Lâm Chương
Post by Sơn râu 10 May 2026




Má tôi mất, dể lại một khoảng trống lớn trong nhà. Nhìn vật gì, tôi cũng liên tưỡng đến má. Hình bóng má tôi vẫn chập chờn đâu đây. Phía sau ót, đầu tôi bị lép một bên, Má tôi nói, hồi tôi còn bú, hay nằm nghiêng gối đầu lên cánh tay má. Lúc đó, xương sọ tôi còn mềm nên đầu bị lép. Mỗi khi sờ lên chỗ lép, tôi nhớ má tôi. Cùng với nỗi tiếc thương mất mát, tôi thấy căn nhà bỗng rộng ra, trống trải lạ lùng. Vậy mà trước kia, khi còn má, tôi không thấy được điều này. Thiếu má, tôi mới cảm thấy trên đời cần thiết có một người mẹ biết bao. Ba tôi vốn ít nói. Từ ngày má tôi mất, ông càng khép kín hơn. Tôi không hiểu ba tôi. Giữa ông và tôi có một khoảng cách. Khoảng cách đo bằng sự im lặng. Rồi ba tôi di thêm bước nữa, với người đàn bà khác. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Tôi hy vọng sẽ tìm được hơi ấm khi nép mình nương tựa bên bóng dáng của người đàn bà thay thế má tôi. Nhưng dì cũng là người ít nói. Ít nói đến ghẻ lạnh. Trước sau, dì vẫn là người dưng nước lã. Tôi không thương, cũng không ghét dì. Ngày trước, ba tôi răn dạy con cái bằng roi vọt. Bây giờ, ông bảo dạy dỗ nặng tay với tụi bây, thì miệng đời kêu rêu ác độc. Tôi có lỗi, ông chỉ trừng mắt ném cho tội cái nhìn sắc lạnh, làm tôi rét tận xương, đồng thời hồn tôi rát bỏng còn hơn cả đòn roi. Sợi dây ràng buộc gia đình lỏng lẽo đến nỗi tôi nghĩ, nếu đi xa cũng không làm tôi thương nhớ.
Cuối năm tiểu học, tôi lên tỉnh học trung học, ở nhà trọ. Tôi mang dáng dấp của đứa học trò miền quê. Tôi không mặc cảm. Chính tôi cũng không hề muốn thay da đổi lốt. Tôi sống tự nhiên với những thói quen dã có ở quê nhà. Mỗi ngày, tôi vẫn cắp sách đến trường. Hay ngáp trong giờ học. Cố gắng theo dõi bài giảng một cách khó khăn. Gần ba năm kiên nhẫn, tôi khám phá ra rằng tôi đần độn hơn những đứa bạn cùng lớp. Và tôi cũng biết, tôi không có năng khiếu về bất cứ môn học nào. Những bài học khô khan làm tôi chán ngán. Tôi thường la cà đi chơi, hoặc nằm dài đọc sách. Tôi chỉ đọc loại sách nào tôi thích. Đọc truyện phiêu lưu đường rừng, yêu cảnh sắc thiên nhiên. Mơ ước thực hiện những chuyến đi dài. Đường phố lao xao của tỉnh thành, không thích hợp với tôi. Tôi lớn lên từ đồng nội. Gần gũi với những luống cày, gốc rạ. Quen nghc chim kêu, dế gáy, tiếng côn trùng trong bờ lau, bụi dứa. Bạn thiết của tôi là những đứa chăn trâu, chăn bò. Những đứa này không có trong lớp học. Tôi yêu mến kẻ chân lấm tay bùn, muốn cận kề bên những nông dân chất phác, hòa mình sống với thiên nhiên. Vì thế, tội hay nghỉ học. Càng về sau, càng nghỉ học nhiều hơn. Thầy hiệu trường gọi ba toi lên văn phòng. Trước mặt hai người ấy, tôi hứa những điều không muốn hứa. Rồi cũng khộng giữ được lời hứa của mình. Tôi lại nghêu ngao ngoài đồng ruộng. Và cái hậu quả là ôm gói đi luôn.
Đó là năm tôi mười sáu tuổi.

Chiều xuống rất chậm. Màu chiều thê thiết đổ vàng trên sân đình. Mông lung, huyền hoặc. Hồn tôi lơ ngớ buồn bã nơi chân trời viễn mộng đâu đâu. Trong khoảnh khắc, thời gian như dừng lại và cảnh vật im lìm như bức tranh bất động. Từ sau đình, người đàn ông vác củi thông gỗ đi qua. khuấy rộn cả không gian yên tĩnh.
Thấy tôi vẫn còn đó, ông hỏi: “Mày tính ngủ ở đây thiệt hả? Coi chừng có ma.”
Tôi hỏi lại: “Ông có ngủ ở đây không?”
“Ai dám? Ngủ để con ma nó khiêng đi à?” Ông đi luôn ra cổng.
Hai lần ông bảo, coi chừng có ma. Tôi biết ông ta dọa vì không muốn tôi ngủ ở đình, Biết thế, nhưng vẫn sợ. Sự sợ hãi một hình bóng hoang tưởng, bao giờ cũng khác thường rùng rợn.
Người đàn ông đi khỏi, tôi cũng có ngay một quyết định, đi xa. Chả lẽ cứ lẩn quẩn nơi xó đình này, mà sống được sao?
Tôi đi lên bến xe. Mua ổ bánh mì, ngồi xe đò di Sài Gòn. Tôi ăn bánh mì, ngủ gật trên đoạn đường dài sáu mươi cây số, từ quê tôi đến Sài Gòn. Mấy năm trước. Ba tôi chơi bài, thắng lớn. Ông dẫn tôi đi Sài Gòn, mua cho quần áo mới và đôi giày hàm ếch. Ông đưa tôi di dạo nhiều nơi. Nơi nào cũng đèn điện sáng rực, tôi không biết đâu là đâu. Quần áo mới và đôi giây hàm ếch, chỉ dùng được một lần vào dịp Tết, rồi cất lại trong tủ. Thời gian sau, tất cả đều chật. Lâu lâu, lấy ra ngắm nghía săm soi món đồ kỷ niệm. Bây giờ, tôi đi Sài Gòn một mình. Thành phố lớn quá. Người ta đông quá. Ai cũng là người lạ và khôn lanh quá. Tất cả đều làm tôi sợ. Cái sợ của một dứa nhà quê, ngờ nghệch trước sự ồn ào tấp nập. Tôi tự hỏi, không biết người ta làm gì mà ngày đêm lúc nào cũng ngược xuôi tất bật trên đường phố? Bến xe Sài Gòn, Tây Ninh nằm kề ga xe lửa. Chếch phía bên kia là chợ Bến Thành Tôi không dám đi đâu xa. Ngày, quanh quẩn khu chợ Bến Thành. Đêm, ngủ trên băng ghế dài, trong phòng đợi ở nhà ga. Đói, ăn bánh mì với đường. Khát, uống nước máy công cộng. Số tiền trong túi vơi dần. Tôi lo sợ những ngày sắp tới. Sống vất vưỡng ngoài đời không dễ dàng như tôi tưởng. Về ư? Tôi không nghĩ sẽ quay về. Tôi như con diều đứt dây, chấp nhận sa xuống ở một nơi nào xa lạ, chứ nhất định không sa xuống ở nơi mà từ đó đã bay đi. Chiều chiều, tôi thường đứng trước nhà ga, nhìn những cuộc đưa tiễn chia ly. Tình huống nào rồi có lúc cũng phải chia ly. Đời người là một chuỗi dài những đưa tiễn chịa ly. Lòng tôi buồn vời vợi. Rồi một chiều, tôi thấy một cụ già xách hai cái va li nặng. Cụ đi không người đưa tiễn. Tôi đỡ tay với cụ và hỏi: “Xe lửa này chạy về đâu?”
Cụ nói giọng trọ tre khó nghe: “Tầu suột Huệ.”
Tôi hỏi: “Tàu đâu?”
Cụ chỉ vào sân ga: “Trong tê.”
Tôi chợt hiểu. Cụ gọi xe lữa là tàu. Đối với tôi, thứ nào chạy trên mặt đấi là xe, dưới nước là tàu, trên không là máy bay. Huế mơ hồ ở góc biển chân trời nào, tôi không biết. Qua sách vở, tôi nghĩ Huế với thành vua cung diện lâu ngày hoang phế. Thời gian phủ lên triều xưa một lớp bụi mờ mờ u ẩn. Sông Hương núi Ngự mơ màng như tranh vẽ. Những con vua cháu chúa, dù đã hết thời, cũng không làm gì cực nhọc động đến tay chân. Đàn bà con gái Huế toàn là những thục nữ vô cùng yểu điệu. Các cụ người Huế để móng tay dài, làm thơ vịnh nguyệt, bình luận văn chương ở Phú Vân Lâu. Trong tâm tưởng của tôi, Huế như một hoài niệm chiêm bao. Cụ gia tôi gặp chiều nay, mặc âu phục bình thường. Tôi nghĩ cụ không là người Huế. Người Huế ai lại vất vã xách cái va li nặng nề như hàng dân dã? Chắc cụ là người ở nơi khác đi Huế mà thôi. Tôi cũng quyết dịnh đi Huế. Ở đây, Sài Gòn tôi không quen với ai. Không có gì lưu luyến giữ lại chân tôi. Nơi nào rồi cũng thế, cũng vẫn là người dưng. Đi xa, may ra xứ Huế với những tấm lòng độ lượng của con cháu hoàng triều, tôi còn có chỗ dung thân. Tôi nghĩ được cách đi Huế, khỏi mua vé xe lữa. Phải tiết kiệm tối đa. Chỉ mấy ngày lang thang bụi đời, tôi hiểu được giá trị của đồng tiền. Không thể phung phí khi có thể tránh được tốn hao. Tôi mang cái va li theo cụ già qua cửa soát vé, như một người thân đưa tiễn. Vào sân ga, cụ cho tôi một đồng. Tôi lắc đầu, không lấy. Tưởng tôi chê ít, cụ thêm một đồng nữa. Số tiền đủ mua một ổ bánh mì, tại sao từ chối? Tôi đưa hai tay đỡ lấy số tiền, miệng lí nhí nói lời cám ơn. Lần đầu tiên trong đời, tôi làm ra hai đồng bằng công sức của mình. Cụ già cười nói điều gì đó, tôi không hiểu, Giọng cụ có quá nhiều âm dấu nặng và những tiếng lạ đời mô tê răng rựa. Cụ lên toa. Tôi quay đi, chen chân lên một toa khác. Hai bên hông xe lữa là hai hàng băng ghế dài, hàng hóa chất ngổn ngang ở giữa.
Bẩy giờ năm phút, xe lừa khởi hành. Tôi nhìn qua cửa sổ, thành phố lên đền sáng trưng. Nhà nhà san sát, tiếp nối chạy giật lùi, Sài Gòn phồn tạp ồn ào. Nếu ở lại đây, tôi sẽ bị cuốn mất trong dòng cuồng lưu hỗn độn. Tôi đang ra khỏi thành phố. Ngờ ngợ cảm giác như bị đuổi xua, trốn chay. Về khuya. Đèn vàng vọt trong toa như vàng thêm. Hành khách mỏi mê, ngã nghiêng ngũ gục. Bên ngoài, cảnh vật mờ mờ. Tôi chập chờn thiếp đi. Bồng bềnh nửa thực nửa hư. Cảm tưởng như xe đang lao vào cõi đêm sâu hun hút của thời gian vô cùng tận. Không biết thời gian dã qua bao lâu. Có ai đó, lay tôi dậy.
Người dàn ông mặc đồ trắng, đội kết trắng, một tay cầm đèn pin, một tay chìa ra trước mặt tôi, hỏi một tiếng cộc lốc:
“Vé?”
Tưởng lọt qua cửa nhà ga là ăn gian được cái vé. Ai ngờ. trên dường đi còn kiểm soát.
Tôi ấp úng: “Tôi chưa mua vé. Tôi nghĩ lên xe rồi trả tiền như đi xe hơi.”
“Thằng xạo! Mày muốn gì?”
“Tôi muốn mua vé.”
“Mày giỡn mặt với tao hả?” Muốn mua vé phạt không?”
Tôi lễ phép một cách thảm não: “Da thưa, không.”
“Mày đi đâu?”
“Đến chỗ nào cuối đường xe lửa.”
“Đi Huế hả? Không được. Đọan đường này, tao tha. Sáng mai, tới ga Nha Trang mày phải xuống. Muốn đi Huế thì mua vé đi tiếp tục.”
Tôi nói: “Dạ.”
Ông ta chuyển hướng ngọn đèn pin qua người khác. Tôi thoát được một đoạn đường khỏi mua vé. Kinh nghiệm này cho tôi biết rằng, tạo bộ mặt thảm não sẽ có lợi hơn là bộ mặt bình thường, Bộ mặt bình thường của tôi vốn đã thảm não, chỉ cần cộng thêm giọng nói buồn rầu và cử chỉ yếu ớt là có thể gợi được lòng thương hại của người khác.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.