This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
HQ Đại tá William B. Nguyen (hình của thepeak.coloradocollege.edu).
Hải quân Đại tá William B. Nguyen* được bổ nhiệm chức Phó Giám đốc Quân y viện Hải quân Hoa Kỳ Naples vào tháng 10 năm 2024. Ông được thăng cấp Đại tá năm 2022, và từng được chỉ dịnh đảm nhận những vị trí tại tại các đơn vị: Bác sĩ trưởng Chiến hạm đổ bộ USS America (LHA-6); Bác sĩ giải phẫu Hàng không mẩu hạm USS Abraham Lincoln (CVN-72), nơi ông tham dự vào cuộc khai triển đến Trung Đông. Ngoài ra, ông còn là Bác sĩ cho Không đoàn 3, Không quân Thủy quân lục chiến và Bác sĩ trưởng cho Tiểu đoàn 1 Quân y, Liên doàn 1 tiếp vận Thủy quân lục chiến thuộc Lực lượng viễn chinh Thủy quân lục chiến số 1. Hiện ông đang giữ chức Sĩ quan điều hành của Bộ Tư lệnh huấn luyện sẵn sàng Quân y Hải quân và là Phó Giám đốc Quân y viện Hải quân Hoa Kỳ Naples tại Ý Đại Lợi.
Quân y viện Hải quân Hoa Kỳ (USNH) Naples là một bệnh viện cộng đồng, cùng một chi nhánh Phòng khám y tế Hải quân (NBHC) đặt tại Capodichino và một Toán liên lạc Hạm đội Hải quân tại Trung tâm y tế Khu vực Landstuhl, Đức. Bệnh viện chính và phòng khám y tế chi nhánh cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ cho khoảng 9.800 quân nhân và thành viên gia đình từ 62 đơn vị của Hải quân Hoa Kỳ, Soái hạm USS Mount Whitney (LCC 20), và Lực lượng từ 22 Quốc gia thuộc Bộ Tư lệnh Liên quân đồng minh, Naples, Ý Đại Lợi. Hàng năm, bệnh viện và phòng khám thực hiện hơn 84.000 lượt khám và chữa bệnh. Tất cả các nhân viên đều làm việc không mệt mỏi để giúp các chiến binh tiếp tục chiến đấu. Nhiệm vụ của Quân y viện Hải quân Hoa Kỳ Naples là trở thành Lực lượng Quân y hàng đầu ở Châu Âu và trung tâm đào tạo y tế hoạt động xuất sắc.
HQ Đại tá William B. Nguyen, Quê quán ở Đà Lạt Việt Nam, năm 12 tuổi, ông và bốn anh em trốn khỏi Việt Nam trên một chiếc thuyền nhõ và may mắn đến được trại tị nạn Malaysia. Sau một thời gian trải qua ở trại tị nạn, ba người anh trai của William đã đến Mỹ trước, và được hai gia đình người Mỹ khác nhau nuôi dưỡng. William đã sống 6 tháng tại trại tị nạn ở Malaysia, sau đó ông được được cha mẹ nuôi ở Arizona nhận nuôi. Em gái William đến Mỹ không lâu sau đó. “Nửa triệu người đã thiệt mạng trên biển khi cố gắng trốn thoát khỏi Việt Nam. Có rất nhiều câu chuyện kinh hoàng,” William nói. Cha ông cũng đã cố gắng trốn thoát, nhưng bị bắt và bị giam giữ trong trại tù cải tạo 5 năm. Cuối cùng ông đã đến được Mỹ trong năm cuối của William tại trường Đại học cộng đồng. William gia nhập Hải quân và theo ngành quân y (Medical Corps), trở thành Bác sĩ y khoa gia đình và Hàng không không gian. Hơn 20 năm phục vụ Quân y Hải quân, ông đã thực hiện các nhiệm vụ tại các bệnh viện, các Chiến hạm đổ bộ tấn công, Hàng không mẩu hạm, các đơn vị Quân y Thuỷ quân Lục chiến và tham dự các các chiến dịch tác chiến tại Afghanistan.
HQ Trung tá William B. Nguyen, Bác sĩ giải phẫu Hàng không mẩu hạm USS Abraham Lincoln (CVN-72), (hình của facebook.com/USSLincoln).
HQ Đại tá William B. Nguyen là thành viên của Hội đồng y khoa Bác sĩ gia đình Hoa Kỳ và là Phụ tá Giáo sư tại Đại học Quân y. Ngoài ra, ông đã hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân chuyên ngành tâm lý học tại Đại học Colorado; Văn bằng y tế công cộng tại Đại học tây Florida, và Văn bằng Bác sĩ y khoa tại Trường Đại học Y khoa thuộc Đại học Texas, nơi ông nhận được Học bổng chuyên ngành y khoa Hải quân. HQ Đại tá William B. Nguyen tốt nghiệp với danh hiệu cao nhất trong chương trình giáo dục quân sự chuyên nghiệp liên hợp. Quá trình đào tạo chuyên môn của ông bao gồm thực tập giải phẫu tại Đại học Texas Tech ở El Paso, Texas; Nội trú Bác sĩ gia đình tại bệnh viện Hải quân, Camp Lejeune, và nội trú chuyên khoa y học Hàng không không gian tại Viện y học hàng không Hải quân ở Pensacola, Florida. Ông được chứng nhận bởi hội đồng chuyên môn về Y học gia đình và y học Hàng không không gian. Ngoài ra, ông còn thụ huấn các ngành chuyên môn: Sĩ quan quân y chiến tranh trên biển (SWMDO), Bác sĩ giải phẫu Hàng không Hải quân (FS), Sĩ quan chiến tranh Lực lượng Thủy quân lục chiến (FMFWO) và Quan sát viên xạ thủ trên không (AO). Ông được trao tăng các loại huy chương cao quý bao gồm: Huy chương Legion of Merit; 4 huy chương Meritorious Service Medals; 2 huy chương Navy Commendation Medals; Huy chương Navy Achievement Medal; Huy chương chiến dịch bội tinh và các loại huy chương cấp đơn vị.
HQ Đại tá William B. Nguyen là 1 trong 41 HQ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt. 24 vị đương nhiệm, 2 vị được thăng cấp Phó Đề đốc, đó là Phó Đề đốc Tuan Nguyen và Nguyễn Từ Huấn, 14 vị hồi hưu (cựu HQ Đại tá Hung Cao hiện là Quyền Bộ trưởng Hải quân) và 1 vị đã qua đời. Danh sách 24 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng Hải quân Hoa Kỳ được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Anvy; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Dennis La; HQ Đại tá Brian Truong; Tân HQ Đại tá Tyrone Pham và HQ Đại tá William B. Nguyen.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu William B. Nguyen; Nguyễn B William;
Nguồn: naples.tricare.mi; thepeak.coloradocollege.edu; mynavyhr.navy.mil; bienxua-40 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt.
Trung úy Hùng không cao nhưng thuộc hạng người vạm vỡ. Qua bộ đồng phục cảnh sát có độn áo chống đạn bên trong, mắt kẻ phàm tục cũng hiểu thằng chả từng qua nhiều lớp tu luyện kung-fu. Dĩ nhiên, Hùng là người Việt. Ổng nói giọng Nam, mặt khá điển trai, chừng ngoài 30.
Trước khi làm việc, ông tâm sự: Tôi rất nản khi cấp trên giao cho tôi phải hoàn thành vụ nầy. Vì sao nản? Vì tôi không thích đón nhận những tai tiếng xấu xa do người đồng hương gây ra. Tôi từng bắn cụt giò một tên tội phạm và tôi đã dằn vặt nhiều ngày vì thằng con trai ấy là người Việt. Trước, tôi chỉ huy đồn 36 ở phía Đông thành phố, nơi đa phần là dân da màu cư ngụ, sau này họ điều tôi về đây chỉ vì một lý do: Khu vực nầy mỗi lúc một đông người Việt, và như thế chúng ta có thể nói chuyện trực tiếp không cần qua miệng một thông ngôn. Anh hiểu không? Theo kinh nghiệm, tôi cho là khi người ta tâm sự, dẫu vụn vặt, những dốc lòng đó chẳng xa sự thật bao nhiêu, nhất là nó không bị hàng rào khác biệt ngôn ngữ quấy phá. Nói suông sẻ chứ không nói ấp úng bởi mãi tìm từ tiếng Tây tiếng u.
Anh hút thuốc phải không? Thường thì nghiêm cấm bởi phòng hỏi cung này quá chật, không cửa sổ, nói chung là bí, nhưng tôi phá lệ để cho anh tìm được chút thoải mái. Hãy thư giản. Nếu muốn, tôi sẽ xuống cafeteria mua cho anh một ly… Trung úy Hùng sửa lại khẩu súng ngắn, đen đủi dị hình máng ở thắt lưng trước khi ngồi trên một góc bàn. Phòng kê độc chiếc ghế nhựa và chiếc ghế ấy muôn đời không phải là nơi cho vị cảnh sát tọa mông. Hùng ngó xuống thằng thanh niên ngồi cứng nhắc trên ghế. Như bao thằng khác, hắn đặt hai cánh tay trên bàn, ngón xoắn lại với nhau, thảng hoặc cúi mặt tẳn mẳn moi đất đen bám sau móng tay. Một, để cố giữ bình tĩnh. Hai, đang bận suy nghĩ lao lung. Ông bạn dân ho khan, đằng hắng: Tấm ảnh này chụp đã lâu, có ghi ngày tháng. Để xem, vậy là bảy tháng trước. Bảy tháng, dung mạo chẳng thay đổi nhiều ngoại trừ dao kéo của thẩm mỹ viện can dự vào làm cho biến dạng đi. Và đây là ảnh mới nhất, lưu trữ trong cái iphone 4 của cô ấy. Anh nhận diện rồi nói cho tôi biết tên của cô ta.
Một. Tôi là Nguyễn văn Một. Tôi không biết cô này là ai cả. Tấm ảnh cũ thì xem có hơi ngờ ngợ, hơi quen quen, dù không nhớ đã thấy qua một lần ở đâu đó. Anh Hùng, à Trung úy Hùng, Trung úy biết đó, tôi làm việc trong một tiệm disco, phục vụ bán rượu, mỗi tối, nhất là cuối tuần, tôi phải chạm mặt cả ngàn cô gái đủ mọi sắc tộc. Ánh đèn mờ ở quầy rượu không giúp gì cho trí nhớ tôi, ngoại trừ những cô tóc vàng mang vào người một cái gì thật ấn tượng. Trung úy Hùng cắt ngang, đưa tay phủi sạch một vệt dơ bám vào quần. Anh Một hình như là dân vượt biển, phải không? Một làm thinh, kéo tấm ảnh lại gần. Hình này, xem nào… Ồ, không chừng là Thị. Tôi chẳng xác tín được bởi thời gian đi mau quá. Cái gì? Cô gái mang tên Thị à? Dạ phải, Thị, như câu “hu thị thị rớt bị ăn mày” ấy. Tựa một loại trái có mùi rất thơm. Nói tiếp đi, những gì còn nhớ. Dạ, năm ấy, trước khi Hồng-kông bàng giao lại cho Trung quốc, tôi ở trại tị nạn khu vực Cửu-long, lúc ấy, một chủ nhật xấu trời có mưa sa, tôi co ro chứng kiến một hình ảnh lạ, phải nói là kì cục, một đoàn xe sang trọng bóp còi inh ỏi từ ngoài cổng trại có giăng kẽm gai chạy thẳng vào, băng qua khoảng sân đọng vũng bùn lầy và dừng lại có thứ lớp trước một vuông cửa tối đen bẩn thỉu của dãy nhà A-4. Một chú rể bản xứ với sự trợ giúp của đám bạn ồn ào tiếng Quảng-đông đã vào tận hang ổ để rước về một cành hoa lưu lạc made in Duỵt-nàm. Cô dâu là Thị. Cô khoảng 18 tuổi, người Bắc, nghe đâu nằm ở trại tị nạn đã 3 năm mà không được một phái đoàn nào tiếp kiến phỏng vấn. Ở chỗ giặt giũ áo quần tôi nghe cô nói: Đéo mẹ, ngay cả bọn Đan Mạch cũng đéo thích bà. Chúng xem bà như mụ già nằm chai người, ế chảy. Cơ khổ! Lầm to lầm to. Bà ngon hơn chúng mày tưởng… Tôi để ý tới cô ta vì thứ ngôn ngữ nghe thật lạ tai, cô ưa dùng những chữ mà bọn chúng tôi gọi là tiếng Đan Mạch. Đéo, đếch, cái hĩm nhà bà đây nầy, được có mỗi con buồi chứ đâu có cái đếch gì khác… Đại khái là vậy, nói không ngượng miệng. Thứ nữa, Thị sở hữu một thân hình đẹp, phải gọi là rất xếch-xi. Chỉ có thế, tôi ngỡ cô định cư ở Hồng-kông. Trung úy có tin người giống người không? Một sự trùng hợp, nhầm lẫn ngoài ý muốn.
Tôi là Trần văn Hai. Tôi đứng bếp cho một tiệm phở bên Vancouver, nâng cao tay nghề xong tôi “mu” về đây tự mình mở quán. Người trong ảnh này có thời gian đến xin việc, thẻ an sinh xã hội mang tên Tràng An, 27 tuổi. Cô khai, thời còn bên nhà cô nấu phở rất ngon, tôi thử cho cô thi thố tài năng và quả tình cô không man khai. Quán tôi đông khách từ ngày có Tràng An. Cô ta đòi lên lương 20 đồng một giờ, tôi đồng ý. Vì công việc, chúng tôi sớm tối gần gũi nhau và xin thưa thật chúng tôi đã quan hệ với nhau. Vụng trộm chưa được một năm thì vợ tôi phát hiện, giải pháp êm đẹp nhất là cô cuốn gói ra đi với 25 ngàn tiền mặt nằm trong xách tay. Tôi không biết tin tức Tràng An từ dạo đó, hai năm trước. Giờ đây, thỉnh thoảng nhớ vu vơ. Chuyện gì đã xảy tới cho cô ấy. Mất tích, tù tội hay án mạng?
Trung úy Hùng kéo ghế. Tuy làm bằng nhựa, chân ghế cũng phát tiếng nghe ê răng khi bị kéo lê trên nền xi-măng. Ngồi xuống đi. Phạm văn Ba phải không? Dạ. Thằng đeo khoen tai tóc dựng đứng ké né ngồi vào chỗ chỉ định.
Hắn buông thỏng hai tay thu cất dưới bàn. Y phục tuyền màu đen, từ trên xuống dưới, ngoại trừ một đốm màu đỏ tươi dính chặt ở bắp tay. Phạm văn Ba chắc tốn bộn tiền để xâm vào da thịt hình một trái tim rướm máu bởi vô số gai nhọn ràng buột, bức bối. Cái ví da đựng giấy tờ tùy thân của Ba nằm sau túi quần được nối với thắt lưng bằng một sợi dây xích, lủng lẳng, rối rắm và… ngó gai con mắt. Da dẻ Ba xanh tái tựa hồ Ba là truyền nhân của bá tước Dracula, sợ quang minh chính đạo. Hắn không dám ngó mặt Trung úy Hùng như thể ở trán ông quan hai cảnh sát có xâm hình một chiếc thánh giá. Nói tóm, bao bọc quanh thân Phạm văn Ba là thứ gì đó mà phát hiện đầu tiên của mắt nhìn là sự thiếu thiện cảm. Một thằng punk đi lạc chốn, cô đơn cùng cực. Trung úy Hùng ngắm con mồi, hắn đẹp trai quá, sáng láng, có vẻ con nhà giàu học giỏi. Trung úy Hùng, theo thói quen, ngồi lên góc bàn, ra vẻ thị uy. Và nhập đề: Ba biết tiệm cho thuê DVD “4U” chứ? Dạ biết. Khách quen? Dạ, quen biết gì đâu, thường ghé xem có gì mới lạ. Biết tên chủ nhân không? Dạ biết, nghe bà vợ anh ấy gọi là Mình. Tầm bậy. Minh, không có dấu huyền. Minh cũng có thể gọi vợ là mình ơi vậy. Qua đây lâu mau? Dạ, hai mươi năm rồi. Có nghĩa là má ẳm qua hả? Dạ không, dì bế qua, má em mất khi đẻ ra em. Nói tiếng Việt giỏi hé? Dạ, bị dì em siêng dắt tới chùa trau dồi tiếng Diệt. Thôi được, tôi có ghé tiệm anh Minh cách đây hai hôm. Tôi biểu Minh nên hợp tác với cảnh sát và cậu ấy cho tôi xem danh sách của ba người Việt thường đến thuê phim. Tôi gạt hai đối tượng kia ra vì họ đứng tuổi, chả có gì đặt nghi vấn. Phạm văn Ba là kẻ còn lại, tôi ghi được tất cả những phim Ba đã mướn, kể cả ngày tháng. Khiếp, bạn giải trí với mức độ chóng mặt, gần như chỉ cách khoảng đôi ba hôm. Và điều đáng nói là bạn chỉ xem phim bạo động hoặc phim đen 3X. Trong danh mục phim người lớn mà bạn mượn tôi để ý tới phim “Hãy đi sâu vào và làm tôi khóc”. Vì sao? Vì cái poster in hình cô gái đó rất giống với tấm hình này. Tôi nói nãy giờ Ba có hiểu không? Cần xổ ngoại ngữ không? Dạ hiểu. Dạ không cần.
Trung úy Hùng thảy xuống bàn hai tấm ảnh cũ. Một của Thị, một của Tràng An. Có thể tuy hai mà một. Ba biết ai đó không? Dạ biết, dì dắt đi ăn phở để tìm hương vị quê hương nơi xứ lạnh tình nồng và em đã thấy cổ. Em kêu chị, cổ nói đừng gọi thế đéo sướng. Chị khen em đẹp giai, chị ghi cho em số phone rồi nói, nhớ gọi em nhé, anh giai… Rồi sao nữa. Rồi em muốn tìm hiểu. Rồi hai đứa hẹn nhau. Hỏi tên, chị bảo, gọi là Honey đi, cho mùi. Rồi Honey xúi em đi thuê phim để thêm hưng phấn. Khoan, khoan… Trung úy Hùng ngắt lời. Cô ấy tự nguyện hay Ba phải chi trả mỗi lần lên giường. Phải trả tiền chứ chú, à Trung úy. Cô nói lý ra không nên dây tới tiền bạc, đếch lãng mạn, nhưng cô hiện đang thất nghiệp. Cô nấu phở ngon lắm chú, à Trung úy. Thế Ba tốn bao nhiêu? Tùy thuộc vào sự buồn vui của Honey. Khi thì 250, có lúc cô đòi 300. Nói chung là chẳng có giá nhất định, Honey bảo cô không hề là một cô điếm. Mà sao Trung úy hỏi em kỹ thế? Có chuyện gì xẩy ra cho Honey sao? Tiền đâu mà Ba sẵn thế? Ông cậu em hiện là đại gia quy hoạch đất đai ở Việt-nam. Cậu thương em mồ côi mẹ sớm nên gửi cho ngàn đô hằng tháng. Đại gia là gì hả Trung úy? Có phải là Thiếu úy xong tới Trung úy xong tới Đại gia? No. Fuck. Đại là to, gia là nhà. Chỉ biết ngần ấy thôi, ngoài ra tớ bù trất, chả đủ chất xám để thông hiểu. Thôi, Ba về đi, buổi nói chuyện của chúng ta coi như chấm dứt. Thay mặt đồn cảnh sát 42 cám ơn sự hợp tác sốt sắng của Phạm văn Ba.
Trung úy Hùng đứng bấm chuông. Hôm nay ông mặc đồ dân sự, xuềnh xoàng giản dị lè phè. Có vậy mới thấy cái vỏ bọc luôn quan trọng, hèn gì người ta ưa bình phẩm: Cha chả, thằng này diện bộ đồ ăn nói trông thiệt le lói! Cởi bỏ đồ ăn nói ra, Hùng bình thường và tầm thường như vạn thằng đàn ông khác. Chuông gióng hồi thứ ba thì cửa mở, đứa con trai nheo mắt vì ánh sáng bẳn gắt của trưa hè đang dội ngập sân, chôn vùi hình thù chậu hoa lớn trong biển nắng. Mày còn nướng người trên giường sao? Chủ nhật mà anh, sinh hoạt phải thay đổi chớ. Mày đã nghe cuốn băng thu âm chưa? Đã. Vì thế mà trăn trở suốt đêm. Anh thấy sao? Tao thấy mày hên. Chả có đứa nào biết rõ thân phận con bé. Chỉ biết có mỗi việc là nó ưa dây tới chuyện xác thịt. Vụ nó bị xây xát phải nằm bệnh viện thì sao? Tao đã đóng hồ sơ với thứ kết luận: sau khi điều tra, đương sự bị đánh ghen và đương sự chẳng có ý định thưa gửi kiện cáo gì ráo. Nhắm dễ ăn không anh? Tao đã dằn mặt thằng côn đồ kia, bảo nó thăng khỏi thành phố, chớ héo lánh. Bắt chúng nó cũng dễ, chỉ sợ phải dẫn về đồn lập biên bản, như vậy câu chuyện thêm phức tạp, dấu đầu lòi đuôi. Bao lâu nó xuất viện? Tối nay em đến rước nó. Mày cũng tìm cách biến khỏi chốn này đi, cùng nó ém vào thị trấn xa khuất nào đó. Tình hình lắng dịu, tao hú mày về.
Trung úy Hùng đến mở tủ lạnh, khui bia ngữa cổ tu hơi dài. Em để tiền trong cái phong bì dấu dưới đám rau quả ấy. Con bé giao dịch với bọn trồng cỏ hơn hai năm, ký gửi trong sổ tiết kiệm được sáu chục ngàn. Phong bì ấy đựng tiền mặt. Em đếm rồi, cả thảy hơn hai chục xấp.
Hùng đóng cửa tủ lạnh, nhét cái bao thư màu vàng sau lưng quần, gần chỗ khẩu súng ngắn ẩn mình. Mày nhớ những gì tao từng căn dặn chưa? Có việc nan giải gọi tao ở cái cell phone. Tao đề nghị mày lái xe về chốn cũ rồi hẳn lấy vé máy bay sau, cho mặt con bé nhạt bớt vết trầy trụa. Đừng sử dụng phương tiện xe hỏa hoặc xe đò. Tao tạt về sở một chút.
Mở cửa, Hùng đứng ở tam cấp đeo kính rayban vào mắt, vặn vẹo thân hình qua lại. Buổi trưa, hai đầu đường vắng ngắt, êm thắm. Thủ tục xuất viện rất đơn giản, vả lại, nạn nhân Huỳnh thị Trinh Nữ chỉ ê ẩm ba sườn, chợt da cùi chỏ và hai mũi kim khâu bên trên mày trái. Mắt bớt sưng, đi lại bình thường, bắt đầu buồn miệng: Xong cả rồi anh? Xong tất. Yên ổn từ nay về sau? Ừ, yên hàn vô sự. Mẹ kiếp, thằng ấy có võ anh ạ và phường vũ phu, ra tay tàn độc đau đéo chịu được. May mà mồm em to, em rống lên và dân tình chộn rộn, có thằng Tây con mặt bô giai chạy tới giải hạn, nó xốc ngực em đứng dậy, ma đàm sao rồi, ma đàm có ô-kê không? Ma đàm con bà mày, tao còn xuân thì mày xốc nách tao mày không cảm nhận gì sao?
Thằng đàn em Trung úy Hùng dìu Trinh Nữ tới chỗ đậu xe. Thương em thật lòng không? Hỏi lãng xẹt, không thương cớ sao cùng vào sinh ra tử với cưng? Khi nằm trên giường bệnh, em nghĩ tới anh, cầu mong sao anh là bến đỗ an toàn, sau chót của em. Đếch dám tơ tưởng gì hơn.
Xe gài số, lùi lại, xém đụng phải thằng thanh niên đang khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy trông bụi bặm. Hắn mặc tuyền một màu đen, vừa càm ràm vừa bước tới cửa xe. Ủa, Honey, lâu ngày không gặp, em mới mướn được cuốn phim nóng thuộc hàng siêu khủng. Phim ảnh làm đéo gì giờ nầy? Có thấy người ta đang tàn tạ hay không? Honey honey! Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, hở Trinh Nữ!
Khi nhắc đến “Apollo”, ai cũng nghĩ ngay tới phi thuyền Mỹ đưa Neil Armstrong bước xuống Mặt Trăng năm 1969. Hồi đó, dân Sài Gòn xem TV đen trắng, thấy ông bước xuống, thò chân lên bề mặt trăng, cả xóm reo hò: “Mỹ đã lên cung trăng, còn tao thì chưa lên được lầu Á xẩm bán hủ tiếu mì đầu hẻm!” – tưởng đùa mà thật. Thế nhưng, ít ai biết bên kia bán cầu, ở nước Úc xa xôi, cũng có một địa danh mang tên Apollo Bay – nghĩa là “Vịnh Apollo”.
“Bay” trong tiếng Anh là vịnh, một eo biển nhỏ ôm lấy mặt nước như vòng tay mẹ. Apollo Bay nằm chễm chệ trên Great Ocean Road, huyền thoại du lịch ven biển tiểu bang Victoria, cách Melbourne khoảng 187 km. Nếu lái thẳng, mất chừng ba tiếng rưỡi, còn ai thích thong thả vừa ngắm biển, vừa chụp hình cột mốc 12 Apostles thì cả ngày cũng chưa hết cảnh đẹp.
Còn “Apollo” là ai? Apollo là vị thần Hy Lạp, quản Mặt Trời, âm nhạc, tiên tri và cả bệnh dịch – vừa đáng kính vừa đáng sợ. Tên nghe oai, lãng mạn và dễ nhớ, nên người Mỹ mượn đặt cho chương trình bay lên Mặt Trăng của NASA hồi thập niên 1960. Một ông khoa học ngồi nghĩ: “Muốn đưa con người lên Mặt Trăng, phải chọn tên gì cho thật kêu?” – thế là Apollo ra đời, cưỡi cỗ xe Mặt Trời, bay ngang trời, đi vào sử sách.
Và cũng chính Apollo Bay, tên gọi mượn theo chiếc thuyền buồm Apollo từng ghé vịnh, đã trở thành thị trấn ven biển độc đáo. Ban đầu năm 1853, nơi đây gọi là Middleton. Năm 1881 đổi sang Krambruk – theo tiếng thổ dân Gadubanud nghĩa là “cửa sông”. Nhưng dân Úc thấy khó đọc quá, đến 1898 thì đổi Apollo Bay cho dễ xưng hô.
Trước khi người Châu Âu đến, Apollo Bay là lãnh thổ bộ tộc Gadubanud. Họ sống nhờ hải sản, săn thú rừng, hái trái cây. Gadubanud tin rằng, thần Mặt Trời đi ngang vịnh mỗi sáng, soi sáng mặt nước, giúp cá tôm sinh sôi. Họ tổ chức lễ hội cầu cá, vừa múa hát vừa khấn thần Apollo (hoặc vị thần tương đương), để bữa cá hôm đó “mập lù, tươi rói”. Khi mực nước lên cao hoặc sóng lớn, họ tin “Thần Sóng tức giận”, phải nhảy múa, đánh trống cầu thần dịu lại. Ai từng đứng giữa gió biển lạnh thấu xương mới thấy “lễ hội sinh tồn” ấy không phải trò đùa. Chính sự tôn kính thiên nhiên ấy hình thành mối quan hệ mật thiết giữa con người, biển và thần thoại, nét văn hóa mà người Châu Âu đầu tiên cũng phải kính nể.
Nghịch lý thay, trong khi phi thuyền Apollo bay lên trời, ở Apollo Bay, cảnh sát lại lo giữ… một cái xà lim nhỏ dưới đất. Một bên thăm thẳm vũ trụ, một bên lụp xụp nhà gỗ giam tù, thật đối nghịch mà cũng dễ thương.
Đồn cảnh sát Krambruk mở cửa ngày 7 tháng 3 năm 1888. Ban đầu là căn nhà gỗ 7 phòng, gồm bếp, phòng ăn, phòng tắm, hành lang, văn phòng; ngoài sân có chuồng cho một con ngựa và một… xà lim nho nhỏ. Thú vị là cả đồn chỉ có một anh cảnh sát kỵ binh. Ven biển, trộm cướp ít, chủ yếu nhậu xỉn đánh nhau, một ông “phú lít”là đủ.
Người ta kể, hồi chưa có xe hơi, cảnh sát cưỡi ngựa tuần dọc bờ biển, dân địa phương còn gọi ông là “ông kỵ binh một mình một ngựa”. Vừa làm cảnh sát, vừa kiêm… bạn nhậu bất đắc dĩ, ai say cũng đưa về xà lim nghỉ một đêm. Có lần, một ông đánh cá bị nhốt mà vẫn còn say, la lên: “Thả tao ra, tao phải ra khơi, cá nó không chờ đâu!” – cảnh sát chỉ lắc đầu: “Biển thì chờ được, mày ra lúc này thì chết chìm, vợ mầy thằng khác “thịt”, đừng có giỡn ngu!”
Neil Armstrong đáp xuống mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 11 – nguồn Britanica
Đến thập niên 1970, chính quyền xây đồn gạch 3 phòng ở số 31 đường Nelson, có nhà giam phía sau. Rồi mở rộng thêm hai lần trước khi đóng cửa năm 2005. Ngày 17 tháng 11 năm 2006, đồn cảnh sát Apollo Bay hiện đại khai trương số 35a đường Nelson, góc Cartwright, có trung sĩ chỉ huy và 5 cảnh sát viên làm việc 16 tiếng mỗi ngày. Bề thế, văn minh, nhưng cái xà lim nhỏ bé 1957 vẫn in đậm ký ức dân địa phương.
Ngày nay, Apollo Bay không chỉ có đồn cảnh sát mà còn là điểm du lịch nổi tiếng. Mùa đông, du khách nô nức ra bờ biển xem cá voi mẹ dẫn cá voi con bơi ngang vịnh. Người Úc mê món tôm hùm Apollo Bay. Cảnh sát vui vẻ: “Cái đó thì không bắt, chỉ bắt thằng nào nhậu xỉn quậy mát trời ông Địa mà thôi!”
Nhìn lại mới thấy, Apollo Bay thật kỳ lạ. Một bên giữ an ninh cho làng chài, một bên mở cánh cửa vũ trụ. Một bên giam mấy ông say xỉn, một bên đưa Neil Armstrong bước vào lịch sử nhân loại. Thế mới thấy, đời có khi tréo ngoe mà cũng vui: thần Apollo trên trời chắc cũng cười, vì cái tên vừa gắn với ánh sáng huy hoàng, vừa gắn với… xà lim miền biển Úc, lại thở cùng sóng biển, rừng già và lễ hội Gadubanud.
Cùng một chữ Apollo, từ thần thoại Hy Lạp, phi thuyền Mỹ, tới một vịnh nhỏ Úc, tạo nên một câu chuyện vừa lịch sử vừa phiếm luận. Apollo Bay – nơi thiên nhiên, văn hóa, và luật lệ hòa quyện một cách vừa nghiêm túc vừa hài hước, để người đời sau còn cười vui khi nhắc tới: ánh sáng mặt trời, cá tôm tươi rói, tôm hùm đỏ au, cá voi tung bọt trắng trời, và một xà lim nhỏ nhắn nhưng in sâu vào ký ức.
Tôi ngồi trong một căn phòng có hơi sưởi ấm, gõ bàn phím laptop ghi đơn đặt hàng gởi đi cho kịp nhận hàng vào tuần tới. Tháng mười hai tây được đặt thêm phần cho tiệc tùng những ngày cuối năm. So với mấy năm trước thời kinh tế khủng hoảng, tiêu chuẩn ăn uống của tháng mười hai có thêm gà tây, thỏ, tôm, rượu nho và vài ba món nhậu, ngoài ra công ty chuyển hàng gởi tặng ba tê, cá hồi un khói, bánh, kẹo, sô cô la đủ loại và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ… gồm chung đồ ăn, thức uống ê chề ăn tới ra Giêng vẫn chưa hết. Mấy năm sau này kinh tế èo uột, chủ tàu cắt giảm phần ăn gần phân nửa và cuối năm công ty chuyển hàng gởi tặng chỉ có mấy tờ lịch quảng cáo hình ảnh của công ty, ngoài ra không có thứ gì ăn được và cũng chẳng có giọt rượu nào. Gõ xong đơn đặt hàng, tôi đọc lại thấy quá tiêu chuẩn qui định, có lẽ tôi phải bớt vài món nhưng còn phân vân chưa biết phải bỏ những món nào.
Tôi đứng dậy vươn vai và vói tay vẹt tấm màng khung cửa nhỏ, ngoài trời tuyết rơi nhẹ, chưa vào mùa đông mà đã trải qua hai cơn bão tuyết những bông tuyết li ti bám vào cửa kiếng, đọng bên thềm cửa và trải một lớp dầy trên boong sau làm tôi nhớ tới những ruộng muối trắng của miền Trung Việt Nam nước tôi. Nước nhiễu đóng băng tạo những hình thù ngồ ngộ, cái giống trái cà dái dê, cái như bầu rượu treo lòng thòng phía dưới những song sắt rào cản và phần khác giống sáp đèn cầy đun nóng chảy xuống đọng sau thành tàu trong suốt như pha lê. Nhìn cảnh vật và không gian ủ dột cũng đoán biết bên ngoài trời lạnh ghê gớm lắm, lòng tôi chùng theo cái lạnh tê tái của nước trời.
Tháng cuối năm ở Âu Châu là mùa ăn uống, biết tôi đặt hàng, mấy người đề nghị đặt thêm món này món nọ. Tên thợ máy mập như bò, hám ăn như heo, hắn kêu tôi đặt tôm thẻ hạng nhứt và loại thịt bò mềm làm món bít tết, hắn biết rất rõ chuyện hắn muốn không bao giờ xảy ra trong thời buổi kinh tế khó khăn này, tuy nhiên hắn ta vẫn đề nghị để khi nhận thực phẩm không có những thứ hắn yêu cầu thì dựa vào đó hắn ta xỏ xiên chọc ghẹo: “Ông sợ chủ tàu phá sản à!” Hoặc: “Bộ ông trả tiền hay sao mà hà tiện vậy”. Từ lâu tôi tập nhẫn nhịn nhờ gặp phải nhiều gương mặt khó ưa, nghe nhiều câu nói khó chịu lâu ngày tôi bớt đi tánh nóng. Hổng hiểu sao hôm nay tự dưng nó lởn vởn trong đầu mấy câu trêu chọc của tên thợ máy làm tôi suy nghĩ vẩn vơ.
Tôi nhớ tới những em nhỏ bươi rác kiếm ăn ở mấy nước nghèo, những người tàn tật và các em bán vé số ở quê hương tôi bận áo quần rách tả tơi, miệng gượng nở nụ cười mời người mua lấy vận may. Trong khi ở nơi đầy đủ mọi thứ, con người ta đòi hỏi nọ kia. Nghĩ tới lòng dạ tham lam của con người, tôi bực mình day trở lại bàn, khởi động lại laptop, gõ như trút giận lên bàn phím xóa hết những món đặt thêm cho tiệc tùng và những món tên thợ máy đề nghị, chừa lại gà tây, thỏ truyền thống và một thùng rượu nho trắng, một thùng rượu nho đỏ đúng theo qui định. Sửa xong đơn đặt hàng tôi thấy nhẹ người và quyết định từ đây về sau tên thợ máy hay bất cứ tên nào ọ ẹ nọ kia chuyện ăn uống tôi sẽ dạy cho hắn ta một bài học. Đúng vậy, sanh ra là con người một lẽ, có địa vị tốt, chức quyền cao cũng là một lẽ, nhưng sống cho ra con người thì cần phải học.
Hôm hai mươi lăm tháng mười hai tàu nằm trên biển Nam và phải vật lộn với sóng, gió cấp bảy, cấp tám. Hai ngày sau mới ghé vào Thuỵ Điển lên hàng, xuống hàng bận rộn tới ngày hai mươi tám tháng Chạp tàu ghé cảng Oslo, thủ đô Na Uy. Chiều hôm ấy thuyền trưởng kêu mọi người tụ lại phòng ăn, bia và nước ngọt để sẵn ra bàn, ai muốn gì thì tự lấy khui uống. Sau khi mọi người yên vị đâu đó thuyền trưởng cho biết tàu đậu lại đây được hai ngày, ông nói:
– Chúng ta ăn Giáng Sinh vào ngày mai.
Mọi người chịu quá hô rân và đưa chai lên cụng. Thấy mọi người vui quá, tôi cũng chen vào dí dỏm hỏi viên thuyền trưởng:
– Ngày Giáng Sinh qua rồi còn gọi là tiệc Giáng Sinh được sao?
– Hỏi rất hay.
Mọi người im lặng còn thuyền trưởng thì nheo nheo đôi mắt và bành cái mặt thịt ra suy nghĩ, trên tàu chỉ có thuyền trưởng, thợ máy và con nhỏ Mieke phụ máy hổng biết mấy người ăn gì mà mập quá cỡ, ba người gộp lại đem cân chắc được non nửa tấn. Cuối cùng thuyền trưởng cũng nghĩ ra, ông nhe răng cười hì và nói:
– Gọi là tiệc Merry Christmas and Happy New Year.
Mọi người cao hứng đưa bia cụng và hô lên:
– Ô…ô… Merry Christmas and Happy New Year!!!
Sau đó thuyền trưởng phân công, thủy thủ lau chùi trong tàu và dọn dẹp phòng ăn, thợ máy gắn lại bóng đèn. Ông day qua tôi:
– Bếp, ông biết làm sao rồi phải không?
– Yes sir.
Thuyền trưởng phân công xong, tôi về phòng ngủ sớm. Mấy người ngồi lai rai tán dóc tới khuya. Vậy mà sáng hôm sau tất cả vẫn thức đúng giờ, mặt mày người nào cũng tươi rói. Ăn sáng uống cà phê xong liền bắt tay vào việc.
Mấy hôm trước cây thông đã bị sóng vật ngã mấy lần, lá thông rụng gần hết chỉ còn một vài nhúm màu xanh bám vào nhánh khẳng khiu xám xịt, đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn mấy chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy, bóng tắc trông căn phòng ảm đạn thê lương. Khi cơn giông gió qua, lòng người phấn khởi, thủy thủ đứa dựng cây thông, đứa căng hoa giấy. Mieke trải khăn bàn, xếp ly, dọn dĩa, nĩa, dao và xếp giấy lau miệng, thợ máy lui cui gắn dây đèn, nhìn hai đống thịt của Mieke và tên thợ máy án chật phòng ăn thì thấy mấy người In Đô teo lại nhỏ xíu.
Tôi thức từ sáng sớm và làm mấy món cần thiết để sẵn. Trước thời kinh tế khó khăn, đầu bếp chỉ cần nấu những món chánh thôi, những món nhậu chỉ tháo bọc đem ra cắt miếng, sắp vào dĩa, trưng bày cho đẹp rồi dọn ra bàn. Mấy năm sau này đầu bếp phải tự chế biến thêm những món nhậu nên phải sắp sếp thực đơn. Fredy phụ tôi làm bếp, tôi chỉ nó cách xẻ đôi trứng gà, móc lòng đỏ để vô tô và để riêng phân nửa lòng trắng vô một tô khác, sau đó dầm nhuyễn tròng đỏ đem trộn ngò, chanh, tiêu, muối, đường, tỏi, mayonais… làm món trứng nhồi trứng. Tôi lấy chiếc mâm vuông dài một thước, ngang năm tấc, lót giấy nhôm lên, đưa cho Fredy và chỉ qua những món đồ tôi bày sẵn trong góc bếp, dặn:
– Mày lấy muỗng múc tròng đỏ trứng gà trộn trét vô lòng tròng trắng và trét patê lên bánh dòn, dưa chuột chua cuốn thịt nguội, phó mát ghim chung với khóm… xong rồi sắp mọi thứ vào mâm.
Giao việc cho nó xong, tôi day qua đút con gà tây vô lò nướng, sau đó lấy mấy trái cà tô mát cắt làm bông hồng, củ cà rốt tỉa hoa và xé lá xà lách để lát nữa trang trí mấy mâm đồ ăn. Có tiếng thợ máy kêu bên phòng ăn:
– Bếp! Qua đây coi.
Không hiểu sao nghe tiếng cái tên mập này là tôi bực mình, nhưng cũng bước qua coi thử chuyện gì. Trong ánh sáng mờ mờ, căn phòng rực rỡ nhiều màu sắc chớp chớp, nhá nhá, lóng la lóng lánh ánh kim tuyến vô cùng lộng lẫy. Mặt mày người nào cũng tươi rói, sự náo nức làm cho không khí trong phòng vui nhộn. Ngày thường tôi nhìn mặt thợ máy giống như mặt heo, hôm nay trông rất là người, lại là người đẹp nữa, lòng tôi dịu lại reo vui. Tôi đưa ngón tay cái ra gặt gặt:
– Ồ, đẹp quá.
Thợ máy hỏi:
– Được rồi phải không?
Tôi gật đầu:
– Quá được.
Mấy người trang hoàng phòng ăn xong, ai trở về phòng nấy. Trong tàu trở nên yên ắng và nghe rõ tiếng nhạc Giáng Sinh nho nhỏ phát ra từ hai chiếc loa bên phòng ăn. Tôi quay lại phòng bếp tiếp tục công viêc. Fredy thấy tôi bước vô nó khoe:
– Xong rồi còn gì nữa hông chú?
Tôi nhìn qua thấy nó sắp đồ trên mâm lộn xộn hết. Cười một cái, tôi đi lại bên nó, lấy từng món sắp lại món nào ra món nấy. Sắp xong tôi hỏi:
– Mày thấy sao?
– Ờ, trông đẹp hơn.
Tôi lấy lá sà lách và cái bông hồng đưa cho nó:
– Mày cắt cái rìa lá xà lách này viền chung quanh bìa mâm và để cái bông hồng bên góc là được rồi.
Thuyền trưởng đánh số trên mỗi gói quà và ghi số thăm trên miếng giấy trắng A4 cắt làm tư xếp lại bỏ vô lon, để lon thăm lên thùng quà, khệ nệ ôm xuống phòng ăn. Ngang qua phòng bếp thấy tôi với Fredy lục đục bên trong, ông bèn dừng lại, hai tay vịn chặt thùng quà, ưỡn cái bụng to ra kê cho thùng quà chìa vô phòng bếp, cười nói:
– Tui xong rồi nè, Bếp xong chưa?
Tôi ngước lên, thấy mặt thuyền trưởng vui như mặt ông địa, cười một cái, tôi nói:
– Sắp xong rồi, ông chuẩn bị khui rượu là vừa.
Thuyền trưởng vô phòng ăn hổng thấy ai, bèn nhấc điện thoại gọi từng người. Vài phút sau mọi người tụ tập hết vào phòng ăn cũng là lúc Fredy bưng mâm đồ nhắm để ra bàn. Trong lúc tôi lui cui trở và ghim thử con gà tây thì nghe tiếng thuyền trưởng gọi:
– Bếp! Ra đây mau.
– Ô kê, tôi ra liền.
Thử con gà thấy còn máu, bèn đóng cửa lò lại, đứng lên đi qua bồn rửa rửa tay và lau tay khô tôi mới bước qua phòng ăn. Vừa thấy tôi, thuyền trưởng liền cầm chai Champagne lên bật nút nổ cái bụp, rượu tràn có vòi, mọi người hô to và chìa ly ra hứng. Rót rượu cho mọi người xong, thuyền trưởng nói câu chúc mừng và nâng ly mời tất cả cùng cạn. Hết đợt champagne tôi và Fredy khui thêm rượu nho trắng và đỏ để ra bàn. Trong khi đó thuyền trưởng đưa lon thăm cho Mieke, nói:
– Đàn bà trước.
Mieke lấy một miếng thăm, kế tiếp ông đưa lon thăm cho tôi, tôi bốc một cái, sau đó lon thăm được chuyền tay cho mọi người và người cuối cùng là viên thuyền thưởng. Xong phần bốc thăm, tới lượt nhận quà, cũng bắt đầu từ Mieke, thăm số nào thì quà số nấy. Ai nhận quà thì mở liền ra cho mọi người xem, mỗi khi mở quà tiếng hô đồng loạt rân vang… Nhận quà xong mọi người tiếp tục ăn uống. Cụng ly vài ba đợt mâm đồ nhắm đã giựt hơn một nửa. Không khí vui nhộn, tiếng nói tiếng cười át cả tiếng nhạc phát ra từ hai cái loa bên góc phòng. Bình thường tôi không uống bia rượu, hôm ấy vui quá tôi cũng cụng ly với mọi người. Khi thức ăn trong mâm gần hết, tôi đứng lên đi vào bếp mở lò thăm con gà tây, gà cũng vừa chín tới, vặn tắt lửa và đóng cửa lò nướng lại. Tôi ra phòng ăn lấy chiếc mâm, trong mâm còn vài món đồ ăn, tôi đưa cho mỗi người một cái, mâm đồ ăn đã hết và tôi day ngang kêu Fredy theo tôi. Fredy theo tôi vô bếp, tôi đưa chiếc mâm cho nó và dặn:
– Mày thay giấy nhôm và trang trí lá sà lách, tô mát, dưa leo lên xung quanh mâm để lát đựng gà tây.
Fredy cầm chiếc mâm bắt đầu công việc, tôi day qua bật lửa lò hâm nóng lại món khoai tây xào thịt ba chỉ un khói và mở lò lấy gà tây ra chặt, sắp lên mâm. Gà tây đút lò, khoai tây xào ăn chung với xà lách trộn chua cũng không tệ lắm. Sắp xong mọi thứ đâu vô đó trông cũng bắt mắt, tôi với Fredy bưng hết ra để lên bàn và ngồi vào cùng ăn. Tiệc tùng từ lúc hơn mười một giờ sáng tới hơn hai giờ trưa, thức ăn trên bàn đã hết sạch, vậy mà mọi người vẫn tiếp tục cụng ly. Tôi với Fredy đứng lên dọn dẹp dao, nĩa, dĩa dơ bỏ vô máy rửa. Fredy hỏi:
– Còn gì nữa không chú.
– Cái gì nữa?
– Đồ nhậu.
– À, cái đó hả, có phó mát, salami, bánh phòng tôm, khoai tây dòn… thiếu gì trong kho.
– Mấy năm trước con thấy chú làm thức ăn nhiều lắm.
– Chậc, kinh tế khó khăn…. Ờ mà… tao thấy kinh tế khủng hoảng vậy mà hay.
– Hay sao chú?
– Thì cho con người ta bớt tiêu xài, sống thiêu thiếu một chút mới thấy được giá trị cuộc sống.
– À há…
– Dù sao giảm bớt phần ăn còn hơn là nấu nướng cả đống ăn hổng hết rồi đem đổ.
– Con cũng thấy vậy đó chú.
Tôi bước qua ra phòng ăn hỏi mọi người muốn ăn gì thêm không. Mọi người ưỡn cái bụng ra xoa xoa nói.
– No rồi.
Thợ máy cầm con chuột vi tính đưa qua cho tôi:
– Cho ông đó.
Tôi lưỡng lự:
– Quà Giáng Sinh của mày mà.
– Nhưng tui có rồi, ông chưa có.
Thiệt ra thì tôi cũng có con chuột vi tính nhưng vì không thích rườm rà nên không xài đó thôi. Thấy hắn ta nhiệt tình tôi hổng nỡ từ chối, chỉ còn cách đưa tay lấy con chuột, nói:
– Cám ơn nhiều.
Phần quà thuyền trưởng là cái khăn choàng cổ, ông cũng cho tôi luôn. Nhận thêm hai phần quà, tôi day qua hỏi mọi người lần nữa:
– Ăn thêm gì không?
Mọi người nói không. Thợ máy xoa xoa cái bụng nước lèo của hắn:
– Đi chung với ông tui mập thêm dìa nhà bà xã rầy.
Thuyền trưởng nói:
– Ông đi nghỉ được rồi phần dọn dẹp để đó.
Day qua mấy người ngồi cùng bàn ông nói:
– Lát nữa xong mấy ông thanh toán phần còn lại.
Tiếng hô vui vẻ của mọi người:
– Ô kê…
Tôi trở qua phòng bếp, thấy Fredy đứng xớ rớ. Tôi nói với nó:
– Mày ra ngồi chơi với mọi người, xong chuyện có mấy người phụ mày dọn dẹp, tao đi nghỉ đây.
Nó dợm bước ra ngoài. Tôi kêu lại và đưa hai món quà vừa nhận của thợ máy và thuyền trưởng lên, nói:
– Tao để hai cái này trong góc bàn, cho mày đó.
– Nhưng.
Tôi khoát tay nói như ra lịnh:
– Ra ngoài chơi đi, không nhưng gì hết, hai cái này là của mày.
– Cám ơn chú.
Vô phòng tắm rửa thay quần áo xong, thấy trong người khoẻ khoắn. Tôi lên giường nằm định đánh một giấc, chợt nhiên trong lòng áy náy bồn chồn không ngủ được. Cách đây mấy ngày, tôi còn nghĩ rằng những con người thật sự, từ ngàn xưa cho tới ngày nay, họ xem nhẹ chuyện ăn uống, không bao giờ vì miếng ăn mà nói ra những lời thô tục. Cũng vì lẻ đó mà hôm xuống hàng thấy thợ máy tới dòm dòm, tôi chờ cho hắn cất tiếng soi mói bậy bạ tôi sẽ cho hắn một bài học. Nhưng suốt buổi hổng thấy hắn ta nói gì, tôi bèn gợi chuyện:
– Hổng có tôm thẻ và bò bít tết cho mày đâu.
Hắn cười:
– Tui biết, tui đặt phụ tùng và đồ đạc dưới hầm máy, công ty đưa xuống có đủ đâu, thời buổi kinh tế khó khăn phải chịu thôi.
Từ đó về sau tôi nhờ gì hắn làm nấy, lúc nào hắn cũng vô tư nói cười vui vẻ làm cho tôi mất cơ hội dạy đời. Tôi ngồi dậy bước xuống giường đi lại vẹt tấm màn cửa, nhìn ra bên ngoài, từng mảnh tuyết nhỏ như bông gòn nhẹ nhàng rơi, tất cả tự nhiên và yên bình quá. Cũng như cuộc sống, tự nó đã im ả như những bông tuyết nhẹ rơi. Lòng tôi chợt nhiên e thẹn, nhớ tới truyện hai viên gạch nằm xéo trên một bức tường và truyện một chấm mực đen trên tờ giấy trắng, tôi đã đọc qua rất nhiều lần, cả hai truyện rất đơn giản nhưng ý nghĩa bao la, xem ra cho tới ngày nay tôi vẫn chưa học thuộc. Ấy vậy mà lúc nào tôi cũng vạch lá tìm sâu và rình rập muốn lên lớp để dạy đời người khác.
Tôi xuống ga Nha Trang vào buổi sáng. Màu trời xám đục. Lất phất mưa. Tôi ôm gói quần áo, co ro đứng đưới hiên ga. Bên kia sân ga, công viên có những cây me già buồn rũ trong mưa. Mưa ở đây rất lạ. Mưa nhẹ như sương. Mưa mù mù như bụi. Mưa hoài không tạnh. Mưa như có, như không. Mưa ri rả, sầu héo ruột gan. Tôi đứng chờ thật lâu. Đồng hồ trong ga chỉ mười giờ, Trời vẫn còn mưa. Lòng tôi nôn nao muốn đi coi biển, Tôi nghĩ, biển lạ lùng như một kỳ quan vĩ đại của trần gian. Tôi vào phòng đợi, lượm được tấm nylon che đậy hàng hóa của ai đó bỏ lại. Tôi choàng lên vai, ôm gói quần áo, đầu trần ra đi. Tôi đi trên đường phố. Hai bên nhà cửa cũ kỹ. Mái ngói âm dượng rêu xám, Tường vôi trắng cũ mốc. Cảm giác buồn thiu như màu bênh viện. Những hiệu buôn lớn, không ồn ào tấp nập. Người ở đây không vội vã. Họ bình lặng, với một chút thờ ơ trong mắt. Không ai biết tôi là kè lạ. Tôi vừa đi vừa nhìn. Sau này, tôi biết con đường tôi đi lần đầu tiên ấy, là đường Độc Lập, nối dài Phan Bội Châu. Tôi đến một khu chợ. Chợ rất rộng, nhưng che bằng những mái tôn thấp lè tè, lụp xụp. Trong chợ ẩm thấp. Lối đi nhớp nháp, đen sì. Cũng sau này, tôi hiết đó là Chợ Đầm.
Tôi hỏi thăm đường ra biển. Tôi đi với nổi háo hức của người đi tìm một ước mơ kỳ thú. Khi tôi nhìn thấy tấm bang Bưu Điện, đồng thời cũng nghe tiếng ì ào. Đoán chừng là tiếng của đoàn xe đang chạy phía trước. Tôi đứng ở Bưu Điện, chờ đoàn xe qua. Chờ mãi. Tiếng ì ào vẫn tiếp nối. Tôi bước tới, coi đoàn xe dài thế nào mà chạy hoài không đứt. Tôi bước tới, và bất ngờ, tôi thấy biển. Biển rộng mù khơi, ngoài sức tưởng tượng của tôi. Mưa bụi bay đầy trời. Biển và trời cùng một màu xảm đục liền nhau. Hồn tôi lao đao choáng ngộp trước cảnh bao la trời nước. Nhớ lại lần đầu nhìn thấy con sông Vàm Cò Đông. Tôi ngạc nhiên, không ngờ trên mặt đất lại có một nơi chứa nhiều nước đến thế. Bây giờ đột ngột thấy biển, tôi chưa kịp ngạc nhiên, sự sợ hãi đã ủa chụp lấy tôi. Mùa biển dộng, từng đợt sóng lớn nhô lên từ ngoài khơi chạy vào, như con quái vật khổng lồ há miệng táp xuống một cách kinh dị. Hóa ra tiếng ì ào mà tôi tưởng tiếng động của đoàn xe, là tiếng sóng đập vàn bờ. Thiên nhiên dữ dội và mênh mông quá. Tôi cảm thấy mình nhỏ nhoi yếu đuối. Tôi nép vào gốc cây tre, run rẩy xác xơ vì gió. Bờ hiển vắng tanh. Tôi bơ vơ, nghĩ đến thân phận tứ cố vộ thân của mình. Mưa bay tràn lên mặt. Trong phút chốc, cành vật nhòa đi. Dường như có chút nước mắt hòa cùng nước mưa. Tôi trở lại khu Chợ Đầm. Ăn hai gói xôi bắp vào chiều tối. Đêm đó, tôi ngủ trên sạp vải ở chợ. Gối dầu lên gói quầnắáo, đắp mình bằng tấm nylon. Nữa đêm lạnh quá, tôi trở dậy mặc thêm hai bộ đồ nữa. Vì ngủ sạp vải, tôi quen với người dàn ông quét chợ, và trông coi khu vực hàng hóa còn để lại qua đêm trong những cái thùng có khóa đưới sap. Mới dầu, ông ta không cho tôi ngù ở dây. Tôi năn nì, và bịa chuyện rằng tôi mồ cội cha mẹ, phải bỏ quê lên tỉnh thành kiếm ăn. Chuyện bịa làm ông động lòng, chấp nhận cho tôi ngủ trên sạp vải mà không làm khó đễ. Để lấy cảm tình, tôi phụ việc với ông sau khi tan buổi chợ chiều. Công việc chẳng có gì nặng nhọc. Quét dọn rác rến trong chợ, cho lên cái xe hai càng và mang đi đổ. Có khi ông tặng tôi cái bánh, hoặc bao tôi ly nước đá, gọi là trả công. Do gần gũi, tội hiết ông tên là Bốn Cọp, quê ở Bình Định. Ông vào Nha Trang đạp xích lô, chiều tối còn làm thêm công việc như tôi đã phụ. Ông nói, bon nhà giau, và quyền thể đều bất nhân. Tôi không nghĩ thế, tôi chỉ thấy họ ích kỳ. Ông lại nói, chế độ này là độc tài thối nát. Tôi không hiểu ý nghĩa độc tài thối nát ra sao, chỉ thấy nhân viên công lực giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Ông bảo, cần phải làm cách mạng, san bằng mọi bất công, đem lại cơm no áo ấm cho mọi người, bản than tôi cũng được hưởng điều đó. Tôi hỏi, làm cách mạng là làm sao? Ông giải thích, kháng chiến chống lại bọn cầm quyền. Toi hỏi, người ta có sức mạnh của súng đạn, kẻ tay không. chống sao được? Ông bảo, kháng chiến cũng có súng đạn và đề nghị dẫn tôi về Bình Định cho tôi làm cách mạng. Tôi nói, tôi không biết bắn súng. Ông nói, người ta sẽ phân công tác nào thích hợp với tôi. Ông cho tôi quyết định. Tôi phân vân mãi. Mấy ngày sau, tôi từ chối đi Bình Định, Ông hỏi, tôi có yêu tổ quốc không? Tổ quốc là điều gì trừu tượng, không gợi trong tôi một tha thiết nào cả. Tôi trả lời, không, Ông hỏi, tôi có thương nhân dân không? Nhân dân là người đời, mà người đời ai cũng thờ ơ lạnh nhạt với tôi. Làm sao tôi thương được những người như thế. Tôi cũng trả loi, không. Thế là ông Bốn Cọp chửi tôi là đứa trôi sông lạc chợ. Lòng dạ gỗ đá, chẳng biết thương ai. Lớn lên chỉ làm sâu mọt đục khoét xã hội mà thôi. Và ông thẳng thừng tuyên bố đứt khoát, không cho tôi tiếp tục ngủ trên sạp vãi. Sự xua đuổi của ông. cũng vừa đúng lúc tôi có một nơi khác trú ngu an toàn.
Trong những ngày quen ông Bốn Cọp, tôi cũng quen với những thằng bui đời. Tụi nó bán cà rem và rủ tôi cùng bán cà rem. Tôi nghĩ, cà rem rất khó bán vào mùa mưa, Vì thế, tôi bán bong bóng và đồ chơi trẻ con. Khỏi cạnh tranh nghề nghiệp. Tôi không rành đường ở Nha Trang, nên chọn một thằng hiền lành nhất, đi chung với tôi. Nó bán cà rem, tôi bán đồ chơi. Tôi mua thêm cây kèn bằng nhựa có những nút bấm, thổi tò ti te gây sự chú ý. Tiếng kèn có cái ma lực làm trẻ con gióng lổ tai nghe ngóng, giương dôi mắt kiếm tìm nơi phát xuất. Tiếng kèn dụ chúng bu lại. Có đứa muốn mua cây “kèn thần” của tôi. Gặp trường hợp này, tôi bán rất đươc giá. Tiền lời bán đồ chơi, đủ ăn một ngày hai bữa ở quán cơm xã hội. Số tiền có được khi rời khỏi gia đình, tôi giấu rất kỷ, phòng khi bất trắc ốm đau.
Những buổi trưa, mấy thằng bụi đời tụ lại bên hông Chợ Đầm, hút thuốc lá, chơi bài và đánh bi ăn tiền. Cùng một hoàn cảnh lây lất trên hè phố, nhưng tụi nó sát phạt nhau rất dữ. Có thằng cháy túi, phải vay nợ của thằng khác để thế chân muớn bình cà rem. Dù sao, tôi cũng không thể là bạn thân của những thằng này được. Lắm lúc tụi nó tỏ ra tinh ranh và chửi thể không ngượng miệng. Hầu hết đều có tính ăn cắp vặt. Vài thằng còn kiêm cái nghề móc túi ở những chỗ chen lấn đông người. Tôi nhớ những thằng bạn chăn trâu chăn bò ở quê nhà. Bạn tôi hiền lành chất phác, chứ đâu tinh quái như tụi này. Khi chúng chơi bài, tôi lân la vào sạp vải, nơi tôi ngủ hàng đêm. Tôi quen với bà chủ sạp, bởi mỗi sáng tôi hay giúp bà sắp vãi lên sạp. Bà là người Huế. Tôi gọi là bác Huế. Đôi khi, bà mời tôi cùng ăn cơm trưa. do một đứa bé gái đem tới. Bà cho biết nó là con của bà. Con bé có đôi mắt lúc nào cũng như ngạc nhiên và cái miệng cười mỉm mỉm như chế nhạo. Tôi kể với bà về những buồn vui trong nghề bán dạo bong bóng, đồ chơi. Tôi nói, kèn của thầy Ấn Độ dụ rắn, kèn của tôi dụ trẻ con. Chuyện tầm phào như thế, cũng làm bà cười thú vị. Ăn xong, tôi mau mắn đem cặp cà mèng đi rửa.
Không quên để lại gói quần áo làm vật thế chân, như một bảo đảm rằng tôi sẽ trở lại.
Một hôm bà hỏi: “Quê con ở mô?”
Tôi nói: “Tây Ninh.”
“Tây Ninh là ở mô?”
“Con cùng không biết. Chỉ biết từ đây đi Sài Gòn. từ Sài Gòn phải di thêm sáu mươi cây số, là tới quê con.”
“Xa dữ rứa à? Răng con không ở với gia đình?”
Tôi dâu ngu dại gì mà nói thật lý do của sự ra đi, Tôi bịa ra một hoàn cảnh thương tâm, gợi lòng trắc ẩn. Đó là kinh nghiệm sống sau những ngày rời khỏi gia đình. Kinh nghiệm nói dối. Trong thâm sâu của sự khổ nhục dối trả, nó thể hiện sự ăn mày tình thương xã hội. Tôi nói: “Má con mất. Ba con lấy vợ kế. Nghe lời vợ kế, đánh đuổi con đi.”
Bà chắc lưỡi xót xa: “Đàn ông thời mô cũng tệ bạc! Khi còn me, con có đi học không?”
“Dạ, có.”
“Lớp mấy?”
“Đang học đệ ngũ thì bỏ dỡ nửa chừng.”
Hôm sau, bà gọi tôi lai. Bà nói đã bàn với chồng về trường hợp của tôi. Vợ chồng bà đều đồng ý đùm bọc, nuôi cho tôi đi bc. Và tôi sẽ kiểm soát bài vỡ, dạy kèm thêm cho hai con bé của bà.
Ngã tư Xóm Gà là chỗ gặp nhau của hai con đường Ngô Tùng Châu Gia Định và Lê Quang Định. Từ Ngô Tùng Châu lên nữa sẽ đến ngã ba Cây Thị. Trước khi đến ngã ba, bạn sẽ thấy bên trái một bảng hiệu to tướng “Xưởng Hóa Chất 5” chiếm nguyên cả bề rộng của con hẻm. Bảng hiệu ngoài đường nhưng xưởng thì nằm sâu vào trong xa, lọt thỏm giữa một xóm nhà có con đường chạy vòng theo vách tường của xưởng. Đây là con đường cụt, những tay cướp giật khi bị đuổi nà, chạy bừa vào đây, hi vọng giống như xóm Bàn Cờ hay trong Chợ Lớn, chạy riết sẽ ra đường cái, nào dè chạy đến cuối đường lại là nhà của người ta. Chủ nhà quá kinh nghiệm, đã làm đúng nghĩa “Kín cổng cao tường” Phía trên lại rào kẽm gai, cho nên dù võ công cao cường như trong truyện tàu cũng đành chưởi thề, đưa tay vào còng. Thỉnh thoảng cứ nửa đêm về sáng, hễ nghe tiếng xe gắn máy hoặc tiếng chạy rầm rập, tiếng hò hét, đấm đá thình thịch của công an là cả xóm bật dậy, mở đèn trước nhà để xem mặt kẻ sa cơ. Gọi là xưởng hóa chất chứ thực ra trước đây là xưởng làm nước đá. Sau năm 75, chủ bỏ chạy ra nước ngoài, nó thành của nhà nước. Mấy tay bên đảng ủy thích dao to búa lớn, mới tương cái bảng “Xưởng Hóa Chất 5″, ra điều ta đây làm khoa học kỹ thuật chứ không phải làm nước đá. Nhưng làm gì, sản xuất gì cũng mất vốn dần. Cách làm kinh tế chắc ăn nhất là cho mướn xưởng, có tiền bỏ túi dài dài mà khỏi quản lý, kiểm tra vất vả. Một tay tàu Chợ Lớn, nhân cái bảng hiệu đó, dựa hơi nhà nước mới sản xuất xà bông, nước amoniac tức là “nước đái quỉ” và sản xuất cả oxyt kẽm nữa.
Từ khi chú chệt nhúng tay vào thì cái xưởng, ngày cũng như đêm, cứ náo loạn cả lên. Bất cứ cái khoa học kỹ thuật nào, đã vào tay mấy chú ba tàu đều thành khoa học thủ công hết trọi. Đơn sơ nhưng kết quả không thua gì máy móc miễn đừng nói đến chất lượng sản phẩm. Muốn sản xuất xà bông? Dễ ợt! Cái thùng phuy cắt đầu để trên ba cục gạch lớn, đốt lửa lên, đổ dầu dừa, nước xút, nước muối vào, vừa nấu vừa đảo một lát, khiêng thùng phuy ra, đổ vào các thùng nhỏ, để nguội rồi cắt, dập vào khuôn. Đó là xà bông. Sản xuất amoniac lại càng dễ hơn. Cứ vôi với nước lạnh bỏ vô một thùng to tổ bố, dưới đốt lửa. Hơi bốc ra được đưa qua các ống giải nhiệt, kiểu như mình chưng cất rượu. Thứ nước nồng nồng đó gọi là amoniac hay “nước đái quỉ” Chú ba tàu nầy chả hề học trường nào, không biết phản ứng hóa học là gì, cũng chẳng biết gì về Kinh Tế Học, nhưng hàng của chú, sản xuất đến đâu khách giành mua đến đó. Chú thu tiền vô như nước, nhưng chi ra thì giống con voi đau bịnh kiết lị. Chú chỉ có một công thức là vắt kiệt sức công nhân và giữ bí mật nghề nghiệp. Chú giữ cũng phải vì muốn biết những cái đơn giản đó, chú đã tốn bao nhiêu công, của để học hỏi, đâu cứ giở sách ra là làm được, lại phải có máy móc kiểm tra, đo lường phân tích nữa. Ở đây, máy đó là cặp mắt và bàn tay. Nhiệm vụ của công nhân là cắm đầu đảo – giống người ta đua thuyền, nhưng lại chèo trong một cái thùng phi – Thỉnh thoảng chú đến dùng mãnh gỗ nhỏ quẹt cái chất đang sôi sùng sục đó, nhúng vào nước lạnh, xong lấy tay bóp bóp, nghiêng ngó một lát rồi ra lịnh thêm vá muối, gáo nước hoặc xút vào. Nói đúng ra, xưởng cũng có một cái máy duy nhất là máy đo áp xuất của nồi amoniac, để canh chừng nếu sôi quá độ, nực hơi, nó sẽ nổ như quả bom. Việc làm ăn đang phát đạt, đùng một cái, chú được công an phường mời lên làm việc. Nguyên do là thứ nước đái quỉ – amoniac – của chú bay khắp xóm, không ai chịu nổi bèn đi thưa. Chú lên công an phường rồi về cưới hề hề “Không xao lâu, ngộ lo cả dzồi, cứ làm li!” Nhưng ít lâu sau lại đến công an quận, rồi ủy ban quận gọi. Họ đưa cái đơn của dân trong xóm thưa cho chú coi. Cơ quan nhà nước là phải lo cho dân, nên lúc đầu các đồng chí la hét om sòm, coi bộ còn tức giận hơn cả các nạn nhân nữa. Nhưng chú ba nhà ta vẫn tỉnh bơ, chú gặp màn nầy nhiều lần rồi và chú biết mình phải làm gì. Chỉ cần móc tiền ra đút lót rồi về xưởng chú có nấu thuốc độc cho cả xóm chết hết cũng chẳng có ai hoạnh họe gì. Cho nên sau khi chung đủ cái hụi chết đó chú được phán một câu “Chính quyền sẽ đả thông cho đồng bào rõ, nhưng anh cũng đừng ỷ lại vào nhà nước mà làm quá. Đây là bà Tư đứng đầu đơn thưa anh, anh phải đến thông cảm với bà ấy vài tiếng” Chú về nghiên cứu đối phương trước khi gặp mặt. Đó là bà Tư Cầu Muối. Trong xóm có nhiều bà Tư, bà nầy buôn bán ở chợ Cầu Muối nên có tên đó. Người bà cao, to, mập tròn, mặt mũi dữ dằn, giọng nói rổn rảng. Bà có chồng và hai cô con gái. Ông chồng đã chết được vài năm rồi. Ai cũng mừng cho ông ta thoát khỏi tay người bạn đời dữ hơn cọp cái. Nhưng bà lại buồn vì không còn ai để hành hạ, chửi mắng nữa. Bà buồn nên sinh bịnh. Bịnh phải đến bác sĩ. Bác sĩ khám bảo bà bị tăng xông. Chú ba nhà ta gõ cửa nhà bà Tư gọi là thăm xã giao. Vừa mở cửa, thấy chú ba, bà xạm mặt lại, mắt long lên như con mèo nhe răng gầm gừ. Nhưng chú vẫn cười hề hề:
– Chào pà chủ. Ngộ tến thăm pà chủ, piếu pà chủ ít tà tung cúc, ún chửa pịnh tăng xon hay lắm à, quí lắm à. Khôn có pán ngoài chợ lâu. Nghe nói chữa bệnh tăng xông hay lắm, con mèo hết nhe răng, nhưng vẫn cảnh giác:
– Ông đến có chuyện chi không? Mời ông vô nhà. Chú để gói trà bự trên bàn và bắt đầu vòng vo tam quốc. Đại ý là chú chỉ làm gia công cho nhà nước, nghĩa là chú không phải là chủ. Mùi hóa chất đó khó chịu một chút nhưng không sao, có khi hít vô còn khỏe người nữa. Bà Tư chỉ tử tế với một hạng người, đó là khách hàng của bà, nhưng đây, thấy gói trà trị tăng xông, bà tưởng như thuốc tiên nên không nghe bà nạt nộ, la lối gì. Bà dẫn chú ba lên lầu rồi đưa chú ra ban công:
– Ông đứng đây, hít thử xem ông có chịu nổi cái mùi chất gì đó của ông không? Tôi đi suốt ngày, chỉ buổi sáng, buổi chiều ra đây đứng hóng mát một chút cũng không xong. Mấy chậu bông, ớt kiểng cũng chịu không thấu. Trước đây nó đâu có xác xơ như thế nầy. Chú ba cứ dạ luôn miệng:
– Dạ, dạ, tể ngộ piểu tụi ló lấu khi pà chủ khôn có ở dà. Còn mấy chậu pông, chậu ớt kẻn lầy, ngộ thay cái khác tẹp hơn.
– Mà ông có biết mùi ông đang hít là mùi gì không?
– Mùi a mô nắc lớ.
– Nắc lớ là mùi gì?
– Lước lái quỉ lớ.
– Ờ, nước đái quỉ, ông đứng sát ngoài nầy một chút, nhìn xuống xưởng của ông xem. Đó! Chỗ góc tường đó.
Vũng nước đái của mấy con quỉ của xưởng ông, ngày nào cũng ra đó đái. Hôi nồng nực, có ai mà chịu thấu!
– Thôi chết cha ngộ dồi, tể ngộ chửi chết cha tụi ló. Có cầu tiêu không lái, lái pậy pạ.
Nhà bà Tư cách vách tường của xưởng bằng con hẻm nhỏ, chỉ vừa cho hai xe gắn máy tránh nhau. Nhà xây theo kiểu ăn gian, cái ban công lồi ra ngoài, như mái che con đường. Từ trên ban công nhìn xuống phía xưởng hóa chất, con kiến không thấy, nhưng lớn hơn một chút thấy rõ ràng. Dĩ nhiên đứng ngoài đường thì chịu vì bức tường cao quá đầu người. Nguyên từ khi bị bịnh tăng xông, bà Tư đi hỏi thăm khắp nơi, ai chỉ gì cũng ăn, bảo gì cũng làm. Có người bày cho bà luyện “Dịch Cân Kinh”, nghĩa là đứng thẳng, hai tay đong đưa giống quả lắc đồng hồ. Sáng ngủ dậy, đong đưa một lát, chiều về đong đưa, tối trước khi đi ngủ cũng vậy. Một buổi chiều, đang đứng đong đưa hai tay, bà nghe tiếng cãi cọ, bèn dòm xuống thì thấy mấy cậu thanh niên ở trần trùng trục đang kéo quần xịt vòi vào vách. Nói nôm na là đang đái vào vách. Nhìn thấy nguyên con các cậu công nhân, bà Tư choáng váng, ngất ngây cả người, trống ngực bà đánh như trống trận, chân tay cứ run lên. Cũng may nhờ mấy chậu bông kiểng che nên dù có nhìn lên các cậu cũng không thể phát giác ra bà. Thế là từ đó, chiều nào, chưa tan chợ bà đã hối hả dọn hàng, về nhà chờ mấy con quỉ kia xịt vòi vào vách. Bà không luyện “Dịch Cân Kinh” nữa. Bà bắt một chiếc ghế dựa ngồi đọc sách. Tuy nhìn vào sách nhưng mắt bà liếc chừng về phía vách tường. Đến chiều, khi công nhân chuẩn bị ra về và cuốn phim sống động bắt đầu thì bà lấy quyển sách che mặt, chỉ chừa cặp mắt, ngồi im lặng, không thở, nhìn không nháy mắt. Bà giống con mèo đang rình mồi. Thực tâm, có lúc bà cũng muốn thành con mèo, nhảy xuống chộp hết bầy chuột dưới kia nhai ngấu nghiến. Ôi, những con chuột đẹp đẽ, thơm ngon! …
Không hiểu thời gian thần tiên của bà kéo dài bao lâu, chỉ biết càng ngày bà càng trở nên vui vẻ, dễ tính với mọi người. Bà cười nói luôn miệng. Bà giống như đóa hoa nở rộ. Da bà căng, hồng hào, mắt bà long lanh.
Người ta ngạc nhiên khi thấy bà Tư hồi xuân một cách bất ngờ như thế. Thật vậy, đối với bà, mỗi buổi chiều là cả một mùa Xuân, cả đến trong giấc ngủ, mùa Xuân cũng hiện về, dĩ nhiên trong giấc mơ bà là con mèo đang đùa vui với bầy chuột ngon lành đó. Nhiều buổi chiều, ngồi rình xem không biết mấy con chuột người kia có gì thay đổi không mà bà sướng đến lịm cả người. Một hôm tình cờ bà đi bác sĩ vì bị đau đầu, uống thuốc hoài không hết. Bác sĩ khám bà. Bắt mạch, đo tang xông rồi bác sĩ phán một câu “Tôi không hiểu sao, tang xông bà cao như thế nầy mà bà còn sống được? Tôi phải cho bà uống thuốc tức khắc, nếu không có thể bà chết ngay tại đây. Khi có thuốc rồi bà cũng phải giữ cho đầu óc thanh thản, tránh những chuyện có thể gây xúc động. Vui quá, buồn quá cũng không được, tránh ăn mặn, đừng ăn nhiều thịt mỡ. Tình trạng của bà rất nguy hiểm. Bà phải nghe lời tôi. Đây là toa thuốc, đây là lời dặn bà phải theo, kể cả chuyện ăn uống nữa” Nghe bác sĩ nói, bà đâm sợ hãi. Bà suy nghĩ để tìm xem những gì làm bà buồn? Không có! Làm bà vui? Có chứ ! Chiều nào bà cũng vui vì bọn thanh niên bên xưởng hóa chất ra trình diễn “thời trang” cho bà xem. Thôi chết, đúng rồi! Nguy thật! Biết đâu, một ngày nào đó, đang rập rình dòm ngó, người bà sẽ nóng lên, tim đập nhanh hơn, chân tay đang run rẩy trong khoái cảm. Bỗng “Bựt” một cái, mạch máu não đứt bung ra. Thế là bà chết, ít ra cũng liệt nửa người, nằm một chỗ. Đâu có khác gì chết, còn đau khổ hơn nhiều. Thôi, chi bằng từ giã thú vui hấp dẫn nhưng nguy hiểm đó. Nhưng từ giã cách nào trong khi bọn người ngợm cứ lồ lộ ra đó? Bà không muốn mà chân bà vẫn bước tới, người bà vẫn thập thò sau chậu cây cảnh, mắt vẫn mở thao láo ra mà nhìn và quả tim hồi xuân của bà thì đập loạn xị lên? Mà cứ nhìn và tưởng tượng thôi, chẳng tiến lên hiện thực, cũng đủ tức mà chết rồi!.. Cuối cùng bà đành đi thưa cho cái xưởng dẹp quách việc sản xuất, nhưng không được nên bà mới bảo chú ba không cho bọn trẻ phóng uế chỗ vách tường nữa. Nhưng từ khi cái vách được sạch sẽ thì bà Tư lại buồn. Bà nhớ nhung, thẫn thờ như người thất tình. Mỗi buổi chiều, bà vẫn đong đưa hai tay một cách vô tri, tất cả tâm trí bà đều hướng về bên kia bức tường, giống như dàn ra-đa cứ quét qua, quét lại mà vẫn không bắt được một tín hiệu nào khả dĩ làm bà vui. Bọn công nhân vẫn cười nói, hò hét, chộn rộn bên kia xưởng. Chúng như đông hơn nhưng góc tường vắng vẻ, bà vẫn thấy vắng vẻ. Người ta bảo thời gian là liều thuốc chữa bao người bị tâm bịnh rất thần hiệu. Đối với bà Tư cũng thế, lâu dần bà cũng nguôi ngoai. Vả lại xưởng của chú ba ngày càng vắng, có những chiều đi làm về, bà Tư nhìn qua xưởng chẳng thấy ai cả. Chẳng phải việc làm ăn củachú thua lỗ mà đó là mánh của chú để tránh chuyện thuế má. Gì chứ thuế thì nhà nước đặc biệt quan tâm, thu càng nhiều càng tốt. Nhưng cũng giống như bao chú ba tàu Chợ Lớn khác, chú chẳng phải đóng xu teng nào về thuế mà vẫn làm ăn ỳ xèo. Theo nguyên tắc, sau khi có giấy phép làm ăn, ba tháng đầu có quyền khai lỗ vốn nên khỏi đóng thuế. Sau ba tháng, nhà nước mới cho nhân viên đến ăn dầm nằm dề để nắm vững số lượng mua bán và tính thuế. Đến giai đoạn đó, chú ba khai sập tiệm trả giấy phép và bán cơ sở hành nghề lại cho một chú ba khác, trên thực tế chú vẫn là chủ, nhưng người khác đứng tên. Cái vòng sang tên nầy tái diễn mỗi chu kỳ là ba, bốn tháng. Nhà nước thất thu nhưng nhân viên thuế vẫn tiếp tục thu, tuy ít hơn, và bỏ túi riêng. Dĩ nhiên được lợi như thế thì sở thuế quận phải tận tâm giúp đỡ chú trong mọi thủ tục. Cho nên ít lâu nay chú tạm ngưng sản xuất, chờ làm giấy phép mới, chỉ lò amoniac nổi lửa cầm chừng, không để ông táo lạnh, không tốt, theo như người Tàu tin tưởng. Phụ trách lò là Phú, một cậu thanh niên mới tuyển. Nhiệm vụ của cậu là dòm chừng cái máy đo áp suất, nếu nó cao quá thì bớt lửa, thấp thì thêm củi vào, đơn giản như thế nên cậu không biết dùng thì giờ làm gì, hết đọc báo đến nghe nhạc rồi ngủ gật. Nguyên cậu là học sinh trung học, học giỏi có tiếng nhưng thi vào đại học, cậu bị đánh rớt vì lý lịch. Muốn thi, cứ đóng tiền ghi tên, nhưng chẳng bao giờ đậu cả. Cậu là con sĩ quan ngụy, bị loại là đương nhiên, như ngày xưa đi thi làm bài bị phạm húy vậy.
Chiều nay xong việc, dẹp lò, cất vào kho các dụng cụ, cậu Phú chuẩn bị tắm rửa để ra về. Cũng giống như bao cậu thanh niên vô tư khác, xưởng vắng vẻ, một mình một cõi, cậu Phú thản nhiên kéo quần, vạch vòi cho vào vách. Cậu không ngờ trên sân thuợng cách cậu khoảng bốn mét có một cặp mắt đang sững sờ nhìn cậu. Không phải cặp mắt của bà Tư mà là cặp mắt của cô cháu bà, cô Lan. Mẹ cô sai cô đến gặp dì cô là bà Tư có công chuyện nhưng bà Tư chưa về, chỉ có cô con gái đang ngủ trong phòng. Trong lúc chờ đợi, cô Lan ra ngồi ngắm nghía mấy chậu bông, chậu ớt kiểng. Đây là những chậu cảnh đẹp nhất do chú ba “bồi thường chiến tranh” thời còn thưa gửi kiện cáo nhau. Cũng may nhờ mấy cành hoa che giấu, vả lại cậu Phú cũng đang mơ màng nên chẳng thấy gì … Xong từ lâu mà cậu vẫn đứngnhư thế, thỉnh thoảng lại nhíu mày, gật gù rồi cười như người bị bịnh tâm thần. Cô Lan ngồi chết trân, không dám nháy mắt, không dám cục cựa. Cô sợ chỉ một cử động nhỏ là thằng con trai đang đứng kia biết liền. Hắn không cần la lên mà chỉ cười ruồi với cô một cái là cô chỉ còn nước chui xuống đất mới hết xấu hổ. Tình ngay lý gian, ai đời con gái đi rình coi con trai tè bao giờ! Người cô run lên vì mắc cỡ, vì sợ hãi và cũng vì bất ngờ được thấy cả một tòa thiên nhiên. Đời cô trong trắng, tâm hồn cô trong trắng, trắng hơn cả tờ giấy trắng, đột nhiên hình ảnh thiên thần đó in vào, rõ ràng, sinh động như chạm trổ vào trí óc, vào cả quả tim ngây thơ của cô. Cậu Phú ở trần đẫm mồ hôi, da cậu trắng nâu, người cao ráo. Cậu không giống một lực sĩ vai u thịt bắp, nhưng người cậu liền lạc, mạnh khỏe, sung mãn của tuổi thành niên. Khi cậu Phú quay đi rồi, cô Lan mới rón rén vào phòng khách, vớ lấy một tờ báo ngồi đọc, nhưng cô đâu thấy chữ gì. Người cô vẫn còn run, tim cô vẫn còn đập liên hồi. Cô lặng người, lắng nghe tiếng thình thịch của quả tim đang rộn rã bôm những giòng máu nóng hổi đi khắp châu thân, làm rung động những bắp thịt, làm ngây ngất từng giây thần kinh, từng tế bào nhỏ nhất, kín đáo nhất … Gần nửa giờ sau cô mới tạm bình tĩnh, xuống nhà ra về. Cô vừa đẩy xe Honda ra khỏi cửa thì bên kia, cửa xưởng hóa chất cũng vừa mở và cậu Phú dẫn xe đạp ra. Cô Lan thất kinh dừng lại, không có cách nào quay vào nhà được vì xe đang nổ máy. Cô đứng như trời trồng, chân tay luống cuống vì mắc cỡ, cô tưởng như mọi người trong xóm đã biết rõ chuyện vừa xảy ra, tưởng như cậu Phú sẽ kêu lên “Cô Lan, lúc nãy cô nhìn gì thế?” Nhưng cậu vẫn vô tình lên xe đạp, vượt qua cô, ra ngoài đường cái. Đây là lần thứ hai cô nhìn thấy cậu Phú, gương mặt không đẹp nhưng ngây thơ như một đứa trẻ, đôi mắt vô tư thoáng chút buồn. Cậu vô tư đến độ không thấy cô Lan. Cô nhẹ người, vậy là chẳng ai biết gì cả. Cô Lan lên xe, rồ ga chạy vượt qua cậu Phú, nhưng còn lưu luyến nên chạy chậm lại, nhìn vào kiếng chiếu hậu ngắm nghía cậu, tự nhiên cô thấy thương anh chàng đang đạp xe lửng thửng phía sau. Mải mê nhìn vào kiếng chiếu hậu, cô Lan để xe lủi vào lề, ủi sập cái miếu con thờ cô hồn vừa lúc cậu Phú trờ tới nhào ngay vào xe Honda, ngã xuống, nhưng không sao, cậu vội nhỏm dậy đỡ cô Lan lên. Cô bị góc miếu bằng tôle cắt rách tay áo, đứt vào thịt chảy máu, chân cô bị ống bô xe đè lên, gần cháy ống quần nhưng chưa phỏng đến đùi, cô bị đau không đứng dậy được. Người hiếu kỳ xúm lại xem, bàn tán xôn xao
– Kêu xích lô đưa đi nhà thương mau lên, máu chảy quá trời!
– Coi chừng gãy chân rồi, cứ ngồi yên đó, động đậy gãy thêm!
– Miếu cô hồn nầy linh lắm nghe, mấy người chết chỗ nầy vì tai nạn xe cộ rồi đó!
– Ủi sập miếu rồi, cô hồn lấy chỗ nào ở đây? Phảixây bồi thường một cái building, nếu không, cô hồn giận coi bộ khó sống à nghe!
Một chiếc xích lô xề tới, đám đông giãn ra. Cậu Phú hỏi:
– Bây giờ lên xích lô được không?
– Anh đỡ dùm em, chân đau quá!
Nhưng người cô Lan nhũn ra, không đứng dậy được, cậu Phú phải bồng lên xe. Cô Lan vẫn cứ rên, thỉnh thoảng lại “ui da”, thế là cậu Phú phải ngồi luôn lên xe, chân bị thương của cô gác lên đùi cậu, đầu thì tựa vào vai cậu. Chiếc xe Honda được mọi người phụ đưa luôn lên xích lô. Xe đạp của cậu Phú được ông già sửa xe gần đó xung phong giữ dùm còn dặn với theo:
– Mầy làm Lục Vân Tiên cứu khổn phò nguy, có dzớt được Nguyệt Nga nhớ đừng quên tao nghe mầy!
Anh xích lô chồm người đạp như gió cuốn, nhưng đến đường Lê Quang Định thì chịu thua, đường chật ních người. Cô Lan thều thào:
– Anh cho tôi về nhà luôn nghe!
– Nhà ở đâu?
– Bên hông chợ Bà Chiểu, tiệm vàng Liên Thành. Chiếc xích lô nhích từng chút một. Cậu Phú sợ xe sóc đau cô Lan nên ôm cô cứng ngắt, đầu cô vừa tầm mũi nên cậu lặng lẽ thưởng thức mùi thơm con gái từ tóc cô. Lần đầu trong đời cậu được diễm phúc ôm một cô gái. Tự nhiên từ trên trời rơi vào tay cậu một cô bé xinh như tiên, thơm phức. Cậu ước sao được ôm mãi như thế nầy thì dù phải chết cậu cũng vui lòng. Còn cô Lan thì lịm người trên ngực cậu Phú. Chân và vai đã bớt đau nhưng cô vẫn lặng yên tận hưởng giây phút thú vị, êm đềm nầy. Cô cũng ước được ngồi như thế, cho chiếc xích lô chạy vòng quanh trái đất độ mươi vòng thì còn gì vui sướng cho bằng. Chợt như nhớ ra điều gì cô hỏi nho nhỏ:
– Có phải anh tên Phú không?
– Phải rồi, sao biết được?
– Anh học Lê Văn Duyệt phải không, em cũng học ở đó. Em nhớ ra anh rồi vì ai cũng khen anh học giỏi.
Hèn gì em cứ ngờ ngợ …
– Giỏi gì? Thi ở đâu cũng rớt hết, chán quá!
– Sao kỳ cục vậy?
Vừa lúc xe về đến nhà, cô Lan dặn:
– Ít bữa nữa em sẽ ghé thăm anh.
Lúc xe dừng lại, cô Lan miễn cưỡng ngồi dậy, nét mặt rất đau đớn. Bà chủ tiệm vàng thấy trước, chỉ kịp kêu lên: “Trời ơi! Con tôi bị gì dzậy nè?” Rồi chạy tuông ra cửa, ông chủ sau nhà bương theo, hai người làm công cũng sớn xác chạy ra. Cô Lan là con gái rượu của ông bà chủ. Bà sinh một dọc bốn cậu con trai, cầu khẩn đình chùa miếu võ, tốn hao bao nhiêu tiền của mới sinh được cô út Lan. Cô đã xinh còn khôn ngoan, học giỏi, phụ buôn bán cũng tài, giao thiệp với khách hàng mềm mỏng, vui vẻ nên ai cũng khen. Cô Lan hoàn hảo như thế, cha mẹ cô yêu thương là điều dĩ nhiên. Nay đột nhiên thấy cô ngồi xích lô về, mặt mũi bơ phờ, đau đớn, ai mà không hoảng hồn. Bà chủ cứ hỏi dồn:
– Sao vậy con? Con bị gì vậy con? Bị xe tung hả? Bị đau chỗ nào? Trời ơi, sao con vô ý, vô tứ vậy, đi xe phải cẩn thận chứ!
Bà nói liên miên trong khi cô Lan cứ rên “ui da, ui da!” Cô đã bớt đau nhưng phải làm như thế hàng xóm mới khỏi xì xầm cảnh cô tựa vào cậu Phú không muốn rời. Xe Honda được khiêng xuống, ba cô một bên, cậu Phú một bên dìu cô vào nhà sau. Cậu Phú ít nói nên anh xích lô thao thao tả lại tai nạn từ đầu đến cuối mặc dù anh đâu có thấy gì! Anh kể hay đến chừng tưởng như anh cứu được cô Lan, nhờ thế tiền công anh cũng được trả rất hậu hỉ. Cậu Phú chẳng thấy ai để ý gì đến mình nên lẳng lặng ra về. Bây giờ đến lượt cô Lan kể lể sự tình, bỗng cô nhỏm dậy hỏi:
– Má có đưa tiền cho người ta về xe không? Chiếc xe đạp hư cũng vì xe Honda của con đó, coi mà trả tiền sửa xe. Má kỳ quá! Làm vậy người ta tưởng mình bần tiện.
Lúc đó bà chủ mới sực nhớ đến cậu thanh niên, bà đưa tiền cho người làm, thúc hối hắn mau đuổi theo.
Nhưng một lát sau, hắn quay về bảo chẳng thấy ai cả. Cô Lan tấm tức khóc, trách mẹ hà tiện lại không một lời cám ơn. Bà chủ phải bắt ông chủ chở đến miếu cô hồn bị đụng sập, trả tiền sửa xe cho cậu Phú và tính toán việc xây lại miếu. Lúc đó cậu Phú vẫn chưa về đến, hai ông bà chỉ nghe ông già sửa xe kể lại mọi chuyện mà thôi. Cô Lan bị xây xát nhẹ nên vẫn bình thường nhưng đầu óc cô đã bị xáo trộn hoàn toàn. Những ngày sau đó, cô sững sờ như người mất hồn. Khi đứng trông cửa hàng, khách đến cô không thấy, khách nói cô không nghe, mắt cô nhìn vào cõi mông lung nào đâu. Trong nhà, có khi cô ngồi lặng hàng giờ, cô cười rồi cô nhíu mày, thở ra. Không ai hiểu được cô, và chính cô cũng đâu có muốn ai biết những gì cô đang nhớ lại, mơ màng. Thấy vẻ bất thường đó, ông bà chủ đưa cô đi bác sĩ, nhưng không tìm ra bịnh, bà lo lắng thì thầm với ông “Hay là nó bị ma bắt hồn không chừng?!” Tuy thì thầm nhưng cô cũng nghe được, cô sáng mắt lên và mỉm cười. Hôm sau cô bắt đầu trở bịnh. Đêm nào, nửa khuya, đang ngủ cô cũng la lên “Tôi không đi, tôi không đi, đừng bắt tôi!” Cô kể thấy hai người, mặt mũi dữ dằn cột chân tay cô khiêng đi. Cô hay đi lang thang vì sợ phải ở trong nhà. Có lần bà chủ cho người theo dõi thì thấy cô đến quán nước đối diện miếu cô hồn ngồi nhìn qua miếu. Thực ra cô ngồi chờ cậu Phú. Có khi cô lấy xe gắn máy đi suốt buổi chiều, mẹ cô càng thêm lo. Khật khùng như thế, lủi vào xe hơi không chừng! Đâu có biết cô đến đón cậu Phú đi chơi, đi xem hát, ăn quà rong, có khi lên Thủ Đức, Lái Thiêu hóng gió đồng quê. Chỉ những lúc đó cô mới thực sự vui vẻ, thỏa mái. Khi về nhà cô lại có vẻ sợ hãi. Mới chập tối cô đã bắt đóng cửa lại “Họ tới rồi, họ đứng trước cửa kìa!” Nhưng có ai thấy gì đâu. Lên lầu cô cũng bắt đóng cửa sổ lại “Họ thò tay vô chộp con”. Ban đêm cô ngủ với bà chủ, còn ông chủ thì bắt ghế bố nằm ngay cửa phòng. Vậy mà đang ngủ, cô vẫn hét lên “Đừng bắt tôi, đừng bắt tôi!” Đúng là cô bị ma ám rồi. Bà chủ lẳng lặng ra Lăng Ông Bà Chiểu, sà xuống một ông thầy bói già ngồi ở góc lăng. Sau khi hỏi ngày tháng năm sinh, thầy bấm tay rồi phán:
– Tuổi nầy năm nay hạn nặng. Không nên đến gần đền chùa miếu võ vì tuổi hạp với cõi âm, rủi nhằm giờ linh ngài chấm thì khó sống. Lúc đó bà chủ mới thú thực mọi chuyện, xin thầy cứu giúp. Thầy nghe xong tắc lưỡi hít ha:
– Bà gặp tôi sớm, trước khi xảy ra tôi còn có cách, bây giờ tình thế coi bộ nguy ngập rồi. Ngài đã chấm thì tôi có tài gì gỡ được! Nhiều lắm là ba bảy hăm mốt ngày, cô ấy ngủ một đêm, sáng không thức dậy chứ chẳng bịnh hoạn gì. Chẳng phải con bà vô ý đụng sập miếu đâu, ngài đã sai cô hồn kéo cô ta vô đấy.
– Thầy xem còn cách gì cứu con tôi, tốn phí bao nhiêu tôi xin chịu. Tụi tôi chỉ có mình nó là con gái!
Thầy ngồi lặng thinh một lúc rồi thở dài:
– Thôi được, tôi đành làm chuyện thất đức để cứu con bà. Cứu con bà thì hại người khác. Chắc tôi giảm thọ vì dám cãi mệnh trời.
Bà chủ mừng rỡ:
– Cám ơn thầy nhiều, cách gì thầy chỉ dùm.
– Thì kiếm người thế mạng chứ sao bây giờ. Theo bà kể thì còn một cậu đi sau cũng bị ngài kéo vô luôn.
Có thể cậu kia cũng cùng một tuổi. Nếu cậu kia không cùng tuổi thì phải kiếm một cậu khác thế mạng. Bà về làm gấp rồi cho tôi biết tên họ, quê quán, ngày giờ sinh của người thế mạng để tôi lập đàn cúng bái, xin chuyển người nam nầy chết thay con bà. Nhưng với điều kiện phải cho hai đứa sống chung nhau, khi người khuất mặt đến bắt, tất phải dẫn hồn cậu kia đi. Ý tôi muốn nói là phải làm đám cưới trong vòng tháng sau. Nếu trễ nãi, hối không kịp, lại đâm trách tôi!
Bà hối hả về thì thầm với ông chủ, ông bảo:
– Đời nầy làm gì có chuyện ma quỉ. tôi nghi có gì bất thường đây. Ngày mai bà đi hỏi thầy khác, còn tôi sẽ lục soát xem nó có thư từ bồ bịch với ai không, từ đó mới truy ra được.
Hôm sau bà chủ lại ra Lăng Ông tìm một thầy bói khác, thầy cũng phán:
– Tuổi nầy gặp đại hạn. Mười phần chết chín. Ra đường gặp ngài chấm thì coi như xong Ở nhà, ông chủ chờ lúc cô Lan đi vắng, giở tất cả các hộc bàn, sách vở, áo quần tìm kiếm, nhưng chẳng thấy gì. Ông biết rõ con ông, nó khôn lanh thực nhưng chưa để ý đến đứa con trai nào. Thế rồi ông bà đành theo lời thầy bói, tìm cách dụ cho được cậu thanh niên kia về làm vật hy sinh thế mạng. Bà chủ cứ thở dài, buồn bã, sinh được có cô gái út sáng sủa, đẹp đẽ như viên ngọc quí, bây giờ phải trao cho một tên cầu bơ cầu bất nào dày vò. Thà chúng yêu nhau hoặc cậu kia giàu có cũng đỡ mất mặt, đằng nầy đã thế còn lập mưu lập kế mà dâng cho nó, lại phải dấu diếm bàng dân thiên hạ, rủi đến tai nó, dại gì nó chịu nhận bản án tử hình! Bà cũng để ý hỏi thăm trong đám bạn bè, đồng nghiệp xem có con em gì cùng tuổi với con bà để làm sui gia, nhưng chẳng có ai, dù có họ cũng nói trớ đi, cái tin cô Lan bị ma nhập đã lan tràn khắp chốn rồi. Bà cứ theo hỏi con gái xem có quen biết gì nhiều về cậu kia không nhưng cô chỉ biết mơ hồ hắn là công nhân làm gần chỗ xảy ra tai nạn, thế thôi. Hỏi để dò lòng dạ con bà thôi chứ hôm đến coi việc sửa lại miếu, lão sửa xe đã kể hết gia phả của cậu kia cho bà nghe rồi. Phần cô Lan ngày càng bịnh nặng, ngủ với mẹ mà cô vẫn bị người khuất mặt đến bắt. Nửa khuya, cô hét lên, thật rùng rợn. Cô còn đem theo con dao để dưới gối, bảo rằng bọn ma quỉ đến thì cô đâm. Bà chủ nghe đủ lạnh xương sống, đang mơ màng, cô lụi cho bà một phát thì còn gì đời!
Cuối cùng ông bà mới nghĩ ra được một kế vẹn toàn. Một buổi chiều, bà đích thân đến xưởng hóa chất.
Xưởng vắng hoe, bà gõ cửa, cậu Phú chạy ra.
– Xin lỗi, cậu có phải là cậu Phú không?
– Dạ phải.
– Tôi là mẹ con Lan đây.
– Dạ, Lan nào ạ? Cháu không quen ai tên Lan cả.
– Con nhỏ hôm tuần rồi đi xe gắn máy tung sập miếu cô hồn đầu đường, nhờ cậu đưa về đó!
– Dạ, cháu nhớ ra rồi.
Bà chủ hỏi han đủ thứ, từ tuổi tác đến gia đình, công ăn việc làm. Cậu Phú trả lời như làm bài ở trường, chính xác, rõ ràng, không thêm bớt rườm rà. Khi biết chắc tuổi cậu ta cùng tuổi con mình, bà chủ mới đi vào đề:
– Tôi thấy cậu hiền lành, chân thật, nếu không có chuyện đổi đời năm 75 thì cậu cũng con ông nọ bà kia chứ đâu đi làm công nhân cực khổ mà lương hướng chẳng bao nhiêu. Dù sao thì cậu đã giúp đỡ con Lan nhà tôi hôm trước, chúng tôi rất cám ơn cậu nên mới đề nghị như thế nầy. Tôi sắp sang một cửa hàng máy móc điện tử. Buôn bán thứ nầy khá lắm, tôi cần một người trông coi cửa hàng. Ý tôi muốn giúp cậu có công việc làm ăn mà thu nhập cũng khá lắm. Vì muốn tránh tiếng giàu có, tư bản tư biếc phiền phức nên cậu có toàn quyền trong cửa hàng, ai hỏi cậu tự xưng là chủ, giấy tờ đều đứng tên cậu. Cậu đừng nghi ngại gì cả. Chúng tôi thỉnh thoảng sẽ ghé vào để giúp cậu khi có trở ngại. Con gái tôi cũng sẽ ra phụ với cậu. Cậu chỉ nhớ một điều cậu là chủ, ngoài ra không ai được biết gì cả.
Thế là tự nhiên cậu Phú làm chủ một tiệm máy móc điện tử, bán đủ thứ TV, radio,cassette trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Cậu dọn nhà khỏi xóm lụp xụp ở khu ngã tư Xóm Gà cậu đi xe dream, ăn mặc sang trọng. Cậu hoàn toàn lột xác, trông rất bảnh bao, đẹp trai. Cô Lan thỉnh thoảng ra phụ bán với cậu, nhưng vẻ khật khùng, lãng trí vẫn còn, không thấy cô cười bao giờ. Rồi không hiểu bà chủ bàn định gì với cậu Phú mà cậu lại chính thức xin cưới cô Lan. Bà chủ tưởng cô Lan đồng ý, không ngờ cô cứ lắc đầu. Hỏi riết, cô trả lời:
– Con không còn là con của ba má nữa, người ta sắp đến bắt con đi rồi.
Bà chủ phải tỉ tê, năn nỉ suốt mấy đêm, bảo rằng:
– Con phải lấy chồng, để khi ngài đến bắt đi, chỉ bắt chồng con thôi, con sẽ sống với ba má …
Thật chẳng khác gì lúc cô còn bé tí, má cô phải dỗ dành để đút cho xong chén cơm! Thế rồi đám cưới cũng diễn ra rình rang, tốn kém như bao đám cưới nhà giàu khác. Bà con, bạn bè hai họ được mời đến. Ai cũng khen cô dâu chú rể đẹp đôi. Cô dâu đã đẹp lại con nhà giàu, chú rể còn trẻ mà làm chủ một cửa hàng điện tử, cả mấy trăm cây vàng chứ ít sao. Nhưng họ không khỏi ái ngại khi thấy vẻ mặt ngớ ngẩn, lạnh lùng như người mất hồn của cô dâu, không thấy cô chào hỏi, cười nói với ai cả! Họ nghe đồn cô bị ma ám sao đó, nhưng không ngờ cô bị trầm trọng đến như vậy. Sau đám cưới, dĩ nhiên cô cậu được cho tiền đi hưởng tuần trăng mật Đa Lạt, Nha Trang. Mẹ cô mừng thầm trong bụng, coi như con gái mình thoát nạn, tuy bà có ái ngại cho thằng rể, mặt mũi sáng sủa mà chỉ ít lâu nữa nó phải lìa đời. Nhưng đời mà! Khôn sống bống chết, bà chỉ muốn cứu con bà chứ bà đâu hại ai. Bà đã dự định sẽ làm một đám tang long trọng cho thằng rể ngắn ngày khi người cõi âm đến bắt hồn nó đi, để gọi là “Nghĩa tử, nghĩa tận”. Bà cũng đã nghĩ cách sẽ o bế lại cô con gái cưng sau khi nó hết bịnh tà ma, để tìm cho nó một khách đông sàng xứng đôi. Phần cô Lan, ngay lúc ngồi trên xe đò ở bến xe đi Đa Lạt, cô vẫn còn ngớ ngẩn. Ba má và các anh cô đưa tiễn, cô không nói tiếng nào. Cho đến khi xe lên tới Định Quán cô mới thở phào một tiếng rồi tựa đầu vào ngực cậu Phú, lim dim đôi mắt, thưởng thức lại cảm giác hôm đụng xe, cô ngồi trên xích lô trong vòng tay cậu Phú.
– Có gì mà em thở dài?
– Bây giờ em mới hết lo.
– Em lo chuyện gì?
– Còn chuyện gì nữa, chuyện tụi mình.
Cậu Phú hôn lên tóc vợ:
– Bây giờ em kể anh nghe mọi chuyện, tại sao má kêu gả em cho anh, lại còn giúp đỡ đủ thứ? Anh chỉ biết nghe lời em, bảo gì làm nấy.
Cô thì thầm vẻ hãnh diện:
– Em giả điên để má tưởng bị ma bắt mới đi coi thầy bói, thầy bảo phải gả cho người cùng tuổi để chết thay em. Em biết anh và em cùng tuổi. Má khó lắm, sơ sẩy một chút, má biết được, trời có sập má cũng không chịu đâu.
– Nhưng thầy bói làm sao biết để nói như vậy?
– Ém vô Lăng Ông cho tiền tất cả các thầy bói trong đó, kể cho họ nghe và dặn họ phải dọa cho dữ, má mới sợ. Mà dù chẳng cho tiền, mấy thầy bói nghe nói em bị ngơ ngẩn, chắc chắn thầy nào cũng sẽ bảo em bị ngài chấm, ma bắt ngay.
– Nhưng tại sao em lại chọn anh, lại còn vất vả đóng vai cô gái điên một cách xuất sắc?
Cô Lan bẽn lẽn:
– Em đâu biết. tự nhiên thương anh … Cô định nói
“Không lấy được anh chắc em điên thiệt quá” nhưng cô làm thinh.
Cậu Phú tỏ vẻ biết ơn vợ:
– Em biết chuyện “Nàng Tiên Dong và Chữ Đồng Tử” không? Nàng Tiên Dong giàu sang mà chịu lấy Chữ Đồng Tử, nghèo đến độ không có một cái khố để mặc nữa.
– Nhưng tại sao nàng ta chịu lấy Chữ Đồng Tử?
– Hình như nàng cho là số trời đã định.
– Chưa chắc, nếu nàng ta không ưa Chữ Đồng Tử thì có chịu lấy làm chồng không? Nhưng khi đã chịu rồi, phải tranh đấu mới đạt được ý nguyện chứ. Cứ đổ cho duyên số, buông trôi như chiếc lá giữa dòng rồi than thở, đau khổ sao được.
– Dù có nói gì thì em cũng đúng là nàng Tiên Dong, còn anh là Chữ Đồng Tử. Cám ơn em nhiều lắm!
Cô Lan có vẻ thích chí khi được chồng khen. Nhưng không hiểu ngẩm nghĩ sao, cô đỏ mặt lên, thò tay ngắt đùi chồng một cái đau điếng:
– Không được nói chuyện Tiên Dong nữa, nghe chưa!
Cậu Phú suýt soa:
– Ui da, được rồi, không nói chuyện Tiên Dong nữa!
Cậu hứa với vợ mà không hiểu vì sao. Trong khi cậu so sánh giàu nghèo, sang hèn thì cô Lan lại nghĩ đến cảnh nàng Tiên Dong tắm bên bờ sông, dội nước lòi ra Chữ Đồng Tử trần truồng vùi mình trong cát, giống như cô tình cờ nhìn thấy cậu Phú đứng tè ở góc tường. Chẳng biết có khi nào cô kể cho chồng nghe không? Nhưng mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, cô vẫn thấy rạo rực và mắc cỡ. Rồi chính cô cũng lại phân vân, có phải là duyên số hay là vì cái hôm thấy “người ta” chỉ một lần mà đâm si mê đến ngẩn ngơ?
Dân tộc mình ngày nay nổi tiếng về mục ăn nhậu. Nhậu thì đã có Trần Văn Giang nói về “văn hoá cạn chén”, ăn thì Nguyễn Hưng Quốc cho rằng dân tộc chúng ta “chỉ có một ám ảnh lớn: ăn.” Mà kể cũng lạ, ngay cả chuyện sex của ông bà ngày xưa cũng có chữ “ăn” đi đầu là “ăn nằm”, gái điếm thì dính gì với “ăn” mà cũng có chữ “ăn sương”. Khi chúng ta giàu có no đủ, có bao giờ chúng ta nghĩ đến miếng ăn, khinh khi cho miếng ăn là hạ tiện, đứng trên, đứng xa mà nhìn, khinh bỉ những kẻ tranh giành miếng ăn. Có sống trong hoàn cảnh đói khát, mới thấy miếng ăn là quan trọng. Khi người ta đói, danh dự, khí tiết, chí khí đều là đồ bỏ, do vậy những con người Cộng Sản đã nghiên cứu được một chính sách có thể thống trị, đàn áp con người gọi là chính sách bao tử. Chính sách bao tử được hổ trợ bằng chính sách hộ khẩu, có hộ khẩu mới có tem phiếu, có tem phiếu mới có cái ăn bỏ vào miệng. Người miền Bắc ngày trước có thành ngữ “mặt rầu như mất sổ gạo”, mất sổ gạo rồi thì đời còn ý nghĩa gì nữa. Trong cái chế độ quản lý hộ khẩu và lương thực như thế, làm sao người ta có thể trốn nghĩa vụ quân sự”(quân dịch), trốn nghĩa vụ thì chỉ có lên rừng bứt lá mà ăn hoặc uống nước suối như Bá Di, Thúc Tề không ăn thóc gạo của nhà Chu lên rừng núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn. Thậm chí gia đình không đủ cái ăn, thanh niên phải đăng ký nghĩa vụ quân sự để có cơm rau ngày hai bữa. Chế độ nhà tù của Cộng Sản áp dụng kỹ thuật coi tù của hai đàn anh Liên Xô và Trung Quốc, bắt làm việc cật lực nhưng cho ăn cầm chừng cho khỏi chết đói chứ không cho ăn no, việc này có kết quả là làm tê liệt ý chí đối kháng và làm cho tù nhân tự tranh chấp, xâu xé nhau. Việc xâu xé thứ nhất là chuyện bình bầu cho người này ăn 17 ký, kẻ kia xuống 13 ký, cán bộ nhà tù tuyệt đối không can thiệp vào việc này, để tù nhân tự chì chiết, tố khổ nhau mà bình bầu mức ăn. Việc tồi tệ thứ hai là trong các đội tù hình sự, đội trưởng, một kiểu “đại bàng” có quyền lãnh một thau cơm rồi sau đó cho ai ăn, ai nhịn, là quyền của y, tù nhân chỉ biết cúi đầu khuất phục. Cai tù dùng hình thức tự quản để tù giết lẫn nhau. Cũng chừng ấy ngô khoai, nhưng chúng làm cho nhiều kẻ làm việc trối chết và khuyến khích mọi người ganh đua lao động để đem của cải về cho trại tù. Thời ấu thơ chúng ta đã có những giấc mơ thần tiên có bướm có hoa, tuổi thanh niên mơ có tình yêu và hạnh phúc. Này các cháu nhỏ ơi, ở trong nhà tù, nhất là nhà tù kiểu Cộng Sản, các bác các chú chỉ có một giấc mơ chập chờn với một củ khoai, củ sắn hay một bát cơm, có khi mơ thấy đang ăn gì đó, mà lúc thức giấc rồi thấy miệng mình vẫn còn nhai nhóp nhép. Trong lò gạch, tưởng tượng nếu có một khúc bột mì luộc lớn bằng viên gạch mà ăn thì sướng biết mấy. Ngày Tết trông thấy cái bánh chưng giả làm bằng giấy treo trên cây nêu trước sân trại tù, trầm trồ ước ao có được một cái bánh lớn như vậy để chia nhau. Có nhớ nhà thì cũng ám ảnh bởi gói quà có táng đường, viên kẹo hay nắm xôi. Sao những mơ ước của con người có thể tầm thường, bần tiện đến như thế và chuyện khống chế, khuất phục ý chí của con người trở nên quá đơn giản.
Như vậy phải chăng người ta ám ảnh bởi cái ăn chỉ lúc người ta đói? Điều này có lẽ không đúng. Trong hoàn cảnh của Việt Nam khi mà chính phủ khoe đã xóa đói giảm nghèo, gạo đã xuất cảng đứng hàng thứ nhì trên thế giới, con người vẫn ám ảnh bởi miếng ăn. Xưa kia theo phong tục Việt Nam, cái ăn vẫn là cái gì kín đáo, thậm chí người đàn bà có “ba lúc” đừng để người khác trông thấy là lúc ăn, lúc ngủ và lúc khóc. Ăn bây giờ không phải chỉ để đáp ứng nhu cầu đói của cái bao tử trống rỗng, kiểu ăn để mà sống, mà xã hội bây giờ hình như con người sống để mà ăn, ăn được đưa lên hàng nghệ thuật là “nghệ thuật ẩm thực” hay gọi cho sang hơn là “văn hoa ẩm thực.” Xưa kia người ta thường định nghĩa nghệ thuật như là một ngành hoạt động với những phương tiện gợi cảm như thi ca, hội hoạ, âm nhạc … và văn hóa như là những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo thì bây giờ ăn uống được người trong nước hiện nay nâng lên hàng nghệ thuật và xếp vào một loại văn hóa. Nghệ thuật, văn hóa đem lại phần tốt đẹp cho tâm hồn con người, bây giờ loại ăn nhậu ở vệ đường, cạnh lỗ cống, bên gốc cây, la lối, hò hét, nôn tháo được gọi là nghệ thuật, hay là văn hoá ư?
Văn hoá ẩm thực: con gì cũng ăn. Điều này sau năm 1975 tưởng chỉ có thể xẩy ra trong những nhà tù “cải tạo” là “con gì nhúc nhích được” là ăn, như con rết, con nhái, con cóc, con châu chấu, con bò cạp. Ăn để cho khỏi đói, ăn để đáp ứng sự kêu gào thống thiết của bao tử. Văn hóa ẩm thực Việt Nam bây giờ không phải ăn cho khỏi đói mà ăn để thoả mãn sự hiếu kỳ, ăn để thoả mãn cái “chảnh” của dân chơi, của dân thượng lưu, của các đại gia. Từ con cheo, con rắn, con rùa, con nhím đến con cọp, con mễn, con chó … con gì bỏ vào miệng được, khoái khẩu là … văn hoá. Con gì mà hiếm hoi, khó kiếm, khó tìm, khó bắt, đắt giá lại càng nên tìm mà ăn mới đạt đến nghệ thuật. Văn hoá ẩm thực: máu gì cũng uống. Máu dê, máu heo, máu vịt xưa nay đã thường. Người ta tìm đến máu rắn cạp nong, rắn hổ mang, hổ đất, hổ mái gầm. Rượu thì rượu mật gấu, rượu mật rắn, rượu hà nàm, rượu nhau, rượu bào thai. Báo chí trong nước tường thuật một con rắn sống khoảng 1/2 kí lô, cắt cổ mổ bụng lấy mật, lấy máu uống tại chỗ giá 2 triệu đồng. Trong khi lũ trẻ moi đống rác kiếm mỗi ngày một ký gạo, bọn ăn chơi, đại gia, giám đốc, thủ trưởng tìm các loại máu, rượu quý để uống. Các loại máu hay rượu này không phải người ta dùng để chữa những bệnh ngặt nghèo, mà để tìm công dụng kích dâm, tăng cường sinh lý, “ông uống bà chờ”, “ông uống bà khen”, cường dương bổ thận, cải lão hoàn đồng. Nghe nói chuyện đi chùa Hương lại nhớ thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, ngày nay đến chùa Hương mà thấy nai, beo, mễn, xẻ thịt máu me đầm đìa, làm sao cô bé ngày xưa còn có được cái cảnh: “Em tìm hơi chàng thở, chàng ôi, chàng có hay!”
Tất cả đều để phục vụ cho cái xác chứ không phải cho phần hồn. Phải chi con người cũng như con thỏ, con nhím chỉ biết ăn rau, ăn cỏ mà không biết ăn thịt, uống máu thì đâu có chiến tranh mà cũng chẳng có hận thù. Trước đây chúng ta đã nghe người ta nói nhiều về chuyện bệnh viện ở Việt Nam dùng bào thai trong các lần phá thai sớm để cung ứng nhu cầu bồi bổ cho một số giới chức lãnh đạo. Không có ai tố cáo về chuyện này, nhưng tục ngữ ta đã có câu “không có lửa sao có khói”. Thôi thì lửa hay khói cũng chẳng sao, miễn cho các cấp lãnh đạo có đủ sức khoẻ, nhiều thê lắm thiếp, sống lâu trăm tuổi để còn lo cho đất nước này tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Mặt khác cũng hy vọng đất nước này người ta sẽ truy lùng, săn đuổi, nấu nướng hết cả loài cọp beo, rắn rết cho dân nhờ.
“Lưỡi gỗ” là từ ngữ của tướng CSVN Trần Độ đã dùng đề chỉ cách “nói lấy được” trong triều đình nhà Cộng.
Trong tập “Nhật Ký Rồng Rắn” Trầu Độ dã viết: “Nổi bật lên là một bộ máy độc đoán, độc tài toàn trị. đản áp thẳng tay các ý kiến khác. Có một đội ngũ “lưỡi gỗ” rất đông đảo, chuyên “ngụy biện”, “nói lấy dược”, nói bừa bãi”, “nói trắng trợn”, bất chấp lẽ phải, đạo lý và cả luật pháp, và có lúc dùng thủ đoạn như “lưu manh.”(trang 58)
Hầu hết các cán bộ cấp cao của CSVN đều có lưỡi gỗ, ăn nói ngang ngược, vộ lý để phục vụ và tâng bốc đàng, từ Nguyễn Minh Triết với chuyện Cu Ba ngũ, Tô Huy Rứa ca tụng Cách mạng tháng 10 Nga, Tôn Nữ Thị Ninh coi dân như con cải trong nhà cần phải roi vọt, Nguyễn Tấn Dũng nói về tham nhũng … Viên chức chính phủ thì như Bùi Trung Dung nói về đập Sông Tranh, dân biểu quốc hội như Hoàng Hữu Phước, Trần Đại Quang. Nguyễn Dức Nhanh … đều mang “lưỡi gỗ.” Mới dây nhấi, phải kể đến một “nhà ngoại giao” mang lưỡi gỗ là Thứ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn cho rằng người biểu tình chống Trương Tấn Sang được thuê bằng tiền. Nếu nói rằng có một xã hội mà cái gì cũng có thể mua được bằng tiền thì chính là cái xã hội Việt Nam ngày nay dưới chế độ Cộng Sản. Nói một cách mỉa mai hơn, những gì không mua được bằng tiền, sẽ mua được bằng rất nhiều tiền.”
Báo chí trong nước cho rằng việc chạy chức, chạy quyền ở Việt Nam là “điều thuờng ngày ở Huyện.” Con số chính xác của việc chạy chức chạy quyền tùy thuộc vào mối lợi thu được sau khi có chức. Vào đại học phải chạy tiền, tốt nghiệp không tiền thi không có chổ làm tốt. “Không mua thì không bao giờ được chức! ” Đó là chân lý. Mà phải chạy chức bằng đồng đô la Mỹ, nhiều ít. cao thấp phù hợp với cái ghế được mua bán. Đến anh công an giao thông còn phải mua cả nghìn độ la dể dược “bố trí đứng ở góc đường sầm uất, béo bở nào cho xứng với số tiền bỏ ra!
Vào những năm đầu bước sang thế ký XXI, dân Hà Nội đồn rằng Vũ Huy Hoàng – nay là Bộ Trưởng Bộ Công Thương để chạy được cải ghế Thứ Trưởng đã phải chi 500.000 đô la Mỹ! Đến thời Đinh La Thăng thì tất cả các tổng giám đốc các công ty trong Tập đoàn Dầu Khí mỗi nơi góp 1 triệu dỏ la để ông ta chạy ghế bộ trưởng với lời hứa:
“Nếu lên được sẽ trà nợ”! Từ chỗ buôn ghế đầu não của đảng, Đinh La Thăng đã phải chỉ 21 triệu đô la để cho ông anh bà con Đinh Thế Huynh vào dược Bộ Chính Trị. Số tiền này về tay ai, đương nhiên là vào tay những người có thế lực hiện nay. (1) Nguyễn Thanh Sơn, một trong 6 thứ trưởng của Bộ Ngoại Giao Việt Nam hiện nay, có tiếng là ăn nói ẩu tả, thích phê phán chuyện nước người, nhưng ít nhin chuyện sau lưng. Với “chương trình gặp gỡ doanh nhân nước ngoài và doanh nhân trong nước lần thứ 2” tại Saigon, Sơn đã thú nhận thói phong bì qua lời phát biểu: “hệ thống cơ chế của chúng ta còn những thù tục nằm ngoài sự quản lý của nhà nước như nghệ thuật bôi trơn, văn hóa phong bì, đó chính là kinh nghiệm ăn sâu vào phong cách làm việc của những nhà doanh nhân trong nước.” Như vậy chuyện chạy tiền, đút lót trong chế độ cộng sản cũng là chuyện đương nhiên. Tử một chuyên viên cua Cục Xuất Bản Bộ Văn hóa, được chọn di làm tại Tòa Đại Sứ ở Nga, sau đó Nguyễn Thanh Sơn chỉ cần hai năm theo lop lý luận Mác-Lê tại Học viện Chính Trị- Hành Chính Quốc Gia HCM (2006-2008) mà đã có bằng Tiến Sĩ (?) (khộng nói rõ là tiến sĩ gì?) leo lên đến chức Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, liệu có nhờ “nghệ thuật bôi trơn” hay “văn hóa phong bì” không?
Ăn nên làm ra trong một chế độ như thế, Nguyễn Thanh Sơn mang não trạng dầy đặc bởi đút lớt mua bán, nên mới có câu phê phán người Việt ở hai ngoại đi biểu tình chống chủ tịch nước của y là được thuê tiền hay vì sinh kế. Nếu có thể bỏ tiền ra để thuê người đi biểu tình, ở trong ngành ngoại giao với nhau, Nguyễn Thanh Sơn nên hướng dẫn cho Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn thuê vài nghìn người mang cờ đỏ sao vàng tràn vào phi trường Andrews mà đón tiếp ông Sang, hay thuê người làm một cuộc phản biểu tinh đối đầu với bà con chúng tôi ở trước Toà Bạch Ôc ngày 25 tháng 7 vừa qua. Nhưng tỏi nghĩ, dù cán hộ ngoại giao CSVN hiện nay có bạc tỷ cũng không thể nào thuê ai ở hải ngoại này đi biểu tình được, dù là di biểu tình theo ý họ muốn. Liệu có ai trả nổi tiền máy bay, chi phí ăn ở, tốn hao sức khỏe, tiền bù đắp vào công ăn việc làm cho một người từ California, từ các tiểu bang xa xôi trên khắp nrớc Mỹ, từ Vancouver, từ Toronto Canada để về thủ đô Hoa Kỳ ít nhất, trong ba ngày, để nói lên nguyện vọng của họ chỉ vì “bất bình tấu minh” về những thống hận đớn đau của chính mình cùng với nỗi niềm oan khuất của những người trong nước. Nếu Nguyễn Thanh Sơn hiết có những “núm ruột” của y, ngồi suốt dêm trên xe buýt để di xuyên bang hay vượt biên giới quốc gia, cho kịp dến Toà Bạch Ốc “đón chào” Trương Tấn Sang thi y phải lấy làm hổ thẹn khi phải nói ra những lời “sao vẹt” như thế cho vừa lòng cấp trên. Cũng không có ai ăn không ngồi rồi để cho người thuê đi biểu tình mà họ phải bò công việc mưu sinh vài ngày, bỏ phòng mạch, bỏ công ty, nghỉ lam việc để đi Hoa Thịnh Đốn. Có những người trẻ tuổi lớn lên sau khi Cộng Sản vào miền Nam, dã tốt nghiệp đại học ở đây và cũng đã biết Cộng sản là gì. biết vì sao hàng triệu người đã vì sợ hãi Cộng Sản mà phải ra đi, biết vì sao có thảm kịch biển Đông, biết vì sao có trại cải tạo, biết vì sao những người trẻ tuổi trong nước vì yêu nước mà đã phải vào nhà tủ. Tiền bạc nào mua được khí thế của 53 ngày đêm của hàng chục nghin đồng bào Nam Cali năm 1999 để chống một tên điên dám “lộng kiếng bác Hồ” trong cơ sở thương mại của y. Tiền bạc nào mua được tấm lòng của những vị cao niên, giữa cái nóng 105 độ của sa mạc Palun Spring đến để chống Tập Cận Bình. Hằng trăm nghìn người Việt Nam bỏ mình trên biển Đông chắc chắn không ai vì tiền. Ở Hà Nội và trên khắp mọi tỉnh thành, quận lỵ thời xã hội chù nghĩa này, ai phát tiền cho dân oan di khiếu nại. Ở Việt Nam, cơ quan nào phát tiền thuê người đi biểu tình chống Trung Cộng? Đảng Cộng Sản đủ tài lực để điều tra, đưa “chúng” ra trước tòa án, mà khép tội chúng vào “tội gián điệp cho nước ngoài, mưu toan lật dổ chính quyền ..”
Đó là chưa nói đến chuyện rất buồn cười là “lưỡi gỗ” Nguyễn Thanh Sơn so sánh dân chủ ở Mỹ với dân chủ ở Việt Nam “thì chưa biết ở dâu hơn ở đâu,” hay so sánh cánh sát Mỹ với công an giao thông Việt Nam.” chuyện mà ai nghe qua cũng thấy là thiếu hiểu biết nhưng hay nói cương.
Nhận xét về rận thì ai bằng người nằm trong chăn. Tướng Trần Độ nhận xét về cái “lưỡi gỗ” của vác viên chức CSVN, quả không sai.
Vợ chồng anh có được một cậu con trai. Nó chào đời ở bệnh viện L’Hôtel-Dieu.
Dạo đó vợ chồng anh vừa bỏ xứ sang tới. Đen đúa, xác xơ lấm bụi trần, hai đứa chưa học hỏi những điều khác biệt giữa văn minh và lạc hậu nhưng nhìn nhận ra ngay, đâu là thấm đẫm tình người phương này và đâu là ác đức bất nhân phương kia.
Khi vợ đau đẻ chuyển bụng, anh gọi taxi và cả hai chạy u vào nhà thương nhờ tài nghệ lòn lách cực giỏi của một ông già bạc tóc cầm lái. Đó là bệnh viện mà anh luôn hộ tống vợ đến để theo dõi tiến trình phát triển của thai nhi. Để nghe họ tận tuỵ bày vẽ mọi phương thức nhằm bảo vệ giọt máu đang tượng hình trong bụng bầu. Giải đáp chi li mọi thắc mắc với tấm lòng thành y như ruột thịt. Hơn cả bà con xa, hơn cả láng giềng gần, hơn vạn lần xã hội mà anh vừa từ bỏ. Khác với dự đoán, thật bất ngờ, những người phụ trách ca đỡ đẻ hôm đó đã bắt tay anh, trấn an anh, rồi biểu anh thay đổi xiêm y cho giống họ: Ông nên đứng trên đầu giường trong khi chúng tôi giúp vợ anh mang cháu ra khỏi cửa mình. Anh phải trực tiếp theo dõi chứ chẳng thể lóng cóng ngồi nhấp nhổm trên ghế kê ngoài hành lang đón đợi “lộc trời ban”. Ô-kê?
Ngồi chờ rung sụng không được, buộc lòng anh lóng cóng theo họ vào căn phòng “khủng khiếp” hơn vạn lần phòng the. Ê-kíp đỡ đẻ cho vợ anh gồm có hai bác sĩ nam và ba cô y tá. Phòng lạnh toát, đèn sáng loà và mặt vợ anh xanh cắt không ra giọt máu. Diện mạo anh e cũng thế, như tàu lá chuối, vì tạng người yếu bóng vía, sợ nhìn cảnh máu đổ thịt rơi. Tuy không nói ra, những người “mát tay” kia như ngầm chuyển tới thông điệp: Mày phải chứng kiến cơn đau chẻ dọc người mà vợ mày đang hứng chịu. Nếu biết ca dao, họ sẽ ngâm nga: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển lôi thôi hai người.
Thằng bé khóc rõ to khi thông báo cùng chư vị rằng tôi đang hiện diện. Cô y tá hát bè, giọng thính phòng: Mon Dieu, nó bô giai quá thể. Bác sĩ đồng thanh hợp xướng: Thuận buồm xuôi gió, xin chúc mừng ông bà nhé. Oe oe oe xong mới tới he he he. Khóc hay cười cũng đều là liều thuốc bổ.
Tàu nằm trong vịnh phẳng lặng không gió máy đúng bốn ngày, theo quy định phải nhổ neo về lại chốn giang hồ. Vô sản khi đi vô, trở ra lại giàu sụ vì cục vàng bề thế nặng hơn ba ký ngu ngoe trên tay ôm. Và giang hồ, chốn ấy nay đã đổi thay, nhà nước hàng tháng cứ đều đặn rót ngân lượng bồi dưỡng cho quý tử gọi là tiền sữa. Cho cháu “bú” mệt nghỉ tới tuổi 18 mới ngưng chi viện. Luật lệ gì đáng yêu quá thể, và người ký luật nhắn nhủ, chúng tôi rất hoan hỉ nếu bạn mặn chuyện đẻ. Đẻ như gà thì tiền sữa gửi tới nhiều như lá mùa thu. Eo ôi, chắc quý vị không biết, ở xứ tôi cho phép mỗi gia đình chỉ được đẻ ra hai mặt con thôi. Thế mới gọi là thiên đường xã hội chủ nghĩa chứ. Có ai như quý vị, lạc hậu, kém văn minh quá mạng!
Thằng bé lớn nhanh, năng động, ưa xông xáo. Nó ưa đá banh và biểu anh làm thủ môn cho nó phát huy sức mạnh chân cẳng. Nó ưa đạp xe cùng anh ra công viên, dọc theo con sông đào, rồi dần dà rất hứng thú đi khám phá những thành cổ nằm ở ngoại ô. Đó là khoảng thời gian còn ngồi ở bậc tiểu học, lên trung học cu cậu bắt đầu “chây lười lao động”. Tiếng Việt dần dà cà lăm cà cặp, đặt câu lộn xộn nhớ trước quên sau. Tâm sinh lý đổi thay, ít trửng giỡn, ít cười đùa, ít tâm sự. Ưa làm mặt nghiêm, ưa cố thủ trong phòng và vô tình, nó làm cho bố mẹ đẻ phải thắt thỏm âu lo đâm sợ nó. Sợ con buồn, sợ con đang phải lòng ai kia, sợ con xa lánh sách đèn, sợ con chưa đủ lông cánh đã bày đặt đòi bay xa.
Con chuẩn bị bay trong khi mẹ âm thầm nuôi dưỡng một cuộc cách mạng giết người không gươm dao. Cách mạng thành công, chị bỏ anh đột ngột, đành đoạn như một người xét thấy đã làm xong những bổn phận, đã chu toàn thứ hợp đồng chẳng liên hệ tới vấn đề tình cảm. Đó là lúc mà con anh đã xong đại học và tìm ra việc làm ở thành phố kề cận. Trống hoác ập tới giữa khúc đời ghẻ lạnh, anh chống đỡ tai ương khó hiểu bằng thái độ của đứa khánh kiệt dần chất lửa. Không dậm cẳng kêu trời, chẳng mồm năm miệng mười bù lu bù loa trách tình nhân thế. Chỉ biết co rúm người lại tịnh khẩu như bình. Chẳng hiểu sao “tiếng thơm” của anh lan truyền về tận cố quận, và thằng cháu bên đó đã gửi email sang kèm tấm ảnh chụp ấn tượng. Nó ngồi ngay ngắn ở bàn học, trên vách dán tấm bìa đỏ lổn ngổn hàng chữ vàng bắt mắt: “Sống chiến đấu, lao động, học tập KHÔNG theo gương chú Hồ nhỏ bé”. Thư chẳng ỉ ôi xin xỏ tiền bạc gì cả nhưng anh đã gửi về cho nó 100 đô với hàng phi lộ: Chút chút tượng trưng để cháu có mà ăn quà vặt nhằm nâng cấp chất xám. Tao rất yêu chất phản động mà mày dành cho ông chú tha phương.
Để phù hợp với hoàn cảnh mới, anh tìm thuê một căn hộ nhỏ như cái lỗ mũi mong sớm tối có chỗ ngã lưng. Cái vỏ của một con ốc sên thì đâu có gì to lớn kềnh càng, khiến nhọc thân? Thiền giả rút êm vào thạch động, bợn lòng chỉ thông báo cùng đứa con ruột rà và người bạn thân duy nhất. Người bạn này có gia đạo an vui, nhà êm cửa ấm nhưng không hiểu sao hắn luôn hứng chịu tiếng ong ve, bị liệt kê vào hội viên hội sợ vợ. Hắn nhún vai, thì đã sao, nhất vợ nhì trời. Mày có thể coi thường, không sợ ông bà Trời nhưng mày phải biết cách xử thế với nửa kia để tai qua nạn khỏi. Tao đồ chừng cái hậu quả mày đang hứng kia e do trước đây mày không biết “lễ độ” chăng? Bạn hỏi: Con mày thế nào rồi? Nó làm đồng minh phe mẹ hay sao? Nó có thường “đi đêm” với mày không? Anh phá ra cười với chữ dùng của bạn. Anh cám ơn những thăm hỏi, những chất vấn; và trong mọi tình huống cười trừ là cách thế nên biểu tỏ. Để chứng minh, dù sao đi nữa, bi thảm cách gì thì ta cũng nên vui sống. Có điều kiện để thụ hưởng của ngon vật lạ lại càng hoan nghênh. Bạn gật gù. Hai đứa con tao đôi khi ngó bắt nản, bởi chúng chúa “phân biệt chủng tộc”, Mother’s Day chúng mua quà hoành tráng mà tới Father’s Day thì chúng ì xèo nay tặng cái kềm mốt tặng cây búa. Mẹ nó chứ, làm cha thì thiếu gì thứ để ngứa tay vọc vào, sao cứ bắt làm thợ mộc làm thợ nề thợ dựng xây thợ cơ khí cố xá thế kia! Đừng đổ oan cho tớ là sợ vợ nhé, bảo tớ làm hội viên hội sợ con mới đúng, nhớ?
Thường thì cùng ra ngồi quán cà phê với nhau không được lâu. Điện thoại thông minh dấu trong túi áo bạn ré kêu giật thót, ba chừng bảy đỗi. Thôi tao dông, bả mới ký sứ vụ lệnh ở chợ Maxi’s bán sale giấy vệ sinh 16 cuốn chỉ 3 đồng 99, mười cái đùi gà mà có 2 đồng 99… Bạn dông thật, điệu bộ lật đật quờ quạng như gà nuốt giây thun. Quen rồi, nên câm lặng mà chẳng càm ràm than vắn thở dài khi cuộc chuyện trò chưa ngã ngũ, nói chưa sướng miệng. Anh ngồi một mình, nhâm nhi cho hết cốc cà phê đắng chát. Tiếng chuông reo mơ hồ, có vẻ không thực. Lần này thì nó phát ra từ máy anh. Ấp a ấp úng một lát anh mới lại thần hồn, bên kia đường truyền của sóng là tiếng nói người con. Bao giờ cũng vậy, trao đổi cùng con anh luôn mang nặng một hối tiếc, một ước ao, phải chi mà hai bố con đều nói được tiếng mẹ đẻ. Như thế, có phải dễ cho anh khi dốc lòng tâm sự cùng nó? Tiếng Anh tuy chẳng cà lăm nhưng anh cực lòng sử dụng để chuyện trò cùng con, nghe nó xa cách làm sao ấy!
Nó thông báo sẽ lái xe về thăm anh, cỡ sáu bảy giờ gì đó là có mặt. Nó mang anh đi nhà hàng ăn tối rồi trao quà đặc biệt cho anh. Biết không dad, hôm nay là Father’s Day. Anh mường tượng ra trong đầu hình ảnh một anh chàng kỹ sư luôn diện đồ lớn, vét tông cà vạt đủ thứ. Tóc ướt cắt tỉa theo thời trang rối rắm một cách có chủ ý. Cạo râu hàng ngày để dưới da mặt xanh thẩm tượng hình một vùng quai nón. Có thứ nước hoa dịu ngọt ám đâu đó trên thân thể… Như đoạn phim chiếu ngược, chàng kỹ sư kia thời còn bé, với anh luôn là đôi bạn chân tình, khắng khít. Nhớ lúc mang nó về nhà, bệnh viện có cử cô y tá đến chăm nom chỉ bày cách săn sóc con hàng tuần. Cô bảo khi tắm bé, nên vọc con chim nó, nhẹ nhàng để kéo lớp da quy đầu lui. Tất cả như một giấc mộng, khởi đi từ lòng nhân ái của vùng đất mới cho tới sự lập thân vững chãi của đứa con anh.
Con anh thuê hotel vì chỗ anh ở không thể chứa chấp thêm ai khác. Đó thực sự là ổ chuột dưới mắt người con quen sống trong tiện nghi. Nó trao cho anh chiếc chìa khoá. Cái gì vậy? Anh hỏi. Con ở phòng 105, bố ở 107. Chỉ một đêm thôi. Đã gọi là ngày của cha thì buộc phải khác thường. Nó vỗ vai anh, vẻ như trấn an, như khích lệ, như dọn lòng đón đợi một bất ngờ. Đúng theo chương trình nó sắp xếp, một bữa ăn ở nhà hàng đình đám diễn ra. Tàn cuộc, nó chở anh về khách sạn, ở đó có người con gái chực sẵn. Quà của con đó, bố khui giờ này hay sao? Đây là Sylvie, đây là ông già tôi. Hai người nên thụ hưởng cuộc vui nhé.
Anh chẳng có phản ứng, anh rất vụng cư xử khi xét thấy mọi thứ đã lỡ làng, đã sắp đặt. Anh yên lặng để cho người con gái áng chừng ngoài đôi mươi nắm tay anh lôi đi, ân cần, âu yếm, quan hoài, tận tuỵ. Phòng 107 mở rộng, đèn bật cháy. Một chiếc giường, một cái TV là vật thể đập vào mắt anh trước tiên. Sau đó là áo xống được cởi ra, ném lên mặt nệm, dụt xuống tapis. Da lụa là trắng muốt, bầu ngực căng mọng với hai núm hồng. Phía dưới là rừng lá thấp, những tóc vàng sợi nhỏ. Và hơi thở nóng thơm mùi bạc hà. Có nói tôi mới tin, ông chẳng ra là bố của anh Mike rất mực hào hoa phong nhã kia. Anh Mike giao tôi một trọng trách, chìu chuộng ông rất mực suốt năm canh này. Chúc mừng ngày lễ của cha.
Anh nhắm mắt lại, sung sướng đón nhận một trọng lượng nồng ấm vừa phủ chụp xuống cơ thể mình. Đôi khi người ta đã dùng chữ lầm lạc, tại sao lại mừng khi trút bỏ được gánh nặng? Hãy đè xuống người anh bao lực nặng mà em có, để chứng minh sức mạnh ở em đã mang anh về lại thuở trung niên cường tráng. Sylvie, cho anh được gọi tên em là Huyền nhé, người vợ đã chối từ anh. Huyền, anh yêu em. Ít ra thì em đã cho anh một thằng con quý tử. Ôi, cuộc đời vẫn đẹp thay!
Chiều cuối năm, anh Tư Ếch ghé tệ xá. Em yêu xào cho một dĩa bê thui đậu phộng với bún tàu; vì uống bia, mồi không cần có nước. Mời anh Tư Ếch ra nhà xe vừa nhậu vừa bàn luận chuyện văn chương.
Gắp miếng thịt bê, chấm nước tương có ớt xắt, anh Tư Ếch đưa vô miệng nhai sừn sựt. Nốc gần nửa lon bia nghe cái ót, đài phát thanh của Tư Ếch nóng máy bắt đầu lên sóng: “Tui tên Ếch, thứ Tư, dân Mỹ Tho.”.
Tui ngứa miệng chen vô: “Mỹ Tho là thủ phủ, cửa ngõ của Miền Lục tỉnh Nam Kỳ”. Anh Tư Ếch nạt ngang làm tui mất hứng: “Tầm bậy! Mỹ Tho là thủ phủ của tỉnh Ðịnh Tường. Mỹ Tho cùng với Gia Ðịnh và Biên Hòa thành ba tỉnh Miền Ðông”.
“Còn 3 tỉnh Miền Tây là: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.” “Chính vì vậy mới có cái vụ Tây chiếm ba tỉnh Miền Ðông. Ông Phan Thanh Giản lui về Miền Tây giữ thành Vĩnh Long. Giữ không được nên ông mới uống thuốc độc quyên sinh đó”
“Ủa? Vậy mà tui thấy trong Chợ Lớn có đường Lục Tỉnh chạy vô Bến Xe Miền Tây nên tui cứ tưởng Lục tỉnh là 6 tỉnh Miền Tây chớ?”.
Anh Tư Ếch, giọng thầy đời, rầy tui: “Quê mình mà địa lý anh không thông; sử ký anh không biết lại dám vỗ ngực ta đây là người yêu nước?” Bị xài xể quá tay, tui nín khe luôn, để thằng chả mặc sức ba hoa chích chòe.
Anh Tư Ếch giảng rằng: “Thời Việt Nam Cộng Hòa mình gọi Nam Kỳ Lục tỉnh là Nam Phần. Thời CS nó gọi Nam Bộ.
“Viết văn thời nào phải dùng địa danh của thời ấy. Không được viết lung tung. Như nhà biên khảo Sơn Nam từ thời VNCH mà gọi ổng là “Ông già Nam Bộ” là gọi tầm bậy.”
Nhân nhắc tới ông Sơn Nam, tui kể vài cái giai thoại cho anh nghe chơi. Xin lỗi hồi nãy tui hơi quá lời với anh.” Tui trả lời đẩy đưa: “Ôi chuyện nhỏ! Ðừng để bụng. Thùng bia của tui. Dĩa bê thui của vợ tui. Cái miệng của anh. Anh muốn ăn, muốn nhậu, muốn nói gì thì nói. Mình ở xứ tự do mà! Xin anh cứ tự nhiên” Tui xỏ ngọt đau như vậy nhưng thằng cha Tư Ếch lù đù nầy đâu sức hiểu, nên giả tiếp tục lải nhải: “Giai là đẹp, Giai nhân là người đẹp. Thoại là câu chuyện, chuyện thần thoại. Giai thoại văn học là chuyện về các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, nhà văn học có tiếng tăm.
Ðó là về người; còn câu chuyện có thể là có thật; mà cũng có thể là phịa. Cũng có thể là thật một phần; rồi phịa một phần. Do truyền miệng, viết lại tất nhiên sẽ bị tam sao thất bổn.
Phần chúng ta có tập quán quá giang, ăn theo, hưởng xái, thấy sang bắt quàng làm họ. “Ổng là bạn vong niên của tao. Tuần rồi, tao dắt ổng đi uống bia ôm ở ngã ba Chú Ía …bla bla…
Nên giai thoại là: vàng thau lẫn lộn! Thiệt giả bất minh. Vì vậy: Giai thoại: Ai nói? Nói với ai? Nói ở đâu trong hoàn cảnh nào? Nói lúc nào không quan trọng. Quan trọng là cái giai thoại đó muốn nói cái gì?
Anh Tư Ếch bèn kể cho tui nghe một cái giai thoại về cách dùng chữ Miền Tây của nhà biên khảo Sơn Nam.
“Một ông đạo diễn viết: “Ði hái bông súng nấu canh chua”. Ông Sơn Nam gạch chữ hái, thay vào chữ nhổ. “Trời ạ, một thằng Huế như tôi làm sao biết được người ta chỉ nhổ chứ không hái bông súng. Hái chỉ có cái bông thì lấy gì để nấu canh?”
Tui bèn xía vô, xin ‘xạo xạo’ thêm một chút. Chưa nhổ thì gọi là cây bông súng, nó còn cái bông. Nhổ lên ăn để ăn cái cọng không có bông. Theo tui, không phải khác biệt về tiếng địa phương như ông đạo diễn Huế nầy nói đâu. Vì ngoài Trung, ngoài Bắc cũng có động từ nhổ chớ sao không? Bà Hồ Xuân Hương có câu thơ: “Cột nhổ đi rồi lỗ bỏ không”. Ðơn giản là ông đạo diễn nầy dùng chữ trật lất thế thôi.
Anh Tư Ếch quả là dân cà chớn chống xâm lăng. Ảnh cà khịa ông đạo diễn đã rồi ảnh quay qua cà khịa ông nhà thơ. Ông nhà thơ viết bài: ‘Phải lòng con gái Bến Tre”. Bài thơ nầy được phổ nhạc, hát rùm từ trong nước ra tới hải ngoại.
Là dân Mỹ Tho giáp mí với Bến Tre, anh Tư Ếch không chịu cái chữ ‘phải lòng’ của ông nhà thơ xứ Quảng có vẻ coi thường con ghệ Bến Tre của ảnh quá?! Dân ngoài Trung không hiểu chữ ‘phải lòng’ trong quê Tư Ếch. Nếu một mình thì gọi là khoái em. Phần em khoái mình thì cái đó gọi là chịu đèn.
Theo tự điển, động từ ‘phải lòng’ là phải có hai người, trai và gái khoái lẫn nhau! Bậu có cái lòng của bậu. Qua có cái lòng của qua. Ðem hai cái lòng đó đọ vừa khớp với nhau mới gọi là phải lòng.
Còn chỉ mới rượt theo em Bến Tre xuống Phà Rạch Miễu, tính dê hỗn! Mà em đẹp cỡ Phi Nhung chắc có kép lâu rồi đâu có huỡn mà phải lòng với mấy cha?
Rồi chữ ngoe nguẩy nữa. Anh Tư Ếch cũng hổng chịu luôn.
Khi một người con gái hờn mát chuyện gì đó mới ngoe nguẩy. Ngoe nguẩy không phải là làm điệu, làm duyên như ông nhà thơ đã nghĩ!
Rồi từ Sài Gòn xuống Bến Tre là đúng. Vì bà con Lục tỉnh Nam Kỳ luôn lấy đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ làm điểm đứng.
Mỹ Tho cách Bến Tre 11 cây số, bà con mình nói qua Bến Tre; chớ không nói xuống bao giờ. Còn nếu nói điểm xuất phát là Sài Gòn thì không ai xuống Bến Tre hơn 100 cây số mà đi xe thổ mộ tức xe ngựa cả!
Rồi dùng chữ Phà ở đây cũng trật lất. Thời đó, đi xe ngựa làm gì có chiếc Phà mà là chiếc Bắc!
Thế nên làm thơ, đặt lời cho bản nhạc về cái vùng đất mình chưa rành thì nên kiếm Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Sơn Nam mà học. Xin mấy ông đừng phang ẩu nữa được không nè? Chuyện chữ nghĩa không thể giỡn chơi cho được!
Giảng bài xong. Dĩa mồi đã hết. Thùng bia chỉ còn vỏ lon bia. Ðêm đã khuya. Ðài phát thanh vẫn phát. Phát thanh viên Tư Ếch vẫn đía. Thính giả vẫn ngồi đó, mắt nhắm híp, tui đã ngủ tự thuở nào. Ðêm cuối năm, tui mơ về quê cũ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.