Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 10 May 2026

Đây là một truyện ngắn. Đại khái, truyện ngắn gồm một ít tưởng tượng, một ít sự thật. Có thế người đọc mới hình dung được khung cảnh, diễn biến của câu chuyện. Sau đây các bạn đoán xem, phần tưởng tượng (hư cấu) của người kể là chỗ nào? Có thể hắn và cô Hồng chui vào hầm chống pháo kích mấy đêm liền, nhưng hắn thề là không làm gì cô ta cả! Cũng có thể là lúc hắn gặp lại cô sau hơn hai mươi năm xa cách? Nhưng sự đời, có những chuyện xảy ra mà mình không thể nào tin được! Đôi khi lại cho rằng đó là linh tính, thần giao cách cảm hoặc tình máu mủ, ruột thịt dun dủi. Năm 1967 hắn học Hành Chánh năm thứ hai Ban Đốc Sự. Như thường lệ, sinh viên học ở trường một năm, năm kế tiếp thực tập tại địa phương, nghĩa là về tỉnh, quận làm việc, rồi lại về trường học tiếp, năm cuối thực tập tại trung ương trước khi tốt nghiệp. Thế nên năm đó hắn được đưa lên Hậu Nghĩa. Đi với hắn còn có ba người bạn cùng lớp. Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa là trung tá Mã Sanh Nhơn. Tên ông nầy thì những người trên năm mươi tuổi đều biết. Nghe nói ông ta không còn trên cõi đời nầy nữa nên bình luận về ông ta, chẳng khác gì nói xấu người khuất mặt. Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa chỉ là một cái ấp nhỏ, ấp Bàu Trai, có một cái chợ nhỏ. Nó tương tự như Dầu Dây, nhưng thưa thớt và buồn hơn nhiều. Khi lập tỉnh ly mới có tòa hành chánh, tiểu khu, ty cảnh sát … Rồi dân tứ xứ đến sinh sống nên trông cũng ra vẻ thành thị. Từ Sài Gòn lên Hậu Nghĩa độ vài chục cây số. Cứ theo đường Sài Gòn-Tây Ninh, đến Củ Chi quẹo trái, rồi quẹo phải một đoạn là đến Hậu Nghĩa. Tỉnh ly chỉ là con đường duy nhất, độ một cây số, nằm trên con lộ Đức Hòa- Đức Huệ, thẳng băng, cho nên đôi khi về chiều hay tối, Việt Cộng cứ ra đường, nơi xa và vắng, đặt đại liên, bắn bừa dọc theo con lộ là làm gì cũng có người lãnh đạn, đa số là đồng bào, vì giờ đó, lính tráng rút cả vào đồn rồi. Sau nầy chính quyền cho xây một bình phong ngay giữa lộ mới hết nạn lạc đạn. Khi bọn hắn lên Hậu Nghĩa trình diện, phó tỉnh là khóa đàn anh, phân phối đến các ty sở để học việc. Thực ra bọn hắn chẳng học được gì. Sáng cà phê, bún phở gì đó, rồi vô tòa hành chánh xem mấy cái văn thư lưu trữ, như đọc báo tàu, chẳng hiểu mô tê gì cả! Có hỏi cũng chẳng ông ty sở nào giải thích, họ không có thì giờ, vả lại họ dấu nghề, đúng ra là dấu mánh lới, mà những mánh lới nầy mà đưa vào báo cáo của sinh viên nộp cho giáo sư thì chỉ làm các vị nầy điên đầu. Ông Mã Sanh Nhơn, cũng như bao ông tỉnh trưởng, quận trưởng khác, vốn là quân nhân, chẳng cần biết luật lệ, thủ tục gì cả, cứ làm cho xong việc, giấy tờ tính sau. Chẳng phải độc tài quân phiệt hay tham nhũng gì mà thời chiến thì thế. Nghĩa là ông tỉnh trưởng quyết định, ông phó tỉnh trưởng hành chánh chịu trách nhiệm. Mà hễ ông trưởng ty, phó tỉnh nêu trở ngại thì được bảo “Mấy anh học ở trường Hành Chánh ra là để giải quyết những việc đó. Łàm cách nào thì làm!” Thành ra bọn hắn chỉ học được một điều duy nhất là đừng thấy mấy cô thư ký trẻ đẹp mà cà rà tán tỉnh như gặp mấy em ở Sài Gòn. Các cô đều là hoa có chủ cả rồi. Vả lại làm như vậy mất cái uy tín, nghiêm trang của một người sắp trở thành trưởng ty, phó tỉnh, phó quận. Tay phó tỉnh giao cho bọn hắn “nhà vãng lai” làm chỗ trú ngụ. Đó là một căn nhà nhỏ, mỗi bề chưa đến mười mét, để mấy cái giường sắt, phía sau, sát vách là nhà ông trưởng ty mục súc, tiếp đó là một cái giếng, bên cạnh có một cái vại lớn đựng than, cát, sỏi … dùng để lóng phèn. Muốn lấy nước tắm rửa, giặt giũ, nấu nướng thì để cái xô chỗ vòi của cái vại, kéo nước giếng đổ vào vại, nước sẽ được lọc, trông cũng sạch sẽ, không như nước giếng, đục vàng như nước trâu đầm. Ông trưởng ty mục súc có vợ và một đứa con nhỏ, cùng ở chung có cô em vợ tên Hồng. Cô là thư ký tòa hành chánh. Cô không đẹp lắm nhưng trông rất hấp dẫn, cô đi ngoài đường là bọn đàn ông nhìn theo, tâm trí xáo trộn. Người cô tròn trịa, chân tay mũm mĩm, mặt bầu bỉnh, đôi môi dày vẻ mời gọi, nhất là đôi mắt, ươn ướt mà lại lừ nhừ như người ngái ngủ. Thật ra cô rất hiền, ai nói gì cũng cười cười, trả lời nhỏ nhẹ, dịu dàng. Mỗi buổi chiều, đi làm về, cô thường đi qua trước nhà vãng lai, nếu hắn nhìn ra, cô thường gật đầu chào hắn một cách yên lặng. Cô ngon lành như thế mà lại ở chung với ông anh rể, người đời cho rằng “Hoa thơm đánh cả cụm”, nhất là các chàng sĩ quan, đâm ghen tức bèn gọi ông ta là “tên mục súc” cho bỏ ghét. Mỗi buổi chiều, hắn ra sau nhà kéo nước về tắm, cô thường ngồi trước cửa cho cháu ăn cơm. Cô nhìn thoáng hắn rồi hơi mím mím cười, hắn cũng mím miệng chứ không dám chào hỏi, sợ ông anh rể bắt gặp. Cái nhà vãng lai đó chỉ có mình hắn. Chẳng hiểu tại sao ba cậu kia nhất định đi ở trọ nhà đồng bào, không chịu ở đấy. Mấy hôm sau hắn mới biết là chúng sợ bị pháo kích. Ra khỏi chu vi tỉnh ly là gặp nguy hiểm, cho nên Việt Cộng chẳng cần canh nông, đại bác gì cả, cứ súng cối cũng đến nơi. Thế nên tiểu khu phải hành quân thường xuyên. Lính hành quân về là đồng bào xúm lại hỏi “tin chiến sự”. Hễ nghe nói bữa nay bắt được hay giết được sĩ quan pháo binh Việt Cộng là tối đó đồng bào ngủ dưới hầm. Lý do đơn giản là tay pháo binh nầy tiêu tùng thì phải bổ nhiệm tay pháo binh Việt Cộng mới. Mấy cậu nầy bắn theo kinh nghiệm, linh tính chứ chẳng có chuyên môn gì. Thế là anh ta cứ nã búa xua vào tỉnh lỵ nhiều lần để lấy yếu tố tác xạ. Nghĩa là anh ta nã một loạt rồi vác súng chạy vì nếu nấn ná là bị  phản pháo. Sau đó lắng nghe đồng bào ở thôn quê đichợ về bàn tán. Ví dụ “Khi hôm Việt Cộng pháo vào  mấy nhà sau chợ, chết mấy người” Thế là đồng chí biếtmình phải chỉnh trái phải, xa gần gì đó, rồi lại pháo, lại chạy, chỉ mấy lần là trúng đích. Mục tiêu pháo là tiểu khu, tòa hành chánh, ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng … Đồng bào xuống hầm ngủ cho đến khi nào pháo kích trúng y bon các nơi đó mới yên tâm lên giường nằm. Hắn nhớ, có một gia đình gần chợ bị pháo kích, ông chủ nhà chết. Hòm còn để đó, buổi tối đang khóc lóc thì bị nguyên một quả pháo kích. Thêm mấy người nữa chết. Hôm đưa đi chôn, có đến bốn cái quan tài, đi một dọc mà chẳng thấy ai khóc cả! Có lẽ cả bốn xác người trong quan tài đang khóc cho nhau!

Cái nhà vãng lai hắn ở nằm sát tòa hành chánh tỉnh, phía trước, bên kia đường là dinh tỉnh trưởng. Tối đến, lính đặt mìn Claymore tua tủa. Hễ Việt Cộng tấn công vào, họ chỉ bấm một cái là nhà vãng lai của hắn bay tuốt. Hắn cho rằng giày dép còn có số huống gì con người, cho nên cơm hàng cháo chợ xong hắn về nằm vểnh râu đọc sách báo. Cho đến khi tỉnh bị tấn công hắn mới biết mình dại. Hình như vụ Mậu Thân 68, khởi đầu ở Hậu Nghĩa thì phải. Khuya đó, đang ngủ say, hắn bỗng giật mình vì tiếng đạn pháo nổ rổn rảng khắp nơi, rồi tiếng súng như bắp rang. Thời đó phe Quốc Gia chỉ có súng Garant, carbine … thời đệ nhị thế chiến, chỉ có lính Mỹ trang bị tối tân như AR15, 17 … Phía Cộng Sản đã có AK 47, 50, tiếng nổ toát toát như trung liên, hắn nghe, tưởng như sát bên tai. Tiếng súng càng lúc càng dồn dập. Mùi thuốc súng nồng nặc. Hắn vội chui xuống giường, nằm nép vào góc tường, cố thu mình thật nhỏ. Hắn đã qua mấy khóa quân sự học đường, cá nhân chiến đấu, bắn súng, cận chiến hắn cũng rành, nhưng lúc đó, súng không có, lựu đạn cũng không, cái dao rọc giấy còn không có thì lấy gì tự vệ với chiến đấu! Hắn nhớ có đọc đâu đó câu “Ngoài chiến trường, khi đã hết cách thì chỉ còn chờ đợi” Thế nên hắn nằm chờ một trái pháo trúng nhà hắn hoặc bên dinh tỉnh trưởng bấm mìn Claymore là xong cuộc đời. Lúc đầu hắn sợ đến run người, nhưng khi thấy mình đã cùng đường, hắn đâm bình tĩnh, nằm nghe tiếng súng nổ khắp nơi. Súng từ dinh tỉnh trưởng bắn ra, Việt Cộng sau tòa hành chánh bắn vào, ào ào như bão táp, mưa sa. Đạn cối nổ ngoài đường, trên mái nhà bên cạnh nghe lảng cảng như người ta ném mấy miếng gang để đùa chơi, đạn nhỏ thì xuyên mái nhà, xuyên cửa gỗ cộc cạch như chuột chạy. Cứ tưởng tượng ngày Mồng Một Tết, một tay ba tàu giàu có, treo mấy dây pháo, cùng đốt một lượt rồi bắt bạn đứng vào giữa. Pháo tép, pháo tống, pháo đại … nổ túi bụi, bạn chỉ biết ôm đầu chịu trận! Hắn nằm suy nghĩ đến cái chết. Sáng mai, người ta mở cửa nhà vãng lai, sẽ thấy hắn nằm chết dưới gậm giường. Cái nền nhà, lát gạch, bùn đất, ẩm ướt dơ dáy … hắn sẽ giống một con chó chết dưới mương, thật thảm hại! Trước kia, đọc sách, trong chuyện Cách Mạng Pháp, có bà hoàng hậu, vợ vua Louis 14, chỉ xin được trang điểm cho tươm tất trước khi lên máy chém. Hắn cho rằng bà ta lẩm cẩm, chết là hết, cần gì ba cái lẻ tẻ. Bây giờ hắn lại thấy có lý. Trước cái chết, con người chiến đấu, tìm mọi cách để thoát hiểm, nhưng khi đã cùng đường, phải nhận cái chết, thì lại nghĩ đến sau cái chết. Có thế mới có tôn giáo, có lăng tẩm, xác ướp, kim tự tháp … Hắn cũng thế. Hắn không nghĩ đến linh hồn sẽ về đâu mà chỉ không muốn người ta bàn tán, thương hại hắn khi lôi xác hắn từ gậm giường ra, rồi lại còn lột áo quần hắn để thay áo quần sạch sẽ hơn, nghĩa là sẽ nhìn thấy thân hình trần trụi của hắn, thật đáng mắc cỡ! Thế nên hắn mới bò ra, lấy bộ đồ mới may, thay vào rồi lên giường đắp mền nằm “Kệ mẹ nó, đàng nào cũng chết, chết sạch sẽ lại được tiếng là can đảm!” Rồi mặc cho súng nổ, hắn bình thản nằm chờ viên đạn vô tình nào đó. Thực ra, kể thì dài dòng, chứ hai bên đánh nhau chỉ độ vài giờ. Hắn lên giường nằm một lát thì tiếng súng lặng dần. Vì mất ngủ lại quá căng thẳng nên hắn ngủ thẳng một giấc, cho đến khi nghe các bạn hắn đứng ở cửa sổ dòm vào và bàn tán “Nó chết thật rồi, không thấy thở gì cả” hắn mới vùng dậy, nhe răng cười, lại còn khoác lác là hắn không sợ, không thèm xuống đất núp đạn.

Trước giờ hắn chỉ thấy chiến tranh trong các rạp cinê. Cứ bắn nhau ầm ầm, ôm súng chạy, tài tử nào có nhiệm vụ chết chỉ việc ngã xuống nằm yên, vị nào bị thương thì cứ băng chỗ bôi thuốc đỏ là xong chuyện.

Chiến tranh thật, rất khác xa. Khi hắn và các bạn kéo nhau ra chợ ăn điểm tâm thì xác chết còn nằm đầy hai bên đường. Trên vách tường, những vệt máu kéo dài một quãng rồi mới đến xác chết, chứng tỏ anh ta bị thương ở lưng hay bụng gì đấy, cứ tựa bức tường mà lần đi cho đến khi ngã gục. Có những xác bị bắn đứt đôi, ruột banh ra. Tim, gan, phèo, phổi … ruồi đậu đầy. Mùi máu người tanh khủng khiếp. Khắp nơi đều có xác chết, nhưng không thấy súng đạn. Dĩ nhiên là xác việt cộng, phe ta cũng có chết nhưng đã được thu dọn. Xác địch cứ để đấy triển lãm, đến chiều mới chở đi chôn. Chiều hôm sau, xe nhà binh lại chở về mấy xe xác chết nữa, nghe nói hành quân truy kích sau khi B52 bỏ bom ngăn chặn địch rút lui. Những xác nầy lại không có thương tích, có lẽ chỉ bị sức ép của bom. Người ta bu đông, hắn cũng chen vào xem. Bỗng có tiếng kêu “Có người còn sống, cục cựa kìa” Hóa ra có mấy chàng chiến binh Việt Cộng vừa tỉnh dậy. Cũng may, nếu đem chôn ngay thì chết  luôn rồi. Thế là xe quân y đến chở đi. Tối đó hắn tò mò vô bịnh xá, thấy mấy chàng nầy bị xích chân vô giường, được chuyền nước biển nhưng chưa tỉnh hẳn. Các chàng chỉ độ 16, 17 tuổi nằm thiêm thiếp nhưng thỉnh thoảng kêu lên, giọng miền Bắc “Mẹ ơi, con chết mất, mẹ ơi!” Không rõ ở miền Bắc xa xôi, người mẹ khốn khổ có nghe được tiếng đứa con thân yêu kêu gào không? Lúc ở quán ăn, hắn nghe lóm các cậu sĩ quan bàn tán là các chiến binh miền Bắc không được huấn luyện tác chiến trong thành phố, cứ phá bức tường sau tòa hành chánh, tràn qua là xong, chứ pháo kiểu đó, lính đồn trú chúi đầu trong công sự, chỉ độc có mấy cậu cảnh  sát chịu trận với cây đại liên suốt đêm ở cái trạm gác đầu đường, bắn đỏ nòng thì đái vào áo đắp lên …

Trở lại chuyện cá nhân hắn. Các bạn hắn sợ quá, rút về Sài Gòn, một số công chức, có cả ông trưởng ty  mục súc, cũng đem vợ con về quê, dĩ nhiên ông nhândịp đó đi phép mấy ngày, cho nên cô Hồng đi làm về, ngang qua nhà vãng lai, thấy hắn thì vui vẻ chào hỏi:

– Lúc tối anh có sợ không? Nghe nói mấy anh kia về Sài Gòn cả rồi.

– Sợ chứ, nhưng có lẽ Việt Cộng không đánh ngay đâu, phải ít lâu nữa.

Cô đứng ngoài cửa nhìn vào, có vẻ sợ hãi khi thấy nhà trống hoác:

– Không có hầm núp pháo kích, rủi có chuyện gì thì sao?!

Hắn trổ mòi:

– Được chết gần cô Hồng cũng là hạnh phúc cho tôi rồi.  

Cô cười thành tiếng:

– Đừng có nói liều mạng. Vô nói ông phó (tỉnh) cho người xây cái hầm, có pháo kích thì chui xuống. Khi hôm em nằm dưới hầm mà lo cho anh, mấy cô trong tòa hành chánh bảo rằng anh bị bịnh điếc nên không sợ súng.

– Cám ơn lòng tốt của cô Hồng. Nhưng trong lúc chờ xây cái hầm, hễ có pháo kích, cô cho tôi qua núp nhờ bên hầm nhà cô được không?

– Được chứ, em cũng định nói như thế. Nhưng hễ nghe còi báo động thì anh chạy qua nghe, em không kêu đâu. Tối nào em cũng ngủ dưới hầm, không dám đi đâu cả, sợ lắm!

Hắn làm vẻ e ngại:

– Nhưng ở đây cũng chết mà xuống hầm nhà cô cũng chết …

Cô ngạc nhiên: Sao vậy?

– Thì ông anh rể cô bụp cho một phát là rồi đời ngay!

Cô cười:

– Anh nói gì kỳ vậy! Nhưng ổng về quê, tuần sau mới lên, lúc đó thì hầm của anh đã xây xong rồi.

– Vậy cũng tốt, khi nào hầm bên tôi xong thì cô Hồng qua núp mấy hôm để trừ nợ, được không?

– Gì cũng được, nhưng nhớ qua em, đừng liều mạng, em để cửa chứ không gài chốt …

Hắn chỉ nói mua vui chứ không để tâm. Ở Hậu Nghĩa có cái tháp canh, lính đứng trên cao nhìn quanh, tối đến, hễ thấy chớp ngoài rừng là biết việt cộng “depart” súng cối. Một mặt bấm còi báo động cho đồng bào xuống hầm, mặt khác hướng dẫn cho pháo binh phản pháo. Có bữa ngủ gật, mắt nhắm mắt mở báo động lầm, khiến đồng bào thất kinh lại bị mất ngủ. Thế nên, ối đó, khoảng mười giờ, nghe báo động, hắn cứ nằm ỳ tại chỗ đọc sách, chuyện lúc chiều với cô Hồng chỉ là đùa thôi, sớn xác gõ cửa nhà cô mà cô không mở thì mất mặt nam nhi. Ây vậy mà một lát sau, cửa sổ phòng hắn mở ra, cô Hồng ra dấu bảo hắn qua nhà. Hắn ôm mền gối, lò dò đến, cô Hồng chờ ở cửa, hắn vào, cô gài  cửa và đi trước dẫn đường. Nhà ông mục súc không rộng, nhưng cái hầm rất lớn và kiên cố, phía trên lạichất bao cát, trong hầm là cái sạp gỗ rất tiện nghi. Cô Hồng vào hầm, lên sạp, nằm nép vào một góc, kéo mền đắp, yên lặng như ngủ say, nhưng hắn biết cô đâu có ngủ nhanh như vậy … Tuần sau khi ông anh rể cô Hồng trở về thì cái hầm nhà vãng lai cũng vừa xây xong và hắn cũng vừa hết thời gian thực tập tại tỉnh và về quận Trảng Bàng thực tập tiếp.

Câu chuyện trên, hắn kể cho tôi nghe có phần đúng vì chính tôi cùng đi thực tập với hắn tại Hậu Nghĩa. Cả bọn bốn đứa mà chỉ mình hắn ở tại nhà vãng lai, ba đứa tôi thì ăn và ngủ trọ nhà đồng bào ngoài xóm. Hôm Việt Cộng tấn công Hậu Nghĩa, tụi tôi tưởng hắn đã chết vì đến nhà vãng lai thấy hắn nằm im lìm, không ngờ hắn vẫn sống nhăn, áo quần lại bảnh bao như đi dự đám cưới. Nhưng có một điều hết sức vô lý mà chính hắn nói ra là, qua mấy đêm trong hầm núp pháo kích, hắn chẳng làm gì cô Hồng cả. Tôi biết thằng trời đánh đó, súng đạn còn không sợ thì chuyện đó, chỉ trừ hoạn quan, chứ đến thánh cũng phạm tội. Hắn thề sống thề chết là không làm gì cả. Hắn lý luận:

– Thà em không biết mình là ai hoặc ăn bánh trả tiền, xong rồi đường ai nấy đi. Đằng nầy em biết tao là sinh viên hành chánh, ra trường cũng ông nọ ông kia, nếu chạy làng em, không phải riêng tao bị nguyền rủa là sở khanh mà tập thể dân hành chánh bị mang tiếng lây. Hơn nữa, rủi em có bầu, níu áo thì là đại họa.

– Tao chẳng tin được mầy. Mầy cũng biết ông anh rể em, người ta gọi là tên mục súc, thì chuyện gì xảy ra cho em, hắn ta lãnh đủ, cả đến chuyện em có bầu cũng vậy, cứ bán cái cho hắn ta thì yên chuyện ngay, em đâu có dại mà khai ra mầy.

– Mầy nói thế chứ còn lương tâm, đạo đức nữa. Mầy thấy em cũng lớn, trông hấp dẫn, tưởng em sành đời.

-Không phải đâu, em còn con gái!

Tôi bắt mọn ngay:

– Sao mầy biết em còn con gái? Mầy phá hại đời em, phải không?

Hắn ú ớ chối quanh, vẫn cứ thề thốt, toàn những lời độc địa. Tôi hỏi hắn, sau đó còn lên lại Hậu Nghĩa thăm em không thì hắn bảo có nhưng không gặp em. Hắn chỉ đứng trước đường chờ em, chứ không vô tòa hành chánh, sợ gặp em, người ta dị nghị. Sau năm 75, hầu như tất cả dân hành chánh đều đi tù, gọi là học tập cải tạo. Sau năm, bảy năm có người trên mười năm, ra tù, được Mỹ cho đi Mỹ. Ở Mỹ, tôi và hắn tuy khác tiểu bang nhưng thường gọi nhau, đôi khi thăm viếng nhau. Hắn cứ nhắc lại chuyện tập sự, chuyện pháo kích, chuyện cô Hồng … ở Hậu Nghĩa như một ám ảnh. Năm 93 hắn rủ tôi về Việt Nam. Người lớn tuổi như tôi, về chỉ cốt thăm thân nhân, bạn bè, nhưng với hắn mục đích thăm lại Hậu Nghĩa, cái tỉnh ly hắn thực tập hành chánh và suýt chết vì Việt Cộng tấn công  năm 68. Khi về đến Sài Gòn, hắn rủ tôi lên Hậu Nghĩa. Sau khi gửi cái passport ở chỗ cho mướn xe gắn máy, coi như thế chân, chúng tôi có một chiếc Honda, chạy cũng tạm. Hai đứa đèo nhau lên đường. Tất cả đều đổi thay, tưởng như chúng tôi chưa hề đến đó bao giờ. Con đường liên tỉnh trước kia chạy giữa đồng không mông quạnh, bây giờ hai bên là nhà cửa, xe cộ qua lại tấp nập, nhất là tỉnh lỵ Hậu Nghĩa trước đây, nhà cửa khang trang, buôn bán sầm uất. Cái nhà vãng lai không biết chỗ nào! Thằng bạn tôi ngồi sau xe cứ lầu bầu “Cảnh cũ không còn, người cũ cũng không còn!” Tôi dửng dung nhưng hắn có vẻ bồn chồn, kích động ghê lắm, cứ bắt chạy lòng vòng, hết ngoài đường lại vào trong hẻm, chỗ nào đông người bắt dừng lại nhìn dáo dác mọi người, mọi nơi. Tôi không hiểu hắn tìm cái gì.

– Bộ mầy tưởng em Hồng của mầy còn ở đây sao mầy tìm?

Tao không nghĩ vậy, nhưng tao linh tính như tao sẽ gặp một cái gì hay một người nào. Hơn hai mươi năm, dù có gặp em Hồng, tao cũng không nhìn ra, mà em gặp tao cũng không biết tao là ai, nên tao đâu có hi vọng gặp em. Nhưng không hiểu sao tao cảm tưởng như tao sẽ gặp …

Sau khi chạy là rà đầu làng cuối xóm một cách vô ích, chúng tôi ghé tiệm cơm chỗ chợ ăn qua loa rồi chuẩn bị về. Trời đã về chiều, không khí oi bức khó chịu. Chúng tôi ra khỏi chợ hướng về Sài Gòn. Mới một  quãng ngắn, hắn ngồi sau vỗ vai tôi, chỉ một cái quán nhỏ bên đường:

– Ghé vô uống chút gì, tao khát nước quá!

Đó là một quán nước bình thường, lợp tranh vách ván. Quán chia hai phần, phía trước bán đủ bánh kẹo, nước ngọt, trái cây … có cả mấy thứ gia dụng như đèn, thuốc lá, giấy, vở, bút mực .. như một tiệm chạp phô. Phía sau, cách một vách ngăn, tôi thấy không rõ một chị đàn bà đang đưa nôi có lẽ ru một em bé. Chúng tôi dựng xe ngồi xuống một ghế dài, chờ đợi. Chẳng có ai ra tiếp khách! Con đường nhựa hừng hực nắng, mấy cơn gió không làm hết cái oi bức của buổi xế chiều, lại thêm giọng ru em của người đàn bà vọng ra nghe mỏi mệt, chán nản “Đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam … Âu … ơ … Rạm đồng nấu với bẹ  môn, đói no mẹ cũng nuôi con nên người … ” Chị ta chợtnhìn ra, thấy chúng tôi thì kêu lên:

– Thứ ơi, có khách, con!

Một cô gái từ sau nhà đi ra, có lẽ cô đang nấu nướng, giặt giũ gì đấy. Cô tầm thường, mặt hơi dài nhưng môi lại dày và đôi mắt như ngái ngủ. Cô cao và ốm, có lẽ vừa mới sinh con nên ngực cô căng cứng dưới áo. Chúng tôi gọi nước ngọt. Trong lúc cô ta đi lấy thức uống, tôi bảo thằng bạn:

– Con nhỏ nầy chân tay dài lòng thòng, mặt cũng dài, giống mầy, tên cũng giống nữa.

Trong lớp học hắn có biệt danh là “Thứ mặt ngựa”, bạn bè thường chế giễu hắn “Đố mặt ai dài bằng mặt Thứ” hắn chỉ cười, không mặc cảm. Thế nên khi cô gái bưng nước ra, hắn bảo cô:

– Bác nầy nói con giống bác (là hắn). Con có biết, con giống ba con hay mẹ con?

Cô gái cười tự nhiên:

– Mẹ con nói con giống mẹ.

– Nhưng con cũng có phần giống bác. Vậy thì con làm con gái của bác được rồi.

Cô gái chỉ “dạ” mà không nói gì. Chúng tôi uống vội vã để lên đường. Lúc trả tiền, hắn đưa tờ bạc quá

lớn, cô không đủ tiền thối nên gọi mẹ:

– Mẹ ra thối tiền dùm con, con không có tiền lẻ. Để cháu đó, con ru.

Cô đi vô nhà trong với tờ bạc. Hai người chuyện trò một lát rồi chị đàn bà đi ra với nắm bạc trên tay. Tôi đẩy xe ra đường nổ máy chờ thằng bạn lấy tiền thối. Sau khi hắn ngồi lên yên sau, tôi rồ ga, cho xe chạy tới.

Bỗng tôi nghe tiếng chị đàn bà thảng thốt kêu:

– Anh Thứ, anh Thứ!

Hắn cũng kêu:

– Ngừng lại, ngừng lại!

Tôi ngừng xe, quay nhìn, thấy chị đàn bà đứng sửng như trời trồng, mặt tái mét. Hắn đi như chạy vừa nói với chị ta:

– Hồng, Hồng! Anh là Thứ đây!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment