Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 24 July 2023

Những loạt súng đầu tiên nghe ở hướng đài phát thanh và phía cầu Tàu khi tôi thức dậy. Tay tôi quờ quạng vặn nút chiếc Radio tìm đài Sài Gòn: tôi mong nghe một lời tuyên bố; chỉ nghe tiếng sột soạt hình như của cuốn băng nhựa quay. Chắc lại đảo chính! Tôi bỗng muốn mỉa mai ý nghĩ của chính mình: đất nước đang chiến tranh, thế nhưng ở Sài Gòn hễ có tiếng súng nổ người dân đô thị chỉ nghĩ đến một biến cố chính trị. Số người nghi ngờ một cuộc đột kích của địch, một vụ đột kích nho nhỏ thôi, chứ đừng nói đến một cuộc tổng tấn công, chắc đếm được đầu ngón tay. Người ta đã chẳng quay một phim “Sài Gòn không chiến tranh” là gì? Tôi nằm im nghe những tràng tiểu liên nổ gần xa, cố phân biệt từng âm thanh, từng nhịp nổ: Tôi quen thuộc tiếng M.16 nổ nhẹ và phả hơi, nhưng qua những loạt nổ dòn cao, tôi không phân biệt được tiếng Carbin M.2 hay tiếng AK. Có chăng nhịp AK chậm hơn. Kinh nghiệm phân biệt súng bạn súng thù của tôi sau hai năm theo các Tiểu Đoàn Dù chỉ tới mức ấy. Tôi trở về giấc ngủ với cảm nghĩ bàng quang: Chắc có chuyện gì đó, sáng ra hẵng hay.

Sáu giờ sáng đài Sài Gòn loan tin, một số Việt Cộng mưu toan đánh chiếm một vài cơ sở trọng yếu trong đô thành, quân đội đang đẩy lui chúng. Tôi lẩm bẩm “hưu chiến cơ mà!” để rồi cảm thấy mình ngây thơ. Đánh nhau cần nhất yếu tố bất ngờ. Còn gì bất ngờ hơn là đánh vào lúc hưu chiến?

Một chiếc xe Hồng Thập Tự đỗ xịch trước nhà. Người tài xế già, nón sắt, áo giáp, tay súng lật đật chào tôi:

_Mời Bác Sĩ vào gấp.

_Gì vậy ông già?

_Dạ, đánh nhau tùm lum.

Nhảy Dù từ quan đến lính thích xài hai tiếng tùm lum. Tùm lum có nghĩa là nghiêm trọng, ác liệt, nhưng tùm lum nghe tếu hơn, đỡ mất tinh thần hơn. Tôi thay vội quần áo. Chiếc xe lao đi. Trên đường xe cộ và bộ hành thưa thớt. Tôi ỡm ờ hỏi người tài xế già:

_Đảo chánh hả ông già?

_Đâu có Bác Sĩ, tụi nó…

_Bị thương nhiều không?

_Dạ, nghe nói cũng khá.

_Ai gác đêm qua?

_Bác Sĩ Niệm.

Tôi thấy số Niệm thật vất vả. Nhớ thời hành quân Bồng Sơn Niệm ở tiểu Đoàn 8, tôi ở Tiểu Đoàn 6, hai cánh quân mỗi lần xuất trận Tiểu Đoàn của Niệm chạm địch hoài trong khi Tiểu Đoàn tôi cứ đều đều vô sự. Tôi đến bệnh viện ĐỔ VINH, giữa cảnh người xe tấp nập. Thấy tôi, Niệm lắc đầu:

_Số tôi khốn nạn thật, hành quân thì đụng tơi bời, trực ở bịnh viện thương binh về ào ào.

Tôi định đùa anh một câu nhưng không đủ can đảm khi nhìn dáng mệt mỏi của anh. Suốt đêm qua Niệm không ngủ. Thương binh nằm la liệt dọc hai hành lang bịnh viện. Tôi hỏi Niệm:

_Mình lựa thương hết chưa?

_Rồi, sáu “cas” nặng. Tôi lo thiếu máu quá. Đã cho đi lấy sao mãi không thấy về.

_Mới có Đoàn và Nghị, Bá, Tín đi phép, Hà đau nặng.

Tôi buột miệng kêu lên: “Thế thì bỏ mẹ rồi!” Hà là “cây dao” số một của bịnh viện Đỗ Vinh. Muốn giải phẫu các vết thương ruột phải có anh. Tôi hỏi Niệm:

_Sao không gởi bớt sang Tổng Y Viện Cộng Hòa?

_Đang đánh nhau ở cổng số 4, trực thăng không dám đáp.

Chúng tôi ở vào thế bí: Bệnh viện chỉ có một phòng mổ lớn, một phòng mổ nhỏ mà có đến hai vết thương ngực, hai vết thương bụng và một vết thương huyết mạch đòi hỏi giải phẫu khẩn cấp. Tôi điều khiển công việc hồi sinh các thương binh nặng. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng nhờ Bác Sĩ cố Vấn Smith liên lạc các bịnh viện Mỹ xin nhận bệnh và xin máu. Một giờ sau sáu thương binh nặng được trực thăng Mỹ di tản xuống Long Bình. Chúng tôi chưa kịp thở phào thì có tin một đợt thương binh nữa sắp về. Hành lang bệnh viện không còn một chổ trống. Phòng họp Hạ Sĩ Quan biến thành phòng bệnh với hai hàng cáng sắp dài. Smith xoay được bốn mươi bịt máu mang về. Thêm hai Y Sĩ vào bệnh viện bằng phương tiện riêng. Nhiếp và A. A là “cây đao” có hạng của bệnh viện Nhi Đồng mới về “đầu quân” cho Đỗ Vinh. Chúng tôi yên tâm đợi bệnh. Trọn buổi sáng lựa thương, hồi sinh. Tôi đánh thuốc mê cho A. Nhiếp mổ một vết thương xuyên ngực bụng lúc mười lăm giờ. Mười tám giờ ba mươi vừa ra khỏi phòng mổ thì thêm một đợt thương binh về. Câu lạc bộ Sĩ Quan của Sư Đoàn biến thành phòng bệnh. Bữa cơm tối thật vội vàng, buồn tẻ. Chiến cuộc trong ngày tại đô thành làm chúng tôi thiệt mất ba y tá, hai ở Tổng Tham Mưu và một ở trên đường xuống Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Ánh, Tùng, Nhất, nhắc lại tên chúng nó một lần cuối cùng! Tin tức từ Huế cho biết Việt Cộng tràn ngập Cố Đô. Chiến Đoàn I Dù đụng nặng. Công điện của Tiểu Đoàn 2 báo cáo bác sĩ Cao mất tích cùng hai y tá. Bác Sĩ Bá về ăn Tết với gia đình ở Huế cũng không tin tức.

Tôi gây “tê tủy sống” cho Smith giải phẫu một trường hợp gãy hở xương ống chân ở phòng mổ nhỏ rồi vào phòng mổ lớn đánh thuốc mê cho Đoàn, anh giải phẫu một vết thương bụng. Chúng tôi rời phòng mổ đúng nửa đêm. Ngã lưng xuống giường vùi đầu vào giấc ngủ. Sáng hôm sau giải phẫu hai cánh tay gẫy, một bàn chân gẫy; buổi chiều một ống chân gẫy, một bàn tay dập nát. Một đợt thương binh về trước bữa cơm tối. Có một vết thương bụng. Phải mất sáu tiếng đồng hồ để khâu một lổ ruột già, một lổ bọng đái, cắt nối một khúc ruột non rồi kéo ruột ra ngoài làm một hậu môn nhân tạo. Chúng tôi lết ra khỏi phòng mổ lúc hai giờ sáng. Trọn ngày thứ ba tôi vẫn không rời phòng mổ. Số thương binh cần giải phẫu còn nhiều. Nếu không bị tràn ngập bởi những đợt thương binh mới, chúng tôi có thể “thanh toán” phần còn lại trong vòng hai ngày tới. Tối hôm đó chúng tôi được lệnh nghỉ xả hơi. Nghe lệnh nghỉ tự nhiên cơ thể đâm ra mỏi nhừ tựa như người bị thương mà không biết mình bị thương đến khi có kẻ chỉ cho nhìn thấy vết thương liền ngã ra xỉu. Tôi ngủ vùi một giấc cho đến khi bị lay dậy.

_Có bệnh nặng hả?

Tôi hỏi giọng ngái ngủ.

_Thưa vâng nhưng là…một Việt Cộng. Người y tá trả lời.

Bị dựng đầu dậy giữa ba giờ sáng vì một tên địch ác ôn thì bực mình quá. Nhờ anh tí, phần nào thôi chứ. Tôi định lảm nhảm như vậy: đọc văn phóng sự nhiều nên bị ảnh hưởng. Lên phòng mổ tôi gặp A, phiên trực của anh. A chỉ tên Việt Cộng:

_Đồng nghiệp của mình đấy.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

_Bác Sĩ Việt Cộng à?

_Y Sĩ Tiểu Đoàn thôi. Y Sĩ Tiểu Đoàn của “nẫu” tương đương với Sĩ Quan Trợ Y của mình.

_Bây giờ “nẫu” làm sao?

_Bị đạn xuyên từ mông ra háng. Sếp ra lệnh chỉ cho truyền dextrant và băng ép vết thương chứ không cho máu. Y Tá vừa báo tôi vết thương ra máu nhiều quá, chắc các huyết mạch bị gì rồi. Để thế này thì nó sẽ chết. Mời anh lên xem, có thể được anh cho nó ngủ để tôi mổ.

Mạch không đếm được, áp huyết: 4/2. Không thể đánh thuốc mê trong tình trạng xúc kích như vậy. Phải hồi sinh bằng máu. Nói đến máu tôi nghĩ đến Nhất, người y tá đã bỏ mình trên đường về Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Bây giờ chúng tôi lại định truyền máu để cấp cứu một kẻ đứng trong hàng ngũ đã giết nó. Cảnh chết chóc đổ nát đã làm lòng nhân đạo của giới áo trắng Dù chúng tôi đối với kẻ địch xuống đến mức thấp nhất. Nhưng tôi bỗng nghĩ đến Cao. Ai cũng tin anh đã bị địch bắt. Chúng có giết anh không? Mọi người hy vọng không, không một cách mong manh: tôi nghĩ phải cứu tên Y Sĩ Việt Cộng này rồi nhờ đài phát thanh loan tin đi. Biết đâu địch sẽ nghe được. Biết đâu chúng sẽ cảm động mà không giết Cao và biết đâu chẳng có một cuộc trao đổi tù binh quân y…Hai bịt máu truyền nhanh đưa áp huyết lên 10/6 và mạch 100. Tôi cho y ngũ. Lưỡi dao của A tìm thấy một nhánh tĩnh mạch đùi bị đứt. Tôi ra khỏi phòng mổ khi năm giờ sáng, mệt mỏi nhưng tỉnh ngủ. Buổi sáng chúng tôi trình bày sự việc lên Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng. Ngay tối hôm đó đài phát thanh quân đội loan tin: một Thượng Úy Quân Y Việt Cộng bị quân Nhảy Dù bắn trọng thương, bị bắt sống và đã được các Bác Sĩ Nhảy Dù săn sóc chu đáo. Chúng tôi thầm mong Cao còn sống và địch ở Huế nghe tin này.

Một buổi sáng sau khi thăm bệnh, A cho tôi tôi hay, người thương binh mổ bụng ba hôm trước, bây giờ kêu đau ở bụng và tiểu tiện không được. Chúng tôi trở lại phòng lạnh. Bụng người bệnh cứng và đau khi sờ vào. Tôi hỏi anh ta có lén ăn bậy bạ gì không thì anhj chàng trả lời không. Nhưng người thương binh nằm cùng phòng cho hay, một ngày sau khi mổ vợ anh có lén cho anh uống sữa và nước rau má. A dậm chân kêu trời, anh nghĩ đến các mũi khâu nhiễm trùng có thể bị sút. Mất sáu tiếng đồng hồ để nhận lấy kết quả bết bát như thế này vì sự bất cẩn của kẻ khác thì thật đáng nổi khùng. Tôi buông thỏng một câu:
_Thương chồng kiểu này chỉ chóng giết chồng, bà này chắc chỉ muốn lấy Mẽo sớm.

Tôi khựng lại đó tủi hổ thầm những gì mình vừa nói.

_Chắc phải “khui” lại. Nó có chịu nổi một cú thuốc mê nửa không anh?

Tôi cũng đang tính toán: Mổ lại phải mất ba tiếng đồng hồ. Hai lần mổ chỉ cách nhau ba ngày. Bệnh nhân yếu sẽ chết vì thuốc mê… người bệnh của tôi chưa quá yếu, vả lại chúng tôi không còn sự lựa chọn nào khác là mổ. Tôi duy trì bệnh nhân ngủ thật nhẹ với khí N2O cùng Anectine, một chất giãn cơ truyền bằng tĩnh mạch. Phải bóp đều đều trái bong bong để thở cho bệnh nhân. Một đoạn ruột nom tím sẫm chìm trong chất nước xanh nhờn nhờn. Một mũi khâu bị sút. Tôi đọc nét lo âu nơi đôi mắt A. Cắt bỏ cả đoạn ruột kia thì cả một vấn đề tiêu hóa khó khăn cho bệnh nhân trong tương lai. A ngâm đoạn ruột trong nước ấm có pha Novocaine. Một phút rồi hai phút chờ đợi nặng nề. Sắc hồng hiện dần dần trở về trên khúc ruột. Chúng tôi thở phào trút một gánh nặng. Khâu chổ bị sút, rửa ruột và đóng bụng. Mấy đầu ngón tay tôi sưng lên vì phải bóp trái bóng liền trong bốn tiếng đồng hồ. Hai ngày sau khi mổ vào lúc trưa thật tình cờ tôi ghé vào phòng lạnh. Và tôi thấy gì? Con bệnh của tôi tỉnh táo nằm hút thuốc lá. Phải khiển cổ la mắng. Thương binh ông nào cũng như ông thần này thì chắc chúng tôi không thọ nổi. Nhưng tôi vẫn phải ngạc nhiên trước sự lại sức mau chóng của anh ta. Tôi đâm tin số mạng. Số chưa chết thì thập tử nhất sinh, ẩu tả mấy như tay này vẫn sống nhăn.

Không khí phòng mổ không phải lúc nào cũng căng thẳng. Nếu có lúc mồ hôi vã như tắm, chạy đua với đồng hồ giành giựt với tử thần sự sống cho những đồng đội thì cũng có lúc chúng tôi làm việc thoải mái vừa mổ vừa vui đùa với bệnh nhân. Người thương binh chúng tôi đang sửa soạn mổ là một chú lính mười bảy tuổi. Mặt hắn ngây thơ một cách lạ kỳ. Chú bị gãy hở xương ống chân trái. Niệm tính làm sạch vết thương sắp lại các mãnh xương vỡ và bó bột. Tôi “gây tê tủy sống”: Chích vào tủy sống lưng một lượng nhỏ Pontocane hòa với hai phân khối Dextrose mười phần trăm có tác dụng làm chỉ thống phần dưới thân thể suốt ba tiếng đồng hồ trong khi bệnh nhân vẫn tỉnh. Lối gây tê này đòi hỏi ở bệnh nhân một chút can đảm. Con bệnh của tôi mới vào phòng mổ lần đầu nên có vẽ lo sợ.

_Bác Sĩ cho em mê đi, đừng cho em biết gì hết.

Tôi giải thích:

_Mổ cái này không cần mê mổ xong là ăn uống được ngay, chụp thuốc mê tỉnh dậy mệt lắm..

_Em sợ đau..

Tôi hơi gắt:

_Tôi bảo đảm không đau, Nhảy Dù gì mà nhát vậy?

Hai tiếng Nhảy Dù là một lợi khí của chúng tôi để kích thích tự ái các thương binh. Con bệnh nằm im, bàn tay hắn lạnh và run. Áp huyết tốt nhưng mạch nhanh. Sự sợ hãi quá độ đôi khi dễ làm xúc kích. Tôi gnhi4 phải làm thế nào để bệnh nhân quên mình sắp bị mổ, đừng để hắn bị ám ảnh bởi ý nghĩ mình sắp phải chịu đựng một cơn đau đớn. Niệm để con dao ngang trên vùng mổ đưa mắt nhìn tôi. Tôi khẽ gật đầu rồi cúi xuống hỏi người bệnh:

_Nè, Nhảy Dù răng “chim” xí xí rứa? Chơi bời chưa?

Chú lính lắc đầu. Phòng mổ bật tiếng cười. Tôi tiếp tục:

_Tại răng không chơi bời? Nhảy Dù mà không chơi bời là yếu.

_Má em dặn không được bậy bạ mang bệnh vào người…

Niệm đang mổ tố them:

_Ăn thua gì, hôm nào lành chân cậu phải đi kiếm “chị em ta” mà “khai quân” đi nghe chưa? Có gì về đây tôi chữa cho.

Người bệnh nằm yên có vẽ không đồng ý lời khuyên của chúng tôi. Tôi tìm cách duy trì câu chuyện:

_Cậu có bồ chưa?

_Dạ bồ thì có.

_Ở mô, đẹp không?

_Ở Huế, đẹp ác lắm!

_Thế đã làm ăn gì chưa?

_Không có mô, tình yêu cao thượng mà Bác Sĩ.

_Xì, cậu điệu hoài, Nhảy Dù là phải đánh mau, đánh mạnh.

_Làm chuyện xác thịt trước hôn phối là có tội.

_Ai bảo cậu vậy?

_Em Công Giáo.

Tôi thắng ngay câu định hỏi tiếp. Ở xứ Việt Nam này không nên đụng vào vấn đề tôn giáo; nó phức tạp lắm, nguy hiểm lắm. Phải “kính nhi viễn chi” như Khổng Tử đã dạy. Người bệnh chợt hỏi:

_Mổ chưa Bác Sĩ?

Tôi nói dối:

_ Mổ nảy giờ cả tiếng đồng hồ. Cậu thấy không, đâu có đau đớn gì.

Anh chàng hơi yên tâm. Khi ấy Niệm gắp ra một mảnh đạn lớn bằng ngón tay út. Tôi bảo người y tá gói mảnh đạn đặt vào lòng bàn tay người lính trẻ. Hắn ta ngắm mảnh đạn còn dính máu của mình, miệng lẩm bẩm chửi thề. Anh chàng bỗng trở nên bạo dạn:

_Bác Sĩ cho em nhìn chổ mổ một chút.

_Không được, nhìn xong cậu xỉu luôn thì mệt tôi.

Người thương binh của tôi vửa trở nên can đảm trên bàn mổ. Tôi nghĩ chiều nay hắn có quyền khoe với bạn bè rằng hắn chịu chơi đòi xem chổ mổ vết thương của hắn mà bác sĩ không cho. Tôi cũng mong hắn sẽ không thực hành những điều chúng tôi khuyên hắn về đàn bà. Những gì chúng tôi đã nói với nó tất cả “chỉ là cái cớ”. (Vũ Khắc Khoan_Thành Cát Tư Hãn)

Một buổi tối chúng tôi nhận một Việt Cộng bị trúng độc vì lựu đạn khói. Tên này núp dưới hầm với hai đồng bọn. Quân Nhảy Dù bao vây kêu gọi đầu hàng. Hai tên kia nghe lời vừa ra khỏi hầm bị tên này bắn chết. Một quả lựu đạn khói được tung xuống hầm. Khi binh sĩ Dù xuống lục soát hầm, thấy tên này nằm ngắc ngoải. Phòng Hai muốn khai thác nên đưa chúng tôi cứu tỉnh nó. Tên địch chừng ba mươi tuổi, cao cỡ một thước bảy, vóc người vạm vỡ, mặt vuông chiếc cằm bạnh ra, nhất là đôi chân mày xếch trên chiếc trán hói tạo cho hắn một vẽ đanh ác nhìn phát sợ. Hai ngón tay tôi khẽ bật mí mắt của hắn: con ngươi đã nở lớn, khí độc ngấm quá nhiều vào máu. Sếp và chúng tôi bàn thiệt hơn. Một tên đã có gan bắn ngã hai đồng bọn, có gan chịu chết ngạt chứ không chịu ra đầu hàng có cứu sống nó cũng không khai đâu. Thế nhưng không ai quyết định để nó chết. Tôi cho ngữi dưỡng khí, truyền nước có pha Bicarbonate. Mười một giờ đêm tình trạng vẫn không khả quan. Sếp quyết định cho ngữi thêm nửa giờ dưỡng khí rời gửi trả phòng Hai. Tôi bình thản nhìn tên địch thoi thóp. Huế, quê hương tôi đang đổ nát, hai người chú bị thảm sát tôi nghĩ tôi có quyền nhìn một tên địch chết mà lòng dững dưng. Chúng tôi đã làm tất cả những gì phải làm cho một trường hợp cấp cứu. Nếu phải cứu chữa một binh sĩ của chúng tôi trong một trường hợp tương tự chúng tôi cũng chỉ làm có thế. Khác chăng là trong bình dưỡng khí, trong chai nước có tình thương, có hy vọng, có thất vọng của chúng tôi.

Bệnh viện Đỗ Vinh bắt đầu bận rộn đón tiếp phái đoàn ủy lạo. Công việc phòng mổ không cho tôi có dịp ở trong thành phần tiếp đón. Hình ảnh đẹp tôi bất chợt bắt gặp là hình ảnh một giai nhân bật lửa đốt thuốc cho một thương binh. Từ đó tôi thèm được bị thương. Nhưng rồi tôi thất vọng khi biết nếu bị thương sẽ không có người bật lửa đốt thuốc cho tôi vì lẽ rất dễ hiểu là tôi không biết hút thuốc! Tôi còn nhớ gì nửa? Nước mắt của một cô ca sĩ. Cô khóc vì quá xúc động trước những thương tích của “các anh chiến sĩ mũ đỏ”. Có người nói nhỏ với tôi:

_Nước mắt cũng nằm trong chương trình quảng cáo của các em.

Tôi không muốn tin như vậy, tôi không muốn tin có kẻ đủ can đảm đóng kịch trước những con người hy sinh đến tàn phế.

 Trong một buổi cơm trưa chúng tôi bàn về bịnh tình của Hà. Anh đã nằm hôn mê ba ngày liền trong Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ. Hồi trước tết anh có săn sóc một quân nhân bị bệnh chó dại. Người bệnh chết và Hà phải chủng ngừa. Thuốc chủng đã gây cho anh chứng viêm não tủy hậu chủng (encéphalomyélite postvaccinale) một biến chứng rất hiếm nhưng cũng rất nguy hiểm. Hà thoát chết với những dư chứng trầm trọng: các cơ hạ chi bị tiêu mòn, đường tiểu tiện bị yếu liệt, các giác cảm suy nhược. Hà trở về Đỗ vinh sau khi chập chững đi được. Hàng ngày anh “anh dũng” chịu đựng cảnh “thông nòng” mỗi khi tiểu tiện, khắc phục sự mệt mỏi và chầm chậm thâu hồi các giác cảm. Tưởng tượng hai ba mươi năm sau, kể lại biến cố Xuân Mậu Thân cho con cháu mình nghe chắc Hà sẽ bắt đầu như vầy:

_Tết năm ấy, toàn dân nói chung và tao nói riêng đã vô cùng khổ sở…

Tình hình Huế vẫn nghêm trọng. Trong báo cáo tổn thất hai y tá tử trận, một y sĩ và ba y tá bị thương. Thương binh chắc đã tràn ngập Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Vẫn không tin tức gì về Bá và Cao. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng quyết định gửi một toán giải phẫu cấp cứu ra Huế. Bác Sĩ Nhiếp và Dược Sĩ Chất tình nguyện đi. Nhiệm vụ của hai người là di tản tất cả thương binh ở Nguyễn Tri Phương về Tổng Y Viện Duy Tân ở Đà Nẳng hay về thẳng bệnh viện Đỗ Vinh. Đồng thời tìm cách bắt liên lạc với Bá và Cao. Chúng tôi ở Đỗ Vinh sửa soạn chổ cho thương binh. Buổi tối Nhiếp gọi phone về báo cáo toán giải phẫu còn kẹt ở Đà Nẳng vì trực thăng đến Phú Bài nhưng không đáp được. Hai ngày sau chúng tôi nhận tin toán giải phẫu đã đáp xuống được Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I. Nhiếp nhận lệnh thay Cao ở Tiểu Đoàn 2. Ở Đỗ Vinh chúng tôi nhận gần hai trăm thương binh trong ba đợt. Ngày hai mươi lăm tháng Hai có tin Chiến Đoàn I Dù rút về Sài Gòn. Ngày mười sáu Dược Sĩ Chất gọi phone về báo đã bắt liên lạc được với Bác Sĩ Bá đang ở trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Ngày mười tám Bá vào Sài Gòn. Hai mươi tháng Hai nhận được tin Cao đang chiến đấu trong một đồn Công Binh ở Nam Giao. Ngày hai mươi lăm tháng hai Cao vào Sài Gòn. Thế là hai người mất tích đã trở về. câu chuyện của Bá và Cao về những ngày hai anh đã sống ở Huế đã làm say mê chúng tôi:

Tối mùng một rạng mùng hai Tết, Bá ở nhà một người bạn cạnh Ty Thông Tin Huế.

Khi nghe súng nổ và tiếng gọi nhau giọng Đồng Hới dưới đường Trần Hưng Đạo Bá biết ngay là quân Bắc Việt. Anh dấu vội bộ đồ Dù và cây súng lục, khoát bộ đồ ngủ dặn người nhà bảo mình là thợ hớt tóc vì Bá biết lầu dưới là phòng hớt tóc. Địch đã xông vào khách sạn bên cạnh hạ sát một số Sĩ Quan. Bá bảo anh không bao giờ quên những tiếng thét rùng rợn đó. Suốt ngày mùng hai Bá vẫn bị kẹt trên lầu, địch dưới đường. Khoảng bốn giờ chiều anh bổng nghe tiếng Mỹ dưới đường. Anh hé cửa nhìn: một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vừa vượt cần Tràng Tiền đang tiến lên phía cửa Thượng Tứ. Bá quyết định trình diện đơn vị bạn. Anh xuống lầu dưới đứng trong nhà hét to bằng tiếng Mỹ:

_Tôi là một quân y sĩ Nhảy Dù Việt Nam, tôi muốn đi theo các anh, xin đừng bắn.

Sau khi bị khám xét, Bá xin gặp vị chỉ huy, một ông Trung Tá. Anh được yêu cầu ngược trở lại đi theo đơn vị để săn sóc di tản thương binh. Bá trở vào nhà mặc bộ đồ dù và anh nghiễm nhiên trở thành người y sĩ Việt Nam đầu tiên của một đơn vị Hoa Kỳ. Hỏa lực mạnh mẽ của địch ở cửa Thượng Tứ không cho quân Mỹ tiến vào nội thành. Bá đã chứng tỏ mình là một y sĩ tiền tuyến đầy kinh nghiệm trước một số thương binh của đơn vị bạn. Cuộc tiến quân thám sát của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã giúp Bá thoát nạn. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ trong năm ngày đầu chiến cuộc, một mình Bá săn sóc, giải phẫu cho hơn bốn trăm người bị thương gồm binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam. Anh đã dùng Morphoine và thuốc tê để thực hiện mười lăm cuộc giải phẫu thiết khai khí quản, mười cuộc giải phẫu cưa chân tay. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ không có y sĩ giải phẫu. Qua ngày thứ Sáu mới có hai y sĩ giải phẫu Mỹ ở Phú Bài lên tăng cường. Bá tiếp tục làm việc ở đó cho đến khi được phone gọi về Đỗ Vinh. Tôi hỏi Bá về thái độ của người Mỹ đối với việc làm của anh. Bá đưa tôi xem bản sao đề nghị ân thưởng huy chương Ngôi Sao Bạc cho Bá của Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Một đoạn viết:

“Dưới hỏa lực đủ loại của địch, Y Sĩ Trung Úy Đoàn Văn Bá đã chứng tỏ mình là một sĩ quan can đảm. Ông đã cứu sống nhiều sinh mạng binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam trong những ngày địch tấn công thành phố Huế; lòng tận tụy của ông đã làm mọi người Mỹ có mặt phải kính phục..”

Điều chúng tôi hãnh diện về Bá không phải vì anh cứu sống nhiều sinh mạng hay vì anh đã tỏ ra can đảm ngoài chiến trường. Người y sĩ Dù nào cũng phải vậy. Chúng tôi hãnh diện cử chỉ của Bá khi anh từ chối một sự đền bù bằng hiện kim của người Mỹ. Đồng tiền Mỹ đã và đang đốt cháy nhân phẩm, thanh danh bao nhiêu tầng lớp người Việt Nam. Người ta có thể thương hoặc ghét chúng tôi, không một ai khinh được chúng tôi.

Nếu Bá có dịp thi thố tài năng chuyên môn làm binh chủng bạn phải nể phục thì trái lại Cao phải bó tay nhìn các thương binh của Tiểu Đoàn Công Binh chết dần trong đau đớn. Cái chết ám ảnh anh nhất là cái chết của một binh sĩ bị thương ở ngực. Sau hai ngày chờ trực thăng di tản không có, anh này đã tự sát bằng một phát súng vào đầu! Điều làm anh khổ sở nhất là có bác sĩ, có thương binh nhưng không có phương tiện, thuốc men để chữa trị, Cao nói:

_Nếu có đủ thuốc men và một túi dụng cụ giải phẫu nhiều thương binh đã không chết một cách oan uổng.

Suốt thời gian bị kẹt nếu Bá sống an toàn trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ thì Cao phải trãi những ngày đêm tinh thần căng thẳng, mất ngủ vì đói lạnh. Tình hình tưởng đã có lúc tuyệt vọng. Địch đã ba lần tấn công đồn pháo kích liên miên, đêm bắt loa kêu gọi đầu hàng. Giải pháp bỏ đồn mở đường máu rút về An Cựu đã được bàn cãi, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là cố thủ. Ngày mười tám tháng hai một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đến giải vây đồn.

Tôi muốn mượn Bá và Cao để viết thật nhiều về Huế, viết thật cảm động, thật đau lòng cho những tang thương, đổ nát. Nhưng tôi biết muốn viết về chiến tranh không thể nghe kể lại, không thể tưởng tượng mà phải sống. Qua những ngày Đỗ Vinh tôi không sống cuộc chiến đang xảy ra, tôi sống với hậu quả của nó: những thương tích đang xảy ra trên bao nhiêu thân xác bạn lẫn thù. Lịch sử sẽ ghi một biến cố Xuân Mậu Thân, nhưng trong lòng mỗi người dân Việt Nam năm đó đã có hàng chục triệu biến cố Xuân Mậu Thân khác nhau. 


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply