Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 9 May 2026

Tặng các bạn Biên, Châu, Túc, Đính.

Theo thông lệ, sáng Mồng Một Tết, quân, cán,  chính, tập họp trước quận đường làm lễ chào cờ đầu năm. Tay trưởng ban thông tin, từ sáng sớm, đã đem máy phóng thanh đến, lui cui cùng với mấy người cán bộ thử tới, thử lui, cứ nghe rột rẹt, rột rẹt, rồi tiếng đếm thử máy một, hai, ba … một, hai, ba … thỉnh thoảng cái máy bỗng hú lên điếc óc … Tôi ngồi ở văn phòng nhìn qua cửa sổ, bầu trời vẫn u ám, mưa lất phất nhưng ít gió nên không lạnh lắm. Quận Quảng Điền, thuộc tỉnh Thừa Thiên, nơi tôi đang làm việc, nằm gằn chợ Sịa. Từ cố đô Huế theo quốc lộ 1, đi về hướng Bắc độ mươi cây số, qua khỏi cầu An Lỗ, quẹo phải trên một con lộ nhỏ chừng mười lăm phút là đến quận đường. Đó là nói đi xe gắn máy hay công xa chứ đi xe đò thì phải ba tiếng đồng hồ trên quãng đường chừng hai mươi cây số. Nhớ ngày đầu ra quận nhận việc, từ sáng sớm, tôi đón xe đò Huế-Sịa, đến quận vừa đúng ngọ! Những chiếc xe đò gốc quân xa thời pháp thuộc, đã chậm mà dọc đường còn lên xuống khách đi buôn rau quả, cá, mắm … Quận đường là tòa nhà xây theo hình chữ công. Bên phải quận đưòng là bộ chỉ huy chi khu, lo việc quân sự, bên trái là cơ quan cảnh sát, phụ trách trị an trong quận.

Chung quanh có hàng rào kẽm gai đầy mìn bẫy với công sự bố phòng, giao thông hào. Về mùa nắng, cỏ trên đồi hay bốc cháy bất ngờ, nếu không dập kịp, cháy lan vào hàng rào phòng thủ, mìn gài sẵn sẽ nổ vang trời. Quận đường xây mặt ra lộ, bên kia lộ là bãi tha ma. Chiến tranh càng căng, bãi tha ma càng bành trướng, xâm lấn cả khuôn viên một trường trung học gần đấy. Trước văn  phòng quận, dưới chân cột cờ, có tượng một con bò bằngđá xanh, to cỡ con bò thật, nằm hướng đầu về phía bãi tha ma, nghe nói để yểm trừ oan hồn uổng tử ngoài kia không quấy phá quận. Có lẽ đó là tượng thờ của người Chiêm Thành mà dân làng Bác Vọng, xã Quảng Phú đào đất, bắt gặp, đem đến. Thời chúa Nguyễn mới vào Thuận Hóa trấn thủ, có đặt hành trạm tại Bác Vọng, sau thiên di về Huế …

Trong lúc tôi suy nghĩ vẫn vơ thì ngoài sân đã lác đác vài sĩ quan đang tụ tập chuyện trò, phía hành chánh có nhân viên quận, cán bộ các ban ngành, cảnh sát quốc gia … Rồi một tiểu đội nghĩa quân bồng súng tiến ra, đó là toán hầu kỳ, đi trước là một quân nhân tay bưng lá quốc kỳ. Tiểu đội đến trước cột cờ, dừng lại ở thế

nghiêm, hai quân nhân tiến lên, buộc cờ vào dây, đứng yên lặng. Mọi người ngưng chuyện trò, về vị trí của mình. Từ bên chi khu, đại úy Châu, chi khu phó, đến, tôi, phó quận hành chánh, cũng sửa lại quần áo, bước xuống thềm văn phòng, đến bắt tay đại úy Châu rồi cùng tiến đến chỗ hành lễ, đứng trước hàng quân cán chính. Không khí như ngưng đọng hẳn. Thiếu Tá Biên, quận trưởng, quân phục thẳng nếp, từ văn phòng xuất hiện. Trung úy Đính, trưởng ban ba, tiến đến trước toán hầu kỳ, hô lớn “Chú ý! Thao diễn .. nghỉ. Nghiêm!… Súng chào, bắt” Toán nghĩa quân bắt súng chào. Tiếng quai súng đập vào báng súng nghe “rốp” đều một tiếng. Thiếu tá Biên, đứng nghiêm chào toán hầu kỳ rồi quay người về phía cột cờ. Trung Úy Đính lại hô “Đem súng .. xuống. Thao diễn … nghỉ. Nghiêm!… Súng chào … bắt!

Thượng Quốc Kỳ! Quốc Ca” Tiếng “rốp” lại nhịp đều rồi yên lặng. Đằng góc văn phòng quận, anh trưởng ban thông tin mở bản quốc ca “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống … ” Hai quân nhân từ từ kéo lá cờ nền vàng ba sọc đỏ lên, những người khác lẩm nhẩm hát theo. Bài hát vừa dứt thì lá quốc kỳ vừa đến đỉnh cột cờ. Trung úy Đính lại hô “Đem súng, xuống. Thao diễn, nghỉ!

Nghiêm!” Thiếu tá Biên nói “Nhân danh quận trưởng tôi chúc mừng dân, quân, cán, chính, một năm mới an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý.” Tôi tiến lên một bước nói lớn “Thay mặt dân, quân, cán, chính trong quận, tôi cám ơn thiếu tá và kính chúc thiếu tá và quí quyến một năm mới sức khỏe, nhiều may mắn, vạn sự như y.” Thiếu tá Biên nói “Cám ơn” đến bắt tay tôi và đại úy Châu. Buổi lễ chào cờ đầu năm ở quận coi như chấm dứt. Trung úy Đính lại hô khẩu lệnh, hướng toán quân trở về chi khu. Thiếu tá Biên đi trước, đến tôi, phía sau là đại úy Châu, lần lượt đến bắt tay từng người dự lễ “Chúc mừng năm mới!” và được đáp lại “Chúc mừng năm mới!” … Mọi người lần lượt lên xe gắn máy về đón Xuân với gia đình, chỉ còn lại ban chỉ huy chi khu, phó quận, trưởng các ban ngành. Thiếu tá quận trưởng mời tất cả lên xe xuống chợ Sịa điểm tâm. Chợ Sịa, xưa kia còn gọi là chợ Ngũ Xã, trước chiến tranh sầm uất, nay buôn bán cầm chừng. Chợ thôn quê, sang lắm cũng chỉ bún giò, cháo lòng. Điểm tâm xong chúng tôi phân công đi về các xã. Thiếu tá Biên, tôi và đại úy Túc, chỉ huy trưởng cảnh sát thăm cán bộ xã ấp. Đại úy Châu và các sĩ quan thăm các trung đội nghĩa quân, các tiền đồn.

Thiếu tá Biên bảo:

– Năm nay xuất hành hướng Đông hoặc Đông Bắc sẽ phát tài, mình đi ngã nầy, ra xã Quảng Lợi.

Tôi bảo:

– Vậy thì thấy chỗ nào bọn trẻ chơi bầu cua, mình nhào vô kiếm ăn.

Nói cho vui thôi, Tết ở vùng quê nghèo khó, trẻ con đâu có biết đến món xa xỉ đó. Tết nhất, cầu cho được no bụng đã là quí, ăn thịt, cá hay áo quần mới, chỉ là giấc mơ. Chiếc xe jeep chạy trên con đường gập ghềnh, hướng về phá Tam Giang “Thương em anh cũng muốn vô … ” rồi quẹo trái. Một bên là ruộng còn trơ gốc rạ, một bên là bờ phá, mưa bụi mịt mù, không thấy bờ bên kia. Xe chạy qua mấy xóm vắng. Những ngôi nhà tranh lẻ loi nép dưới tàng cây cằn cỗi. Con đường nầy, nếu đi tiếp năm, bảy cây số nữa sẽ đến quận Phong Điền, nhưng nơi giáp ranh hai quận là vùng không được an ninh, ban đêm địch thường mò về quấy phá. Ruộng vườn dầy đặc mìn và bom đạn chưa nổ, có vãn hồi an ninh cũng chẳng ai dám bước xuống cày cấy. Chúng tôi tạt vào một ấp có trụ sở xã Quảng Lợi. Các cán bộ, viên chức xã ấp đang uống trà, hút thuốc, chuyện vãn. Thấy xe quận, mọi người vui vẻ ra chào, bắt tay, chúc Tết. Đây là dịp họp mặt ngoài công vụ, ai cũng trút bỏ vẻ nghiêm trang của chính quyền, chỉ còn lại thân tình trên nụ cười cùng những lời bông đùa như trong một gia đình. Trong ấp chẳng thấy một chút gì của Tết nhất cả. Mấy đứa bé lem luốc chơi đùa tha thẩn trước cửa, bên cạnh con chó nằm ngủ. Tiếng một con gà gáy đâu đây, rồi tiếng người già la mắng trẻ con … chỉ có thế. Người lớn vẫn phải đi làm. Mùa Đông đã đi qua, trời đã bớt lạnh, ai cũng phải lo làm đất gieo mạ hoặc cuốc đất trồng khoai, sắn … Chuyện vãn một lúc, thiếu tá Biên nói:

– Bây giờ mình đi thăm đồng bào. Ở đây có gia đình nào nghèo khó, neo đơn nhất?

Ông xã trưởng nói:

– Nếu thiếu tá bỏ chữ nhất thì mình đi cả ngày không hết. Hạng nghèo nhất cũng nhiều. Để tôi đưa thiếu tá với ông phó (quận) thăm bà già nầy. Chúng tôi ra khỏi ấp, tiến về phía rừng cây. Ngay bìa rừng là một mái tranh nhỏ, mới nhìn tưởng cái chuồng heo. Tôi hỏi:

– Sao lại để bà già nầy sống lẻ loi ngoài bìa rừng, đáng lẽ phải ở trong ấp cho bà con tiện thăm nom, săn sóc.

Ông xã trưởng nói:

– Bà nầy thì ông quận rành lắm, bả bắt cất cái chòi cho bả ngoài bìa rừng, tối đến thằng con ra kiếm ăn.

Trước đây, bả hay vô chợ Sịa xin ăn, đợt lạnh rồi bả bịnh, đi không nổi, nằm trùm chiếu. Lúc đầu rên hù hụ, sau thở không nổi, mấy đứa cháu thường ra săn sóc. Ông quận có cho cán bộ y tế ra chích thuốc hoài, nhưng bả yếu quá, sợ qua không khỏi.

– Chồng con đâu?

– Chồng chết lâu rồi, có thằng con trai, theo Việt Cộng …

Chuyện trò đến đấy thì phái đoàn cũng vừa đến cái chòi tranh. Trong chòi tối om, lặng trơ. Trên một cái chõng tre, lờ mờ một người đắp chiếu nằm im lìm. Một cái ghế bên cạnh, trên để tô cơm với con cá khô nướng gác lên trên. Ba người chui vào đã chật cứng, lại phải cúi xuống mới khỏi va đầu vào mái chòi. Đại úy Túc và các người khác phải tránh xa cửa chính mới đủ ánh sáng bên trong. Ông xã trưởng kéo mép chiếu ra:

– Mệ dậy chưa? Có ông quận đến thăm.

Người đàn bà trở mình nhưng vẫn nhắm mắt:

– Ai rứa?

– Ông quận, mệ biết ông quận không?

– Biết, ông quận cho tiền.

Tôi nhớ lại, mỗi khi đi chung xe, ngang qua chùa, tay quận trưởng thường hay dừng lại, móc túi cho tiền một bà già ngồi đấy.

– Mệ dậy ăn cơm.

Người đàn bà không già lắm nhưng quá gầy yếu, hai má tóp lại, mắt thụt sâu vào hốc mắt. Có lẽ bị chói nên bà ta chỉ hé mắt nhìn mọi người.

– Mệ dậy ăn cơm, có ngồi nổi không? Hay là ăn cháo, tôi biểu chúng nấu.

Bà ta xoay nhìn tô cơm, hỏi nhỏ: Cơm còn?

– Cơm còn đây, dậy ăn.

Nghe nói cơm còn, bà nhắm mắt lại, nằm im. Ông xã trưởng lại phải nói lớn, sợ bà ta lãng tai không nghe rõ:

– Mệ ăn cơm đi, chiều ni sẽ có cơm khác. Để lâu cơm thiu, ăn bịnh chết. Ông ta giải thích với tôi: “Lúc còn mạnh, bà ta vô Sịa xin cơm. Người ta cho, không chịu ăn, đem về để đó cho thằng con khuya về ăn, nếu nó không về thì sáng ra bà ta ăn một ít, còn đem phơi, cất kỹ, rồi lại vô Sịa xin tiếp, bây giờ bịnh, cũng bắt nấu cơm để đó.

– Mình không phục kích nó sao?

– Thì mục đích cho bả ở ngoài nầy để rình thằng nhỏ về nên thường cho nghĩa quân phục kích quanh nhà ban đêm. Nhưng bên nầy với bên kia đều là bà con, anh em, họ hàng, dây mơ rễ má với nhau. Tụi nó thấy nhưng làm lơ, ai biết được! Nhờ vậy mà thằng nhỏ thường về với mẹ.

Thiếu tá Biên cúi xuống nói vào tai bà ta:

– Lâu nay không thấy mệ ngồi trước chùa nên tôi đến thăm. Năm mới chúc mệ mau lành bịnh.

Bà ta cố gắng nói, giọng run run:

– Cám ơn ông quận. Tôi yếu quá rồi, sắp chết rồi, e không nhắm mắt!

– Chết thì phải nhắm mắt chứ. Bây chừ mệ ưng chi?

Gạo cơm, mắm muối hay thuốc men?

– Cám ơn, chỉ ưng cái hòm.

– Rứa là biết rồi đó. Ít bữa nữa sẽ có cái hòm để dưới giường, cho mệ yên tâm nhắm mắt.

– Chưa nhắm mắt mô!

– Ủa, chớ mệ đòi cái chi nữa?

Bà già nằm yên, không trả lời, ông xã trưởng nói:

– Bả muốn gặp thằng con trước khi nhắm mắt. Chưa gặp thì chưa nhắm mắt. Bữa trước, nghe bả sốt, mê

sảng, tôi ra xem, bả thấy tôi cứ đòi trả thằng con cho bả. Ông y tá ra, bả bắt ăn cơm, không ăn, bả khóc. Khi tỉnh khi mê. Chừ có ý đòi ông quận thằng con.

Thiếu tá Biên nói vào tai bà ta:

– Thằng con mệ là lính phía bên kia, không phải lính của tôi, nhưng không răng mô, cứ nhắn hắn về với mệ, quận không cho phục kích hắn mô. Bà ta hé mắt nhìn nhưng không nói gì. Tôi cũng cúi xuống nói:

– Mệ yên tâm, có cái hòm rồi, ngày mệ mất, sẽ có thầy đến tụng kinh cho mệ siêu thoát. Sẽ có gạo, thịt để làm cơm cúng mệ, để bà con ăn uống lo đám cho mệ.

Bà ta, có lẽ nghe rõ, nhưng chỉ hé mắt nhìn rồi nhắm lại. Sau khi khuyên nhủ bà ta cố gắng ăn uống để sống mà gặp thằng con, phái đoàn chui ra khỏi cái chòi. Thiếu tá Biên dặn ông xã trưởng nói với bà con trong ấp, có ai liên lạc được với thằng nhỏ thì biểu nó về thăm mẹ bịnh nặng, sắp chết, quận không phục kích nó đâu, còn cái hòm thì vào trong xóm nói ông thợ mộc đóng một cái chở đến bỏ trong chòi cho bà già rồi lên quận lấy tiền trả. Tôi cũng dặn ông xã trưởng chuẩn bị mua ít gạo và ít vật thực, xong ghé tôi thanh toán đừng đưa vô ông quận. Thiếu tá Biên cười bảo tôi:

– Ông phó thấy tôi nói có linh ứng không? Xuất hành hướng nầy phát tài.

– Công nhận ông tài thực, nhưng mà phát ra!

Trên đường đi, ông ta chép miệng:

– Đánh đấm kiểu nầy, chắc mình thua quá. Bên kia thì lấy hận thù, chém giết làm động cơ, làm phương tiện, còn mình thì … Nhưng mà bả đâu có tội tình gì. Bả cũng chỉ là một bà mẹ, như mẹ mình …

Tôi ở Sài Gòn, hàng xóm có ông thiếu tá quân đội, có nuôi thằng cháu, nó là Việt Cộng, cảnh sát đến bắt, ông thiếu tá không cho bắt, chán không?!

Hôm Mồng Bốn Tết, quận làm việc lại, ông xã trưởng lên báo cáo:

– Hòm đã đóng xong, đặt ngay dưới giường của bà già. Bả nghe nói có gạo, cứ hỏi mãi, tôi phải mua về bỏ luôn vô hòm cho chuột bọ khỏi phá. Ý bả muốn thằng con về lấy gạo nên tôi phải vô hai bao cát (Loại bao bằng vải hay nhựa dùng đựng cát làm công sự chống đạn) hy vọng thằng con về đem đi một bao cho mẹ vui lòng. Tôi móc tiền trả lại ông xã trưởng. Cũng chẳng bao nhiêu, như rủ bạn đi điểm tâm buổi sáng.

Việc giúp đỡ coi như xong, chúng tôi không quan tâm đến nữa. Cho đến gần một tháng sau, nhân một  buổi họp cán bộ xã, ấp, chợt nhớ lại tôi hỏi ông xã trưởng:

– Bà già có thằng con theo Việt Cộng khỏe không?

– Bả chết rồi, ông phó.

– Chết có nhắm mắt không?

– Nhắm chứ! Thằng con có về thăm.

– Sao ông biết?

– Thằng nhỏ ăn tô cơm bả để phần như mọi khi, hắn lấy theo bao gạo.

Tôi cười bảo:

” – Cũng nên cám ơn nó, về vuốt mắt cho mẹ, nếu không, bả cứ sống dở, chết dở, tội thân bả.

Ông xã trưởng còn nói:

– Tôi đoán khuya đó, hắn đi, về ít ra cũng vài bận.

– Sao ông biết tài thế?

– Sáng bữa đó, con cháu bả ra thăm rồi chạy vào báo, bả đã chết, tôi ra xem, thấy có cái mền, rách bươm,

đắp xác bả, trên phủ chiếc chiếu. Có lẽ thằng con về, thấy thế, chạy lại vô rừng lấy cái mền ra đắp cho mẹ.

Thằng nhỏ ở lại với mẹ đến gần sáng mới đi.

– Vụ nầy thì khó tin ông quá!

– Thiệt mà ông phó! Có người đi làm sớm, thấy hắn thất thểu đi vô rừng …


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment