẫn cứ đói, mỗi ngày 400 gram gạo không thấm vào đâu. Tuy nhiên không ai than phiền gì vì bên ngoài, gia đình mình cũng vất vả lắm. Chỉ lo cho vợ con. Lấy gì sống? Đi kinh tế mới. Qua mấy lần đổ tiền rồi còn gì đâu! Đời sống tinh thần.
Người cải tạo rất khổ tâm về phương diện tinh thần. Những linh mục phải đi học tập vì là đại úy tuyên úy Công Giáo rất đáng khâm phục. Bất chấp ngăn cấm, kiểm soát chặt chẽ, các cha vẫn làm Thánh Lễ cho người tù Công Giáo. Lễ bỏ túi, lễ chạy, lễ di động. Nhưng vẫn có Thánh Lễ, nâng đỡ tinh thần với đức tin Chúa.
Ngược lại các cán bộ chỉ lập lại những lời tuyên truyền trước đây trong chiến tranh có thể áp dụng với dân chúng ít học nơi vùng quê hẻo lánh nhưng bây giờ đối tượng lại là những sĩ quan có trình độ, tối thiểu cũng đã tốt nghiệp trung học.
Luận về tội của người đi cải tạo: “Anh là giặc lái, lái máy bay bỏ bom toàn trẻ em và phụ nữ; bộ đội được huấn luyện kỷ thuật tránh bom, đâu có chết. Anh là quân y, chích thuốc kích thích cho lính ngụy nó hăng lên đánh phá cách mạng dữ dội. Anh là Cha, là Cố, làm phép cho lính Ngụy đạn bắn không trúng”.
Ngoài ra những buổi sinh hoạt “văn nghệ” làm tôi khổ sở lắm. Không muốn nghe, không muốn thấy cũng không được. Ngồi xoay qua xoay lại cũng bị phê bình. Ngồi ngủ gục tội còn nặng hơn nữa. Cuối cùng tôi có cách. Tuyệt chiêu! Tôi ráng nhớ hết tên quý cô giáo, thầy giáo, giáo sư trung học, giáo sư đại học khoa học, đại học y khoa…Tôi ngồi đó, như tượng gỗ. Ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh nhưng tôi không thâu nhận gì hết vì trí óc tôi đang bận với tên tuổi những ngườI đã góp phần dạy dỗ tôi. Xong. Tôi nhớ hết.
Kế đến, lần sinh hoạt văn nghệ tới, tôi ráng nhớ tên mấy đứa bạn cùng lớp. Lẽ dĩ nhiên tôi đâu có nhớ hết nổi, nhưng đầu óc tôi đâu có rảnh để “tiếp thu” những lời vô nghĩa, chướng tai. Tôi ráng nhớ mấy bài “học thuộc lòng” (recitation). Vui lắm. Học từ những năm 1947-48. Ví dụ bài ”Cắt Móng Tay”:
Đời xưa có thói dị thường Những người sang trọng ngồi không tối ngày Bởi nên không cắt móng tay Để cho nó mọc ra dài uốn cong Đời nay có thói lạ lùng Móng tay họ cắt mà không cắt cùi Mỗi ngày mài dũa lau chùi Thoa son đánh phấn ra mùi Tây U…
Cũng có bài cảm động lắm như bài “Tan Buổi Học”:
Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa, Nhác trông con đưa đứa về dần, Xa xa con đã tới gần, Mẹ con tề tựu quay quần bửa ăn. Cơm dưa muối khó khăn mới có, Của không ngon nhà khó cũng ngon. Khi vui câu chuyện thêm dòn, Chồng chồng vợ vợ, con con một đàn.
Hoặc bài ”Après la bataille’ của Victor Hugo, bắt đầu bằng câu:
Mon père ce heros, au sourire si doux, …Donne lui tout de même à boire, dit mon père.
Đặc biệt bài “La maison paternelle” càng làm nhớ nhà thêm:
“Inoubliable est la demeure Qui vit fleurir nos premier jours…”
Ngày lại qua ngày. Không ai dám đếm ngày đếm tháng nữa.
Vụ án Bác Sĩ B. Q. M:
“Học tập cải tạo” đã hơn một năm rồi. Ngày về mù mịt như Tô Vỏ chăn dê. Bặt tin tức. Có “ai” đề cập đến liên lạc vớI gia đình đâu.Trái lại, hàng ngày cán bộ nhắc nhở lệnh: Cấm “liên hệ”với bất cứ ai, lúc ở trong trại cũng như lúc ra ngoài đi lao động (cuốc đất trồng khoai mì, chặt tre, đốn củi).
Không biết bằng cách nào, các bà vợ “tù cải tạo’ ở Sài Gòn biết được Trại Long Giao. Thế là ngày nào cũng có mươi bà lên đón mong gặp các toán tù “xuất trại để lao động”.
– Các anh ơi, tôi là vợ của Đại Úy X, trước ở Đơn Vị Y. Các anh nhắn dùm là gia đình bình yên. Ba đứa con tôi nuôi không nổI nên cho nó theo Cậu Z, theo chú nó hết rồi. OK Salem hết rồi.
Thế là chiều hôm đó thế nào cũng có màn: “Sáng nay tao thuộc tổ chặt tre, có thấy Bà Xã mày lên. Không làm sao nhận được quà cáp gì hết vì bộ đội kiểm soát chặt chẽ quá. Nhưng Bà Xã mày nhắn là gia đình bình yên, ba đứa con bả cho Cậu Z nuôi. Mẹ, Cậu Z “vọt” hồi 75 phải không mậy? Ê, còn đường không, cho xin một thẻ”.
Tối hôm đó, trong giấc ngủ chập chờn, Đại Úy X. mỉm cười.
Sau này, Bà Xã tôi kể lại: Đã lên Long Giao tám lần. Những ngày ấy, tôi không thuộc toán lao động ra ngoài. Những ngày tôi cuốc đất, vác củi ngoài trại, Bà Xã tôi không lên. Cũng dễ hiểu thôi: Còn lo chạy gạo, săn sóc bốn đứa con nữa chớ!
Mỗi buổi tối sinh hoạt, quản giáo nhắc lại: Cấm “liên hệ”.
Rồi giông tố nổi lên. Không biết cách nào đó, cán bộ bắt được một tờ giấy nhỏ với vỏn vẹn chín chữ: “Má và các con yên tâm, Ba bình an”.
Theo ngôn ngữ được dùng, tác giả là một tên Nam Kỳ. An ninh trại điều tra và quả quyết Bác Sĩ B. Q. M. là thủ phạm với bản án: “Nhốt vào conex”. Thời gian sẽ quyết định sau.
Conex là một hộp sắt hình vuông, mỗi cạnh khoảng 1,5m, có hai cánh cửa, kín mít , dùng để chứa hàng hóa, gởi từ Mỹ sang. Người ta khoét hai lổ khoảng 10x20cm cho người tù thở. Conex để giữa “trời cao đất rộng”, không một bóng mát. Trong conex, tù không đứng thẳng được. Ban ngày nhiệt độ lên tới 105-110 F. Sắt giản ra bưng bưng (đâu có chuyện “ Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát,” đâu có “áo lụa Hà Đông”!). Người tù conex chỉ có một bộ đồ, cởi ra hết, che trên đầu, hy vọng đỡ nóng. Mắt đỏ hoe. Miệng khô đắng. Da sần lên như da cắt kè. Mỗi ngày được một lít nước. Tiểu tiện ngay tại chỗ. Nước tiểu vừa đụng sàn conex đã bốc hơi. Cục phân, nhỏ như cứt dê, cũng khô cứng.
Cửa conex chỉ mở ngày hai lần cho bạn tù mang nửa khẩu phần cơm tới. Rồi đóng lại ngay. Người ta không muốn tù được hưởng chút không khí trong sạch. Đúng nghĩa không khí trong sạch, không bóng gió gì hết.
Ban đêm lạnh thấu xương. Tù nằm cong queo nghe sắt co rút lại kêu răn rắc. Không còn sức để mà run.
Bị nhốt trong conex là kể như mình đã đặt một chân vào thế giới bên kia rồi. Chỉ cần rút nhẹ một chân nữa là xong một kiếp người ở cái tuổi chưa đầy bốn mươi. Vậy mà BS B.Q.M. còn sống nhăn sau một tháng cọng với ba ngày trong conex.
Đến nay, ba mươi năm sau, BS B.Q.M. vẫn BỐN không biết: Không biết ai là tác giả chín chữ đó, không biết tại sao an ninh trại lạI quả quyết là mình, không biết tại sao được thả ra, không biết nhờ đâu mình sống được.
“Vertigo” của Bác Sĩ Nguyễn sơ Đông.
Một buổi chiều không đi lao động, tôi đang ngồi vá chiếc võng nylon thì có bộ đội chuyển lệnh: lên văn phòng làm việc với Anh Lực. Nghe tên Anh Lực, tôi lạnh mình. Mấy đứa bạn tù ngồi gần đó ngước nhìn tôi, nhìn tên bộ đội non choẹt vác AK mà ngao ngán dùm tôi.
“Anh Lực” là trung úy an ninh của trại Long Giao nổi tiếng “ác ôn”. Thật tình, tận mắt, tôi chưa có dịp thấy hắn hành hung, đấm đá gì ai. Nhưng nộ nạt, sỉ vả, chửi mắng, hăm dọa tù là chuyện cơm bửa đối với hắn. Tôi đã bị hắn gọi đích danh ra “trước hàng quân”… tù để sỉ vả:
– Lúc nhỏ, anh là con đẻ của thực dân Pháp (vì cái tội theo học ở trường Chasseloup Laubat của Pháp), lớn lên, anh làm tay sai đắc lực cho Đế quốc Mỹ. Tội của anh đáng chết mười lần, anh có thấy nhục nhã không?
“Anh Lực” mà ra lệnh nhốt vào conex thì hết thấy mặt vợ con, anh em, bè bạn. Tôi lại nhớ đến hình dáng của Bác Sĩ B.Q. M.sau khi được dìu ra khỏi conex. Trắng xanh, mắt sâu hoắm, không còn chút sinh lực, ốm tong teo… Nhìn vào không thấy đâu hết, chỉ thấy bộ quần áo rộng thênh thang bay phất phơ trong gió. Đứng không vững. Nói không ra tiếng. Bây giờ, năm 2006, ngồi yên viết lại, chớ lúc đó tôi sợ lắm, bước chậm chậm như cái xác không hồn. Tôi ráng lấy can đảm, nắm chặt tay lại chớ chân tôi bắt đầu run run khi gần đến văn phòng Tiểu Đoàn Tù L2T1.
Đến cửa văn phòng, tự nhiên tôi quay lại nhìn trời. Biết đâu đây là lần cuối mình còn có thể nhìn lại chút bầu trời trong mát.
Bộ đội đứng nghiêm: “Báo cáo đồng chí…“, vừa báo cáo vừa để tay vào lưng tôi, “dìu” nhẹ tôi vào văn phòng. Toàn thân tôi nổi da gà. Tôi có cảm tưởng đao phủ đưa tội nhân lên máy chém.. Tôi bước vài bước vào đứng nghiêm trong văn phòng Trung Úy Lực:
Hắn ngồi sau bàn viết, cố tình không nhìn tôi, như đang tìm kiếm gì đó, lấy ra một xấp hồ sơ (tôi nghĩ đó là hồ sơ của tôi vì từ khi vào trại đến giờ đã khai lý lịch trích dọc trích ngang hơn chục lần rồi). Rồi từ từ, hắn đứng dậy, kéo áo lại cho ngay ngắn, từ từ tháo dây thắt lưng có dính tòn ten bao da đựng cây K54, để nhẹ trên bàn viết, kế một tách trà đã vơi.
Nãy giờ cũng đã gần năm phút rồi, hắn vẫn không thèm nhìn tôi bằng nửa con mắt, không thèm phán cho tôi nửa lời. Tim tôi đập liên hồi, có cái gì ngăn ở ngực. Muốn ói. Tai ù. Mắt mờ. Như đang lạc vào thế giới huyền ảo. Cái sợ đã lên tới tột đỉnh.
Bổng hắn đập mạnh nắm tay xuống mặt bàn. Rầm. Tiếng rầm kéo tôi trở lại thực tế. Tôi mở mắt to, há hốc nhìn hắn. Hắn quát:
-Tại sao tới giờ này anh còn dối cách mạng. Cách mạng đã tha tội chết cho anh… Thật là một lũ ngụy.
Sợ quá, tôi không biết lúc đó tôi có hiểu hết những gì hắn nói không. Hắn ra mặt giận dữ, vừa thét to, vừa đẩy xấp hồ sơ về phía tôi.
Như có phép lạ, trong thoáng giây, đầu óc tôi minh mẫn lại. Có lẽ ngọn đèn bừng sáng lên trước khi bị dập tắt. Tôi linh cảm trong cử chỉ, trong giọng nói của hắn có chút gì giả dối, có chút gì muốn áp đảo tôi.
– Xem đây, anh viết anh không hề vào đảng “Thằng Thiệu” mà sao lên cấp bậc đại úy. Mẹ, không vào đảng, lên đại úy. Dối cách mạng cho cải tạo mục xương.
Tôi tỉnh lại hẳn. Tôi cám ơn hắn đã lập lại câu nói “không vào đảng, sao lên đại úy”. Tôi không nghe sai. Tôi cảm được con người tôi hiện đầy sinh khí. Tôi muốn cười thật to, cho sướng. Tôi vẫn đứng nghiêm. Hắn còn hét to lên nữa, tiếp tục mắng chữi, hăm dọa đủ điều. Tôi đâu có nghe nữa. Tôi biết chắc chắn hắn hố rồi. Tôi biết chắc chắn không có gì để buộc tội tôi, ngoài cái tội ngụy. Và tôi không sợ nữa. Hắn mệt rồi. Hớp cạn tách trà, hắn ngồi lại xuống ghế, mắt mở to nhìn tôi như cố ý xem tôi “xanh mặt” đến mức nào. Run chưa?
Tôi chậm rãi để hưởng hết cái hương vị đậm đà của “chiến thắng”.
– Kính thưa anh cho phép tôi báo cáo.
Sau một thoáng suy nghĩ hắn gật đầu chấp thuận.
– Kính xin báo cáo anh mấy điều. Thứ nhất, anh xem lại bảng lý lịch của tôi, tôi không có mang cấp bực thiếu úy động viên vào quân đội … (tôi muốn nói Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà không dám)…
– Ngụy chứ quân đội gì, hắn cắt ngang.
– Động viên tháng 3 năm 1966, tôi mang ngay cấp bực trung úy (tôi cố tránh chữ ngụy). Thứ hai: Trong quân đội miền Nam …
– Tôi ra lệnh anh nói quân ngụy, hắn bực dọc lắm rồi.
– Vâng trong quân ngụy, không có cấp “thượng” như thượng úy, thượng tá, thượng tướng, nghĩa là từ trung úy lên ngay đại úy. Thứ ba: Tôi lên đại úy từ năm 1968 (đặc cách tại mặt trận, tết Mậu Thân, tôi không dám nói sợ hắn “quýnh” tôi) và đến năm 1975 vẫn còn mang đại úy. Như thế tôi vào quân… ngụy hơn 9 năm, lên có một cấp bực thì có đảng nào đâu!
Tôi vẫn đứng nghiêm, nghiêm để nhìn cái bối rối của hắn. Hắn vẫn trừng mắt nhìn tôi, trong ánh mắt có chút bẽn lẽn của một người vừa đánh… hụt. Hắn cố gỡ gạc:
– Cách mạng tìm được tài liệu anh là đảng viên đảng “Thằng Thiệu” thì sao?
– Kính xin báo cáo: Tùy cách mạng định đoạt.
– Thôi cho anh về. Cấm kể lại chuyện này cho bất cứ ai. Chết với tôi đấy.
Hắn gọi bộ đội đưa tôi lại lán B12. Trên đường về tôi huýt sáo nho nhỏ… “The Longest Day”. Về đến lán, anh em ngạc nhiên thấy tôi còn nguyên vẹn. Mắt không bầm, mặt không sưng. Tay chân còn cử động nhịp nhàng. Tuy nhiên không anh nào dám hỏi han gì hết. “Anh Lực” oai đến thế.
Chuyển trại
Một ngày đầu tháng 3 năm 1977. Sáng sớm ban quản giáo ra lệnh: Hôm nay không học tập, không lao động, các anh mang hết đồ đạc ra sân khám xét.
Đây không phải là lần đầu. Trong quá khứ, thỉnh thoảng đôi ba tháng một lần chúng tôi bị “khám xét tổng quát”: Vũ khí nhọn (chống đối), cơm khô (âm mưu trốn trại), thư từ (liên lạc), tài liệu (tuyên truyền)… Sau khi ăn cơm trưa, xét tiếp đến xế chiều mới xong.
Anh em đang xếp đồ đạc lỉnh kỉnh cho vào túi vải bỗng quản giáo ra lệnh: “Cán bộ trung đoàn đến, tất cả đứng yên tại chỗ”. Cán bộ trung đoàn, gầy đét, mắt vàng sốt rét kinh niên, môi thâm thuốc lào trao một tờ giấy, quản giáo đọc: “Các anh có tên sau đây đứng qua bên phải, chờ lệnh”. Mười lăm, muời sáu tên, trong đó có tôi. Các anh khác mang đồ trở vô lán, đóng cửa lại. Cấm trở ra sân. Nhóm chờ lệnh, hoang mang. Nhóm trở vào nhà lo âu. Cả hai nhóm đều xanh mặt.
Sau đó, nhóm chờ lệnh mang túi đồ đạc được dẫn lên trước văn phòng tiểu đoàn L2T1, ngồi thành một hàng dọc cùng với nhiều nhóm khác. Tiếp tục chờ lệnh. Chờ lệnh trong sợ sệt. Chốc chốc lại có anh thì xin phép đi tiểu. Mờ tối, khoảng 8 giờ, một đoàng 5 chiếc Molotova tới. Bây giờ cán bộ trung đoàn mới cho biết: “Có lệnh chuyển trại các anh.” Giống như gần 2 năm trước từ “Tử cấm thành Trưng Vương” lên Long Giao, nghĩa là đi ban đêm, với bạt mui xe đóng kín; lệnh rất nghiêm nghĩa là ra khỏi hàng là bắn bỏ. Một chi tiết nhỏ: lần này, tôi không nghe tiếng AK đạn lên nòng. Molotova chạy suốt đêm, bỏ đường nhựa, chạy quanh co đâu trong rừng, dằn, xốc lắm. Sáng hôm sau, đoàn xe thả tù xuống một trảng tranh. Lần lượt nhảy xuống. Anh nào cao dưới 1.60 m không thấy đâu! Tranh cao khỏi đầu. Tập hợp. Chia tổ, chia lán. Đốn cây, dựng nhà, đào giếng. rành quá rồi. Địa danh: Katum, rừng già, nguyên là mật khu giữa Tây Ninh và biên giới của Việt Miên.
Sống giữa rừng già Katum.
Cán bộ nói chung quanh không có hàng rào, không kẽm gai, không bộ đội gác gì hết, nhưng các anh đừng có dại dột mà trốn trại. Không biết đường ra đâu. Đúng, chúng tôi bị nhốt giữa rừng già. Đi lao động thỉnh thoảng gặp hầm hố, công sự chiến đấu, doanh trại của cộng sản, trước 75, nay đã hoang tàn. Cuộc sống có vẻ đỡ gò bó và đỡ đói vì có “kiếm chác” được chút “ của trời cho”: cải trời, măng, trái cây rừng … Thích nhất là gặp những hố bom, mỗi hố đường kính rộng hơn cả 10m, không biết sâu bao nhiêu, nhưng đầy âm ấp nước; có nước là có sinh vật: Cá và ếch. Tôi mang lưỡi câu “thứ thiệt”, có ngạnh đàng hoàng, nhợ nylon, chặt trúc làm cần câu cá và ếch, thằng bạn cùng tổ làm việc ngạc nhiên lắm. –“Ở đâu mày có?” –“ Mang theo khi đi trình diện chứ ở đâu mậy. Tao đâu có tính 10 ngày mậy”.
Giữa rừng già, đêm xuống, trăn trở nhớ nhà lắm. Trăng rừng, bóng trăng xanh tải, lành lạnh. Chập chờn, ma quái. Mưa rừng reo rắt, buồn thúi ruột. Còn lòng dạ nào mà nhớ Thanh Nga … “Mưa rừng ơi mưa rừng giọt mưa, nhớ ai mưa triền miên”… Thấm thoát mà ở tù hơn hai năm rồi. Cách đối xử của cán bộ đối với tù vẫn hằn học và khinh rẻ. Họ là kẻ thắng trận, nhưng họ biết không khi nào họ “tẩy não” được chúng tôi. Vậy, họ còn giữ chúng tôi làm gì? Từ ngày lên Katum đến nay đã 4, 5 tháng rồi có “học hành” gì đâu. Những đêm trằn trọc nghe bạn tù mớ… mớ cha, mớ mẹ, mớ vợ, mớ con… mớ bạn bè. Thăm nuôi. Vive la “2CV”
Một ngày đầu tháng 6/1977, quản giáo ra lệnh: “Khẩn trương, đốn cây, cất thêm mấy căn nhà. Các anh sắp được thăm nuôi. Cắt tóc, chọn áo quần “tốt” mà đón gia đình”. Chúng tôi ghi nhận tin “thăm nuôi” bán tín, bán nghi. Lần này, như có phép lạ, “Cách Mạng” thực hiện điều mới tuyên bố. L’exception confirme la règle. Thế là tôi được gặp mặt vợ con.
Lại Nguyễn Lộc Thọ, cựu giáo sư Quốc Gia Nghĩa Tử, người đã chở Honda tôi đi trình diện học tập ngày Chúa Nhật 23/6/1975, nay chở vợ và bốn đứa con tôi lên Katum, bằng chiếc 2 CV cũ kỹ. Cảm động nhất, là có bà nhạc mẫu tôi. Bà ngoại, bảy mươi ngoài, lụm cụm lên thăm thằng rể “tù”. Ánh sáng cuối đường hầm
Tháng 8/77, một số chuyên viên y tế, kiến trúc, kỹ sư được “chuyển trại”. Không nói thẳng, nói thật, chuyển trại, thế thôi. Về bến mới đục hay trong? “Cũng liều nhắm mắt đưa chân”. Autant en emporte le vent. Sắp xếp hành trang lên Molotova… lần thứ ba.
Lần này, chúng tôi nhận thấy hai điểm “sáng sủa”, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, là di chuyển ban ngày và bạt mui xe không khép kín lại, tuy vẫn có hai bộ đội với AK ngồi ngoài bìa hai băng xe. Có AK nhưng không nghe tiếng đạn lên nòng. Đến xế chiều, xe chạy vào một doanh trại cũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không biết đơn vị nào, chỉ nghe anh ngồi ngoài bìa nói Tây Ninh. Xe ngừng. Lần lượt nhảy xuống đất. Bỗng nhìn lên vách một căn trại chữ phai mờ rồi nhưng còn đọc được: TD 252 PB. Mắt tôi hoen mờ. Môi tôi nghe mặn. Tôi đã khóc: Thì ra đây là một phần của đơn vị cũ của tôi, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.
Tái diễn cái màn: Chia tổ, chia lán, nhưng khỏi dựng nhà. Hàng dãy doanh trại bỏ trống. Ở đây tôi gặp lại Dương Tấn Lợi, đại úy Quân Nhu, trong nhóm Chasseloup/ Jean Jacques Rousseau đi nhậu hàng tháng với nhau. Vợ anh Lợi “dân Tây” – Quốc tịch Pháp, thứ thiệt chứ không phải như tôi bị chửi oan, đã đem đứa con “hồi hương” về Pháp rồi. Khỏe ru. Nó khỏi lo con, cháu nó. Lợi kéo tôi ra một góc, “nói nhỏ cho mầy biết, tao còn hai con khô sặc, tao cho mầy một con”. Trời! Tôi không biết caviar, tôi không biết “khô lân chả phụng” ngon đến mức nào, chớ giờ đây, đổi con khô sặc rằn, rằn, rằn này… tôi không chịu.
Độ hai tuần sau, tôi được giấy xuất trại … Tưởng là tốt lắm. Có ngờ đâu, như thầy Huyền Trang Tam Tạng, sau 80 nạn rồi … chỉ thỉnh được mấy pho “vô tự kinh”.
Nguyễn Sơ Đông
01 tháng 1 năm 2007
Sống lại
Đúng như Tam Tạng qua bao nỗi “trần ai” chỉ thỉnh được mấy pho “vô tự kinh”.
Được giấy xuất trại chỉ là thả ra khỏi trại tù nhỏ Củ Chi … Để được giam trong trại tù lớn Việt Nam.
Chữ “Ngụy” được in vào hồ sơ, như được xâm lên trán, thời trung cổ.
Ngụy có nghĩa là:
– Mất quyền công dân.
– Bị áp lực đi kinh tế mới, giao nhà cửa cho nhà nước “cách mạng” quản lý.
– Lẽ dĩ nhiên không nơi nào cho mình việc làm, bất cứ ở tầng lớp nào trong xã hội.
Dẹp hết tự ái, tôi xin vào làm y tá trong phòng y tế của một xí nghiệp dưới sự “chỉ huy” của một “bác sĩ chuyên tu” Cộng Sản (chỉ mong có việc làm ở Sài Gòn, khỏi đi kinh tế mới). Vậy mà hai tuần sau, chi bộ đảng quyết định: Chỗ này phải dành cho “thân nhân liệt sĩ cách mạng”.
Tôi cắn răng chịu đựng mọi đắng cay: Ra Sở Y Tế (Tòa Lãnh Sự Trung Hoa Dân Quốc cũ, đường Hai Bà Trưng) thành phố Hồ Chí Minh, gặp Bác Sĩ Nguyễn Hải Nam, cùng khóa Y Khoa Sài Gòn. Nam bây giờ là VIP, vì là “cơ sở cách mạng” (nằm vùng) do anh ruột Đại Tá Công An Cộng Sản Nguyễn Hải Thọ gài trong Bệnh Viện Cảnh Sát/ ổng Nha Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa, đường Võ Tánh. Nam chỉ phán một câu: ”Anh về thu xếp đi kinh tế mới”.
Đứng xếp hàng mấy tiếng đồng hồ để mua “nhu yếu phẩm”, thì bà tổ trưởng dân phố bảo:
– Cậu là ngụy, không bán.
Cay đắng ở chỗ: Bà này bà con khá gần với mình, nhưng nay mình là ngụy: Hết bà con. Tôi cố xoay sở, cố nuốt nhục, mong gia đình được dễ thở chút nào. Nhưng sau đây là giọt nước mắt làm tràn ly.
Con trai đầu lòng, học hết lớp 9, xét lý lịch, con ngụy, không được tiếp tục lên lớp 10.
Vậy người Cộng Sản muốn đầy đọa bao nhiêu thế hệ gốc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?
Tôi xin viết rõ ràng, minh bạch cho thế hệ mai sau: tôi đã đi dạy trung học, đã là giám khảo thi Tú Tài I & II nhiều khóa, tôi đã hành nghề y khoa trong và ngoài giới quân đội, tôi chưa khi nào hỏi lý lịch thí sinh hay bệnh nhân. Thí sinh giỏi, tôi cho điểm tốt. Bệnh tôi chữa. Bị thương, tôi săn sóc. Nặng tôi gọi trực thăng tản thương không cần biết đó là chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Cộng. Đó là tôn chỉ của Việt Nam Cộng Hòa.
Vì thế, khi con tôi mang phải cái tội “con ngụy” bị từ chối lên lớp trên, tôi quyết định vượt biên.
Tôi bàn kỹ với nhà tôi, chấp nhận biết bao gian lao, nguy khổ, đem mạng sống cả gia đình đổi lấy tự do. Chúng tôi hy sinh, mong các con có một tương lai sáng lạn hơn hay ít nhất không bị trả thù.
Trong lịch sử, chưa có thời nào, chưa có dân tộc nào phải chấp nhận thương đau, chết chóc, tan nát … bỏ xứ ra đi nhiều như Việt Nam Cộng Hòa, sau 75. Một cách khiêm tốn, ước lượng 10 người vượt biên, 6 người thoát hiểm, 4 người chết ngoài biển khơi (giông bão, bệnh, hải tặc, đói …), thì nếu 300.000 (ba trăm ngàn) “boat people” đến được bến bờ tự do, đã có 200.000 (hai trăm ngàn) chìm sâu đáy biển.
Việc tôi không hiểu được là con số chết chóc quá cao như thế, đã làm thức tỉnh lương tâm cả THẾ GIỚI… mà chính quyền mới vẫn dửng dưng. Họ có lương tâm hay không? Tôi không sai khi viết “thức tỉnh lương tâm cả thế giới”.
Trại Bidong
UNHCR, tháng đến hai lần, có khi ba bốn lần. Lãnh Sự Pháp Jean Blattes, phái đoàn Mỹ, Úc, Pháp, Gia Nã Đại, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch… đã đến phỏng vấn, nhận tị nạn… và nhận cả con nuôi.
Khắp thế giới
– Đủ mọi thành phần xã hội từ nhiều quốc gia, kể cả những nhân vật đã từng có thái độ thiếu thân thiện với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa như triết gia Jean Paul Sartre, ca sĩ Yves Montand, tài tử điện ảnh Brigitte Bardot, văn hào Virgil Georghiu.
– Màu da, tôn giáo, ngôn ngữ họ khác.
– Chính kiến, lập trường, nhân sinh quan họ khác.
Nhưng họ có một mẫu số chung: Lương tâm và tri thức con người.
Họ đã cùng nhau quyên góp tổ chức “Một con tàu cho Việt Nam” (Un bateau pour le Viet Nam) để cứu vớt người vượt biển.
Vượt biên:
Tìm cái sống trong ngàn cái chết, gia đình tôi rời Sài Gòn ngày 26/10/78. Lẽ dĩ nhiên đầy hãi hùng. Chúng tôi chấp nhận hết. Nhờ ơn trời, chúng tôi đến Pulau Bidong ngày 3/11/78: ngưỡng cửa trước khi vào chân trời mới.
Ở Bidong, cũng khổ cực, thiếu thức ăn, thiếu đủ thứ … và nhiều lo lắng, nhưng sống vẫn HY VỌNG. Hy vọng làm lại cuộc đời ở một “đệ tam quốc gia”… Úc, Mỹ, Pháp… gì cũng được. Nơi đó có chút tình người. Những ngày đầu đói lả người. Chồng 39 tuổi, vợ 38. Bốn con, đứa nhỏ nhất: 5 tuổi.
Gia tài: Mỗi người một bộ đồ, chứa trong túi vải cộng với bộ đang mặc là hai, cọng với 2 ponchos “nhà binh”: Một tấm trên nền cát, một làm mái che mưa nắng. Còn được 16 gói “gạo sấy”. Đồ hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó nấu thành cháo lỏng… ráng chịu đựng.
Không một dollar. Không một chỉ vàng. Đó là gia đình tôi khi cập bến Bidong.
Tôi đi vòng khắp đảo … tìm viện trợ. Hỏi Ban đại diện: không biết! Chính quyền Mã Lai không cho được hạt gạo, lít nước nào.
Ngày thứ sáu trên đảo. Hết gói “gạo sấy” cuối cùng. Tôi gặp lại Bác Sĩ Nguyễn Cẩm Thạch và Dược Sĩ Nguyễn Kim Sơn (trước ở Trung Tâm 3 Huấn Luyện), vợ chồng Bác Sĩ Trịnh Văn Chương và Bác Sĩ Mã Ngọc Phương, Bác Sĩ Đoàn Lân, không quen trước nhưng giờ làm quen … tiếp tế cho mì gói, gạo, chén, nồi và dầu (để nấu và đốt đèn). Quý hơn bát cơm Xiếu Mẫu. Trân trọng đội ơn năm bạn.
Vào thời điểm này tháng 11/1978, “dân số” Bidong khoảng 12 ngàn. Việc tổ chức “ban đại diện” rất phôi thai. Trại trưởng là Nha sĩ Đỗ Cao Minh (anh ruột Trung tướng Đỗ Cao Trí).
Chúng tôi làm thủ tục ghi tên. Tàu chúng tôi được xếp số thứ tự 76, để theo đó mà được gọi vào phỏng vấn khi có phái đoàn “đệ tam quốc gia” đến.
Ngày nào cũng có “vượt biên” đến: Hoặc đến “thẳng” từ Việt Nam, hoặc do chính quyền Mã Lai chở đến từ các trại khác. Exodus. 7, 8, 10 … 15 mười lăm ngàn vào cuối 1978.
Nha sĩ Minh rời trại. Bác sĩ Nguyễn Dương Đơn (con của bác sĩ Nguyễn Dương Đôn, Bộ trưởng Quốc Gia Giáo Dục năm 1954) thế. Bác sĩ Đơn đến đảo trước tôi nửa giờ, cùng với gia đình bên vợ là Bác sĩ Nguyễn Đình Hoàng, giáo sư Quang tuyến Y Khoa Sài Gòn ( Tàu số 75).
Bác Sĩ Đôn rời trại rất sớm, Giáo Sư Lê Tấn Kiệt, cựu hiệu trưởng một trường trung học công lập ở Hậu Giang lên thế.
Người tị nạn ồ ạt đến. Việc tổ chức “ban đại diện” lần lần chu đáo hơn, liên lạc thường xuyên với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR/ United Nations High Commissioner for Refugees)). Nhờ vậy trại Pulau Bidong được chính quyền Mã Lai tiếp tế thức ăn, nước ngọt. Tất cả chi phí do UNHCR đài thọ: 4(bốn) US dollar cho mỗi đầu người tị nạn, mỗi ngày.
Tàu tị nạn tiếp tục đến, vẫn có nhiều chiếc bị Hải quân Mã Lai kép trở ra hải phận quốc tế … Mặc cho sóng bão …
Bác Sĩ Bernard Kouchner và “một con tàu cho Việt Nam”
Tàu bệnh viện L’Ile de Lumière
Nhắc đến Jean Blattes, lãnh sự Pháp ở Kuala Lumpur, Bernard Kouchner và nhóm cộng tác,
Thuyền Trưởng Francois Herbelin và thủy thủ đoàn, tôi chỉ có 6 chữ: THÀNH KÍNH TRI ÂN & CẢM PHỤC
Vượt bao khó khăn, trở ngại khắp mọi nơi, từ Paris đến Geneve, đến Kuala Lumpur, trở ngại ngay trong nhóm Médecins sans frontiere, trở ngại với IRC, với MRC (Malaysian Red Crescent), Bác Sĩ Kouchner đã thực hiện chương trình cứu trợ người vượt biển với tất cả con tim và khối óc của ông:
– Cứu trợ trực tiếp, đúng lúc, ngay trên biển cả.
– Đón người vượt biển, chữa trị và đưa đến bờ tự do THẬT SỰ.
Bác Sĩ Kouchner và nhóm cộng tác đã thuê một tàu hàng “trống lỏng” ở Nouvelle Calidonie. Ráp vào giường, máy quang tuyến X, phòng thí nghiệm, phòng vệ sinh… để biến thành tàu bệnh viện
L’Ile de Lumière.
Bao nỗi trần ai, bao nỗi nhọc nhằn với được chính quyền Mã Lai cho phép hoạt động. Tàu cập bến Bidong ngày 18 tháng 4, 1979.
Tôi đang làm trưởng trại, thế giáo sư Lê Tấn Kiệt đã được định cư. Cảnh thật là cảm động. Người tị nạn hoan hô dậy trời. Những người “may mắn” đến gần được phái đoàn, ôm chầm lấy họ, òa lên khóc. Khác màu da, khác màu mắt, khác ngôn ngữ … Sao họ chấp nhận xa vợ, xa con, quên no ấm, quên tiện nghi … tìm đến một góc trời xa thẳm để cứu giúp mình … Những người họ chưa hề quen.
Phái đoàn cứu trợ gồm có: Jean Blattes, lãnh sự Pháp, Bác Sĩ Bernad Kouchner, Bác Sĩ Vladan Radoman, Bác Sĩ Eric Cheysson, Bác Sĩ Patrick Laburthe, Bác Sĩ Pierre Bonniaud, Bác Sĩ Jean Claude Sénéchal và cô Ghislaine Martin, y tá.
Không người nào cầm được nước mắt. Các bác sĩ và y tá đã từng tình nguyện đi cứu trợ ở nhiều trại tị nạn rồi, nhứt là Bác Sĩ Bernard Kouchner đã từng đến Afghanistan, Biafra, Eritrea, Jordan, Kurdistan, Tchad … và Sài Gòn. Nhưng chưa bao giờ họ thấy tình trạng thê thảm … “địa ngục trần gian Bidong”.
Bắt tay ngay vào việc. Khám bệnh. Cần thì chuyển lên “Ile de Lumière” … Quang tuyến X, thử nghiệm, giải phẫu. và … sanh … trên tàu.
Tàu rời Bidong ngày 5 tháng 7 năm 1979 với thành quả: khám bệnh 1927 người, 151 ca “giải phẫu” với gây mê, 18 em bé đã chào đời trên tàu, trong đó có 3 trường hợp sanh mổ.
Trước khi rời Bidong vì gần hết giao kèo và gần hết tiền quyên được, Bác sĩ Kouchner đã cho gỡ hết máy móc, dụng cụ, giường bệnh, máy phát điện … để giúp ban đại diện trại Bidong lập một bệnh viện 65 giường. Thuốc men, y cụ … cho lại hết để Ban Y Tế có thể tiếp tục hoạt động.
Bỗng nhiên tôi nhớ đến một chuyện trong “Bài tập đọc” lớp nhì: Một con vượn bị thợ săn bắn, biết mình sắp chết (hết tiền quyên được) bèn vắt hết sữa của mình cho con bú.
Bác Sĩ Kouchner đã gõ hết các cửa ở Paris từ Điện Matignon (Phủ Thủ Tướng Pháp) đến Quai d’ Orsay (Bộ Ngoại Giao) và đã được phép – với một quota khá cao – vớt được người tị nạn nào, chính phủ Pháp sẽ chấp nhận cho vào Pháp người đó..
Nhờ thế, sau khi rời Bidong, “con tàu cho Việt Nam” còn “tuần dương” dọc theo đường vượt biển Việt Nam – Mã Lai và Vịnh Thái Lan trong nhiều tuần.
Và nhiều người tị nạn được cặp bến bờ tự do … bờ sông Seine. Nhân vật đến đảo Bidong
Chắc chắn có nhiều vị đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa nhưng tôi không biết. Có rất nhiều kỹ sư, kiến trúc sư, luật sư. Đốc sự hành chánh …
Tôi chỉ xin ghi lại giới dân, quân y mà thôi:
Vào tháng 3, tháng 4 năm 1979, dân số Pulau Bidong đạt mức cao nhất: non 45.000 (bốn mươi lăm ngàn), khoảng 140 y nha dược sĩ đủ mọi khóa. Đặc biệt:
– Bác Sĩ Nguyễn Đức Tiến, y sĩ trung tá, trưởng khối Tê Mê Tổng Y viện Cộng Hòa … Thuộc hạng “sư” về khả năng chuyên môn. Đàn em gọi là Tiến “thầy”. Gia đình anh vượt biên làm hai nhóm, trước sau. Cả hai nhóm (hai cái ½ gia đình) đều gặp hãi hùng: Anh suýt bị hải tặc Thái Lan đạp xuống biển, tàu của chị cũng suýt bị đắm.
Mỹ, Nga phóng phi thuyền để ráp nối với trạm không gian… tí teo trong vũ trụ mênh mông.
Dễ òm. Không ráp nối được mới là lạ, là trục trặc vì họ có đủ yếu tố kỹ thuật. Hai cái nửa gia đình anh chị Bác Sĩ Nguyễn Đức Tiến mà “ráp nối” nhau được ở Pulau Bidong mới không phải là lạ mà là PHÉP LẠ. Anh em ở giới Y chúng tôi nghĩ: Trời giúp bởi anh chị Tiến rất hiền, rất tốt với mọi người.
– Bác Sĩ Nguyễn Duy Cung rất hiền và đa tài. Anh đã là thuyền trưởng cận duyên và viễn duyên trước khi về học y khoa. “Interne Cung” (nội trú các bịnh viện). Chuyên khoa giải phẫu lồng ngực. Giám đốc bệnh viện Nguyễn Văn Học. Ngày 30/4/75, từ chối lời mời di chuyển, đứng giải phẫu với Bác Sĩ Bernad Kouchner cho đến khi bộ đội Cộng Sản vào chĩa AK đuổi cả hai ra khỏi phòng mổ.
Anh Cung vẽ rất tài, làm chirungie plastique rất có “hoa tay”.
Bác Sĩ Nguyễn Bội Hoàn, quyết định đi Pháp, rời đảo rất nhanh. Bác Sĩ Hoàn là trưởng nam của Giáo Sư Nguyễn Ngọc An, cựu bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi.
Bác Sĩ Trần Dương Đôn (Dominique), em ruột Giáo Sư Trần Lữ Y (Louis), cựu bộ Trưởng Bộ Y Tế, ở đảo có mấy tuần. Vợ là Bác Sĩ Thái Ngọc Hoa (em của Thái Tường, tiến sĩ Dược, giáo sư Ký Sinh Trùng Học) và con đã “di tản” sang Pháp trước 30/4/1975 nên Son Excellence Consul de France à Kuala Lumpur, Jean Blattes chấp thuận lẹ.
Giới ca sĩ có Thanh Tuyền, Băng Châu.
Báo Nouvelle Calédonie, nơi xuấn xứ chiếc tàu bệnh viện L’ Ile de Lumiere, đài truyền hình Mỹ: CBS, Pháp: Antenne 2 đến Pulau Bidong … làm phóng sự, thu hình … có “dính” tôi trong đó. Nhờ vậy, một số bạn hữu ở Mỹ, Pháp biết tôi đã thoát khỏi “địa ngục trần gian” và viện trợ cho tôi, qua trung gian UNHCR.
Trở lại Pulau Bidong hay: 30 năm sau, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng, nghĩa là tàn ác và ngu dốt.
Tháng 3, năm 2005, một nhóm thuyền nhân trở lại Pulau Galang và Pulau Bidong để: tưởng nhớ những người đồng cảnh ngộ đã vắng số trên bước đường tìm tự do và tỏ lòng tri ơn chính phủ, hội đoàn, cơ quan, tư nhâ … đã cứu giúp người tị nạn. Ở mỗi nơi họ dựng một tấm bia với những giòng như sau. Tôi xin ghi nguyên văn:
“In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom (1975 – 1996). Though they died of hunger or thirst, or being raped, or exhaustion or any other causes, we pray that they may now enjoy lasting peace. Their sacrifice will never be forgotten. Overseas Vietnamese communities, 2005”.
Tạm dịch: Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên con đường đi tìm Tự Do (1975-1996).
Dù họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu.
Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lãng quên.
CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI, năm 2005.
Chính phủ Việt Nam làm áp lực với chính phủ Mã Lai Á và Nam Dương phá bỏ hai bia đá đó.
Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
Làm lại cuộc đời
Gia đình tôi đến Annandale, Virginia ngày 01 tháng 06 năm 1979. Lúc bấy giờ người “tị nạn” “boat people” chưa đông. Thủ tục trợ cấp xã hội, y tế (welfare, medicaid) rất nhanh …
Sáng sớm 4 giờ, tôi và ba đứa con lớn thức dậy đi … bỏ báo Washington Post. Nhớ bài học thuộc lòng từ lớp ba, năm 1948:
Tôi chỉ là một trẻ em bán báo Khắp phố phường chân sáo nhảy tung tăng… Bán văn chương ai dám bảo nghề hèn …
Đến 6 giờ … “công tác phổ biến văn chương, chữ nghĩa” xong, cha con về ngủ lại một chút.
7:30 sáng thức dậy. Con đi học. Cha đi làm “thợ phụ” với một nhóm … sửa chữa nhà để có chút tiền bù vào “ngân sách” gia đình.
Tối về, cơm nước xong xuôi, các con làm “homework” vật vã với Anh văn cho học sinh ngoại quốc (English as a Second Language/ ESL), cha lo học thi ECFMG (bằng tương đương cho bác sĩ ngoại quốc).
Khóa ECFMG tháng 7/79 đã hết hạn nộp đơn rồi, hơn nữa biết gì mà thi – Tù đày cải tạo, gian khổ Bidong, trí óc có ngu muội, thì hợp lý thôi. Ráng “gạo” để thi khóa 02/80. Đến cuối năm 79, đành phải bỏ bớt cái “job” “bán văn chương” của Washington Post.
Đậu ECFMG luôn phần Y khoa và Anh văn, mừng hết lớn. Lo nộp đơn “xin một chỗ đứng dưới ánh mặt trời”: nội trú (residency). Ráng cho kịp niên khóa 80 – 81. FMG, đứa con “vô thừa nhận”
Tôi gởi ra tất cả là 62 đơn, khắp nước Mỹ, trừ những nơi người ta ghi rõ ràng: No FMG (Foreign Medical Graduates là bác sĩ tốt nghiệp trường ngoại quốc).
Đủ mọi ngành, trừ những ngành mình thấy rõ ràng l … vô hy vọng như Giải Phẫu Thẩm Mỹ, Tai Mũi Họng, Nhãn Khoa…. Tiền làm bản sao, tiền bưu phí… muốn ói cơm.
Số trời còn thương. Được ba nơi gọi phỏng vấ … và chỉ một nơi nhận: Family Practice (Y Khoa Gia Đình) ở Delaware County Memorial Hospital, Drexel Hill, PA 19026.
Bấy giờ là tháng 6/ 1980. Lần đầu tiên, năm năm sau ngày Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam tôi … thấy chút yêu đời.
Residency 3 năm. Cũng cực nhọc, cũng ê chề lắm! Một y tá hỏi: Biết “start an IV”không ?
Một bà bệnh đuổi tôi ra khỏi phòng vì tôi không hiểu “Charlie horse” là gì?
Thôi, rán nín thở lặn qua sông, thôi noi gương Quốc Văn Giáo Khoa Thư… về nhà viết một trăm chữ NHẪN…
Chân trời mới
Xong chương trình thường trú Family Practice tôi làm full time ER physician (bác sĩ khoa cấp cứu) ở Somerset Hospital, PA 15501.
Khoảng đầu tháng 3 năm 1985, bỗng nhiên tôi nhận điện thoại từ Los Angeles (L.A.).
– Bác sĩ xuống L.A. được không?
– Tôi đang đi làm, mà xuống L.A. làm chi? Ông là ai?
– Tôi đại diện CBS, muốn mời bác sĩ xuống L.A. “thu hình”, trong tiết mục “Ten years later”.
– Tôi không xuống LA được. Thời khóa biểu (schedule) của phòng cấp cứu (ER) nhà thương chặt chẽ lắm
– Vậy bác sĩ lên New York được không?
– Cũng không đượ … job mà!
Ông ta suy nghĩ một chút:
– Thôi, bác sĩ không xuống L.A., không lên New York thì CBS team sẽ đến nhà bác sĩ ở Somerset, bác sĩ có chấp nhận không?
– Ông có thể cho tôi biết lý do nào tôi được hân hạnh này?
– Bác sĩ quên là hồi tháng 3 năm 79, CBS có thu hình bác sĩ ở Pulau Bidong?
– OK! OK! Hẹn ngày giờ ngay.
Tối hôm ấy tôi suy nghĩ: Cả đời không khi nào dám khoe khoang. Có được cái gì đâu mà khoe. Nhưng, lần này, khi CBS đến phỏng vấn, mình phải “gáy” một chút. Để chi?
Để nhắn rằng những sĩ quan ngụy, vượt biên, những người mà họ gọi là “non sông chối bỏ giống nòi khinh”… giờ cũng an cư lạc nghiệp ở nước ngoài và “đám con ngụy” mà họ trả thù không cho tiếp tục học trung học cấp III… nay đang theo học ở các Ivy League Colleges cả.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.