Trang Châu & Y Sỹ Tiền Tuyến

Nguyễn & Bạn Hữu

September 21st, 2019

Trang Châu tên thật Lê Văn Châu, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 tại Huế. Thuở nhỏ theo học tại các trường Pellerin, Thiên Hựu (Huế), Yersin (Đà Lạt). Tốt nghiệp Y khoa năm 1966. Là bác sĩ quân y, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù, kể từ 1966 đến năm 1971. Lập gia đình cùng bà Hoàng Kim Uyên (ái nữ của nhà thơ Hoàng Trọng Thược, á hậu Việt Nam năm 1966) và có hai con trai. Trước 1975, Trang Châu cộng tác với các tạp chí: Tiền Phong, Khởi Hành, Văn Học,… Tỵ nạn tại Montréal Canada từ năm 1977, hiện hành nghề tại phòng mạch tư. Tiếp tục sáng tác, nhưng ít gởi bài đăng báo. Tháng 6 năm 1987, được bầu làm chủ tịch Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Canada, trung tâm Quebéc. Tác phẩm đã xuất bản: Tình Một Thuở (1964), Y Sĩ Tiền Tuyến (bút ký, 1970). Tập bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến từng đoạt giải thưởng văn học của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa.

Trả lời phỏng vấn của Châu Hải Châu trên trang web Vuông Chiếu của Luân Hoán, Trang Châu cho biết ông làm thơ trước khi viết văn. Ông nói:

“…Ðộc giả biết tôi về thơ trong một trường hợp hạn hẹp. Ðộc giả của thơ tôi lúc ấy là nam nữ sinh viên các trường đại học và đặc biệt hai trường Gia Long và Trưng Vương. Lý do là lúc đó sinh viên Y Khoa Sài Gòn cho xuất bản nguyệt san Tình Thương, tờ báo duy nhất của sinh viên được bày bán tại các sạp báo. Tôi làm thư ký tòa soạn cho tờ Tình Thương trong 3 năm đầu. Sau khi tôi ra trường, tờ báo sống đến gần hết năm thứ tư thì bị đóng cửa vào năm 1966 vì lý do chính trị. Dạo ấy tôi làm toàn thơ tình cảm. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại vài cựu nữ sinh Trưng Vương, Gia Long còn thuộc lòng những bài thơ ngắn của tôi làm thời đó, làm tôi ngạc nhiên một cách thích thú…”

Về bút ký “Y Sĩ Tiền Tuyến”, Trang Châu cho biết tác phẩm Y Sĩ  Tiền Tuyến trải qua nhiều giai đoạn trước khi hoàn thành.

“…Thật tình tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ viết văn cả. Vào năm thứ 6 Y khoa, tôi ghi tên học Nhảy Dù. Học lấy bằng xong, anh em trong tòa soạn Tình Thương bảo viết lại diễn tiến của khóa dù vì nghe tôi kể lại thấy hấp dẫn. Và bài ‘Khóa 68 Nhảy Dù’ trong cuốn YSTT là đoản văn đầu tiên tôi viết.

“Về Nhảy Dù một thời gian, tôi viết về cuộc hành quân đầu tiên tôi tham dự với tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, đăng ở Tình Thương với nhan đề Thử Lửa. Lúc bấy giờ sư đoàn dù cho ra tờ Mũ Ðỏ, cho đăng lại bài này. Sau đó tôi rời tiểu đoàn 6 Nhảy Dù về làm Y sĩ trưởng tiểu đoàn 3 Nhảy Dù. Tiểu đoàn đóng quân ở ven đô, tôi tình cờ nghe đài Phát Thanh Quân Ðội loan tin cuộc thi bút ký chiến đấu, do tờ Tiền Phong (báo của quân lực VNCH) tổ chức và vì rảnh rỗi không biết làm gì ngoài việc khám bệnh cho binh sĩ, tôi viết bài gởi dự thi. Ðó là bài Ðường Ra Bến Hải. Bài được chấm giải nhất. Chánh chủ khảo tuyển chọn, sau này tôi mới biết là anh Nguyễn Ðạt Thịnh. Sau đó tôi rời tiểu đoàn 3 Nhảy Dù về làm việc tại bệnh viện Ðỗ Vinh ở căn cứ Hoàng Hoa Thám. Tôi viết thêm bài Hành Quân Di Dân và Một Cuộc Săn Du Kích đăng ở Văn Học và Tiền Phong. Giải Văn Học Nghệ Thuật của Ðệ nhị Cộng Hòa ra đời năm 1969, bây giờ tôi mới có ý định viết thành một cuốn sách để gởi đi dự thi. Tôi bỏ ra 5 tháng để viết phần còn lại và 1 tháng tự đánh máy. Cuốn sách được lấy tên Y Sĩ Tiền Tuyến…”

Về giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1969, Trang Châu cho biết thêm trong trả lời phỏng vấn của Châu Hải Châu trên Vuông Chiếu được Du Tử Lê trích dẫn trên Người Việt Online:

“Năm đó có 3 tác phẩm trúng giải: cuốn Má Hồng của Ðỗ Tiến Ðức, Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái. Cuốn YSTT được nhà xuất bản Ðường Sáng in năm 1970. Ðợt đầu 5000 cuốn do Nguyễn ÐìnhToàn và Nguyễn Ðạt Thịnh viết lời giới thiệu đàng sau. 3000 cuốn sau, Mai Thảo viết lời giới thiệu ở trang sau. Tôi rất thích lời giới thiệu này, tôi còn nhớ anh Mai Thảo viết:

“… Hạnh phúc và may mắn của một nhà văn mới lên đường như trường hợp Trang Châu là đi thẳng, đi ngay vào những thực tế lớn. Những thực tế nhỏ không chứng minh gì hết. Thực tế lớn bây giờ là tuyến đầu, là mặt trận, Trang Châu đã có mặt ở đó (…)

“YSTT là một tập ký, ghi nhận cảm nghĩ của một y sĩ theo chân một đơn vị Nhảy Dù hành quân. Tôi đã viết ra những điều mà nhiều người đã trải qua, nhưng không nói ra được, không tả ra được: Chiến tranh dưới cặp mắt một y sĩ. Tôi luôn luôn giữ ngòi bút trung trực. Viết về đơn vị mình, người viết thường dễ có khuynh hướng bốc thơm. Tôi đã không làm điều đó và không áp lực nào có thể bắt tôi làm điều đó…”

Tôi được tin cuốn Y Sĩ TiềnTuyến được giải thưởng một tháng trước khi Bộ Văn Hóa tuyên bố kết quả. Dạo đó, buổi chiều sau khi đi làm về tôi thay đồ xi vin ra quán Pagode ngồi uống nước với nhà văn Nguyễn Ðình Toàn. Khi gửi bản thảo Y Sĩ Tiền Tuyến đi dự thi tôi không nói với một ai. Có lẽ sợ tiết lộ ra lỡ không trúng giải thì quê!

Tôi còn nhớ hôm đó ra quán Pagode, vừa thấy tôi Nguyễn Ðình Toàn vẫy tay lia lịa kêu tôi tới bàn anh:

– Này, toa trúng giải văn học nghệ thuật rồi đấy!

Tôi mở mắt to:

– Thật không?

– Thật. Nguyễn Mạnh Côn, trong ban giám khảo nói thì làm sao sai được. Moa có hỏi vì sao giả chọn tác phẩm của toa thì giả nói vì nó “authentique.”

Tôi không bao giờ quên cái cảm giác lâng lâng khó tả trước tin mình được giải thưởng cao quý nhất lúc bấy giờ. Một tay viết tài tử với một tác phẩm còn dưới dạng bản thảo, đánh máy lèm nhèm, đã được các ông trong ban giám khảo chịu khó đọc và cho giải. Hôm tôi vào Dinh Ðộc Lập lãnh giải do chính tay Tổng Thống Thiệu trao, tôi mặc quân phục đại lễ trắng, đội mũ đỏ. Tôi muốn cho tất cả mọi người có mặt hôm đó thấy rằng, hiểu rằng xương máu, mồ hôi của quân nhân binh chủng Dù đã tạo nên tác phẩm này. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ở trong ban giám khảo, đến tặng tôi 2 câu thơ viết trên lụa mà tôi còn nhớ:

“Y Sĩ ý hỵ mà hay!

Xông pha Tiền Tuyến quản gì gió sương.”

Trên trang web Diễn Ðàn Cựu Sinh Viên Quân Y, Trang Châu tâm sự: “Bốn mươi năm sau đọc lại tác phẩm mình, những dòng chữ của một thời tuổi trẻ, một tuổi trẻ bất hạnh, lớn lên trong máu lửa của chiến tranh nhưng cũng là một tuổi trẻ mà mình đã dám chọn cho mình một cách sống, để biết thế nào là yêu nước, thế nào là tình đồng đội và thế nào là tình người”.

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

vietmessnger.com / Typing & Post by Sơn râu 26 July 2023

Chiếc trực thăng tản thương đón tôi ở sân cờ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù lúc tám giờ sáng. Trời Sài Gòn bổng dung trở lạnh vào ban mai. Tôi có dịp khoác thêm chiếc áo saut, thứ áo hoa dày cộm thời Pháp còn sót lại, ấm và người oai phong hẳn lên. Trung tá Y Sĩ Trưởng bận về Cục họp chỉ định tôi tạm thay ông vài hôm. Tôi nhận lệnh, lòng nở hoa. Thấy tôi hăm hở đi Phú Giáo, vài anh em đùa:

_ “Lấy điểm nhé…”!

Làm sao cắt nghĩa sự hăm hở của mình, như một dịp nếm thở lại mùi vị chiến trường sau hơn một năm giam chân chốn văn phòng yên ổn đến bưồn nản…? Chúng tôi rời thành phố. Gió buốt xuyên hai cánh cửa trống trát lạnh vào da mặt. Trực thăng là rất thấp, có lúc tưởng sắp chạm bờ đê. Tôi thấy những người làm ruộng ngừng tay cuốc, ngửng nhìn lên, đôi kẻ đưa tay vẫy. Người xạ thủ đại liên vẫn hướng đầu ruồi xuống những thoáng người phòng hờ mọi bất trắc. Lối bay thật thấp qua những vùng đồng trống có người là để tránh hỏa lực bắn sẽ từ dưới lên. Lâu lắm không ngồi trực thăng. Đọc báo những vụ trực thăng rớt, rớt trong thành phố, rớt ngoài vùng hành quân, tâm thần đâm nghe khớp. Tôi đã mất thói quen. Can đảm nhiều khi chỉ là thói quen.

Trực thăng bay dọc một đoạn sông Sài Gòn. Giòng nước đục loang loáng. Mặt sông rộng đến cô đơn. Tôi đọc trong lòng hai câu thơ:

“Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”

Trực thăng lên cao, âm thanh cánh quạt phầng phật đổi sang giọng rì rì… Thành phố ruộng đồng biến mất, phía dưới hiện ra màu xanh rừng rú. Cảnh rừng bất cứ ở đâu nhìn từ trên cao, nhìn dưới đất, với tôi tất cả đều quen thuộc. Hai phần ba thời gian tôi ở Tiểu Đoàn đều hành quân trong rừng. Chiến đấu trong rừng thật lẻ loi, lẻ loi cả với chiến thắng bên mình. Trực thăng nghiêng trái đổi hướng bay. Nhìn xuống tôi chú ý hằng ngàn hố bom lớn, nhỏ trắng phếu, đáy đọng nước xanh, biến vùng rừng thành một tổ ong lớn. Chắc là vùng tự do oanh kích, nơi những phi cơ chiến đấu trút bỏ số bom còn lại trước khi trở về căn cứ. Tôi nhìn xuống mãi, cảnh vật trôi đều dưới chân. Nhìn đến chóng mặt. Có lúc toàn thân nghe nhẹ hẳn đi: một sức hút quái đản nào ngoài không gian muốn bức kéo tôi ra. Có lúc thấy mình thực sự muốn đứng dậy bước vào không gian. Tôi thoát khỏi sức hút bằng một cố gắng ngoảnh mặt vào trong. Trực thăng đáp xuống một căn cứ Mỹ. Tôi đọc chữ Medevac kẻ ở một vách nhà tiền chế. Tôi hỏi người Trung Sĩ Mỹ ngồi cạnh:

_Đây là đâu?

Anh đáp:

_Tây Ninh

Tất cả quân nhân Mỹ rời trực thăng vào câu lạc bộ uống nước. Nửa giờ nữa mới bay. Một mình tôi ngồi lại. Phi đạo trước mặt ồn ào phi cơ lên xuống. Chiến trường Tây Ninh sôi động từ một năm qua. Tôi không tham dự hành quân ở mặt trận này. Nghe kể lại rất nhiều pha gây cấn, đẫm máu, nhưng tôi không thể viết gì cho Tây Ninh. Giàu tình cảm nhưng tôi nghèo tưởng tượng. Muốn nói, muốn viết tôi phải sống. Sống bảo đảm giòng chữ, lời nói không bị phá giá. Hơn một người hỏi tôi về sự thật những điều tôi viết. Tôi trả lời thật bảy mươi phần trăm. Ba mươi phần trăm kia cũng là sự thật nhưng bị đánh mất vì tôi không đủ mắt để nhìn, không đủ tâm hồn để xúc cảm, không đủ lời để diễn tả lại…

Người Trung Sĩ Mỹ mang ra mời tôi một lon Coke. Tôi hơi ngạc nhiên cử chỉ quá lễ phép, một tiếng Sir hai tiếng Sir của anh ta. Trong câu chuyện tôi vỡ lẽ anh đã nhiều lần tiếp xúc với Quân Y Dù. Anh biết Bác Sĩ Nghị mang kính ở Đại Đội 2 Quân Y, biết Bác Sĩ Tường Đại Đội 1 Quân Y vừa bị lật xe, Bác Sĩ Nhiếp có thân hình lực sĩ và nói tiếng Anh rất giỏi. Tôi đâm ra vui tính:

_Trung Sĩ biết Bác Sĩ Nhiếp có biệt danh gì không?

Người Trung Sĩ lắc đầu.

_ “Nhiếp càng cua”

Rồi tôi khuỳnh hai cánh tay bắt chước điệu bộ cấm cái của Nhiếp. Viên Trung Sĩ thích thú:

_Tôi sẽ gọi Bác Sĩ Nhiếp bằng biệt hiệu đó. Chắc ông ngạc nhiên lắm…

_Trung Sĩ đi Phước Vĩnh?

_Dạ không tôi đi Sông Bé.

Tôi định hỏi Sông Bé có phải Phước Long nhưng cảm thấy ngượng nên thôi: Ai lại đi tìm hiểu quê hương mình qua một người ngoại quốc. Tôi hỏi chệch:

_Căn cứ Mỹ ở Phước Long tên gì?

_Buttons. Lát nữa trực thăng sẽ đáp xuống đấy. Đại Úy sẽ thấy toàn bụi đỏ.

Chúng tôi quanh quẩn tìm hiểu nhau: Đại Úy phục vụ trong quân ngũ bao lâu. Đại Úy giữ chức vụ gì trong Tiểu Đoàn Quân Y, Đại Úy có gia đình chưa. Trung Sĩ sang Việt Nam được bao lâu, còn phải ở bao lâu, bên Hoa Kỳ Trung Sĩ ở tiểu bang nào. Những câu hỏi, câu trả lời lơ lửng như những cụm mây trắng lửng lơ trên nền trời trong.

Nắng lên cao nóng chiếu thân tàu. Cuốn Sélection trong tay đọc mãi không hết một câu chuyện.

_Đại Úy đọc được tiếng Pháp?

Tôi gật đầu để trả lời người Trung Sĩ rồi nói thật bâng quơ:

_Tiếng Pháp bây giờ chỉ dùng để đọc sách. Ngày trước nhiều người Việt Nam nói tiếng Pháp, cũng như bây giờ nhiều người Việt Nam nói tiếng Anh.

Tôi nghe có chút gì chua xót trong giọng nói của mình. Người Việt Nam nhược tiểu này chẳng lẽ suốt lịch sử phải nói hết tiếng nước này đến tiếng nước khác để mưu sinh sao? Tôi nghe tự ái dân tộc bị tổn thương. Giá bây giờ tôi có một cuốn sách ước: Toàn dân thế giới phải nói, phải viết, phải đọc tiếng Việt Nam. Cho hả, cho bõ thế kỷ dài làm tôi tiếng người. Với ba điều ước trên tôi thấy mình yêu nước một cách độc ác!

Trực thăng rời Tây Ninh lúc mười giờ. Chúng tôi bay qua vùng rừng dày. Nắng trên cao trong và lạnh, phía dưới vài lô đất loáng thoáng màu đỏ. Tôi ngồi co chân, dấu đầu giữa hai cánh tay khaoinh đầu gối tìm chút thiu thiu. Bao nhiêu phút trôi qua. Hai lổ tai bỗng nhưng nhức, tôi tỉnh cơn chập chờn, nhìn ra cửa. Trực thăng đang vòng thấp xuống, lướt trên những hàng cây cao su gầy xương. Tôi thấy hiện ra một hồ tắm tuyệt đẹp, nước xanh trong nhìn rõ cả đáy hồ lót men trắng. Tôi chưa kịp hỏi, người Trung Sĩ Mỹ đã nói:

_Đồn điền Quản Lợi của người Pháp.

Tôi chỉ cái hồ tắm nói:

_Hồ đẹp lắm nhưng hơi phí!

_Tại sao Đại Úy?

_Thiếu người đẹp.

Viên Trung Sĩ cười cười lập lại lời tôi:

_Thiếu người đẹp.

Trực thăng ghé căn cứ Quảng Lợi chừng năm phút. Hai quân nhân Mỹ xuống ở đây. Căn cứ tọa trên mấy ngọn đồi chóp được san bằng. Trực thăng lúc bay lên phải vượt qua các đọt cây thật nguy hiểm. Chúng tôi đến Buttons sau hai mươi phút bay. Bụi đỏ phủ lên mọi vật. Tôi đảo mắt tìm không thấy bóng một người lính Dù. Lính đồn trú giống nhau ở chổ quần áo, mặt mũi đều lem luốc. Sống lâu năm ở đây chắc có ngày phổi ngừng hô hấp vì đóng bụi. Viên Trung Sĩ Mỹ chào tôi rồi hảy cái ba lô to tướng lên vai, thình thịch bước đi.

 Từ Sông Bé về Phước Vĩnh mất thêm nửa giờ bay. Mùi ét xăng, tiếng động cơ, thời gian bay khá lâu bắt đầu làm tôi ngây ngây. Tôi vừa ghé vài căn cứ nằm sát biên giới Miên Việt, nơi đang có những dọ dẫm trắc nghiệm kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh của đôi bên”. Mặc dù đêm qua địch vừa pháo kích Phước Vĩnh, mặc dù tình hình chiến sự Phước Long nóng bỏng mặt báo, tôi vẫn ngạc nhiên trước sự bình thản của mình với chuyến đi. Tôi không cho việc lên ở cạnh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù là hành quân thật sự. Tôi sẽ xem bảy ngày trước mặt như thời gian đi đổi gió, tĩnh tâm. Căn cứ Phước Vĩnh nằm rộng trên khu đất cao. Hai bãi trực thăng, một phi trường rộn rịp C130, Caribou lên xuống. Giang sơn Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Quân Y hành quân gồm một nhà tiền chế, hai lều, một hầm trú ẩn. Điện nước đầy đủ. Chỉ còn thiếu pháo kích. Pháo kích trong ý nghĩ tôi là một cuộc xổ số…xui! Cái xui là điều không tránh được. Định mệnh. Đã chấp nhận định mệnh thì không còn gì phải lo. Cho nên khi nhìn chiếc trực thăng trúng hỏa tiển chỉ còn là một đống sắt cháy đen tôi nghĩ khôi hài: “Nó vừa trúng số độc đắc”.

Buổi cơm trưa nặng phần tường thuật của Trung Úy Minh, một Sĩ Quan hành chánh Quân Y về cuộc pháo kích đêm qua. Mười một giờ đêm từ hướng Đông địch phóng mười hỏa tiễn 122 vào căn cứ. Yên tĩnh chừng năm phút rồi thình lình từng loạt 81 ly ở phía bắc câu trúng bãi trực thăng tản thương cùng rơi dọc phi đạo. Tiếng xuất phát nghe rõ mồn một. Quả nổ ngắn, quả nổ dài. Hầm trú ẩn của Quân Y nằm giữa hai tầm ngắn dài ấy. Cách hầm không tới năm mươi thước, một thùng conex đựng dụng cụ sữa chữa quân xa bị trúng đạn bốc cháy dữ dội. Địch rót hơn bốn mươi quả 81 ly. Không yểm của căn cứ không hoạt động được hơn suốt nửa giờ đầu. Đến khi trực thăng võ trang từ Tây Ninh xuống xạ kích các vùng khả nghi, cơn pháo mới dứt. Một trực thăng tản thương bị tiêu hủy, hai chiếc hư hại nhẹ. Không có thiệt hại nhân mạng. Đây là trận pháo lớn nhất kể từ khi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù lên đóng ở Phước Vĩnh. Tôi chú ý đến chiến thuật dương đông kích tây trong lối pháo gần đây của địch. Chúng luôn luôn mở đầu bằng một loạt hỏa tiễn cốt gây chú ý để đánh lạc hướng. Đợt pháo thứ nhì bằng bích kích pháo 81 ly mới là phần chính. Đặt đối diện hoặc chéo với hướng hỏa tiễn, ở khoản cách không quá hai cây số, trận pháo 81 ly sẽ bất ngờ và khá chính xác. Trung Úy Minh nói:

_Ở dưới hầm, đều làm nhức tim không phải những tiếng nổ inh tai, mà là sự hồi hộp chờ đợi những quả đạn đang réo bổ xuống đầu… Tuy tin tưởng hầm của mình dư sức chịu 81 ly, song vẫn hồi hộp làm sao ấy..”

Cái “vẫn hồi hộp làm sao ấy” rất có lý do vì nếu tới số đạn sẽ lọt ngay miệng hầm.

Lâu lắm tôi mới có dịp ngồi nghe ông Trung Tá Y Sĩ Trưởng tâm sự: Ông sắp rời Tiểu Đoàn Quân Y Dù, nơi ông đã hơn mười hai năm phục vụ và xây dựng. Mười hai năm quả là một thời gian dài, đủ dài để đơn vị chịu ảnh hưởng sâu xa cá tính ông, đủ dài để làm ông quyến luyến đến đau xót khi rời đơn vị. Biểu tượng của truyền thống, lễ nghi. Ông là người của giày đánh bóng, đầu hớt cao, của  mũ đội đầu khi lái xe, mũ cầm tay khi vào nhà, của tay không đút túi quần khi nói chuyện với đàn bà, của những tiếp đón long trọng, những bữa tiệc chổ ngồi đúng với chức vụ, đĩa chén phải hợp với món ăn, món ăn phải hợp với người ăn. Ông có đi rồi nhưng tôi chắc tường vách bệnh viện còn đầy tiếng nói ông, tiếng nói vang từ đầu đến cuối hành lang, hét mắng từng viên đá hoa lau chưa sạch, từng cọng rác còn sót trên nền. Một trong những hãnh diện lớn của ông là bệnh viện Đỗ Vinh có những phòng vệ sinh rất vệ sinh. Ông thường nói:

_Vào nhà ai chỉ cần nhìn cầu tiêu của họ là biết người ấy như thế nào

Bệnh viện Đỗ vinh còn một đặc điểm khác: phòng mổ, phòng điều trị, phòng nhận bệnh đều rộng rãi đẹp đẽ trừ phòng y sĩ trực vửa nhỏ, vừa xấu. Một chủ ý của ông Đơn Vị Trưởng. Một Đơn Vị Trưởng tốt theo tôi là người không coi đơn vị như một công cụ, một phương tiện, trái lại là người yêu đơn vị như yêu tình nhân. Trong câu chuyện tôi vừa lạ lùng vừa cảm động, thấy ông lo lắng quá mức cho một tương lai một đơn vị ông sắp rời bỏ…

Sau bữa cơm chiều chúng tôi sang chơi Câu lạc bộ của Tiểu Đoàn 15 Quân Y Không Kỵ. Họ tiếp chúng tôi lịch sự. Tôi có tính hay cô đơn giữa những người ngọai quốc. Khung cảnh khá ấm cúng: một sòng Poker, một đài truyền hình và một cô gái ở quầy rượu. Người Mỹ không thể sống thiếu tiện nghi, cũng như không thể chiến đấu cách nào khác hơn lề lối hiện tại: kềnh càng, phung phí nhưng hữu hiệu. Tôi muốn có một quan điểm về kế hoạch thay quân. Viêt Nam hóa chiến tranh không thể thu gọn trong việc Mỹ hóa quân đội Việt Nam để tiếp thu những căn cứ Hoa Kỳ. Người lính Việt Nam dù được Mỹ hóa đến đâu cũng không thể trở thành một người lính Mỹ. Ta sẽ sa lầy nếu học đòi chiến đấu kiểu người nước bạn khổng lồ. Việt Nam hóa chiến tranh phải bao hàm ý nghĩa nắm phần lãnh đạo sách lược, một sách lược thích hợp với thế giữ dân hơn giữ đất, hợp với một quân đội biết lấy chính trị làm sức mạnh.

Có tiếng ồn áo phía bàn Poker: các Sĩ Quan đánh cá nhau về giờ địch pháo kích đêm nay. Giá đánh cá là hai mươi cents. Ai chọn giờ gần giờ địch pháo nhất sẽ được tất cả số tiền. Đêm qua địch pháo đúng mười một giờ. Thiếu Tá Vargas chọn mười hai giờ khuya. Đại Úy Jacob chọn mười một giờ, vài sĩ quan khác chọn giữa mười một và mười hai, cách nhau mười lăm phút. Trung Úy Autrey chọn sáu giờ sáng. Riêng ông Thiếu Tá già Edwards đánh cá đêm nay địch không pháo. Ông lý luận:

_Như thế tôi có năm mươi phần trăm được năm mươi phần trăm thua.

Bổng có tiếng hỏi:

_Lỡ người trúng cá bị pháo kích chết thì sao?

_Người thứ nhì gần giờ pháo ăn cá.

Người Mỹ không thiếu óc khôi hài đen. Địch lại pháo sáu hỏa tiễn 122 ly đúng mười một giờ đêm. Lọa nồ nghe khá xa, phía tây căn cứ. Tôi vừa chợp mắt. Tỉnh dậy cũng chỉ để nằm nghe ngóng. Hầm là cuối đường che chở rồi còn gì?

Ông Trung tá về cục họp. Tôi sống ba ngày yên tĩnh, ăn ngũ, bói bài. Có chiều leo lên nóc hầm nhìn quanh căn cứ. Cảnh sinh hoạt của binh sĩ Mỹ cho tôi cảm tưởng binh sĩ Mỹ đồn trú có nhiều lợi điểm hơn binh sĩ Việt Nam. Đối với quân nhân Mỹ đóng ở Phước Vĩnh hay đóng ở Đà Nẳng, Cam Ranh cũng không khác gì nhau, đâu cũng không phải là nước Mỹ. Vần đề trễ phép “nhảy dù” thăm gia đình không đặt ra. Thời gian phục vụ một năm cũng là yếu tố giúp tinh thần chịu đựng. Người Mỹ không cần chợ búa, không giao dịch nhiều, không bị lẫn lộn với người Việt nên nội tuyến rất khó khăn. Tất cả những ưu điểm trên sẽ trở nên những khó khăn nguy hiểm cho binh sĩ Việt Nam khi tiếp thu các căn cứ Mỹ.

Ông Trung Tá trở lên Phước Vĩnh. Tôi xin phép lên thăm Đại Đội I Quân Y. Chiếc Caribou hạ cánh xuống phi trường Buttons sau mười lăm phút bay. Đi từ sân bay vào lều quần áo đã lấm bụi. Căn cứ Buttons nằm giữa Tiểu Khu Phước Long phía trước, Tiểu Khu Phước Bình phía sau. Mặt phải Buttons có một “C” Lực Lượng Đặc Biệt, Buttons là căn cứ hậu cần của bốn tiền đồn biện giới: Tim, Judy, Joan và Jan. Tiền đồn Jan nhìn sang núi Bà Rá. Ba Tiểu Đoàn Dù đang hoạt động quanh các tiền đồn trên. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn I đóng ở Buttons. Đại Đội 1 Quân Y Dù đóng chung với Đại Đội B Quân Y Không Kỵ. Chúng tôi làm việc chung, ăn chung. Thức ăn Quân Y Mỹ đài thọ. Lịch sự và cảm tình là điểm mà hai bên triệt để giữ gìn.  Nhiếp cho biết kỹ thuật “First Aid” của Mỹ không hơn gì Nhảy Dù. Nhân viên Y Tá Dù làm việc thông thạo và bình tĩnh. Chúng tôi muốn chứng tỏ khả năng. Ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.

Tôi theo Đồng rảo quanh căn cứ. Đồng mới về Dù, hành quân lần đầu cấp Đại Đội. Anh là một trong những lãnh tụ nổi tiếng của giới sinh viên. Xách động đầy tay, chính trị đầy túi. Nhóm “Tình Thương” lần lượt ra trường đều chọn binh chủng thứ dữ: Phạm Đình Vy Thủy Quân Lục Chiến, Ngô Thế Vinh Lực Lượng Đặc Biệt, Trần Đoàn, Đường- Thiện- Đồng và tôi, Nhảy Dù.

Chúng tôi gặp một chàng lính Mỹ, lưng trần, đang hì hục đào hầm để đổ rác. Đồng khều tay tôi:

_Lại nói chuyện với tay này vui lắm.

Người lính Mỹ ngừng tay đào, gật đầu chào chúng tôi. Gã cở hai mươi tuổi, người cao gầy, có cái nhìn soi bói. Đồng cười hỏi:

_Thế nào, vẫn không bằng lòng công việc?

Gã ném mạnh cán cuốc, vuốt mé tóc đáp:

_Chưa bao giờ tôi không bằng lòng công việc như bây giờ. Tôi là một tên nô lệ mới.

_Anh nghĩ thế nào mà cho mình là một tên nô lệ mới?

_Nô lệ là khi nào mình bắt buộc làm một công việc mà mình không thích.

_Anh quan niệm như vậy không đúng. Người nô lệ làm việc không được trả công, còn anh làm việc được trả lương kia mà.

Gả làm thinh một lát rồi tiếp tục nói giọng bực tức:

_Tôi không hiểu sao tôi phải ở một nơi xa xôi như thế này, phải tham dự một cuộc chiến tranh không liên can gì tới đất nước tôi hết.

Đồng hỏi:

_Anh có thích cộng sản không?

_Tôi không ưa tụi nó.

_Đó là điều thiết yếu để cắt nghĩa sự có mặt của anh ở Việt Nam. Người Mỹ chiến đấu chống cộng sản ở nơi khác để một ngày khỏi phải chiến đấu chống cộng sản ngay trên đất mình. Còn anh bảo xa xôi, tơi thấy với phương tiện không vận bây giờ, anh đi từ Mỹ sang Việt Nam cũng không lâu hơn anh đi tàu điện từ một tiểu bang cực đông sang một tiểu bang cực tây của nước anh.

Người lính Mỹ cúi đầu suy nghĩ, Đồng nói tiếp:

_Anh lãnh lương tháng bao nhiêu?

_Hai trăm năm mươi đô la.

_Lương binh nhì của anh hơn cả lương y sĩ của chúng tôi. Mà anh thấy không chúng tôi vẫn làm việc vui vẽ. Hôm qua anh đã thấy bác sĩ Nhiếp cởi trần vác bao cát rồi chứ, thi việc anh đào hầm đổ rác có gì khổ cực.

Lần này anh chàng trả lời:

_Bác Sĩ nói đúng.

Bỗng có tiếng gọi vọng từ nhà tiền chế:
_Mau lên, còn vào giúp tôi lo bữa ăn chiều.

Tôi thấy một anh da đen bụng phệ ló ra ở cửa.

Đồng nói với tôi:

_Tay Mỹ trắng này phụ tá cho tay hỏa đầu vụ da đen kia. Anhc hàng trắng có vẽ hận lắm.

Đồng quay sang hỏi gã:

_Anh ở tiểu bang nào?

_Alabama

Đồng nói với tôi:

_Alabama là tiểu bang kỳ thị chủng tộc mạnh nhất Hoa Kỳ. Dân trắng ở đó hành dân đen lắm. Anh da đen ở đây chắc có dịp bằng vàng để trả thù!

Người lính Mỹ nhắc cán cuốc, bổ những nhát mạnh xuống lớp đất mềm. Cứ mỗi nhát cuốc anh hằn học gọi tên một nhà lãnh đạo Hoa Kỳ: Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Bộ Trưởng Quốc Phòng…Chưa bao giờ tôi thấy nền dân chủ Hoa Kỳ đáng yêu như thế!

Địch pháo dữ dội lúc bốn giờ sáng. Chúng tôi ở dưới hầm định loại tiếng nổ 107 và 81 ly. 107 như 122 không nghe tiếng xuất phát nhưng nổ nhỏ hơn. Địch rót dài dài hơn năm mươi trái đến bảy giờ sáng. Và trọn ngày cứ cách một hai giờ, hai ba trái 107 rơi xuống Buttons. Hoạt động của trực thăng võ trang không làm câm họng súng địch. Tôi sống một ngày giao động, lên xuống hầm không biết bao nhiêu lần. Tám giờ tối cơn pháo mới dứt. Tổng kết thiệt hại: Mỹ có ba tử thương, mười bị thương. Một trái 107 rơi trúng hầm của ông Lữ Đoàn Trưởng. May mắn lúc đó ông đang bay quan sát nên chỉ có năm binh sĩ bị thương. Một xe Hồng Thập Tự của Đại Đôi 1 Quân Y bị mảnh thủng ba lổ nhưng không hư máy. Tin tức cho biết thêm, cùng lúc địch cũng pháo mạnh vào Tiểu Khu Phước Long làm nổ một kho đạn, Tiểu Khu Phước Bình và Trại Lực Lượng Đặc Biệt. Không ngờ địch chọn ngày tôi thăm viếng làm ngày “làm ăn” lớn. Đó chẳng phải là ước muốn của tôi sao: Đêm không nghe pháo kích ngủ không ngon!

Tôi rời Buttons sáng hôm sau. Tiễn tôi ra phi cơ Nhiếp dặn với:

_Khi nào ông Trung Tá đi bay anh nhớ xin đi theo, có dịp anh nhớ ghé trại Lực Lượng Đăc Biệt sẽ được dịp nhìn hình cô đào Ann Margret, chụp bằng Infra-Rouge thấy xuyên cả đồ lót.

Tôi trở về Sài Gòn, tiếc không có dịp đi bay ghé trại Lực Lượng Đăc Biệt để được nhìn Ann Margret lồ lộ…! Hai tuần sau Đồng về cho tôi hay Buttons tạm yên nạn pháo kích vì Mỹ vừ tiêu diệt trọn ổ hai mươi tiền sát viên địch ẩn trên núi Bà Rá.

Pháo kích, cuộc xổ số xui, cuộc xổ số duy nhất tôi ham thích mua vé nhưng lại sợ trúng từ lô nhỏ đến lô độc đắc!

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 25 July 2023

Chiếc Jeep băng qua cầu Bình Lợi, rẽ trái hướng Lái Thiêu. Tôi nhìn đồng hồ: gần mười hai giờ trưa. Trời nắng lớn nhưng gió mát vì xe chạy nhanh. Đầu óc tôi rỗng không mãi tới khi nhìn thấy tấm bảng ghi: “RANH GIỚI TỈNH BÌNH DƯƠNG” bị cháy thủng một góc tôi mới biết mình lại sắp lao vào vùng lửa đạn. Tôi nhận lệnh tạm thay bác sĩ Tường ở Tiểu Đoàn 3 nghĩ phép vợ sanh. Vợ sanh thường được bốn ngày phép đặc biệt, nhưng tôi không tin Tường sẽ nghỉ bốn ngày. Tôi đoán thế nào anh cũng móc nối thêm mười ngày phép thường niên. Tờ sự vụ lệnh nằm trong túi áo trên của tôi cũng không ghi rõ ngày về và tôi đã nói chừng với gia đình tôi đi hành quân mười lăm ngày. Sự kiện tôi đi thay một ông bác sĩ ở Tiểu Đoàn gây thắc mắc. Tôi rời Tiểu Đoàn đã hơn hai năm. Tôi đang giữ chức Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Yểm Trợ của Tiểu Đoàn Quân Y kiêm Y Sĩ Tê Mê bệnh viện Đỗ Vinh. Trên nguyên tắc, với chức vụ, vì nhu cầu tôi không phải không thể đi hành quân cấp Tiểu Đoàn nửa. Nhưng tôi đã tuân lệnh ra đi với nụ cười. Tôi yêu kỷ luật. Mẫu người tôi không ưa bàn cãi, mẫu người chỉ muốn ra lệnh, hoặc tuân lệnh. Đặt tôi vào chức vụ chỉ biết thừa hành là đặt không đúng chổ.

Ở Sài Gòn đọc báo tin địch pháo kích, hăm đánh Bình Dương, tôi tưởng chừng thành phố này đang bị vây hãm và dân chúng ngày đêm sống thấp thỏm. Nhưng khi xe qua khỏi Lái Thiêu, qua khỏi Búng, tôi thấy sự hồi hộp ban đầu của mình thật đáng cười. Con đường tráng nhựa đông đảo xe cộ chạy phăng phăng. Dọc hai bên đường những vườn măng cụt mọc um tùm lá xanh. Những kinh lạch chia ô, kẻ đường các mãnh vườn, thửa ruộng. Tôi nhìn thấy trong lớp bùn xám non loáng ánh mặt trời tất cả sự trù phú cởi mỡ của miền Nam. Biết đâu nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh này chẳng là sự mầu mỡ kia?

Khi xe vọt lên một đoạn đường dốc, tôi nghe tiếng còi tin tin của chiếc G.M.C. hậu cứ Tiểu Đoàn 3 chạy đằng sau báo hiệu sắp đến nơi đóng quân. Đằng trước phía tay mặt một chiếc Jeep có huy hiệu Dù đậu sát một quán nước. Hai binh sĩ Dù đứng gác cạnh đó. Tôi nhảy xuống xe tiến về phía họ. Họ chào tôi.

_Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng ở đâu cậu?

_Thưa Đại Úy tận trong làng.

_Đưa tôi vào Bộ Chỉ Huy.

Tôi theo chân người binh sĩ leo lên một mô đất cao có đường xe lửa chạy dọc theo đổ xuống con đường đất  loanh quanh vào làng.

_Thưa Đại Úy đổi về Tiểu Đoàn 3?

Tôi nghe có chút gì dè dặt trong câu hỏi của người binh sĩ. Bộ đồ tôi đang mặc thuộc loại “để hành quân” rách vá nhiều nơi và thiếu sót huy hiệu Quân Y. Có lẽ vì vậy người binh sĩ tưởng tôi sắp về nắm một Đại Đội nào đó nên dò hỏi. Tôi đoán ý nghĩ ấy và mỉm cười trả lời:

_ Tôi tạm thay bác sĩ Tường.

_Dạ vâng bác sĩ..

Tôi hỏi lại người binh sĩ:

_Cậu ở Tiểu Đoàn 3 bao lâu rồi?

_Thưa được gần một năm

_Bị thương mấy lần?

_Dạ mới một

_Ở đâu?

_Dạ, Dakto

Tôi biết cách hỏi làm người lính Dù hãnh diện nhất, không phải hỏi tuổi lính, cấp bậc hay huy chương, mà hỏi họ bị thương mấy lần và ở trận nào. Trên mỗi người lính Dù có một nửa bản đồ Việt Nam và ít nhiều kỷ niệm với quân thù.

Tôi rời Tiểu Đoàn 3 đã mười bảy tháng, một thời gian không dài nhưng với một đơn vị tác chiến lưu động như Tiểu Đoàn Dù tất lắm đổi thay: ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng nay đã lên trung Tá, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II. Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó trở thành Ủy Viên Điện Ảnh hội Văn Nghệ Sỹ Quân Đội. Ông Đại Úy Sỹ Quan Ban 3 nhà văn Thế Hoài tục gọi Châu “nháy” nay đã mang mai bạc và đang hành nghề Trinh Sát. Châu “nháy” và tôi có khá nhiều kỷ niệm văn nghệ thời đóng đồn ở chợ Đệm. Đồn nằm côi cút giữa một cánh đồng nước cạn, chung quanh có hồ bao bọc. Châu “nháy” cho dựng một cái chòi lợp bằng poncho và lá dừa. Anh đặt cho nó một cái tên rất kiếm hiệp: Nghênh Phong Quán. Ở đó chiều chiều chúng tôi ngồi nhậu “la de” với tiết canh vịt, thở gió đồng nội và nhìn cá lia thia móng dưới ao. Tối đến dưới ánh sáng yếu ớt ngọn đèn pin hai đứa chúng tôi ngồi viết văn làm thơ, công việc mà ông Tiểu Đoàn Trưởng trang trọng gọi là “góp phần xây dựng đơn vị”. Ông Thiếu Úy Hồng Vân phụ tá Sĩ Quan Ban Ba dạo nọ nay đã lên Đại Úy và trở thành Sĩ Quan Ban Ba thực thụ. Ông nhỏ người và có giọng nói sang sảng. Theo thầy số đó là dị tướng. Trong võ nghiệp những người dị tướng rất có tương lai lên làm tướng. Trong năm ông Đại Đội Trưởng, hai hiện là Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 và 8, một ông về ban hai Chiến Đoàn, một ông về ban Tâm Lý Chiến Sư Đoàn. Ông thứ năm tử trận: Đại Úy Nguyễn Đức Cần. Một ánh sao băng, vụt sáng rồi vụt tắt. Từ Thiếu Úy lên Đại Úy chỉ hơn một năm, hai lần bị thương Gio Linh và Dakto. Tôi còn nhớ sau khi xuất viện lần thứ hai, anh có ghé lại bệnh viện viện thăm tôi và nói sắp được đi Mỹ học khóa Tham Mưu. Mấy tuần sau nghe tin anh bị thương nặng ở Khe Sanh và chết trên đường di tản. bác Sĩ Nghêm Sỹ Tuấn người thế tôi ở Tiểu Đoàn 6 Dù, cũng hai lần bị thương, cũng sắp được thay thế, cũng tử trận ở Khe Sanh, một ngày trước Đại Úy Cần. cả hai người bạn tôi sao họ lại chết khi sắp tròn một chu kỳ bổn phận? Sao họ không chết khi trước mặt chưa có một dự tính gì? Có những thứ định mệnh thật khắt khe, oan ức.

Ba ngày sống ở đơn vị cũ tôi có nhận xét Tiểu Đoàn ba Dù vẫn tiềm tàng cái dáng mạnh nhưng thâm trầm. Binh sĩ vẫn tác phong gương mẫu. Nếu cần một chút so sánh tôi thấy tác phong giữa các sĩ quan bây giờ thân mật cởi mỡ đến độ bình đẳng khác với vẽ trang trọng gần như giữ kẻ của ngày nào. Ông Tiểu Đoàn Trưởng bây giờ già dặn nhưng hiền; ông Tiểu Đoàn Phó trẻ tuổi mà sâu sắc. Nhìn qua trạm Cứu Thương quân số Y Tá đông hơn trước. Vẫn người Y Tá Trưởng trẻ, tự tin với bộ mặt lúc nào cũng như sắp phản đối ai hoặc một điều gì. Tôi nghe khá nhiều giai đoạn về Bác Sĩ Tường: Anh giỏi xử dụng bản đồ, địa bàn, máy truyền tin, vũ khí ngang với tài khám bịnh, chích thuốc. Thời sinh viên anh có biệt danh Tường “vợ” vì anh lập gia đình rất sớm, cuối năm thứ nhất Y Khoa. Ra trường anh có năm con và bây giờ anh về nhận mặt đứa con thứ sáu. Cái hăng say hành quân quá mức của một Y Sĩ một vợ sáu con làm lắm kẻ khó hiểu. Đã là lính Nhảy Dù, chúng tôi ít nhiều, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, là những kẻ không bình thường. Hành động một buổi sáng mang dù lên máy bay, lao ra khoảng không chấp nhận những hậu quả không định trước, không thể là một hành động không bình thường của một kẻ bình thường, hoặc là một hành động bình thường của một kẻ không bình thường.

Tiểu Đoàn ba Dù tăng phái Sư Đoàn 5 Bộ Binh được một tuần khi tôi đáo nhậm hành quân. Tiểu Đoàn đang ở Phú Văn đặt dưới quyền điều động của Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Tiểu Đoàn vừa thực hiên hai cuộc hành quân ngắn vào mật khu An Sơn và Bình Nhâm, bắn hạ ba du kích, tịch thu hai AK một B40 mà không bị một thiệt hại nào. Ở Phú Văn Tiểu Đoàn ban ngày đóng rải rác trong làng, đến chiều di chuyển lên ngọn đồi đất cách làng chừng năm trăm thước. Trên đó chúng tôi nhìn bao quát vùng Phú Lợi, Hòa Lợi nơi tình báo cho biết Trung Đoàn Đồng Nai của địch gồm các Tiểu Đoàn K1, K2, K3, đang tìm cách phân tán mỏng xâm nhập thủ đô. Chính các Trung Đoàn này đã tham dự các trận đánh cầu Bình Lợi, ngã tư Bình Hòa trong đợt tổng công kích lần thứ hai. Đây là lần thứ nhất tôi đi hành quân ở vùng III chiến thuật. Một lần đi thay bác sĩ Tuấn bị thương ở Cao Lãnh thuộc vùng IV. Hành quân vùng III vùng IV theo nhận xét của tôi có ba sướng một khổ. Ba sướng là phương tiện vận chuyển, yểm trợ dồi dào, thời gian “lội” tương đối ngắn, được đóng quân gần tỉnh sau  mỗi lần hành quân, một khổ là mìn muổi hơi nhiều, nhất là vùng Bến cát, Cai Lậy.

Pháo kích thì đã thành cái khổ chung, vùng Chiến Thuật nào cũng có, quen như cơm bữa rồi. Đêm thứ hai ở Phú Văn vào khoảng chín giờ tối, tôi ngồi ngoài hiên chùa bỏ trống, nghe địch pháo cối 82 ly vào căn cứ Thiết Giáp nằm đối diện với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Hỏa châu chiếu sáng cả một vùng. Địch nả chừng ba mươi quả. Cuộc pháo kích chỉ gây cho đơn vị bạn một chết hai bị thương, nhưng những trái sáng rơi đã thiêu rụi mấy căn nhà.

Buổi sáng Tiểu Đoàn lại lục tục kéo xuống làng. Tôi sống cảnh sáng kéo quân xuống tối kéo quân lên được bốn hôm thì cuộc hành quân Toàn Thắng 226 khai diễn. Mục tiêu: Một vùng rừng lá phía tây Hòa Lợi. Thời gian: hai ngày. Lực lượng chia làm hai cánh: Cánh A gồm Chi Đoàn Chiến Xa và Đại Đội 33 tăng phái từ mũi Bắc tiến lên; cánh B gồm Chi Đoàn Thiết Quân Vận và Tiểu Đoàn 3 Dù trừ ở mặt Nam đánh xuống. Đoàn công voa chuyển bánh lúc năm giờ sáng. Chúng tôi băng qua một khu phố còn im lìm trong sương. Ánh đèn xe hắt vào một dãy nhà lợp tôn mang toàn bảng hiệu Snack Bar. Không hiểu sao tôi có ác cảm với loại quán này. Có lẽ tại nó biến phố thị miền Nam thành cái nào cũng giống cái nào. Như một dị ảnh gây biến ứng tâm hồn, một thứ gà đông lạnh ăn vào làm phong ngứa da thịt quê hương…

Ra khỏi Bình Dương đoàn xe lọt vào một khoảng trống, cây cỏ càng xa đường càng rậm. Trời đã sáng hẳn, quốc lộ 13 đằm nhưng bụi. Chạy thêm chừng ba cây số đường thì đổ quân. Băng qua đồng ruộng, leo lên bờ đất cao, hiện ra vùng mục tiêu: một khu rừng lá thưa. Địa thế rất bằng phẳng. Tôi nghĩ đụng trận ở đây chỉ có cách duy nhất để thanh toán chiến trường là xung phong ào ạt vào mục tiêu. Lối đánh này thích hợp với Nhảy Dù. Chúng tôi có Thiết Kỵ, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Tôi tin tưởng vào ưu thế của lực lượng mình và lòng đầy phấn khởi.

Chín giờ lệnh xuất phát. Đàn “cua” tiến theo đội hình hàng ngang trông thật hùng dũng y hệt cảnh chiến xa Đức rầm rộ băng qua một cánh đồng cỏ trong phim “La bataille des Ardennes”. Trong một thoáng tôi có ao ước lát nửa sẽ gặp một đoàn xe bọc sắt của địch để tôi được vinh dự tham gia trận đánh cơ giới đầu tiên trên chiến trường miền Nam. Chiến tranh tàn phá, chết chóc thật nhưng ở một góc cạnh nào đó cu4ngh có điều làm say mê, vì nếu không một số người sao chiến tranh có thể kéo dài hai mươi năm mà chưa dứt?

Đoàn “cua” vượt từng chặng đường, thay đổi đội hình theo địa thế. Tiểu Đoàn 3 Dù trừ chia ra làm hai cánh: Cánh B1gồm Đại Đội 34 và Đại Đội Chỉ Huy do ông Tiểu Đoàn Trưởng cầm ngồi cả trên Thiết Vận Xa; Cánh B2 gồm hai Đại Đội 31 và 33 do ộng Tiểu Đoàn Phó chỉ huy di chuyển bộ có bốn Thiết Vận Xa yểm trợ. Tôi cũng phải chia Trạm Cứu Thương ra làm hai: Y Tá Trưởng cùng bốn Y Tá đi bên cạnh ông Phó, phần còn lại ở với tôi. Ngồi trên Thiết Vận xa tỳ tay vào khẩu đại liên đã lắp đạn, tôi quan sát vùng mục tiêu. Mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu chói sau gáy. Cánh B2 lục soát mục tiêu I không thấy gì. Càng vào sâu vùng hành quân tôi càng ngạc nhiên vì vùng đất đã bị càn quét nhiều lần: cây cối cháy đổ, hố bom, lon đồ hộp. Tôi hỏi ông Thiếu Úy Thiết Giáp chỉ huy con “cua” tôi đang ngồi về tình hình địch ở đây. Ông đáp:

_Tôi hành quân vùng này lần thứ tư. Ba lần trước đi với Bộ Binh, Thám Báo, đổ quân tiến chừng năm thước là có địch. Sao hôm nay vào sâu cỡ này vẫn chưa thấy gì?

Tôi không khinh địch để cho rằng họ sợ Nhảy Dù nên né tránh. Tôi nghĩ địch không muốn chọn nơi đây làm chiến trường. Chiến trường của họ bây giờ phải là nơi dù thua dù thắng cũng tạo giúp họ một lợi thế chính trị ở bàn hội nghị. Tôi suy luận: Phương cách hữu hiệu nhất để chận đứng mưu toan nguy hiểm ấy là tạo nên thật nhiều tao ngộ chiến để kết quả dù thua dù thắng được thuần túy quân sự.

Mặt trời làm rát bỏng hai cánh tay trần, bụi đỏ bám đầy quần áo, bàn tọa và lưng bắt đầu ê cứng vì thế ngồi. Vòng lên mục tiêu 2, một ngôi làng nhỏ lơ thơ vài mái tranh. Vẫn lục soát không có gì. Dừng quân ăn cơm trưa. Tôi có dịp thưởng thức lại món cơm sấy cá hộp. Ngụm nước trà nguội và một giấc ngủ lơ mơ ngắn. Hai giờ chiều di chuyển. Thiết Vận Xa tiến hàng dọc men theo con đường đất. Cánh quân B2 lục soát mấy nhóm làng nằm lẻ loi giữa những thửa ruộng khô. Địa thế làm tôi nhớ những làng mạc ở vùng I: Phú Thứ, Phong Điền, Hải Lăng, Gio Linh… Ở vùng I Tiểu Đoàn 3 đã ghi hai chiến thắng lớn với lối đánh dàn hàng ngang băng đồng xông thẳng vào phòng tuyến địch. Tôi rời Tiểu Đoàn mưới ngày trước đó nên không dự phần nào chiến thắng. Mục tiêu 3 là điểm hẹn với cánh quân A. Họ đến trước chúng tôi không lâu. Những khối sắt cố dấu mình sau những lùm cây, thò những nòng súng dài đen ngòm hướng về bờ làng có những đọt dừa cao vươn lên. Cánh A và cánh B2 vượt đồng trống tiền vào hai mé làng, cánh B1 trừ bị. Nếu mục tiêu này không gặp địch, phần còn lại tôi chắc chắn không còn gì gây cấn. Ba giờ chiều, chiếc thiết vận xa tôi ngồi tấp cạnh một ngôi nhà tranh nằm sát đường. Trong nhà toàn đàn bà. Vào vùng chịu ảnh hưởng địch, nhìn nhà nào cũng thấy toàn đàn bà, trong lòng tự nhiên sinh ra mối nghi ngờ đầy ác cảm. Nhà nào cũng đào hầm hình chữ U trệt đáy ăn thông từ chính giữa nhà ra ngoài sân. Dân chúng có lý khi họ giải thích loại hầm đó giúp người trong nhà có thể thoát ra ngoài khi nhà bị sụp cháy. Những đàn gà đi lang thang trêu tức các bao tử ngấy đồ hộp. Thế nhưng hỏi mua, dân làng tìm cớ thoái thác không chịu bán, người này bảo gà của người khác. Họ từ chối vì ghét chúng tôi hay sợ kẻ địch? Tôi nghiêng về lý do sau: Thương người tốt xa không bằng sợ kẻ thù gần. Từ chối Quốc Gia ít nguy hiểm hơn từ chối Cộng Sản. Tôi nhìn đàn gà lúc cúc kiếm ăn, mơ một ngày về quê hỏi mua gà bị từ chối, không phải vì ghét cũng không phải vì sợ, mà vì hờn mát sao chổ tình quân dân còn nói chuyện bán mua..

Mấy loạt M.16 ròn rã tiếp theo hai tiếng nổ lớn như tiếng lựu đạn. Không nghe súng địch bắn trả. Tiếng báo cáo vang trong máy: bắt sống hai du kích, một nữ cán bộ, tịch thu hai AK, một K54, giữ mười lăm tình nghi. Con mồi quá gầy so với cuộc săn! Chúng tôi đóng đêm trong một vườn cao su. Không một tiếng súng. Sáng hôm sau di chuyển vòng trở ra. Hai giờ chiều mới nhìn thấy quốc lộ 13. Tôi nhảy xuống đất, vặn mình nghe các khớp xương kêu răn rắc. Gặp ông Tiểu Đoàn Phó tôi than:

_Sợ ngồi tàu bò quá rồi; chỉ muốn nhảy xuống đất đi bộ.

Ông Phó mồ hôi nhễ nhại cười đáp:

_Tôi lội bộ bã người, chỉ muốn nhảy lên tàu bò ngồi cho đỡ mỏi chân.

Thì ra lắm khi nổi khổ của mình lại là điều ước muốn của kẻ khác. Lên xe về lại Phú Văn. Còn hai ngày nửa lễ Giáng Sinh Mậu Thân. Chúng tôi chưa có chương trình ăn nhậu gì vì chưa biết có được đóng yên ở Phú Văn ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm không. Chiều hai mươi ba chúng tôi nhận lệnh sáng hai mươi bốn vào lại mật khu An Sơn nằm trong đó giữ an ninh vòng ngoài bảo vệ cuộc thăm viếng trại định cư An Sơn của Tổng Thống lúc mười ba giờ. Chúng tôi được lệnh phải ngưng tiếng súng trước mươi hai giờ ba mươi. Như thế có nghĩa, nếu gặp địch phải thanh toán chúng xong trước giờ ấn định. Chúng tôi nhận cuộc lội với lời bình phẩm vui vẽ: “Xài Nhảy Dù như vậy là có hậu”. Vì xong nhiệm vụ chúng tôi được ăn lễ Giáng Sinh ở Phú Văn. Chúng tôi, một mặt chuẩn bị hành quân, một mặt chuẩn bị hậu cứ lo thức ăn.

Đêm hai mươi ba trên đồi Phú Văn nghe lành lạnh hơn những đêm trước. Không hiểu vì thời tiết thay đổi hay cái lạnh từ trong ý tưởng Giáng Sinh là phải rét. BÌNH AN CHO NGƯỜI LÀNH DƯỚI THẾ. Tôi muốn đổi câu hát của thiên thần ngày xưa thành lời nguyện của người dân Việt hôm nay. BÌNH AN CHO VIỆT NAM HAI MƯƠI NĂM CHIẾN TRANH ĐAU KHỔ. Tôi nghĩ đến cuộc hành quân sáng mai. Không thể đón Chúa Giáng Sinh bằng máu. Tôi bổng có ý vị tha cầu nguyện cho cả bạn lẫn thù được bình yên đón Chúa Giáng Sinh.

Chúng tôi lên xe lúc năm giờ sáng. Nửa giờ sau đổ quân. Bố trí xong nằm chờ sáng. Bảy giờ xuất phát. Vào An Sơn bằng con đường mòn chắc chắn sẽ lãnh loạt đạn đầu tiên của địch. Cánh quân B của ông Phó men được nửa phần đường liền tạt qua một vườn măng cụt bọc trở lên. Cánh quân A của ông Trưởng tiến song song mặt trong. Tuy vậy toán khinh binh của toán B vừa men đến gần mục tiêu I đã bị địch khai hỏa trước. Hàng loạt A.K chóc chóc chen lẫn tiếng ầm ầm của B.40, M.16. M.60, M.79 cũng tức tốc đáp lời. Tôi theo dõi cuộc chạm súng qua máy, cuộc tiến quân khó khăn vì nước ngập đến ngực. Tôi lo lắng chờ nghe bá cáo tổn thất. Ngã một vài con thì cấp cứu, tản thương khá chật vật. Bùn nước còn làm các vết thương dễ nhiễm trùng. Tôi nhẹ người khi nghe hai tiếng “vô sự”. Trực thăng võ trang được gọi đến xạ kích. Hỏa lực cầm chừng của địch vẫn gây trở ngại mọi mưu toan tiến quân. Phải sau hai mươi lăm tràng 105, mới tiến chiếm được mục tiêu I. Đich bỏ lại một số đạn 60 ly, B40, mìn, thuốc nổ T.N.T. Nhưng không thấy dấu vết tổn thất nhân mạng. Ông Trưởng ra lệnh phải lục soát thật kỷ để tìm khẩu cối 60 ly. Có đạn tức phải có súng. Nhưng giữa đồng cỏ nước mênh mông, khẩu 60 như cây kim đáy biển. Sau khi để một toán kích ở lại mục tiêu I, cánh quân B được pháo binh dọn đường tiến chiếm mục tiêu II, tịch thâu thêm một số đạn dược, một máy in nội hóa, truyền đơn. Vòng đai ngoài dàn xong đúng mười hai giờ trưa. Ông Trưởng chỉ thị giữ yên các vị trí, chờ cuộc thăm viếng xong là rút. Ba giờ chiều chuẩn bị lui quân thì toán kích ở mục tiêu I bá cáo thấy có địch xuất hiện. Nhưng hai loạt M.16 vẫn không đốn ngã được tên nào. Cỏ mọc cao khó quan sát. Toán kích không dám để địch lại gần, nổ súng sớm nên không có kết quả.

Trở lại con đường mòn. Gặp tôi ông Phó vừa hắt hơi vừa nói:

_Bị cảm lạnh rồi bác sĩ ơi!

Tôi hỏi ông:

_Tôi nghe bắn nhau dữ thế sao không bên nào việc gì cả?

_Nhờ những hàng măng cụt ngăn lằn đạn và làm khó nhắm thẳng, hơn nửa chúng bắn để chạy nhưng không chính xác. Mà cũng vì mấy cây măng cụt nên mình không hạ được chúng.

Tôi vụt nhớ lời cầu nguyện đêm qua xin cho bạn lẫn thù bình yên đón Chúa Giáng Sinh. Tôi thấy những cây măng cụt biến thành những cây Giáng Sinh, những đầu đạn của cả hai bên biến thành những quả cầu óng ánh đính trên các cành cây…

Chúng tôi ăn lễ nửa đêm lúc chín giờ tối. Bàn ghế cóc cách, ly chén đủ cỡ, nhưng thức ăn từ hậu cứ tiếp tế lên khá thịnh soạn. Buổi ăn vui nhưng ngắn. Mười giờ tối chia tay. Tôi chui vào mùng, đầu gối tay, mắt mở lớn cố chống lại cơn buồn ngủ. Tôi muốn thức thật khuya đêm nay. Ngoài khung trời đêm từng chụm hỏa châu vật vờ xa tắp. Cơn gió lành lạnh khiến tôi nhớ những mùa Giáng Sinh ở Huế. Tôi đã sống bảy năm nội trú ở Trung Học Thiên Hữu. Không khí mừng Giáng Sinh thưở ấy thật náo nức. Chúng tôi chuẩn bị từ hai tháng trước. Ngót một trăm học sinh nội trú phân chia thành từng đội mười người làm lồng đèn, dựng sân khấu, tập kịch…Chiều ngày hai mươi bốn của bảy mùa Giáng Sinh cũ ghi trong tôi bao kỷ niệm thần tiên, mỗi lần hồi tưởng là mỗi lần bồi hồi cảm động. Vào lúc hoàng hôn, trong bầu không khí mưa phùn, rét cóng, chúng tôi leo lên sân thượng nhà trường lúc bấy giờ lung linh hằng trăm ánh đèn ngũ sắc, hình ú, hình sao. Ở trên đó chúng tôi đốt những cây pháo điện đặt vào chiếc ná cao su bắn tít lên cao: muôn ngàn tia tỏa sáng trong đêm. Tám giờ tối bắt đầu phần kịch nhạc. Chúng tôi tuần tự diễn viên và khán giả. Đúng mươi hai giờ đêm lễ rước chúa Hài Đồng vào máng cỏ từ phòng ăn đến nhà thờ. Chúng tôi, tay cầm nến vừa đi vừa hát những bài hát tiếng La Tinh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Tâm hồn tôi dạo ấy sao trang nghiêm. Bữa “ăn nửa đêm” là bữa ăn ngon nhất trong năm nội trú. Ăn xong khoản hai giờ sáng chúng tôi được phép đi thăm máng cỏ nhà thờ Giòng Chúa Cứu Thế Phú Cam… Những năm đầu còn quân đội Pháp, chúng tôi vào cả các doanh trại của họ để xem máng cỏ. Đêm hai mươi sáu có buổi xổ số lãnh quà cây Giáng Sinh. Một lần tôi không nhớ rõ năm nào, lô trúng của tôi là một gói to nhưng nhẹ. Mở năm sáu lớp giấy gói, tôi bắt gặp vỏn vẹn một mãnh giấy ghi giòng chữ sau: “Bạn đang nắm trong tay một kho tàng mà bạn không biết”. Mười mấy năm qua tôi cố công tìm kiếm kho tàng ấy trong tôi. Có lẽ tôi còn tìm kiếm suốt đời vì tôi tin kho tàng ấy có thật.

Tôi vào Sài Gòn sống đời sinh viên, gởi trả Huế ấu thơ, trả thánh thiện cho Thiên Hữu. Bảy năm trường thuốc tôi ăn lễ nửa đêm ở các vũ trường. Bây giờ với ba tuổi lính, tôi đón Giáng Sinh hành quân lần thứ hai. Trước cảnh cao rộng, tôi muốn tìm về niềm tin thiêng liêng thuần khiết ngày xưa. Tôi sẽ cầu nguyện gì đêm nay? Chắc chắn tôi sẽ không xin hòa bình: Chúa đâu cất giữ hòa bình. Tôi chỉ xin đừng đổ máu ngày Giáng Sinh. Chiếc máy thu thanh vặn nhỏ truyền vào tai tôi giọng ca nữ khỏe mà tha thiết: “Một đêm dài nhớ em, một đêm dài trắng đêm..”Giọng ngân vút lên để dứt nghe như xé lụa.

Tiếng ca đã tắt nhưng âm thanh còn vây kín tâm hồn. Lòng tôi bỗng đầy an ủi.

Sáng hôm sau tôi đi lễ. Quỳ trong nhà thờ tôi tự hỏi mình có thật sự Công Giáo không? Đôi lần tôi táo bạo nghĩ rằng đạo Thiên Chúa mà không có Đức Mẹ Maria, chắc tôi là kẻ hữu thần nhưng vô tôn giáo. Tôi  mồ côi mẹ năm lên tám. Những năm tháng nội trú thui thủi một mình, bức tượng Đức Mẹ trong nhà thờ, là người tôi thần kính đến thưa chuyện nhiều nhất. Có những lúc nhìn lên, tôi thấy đôi mắt bức tượng tỏa một thứ hào quang sáng ấm, chiếc miệng nỉm cười hài lòng sự kính viếng của tôi. Bây giờ trước mặt tôi cũng nét mặt hiền từ, chiếc miệng bao dung ấy, chỉ khác tôi, tôi đã cằn cõi tâm hồn..

Ra phố ăn sáng xong tôi ghé Sư Đoàn 5 thăm thằng bạn cùng khóa. Nó vừa rời Nhảy Dù về đây làm Y Sĩ Trưởng Đại Đội 5 Quân Y. Không hiểu Nhảy Dù đi ra ngoài đều có “thớ” hay có “thớ” ở Nhảy Dù mới được đi ra ngoài. Thằng bạn khoe với tôi đầu năm 69 Đại Đội 5 Quân Y sẽ lên hàng Tiểu Đoàn. Với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng mai vàng nơi cổ hắn chẳng mấy chốc hóa ra mai bạc. Trong một thoáng tôi có ý nghĩ tầm thường so sánh địa vị của tôi với thằng bạn, tự hỏi mình có chút ý ganh tức nào không? Và tôi hiền hòa trả lời tôi rằng: Danh vọng ở chức tước, quyền bính là những nấc thang giới hạn ngoài tầm mắt của tôi. Tôi vẫn nuôi tham vọng bước lên một chiếc thang không có nấc cuối cùng, càng lên cao bao nhiêu càng thấy mình còn thấp kém bấy nhiêu: chiếc thang nghệ thuật. Tôi chọn Nhảy Dù không ngoài mục đích đi, sống và viết. Cho hoài bão đó, tham vọng đó, tôi đã tuân lệnh hành quân trở lại với một nụ cười không hậu ý.

Đêm hai mươi lăm tôi đi ngủ sớm như thường lệ. Nô En năm nay chắc ở đâu cũng buồn. Những giờ hưu chiến ngắn ngủi chỉ để đôi bên chuẩn bị những trận đánh tàn khốc hơn. Đêm nay tôi phải ngủ thật ngon giấc, gom sức dành cho những ngày sắp tới. Nhưng vào khoảng giữa sáng một loạt súng đánh thức tôi dậy. Tôi thấy ông sĩ quan ban ba tung chui ra khỏi mùng, nhảy đến cạnh chiếc máy P.R.C. 25. Tiếng ông sang sảng hỏi các “đích thân” về nguyên do loạt nổ. Bá cáo máy cho biết một “đứa con” của 32 “ăn sương” dưới suối thấy bóng người xuất hiện nên nổ súng.

_Túy Hồng đây Phước Vân

_Túy Hồng tôi nghe.

_Xin đích thân vài trái sáng để xem kết quả.

_Phước Vân, đây Túy Hồng sẽ thỏa mãn cho anh ngay. Anh hỏi kỹ lại “đứa con” của anh xem nó có thấy địch thật không hay lại đang gật gù rồi trông gà hóa cuốc.

Mấy quả đạn trái sáng phóng từ khẩu 82 ly nổ rung mái nhà làm tôi tỉnh ngủ. Tôi năm im chờ nghe kết quả.

_Túy Hồng đây Phước Vân

_Túy Hồng tôi nghe, có gì không anh?

_Một chính quy bỏ xác tại chổ, tịch thu một AK. “Đứa con” của tôi quả quyết nhìn thấy hai đứa, một tên mang AK, một tên mang B40, khoảng cách không đấy ba thước và nó nói nó nhắm rất kỹ. Tên mang B40 thế nào cũng dính.

_Thế thì bảo mấy “đứa con” của anh lục soát kỹ đi, nhưng đừng cho ra xa quá. Tôi thêm trái sáng cho anh. Tôi nghi ngờ sự quả quyết của người lính gác. Chắc anh chàng muốn tô màu thành tích của mình. Cuộc tìm kiếm vẫn không kết quả. Lúc tờ mờ sáng Phước Vân xin nới rộng phạm vi lục soát. Lời yêu cầu được chấp thuận. Một trung đội được tung ra. Chừng mười lăm phút sau tiếng bá cáo vang trong máy:

_Túy Hồng, đây Phước Vân. Chụp được tên mang B.40 rồi, nó bị thương.

_Túy Hồng, tôi nhận rõ, bô lắm. Mặt Trời thưởng đứa con anh cái đồng hồ đeo tay. Anh cho tên và số quân của nó để đề nghị huy chương. Tân binh hay lính cũ đó?

_Tân binh.

_Tân binh mà bình tĩnh như vậy thật đáng khen. Tình trạng tên “Vi Xi” ra sao?

_Nó vừa được khiêng về chổ tôi. Kẹo đồng chui vào chân, có vẽ bết lắm.

_Lệnh của Minh Hiếu, anh đưa nó lên trên này để đích thân Châu Hà lo cho nó.

_Nhận rõ Túy Hồng.

_Nếu không còn gì thì chấm dứt với Phước Vân.

Tôi nằm im nghe những lời đối thoại, thích thú, thứ ngôn từ gọn gẫy dí dỏm qua máy. Trong kỳ hành quân này các đích thân Tiểu Đoàn 3 Dù mang tên các nữ ca sĩ. Giữa đêm khuya thanh vắng gọi nhau bằng tên những người đẹp nghe cũng “mát miệng, ấm lòng” đôi chút…

Đánh răng rữa mặt xong, tên thương binh địch được đưa đến tôi. Hắn quá trẻ, chừng mười bảy tuổi, nói giọng Bắc, mặc đồ kaki vàng. Gẫy hở xương ống chân trái; bắp thịt chân trái bị bể loét lẩn lộn bùn máu. Quần áo ướt đẫm, tên địch mặt trắng bệch, người run cầm cập. Mạch nhanh và yếu. Có thể bị xúc kích thần kinh. Tôi cho rửa sạch vết thương bằng “nước dưỡng khí” truyền một chai “dextran” và chích trụ sinh. Tên địch rên rỉ khi người y tá rửa vết thương và bó bất động. Một binh sỉ Dù nạt đùa:

_Im không được rên. Đau thì kêu Bác và Đảng.

Ông Trưởng chỉ thị báo phòng Hai Sư Đoàn 5 xuống nhận tù binh về khai thác. Xuyên qua những câu trả lời của tên địch tôi hay hắn thuộc về Tiểu Đoàn KI Trung Đoàn Đồng Nai. Đại Đội của hắn phân từng toán mười người di chuyển về một điểm hẹn mà hắn không biết. Vì trời tối hắn và tên bị giết đi lạc. Tôi cắt một y tá canh chừng. Người y tá trưởng có vẽ không đồng ý sự săn sóc quá chu đáo của tôi. Anh nói:

_Bác sĩ cho nó nhiều thuốc làm gì? Bác Sĩ Tường ông không cho nhiều đâu.

Tôi hiểu lòng thù ghét cộng sản của nhiều người Bắc di cư. Tôi có nghe cách cư xử thẳng thừng của Tường với kẻ địch. Tôi cũng hiểu nguyện nhân nào làm Tường thù ghét Cộng Sản. Có ai thương được kẻ đã giết cha mình? Tôi không ở vào hoàn cảnh Tường nên tâm hồn bình thản hơn. Nhưng thử hỏi nếu tôi có người ruột thịt bị Cộng Sản sát hại biết đâu tôi chẳng thù hận gấp trăm lần Tường. Tôi im lặng bỏ đi không thể trả lời người y tá Trưởng. Dưới mắt tôi bây giờ tên địch cũng là một trường hợp bệnh cần săn sóc. Thêm một lần tôi tự vấn tôi, nếu Tiểu Đoàn bị thiệt hại nặng, liệu tôi có tốt với kẻ địch như hôm nay không? Câu trả lời chắc là không. Kinh nghiệm những lần đụng trận trước cho tôi hiểu khi có đồng đội ngã xuống lòng tôi đầy thù hận. Tôi có thể hung bạo với kẻ thù mà không hới tiếc hành động của mình. Nhưng sáng nay tôi nghe lòng hiền hòa vô cùng, tôi nhìn không thấy nơi tên địch chút gì hung ác, tôi thấy hắn đáng thương và tôi không hối tiếc đã săn sóc hắn quá tận tình.

Chiều hai mười sáu có buổi họp hành quân chuẩn bị “làm ăn lớn”. Sáng hai mươi bảy Tiểu Đoàn 3 Dù cùng một Chi Đoàn Thiết Vận Xa, một Đại Đội Trinh Sát và hai Pháo Đội 105,155 sẽ di chuyển bằng công voa lên Chơn Thành. Sáng hai mươi tám sẽ cùng Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh trực thăng vận vào mục tiêu: một vùng ranh giới giữa Chơn Thành và An Lộc. Thơi gian ba ngày.

Đoàn công voia có Thiết Kỵ dẫn đầu như một con rắn đen dài, trườn mình lúc chín giờ sáng. Qyuo61c lộ 13 đưa chúng tôi rời Bình Dương lên Bến cát qua Lai Khê. Lai khê có một căn cứ quân sự lớn do Lữ Đoàn I Hoa Kỳ trấn đóng trong một đồn điền cao su. Đoàn xe băng qua căn cứ trên khoảng đường lót vĩ sắt vừa dùng làm phi đạo cho L19 vừa làm bãi trực thăng. Ra khỏi Lai Khê con đường bụi đỏ tiếp tục trải dài. San sát hai bên vệ đường những rặng tranh cao ngút đầu người gợn song rì rào. Địa điểm thật lý tưởng cho những ổ phục kích. Chiếc Red Marker bay thật thấp, đảo đi đảo lại kèm sát đoàn xe di chuyển. Chúng tôi đến Bầu Bàng. Những ô nhà cửa ghi trên bản đồ dưới mắt tôi chỉ còn trơ những nền đất than. Bầu Bàng là nơi anh Phạm Bá Lương nguyên Y Sỉ Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ binh tử trận năm 1965. Qua nơi mà một thời gian nào trước đây từng là chiến trường, từng là nơi bạn hữu ngã xuống, lòng mình không khỏi nao nao…Xe đến Bầu Lòng. Ông Sĩ Quan ban ba cho tôi biết năm 1961, Việt Cộng đã phục kích hai Đại Dội của Tiểu Đoàn 3 Dù tại đây. Hai bên đều thiệt hại nặng. Phía Tiểu Đoàn 3 Dù Tiểu Đoàn Phó và Cố Vấn Phó tử trận.

Chúng tôi đến Chơn Thành lúc mười hai giờ trưa. Vượt sáu mươi cây số đường mất ba tiếng đồng hồ. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 9 đóng trong Quận. Quận Chơn Thành rộng dài bằng mười phút đi bộ. Tài nguyên ở đây là lâm sản. Nhìn những khoanh gỗ to tròn lăn lóc cùng nơi, tôi nhớ một bài thơ hóm hỉnh của Prévert:

“Hàng ngàn cây rừng bị đốn ngã

Nhào nặn thành bột để làm giấy báo

Hàng năm trên mặt báo

Hàng ngàn bài viết cảnh cáo

Về sự nguy hiểm của việc đốn cây rừng…”

Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn kéo sang bãi trực thăng. Mười chiếc UHD1 và hai chiếc Shinook CH.53 đến chuyển quân. Tiểu Đoàn 3 Dù và Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh sẽ đổ chung một bãi đáp rồi từ đó chia làm hai cánh. Chín giờ, đợt chuyển quân đầu bốc nguyên một Đại Đội Dù. Mỗi cuộc trực thăng vận là một chuyến phiêu lưu. Tôi thích bâng khuâng nhìn những chấm đen nhỏ dần, xa dần rồi mất hút… Trạm Cứu Thương của tôi đi chuyến thứ hai ngồi cả vào trong chiếc Shinook. Loại trực thăng không lồ này chở được năm mươi người. Khi chiếc Shinook nặng nề nhấc bổng chúng tôi lên đảo ngược nửa vòng, qua ô cửa tròn tôi thấy mặt đất nhà cửa nghiêng nghiêng rồi thẳng dần trở lại. Lòng tàu rung rung lên xuống, nhịp độ với âm thanh của cánh quạt khoát gió bên ngoài, lúc chát chúa, khi rì rầm…Tôi nhủ thầm: “Chuyến đi này đáng tiền quá! Chưa đầy hai tuần tôi đã được ngồi ôn lại gần hếc các phương tiện vận chuyển: GMC, Thiết Kỵ, Chiến Xa, Trực thăng. Chỉ còn thiếu ngồi trong giang đỉnh L.C.V.P. của thời đóng Bình Chánh nửa là đủ bộ Không, Hải, Lục. Trực thăng hạ thấp dần. Màu xanh sẫm cây rừng dâng lên, lướt nhanh. Hiện ra một khoảng trống cỏ may vàng nhung: bãi đáp. Những toán quân lúp xúp chạy tấp sang một mé rừng. Cánh cửa sau trực thăng hạ mở, tôi nhảy ra, nửa người mất dưới lớp cỏ cao. Ánh nắng gay không làm tan gió mát lồng lộng qua đồng cỏ. Tôi thong thả bước theo toán quân, tin tưởng những bờ rừng bí hiểm bao quanh không có địch ẩn núp. Còn một Đại Đội cộng nửa là hết Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi bố trí quanh bãi đáp chờ Tiểu Đoàn 2/9 đổ quân. Mười hai giờ trưa hoàn tất đợt cuối cùng. Có lệnh ăn cơm trưa và một giờ di chuyển.

Cái bãi đáp cỏ may nhấp nhô như sóng vàng là đề tài dự tính của mỗi chúng tôi. Khoảng đất sẽ làm gì khi hết chiến tranh? Một trại chăn nuôi ngựa giống cho ông Trưởng, một vùng săn bắn cho ông Phó, một ngôi nhà nghỉ mát cho ông Sĩ Quan ban ba. Phần tôi, tôi chỉ biết nhìn ngắm vẽ đẹp hoang sơ hiện tại của đồng cỏ mà không có dự tính nào trong tương lai. Nhiều người chiến đấu để có một ngày nghỉ ngơi. Riêng tôi chiến đấu là một cách sống. Khi Việt Nam hòa bình chắc tôi sẽ tình nguyện sang một xứ nào đang có chiến tranh. Với tôi chiến tranh là một thứ gia vị cay, cay mới nhiều kích thích tư tưởng…

Ngày đổ quân chúng tôi đi bốn mục tiêu từ A đến D. Tính đường chim bay chỉ độ ba cây số, nhưng phải mất năm tiếng đồng hồ mới đi hết. Khoảng rừng tre thưa không đủ che ánh nắng. Phút căng thẳng ban đầu tan dần qua các mục tiêu. Từ Bầu nát đến Bầu Ram phải vượt qua một con suối tên suối Dung. Suối không rộng không sâu nhưng khó qua vì cây mọc lấp cả lòng suối. Sáu giờ chiều đóng quân. Cơm nước xong trời đã tối đen chung quanh. Đêm xuống nhanh ở miền rừng. Tôi nằm trên cáng ngửa mắt nhìn lên nền trời thẩm nhạt lấm tấm vài ánh sao. Tôi đang như Thế Lữ một ngày nào trong truyện Một Đêm Trăng nằm “nghe tiếng một con sóc chạy trên cành, giọng rì rào của những côn trùng dưới đất, nghe càng lâu muôn tiếng càng hổn độn…”

Ngày hôm sau chúng tôi có hơn bốn mục tiêu để đi. Từ Bầu vàng đến Bầu Rim. Mất mười giờ để nuốt một đoạn rừng sáu cây số trên bản đồ và hai con suối: La Cát và Tả Bàng. Chúng tôi di chuyển chậm, lòn cúi chen lách qua những đám tre, mây leo mộc ngoằn ngoèo. Bắt gặp một số hầm trú ẩn đã mục nát, không ghi một dấu vết mới mẻ nào của địch. Quanh một hồ nước lớn do bom B52 đào, lẫn lộn với những dấu chân thú rừng, những dấu dép “Bình Trị Thiên” đã khô cũ. Vùng mục tiêu của chúng tôi có lẽ chỉ là đường chuyển quân của địch. Rừng tre quá thưa để có thể làm nơi trú ẩn kín đáo và lâu dài. Khoảng mười giờ sáng cánh quân 2/9 chạm địch ở Srock Lôi Sơn. Tiếng súng dòn liên tục. Tôi nghe trực thăng quần, phi đạn xé gió và pháo binh rót liên hồi. Chừng một giờ sau thì hoàn toàn yên tĩnh. Bá cáo của đơn vị bạn cho biết hạ được hai tên địch, tịch thu một AK, một B40. Phía bạn một tử thương và hai mươi bị thương. Ông Sĩ Quan ban ba nói với tôi:

_ Mình lãnh phần nặng nhất thì lại vô sự. Tôi nghe binh sĩ bảo nhau có bác sĩ đi hành quân thì yên chí lớn không đụng độ đâu.

Trong ba mặt quân: Thiết Kỵ án ngữ mặt ngoài bị địch bò đến thổi một quả B40 làm cháy một xe và bị thương bốn người. Tiểu Đoàn 2/9 vòng mặt ngoài vừa đụng trận trên đường rút ra. Chỉ có Tiểu Đàon 3 Dù lục soát mặt trong với ba ngày lội vẫn bình yên..

Trong Tiểu Đoàn người không bao giờ cầm quân chỉ huy, mà vẫn bị binh sĩ dị đoan là ông bác sĩ. Họ truyền khẩu cho nhau là ông bác sĩ này hòa bình, ông bác sĩ kia sát quân; ông bác sĩ N. mà cặp với ông Tiểu Doàn Trưởng H. mỗi lần xuất quân là “tơi bời hoa lá…” Cả y tá cũng dị đoan về ông bác sĩ của mình. Ở Tiểu Đoàn 3 nặng vía nhất là bác sĩ Liên, trước tôi hai năm. Một y tá kể:

_Hành quân mà bác sĩ Liên đi tay không thì đụng lai rai; ông mang Colt thì phải trên hai mươi con; lần nào ông mang Carbin thì coi như thức suốt đêm để tải thương! Như trận Đức Cơ năm 1965…

Không biết tôi nên tin số tôi nhàn hay nên tin tôi được nhàn nhờ “bài kinh cầu cho đơn vị” do tôi nghĩ ra, để mỗi đêm hành quân, trước khi đi ngủ, tôi hằng đọc lại một cách thành tâm:

“Xin cho đơn vị qua đêm bình yên

“Xin trọn ngày hôm sau bình yên

“Đụng trận

“Xin cho đơn vị thắng thật lớn

“Thiệt hại thật ít

“Xin cho địch đầu hàng, bị bắt

“Nhiều hơn bị giết”

Có lẽ Thượng Đế nghe lời cầu nguyện của tôi thành tâm thật nhưng khó thỏa mãn nên Người giải quyết bằng cách cho cuộc hành quân nào có tôi tham dự đều vô sự. Người không bằng lòng số nhàn ấy trước nhất là tôi. Con người hòa bình của tôi không giúp  sớm hòa bình vì nếu đánh nhau mà không đổ máu thì bao giờ chiến tranh mới kết liễu. Nhưng giải quyết chiến tranh thuộc lý chí, cầu nguyện cho đơn vị thuộc tâm hồn. và theo Pascal thì “Tâm hồn có những lý trí của nó mà chính lý trí cũng không biết được”. Chúng tôi qua Bầu Vàng, một rừng cây cổ thụ lá rụng vàng ối lối đi. Một mùa thu “bỏ túi” đâu đây… Có tiếng là “rơi xào xạc” nhưng không nghe tiếng “con nai vàng ngơ ngác” nào “đạp trên lá vàng khô”.Chỉ nghe gót giày saut dè dặt tiếp nối nhau. Tôi đi giữa màu vàng nhớ một lời ca thơm tình dân tộc

“Dạy cho con tiếng nói thật thà

“Mẹ mong con chớ quên màu da

“Con chớ quên màu da

“Nước Việt xưa…”

Đêm thứ hai trong rừng yên tĩnh. Pháo Binh bắn khuấy rối nhiều và sát quá khiến giấc ngủ chập chờn. Chúng tôi đang trên đường rút ra. Vùng mục tiêu còn lại là Bầu Đông, Bầu Rim, chừng sáu cây số bản đồ. Rừng thưa dần, đã có khoảng trống, đồng tranh và ánh nắng gay gắt trên đầu. Đến điểm tập trung lúc ba giờ rưỡi chiều. Lên xe về Chơn Thành.

Chúng tôi bàn tán về hai nguồn tin trái ngược nhau. Một tin tiếp tục đặt Tiểu Đoàn 3 dưới quyền điều động của Trung Đoàn 9 Bộ Binh, một tin rút Tiểu Đoàn 3 về Bình Dương. Năm giờ rưỡi chiều có lệnh về Bình Dương gấp. Phải non một tiềng đồng hồ mới sắp xếp xong đoàn công voa. Tôi thích về Bình Dương hơn ở Chơn Thành, nhưng thú thật không thích về vào giờ này. Sáu mươi cây số đường bộ di chuyển đêm không phải là chuyện đùa. Tôi đọc vẽ nghiêm trọng trên mặt các Sỉ Quan. Từ Chơn Thành về Bình Dương, ở Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát, chặng đường nào về đêm cũng bất an ninh, địch cũng có thể phục kích đoàn xe. Đối phương có một đồng minh lợi hại là đêm tối, nhưng chúng tôi có một ưu điểm an toàn: yếu tố bất ngờ.

Tôi yên tâm nhìn đoàn xe bốc bụi khởi hành. Chiều tắt nắng từ bao giờ. Có hoàng hôn, khói lam, thôn dã in lìm, nhưng không có sáo diều lơ lững, mục đồng cỡi trâu về trên đường làng để gợi lên chút hình ảnh một đồng quê yên vui ngày nào của Trần Tiêu, Toan Ánh, trong “con trâu” hay “sau lũy tre xanh”. Cảnh vật bây giờ đầy cạm bẫy. Ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị: dọc đường xe hư thì dồn người sang xe khác, bỏ xe. Đoàn “cua” dẫn đầu được lệnh chạy hai mươi cây số giờ để tránh đứt khoản, mỗi xe chạy cách nhau ba mươi thước. Đoàn xe rãi dài ngót hai cây số. Chiếc Red Marker bay thật thấp quan sát lộ trình và đoàn xe di chuyển.

Chúng tôi bình yên đến Lai Khê lúc bảy giờ ba mươi tối. Căn cứ Lai Khê đóng cửa từ năm giờ chiều nên không thể mượn đường chạy tắt như chuyến đi. Rời Lai Khê chừng mười phút, một chiếc Jeep của Pháo Binh chết máy vì hết xăng…! Trong cơn bực tức ông Sĩ Quan ban ba hét to trong máy với ai đó:

_Tên tài xế gà chết của anh, mang nó ra pháp trường cát là vừa.

Ông Trưởng lạnh lùng chỉ thị:

_Hỏi mấy con “cua” đằng sau kéo giúp được nó không. Nếu không ủi qua một bên mà chạy.

Đoàn xe tiếp tục hành trình. Tôi không cho quyết định của ông Trưởng quá cứng rắn. Khi có trách nhiệm với cả đoàn xe ngót năm mươi chiếc, những trường hợp “cu ky” phải xem như không đáng kể. Người lính Dù phải biết chấp nhận những cái không đáng kể rất đáng kể ấy. Chúng tôi đến một cây cầu nhỏ có binh sĩ Việt Mỹ canh gác. Họ dăn chúng tôi phải cẩn thận trên đoạn đường này vì có tin từ chiều địch về trong làng. Ông Trưởng ra lệnh cho các “đích thân” căn dặn các “đứa con” mở mắt thật lớn nếu không muốn nhắm luôn. Bóng tối như dày them lên. Tôi nghĩ chỉ cần vài tên du kích phịc đâu đó thổi thật chính xác vài quả B40 vào đoàn xe, cháy một hai chiếc, chết bị thương vài chục người cũng đủ làm chúng tôi điên đầu.

Nhưng đoàn xe vẫn yên thấm tiến trong đêm. Đến gần Bến Cát một G.M.C. nổ bánh. Binh sĩ trên xe được chia đều sang các xe khác. Đoàn công voa tiếp tục. Chúng tôi đến Bến Cát đúng tám giờ ba mươi tối. Dừng lại đây khá lâu để sắp lại hàng xe. Tôi nhảy ra khỏi chiếc Jeep thấy mình đang ở trên một dốc cao. Tôi nhìn xuống, cố tìm một hình ảnh thật đẹp để so sánh những đốm đèn quanh co phía dưới. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của Vũ hoàng Chương:

Đêm hoa đăng đường xanh bóng trăng

Đêm hoa đăng đèn quanh lối xóm…

Bao giờ đất nước thanh bình để có những đêm hoa đăng khắp nẻo quê hương?

Từ Bến Cát đến Bình Dương lộ trình tương đối an ninh, đoàn xe chạy sát nhau hơn. Dù an toàn toàn tôi cũng đã trải mấy giờ trí óc căng thẳng. Chúng tôi về đến Phú Văn hơn chín giờ tối. Một thùng nước tắm, một tô cháo gà nóng và một giấc ngũ vàng…Sáng hôm sau Tường đến thay tôi. Nhẩm tính tôi đi được mười bảy ngày. Tôi không mong ngày về như tôi tưởng. Tính tôi dễ quên, dễ quen nên dễ sống. Chiếc Jeep đưa tôi trở lại Búng, Lái Thiêu. Mới một lần đi, một lần về nhưng tôi có cảm tưởng cảnh đã quen thuộc đâu từ lâu rồi..

Căn phòng máy lạnh nồng khói thuốc muốn bức vỡ vì khối người chen chúc. Đã qua bao nhiêu bản Slow êm dịu, bao nhiêu điệu agogo cuồng nhiệt, tôi vẫn ly rượu cầm tay hững hờ nhìn thiên hạ sống vui, tình tự. Tôi xa lạ mọi người hay mọi người xa lạ tôi? Bình thường tôi rất hòa mình vào những buổi dạ vũ. Nhưng hôm nay tôi hoàn toàn không hứng khởi. Tôi như sửng sốt vì phải sống liền hai cảnh đêm quá trái ngược nhau: Con đường đầy bóng tối tử thần đêm qua và ngôi biệt thự mờ ảo ánh đèn gợi cảm đêm nay. Tôi hiểu những người đang chiến đấu, tôi cũng hiểu những người đang cố quên chiến tranh để thụ hưởng. Tôi hiểu quá nhiều nên tôi không sung sướng. Nhiều lúc tôi kiêu hãnh một cách đáng thương khi tự hỏi người đau khổ tinh thần nhất trong cuộc chiến này có phải chỉ mình tôi. Tôi ra về lúc mười hai giờ đêm bỏ lại đàng trong những tiếng “happy new year” huyên náo. Phải một thời gian tôi mới quên chuyến đi vừa qua. Đêm nay sống giữa Sài Gòn nhưng men lạnh núi rừng vẫn phủ kín tâm tư. Giờ này biết đâu các “đích thân” chẳng đang gọi nhau bằng tên các nữ ca sĩ?  Tên những người đẹp gọi lên giữa đêm khuya nghe cũng “mát miệng, ấm lòng”…

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh

Post by Sơn râu 30 Jun 2023

Phần 14

Hợp Ðoàn: bài tập hoạt động bí mật trong lòng địch

Tình thực mà nói khi quyết định ra tờ Hợp Ðoàn trong một trại giam như A-20, tôi lo nghĩ rất nhiều. Mức căng thẳng được biểu lộ qua việc có ngày dù đói như thế, nhưng không thể nào nhá hết mấy lát khoai mì khô vào buổi trưa và buổi chiều, thay vào đó uống bao nhiêu nước cũng vẫn khát. Ngọc “đen,” người điều hành nhóm nhận ra hiện tượng hơi bất thường về sức khỏe của tôi. Anh lặng lẽ đi tham khảo với bác sĩ Lạc, một người tù chính trị án chung thân, giảm xuống còn 20 năm. Lúc đó ông Lạc đang lao động ở đội tù chính trị bên có án, nhưng cũng được biên chế lên bệnh xá. Ông khuyên là phải khai cháo, cố gắng tập thể dục hay có thể thì ngồi thiền. Ngọc “đen” thông đạt lời khuyên và tôi thực hiện ngay. Tôi bớt căng thẳng, ngủ được nhiều hơn nhưng không thể quá 5 tiếng một đêm.

Trong thâm tâm, tôi hiểu tại sao tôi lo lắng về giai đoạn chuẩn bị tờ Hợp Ðoàn như vậy. Không phải là tôi lo sợ cho bản thân mình vì trước khi được giải giao từ khu biệt giam ED nhà tù Chí Hòa lên trại lao cải Hàm Tân, tôi đã tự chọn cho mình một số phận u ám rồi. Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông. Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.

Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.

Khi ánh hoàng hôn nhanh chóng lướt nhẹ trên mặt nước con sông La Ngà rồi tắt ngấm và và mầu tín của rừng chiều trùm phủ xuống cảnh vật, chúng tôi bị đánh đòn hội chợ khá nặng bằng báng súng, rồi bị dẫn xuống sát bờ sông. Bọn cán binh Việt cộng lên đạn xoành xoạch, nhưng tôi hiểu rằng họ không nổ súng. Bởi vì nếu muốn họ đã nổ súng từ lúc lúc hô hoán rầm rĩ khi bao vây chúng tôi rồi. Máu ở trong miệng tôi tiếp tục chảy xuống làm ướt ngực của bộ bà ba đen tôi đang mặc.

Khi bóng tối choàng lên cảnh vật một mầu đen, toán y tế của đơn vị Việt cộng mới soi đèn pin để băng bó cho chúng tôi, đồng thời trói những người bị bắt thành một xâu giống y như ngày trước tôi đã chứng kiến những tù binh Việt cộng bị bắt trên chiến trường miền Nam và bị xỏ xâu đưa lên trực thăng Chinook. Sau này, tôi mới được biết là trong cuộc hành quân vào ngày 16 tháng 8, 1975, lực lượng hành quân thuộc quân khu 7 đã bắt khoảng 1,500 người mà họ gọi là thuộc lực lượng tàn quân “ngụy” trốn trình diện cải tạo. Gia đình Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu thủ tướng VNCH, cựu chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng chi hội Việt Nam cũng nằm trong số những người bị bắt.

(Chú thích: Mấy năm sau, cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã qua đời vì bệnh gan tại nhà tù Chí Hòa. Tại Chí Hòa vào thời gian đó có khá nhiều những tên tuổi lớn của cả hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa của Việt Nam và Cambodia: hai cựu chủ tịch Quốc Hội thời Ngô Ðình Diệm là các ông Trương Vĩnh Lễ và Phạm Văn Nhu, cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát và cựu thủ tướng Cambodia là ông Sơn Ngọc Thành. Ông Sơn Ngọc Thành cũng chết tại nhà tù Chí Hòa do biến chứng của bệnh ghẻ, ứng cử viên tổng thống VNCH Nguyễn Ðình Quát và đặc biệt nhà thơ Vũ Hoàng Chương, ông Lương Trọng Tường nhà lãnh đạo tổ đình Hòa Hảo, và ông Phan Bá Cầm Chủ tịch Lực Lượng Dân Xã Ðảng, Linh Mục Hoàng Quỳnh, Linh Mục Trần Hữu Thanh người lãnh đạo phong trào chống tham nhũng của chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Phan chủ tịch và tổng giám đốc công ty bột giặt NET.)

Những thất bại nói trên đã làm cho mãi đến sau này, tôi luôn luôn đặt ra những câu hỏi trước bất cứ một hoạt động chống cộng nào được nói đến trong suốt thời gian 4 năm ở trong nước sau khi được thả ra khởi nhà tù vào năm 1988 và trước khi được tái định cư ở Hoa Kỳ. Và cũng chính từ thất bại trên cho nên khi quyết định làm báo chui trong trại giam, tôi luôn luôn đắn đo trước khi bước chân vào con đường khó lượng trước được sự thành công hay thất bại. Các khó khăn mà tôi phải giải quyết trước nhất là giấy, bút. Không như những trại khác, ở A-20 Xuân Phước không một tù cải tạo nào được mang giấy bút viết thư vào trong trại giam. Nếu gia đình không biết và lỡ gởi giấy bút trong giỏ quà thăm nuôi hay trong những gói quà gởi bằng bưu điện, chúng sẽ bị tịch thu. Trại giữ lại và chỉ phát giấy bút cho những tù nhân cải tạo viết thư về cho gia đình trong thời hạn được ấn định 3 ngày đầu tháng. Sau đó họ thu lại. Lý do của việc làm này của ban quản trại chỉ nhằm chặn đứng việc tù nhân cải tạo gởi thư chui cho gia đình khi có dịp tiếp xúc với dân chúng vùng kinh tế mới ở gần trại. Từ ngày tôi bị chuyển lên Xuân Phước, đã có ít nhất hơn một chục vụ gởi thư chui bị phát giác và các tù nhân cải tạo tác giả những bức thư ấy thường bị nâng quan điểm và bị trừng phạt từ 6 đến 8 tháng trong chuồng cọp, cùm một chân. Thực tế, nội dung của thư chui cũng chỉ là những thư khẩn cấp, tù nhân thường viết bằng bạch văn hỏi thăm tình hình gia đình liên quan đến những vấn đề sau đây: vợ con vượt biên có đi thoát không hay lại bị lừa, tình hình kinh tế, chính trị và xã hội, nhất là hỏi thăm đến một kế hoạch của Hoa Kỳ “đổ bộ đánh tháo tù cải tạo,” vốn là một “hot news” giầu trí tưởng tượng nhưng lại nghèo nàn về sự hiểu biết của những tác giả chế biến ra chúng. Nhưng lạ một điều là phần đông tù cải tạo cũng vẫn tin vào điều hoang tưởng đó để nuôi hy vọng sống qua ngày.

Như vậy, để tránh nghi ngờ và những đôi mắt dòm ngó của đám ăng-ten khá lộ liễu trong nhà giam, bằng mọi giá phải thực hiện xong tờ báo trong 3 ngày tù nhân cải tạo được phép viết thư. Ðiều này cũng đúng thôi vì những ngày không phải là ngày tù được phép mà lại cứ lúi húi trên giấy thì đúng là lạy ông tôi ở bụi này. Thời lượng của việc phải hoàn tất tờ báo trong 3 đêm đòi hỏi những điều kiện khác: bài vở phải ngắn, mỗi bài như vậy không quá hai trang khổ một nửa trang của tập vở học trò. Viết ngắn không bao giờ là việc dễ dàng, hơn nữa những người cộng tác trong nhóm chưa một lần nào được huấn luyện viết ngắn. Ngoài ra, đã gọi là những trang báo thì không thể viết bừa bãi gạch xóa lung tung được. Như vậy vấn đề cấp bách là tìm ra người chỉ chuyên viết lại tất cả những bài tôi đã sửa chữa, cắt xén cho vừa khổ báo. Vấn đề nhức đầu thứ hai mà tôi phải giải quyết là khi viết tất cả những bài đóng góp xong rồi phải nghĩ đến chuyện đóng thành tập và bên ngoài phải có một cái bìa bằng một loại giấy phải hơi cứng. Nhưng đóng thành tờ báo là điều dễ làm cho bọn ăng ten chú ý nhất. Tôi không sợ những tên ăng-ten lộ liễu mà sợ những tên ăng-ten ngầm mà mình không biết hay không định được vị trí của họ. Suy đi nghĩ lại, tôi thấy chỉ còn một lựa chọn: lén lút huấn luyện cho từng cá nhân chịu cộng tác để xây dựng tờ Hợp Ðoàn. Tôi nói thẳng với họ rằng hãy coi công việc này là một cuộc vui đắt giá và là một lớp huấn luyện có thực tập hoạt động bí mật ngay trong lòng địch để khi về nếu có cơ hội có thể làm một tờ tương tự chuyển ra nước ngoài.

Cũng may là trong nhóm của tôi chỉ có một vài người cần một ý niệm viết sao cho ngắn gọn để đỡ công những người phải viết lại sau khi bài được sửa chữa.

Vấn đề thứ hai làm tôi suy nghĩ nhiều, đó là vấn đề an ninh cho nhóm. Làm cách nào để ngăn bớt được sự thiệt hại cho những anh em cộng tác với mình khi kế hoạch bị phát giác. Ðây là một vấn đề phức tạp và tế nhị. Các nhà giam trong các trại tù cộng sản nào cũng có những chỉ điểm viên mà chúng tội gọi là cần ăng-ten nổi, cũng như ngầm. Nhưng khi phát giác ra họ và trừng trị là bứt dây động rừng, cho nên cần tránh tối đa việc đụng chạm. Tốt nhất là cần phải lựa chọn trong nhóm những người cần hy sinh khi bị đánh đau đứng ra nhận lãnh trách nhiệm dù có thể là cái chết và dĩ nhiên, những đầu tầu cần phải làm gương xung phong ghi tên trước. Cho nên, ở trong trại giam cộng sản muốn đấu tranh cái gì cũng cần phải biết và sẵn sàng trả cái giá của người làm đầu tầu trong các hoạt động bí mật khi bị địch phát giác.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh

Post by Sơn râu 30 Jun 2023

Phần 15

“Chuồng Cọp’ ở A-20 Xuân Phước

Nếu tôi nhớ không lầm, trước ngày 30 tháng 4 1981, ban quản trại mở cuộc tổng kiểm tra tư trang của tù cải tạo, từ các tù nhân diện tù tập trung cải tạo cho tới diện tù chính trị có án. Lý “lé”, cán bộ an ninh trại đã huy động tù hình sự trong đội lao cải “diện rộng”, các quản giáo và vệ binh súng dài khám tư trang tù cải tạo kéo dài từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới kết thúc. Điều này có nghĩa là “tài sản” của tù cải tạo bị tịch thu sạch sẽ, từ mì gói, cơm khô, cám rang trộn gừng, những viên thuốc chống phù thủng B1 nghĩa là mọi tù nhân cải tạo đều …sạch bách!

Sự căng thẳng của tôi giảm xuống sau khi T.B.N. mà anh em chúng tôi quen gọi thân mật là Ng. “đen” thông báo là anh đã tìm kiếm được phương tiện để thực hiện tờ báo. Việc tìm kiếm những phương tiện và vật liệu để tờ Hợp Đoàn có thể ra đời đúng kế hoạch cũng là một câu chuyện dài và ngay cả bản than tôi cho tới nay cũng không thể tưởng tượng rằng nhóm chủ trương chúng tơi lại có thể hoạt động được một cách suông sẽ trong những năm đầu thập niên 80 tại cái thung lũng đày ải con người ấy.

Cùng với T.D.S. một luật sư nổi tiếng trong luật sư đoàn miền Trung, N.C.T. viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh, T.B.N. và H. “bầu” các cựu sĩ quan biệt kích và thiết giáp phụ trách an ninh và lưu chuyển tờ báo, H “cà” cựu sĩ quan bộ binh tác chiến, nhưng có tài đàn hát, vẽ minh họa lẫn hí họa và P.Đ.N. cựu sĩ quan chính huấn với những vần thơ rực lửa…tôi có may mắn được anh em giao quyền điều hành được 5 số báo Hợp Đoàn, trong đó có một số kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 và một số tưởng niệm 30 tháng 4 trước khi bị biệt giam dài hạn.

Chỉ có bấy nhiêu người nhưng chúng tôi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để hoàn thành êm thắm mục tiêu do chính chúng tôi đặt ra. Mãi cho đến sau này, tôi vẫn nghĩ rằng sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh cho lý tướng chính là nguyên nhân của những thành tựu này.

Mấy tháng sau khi tôi bị đưa vào “chuồng cọp” Ng. “đen” là người thay thế tôi trông nom tờ báo. Nhưng anh chỉ cho ra được số thứ 6 với sự cộng tác bài vỡ của một nhà báo mà trước 30 tháng 4 1975 là biên tập viên của tờ Saigon Post một trong hai tờ báo viết bằng Anh ngữ ấn hành tại Sài Gòn. Nhà báo vừa nói vốn là con trai của một sử gia viết quân sử nổi tiếng trong quân đội VNCH. Dù chỉ là Sĩ Quan cấp Úy anh đã phải bóc tới hơn 10 cuốn lịch sau những cánh cổng nhà tù cộng sản vì tham gia vào cuộc nổi loạn tại trại tập trung Suối Máu đêm Noel 1978.

Sau khi xảy ra vài vụ trốn trại, tù cải tạo lãng công để phản đối chế độ lao tù, viết khẩu hiệu chống Cộng trong nhà giam, những đêm tù ca bỏ túi bị ăng ten báo cáo..dường như ban quản trại đã gia tang khủng bố. Nhiều tù “cải tạo” bị gọi đi làm việc và sau đó bị đưa vào cùm tại khu biệt giam phân trại B của A-20, tức là trại trong cách phân trại E khoảng 5 cây số. Nhưng họ không đụng tới tôi và những anh em trong nhóm Hợp Đoàn. Ngọc “đen” khuyến cáo tôi rằng cần phải lưu ý đến sự yên tĩnh kỳ lạ này và đề phòng bằng cách chuyển hết tài liệu và vật liệu trong chiếc ba lô hai đáy của tôi đến một chổ dấu an toàn mà chỉ anh biết. “Đen” bảo tôi là phải nằm im, “không nên nhúc nhích”. Anh còn cẩn thận may một lớp poncho trong chiếc áo trận đã rách, vá chằng vá đụp và buộc tôi phải luôn mặc nó dù trời nóng. Ng. “đen” nói với tôi “Alpha” (danh hiệu anh em dùng để gọi tôi một cách thân mật) cẩn thận. Tụi tôi “clear” hết rồi vì cảm thấy lần này chúng muốn đưa Alpha vào biệt giam luôn. Thằng Lý “lé” vẫn nghi anh là một cái đầu máy xe lửa trong trại này. Anh thấy không, gần đây hắn kêu tất cả những người hắn nghi ngờ đi làm việc liên tiếp để lượng định và có thể nó đã nghĩ tốt hơn hết là đem cất cái đầu máy đi là yên chuyện”.

Dù chỉ là một quân nhân tác chiến, cái nhìn của T.B.N. tương đối bao quát và sâu sắc. Quảng giao, giang hồ và chơi với tất cả những thành phần trong trại giam, anh giúp tôi nhiều ý kiến để vượt qua những khó khăn trong những hoạt động bí mật tại trại giam. “Đen” không bao giờ ra mặt đối đầu với một số ít thành phần phản bội anh em. Anh thường nói với tôi: “Chửi bới, nói móc, xỏ xiên, đối với tụi nó không ăn thua. Trong hoàn cảnh ai trong chúng ta cũng đói khổ cả, chúng ta phải coi lại dư luận đồn đại. Nghe thì nghe nh7ng đừng vội kết luận người này làm ăng ten, người kia làm mật báo. Nên kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi nắm vững bằng chứng là phải ra tay cảnh cáo ngay cho chừa cái tật bép xép với chèo.” (Chèo cũng là cách gọi mỉa mai chúng tôi dung để chỉ công an trại giam).

      Từ ngày vào trại cải tạo lúc tóc còn xanh cho đến khi ra từ tóc đã muối tiêu, tôi không hề coi những thành phần phản bội này có ảnh hưởng gì đến đời tù của mình. Bởi vì tôi nghiệm ra một điều: họ làm ăng ten, mật báo với an ninh trại cũng vì đói nên cần miếng ăn chứ trong thâm tâm tôi không tin rằng họ thực tâm cộng tác với kẻ thù. Cho nên những ai không sợ hãi e dè quá đáng vì bị cúp thăm gặp gia đình hoặc sẽ sẳn sàng chấp nhận vào cùm trong chuồng cọp thì những phần tử này lùi bước ngay và ít khi muốn đụng độ. Trong thời gian bị “gởi” lên A-20, bọn quản trại củng lẫn xen vào hàng ngũ chúng tôi những thành phần mà anh em gọi là “đầu gà, đít vịt” nghĩa là tù chính trị không ra chính trị, hình sự cũng chẳng ra hình sự. Những thành phần được trại giam cài vào cũng chỉ với mục đích quấy nhiễu chúng tôi mà thôi. Điển hình nhất là P.V.Đ. và T.T.V. Một người P.V.Đ. là lính quân dịch với cấp bậc binh nhì, trước 30 tháng 4, 1975 phạm tội hình sự bị đưa vào quân lao Gò Vấp chờ ngày ra tòa án Quân Sự. Khi anh ta được đưa vào ở chung với thành phần cựu sĩ quan cải tạo, không ai là không nhìn ra vai trò của anh ta. Còn người kia khi vào trại khai là “thiếu tá tình báo VNCH” nhưng khi hỏi thăm đến đơn vị mà anh ta từng phục vụ thì T.T.V. nói đến toàn những đơn vị được tác giả Bùi Anh Tuấn viết trong bộ truyện Z-28 một bộ truyện tình báo nhiều tập rất ăn khách vào thập niên 70 ở Sài Gòn.

Điểm đặc biệt ở hai nhân vật này là tư cách của họ rất thấp, nhưng trò thưa gởi với cán bộ an ninh và dùng những buổi bị gọi đi làm việc để dọa nạt những tù cải tạo tuy yếu bóng vía nhưng nhiều quà thăm nuôi thì thật là “tuyệt chiêu”. Chẳng hạn, thường kỳ hàng tháng họ phải làm việc với cán bộ an ninh trại để khai báo những khả nghi trong nhà giam, nhưng khi đi làm việc về thì họ tung hỏa mù, nào là cán bộ có hỏi đến người này, người kia trong nhà giam. Vài hôm sau, chúng lân la đến những người bị chúng nhắc tên để xin một vài món gì đó, nhiều khi là một gói mì ăn liền, có khi là một ít cơm sấy hay miếng cá khô. Tôi nghiệm thấy là P.V.Đ. và T.T.V. thành công trong chuyện đi vay không bao giờ trả này. Ít khi nào mà họ về chổ nằm mà trên tay không có một món nào đó xin của những người đồng cảnh vốn không bao giờ muốn bị lôi thôi với những con chiên ghẻ này. Biết thế cho nên T.T.V. và P.V.Đ. chỉ nhắm vào một số tu sĩ, những tù chính trị già cả, một vài ông cựu dân biểu VNCH và nhất là một vài bạn đồng vốn đã nhát nhưng lại cứ hay “bô lô ba loa” cái miệng. Chúng kỵ nhất là đụng độ với những cựu sĩ quan trẻ tuổi hay những người coi việc vào nằm chuồng cọp chỉ là một giấc ngủ trưa. Bởi vì chúng biết đụng độ với những đối tượng này không những không được gì mà có khi còn mang đầu máu lúc đêm hôm tối lửa tắt đèn, nếu muốn nói theo cách trừng trị giang hồ trong nhà tù cải tạo của Cộng Sản.

Tôi muốn nhắc lại những sự việc này trong hồi ức của mình cũng chỉ với mục đích để cho giới trẻ đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam nhìn lại và làm sạch hàng ngũ của mình, nhìn lại cơ cấu tổ chức của mình và phải nên đặt câu hỏi: hoạt động tự phát liệu có thể tránh được những cái bẫy do guồng máy an ninh của nhà cầm quyền không?

Nếu các bạn nói tránh được thì tôi rất phục bởi vì như thế là hoạt động của cả một guồng máy an ninh của cộng sản không làm gì được các bạn. nhưng có những thực tế diễn ra trước mắt các bạn mà chưa có câu trả lời: đó là các bạn trẻ bí mật hội thảo trong một lớp dạy Anh văn trong ngõ hẽm ở Hà Nội, nhưng khi các bạn ấy mới bước vào lớp thì bọn công an đã ập vào đánh cho một trận tơi bời rồi ném lên xe bus chở đi. Hãy nhìn vào thực tế này để rút ra một bài học, trừ khi các bạn trẻ này chỉ chơi bạo lấy tiếng thì không kể.

Buổi sáng cuối tháng 4, 1981phân trại E của nhà tù A-20 vẫn còn ướt đẫm hơi nước của những cơn mưa nhỏ trãi lên thung lũng Xuân Phước đêm hôm trước. Lãnh phần khoai mì lát xong, tôi đem để lên bệ nằm, định ra ngoài tập thể dục một chút rồi vào nhà giam ăn sáng để chời đi lao động thì trật tự Của bước vào cổng nhà giam. Nhìn qua song sắt của khung cửa sổ rộng, tôi thấy tên trưởng ban trật tự này (vốn là một thượng úy công an biên phòng bị án tử hình sau giảm xuống còn chung than vì tội giết mười hai người Cambodia để cướp vàng) có vẽ nghiêm trọng. Hắn bước vào phòng và gọi tên T.D.S. và tôi rồi bảo cả hai chúng tôi phải ở nhà khộng đi lao động để ra làm việc với cán bộ. Khi Của vừa quay đi thì “Đen” vớ lấy cái áo trận may nhiều lớp ném cho tôi và nói: “Cởi áo kia ra ngay, mặc cái áo dày này vào. Anh mặc hai áo, chúng lột cái áo dày ra thì hỏng việc. Thuốc B1 ở trong các đường vá sau lưng, H “bầu” đang clear ba lô của anh, thế nào lát nửa anh đi làm việc thằng Của sẽ leo lên sàn trên khám xét”.

   Nhưng không hiểu sao vào lúc đó tôi bình tĩnh một cách lạ thường, có thể là do tôi hiểu một cách chắc chắn đây là buổi sáng cuối cùng tôi còn nhìn thấy các bạn tù trong nhà giam chung. Có thể vài giờ nửa tôi đã phải giam mình lâu dài trong cái căn phòng bê tông kín mít rộng 2 thước, cao 5 thước, dài 3 thước, chỉ có một lổ nhỏ vuông mỗi bề 5 phân để thở. Tôi nói với Ng. “đen” người lính từng sát cánh với tôi trong tù cải tạo nhiều năm rằng hãy cho “đông lạnh” tất cả mọi thứ và nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ có S. và tôi chịu mà thôi, theo đúng kỷ luật của nhóm.

Khi tất cả các đội xuất trại đi lao động thì Lý “lé” tay cầm một hồ sơ bước vào nhà kêu tên tôi và trật tự Của kè tôi ra khỏi cổng trại tiến về phía một văn phòng nhỏ nằm cách cổng trại không xa lắm. Tôi đã nhiều lần bị thẩm cung trong văn phòng này, nhưng buổi sáng đó là lần đầu tiên cái vẽ lạnh lẽo đặc biệc của nó làm tôi chú ý. Bộ đồ trà gốm có 4 cái tách bằng gốm thô, một bình tích trà nóng, ủ trong một vỏ dừa ngã màu nâu, một chiếc gạt tàn thuốc lá, bao thuốc thơm Thăng Long vẫn còn nguyên cái bao bì bằng giấy xám chỉ giúp làm tăng cái vẽ đe dọa đối với người bị thẩm cung thay vì tất cả những vật dụng này lẽ ra đã phải làm tròn nhiệm vụ của chúng là giúp cho cuộc gặp gỡ thêm đậm đà. Mãi cho đến lúc Lý “lé” rút trong túi ra một tờ giấy đọc “lệnh bắt” tôi mới chú ý tới khẩu K-59 anh ta mang bên hông và chiếc nón kết có cái vành rộng tụt xuống sát mang tai. Tôi rủa thầm: “Mẹ kiếp.. còn bày đặt lệnh bắt với chả lệnh tha. Bố mày đây đã tù 6 năm rồi, chúng mày có đọc vài cái lệnh bắt cũng chẳng ăn nhằm gì.” Lý “lé” ra lệnh cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước bàn làm việc. Anh ta cầm bao thuốc lá lên rút ra một điếu đưa cho tôi, nhưng tôi nói: “Tôi không hút thuốc lá, chỉ hút thuốc lào”. Lý gọi trật tự Của đang đứng ngoài  trước hàng hiên của văn phòng: “Đi lấy cho anh ấy cái điếu cày và thuốc” Sự màu mè lộ liễu và nham hiểm của Lý “lé” tôi cũng đã quen nên tôi “đổ bựa” hỏi người thẩm vấn: “Cán bộ kêu tôi ra đây có chuyện gì, không lẽ chỉ ngồi uống nước trà và hút thuốc” Lý “lé” cười khảy: “Lát nửa anh sẽ biết, bây giờ uống nước trà và hút thuốc đi cho bớt căng cái đã”

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 24 July 2023

Những loạt súng đầu tiên nghe ở hướng đài phát thanh và phía cầu Tàu khi tôi thức dậy. Tay tôi quờ quạng vặn nút chiếc Radio tìm đài Sài Gòn: tôi mong nghe một lời tuyên bố; chỉ nghe tiếng sột soạt hình như của cuốn băng nhựa quay. Chắc lại đảo chính! Tôi bỗng muốn mỉa mai ý nghĩ của chính mình: đất nước đang chiến tranh, thế nhưng ở Sài Gòn hễ có tiếng súng nổ người dân đô thị chỉ nghĩ đến một biến cố chính trị. Số người nghi ngờ một cuộc đột kích của địch, một vụ đột kích nho nhỏ thôi, chứ đừng nói đến một cuộc tổng tấn công, chắc đếm được đầu ngón tay. Người ta đã chẳng quay một phim “Sài Gòn không chiến tranh” là gì? Tôi nằm im nghe những tràng tiểu liên nổ gần xa, cố phân biệt từng âm thanh, từng nhịp nổ: Tôi quen thuộc tiếng M.16 nổ nhẹ và phả hơi, nhưng qua những loạt nổ dòn cao, tôi không phân biệt được tiếng Carbin M.2 hay tiếng AK. Có chăng nhịp AK chậm hơn. Kinh nghiệm phân biệt súng bạn súng thù của tôi sau hai năm theo các Tiểu Đoàn Dù chỉ tới mức ấy. Tôi trở về giấc ngủ với cảm nghĩ bàng quang: Chắc có chuyện gì đó, sáng ra hẵng hay.

Sáu giờ sáng đài Sài Gòn loan tin, một số Việt Cộng mưu toan đánh chiếm một vài cơ sở trọng yếu trong đô thành, quân đội đang đẩy lui chúng. Tôi lẩm bẩm “hưu chiến cơ mà!” để rồi cảm thấy mình ngây thơ. Đánh nhau cần nhất yếu tố bất ngờ. Còn gì bất ngờ hơn là đánh vào lúc hưu chiến?

Một chiếc xe Hồng Thập Tự đỗ xịch trước nhà. Người tài xế già, nón sắt, áo giáp, tay súng lật đật chào tôi:

_Mời Bác Sĩ vào gấp.

_Gì vậy ông già?

_Dạ, đánh nhau tùm lum.

Nhảy Dù từ quan đến lính thích xài hai tiếng tùm lum. Tùm lum có nghĩa là nghiêm trọng, ác liệt, nhưng tùm lum nghe tếu hơn, đỡ mất tinh thần hơn. Tôi thay vội quần áo. Chiếc xe lao đi. Trên đường xe cộ và bộ hành thưa thớt. Tôi ỡm ờ hỏi người tài xế già:

_Đảo chánh hả ông già?

_Đâu có Bác Sĩ, tụi nó…

_Bị thương nhiều không?

_Dạ, nghe nói cũng khá.

_Ai gác đêm qua?

_Bác Sĩ Niệm.

Tôi thấy số Niệm thật vất vả. Nhớ thời hành quân Bồng Sơn Niệm ở tiểu Đoàn 8, tôi ở Tiểu Đoàn 6, hai cánh quân mỗi lần xuất trận Tiểu Đoàn của Niệm chạm địch hoài trong khi Tiểu Đoàn tôi cứ đều đều vô sự. Tôi đến bệnh viện ĐỔ VINH, giữa cảnh người xe tấp nập. Thấy tôi, Niệm lắc đầu:

_Số tôi khốn nạn thật, hành quân thì đụng tơi bời, trực ở bịnh viện thương binh về ào ào.

Tôi định đùa anh một câu nhưng không đủ can đảm khi nhìn dáng mệt mỏi của anh. Suốt đêm qua Niệm không ngủ. Thương binh nằm la liệt dọc hai hành lang bịnh viện. Tôi hỏi Niệm:

_Mình lựa thương hết chưa?

_Rồi, sáu “cas” nặng. Tôi lo thiếu máu quá. Đã cho đi lấy sao mãi không thấy về.

_Mới có Đoàn và Nghị, Bá, Tín đi phép, Hà đau nặng.

Tôi buột miệng kêu lên: “Thế thì bỏ mẹ rồi!” Hà là “cây dao” số một của bịnh viện Đỗ Vinh. Muốn giải phẫu các vết thương ruột phải có anh. Tôi hỏi Niệm:

_Sao không gởi bớt sang Tổng Y Viện Cộng Hòa?

_Đang đánh nhau ở cổng số 4, trực thăng không dám đáp.

Chúng tôi ở vào thế bí: Bệnh viện chỉ có một phòng mổ lớn, một phòng mổ nhỏ mà có đến hai vết thương ngực, hai vết thương bụng và một vết thương huyết mạch đòi hỏi giải phẫu khẩn cấp. Tôi điều khiển công việc hồi sinh các thương binh nặng. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng nhờ Bác Sĩ cố Vấn Smith liên lạc các bịnh viện Mỹ xin nhận bệnh và xin máu. Một giờ sau sáu thương binh nặng được trực thăng Mỹ di tản xuống Long Bình. Chúng tôi chưa kịp thở phào thì có tin một đợt thương binh nữa sắp về. Hành lang bệnh viện không còn một chổ trống. Phòng họp Hạ Sĩ Quan biến thành phòng bệnh với hai hàng cáng sắp dài. Smith xoay được bốn mươi bịt máu mang về. Thêm hai Y Sĩ vào bệnh viện bằng phương tiện riêng. Nhiếp và A. A là “cây đao” có hạng của bệnh viện Nhi Đồng mới về “đầu quân” cho Đỗ Vinh. Chúng tôi yên tâm đợi bệnh. Trọn buổi sáng lựa thương, hồi sinh. Tôi đánh thuốc mê cho A. Nhiếp mổ một vết thương xuyên ngực bụng lúc mười lăm giờ. Mười tám giờ ba mươi vừa ra khỏi phòng mổ thì thêm một đợt thương binh về. Câu lạc bộ Sĩ Quan của Sư Đoàn biến thành phòng bệnh. Bữa cơm tối thật vội vàng, buồn tẻ. Chiến cuộc trong ngày tại đô thành làm chúng tôi thiệt mất ba y tá, hai ở Tổng Tham Mưu và một ở trên đường xuống Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Ánh, Tùng, Nhất, nhắc lại tên chúng nó một lần cuối cùng! Tin tức từ Huế cho biết Việt Cộng tràn ngập Cố Đô. Chiến Đoàn I Dù đụng nặng. Công điện của Tiểu Đoàn 2 báo cáo bác sĩ Cao mất tích cùng hai y tá. Bác Sĩ Bá về ăn Tết với gia đình ở Huế cũng không tin tức.

Tôi gây “tê tủy sống” cho Smith giải phẫu một trường hợp gãy hở xương ống chân ở phòng mổ nhỏ rồi vào phòng mổ lớn đánh thuốc mê cho Đoàn, anh giải phẫu một vết thương bụng. Chúng tôi rời phòng mổ đúng nửa đêm. Ngã lưng xuống giường vùi đầu vào giấc ngủ. Sáng hôm sau giải phẫu hai cánh tay gẫy, một bàn chân gẫy; buổi chiều một ống chân gẫy, một bàn tay dập nát. Một đợt thương binh về trước bữa cơm tối. Có một vết thương bụng. Phải mất sáu tiếng đồng hồ để khâu một lổ ruột già, một lổ bọng đái, cắt nối một khúc ruột non rồi kéo ruột ra ngoài làm một hậu môn nhân tạo. Chúng tôi lết ra khỏi phòng mổ lúc hai giờ sáng. Trọn ngày thứ ba tôi vẫn không rời phòng mổ. Số thương binh cần giải phẫu còn nhiều. Nếu không bị tràn ngập bởi những đợt thương binh mới, chúng tôi có thể “thanh toán” phần còn lại trong vòng hai ngày tới. Tối hôm đó chúng tôi được lệnh nghỉ xả hơi. Nghe lệnh nghỉ tự nhiên cơ thể đâm ra mỏi nhừ tựa như người bị thương mà không biết mình bị thương đến khi có kẻ chỉ cho nhìn thấy vết thương liền ngã ra xỉu. Tôi ngủ vùi một giấc cho đến khi bị lay dậy.

_Có bệnh nặng hả?

Tôi hỏi giọng ngái ngủ.

_Thưa vâng nhưng là…một Việt Cộng. Người y tá trả lời.

Bị dựng đầu dậy giữa ba giờ sáng vì một tên địch ác ôn thì bực mình quá. Nhờ anh tí, phần nào thôi chứ. Tôi định lảm nhảm như vậy: đọc văn phóng sự nhiều nên bị ảnh hưởng. Lên phòng mổ tôi gặp A, phiên trực của anh. A chỉ tên Việt Cộng:

_Đồng nghiệp của mình đấy.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

_Bác Sĩ Việt Cộng à?

_Y Sĩ Tiểu Đoàn thôi. Y Sĩ Tiểu Đoàn của “nẫu” tương đương với Sĩ Quan Trợ Y của mình.

_Bây giờ “nẫu” làm sao?

_Bị đạn xuyên từ mông ra háng. Sếp ra lệnh chỉ cho truyền dextrant và băng ép vết thương chứ không cho máu. Y Tá vừa báo tôi vết thương ra máu nhiều quá, chắc các huyết mạch bị gì rồi. Để thế này thì nó sẽ chết. Mời anh lên xem, có thể được anh cho nó ngủ để tôi mổ.

Mạch không đếm được, áp huyết: 4/2. Không thể đánh thuốc mê trong tình trạng xúc kích như vậy. Phải hồi sinh bằng máu. Nói đến máu tôi nghĩ đến Nhất, người y tá đã bỏ mình trên đường về Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Bây giờ chúng tôi lại định truyền máu để cấp cứu một kẻ đứng trong hàng ngũ đã giết nó. Cảnh chết chóc đổ nát đã làm lòng nhân đạo của giới áo trắng Dù chúng tôi đối với kẻ địch xuống đến mức thấp nhất. Nhưng tôi bỗng nghĩ đến Cao. Ai cũng tin anh đã bị địch bắt. Chúng có giết anh không? Mọi người hy vọng không, không một cách mong manh: tôi nghĩ phải cứu tên Y Sĩ Việt Cộng này rồi nhờ đài phát thanh loan tin đi. Biết đâu địch sẽ nghe được. Biết đâu chúng sẽ cảm động mà không giết Cao và biết đâu chẳng có một cuộc trao đổi tù binh quân y…Hai bịt máu truyền nhanh đưa áp huyết lên 10/6 và mạch 100. Tôi cho y ngũ. Lưỡi dao của A tìm thấy một nhánh tĩnh mạch đùi bị đứt. Tôi ra khỏi phòng mổ khi năm giờ sáng, mệt mỏi nhưng tỉnh ngủ. Buổi sáng chúng tôi trình bày sự việc lên Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng. Ngay tối hôm đó đài phát thanh quân đội loan tin: một Thượng Úy Quân Y Việt Cộng bị quân Nhảy Dù bắn trọng thương, bị bắt sống và đã được các Bác Sĩ Nhảy Dù săn sóc chu đáo. Chúng tôi thầm mong Cao còn sống và địch ở Huế nghe tin này.

Một buổi sáng sau khi thăm bệnh, A cho tôi tôi hay, người thương binh mổ bụng ba hôm trước, bây giờ kêu đau ở bụng và tiểu tiện không được. Chúng tôi trở lại phòng lạnh. Bụng người bệnh cứng và đau khi sờ vào. Tôi hỏi anh ta có lén ăn bậy bạ gì không thì anhj chàng trả lời không. Nhưng người thương binh nằm cùng phòng cho hay, một ngày sau khi mổ vợ anh có lén cho anh uống sữa và nước rau má. A dậm chân kêu trời, anh nghĩ đến các mũi khâu nhiễm trùng có thể bị sút. Mất sáu tiếng đồng hồ để nhận lấy kết quả bết bát như thế này vì sự bất cẩn của kẻ khác thì thật đáng nổi khùng. Tôi buông thỏng một câu:
_Thương chồng kiểu này chỉ chóng giết chồng, bà này chắc chỉ muốn lấy Mẽo sớm.

Tôi khựng lại đó tủi hổ thầm những gì mình vừa nói.

_Chắc phải “khui” lại. Nó có chịu nổi một cú thuốc mê nửa không anh?

Tôi cũng đang tính toán: Mổ lại phải mất ba tiếng đồng hồ. Hai lần mổ chỉ cách nhau ba ngày. Bệnh nhân yếu sẽ chết vì thuốc mê… người bệnh của tôi chưa quá yếu, vả lại chúng tôi không còn sự lựa chọn nào khác là mổ. Tôi duy trì bệnh nhân ngủ thật nhẹ với khí N2O cùng Anectine, một chất giãn cơ truyền bằng tĩnh mạch. Phải bóp đều đều trái bong bong để thở cho bệnh nhân. Một đoạn ruột nom tím sẫm chìm trong chất nước xanh nhờn nhờn. Một mũi khâu bị sút. Tôi đọc nét lo âu nơi đôi mắt A. Cắt bỏ cả đoạn ruột kia thì cả một vấn đề tiêu hóa khó khăn cho bệnh nhân trong tương lai. A ngâm đoạn ruột trong nước ấm có pha Novocaine. Một phút rồi hai phút chờ đợi nặng nề. Sắc hồng hiện dần dần trở về trên khúc ruột. Chúng tôi thở phào trút một gánh nặng. Khâu chổ bị sút, rửa ruột và đóng bụng. Mấy đầu ngón tay tôi sưng lên vì phải bóp trái bóng liền trong bốn tiếng đồng hồ. Hai ngày sau khi mổ vào lúc trưa thật tình cờ tôi ghé vào phòng lạnh. Và tôi thấy gì? Con bệnh của tôi tỉnh táo nằm hút thuốc lá. Phải khiển cổ la mắng. Thương binh ông nào cũng như ông thần này thì chắc chúng tôi không thọ nổi. Nhưng tôi vẫn phải ngạc nhiên trước sự lại sức mau chóng của anh ta. Tôi đâm tin số mạng. Số chưa chết thì thập tử nhất sinh, ẩu tả mấy như tay này vẫn sống nhăn.

Không khí phòng mổ không phải lúc nào cũng căng thẳng. Nếu có lúc mồ hôi vã như tắm, chạy đua với đồng hồ giành giựt với tử thần sự sống cho những đồng đội thì cũng có lúc chúng tôi làm việc thoải mái vừa mổ vừa vui đùa với bệnh nhân. Người thương binh chúng tôi đang sửa soạn mổ là một chú lính mười bảy tuổi. Mặt hắn ngây thơ một cách lạ kỳ. Chú bị gãy hở xương ống chân trái. Niệm tính làm sạch vết thương sắp lại các mãnh xương vỡ và bó bột. Tôi “gây tê tủy sống”: Chích vào tủy sống lưng một lượng nhỏ Pontocane hòa với hai phân khối Dextrose mười phần trăm có tác dụng làm chỉ thống phần dưới thân thể suốt ba tiếng đồng hồ trong khi bệnh nhân vẫn tỉnh. Lối gây tê này đòi hỏi ở bệnh nhân một chút can đảm. Con bệnh của tôi mới vào phòng mổ lần đầu nên có vẽ lo sợ.

_Bác Sĩ cho em mê đi, đừng cho em biết gì hết.

Tôi giải thích:

_Mổ cái này không cần mê mổ xong là ăn uống được ngay, chụp thuốc mê tỉnh dậy mệt lắm..

_Em sợ đau..

Tôi hơi gắt:

_Tôi bảo đảm không đau, Nhảy Dù gì mà nhát vậy?

Hai tiếng Nhảy Dù là một lợi khí của chúng tôi để kích thích tự ái các thương binh. Con bệnh nằm im, bàn tay hắn lạnh và run. Áp huyết tốt nhưng mạch nhanh. Sự sợ hãi quá độ đôi khi dễ làm xúc kích. Tôi gnhi4 phải làm thế nào để bệnh nhân quên mình sắp bị mổ, đừng để hắn bị ám ảnh bởi ý nghĩ mình sắp phải chịu đựng một cơn đau đớn. Niệm để con dao ngang trên vùng mổ đưa mắt nhìn tôi. Tôi khẽ gật đầu rồi cúi xuống hỏi người bệnh:

_Nè, Nhảy Dù răng “chim” xí xí rứa? Chơi bời chưa?

Chú lính lắc đầu. Phòng mổ bật tiếng cười. Tôi tiếp tục:

_Tại răng không chơi bời? Nhảy Dù mà không chơi bời là yếu.

_Má em dặn không được bậy bạ mang bệnh vào người…

Niệm đang mổ tố them:

_Ăn thua gì, hôm nào lành chân cậu phải đi kiếm “chị em ta” mà “khai quân” đi nghe chưa? Có gì về đây tôi chữa cho.

Người bệnh nằm yên có vẽ không đồng ý lời khuyên của chúng tôi. Tôi tìm cách duy trì câu chuyện:

_Cậu có bồ chưa?

_Dạ bồ thì có.

_Ở mô, đẹp không?

_Ở Huế, đẹp ác lắm!

_Thế đã làm ăn gì chưa?

_Không có mô, tình yêu cao thượng mà Bác Sĩ.

_Xì, cậu điệu hoài, Nhảy Dù là phải đánh mau, đánh mạnh.

_Làm chuyện xác thịt trước hôn phối là có tội.

_Ai bảo cậu vậy?

_Em Công Giáo.

Tôi thắng ngay câu định hỏi tiếp. Ở xứ Việt Nam này không nên đụng vào vấn đề tôn giáo; nó phức tạp lắm, nguy hiểm lắm. Phải “kính nhi viễn chi” như Khổng Tử đã dạy. Người bệnh chợt hỏi:

_Mổ chưa Bác Sĩ?

Tôi nói dối:

_ Mổ nảy giờ cả tiếng đồng hồ. Cậu thấy không, đâu có đau đớn gì.

Anh chàng hơi yên tâm. Khi ấy Niệm gắp ra một mảnh đạn lớn bằng ngón tay út. Tôi bảo người y tá gói mảnh đạn đặt vào lòng bàn tay người lính trẻ. Hắn ta ngắm mảnh đạn còn dính máu của mình, miệng lẩm bẩm chửi thề. Anh chàng bỗng trở nên bạo dạn:

_Bác Sĩ cho em nhìn chổ mổ một chút.

_Không được, nhìn xong cậu xỉu luôn thì mệt tôi.

Người thương binh của tôi vửa trở nên can đảm trên bàn mổ. Tôi nghĩ chiều nay hắn có quyền khoe với bạn bè rằng hắn chịu chơi đòi xem chổ mổ vết thương của hắn mà bác sĩ không cho. Tôi cũng mong hắn sẽ không thực hành những điều chúng tôi khuyên hắn về đàn bà. Những gì chúng tôi đã nói với nó tất cả “chỉ là cái cớ”. (Vũ Khắc Khoan_Thành Cát Tư Hãn)

Một buổi tối chúng tôi nhận một Việt Cộng bị trúng độc vì lựu đạn khói. Tên này núp dưới hầm với hai đồng bọn. Quân Nhảy Dù bao vây kêu gọi đầu hàng. Hai tên kia nghe lời vừa ra khỏi hầm bị tên này bắn chết. Một quả lựu đạn khói được tung xuống hầm. Khi binh sĩ Dù xuống lục soát hầm, thấy tên này nằm ngắc ngoải. Phòng Hai muốn khai thác nên đưa chúng tôi cứu tỉnh nó. Tên địch chừng ba mươi tuổi, cao cỡ một thước bảy, vóc người vạm vỡ, mặt vuông chiếc cằm bạnh ra, nhất là đôi chân mày xếch trên chiếc trán hói tạo cho hắn một vẽ đanh ác nhìn phát sợ. Hai ngón tay tôi khẽ bật mí mắt của hắn: con ngươi đã nở lớn, khí độc ngấm quá nhiều vào máu. Sếp và chúng tôi bàn thiệt hơn. Một tên đã có gan bắn ngã hai đồng bọn, có gan chịu chết ngạt chứ không chịu ra đầu hàng có cứu sống nó cũng không khai đâu. Thế nhưng không ai quyết định để nó chết. Tôi cho ngữi dưỡng khí, truyền nước có pha Bicarbonate. Mười một giờ đêm tình trạng vẫn không khả quan. Sếp quyết định cho ngữi thêm nửa giờ dưỡng khí rời gửi trả phòng Hai. Tôi bình thản nhìn tên địch thoi thóp. Huế, quê hương tôi đang đổ nát, hai người chú bị thảm sát tôi nghĩ tôi có quyền nhìn một tên địch chết mà lòng dững dưng. Chúng tôi đã làm tất cả những gì phải làm cho một trường hợp cấp cứu. Nếu phải cứu chữa một binh sĩ của chúng tôi trong một trường hợp tương tự chúng tôi cũng chỉ làm có thế. Khác chăng là trong bình dưỡng khí, trong chai nước có tình thương, có hy vọng, có thất vọng của chúng tôi.

Bệnh viện Đỗ Vinh bắt đầu bận rộn đón tiếp phái đoàn ủy lạo. Công việc phòng mổ không cho tôi có dịp ở trong thành phần tiếp đón. Hình ảnh đẹp tôi bất chợt bắt gặp là hình ảnh một giai nhân bật lửa đốt thuốc cho một thương binh. Từ đó tôi thèm được bị thương. Nhưng rồi tôi thất vọng khi biết nếu bị thương sẽ không có người bật lửa đốt thuốc cho tôi vì lẽ rất dễ hiểu là tôi không biết hút thuốc! Tôi còn nhớ gì nửa? Nước mắt của một cô ca sĩ. Cô khóc vì quá xúc động trước những thương tích của “các anh chiến sĩ mũ đỏ”. Có người nói nhỏ với tôi:

_Nước mắt cũng nằm trong chương trình quảng cáo của các em.

Tôi không muốn tin như vậy, tôi không muốn tin có kẻ đủ can đảm đóng kịch trước những con người hy sinh đến tàn phế.

 Trong một buổi cơm trưa chúng tôi bàn về bịnh tình của Hà. Anh đã nằm hôn mê ba ngày liền trong Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ. Hồi trước tết anh có săn sóc một quân nhân bị bệnh chó dại. Người bệnh chết và Hà phải chủng ngừa. Thuốc chủng đã gây cho anh chứng viêm não tủy hậu chủng (encéphalomyélite postvaccinale) một biến chứng rất hiếm nhưng cũng rất nguy hiểm. Hà thoát chết với những dư chứng trầm trọng: các cơ hạ chi bị tiêu mòn, đường tiểu tiện bị yếu liệt, các giác cảm suy nhược. Hà trở về Đỗ vinh sau khi chập chững đi được. Hàng ngày anh “anh dũng” chịu đựng cảnh “thông nòng” mỗi khi tiểu tiện, khắc phục sự mệt mỏi và chầm chậm thâu hồi các giác cảm. Tưởng tượng hai ba mươi năm sau, kể lại biến cố Xuân Mậu Thân cho con cháu mình nghe chắc Hà sẽ bắt đầu như vầy:

_Tết năm ấy, toàn dân nói chung và tao nói riêng đã vô cùng khổ sở…

Tình hình Huế vẫn nghêm trọng. Trong báo cáo tổn thất hai y tá tử trận, một y sĩ và ba y tá bị thương. Thương binh chắc đã tràn ngập Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Vẫn không tin tức gì về Bá và Cao. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng quyết định gửi một toán giải phẫu cấp cứu ra Huế. Bác Sĩ Nhiếp và Dược Sĩ Chất tình nguyện đi. Nhiệm vụ của hai người là di tản tất cả thương binh ở Nguyễn Tri Phương về Tổng Y Viện Duy Tân ở Đà Nẳng hay về thẳng bệnh viện Đỗ Vinh. Đồng thời tìm cách bắt liên lạc với Bá và Cao. Chúng tôi ở Đỗ Vinh sửa soạn chổ cho thương binh. Buổi tối Nhiếp gọi phone về báo cáo toán giải phẫu còn kẹt ở Đà Nẳng vì trực thăng đến Phú Bài nhưng không đáp được. Hai ngày sau chúng tôi nhận tin toán giải phẫu đã đáp xuống được Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I. Nhiếp nhận lệnh thay Cao ở Tiểu Đoàn 2. Ở Đỗ Vinh chúng tôi nhận gần hai trăm thương binh trong ba đợt. Ngày hai mươi lăm tháng Hai có tin Chiến Đoàn I Dù rút về Sài Gòn. Ngày mười sáu Dược Sĩ Chất gọi phone về báo đã bắt liên lạc được với Bác Sĩ Bá đang ở trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Ngày mười tám Bá vào Sài Gòn. Hai mươi tháng Hai nhận được tin Cao đang chiến đấu trong một đồn Công Binh ở Nam Giao. Ngày hai mươi lăm tháng hai Cao vào Sài Gòn. Thế là hai người mất tích đã trở về. câu chuyện của Bá và Cao về những ngày hai anh đã sống ở Huế đã làm say mê chúng tôi:

Tối mùng một rạng mùng hai Tết, Bá ở nhà một người bạn cạnh Ty Thông Tin Huế.

Khi nghe súng nổ và tiếng gọi nhau giọng Đồng Hới dưới đường Trần Hưng Đạo Bá biết ngay là quân Bắc Việt. Anh dấu vội bộ đồ Dù và cây súng lục, khoát bộ đồ ngủ dặn người nhà bảo mình là thợ hớt tóc vì Bá biết lầu dưới là phòng hớt tóc. Địch đã xông vào khách sạn bên cạnh hạ sát một số Sĩ Quan. Bá bảo anh không bao giờ quên những tiếng thét rùng rợn đó. Suốt ngày mùng hai Bá vẫn bị kẹt trên lầu, địch dưới đường. Khoảng bốn giờ chiều anh bổng nghe tiếng Mỹ dưới đường. Anh hé cửa nhìn: một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vừa vượt cần Tràng Tiền đang tiến lên phía cửa Thượng Tứ. Bá quyết định trình diện đơn vị bạn. Anh xuống lầu dưới đứng trong nhà hét to bằng tiếng Mỹ:

_Tôi là một quân y sĩ Nhảy Dù Việt Nam, tôi muốn đi theo các anh, xin đừng bắn.

Sau khi bị khám xét, Bá xin gặp vị chỉ huy, một ông Trung Tá. Anh được yêu cầu ngược trở lại đi theo đơn vị để săn sóc di tản thương binh. Bá trở vào nhà mặc bộ đồ dù và anh nghiễm nhiên trở thành người y sĩ Việt Nam đầu tiên của một đơn vị Hoa Kỳ. Hỏa lực mạnh mẽ của địch ở cửa Thượng Tứ không cho quân Mỹ tiến vào nội thành. Bá đã chứng tỏ mình là một y sĩ tiền tuyến đầy kinh nghiệm trước một số thương binh của đơn vị bạn. Cuộc tiến quân thám sát của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã giúp Bá thoát nạn. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ trong năm ngày đầu chiến cuộc, một mình Bá săn sóc, giải phẫu cho hơn bốn trăm người bị thương gồm binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam. Anh đã dùng Morphoine và thuốc tê để thực hiện mười lăm cuộc giải phẫu thiết khai khí quản, mười cuộc giải phẫu cưa chân tay. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ không có y sĩ giải phẫu. Qua ngày thứ Sáu mới có hai y sĩ giải phẫu Mỹ ở Phú Bài lên tăng cường. Bá tiếp tục làm việc ở đó cho đến khi được phone gọi về Đỗ Vinh. Tôi hỏi Bá về thái độ của người Mỹ đối với việc làm của anh. Bá đưa tôi xem bản sao đề nghị ân thưởng huy chương Ngôi Sao Bạc cho Bá của Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Một đoạn viết:

“Dưới hỏa lực đủ loại của địch, Y Sĩ Trung Úy Đoàn Văn Bá đã chứng tỏ mình là một sĩ quan can đảm. Ông đã cứu sống nhiều sinh mạng binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam trong những ngày địch tấn công thành phố Huế; lòng tận tụy của ông đã làm mọi người Mỹ có mặt phải kính phục..”

Điều chúng tôi hãnh diện về Bá không phải vì anh cứu sống nhiều sinh mạng hay vì anh đã tỏ ra can đảm ngoài chiến trường. Người y sĩ Dù nào cũng phải vậy. Chúng tôi hãnh diện cử chỉ của Bá khi anh từ chối một sự đền bù bằng hiện kim của người Mỹ. Đồng tiền Mỹ đã và đang đốt cháy nhân phẩm, thanh danh bao nhiêu tầng lớp người Việt Nam. Người ta có thể thương hoặc ghét chúng tôi, không một ai khinh được chúng tôi.

Nếu Bá có dịp thi thố tài năng chuyên môn làm binh chủng bạn phải nể phục thì trái lại Cao phải bó tay nhìn các thương binh của Tiểu Đoàn Công Binh chết dần trong đau đớn. Cái chết ám ảnh anh nhất là cái chết của một binh sĩ bị thương ở ngực. Sau hai ngày chờ trực thăng di tản không có, anh này đã tự sát bằng một phát súng vào đầu! Điều làm anh khổ sở nhất là có bác sĩ, có thương binh nhưng không có phương tiện, thuốc men để chữa trị, Cao nói:

_Nếu có đủ thuốc men và một túi dụng cụ giải phẫu nhiều thương binh đã không chết một cách oan uổng.

Suốt thời gian bị kẹt nếu Bá sống an toàn trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ thì Cao phải trãi những ngày đêm tinh thần căng thẳng, mất ngủ vì đói lạnh. Tình hình tưởng đã có lúc tuyệt vọng. Địch đã ba lần tấn công đồn pháo kích liên miên, đêm bắt loa kêu gọi đầu hàng. Giải pháp bỏ đồn mở đường máu rút về An Cựu đã được bàn cãi, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là cố thủ. Ngày mười tám tháng hai một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đến giải vây đồn.

Tôi muốn mượn Bá và Cao để viết thật nhiều về Huế, viết thật cảm động, thật đau lòng cho những tang thương, đổ nát. Nhưng tôi biết muốn viết về chiến tranh không thể nghe kể lại, không thể tưởng tượng mà phải sống. Qua những ngày Đỗ Vinh tôi không sống cuộc chiến đang xảy ra, tôi sống với hậu quả của nó: những thương tích đang xảy ra trên bao nhiêu thân xác bạn lẫn thù. Lịch sử sẽ ghi một biến cố Xuân Mậu Thân, nhưng trong lòng mỗi người dân Việt Nam năm đó đã có hàng chục triệu biến cố Xuân Mậu Thân khác nhau. 

Y Sỹ Tiền Tuyến

vietmessenger.com

Trang Châu

Typing & Post by Sơn râu 23 July 2023

Ven Đô

Sau mười một tháng ở Vũng Tàu, tôi rời Tiểu Đoàn 6 để về Tiểu Đoàn 3 ở Sài Gòn. Y Sĩ Dù phải phục vụ ở cấp Tiểu Đoàn một thời gian là hai năm. Nhưng mỗi khi có đợt y sĩ mới về các y sĩ cũ được ưu tiên chọn lại đơn vị mới nếu họ muốn. Kỳ này có hai y sĩ mới để thay Niệm ở tiểu Đoàn 8 và Cảnh ở Tiểu Đoàn 3, tôi xin đổi về 3. Như vậy một trong hai y sĩ mới sẽ thay tôi ở 6. Nhiều lý do làm tôi muốn rời Vũng Tàu về Sài Gòn, nhưng lý do chính nhất vẫn là vấn đề tình cảm: Vũng Tàu có biển nhưng Sài Gòn có người yêu.

Tiểu Đoàn 3 vừa hành quân ở Phù Cát về, nóng hổi chiến thắng Đại Bàng 800. Cả một chiến dịch phô trương chiến thắng này qua báo chí, đài phát thanh, phim ảnh. Tiểu Đoàn may mắn có hai tay văn nghệ góp tài tô điểm: Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, thực hiện cuốn phim mang tên “Đại bàng 800”, Đại Úy Sĩ Quan ban ba nhà văn Thế Hoài, viết phóng sự đăng báo. Nhưng tôi cho điều may mắn hơn của Tiểu Đoàn 3 là có một ông Tiểu Đoàn Trưởng biết xử dụng văn nghệ để nâng đơn vị lên. Với “Đại Bàng 800” Tiểu Đoàn 3 tìm được một chổ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi theo Tiểu Đoàn tham gia chiến dịch “Rạng Đông”. Qua những tài liệu học tập tôi được biết công việc bình định nông thôn được nâng lên hàng Quốc Sách. Quân đội sẽ đảm trách phần an ninh giúp các đoàn thanh niên xây dựng nông thôn, các toán võ trang tuyên truyền, các ban y tế về làng hoạt động. Bên ngoài chủ lực quân càn quét địch, bên trong quân cán chính địa phương tiêu diệt các ổ nội tuyến, tổ chức lại hành chánh xã ấp. Thí điểm được chọn là những quận ven đô, nếu kết quả mỹ mãn sẽ bành trướng trên toàn quốc. Chúng tôi đang lãnh trọng trách bẻ gãy kế hoạch lấy nông thôn bao vây thành thị của địch.

Vùng hoạt động đầu tiên của Tiểu Đoàn 3 là Ấp Đồn, quá quen thuộc với binh sĩ Dù, vì nơi đây có bãi nhảy. Cách Ấp Đồn không quá một cây số là bưng biền Nhị Bình, một vùng kinh lạch bùn lầy hiểm trở. Lực lượng địch ẩn náu trong bưng theo tin tình báo không quá một trung đội du kích. Nhưng Nhị Bình còn là nơi tập trung và dưỡng quân của đich. Tìm diệt lực lượng này vẫn là điều mong muốn của các cấp chỉ huy. Nhưng thường thường chỉ chạm với du kích. Đánh nhau với du kích nếu không khôn ngoan không những khó ăn mà đôi khi còn thua đau.

Xe đổ chúng tôi xuống Ấp Đồn lúc năm giờ sáng. Kéo dọc theo con lộ đến ngang Nhị Bình. Hai cánh quân song song tiến vào bưng. Tám giờ Đại Đội 32 chạm địch. Ỷ vào địa thế quen thuộc dễ ẩn náu, dễ rút, du kích Nhị Bình rất lì chờ đối phương đến thật gần mới nổ súng. Nhưng binh sĩ Tiểu Đoàn 3 tiến quân không động tĩnh. Khi hai bên bất thần trông thấy nhau, khoản cách không đầy năm thước. những loạt súng thật dòn thật ngắn, đưa đến kết quả: Phía Dù một chết, hai bị thương, địch bỏ lại ba xác cùng vũ khí. Nơi chạm súng cách xa tôi quá, tôi không thể có mặt bên các thương binh. Tôi hỏi ông Sĩ Quan Ban 3 về phương tiện di tản. Đại Úy Châu cho biết sẽ có trực thăng bốc thương binh tại chổ. Súng vẫn nổ rời rạc, hướng đạn địch bay qua phía chúng tôi. Mọi người di chuyển nhanh qua các chổ trống. Chúng tôi đi trên bờ đất trơn cao, bấu víu vào những thân cây mít. Một hố cá nhân ngập nước đục ngầu nằm sát lối đi. Đến bên hầm tôi tẩn mẩn cầm gậy tre xăm xuống hồ nước. Không thấy gì khả nghi, tôi nghị nước đục vì có người đi trước rửa giày. Nhưng vừa đi mươi bước, tôi nghe đằng sau có tiếng quát lớn: “dơ tay lên”! Một lúc được dẫn qua trước mặt tôi một người đàn ông chừng năm mươi tuổi bận bà ba đen, ướt như chuột từ đầu đến chân. Người Sĩ Quan an ninh nói với tôi:

_Thằng cha này lặn núp dưới hầm nước mà hồi nãy Bác Sĩ xăm cây gậy xuống đó, lặn lâu hết hơi phải ngoi đầu lên.

Tôi thắc mắc tại sao lúc nãy tôi xâm cây gậy khá sâu mà không chạm người gã. Có lẽ lục soát không phải phận sự của tôi. Chúng tôi rút ra đường lúc năm giờ chiều, không quên gài dưới mỗi xác du kích hai quả lựu đạn quà tặng dành cho đồng bọn về kéo xác. Ba hôm sau, một Đại Đội được tung vào lại mục tiêu cũ. Ba cái xác sình thối vẫn không xê dịch. Chẳng hiểu địch quá khôn, hay quá sợ mà không dám trở về. Một buổi chiều ông Trưởng cho mời tôi sang nói chuyện. Tôi nghe nói nhiều về thuật chỉ huy và dụng nhân của ông Tiểu Đoàn Trưởng này. Dưới quyền chỉ huy của ông binh sĩ Tiểu Đoàn 3 trở nên những người lính gương mẫu nhất: Đầu húi cao, giày đánh bóng, chào kính kỹ càng. Ông tỏ ra có uy với các sĩ quan thuộc cấp. Trong những buổi họp Sĩ Quan phải gọi nhau bằng cấp bậc. Ở hậu cứ cũng như khi hành quân, lon phải mang ở cổ áo. Một lần ông tỏ bày quan điểm với tôi về lon phải mang ở ngực:

_Tôi không chấp nhận Sĩ Quan mang lon ở ngực, trông thiếu tác phong, tồi tệ hơn nửa là mang lon ở ngực với ẩn ý là khi cần gỡ bỏ nó nhanh chóng. Phải biết hãnh diện mình là Sĩ Quan, ngay cả trước kẻ thù.

Người Sĩ Quan được ông nể biệt là ông Y Sĩ Trưởng. Ông tiếp tôi lịch sự đến mức làm tôi lúng túng. Những người khéo quá phải nên dè dặt. Tôi hay dặn lòng như vậy. Nhưng tôi vẫn thích sống hòa hợp hoặc chạm trán với những người trong hoàn cảnh nào vẫn tỏ ra lịch sự. Trong câu chuyện ông Trưởng cho tôi biết giai đoạn dân sự vụ bắt đầu, trong đó mục khám bệnh phát thuốc của tôi giữ phần cốt cán. Liền một tuần, ngày hai buổi tôi hành nghề qua nhiều địa điểm ở Nhị Bình. Tiểu Đoàn còn tổ chức hai đêm văn nghệ, chiếu bóng. Tôi nghĩ không cần tranh thủ nhân tâm vùng này, họ quá quốc gia; tôi cũng nghĩ không còn gì nhiều phải làm để đóng lâu ở Nhị Bình.

Chiều ngày thứ mười Tiểu Đoàn được lệnh trở về hậu cứ chuẩn bị hành quân dài hạn. Hành quân dài hạn không vùng I thì cũng vùng II. Tiểu Đoàn 3 vừa ở vùng II về, nếu đi Trung chuyến này chắc ra vùng I. Ngoài ấy đang mùa mưa. Hành quân vùng I mùa nào cũng khổ. Nắng thì nắng ráo nước sông, mưa thì mưa thúi đất. Nhưng trong hai Tiểu Đoàn được không vận thẳng ra Đông Hà không có Tiểu Đoàn 3, chúng tôi được lệnh tiếp tục chiến dịch “RẠNG ĐÔNG”. Vùng trách nhiệm mới gồm các ấp thuộc quận Bình Chánh.

Đoàn xe theo quốc lộ số 4 đưa chúng tôi ra Phú Lâm, qua Bà Hom và ngừng ngang Chợ Đệm. Chưa bao giờ binh sĩ vui vẽ như chuyến xuất quân này. Hành quân yểm trợ xây dựng ở ven đô đối với Nhảy Dù như đi dưỡng quân.

Nằm Bình Chánh sẽ không phải thèm nhớ Sài Gòn như nằm ở Tam Quan hay Gio Linh. Hai mặt quân yên thắm tiến vào vùng trách nhiệm. Bộ Chỉ Huy đóng trong đồn Nghĩa Quân. Đồn nằm giữa đồng trống có hồ ao bao bọc, chéo Chợ Đệm chừng hai trăm thước. Địa bàn hoạt động của Tiểu Đoàn 3 gồm ba xã: Tân Túc, Tân Nhựt và Tân Quí. Ông Quận Trưởng Bình Chánh cho biết tình hình an ninh như sau: Tân Túc gồm những ấp nằm sát quốc lộ số 4, ban ngày an ninh trăm phần trăm. Tân Quí cách Tân Túc bởi con kinh Sáng trong tình trạng xôi đậu. Tân Nhựt gồm các ấp nằm dọc hai bờ kinh Tà Bà thiếu kiểm soát gần một năm nay. Kinh Sáng chạy qua hết Tân Túc chia làm hai nhánh: một nhánh là kinh Bà Tà chạy tuốt vào mật khu Lý Văn Mạnh, một nhánh rẽ sang Đức Hòa, Đức Huệ. Trong ba chiếc đồn trấn thủ ba xã này chỉ còn lại hai: một ở Tân Túc và một ở Tân Quí. Đồn Tân Nhựt nằm sát mật khu Lý Văn Mạnh, một lần bị địch tấn công đốt cháy. Nghĩa Quân phải rút về Tân Túc.

Hai ngày đầu toàn bộ  Tiểu Đoàn đóng ở Tân Túc, một Đại Đội được tung sang lục soát các ấp ở Tân Quí rồi rút về đóng ở chợ Đệm. Trong đồn các công sự được kiên cố hóa. Nhìn những chồng bao cát được đắp cao, các địa đạo sâu quanh co, tôi nhủ thầm mình sắp được buồn vui chuỗi ngày đóng đồn. Hai đêm đầu du kích mò về bắn khuấy bốn năm lần nhưng chúng chỉ ở xa xa bên kia Tân Quí bắn sang. Phía Dù không một phát súng trả lời, im lặng cũng là một cách trả lời đáng sợ.

Sáng ngày thứ Hai tôi bắt đầu khám bệnh, phát thuốc. Theo tôi ngoài trạm Cứu Thương còn một toán Cảnh Sát Dã Chiến. một toán thanh niên Xây Dựng Nông Thôn, một toán Tâm Lý Chiến của Biệt Khu Thủ Đô tăng phái. Tôi có cảm tưởng vui ngộ mình là một thứ cò mồi câu dân chúng ra khám bệnh, xin thuốc để các ban khác hoạt động. Thân chủ của tôi rất đông lần nào cũng trên một trăm năm mươi. Một y tá nói với tôi:

_Bác Sĩ mở phòng mạch tư mà đông khách như thế này thì mau giàu lắm.

Một phòng mạch đông đảo thân chủ, giấc mơ của tôi ngày nào, giấc mơ đã tàn theo chiến tranh. Tôi bây giờ chỉ muốn làm một người thầy thuốc can đảm, tận tụy ngoài tiền tuyến. Đêm thứ ba ban Tâm Lý Chiến tổ chức một đêm văn nghệ chiếu bóng ở Chợ Đệm. Đồng bào tham dự khá đông. Sau phần phát thanh tin tức cuốn phim thời sự mới bắt đầu thì địch từ bên kia bờ kinh Sáng bắn sang. Không có thiệt hại nhân mạng, nhưng cũng làm một số dân chúng lo ngại ra về. Về mặt tâm lý buổi chiếu bóng xem như không thành công. Sáng hôm sau toàn bộ Tiểu Đoàn vượt kinh Sáng sang lục soát Tân Quí. Buổi chiều Tiểu Đoàn rút về để lại bên kia bờ kinh Đại Đội 31 nằm tiền đồn. Khoản bảy giờ tối súng nở dữ dội bên kia bờ kinh. Súng đich nghe nhiều hơn súng bạn. Báo cáo cho biết một toán kích trên đường ra vị trí chạm trán bất ngờ với một toán đich. Cuộc tao ngộ chiến ngắn ngủi gây phía Dù một chết, một bị thương. Người thương binh được đưa qua chợ Đệm để tôi cấp cứu. Chiếc Hồng Thập Tự chở tôi ra chợ Đệm. Chờ một lúc người thương binh mới được khiêng từ bến lên đình chợ. Một viên đạn xuyên cẳng tay trái, không thấy dấu hiệu gãy xương, nhưng người thương binh kêu đau ở bụng. Tôi cho cởi quần áo, qua ánh đèn pin tôi thấy một lổ đạn vào hông phải, không thấy lổ trổ ra. Nghiên cứu kỷ chiều đạn đi tôi kết luận: viên đạn xuyên cẳng tay phải rồi còn trớn chui từ hông vào bụng. Tôi chuyền vội một chai dextrant, chích trụ sinh rồi xin ưu tiên di tản. Hai mươi phút liên lạc phía cố vấn Mỹ cũng như phía ban ba, không mang lại kết quả: các trực thăng tản thương đều bận công tác. Tôi về gặp ông Trưởng để trình bày sự cần thiết di tản để có thể giải phẫu kịp thời vết thương bụng. Ông Trưởng quyết định cho một Dodge và tám binh sĩ hộ tống chiếc Hồng Thập Tự đưa người thương binh về Tổng Y Viện Công Hòa, nếu chạy nhanh và thông suốt mất chừng bốn mươi lăm phút. Chúng tôi yên tâm khi mười phút sau nghe báo cáo qua máy xe đến Phú Lâm bình yên.

Ngày hôm sau Đại Đội 34 được tung sang đóng ấp 4 xã Tân Nhựt. Tôi cũng rời Tân Túc qua hành nghề ở Tân Quí và Tân Nhựt. Song song với công tác dân sự vụ Tiểu Đoàn ba được trung đoàn Manchu Mỹ yểm trợ trực thăng, tổ chức thường nhật hành quân theo chiến thuật “châu chấu diều hâu”: Một Đại Đội được trực thăng vận ngay xuống mục tiêu, lục soát xong trực thăng lại bốc trở về. Sau hai tuần “châu chấu diều hâu” Tiểu Đoàn 3 hạ được mười lăm du kích, bắt sống gần hai mươi tên mà chỉ tổn thất một chết hai bị thương. Tình hình an ninh được cải thiện mau lẹ: Đêm không còn nghe tiếng súng khuấy rối; một số du kích xã ra hồi chánh. Binh sĩ trung đoàn Manchu tỏ ra nể phục Tiểu Đoàn 3 Dù. Họ yêu cầu được hành quân phối hợp với chúng tôi. Ở cấp Đại Đội hay Trung Đội, luôn luôn họ tự đặt dưới quyền của Sĩ Quan Dù. Một buổi sáng tôi được Trung Úy Tước Đại Đội Trưởng Đại Đội 31 kể cho nghe một câu chuyện khá thần bí: Tối hôm trước ông tung mười tổ “ăn sương” quanh vị trí đóng quân của Đại Đội, tổ xa nhất do Hạ Sĩ Quới, người vô sự trong toán kích tao ngộ chiến với địch lần trước làm tổ trưởng. Quới và Niệm, tên người binh sĩ tử thương là đôi bạn thân. Vào khoản chín giờ tôi tổ kích báo cáo Tổ Trưởng mất tích nhưng vũ khí còn tại chổ. Tất cả tổ kích được báo động và tìm kiếm nhưng không kết quả. Sáng hôm sau tìm thấy Quới nằm trong lều từ bao giờ, mặt đờ đẫn, mắt đỏ ngầu như máu. Trung Úy Tước không hiểu làm thế nào Quới có thể từ vị trí về đến Đại Đội mà không bị phát giác. Ông cũng lạ lùng trước bộ mặt như bị ma hớp hồn của người Hạ Sĩ. Trung Úy Tước thuật lại lời của Qưới:
_Em đang ngồi canh thì thấy thằng Niệm mặt mũi buồn rầu đến ngồi bên cạnh, hắn rũ em đi với hắn, em bảo bận gác. Nó nói đi với nó một lát nó sẽ đưa về, em đi với nó, rồi nó đưa em về lều em…

Trung Úy Tước hỏi tôi chuyện có thể tin được không? Tôi cười trả lời có thể cho đó là một ám ảnh thị hình gây nên bởi một chấn động tình cảm ảnh hưởng đến vài tâm điểm của trung khu thần kinh. Nhưng khi ông thắc mắc sao người Hạ Sĩ có thể về đến lều bình yên mà không bị phát giác thì tôi không thể tìm ra một giả thuyết nào để giải đáp ngoại trừ giả thuyết các tổ kích đều ngủ gật hết. Để tránh làm giao động tinh thần binh sĩ trong Đại Đội, Trung Úy Tước xin cấp cho Quới bốn ngày phép đặc biệt về Sài Gòn.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Doàn đóng ở chợ Đệm được một tháng rưỡi. Bốn mươi lăm ngày trôi qua không có gì đáng ghi nhớ ngoài một lần thức trắng đêm nhìn hỏa châu soi sáng Sài Gòn để sáng hôm sau nghe đài phát thanh loan tin địch pháo kích và tấn công phi trường Tân Sơn Nhứt lần đầu tiên; không có gì ngoài một đêm Giáng Sinh, Thế Hoài và tôi gật gù ngồi nhìn nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh say túy lúy tiểu tiện đầy một vỏ chai rượu vang, đậy nút đặt lên bàn ăn Sĩ Quan, xong níu vai chúng tôi thì thầm: “Sáng mai cho chúng nó chết, thằng mặt trời, thằng mặt trăng, mấy thằng mũi lõ…” không có gì ngoài buổi chiều địch cối tám quả 81 ly vào đồn, nhưng không trúng đích, trong cảnh mọi người hối hả nón sắt chụp đầu chạy ra các công sự. Ông Trưởng mặc quần xà lỏn vừa ngồi hớt tóc vừa chỉ huy hai khẩu 81 phản pháo về hướng Tân Nhựt.

Tôi được sống những ngày hành quân nhàn nhã nhất, ngoài phần khám bệnh binh sĩ và làm dân sự vụ, thì giờ còn lại tôi đi câu cá. Sau hai tuần làm thân Lã Vọng, giỏ cá của tôi có chẵn mười con cá rô. Không biết khi rời đồn giỏ cá của tôi sẽ được bao nhiêu con. Đại Úy Garrens nuôi vịt, suốt ngày anh ngồi nhìn đàn vịt mười mấy con loi nhoi trên mặt ao. Trung Úy Bell nuôi một con chó Vện xin được trong một cuộc hành quân. Nghề phụ của chúng tôi không mấy phát đạt: giỏ cá của tôi nước ngập một đêm mưa nước dâng ngập miệng giỏ, cá rô thoát ra ngoài hết. Tôi chán nản bỏ nghề câu ngồi viết văn. Vịt của Đại Úy Garrens chết dần mòn; con Vện của Bell một buổi sáng lục lọi đồ dùng của chủ xơi nhằm sáu viên Chloroquine lăn đùng ra chết. Hai anh bạn Hiệp Chủng Quốc của tôi thấy mình không có duyên với màu sắc địa phương, bèn trở về dân tộc tính: ngày ngày đọc playboy.

Sau hai lần thám sát quy mô hai xã Tân Quý và Tân Nhựt. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn rời đồn chợ Đệm vượt kinh Sáng lên đóng cạnh một chiếc cầu sắt gần Đại Đội 33, đóng trong đồn Nghĩa Quân Tân Quí. Đại Đội 31 ở yên vị trí cũ, chỉ khác là trước là tiền đồn, bây giờ thành bọc hậu, Đại Đội 32 bảo vệ Bộ Chỉ Huy, Đại Đội 34 cùng một Đại Đội Hoa Kỳ đóng sát vùng “tự do oanh kích” hai bên bờ kinh Bà Tà. Tôi làm dân sự vụ ngay cả trong những buổi hành quân thám sát. Lục soát xong là có máy phóng thanh kêu gọi đồng bào đau ốm ra địa điểm X…có bác sĩ khám bệnh phát thuốc không mất tiền. Tôi mĩm cười khi nghe anh chàng xướng ngôn viên lập đi lập lại mấy tiếng không mất tiền. Tôi bổng nhớ một đồng nghiệp đàn anh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa có lần chua chát nói với tôi khi tôi phụ ông mổ:

_Ở ngoài người ta mổ một cái bụng ăn hai mươi ngàn đồng, tôi mổ tính ra ăn có hai trăm.

Tôi thấy chiếc mặt nạ ông rung rung và đoán ông cười. Tôi hiểu ông muốn ám chỉ số lương mỗi tháng không quá mười lăm ngàn của ông. Tôi học của vị đàn anh của tôi một điều: can đảm nói ra mình thiệt thòi, nhưng không chối bỏ nhiệm vụ. Ông vẫn mẫu mực đến về đúng giờ, nhưng ông thiếu hăng say. Theo tôi, muốn hăng say trong công việc phải có hai yếu tố: “quyền lợi hay nghệ sỹ tính”. Chắc tôi còn hăng say vì yếu tố thứ hai. Cũng có lần tôi muốn chán nản, nhất là khi gặp bạn bè, cùng lớp, cùng khóa, đứa nào cũng xe hơi, phòng mạch cấp bậc lại còn lên nhanh hơn, thực thụ, lại còn trước cả bọn Y Sĩ Dù chúng tôi. Nhưng có một lần, một lần để rồi mãi mãi tôi hãnh diện mình là Y Sĩ Dù. Đó là lần một Sĩ Quan lớn cấp bậc hơn tôi đến khai bệnh cảm và xin được di tản. Tiểu Đoàn vừa lội mười ngày trong rừng ra, đang đóng quân nghỉ trong làng. Tôi đồng ý để ông điều trị tại chổ, sau ba ngày nếu không khỏi tôi sẽ xin di tản. Một Sĩ Quan khác đã học lại với tôi lời bình phẩm của vị Sĩ Quan nọ:

_Mấy tên Toubib Dù bày đặt khó khăn, về Sài Gòn, đến phòng mạch tư vứt ra hai bò, tụi nó o bế hết mình..

Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn nhắn trả lời vị Sĩ Quan kia như vầy:

_Tôi không mong, nhưng nếu không may một ngày nào ông bị thương ở mặt trận, lúc bấy giờ ông có bỏ ra hai trăm ngàn đồng chưa chắc những người từng o bế ông với hai trăm đồng đã dám nhận lời có mặt cạnh ông lúc đó. Nhưng tôi sẽ có mặt cạnh ông lúc đó, cấp cứu săn sóc ông không một đồng xu thù lao. Tôi có thể bị thương, có thể bỏ mạng vì ông không một lời trách móc..Nhưng tôi đã cố gắng không nói ra những lời gay gắt trên. Có thể nếu nói ra tôi sẽ trút bỏ được đôi phần bực tức. Nhưng chắc chắn nếu nói ra rồi tôi sẽ thấy mình tầm thường sau lời nói.

Những bệnh phong thấp, ho, kiết lỵ của người lớn, ghẻ chóc, thối tai, sán lãi của trẻ con khuất phục mau lẹ trước thuốc men của tôi. Thân chủ càng ngày càng đông, họ theo tôi từ ấp này sang ấp khác, đôi khi từ xã này sang xã kế cận. Tôi vui với thành quả thâu lượm được, quên cả mệt nhọc và cầu mong với những công tác khác cũng được kết quả mỹ mãn.

Một tuần sau Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 rút về đóng ở vị trí của Đại Đội 31. Đại Đội 31 sang kinh Tân Nhựt theo kinh Bà Tà lên đóng cạnh chiếc đồn Nghĩa Quân bị đốt dạo nào, nằm phía dưới Đại Dội 34 chừng một cây số. Chúng tôi gọi con đường đất gồ ghề nối liền Bộ Chỉ Huy với Đại Đội 33 là đường Nguyễn Văn Niệm để ghi dấu nơi binh I Niệm đã hy sinh trong đêm đi kích. Bộ Chỉ Huy cách bến đò chợ Đệm chừng một trăm thước. Trên bến có chiếc quán, nơi chúng tôi từ quan đến binh ngày ít nhất một lần ghé quán. Quán không có bảng hiệu, nhưng có cô chủ quán tên Đào nên chúng tôi gọi là quán cô Đào. Ở đó có cà phê bí tất, hột vịt lộn, khô bò và bia, nước ngọt. Tôi hay ra quán cô Đào vào buổi chiều uống cà phê, nhìn con kinh nước bùn chảy và thỉnh thoảng ngắm cô chú trẻ có đôi mắt rất tình và cái eo khá thon dưới lớp bà ba đen bó sát. Nghe nói cô Đào có một thằng em trai theo du kích, tôi đâm ra nghi ngờ biết đâu quán này chẳng là tai mắt của địch. Tôi bàn với ông Sĩ Quan an ninh giả cho nhân viên vào quán nhậu “lade” rồi giả như bốc đồng để lộ vài dự tính quân sự xem tin tức có bay sang bên địch không? Tôi còn giàu tưởng tượng nghi địch dùng cô Đào làm mỹ nhân kế quyến rủ binh sĩ và nghĩa quân. Tôi bàn nên tương kế tựu kế chọn một số hạ sĩ quan ăn nói có duyên ra tán cô Đào, dùng cô làm cán bộ nước đôi. Không biết ban an ninh có làm theo lời đề nghị của tôi không, chỉ thấy càng xa nhà lâu càng thấy cô Đào có duyên và hấp dẫn.

Một buổi đang ngồi trên chiếc ghế Hồng Thập Tự nghe máy thu thanh thì Trung Úy Dickson lân la đến nói chuyện. Dickson là nhân viên đi theo đoàn cán bộ của Biệt Khu Thủ Đô gởi xuống. Tôi không rõ Dickson theo đoàn cán bộ Việt Nam để làm gì. Nhưng lần nào làm Dân Sự Vụ tôi cũng thấy có mặt anh. Anh đứng xa xa nhìn tôi khám bệnh. Nhiều lần anh hỏi tôi những bệnh tật dân vùng hay mắc phải, hỏi thuốc men có tốt, có đầy đủ không. Tôi thẳng thắng khen thuốc Mỹ tốt và tôi nói tiếp:

_Thay mặt dân chúng vùng này tôi cảm ơn sự giúp đỡ của người Mỹ.

Tôi đọc vẽ ngạc nhiên trên mặt Dickson, có lẽ anh không ngờ tôi ăn nói kiểu cách thế. Đột nhiên anh lên tiếng công kích lối làm Dân Sự Vụ của các bác sĩ Mỹ:

_Làm thế nào các ông ấy chữa lành bệnh cho dân chúng Việt Nam khi chẩn bệnh qua lời thông dịch viên là những người không đủ kiến thức và ngôn ngữ y học.

Và Dickson thắc mắc sao không giao những công việc đó cho các bác sĩ Việt Nam. Tôi trả lời:

_Người Mỹ làm Dân Sự Vụ vì ba lẽ: Thứ nhất để lấy tiếng, thứ hai vì số y sĩ Việt Nam quá ít, thứ ba vì sợ giao cho người Việt Nam hết, thuốc men sẽ bị mất cắp.

Dickson nhăn mặt khi tôi nêu lý do thứ ba. Tôi tiếp:

_Tôi hổ thẹn khi nói với anh điều đó, và người Mỹ có quyền sợ như vậy.

Dickson nói được tiếng Pháp. Tiếng Pháp của anh bết hơn tiếng Mỹ của tôi, nhưng hai cái bết cộng lại giúp câu chuyện được liên tục. Câu chuyện khởi đi từ công tác đang thi hành, đến tình hình quân sự, chính trị, sang văn chương nghệ thuật để cuối cùng dừng lại ở một hình ảnh: người đàn bà Việt Nam. Tôi đọc thơ Racine, Beaudelaire, Prévert cho Dickson nghe, anh khen văn Marcel Proust, thích triết lý Sartre. Đài phát thanh quân đội Mỹ giới thiệu giọng ca Ray Charles. Dickson như bị mê hoặc bởi tiếng gào nức nở của người ca sĩ mù da đen này. Anh đứng ưỡn người, mặt ngữa trên trời, mắt nhắm nghiền, hai quả tay nắm chặt, nhún giật một hồi theo điệu nhạc. Dickson nói:

_Ray không hát, anh sống.

Tôi mến Dickson qua những bộc lộ tình cảm ngay thẳng của anh. Khi tôi hỏi anh có cô bạn gái Việt Nam nào không, Dickson cho tôi biết anh có một cô ở Long Bình. Tôi hỏi cảm nghĩ của anh về cô bạn gái đó nói riêng và các cô gái Việt Nam nói chung. Dickson trả lời:

_Tôi không có ý kiến chung về cô gái Việt Nam. Tôi chỉ có ý kiến về cô bạn gái của tôi thôi. Tôi có cảm tưởng cô ấy không biết yêu đương…

Tôi hỏi:

_Cô ấy bao nhiêu tuổi?

_Cỡ hai mươi, hai mươi ba tuổi.

_Tôi tưởng vào lứa tuổi đó bất cứ người đàn bà nào khi đã chấp nhận một người đàn ông tất phải yêu tha thiết chứ.

Dickson cắt nghĩa:

_Tôi muốn nói…nàng không hết mình trong khi ân ái. Những rung cảm nàng bộc lộ tôi có cảm tưởng dùng để kích thích tôi hơn là do hoan lạc mà ra. Người đàn bà Mỹ khi làm tình họ hòa mình cùng độ với người đàn ông…

Tôi có thể đoán mà không sợ sai lầm cô bạn gái của Dickson thuộc loại chuyên nghiệp và phải cộng thêm ít nhất mười niên vào mớ tuổi hai mươi, hai mươi hai, hai mươi ba của nàng. Điều làm tôi khó chịu là Dickson có thể nghĩ tất cả đàn bà Việt Nam đều không biết yêu đương. Để binh vực phái đẹp xứ nhà tôi định nói cô bạn của Dickson thuộc loại không đứng đắn nhưng sợ mất lòng anh bạn nên lại thôi. Dickson chợt hỏi tôi:

_Anh có biết cô giáo bên kia chợ Đệm không?

_Có nghe nói nhưng chưa thấy mặt, chắc anh thấy rồi, xinh không?

Dickson chắp hai tay trước ngực trong dáng điệu tôn thờ.

_Nàng có vẽ đẹp tinh khiết, vô cùng tinh khiết. Nàng tên Sen, Sen là Lotus phải không bác sĩ? Cái tên hoa Á Đông cũng tinh khiết như người…

Nếu Dickson biết cũng có nghĩa là con ở, chẳng hiểu anh có thấy hoa và người bớt tinh khiết đi không. Tôi nghĩ nên để anh hiểu mãi nghĩa đẹp thì hơn. Mong suốt thời gian Dickson còn ở Việt Nam mỗi lần nhắc đến tên Sen đừng có tên thầy dùi nào dạy anh hiểu cái nghĩa thứ hai. Tôi có đọc vài cuốn sách của người Mỹ viết về Việt Nam. Toàn chê bai chỉ trích. Dĩ nhiên cũng có điểm đúng, điểm sai. Gạt bỏ ra ngoài những hậu ý chính trị, những nhận xét sai lầm về Việt nam của tác giả đó có thể ví với nhận xét của Dickson về cô bạn gái của anh mà anh cho là không biết yêu đương. Tôi muốn viết vài Sĩ Quan Cố Vấn Mỹ mà tôi có dịp sống gần và giao thiệp. Tôi viết theo chủ quan, không ẩn ý, viết theo lý trí, rung cảm của tâm hồn.

Thời mới về Tiểu Đoàn 6, nhìn cặp mắt trắng dã của viên Đại Úy Cố vấn tôi đã mất cảm tình. Các sĩ quan Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cũng không ưa anh ta, vì cái tính hay chỏ mũi vào mọi việc và hay báo cáo. Nghe nói anh ta có một ông anh ruột cũng làm cố vấn cho một Tiểu Đoàn bộ binh Việt Nam bị tử thương trong một trận đánh. Anh từng thổ lộ rằng anh của anh ta chết vì lính Việt Nam bỏ chạy. Bác sĩ Cảnh có kể tôi nghe vụ anh ta đến “lèng èng” việc Cảnh di tản một lúc bốn mươi binh sĩ hành quân vùng Bến Cát bị nước ăn lở chân không đi được. Anh ta nói mỉa mai với Cảnh:

_Hôm nay bác sĩ cho về bốn mươi, ngày mai về năm mươi, ngày kia về một trăm, lần lần chắc hết cả Tiểu Đoàn.

Cảnh tức khắc trả đũa:

_Tôi cần Cố Vấn Mỹ để xin trực thăng di tản, chứ tôi không cần Cố Vấn Mỹ nói chuyện y học với tôi, vì hắn ta chẳng biết gì ráo.

Cái tên Mỹ của hắn bị chúng tôi phiên âm ra tiếng Việt là “mặt cái thớt”. “Mặt cái thớt” sửa lưng tôi một vố khá đau: Tối hôm Tiểu Đoàn chuẩn bị ra vùng II, theo lịch trình 12 giờ khuya mới có chuyến C.130 đầu. Tôi sẽ đi chuyến thứ ba, như thế sớm lắm cũng một giờ sáng mới lên máy bay. Tôi theo mấy ông sĩ quan rảo các bar để giết thì giờ. Tôi gặp “mặt cái thớt” trong một quán nọ, anh ta mặc civil đang ngồi uống bia với mấy người Mỹ khác. Thấy hắn tôi nỉm cười đưa tay vẫy chào. “Mặt cái thớt” ra dấu mời tôi lại, anh ta hỏi:

_Sao bác sĩ ra đây lại mặc đồ nhà binh?

Thú thật tôi không sẵn sàng để trả lời một câu hỏi trịch thượng như vậy. Tôi đứng khựng và cười. Chưa bao giờ tôi thấy mình cười ngu ngốc thế. Có tiếng cười nhỏ phía mấy người bạn Mỹ của “Mặt cái thớt”. Tôi đỏ mặt vì ngượng nói vớt vát:

_Lính Nhảy Dù chỉ có đồ trận không có đồ civil.

Phản ứng tôi quá hiền: tôi mới có hai mươi ngày khoác áo Dù. Cho tôi già thêm hai tháng nửa, phản ứng của tôi phải là một chai bia đập vào đầu “Mặt cái thớt”. Tôi hận hắn về vụ chơi cha ấy lắm. Ra Tam Quan một buổi sáng, nhân có chuyến trực thăng tiếp tế, tôi di tản hai binh sĩ sốt về Quân Y Viện Qui Nhơn thử máu tìm vi trùng sốt rét. “Mặt cái thớt” lò dò đến bên cạnh hỏi:

_Bác Sĩ, hai binh sĩ này đau gì?

Tôi đáp cụt:

_Sốt.

Hắn ta ngang nhiên đến cầm vai một trong hai binh sĩ lắc mấy cái rồi khinh khỉnh nói với tôi:

_Tôi thấy họ khỏe lắm, đâu cần di tản.

Tôi nổi nóng:

_Xin lỗi Đại Úy, ông có phải bác sĩ không?

_Dĩ nhiên là không.

_Tôi là bác sĩ, tôi thấy hai binh sĩ này bệnh cần di tản, đó là quyền của tôi, ông đừng xía vô.

Hắn nhún vai bỏ đi, Chưa nguôi cơn giận, tội gọi giật hắn lại.

_Đại Úy..

_Ông Đốc muốn gì?

_Tôi nghĩ Đại Úy cũng nên khai bệnh đi là vừa.

“Mặt cái thớt” ngạc nhiên:

_Tôi có bệnh gì đâu?

_Có, ông bệnh rất nặng: bệnh điên.

Tô i đứng thủ thế  nhìn hai con mắt trắng dã tròn xoe chĩa vào tôi. Tôi nghĩ thế nào cũng phải đấm tên này một trận, được thua không thành vấn đề, vấn đề là phải dằn mặt hắn ta: chế độ thực dân đã cáo chung.  Nhưng tôi không có dịp đấm “Mặt cái thớt” vì hai tuần sau hắn ta về Mỹ. Hôm rời Tiểu Đoàn hắn bắt tay tôi thật chặc với lời cầu chúc ở lại thắng lợi và mạnh giỏi. Tôi bỗng nghe nguôi hết ác cảm bấy lâu nung nấu trong lòng… Binh sĩ Tiểu Đoàn 6 gọi Đại Úy Smaldone Cố Vấn Trưởng là “Người Mỹ Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Anh có vợ Nhật đã ly dị, nhưng có lẽ nhờ có vợ Á Đông nên Smaldone hiểu tâm tình người Á Đông nhiều. Anh ăn được hầu hết các món ăn thuần túy Việt Nam, từ nước mắm, hột vịt lộn, đến tiết canh, thịt chó. Riêng món mộc tôn Smaldone tỏ ra sành sõi không kém ai khi anh biết khen thịt của “yellow dog” thơm và mềm hơn “black dog”. Nhưng anh không ăn được các thứ mắm. Tửu lượng “Ba xi đế”của anh thuộc hạng sư. Một lần ở Đông Hà tôi chứng kiến pha Smaldone hút thuốc lào thở khói ra cùng lúc đằng mũi và miệng.

Smaldone hình như không biết buồn là gì, lúc nào cũng thấy anh cười đùa. Sự cởi mở của anh giúp tôi nói tiếng Mỹ tấn tới. Tình đồng đội của anh rất cao. Có lần anh thộp cổ một viên Đại Úy phi công Mỹ khi anh này sợ chở nặng gạt một số binh sĩ Dù xuống khỏi chiếc Chinook ở Vũng Tàu. Smaldone từng chỉ huy một toán lính Dù đánh nhau với Không Quân Mỹ phá nát một cái bar chỉ vì “các em” bu theo “các anh Mỹ” bỏ rơi “các anh Dù”. Ngày hôm sau Smaldone mang theo hai mươi ngàn đồng ra quán bồi thường thiệt hại. Samldone còn một đức tính hiếm có: biết phục thiện. Lúc hành quân ở Cùa: chiều chiều khi đóng quân, trực thăng hay đến tiếp tế nước. Một lần có sự thay đổi bãi đáp vào phút chót, nhưng Trung Úy Black Cố Vấn Phó không hiểu vì cớ gì vẫn chọn bãi đáp cũ để trực thăng thảy trên hai mươi ống đạn 105 nước xuống. Ông Tiểu Đoàn Trưởng giận ra lệnh binh sĩ kiếm suối lấy nước chứ không dùng nước tiếp tế. Tôi thấy Smaldone gọi Black đến, hai người nói gì với nhau, rồi cả hai lặng lẽ xuống đống ống nước vác mỗi người một ống lên Bộ Chỉ Huy. Tôi tưởng hai người chỉ lấy phần nước cho mình, nhưng không hai anh lại tiếp tục trở xuống vác hai ống khác. Tôi cảm phục cử chỉ của Samldone. Tôi nghe ộng Trưởng ra lệnh các Đại Đội cắt người xuống vác ống nước. Buổi ăn chiều của chúng tôi vẫn vui vẽ coi như không có gì xảy ra.

Điểm tôi không thích ở Smaldone là anh đã tỏ ra “Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Tôi muốn hiểu anh láu hơn cả người Việt Nam. Láu không phải là một đức tính. Sự láu lĩnh một phần do lối giao thiệp quá bình dân của Smaldone với giới Việt, một phần do những Sĩ Quan mà Smaldone vui gọi là “very bad teachers”. Một gai thoại Smaldone thích kể mãi là lần anh mới biệt phái về Sư Đoàn Dù, được hướng dẫn lên trình diện ông Chiến Đoàn Trưởng Smaldone không biết tiếng Việt. Một Sĩ Quan Việt Nam bày anh nói một câu tiếng Việt, nói là câu chào kính thông dụng đối với cấp trên Việt Nam.

Sau khi nghiêm chỉnh chào vị Chiến Đoàn Trưởng, trong khi bắt tay Smaldone đã thốt ra câu tiếng Việt:

_Con c…Trung Tá!

Mỗi lần diển tả lại nét mặt của vị Chiến Đoàn Trưởng sau khi nghe câu nói tiếng Việt, Smaldone trợn mắt, há hốc mồm, sau đó phá ra cười. Vào quán nước, quán ăn bất cứ ở đâu, Smaldone đều biết trước giá cả bán cho người Việt và anh chỉ chịu trả đúng theo giá đó. Smaldoen hay thích khoe thành tích “gái” của anh như sau:

_Mới qua Việt Nam mỗi lần đi gái tốn một ngàn đồng, tôi vẫn cho rẽ, sáu tháng sau tốn ba trăm, bây giờ thì không tốn xu nào mà còn có rượu uống lu bù…

Smaldone được một bà chủ bar ở Vũng Tàu cung phụng đủ mọi thứ.

Người sĩ quan Mỹ lưu ở lòng tôi những cảm tình sâu đậm nhất là Trung Úy Hemingway. Xuất thân trường Westpoint từ Mỹ sang anh được biệt phái về ngay Tiểu Đoàn 3 Dù. Hemingway hơi thấp người nhưng to chắc, khuôn mặt chữ điền đầy cương nghị. Anh có chiếc miệng cười tươi và đôi mắt xanh màu ngọc bích. Hemingway rất chịu khó học tiếng Việt. Mới hơn một tháng anh nói những câu xã giao lưu loát và khá đúng giọng. Gặp tôi lúc nào anh cũng ví von trước:

_Chào bác sĩ hôm nay bác sĩ mạnh không?

Câu nói đầu tiên của tôi là hỏi anh có bà con gì với văn hào Ernest Hemingway. Hemingway cười trả lời:

_Rất tiếc là tôi không có liên hệ gì với thiên tài ấy.

Hemingway làm quen với các món ăn Việt Nam rất khó khăn, tôi thấy anh cố gắng một cách đáng thương. Nhưng có một món không những anh ăn quen mà còn say mê là món xoài sống chắm nước mắm đường ớt. Một mình anh đã có lần ních nguyên một quả xoài tượng lớn. Tôi chưa thấy một cố vấn nào tác phong như Hemingway. Được biệt phái đi với Đại Đội, tối nào Hemingway cũng sang chào ông Đại Đội Trưởng trước khi đi ngủ. Anh luôn luôn dậy sớm, quần áo chỉnh tề chờ ông Đại Đội Trưởng dậy là sang chào buổi sáng. Một lần Hemingway bị mất tiền, không biết nghi ai anh bèn trình lên ông Trưởng. Ông Trưởng ra lịnh cho ông Đại Đội Trưởng phải tìm cho ra thủ phạm. Cho Hemingway làm mất mặt mình, ông này trong một cuộc hành quân bỏ đói anh bốn ngày liền. Sang ngày thứ năm Hemingway xỉu vì đói, anh phải gọi máy cho cố vấn trưởng xin được di tản với lý do.. “bị tiêu chảy”. Tôi rời Tiểu Đoàn 3 một tháng thì nghe tin Hemingway tử trận. Anh không chết ở Tiểu Đoàn 3 mà chết ở Tiểu Đoàn 7 khi sang thế một cố vấn khác bị thương: anh dẵm lên nguyên một quả mìn ở Phú Thứ. Hemingway cưới vợ trước khi sang Việt Nam. Khi anh chết vợ anh bên Mỹ sắp sinh đứa con đầu lòng.

Một tuần trước Tết ông Trưởng dời Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 lên đóng chung với Đại Đội 31 ở Tân Nhựt. Ông muốn Bộ Chỉ Huy ăn Tết với hai Đại Đội trấn giữ vùng xôi đậu. Tôi vẫn lưu động phát thuốc dọc hai bờ kinh Bà Tà. Tôi chú ý đến những bà mẹ quá trẻ bồng con đến xin thuốc. Qua câu chuyện tôi biết một số là góa phụ của các Nghĩa Quân tử trận trong vụ địch tấn công đồn, một số là vợ “giai đoạn” của các quân nhân đơn vị bạn từng đóng trước đây và một số là của những gã bên kia. Số phận người đàn bà vùng quê thật hẩm hiu. Những đứa bé chào đời không biết mặt cha chúng nó là ai.

Tài nguyên phong phú của kinh Bà Tà nuôi mập binh sĩ Tiểu Đoàn 3. Chiều chiều nước rút cạn lòng kinh, chỉ cần cởi trần nhảy xuống vũng bùn, quờ quạng một hồi là có một giỏ đầy tôm càng, cá rô hay ốc gạo. Nghề câu cặm cũng mang về một số cá lóc đáng kể. Tôi ớn tôm cá lên tận cổ, duy món ốc gạo ăn mãi vẫn không chán. Một buổi sáng nước dâng tôi để ý thấy nhiều xác cá lớn trôi lềnh bềnh. Suy ra cá chết mới biết do một số binh sĩ Mỹ đóng cạnh Đại Đội 34. Đêm nào cũng cứ cách từng giờ, binh sĩ gác thảy hai quả lựu đạn xuống kinh. Họ nói để đề phòng địch có thể núp dưới kinh. Tôi nghĩ cứ đà này tôm cá sẽ chết hết, lấy gì nuôi sống dân chài xã Tân Nhựt. Tôi ngỏ ý với ông Trưởng can thiệp đừng để binh sĩ Mỹ thảy lựu đạn xuống kinh nửa, tuy là một cách phòng thủ hữu lý, nhưng về mặt tâm lý là một hành động thất nhân tâm. Ông Trưởng trả lời ông cũng đã nghĩ đến khía cạnh tâm lý đó nhưng vấn đề quá tế nhị để can thiệp. Phía Dù Đại Đội mỗi đêm tung ra hàng chục ổ kích, phía Mỹ họ có khuynh hướng gom quân lại để phòng thủ. Chưa quen đánh nhau với du kích, lại đóng biệt lập ở cấp Đại Đội trong vùng bất an, sự thận trọng quá đặc biệt của cấp chỉ huy Mỹ là điều có thể hiểu. Hai Đại Đội Mỹ Việt chia phiên mỗi bên hoạt động một ngày. Phía Mỹ trong năm phiên hoạt động cấp Trung Đội chỉ một lần chạm địch nhưng lần nào cũng có người chết hoặc bị thương vì dẫm phải mìn, lựu đạn. Phìa Dù không một binh sĩ nào gặp phải tai nạn trên. Ông Đại Đội Trưởng Mỹ phải mở một đường sang học bài ông Đại Đội Trưởng Dù. Ông này có dịp ca một bài “con cá”:

_Các anh phải mười năm chiến đấu như chúng tôi mới thừa kinh nghiệm để chơi với du kích cộng sản.

Binh sĩ Mỹ vóc ngưới cao lớn nặng ký, hoạt động trong vùng sình lầy, chỉ cần bì bõm một cây số là mệt nhoài. Nhìn thấy bờ đê khô ráo là họ nhảy lên ngay và những cạm bẩy, mìn lựu đạn chờ họ. Binh sĩ Dù nhỏ người, nhanh nhẹn, lại quá quen hiểu cái vẽ ngon lành giết người của những bờ đê, mô đất khô ráo, nên chẳng bao giờ họ dại dột dù mệt dẫm chân lên. Phía Mỹ đề nghị những cuộc hoạt động hỗn hợp, mỗi lần một Trung Đội Mỹ, một Trung Đội Dù đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Đội Trưởng Dù. Sự khiêm nhượng của người Mỹ làm khó khăn vấn đề chỉ huy, vì cấp bậc Trung Đội Trưởng Dù thường là Chuẩn Úy hay Thiếu Úy trong khi Trung Đội Trưởng Mỹ đều là Trung Úy. Thành thử mỗi lần hoạt động hỗn hợp ông Đại Đội Trưởng Dù thường phải đích thân cầm hai Trung Đội Việt Mỹ đi “làm ăn”. Sau hai lần bảy giờ xuất phát bốn giờ chiều kéo về không gặp địch, Đại Úy Tuyển Đại Đội Trưởng 34 đề nghị một kế hoạch táo bạo: ba giờ sáng xuất phát đến điểm phục kích trước năm giờ, như thế sự di chuyển không bị lộ. Nằm lại đêm chờ địch Đại Úy Tuyển lý luận: “Đich cũng biết thời gian nào ta hoạt động để né tránh, thời gian nào ta rút về để xuất hiện, phải biết lừa địch mới hốt được chúng”. Đề nghị của Đại Úy Tuyển được chấp thuận. Chúng tôi ở Bộ Chỉ Huy theo dõi động tĩnh. Đến bốn giờ chiều vẫn không thấy gì. Hai Trung Đội được lệnh nằm lại đêm. Sáu giờ chiều bổng có tin toán hỗn hợp bắt sống được năm lính chính quy, bắn trọng thương một tên khác. Tịch thu sáu vũ khí trong đó có một thượng liên. Sợ vị trí bị lộ. Ông Trưởng cho trực thăng đến bốc tất cả về. Tôi tìm gặp Đại Úy Tuyển để nghe ông kể lại pha bắt sống năm tên địch như sau:

_Mình phục cạnh một con suối. Địch từ ngôi làng trước mặt tiến qua cánh đồng. Chúng đi rất ung dung. Tôi có chủ ý bắt sống cả bọn nên ra lệnh không được khai hỏa. Khi sáu tên địch đồng phục kaki vàng đến cạnh con suối chừng năm mươi thước, mấy binh sĩ Mỹ hồi hộp quá định nổ súng. Tôi phải vội cho mấy binh sĩ Dù can ngăn họ. Nổ súng vào khoảng cách này không chắc hạ được hết cả sáu tên, vũ khí chưa chắc đã chiếm được mà còn một điểm bất lợi là bị lộ vị trí. Tôi vẫn giữ nguyên ý định bắt sống. Toán địch đến bờ suối bên kia thong thả hàng một, hai tay dong cao, cầm ngang vũ khí lội dọc theo dòng suối. Nước ngập đến bụng chúng. Lúc bấy giờ toán kích núp kỷ sau các lùm cây vụt đứng lên chỉa súng hét lớn:

_ “Đứng yên.”

Năm tên đầu đứng yên, hai tay vẫn trong thế dong cao cầm ngang vũ khí, tên thứ sáu định hụp người xuống để lặn, lãnh ngay một băng M.16. Nó không chết nhưng bị thương nặng. Sáu tên này thuộc Tiểu Đoàn 6 Chính Quy Bắc Việt. Tiểu Đoàn này tháng trước bị tiểu Đoàn 2 Dù đánh tan ở ấp Vĩnh Lộc Bà Hom. Phần còn lại được lịnh phân tán mỏng. Tôi chia chiến lợi phẩm như sau: Nhảy Dù giữ vũ khí, Mỹ giữ tù binh. Tôi xin nằm lại đêm vì chắc thế cũng còn hốt thêm vài toán nữa. Nhưng ông Trưởng cho lệnh rút về…

Tôi ăn cái Tết hành quân đầu tiên trong đời mình. Chúng tôi đón giao thừa bằng những tràng pháo của Chuẩn Tướng Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc Gia tặng. Tôi theo ông Trưởng đi thăm từng ban trong Đại Đội 30 rồi trở về Trạm Cứu Thương họp mặt cùng y tá. Tràng pháo nổ vang chào mừng tôi, lời chúc Tết ngập ngừng, cảm động của người Y Tá Trưởng. Bữa ăn thân mật giữa thầy trò ở một nơi đồng quê hẻo lánh, mang cho tôi nhiều hương vị mới về Tết. Tôi thấy mình giàu thêm kỷ niệm, kỷ niệm giàu thêm màu sắc. Tôi về chổ nằm lúc ba giờ sáng. Rượu làm tôi nặng đầu nhưng không làm tôi buồn ngủ. Tôi nằm nhớ Phong thằng bạn thân nhất của tôi đã tử trận hồi tháng sáu. Quá nhiều kỷ niệm về Tết giữa tôi và nó. Những đêm mưa phùn rét run ở Huế tôi cóc cách chiếc xe đạp qua Vỹ Dạ đến nhà một người con gái chơi đổ xâm hường. Hắn thầm yêu người con gái đó. Vào Sài Gòn nàng trở thành tình nhân của tôi. Khi Phong hay biết hắn chỉ cười than:

_Đi với mày tao chỉ có lỗ!

Một đêm giao thừa Phong say chếnh choáng đến ôm một cột đèn gọi lớn tên một vũ nữ mà hắn trồng cây si từ lâu. Vào năm tôi học lớp ba trường thuốc, những ngày áp Tết khi tàu của Phong còn lênh đênh tuần thám đâu đó dọc miền duyên hải, chiếc HQ 330 nơi tôi thường xuống ăn ngủ hàng tuần, thở quen dần không khí ngộp ngộp trong lòng tàu, thì một người con gái tìm gặp tôi, báo cho tôi biết…nàng đã có thai với Phong! Suốt một tháng trời tôi phải chăm sóc nàng. Phong vẫn biền biệt. Tôi tống một lá thư xỉ vã nó hết lời, bảo nó phải về cưới nàng gấp. Phong đã nghe lời tôi. Nhưng tôi không được dự lễ cưới, cũng như không được đưa đám tang của nó. Bây giờ thỉnh thoảng xuôi bến Bạch Đằng tôi vẫn thấy chiếc HQ 330 neo ở cầu A, cầu B, cầu C nhưng tôi sẽ không còn dịp xuống ăn ngủ dưới tàu ấy nửa..

Qua Tết một Hội Đồng Xã được thành lập ở Tân Nhựt. Như thế xã bất an ninh nhất đã được bình định vững vàng. Một số gia đình lục tục kéo về. Chúng tôi đạt được mục tiêu khó khăn nhất: Niềm tin của dân chúng.

Tiểu Đoàn 3 được lệnh về hậu cứ. Chúng tôi đóng vùng chợ Đệm đúng ba tháng một tuần. Buổi sáng rút quân đứng tì tay vào mạn chiếc L.C.V.P. tôi buồn rầu nhìn dân chúng hai bên bờ kinh Bà Tà khăn gói chạy về chợ Đệm. Chúng tôi cố rút thật êm nhưng mũi dân chúng rất thính. Khi tàu cập bến chợ Đệm tôi thấy quán cô Đào đóng kín cửa. Nhìn quân số ít oi của đơn vị bạn, tôi lo lắng không hiểu họ có cáng đáng nổi an ninh, vùng trách nhiệm khá rộng lớn của chúng tôi để lại. Tôi không tự khen đơn vị mình, nhưng phải thẳng thắn công nhận binh sĩ Tiểu Đoàn 3 đã gây được cảm tình và niềm tin trong lòng người dân chợ Đệm. Cảm tình, niềm tin đó tôi cầu mong đơn vị bạn tiếp tục duy trì, tăng trưởng…

Y Sỹ Tiền Tuyến

vietmessenger.com

Trang Châu

Giải nhất cuộc thi Bút Ký Chiến Đấu do Cục Tâm Lý Chiến tổ chức năm 1967

Typing & Post by Sơn râu 22 July 2023

Khi Đại Đội cuối cùng của Tiểu Đoàn 6 Dù được không vận đến phi trường Phú Bài, kim đồng hồ nơi tay tôi chỉ đúng ba giờ sáng. Gần đây việc chuyển quân đêm gần thành như một thông lệ. Mỗi đợt cách nửa giờ, một chiếc C.130 đến hốt trọn từng Đại Đội mang đi. Huế lắng dịu sau ba tháng biến động chính trị. Tôi nghĩ sự hiện diện của ba Tiểu Đoàn Dù ở vùng I có mục đích hoàn toàn quân sự. Tiểu Đoàn 2 đang đóng ở Cam Lộ, Tiểu Đoàn 8 ở Đông Hà và Tiểu Đoàn 6 vừa đến Huế. Tôi lờ mờ nghe tin một Sư Đoàn quân Bắc Việt vừa xâm nhập vùng phi quân sự và lờ mờ nghe tin Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I mở cuộc hành quân Lam Sơn 286 phối hợp một cánh quân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, một cánh quân Bộ Binh Việt Nam và một cánh quân Dù. Đối phương vừa gây được hai tiếng vang với giá khá đắt: Phục kích một đoàn công voa chở Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và gây thiệt hại trung bình cho một Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 2 Dù ở Cùa.

Đoàn xe hai mươi lăm chiếc G.M.C. khởi hành từ Phú Vân Lâu rời thành phố Huế lúc 8 giờ sáng. Qua khỏi An Lổ xe tiến vào Phong Điền. Binh sĩ được lịnh quay súng ra hai bên hông xe sẳn sàng chiến đấu. Nơi xảy ra trận phục kích táo bạo là một đoạn đường dốc hai bên đồng trống. Dấu vết trận chiến là những đám cỏ cháy đen, nơi những chiếc xe bị trúng đạn 57 bốc cháy. Tôi nghe kể lại rằng: sau phút rối loạn ban đầu và mặc dầu vị Tiểu Đoàn Trưởng tử thương, Tiểu Đoàn bạn đã phản công thắng lợi. Địch quân trên đường rút lui qua đồng trống đã làm mồi cho phi cơ tiêu diệt.

Đoàn xe không ngừng ở Quảng Trị, chạy thẳng ra Đông Hà. Chúng tôi đến Đông Hà lúc mười một giờ trưa. Trời nắng gắt. Miền Trung đang mùa hạn hán. Đông Hà hai tháng nay không mưa, đất đai khô nẻ. Không một thoáng gió. Sáu giờ chiều chưa tắt nắng. Trọn buồi chiều tôi trầm mình dưới nước sông Đông Hà. Tắm cho đã, nay mai vào trong núi làm gì có nước. Tôi căn dặn toán y tá của tôi phải chuẩn bị nước thật đầy đủ. Dưới sức nắng nóng này không khéo sẽ chết khát trước khi chết vì đạn kẻ thù. Và không phải chỉ mình tôi nghĩ đến điều đó. Chỉ một buổi chiều tất cả chiếc bầu bằng nhựa ngoài chợ biến mất hết. Mười giờ sáng hôm sau; hai Tiểu Đoàn Dù kéo sang phi trường chờ trực thăng vận. Nhìn vào đoàn quân một cảnh tượng khá buồn cười: người nào cũng tòn ten bên hông một hay hai chiếc bầu xanh đỏ đựng đầy nước. Tôi mang hai bi đông nước và mười trái chanh đầy nhét trong túi vãi đựng gắp đạn.

Mười chiếc trực thăng loại Shinook đến vận chuyển hai Tiểu Đoàn Dù. Mỗi chiếc chở được hai mươi người. Khung cảnh những toán quân lom khom tiến vào đuôi từng chiếc trực thăng, dưới cơn gió khu ốc tỏa bụi mịt mù từ những cánh quạt phần phật quay, trong tiếng động ầm ầm của động cơ chuyển động, gây cho tôi một cảm giác nôn nao bồn chồn. Khi đoàn trực thăng đầu tiên chỉ còn là những chấm đen di động ở một góc trời, nơi màu xanh lơ của bầu trời tiếp nối màu xanh xẫm núi rừng, tôi nghe có thứ gì vừa mất mát trong tim. Tôi đi chiếc Shinook thứ năm của đợt năm. Nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp tôi nghĩ vẫn vơ: chiến tranh buồn cười thật, một đằng lặn lội từ Bắc vào, một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi mãi tận Vũng Tàu ra, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau.

Chúng tôi đáp xuống Cùa, một vùng cỏ cháy khô cằn , như tên của nó. Tiểu Đoàn 2 được trực thăng vận đến đây trước tiên. Nằm trong vùng áp lực địch, tiền đồn xa nhất của quận Cam Lộ được tăng cường phòng thủ

và biến thành căn cứ pháo binh yểm trợ cuộc hành quân. Bốn giờ chiều cuộc đổ quân hoàn tất. Chúng tôi được lệnh di chuyển. Băng qua một khu rẫy bỏ phế, trước mặt chúng tôi hiện ra một khu rừng dài chạy vào chân núi. Trong một thoáng khu rừng nuốt trọn ba Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi tiến hàng một, người sau động tác theo người trước. Mặc dù có lá cây che khuất ánh nắng, khí nóng vẫn hừng hực. Chưa gì mà tôi đã ực hết một phần ba bi đông nước, hai tay sây sướt vì khóm gai mà đằng trước dây leo bụi bờ vẫn chằng chịt chắn lối. Gặp địch ở đây thì vất vã: khó lòng trông thấy được nhau.

Phải mất hai tiếng đồng hồ lần mò trong khu rừng. Khi chúng tôi leo lên ngọn đồi đầu tiên, bóng chiều đã ôm kín dãy trường sơn. Những ngọn đồi sim kế tiếp nhau tạo một màu tím sẫm. Những trái sim ngọt lịm giúp chúng tôi đỡ khát nước, vài binh sĩ tay hái sim, miệng hát: “Ôi những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..”Phải có dịp đứng trên đỉnh đồi, nhìn hoàng hôn sắc tím ngã dần xuống bao la mới nghe thấm thía âm thanh hai tiếng “biền biệt”. Không khí trở nên mát mẻ. Vượt thêm hai ngọn đồi nửa, đóng quân thì trời nhá nhem tối. Công việc đầu tiên của binh sĩ là đào hố cá nhân: ban đêm chỉ sợ địch pháo kích. Cơm nước xong, tôi đặt mình xuống chiếc cáng ngủ ngon lành.

Một loạt súng đánh thức tôi dậy. Chụp nón sắt tôi nhảy xuống hố cá nhân. Tôi nghe tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh trong máy cho các Đại Đội Trưởng căn dặn các “đứa con” quan sát cẩn thận, có đich xuất hiện. Súng vẫn nổ ở ngọn đồi bên kia. Từng hàng lửa vun vút lao xuống vũng đệm. Chừng năm phút thì im tiếng súng. Một số tân binh thiếu bình tỉnh xả súng bắn theo. May mắn không gây thiệt hại nào. Tiếng ông Chiến Đoàn Trưởng hét mắng tưởng vỡ cả máy. Tôi trở lên chổ nằm, không tìm lại được giấc ngủ. Trời lạnh buốt. Trong đêm pháo binh bắn khuấy phá từng giờ, từng giờ như mõ cầm canh.

Năm ngày đầu tiến quân không gặp địch, nhưng chúng tôi có hai kẻ thù ghê gớm: ánh nắng mặt trời thiêu đốt và những đồi núi hiểm trở. Mỗi đêm chúng tôi nhận lệnh sáng hôm sau xong xuôi trước bảy giờ. Đồi núi giờ đó còn mù sương, ánh nắng ban mai chưa làm tan khí lạnh. Di chuyển sớm thì mát mẻ, đỡ mệt, nhưng trên phương diện chiến thuật thì lại là một điều bất lợi: sương mù sẽ gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và sự thận trọng của cấp chỉ huy là một điều dễ hiểu. Khi mặt trời lên cao sương mù tan biến, đồi núi khô ráo, phi cơ bay lượn quan sát một hồi, chúng tôi mới được lệnh di chuyển. Mỗi ngày phải đến một hay hai mục tiêu chỉ định. Hành trình gồm hai giai đoạn chín đến mười hai giờ trưa và hai đến năm giờ chiều. trung bình mỗi ngày chúng tôi vượt ba ngọn đồi hay một ngọn núi cao. Phải khai phá lối đi theo phương giác địa bàn. Chúng tôi tránh những con đường mòn sợ bị phục kích.  Những toán khinh binh ngoài vũ khí chiến đấu, còn trang bị mỗi người một cái mác dài để khai thông lối đi. Vì thế chúng tôi tiến quân rất chậm. Nhưng gặp một đoạn đường dễ đi, người sau phải chạy mới đuổi kịp người trước. Trong rừng không bắt kịp người đi trước là lạc ngay, tai hại hơn nửa người bị lạc còn dẫn theo sau mình bao nhiêu người khác. Có những lúc đứng trên cao nhìn xuống, tôi thèm thuồng những con đường mòn sạch sẽ quanh co dưới thung lũng hay chạy quanh sườn đồi…

Thêm vào đó hành trang người lính Dù quá nặng: ngoài vũ khí đạn dược mỗi người còn phải mang theo bốn ngày lương khô cùng vật dụng cá nhân chất đầy trong xắc đeo vai. Người lính khổ nhất Tiểu Đoàn, theo tôi là những binh sĩ tải đạn 81. Mang ba quả 81 là một cực hình trong vùng hành quân này. Dưới ánh nắng chói chan, đổ một dốc núi, leo một đỉnh đồi là thấm mệt. Nước trở nên một vấn đề sinh tử. Địa điểm đóng quân nặng phần chiến lược nên chúng tôi ở trên đồi cao, xa những con suối dưới thung lũng hay khe núi. Mỗi ngày khi đóng quân trực thăng đến tiếp tế cho mỗi Tiểu Đoàn chừng bốn mươi ống đựng đạn 105 nước. Phân chia ra Trạm Cứu Thương của tôi được hai ống, đủ để nấu một nồi cơm chiều, một nồi cơm sáng, một nồi nước trà và cho tôi rửa ráy qua loa mặt mũi. Hôm nào chỉ được một ống nước tôi phải súc miệng rửa mặt bằng chút nước trà nguội còn sót lại trong bi đông. Mỗi ngày tôi giới hạn cho tôi uống một bình nước và ăn một trái chanh. Tôi tập uống từng ngụm nước nhỏ, cốt để cho đỡ khô môi hơn là đỡ khát. Binh sĩ nhất là các tân binh chưa quen chịu đựng, uống nước quá nhiều, người tháo mồ hôi và dễ mệt lã. Cứ trung bình leo hết một ngọn đồi, có một người xỉu phải gọi trực thăng di tản. Ngày thứ hai của năm ngày đầu chiếm kỷ lục về số đồi leo và cũng chiếm kỷ lục về số người xỉu. Leo tới đỉnh ngọn đồi thứ ba tôi kiệt sức. Ngọn đồi cỏ cháy như nung nấu dưới ánh nắng thiêu đốt. Tôi ngã lưng vào một lùm sim, thở không muốn nổi, hai chân rã rời, mặt tay cháy rát. Chỉ còn hai y tá bên cạnh tôi, bao nhiêu rơi rớt lại đằng sau hết. Đại Đội 62 mang đến tôi ba người xỉu, hai chỉ mệt lã vì say nắng, người thứ ba trong tình trạng “xuất nước” trầm trọng. Tôi truyền nước biển cho người bệnh nặng, chích thuốc khỏe cho hai người kia. Người lính truyền tin báo tôi biết, lưng chừng ngọn đồi ba có hai binh sĩ Dù và hai “đề lô” Mỹ xỉu xin được săn sóc. Tôi cố lết trở xuống tìm gặp hai anh chàng “đề lô” Mỹ nằm thở hào hển trong bụi mua. Một anh chàng thứ ba còn khỏe phe phẩy cành lá mua quạt cho đồng đội. Tôi nói với họ ráng leo lên đồi sẽ được săn sóc và di tản. Người “đề lô” còn khỏe và tôi xốc nách anh chàng to lớn lôi đi, hai y tá của tôi dìu anh chàng thứ hai theo sau. Binh sĩ ngồi, nằm la liệt dọc theo sườn đồi. Một câu nói hằn học vang lên đâu đó:
_Đi thì đi cho cố, mệt không cho nghỉ, đau không cho về, đúng là kiếp trâu ngựa.

Lính nhảy dù là lính hay cằn nhằn nhất, cằn nhằn nhưng vẫn tiến vẫn hăng say khi lâm trận. Trông hai anh chàng “đề lô” Mỹ thật thảm thương. Hôm đầu mới đến anh nào cũng áo giáp, nón sắt, xắc đeo lưng, dáng dấp hiên ngang. Sau một ngày rưỡi leo núi, áo giáp nón sắt biến đi đâu hết. Bây giờ hai anh chàng nằm đó mặt mũi hốc hác. Tôi báo cáo máy lên Bộ Chỉ Huy tình trạng sức khỏe của bảy người xỉu và xin trực thăng di tản. Tôi nhận ra tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng trong máy:
_Bắc Bình Sơn Tây liệu làm sao chứ về nhiều như thế này tôi không chịu đâu.

Giọng ông bực tức pha chút trách móc. Tôi biết ông muốn giữ quân. Tôi nghĩ thà ít mà khỏe hơn nhiều mà đau yếu mất tinh thần. Nắng nôi mệt nhọc, dễ làm con người cáu kỉnh. Cả tôi nửa, tôi cũng muốn xỉu, muốn điên lên, muốn gây gổ tất cả mọi người. Nhưng rồi hai chuyến trực thăng vẫn di tản trọn bảy người bệnh.

_Thưa…Bác Sĩ.

Tôi ngửng nhìn người y tá Đại Đôi 63 khép nép, hỏi giọng gay gắt:

_Cái gì nửa?

_Dạ thưa một thằng tác chiến nó cướp chai nước biển của em mang nó uống mất một nửa, em cản không nổi. Nó …khát quá!

Tôi không giận người mang lẫn người uống chai nước biển, song tôi vẫn hét lên:

_Thằng đó bị thương thì đái ra mà truyền nước cho nó.

Ngày hôm ấy chúng tôi leo bảy ngọn đồi! Trong khi cánh quân Dù hoàn toàn vô sự thì hai cánh quân Việt, Mỹ khác đụng độ ác liệt với quân Bắc Việt. Phía Mỹ thiệt hại có ngày lên đến năm mươi người. Vùng quân Mỹ đổ bộ có nhiều sông suối và đồng bằng. Tôi nghĩ địa thế đó thuận lợi cho sự trú đóng lâu dài của địch. Phía chúng tôi phần nhiều đồi núi trọc, suối nước hiếm hoi, có lẽ vì vậy địch không ở. Cũng vì vậy năm ngày qua chưa thấy bóng dáng một tên địch nào. Chúng tôi băng qua một vùng vừa bị B.52 oanh tạc. Những đồi tranh, đồi mây cháy rụi tận gốc. Đi ngang qua người choáng váng vì khí nóng hừng hực vây quanh. Chúng tôi đang vòng về phía Cam Lộ. Tôi được biết ngày mai sẽ có cuộc trực thăng vận vào mục tiêu khác. Từ đó tiến ngược trở ra, song song với cánh quân Mỹ. Thời gian bốn ngày. Trạm Cứu Thương có hai y tá lên cơn sốt, một người bị té trặc chân phải di tản, còn lại tám người kể cả tôi. Tôi đánh công điện về Đại Đội Quân Y xin tăng cường người. Thiếu người mà số thuốc của ba y tá đau để lại không thể sang qua cho phần y tá còn lại. Họ cũng mang nặng và mệt mỏi lắm rồi. Tôi nảy ra ý gói những thuốc viên vào những bao ny lon với số lượng cần thiết tối thiểu. Chai lọ vất đi hết, cũng đỡ nặng được phần nào. Riêng thuốc cấp cứu, bông băng, nước biển, huyết tương phải giữ nguyên số lượng phòng khi đụng trận lớn.

Người y tá mang cho tôi một đĩa cơm. Đã bốn ngày ăn cơm sấy, đồ hộp. Cơm sấy là loại cơm khô đựng trong túi nylon, khi ăn đổ nước vào cơm sẽ nở ra mềm như cơm nấu. Ăn thơm thơm nhưng chắc chẳng còn bổ béo gì. Tôi ớn nhất món đồ hộp: thịt heo toàn là mỡ, cá trích ăn một miếng buổi sáng, buổi chiều ựa vẫn còn mùi tanh. Tuy nhiên đói vẫn ăn nhiều. Vùng này không thể tìm ra một thứ rau lá nào để nấu tô canh húp cho mát miệng. Không ngờ trong đời tôi lại có lúc ăn uống kham khổ như thế này. Thời tản cư cũng bữa đói, bữa no, nhưng nó nhàn nhã hơn nhiều. Trong một phút len trong nổi mệt mỏi của thể xác, một sự chán nản tinh thần nhen nhúm. Trong một phút tôi thấy sự hy sinh của mình thật vô ích. Sao tôi không như mọi người chọn một cuộc sống thanh nhàn hơn? Sao tôi phải đày thân tôi ra chốn khổ ải này? Nếu ai cũng muốn thụ hưởng cả thì còn ai chiến đấu? Nhiều người phục tôi câu nói đó; bây giờ tôi thấy tôi hơi quân tử tầu. Mấy thằng bạn hỏi đùa tôi sao vợ đẹp thế mà bỏ đi Nhảy Dù? Tôi nhớ qua hơi men, tôi ba hoa bốc đồng giảng giãi dài dòng lý do vì sao vợ tôi đẹp mà tôi đi Nhảy Dù xa nhà quanh năm suốt tháng. Tôi nhớ tôi lập luận:

_Nếu vợ tao xấu, tao đã không đi Nhảy Dù, tao lo giữ mạng sống tao cho nó, vì nếu tao chết lấy ai thương yêu đùm bọc nó nửa, một góa phụ xấu rất khó làm lại cuộc đời. Đằng này vợ tao đẹp, lỡ tao có gói “poncho” thì còn khối thằng nhảy vào. Và biết đâu khối thằng đang mong cho tao chết để nhảy vào..!

Tôi nói thế để làm gì? Để chúng nó phục lăn ra, chúng nó gọi tôi là thằng chịu chơi. Bây giờ giữa cảnh hoang vu của núi rừng, tôi nhớ Sài Gòn, nhớ người yêu. Bây giờ tôi ước mong làm một người bình thường sống một cuộc đời yên phận. Có tôi hay không có tôi, chiến tranh vẫn tiếp diễn, cục diện vẫn không thay đổi. Thế thì lý do nào khiến tôi tự đày thân mình ra chốn khổ ải này? Lý do nào bắt tôi sống một tuần với gia đình đã lại muốn đi, đã nhớ cảnh nằm lều, ngủ võng? Tôi không thích chiến tranh nhưng tôi yêu đời lính, yêu màu áo binh chủng. Tôi ước mong ngày mai đụng trận, tiếng súng nổ, tiếng đạn reo sẽ làm tôi quên hết nhọc mệt, chán nản. Chỉ có súng đạn máu lửa mới an ủi được nỗi buồn vô cớ trong tâm hôn tôi và tôi lo sợ một ngày hòa bình trở lại tôi sẽ là kẻ trở về lạc lõng giữa một xã hội không bị chiến tranh tàn phá tâm hồn..Bảy giờ sáng hôm sau đổ đồi, tám giờ, mười chiếc Shinook đến bốc một nửa Tiểu Đoàn 6 ném vào một vùng núi xa độ hai mươi phút bay. Tôi đi đợt hai chiếc Shinook thứ sáu. Theo sau là Tiểu Đoàn 8. Tiểu đoàn 2 đóng nguyên chổ cũ. Bãi đáp là một khu rừng thưa. Cuộc đổ quân an toàn. Mười giờ tiến quân. Chúng tôi băng qua một con đường nhưa, con đường đưa lên Khe Sanh, Lao Bảo. Hai bên đường những cây mây, cây tranh mọc cao quá đầu người. Đoàn quân tiến qua một vùng cháy rụi, loang lổ những hố bom cày, rải rác những hầm trú ẩn. Tôi nghĩ đến những người lính Bắc Việt bỏ xác nơi đây, dưới trận mưa bom bất ngờ, khốc liệt. Chúng tôi lúp xúp tiến lên một ngọn đồi tranh. Chỉ cần một tên địch nổi lửa đốt đồi cũng đủ thiêu sống cả Tiểu Đoàn. Cái nắng nóng ghê gớm từ trên đầu rọi xuống, từ những đám tranh hắt ra, từ dưới lớp đất nung bốc lên tưởng chừng nướng bỏng da thịt chúng tôi. Quần áo đẫm mồ hôi, tôi lấy miếng bông gòn thấm nước trà chấm lên mặt cho da đỡ cháy rát. Có được một nón sắt nước để rửa mặt lúc này thì thật quí hơn vàng! Sau đồi tranh là một ngọn núi sừng sững. Đỡ được nắng thì gặp di chuyển khó khăn. Chúng tôi phải leo, nhảy, đánh đu như vượn. Một giờ trưa mới nghỉ chân ăn cơm ở đỉnh núi. Đỉnh núi bị một quả bom rơi trúng làm lở một vệt dài. Tôi sẽ không bao giờ quên buổi ăn trưa đó: Ngồi ăn với hai bàn chân chống vào một gốc cây, cánh tay trái choàng qua một thân cây cho khỏi ngã xuống vực sâu. Ở đó tôi suýt bị một con bò cạp cắn. Nó lớn bằng ngón tay cái trông phát rùng mình…

Ba giờ, di chuyển qua những ngọn đồi tranh. Một đồi… một đồi…lại một đồi! Trước mặt, đằng sau, bên phải, bên trái toàn đồi núi. Cảnh trông thật thối chí cho những tay leo núi bất đắc dĩ như chúng tôi. Có tin Tiểu Đoàn 8 khám phá hai hầm đạn dấu hơn một trăm quả 81 và năm hầm chôn năm mươi xác địch. Số xác chết có lẽ là kết quả cuộc đụng độ với Tiểu Đoàn 2 Dù trước đây. Hôm ấy phía cánh quân Mỹ hỏa châu soi sáng suốt đêm.

Chín giờ hôm sau đổ đồi, tiến vào một khu rừng đầy hầm hố mới đào. Có lệnh súng cầm tay, quan sát phải trái. Chúng tôi men theo con đường mòn, dè dặt đi trong cái mát lạnh căng thẳng của khu rừng. Bổng mấy loạt súng vang lên phía đằng trước. Cánh quân Chỉ Huy dừng lại. Không nghe động tỉnh gì thêm. một lát có lệnh truyền miệng đến tôi: “Mời bác sĩ lên săn sóc một tù binh bị thương nặng”. Di chuyển chừng hai trăm thước, tôi gặp một toán binh sĩ bố trí quanh một cái cáng, trên đó một binh sĩ Bắc Việt năm thoi thóp. Khám nghiệm tôi thấy anh ta bị năm phát đạn AR. 15, một loại đạn rất xuyên phá, ở đầu gối và bắp vế trái, bắp chân và bắp vế phải và ở bụng. Tôi cho buộc garrot, truyền một chai huyết tương và băng bó các vết thương. Tôi nhìn sang bên cạnh hai xác Việt Cộng khác nằm ngửa mặt lên trời, một trúng đạn ngay ở tim, một đạn xuyên từ ót ra trước phá vỡ cả mặt trông thật khó nhìn. Tôi cho lật hai cái xác úp mặt xuống đất. Người Hạ Sĩ Quan an ninh đưa tôi xem một khẩu thượng liên và hai khẩu súng trường Nga có gắn lưởi lê vừa tịch thu được. Ông này nói:

_May mình nổ súng trước nếu không khẩu này nó quét trước thì khinh binh mình ngã hết . Thằng bị thương là xạ thủ khẩu thượng liên này.

Người thương binh mở mắt lơ láo nhìn vẽ sợ hãi. Ông Sĩ Quan an ninh vỗ về:

_Anh đừng sợ, có bác sĩ săn sóc vết thương cho anh, anh tên chi?

_Đào Duy Đức.

_Anh có bao nhiêu người?

_Năm, lạc mất Đại Đội. Đói ba ngày nay, ăn toàn xoài sống.

_Anh biết Thiếu Úy Mai Hồng Nhĩ không?

_Tôi thuộc Đại Đội của ông.

_Ông ta đã ra đầu thú anh biết chưa?

Người thương binh lắc đầu rồi kêu khát nước. Tôi chỉ cho anh nhấp nhấp. Các vết thương cứ rỉ máu. Anh ta kêu tức ở bọng đái. Tôi nghi bụng anh ta đầy máu. Khả năng tôi không làm gì hơn được. Tôi gọi máy bộ Chị Huy xin trực thăng di tản. Lời yêu cầu được chấp thuận nhưng phải chờ tìm bãi đáp vì chúng tôi đang ở trong rừng cây đan chằng chịt trên đầu. Chai huyết tương hết. Tôi băn khoăn không biết có nên cho thêm một chai nước biển hay chai huyết tương thứ hai. Tôi còn ba chai huyết tương và năm chai nước biển. Số lượng đó chỉ cần năm thương binh nặng là tiêu thụ hết. Tình thế này biết đâu sẽ còn chạm súng nữa. Binh sĩ tôi sẽ bị thương, phải dành cho họ. Tôi quyết định chỉ cho chích thêm thuốc trợ tim và thuốc cầm máu. Mạch vẫn nhảy yếu tuy có đều hơn. Người lính Bắc Việt cầm chặt tay tôi:

_Bác Sĩ cứu em.

Tôi cảm động. Anh ta không chửi tôi là quân Ngụy, anh ta xưng em với tôi. Tôi an ủi anh:

_Lát nửa sẽ có trực thăng đón anh về bịnh viện săn sóc.

Rồi tôi tò mò hỏi về gia thế anh ta:

_Anh mấy tuổi? Có gia đình chưa?

_Dạ hai mươi ba, một vợ hai con. Em mệt quá Bác Sĩ.

Anh ta sắp bị xúc kích huyết. Ý muốn truyền thêm một chai huyết tương lại trở về trong đầu tôi. Không được phải dành cho binh sĩ mình. Tôi bị giằng co giữa hai ý định trái ngược đó. Người thương binh lịm dần không còn nói được nửa. Anh ta sắp chết. Tôi biết thế mà cảm thấy mình không thể làm gì hơn. Khai phá được một lối đi, đưa người thương binh Bắc Việt ra đến bãi đáp chờ trực thăng thì anh chỉ còn là cái xác bất động. Biết anh ta sẽ chết, nhưng khi anh ta chết thật tôi lại chưa muốn tin anh ta chết. Tôi bắt mạch, áp tai vào ngực một hồi lâu rồi mới nói:

_Nó chết rồi.

Chúng tôi đặt xác anh ta xuống một hầm trú ẩn và lấp đất. Không cứu được anh ta thật là đáng tiếc, nhưng ít nhất việc làm của chúng tôi cũng giúp anh trước khi chết nhận thức được rằng kẻ mà anh gọi là thù không độc ác như người ta hằng tuyên truyền cho anh như vậy để căm thù. Riêng tôi đến giờ phút này, ngồi ghi lại chuyện ngày qua viết đến cái chết của người lính Bắc Việt tôi vẫn nghe dằn vặt trong lòng. Tôi biết vết thương anh trầm trọng khó sống, nhưng thà tôi truyền cho anh hai ba chai nước để rồi anh vẫn chết tôi sẽ yên lòng hơn để anh ta chết trong ý nghĩ mình chưa làm tròn những gì mình phải làm.

Chúng tôi đang ở ngày thứ chín của cuộc hành quân. Sáng nay thay vì di chuyển ra “điểm hẹn” Tiểu Đoàn 6 ở lại yểm trợ một trung đội Bảo An trở lại tìm một số vũ khí còn chôn dấu quanh tiền đồn nằm phía trái, dưới chân ngọn núi tôi ngồi ăn cơm trưa trên đỉnh. Toán Bảo An men theo con đường mòn tiến ra đến đường nhựa an toàn. Ho chia làm hai toán theo hai bên bờ đường nhựa tiến lên đồn. Khi toán một tiến đến gần đồn thì địch ở trong đồn nổ súng, đồng thời địch bên kia đường nhựa cũng ào lên chận đánh toán hai.

_Đại Bàng gọi Phi Vân, Đại Bàng gọi Phi Vân, anh nghe tôi không?

_Phi Vân báo cáo với Đại Bàng: Mất liên lạc với toán một, toán hai “ngủ” ba “nằm” một. Đại Bàng, Đại Bàng, chúng nó lại xung phong..!

Liên lạc máy đến đó bị cắt đứt. Tôi bàng hoàng. Hai Đại Đội Dù được lệnh đổ đồi tiếp cứu. Chừng mười phút sau, mấy loạt súng nổ vang dưới chân đồi. Tôi ngồi im nghe tiếng nói vang vang trong chiếc P.R.C. 25:

_Thanh Tòng gọi Minh Mạng

_Minh Mạng tôi nghe.

_Chạm đich bất ngờ, Thuận Thanh ngã hai, bị thương hai; Long Vị ngã một, bị thương một. Thiệt hại địch không rõ, xin cho săn sóc di tản thương binh và xác. Chờ quyết định của Minh Mạng.

Tôi dẫn toán y tá đổ đồi. Xuống được hai phần ba đồi gặp Bộ Chỉ Huy nhẹ của ông Tiểu Đoàn Phó và ba thương binh. Một trúng thương ở đầu và đang hôn mê, một đạn xuyên qua ngực và một đạn xuyên qua cổ tay. Tôi ưu tiên săn sóc người bị thương ở ngực. Đạn vào ở ngực và trổ ra đằng sau lưng; một viên phá nát xương quai xanh và xương bả vai trái; một viên khoét lổ hổng lớn bằng nắm tay gần sống lưng phía trái. Tôi nhìn thấy lá phổi trái đang hô hấp. Lần đầu tiên tôi gặp một trường hợp “thorax soufflant”. Vết thương hổng quá lớn không khâu được. Để tránh biến chứng do không khí tràn vào phổi, tôi lấy một chồng compress 4×4 bít kín hai lổ phá rồi lấy một cuộn băng thung khoanh chặc lưng. Cùng một lúc tôi cho truyền một chai huyết tương, một chai dextrant có pha thuốc chống xúc kích, thuốc điều hòa hô hấp. Người thương binh rên la trăn trở. Khi đôi mắt lờ đờ của anh bắt gặp tia nhìn nặng trĩu lo âu của tôi, anh nắm chặt lấy tay tôi thều thào trong nước mắt:

_Bác Sĩ ơi! Tôi biết tôi sắp chết..

Tôi cắt ngang câu nói của anh:

_Không sao đâu anh sẽ sống…

Người thương binh lắc lắc tay tôi ra hiệu bảo tôi im.

_Bác Sĩ nói thế an ủi tôi. Tôi biết tôi sắp chết. Nhờ Bác Sĩ tin cho vợ tôi hay. Nó ở số 4 đường Thái Phiên, Hội An. Nhờ Bác Sĩ nói nó ráng nuôi con tôi và …lấy chồng khác đi…

 Không ngờ trong đời tôi lại có lúc chứng kiến cảnh trối trăn này, những lời trối trăn y hệt như trong một tuồng cải lương; có khác chăng những lần khác tôi cười, lần này tôi rớm nước mắt. Nhưng câu nói:” Không sao đâu, anh sẽ sống” của tôi không phải là lời nói an ủi trong tuyệt vọng. Sau khi truyền hết chai huyết tương, tôi tin anh sẽ sống. Trái lại vết thương đầu là một ám ảnh lớn của người y sĩ, họ gần như bất lực trước thương tích đó. Nó sống là nó sống, nhờ ơn Chúa, ơn Phật; nó chết là nó chết, tại số nó hết.

Bãi đáp trực thăng được chọn ở lưng chừng đồi. Phải di tản thương binh ngược trở lên. Bỗng dưng trời đổ cơn mưa lớn, đồi dốc trơn trợt, công việc tải thương thật khó khăn chật vật. Tôi hỏi ông Tiểu Đoàn Phó về tình hình. Ông nói:

_ Địch có một khẩu đại liên ở triền núi cạnh đồn và một khẩu trung liên đặt trên đỉnh đồi ở bên kia đường nhựa quét chéo rất dầy về phía mình đổ quân. Tiến quân chắc chắn sẽ bị thiệt hại mà kết quả chưa chắc sẽ được gì. Đằng nào Trung Đội Bảo An cũng đã tan rã…

Hai giờ chiều. Cơn mưa vừa dứt. Ba cái xác gói trong poncho lần lượt được gánh qua mặt tôi. Máu nhễu từ những đôi giày xuống mặt đất kéo thành từng vệt đỏ dài. Tôi nghe đau xót trong lòng. Đời người thật ngắn ngủi, sống đó rồi chết đó. Phản lực, khu trục, pháo binh nối tiếp nhau bắn phá dội bom suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ đến số phận những người Bảo An sống sót còn kẹt lại dưới đó. Bộ Chỉ Huy cho biết Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn I sắp xuống thám sát tình hình. Năm phút sau một chiếc H.34 đáp xuống đỉnh đồi. Sau khi chiếc trực thăng bay đi hai Đại Đôi Dù được lệnh rút lên đồi. Một nỗi buồn uất ức xâm chiếm tâm hồn mọi người. Ba chết, ba bị thương mà không đánh đổi được gì. Chín người Bảo An chạy thoát được về trong số có ông Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng và người y tá. Người y tá Bảo An cho tôi hay anh có săn sóc cho một đồng đội bị thương ở chân. Khi địch xung phong, anh chạy bỏ lại người bị thương không biết sống chết ra sao.

Trong bữa cơm chiều, toán y tá của tôi bàn tán dị đoan:

_Tiểu Đoàn này kỳ lắm, hành quân cứ ngày chót là có đổ máu.

Một y tá nói về một người chết:

_Tội nghiệp thằng Thanh nó mang máy cho ông Đại Đội Trưởng, vì trễ năm ngày phép bị tống đi khinh binh, mới đi lần đầu đã dính…

Tôi nhớ tên biết mặt một trong ba người chết: Hạ Sĩ Lâm Đức Túc. Tôi nhớ Túc vì một câu chuyện xảy ra giữa anh và tôi. Một buổi sáng ở hậu cứ, Túc vào khám bệnh. Tôi hỏi anh đau gì, Túc đáp:

_Thưa Bác Sĩ mắt tôi hôm nay sao mờ đi, nhìn đéo thấy gì cả.

Biết anh vô ý quen miệng, song tôi vẫn đập bàn quát mắng. Túc đờ người ra, chừng chợt hay mình đã nói gì, mặt anh tái đi miệng lắp bắp xin lỗi. Tôi đem câu chuyện kể cho đám y tá nghe và cả thầy trò cùng cười. Bây giờ thì Túc đã chết nhưng anh lưu ở lòng tôi một kỷ niệm vui, vui để mà buồn…

Tôi được đánh thức dậy lúc bốn giờ sáng. Hôm nay phải có mặt ở “điểm hẹn” lúc mười giờ. Đoạn đường dự trù hai ngày đi, bây giờ phải đi trong năm giờ. Năm giờ sáng chúng tôi di chuyển, đi mò mò trong sương, vượt hai ngọn núi và ba trái đồi. Nhịn đói mà đi. Mệt lả nhưng mọi người cố gắng vì là đi về. Đến điểm hẹn trễ mất nửa giờ. Bảy chiếc H.34 lần lượt đem chúng tôi trở về Đông Hà. Khi Tiểu Đoàn đi được một nửa binh sĩ gác báo cáo, thấy một bóng người xuất hiện trên đồi. Quả thật một bóng người ẩn hiện từ đồi này qua đồi khác chạy về hướng chúng tôi. Bóng người rõ dần. Chúng tơi nhận ra một người lính Bảo An. Mọi người vây quanh mừng con người may mắn cuối cùng. Anh là người sống sót thứ tư của toán đi đầu. Người Bảo An kể:

_Lúc phi cơ oanh tạc và pháo binh bắn phá, tôi nằm trong bụi rậm chờ chết. Nhưng may mắn vô sự. Chúng nó đông lắm, phục sẳn, chờ Nhảy Dù xuống là đánh. Chúng chết nhiều vì tôi nghe chúng lục đục tải thương đến khuya. Đến gần sáng tôi bò về chổ đóng quân, nhưng không dám lên đồi sợ binh sĩ Nhảy Dù nổ súng. Mệt quá ngủ quên, tỉnh dậy thấy Tiểu Đoàn đã di chuyển, tôi vội vã chạy theo dấu..,

Về đến Đông Hà việc đầu tiên của tôi là thay bộ quần áo mười ngày không giặt, nhày xuống sông kỳ rửa cái thân xác mười ngày không tắm. Sau đó cùng Bác Sĩ Niệm của Tiểu Đoàn 8 ra chợ Đông Hà húp liền hai tô bún nóng cay, uống vài chai bia lạnh cho bỏ những ngày ăn uống thiếu thốn.

Tiểu Đoàn đóng quân ở Đông Hà đã mười lăm ngày. Đông Hà quá bé, quá buồn, quá bụi bặm, nắng nôi. Bắt đầu thấy chán, lại muốn đi. Phong Điền, Hải Lăng, Hà Lạc, những vùng nặng áp lực địch đang chờ chúng tôi. Nhưng mười giờ tôi hôm đó chúng tôi nhận lệnh ngày mai Chiến Đoàn Dù sẽ được không vận lên Pleiku. Tôi nghĩ đến Pleime, thung lũng Ia Drang với con suối Ia Puk chảy siết như thác; tôi nghĩ đến chiêc đồn chơ vơ nằm giữa lòng chảo Đức Cơ. Và một ngày sắp tới ngồi trên trực thăng nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẫn vơ…Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào. Một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau…

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

Vietmessenger typing & Post by Sơn râu 21 July 2023

Phù Cát, Bình Phú III, ngày thứ sáu mươi tư, sáu lần trực thăng vận, mười cuộc hành quân bộ. Trừ bị, án ngữ cho Trung Đoàn 41, tiếp viện Trung Đoàn 40, hành quân phối hợp với Kỵ Binh Không Vận Mỹ. Từ đèo Bình Đê kéo về Bồng Sơn, từ Đề Đức đổ xuống đồi Dương Liễu, từ Phù Ly, Phù Mỹ lần ra Phù Cát, từ Phù Cát bốc ngược trở vào đồi 10. Chân chúng tôi dẫm mòn đất Bình Định, Tam Quan. Đã một lần thay đổi quân trang, hai lần lãnh lương hành quân. Cuộc biến động miền Trung làm hoãn ngày về của Chiến Đoàn II Dù đến lần thứ 5. Bao nhiêu bất mãn trút lên đầu những kẻ đấu tranh. Với những người mà cuộc sống chắp nối bằng những giây phút thách đố tử thần thì những mỹ danh: TỰ DO, DÂN CHỦ, quả thật không mấy hấp dẫn bằng một ngày về vui với vợ con. Sống giữa tập thể đó, chia xẻ nỗi vinh nhục của đời lính, để có lúc bất chợt thấy lòng mình cùng ước vọng bình thường như đám quân binh. Sài Gòn bây giờ xa tôi quá! Chương trình một buổi chiều thứ Bảy nào mời người yêu vào Rex xem chiếu bóng, ghé quán Chùa ăn kem, ra Mỹ Cảnh dùng tối và cuối cùng vào Baccara khiêu vũ là một dự tính xa xỉ phẩm tôi không còn nghĩ đến. Ước muốn tôi bây giờ thật giản dị: Tôi thèm một ly Coca có đá, một tô phở thật nóng cay, một thùng nước sạch để tắm rửa và một giấc ngủ ngon không tiếng súng đich khuấy rối. Một chút thoải mái thể xác để giữ vững tinh thần cho những ngày kế tiếp. Tôi còn cần gì nửa? Nếu có thể, cho tôi xin chút bóng mát tâm hồn. Một thằng bạn viết thư hỏi thăm tôi có thêm mối tình nào qua đường nửa không? Hắn dùng chữ “qua đường” làm tôi nghĩ đời tôi là một chuyến đi dài. Tâm tình chỉ là những thoáng vui, thoáng nhớ chấm phá chuỗi ngày khô cằn, máu lửa. Nhưng tôi tự nhủ trong mọi hoàn cảnh phải biết tự tạo cho mình niềm vui dù bâng quơ, vô nghĩa. Tôi rời Bồng Sơn mang theo hình ảnh một người con gái Huế -một cô giáo – che dù đi dưới cơn mưa. Tôi nhớ bửa ăn nàng thết tôi trưa hôm đó bàn tay thon thỏn gắp mời từng món ăn, nụ cười hồn nhiên gương mặt phảng phất buồn. Trọn buổi chiều tôi sống cảm giác êm dịu kẻ đi xa về họp mặt người thân. Niềm vui thật trong lành.

Nhưng con người vẫn có nhu cầu rất con người. Sau hai tháng hành quân người đàn bà nào dưới mắt tôi cũng trở nên gợi cảm. Phù Cát cách Qui Nhơn chừng ba mưới cây số đường bộ khá an ninh. Qui Nhơn trở nên một cám dỗ, một giải tỏa. Một buổi sáng tôi cùng Niệm, Quyền bên Tiểu Đoàn 8 phóng ra Qui Nhơn trên chiếc Land Rover mượn của ông Quận Phù Cát. Chắc chắn chúng tôi không phải là những ông thánh và hình như Qui Nhơn không phải là một nhà tu. Buổi chiều trên đường về, tôi có cảm tưởng đã bớt nhớ Sài Gòn, bớt tha thiết đến ngày về; tôi có cảm tưởng ngày mai tôi có thể ăn ngủ bất cứ đâu, đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Theo bánh xe lăn trên con đường đầy ổ gà, lắc lư trong đầu tôi một tư tưởng về chiến tranh. Chiến tranh nguy hại ở chổ không phải nhiều người chết, nó nguy hại ở chổ thú vật hóa người còn sống. Có nhiều chua chát bất chợt trong cảm nghĩ của tôi. Nhưng ở một khía cạnh khác, đối với một cấp chỉ huy quân sự, tạo được trong hàng ngũ binh sĩ mình cái gọi là nguy hại đó là một thành công. Phải sống đời lính mới biết thì giờ để suy tư thật ít oi. Và tôi quan niệm người lính thiện chiến không hẳn là người đã dự nhiều trận mạc, mà trước hết phải là người không thích suy nghĩ hay không có thì giờ để suy nghĩ. Tôi cũng đang dần dà trở nên người không có thì giờ để suy nghĩ…

Đêm hôm ấy chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị hành quân. Mục tiêu: một vùng ven biển cách chừng ba mươi cây số Đông Bắc Qui Nhơn. Trong buổi họp hành quân tôi được biết Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ xuống núi. Tiểu Đoàn 6 từ mặt biển tràn vào. Tình trạng quân số Tiểu Đoàn 6 hao hụt khá nhiều vì sốt rét, kiết lỵ và lở chân, nhưng điều đáng ngại là số Sĩ Quan bị bệnh gồm ông Sĩ Quan ban 3 và ba ông Đại Đội Trưởng. Ba ông Thiếu Úy Trung Đội Trưởng lên xử lý thường vụ. Trách nhiệm điều quân đè nặng lên vai hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó. Thời gian dự trù là bốn ngày. Lội cú chót. Chúng tôi được thượng cấp hứa như vậy. Nhưng với tình hình còn rối rắm này và  nhất là sau năm lần bị hoãn ngày về chúng tôi đâm ra dè dặt lòng tin. Tám giờ sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 8 được trực thăng vận chiếm các cao điểm trước. Mười giờ Tiểu Đoàn 6 kéo ra bãi trực thăng. Trời nắng gay gắt. Hai mươi bốn chiếc UHBI chia làm hai đợt bay đi bay về chuyển quân. Dân Phù Cát ra đưa tiễn chúng tôi khá đông đảo. Con nít nhiều hơn người lớn và đàn bà đông hơn đàn ông. Năm ngày dưỡng quân quá đủ để những chàng lính Dù hào hoa gây cảm tình. Bên này bên kia hàng kẽm gai, từng chiếc nón lá chụm vào chiếc nón sắt. Họ tâm sự gì cùng nhau chỉ có Trời biết. Chỉ nghe thỉnh thoảng có tiếng nói lớn:

_Đừng nghe nó dụ về Cấp mà khổ thân nghe em! Nó một vợ hai con rồi! vợ nó dữ lắm…!

Tiếp theo là những tràng cười vỗ vã.

Tiểu Đoàn 8 đổ quân an toàn, mười giờ ba mươi, Đại Đôi 62, 63 được bốc đi. Tôi ngồi theo dõi cuộc đổ quân qua chiếc máy bay của ông Đại Đội trưởng 60. Báo cáo cho biết các phản lực cơ đang bắn phá bãi đáp, có hỏa lực địch nhắm lẻ tẻ lên các trực thăng. Mười một giờ đoàn trực thăng những con chim chài sà xuống cặp chúng tôi bay vút đi. Trực thăng đưa chúng tôi ra biển, hạ thấp xuống và bay vòng trở vào. Qua nhanh dưới mắt tôi màu xanh mênh mông biển cả, màu vàng bãi cát hoang sơ, màu xám chì dãy núi đá. Cảnh thật hùng vĩ. Nếu không có những đám lửa, những cột khói bốc cao, tiếng bom long trời, tiếng gầm thét của phản lực cơ, có lẽ tôi đã giàu tưởng tượng nghĩ mình là một du khách đế vương đang thưởng ngọa một danh lam thắng cảnh.. Bãi đáp là một cánh đồng trống bùn lầy. Sừng sững trước mặt, bên trái chúng tôi dãy núi đá chênh vênh. Bên phải là một bìa làng, mục tiêu đầu tiên của Tiểu Đoàn 6. Hai Đại Đội 62, 63 tiến chiếm bìa làng không gặp kháng cự nào đáng kể. Nhưng ở hai triền núi, hỏa lực địch nhắm vào các trực thăng thật là đáng ngại. Phản lực cơ, gunship hoạt động mạnh mẽ nhưng tiếng súng địch vẫn chói tai tiếp đón chúng tôi. Nhảy ra khỏi trực thăng, bùn nước ngập đến nửa ống chân. Chúng tôi tản nhanh vào bờ làng. Còn một Đại Đội nửa là cuộc đổ quân hoàn tất. Tôi được biết theo kế hoạch. Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ đồi rồi cùng Tiểu Đoàn 6 song song lên mục tiêu II để đóng quân đêm ở đó. Đại Đội Chỉ Huy bố trí góc theo lũy tre bao bọc bìa làng. Một ngôi nhà ngói bị trúng bom sụp đổ còn nghi ngút cháy. Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc xoài, mở bi đông nước tu một hơi. Định bảo tên “đệ tử” mang cơm ra ăn thì một tiếng ầm làm tôi giật bắn người. Tôi nghe mảnh bay rào rào qua lá cây. Có tiếng bàn tán:

_Chúng nó câu 60 ly.

_60 ly sao không nghe tiếng “đề ba” (depart)?
_Chắc thằng nào dẫm phải lựu đạn.

Tiếng nổ ở phía Đại Đội 61. Tôi cho trạm Cứu Thương chuẩn bị. Một lát báo cáo máy cho biết năm “con” bị thương. May mắn không có vết thương bụng hay ngực. Cả năm bị mảnh ghim vào hạ chi, hai trường hợp gãy hở xương ống chân. Tôi yêu cầu xin trục thăng di tản thương binh. Đại Úy Smaldone, cố vấn trưởng cho tôi biết mười lăm phút nửa trực thăng đến. Tản thương là một vấn đề phải được giải quyết nhanh chóng khi đơn vị đang hay cần di chuyển. Tôi cho đưa các thương binh ra bãi đáp. Hai phải khiêng cáng, hai phải dìu. Cánh đồng nắng chói, vắng vẽ, nằm phơi mình dưới hai mặt núi lầm lì. Tôi gặp Trung Úy Black cố vấn phó đang đứng liên lạc địa không. Anh vừa từ Mỹ sang, về Tiểu Đoàn 6 được hai tháng và hành quân lần đầu. Thấy tôi và đám y tá khiêng dìu thương binh ra, anh đưa năm ngón tay làm dấu, miệng nói thêm:

_Bác Sĩ, năm phút nữa. 

Hai chiếc gunship xuất hiện, đảo vòng hai mé núi. Từ mặt biển một chiếc trực thăng sơn chữ thập đỏ là là bay thấp vào. Khi hai chiếc cáng vừa cập cửa trực thăng thì mấy loạt tiểu liên từ trên núi bắn xuống, tiếng nổ khô dòn như tre hóp cháy. Đạn bay chéo chéo nghe rất gần nhưng không rõ từ đâu. Đám y tá đẩy vội các thương binh lên rồi chạy kiếm chổ ẩn. Tôi nửa bình tĩnh nửa sợ; nửa muốn đứng yên, nửa muốn đi núp.  Tôi bắt gặp tia nhìn của Black, anh vẫn đứng yên. Anh còn đứng đó có thể vì anh can đảm, có thể vì anh thấy tôi không bỏ chạy. Máu tự ái trong người tôi bỗng nổi lên, buôc tôi vào cái thế không chì không được. Thật là trẻ con. Nhưng biết đâu sự trẻ con thường xuyên ấy làm Nhảy Dù nổi tiếng. Nhưng khi chiếc trực thăng nhớm càng, xoay mình để bay ra biển thì địch lại bắn rất rát. Lần này cả Black lẫn tôi không ai bảo ai, cùng một lúc đánh mấy phóc, đến sau mô đất cao.

Tôi qua một giấc trưa ngắn nhưng ngon lành dưới những tàn cây lổ đổ nắng. Đám y tá phải ngạc nhiên trước sự dễ ngủ của tôi. Tôi có thể ngồi ngủ, đứng ngủ, ngủ từng mười phút dừng quân. Có lẽ nhờ vậy nên ăn uống kham khổ, hành quân cực nhọc tôi không ốm trái lại còn mập ra. Một giờ ba mươi chuẩn bị di chuyển. Ngoài tốp người tình nghi do toán an ninh canh giữ. Tôi thấy tụ tập sau trạm Cứu Thương một đám chừng ba mươi người, hầu hết là đàn bà, trẻ em. Họ xin theo chúng tôi ra vùng an ninh. Hình ảnh một thiếu phụ và một cậu bé khiêng võng một bà già lết bết theo chúng tôi làm mọi người vừa cảm động vừa lên tinh thần. Hai người đàn ông tình nghi được chỉ định khiêng bà cụ. hai năm qua Cộng Sản đã làm gì dân vùng này để họ oán ghét. Chắc cũng tại trò đếm đầu người, đầu vật, gốc cây để đánh thuế.

Chúng tôi tiến chậm nhưng yên tĩnh qua cồn cát lún, rãi rác những mái nhà tiêu sơ ẩn dưới những rặng thông. Số dân khăn gói nhập vào đám người lánh nạn tăng lên qua mỗi chặng đường. Bỗng có tiếng súng nổ xa bên cánh trái chúng tôi. Tiểu Đoàn 8 chạm địch. Phía Tiểu Đoàn 6 vẫn im lìm tuy đầy dấu vết địch trên lộ trình tiến quân. Ra khỏi làng Cát Khánh, chúng tôi đến dưới chân một dãy đồi cát cao chạy dài không dứt. Tôi nghe tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ. Leo lên đỉnh đồi cao nhất tôi thấy biển thật gần. Một chiếc tàu chiến hạm Mỹ hiện diện tại eo biển tự bao giờ.

Năm giờ chiều, không có lệnh đóng quân, trái lại có lệnh sẵn sàng tiếp ứng Tiểu Đoàn 8. Tiểu Đoàn này đổ quân đụng mạnh với đich. Tin sơ khởi phía 8 Dù ngã bốn “con”, bị thương 9. Trong số tử thương có một Hạ Sĩ Quan cố vấn Mỹ, thượng sĩ Rami. Tôi lẩm bẩm “Mới ngày đầu mà chiến trường coi bộ sôi động quá!” Bác Sĩ Niệm giờ này chắc đang vất vã. Tự nhiên tôi đâm chán cái nhàn của mình. Tôi tình nguyện về Nhảy Dù đâu phải để mua chữ nhàn. Tôi yêu cái vất vã đầy kiêu hãnh của binh chủng này. Niềm kiêu hãnh mà mỗi người lính Dù có bổn phận phải bảo vệ, bằng mọi giá, kể cả giá mạng sống mình. Niệm đã mang cho tôi lòng khao khát niềm kiêu hãnh đó. Còn nhớ một buổi chiều thứ bảy nào, từ mặt trận Đức Cơ về, anh ghé thăm bệnh viện Sài Gòn, nơi trước đây một năm anh từng là nội trú. Giữa một vòng tròn nữ y tá xinh đẹp mắt sáng ngời thán phục. Niệm trong bộ đồ saut bạc thếch hiên ngang kể lại những ngày bị vây hãm ở Đức Cơ. Tôi nhắm mắt tưởng tượng một chiếc đồn nhỏ bé bốn bề tường núi vây quanh, hồi hộp theo dõi những đợt tải thương lên phi cơ dưới cơn mưa pháo lích xuống phi đạo. Tôi tưởng như chính mình đang sống chui rúc dưới hầm, ăn ngủ đều luôn luôn có nón sắt. Niệm đã giúp tôi khám phá ra tôi cũng có máu Nhảy Dù. Bây giờ tôi đang sống cùng anh những gì mà trước kia tôi chỉ nghe anh kể. Bây giờ tôi đang ngồi bình yên bên này, thông cảm nỗi vất vã của anh bên kia..

Sáu giờ rưỡi chiều vẫn chưa có lệnh đóng quân. Súng vẫn nổ lưng chừng những dốc núi. Bốn chiếc F.101 liên tục dội bom, bắn phá, Tiểu Đoàn 6 lục soát hạ hai du kích, bắt sống năm tên, giữ thêm mười lăm tình nghi. Dân chúng được tập họp xuống một lũng sâu giữa hai sườn đồi cát vừa dễ bảo vệ, vừa dễ kiểm soát. Người y tá Đại Đội 64 kể tôi nghe chuyện một cô gái vừa được giải thoát. Nàng làm nghề thợ may ở Qui Nhơn về thăm nhà ở Cát Khánh, bị Việt Cộng bắt và kết tội do thám. Suốt sáu tháng qua cô bị chúng giam dưới hầm và bắt làm ..hộ lý. Khi được đưa ra khỏi hầm cô ôm chân một anh lính Dù khóc ròng…

Tám giờ tối, phía Tiểu Đoàn 8 mới im tiếng súng. Có lệnh đóng quân, nhưng cấm nấu ăn: ánh lửa giờ này dễ làm lộ vị trí đóng quân. Nhưng chúng tôi không sợ đói vì đã mang sẳn một ngày ăn. Lúc chiều các binh sĩ có lệnh nhường bớt phần cơm cho đồng bào vì một số ra đi không mang theo lương thực. Điều làm tôi lo ngại số dân chúng bỏ nhà ra đi chắc chắn sẽ còn nhiều trên khoảng đường ba ngày ngày kế tiếp. Đoàn người tị nạn phải bảo vệ kia sẽ là một trở ngại lớn cho Chiến Đoàn II Dù trong nhiệm vụ lùng và diệt địch. Tôi nghe nói đến giải pháp sẽ nhờ Mỹ đem Shinook chuyển dân chúng về Phù Cát, nếu giải pháp trên không thực hiện được, không khéo cuộc hành quân diệt địch sẽ biến thành cuộc hành quân di dân..

Chín giờ tối, ba chiếc khu trục đến thay các phản lực cơ tiếp tục dội bom và oanh kích. Chiếc tàu chiến Mỹ cũng bắt đầu câu hỏa tiễn vào một eo núi. Từ tàu vút lên hai vệt đỏ song song xé gió qua đầu tôi, lao đến vùng núi tối đen rồi lóe lên những đóm lửa. Vài trái hỏa tiển phát nổ trên không, những mảnh lửa bắn tung như những tia pháo bông.  Phía Tiểu Đoàn 8 từ hông một chiếc C.47 vung vãi xuống những lằn lửa ngoằn ngoèo, vài giây sau tiếng nổ mới lụp bụp đến tai… Tôi ngồi viết nhật ký một lúc dưới ánh hỏa châu soi sáng vùng đóng quân. Tiếng thông vi vu, tiếng sóng rì rào gợi cho tôi nhiều kỷ niệm về biển. Tôi nhớ Thuận An, bãi biển có hai lớp sóng: những ngọn sóng lớn ăn dần bãi cát và những con sóng ngầm trong lòng các thiếu nữ đất thần kinh đi tắm biển. Tôi nhớ Nha Trang với thoáng buồn: những ngày vui Hòn Chồng, Cầu Đá không ngăn mối tình tan vỡ. Tôi nhớ Vũng Tàu, bãi trước bãi sau ngây ngây mùi tình rác rưỡi. Ba miền biển, ba chặng đường đời. Tôi đã đến Sa Huỳnh, tôi đang nằm bên bờ Cát Khánh. Chiến tranh còn đưa tôi đi khám phá bao nhiêu bờ biển lạ nữa của quê hương? Tôi vóc tay bóc nắm cát, một mùi hương mặn thơm lên mũi. Tôi thầm ao ước đến đâu cũng ngửi được mùi hương đất nước này. Tôi trở mình nằm nghiêng. Con tàu Mỹ đã ngừng bắn phá, nhưng bên kia vùng núi đen còn bập bùng đám lửa. Tôi bỗng nhớ chuỗi ngày sống trên những cao điểm. Từ trên cao nhìn xuống tôi đã thấy gì, cảm nghĩ gì? Tôi lần lượt gọi tên những ngọn đồi..

Cứ điểm chiến lược ban ngày nóng như thiêu, ban đêm lạnh run là Đồi 10. Tôi đã qua ba đêm đầu mất ngủ vì hoạt động của hai khẩu đại bác đặt trên đỉnh đồi. Nhưng nắng nóng, bụi bặm, tiếng nổ rồi cũng quen đi, cả đến cái chết nhìn cũng quen đi. Ở đó một quả 105 ly vừa ra khỏi nòng phát nổ làm thiệt mạng một Sĩ Quan và hai pháo thủ. Ở đó tôi được tin Phong tử trận, thằng bạn thân nhất của tôi. Tôi sẽ không còn dịp khi về Sài Gòn tìm sỉ vả hắn tội phá hỏng chiếc Scooter của tôi rồi vất đấy. Với lon Đại Úy Hải Quân trên vai những tưởng hắn thọ hơn hai mai nơi cổ áo tôi nhiều. Thế mà hắn chết, bất ngờ không tin được. Hắn đi vào lòng biển cả trên đường thi hành một hải vụ xa xôi. Bạn bè cứ loãng dần từng đứa! Sau Phong sẽ đến ai? Chiến tranh còn tiếp diễn, hãy dành phần lựa chọn cho nó. Ở đó một đêm trăng tôi được thú tao nhã nằm nghe một “nữ đồng chí” ngâm thơ giọng Quảng. Đại để nàng khuyên chúng tôi nên bỏ súng quay về với nhân dân giải phóng. Sau hai tràng đại bác tiếng ngâm thơ im bặt. Sáng hôm sau dân làng khiêng đến tôi một thiếu nữ bị mảnh đạn ghim vào hông phải. Tôi tự hỏi người ngâm thơ đêm qua và người bị thương sáng nay có phải là một? Tôi nhớ tuần lễ nướng da trên đồi Chương Hòa, ngọn đồi đá tảng nóng đến bốc khói vào đúng ngọ. Tôi có những buổi trưa hầm người dưới lều bự bội nằm nghe cơn biến động hậu phương qua chiếc máy thu thanh. Ở đó, tôi đã viết gửi một thằng bạn đang hung hăng “xuống đường” ở Sài Gòn bài thơ cay cú nhất đời mình.

Xin một ngày

Mày nói anh em

Ngưng một ngày đấu tranh

Xin các Thầy

Đêm nay Rằm

Đình chỉ xuống đường

Xin các Cha

Sáng mai Chúa Nhật

Đừng căng biểu ngữ

Mày nói hậu phương

Đừng nhân danh chúng tao

Nói những tên tham nhũng

Ngưng đục khoét một ngày

Nói các tay gian thương

Giảm giá hàng một buổi

Mày nói bác tài xế Taxi

Sáng mai có thằng nhà binh đi phép

Nó gọi xe nên ngừng lại

Nói ông chủ nhà đèn

Đừng cúp điện đêm nay

Mày nói người đàn bà có chồng đi xa

Ngưng một ngày ngoại tình

Nói các em bán bar

Hôm nay cuối tháng

Đừng đi với ngoại kiều

Tất cả để khi tao về

Thấy một niềm an ủi

Tất cả cho ngày tao đi

Trong tâm hồn phấn khởi

Mày nói mọi người

Hãy lừa dối tao

Đừng cho tao hay sự thật

Tao sẽ chết đi

Nếu không đào ngủ

Tôi có những buổi chiều êm ả, ngồi trên mõm đá, nhìn ra khơi, mặt biển Sa Huỳnh xanh ngắt phất phơ những chấm buồm vôi, hay nhìn xuống ven chân đèo Bình Đê làng mạc rừng dừa ẩn hiện trong làn sương mỏng..Tôi có những đêm ngồi nhìn bầu trời lấp lánh, lòng chân thành muốn gởi tới trăng sao một điều ước nguyện: Cho tôi được làm một người Việt Nam không Công Giáo, không Phật Giáo, một người Việt Nam không quân sự, một người Việt Nam không dân sự; một người Việt Nam không Bắc, không Nam; một người Việt Nam chiến đấu không bao giờ thắc mắc mình chiến đấu cho ai; một người Việt Nam yêu nước bằng cuộc đời mình…

Đèo Nhông, đèo Phù Củ, Đề Đức, Dương Liễu, những địa danh khiêm tốn trên bản đồ nhưng vĩ đại trong lòng tôi. Những cao điểm nhìn xuống để thấy những tị hiềm nhỏ nhen vời vợt dưới chân để nghe dâng lên trong hồn tình quê hương bao la…Tôi đã và đang học những bài địa dư quí báu bằng mồ hôi của mình và máu các đồng đội. Tôi thấy mình không lập dị khi muốn hét thật to: “Cám ơn chiến tranh, đã cho tôi xa thành phố!”

Tờ mờ sáng hôm sau dân lánh nạn kéo đến càng đông, số người đã ngót ba trăm. Tiểu Đoàn 6 chúng tôi lãnh nhiêm vụ bảo vệ họ. Mười giờ hơn mới di chuyển. Chúng tôi đi quanh mõm núi nằm ven biển. Trời nắng chan chan. Gió biển thổi lồng lộng, tuy vậy vẫn mệt, tháo mồ hôi và khát nước. Hai chiếc F.101 oanh tạc dọc đường tiến quân. Bom Napalm trút xuống những nơi khả nghi, có khi cách đoàn người không đầy hai trăm thước. Tiểu Đoàn 8 mở đường đụng nhẹ với du kích, hạ được năm tên. Đồng bào điểm mặt, mấy xác chết nằm vắt ngang lối đi. Triền núi vẫn đứng nhìn xuyên hông chúng tôi, đầy hăm dọa. Tôi có cảm tưởng kẻ thù đang lén lút bám sát theo chúng tôi, chờ một phút sơ hở, đôi kẻ chậm chân là nhảy ra giành giựt lại đám dân. Đồng bào như cũng đánh hơi được sự nguy hiểm ấy, nên mặc dù đã được một Đại Đội bọc hậu, họ vẫn dồn sát lên Đại Đội Chỉ Huy. Chúng tôi khản cả cổ mà vẫn không thành công mấy trong việc gom dân chúng lại đằng sau.

Vào một lúc dừng quân, một người đàn bà ẳm đứa bé chừng hai tuổi, ghẻ chốc đầy mình đến tôi xin thuốc. Tôi nghĩ thầm chắc lại ông thần tác chiến nào quảng cáo rồi. Tôi không cho cũng đành, nhưng nếu cho thì chẳng mấy chốc con bệnh sẽ ùn ùn kéo đến. Số thuốc mang theo có hạn và phải dành cho binh sĩ. Tuy thế buổi chiều sau khi đóng quân kiểm số thuốc, tôi thấy cũng hao mất hơn năm mươi viên trụ sinh và hơn một trăm viên thuốc các loại.

Chúng tôi đi qua một khu dân cư nghèo nàn. Khối người ra vùng an ninh lại có dịp tăng lên. Lẫn trong đám bụi mù, người vật lẫn lộn, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng trâu bò rống, tạo nên một cảnh hỗn độn vui mắt như một ngày phiên chợ. Năm giờ chiều. Đóng quân giữa một vùng trống trải, mặt hướng về núi, lưng quay về một cái đầm lớn tên là Đầm Đề Di. Trong câu chuyện bữa cơm chiều, chúng tôi lo lắng vấn đề tiếp tế lương thực cho dân chúng. Còn những hai ngày đường mà trong non một nghìn người lánh nạn, con số ra đi với hai bàn tay trắng không phải là ít. Công điện xin tiếp tế lương thực cho dân chúng không được thỏa mãn với lý do không có chương trình dân sự vụ cho cuộc hành quân diệt địch này. Niềm tin còn lại là đoàn người can đảm kia sẽ đùm bọc lấy nhau để vượt mọi thử thách.

Chúng tôi qua đêm bình yên. Bảy giờ sáng di chuyển. mặt trời lên cao sớm. Da thịt bắt đầu cháy rát dưới ánh nắng. Băng qua làng Cát Minh rồi Cát Thành. Vào lúc ngồi nghỉ chân dưới một mái nhà tranh, tình cờ được nhìn vào một miếng gương, tôi suýt không nhận được ra tôi: mặt mũi, phía biển thì cháy rốp, lột da từng mảng nhỏ, phía núi thì đen đen, đỏ đỏ bóng nhờn. Nhan sắc tàn phai thế này không biết ngày về Sài Gòn còn ai nhìn ra tôi không? Ít nhất cũng còn một người nhận ra tôi, tôi vui vẽ tin như thế. Tiểu Đoàn 8 tiến vào một khu nhà ngói bắn chết ba du kích, khám phá hai kho gạo, một kho muối. Phía Tiểu Đoàn 8 một Hạ Sĩ Quan bị bắn sẻ trúng đầu. Niệm gọi máy nhờ tôi di tản dùm người thương binh vì Trạm Cứu Thương phải tiếp tục theo Tiểu Đoàn đi lục soát. Người Trung Sĩ được đưa đến tôi trong tình trạng hôn mê. Máu nhượm đỏ cả lớp băng đầu. Viên đạn xuyên thủng nón sắt, đình trán và trổ ra sau mang tai trái. Tôi bó tay ngồi nhìn vết thương biết rằng mọi cố gắng cấp cứu nào của mình cũng vô ích. Tôi bỗng lặng người nhìn hai tay người bị thương cử động: bàn tay phải đưa lên mở nút túi áo, móc bao thuốc lá rút ra một điếu thổ thổ vào lòng bàn tay trái rồi đưa lên môi. Điếu thuốc rơi xuống và bàn tay lại tái diễn những động tác mở nút túi áo lấy bao thuốc. Tôi vụt liên tưởng đến hình ảnh một con cóc của buổi thực tập môn sinh lý học năm nào, con cóc bị phá hủy não bộ, chỉ còn tủy sống để làm thí nghiệm, con cóc mà tôi đã tinh nghịch nhỏ một giọt cường toan lên lưng nó để thấy nó đưa chân sau lên phủi lia lịa vào lưng làm như nó còn biết đau, biết phỏng. Người thương binh của tôi bây giờ cũng đang có cử chỉ như còn biết lấy thuốc hút. Chiếc trực thăng tản thương đến giải thoát tôi một cảnh chứng não lòng.

Tiểu Đoàn 6 tiến vào khu nhà ngói. Dân chúng đã gồng gánh ngồi chật cả hai bên đường chờ chúng tôi. Có lệnh mở kho gạo và muối phát cho dân. Khó khăn to lớn nhất vừa được giải quyết.

_Trời sinh, Trời dưỡng.

Một cụ già lễ mễ bưng một nón gạo nói với tôi như thế. Đich cũng bỏ lại hai thùng thuốc men. Tôi tưởng sẽ đọc thấy những nhãn hiệu Tiệp Khắc, Trung Cộng hay Nga Sô. Nhưng không, vẫn những loại âu dược tốt và khan hiếm của Sài Gòn. Làm sao các thứ thuốc ấy lại có ở vùng quê hẻo lánh này? Tôi đặt câu hỏi nhưng không tìm câu trả lời.

Chúng tôi đóng quân khi ánh nắng còn vàng hoe trên những sườn núi đá. Những vách núi như cao hẳn lên vì chúng tôi ở sát chúng hơn bao giờ hết. Tiếng súng địch bắn vào các trực thăng lên xuống nghe gần hơn, nguy hiểm hơn. Và đoàn người lánh nạn đã trên dưới hai ngàn người càng làm chúng tôi bận tâm hơn. Chiến Đoàn chỉ thị đề phòng địch không những từ ngoài vào mà có thể trong đám dân ra nửa. Đồng bào được tập trong vào một khu xa Bộ Chỉ Huy; có lệnh cấm họ không được rời xa chổ ở sau bảy giờ tối. Và địch đến viếng chúng tôi sớm hơn dự tính: hai toán du kích hai mặt bò vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 6 bị phát giác. Một toán trọn ba tên bị bắt sống, toán kia hai tên bị bắn hạ. Trường hợp bắt sống ba tên du kích khá hy hữu: lúc ấy trời vừa tối. Một anh Hạ Sĩ ôm quả mìn định hướng ra xa vọng gác để gài, mói mon men chừng mười bước anh chạm trán vói ba bóng đen cũng đang mò mẫm đi vào. Biết gặp địch anh Hạ Sĩ nhanh trí hai tay đưa quả mìn lên như thế cầm súng, miệng hét to:

_Đứng yên, dơ tay lên!

Bị bất ngờ ba tên đich súng còn mang trên vai, riu ríu vâng lời. bấy giờ anh Hạ Sĩ mới gọi người tiếp ứng. Dù mệt mỏi suốt đêm hôm ấy tôi mất ngủ vì hai chân đau buốt sau mấy ngày đường. Có lúc vừa chợp mắt thì nghe nhức nhối ở lưng và chân. Dưới ánh sáng của cây đèn bấm tôi ghê hồn nhìn những chấm đen lúc nhúc cùng chăn mùng: “rệp!” Một lọ thuốc muỗi giúp tôi được nằm yên nhưng tỉnh người và khó thở vì mùi thuốc nồng nặc. Tôi trằn trọc nằm nghe tiếng hỏi cung mấy tên du kích bị bắt, tiếng K.50 lâu lâu khuấy rối khoảng đêm tịch mịch. Hình ảnh người Hạ Sĩ Quan bị thương nhấp nháy hiện ra. Cử chỉ móc túi lấy thuốc hút ám ảnh tôi, nó đưa anh xuống ngang hàng cùng loài vật chỉ có tủy sống! Và trong đời y sĩ của tôi, lần đầu tiên tôi không mong cứu sống một người, trái lại tôi mong anh chết đi càng sớm càng đỡ đau đớn, không phải cho anh mà cho những người chứng kiến cảnh anh tàn hoại..

Sáng hôm Sau Chiến Đoàn thay đổi lộ trình di chuyển. Chúng tôi không đi trên đường lộ nửa, con đường bắt đầu vòng sát chân núi một khoàn ngót hai cây số bản đồ. Di chuyển trên một địa hình như thế rất bất lợi. Nhiệm vụ của Chiến Đoàn Dù bây giờ là bảo vệ đoàn di dân trên đoạn đường năm cây số còn lại. Chúng tôi băng đồng, xuyên làng mạc, xa dần dãy núi. Dân chúng vì gồng gánh, bồng bế cồng kềnh, lại vướng các súc vật đem theo nên nối đuôi chúng tôi rất chật vật. Nhưng mệt nhọc không làm chúng tôi, quân cũng như dân, chùn bước. Niềm hân hoan của dân là thở được không khí vùng tự do, niềm vui của chúng tôi là lần này chắc chắn được về hậu cứ.

Không hiểu vì sự thay đổi lộ trình của chúng tôi hay vì đich không dám bám sát theo, mà trên đường tiến ra vùng kiểm soát hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi nhìn thấy quốc lộ số 1 lúc hai giờ chiều. Dừng quân ở làng Vĩnh Tường, chờ xe Phù Cát ra đón. Một số dân chúng tản mác hoặc tự túc đón xe đi Phù Cát, Qui Nhơn. Phần đông đảo còn lại chờ phương tiện của Quận đưa về trại định cư. Nhìn họ tôi bâng khuâng lo lắng: Phải làm gì để tạo hứng khởi, giữ niềm tin Quốc Gia trong lòng những người dân chán ghét cộng sản này? Phải làm gì để họ không ân hận đã ra đi? Những câu hỏi quá to lớn, ngoài thẩm quyền của tôi. Tôi chỉ có quyền hy vọng. Những cô thôn nữ đẹp chất phác kia, những cậu bé hiền lành kia, tôi hy vọng hoàn cảnh xã hội ta sẽ không hóa thân họ thành những cô gái bán bar trơ trẽn, những chú nhỏ ma cô làm ung thối thêm thân thể Quê Hương.