Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 8 May 2026

Triều Hoa Đại thực hiện

Thưa anh Lâm Chương, trước khi vào vấn đề, tôi cứ phân vân mãi, không biết giới thiệu về anh như thế nào với độc giả, Một nhà thơ, một nhà văn, hoặc cả hai?

Thưa anh Triểu Hoa Đại, có những người cầm bút, coi chuyện làm thơ viết văn như nghiệp dĩ và lẽ sống. Nếu không sáng tác, đời họ không còn ý nghĩa. Với tôi thì khác. Làm việc tùy hứng, sáng tác không đều. Có khi cả năm không được bài nào. Vì thế, chưa hao giờ, tôi dám tự nhận mình là nhà văn nhà thơ. Không phải làm bộ màu mè khiêm tốn đâu. Thật tình, tôi chưa xứng với danh xưng ấy.

Vậy xin anh vấn tắt ít dòng tiều sử, để độc giả có được một khải niệm về tác giả?

Bìa sau tập truyện Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, đã có ghi tớm tắt tiểu sử rồi. Nếu nói chi tiết hơn, tôi được sinh ra từ nơi chốn ruộng đồng và lớn lên từ làng mạc. Mắt quen nhìn màu xanh cây lá. Tai nghe quen tiếng con dế gáy, con cu gù, con nhái kêu … ngoài đồng nội. Những thứ ấy, đầy ắp trong hồn tôi. Có lẽ, vì thế mà tôi yêu thơ chăng? Vào những năm đầu thập niên 60, tôi bỏ nhà đi bụi đời ra miền Trung, sống lất phất lang bang ở Nha Trang. Tôi yêu những người dân hiền hòa và thành phố êm đếm thơ mộng của miền biển này hết sức. Nha Trang, lại có những người học trò làm thơ, được in thành sách, như Thanh Nhung và Cao Hoàng Nhân với Tiếng Thơ Miền Trung, như Suơng Biên Thùy (là Lê Mai Lĩnh bây giờ) với Nỗi Buồn Nhược Tiểu, như Sao Trên Rừng (là Nguyễn Đức Sơn bây giờ) có bài đăng trên Sáng Tạo. Tôi phục những thi sĩ học trò này lắm. Và tôi dã bắt chước làm thơ. Những bài thơ đầu tiên, đọc nghe rất “thê thảm” chẳng báo nào chịu đăng, kể cả bích báo nhà trường cũng chê. Những năm về Sài Gòn, tôi tập viết văn xuôi, ông Mai Thảo đăng trên Nghệ Thuật, trong mục “Những Người Viết Mới”. Tôi mắc cở, không gửi cho Nghệ Thuật nữa. Tôi gửi bài cho báo khác, chẳng thấy đăng. Nghe thuật lại rằng, có một nhà văn lớn (đã mất rồi) đọc bài bản thảo của tôi, lần nào cùng kêu lên: “Thằng Phá Hoại. Thằng Phá Hoại.” và ném vào sọt rác. Từ ấy, tôi không viết văn xuôi. Sau này, nghĩ thương ông Mai Thảo. Ông cho Thằng Phá Hoại vào mục “Những Người Viết Mới” là nâng đỡ lắm rồi.

Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn Thảo Trường có nói: “Tôi bị CS bỏ tù lâu vào tận đáy vực của họ, để thấy một điều rõ ràng là họ giả dối một cách thiệt tình, họ tàn nhẫn rất nhiệt tâm, độc ác nhân danh lòng nhân đạo”. Anh cũng đã từng trải qua những trại tù. Vậy anh có ý kiến hoặc có thêm lời bổ túc gì không?

Nhà văn Thảo Trường đã có quá nhiều kinh nghiệm về người CS. Cách nói của ông có vẽ khôi hài, nhưng rất chính xác. Tôi cũng muốn nói thêm rằng, dưới chế độ CS, không biết họ giáo dục thế nào, mà lòng người mang đầy nọc độc, hận thù, rồi từ đó trở nên nham hiểm, và tráo trở một cách lạ thường, ngoài sức tưởng tượng của tôi.

Tôi nghĩ đâu phải chỉ có người CS là giả đối, độc ác. Bất luận ở đâu cũng có ánh sáng và hóng tốt, có ngày và đêm, có thiện và ác. Anh có chia xẻ ý nghĩ đó không?

Vâng, đời sống ở đâu cũng có hai mặt. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh là người CS (đa số thuộc ngành Công An), họ độc ác thái quá. Họ làm việc ác bằng cái tâm bình thường. Họ không biết họ đang làm ác. Thế mới nguy cho người khác chứ. Cũng có người tốt, nhưng ít lắm.

Đức Khổng Khâu có dạy: “Nhân chi sơ, tính bốn thiện.” Anh nghĩ sao về lời day này?

Anh Triều Hoa Đại ơi! Hình như anh đang du tôi và o cái thế phải cãi lại lời thánh nhân. Ngay từ khi còn bé, đứa trẻ đã biết giành vú mẹ, giành đổ chơi. Ai dạy cho nó cái tính ích kỷ ấy? Bản nãng chiếm đoạt tư hữu, dã có sẳn trong tâm thức bẩm sinh rồi. Lớn lên, vì nhu cầu đời sống, va chạm với xã hội, bản năng ấy càng phát triển thêm, chứ không hề giảm bớt. Nhưng do ý thức và quy luật xã hội ràng buộc, nên người ta đè nén, hoặc che đậy bản năng bằng bộ mặt lương thiện đấy thôi.

Đọc xong Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, độc giả có nhận định rừng anh hằn học, chua chát với đời quá, Đó cũng là  điều unh đã nói với một người bạn. Thế thì có cách nào Lâm Chương viết khác đi được không ?

Tôi không phải người viết văn làm thơ chuyên nghiệp và cũng không thích chìu theo thị hiếu người đọc. Nói thế nghe dễ mất cảm tình quá. Nhưng đấy là sự thật. Xưa nay, tôi chưa từng nhận được đồng xu cắc bạc nào từ bài viết của mình. Nhưng tôi vẫn viết, vì tôi thích. Và chỉ viết những gì tôi muốn viết. Tôi không hề đắn đo xem phải viết thế nào, hành văn ra sao. Cứ nghĩ thế nào là viết thế ấy. Đi lính, có những kỷ niệm vui buồn khó quên. Đi tù, là vết thương không bao giờ lành được. Tôi cứ săm soi hoài nỗi dau nhức ấy. Thú thật với anh, trước kia tôi chẳng biết CS là gì, lòng không một hận thù nào về phía đối nghịch. Ngoài trận mạc, bắt được tù binh, tôi thấy họ đáng thương hơn là thù địch. Chỉ khi đi tù, tôi mới nhìn rõ chế độ CS và bản chất con người của chế độ ấy. Tôi ngạc nhiên vì họ quá căm thù và lúc nào cũng muốn trút tai hoa lên đầu tôi. Làm sao tôi có thể viết khác được? Tôi thường viết tự truyện, phần hư cấu rất ít. Chỉ viết những gì đã trài qua và đã có kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm, mà viết theo tưởng tượng hoặc nghe người khác kể, thường là sai bét cả. Chưa từng cẩm cây súng đối diện địch quân, mà dám viết về trận mạc. Chưa từng bị CS hành xác, mà viết chuyện trong tù và chửi bới loạn cả lên. Tôi phục những vị ấy. Quả là thiên tài!

Đời sống vốn đã quả nhiều khổ đau và thủ hận. Anh có nghĩ rằng đã đến lúc mình nên chuyển đổi cách viết để vượt lên trên thói thường của thế tục, tạo ra những cái đẹp hơn, tốt hơn?

Tôi khó mà viết khác với lòng mình. Đang sống nơi thế tục, muốn vượt lên trên những điều thế tục, không dễ. Chỉ có thánh nhân mới làm được. Tôi không tin có ai ở coi dời này chịu lấy ân báo oán và bị tát má bên này, lại đưa má bên kia cho người tà tát thêm. Phật và Chúa khuyên thế, vì các Ngài là giáo chủ. Tôi là hạng phàm phu. Tôi nghĩ, làm người đã khó lắm rồi. Và muốn làm người, trước hết phải thành thật với chính mình. Tội nói lên những ẩn ức trong lòng tôi. Tôi không thêu đệt đặt điều nói xấu kẻ tôi ghét. Đời tôi khắng khít với nỗi đau khổ, nhiều hơn niềm vui sướng. Tôi nhớ kẻ hành xác tôi, nhiều hơn nhớ người yêu. Nếu tôi viết khác đi, nghĩa là viết như người cao thượng, là tôi viết láp, Ai mà cảm thông với kẻ giả dối bao giờ.

Khi người ta nói đến những trại tà CS, thì mỗi người mô tả một cách khác nhau, cũng giống như những người mù sờ vơi vậy. Ở đây, xin anh mô tả lại cảnh đời khốn khổ ấy và những kinh nghiệm phấn đấu để sống còn?

Tuổi tù của tôi cộn thua nhiều người lắm. Và ở tù là một bất hạnh, chứ không phải là chiến công để tự hào. Ông Vũ Thư Hiên, ở tù kiểu khác. Ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế ở tù kiểu khác. Những người được xếp vào loại Ngụy Quân Nguy Quyền, ở tù kiểu khác nữa. Đã có quá nhiều người kể chuyện tủ rồi và cũng không thiếu những lời chửi bới. Chửi không thuyết phục được ai. Tôi chỉ đưa ra một thực trạng, để người khác nhận định và có thái độ. Ra Bắc, có một thời gian, thi sĩ Tô Thùy Yên và tôi ở cùng một trại, chứa khoảng 250 tù nhân. Suốt thời gian chung trại, tôi không hề hiết có Tô Thùy Yên ở đây. Trong tù, ai cũng muốn thu nhỏ thân phận của mình, lần vào đám đông. Nghĩa là biến mình thành một bóng mờ, chứ không phải hạ mình làm tên hèn mạt. Ở từ dưới chế độ CS, đừng làm gì cho họ chú ý, nhất là phải “ngoan”. Hạng cắc ké như tôi mà chống đối, họ triệt tiêu ngay. Không thể so sánh với mấy ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Mấy ông ấy dã được quốc tế chú ý rồi, họ không dám giết. Thêm một kinh nghiệm nữa, khi đi lao động bên ngoài, gặp rắn rít, cóc nhái, ểnh ương, cào cào, châu chấu, dế nhũi … đều phải coi đó là món ăn, là nguồn protéin dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Đừng hy vọng vào thịt cá của trại. Những kỳ lễ lớn, làm một con heo, chia mỗi người đuợc vài miếng thịt bằng đầu ngón tay là cùng. Ngày thường, sắn khô nước muối là tiêu chuẩn trường kỳ. Thôi, mình qua câu hỏi khác đi anh.’

Anh không muốn nói thêm về chuyện tù thì thôi. Sang vấn đề khác, Anh nghĩ sao về câu nói cùa F. R. Leavis, khi ông ta cho rằng; “Văn chương có đời sống riêng của nó.”?

Xin lỗi. Tôi không hiểu ý của Leavis muốn nói gì. Đối với tôi, những gì đã viết ra là những gì đã từng trải. Chuyện kể của tôi có một phần máu thịt, mồ hội và nước mắt của tôi trong đó.

Anh có thể chọ biết vài nguyên nhân hình thành những truyên trong Đoạn Đường Hốt Tất Liệt?

Sống ở đây, chẳng có gì vui và tôi cũng khó thích nghi với xã hội này. Cuối tuần, cùng vài ba ông bạn bày cuộc nhậu lai rai đỡ buồn. Khi nhậu, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nghe chuyện nào thấm thía, bạn khuyến khích nên viết lại. Tôi chỉ viết chuyện của tôi thôi. Chuyện của người khác, tôi không viết được. Có lần, tôi thử viết chuyện tình của bạn, bị chê là gượng gạo, không thực. Do đó, tôi biết rằng tôi thiếu khả năng viết truyên tình cảm. Không thể viết hư cấu như thực, thì không thể làm một nhà văn đúng nghĩa. Đại loại là thế, nguyên nhân hình thành các truyện, phần lớn đều ở trên bàn nhậu.

Sau khi đọc xong “Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, có người đưa ra nhận định: “Cái ông nhà văn này đánh phá “cách mạng” chẳng nương tay. Chuyện ấy không lấy gì làm khó hiểu, nhưng cái khó hiểu là ở chỗ ông ấy đánh phú cả “phe ta”. Ông ấy mô tả một thanh niên sợ khổ, trốn lính, nhưng khi bị bắt đi lính thì hèn nhát (truyện Định Số) chẵng hạn. Anh có đồng ý với nhận định ấy không? Anh có cần “biện bạch” gì không?

Chả có gì phải biện bạch. Người thanh niên trong truyện Định Số là tôi đấy. Và nhân vật trung đội trưởng trong các truyện khác, cũng là tôi đấy. Trong các tự truyện, người ta thường kể về niềm tự hào. Tự truyện của tôi, nói lên nỗi đốn nhục. Tôi vốn hèn nhát, nhưng trong vài trường hợp nào đó, ở vào cái thế “chẳng đặng đừng”, đành phải xung phong thôi. Nếu chẳng may, tôi tử trận, người ta sẽ ca tụng tôi là “anh hùng vị quốc vong thân”. Ngoài trận mạc, phải liều mạng bắn giết nhau, chữ thật tâm, tôi ngán lắm. Tôi không giấu giếm điều đó. Tôi rất ghết những tên núp dưới những chiêu bài và luôn mồm cổ võ cho người đi trận. Họ có gan thì cầm súng ra chiến trường, đừng xúi dại người khác, Còn nữa, có những cấp chỉ huy ở một nơi xa, rất an toàn, cầm máy vô tuyến, điều quân vào trận. Nếu thắng, ông ta là người hưởng công đầu, báo chí truyền thông ca lụng ông ta là tài ba anh dũng. Thật nhầm! Tự mình dấn thân vào nơi gió cát mới quan trọng, chứ ra lệnh cho người khác vào chốn hiểm nguy, ai mà chả làm được. Qua cái câu “nhất tướng công thành, vạn cốt khô” cho ta thấy rằng, kẻ có lòng nhân ái, tiếc mạng sinh linh, không thể nào trở thành tướng tài được. Lý luận kiểu của tôi, nhiều người không chịu. Nhưng tôi không thể nói khác những gì tôi nghĩ.

Lại nữa, vẫn theo đọc giả, thì trong truyện” Giải quyết cấp thời” anh dã cho một cán bộ làm tình với bò. Người ta bảo rằng, có lẽ vì bị tù lâu năm, nên anh đem lòng oản ghét, mà nói xấu “cách mạng” đấy thôi, chứ làm gí có chuyện ấy. Nhận xét ấy có đúng không?

Trên cõi đời ô trọc này, có những điều người ta không nói, không có nghĩa rằng điểu ấy không xảy ra. Mặt trái cuộc đời, có nhiều điều ghê gớm, trí tường tượng của người bình thường, không dám nghĩ tới. Những năm đi tù trên đất Bắc, tôi biết nhiều chuyện động trời. Có người tù hình sự trạc 45 tuổi. Hồ hơ bản án ghi: nhiều lần “hủ hóa” với con gái ruột của mình. Văn chượng trong sáng của cách mạng, người ta tránh tiếng làm tình, thay vào đó bằng chữ hủ hóa. Vào tù, ông ta được chỉ định chăn bò. Những người tù hình sự khác, bắt gặp ông ta đang “hủ hóa” với bò. Thêm chuyện khác, Một ông già nhà quê, bán được con heo, mang tiền đi thăm con gái, có chồng ở xa. Con gái của ông bàn với chồng, cắt cổ cha ruột của mình để lấy trọn số tiền bán heo, chôn xác dưới sàn nước rửa chân. Người con trai của ông già, đi hộ đôi, về phép ngang đấy, ghé lại thăm vợ chồng người chị, lúc hai vợ chồng này dang vắng nhà. Trong khi ngồi chờ, đứa cháu nhỏ ngây thơ, kể lại cho cậu nó nghe chuyện cha mẹ nó giết ông ngoại và chỉ chỗ chôn xác. Anh đào sàn nước lên, quả thấy xác ông già. Thế là anh giết vợ chồng người chị và đi tù, Tôi gặp anh ta trong tù. Anh chẳng có vẻ gì hung bạo của một tên sát nhân. Lòng người ác độc, đã xô anh ta vào hoàn cảnh khốn nạn. Những chuyện ấy, dù một người viết văn giầu tưởng tượng, cũng không hư cấu nổi. “Giải Quyết Cấp Thời” là chuyện thật. Nếu người đọc không tin. là tại tôi bất tài, không đủ khả năng thuyết phục. Tôi không thích CS, nhưng không vì lẽ đó mà tôi bịa chuyện nói xấu họ, Những truyện tôi viết, thường vẫn dành cho họ một kết thúc có “hậu”, một chút tình người.

Trong ba cảnh đời: Chiến tranh, tù đầy và vui lạc, cả ba cảnh ấy chẵng lấy gì làm vui, nhưng nếu được chọn lựa một trong ba cảnh ấy, thì anh sẽ chọn cảnh nào, vì sao?

Dĩ nhiên tôi chọn lưu lạc. Tôi sợ chiến tranh và tù đày lắm rồi. Đó cũng là lý do tôi chưa dám về thăm quê hương. Mỗi lần nghĩ đến xứ sở dang bị cai trị bởi một thứ luật giống như luật rừng xanh, tỏi ớn xương sống. Nếu tôi mò về xứ, rủi ro ở tù lần nữa, với sức khoẻ hiện thời, chắc tôi bỏ thây trong tù.

Nhà văn Haruki Murakamai tác giả được ưa chuộng nhất ở Nhật (hiện đang sống xa tổ quốc) thì thực sự tin tường rằng chỉ có thể “tìm thấy quê hương” khi ở xa nó. Anh cũng là một nhà văn và đồng thởi cũng đang xa lìa tổ quốc, anh có cùng quan điểm với Murakamai không?

Khổ quá. Anh cứ gọi tôi là nhà văn. Tôi chỉ là chứng nhân thời đại và đang viết bản tường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi. Ý nhà văn Haruki Murakamai muốn nói tìm thấy quê hương trong lòng mình. Tôi cũng nghĩ thế. Người xa quê hương, viết về quê hương thắm thiết hơn người ở tại quê nhà.

Anh làm thơ (đã lâu) và viết văn (mới đây), vậy thì mỗi khi muốn diễn đạt một điều gì anh thường tìm đến thơ, hay văn trước?

Tùy trường hợp. Thơ nói lên những rung động cảm xúc của lòng mình. Văn mới diễn tả hết những chi li đời sống.

Anh nghì gì về Thơ và những người làm thơ ở tran, và ngoài Tổ Quốc?

Nghĩ gì về Thơ? Trả lời câu hỏi nay, chắc phải làm một bài luận giải dài dòng lắm. Xin dể dành cho những nhà chuyên khảo về thơ, Phần kế, những người làm thơ ở trong và ngoài tổ quốc? Rất tiếc, sau năm 75, tôi không có dịp đọc nhiều thơ trong nước, nên không dám có nhận định tổng quảt. Riêng về ông Bùi Minh Quốc, gần đây thơ ông đã lan tràn trên các mặt báo hải ngoại. Hiện tại, thơ ông là một khí cụ đấu tranh rất tốt, nhưng tôi e rằng qua một giai đoạn lịch sử, sẽ bị đào thải. Đó không phải là thơ, theo quan niệm thiển cận của tôi. Còn ở hải ngoại? Rõ rằng thơ đang trên đà lạm phát. Tiền bạc lạm phát là điều đáng buồn, nhưng thơ lạm phát là hiện tượng đáng mừng. Trong cả trăm bài thơ, ta cũng chọn được một bài hay. Nhưng mấy ông toà soạn gặp bài nào cũng đăng, làm độc giả cứ hoa cả mắt lên. Vì thế mà thơ bị rẻ rúng. Lỗi này, tại tòa soan. Trong mục thư tín, những người được vài bài văn, bài thơ đăng báo, các ông toà soạn đều gọi họ là văn thi sĩ cả. Nếu theo cách gọi ấy, thì ở hai ngoại, văn thi sĩ nhiều như lá trên rừng, không kể xiết. Còn vài loại thơ nữa cũng đang thịnh hành: thơ thời sự, thơ tố cộng. Suy cho cùng, loại này không phải là thơ, nhưng nó vẫn hiện diện, vì nhu cầu nhất thời. Thời thế qua di, nó sẽ bị lãng quên. Những người làm thơ đã có một thế đứng vững chắc trên thì dàn Miền Nam trước 75, hiện nay họ vẫn còn đang vun bồi thêm cho sự nghiệp của họ, như Du Từ Lê, Tô Thùy Yên, Viên Linh … Ngoài ra, những người trẻ tuổi hơn, làm thơ khởi sắc trước 75, bây giờ ra hải ngoại, vẫn tiếp tục sáng tác đểu đặn, đã khẳng định tài năng của mình, như Hoàng Lộc, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Triểu Hoa Đại, Hoàng Xuân Sơn, Thành Tôn, Cao Xuân Tứ … Còn những tên tuổi mới gia nhập làng thơ hải ngoại và được nổi bật, rất nhiều, khó mà ghi đầy đủ, như Quan Dương, Trần Mộng Tú, Thường Quán, Trân Sa, Cao Dông Khánh … Sở dĩ tôi nói khó ghi đầy đủ, vì hoa thợm cỏ lạ cứ chen nhau. Mà cỏ lạ thì nhiều lắm, đếm không hết.

 Chắc anh cũng có đọc ít nhiều về các nhà văn ở trong nước, anh thấy văn phong của họ thể nào? Họ vì cái “nghiệp” mà viết, hay viết như một đòi hỏi “thế thời phải thế”?

Càng lúc anh càng dụ tôi vào những câu hỏi khó. Vâng, tôi cũng có đọc văn ở trong nước. Đặc biệt, tôi thích lối hành văn của người miền Bắc. Câu vân gãy gọn, dứt khoát. Cách điễn đạt tư tưởng, cách dùng từ của họ cũng mới lạ. Nhất là những câu đối thoại, làm tôi bất ngờ lý thú. Tôi có cảm tưởng như tôi là người VN cổ xưa, bổng sống dậy nghe họ nói chuyện, vẫn hiểu nội dung nhưng lối suy nghĩ và cách sử dụng ngôn ngữ đã khác biệt với tôi lắm rồi. Chúng ta ở xa tổ quốc, chữ nghĩa mỗi ngày một hao mòn dần. Người viết ở trong nước, có lợi thể hơn chúng ta, họ luôn luôn bắt gặp những ngôn từ nóng hổi, mới được sản sinh ra từ xã hội. Khi nói tới chuyện văn học, ta nên gạt bỏ những thành kiến chính trị, thì mới nói hết được. Tôi thích lối dựng truyện của người miền Bắc. Họ không trải rộng theo diện tích mặt bằng. Chỉ một vấn đề nhỏ thôi, nhưng họ phân tích và xoáy sâu vào trọng điểm. Tại sao họ viết hay thế? Tôi nghĩ, có lẽ do đời sống quá khổ ải và thiếu thốn, nên tấm lòng người miền Bắc có khuynh hướng thu hẹp lại, tần mần tỉ mì từng chi tiết. Cũng đồng thời một món ăn, người thừa thãi vật chất, thấy không có gì đáng quan tâm, nhưng người đang thiếu thốn, thấy quan trọng và có nhiều suy nghĩ . Truyện của họ, đã thể hiện điều đó. Dĩ nhiên, tôi không nói tới những rác rưới trong văn học, sáng tác do nhu cầu thời thế phải mạt sát những người không cùng chính kiến với họ. Còn người nào viết như cái nghiệp hay không, chỉ người ấy biết. Hoàn cảnh của họ, khó mà đòi hỏi phải viết thật những gì họ nghĩ. Nhưng đã không viết thật được, thì cũng đừng viết bậy. Tôi muốn nói nhà văn Bảo Ninh. Anh này chẳng hiểu gì về người lính VNCH. Trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, khoảng cách giữa sự thực và hư cấu của anh còn xa nhau lắm. Với cái đầu đầy những thiên kiến xấu về phía đối nghịch, viết để phục vụ cho chế độ của anth thì tốt, nhưng giá trị văn học còn phải xét lại. Một tác phẩm thiếu tính trung thực như thế, mà ở hải ngoại có nhiều người lăng xê. Cũng lạ!

Anh có ước mơ tác phẩm của anh được bày bán trong mước không?

Ai chẳng ước mơ điều đó. Nhưng ngày nàn CS còn thống trị đất nước, tác phẩm của tôi không hy vọng có mặt trong nước. Kể cả bản thân tôi nữa, cũng đành làm ngựa Hồ hí gió Bắc mà thôi.

Có lẽ vì “thương yêu” người cẩm bút, mà người ta trao cho họ quá nhiều trách nhiệm. Theo anh, khi viết văn làm thơ, anh có nghĩ rằng mình có ít nhiều trách nhiệm với độc giả không?

Những khi làm thơ viết văn, may mắn có một tác phẩm hay, được mọi người tán tụng. Họ tưởng họ vượt lên khỏi con người tầm thường, để trở thành thần. Và tự kê vai gánh vác sử mạng hướng dẫn người khác, bằng cách dạy đời. Lỗi cũng tại chúng ta thổi phồng họ quá đáng. Một nhà văn Mỹ, khi nhận giải Nobel, dõng dạc tuyên bố rằng: “Nếu một kẻ cầm bút không nói lên được thực trạng xã hội đương thời và làm ngo trước trách nhiệm đấu lranh cho người bị áp bức, họ không xứng đáng là nhà văn.” Câu tuyên bố nghe ghê quá.

Viết văn làm thơ, chứ đâu phải viết truyền đơn như làm chính trị, mà bảo phải vùng lên tranh đấu? Chẳng qua vì xã hội bất công và bản thân bị đè nén, gây tác động trong lòng, nên họ viết để giải tỏa ẩn ức. Và điều ấy, vô tình trùng hợp với nguyện vọng xã hội đương thời. Khi ngồi viết, nếu cứ nghĩ viết để phục vụ cho một ý đổ nào đó, mất cả hứng. Sống trong một xứ chiến tranh nghèo đói, bị áp bức đủ điều, nhưng nếu thích, ta cũng có quyền làm thơ ca tụng tình yêu chứ? Với tôi, tất cả đều tùy hứng. Tôi không đặt nặng vấn để, mình phải viết thế này, thế kia để phục vụ cho ai cả.

Thời của quá khử đã qua đi, bây giờ là của hiện tại và trước mặt là thời của tương tlai, anh có nghĩ rằng đã đến lúc cần phải đồi cách viết, tìm những để tài mới, nghĩa là quên đi những “chua chát” và “hằn học” để hướng về một ngày mai tươi sáng với chan chứa tình người?

Đổi cách viết để tìm một hướng đi mới cho lương lại, là diều quá tốt. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ mà thôi. Ngay đến hiện tại, tôi cũng chẳng viết được gì về cái xã hội xa lạ này. Trong một đời sống bình yên đến nhàm chán, tôi không tìm thấy những dông bão trong tâm hồn, để lấy đó làm chất liệu sáng tác. Nếu cố gắng viết về đời sống này, chắc không tránh khỏi những ê a lê lết kéo dài, làm độc giả buồn ngủ. Tôi lại cũng không có tài dựng lên một truyện hoàn toàn do trí tưởng tượng, nên chẳng bao giờ lự nhận mình là nhà văn.

Số lượng sách xuất bàn và người tiêu thụ ở hải ngoại mỗi ngày một sút giảm một cách đáng lo ngại, nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong một bài viết ở Văn Học (số Xuân Kỷ Mão) đũ phải làm một bài tính trừ buồn thảm. Thưa anh, liệu có cách nào chúng ta cứu vãn được “tình thế” buồn thảm ấy chăng?

Ông Nguyễn Mộng Giác bì quan là phải, thế hệ sau chúng ta, ở hải ngoại người đọc thơ văn VN sẽ tuột đốc một cách thảm hại. Nhưng tôi có lối nhìn khác, lúc ấy chế độ CS cũng đã biến thể hoặc tiêu tùng rồi. Nến văn học hải ngoại sẽ “quy hồi cố hương”. Và qua sự gạn lọ c của thời gian,những tác phẩm thiếu tính trung thực, xu thời theo chế độ này hay chế độ kia, để mạt sát phía đối nghịch, sẽ bị đào thải dầu tiên.

Người ta kỳ vọng vào số 70 triệu độc giã ở trong nước. Vậy thì theo anh đã dến lúc chưa, cho sự hợp tác văn hóa giữa trong và ngoài Tổ Quốc?

Có phải ý anh muốn nói giao lưu văn hóa? Hải ngoại đã đưa bàn tay ra từ lâu rổi. Những người làm văn nghệ trong nước cũng thập thò đưa tay ra bắt. Nhưng chính quyền làm cái hàng rào chắn kỹ quá, nên những gì trong nước phổ biến ra ngoài thì được, ở ngoài muốn xâm nhập vô trong rất khó. Sự bất công ấy, chỉ có thể giải quyết bằng cách dẹp bỏ chế độ mà thôi.

Bạn bè bảo với nhau: Lâm Chương ở đâu thì cũng vẫn chỉ là Lâm Chương, có nghĩa là: Dù lưu lạc nơi đâu, bất cứ trong hoàn cảnh nào, Lâm Chương cũng chẳng khác gì ngựa Hồ, mỗi khi gió bắc lổng lộng thổi về thì chẳng bao giờ quên cất lên tiếng hí đau thương. Điều ấy anh thấy thế nào?

Cám ơn anh và bạn bè đã nghĩ như thế về tôi. Những gì tôi viết đã thể hiện lòng tôi. Không hề làm dáng văn chương. Với câu hai này, xin anh cho tôi tỏ vài lời tâm sự. Cảnh sắc thiên nhiên của đất Mỹ rất đẹp, nhưng tôi thấy trong cái đẹp ấy không có hồn. Tôi nhớ thương cái xóm nhỏ nghèo nàn của tôi. Đường đất. Bờ ruộng. Hàng cây, Con rạch. Những thứ đó, cũng còn đang nhớ thương tôi. Khi đi lính, qua những làng mạc tiêu điều của miền Trung. Tôi yêu mến mảnh đất khô cằn này và muốn được hòa mình sống với những người dân áo rách, nhưng tấm lòng đầy đôn hậu. Khi đi tù, tôi sửng sốt trước vẻ đẹp hùng vĩ của núi non miền thượng du. Rời khỏi nơi đó, lòng tôi mang theo núi rừng và hình ảnh chất phác của người dân sơn cước. Hình như những nơi nghèo nàn cơ cực của quê hương, có sức gần gắn bó mãnh liệt với tôi, hơn là chốn phồn hoa đô hội. Với tâm linh ấy, nên đời tôi mạt rệp là phải.

Anh còn điều gì cần bổ túc thêm cho buổi nói chuyện của chúng ta hôm nay không? Xin cám ơn đọc giả đã theo dõi buổi nói chuyện của chúng ta hôm nay. Cám ơn anh Triều Hoa Đại, đã giới thiệu tôi đến với người đọc.

Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 8 May 2026

Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa. Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng bất an ninh nên phải đóng thuế cho Việt Cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chỉa súng vào lưng hắn:

– Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.

Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi. Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, nhà cửa lên Sài Gòn ở. Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác. Câu chuyện bắt đầu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền Trung. Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào chợ thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lam hay xe bò. Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái cưỡi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối. Qua điều tra đây là cô thợ may, nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bỏ sỉ cho bạn hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.

Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng. Một buổi sáng Chủ Nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con … toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ. Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về. Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ. Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện, tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít-ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ. Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô bỗng có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn … Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.

Một sáng Chủ Nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng:

– Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu! Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa. Thế là chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy thái độ của cô đối với tôi đã thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô có đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lùi xùi thành một nàng tiên, nhựng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.

Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ. Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước. Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện:

– Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?

– Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp nữa.

– Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.

– Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền. Tôi tâm sự với cô học trò:

– Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không?

Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ dấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức. Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?

Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết. Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự … Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm. Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là yếu điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi. Mùa Hè năm đó, đối phương đã lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya. Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật … Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây. Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Người miền Nam vốn lạt lòng, dễ tin, cộng sản miền Bắc mị dân rất giỏi, nào đội quân tóc dài, Củ Chi thành đồng, Bến Tre đồng khởi, anh hùng, dũng sĩ … đẩy phụ nữ, trẻ con miền Nam ra làm bia đỡ đạn cho họ trong âm mưu xích hóa cả hai miền. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt. Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì … Cô đã hoàn toàn thất thế, cam đành chờ đợi going bão vùi dập cuộc đời. Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như mất trắng. Giờ đây, đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối cũng không nên. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi. Có thể cô đã đóng kịch, nhưng tôi lại thấy cô thân yêu, đẹp đẽ hơn bao giờ. Tình yêu đến lặng lẽ bằng những kỷ niệm những ngày đi lang thang bên nhau, những buổi đi ăn quà rong, chuyện trò rồi nhìn vào mắt nhau cười rộ lên một cách hồn nhiên như những người đang yêu khác. Dù phân vân không rõ cô yêu tôi thực không, nhưng tự xét lòng, tôi biết cô cần cho cuộc đời tôi, trong hiện tại và tương lai. Tình yêu chân chính dẫn đến những ước mơ đơn sơ về một gia đình, cô và tôi bên nhau. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô. Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ với nhau. Tôi và cô đều chối biến, chẳng biết gì về Việt Cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô:

– Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương anh thực tình thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác. Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ … Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm, chúng tôi đã thông cảm nhau. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may. Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn. Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt. Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong và những chi phí khác. Nhưng sau cuộc hành quân hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.

Suốt mấy tháng Hè, tôi về Sài Gòn với gia đình, buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê. Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có một thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất. Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rỗ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô … Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay. Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu “Được thư anh, em khóc mãi vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng cả cuộc đời và tình yêu của em.” Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô, tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm:

– Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.

– Còn anh thì nằm dưới đất?!

Cô đỏ mặt nhưng sung sướng:

– Anh với em phòng nầy chứ.

Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị. Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò  huyện rất than mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động. Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành  cho ngày đám cưới. Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rấtđàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó. Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm 75 miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước. Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy, phân tán bằng chứng, mạng lưới nên vào đến Đà Nẵng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phưong rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.

Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm 75, nửa khuya chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?! Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK, phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát cũ, còn xe tôi chạy thẳng hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức. Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi. Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực. Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang bằng một vai trò nhẹ hơn để đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô. Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạng tiểu tư sản?!

Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn:

– Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ.

Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng.

Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hy vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo. Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù. Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa. Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó tức là tôi – và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định. Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.

Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quoanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau. Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại:

– Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.

Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít:

– Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.

Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy.

Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử bắn tôi, không lẽ cô là

con của tên nằm vùng kia?! Cô lên đạn, chỉa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định quật nhào cô để bỏ chạy thì cô mở băng bịt mắt tôi, mở còng tay:

– Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên, nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia. Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mãi miết theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng. Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 May 2026

Cha mẹ sinh con, nuôi con lớn lên, ai cũng muốn chọn cho con một cái nghề có thể sống no đủ, nhưng phải lương thiện để khỏi ai nhắc nhở, chửi bới đến cha mẹ họ hàng. Ngày thôi nôi, hay là sinh nhật đầu tiên của đứa trẻ, cha mẹ có tục bày ra trước mặt trẻ một số vật dụng nhỏ, như câý kéo, tờ giấy, cây viết, cây búa … để xem trẻ thích món gì nhất thì cầm lấy coi như đó là xu hướng chọn nghề của nó đã có từ tuổi này. Đây chỉ là chuyện vui chơi, xem như chuyện bói  nghề, chứ không phải là chuyện đoán trước được tương lai. Vì nghề nghiệp, ngay cả thời xưa ở xóm làng Việt Nam cũng đã có hằng trăm, mà vật dụng quanh quẩn trong nhà đưa ra cho đứa trẻ thì có giới hạn. Vậy mà cũng có chuyện đúng, nếu thời đó mà đứa nào vớ phải cây búa hay cây liềm, ắt lớn lên đi theo Cộng Sản!

Cũng có người căn cứ vào tử vi để đoán nghề nghiệp cho người, nhưng cũng có lúc sai, khiến một ông thầy tử vi nổi tiếng ngày xưa đã phán rằng: “Không lẽ tôi đoán nhầm, số nàng là số ca kỷ chứ đâu phải là mệnh phụ nhu nhân!”

Thời phong kiến, người ta thu gọn nghề nghiệp vào trong bốn ngành: Sĩ Nông Công Thương, mặc dầu Sĩ vẫn được xem là trọng, nhưng nông nghiệp vẫn là nghề chính trong dân gian: “nhất Sĩ nhì Nông, hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ” và dù Thương được xếp chót trong bậc thang nghề nghiệp, người vẫn phải công nhận là “phi thương bất phú”. Ngày trước người ta không cho chọn nghề là quan trọng, phần lớn nghề nghiệp là cha truyền con nối, hay theo nghiệp tổ như nghề nông, nghề rừng, nghề biển, nghề đúc đồng, mà kinh nghiệm được trao truyền và giảng dạy cho các thế hệ tiếp nối từ lúc hãy còn nhỏ đi theo cha ông. Có những nghề cần “gia truyền” như nghề thuốc, nghề chữa bệnh, nghề bói toán, thậm chí đối cả với những nghề cần chút bí quyết về nghệ thuật hay khéo tay như nghề đan thêu, làm bún, nghề chẳm nón … Bí quyết của nghề thường được truyền dạy giới hạn trong gia tộc, đến bà con, không dạy cho người ngoài hay con gái, sợ khi lập gia đình truyền nghề cho chồng là người ngoại tộc như người Trung Hoa vẫn thường chủ trương. Do đặc điểm đó, chúng ta có những làng cùng làm một nghề và tên làng nổi tiếng theo với nghề như làng mây tre Xuân Phúc, làng chiếu Nga Sơn, làng đúc đồng Đại Bái, làng sứ Bát Tràng, làng tranh Đông Hồ, làng nón Phú Cam. Ở Quảng Nam, có làng Kim Bồng nổi tiếng với nghề mộc chạm trổ truyền thống, nghề nề đắp vẽ, chạm trổ linh vật, thợ làng từng đi khắp mọi miền đất nước, đã góp phần xây dựng, tô vẽ những lăng tẩm, đền đài tại kinh đô Huế. Tay nghề giỏi không lo đói, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, cái gì cũng biết chút chút kiểu “handy” thì người xưa chê là “nhiều nghề như cá trê đục vô ống!”Làm nghề nào thì nhờ nghề đó, gần như là lẽ đương nhiên nhưng các cụ sao lại mỉa mai: “thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ.”

Ở Mỹ nghề nghiệp được phân biệt rõ, thầy và thợ. Thầy thì ngồi trong văn phòng, áo quần bảnh bao là cổ trắng (white-collar worker), thợ thuyền làm việc tay chân, lấm lem là cổ xanh (blue-collar worker). Một đất nước muốn phát triển đều cần cả xanh lẫn trắng, tuy vậy nhiều quốc gia hiện nay dư trắng thiếu xanh phải mở cửa cho di dân vào làm thợ. Ngày nay tiếp cận với nền văn minh, ít có người trẻ chọn nghề theo truyền thống gia đình mà tự chọn nghề cho bản thân mình, hoặc là theo sở thích, hoặc là chọn nghề nào kiếm ra tiền nhiều nhất để đền bù lại thời gian vất vả học hành và món nợ đã vay mượn. Nhiều bạn trẻ chọn nghề theo sở thích nhưng lại thiếu kinh nghiệm và ít có khả năng trong nghề mình yêu thích nên bị thất bại. Chọn nghề theo nhu cầu của thị trường, đôi khi tốt nghiệp thì thị trường đã thay đổi. Nhiều người chọn nghề căn cứ trên những cuộc trắc nghiệm hướng nghiệp, không chỉ căn cứ trên khả năng, còn trắc nghiệm cả cá tính của bạn. Một người nóng tính, bộc trực không thích hợp với ngành ngoại giao hay nghề dạy học. Có nhiều nghề cần giao tiếp với đám đông quần chúng, dành cho những người lịch thiệp, khôn khéo, tế nhị, nhưng cũng có nghề làm việc riêng rẻ một mình dành cho những người ít nói, thích cô độc. Ở Mỹ ngày nay thanh niên có tinh thần thực dụng hơn, có người thích nghề nhàn nhã, cũng có người thích làm nghề nhiều tiền, cũng có người thích làm nghề để có cơ hội phục vụ xã hội và việc thay đổi từ nghề này sang nghề khác không còn là một chuyện gì phức tạp ghê gớm. Do đó chúng ta thấy có trường hợp tốt nghiệp luật sư nhưng lại đi làm báo hay vào nghề ca nhạc, tốt nghiệp kỹ sư lại mở dịch vụ photocopy, bỏ nghề bác sĩ y khoa để ra điều hành một franchise “hot wing” chuyên bán cánh gà chiên. Nghề gì miễn thấy vui, thoải mái mà không đến nỗi đói rách là được. Những trường hợp tôi vừa kể trên đều xẩy rạ trong cộng đồng người Việt, điều đó chứng tỏ các bậc cha mẹ của chúng ta càng ngày càng thấy ép nghề, chọn nghề cho con là những quan niệm đã quá lỗi thời.

Trên đời có nhiều nghề có tiếng tăm oanh liệt nhưng cũng có nhiều nghề chẳng ra nghề, nên nấc thang xã hội và giai cấp thường được đánh giá theo nghề nghiệp. Người ta thường rêu rao đạo lý và tình yêu, nhưng có nhiều nghề suốt đời vẫn phải bị coi rẻ, mặc dầu họ cũng chẳng hề ăn gian, ăn lận, lừa dối hay cướp giật của ai. Dù che dấu lòng kỳ thị đến đâu, thì người đời vẫn xem “cổ trắng” hơn “cổ xanh”, “thầy” hơn “thợ”, ông bác sĩ hơn người phu hốt rác. Tuy vậy nói về nghề, điều nguy hiểm nhất cho nhân loại vẫn là chuyện bọn người chọn lầm nghề, vì không có khả năng: “Làm thầy thuốc mà lầm thì giết một người, làm thầy địa lý mà lầm thì giết một họ, làm chính trị mà lầm thì giết một nước, làm văn hoá mà lầm thì giết cả một đời.” Việt Nam hiện nay đang có nhiều người ở cấp cao đã chọn lầm nghề cho nên văn hóa suy đồi, nhân tâm ly tán.

Ở cấp thấp thì Bùi Tiến Dũng, một tên đáng lý ra phải làm nghề cá độ thì được cất nhắc làm đến chức Tổng Giám đốc uy quyền thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Vũ Mộc Anh có khả năng làm nghề buôn lậu chợ trời hay qua biên giới lại chọn lầm nghề ngoại giao, làm đến Bí Thư Thứ Nhất tại Toà Đại sứ Việt Nam tại Nam Phi. Hiệu trưởng trường THPT Việt Lâm, tỉnh Hà Giang Sầm Đức Xương, lẽ ra phải làm nghề ma cô môi giới mãi dâm đưa khách ăn huê hồng ở bến xe, thì lại chọn lầm nghề giáo và được cất nhắc lên làm Hiệu Trưởng một trường Trung Học của Xã Hội Chủ Nghĩa. Và tệ hại nhất, ngay tại Saigon, Khổng Như Mai, trường Trung Học Marie Curie, bản chất dâm đãng, lý ra phải chọn nghề bia ôm hay gái làng chơi, nhan sắc có về chiều thì làm nghề Tú Bà, lại được ngành giáo dục cho chọn nghề dạy thể dục, để có thói quen mọi rợ là phạt nam sinh bằng cách bóp chim (có ảnh chụp). Không biết ngược lại, có nam giáo viên thể dục nào phạt nữ học sinh bằng lối ấy không? Nếu có, trong cái xã hội rách bươm, đạo lý suy đồi này, chắc cũng chắng sao vì biện pháp của cấp lãnh đạo giáo dục chỉ là “yêu cầu ngưng trừng phạt như thế!” Có gì đâu, chuyện nhỏ!

Đất nước càng ngày càng đi vào tăm tối vì có nhiều kẻ đã chọn lầm nghề.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 May 2026

Mối thù giữa Trung Hoa và Triều Tiên là mối thù khó quên. Sau chiến tranh Trung-Nhật giữa nhà Thanh và Đế quốc Nhật Bản diễn ra tử 1 tháng 8 năm 1894 đến 17 tháng 4 năm 1895, và chiến tranh Nga-Nhật từ 10 tháng 2 năm 1904 – 5 tháng 9 năm 1905) khi đế quốc Nga và Nhật Bản tranh giảnh quyền kiểm soát Mãn Châu và Triều Tiên, cuối cùng Nhật Bản giảnh dược ưu thế tại Triều Tiên. Năm 1910, Nhật Bản cưỡng bức Triều Tiên ký hiệp ước sát nhập Hàn-Nhật. Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo vả nhân dân Triều Tiên đã nổi dậy dẫn đến phơng trào đòi độc lập, nhưng phong trào này dã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người dã hị Nhật sát hại. Trong Đệ II Thể Chiến, hàng vạn thanh niên Triều Tiên đã bị cưỡng bứe gia nhập quân dội Nhật, làm lính đánh thuê cho nổ lực mở rộng chiến tranh của Nhật, trong khi có theo nhiều ước tính khác nhau, có từ 20 ngàn đến 400 ngàn phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục, được gọi là “úy an phụ” (phụ nữ giải sầu).

Khoàng 60.000 người Triều Tiên làm việc trong hầm mỏ đã bị thiệt mạng giữa thời gian từ năm 1939 đến 1945 và vô số khác bị dùng làm thí nghiệm cho đơn vị 731 một đơn vị được thành lập bởi Hiến binh Nhật Bản, nghiên cứu và phát triển vũ khi hóa-sinh, đã tiến hành dùng người cho các cuộc thí nghiệm, được coi là một trong những tội ác chiến tranh ghê tởm của Nhật Bản. Ngày nay, thái độ bài Nhật vẫn còn mạnh mẽ tại Triều Tiên, đặc biệt là trong thế hệ già, vì họ tin rằng Nhật Bản không tỏ ra hối bận về những tội ác trong chiến tranh. Mối quan hệ giữa Nam Triểu Tiên (Đại Hàn) và Nhật Bản vẫn còn gay cấn, nhiều người Đại Hàn vẫn chưa thể quên nổi ký ức tổi tệ về những gì đã xảy ra trong thời kỳ bị nô lệ Nhật. Vào mỗi ngày thứ Tư trong suốt 20 năm qua, những người từng là nô lệ tình dục của lính Nhật từ thời bị cai trị đã tổ chức biểu tình ở bên ngoài Đại sứ quán Nhật. Gần đãy một lần nữa Đại Hàn lại nổi giận về phát biểu của thị trưởng Osaka về việc sử dụng “phụ nữ giải khuây trong thởi Đệ II thế chiến là cần thiết.”

Câu hỏi của tôi là đố bạn tìm dược một chai bia Nhật trong các nhà hàng Đại Hàn tại quanh vùng I.ittle Saigon! Không chi không bán bia Nhật, thậm chí các nhà hàng này còn không bán cả bia các nước khác kể cả Mỹ. Mỗi lần hỏi về bia Nhật trong các nhà hàng này, người viết đều bị người phục vụ Đại Hàn trả lời một cách khó chịu. Có thể chúng ta cho thái độ của họ là ái quốc cực đoan, bài ngoại vì còn căm thù Nhật đến tận xương tủy. Chắc chắn các nhả hàng này sẽ mất một khoản thu nhập nào đó vì chỉ giới hạn bán bia Hàn như OB, Hite hay các loại rượu Hàn như Soju hay Yakju. Tôi xin phép được nhắc lại một câu nói để gọi một người Việt Nam làm tour du lịch mà không khai thác những chuyến đi Trung Cộng là “một người làm thương mai biết hổ thẹn.”

Trải với những nhà hàng Đại Hàn, bạn có thể tìm thấy khá nhiều loại bia ở nhà hàng Việt trong vùng. Từ bia Mỹ, Mễ. Dức và kể cả Trung Cộng, “Tsingiao.” (Thanh Đào). Mặc dủ có cổ phần các công ty nước ngoài như Asahi Breweries (19.9%) cổ phần chính vẫn là các công ty và cá nhân Trung Cộng. Bạn có bao giờ “trông người lại ngẫm đến ta” khi thấy nhà hàng Đại làn không bán bia Nhật và nhà hàng Việt vẫn bán bia Trung Cộng? Phải chăng khách Việt vẫn thường hỏi đến “I’singtao” nên nhà hàng này mới mua về để bán.

Người Việt chọn bia Thanh Đào chỉ có thể nói đến một số lý do. Nếu nói vì ngon thì ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể mua và uống hàng trăm loại bia khác ngon hơn. Bia loại P’ilsner (bia Lager nhạt) tương tự như Thanh Đào sản xuất tại các nước khác có thể kể đến Heineken, Amstel, Beck’s. Urquell. Ngay các chợ thông thưởng như Ralphs cũng đã có hàng chục loại bia từ nhiều nước khác nhau không kể dến các chợ cao cấp như Whole Food, Bristol Farms hay tiệm chuyên rượu như BevMo. Nếu cho là thói quen, thì quốc sỉ lâu ngày cũng trở thành thói quen. Không biết xấu hổ lâu cũng thành thói quen!

Một số người sẽ viện cớ là họ không cực đoan, chống Tầu rổi chống luôn cả bia Tàu, tẩy chay luôn hàng hóa của Tàu. Thử xét lại khái niệm “cực đoan.” Có nhiều người sợ bị gán cho là cực đoan. Thậm chí có một số vị trong phong trào dân chủ còn ra tuyên ngôn đấu tranh “ôn hòa” với CS chỉ vì sợ tiếng cực đoan. Hồi giáo cực đoan đã bị cho là xấu mà “Chống Cộng Cực Đoan” cũng bị xếp chung một giỏ. Cần phải tách bạch rõ ràng hơn. Nếu đối với cái ác thi cực đoan không phải là xấu. Về sự bạo tàn thì cộng sản cũng không thua, thậm chí còn hơn phát xít. Thử thay “Chống Cộng Cực Đoan” bằng chống “Phát Xit Cực Đoan” thì bạn thấy thế nào? Chắc chắn phải là cực đoan rồi!

Ngoài ra Cộng Sản là bậc thầy của việc tráo trở chữ nghĩa. Gọi đến đồn Công An thẩm vấn thì gọi là “làm việc,” biểu tình thì gọi là “tụ tập đông người,” độc tài thì gọi là “dân chủ tập trung.” Tùy theo muốn nhẹ để làm đẹp chế độ hay làm nặng để tấn công kẻ thù đều được. Và thái độ “cương quyết,” “quyết liệt” hay “triệt để” chống Cộng thường bị lên án là cực đoan. Nhật đã xâm lược Hàn quốc hơn nữa thế kỷ trước đây nhưng Trung Cộng thì đang xâm lược nước ta. Chúng ta kêu gọi tẩy chay hàng Trung Cộng nhưng không tự chế được chính mình, phải gọi một chại Thanh Đào khi đi nhà hàng thì quả là “thương nữ bất tri vong quốc hận!”. Và các chù nhà hàng muốn lời thêm vài trăm bạc mà bán bia Thanh Đào cũng đúng là “vô cảm.”

Phài chăng dân Nam Hàn phát triển hơn chúng ta là vì họ “cực đoan” bởi lòng ái quốc! Cực đoan không có nghĩa xấu. Cực đoan trong danh từ Hán Việt là “thái độ kịch liệt, làm gì phải triệt để, di một đường lối nào phải đi cho trọn!” Không nửa vời, không dở dở ương ương. Muốn yêu nước chân thật phải có biện pháp “tẩy chay”, “”cấm vận.” Chống Cộng mà truyền hình chiếu phim Cộng, báo chí bưng nguyên bản tin Cộng, đón tiếp, ăn sang mặc đẹp xếp hàng đi xem ca sĩ Cộng! Việc các hãng phim trong nước có người ty nạn ở Mỹ ký hợp đồng thuê mướn, băng nhạc, phim truyện bán đầy phố ở hải ngoại, ca sĩ trong nước được ra ngoài ca hát tự do là một thắng lợi, xâm thực” của chế độ trong nước. Không nhịn nổi một chai bia, thì đừng nói chuyện yêu nước và chê người khác “cực đoan.”

Palawan miệt đất hứa

dongsongcu.wordpress.com

Trần Vũ

Posted on May 6, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 7 May 2026

LTS: Tưởng niệm 51 năm Tháng Tư Đen, Việt Báo trân trọng giới thiệu bút ký “Palawan Miệt Đất Hứa” của nhà văn Trần Vũ, không chỉ là hồi ức riêng mà còn là tiếng nói chung của triệu thuyền nhân trên hành trình tìm tự do. Bài viết khép lại bằng cuộc trùng phùng muộn màng với người bạn gái năm xưa – nay là người bạn đời – như một phần thưởng cho một thế hệ lưu lạc, nơi tình người và hy vọng vượt trên mọi bão tố lịch sử.

Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Ảnh: Wiki.

***

Puerto Princesa City

Chúng tôi đến Palawan giữa trưa nắng. Nắng chói chan nhiệt đới đập xuống mặt lũ thuyền nhân từ quân vận hạm leo vội vã lên các xe nhà binh. Chúng tôi gầy gò ướt sũng và da nhăn nhúm của 13 ngày trôi trên biển. Trôi  ̶  từ bao giờ tôi hết còn ý niệm của trôi giạt  ̶  chỉ còn bản năng sống sót. Chuyến tàu kinh hoàng xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 va vào đá ngầm mắc cạn trên san hô. Gần hai tuần lễ chúng tôi dầm dưới nước, ban ngày biển rút xuống mắt cá chân giúp cạo sò ốc nhai rong rêu và hứng nước mưa; đêm đến thủy triều lên hút đầu phải bám víu bè gỗ. 391 thuyền nhân đăng ký vượt biên bán chánh thức, lên đến đảo Liminangcong ngày 21 tháng 6 điểm danh còn đúng 285. Những người khác  ̶  106 kẻ khác của Camus  ̶  chết đuối, chết chìm, mất tích. Chúng tôi không nghĩ đến họ nữa.    

Không ai biết mai ra sao. Đất Phi lành hay dữ? Hải quân Phi trên đảo Liminangcong phát cho mỗi người mỗi ngày ba thìa cháo. Quát tháo và nạt nộ. Chúng tôi đi xin ăn trong các bản làng Phi, xin canh cặn cá thừa để cầm hơi. Một tuần sau Hải quân Phi chở chúng tôi đến Puerto Princesa City. Bến cảng hiện ra như thiên đàng.

Anh Vĩnh thông thái dịch: “Princesa là công chúa! Puerto Princesa City là thành phố của Công chúa! Chúng mày là hoàng tử công chúa đất Phi!”… Chúng tôi ngơ ngác nhìn quanh, hết còn là làng chài lưới ván gỗ ọp ẹp mà xây bằng gạch. Có nhà thờ, biệt thự, trường học, quán bar! Đám thuyền nhân vỡ òa sung sướng. Nhưng phút sung sướng tắt nhanh vì các ngôi nhà khang trang biến mất dần nhường cho đường đất ngoằn ngèo. Mười chiếc quân xa rú máy chạy qua hết ruộng bắp này đến ruộng chuối khác. Hết nhà gạch, xuất hiện những túp lều lợp lá thưa thớt. Lộ đất mỗi lúc một hẹp, lổn ngổn đá với bụi gai hoang vắng. Chúng tôi biết đã xa thị tứ.

Trạm kiểm soát đầu tiên có quân cảnh vận quân phục y như quân cảnh VNCH nhưng lực lưỡng hơn với da đen sạm không chút thân thiện. Bót gác có rào chắn. Rồi đoàn xe bắt đầu leo dốc. Tôi ngồi bệt trên sàn sắt cố nhướng mắt với các anh Thành, anh Hoàng nhìn ra phía trước. Hai anh chung tàu bảo bọc tôi những ngày tàu chìm. Chung quanh các khuôn mặt vẫn còn nguyên nét bàng hoàng chết hụt trên bãi ngầm Trường Sa. Trước lúc đi chúng tôi đã biết tin thuyền nhân bị nhốt, bị đánh đập trong các trại cấm Hồng-Kông, bị đối xử dã man ở các xứ mới hôm qua hãy còn là đồng minh của VNCH. Anh Thành là thiếu úy bộ binh tù ba năm, gương mặt hằng nét khổ sai, nhưng anh cứng cáp nhất, lúc nào cũng trông chừng anh em tôi. Ở Liminangcong có ba thìa cháo, anh chia cho tôi, bảo: “Mày đang sức lớn nuốt đi.” Giờ, chúng tôi chung thắc mắc: Cảnh binh Phi chở chúng tôi đi đâu? Không ai biết. Chúng tôi sắp bị đánh bị nhốt không? Sao không thấy Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ra nhận chúng tôi? Dẫy núi đen rập rờn không gây yên tâm. Lúc này hết ruộng thành rừng. Những gốc đa của táng rừng ven lộ mọc nghiêng xuống gần đụng mui xe. Một người nói: “Côn Đảo rồi bây ơi!”. Khoang xe im phắc lo lắng.

Nhíp xe xốc mạnh khi lên đến đỉnh dốc. Ba chục thuyền nhân chất cá mòi ngã đè lên nhau. Đột ngột một tiếng la: “Cờ Việt Nam Cộng Hòa!”

Chúng tôi bật lên như lò xo. Tất cả mất thăng bằng vì xe rung lắc nhưng ráng bấu víu, bám lưng, chen lên vai người khác, bám vào đầu kẻ chung quanh để chồm lên. Ai cũng muốn nhìn. Trời quang giúp thấy lá cờ trên chóp một cột cao. Lá cờ ba sọc đỏ nền vàng. Đồng loạt nhiều tiếng gào: “Cờ mình!”.. “Cờ mình!”Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Bốn năm dài tủi nhục hết rồi. Bồn năm trường uất nghẹn hết rồi. Một người sụt sùi “Mình thoát rồi…”, một người khác tức tưởi “Sống rồi”, “Sống rồi…” rồi là những tiếng nấc. Khóc vì sung sướng. Khóc cho vơi tủi hờn đằm đìa má. Một người cha cắn môi, một người mẹ ôm chặt con, một người đọc kinh Lạy Cha, một người khác niệm Phật, một người khác hứa ăn chay suốt đời.

Phải sống phút đó. Tôi đã sống phút đó trong thùng xe chiếc GMC chở thuyền nhân về trại Palawan. Tôi đã chứng kiến mọi người khóc nghẹn ngào khi trông thấy lại lá quốc kỳ của Miền Nam. Tức tưởi hòa với nước mắt của vui mừng vì lá cờ vàng còn dựng được trên mặt đất là còn hy vọng.

Vietnamese Refugees Camp

REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.

Chúng tôi đói lả. Hành trình một tháng vượt biên, một tuần ở đảo Liminangcong, một ngày một đêm hải hành đến Palawan không được phát thức ăn trên dương vận hạm khiến chúng tôi xanh mướt tàu lá. Ông Thanh trưởng trại ra lệnh cho nhà bếp cấp tốc thổi cơm. Tôi ăn liên tục một lúc 10 lon guigoz, đến bây giờ kể lại không ai tin, không có thức ăn, chỉ có cơm trắng nhưng tôi nuốt ngon lành, ăn hết lại chìa lon cho đến lúc người ta la hoảng: “Đừng cho thằng nhỏ ăn nữa nó sắp bội thực!” Người lớn giằng lon guigoz. Đến lúc đó tôi mới thực sự thấy đuối sức, rủ riệt tay chân. Sức vóc như đã pha loãng vào sóng biển và sóng cuốn trôi xa. Tôi muốn đi kiếm anh Thành, anh Hoàng và anh cả tôi không biết lạc mất lúc nào lúc phát cơm chen lấn hỗn độn nhưng lết không nổi. Giờ tôi mới thấy no muốn nghẹn. Tôi bước ba bước, mặt đất bồng bềnh như tôi còn dưới nước. Tôi hiểu trọng lực vật lý khác biệt làm lên bờ tôi bị nghiêng ngã nhưng tôi hết còn sức để suy nghĩ. Tôi ngã dụi lên đống củi phía sau chái bếp. Trong lơ mơ đầy tiếng động, tôi loáng thoáng nghe người ta kháo là trại chia làm năm khu: Khu 1 đi Canada, Khu 2 đi Mỹ, Khu 3 đi Úc, Khu 4 Vô thừa nhận; còn Khu 5 dành cho những gia đình khá giả có tiền thuê cất lều riêng. Tôi thiếp ngủ dưới lá cờ vàng.

Ông Thanh tập hợp chúng tôi lại và bắt chia thành toán rồi chỉ định về khu 4 Vô Thừa Nhận. Anh Vĩnh văng tục: “Đã thoát ra ngoài rồi còn lập tổ dân phố, lập Công an phường luôn đi.” Gọi là Khu 4 nhưng không có barrack, không có nhà, không vách tường mái tôn giường chiếu chi hết, chỉ là một bãi đất trống sát phi đạo chằng kẽm gai. Không điện, không nước máy, một miệng giếng duy nhất bên Khu 5 nhưng là giếng nước mặn. Mỗi ngày lính Phi kéo mấy móc hậu nước vào phân phối cho trại; mỗi người xếp hàng lĩnh hai lít nước, muốn thêm nữa thì hứng nước mưa. Những đêm đầu chúng tôi ngủ trên cỏ ướt. Tôi không còn quần áo nào khác ngoài đồng phục học sinh lúc xuống thuyền nhưng không thấy lạnh. Tôi đã dầm nước biển hai tuần, đã ngủ trên ghềnh đá sóng đập ở cầu tàu Liminangcong thì xá gì sương đêm. Nhưng giấc ngủ không an giấc, chập chờn mộng mị thấy mình còn ở Sàigòn, trong ngôi nhà mẹ, gọi “Mẹ, Mẹ.. con thoát rồi, con đến bờ rồi…” rồi hốt hoảng không hiểu vì sao mẹ đã đóng 12 cây vàng cho mình ra đi mà mình vẫn còn ở nhà và công an đang đập cửa… Tôi thức giấc giữa hai ác mộng, thấy lính Phi đi tuần chiếu đèn pin ngang dọc lên mặt lũ thuyền nhân đang ngủ xếp lớp như cá nục. Tôi cũng là con cá nục vừa chai với số phận.    

Vài tuần sau, anh cả dạy Pháp văn và chị Tâm đi dạy Anh văn có tiền thuê các thanh niên trong trại đốn cây cất cho chúng tôi một túp lều chiều ngang hai thước, chiều dài ba thước với một góc bếp và một giường tầng, lợp bằng lá dừa kết với cây rừng. Căn lều sát sân bay. Mỗi khi máy bay Phi cất cánh là túp lều rung chuyển bần bật và sau vài tuần lá héo cong queo, trời mưa xuống làm chúng tôi ướt như chuột. Bổn phận của tôi là đi lĩnh thực phẩm, một con cá ươn, một miếng thịt heo ôi với ba lon gạo cho 3 người. Anh Vĩnh cằn nhằn: “Tụi nó ăn chặn tiền của Liên Hiệp Quốc, phát cho mình toàn của ôi.” Anh Thành an ủi: “Lúc tàu đắm mình xin ơn trên ít hơn vầy.” Lều của anh Thành và anh Vĩnh cách không xa, chúng tôi chạy qua chạy lại. Công việc của tôi còn là xếp hàng lĩnh nước ngọt và vô rừng đốn củi về nấu ăn. Vì lính Phi phát thịt sống, cá sống, gạo sống nhưng không phát chất đốt. Lúc ở Sàigòn tôi chưa từng xuống bếp nên tôi cho hết chuối, dừa, cá vô nón sắt lính Phi tôi lượm được đặt trên ba cục đá rồi đổ nước vô đốt củi đun. Anh cả tôi phun ra đất! Chị Tâm lịch sự nhắc nên đánh vẩy mổ ruột trước khi cho vô. Anh Vĩnh nhạo: “Tao nói rồi. Puerto Princesa City là đảo của Công chúa mà. Tụi bây là hoàng tử công chúa đất Phi! Công chúa không đụng tay, hoàng tử không biết đánh vẩy cá!” 

Phu Nhân Imelda Marcos

Tin sét đánh: Phu nhân đương kim Tổng thống Ferdinand Marcos là first lady Imelda Marcos thăm trại ủy lạo các thuyền nhân tỵ nạn Cộng sản! Suốt hai tuần lễ đầu tháng 10-1979 Ban Điều hành đôn đốc đàn bà con gái kết hoa, treo đèn lồng, giăng cờ quạt khắp nơi, đàn ông thanh niên phải vô rừng đốn cây dựng khán đài. Nhóm chúng tôi cố tình đốn những cây ốm, không quá to cho dễ khuân. Ông phó ban Khu 4 « kiểm tra phẩm chất » không mấy ưng ý: “Không đạt chỉ tiêu. Đốn lại cây khác.” Anh Thành nổi sung quát: “Đây 6 năm lính, ném 200 trái lựu đạn. Ngon chơi tay đôi.” Tay phó ban tái mặt, nhìn nhìn rồi thì thào: “Thông qua.” Anh Vĩnh chửi thề: “Sang đây còn chức sắc. Còn sài chữ Việt cộng.” Anh Hoàng nói: “Nó bị nhiễm.”

Chúng tôi phải tập hát ca khúc suy tôn Tổng thống và những bài ca chào mừng Đệ nhất Phu nhân, mặc dù không hiểu chi hết chỉ lập lại như con két. Khắp trại giăng các biểu ngữ viết bằng tiếng Filipino. Rồi buổi sáng trọng đại cũng đến. 8 giờ sáng đã bị lùa ra đứng dọc hai bên cổng chào, đứng dọc lối đi dẫn đến cột cờ và đứng xúm xít chung quanh khán đài. Lính Phi phát cho mỗi người một lá cờ Phi bắt cầm trên tay và phất lên vẫy vẫy khi phu nhân đến. Trưởng ban quân nhạc Phi yêu cầu tập dợt quốc ca Phi “Lupang Hinirang” mặc dàu suốt tuần rồi đã hát đi hát lại cả chục bận. Ông Thanh trưởng trại yêu cầu đồng hương ăn vận chỉnh tề, giữ quốc thể! Anh Vĩnh càu nhàu: “Còn hơn đón Tôn Đức Thắng!!” Tôi ngó ra cột cờ, lính Phi đang hạ cờ VNCH thay bằng cờ Phi Luật Tân có hình mặt trời với ba ngôi sao cho đúng nghi lễ.

Tháng 10 mùa bão, trời bắt đầu mưa lất phất, mây đen kín đỉnh núi. Tôi nhìn xuống quần áo mình, tôi chỉ có ba bộ quần áo mặc suốt bốn tháng nay, hai bộ áo hồng và tím có nơ ren với thêu hoa hồng của dì phước cho ở Liminangcong. Hôm đó tôi gõ cửa tu viện xin ăn, một dì phước trẻ mở cửa nhìn rồi dẫn tôi lên phòng lấy cho tôi quần áo thời con gái của dì. Nhưng là đồ bộ đàn bà nên tôi không dám mặc ban ngày, chỉ bận khi ngủ, ban ngày tôi vẫn mặc đồng phục học sinh của mình. Trong tiếng nhạc “Pagsalubong sa unang ginang… Welcoming the first lady…” tôi thấy rõ hai ống tay áo của mình rách đến nách, còn hai ống quần dài rách đến gối. Rồi tôi nhìn ông Thanh đang cầm loa phóng thanh đi qua đi lại, ông vận quần tây đen gabardine, áo sơ mi trắng dài tay có cài manchette, thắt cà vạt có barrette, nhìn là biết ông không đắm tàu, chưa thành cá nục. Ông nói tiếng Anh oang oang “Ladies and Gentlemen…” nhưng chuyển sang tiếng Việt là ông quát “Cái xóm nhà lá bên hông khán đài đó… Không có ngồi xổm!”. Ông thật sự nghĩ là chúng tôi có thể ăn vận chỉnh tề? Mà tại sao trong tiếng Anh thuyền nhân sang trọng mà sang tiếng Việt thì bần hàn?   

Mưa mỗi lúc một lớn. Giờ thì phải tập hô « Vạn tuế Phu Nhơn » …bằng tiếng Việt. Tất nhiên là bà Marcos sẽ không hiểu chi hết nhưng bà cần nghe thuyền nhân tung hô bà bằng chính ngôn ngữ của Trưng Trắc. Mưa nặng hạt. Ông Thanh cầm loa thông báo chương trình tiếp đón Phu Nhơn lúc 10 giờ lui lại …chờ bớt mưa. Nhiều gia đình lên tiếng yêu cầu cho về lều trú nhưng ông Thanh không chịu, viện cớ Phu Nhơn đã đáp xuống phi trường quân sự, từ đó đến trại có 20 phút, cho tất cả về barracks thì khi hô tập trung sẽ không kịp. Với lại chưa có lệnh giải tán của đại tá quân trấn trưởng Palawan. Chúng tôi bắt đầu ướt nhem, gió quất từng cơn. Đến trưa chẳng còn hàng lối, mọi người ngồi bệt xuống đất, con nít bắt đầu kêu khóc. Nhiều người phản đối. Lính Phi phát cho mỗi người hai miếng bánh lót dạ, huơ súng bắt giữ trật tự. Tôi có ý nghĩ là mỗi khi lá cờ vàng biến mất là dân miền Nam lại lầm than. Tại sao chúng tôi phải chầu chực ở đây dưới mưa? Tôi nhìn nước mưa nhiểu từ sống mũi mình xuống cằm rồi chạm ngón chân. Y những giọt mưa trên biển những ngày tôi dầm dưới đại dương. Những ngày mắc cạn trên san hô, ban ngày nước rút, ban đêm thủy triều lên quá đầu phải bám víu vào nhau, níu dây thừng, ván gỗ. Tôi đã trông thấy thây ma chết đuối nổi lên chương sình trôi lềnh bềnh bên cạnh phải lấy tay đẩy ra. Tôi đã không hiểu vì sao tôi phải chết quá sớm? Mới hôm qua tôi còn ở quận Nhất Sàigòn, đầu tháng Tư tôi còn đến nhà Thanh Mai trên đường Phan Thanh Giản đàn ca khúc Ngăn Cách của Y Vân trong ngày sinh nhật thứ mười bảy của cô bạn gái thân thiết nhất của mình. Mười ngày sau Thanh Mai vượt biên không kịp từ giã, rồi một tháng sau đến phiên tôi trôi giạt trên biển, cùng biển Thái Bình này, vẫn là biển Thái Bình bao quanh Việt Nam. Tất cả diễn ra quá nhanh. Tôi với Thanh Mai chỉ vừa chớm 17 tuổi. Suốt hai năm 78-79 chúng tôi không rời nhau, chung trường, chung lớp, ngồi chung bàn cạnh nhau, chiều chiều cùng đi học phụ đạo, tối đèo nhau khắp phố phường, tình yêu trung học trong sáng. Vậy mà giờ tôi ngồi đây, bệt trên cát đang chuyển sang bùn đợi bà Marcos. Tôi không biết bà là ai ngoài chức danh hoa hậu trước khi bà lấy ông Marcos.

Quá trưa, gần hai giờ chiều, nhiều gia đình tự động bỏ về mà ông Thanh không ngăn được, cả lính Phi cũng không còn muốn giữ trật tự vì hiểu là bà Marcos sẽ không đến. Mưa càng lúc càng lớn, đến ba giờ chiều thì tất cả mọi người ướt sũng chạy về lều. Đêm xuống Ban Điều hành hoan hỷ báo tin là tuy Phu Nhơn không đến nhưng quà ủy lạo đã chuyển đến: Gồm một lon sữa bột, một lon cacao, một túi cà phê, một bịch đường cho mỗi túp lều!

Vũ Thị Thanh Mai

Tháng 11 xảy ra tai nạn. Tôi chiên cá trong nón sắt lính Phi, lửa nóng làm cục gạch kê bị vỡ khiến chảo nón sắt đổ ụp xuống tay. Bị bỏng nặng nên tôi chạy lên trạm xá xin thuốc, chỉ được cho một ống kem đánh răng nhưng tôi cũng không sao bôi lên tay được vì da nổi phồng thành bong bóng đau rát suốt cả tháng. Áp Giáng sinh xảy ra tai nạn khác. Tôi đứng từ trưa đến chiều đợi lãnh nước. Nhiều người cãi vã vì mất kiên nhẫn. Đến phiên tôi hứng nước, một ông xếp hàng phía sau chen lấn xô tôi sang bên để giành chỗ. Ngay lúc đó thanh gỗ chống đỡ móc hậu nước không biết vì sao gẫy đôi làm nguyên cần móc sắt rơi đập xuống chân ông vừa chen lên, khiến gang bàn chân ông đứt lìa. Nguyên bãi đất máu me đến sợ. Người ta lật đật chở đi cứu thương. Tôi thầm cảm ơn Phật độ trì cho mình. Chỉ tíc-tắc thôi, nếu ông ta không giành chỗ là tôi đã đứt đôi bàn chân.

Sắp Giáng sinh, trại trang trí những cây thông giả kết bằng cành dứa với trái châu là những lon sữa của bà Marcos treo lủng lẳng. Tôi nhớ Thanh Mai vô vàn. Giáng sinh 78 tôi với Thanh Mai đi bộ từ chợ Bến Thành ra công trường Lam Sơn, tôi muốn hai chúng tôi đếm những bóng đèn đường như trong Phượng Vỹ của Duyên Anh. Nhưng dòng người đông đúc tràn phố khiến chúng tôi không sao bắt chước Chương với Phượng ở Thái Bình cùng sóng đôi đếm những cột điện của thị xã. Tuổi niên thiếu của chúng tôi ngập tràn mơ mộng với Duyên Anh, Nhã Ca, Erich Maria Remarque. Tôi chuyền cho Thanh Mai những trang tiểu thuyết và Thanh Mai cùng đọc chui những trang sách in trước 75. Rồi Tết 79. Chiến tranh với Khmer Đỏ, chiến tranh với Tàu nhưng Thanh Mai đẹp như một ước mơ. Mùng hai Tết Thanh Mai đến chúc Tết. Thanh Mai tóc ngắn, váy ngắn. Lần đầu tiên trông thấy đôi chân trần của Thanh Mai nên tôi nhìn không chớp mắt. Đến lúc ngửng lên bắt gặp Thanh Mai đang quan sát mình. Cả hai chúng tôi cùng đỏ mặt, vì Thanh Mai biết tôi đang nhìn đùi Thanh Mai, còn tôi xấu hổ đã nhìn chăm chăm đùi cô bạn mình. Chúng tôi cắn hạt dưa ngượng nghịu rồi Thanh Mai vội vã ra về. Tôi trách mình cùng cực và nghĩ chắc Thanh Mai phải khinh mình lắm, không biết làm sao xin lỗi. Nhưng sáng mùng ba Thanh Mai lại đến. Nghe bấm chuông tôi lao ra mở cửa, Thanh Mai mặc váy ngắn hơn hôm qua! Cô bạn thân xinh xắn cười tươi như hoa với ánh mắt ngầm nói “Mai vận váy ngắn cho Vũ ngắm nữa!” Chúng tôi vui hơn Tết. Tôi đập heo moi hết tiền lì xì chở Mai đi uống chanh rhum với yaourt đá bào. Mai quàng tay ôm thắt lưng tôi trìu mến. Mùng bốn Tết chúng tôi xem ciné ở rạp Casino, trú mưa bên hông thư viện quốc gia… Chế độ Cộng sản song mọi thứ như còn y nguyên và tuổi dậy thì của hai chúng tôi lớn lên với quá khứ cũ đẹp tựa nhành lúa.  Áp Giáng sinh, những cơn bão rời xa Palawan trả lại bầu trời quang đãng trên dải cát vàng. Tôi ra biển ngó những lượn sóng, thầm hỏi bây giờ Thanh Mai ở đâu? Tôi không sao xóa được hình ảnh của Thanh Mai. Tôi hay ra phía sau bãi đá lấy cành cây viết tên Vũ Thị Thanh Mai trên cát. Mỗi một lần viết là một lần xúc động và mỗi bận sóng đánh lên xóa nhòa làm thêm buồn bã. Vũ-Thị-Thanh-Mai tôi nuốt thầm từng chữ. Vì sao chúng tôi không thể cùng lớn lên với nhau, cùng lên đại học rồi đám cưới? Tại sao chúng tôi phải ra đi. Vì sao phải rời quê? Tôi tìm lời giải thích, vì phía chiến thắng đối xử tàn ác.

Thanh Mai vượt biên ngày 13 tháng 4. Tôi vượt biên ngày 28 tháng 5. Hai gia đình gửi hai đứa con ra biển mà không biết định mệnh nào chờ đón. Không lẽ chúng tôi thất lạc mãi mãi? Tôi quyết tâm tìm Thanh Mai.

Tôi không biết chuyến tàu của Thanh Mai đến đảo nào nhưng trên văn phòng trưởng trại của ông Thanh có danh sách các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Tôi không có xu nào. Phải có tiền mua tem, mua giấy bút với phong bì, và viết ít nhất mười lá thư nhắn tin gửi đến các trại Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Hồng-Kông, Tân-Gia-Ba. Tôi xin tiền, anh cả không cho, mắng: “Tí tuổi đầu đã yêu đương.” Tôi không giận anh cả nhưng tự ái, thề không xin nữa, nhất quyết tự kiếm cách. Tôi sang lều anh Thành hỏi cách có tiền. Anh Thành hỏi lý do, tôi ngập ngừng rồi nói hết. Anh Hoàng, em anh Thành ca vọng cổ “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” làm tôi ngượng chín mặt. Anh Thành ôn tồn: “Tao không có tiền cho mày nhưng phía sau lều tao có lỗ chó chui, tao thấy tụi nó buôn gạo chui qua ngả đó. Mày có gạo dư không? Không có thì qua tao ăn ké rồi giành giụm mang bán.”

Tôi có gạo dư. Từ hôm chê tôi nấu cám heo, anh cả tôi làm « gia sư » dạy Pháp văn cho các gia đình đi Québec, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ nên ăn chung mâm với họ. Chị Tâm dạy Anh văn cũng được mời ăn với các học trò của chị. Thành ra tôi nấu cám heo cho mình tôi thôi, lâu lâu sang lều chị Hồng « ké độ ». Ở trại tỵ nạn tôi thấy người Trung rất tốt, họ rất mực đùm bọc đồng bào bất kể xuất xứ. Có phải vì miền Trung nhiều thiên tai nên họ quen cứu giúp? Tôi không rõ, nhưng người này cho tôi cây rựa để đốn củi, người kia phụ chẻ củi, chị Hồng câu được cá lớn là gọi tôi qua cho. Tôi nhẩm tính sáu tháng nay dư năm chục cân gạo. Tôi nói anh Thành dẫn tôi ra lỗ chó chui.

Anh Thành với anh Hoàng gạt bụi cây, vạch mấy lùm gai rồi trỏ một đoạn kẽm gai ai đó đã cắt thủng rộng đủ một người chui: “Mày chui hướng này, chừng năm sáu cây số ra đến chợ Phi, họ bán đêm, tìm sạp gạo rồi quay về. Tránh đường lộ có trạm gác, đi đường rừng nhắm hướng Tây, khi về nhắm hướng Đông là hướng biển phía sau lưng trại mình. Sáu cây số đường rừng thì mày đi ba tiếng, đi về sáu tiếng. Khởi hành tám giờ đêm thì hai ba giờ sáng là về đến trại. Đừng để bị bắt”.

Tôi gật. Tôi biết bị bắt là sẽ bị lính Phi giam chuồng khỉ. Là một cái chuồng gỗ rào kẽm gai tứ phía, bị giam đứng suốt ngày, hễ té ngã là té vô kẽm gai. Anh Hoàng dúi tôi con dao bấm: “Giữ mà phòng thân.”

Tặng Phẩm Của Rừng

Hôm sau tôi với anh Hoàng ăn cắp bao bố ở các bao cát chằng cột kẽm gai, trút hết cát mang ra biển giặt rồi trút gạo vô. Tôi muốn bán hết 50 cân cho có nhiều tiền nhưng anh Hoàng nói “Mày vác không nổi đâu.” Tôi nhấc lên vai, thấy nặng nhưng vẫn khuân được, anh Hoàng lắc đầu: “Mày đi đường rừng, vác lâu sẽ khuỵu.” Tôi nghe lời trút bớt mười cân. 8 giờ tối, trại tối đen vì không có điện. Đồn quân cảnh với trạm gác có máy điện riêng nhưng bên trong trại leo lét đèn cầy. Ở các dẫy barracks ăn cơm tối giấc 5 giờ chiều, đến 7 giờ là giăng mùng. Anh Thành với anh Hoàng đưa ra lỗ chó chui, giúp tôi kéo bao gạo qua rào kẽm gai rồi chúc may mắn. Đêm chưa có trăng, im lìm chỉ có ánh điện ở quán bar trước cổng trại với đèn chiếu sáng bên phi đạo. Tôi bước nhanh, chốc chốc ngồi thụp xuống nghe ngóng, xốc lại bao gạo trên vai rồi đi tiếp. Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu nên tôi thấy khỏe khoắn tin đủ sức vác ra đến chợ. Chỉ không biết bán giá bao nhiêu. Đi một lúc đường đất bắt đầu gập ghềnh và hết còn cỏ tranh mà gai góc, cây rừng một lúc một nhiều. Ánh điện quán Bar tắt ngấm, ánh đèn phi đạo le lói xa dần rồi mất hút. Tôi biết đã ra khỏi khu vực canh gác. Kỷ luật của Quân cảnh Phi là cấm thuyền nhân vượt rào kẽm gai, chúng tôi được vô rừng đốn củi nhưng là mé rừng ven bãi cát, cấm không qua khu sân bay, cấm vào sâu trong các bản làng và cấm tuyệt đối tiếp xúc dân bản xứ. Lúc này tối đen không chút ánh sáng. Anh Thành dặn nhắm hướng Tây nhưng tôi không biết hướng Tây là hướng nào, cứ bước đại lên phía trước mặt. Rừng đêm đầy tiếng động của côn trùng kêu óp óp ẹp ẹp và tiếng tặc lưỡi của tắc kè làm tôi hơi sợ. Lâu lâu một gốc cây dị dạng hiện ra như ma. Trong bóng tối mọi thứ mang hình thù quái dị. Tôi bắt đầu thấy bao bố nặng, mấy bận tôi vấp đá ngã làm đầu gối bị trầy xướt. Tôi ngắt lá rừng cuốn quanh ngón chân cái để cọng kẽm buộc quai dép không cứa vô da. Đôi dép con gái cũng của dì phước cho. Tôi không có đồng hồ nên không biết đã đi được bao lâu. Anh Thành dặn đi sát ven lộ, cứ theo đường lộ là ra đến chợ vì chỉ có một đường độc đạo nhưng tôi không biết lộ nằm phía nào. Tối thui như mực. Ánh sáng duy nhất là bầy đom đóm lập lòe. Tiếng rắn rung chuông từng chập rồi chợt rừng như có lân tinh sáng mờ mờ. Tôi ý thức cứ xăm xăm sẽ bị lạc. Tôi quyết định lấy con dao bấm anh Hoàng cho khắc lên gốc cây chữ M, để lúc về giúp tôi nhớ lối về trại. Cứ mỗi năm mươi bước chân là tôi lại lấy dao rọc một chữ M to. M là Mai.

Không biết bao lâu nhưng tôi thấy hụt hơi, vả tháo mồ hôi ướt đầm. Bao bố trở nên nặng chịch. Tôi ngồi nghỉ, liệu sức không vác nổi nên trút bớt gạo. Tôi khát nước và lo lắng phập phồng. Đột ngột có tiếng động cơ ở xa rồi là ánh đèn pha sáng lòa. Ánh đèn vút qua nhanh nhưng tôi nhận ra hướng xe chạy. Đường lộ ở phía đó. Từ lúc này tôi không còn lấy dao rạch chữ M lên vỏ cây vì men theo lộ là không lạc, và gần đường cái cũng ít cây toàn bụi gai. Cứ mỗi khi có xe là tôi ngồi thụp xuống núp trong bụi, đợi xe qua rồi xốc gạo lên vai đi tiếp. Lâu lâu mới có xe, hầu hết là quân xa. Lúc mỏi nhừ chân ê ẩm vai thì có ánh điện xa xa. Tôi mừng quýnh. Ánh điện hắt lên trời làm màn đêm như phết màu. Mỗi lúc một thêm sáng, rồi có tiếng xe máy, tiếng nhạc phát vang vang. Thị tứ hiện ra, chưa phải là phố chính Puerto Princesa mà là một huyện ngoại ô. Tôi cúi gầm mặt đi sát tường, sợ người ta phát giác. Cuối đường là chợ lồng sáng trưng. Tôi đổi bao gạo sang vai trái để che mặt, và đi nép sát các cửa tiệm đóng im ỉm để không ai chú ý. Một xe cảnh sát đi ngang, chạy chầm chậm, tôi run bắn nhưng rồi xe chạy luôn. Tôi băng qua đường, một vài dân Phi nhìn nhưng không ai nói gì. Tôi bước vào lồng chợ, trống ngực đánh thùm thụp. Các gian hàng sáng lóa điện néon. Tôi cố đi bình thản, ra vẻ bình thường, ngó lơ mọi thứ không nhìn thẳng mặt ai. Mấy hàng chè đủ màu làm tôi chảy nước miếng, hàng bánh trái làm tôi đói cồn cào. Tôi nuốt nước miếng, liếc ngang dọc rồi vụt thấy mấy lu gạo ở một gian bên trái. Tôi tiến đến, ấp úng: “.. Sell.. rice… Sell rice…” Tôi chỉ biết có hai chữ này do anh Hoàng dạy. Bà Phi mập mạp da ngăm ngồi trên sạp nhìn đăm đăm rồi lấy mấy ngón tay to bằng quả chuối bốc gạo khi tôi tháo dây buộc bao cát. Bà vốc vốc gạo, vò vò, đưa lên mũi ngửi, khoắn sâu xuống bới lên xem có cùng loại gạo rồi chùi tay: “How much?” Bà nhấc bao lên cân.

Tôi cứng lưỡi. Tôi biết đếm số tiếng Anh nhưng không biết giá. Tôi tự trách sao không hỏi trước mấy người đi bán gạo chui trong trại. Tôi lúng túng không nói được chữ nào. “Twenty Peso.” Bà Phi moi trong cạp quần hai tờ giấy mười Peso. Tôi cầm lấy rồi đi ngay ra cửa hông. Tôi mừng kinh khủng, vừa bặm môi cố trấn tĩnh vì hãy còn run. Tính ra là bà Phi mua 1 Peso một cân gạo vì dọc đường tôi đã trút bớt mấy bận nữa cho nhẹ. Tôi ước chừng bao cát chỉ còn hơn 20 cân. Lúc đó một đô-la Mỹ đổi được 7 Peso mua được 7 chai coca.

Đường về tôi lại men theo lộ, cứ có xe là ngồi thụp xuống núp trong lùm cây. Cho đến lúc tự dưng tôi thấy có trạm gác trước mặt. Tôi sợ quíu. Sao lúc đi tôi không thấy trạm gác? Hay là bót gác ở trước khúc rừng chỗ tôi băng ra? Tôi không rõ nhưng lủi vội vào bụi tức thì vì ở trạm gác có xe tuần cảnh, lính Phi đang hút thuốc nói chuyện ồn ào. Tôi không dám đi tiếp ven lộ, vì đèn ở bót gác rất sáng và quân cảnh Phi có xe mô-tô với xe Jeep. Tôi quyết định băng rừng. Sau này tôi mới biết là quyết định sai, lẽ ra phải bò trong bụi cho hết đoạn có trạm gác rồi đi tiếp về đến gần cổng trại, khi đó mới rẽ qua ngả lỗ chó chui. Nhưng tôi sợ điếng, phải đi nhanh thật xa bót gác. Lúc này trăng đã lên, rừng như quết vôi. Gió làm lá chuyển động, cộng thêm tôi đi như chạy nên mọi thứ như di chuyển chung quanh. Đến một lúc tôi mới kịp định thần là mình đi không phương hướng. Tôi nhìn quanh không còn biết mình ở đâu nữa. Cảnh vật lúc tối lúc sáng. Mỗi khi mây che trăng thì rừng phủ bóng tối, mây lướt đi thì sáng trăng. Các gốc cây, mỏm đá giống hệt nhau, tôi không còn phân biệt đâu là trước mặt hay đằng sau và đường lộ ở phía nào. Mọi thứ chồng lên nhau và cứ tắt hiện. Tôi khát khô cổ. Tôi đi bao lâu rồi? Chừng lâu lắm. Lúc này hai đùi tôi mỏi rã rời, tay chân bị gai cào xướt, cọng kẽm ở quai dép chọc thủng lá quấn ngón chân cái làm chảy máu. Tôi phải buộc lại dép, lấy nhiều lá quấn ngón chân rồi chèn cọng kẽm lên bên trên rồi lấy dây buộc lại. Tôi đi nữa, cắm đầu đi đại. Đi nữa, thêm một đoạn nữa, một đoạn nữa cho đến lúc tôi thở hổn hển ngồi dụi xuống gốc đa, thở đứt quãng vì đuối sức. Tôi mệt lả. Giờ thì tôi biết chắc là đi lạc. Không thể nào đi lâu như vậy mà vẫn bít bùng trước mặt. Tôi sợ điếng là nếu lạc trong rừng đến sáng là tiều phu Phi sẽ phát hiện báo tuần cảnh, là tôi sẽ bị bắt, bị đánh đập nhốt chuồng khỉ và sẽ bị tịch thu 20 Peso.

Chữ M hiện ra lúc đó. Một chữ M trắng bạc lung linh như giát kim tuyến. Chữ M óng ánh sáng rựng. Tôi lao đến. Đúng là chữ M tôi đã khắc lên thân cây lúc này chảy nhựa và mủ đang phản chiếu ánh trăng. Tôi mừng điên. Cứ năm mươi bước chân một chữ M lóng lánh hiện ra, giống Thanh Mai đang dẫn đường. Tôi gọi Mai, Mai mỗi khi thấy chữ M. Tôi về đến trại lúc gần hừng đông.Tôi không bao giờ biết những cánh thư nhắn tin Vũ Thị Thanh Mai của mình ai nhận. Tôi đã chọn một tảng đá ngầm phẳng phiu và nằm nhiều buổi trên tảng đá dưới nắng nhiệt đới nắn nót viết mười hai lá thư. Ban đầu tôi viết thư tình nhưng viết xong xé bỏ vì thấy quá cải lương. Viết lại nhiều thư khác cũng không hài lòng, vo quăng xuống cát cho đến khi sóng biển tràn lên, tôi nhìn xuống thấy các trang giấy vo tròn của mình đang bị sóng cuốn trôi xa. Sau cùng tôi viết vắn tắt: “Vũ đã đến trại tỵ nạn Palawan, Mai viết thư cho Vũ về địa chỉ này, rất mong tin Mai. Vũ nhớ Mai. Ký tên Lưu Linh Vũ, Lớp 11C1.”  

Mỗi chiều tôi chầu chực trước loa phóng thanh nghe đọc tên những ai có thư lên nhận cho đến khi loa im bặt. Bao nhiêu chiều tôi hy vọng, nôn nóng bồn chồn rồi thất vọng. Mãi mãi không có cánh thư nào cho tôi. Phải sau này tôi mới biết Thanh Mai sớm đi định cư  chỉ sau một tháng ở trại tỵ nạn Mã Lai nên đã không bao giờ nhận được lá thư nào tôi viết. Chúng tôi tiếp tục thất lạc mãi cho đến năm 2009 mới gặp lại ở California. Tôi kể cho Thanh Mai nghe về tặng phẩm của rừng đã cho tôi chữ M lúc tuyệt vọng. Chúng tôi kết hôn ngày 4 tháng 9 năm 2012.

TV, Buena Park, 23 tháng 11-2025

Kiều

diendantheky.net

Nguyễn Đình Bổn

April 17, 2024

Post by Sơn râu 7 May 2026

Google photos

Trong miền ký ức u buồn,

Còn nghe tiếng vọng những hồn oan xưa!

Tuấn nói: “Lát nữa sẽ có người mời anh em mình đi cà phê. Một cô gái chắc chắn sẽ làm hai anh ngạc nhiên”.  Dũng hồ hởi: “Vậy hả. Nghe hồi hộp quá. Gái đẹp hả?”

“Bạn thằng Tuấn đứa nào không đẹp”, anh nhìn Dũng, cười khì khì.

Tám giờ tối. Trung tâm Cần Thơ vẫn khá yên bình. Không có những dòng xe máy lao ào ạt giống những đàn linh dương di cư trên thảo nguyên Châu Phi như tại Sài Gòn. Anh, Tuấn và Dũng đang trong một chuyến đi “tùy hứng” khi muốn trốn cái không khí ngột ngạt tại cái thành phố gần 10 triệu dân mà mình đang sống. Tuấn, một nhạc sĩ đang nổi danh, Dũng cũng được biết đến nhiều như một nhà thơ cách tân, chỉ có anh là viết lách lai rai. Tuấn lại còn khá trẻ, đang độc thân, ăn nói hoạt bát, kiến thức khá rộng nên giống như một thỏi nam châm trước các em chân ngắn, chân dài…

Điện thoại Tuấn nhấp nháy tín hiệu. Hắn nói: “Rồi, giờ anh em mình đi”. Họ ra trước cổng khách sạn bắt taxi. Cảm giác của anh thật dễ chịu. Ngay cả taxi ở đây cũng nhanh chóng. “Cà phê Thủy Mộc nha anh”, Tuấn nói với người lái xe, và không cần nói địa chỉ, chiếc xe êm ái lăn bánh.

Thành phố nhỏ nên taxi chỉ chạy vài cây số là đến. Đó là một quán cà phê dạng vừa sân vườn vừa máy lạnh mà Sài Gòn có rất nhiều. Tuấn nói: “Mình vô trước đi, “cô em” đi xe máy từ Bình Thủy xuống nên chưa tới đâu”. Họ chọn một cái bàn ngoài sân. Anh tiếp tục kêu cà phê. Ly cà phê thứ năm hay thứ sáu gì đó trong ngày. Đêm nay có mất ngủ cũng không sao. Với anh, Cần Thơ có rất nhiều kỷ niệm…

Cà phê khá ngon, nhạc Lê Uyên Phương. Quả là một đêm để thư giãn tuyệt vời. Một đêm của những năm trước, cũng tại thành phố này… “Đến rồi đây!”. Tiếng của Tuấn lôi anh trở về thực tại. Một cô gái chạy xe gắn máy từ cổng vào chỗ gửi xe. Tuấn lịch sự rời khỏi ghế ra đón bạn. Cô gái có vóc dáng thanh mảnh đang cởi bỏ nón bảo hiểm, khẩu trang chống bụi. Khoảng sân thiếu ánh đèn nên không nhìn rõ mặt nhưng khi cô quay lại, cùng Tuấn bước vào anh bỗng nghe như có một luồng điện chạy dọc theo người. Bất chợt anh đưa tay vịn thành ghế và vin vào sức mạnh đó đứng lên. Cô gái đã lên tiếng: “Em chào hai anh!”. Dũng nhanh miệng: “Chào em, em đẹp quá”. Anh cũng gật đầu nói khá nhỏ: “Chào em”. Họ ngồi xuống. Cô gái kêu một ly sinh tố mãng cầu. Giờ thì anh mới kín đáo quan sát cô. Khuôn mặt không giống lắm nhưng mũi, cằm và dáng người thì y hệt. Đã ba mươi năm, không hiểu vì sao anh không thể quên…

Nguyễn Đình Bổn

“Đây là Kiều! Em gái miền Tây của em”. Tuấn hài hước giới thiệu. Kiều! Lại một lần nữa anh bàng hoàng. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên lạ lùng. Người con gái ấy, người con gái ba mươi năm ám ảnh anh bằng hình dáng đó cũng tên Kiều. Anh hỏi, giọng hơi run: “Em là… gì Kiều?”. Cô gái cười tươi: “Dạ Ngọc Kiều”. Anh thở ra, giờ thì không có sự trùng hợp nữa, vì ngày xưa, cô tên là Thục Kiều!

Đó là những ngày cuối cùng của thời học sinh. Anh ở trọ tại một thị trấn nhỏ để học trung học. Kiều ngồi ngay trước bàn anh. Cô là người Hoa, gia đình buôn bán trong thị tứ. Ngay từ năm lớp 11 họ đã thân nhau, Kiều có nước da trắng đặc trưng của các cô gái gốc Hoa sống ở chợ. Nhưng cô lại có một dáng người thanh mảnh và đôi mắt khá to, hơi buồn. Anh học giỏi nhưng lười. Kiều chăm chỉ và rất thích môn Anh văn. Sau mấy đợt “đánh tư sản” Kiều đi học vẫn mang giày sandal và mặc áo sơ mi bằng vải KT trắng. Hồi đó đang thời kỳ cả nước đều đói rách vì những “ngụy sách” ngu đần nên khộng có chuyện đồng phục. Anh chỉ có hai bộ đồ vải sản xuất trong nước, chân mang dép mủ. Nói là ở trọ chứ thật ra anh và hai người bạn đồng cảnh ngộ được một gia đình tốt bụng cho ở không lấy tiền tại một căn nhà nhỏ mà họ bỏ không, cách thị trấn chừng một cây số. Mười tám tuổi, anh vẫn cảm nhận cái không khí ngột ngạt quanh mình và những buổi lên lớp tẻ nhạt vì luôn phải đối mặt với những lời giáo huấn xảo trá của cái gọi là hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa. Thị trấn nơi anh trọ học hoang tàn với những căn nhà phố chợ không được tu sửa, những mái tôn rách nát đìu hiu và cây cầu nhỏ bắt qua sông chỉ còn trơ lại cốt sắt nhưng người ta vẫn phải liều mạng đi qua vì sợ tốn tiền đò. Cạnh chân cầu là nhà Thục Kiều, nơi có những chiều chủ nhật, chàng trai mười tám tuổi lại ra đó ngồi chỉ để chờ nhìn cô bạn gái tình cờ xuống bến sông.

Đó không phải là mối tình học trò đầu tiên của anh. Hình như cái nòi tình phát triển trong những tâm hồn nhạy cảm rất sớm, nhưng chuyện của anh và Thục Kiều không chỉ êm đềm lãng mạn, nó còn mang một dư vị cay đắng mà ngay từ thời non trẻ ấy anh đã biết ai là người tạo ra những mối hận tử biệt sinh ly của cả một lớp người…

Dũng vỗ vai anh: “Sao ngồi chết trân vậy? Bị người đẹp hớp hồn hả?”. Tỉnh mộng, anh nhìn Kiều: “Ừ, bị hớp hồn thiệt rồi. Ngày xưa bạn gái anh cũng có tên giống em”. Cô gái cười, bàn tay nhỏ có những chiếc móng chăm sóc kỹ khuấy nhẹ ly nước. Có lẽ cô nghĩ anh nói chơi, hoặc là một cách tán tỉnh cô. Anh vẫn nhớ cái lần đầu anh nắm tay Thục Kiều là ngày thứ năm. Trưa đó gần giờ tan học, cô nói nhỏ: “Chiều ba giờ đi học thêm ha!”. Anh ngạc nhiên: “Ủa, chiều nay nghỉ mà, đâu có…”, nhưng rồi như chợt hiểu anh vội vàng: “Ừ, chiều tui đến chờ Kiều từ hai giờ rưỡi”. “Xạo quá!” Cô cười khúc khích.

Đang những ngày sắp thi tốt nghiệp phổ thông, cả khối 12 phải học thêm 3 buổi một tuần nhưng không phải chiều thứ năm. Lòng anh tràn ngập một cảm giác hạnh phúc. Đó chính là lời hò hẹn đầu tiên mà anh chưa dám nói và nó lại bất ngờ được cô nói ra.  Mới hơn hai giờ anh đã đến, cầm theo cuốn tập. Chiều đó cả trường được nghỉ. Anh đứng trước cửa lớp của mình nhìn những cây phượng ra hoa đỏ rực, lòng xốn xang. Chưa đến ba giờ, anh nhìn thấy cô đến, cũng cầm trên tay một cuốn tập nhưng mặc một bộ đồ “xẩm” màu xanh sậm có in hoa lộ ra hai cánh tay tròn và trắng ngần. Sân trường vắng ngắt. Khi Thục Kiều đến gần, anh nghe cô nói nhỏ: “Đến sớm ha!”. Má cô đỏ bừng, có lẽ vì nắng và mắc cỡ. Họ đi vào lớp, ngồi vào cái bàn của Kiều. Không ai nói với ai lời nào. Bàn tay cô cuốn tròn cuốn tập, không dám nhìn anh. Thật lâu, cô nói: “Chắc Kiều không thi tốt nghiệp đâu!” Anh giật mình: “Không thi? Sao vậy? Chỉ còn một tháng nữa mà”. “Ừ, không thi. Thi đậu cũng đâu làm gì được. Nguyên thấy anh Công không. Ảnh đâu được thi đại học, số phận Kiều cũng vậy!”.

Anh chợt hiểu. Công là anh ruột Kiều. Học hơn anh hai lớp. Công học giỏi thuộc loại nhất trường nhưng sau khi đậu tốt nghiệp lại bị cấm thi đại học chỉ vì gia đình là người Hoa. Bất chợt anh nắm tay cô. Bàn tay Kiều run nhẹ một cái rồi để yên. Anh cảm giác tay cô thật ẩm ướt và tay mình cũng vậy. Đến bây giờ anh vẫn còn cảm nhận cái mềm mại của bàn tay nhỏ nhắn run rẩy đó. Họ cứ ngồi yên, cùng nhìn ra phía sân trường nơi nắng mùa hè vẫn còn chói chang rồi nhạt dần. Có cảm giác thời gian trôi qua mà không hiện hữu. Rồi cô rút tay ra, má vẫn còn ửng đỏ: “Kiều về đây. Nói vậy chứ chưa nghỉ học đâu, cho Nguyên cây viết này nè!”. Cô lấy ra cây viết paker trao cho anh, nói thêm: “Anh Công cho Kiều trước khi đi, giờ cho Nguyên”. Anh lặng lẽ nhận cây viết, không nói gì, cũng không hỏi Công đã đi đâu…

Buổi cà phê có vẻ đã kết thúc. Tuấn kêu tính tiền. Họ còn hẹn đi ăn ở đâu đó. Anh thoái thác, nói không khỏe và muốn về khách sạn. Hai người bạn và cô gái trẻ nhìn anh ái ngại, Tuấn đề nghị đưa anh về, nhưng anh cười, trấn an: “Không sao mà, nhức đầu chút thôi, lát hết.”. 

Trên xe anh hỏi người lái taxi: “Giờ mà đi thị trấn G. bao nhiều tiền hả em?” “Anh muốn đến đó giờ này sao? Xa mà!”. Anh cười: “Hỏi chơi thôi, cho anh về khách sạn H.”

Sau cái lần nắm tay nhau trong buổi chiều chỉ có hai đứa, Thục Kiều bỗng thân thiết với anh một cách dạn dĩ trước những ánh mắt ganh tỵ của bạn bè vì trong lớp Kiều là người đẹp nhất, học cũng giỏi. Thế nhưng chỉ có một mình anh biết và một mình anh lo sợ khi ngày thi tốt nghiệp đã gần kề. Anh vẫn cố học vì dù sao sau 12 năm mà thi rớt chắc cũng ê chề. Giữa tháng năm, mưa đã bắt đầu rơi xóa dần cái không khí nóng bức mùa hè nhưng lòng anh ngổn ngang trăm ngàn cảm giác. Năm học sắp sửa kết thúc. Một chiều thứ bảy đang ngồi nhà một mình với cuốn bài tập toán anh nghe tiếng ai kêu tên mình từ ngoài đường. Tiếng của Kiều! Tim anh đập rộn ràng. Sao cô lại đến đây? Anh vội vàng chụp lấy cái quần dài mặc vào rồi chạy ra sân. Thục Kiều đứng đó, trên tay là một bịch sơri chín đỏ. Cô cười: “Đến thăm Nguyên, được hôn?”. Anh sững sờ nhìn cô. Hôm nay Kiều mặc một bộ đồ ở nhà trông rất lạ, như thể cô đã bước qua lứa tuổi học trò, trở thành một cô gái xinh đẹp đã trưởng thành. Anh ấp úng: “Ừ, Kiều vô đi, Nguyên ở nhà có một mình”. Căn nhà anh trọ trống hoác. Chỉ có một chiếc giường vứt đầy sách vở, không có ghế. “Kiều ngồi xuống đây đi!”, anh nói và ngồi xuống ở một đầu giường.  Cô ngồi xuống, thật gần bên anh, mở bịch sơri ra, lấy gói muối ớt, nói: “Nguyên ăn với Kiều, Nguyên cầm muối”. Anh để gói muối trong lòng bàn tay, khi ngón tay cái và ngón trỏ nhỏ nhắn cầm trái sơ ri chạm vào anh nhẹ nhàng khép tay mình lại. Họ nhìn nhau thật lâu, thật lâu… Bỗng nhiên trong đôi mắt u buồn lăn ra từng dòng nước mắt trong vắt. Anh hốt hoảng: “Có chuyện gì vậy Kiều?”. Cô bỗng bật khóc, buông bịch sơri, dựa hẳn vào anh: “Kiều sắp đi rồi! Kiều sắp bỏ Nguyên! Kiều chỉ nói điều này cho một mình Nguyên biết”. Giây phút ấy anh thấy mình lóng ngóng, hụt hẫng. Lần đầu tiên anh choàng tay qua vai một cô gái. Họ lại ngồi im lặng thật lâu, rồi Kiều nói: “Nguyên ơi, người ta nói đi vượt biên sợ nhất là cướp biển Thái Lan, đúng không Nguyên?” “Ừ, Nguyên cũng nghe vậy. Tụi nó đón người dân mình ngoài biển, cướp vàng”. “Kiều không sợ mất vàng, Kiều chỉ sợ…”. Cô vẫn khóc, giấu cặp mắt đầy lệ vào vai anh. Anh bàng hoàng. Đúng rồi. Một cô gái trẻ như Kiều khi rơi vào tay bọn cướp biển thì chúng đâu chỉ lấy vàng, chúng sẽ hãm hiếp cô. Anh rùng mình, ôm chặt lấy cô: “Đừng đi, Kiều ơi, đừng đi” “Không, Kiều không thể ở lại đất nước này, gia đình Kiều đã chung tiền. Sáng mai Kiều đi Rạch Giá, và tối…”.

Bất chợt cô ôm chầm lấy anh, bàn tay quàng qua cổ, hôn như mưa trên gò má anh, cô nấc lên: “Nguyên ơi, người ta nói rằng những cô gái đồng trinh khi chết sẽ không siêu thoát. Kiều sợ, Kiều sợ lắm”.

Phải mấy năm sau anh mới hiểu câu nói đó của cô. Nhưng buổi chiều hôm đó anh chỉ biết ôm cô vào lòng, cùng khóc với cô, không hề có một hành động xác thịt nào, ngay cả nụ hôn môi cũng không… cho đến khi nắng tắt…

Ngay hôm sau, chỉ có anh biết trước là Kiều sẽ biến mất. Trường lớp xôn xao vài ngày rồi cũng thôi.

Mới đó mà đã hơn ba mươi năm hả Kiều?

Nguyễn Đình Bổn

Sài Gòn, tháng Tư.

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 7 May 2026

Sau khi cởi hết những áo quần vá víu chùm dụp, chỉ còn cái quần xà lỏn che phần hạ bộ, tôi nấn ná xin được hút một bi thuốc lào.

“Lắm chuyện.”

Viên sĩ quan an ninh cau mặt nói, nhưng anh ta cũng không từ chối. Anh bảo vệ binh cho mượn điếu cày và cho tôi bi thuốc. Tất cả những động tác nạp thuốc, châm lửa, rít khói, ém khói, tôi làm rất chậm. Cố ý kéo dài thời gian hít thở không khí bên ngoài.

“Khoái chứ?” Viên sĩ quan hỏi.

“Khoái. ” Tôi nói trong cơn tê rần cơ thể.

“Tiên Lãng chính hiệu đấy.”

“Hèn gì say ngất. Có được mang vào trong ấy không?”

“Không. Quy định là thế. Sáng nay, anh đã nghe rõ lệnh phạt chứ?

“Nghe rõ.”

Anh ta an ủi: “Thế đấy. Ráng chịu khó nằm trong ấy một thời gian. Đừng làm bậy, có hại sức khỏe.”

Nằm trong ấy, có hại sức khỏe là điều hiển nhiên. Nhưng làm bậy là làm gì? Tôi đưa mắt ngó anh ta, không hiểu. Viên sĩ quan giải thích: “Trước kia, các anh thường xem hình đàn bà ở lổ, chơi bời quen thói. Không có đàn bà, lại thủ dâm. Hại lắm. Đừng nhé.” Khi nói điều này, anh ta hạ thấp giọng, ra vẻ thật tình khuyên bảo.

Đây không phải là lúc để cải chính về vấn để chơi bời quen thói và thủ dâm. Từ lúc còn trên ghế nhà trường, người ta đã gieo vào đầu anh, rằng “quân ngụy” là một tập hợp diển hình tất cả những bỉ ổi xấu xa trên cõi đời này. Cải chính, cũng vô ích. Tôi chỉ lắc đầu.

“Có đàn bà, cũng không còn sức mà làm. Nói chi đến chuyện thủ dâm.”

“Nhắc chung thế thôi. Bây giờ vào nhé!”

Viên sĩ quan dẫn tôi đến phòng kỹ luật. Triển núi nằm nghiêng, người ta vạt bớt một mảng, thành vách núi thẳng đứng. Từ chân vách, lại khoét năm cái lỗ, theo chiều ngang mặt đất, sâu vào khoảng hai thước. Bề cao không đủ để một người đứng thẳng lưng. Cái lỗ méo mó, lồi lõm tùy theo đá núi. Gọi là cái lỗ hay cái hang, cũng như nhau thôi. Nhưng người ta đặt tên theo công dụng của nó: phòng kỷ luật. Đã gọi là phòng kỷ luật, ai chui vào trong ấy, nhất định không thể nào cảm thấy thoải mái được. Có năm phòng. Hai phòng đã có người. Tôi chiếm một phòng nữa, là ba. Vật dụng được mang theo: một gon Guigoz nước uống, một ống bương dùng chứa nước tiểu, đôi khi chứa cả phân.

Vừa chui vào, tôi nghe mùi gì rất lạ.

“Anh bị cùm hai chân trong mười lăm ngày, hơi khó chịu một chút. Sau được giảm bớt, còn cùm một chân.”

Cùm hai chân, mà anh ta nói chỉ hơi khó chịu một chút? Hình phạt thế nào mới thật sự khó chịu? Anh ta đã đơn giản hoá tôi thành một con vật trong chuồng, không nghĩ rằng tôi còn có tinh thần của một con người. Nhiều khi tinh thần là yếu tố chính làm ra sự tử vong. Nhưng trong hoàn cảnh này, lên tiếng hỏi đi hỏi lại, chẳng những đã không lợi gì, còn gây thêm ác cảm. Khi đặt cườm chân vào giữa hai cái khoen sắt hình lưỡi liềm. Anh ta khép lại, Hai cái khoen ráp thành vòng tròn, ôm gọn cườm chân.

“Xong nhé! Có gì thì kêu lớn, nhưng tốt hơn không nên làm ồn. Nằm nghỉ ngơi nhé!”

Viên sĩ quan khép cánh cửa liếp đan bằng nứa. Tiếng khóa khua lách cách bên ngoài. Tôi nghe tiếng dặn vệ binh: “Hãy cẩn thận. Không được tự đông nói chuyện với thằng trong ấy.”

Nhanh thật! Mới vừa gọi tôi bằng anh một cách tử tế, thoáng chốc đã gọi bằng thằng. Phòng kỹ luật không tối hẳn. Ánh sáng ban ngày hắt qua cửa liếp. Mới vào, tối om om. Dần dần quen mắt, thấy được mờ mờ. Khi mọi vấn đề đã khộng còn có thể thay đổi, phải hết sức bình tâm để đón nhận hoàn cảnh hiện tại. Suy tư, buồn rầu, oán hận chỉ làm tinh thần thêm đau khổ, thân xác sẽ không chịu nổi với tình huống khắc nghiệt. Tôi bắt đầu quan sát, làm quen với chỗ ở mới. Trên nóc phòng có những tảng đá lớn nhô ra, không có gì chống đỡ.

Nếu chẳng may, đất đá sụp lở, chưa kịp bắt chước Kim Thánh Thán, mà kêu lên: “Âu! Cũng là dịnh mệnh.”, tôi đã bị chôn sống trong cái hang này. Nghĩ vớ vẩn thôi, chứ không lẽ đời tôi đen đến thế? Nằm xuống thử, dưới lưng lỡm chởm cấn cái. Khốn nạn! Những anh tù khi được lệnh công tác, chỉ cốt làm cho xong việc, không chịu khó cạy bớt những viên đá nhọn, quên nhìn xa hơn trong tương lai, sẽ có những người bạn của mình thọ nạn vào đây. Để đỡ cấn lưng, người ta trải một lớp rơm làm nệm lót. Đã nhiều đợt người vào ra, nằm mãi làm lớp rơm xẹp lép, bốc mùi ẩm mốc, mồ hôi và nước tiểu. Nhưng chỉ một lúc suu, không còn nghe mùi gì nữa. Khứu giác tôi đã nhanh chóng thích nghi với bầu không khi ẩm thấp này. Mỗi phòng kỷ luật có một chiếc cùm. Mỗi chiếc cùm có hai cái khoen bằng sắt dẹp, vừa đủ để tra vào cườm chân. Tôi đã nghe những bậc đàn anh từng trãi qua phòng kỷ luật, nói về chiếc cùm này rồi. Bây giờ mới thấy được tai hại của nó. Đáng lẽ phải gò mài cho nhẳn cái khoen sắt, nhưng mấy anh tù thợ rèn, lười biếng và tắc trách, để cái khoen còn sần sùi góc cạnh, dễ làm trầy lở cườm chân. Cứ tưởng tượng cườm chân bị lở loét, thường xuyên va chạm với cái khoen sắt, thì đau đớn tới cỡ nào? Kinh nghiệm của người đi trước, dạy tuột cái quần xà lỏn xuống, dùng lớp vải chêm vào vòng trong cái khoen, giữ cho cườm chân được êm ái, đừng để bị trầy thành ghẻ. Tôi áp dụng ngay kinh nghiệm này, bảo vệ cườm chân trước tiên. Cũng may, người ta còn cho mặc quần. Nếu bắt ở truồng, lấy vải đâu mà chêm cái khoen sắt. Chiếc cùm cớ thể đóng mở bởi một thanh sắt dài thông ra ngoài phòng kỷ luật. Cái khoá cũng ở ngoài. Thanh sắt được gắn thêm cái chốt bằng gỗ, trông như chiếc thập giá nằm ngang. Đêm đêm, vệ binh tuần tiểu canh gát bên ngoài, muốn kiểm soát tù nhân, hắn chỉ cần đạp mạnh lên cái chốt ngang, làm xoay thanh sắt. Và cái khoen bên trong sẽ vặn, nghiến vào cườm chân. Tù nhân la lên: “Ối! Trời ơi!” Thế là hắn biết có người còn nằm trong đó. Lại cũng kinh nghiệm sau nhiều lần bị đau của đàn anh, dạy rằng, giữa khuya thanh vắng, nghe tiếng dép râu đi lẹt rẹt, phải lập tức ho lớn.

Không muốn ho cũng phải ho. Mục đích háo cho hắn biết, ta vẫn còn đây. Thế nhưng, canh gác một mình trong bóng tối, hấn buồn ngủ, đôi khi hắn vẫn đạp cái chốt ngang, để nghe liếng kêu trời đau đớn. Một trò chơi làm cho hắn tỉnh ngủ. Phải sửa soạn nơi ăn chốn ở cho thật tiện nghi. Tôi vói tay kéo những rơm thừa chung quanh, độn cao lên, làm chỗ gối đầu. Nằm ngữa xuống thử, nghe cũng thoải mái. Lúc nằm ngửa, đầu quay vô phía trong, chân hướng ra ngoài. Như thế, khi ngồi mặt hướng ra cửa liếp. Đã vào đây rồi, không còn ai quấy rầy nữa. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Không chừng, ở một nơi yên tịnh thế này, tôi có thể chiêm nghiệm được những triết lý sâu xa của nhà Phật. Tệ lắm, cũng làm ra thơ.

Tùy thco mức độ của sự trừng phạt, mà bị cùm một, hoặc hai chân. Bị cùm một chân, có thể nằm ngữa, hoặc xoay trở nằm nghiêng qua phía cái chân không bị cùm. Cùm hai chân, nằm ngửa là kiểu nằm duy nhất. Đang bị cùm, muốn nằm ngổi tùy ý, nhưng tuyệt đối không thể đứng. Ngoại trừ những lúc ngủ, thời gian còn lại, tôi thường chọn thế ngồi, chân đuỗi thẳng. Nhưng cứ nằm ngồi hoài một chỗ, e bị tê liệt mất. Tôi tìm cách vận động, quơ hai cánh tay đủ kiểu, mục đích làm chọ máu lưu thông. Có lúc, tôi đấm lia lịa vào không khí, như võ sĩ boxer đang dợt bao cát. Hoặc nằm ngữa, hai bàn tay để sau ót, gắng sức ngồi lên, rồi nằm xuống. Đây là kiểu tập thể dục thẩm mỹ, làm tan mỡ cho những người bụng bự. Cái bụng ốm đói của tôi, từ lâu rồi, đâu còn mỡ mà tan? Nếu thế, cứ coi như động tác tập dưỡng sinh của các nhà Yoga vậy. Chỉ cần một buổi ở trong phòng kỷ luật, tôi khám phá ra rằng, tôi không phải là sinh vật duy nhất trong cái hang động này. Còn có những con gián nữa. Khi tôi nằm yên, gián từ đâu trong kẽ đá bò ra, leo lên người, nhiều khi nó còn cả gan gặm nhấm thử đầu ngón tay tôi. Tao chưa trở thành món ăn của mày đâu. Hãy đi chỗ khác chơi! Tôi chụp, và ném mạnh vào cửa liếp. Con gián bị ném, nếu không chết, cũng bị chấn thương trầm trọng. Ngoài gián, tôi còn phải đương đầu với một đoàn quân bất trị khác. Lớp rơm lâu ngày, sinh ra mạt. Ấy là loại bọ nhỏ li ti, nhỏ hon rận chó, thường xuất hiện ở gà. Với ánh sáng mờ mờ trong phòng kỷ luật, không thể nhìn thấy con rận. Nhưng suốt ngày đêm, nó cứ bò nhồn nhột trên da, làm ngứa ngáy khó chịu. Gãi sẽ trầy thành ghẻ. Dùng bàn tay chà xát chỗ này, lại nghe ngứa chỗ kia. Nó tấn công vào những vùng da non. Chỉ vài ngày sau, nách và háng sần lên như bị nổi sảy. Muốn tiêu diệt đoàn quân mạt, phải dùng chiến thuật hỏa công. Trong hoàn cảnh khốn nạn hiện thời, tôi đành chịu thua.

Mỗi ngày, sáng trưa chiều. Từ ngoài cổng, vọng vào ba tiếng kẻng, rổi tiếp theo một chuỗi âm thanh dài và nhỏ dần. Người ta lấy một mảnh gang vỡ của quả bom, treo lên làm kẽng. Dùng chiếc dùi sắt đánh mạnh, phát ra âm thanh rổn rảng chát tai, Không như tiếng chuông chùa ngân nga âm u lắng đọng. Tiếng kẻng làm âm thanh vỡ vụn như những mảnh kim khí nhọn sắc vô hình, đâm vào tim nhoi nhói xốn xang. Nghe nói, người ta lấy mảnh bom vỡ làm kẻng, như một cố ý nhắc nhở hận thù về cuộc không tập tàn khốc của Mỹ, trong thời kỳ chiến tranh vừa qua. Sau tiếng kẻng buổi sáng, viên sĩ quan an ninh mỡ khoá cùm, giao tôi cho một vệ binh, dẫn đi làm công việc vệ sinh cá nhân. Đầu tiên, hắn dẫn tôi tới nhà cầu, tiêu tiểu và đổ ống bương chứa nước tiểu trong một ngày đêm vừa qua ở phòng kỳ luật. Nhà cầu làm bằng hai thanh gỗ bắc song song. Che chắn chung quanh bằng liếp nứa. Bên trong ngăn ra từng phần, để nhiều người có thể đi cầu cùng một lúc. Phía trên cũng lợp mái nứa. Phía dưới đào một cái rãnh lộ thiên, dùng chứa phân. Hàng tuần, cótù nhân quét dọn, và xúc phân đem ủ, để bón rau sau này.

Có hai dãy nhà cầu. Dãy dành cho sĩ quan và vệ binh, được thiết kế hiện đại, lịch sự hơn bằng những tấm liếp che khuất người ngồi trong ấy. Dãy cho tù dược phái lên Đoàn làm tạp dịch, liếp nứa chỉ che lưng lững tới cổ. Người bên ngoài, có thể nhìn thấy cái đầu của người đang đi cầu. Ngược lại, ngồi trong cầu, cũng thấy được mọi vật bên ngoài. Cái ghê tởm nhất là nhìn xuống phía dưới rãnh phân. Dòi bọ lúc nhúc, Ruồi nhặng bay vo ve, bu cả lên người. Nhiều khi, còn có những con chim lông đen đáp xuống ăn dòi. Vừa ăn, chúng vừa kêu chíp chíp như tiếng gà con. Từ hai dây cầu tiêu, bốc ra một mùi hôi kinh khiếp. Khi tôi ra khỏi nhà cầu, vệ binh dẫn đi lấy nước nơi một cái giếng. Giếng đào ở đây cũng lạ. Miền cao, đồi núi chập chùng. Mùa mưa, nước từ trên đỉnh đổ xuống những nơi tiếp giáp núi đồi, thành đường nước chảy. Người ta đào giếng chận ngang đường nước ấy. Đất đá đem lên, chất cao chung quanh làm bờ giếng. Nhiều tảng đá to đến cả người ôm. Và miệng giếng cũng rộng như một cái ao, đường kính mấy sải tay. Muốn lấy nước, phải đứng chàng hãng trên hai thanh gỗ gác ngang miệng giếng, để kéo nước lên. Nước giếng xanh, trong vắt.

Có lần, lôi đứng gần miệng giếng, hít thở, quơ tay, và nhún nhảy tại chỗ cho máu lưu thông.

Vệ binh nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạnh.

“Anh làm cái trò gì thế?” Tiếng nói phát ra như tiếng rít giữa hai hàm răng.

Tôi nói: “Rũ liệt cả người. Vận động tay chân một chút.”

“Rỡm! Lấy nước rồi vào ngay!”

“Mình mẩy hôi quá. Tôi xin được tắm.”

“Không dược. Quy định, mỗi tuần chỉ tắm một lần.”

“Nhưng vừa ở trong cầu tiêu ra, người tôi hôi lấm.”

“Lãm nhãm mãi! Có chịu lấy nước, hay muốn vào cùm ngay?”

Hắn nách ngang cây súng AK, chỉa về hướng tôi, như sắp sửa bắn tới nơi. Những tên tiểu nhân gặp thời, thường có thái độ hống hách, dọa nạt người thất thế. So với viên sĩ quan an ninh cáo già, thì tên vệ binh chỉ đáng hạng gà con. Tôi đoán, cái mặt non choẹt này, chưa biết nếm mùi chiến trận là gì. Cứ tưởng có cây súng trong tay, là có được hào quang của người chiến thắng. Viên sĩ quan an ninh mới đáng gờm. Anh ta không cần phải thị uy những lúc không cần thiết. Nói năng hòa nhã đường hoàng. Mặt không biểu lộ sắc thái thù hằn, nhưng thủ đoạn thì khỏi chê. Mấy ngày trước, tôi xin cho thay lớp rơm lót trong phòng kỷ luật. Anh ta nói, hãy thư thả, chờ trình với cấp trên rồi mới quyết định được. Chờ mãi, vẫn không thấy gì. Tôi biết, anh ta cố tình lờ đi, để những con mạt hành tôi suốt ngày đêm cho bỏ ghét. Thế mới đáng sợ. Chứ tên vệ hinh này, chỉ là loại gà con háu đá. Tôi lấy nước vào lon Guigoz xong, hắn dẫn trở lại phòng kỷ luật, và gọi viên sĩ quan an ninh tới đóng khoá cùm. Tôi đặt cườm chân vào khoen sắt hình lưỡi liềm. Viên sĩ quan chưa khép vội, hỏi tôi có cần gì không? Tôi cần nhiều thứ, nhưng biết khó được thỏa mãn, nên chỉ xin hút một bi thuốc lào.

“Ghiền đến thế cơ à?”

“Vâng. Trước kia ghiền thuốc lá. Đi cải tạo ghiền thuốc lào.”

Anh ta đưa tôi vào phòng làm việc và tự tay châm lửa đóm cho tôi. Tôi cám ơn cử chỉ này.

“Anh muốn viết thư về cho gia đình không?” Viên sĩ quan hỏi.

Tôi ngạc nhiên: “Bị kỷ luật cũng được gởi thư sao?”

“Tình cảm gia đình là thiêng liêng, cách mạng không hề chối bỏ. Viết thư nhé?”

Tôi vội gật đầu, cám ơn lần nữa.

Anh ta dem cho tôi bì thư, giấy bút và dặn: “Ngồi đây viết thoải mái. Viết xong, cho vào bì, dán kín lại. Một tiếng đồng hồ thôi nhé.” Nói xong, anh đi ra ngoài. Tôi biết ngay đây là một trong những phương thức tìm hiểu, kiểm soát tư tưởng tù nhân. Dù anh ta bảo dán kín bì thư lại, nhưng rồi sẽ được mở ra và tấm lòng người viết phơi trài qua những dòng chữ nhắn gửi gia đình. Nếu không có gì đáng quan tâm, cái thư sẽ đi vào sọt rác. Nếu lời lẽ mập mờ khó hiểu, hoặc thán oán chế độ, thì hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi. Người ta sẵn sàng tiêu diệt bất cứ cái đầu bất mãn nào manh nha mầm móng chống đối chế độ. Phần đầu thư, tôi hỏi thăm sức khỏe vợ con và nhắn nhủ hãy cố gắng trở thành con người mới, để mau chóng hội nhập vào xã hội mới. Câu này như một thần chú làm bùa hộ mệnh, như một thành ngữ sau cuộc đổi đời, khi nền tàng xã hội bị bứng tận gốc rễ. Phần hai, tôi viết tôi có cái may mắn được giáo dục bởi những cán bộ đại lượng và cảm thông. Lời lẽ tâng bốc, mục đích chỉ để vuốt ve viên sĩ quan an ninh. Anh ta mà có ác cảm, thì đời tôi sẽ tiêu tùng bất cứ lúc nào. Tôi không nói gì về chuyện đang bị cùm và đang đói rã ruột. Dưới chế độ này, có hai ngôn từ, tuyệt dối cấm sử dụng: tù và đói. Tất cả đều phải nói khác đi. Tù khổ sai, là học tập cải tạo. Tù nhân, là cải tạo viên. Vì thế, đã xẩy ra lắm chuyện khôi hài. Có anh đói quá, viết thư về nhà, nói dang bị bệnh bao tử, xin tiếp tế. Một thời gian lâu sau, anh nhận được gói quà, trong ấy toàn là thuốc chữa đau bao tử, kèm theo lá thư. Vợ anh cho biết, phải bán quần áo và đồ dạc trong nhà để lấy tiền chạy thuốc cho anh. Đọc thư, anh nhếch cười. Cái cuởi như mếu.

Cuối cùng, tồi viết một câu thiệu, bất cứ tù nhận nào cũng thuộc lòng, rằng tôi luôn luộn tích cực cải tạo tất, để sớm trở về đoàn tụ với gia đình. Thế là xong. Đọc lại, kiểm soát lần nữa. Cái thư thật hoàn hảo. Đúng lề lối văn phong  của một cải tạo viên tốt. Tội cho vào bì, dán cẩn thận. Trước khi trở lại phòng kỷ luật, tôi còn xin hút thêm bi thuốc nữa. Viên sĩ quan vui vẻ chấp thuận ngay. Sáng hôm sau, anh ta mở khoá cùm cho tôi ra ngoài, làm công việc vệ siph cá nhân như thường lệ. Mắt anh nhìn tôi xoi mói, nhưng miệng lại cười mìa.

“Ma mãnh vừa thôi.”

“Cán bộ nói gì, tôi không hiểu?” Hỏi thế, nhưng tôi nghĩ ngay đến bức thư hôm qua, anh ta không tìm thấy một sơ hở nào.

“Hum … Anh khôn một. Chúng tôi khôn mười.”

Lời nói có về tự thị kiêu căng, nhưng anh ta vẫn hỏi tôi có muốn được tắm hai lần một tuần không? Đây là một biệt lệ không ngờ. Bức thư đã có tác dụng với viên sĩ quan an ninh chăng? Tôi vội trả lời muốn, và không quên cảm ơn lòng tốt của anh ta. Anh dặn vệ binh, dẫn tôi đi tắm sau khi ra khỏi cầu tiêu. Nơi đây, từ trên xuống dưới, toàn một lũ đàn ông, nên chẳng ai cần làm phòng tắm. Cũng chẳng có lu chứa nước. Cứ mặc nguyên quần xà lòn. Kéo nước lên trong cái gàu đan bằng nứa. Nhích ra khỏi miệng giếng. Đứng giữa trời mà trút cả gàu nước lên đầu. Kỳ cọ xong, lại kéo gầu nước khác, Xà bông là loại sản phẩm quý hiếm, may ra, cán bộ mới có được. Lúc tôi cởi quần để vất cho ráo nước, vệ bình quay mặt hướng khác. Tôi nhìn xuống, cái bụng hóp lại, hai bên xương hông nhô ra, như một xác khô. Thê thảm nhất là phần hạ bộ. Bèo nhèo ủ rũ. Lâu rồi, nó không cất đầu lên nổi. Tôi chợt nhớ bài thơ, làm trong thời gian chưa bị kỷ luật.

Ngày hai bữa, sắn khô nước muối

Thì làm sao khỏi đói, buồi ơi!

Đêm, ta trằn trộc ngậm ngùi

Đưa tay sờ thử, thấy buồi xuội lơ.

Ta vọc mãi, buồi trơ ra đó,

Cứ ỡm ở, ủ rủ buồn thiu.

Thương ta đói khổ đủ điều,

Thương buồi tê tiệt đã nhiều năm qua.

Nếu mai mốt được ra khỏi trại,

Ta trở về gặp lại hiền thê.

Vợ yêu chìu chuộng vuốt ve

Mà buồi vẫn gục, Chết ta! Chết buồi!

Đang nghĩ ngợi miên man, tôi giật mình vì tiếng hỏi của vệ binh.

“Anh đã mặc quần vào chưa?”

“Chưa.”

“Lâu thế? Định khoe của quý à?”

“Quần chưa khô.”

“Ôi giời! Bao giờ mới khô được. Khẩn trương mặc vào ngay!” Hắn hét lên.

“Vậng. Vâng … Xong rồi.”

Vệ binh quay mặt lại, trừng mắt: “Lề mề … Mất cả thể thống.”

Ban ngày, nhiệt độ trong phòng kỷ luật thấp hơn bên ngoài. Hơi lạnh toát ra từ trong đất đá. Ban đêm, gió lùa qua cửa liếp, càng lạnh hơn. Khi ngủ, tôi khoanh hai tay, để giữ hơi ấm cho buồng ngực. Trời nắng ráo, còn dễ chịu đôi chút. Sau cơn mưa vài ngày, là một cực hình ghê gớm. Nước thấm vào đất núi, ứa ra đọng thành giọt theo những vú đá trên nóc. Lâu lâu, rớt xuống một giọt. Khó mà ngủ với những giọt nước rớt lên người. Lớp rơm lót dưới lưng, cũng ẩm hơn. Cả người cứ nhơm nhớp, khó chịu. Sức khỏe tôi vốn đã tồi tệ, càng suy kiệt rất nhanh. Không chợp mắt được, lại phải ngồi một chỗ, tôi cảm thấy thời gian dài khủng khiếp. Làm sao quên bớt thời gian? Tôi nghî đến thiền. Xưa nay, tôi có biết hành thiền là gì đâu. Thấy những nhà sư ngồi lim dim đôi mắt, giờ đây, tôi cũng bắt chước làm thử. Nhưng những giọt nước lạnh và lũ mạt hoành hành ngứa ngáy, tôi không thể nào ngồi yên. Những mầu chuyện về các thiền sư, có thuật rằng, Hám Sơn đại sư, lánh đời lên núi ẩn tu. Ngài chì ăn cám và rêu cỏ qua ngày. Có lần, Ngài nhóm lửa, bắc nồi cám lên, rồi vào động ngồi thiền, chờ cho cám chín. Không biết Ngài nhập định bao lâu, mà khi xả thiền, ra thăm nồi cám, thì thấy đã mốc meo đóng váng tự bao giờ. Thời gian trôi qua cả tuần, nhưng đối với Ngài chỉ trong thoáng chốc. Nếu làm được như Hám Sơn đại sư, thì hãm thân trong phòng kỷ luật, đâu còn là một cực hình thống khổ?

Sách có nói, khi nhập tâm suy nghĩ điều gì, đôi lúc người ta quên cả thời gian và thân xác hiện hữu. Tôi ôn lại đời tôi, từ lúc tuổi thơ cho đển trường thành, dấn thân vào lính rồi bước chân vào tù. Thời gian đằng đẵng mấy chục năm, mà nghĩ một lúc đã thấy mình ngồi trong phòng kỹ luật. Cái nghịch lý là khi ôn lại cuộc đời vừa qua, tôi muốn kéo dài thời gian thì nó lại quá ngắn. Còn khi muốn rút bớt thời gian hiện tại, thì nó lại quá dài.

Tôi tìm phương cách khác. Thử làm kẻ vô tâm, không nghĩ gì cả. Nói điều này nghe dễ, nhưng khi muốn định chỉ tư tưởng, còn khó hơn chuyện lên trời. Nhà Phật đã chẳng từng bảo rằng A Lại Da Thức mạnh như dòng thác, nếu không phải bậc thượng thừu, không dễ gì làm ngưng được, đó sao? Bao nhiêu kẻ dày công tu hành mấy mươi năm, vẫn chưa đạt đến trình độ tâm không. Sa cơ như tôi, mà trong một sớm một chiều, muốn vượt ra ngoài giới hạn phàm phu, là chuyện nằm mơ.

Tổi cứ loay hoay tìm cách đốt bớt thời gian và quên đi những giọt nước lạnh rớt lên người. Tôi tưởng tượng mình là một Lạt Ma Tây Tạng, mình trần ngồi trên tuyết. Không biết các Ngài Lạt Ma thật, cảm thấy thế nào. Chứ tôi thì thấy lạnh thêm và tưởng như đang ngồi giữa cái rét giá mùa đông. Sau khi thử làm Lạt Ma, tôi chợt khám phá một điều, tất cả dều do tâm sinh diệt mà ra. Dức Phật đã nói thế rồi, nhưng đó là kinh nghiệm của Ngài, tôi làm sao cảm nhận? Chẵn hạn, ngày còn nhỏ nghe má tôi kể, rằng nạn đói năm 1945 ngoài miền Bắc, làm chết cả triệu người. Đói tới chết là một đau khổ ghê gớm, nhưng tôi đâu biết được cái đói hành hạ thân xác thế nào? Những năm đi tù trên đất Bắc, tôi mới cảm nhận được hết nỗi quay quắt khắc khoải của người đói. Đói trằn trọc không ngủ được. Đói rã ruột, nằm nghe bụng sôi ồn ột, như có những cục không khí chạy qua chạy lại trong bao tử. Đói đến nỗi muốn trở thành trâu bò, để có thể ăn cỏ lá ngoài đồng nội. Đói cả trong tâm thức, vừa chợp mắt, dã chiêm bao thấy mình đang ăn đám cưới, hoặc ngất ngưỡng ngồi nhà hàng thưởng thức những mỹ vị cao lương. Có điều kỳ lạ, là trong chiêm bao ăn không bao giờ thấy thoả mãn. Kinh nghiệm quý giá nào, cũng đều phải trải qua thử thách của chính bản thân mình. Giờ đây, tôi hiểu được rằng, ngoại cảnh tác động do tâm sinh diệt. Để chống lại cái lạnh, tôi tưởng tượng mình là thầy trò Đường tăng, trên đường đi thinh kinh, gặp hỏa diệm sơn. Người nào cũng tháo mồ hôi nhễ nhại, vì khí hậu vô cùng oi bức. Nhìn trước mặt, thấy lửa đang cháy bừng bừng. Tôi đi sâu hơn vào câu chuyện. Thổ Địa hiện hình, cho biết núi lửa này do Tôn Hành Giả gây ra. Nghi mình bị vu oan, Tôn Hành Giả bèn nổi giận xách thiết bảng, đòi đập chết Thổ Địa. Sợ quá, Thổ Địa quỳ xuống xin tha mạng và giải thích. Rằng năm trăm năm về trước, có con khỉ đột tự xưng Tề Thiên Đại Thánh, loạn đả thiên cung, bị bắt nhốt vào lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân. Ông già này quyết dung chân muội tam hỏa, đốt chết con khỉ đột ra tro. Nhưng Tề Thiên Đại Thánh thần thông quảng đại, đâu dễ bị hại dưới tay một ông già chuyên môn chế thuốc cao đơn hoàn tán. Tề Thiên giận sùi bọt mép, trợn mắt lữa tròng vàng, nhảy ra đá giò lái, làm đổ cái lò bát quái. Một viên gạch nóng hổi rớt xuống trần gian, thành hỏa diệm sơn. Nhập tâm làm thầy trò Đường tăng gặp núi lữa, tôi cảm thấy dễ chịu. Và câu chuyện thú vị làm tôi quên nghĩ đến thời gian. Cái phương pháp hóa giải nỗi đau khổ này, dễ áp dụng hơn ngồi thiền, làm kẽ vô tâm. Có lúc tôi tưởng tượng mình là Tôn Hành Giả ngao du bốn cõi, tung hoành trời đất. Tưởng tượng mình là Trư Bát Giái phàm phu tục tử, ham ăn uống, thích dâm dục. Tưởng tượng mình là Sa Tãng thật thà chất phác đến ngu đần. Tôi không khoái Đường tăng, nên không bao giờ tưởng tượng tôi là Đường tăng trắng trẻo mập ú, tính tình nhu nhược, chỉ biết tụng kinh. Nhờ nghĩ chuyện Tây Du Ký, tôi quên bớt thời gian. Thấm thoát đã đến trưa. Thấm thoát đã đến chiều. Mỗi buổi tôi được phát hai khúc khoai mì, dài cỡ gang tay. Tiêu chuẩn một ngày, bốn khúc. Quy định, không cho tù kỷ luật ăn muối.

Sau mười lăm ngày, tôi dược giảm mức độ trừng phạt xuống còn cùm một chân. Tôi thay đổi để mỗi cái chân luân phiên được nghỉ cùm một ngày. Bây giờ, tôi có thể nằm ngữa hoặc nằm nghiêng qua bên cái chân không bị cùm. Dù được thoải mái hơn đôi chút trong thế nằm, nhưng do ăn uống thiếu kém, thân xác tôi đã bắt đầu mất thăng bằng. Mỗi khi ra ngoài, tôi thấy mặt dất chao qua chao lại. Người cứ lơ lơ lững lững, bước đi không vững. Sắp tiêu đời nhà ma sao? Tôi nhớ lại người bạn tên Lê Thơm, một thời làm quận trưởng Chợ Lách, từng gây khốn đốn cho đối phương. Họ coi anh là kẻ ác ôn, gắn biệt danh là Lãnh Chúa Chợ Lách. Khi ra Bắc cải tạo, anh vượt trại bất thành, bị bắt nhốt trong phòng kỷ luật. Thời hạn ba tháng, anh chỉ ở một tháng rưỡi,

rồi ra ngoài, nằm vĩnh viễn dưới chân núi đồi miền thượng du. Tôi cũng rơi vào trường hợp như anh. Liệu tôi chịu được mấy ngày? Chưa có ai qua khỏi dấu mốc thời gian ba tháng, trang hang động âm u này. Tôi sợ cái lưỡi hái của tử thần, mỗi ngày một nhích lại gần hơn. Sự chết ám ảnh hoài, không ngớt. Trong tuyệt vọng, không còn mong gì nơi con người, tôi hướng về thiêng liêng và chú tâm cầu nguyện. Hư Vân hòa thượng từng nói: “Con người lúc bình thường, trông thấy Tổ Đình, ngoảnh mặt đi luôn. Khi lâm nguy, thì níu áo Bồ Tát. Chẳng những tôi níu áo Bồ Tát, mà còn kêu gọi luôn cả Chúu Giê Su giúp đỡ. Nếu Bồ Tát làm ngơ, thì còn có Chúa.

Đoàn là Bộ Chi Huy tổng trại, quản lý chín trại cải tạo. Mỗi trại đều có phòng kỷ luật riêng. Đoàn cũng có phòng kỷ luật của Đoàn. Nơi đây chỉ nhốt những tù nhân dặc biệt do trại đưa lên. Hằng ngày, có một toán tù từ trại cải tạo, được phái lên Đoàn làm tạp dịch. Đem phần ăn cho tôi cũng do một anh tù, vệ binh theo sau kiểm soát. Anh này có nhiệm vụ quét dọn cầu tiêu và làm sạch sẽ khu vực nhà bếp của Bộ Chỉ Huy. Ngoài viên sĩ quan an ninh, tất cả đều bị cấm tuyệt đối không ai được nói chuyện với tôi, kể cả những vệ binh. Vệ binh không được nói chuyện với tôi, nhưng người ta không cấm cái quyền được la hét và chửi bới tôi. Những tù nhân tạp dịch, cũng không được lãng vãng gần khu vực nhà cầu, khi có tôi ở đó. Một sự cách ly quá  nghiêm nhặt. Tôi thấy cô độc lạ lùng và thèm được tiếp xúc thân thiện với con người của trần gian. Tôi sợ sự lặng thinh. Đối diện với cô độc, còn dễ sợ hơn giáp mặt kẻ thù. Khi vệ binh kéo cánh cửa liếp, anh tù bước vào đưa phần ăn cho tôi. Nhiều lần, anh nhìn tôi, nheo nheo một con mắt, như muốn nói điều gì đó. Tôi nghĩ không ra. Có lần, nhân lúc vệ binh lơ đễnh, anh vội vàng nói, rất nhỏ: “Cầu tiêu”.

Qua hai tiếng ngắn gọn này, tôi cũng chẳng biết được ý anh. Nhưng chắc chắn, anh muốn tôi chú ý đến cầu tiêu. Lúc ngồi trong cầu, tôi quan sát khắp nơi, trên mái nhà, quanh vách nứa. Tôi phát giác một chiếc lá đưực xếp nhỏ lại, ai đó giấu nhét vào khe vách. Nếu không chú ý tìm tòi, không thể nào thấy được. Mở ra coi, có hai hột muối. Mừng quá, Tôi muốn kêu lớn lên, để tổ nỗi mừng. Cám ơn người bạn tù, đã khó khăn luồn lách qua mọi kiểm soát, để giúp dỡ tôi. Việc này, nếu bị hắt quả tang, người bạn ấy không thể nào tránh khỏi bị làm kiểm điểm. Hai hột muối quý hơn vàng. Hai hột muối là liều thuốc hồi sinh trong cơn ngắc ngoải. Chưa nếm, mà miệng đã tiết ra dịch vị rồi. Tỉnh thần tôi hưng phấn hơn. Ôi, tinh thần hưng phấn là điều kiện cần thiết để vực dậy cho một cơ thể bạc nhược biết dường nào! Tôi cẩn thận nhét hai hột muối vào lưng quần, đi ra. Sao tên vệ binh nhìn tôi kỹ thế? Hắn nghi ngờ điều gì chăng? Tôi mất tự nhiên, không dám ngó thẳng vào mặt hắn. Tay chân tôi lính quýnh. Tôi làm bộ đánh rơi ống bương đựng nước tiểu và cúi xuống nhặt lên, để tay chân đỡ căm thấy dư thừa. Tôi tự trách, sao lúc ở trong cầu tiêu, không nuốt hai hột muối cho rồi?

Nhưng, tôi lại tự trấn an. Làm gì hắn biết được. Có tật nên giật mình, thế thôi. Khi lấy nước vào lon Guigoz, tôi run tay làm đổ.

Vệ bình miệt thị: “Chả nên trò trống gì. Tay ấy chỉ bốc cứt mà ăn.”

San câu mắng nhiếc, tôi thấy vững tâm. Thế là hắn không biết gì cả. Dù hắn có mắng nhiếc nhiều hơn nữa, tôi cũng chẳng màng. Nhưng, hãy để yên hai hột muối cho tôi. Thiếu muối, tôi sẽ lâm nguy. Buổi trưa. Người bạn tù mang phần ăn tới. Anh lại nheo nheo một con mắt với tôi. Tôi nhìn anh bằng đôi mắt biết ơn và ho lên mấy tiếng như một dấu hiệu trả lời, rằng tôi đã biết ý anh. Những ngay sau, mỗi ngày tôi đều nhận được muối. Năm ba hột là thường. Có khi nhiều hơn, tôi ngồi trong nhà cầu ăn bớt, để phần còn lại dễ giấu nhét trong lưng quần. Việc gì rồi cũng quen đi, tôi không còn sợ sệt như lần đầu tiên. Dù lượng muối không đầy đủ cho một cơ thể bình thường, nhung với tôi, nhờ đó mà cầm hơi qua ngày. Trong thời gian ra Bắc cải tạo, có ba thứ mà người tù thèm khát nhất: đường, muối và mỡ. Tôi nhớ mãi, trong một dịp Tết năm nào, mỗi người được phát một chên đường cát trắng. Nghe nói, đường này do nước anh em xã hội chủ nghĩa Cu Ba, viện trợ cho nước anh em xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không ai hơi đâu mà thắc mắc, nước nào là anh, nước nào là em. Có đường là khoái rồi. Cảm ơn Cu Ba. Đang thèm khát, ai cũng ăn một mạch là sạch chén. Riêng anh bạn tên Sơn, gốc Pháo Binh, còn để dành lại một ít. Mỗi ngày, anh cho đường vào cái ve dầu Nhị Thiên Đường, pha thêm vài giọt nước, đem theo ra hiện trường lao động. Thỉnh thỏang, anh ngừng tay cuốc đất, lấy ve nước đường ra, dùng cái que tăm chấm vào, đưa lên miệng liếm. Lần nào anh cũng rên lên một cách khoái lạc: “Trời ơi … , tôi nghe chất ngọt chạy rần rần trung đường gân ống tủy.” Tiếng rên của anh như một cố ý khêu gợi sự thêm khát của người chung quanh. Có người không chịu được, chửi thể: “Đù mạ! Ăn mẹ nó hết cho rồi. Cứ liếm như liếm lồn.”

Dù có muối, nhưng sức tôi mỗi ngày một suy kiệt bết bát hơn. Thân xác nào chịu nổi với điều kiện một ngày bốn khúc khoai mì, mình trần lạnh lẽo, trong cái hang ẩm thấp, đầy những con mạt ngày đêm làm ngứa ngáy? Những khi ra ngoài, tôi nhìn làn da của mình, hình như ngã dần sang màu xám chì. Thiếu ánh sáng mặt trời, đáng lẽ da tôi phải tái đi chứ? Sự biến đổi trái ngược này, là một hiện tượng khó hiểu. Đến một hôm, tôi  không còn nghe ngứa nữa. Không biết sự chịu đựng đã quen, hay da mất dần cảm giác? Đặc biệt, lớp da dày của bàn chân, bắt đầu bong ra từng mảng. Bên trong là lớp da mới, còn non đỏ hỏn, dễ rướm máu. Tôi không gỡ bỏ lớp da dày. Cứ để nguyên như thế, coi như đôi giày bảo vệ lớp da non. Dạo này, tôi không còn đủ sức vận động hai cánh tay cho máu lưu thông, hoặc tập theo phương pháp dưỡng sinh. Tôi tiết kiệm từng chút sinh lực của mình. Như một ngọn đèn leo lét, sắp cạn dầu, tôi cố giữ ngọn lửa thật nhỏ, để bớt hao nhiên liệu. Tôi thường nằm và chú ý đến hơi thở. Lượng hơi thờ rất ít, chỉ bằng phần nửa của người bình thường. Mỗi khi thở ra, hình như buồng phổi không còn muốn tự động hít vô nữa. Tôi biết tôi đã tiến đến gần sự chết lắm rồi. Do bản năng sinh tồn, tôi gắng hít thở thật đầy và sâu, để giữ mạng sống. Lúc nào tôi cũng buồn ngủ, hai mắt mệt mỏi muốn nhắm lại. Chỉ sợ một ngày nào đó, tôi sẽ ngủ luôn một giấc, không bao giờ dậy nữa. Trong mơ màng, tôi thường thấy tôi bay lơ lững và phía dưới, có con chó dữ đang chồm lên như muốn cắn. Tôi cố gắng bay lên cao hơn, nhưng không được. Cuối cùng, bao giờ tôi cũng thấy tôi rớt xuống một vùng nước ngập mênh mông giá lạnh. Giấc mơ kỳ lạ ấy, cứ lập đi lập lại hoai. Nhớ những ngày còn nhỏ, mỗi lần về thăm ngoại, tôi phải đạp xe trên con đường đất, ngang qua căn nhà có con chó rất dữ và bị nó rượt đuổi. Chính con chó này làm tôi khủng hoảng tinh thần lúc còn thơ dại. Nổi ám ảnh đó, tưỡng dã quên lãng trong đời. Không ngờ, nó vẫn còn nằm sâu trong tiềm thức, để bây giờ, trở lại trong giấc mơ. Sách nhà Phật nói, người hấp hối thường thấy lại quá khứ của mình. Nếu đúng thế, thì trời ơi, không còn nghi ngờ gì nữa, tôi sắp chết thật rồi. Nhưng sao cuối cơn mơ, tôi lại thấy rớt xuống nước? Có lẽ, đây là sự liên quan nối kết giữa tâm sinh lý, vì tôi đang ở trong hang núi lạnh lẽo.

Hiện tại, đối với tôi, không còn gì quan trọng nữa. Tôi chỉ nghĩ làm sao để níu lại sự sống. Thân xác không được bổi dưỡng bằng thức ăn, tôi tự bồi dưỡng bằng dưỡng khí. Hít thở chậm, đầy và sâu, theo phương pháp điều tức của các nhà tu hành phương Đông. Nếu biết cái thuật nhịn đói và chết giả của những thầy Fakia Ấn Độ, đem chôn bốn mươi ngày, moi lên vẫn còn sống, thật cần thiết cho tôi biết chừng nào. Ngoài việc chú ý hơi thở, tôi còn cầu nguyện. Lúc trước, tôi chỉ cầu sự sống. Trong những ngày này, tôi còn cầu được giúp đỡ phần hồn, nếu đã đến hồi tận mệnh. Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng, con người còn có một nơi chốn trở về, sau khi lìa bỏ thế gian.

Một hôm, tôi nói với viện sĩ quan an ninh, cho tôi xin một cây gậy

Anh ta trả lời: “Quy định, anh chỉ có được một lon nước uống và một ống bương chứa nước tiểu, để trong phòng.”

“Thì không mang gậy vào phòng. Tôi chỉ dùng nó mỗi khi ra ngoài. Xong việc, tôi để nó bên ngoài.”

“Chưa thể quyết định ngay được. Tôi sẽ nghiên cứu lại để nghị của anh.” Anh ta lấy ngón tay khều nhẹ lớp da bong của bàn chân tôi. “Sao lại thế nầy?”

“Tôi không biết.”

“Anh thì hỏi cái gì cũng không biết. Thân thể anh, anh cũng không biết. Hãy coi chừng cái đầu luôn luôn khép kín của anh đấy.”

” Chuyện gì biết thì nói. Không biết mà trả lời ẩu, thành ra nói láo với cách mạng.”

“Anh khai quê quán Tây Ninh?”

“Vâng.”

“Anh biết núi Bà Đen không?”

“Biết,”

“Trước giải phóng, tôi có thời gian dài cả năm, chiến đấu quanh vùng ấy. Khi đánh nhau, các anh hung hãn như con thú điên.”

Tổi tránh né; “Sinh ra ở Tây Ninh, nhưng tôi không làm việc ở quê nhà. Tôi không đánh nhau với cán bộ.”

“Dù nơi nào, các anh cũng tỏ ra hung hãn. Anh kể những vùng anh đã đi qua, xem có từng đụng độ với tôi không nào?”

Tôi ni trong mệt mỏi; “Chuyện lâu rồi. Tôi không nhớ rõ.”

“Anh đùa đấy à?”

“Không dám. Cách mạng dã chẳng từng bảo rằng hãy quên quả khứ tội lổi xấu xa tồi bại của các anh đi. Tôi cần nhớ làm gì?”

“Ngụy biện. Hồ sợ lý lịch của các anh, tôi nắm trong tay, muốn biết lúc nào mà chả được. Nói chuyện là để an ủi anh thôi,”

Ai mà dám tin những kẻ tâm địa chứa đầy nọc độc?

“Cám ơn cán bộ,” Tôi nói.

Anh ta dỗi: “Chả cần cám ơn. Các anh quen miệng, lúc nào cũng nói cám ơn. Nói mãi, hai tiếng ấy trở thành giả dối, vô nghĩa.”

Phải mất gần tuần sau, viên sĩ quan an ninh mới cho tôi một chiếc gậy. Chiếc gậy cong queo khúc mắc, như chiếc gậy của ông tiên quảy trái bầu trong tranh Tàu.

“Vệ sinh xong, lên phòng làm việc gặp tôi nhé.”

Hơn mười ngày trước, mỗi khi ra ngoài, tôi đã phải lần từng bước. Lúc nàn mắt hoa lên choáng váng, tôi dừng lại định thần và thở lấy sức. Mặc dù không gở bỏ lớp da dày dưới bàn chân, tôi vẫn thấy lớp da non đau rát. Hôm nay, nương theo chiếc gậy, tôi đi một mạch đến nhà cầu. Đuối quá, phải dựa vào vách liếp nghỉ mệt, trước khi leo lên cầu tiêu. Và lúc loay hoay trên cầu, tôi sợ nhứ là té xuống rãnh phân. Nếu chẳng may sa xuống cái rãnh gớm ghiếc này, chắc tội không gượng dậy nổi. Có thể sẽ nằm chết luôn với đám dòi bọ lúc nhúc, trong chất bùn non màu vàng ệch.

Tôi không còn đủ sức kćo nước từ giếng lên. Vì thế, tôi không tắm. Hơn nữa, lúc nào tôi cũng cảm thấy lạnh, không muốn tắm. Vệ binh giúp tôi lấy nước vào lon Guigoz, kèm theo những lới mắng nhiếc thậm tệ. Cũng đúng thôi. Nợ nần gì nhau, mà phải lẽo đẽo thco sau một thằng hôi hám? Vệ bình dẫn tôi lên phòng làm việc của viên sĩ quan an ninh. Anh ta chỉ cái ghế, bảo tôi ngồi. Tôi nói, tôi muốn ngồi dưới nền đất, có bức vách làm chỗ dựa lưng.

“Yếu thế cơ à?”

“Vâng,”

“Thuốc lào Tiên Lãng nhé”

Tôi lắc đầu. Mỗi lần anh ta tỏ ra tử tế, thì phải đề phòng. Sau lưng sự tử tế, có thể một tai họa bất ngờ giáng xuống. Và tôi cũng biết, bây giờ tôi chỉ còn là một bộ xương thoi thóp. Sức ấy, làm sao chịu nổi cái độ say ngất người, tê rần cơ thể, nằm vật ra, thở hồng hộc, của thuốc lào Tiên Lãng? Nếu hút vào một bi, tôi sẽ đứt hơi luôn. Anh ta cười cười. Sao tôi thấy vẽ cười mang tính gian ác

“Anh biết tôi là ai không?”

“Sĩ quan an ninh.”

“Hẳn nhiên rồi. Nhưng tôi còn là rễ của Tây Ninh nữa đấy.”

Tôi im lặng.

“Khi vào giải phóng miền Nam, tôi lấy vợ người cùng quê với anh.”

Tôi vẫn im lặng. Người cùng quê với tôi, lấy kẻ vô thần thì danh giá gì mà phải bận tâm suy nghĩ?

Anh ta nhìn tôi một lúc, như quan sát: “Hai người kia đã đi rồi.”

Câu nói bất ngờ, làm tôi thảng thốt, đớn đau kêu lên như sắp khóc: “Chết? Trời ơi!”

Cả người tới lạnh toát, rụng rời. Một tin khủng khiếp, mà anh ta nói tỉnh bơ. Đúng là quân sát nhân, coi mệnh người như heo chó, mới có thể thản nhiên trước sự tử vong của người khác.

Sau cuộc vượt trại bất thành, chúng tôi bị bắt đưa về Đoàn. Từ ấy, bị cách ly, không nhìn thấy mặt nhau. Mỗi ngày, người ta dẫn ra từng người một, cho đi làm vệ sinh. Xong, đem vào khoá lại. Dẫn người kết tiếp. Chúng tôi tuy gần nhau, mà vẫn như muôn trùng cách trở. Thể lực tôi vốn kém hơn hai người bạn, nào ngờ bạn tôi đã sớm xuôi tay. Viên sĩ quan an ninh lắc đầu: “Không chết đâu. Làm gì hốt hoảng thế?”

Tôi há hốc mồm, không hiểu.

“Các anh may mắn lắm. Được đặc xá, cho về trại cải tạo.”

Tôi không dám tin nơi lỗ tai của mình, hỏi lại: “Có nghĩa rằng tha, khỏi bị cùm kỷ luật?”

“Đúng thế!”

“Còn tôi?”

Viên sĩ quan gắt: “Anh này ngớ ngẩn. Đã bảo tha là tha tất, kể cả anh nữa.”

Tội thở phào. Lòng thầm hối về những oán hận vừa qua. Nhưng chung quy cũng tại anh ta. Một tin mừng, nói không rõ, dễ ngộ nhận ra một tin buồn tang tóc.

“Hai người kia đã đi trước. Tôi sắp xếp cho anh đi chuyến cuối cùng, vì anh cùng quê vợ tôi.”

Lại cái chuyện cùng quê nữa! Dù mừng, nhưng tôi vẫn không khỏi rủa thầm. Tổ cha nó. Cùng quê với vợ nó, mà nó cố tình giữ lại cho đi chuyến cuối cùng, để hành tội thêm được ngày nào hay ngày ấy.

Anh ta trả cho tôi cái túi vải đeo lưng: “Hãy ngồi đây, kiểm lại đổ đạc. Mặc quần áo vào. Chờ tôi.”

Vừa giở bộ đổ ra, tôi nghe mùi mồ hôi gắt gắt đã biến thành mùi mốc. Thương quá, cái mùi của tôi ấp ủ trong áo quần sau hai mươi chín ngày phong kín. Lòng tôi xúc động, cẩm nguyên gói quần áo úp lên mặt, hít thở cái hơi hướm cũ của mình. Nước mắt tôi ứa ra và cảm tưỡng như vừa từ cõi khác trở về, gặp lại chính tôi sau một thời gian dài thất tung. Bây giờ, tôi hiểu rằng, mọi sự lý luận về lòng vị tha nào, cũng không bằng lòng tôi yêu tôi, hơn bất cứ yêu ai trên cõi đời này.

Viên sĩ quan trờ lại, thấy tôi còn đang bần thần, ngơ ngẩn.

“Khóc đấy à”

Tôi lắc đầu, không nói. Một kẻ sống thuần bằng giáo điều máy móc, làm sao cảm thông được con tim ứa máu của người khác?

Anh ta đưa tôi một hủ đường mật đặc sản địa phương và một bọc gạo.

“Bồi dưỡng đặc biệt. Ăn từ từ. Đừng gấp quá, chết đấy.”

“Cám ơn.”

“Tôi sẽ cho người đến giúp anh,”

Anh ta bỏ đi. Lúc sau, người bạn tù từng đem phần ăn hằng ngày cho tôi, xuất hiện.

Bạn rón rén ngồi xuống bên tôi, nói nhỏ: “Hai người kia đã được chuyển đi hôm qua.”

“Đi đâu?”

“Không biết. Có dấu hiệu, tất cả đều chuyển trại, kể cả Bộ Chì Huy tổng trại.”

“Thằng sĩ quan an ninh nói, nó giữ tôi lại, đi chuyến cuối cùng.”

Bạn nhìn tôi, ái ngại: “Anh có làm gì để nó ghét không?”

“Chẳng làm gì. Nhưng tôi có cảm tưởng nó thù tôi từ truyền kiếp.”

“Nó bảo tôi nấu cháo, cho anh ăn với đường.”

“Tôi sợ chiếc mặt nạ nhân đạo của nó. Hai người bạn đi trước có được phát gạo và đường không?”

“Không.

“Anh thấy sức khỏe họ thế nào?”

“Khá hơn anh. Nhưng đi đường xa vất vả, cũng … đáng ngại.” Người bạn tù ngó dáo đác, hạ giọng như sợ có người nghc thấy. “Anh em ở ưại suy luận, hình như sắp có đánh nhau với Trung Quốc. Ho chuyển tất cả tù từ thượng du về trung du, để bộ đội rãnh tay phòng thủ hiên giới.”

“Vì thế mà tôi được tha chăng?”

“Có lẽ thế.”

Người bạn tù mang bọc gạo đi nấu cháo. Tôi mệt mỏi nầm dài xuống nền đất, gối đầu lên túi vải.

Viên si quan bước vào, mang theo tẩm bạt che mưa của bộ đội. Thay toi nằm, anh ta la lớn: “Không thể nằm đây, phòng làm việc của tôi. Hãy qua bên kia, trong phòng trực, có chiếc sạp nứa.”

Tôi hước đi lảo đảo qua phòng trực. Anh ta ôm tấm bạt và xách túi vải của tôi theo sau. Tới nơi, anh bỏ mọi thứ lên chiếc sạp.

“Nằm đấy, Dùng tấm bạt che mưa nầy, làm chăn đấp.

Còn anh kia đâu?”

“Đang nấn cháo dưới bếp.”

Viên sĩ quan đứng sát mép giường, đổi giọng nhỏ hơn:

“Nói điều này, không được tiết lộ với ai. Đường gạo là của vợ tôi gửi biếu anh, dù không quen biết nhưng cũng cùng quê. Nói không phải kể công, chính tôi đề nghị lên trên, xin tha các anh, kèm theo cái thư anh gửi gia dình. Cái thư có tác dụng rất tốt, khi cấp trên nghiên cứu để nghị của tôi.”

Tôi sững sờ, không nói được tiếng nào với kẻ đối diện. Niềm ân hận dâng tràn trong tôi. Sau khuôn mặt gỗ đá trơ trơ, tưởng như không tình cảm ấy, vẫn còn dọng lại cái nhân tánh của một con người bình thường.

Anh ta nói tiếp: “Anh ở lại vài ngày, bồi dưỡng lấy sức để đi xa. Ngày mai, những anh cải tạo được biệt phái lên Đoàn, không dến đây nữa. Anh phải tự phục vụ cho mình. Khả năng tôi giúp anh, chỉ có thế. Làm hơn, sẽ bị chỉ trích phê bình. Hậu quả của người bị phê, không đơn giản đâu. Anh hiểu chứ?”

Tổi ấp úng: “Vâng! Tôi hiểu. Tổi cũng không hiết nói lời gì để cám ơn … “

Anh ta gạt ngang: “Chả cần phải làm thế. Khi nói chuyện với tôi, hãy dè chừng những người chung quanh. Trước thế nào, nay vẫn giữ thế ấy. Tỏ thái dộ khác, sẽ có hại cho anh, và cả tôi nữa. Nhớ nhé!”

Nói xong, viên sĩ quan an ninh quay đi. Cũng vẫn con người ấy, nhưng bây giờ, tôi thấy dưới lớp băng đông giá, còn tiềm ẩn cái hơi ẩm tình người. Nhìn qua bên kia hàng rào trại, cây rừng đang xanh tốt mùa mưa. Lòng tôi cũng bắt đầu xanh lại. Trong khi chờ người bạn tù nấu cháo, tôi nằm xuống chiếc sạp nứa. Có tiếng mọt kẽo kẹt nghiến gỗ trong vách. Trước kia, đêm trằn trọc trong trại cải tạo, nghe tiếng mọt, lòng tôi ray rứt như nghe đời mình đang bị gặm nhấm hao mòn dần theo những ngày tháng lưu đày. Bây giờ, cũng tieng mọt, nhưng tôi lại nghe như tiếng đời sinh động.  

Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 7 May 2026

Photo by Sơn râu

“Đình tiền tạc dạ Nhất Chi Mai”

Thiền Sư Mãn Giác

Lúc còn dưới tiểu học, bài tập làm văn nào cũng bắt đầu bằng hai chữ nhân dịp, kể chuyện nầy tôi cũng xin “nhân dịp”.

Nhân dịp được thất nghiệp, máu giang hồ nổi lên,  tôi bèn rủ một người bạn làm một chuyến du lịch vòngquanh nước Mỹ để thăm bạn bè. Chuyện thất nghiệp của tôi rất đơn giản. Tôi làm thu ngân cho một tiệm tạp hóa, nó tương tự như tiệm 7-Eleven nhưng do một người Việt Nam làm chủ. Số tôi hãm tài nên người chủ cũng xui xẻo theo, buôn bán cứ lỗ lã mãi, chủ bèn sang tiệm cho một tay Đại Hàn. Tay nầy khôn hơn, vợ chồng thay phiên nhau làm thu ngân, thế là tôi bị ra rìa. Bạn tôi có số nhờ vợ. Vợ chồng hắn có một tiệm chạp phô bán gạo, mắm, ớt, tỏi đủ thứ bà rằng. Vợ hắn cưng hắn rất mực, hễ hắn làm gì có vẻ lao động chân tay là bị cự ngay “Không ai mượn làm chuyện đó, tránh ra!” Đúng là hắn tốt nghiệp ngạch cai trị thực, ngoài chuyện lăng nhăng ra hắn muốn gì, vợ hắn đều răm rắp tuân lịnh một cách vui vẻ. Còn tôi thuộc loại tứ cố vô thân, chẳng có vợ con, nhà cửa gì nên rất thảnh thơi. Chúng tôi ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, dự định đi xuống miền Nam, vòng qua Cali, rồi lên phía Tây Bắc. Lúc đó vào cuối năm âm lịch, khoảng tháng Hai dương lịch mà tuyết và gió lạnh vẫn chưa bớt, nhưng càng về phương Nam, trời ấm dần. Trạm đầu tiên cũng là trạm chính mà tôi cố ý ghé là nhà Hùng ở tiểu bang Georgia. Vợ chồng Hùng đã chờ sẵn ở phi trường đón chúng tôi về nhà. Hôm đó đúng vào ngày Ba Mươi Tết, trời đã về chiều, gió hơi lạnh lại lất phất mưa giống hệt những ngày giáp Tết ở miền Trung Việt Nam. Nhà Hùng không lớn lắm nhưng có vườn cây cảnh rất đẹp, đứng trên lầu nhìn ra giòng sông phía xa, bên kia là những đồi cây xanh, lờ mờ trong sương như một bức tranh Tàu. Hai đứa tôi được dành cho hai căn phòng nhỏ trên lầu. Tắm rửa xong thì đã sẵn một bàn đồ nhậu ở sân thượng mà Hùng gọi là tiệc đón Giao Thừa. Vợ Hùng làm đồ nhậu rất tuyệt. Nhớ lại sau ngày sập tiệm bảy lăm ở Sài Gòn, mấy tay hành chánh chạy được về cũng khá đông, thường được Hùng mời về nhà nhậu mấy bữa trước khi đun đầu vô rọ cải tạo. Hùng làm ở Bộ Kinh Tế nên thời gian đầu vẫn được lưu dụng, sau khi mấy cậu Việt Cộng quen việc rồi thì được đuổi về, dù sao cũng thoát được nạn đi tù.

Ở Mỹ chỉ có thịt heo, thịt bò, cá đông lạnh, rau cỏ cũng thiếu, vậy mà vợ Hùng nấu vẫn ngon. Người Bắc rất khéo chế biến món ăn. Cô ta vẫn như trước kia, thỉnh thoảng dưới bếp chạy lên canh chừng, xem thiếu món gì thì tiếp tế. Cô có một đức tính rất quí là chẳng bao giờ xét nét đến những gì chúng tôi nói với nhau. Rượu vào lời ra, lúc đầu nói chuyện đứng đắn sau bắt qua chuyện tiếu lâm, rồi chuyện bậy bạ, em nầy em kia, bao nhiêu tội lỗi đều đem ra kể để cười với nhau. Bây giờ lớn cả rồi, chuyện lăng nhăng không còn thú vị nữa. Chúng tôi thích nói chuyện mỉa mai, thâm thúy hơn. Sau hơn hai mươi năm chúng tôi mới gặp nhau, ôn lại bao kỷ niệm, từ những ngày sống trong ký túc xá ở đường Trần Quốc Toản cho đến khi ra trường mỗi đứa một nơi … Dĩ nhiên chúng tôi chỉ kể lại những chuyện vui, chuyện oái ăm thôi. Thực ra, ở tù rồi ra tù, đâu cũng vậy, chẳng có gì đáng buồn. Ngay cả việc tôi bị vợ bỏ cũng chẳng làm tôi quan tâm, tuy nhiên bạn bè thường rất ngại, không muốn nhắc đến chuyện đó, tưởng như thế là lấy cây mà chọt vào vết thương lòng của tôi khiến tôi đau đớn lắm. Ai cũng coi tôi như kẻ ngã ngựa, bỏ vợ thì được chứ vợ bỏ đúng là mất mặt nam nhi. Ngày tôi qua xứ Mỹ, có được số điện thoại, tôi gọi cho Hùng, vợ Hùng mừng lắm cứ giành điện thoại hỏi tôi đủ điều, nhưng khi nghe tôi bảo “Bị vợ bỏ rồi” là không hỏi nữa. Đàn bà rất tò mò chuyện nầy, vợ Hùng coi bộ ấm ức muốn biết nguyên nhân vì sao vợ bỏ, bây giờ vợ tôi ở đâu, có chồng khác chưa? Tôi biết tâm lý đó nên khi rượu đã ngà ngà, tôi bảo:

– Tôi biết bà Hùng muốn nghe chuyện tôi bị vợ bỏ ra sao. Bây giờ tôi kể coi như món quà tôi tặng bà, để bà khỏi thắc mắc hoài tội nghiệp!

Cô ta làm bộ miễn cưỡng: Cái ông nầy … Ai lại đi nghe chuyện đời tư của người ta.

– Bộ bà không muốn nghe sao? Thì thôi, tôi kể nho nhỏ cho phe đàn ông nghe.

– Ông nầy … Cứ coi như chuyện đùa. Nhưng ông kể chứ không ai ép đâu nhé!

– Nhưng bà đã cho mấy đứa nhỏ ăn chưa, hay bắt chúng nhịn miệng đãi khách?

– Có cô chúng lo rồi. Đáng lẽ cho cô ấy và các cháu lên chào hai bác, nhưng vì hai bác còn mệt nên để ngày mai.

– Được rồi ngồi xuống đấy, tôi kể, nhưng hơi dài dòng một chút.

Tôi quen vợ tôi trong một tiệc cưới của một người bà con ở Đà Lạt. Lúc đó tôi học năm thứ hai Đốc Sự Hành Chánh. Tiệc cưới nào cũng giống nhau, nhưng mình là người ở Sài Gòn náo nhiệt, lên Đà Lạt tự nhiên thấy khác liền, cảnh đẹp mà buổi tối thật yên tĩnh. Tôi được xếp ngồi cạnh một cô gái coi cũng đẹp, nhưng điều làm tôi chú ý là vẻ điềm đạm, chín chắn của cô. Cô thường yên lặng như chìm đắm vào một ý nghĩ nào đó. Tôi gợi chuyện thì được biết cô đang học Luật ở Sài Gòn. Chúng tôi trao đổi nhau địa chỉ trước khi ra về, nhưng ngay lúc đó trời đổ mưa. Tôi hỏi cô ta về bằng gì, cô bảo có người nhà đem xe đến đón. Từ nhà hàng ra cổng phải qua một vườn hoa, tôi hỏi cô xe hiệu gì, màu gì để tôi ra xem chừng, hễ xe đến tôi sẽ báo, cô khỏi phải ra vào ướt át. Cô bảo nhà có ba chiếc xe nhỏ nên không biết xe nào sẽ đến đón. Thời đó nhà ai có một chiếc xe du lịch đã là sang trọng rồi, đằng nầy gia đình cô có đến ba chiếc ắt phải giàu và đông người lắm.

Hôm sau tôi đến thăm. Đó là một ngôi biệt thự rất xinh, trên đồi thông trông ra hồ Xuân Hương thật nên thơ. Cô sống một mình, phía sau là gia đình người quản gia và nhà để xe. Cô bảo còn gia đình người chị nữa nhưng đã đi Đức nghỉ hè rồi vì người chị có chồng dân Đức. Sau đó về Sài Gòn cô hay đến ký túc xá trường Hành Chánh thăm tôi. Chúng tôi thường đưa nhau đi ăn quà rong, xem ciné giống như những cặp tình nhân khác. Tính cô ít nói, ít khi biểu lộ tình cảm. Vậy mà chúng tôi cưới nhau không phải do tôi ngỏ ý mà là cô ta. Tôi nhớ năm đó, sau hôm thi tốt nghiệp xong, tôi và cô đi xem phim ở rạp Rex. Phim dở quá, chúng tôi nói chuyện rì rầm với nhau. Đột nhiên cô hỏi:

– Ra trường rồi anh có định lấy vợ không?

– Về các tỉnh buồn lắm, có lẽ phải kiếm một cô vợ.

– Anh có định cưới em không?

– Không, bồ bịch nhau thì được.

– Sao vậy?

– Vì gia đình em giàu quá, người ta bảo anh đào mỏ, vả lại em dư sức lấy kỷ sư, bác sĩ, chọn anh làm gì!

– Em không hiểu ý anh muốn nói gì!

– Em sung sướng quen rồi, nếu theo anh về tỉnh lẻ có khi về quận nữa, em chịu sao thấu.

– Anh đừng lo chuyện đó. Hay là anh chê em, hay là anh đang yêu ai?

– Anh không chê em, anh cũng yêu em nữa, nhưng yêu ít hơn một người khác.

Cô tò mò một cách bình tĩnh:

– Em có thể biết được người đó là ai không và chuyện hai người đi tới đâu rồi, có định cưới nhau không?

– Đúng ra là chuyện một người chứ không phải hai người. Anh yêu cô ta hơn hai năm rồi, trước khi gặp em nữa kia, nhưng cô ta không đáp lại vì cô đang có người yêu. Thực ra anh được gặp và nói chuyện có một lần thôi, còn những lần khác chỉ ngồi trong quán bên đường nhìn cô ta … Anh tưởng quen với em sẽ quên được cô ta vì em đẹp hơn, nhưng rồi chẳng có gì thay đổi trong tình yêu của anh.

– Anh yêu thì cứ yêu nhưng đừng hy vọng gì, đừng phá đám người ta. Ngoài ra còn có người nào anh có cảm tình nhất?

– Sau đó là em …

– Không chê em, cũng có yêu em nữa, anh lại thấy cần một người vợ, vậy anh chọn ai?

Tôi ngạc nhiên trước lối lý luận thẳng thắn và thực tế của cô. Lúc bấy giờ tôi không có một chút ý niệm gì về gia đình cả vì giấc mơ của tôi về một ngày được sống với người con gái tôi yêu đơn phương kia chỉ là không tưởng. Thế là chúng tôi cưới nhau. Hôm ra trường, chọn nhiệm sở ở Bộ Nội Vụ, vợ tôi dặn, cố chọn cho được tỉnh Lâm Đồng. Chuyện đó quá dễ vì tôi đậu cao, nhiều ưu tiên hơn các bạn, nhưng tôi thắc mắc thì vợ tôi kể rằng. Chị cô có chồng dân Đức, họ đang thầu vận chuyển tất cả những gì của quân đội Đồng Minh từ các hải cảng miền Trung lên Cao Nguyên, làm chủ hàng mấy chục chiếc xe tải. Họ còn có cả một hệ thống đại lý phân bón và thuốc sát trùng cho toàn miền Trung. Nay thấy cô em lập gia đình cô chị nhường cho em các đại lý từ Dầu Dây, Long Khánh lên đến Di Linh, Đức Trọng.

– Nhưng anh không quen hoạnh họe hay năn nỉ ai cả …!

– Anh khỏi làm gì, chỉ cần các cán bộ xã, ấp biết anh là chồng em là đủ, còn mọi việc để em.

Tôi nghe có lý nên làm theo như lời vợ tôi dặn. Tôi làm trưởng ty ở tòa Hành Chánh tỉnh Lâm Đồng. Những dịp tỉnh họp quận, xã tôi vui vẻ chào hỏi mọi người, có khi mời họ uống cà phê, ăn điểm tâm nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến chuyện làm ăn của vợ tôi. Chúng tôi dọn lên Đa Lạt, mỗi tuần tôi về nhà một lần. Vợ tôi sinh được một thằng con rất kháu khỉnh. Công việc kinh doanh của vợ tôi cũng chẳng có gì vất vả, thỉnh thoảng đi một vòng các đại lý để thăm viếng, tìm hiểu còn mọi việc có nhân viên lo cả. Chúng tôi sống với nhau gần được ba năm thì xảy ra vụ sập tiệm năm bảy lăm. Trước vụ di tản chiến thuật từ Cao Nguyên về, tôi được thư của vợ tôi từ Sài Gòn nhắn tôi về gấp, tòa đại sứ Đức sẽ đưa cả gia đình lên máy bay, tên tôi đã có trong danh sách chuyến bay rồi. Sau đó tôi lại được liên tiếp hai lá thư cầm tay nữa. Tôi viết trả lời vì bận việc, nếu không về kịp gia đình cứ đi trước, đừng lo cho tôi. Thực ra Đà Lạt, Lâm Đồng đâu có bị tấn công, công việc các ty, sở tòa Hành Chánh lúc đó cũng chẳng ai cần nữa, nhưng tôi không rời nhiệm sở. Sau nầy tôi mới biết, không phải chỉ riêng tôi, biết bao đơn vị hành chánh, cảnh sát, quân đội … cấp chỉ huy đã chạy đâu mất tiêu mà người chiến sĩ vẫn không rời vị trí chiến đấu cho đến khi gục chết vẫn không hề ân hận điều gì. Họ cảm thấy đất nước lâm nguy, bi đát đến độ chỉ biết đem thân ra chống đỡ một cách vô vọng, quên cả bản thân, cha mẹ, vợ con. Khi tôi về thì tất cả đã đi rồi. Tôi đi tù và bây giờ ngồi đây.

Chuyện chỉ có thế.

Vợ Hùng có vẽ bất mãn:

– Nhưng ông phải tìm cho ra vợ con chứ. Ông không thương vợ con ông à?

– Thương chứ, nhưng tìm vợ con để làm gì. Mỗi người đã có một số phận. Cứ để cho vợ tôi coi như tôi đã chết rồi. Hơn hai mươi năm không có tin tức chồng, dù thương yêu bao nhiêu, cô ta cũng không thể làm hòn vọng phu được. Còn thằng con, có thể mẹ nó bảo rằng tôi đã chết hoặc người cha sau nầy là cha ruột của nó. Ở bên Đức chắc chắn họ sung sướng, thế là tôi yên tâm. Làm xáo trộn sự yên tĩnh của họ chẳng có lợi cho ai cả.

Mọi người yên lặng như đang tưởng niệm đến bao mối tình, bao gia đình tan nát vì chiến tranh. Và trong không khí yên bình của một đêm cuối năm ở xứ người, bỗng xôn xao trong tâm tưởng hình ảnh đất nước thân yêu năm nào trong những ngày khói lửa tang thương. Vợ Hùng chợt lên tiếng:

– Theo ông kể thì chẳng biết vợ ông có thương yêu ông không nữa?

– Lúc đầu tôi cũng phân vân như thế. Nhưng càng về sau, sống với nhau, tôi mới hiểu tấm lòng của vợ tôi.

Người con gái dù có yêu bao nhiêu cũng không bao giờ tỏ tình trước, vậy mà cô ta dám gợi ý cho tôi cưới cô, nhưng khi biết được tim tôi đã gởi cho người khác, tuy tranh đấu được tôi trong vòng tay, nhưng cô không bao giờ biểu lộ tình cảm nữa. Cô đã dâng tôi cả tâm hồn nhưng chỉ nhận được ở tôi cái bản năng, cái lương tri của một người chồng có học, đứng đắn thế thôi. Tôi thấy mình ở tù là đáng đời, chẳng phải vì Việt Cộng trả thù mà chính Trời phạt tôi đã phụ một tấm chân tình. Tôi không xứng đáng với tình yêu của cô ta. Hạnh phúc trong tay không chịu hưởng lại chỉ tơ tưởng đến một bóng hình xa xôi vô vọng. Tôi vừa đau đớn vừa cầu mong cô yêu được người chồng sau nầy.

– Nhưng theo ông kể, ông chỉ gặp cô gái kia chỉ một lần mà lại yêu say mê, dai dẳng như thế, chuyện cũng khó tin.

– Chính tôi cũng không hiểu mình nữa; có lẽ Trương Chi giải thích được vì sao anh ta chỉ gặp Mỵ Nương có một lần mà thất tình đến độ quả tim hóa đá luôn.

– Ông thử kể cô ta hương trời sắc nước ra sao và gặp trong trường hợp nào?

– Chuyện chẳng có gì ly kỳ nhưng hơi rắc rối. Tôi nhớ Lễ Giáng Sinh năm đó, tôi cùng vài người bạn đi nhà thờ Đức Bà xem người ta đi lễ. Tất cả các lối đến nhà thờ đều cấm xe cộ nên ngang chợ Bến Thành chúng tôi gửi xe đi bộ, chen lấn với mọi nguời tìm ngắm người đẹp. Một lúc sau tôi bị lạc mất bạn. Đang nhướng cổ tìm kiếm, bỗng tôi thấy một cô gái đang ngơ ngác nhìn quanh, có lẽ cô cũng lạc bạn như tôi. Trong mắt tôi, cô nổi bật như đóa hoa rực rỡ giữa đám cỏ dại. Chẳng phải cô đẹp nhưng có những nét đặc biệt mà tôi tưởng như quen biết, thân yêu từ lâu lắm. Da cô ngăm ngăm, hai mắt đen nhánh dưới đôi lông mày rậm, khi tôi đến gần, cô nhìn tôi với tia nhìn sáng rực như quật mạnh vào nơi sâu kín nhất tâm hồn khiến tôi ngất ngây. Tôi rung động cả thần trí lẫn thể xác, như chết chìm trong một hạnh phúc tái ngộ đâu từ kiếp trước. Giây phút bất chợt đó, tôi biết tôi đã yêu. Trang phục cô màu đen, tóc ngang vai, cô cài trên tóc một đóa hoa vàng, không rõ hoa giấy hay hoa nhựa, hai tai cô cũng có hai đóa hoa vàng nhỏ. Hình ảnh đầu tiên đó đến bây giờ vẫn còn nguyên trong trí tôi. Khi tôi đến gần cô thì dòng người như đặc cứng. Cô bị xô đẩy và muốn thoát ra khỏi đám đông một cách tuyệt vọng. Tôi đến phía sau cô đẩy những cậu thanh niên vừa la cười vừa giả vờ ngã vào người cô. Chúng tưởng tôi là người thân của cô nên lảng ra. Hai tay tôi giăng ra như một cái khung và cô ở giữa được an toàn. Chúng tôi trôi theo dòng người. Cô biết tôi bảo vệ cho cô nhưng không nói gì. Thỉnh thoảng cô khựng lại, ngã vào ngực tôi. Đầu cô vừa tầm mũi tôi, tôi nhận được mùi thơm con gái ngọt ngào từ mái tóc, từ người cô toát ra. Dòng người càng chen lấn, cô càng như nằm trọn trong vòng tay tôi, nhưng tuyệt nhiên tôi không có một ý nghĩ vẩn đục nào. Cô thân yêu, quí giá và cao sang đến độ tôi tưởng mình là tên nô lệ được hân hạnh bảo vệ cho một nữ hoàng. Buổi tối hỗn độn như thế mà tôi thấy thế gian vắng lặng chỉ còn mình tôi với cô ta mà thôi. Mùi thơm đó, làn da mềm mại của lưng cô, ngực cô, cánh tay cô cứ vương vấn mãi trong tôi thành một ước ao mãnh liệt đến bơ vơ vì tuyệt vọng. Khi chúng tôi thoát ra khỏi đám đông, cô quay lại nhìn tôi mỉm cười. Đời tôi chưa bao giờ thấy một nụ cười đẹp và làm tôi sung sướng đến như thế và đó là lần duy nhất tôi được ân sủng tuyệt vời cô ban cho. Rồi cô bước nhanh hơn như muốn rời tôi. Tôi vẫn đi theo, cô quay lại nói “Cám ơn” Tôi cố đi song song với cô và hỏi:

– Cô đi nhà thờ phải không?

Cô gật đầu, tôi nói:

– Cho tôi đi theo với

– Để làm gì?

– Để cầu nguyện với Chúa

– Cầu nguyện gì?

– Cầu nguyện cho chúng mình yêu nhau.

Cô quay nhìn tôi, lắc đầu:

– Không được đâu, tôi có người yêu rồi.

Tôi kêu lên: Thôi chết, tôi làm sao sống nổi đây!

Cô làm thinh đi nhanh hơn nữa, tôi nghĩ mình làm cô chán tôi vì những câu rẻ tiền đó nên đi chậm lại, tần ngần nhìn theo cô đang khuất dần vào đám đông. Thế là tôi thành kẻ thất tình. Chiều nào tôi cũng ra đường Lê Lợi, quảng từ chợ Bến Thành đến đường Tự Do đi lang thang lên xuống để hy vọng mong manh gặp lại cô.

Trước kia tôi cũng có thói quen lang thang như thế, ghé nhà sách Khai Trí tìm một quyển sách, vô quán cà phê ngồi nhìn thiên hạ qua lại, bây giờ tôi được thêm cái thú chờ mong. Đôi khi tôi đến cả nhà thờ Đức Bà, đứng dưới tượng Đức Mẹ lầm thầm cầu nguyện: “Lạy Mẹ cho con gặp lại nàng, chỉ một lần nữa thôi, con nhớ nàng lắm!”. Tôi không phải con chiên công giáo, nhưng hình như Đức Mẹ nghe thấy và thế là tôi được gặp cô ta lần thứ hai. Hôm đó tôi ra chợ Bến Thành coi thiên hạ sắm Tết. Từ xa, chỉ thấy dáng người tôi biết ngay là cô ta rồi. Cô đi với bạn trai, cô mặc áo màu xanh nhưng vẫn đeo đôi hoa vàng. Lần nầy tôi quyết theo cô đến nhà. Cũng may, chỗ gửi xe của tôi và cô gần nhau nên tôi theo cô về đến quận Tư. Hóa ra là nhà người bạn học mà tôi có đến vài lần nhưng tôi chỉ đứng ngoài chờ hắn vào lấy gì đó trước khi đi chơi với nhau. Lẽ ra với người khác đó là dịp bằng vàng để được làm quen với cô ta, nhưng vì biết cô đã có người yêu lại thêm mặc cảm cô chẳng thèm để ý gì đến tôi nên tôi không dám đến nhà người bạn ấy nữa, sợ cô ta gặp chợt nhớ ra rồi kể lại chuyện tán tỉnh lăng nhăng của tôi xấu hổ chết. Nhưng tôi không thể quên được cô nên mỗi chiều tôi vào một quán cà phê trước nhà cô chờ ngắm cô đi học về, khi thì với người yêu, khi thì một mình. Trong đời dù trai hay gái, ai cũng trải qua vài mối tình bất ngờ đơn phương như thế nhưng rồi cũng sẽ quên đi vì đó chỉ là tiếng kêu vô vọng. Duy với mối tình nầy tôi không bao giờ quên. Sau nầy ra trường đi làm việc xa nhưng có dịp về Sài Gòn tôi lại ghé quán cà phê ngồi nhìn qua nhà cô. Hình như cô đã theo chồng nhưng tôi vẫn tưởng cô ta còn trong đó. Ngay cả khi đi tù về, tôi hành nghề đạp xích lô, mỗi khi ngang trước nhà cô là tôi gác xe ngồi nhìn vơ vẩn, làm như đang chờ khách. Dù tôi biết nhà đã đổi chủ từ lâu nhưng khi đến nơi thân yêu mơ hồ ấy tôi cảm thấy cuộc đời lẻ loi của mình như có một chút an ủi, một chút vui … Nếu nói rằng mỗi người một định mệnh thì đúng là tôi sinh ra chỉ yêu có mình cô ta thôi.

Vợ Hùng lại tiếp thêm đồ nhậu rồi phê bình một câu:

– Tưởng ông kể chuyện tình lâm ly, gay cấn lắm, không ngờ chẳng có gì cả. Thế ông có biết bây giờ cô ta ở đâu, ra sao không?

– Câu đó tôi định hỏi vợ chồng bà

– Ơ, cái ông nầy, vợ chồng tôi có dính dáng gì đến người ông yêu đâu?!

– Sao không? Đó là cô Mai, em gái ông Hùng chứ ai?

Vợ Hùng trợn mắt lên vì ngạc nhiên. Hùng gật gù bảo:

– Tớ nhớ ra rồi, lúc ở trường Hành Chánh, tớ có nghe hình như có cậu nào yêu em tớ, tớ không để ý, hóa ra là cậu.

– Tôi vượt cả nghìn cây số xuống đây chỉ cốt hỏi một câu là bây giờ cô Mai ra sao? Chiến tranh, ly loạn …

Tôi chỉ sợ cô gặp chuyện không may.

– Chồng cô là thiếu tá nhảy dù, tự tử chết trong trại Hoàng Hoa Thám ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm.

Hai đứa con tốt nghiệp đại học, đã lập gia đình, hiện cô sống một mình.

Vợ Hùng vọt miệng:

– Cô ấy đang ở bên Việt Nam, ông có dám về tỏ tình một lần nữa không?

– Tôi ước được gặp cô ta một lần nữa, cho đỡ nhớ.

Lúc đó có lẽ tôi sẽ liều mạng bảo với cô rằng “Tôi yêu cô” Thế là tôi mãn nguyện rồi. Còn chuyện cô đáp lại, coi bộ khó vì lúc trai trẻ còn bị làm ngơ, bây giờ thì hi vọng gì.

– Nhưng cô ta cũng lớn tuổi rồi, sợ ông không nhận ra nữa đấy.

– Làm sao tôi quên được đôi mắt và miệng cười. Chỉ thấy dáng người sau lưng, tôi cũng biết nữa là. Đã hai mươi năm chúng tôi mới có dịp nhậu nhẹt, cười nói thỏa mái với nhau. Tôi không biết uống rượu, chỉ một lon bia là đã mơ màng rồi, nhưng tối đó tôi uống hơn chục lon, quả là một kỷ lục. Có điều sau đó tôi phải chạy vào phòng vệ sinh ói thốc tháo ra. Tôi chỉ kịp giật nước, rửa mặt qua loa là mắt tối sầm lại, đứng không vững, các bạn vội dìu tôi lên giường. Người tôi toát mồ hôi, nằm bẹp, nhưng một lát sau cũng cảm thấy một bàn tay dịu dàng dùng khăn nóng lau mặt tôi rồi đắp mền cho tôi.

Sáng hôm sau tỉnh dậy người vẫn còn ngầy ngật, đầu nhức nhối khó chịu. Tôi nghe tiếng vợ Hùng dặn dò ai đó ở dưới nhà: “Khi ông ấy dậy nhớ chỉ viên thuốc trên bàn rồi pha cho ông ấy một ly cà phê, hỏi có ăn cháo không thì nấu. Tụi nầy đi chợ độ một giờ sau sẽ về. Tôi giao ông ấy cho cô trách nhiệm đấy nhé!” Có tiếng đối đáp nho nhỏ rồi tiếng cười rộ lên, tiếng chân xa dần ra phía sân nhà.

Tôi dậy đánh răng, rửa mặt xong lần xuống bếp. Nhà vắng hoe, trên bàn ăn có ly nước lạnh và viên thuốc. Tôi ngồi xuống uống thuốc rồi dùng tay xoa xoa mặt, miết mấy ngón tay lên lông mày cho bớt nhức đầu.

Bỗng tôi nghe tiếng nói:

– Anh uống cà phê nhé!

Tôi ngẩng lên thấy một người đàn bà quay lưng về phía tôi đang vặn bếp ga, tiếng lửa cháy phì phì nho nhỏ

– Dạ, chị cho xin một ly.

– Anh ăn cháo nhé!

– Dạ không, cám ơn chị.

– Gớm, lúc tối các ông nhậu nhẹt … Sao mà lắm thế!

– Bạn bè lâu ngày mới gặp nhau.

Người đàn bà mặc đồ đen, nhìn sau lưng dáng thon thả, tóc hơi ngắn, đôi vai nhỏ … Tôi chợt rúng động cả tâm thần, người run lên “Cô Mai!” Cô quay nhìn tôi, môi bậm lại như đang dọa nạt một em bé, nhưng không dấu được nụ cười trên đôi mắt long lanh. Hai tai cô vẫn y nguyên hai đóa hoa vàng, giống như hoa mai, loại hoa chỉ nở vào dịp Tết ở quê nhà. Cô nói chậm rãi:

– Từ nay em cấm anh không được uống rượu nhiều nữa.

Sau nầy cô ta thú thực với tôi rằng cô đã khóc khi rình nghe tất cả.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 May 2026

Ngày xưa lúc còn trẻ, chúng ta thường hay mắc cỡ, mỗi lần có điều gì xấu hổ thì hai lỗ tai đỏ bừng, kể cả những khi ra đường gặp gái, hoặc bị bắt quả tang mình đang làm một việc gì đó sai trái, như lên đứng ở giữa lớp mà bài không thuộc hay trước bảng đen mà giải phương trình không xong. Về sau nhờ mấy cụ Hán rộng mới cho biết mắc cỡ có liên hệ với hai cái lỗ tai, vì chữ “sỉ” là do hai chữ “tâm” (lòng) và “nhĩ” (tai) gộp lại, như vậy khi tâm mắc cỡ thì lỗ nhĩ nóng bừng. Càng về già thì càng thấy mình ít mắc cỡ hơn hồi nhỏ, phải chăng càng ngày khi lớn lên càng xem thường sỉ diện, nếu thực sự như vậy, thì quả là đáng buồn cho tuổi già … mất nết.

Sĩ diện là vừa che dấu cái xấu của mình (thủ) vừa khoe khoang cái tốt của mình (dương), khi dương khi thủ như trong lối chơi bài xập xám. Xấu che, tốt khoe, cả hai đều là quá đáng. Nghèo, xấu, dốt cũng không phải là cái tội mà cần phải dấu. Giỏi, giàu, tốt cũng không phải là những điều cần phải khoe ra. Người ta thường thấy lối sỉ diện đó trong cung cách và lối sống của người dân xứ Huế, nơi mà từ hơn một thế kỷ là nơi đóng đô của triều Nguyễn. Ngày trước, đố ai là khách mà nhìn thấy được mâm cơm của gia đình mình đến thăm. Dù trong mâm chỉ độc mỗi món rau muống: rau muống luộc, nước luộc rau muống, rau muống xào và một cái dĩa để cái muổng, lát chanh và trái ớt, nhưng chiếc mâm đồng phải đánh bóng sáng loáng và chiếc “lồng bàn” phải sơn son. Khi thấy khách đến bất ngờ dù đang ăn, mâm cơm phải được dẹp thật nhanh, chủ nhà phải vội vàng mặc áo dài ra tiếp khách. Khách vào chạm mặt thì dù đang ăn dở bữa cũng ráng nài nĩ mời khách cùng ăn, nhưng thức ăn không sẵn sàng, đũa chén cũng chẳng thấy mang ra. Lẽ cố nhiên, vì sỉ diện, khách đang đói meo, cũng chẳng lẽ ngồi xuống mâm. Người quý phái con Vua cháu Chúa, giòng giỏi thì ăn nói phải rào trước đón sau, lịch sự, nho nhã. Tiếng “ăn”, “uống” trong chuyện cơm nước chỉ dùng cho người bình dân, để cho người khác biết mình là con nhà sang cả, quý phái. Mời một người lớn tuổi hơn mình, hay có chức tước cao “ăn cơm” thì phải mời “xơi”, “thời”, “dùng” cơm hay nước. Ngủ nghe cộc lốc thì phải dùng “ngơi” hay “nghỉ”, như “Cụ đang nghỉ trưa”, “Cụ đang ngơi”. Khi thất thế, nghèo khó thì vẫn phải giữ tính cách quan quyền, thay vì phải nói “ăn” một củ khoai, thì nói Mệ “chém” củ khoai. Vì sỉ diện, con người lại thích khoe khoang. Người Huế có danh từ “nói trạng” cũng như người Bắc có tiếng “nói phét”, một thứ bệnh khoác lác. Sỉ diện trong nhiều trường hợp lại là sự gìn giữ tư cách, dù đói, dù nghèo vẫn phải giữ lại tiếng thơm như “giấy rách phải giữ lấy lề,” hay “đói cho sạch, rách cho thơm”, nghĩa là phải nghĩ đến danh dự của ông bà, giòng tộc, không làm điều nhục nhã cho tổ tiên. Những đứa con vì sỉ diện của cha ông, không dám làm điều gì xằng bậy vì chỉ sợ tổn thương đến danh dự của gia đình. Trường hợp cha mẹ hướng dẫn hay ép con phải đỗ đạt làm rạng danh gia đình để khỏi thua sút họ hàng, và muốn vượt trội những người có địa vị thấp kém hơn gia đình mình cũng là một lối sỉ diện. Trong một cộng đồng, lối văn hoa sỉ diện thường thiếu công bằng, vinh danh những điều tốt mà che giấu cái xấu, sợ những điều này làm xấu mặt cộng đồng, mặc dầu cái xấu cần đưa ra để xã hội cảnh giác.

Khi một vị bác sĩ ra trường, chúng ta chúc mừng, nhưng nếu vị này có hành vi gian lận y tế thì chúng ta làm thinh. Một vị linh mục, một nhà sư là những khuôn mặt đáng kính của cộng đồng, nếu có lạm dụng tình dục trẻ em hay gian díu trai gái với phụ nữ thì giới truyền thông cũng giấu kín không dám loan tin vì sợ mang tội bôi bác, chống phá tôn giáo. Cũng vì sỉ diện đôi khi chúng ta phải lừa dối nhau, che đậy cho nhau, hy vọng không ai thấy dược cái xấu của mình. Chúng ta cứ tưởng những người nghèo khó, thất học bị lâm vào hoàn cảnh khốn cùng phải làm những việc bất chính hay thiếu đạo đức ít bị dằn vặt, hổ thẹn hơn là những người có địa vị trong xã hội với những cách nói: “bần cùng sinh đạo tặc”, hay “đã cùi không còn sợ lở.” Nhưng sự thật lại khác, qua các bức ảnh chụp các cô gái làm nghề bán thân hay những xếp hàng cho người ngoại quốc chọn vợ, tại Việt Nam, khi bị công an bắt, trước ống kính của báo chí, vẫn còn biết xấu hổ, cúi đầu che mặt, vì họ là những con người dù bị hòan cảnh xô đẩy vào đường cùng, vẫn còn biết phải trái, còn biết sỉ diện, như nàng Kiều “ngại ngùng rợn gió e sương, xem hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày .. “

Họ sợ nếu có người quen nhận diện sẽ xấu hổ với bạn bè, làng nước và mất thanh danh của cha mẹ. Chúng ta cũng thường nghĩ, những người càng có địa vị trong xã hội cao, càng phải kiêng dè, giữ phẩm cách, vì thể diện không dám làm bậy, vì “nghĩ mình phương diện quốc gia,” hay người nghệ sĩ, những khuôn mặt công cộng, đã có tiếng với đời. Nhưng rõ ràng trong khi chúng ta có những anh hùng khí phách, nhận cái chết vì sỉ diện trong ngày thất trận, thì cũng có nhiều nhân vật sau này chưa bao giờ biết “đỏ lỗ tai,” không hề cần đến danh dự, không hề hổ thẹn, mặc cho người đời khinh chê, đàm tiếu. Ở Việt Nam, chúng ta cũng đã từng thấy các viên chức chính phủ tham ô, phá trinh trẻ vị thành niên, như Lương Quốc Dũng, mua dâm với cả học sinh của mình như Sầm Đức Giang, ra toà vẫn có vẻ đường bệ, thản nhiên như không có gì quan trọng, một lối “mặt trơ trán bóng” không biết xấu hổ là gì.

Cao hơn nữa, kể các cấp lãnh đạo trong xã hội này, đâu có ai cần đến sỉ diện. Nhờ báo chí trong nước loan tin, bàng dân thiên hạ đều biết chuyện Lê Khả Phiêu sang Trung Quốc hưởng lạc, gian dâm với con gái đồng chí của mình, Đỗ Mười đã từng “vỗ mông” Ngô Thanh Hằng, một Chủ Tịch Phường, và đưa cô này lên chức Phó Chủ Tịch Văn Xã thành phố Hà Nội, Hồ Xuân Mãn, đương kim Bí thư Tỉnh Uy Thừa Thiên -Huế đi ăn nhậu, ôm hôn ẩu một chiêu đãi viên, bị tát  vào mặt, thì sỉ diện nằm ở đâu? Từ sỉ diện của một người đến sĩ diện của một làng, một giòng họ, rồi đếnsỉ diện của một quốc gia. Ở đây còn là sỉ diện của đảng, vì đảng viên bí thư họ Hồ này vừa được tuyên dương là cá nhân điển hình trong phong trào “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong ba năm nay. Cô gái phục vụ trong quán ăn, vì sỉ diện bị làm nhục đã phản ứng bằng cách tát tai ông đầu tỉnh, nhưng ông đầu tỉnh lại không có sỉ diện, thay vì biết xấu hổ đã lấy uy quyền buộc nhà hàng phải đuổi việc cô nhân viên này. Vậy thì ai dám nói con nhà bần dân ít có liêm sỉ hơn bọn tai to mặt lớn. Người Việt chúng ta khi nói đến sỉ (diện) không đề cập đến lỗ tai như trong chữ Hán, mà thường nhắc đến cái mặt như trong danh từ “mặt mo”, “mặt mẹt”, “mặt dày”, “mặt thớt”, “mặt trơ.” Nhưng nói cho cùng, sỉ diện có thể là một loại mặc cảm để che đậy cái xấu, nhưng mục đích vẫn để cố gắng nâng cao lối sống, làm cho xã hội đẹp đẽ hơn, chỉ tội cho con người, đến lúc nào đó, không còn biết hổ thẹn, không còn sỉ diện.

Điều gì đã tạo nên một xã hội như thê?

***

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 May 2026

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, trên không có những đám mấy bàng bạc, là lòng tôi lại cảm thấy … “(*; buồn phiền vì chuyện nhân tâm ly tán, cộng đồng người Việt hải ngoại chia rẽ vì câu chuyện đã xảy ra từ nữa thế kỷ nay. Không phải đợi dến tháng 11, mà mỗi năm cứ đến tháng 10 là chúng ta chuẩn bị đem những chuyện năm cũ ra xâu xé, bêu rếu nhau gây nên tình trạng chia rẽ trong cộng đồng trầm trọng rất đáng xấu hồ. Phía chống ông Ngô Đình Diệm xem ngày 1 lháng 11-1963, ngày đảo chánh để giết một tổng thống được gắn nhãn, trở thành một “Ngày Cách Mạng.” và ngày này trở thành ngày Quốc Khánh cúa nền Đệ II Cộng Hoà trong suốt nhiều năm, những buổi tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Dức, trở thành diễn đàn lên án chế độ Ngô Đình Diệm là gia đình trị, kỳ thị tôn giáo. Họ lên án chế độ ông Diệm là một chế độ gia dình trị, ác ôn, triệt tiêu đảng phái, tôn giáo và cuộc đào chánh ngày 1 tháng 11- 1963 dược toàn dân ủng hộ và lên án những người gọi là “dư đảng Cần Lao.” Thậm chi gần một nửa thể kỷ trôi qua, trong một buổi tổ chức mừng sinh nhật của một vị cựu Tướng Lãnh đã có công đảo chánh ông Diệm, người ta tâng bốc ông này quá lời bằng cách nói: Nếu không có Trung Tướng, thì chúng tôi không được như ngày hôm nay!” Câu nói có nghĩa nếu ông Diệm không bị giết, thì nhân vật ấy không có hôm nay. Thế nghĩa là làm sao?

Phía bênh ông Diệm, qua một bài báo cách dây 10 năm đã thuật lời của Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã gọi các tướng lãnh làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đổ đáng nguyền rủa!” và giờ dây, 50 năm sau, trên dường phố Bolsa người ta còn dựng biểu ngữ ghi dòng chữ “26 tháng 10: Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa” và xem cái chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là ” Vị Quốc Vong Thân.” Không ít người lên án Phật Giáo là nguyên nhân của việc mất nước vào năm 1975. Với cái nhìn này, nhiều ý kiến lại cho rằng nếu còn Đệ I Cộng Hòa. Tổng Thống Ngô Đình Diệm không bị bức tử, chúng ta sê không có Mậu Thận, không có Đại lộ Kinh Hoàng, không có cả biến cố 30-4-1975. Hay vào thời ông Diệm. dân chúng có thể đi từ Cà Mâu ra Bến Hải, tối ngũ nhà không đóng cửa, thanh bình thịnh vượng như thời Nghiêu Thuấn. Và mới đây thôi, qua những bài viết trên “net,” danh từ ” tàn dư: Ấn Quang” lại dược khơi dậy, Phật Giáo lại dược dem ra làm bia bắn. Một nhóm người có phương tiện truyền thông trong tay lại dưa hình ảnh của Tổng Thống Ngô Dình Diệm ra gọi là vinh danh, tưởng niệm và không thể không nói đến  chuyện ông Diệm bị giết, mạt sát, đụng chạm đến tôn giáo, khiến một thời gian cộng đồng nổ ra những cuộc biểu tỉnh phán đối, gây xáo trộn, chia rẽ, mất đoàn kết hơn bao giờ hết. Nếu ông Võ Văn Kiệt can đảnı cho rằng ngày 30 tháng 4-1975 là “ngày một nửa nước vui, một nửa nước buồn.” thì với một người lính ngày 1 tháng 11-1963 đang là một sinh viên sĩ quan cầm súng dứng gác trên chòi canh nhìn ra đồi Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức, nghe tin “đảo chánh thành công,” đã ứa nước mắt, thì tôi cũng phài nghĩ rằng việc đảo chánh và giết Tổng Thống Ngô Dình Diệm vào 50 năm trước chắc chắn đã làm cho nhiều người buồn nhưng cũng làm cho nhiều người vui. Và cá hai phía thương tiếc hay căm thù ông Ngô Đình Diệm đều muốn khơi lại vết thương cũ bằng tất cả khả năng, phẫn nộ và dai dẳng kéo dài. Điều tệ hại hơn là sau những cuộc tranh luận này, người ta có cảm tưởng rằng hai tôn giáo lớn nhất của Việt Nam đang nhảy vào nhau để cấu xé, nguyền rủa nhau đến tận cùng. Chúng ta đã đọc bao nhiêu cuốn sách, bao nhiêu bài tham luận, bao nhiêu lời bàn hay nói một cách trần trụi, dung tục, là chửi bới nhau không tiếc lời trên internet suốt hàng chục năm qua. Và những cuốn sách bênh và chống của cà hai phía đều là những cuốn sách bán chạy nhất trong năm, mặc dầu những câu chuyện kể, người ta đã đọc hay nghe đi nghe lại cả trăm lần. Những ai có lòng với dất nước, cộng đồng đều cảm thấy nỗi bất bình, vào mỗi năm khi, bên này hay bên kia, đều muốn khơi lại những vết thương của dân tộc. Sau ngày 1-11-1963, chính vi chiến tranh càng ngày cảng leo thang khốc liệt người Việt Nam bị chết chóc, ly tán, tù đày vả ngày nay, không chấp nhận chế độ cộng sản, nhiều triệu người Việt đã bò nước ra đi, phiêu bạt và chia cách. Nguyên nhân từ đâu, mỗi người đều có một lối nhìn và đi tìm những nguyên nhân khác nhau, do vậy mối chia rẽ cảng ngày càng trầm trọng, ray rứt không thôi. Trọng khi đó, CSVN luôn luôn hăm hờ dùng đòn xuyên tạc, chia rẽ làm tan nát cộng đồng người Việt Tự Do ớ hải ngoại, đáng lẽ chúng ta tập trung nỗ lực để chống tập doàn cộng sản dang cai trị và tàn phá quê hương. thì quay lại kình chống, kể tội nhau.

Cộng Sản Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sai Gòn là đổ thêm xăng vào dư luận cho rằng cuộc tranh đấu của Phật Giáo Giáo năm 1966 có bàn tay của Việt Cộng và ảo tưởng của một vài cấp lãnh đạo Phật Giáo tin rằng. khi CS vào Sai Gòn họ sẽ được ghi công, nhưng sự thật tâm địa và đường lối gian xảo của Cộng Sản từ nhiều năm qua đã không lừa được ai. Phía một vài nhân vật lãnh đạo Phật Giáo, sau khi chuyện đảo chính thành công, đã mang tâm trạng công thần, kiêu binh, muốn khuynh đảo quốc gia, xen vào chính sự. Mặc dầu việc Sai Gòn thất thủ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng có người vẫn lên án, phần nào Phật Giảo đã góp sức làm tan rã miền Nam. Câu nói thất vọng cùa Tổng Thống Dương Văn Minh trong ngày cuối cùng “Thầy hại tội rồi!” đã nói lên sự thật phũ phảng ấy.

Ngày nay Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ được dựng lên ở hải ngoại dễ vinh danh và tri ân những người lính đồng mình và các chiến sĩ VNCH đã nằm xuống cho tự do của miền Nam, nhưng ngày nay cả hai phía bênh và chống đều dùng nơi này để tổ chức lễ tưởng niệm cả hai vị Tổng Thống: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một trong những tướng lãnh có tham gia vào việc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ở trong Hội Đồng Tưởng Lãnh và Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người bị sát hại. Đó là chúng ta chưa nói đến việc chính TT Ngô Đình Diệm là người chống đối việc đưa quân Mỹ vào VN, ngày nay sao chúng ta lại đưa di ánh của Người đến dưới chân người lính Mỹ ở tượng đải, như vậy việc tưởng niệm mang ý nghĩ gì?

Người lính vô danh chỉ biết tổ quốc, không chiến đấu cho bất cứ cá nhân ai, tôn giáo, đảng phái, tổ chức, thể chế nào! Đã nửa thế kỷ trôi qua, người lính năm xưa ở trên đồi Tăng Nhơn Phủ ứa lệ khi nghe tin cuộc đảo chánh thành công, chính lả tác giả bài báo này. Vui bay buồn, mừng hay lo, khộng phải là lúc nói ra đây, chẳng có ích gì cho đại cuộc.

“Những ai dùng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, người ấy là có tội với tổ quốc,” câu nói này là của LM. Nguyễn Hữu Lễ nhiều năm về trước đây là lời nói chân thành của một người thật lòng yêu nước. Còn chúng ta, chúng ta nghĩ gì về những nỗi oan khiên của tháng 11 và chuyện chia rẽ vẫn còn tồn tại mãi đến hôm nay.

(*) Thanh Tịnh.