
Trang Châu
vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 25 July 2023

Chiếc Jeep băng qua cầu Bình Lợi, rẽ trái hướng Lái Thiêu. Tôi nhìn đồng hồ: gần mười hai giờ trưa. Trời nắng lớn nhưng gió mát vì xe chạy nhanh. Đầu óc tôi rỗng không mãi tới khi nhìn thấy tấm bảng ghi: “RANH GIỚI TỈNH BÌNH DƯƠNG” bị cháy thủng một góc tôi mới biết mình lại sắp lao vào vùng lửa đạn. Tôi nhận lệnh tạm thay bác sĩ Tường ở Tiểu Đoàn 3 nghĩ phép vợ sanh. Vợ sanh thường được bốn ngày phép đặc biệt, nhưng tôi không tin Tường sẽ nghỉ bốn ngày. Tôi đoán thế nào anh cũng móc nối thêm mười ngày phép thường niên. Tờ sự vụ lệnh nằm trong túi áo trên của tôi cũng không ghi rõ ngày về và tôi đã nói chừng với gia đình tôi đi hành quân mười lăm ngày. Sự kiện tôi đi thay một ông bác sĩ ở Tiểu Đoàn gây thắc mắc. Tôi rời Tiểu Đoàn đã hơn hai năm. Tôi đang giữ chức Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Yểm Trợ của Tiểu Đoàn Quân Y kiêm Y Sĩ Tê Mê bệnh viện Đỗ Vinh. Trên nguyên tắc, với chức vụ, vì nhu cầu tôi không phải không thể đi hành quân cấp Tiểu Đoàn nửa. Nhưng tôi đã tuân lệnh ra đi với nụ cười. Tôi yêu kỷ luật. Mẫu người tôi không ưa bàn cãi, mẫu người chỉ muốn ra lệnh, hoặc tuân lệnh. Đặt tôi vào chức vụ chỉ biết thừa hành là đặt không đúng chổ.
Ở Sài Gòn đọc báo tin địch pháo kích, hăm đánh Bình Dương, tôi tưởng chừng thành phố này đang bị vây hãm và dân chúng ngày đêm sống thấp thỏm. Nhưng khi xe qua khỏi Lái Thiêu, qua khỏi Búng, tôi thấy sự hồi hộp ban đầu của mình thật đáng cười. Con đường tráng nhựa đông đảo xe cộ chạy phăng phăng. Dọc hai bên đường những vườn măng cụt mọc um tùm lá xanh. Những kinh lạch chia ô, kẻ đường các mãnh vườn, thửa ruộng. Tôi nhìn thấy trong lớp bùn xám non loáng ánh mặt trời tất cả sự trù phú cởi mỡ của miền Nam. Biết đâu nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh này chẳng là sự mầu mỡ kia?
Khi xe vọt lên một đoạn đường dốc, tôi nghe tiếng còi tin tin của chiếc G.M.C. hậu cứ Tiểu Đoàn 3 chạy đằng sau báo hiệu sắp đến nơi đóng quân. Đằng trước phía tay mặt một chiếc Jeep có huy hiệu Dù đậu sát một quán nước. Hai binh sĩ Dù đứng gác cạnh đó. Tôi nhảy xuống xe tiến về phía họ. Họ chào tôi.
_Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng ở đâu cậu?
_Thưa Đại Úy tận trong làng.
_Đưa tôi vào Bộ Chỉ Huy.
Tôi theo chân người binh sĩ leo lên một mô đất cao có đường xe lửa chạy dọc theo đổ xuống con đường đất loanh quanh vào làng.
_Thưa Đại Úy đổi về Tiểu Đoàn 3?
Tôi nghe có chút gì dè dặt trong câu hỏi của người binh sĩ. Bộ đồ tôi đang mặc thuộc loại “để hành quân” rách vá nhiều nơi và thiếu sót huy hiệu Quân Y. Có lẽ vì vậy người binh sĩ tưởng tôi sắp về nắm một Đại Đội nào đó nên dò hỏi. Tôi đoán ý nghĩ ấy và mỉm cười trả lời:
_ Tôi tạm thay bác sĩ Tường.
_Dạ vâng bác sĩ..
Tôi hỏi lại người binh sĩ:
_Cậu ở Tiểu Đoàn 3 bao lâu rồi?
_Thưa được gần một năm
_Bị thương mấy lần?
_Dạ mới một
_Ở đâu?
_Dạ, Dakto
Tôi biết cách hỏi làm người lính Dù hãnh diện nhất, không phải hỏi tuổi lính, cấp bậc hay huy chương, mà hỏi họ bị thương mấy lần và ở trận nào. Trên mỗi người lính Dù có một nửa bản đồ Việt Nam và ít nhiều kỷ niệm với quân thù.
Tôi rời Tiểu Đoàn 3 đã mười bảy tháng, một thời gian không dài nhưng với một đơn vị tác chiến lưu động như Tiểu Đoàn Dù tất lắm đổi thay: ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng nay đã lên trung Tá, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II. Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó trở thành Ủy Viên Điện Ảnh hội Văn Nghệ Sỹ Quân Đội. Ông Đại Úy Sỹ Quan Ban 3 nhà văn Thế Hoài tục gọi Châu “nháy” nay đã mang mai bạc và đang hành nghề Trinh Sát. Châu “nháy” và tôi có khá nhiều kỷ niệm văn nghệ thời đóng đồn ở chợ Đệm. Đồn nằm côi cút giữa một cánh đồng nước cạn, chung quanh có hồ bao bọc. Châu “nháy” cho dựng một cái chòi lợp bằng poncho và lá dừa. Anh đặt cho nó một cái tên rất kiếm hiệp: Nghênh Phong Quán. Ở đó chiều chiều chúng tôi ngồi nhậu “la de” với tiết canh vịt, thở gió đồng nội và nhìn cá lia thia móng dưới ao. Tối đến dưới ánh sáng yếu ớt ngọn đèn pin hai đứa chúng tôi ngồi viết văn làm thơ, công việc mà ông Tiểu Đoàn Trưởng trang trọng gọi là “góp phần xây dựng đơn vị”. Ông Thiếu Úy Hồng Vân phụ tá Sĩ Quan Ban Ba dạo nọ nay đã lên Đại Úy và trở thành Sĩ Quan Ban Ba thực thụ. Ông nhỏ người và có giọng nói sang sảng. Theo thầy số đó là dị tướng. Trong võ nghiệp những người dị tướng rất có tương lai lên làm tướng. Trong năm ông Đại Đội Trưởng, hai hiện là Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 và 8, một ông về ban hai Chiến Đoàn, một ông về ban Tâm Lý Chiến Sư Đoàn. Ông thứ năm tử trận: Đại Úy Nguyễn Đức Cần. Một ánh sao băng, vụt sáng rồi vụt tắt. Từ Thiếu Úy lên Đại Úy chỉ hơn một năm, hai lần bị thương Gio Linh và Dakto. Tôi còn nhớ sau khi xuất viện lần thứ hai, anh có ghé lại bệnh viện viện thăm tôi và nói sắp được đi Mỹ học khóa Tham Mưu. Mấy tuần sau nghe tin anh bị thương nặng ở Khe Sanh và chết trên đường di tản. bác Sĩ Nghêm Sỹ Tuấn người thế tôi ở Tiểu Đoàn 6 Dù, cũng hai lần bị thương, cũng sắp được thay thế, cũng tử trận ở Khe Sanh, một ngày trước Đại Úy Cần. cả hai người bạn tôi sao họ lại chết khi sắp tròn một chu kỳ bổn phận? Sao họ không chết khi trước mặt chưa có một dự tính gì? Có những thứ định mệnh thật khắt khe, oan ức.
Ba ngày sống ở đơn vị cũ tôi có nhận xét Tiểu Đoàn ba Dù vẫn tiềm tàng cái dáng mạnh nhưng thâm trầm. Binh sĩ vẫn tác phong gương mẫu. Nếu cần một chút so sánh tôi thấy tác phong giữa các sĩ quan bây giờ thân mật cởi mỡ đến độ bình đẳng khác với vẽ trang trọng gần như giữ kẻ của ngày nào. Ông Tiểu Đoàn Trưởng bây giờ già dặn nhưng hiền; ông Tiểu Đoàn Phó trẻ tuổi mà sâu sắc. Nhìn qua trạm Cứu Thương quân số Y Tá đông hơn trước. Vẫn người Y Tá Trưởng trẻ, tự tin với bộ mặt lúc nào cũng như sắp phản đối ai hoặc một điều gì. Tôi nghe khá nhiều giai đoạn về Bác Sĩ Tường: Anh giỏi xử dụng bản đồ, địa bàn, máy truyền tin, vũ khí ngang với tài khám bịnh, chích thuốc. Thời sinh viên anh có biệt danh Tường “vợ” vì anh lập gia đình rất sớm, cuối năm thứ nhất Y Khoa. Ra trường anh có năm con và bây giờ anh về nhận mặt đứa con thứ sáu. Cái hăng say hành quân quá mức của một Y Sĩ một vợ sáu con làm lắm kẻ khó hiểu. Đã là lính Nhảy Dù, chúng tôi ít nhiều, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, là những kẻ không bình thường. Hành động một buổi sáng mang dù lên máy bay, lao ra khoảng không chấp nhận những hậu quả không định trước, không thể là một hành động không bình thường của một kẻ bình thường, hoặc là một hành động bình thường của một kẻ không bình thường.
Tiểu Đoàn ba Dù tăng phái Sư Đoàn 5 Bộ Binh được một tuần khi tôi đáo nhậm hành quân. Tiểu Đoàn đang ở Phú Văn đặt dưới quyền điều động của Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Tiểu Đoàn vừa thực hiên hai cuộc hành quân ngắn vào mật khu An Sơn và Bình Nhâm, bắn hạ ba du kích, tịch thu hai AK một B40 mà không bị một thiệt hại nào. Ở Phú Văn Tiểu Đoàn ban ngày đóng rải rác trong làng, đến chiều di chuyển lên ngọn đồi đất cách làng chừng năm trăm thước. Trên đó chúng tôi nhìn bao quát vùng Phú Lợi, Hòa Lợi nơi tình báo cho biết Trung Đoàn Đồng Nai của địch gồm các Tiểu Đoàn K1, K2, K3, đang tìm cách phân tán mỏng xâm nhập thủ đô. Chính các Trung Đoàn này đã tham dự các trận đánh cầu Bình Lợi, ngã tư Bình Hòa trong đợt tổng công kích lần thứ hai. Đây là lần thứ nhất tôi đi hành quân ở vùng III chiến thuật. Một lần đi thay bác sĩ Tuấn bị thương ở Cao Lãnh thuộc vùng IV. Hành quân vùng III vùng IV theo nhận xét của tôi có ba sướng một khổ. Ba sướng là phương tiện vận chuyển, yểm trợ dồi dào, thời gian “lội” tương đối ngắn, được đóng quân gần tỉnh sau mỗi lần hành quân, một khổ là mìn muổi hơi nhiều, nhất là vùng Bến cát, Cai Lậy.
Pháo kích thì đã thành cái khổ chung, vùng Chiến Thuật nào cũng có, quen như cơm bữa rồi. Đêm thứ hai ở Phú Văn vào khoảng chín giờ tối, tôi ngồi ngoài hiên chùa bỏ trống, nghe địch pháo cối 82 ly vào căn cứ Thiết Giáp nằm đối diện với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Hỏa châu chiếu sáng cả một vùng. Địch nả chừng ba mươi quả. Cuộc pháo kích chỉ gây cho đơn vị bạn một chết hai bị thương, nhưng những trái sáng rơi đã thiêu rụi mấy căn nhà.
Buổi sáng Tiểu Đoàn lại lục tục kéo xuống làng. Tôi sống cảnh sáng kéo quân xuống tối kéo quân lên được bốn hôm thì cuộc hành quân Toàn Thắng 226 khai diễn. Mục tiêu: Một vùng rừng lá phía tây Hòa Lợi. Thời gian: hai ngày. Lực lượng chia làm hai cánh: Cánh A gồm Chi Đoàn Chiến Xa và Đại Đội 33 tăng phái từ mũi Bắc tiến lên; cánh B gồm Chi Đoàn Thiết Quân Vận và Tiểu Đoàn 3 Dù trừ ở mặt Nam đánh xuống. Đoàn công voa chuyển bánh lúc năm giờ sáng. Chúng tôi băng qua một khu phố còn im lìm trong sương. Ánh đèn xe hắt vào một dãy nhà lợp tôn mang toàn bảng hiệu Snack Bar. Không hiểu sao tôi có ác cảm với loại quán này. Có lẽ tại nó biến phố thị miền Nam thành cái nào cũng giống cái nào. Như một dị ảnh gây biến ứng tâm hồn, một thứ gà đông lạnh ăn vào làm phong ngứa da thịt quê hương…
Ra khỏi Bình Dương đoàn xe lọt vào một khoảng trống, cây cỏ càng xa đường càng rậm. Trời đã sáng hẳn, quốc lộ 13 đằm nhưng bụi. Chạy thêm chừng ba cây số đường thì đổ quân. Băng qua đồng ruộng, leo lên bờ đất cao, hiện ra vùng mục tiêu: một khu rừng lá thưa. Địa thế rất bằng phẳng. Tôi nghĩ đụng trận ở đây chỉ có cách duy nhất để thanh toán chiến trường là xung phong ào ạt vào mục tiêu. Lối đánh này thích hợp với Nhảy Dù. Chúng tôi có Thiết Kỵ, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Tôi tin tưởng vào ưu thế của lực lượng mình và lòng đầy phấn khởi.
Chín giờ lệnh xuất phát. Đàn “cua” tiến theo đội hình hàng ngang trông thật hùng dũng y hệt cảnh chiến xa Đức rầm rộ băng qua một cánh đồng cỏ trong phim “La bataille des Ardennes”. Trong một thoáng tôi có ao ước lát nửa sẽ gặp một đoàn xe bọc sắt của địch để tôi được vinh dự tham gia trận đánh cơ giới đầu tiên trên chiến trường miền Nam. Chiến tranh tàn phá, chết chóc thật nhưng ở một góc cạnh nào đó cu4ngh có điều làm say mê, vì nếu không một số người sao chiến tranh có thể kéo dài hai mươi năm mà chưa dứt?
Đoàn “cua” vượt từng chặng đường, thay đổi đội hình theo địa thế. Tiểu Đoàn 3 Dù trừ chia ra làm hai cánh: Cánh B1gồm Đại Đội 34 và Đại Đội Chỉ Huy do ông Tiểu Đoàn Trưởng cầm ngồi cả trên Thiết Vận Xa; Cánh B2 gồm hai Đại Đội 31 và 33 do ộng Tiểu Đoàn Phó chỉ huy di chuyển bộ có bốn Thiết Vận Xa yểm trợ. Tôi cũng phải chia Trạm Cứu Thương ra làm hai: Y Tá Trưởng cùng bốn Y Tá đi bên cạnh ông Phó, phần còn lại ở với tôi. Ngồi trên Thiết Vận xa tỳ tay vào khẩu đại liên đã lắp đạn, tôi quan sát vùng mục tiêu. Mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu chói sau gáy. Cánh B2 lục soát mục tiêu I không thấy gì. Càng vào sâu vùng hành quân tôi càng ngạc nhiên vì vùng đất đã bị càn quét nhiều lần: cây cối cháy đổ, hố bom, lon đồ hộp. Tôi hỏi ông Thiếu Úy Thiết Giáp chỉ huy con “cua” tôi đang ngồi về tình hình địch ở đây. Ông đáp:
_Tôi hành quân vùng này lần thứ tư. Ba lần trước đi với Bộ Binh, Thám Báo, đổ quân tiến chừng năm thước là có địch. Sao hôm nay vào sâu cỡ này vẫn chưa thấy gì?
Tôi không khinh địch để cho rằng họ sợ Nhảy Dù nên né tránh. Tôi nghĩ địch không muốn chọn nơi đây làm chiến trường. Chiến trường của họ bây giờ phải là nơi dù thua dù thắng cũng tạo giúp họ một lợi thế chính trị ở bàn hội nghị. Tôi suy luận: Phương cách hữu hiệu nhất để chận đứng mưu toan nguy hiểm ấy là tạo nên thật nhiều tao ngộ chiến để kết quả dù thua dù thắng được thuần túy quân sự.
Mặt trời làm rát bỏng hai cánh tay trần, bụi đỏ bám đầy quần áo, bàn tọa và lưng bắt đầu ê cứng vì thế ngồi. Vòng lên mục tiêu 2, một ngôi làng nhỏ lơ thơ vài mái tranh. Vẫn lục soát không có gì. Dừng quân ăn cơm trưa. Tôi có dịp thưởng thức lại món cơm sấy cá hộp. Ngụm nước trà nguội và một giấc ngủ lơ mơ ngắn. Hai giờ chiều di chuyển. Thiết Vận Xa tiến hàng dọc men theo con đường đất. Cánh quân B2 lục soát mấy nhóm làng nằm lẻ loi giữa những thửa ruộng khô. Địa thế làm tôi nhớ những làng mạc ở vùng I: Phú Thứ, Phong Điền, Hải Lăng, Gio Linh… Ở vùng I Tiểu Đoàn 3 đã ghi hai chiến thắng lớn với lối đánh dàn hàng ngang băng đồng xông thẳng vào phòng tuyến địch. Tôi rời Tiểu Đoàn mưới ngày trước đó nên không dự phần nào chiến thắng. Mục tiêu 3 là điểm hẹn với cánh quân A. Họ đến trước chúng tôi không lâu. Những khối sắt cố dấu mình sau những lùm cây, thò những nòng súng dài đen ngòm hướng về bờ làng có những đọt dừa cao vươn lên. Cánh A và cánh B2 vượt đồng trống tiền vào hai mé làng, cánh B1 trừ bị. Nếu mục tiêu này không gặp địch, phần còn lại tôi chắc chắn không còn gì gây cấn. Ba giờ chiều, chiếc thiết vận xa tôi ngồi tấp cạnh một ngôi nhà tranh nằm sát đường. Trong nhà toàn đàn bà. Vào vùng chịu ảnh hưởng địch, nhìn nhà nào cũng thấy toàn đàn bà, trong lòng tự nhiên sinh ra mối nghi ngờ đầy ác cảm. Nhà nào cũng đào hầm hình chữ U trệt đáy ăn thông từ chính giữa nhà ra ngoài sân. Dân chúng có lý khi họ giải thích loại hầm đó giúp người trong nhà có thể thoát ra ngoài khi nhà bị sụp cháy. Những đàn gà đi lang thang trêu tức các bao tử ngấy đồ hộp. Thế nhưng hỏi mua, dân làng tìm cớ thoái thác không chịu bán, người này bảo gà của người khác. Họ từ chối vì ghét chúng tôi hay sợ kẻ địch? Tôi nghiêng về lý do sau: Thương người tốt xa không bằng sợ kẻ thù gần. Từ chối Quốc Gia ít nguy hiểm hơn từ chối Cộng Sản. Tôi nhìn đàn gà lúc cúc kiếm ăn, mơ một ngày về quê hỏi mua gà bị từ chối, không phải vì ghét cũng không phải vì sợ, mà vì hờn mát sao chổ tình quân dân còn nói chuyện bán mua..
Mấy loạt M.16 ròn rã tiếp theo hai tiếng nổ lớn như tiếng lựu đạn. Không nghe súng địch bắn trả. Tiếng báo cáo vang trong máy: bắt sống hai du kích, một nữ cán bộ, tịch thu hai AK, một K54, giữ mười lăm tình nghi. Con mồi quá gầy so với cuộc săn! Chúng tôi đóng đêm trong một vườn cao su. Không một tiếng súng. Sáng hôm sau di chuyển vòng trở ra. Hai giờ chiều mới nhìn thấy quốc lộ 13. Tôi nhảy xuống đất, vặn mình nghe các khớp xương kêu răn rắc. Gặp ông Tiểu Đoàn Phó tôi than:
_Sợ ngồi tàu bò quá rồi; chỉ muốn nhảy xuống đất đi bộ.
Ông Phó mồ hôi nhễ nhại cười đáp:
_Tôi lội bộ bã người, chỉ muốn nhảy lên tàu bò ngồi cho đỡ mỏi chân.
Thì ra lắm khi nổi khổ của mình lại là điều ước muốn của kẻ khác. Lên xe về lại Phú Văn. Còn hai ngày nửa lễ Giáng Sinh Mậu Thân. Chúng tôi chưa có chương trình ăn nhậu gì vì chưa biết có được đóng yên ở Phú Văn ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm không. Chiều hai mươi ba chúng tôi nhận lệnh sáng hai mươi bốn vào lại mật khu An Sơn nằm trong đó giữ an ninh vòng ngoài bảo vệ cuộc thăm viếng trại định cư An Sơn của Tổng Thống lúc mười ba giờ. Chúng tôi được lệnh phải ngưng tiếng súng trước mươi hai giờ ba mươi. Như thế có nghĩa, nếu gặp địch phải thanh toán chúng xong trước giờ ấn định. Chúng tôi nhận cuộc lội với lời bình phẩm vui vẽ: “Xài Nhảy Dù như vậy là có hậu”. Vì xong nhiệm vụ chúng tôi được ăn lễ Giáng Sinh ở Phú Văn. Chúng tôi, một mặt chuẩn bị hành quân, một mặt chuẩn bị hậu cứ lo thức ăn.
Đêm hai mươi ba trên đồi Phú Văn nghe lành lạnh hơn những đêm trước. Không hiểu vì thời tiết thay đổi hay cái lạnh từ trong ý tưởng Giáng Sinh là phải rét. BÌNH AN CHO NGƯỜI LÀNH DƯỚI THẾ. Tôi muốn đổi câu hát của thiên thần ngày xưa thành lời nguyện của người dân Việt hôm nay. BÌNH AN CHO VIỆT NAM HAI MƯƠI NĂM CHIẾN TRANH ĐAU KHỔ. Tôi nghĩ đến cuộc hành quân sáng mai. Không thể đón Chúa Giáng Sinh bằng máu. Tôi bổng có ý vị tha cầu nguyện cho cả bạn lẫn thù được bình yên đón Chúa Giáng Sinh.
Chúng tôi lên xe lúc năm giờ sáng. Nửa giờ sau đổ quân. Bố trí xong nằm chờ sáng. Bảy giờ xuất phát. Vào An Sơn bằng con đường mòn chắc chắn sẽ lãnh loạt đạn đầu tiên của địch. Cánh quân B của ông Phó men được nửa phần đường liền tạt qua một vườn măng cụt bọc trở lên. Cánh quân A của ông Trưởng tiến song song mặt trong. Tuy vậy toán khinh binh của toán B vừa men đến gần mục tiêu I đã bị địch khai hỏa trước. Hàng loạt A.K chóc chóc chen lẫn tiếng ầm ầm của B.40, M.16. M.60, M.79 cũng tức tốc đáp lời. Tôi theo dõi cuộc chạm súng qua máy, cuộc tiến quân khó khăn vì nước ngập đến ngực. Tôi lo lắng chờ nghe bá cáo tổn thất. Ngã một vài con thì cấp cứu, tản thương khá chật vật. Bùn nước còn làm các vết thương dễ nhiễm trùng. Tôi nhẹ người khi nghe hai tiếng “vô sự”. Trực thăng võ trang được gọi đến xạ kích. Hỏa lực cầm chừng của địch vẫn gây trở ngại mọi mưu toan tiến quân. Phải sau hai mươi lăm tràng 105, mới tiến chiếm được mục tiêu I. Đich bỏ lại một số đạn 60 ly, B40, mìn, thuốc nổ T.N.T. Nhưng không thấy dấu vết tổn thất nhân mạng. Ông Trưởng ra lệnh phải lục soát thật kỷ để tìm khẩu cối 60 ly. Có đạn tức phải có súng. Nhưng giữa đồng cỏ nước mênh mông, khẩu 60 như cây kim đáy biển. Sau khi để một toán kích ở lại mục tiêu I, cánh quân B được pháo binh dọn đường tiến chiếm mục tiêu II, tịch thâu thêm một số đạn dược, một máy in nội hóa, truyền đơn. Vòng đai ngoài dàn xong đúng mười hai giờ trưa. Ông Trưởng chỉ thị giữ yên các vị trí, chờ cuộc thăm viếng xong là rút. Ba giờ chiều chuẩn bị lui quân thì toán kích ở mục tiêu I bá cáo thấy có địch xuất hiện. Nhưng hai loạt M.16 vẫn không đốn ngã được tên nào. Cỏ mọc cao khó quan sát. Toán kích không dám để địch lại gần, nổ súng sớm nên không có kết quả.
Trở lại con đường mòn. Gặp tôi ông Phó vừa hắt hơi vừa nói:
_Bị cảm lạnh rồi bác sĩ ơi!
Tôi hỏi ông:
_Tôi nghe bắn nhau dữ thế sao không bên nào việc gì cả?
_Nhờ những hàng măng cụt ngăn lằn đạn và làm khó nhắm thẳng, hơn nửa chúng bắn để chạy nhưng không chính xác. Mà cũng vì mấy cây măng cụt nên mình không hạ được chúng.
Tôi vụt nhớ lời cầu nguyện đêm qua xin cho bạn lẫn thù bình yên đón Chúa Giáng Sinh. Tôi thấy những cây măng cụt biến thành những cây Giáng Sinh, những đầu đạn của cả hai bên biến thành những quả cầu óng ánh đính trên các cành cây…
Chúng tôi ăn lễ nửa đêm lúc chín giờ tối. Bàn ghế cóc cách, ly chén đủ cỡ, nhưng thức ăn từ hậu cứ tiếp tế lên khá thịnh soạn. Buổi ăn vui nhưng ngắn. Mười giờ tối chia tay. Tôi chui vào mùng, đầu gối tay, mắt mở lớn cố chống lại cơn buồn ngủ. Tôi muốn thức thật khuya đêm nay. Ngoài khung trời đêm từng chụm hỏa châu vật vờ xa tắp. Cơn gió lành lạnh khiến tôi nhớ những mùa Giáng Sinh ở Huế. Tôi đã sống bảy năm nội trú ở Trung Học Thiên Hữu. Không khí mừng Giáng Sinh thưở ấy thật náo nức. Chúng tôi chuẩn bị từ hai tháng trước. Ngót một trăm học sinh nội trú phân chia thành từng đội mười người làm lồng đèn, dựng sân khấu, tập kịch…Chiều ngày hai mươi bốn của bảy mùa Giáng Sinh cũ ghi trong tôi bao kỷ niệm thần tiên, mỗi lần hồi tưởng là mỗi lần bồi hồi cảm động. Vào lúc hoàng hôn, trong bầu không khí mưa phùn, rét cóng, chúng tôi leo lên sân thượng nhà trường lúc bấy giờ lung linh hằng trăm ánh đèn ngũ sắc, hình ú, hình sao. Ở trên đó chúng tôi đốt những cây pháo điện đặt vào chiếc ná cao su bắn tít lên cao: muôn ngàn tia tỏa sáng trong đêm. Tám giờ tối bắt đầu phần kịch nhạc. Chúng tôi tuần tự diễn viên và khán giả. Đúng mươi hai giờ đêm lễ rước chúa Hài Đồng vào máng cỏ từ phòng ăn đến nhà thờ. Chúng tôi, tay cầm nến vừa đi vừa hát những bài hát tiếng La Tinh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Tâm hồn tôi dạo ấy sao trang nghiêm. Bữa “ăn nửa đêm” là bữa ăn ngon nhất trong năm nội trú. Ăn xong khoản hai giờ sáng chúng tôi được phép đi thăm máng cỏ nhà thờ Giòng Chúa Cứu Thế Phú Cam… Những năm đầu còn quân đội Pháp, chúng tôi vào cả các doanh trại của họ để xem máng cỏ. Đêm hai mươi sáu có buổi xổ số lãnh quà cây Giáng Sinh. Một lần tôi không nhớ rõ năm nào, lô trúng của tôi là một gói to nhưng nhẹ. Mở năm sáu lớp giấy gói, tôi bắt gặp vỏn vẹn một mãnh giấy ghi giòng chữ sau: “Bạn đang nắm trong tay một kho tàng mà bạn không biết”. Mười mấy năm qua tôi cố công tìm kiếm kho tàng ấy trong tôi. Có lẽ tôi còn tìm kiếm suốt đời vì tôi tin kho tàng ấy có thật.
Tôi vào Sài Gòn sống đời sinh viên, gởi trả Huế ấu thơ, trả thánh thiện cho Thiên Hữu. Bảy năm trường thuốc tôi ăn lễ nửa đêm ở các vũ trường. Bây giờ với ba tuổi lính, tôi đón Giáng Sinh hành quân lần thứ hai. Trước cảnh cao rộng, tôi muốn tìm về niềm tin thiêng liêng thuần khiết ngày xưa. Tôi sẽ cầu nguyện gì đêm nay? Chắc chắn tôi sẽ không xin hòa bình: Chúa đâu cất giữ hòa bình. Tôi chỉ xin đừng đổ máu ngày Giáng Sinh. Chiếc máy thu thanh vặn nhỏ truyền vào tai tôi giọng ca nữ khỏe mà tha thiết: “Một đêm dài nhớ em, một đêm dài trắng đêm..”Giọng ngân vút lên để dứt nghe như xé lụa.
Tiếng ca đã tắt nhưng âm thanh còn vây kín tâm hồn. Lòng tôi bỗng đầy an ủi.
Sáng hôm sau tôi đi lễ. Quỳ trong nhà thờ tôi tự hỏi mình có thật sự Công Giáo không? Đôi lần tôi táo bạo nghĩ rằng đạo Thiên Chúa mà không có Đức Mẹ Maria, chắc tôi là kẻ hữu thần nhưng vô tôn giáo. Tôi mồ côi mẹ năm lên tám. Những năm tháng nội trú thui thủi một mình, bức tượng Đức Mẹ trong nhà thờ, là người tôi thần kính đến thưa chuyện nhiều nhất. Có những lúc nhìn lên, tôi thấy đôi mắt bức tượng tỏa một thứ hào quang sáng ấm, chiếc miệng nỉm cười hài lòng sự kính viếng của tôi. Bây giờ trước mặt tôi cũng nét mặt hiền từ, chiếc miệng bao dung ấy, chỉ khác tôi, tôi đã cằn cõi tâm hồn..
Ra phố ăn sáng xong tôi ghé Sư Đoàn 5 thăm thằng bạn cùng khóa. Nó vừa rời Nhảy Dù về đây làm Y Sĩ Trưởng Đại Đội 5 Quân Y. Không hiểu Nhảy Dù đi ra ngoài đều có “thớ” hay có “thớ” ở Nhảy Dù mới được đi ra ngoài. Thằng bạn khoe với tôi đầu năm 69 Đại Đội 5 Quân Y sẽ lên hàng Tiểu Đoàn. Với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng mai vàng nơi cổ hắn chẳng mấy chốc hóa ra mai bạc. Trong một thoáng tôi có ý nghĩ tầm thường so sánh địa vị của tôi với thằng bạn, tự hỏi mình có chút ý ganh tức nào không? Và tôi hiền hòa trả lời tôi rằng: Danh vọng ở chức tước, quyền bính là những nấc thang giới hạn ngoài tầm mắt của tôi. Tôi vẫn nuôi tham vọng bước lên một chiếc thang không có nấc cuối cùng, càng lên cao bao nhiêu càng thấy mình còn thấp kém bấy nhiêu: chiếc thang nghệ thuật. Tôi chọn Nhảy Dù không ngoài mục đích đi, sống và viết. Cho hoài bão đó, tham vọng đó, tôi đã tuân lệnh hành quân trở lại với một nụ cười không hậu ý.
Đêm hai mươi lăm tôi đi ngủ sớm như thường lệ. Nô En năm nay chắc ở đâu cũng buồn. Những giờ hưu chiến ngắn ngủi chỉ để đôi bên chuẩn bị những trận đánh tàn khốc hơn. Đêm nay tôi phải ngủ thật ngon giấc, gom sức dành cho những ngày sắp tới. Nhưng vào khoảng giữa sáng một loạt súng đánh thức tôi dậy. Tôi thấy ông sĩ quan ban ba tung chui ra khỏi mùng, nhảy đến cạnh chiếc máy P.R.C. 25. Tiếng ông sang sảng hỏi các “đích thân” về nguyên do loạt nổ. Bá cáo máy cho biết một “đứa con” của 32 “ăn sương” dưới suối thấy bóng người xuất hiện nên nổ súng.
_Túy Hồng đây Phước Vân
_Túy Hồng tôi nghe.
_Xin đích thân vài trái sáng để xem kết quả.
_Phước Vân, đây Túy Hồng sẽ thỏa mãn cho anh ngay. Anh hỏi kỹ lại “đứa con” của anh xem nó có thấy địch thật không hay lại đang gật gù rồi trông gà hóa cuốc.
Mấy quả đạn trái sáng phóng từ khẩu 82 ly nổ rung mái nhà làm tôi tỉnh ngủ. Tôi năm im chờ nghe kết quả.
_Túy Hồng đây Phước Vân
_Túy Hồng tôi nghe, có gì không anh?
_Một chính quy bỏ xác tại chổ, tịch thu một AK. “Đứa con” của tôi quả quyết nhìn thấy hai đứa, một tên mang AK, một tên mang B40, khoảng cách không đấy ba thước và nó nói nó nhắm rất kỹ. Tên mang B40 thế nào cũng dính.
_Thế thì bảo mấy “đứa con” của anh lục soát kỹ đi, nhưng đừng cho ra xa quá. Tôi thêm trái sáng cho anh. Tôi nghi ngờ sự quả quyết của người lính gác. Chắc anh chàng muốn tô màu thành tích của mình. Cuộc tìm kiếm vẫn không kết quả. Lúc tờ mờ sáng Phước Vân xin nới rộng phạm vi lục soát. Lời yêu cầu được chấp thuận. Một trung đội được tung ra. Chừng mười lăm phút sau tiếng bá cáo vang trong máy:
_Túy Hồng, đây Phước Vân. Chụp được tên mang B.40 rồi, nó bị thương.
_Túy Hồng, tôi nhận rõ, bô lắm. Mặt Trời thưởng đứa con anh cái đồng hồ đeo tay. Anh cho tên và số quân của nó để đề nghị huy chương. Tân binh hay lính cũ đó?
_Tân binh.
_Tân binh mà bình tĩnh như vậy thật đáng khen. Tình trạng tên “Vi Xi” ra sao?
_Nó vừa được khiêng về chổ tôi. Kẹo đồng chui vào chân, có vẽ bết lắm.
_Lệnh của Minh Hiếu, anh đưa nó lên trên này để đích thân Châu Hà lo cho nó.
_Nhận rõ Túy Hồng.
_Nếu không còn gì thì chấm dứt với Phước Vân.
Tôi nằm im nghe những lời đối thoại, thích thú, thứ ngôn từ gọn gẫy dí dỏm qua máy. Trong kỳ hành quân này các đích thân Tiểu Đoàn 3 Dù mang tên các nữ ca sĩ. Giữa đêm khuya thanh vắng gọi nhau bằng tên những người đẹp nghe cũng “mát miệng, ấm lòng” đôi chút…
Đánh răng rữa mặt xong, tên thương binh địch được đưa đến tôi. Hắn quá trẻ, chừng mười bảy tuổi, nói giọng Bắc, mặc đồ kaki vàng. Gẫy hở xương ống chân trái; bắp thịt chân trái bị bể loét lẩn lộn bùn máu. Quần áo ướt đẫm, tên địch mặt trắng bệch, người run cầm cập. Mạch nhanh và yếu. Có thể bị xúc kích thần kinh. Tôi cho rửa sạch vết thương bằng “nước dưỡng khí” truyền một chai “dextran” và chích trụ sinh. Tên địch rên rỉ khi người y tá rửa vết thương và bó bất động. Một binh sỉ Dù nạt đùa:
_Im không được rên. Đau thì kêu Bác và Đảng.
Ông Trưởng chỉ thị báo phòng Hai Sư Đoàn 5 xuống nhận tù binh về khai thác. Xuyên qua những câu trả lời của tên địch tôi hay hắn thuộc về Tiểu Đoàn KI Trung Đoàn Đồng Nai. Đại Đội của hắn phân từng toán mười người di chuyển về một điểm hẹn mà hắn không biết. Vì trời tối hắn và tên bị giết đi lạc. Tôi cắt một y tá canh chừng. Người y tá trưởng có vẽ không đồng ý sự săn sóc quá chu đáo của tôi. Anh nói:
_Bác sĩ cho nó nhiều thuốc làm gì? Bác Sĩ Tường ông không cho nhiều đâu.
Tôi hiểu lòng thù ghét cộng sản của nhiều người Bắc di cư. Tôi có nghe cách cư xử thẳng thừng của Tường với kẻ địch. Tôi cũng hiểu nguyện nhân nào làm Tường thù ghét Cộng Sản. Có ai thương được kẻ đã giết cha mình? Tôi không ở vào hoàn cảnh Tường nên tâm hồn bình thản hơn. Nhưng thử hỏi nếu tôi có người ruột thịt bị Cộng Sản sát hại biết đâu tôi chẳng thù hận gấp trăm lần Tường. Tôi im lặng bỏ đi không thể trả lời người y tá Trưởng. Dưới mắt tôi bây giờ tên địch cũng là một trường hợp bệnh cần săn sóc. Thêm một lần tôi tự vấn tôi, nếu Tiểu Đoàn bị thiệt hại nặng, liệu tôi có tốt với kẻ địch như hôm nay không? Câu trả lời chắc là không. Kinh nghiệm những lần đụng trận trước cho tôi hiểu khi có đồng đội ngã xuống lòng tôi đầy thù hận. Tôi có thể hung bạo với kẻ thù mà không hới tiếc hành động của mình. Nhưng sáng nay tôi nghe lòng hiền hòa vô cùng, tôi nhìn không thấy nơi tên địch chút gì hung ác, tôi thấy hắn đáng thương và tôi không hối tiếc đã săn sóc hắn quá tận tình.
Chiều hai mười sáu có buổi họp hành quân chuẩn bị “làm ăn lớn”. Sáng hai mươi bảy Tiểu Đoàn 3 Dù cùng một Chi Đoàn Thiết Vận Xa, một Đại Đội Trinh Sát và hai Pháo Đội 105,155 sẽ di chuyển bằng công voa lên Chơn Thành. Sáng hai mươi tám sẽ cùng Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh trực thăng vận vào mục tiêu: một vùng ranh giới giữa Chơn Thành và An Lộc. Thơi gian ba ngày.
Đoàn công voia có Thiết Kỵ dẫn đầu như một con rắn đen dài, trườn mình lúc chín giờ sáng. Qyuo61c lộ 13 đưa chúng tôi rời Bình Dương lên Bến cát qua Lai Khê. Lai khê có một căn cứ quân sự lớn do Lữ Đoàn I Hoa Kỳ trấn đóng trong một đồn điền cao su. Đoàn xe băng qua căn cứ trên khoảng đường lót vĩ sắt vừa dùng làm phi đạo cho L19 vừa làm bãi trực thăng. Ra khỏi Lai Khê con đường bụi đỏ tiếp tục trải dài. San sát hai bên vệ đường những rặng tranh cao ngút đầu người gợn song rì rào. Địa điểm thật lý tưởng cho những ổ phục kích. Chiếc Red Marker bay thật thấp, đảo đi đảo lại kèm sát đoàn xe di chuyển. Chúng tôi đến Bầu Bàng. Những ô nhà cửa ghi trên bản đồ dưới mắt tôi chỉ còn trơ những nền đất than. Bầu Bàng là nơi anh Phạm Bá Lương nguyên Y Sỉ Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ binh tử trận năm 1965. Qua nơi mà một thời gian nào trước đây từng là chiến trường, từng là nơi bạn hữu ngã xuống, lòng mình không khỏi nao nao…Xe đến Bầu Lòng. Ông Sĩ Quan ban ba cho tôi biết năm 1961, Việt Cộng đã phục kích hai Đại Dội của Tiểu Đoàn 3 Dù tại đây. Hai bên đều thiệt hại nặng. Phía Tiểu Đoàn 3 Dù Tiểu Đoàn Phó và Cố Vấn Phó tử trận.
Chúng tôi đến Chơn Thành lúc mười hai giờ trưa. Vượt sáu mươi cây số đường mất ba tiếng đồng hồ. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 9 đóng trong Quận. Quận Chơn Thành rộng dài bằng mười phút đi bộ. Tài nguyên ở đây là lâm sản. Nhìn những khoanh gỗ to tròn lăn lóc cùng nơi, tôi nhớ một bài thơ hóm hỉnh của Prévert:
“Hàng ngàn cây rừng bị đốn ngã
Nhào nặn thành bột để làm giấy báo
Hàng năm trên mặt báo
Hàng ngàn bài viết cảnh cáo
Về sự nguy hiểm của việc đốn cây rừng…”
Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn kéo sang bãi trực thăng. Mười chiếc UHD1 và hai chiếc Shinook CH.53 đến chuyển quân. Tiểu Đoàn 3 Dù và Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh sẽ đổ chung một bãi đáp rồi từ đó chia làm hai cánh. Chín giờ, đợt chuyển quân đầu bốc nguyên một Đại Đội Dù. Mỗi cuộc trực thăng vận là một chuyến phiêu lưu. Tôi thích bâng khuâng nhìn những chấm đen nhỏ dần, xa dần rồi mất hút… Trạm Cứu Thương của tôi đi chuyến thứ hai ngồi cả vào trong chiếc Shinook. Loại trực thăng không lồ này chở được năm mươi người. Khi chiếc Shinook nặng nề nhấc bổng chúng tôi lên đảo ngược nửa vòng, qua ô cửa tròn tôi thấy mặt đất nhà cửa nghiêng nghiêng rồi thẳng dần trở lại. Lòng tàu rung rung lên xuống, nhịp độ với âm thanh của cánh quạt khoát gió bên ngoài, lúc chát chúa, khi rì rầm…Tôi nhủ thầm: “Chuyến đi này đáng tiền quá! Chưa đầy hai tuần tôi đã được ngồi ôn lại gần hếc các phương tiện vận chuyển: GMC, Thiết Kỵ, Chiến Xa, Trực thăng. Chỉ còn thiếu ngồi trong giang đỉnh L.C.V.P. của thời đóng Bình Chánh nửa là đủ bộ Không, Hải, Lục. Trực thăng hạ thấp dần. Màu xanh sẫm cây rừng dâng lên, lướt nhanh. Hiện ra một khoảng trống cỏ may vàng nhung: bãi đáp. Những toán quân lúp xúp chạy tấp sang một mé rừng. Cánh cửa sau trực thăng hạ mở, tôi nhảy ra, nửa người mất dưới lớp cỏ cao. Ánh nắng gay không làm tan gió mát lồng lộng qua đồng cỏ. Tôi thong thả bước theo toán quân, tin tưởng những bờ rừng bí hiểm bao quanh không có địch ẩn núp. Còn một Đại Đội cộng nửa là hết Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi bố trí quanh bãi đáp chờ Tiểu Đoàn 2/9 đổ quân. Mười hai giờ trưa hoàn tất đợt cuối cùng. Có lệnh ăn cơm trưa và một giờ di chuyển.
Cái bãi đáp cỏ may nhấp nhô như sóng vàng là đề tài dự tính của mỗi chúng tôi. Khoảng đất sẽ làm gì khi hết chiến tranh? Một trại chăn nuôi ngựa giống cho ông Trưởng, một vùng săn bắn cho ông Phó, một ngôi nhà nghỉ mát cho ông Sĩ Quan ban ba. Phần tôi, tôi chỉ biết nhìn ngắm vẽ đẹp hoang sơ hiện tại của đồng cỏ mà không có dự tính nào trong tương lai. Nhiều người chiến đấu để có một ngày nghỉ ngơi. Riêng tôi chiến đấu là một cách sống. Khi Việt Nam hòa bình chắc tôi sẽ tình nguyện sang một xứ nào đang có chiến tranh. Với tôi chiến tranh là một thứ gia vị cay, cay mới nhiều kích thích tư tưởng…
Ngày đổ quân chúng tôi đi bốn mục tiêu từ A đến D. Tính đường chim bay chỉ độ ba cây số, nhưng phải mất năm tiếng đồng hồ mới đi hết. Khoảng rừng tre thưa không đủ che ánh nắng. Phút căng thẳng ban đầu tan dần qua các mục tiêu. Từ Bầu nát đến Bầu Ram phải vượt qua một con suối tên suối Dung. Suối không rộng không sâu nhưng khó qua vì cây mọc lấp cả lòng suối. Sáu giờ chiều đóng quân. Cơm nước xong trời đã tối đen chung quanh. Đêm xuống nhanh ở miền rừng. Tôi nằm trên cáng ngửa mắt nhìn lên nền trời thẩm nhạt lấm tấm vài ánh sao. Tôi đang như Thế Lữ một ngày nào trong truyện Một Đêm Trăng nằm “nghe tiếng một con sóc chạy trên cành, giọng rì rào của những côn trùng dưới đất, nghe càng lâu muôn tiếng càng hổn độn…”
Ngày hôm sau chúng tôi có hơn bốn mục tiêu để đi. Từ Bầu vàng đến Bầu Rim. Mất mười giờ để nuốt một đoạn rừng sáu cây số trên bản đồ và hai con suối: La Cát và Tả Bàng. Chúng tôi di chuyển chậm, lòn cúi chen lách qua những đám tre, mây leo mộc ngoằn ngoèo. Bắt gặp một số hầm trú ẩn đã mục nát, không ghi một dấu vết mới mẻ nào của địch. Quanh một hồ nước lớn do bom B52 đào, lẫn lộn với những dấu chân thú rừng, những dấu dép “Bình Trị Thiên” đã khô cũ. Vùng mục tiêu của chúng tôi có lẽ chỉ là đường chuyển quân của địch. Rừng tre quá thưa để có thể làm nơi trú ẩn kín đáo và lâu dài. Khoảng mười giờ sáng cánh quân 2/9 chạm địch ở Srock Lôi Sơn. Tiếng súng dòn liên tục. Tôi nghe trực thăng quần, phi đạn xé gió và pháo binh rót liên hồi. Chừng một giờ sau thì hoàn toàn yên tĩnh. Bá cáo của đơn vị bạn cho biết hạ được hai tên địch, tịch thu một AK, một B40. Phía bạn một tử thương và hai mươi bị thương. Ông Sĩ Quan ban ba nói với tôi:
_ Mình lãnh phần nặng nhất thì lại vô sự. Tôi nghe binh sĩ bảo nhau có bác sĩ đi hành quân thì yên chí lớn không đụng độ đâu.
Trong ba mặt quân: Thiết Kỵ án ngữ mặt ngoài bị địch bò đến thổi một quả B40 làm cháy một xe và bị thương bốn người. Tiểu Đoàn 2/9 vòng mặt ngoài vừa đụng trận trên đường rút ra. Chỉ có Tiểu Đàon 3 Dù lục soát mặt trong với ba ngày lội vẫn bình yên..
Trong Tiểu Đoàn người không bao giờ cầm quân chỉ huy, mà vẫn bị binh sĩ dị đoan là ông bác sĩ. Họ truyền khẩu cho nhau là ông bác sĩ này hòa bình, ông bác sĩ kia sát quân; ông bác sĩ N. mà cặp với ông Tiểu Doàn Trưởng H. mỗi lần xuất quân là “tơi bời hoa lá…” Cả y tá cũng dị đoan về ông bác sĩ của mình. Ở Tiểu Đoàn 3 nặng vía nhất là bác sĩ Liên, trước tôi hai năm. Một y tá kể:
_Hành quân mà bác sĩ Liên đi tay không thì đụng lai rai; ông mang Colt thì phải trên hai mươi con; lần nào ông mang Carbin thì coi như thức suốt đêm để tải thương! Như trận Đức Cơ năm 1965…
Không biết tôi nên tin số tôi nhàn hay nên tin tôi được nhàn nhờ “bài kinh cầu cho đơn vị” do tôi nghĩ ra, để mỗi đêm hành quân, trước khi đi ngủ, tôi hằng đọc lại một cách thành tâm:
“Xin cho đơn vị qua đêm bình yên
“Xin trọn ngày hôm sau bình yên
“Đụng trận
“Xin cho đơn vị thắng thật lớn
“Thiệt hại thật ít
“Xin cho địch đầu hàng, bị bắt
“Nhiều hơn bị giết”
Có lẽ Thượng Đế nghe lời cầu nguyện của tôi thành tâm thật nhưng khó thỏa mãn nên Người giải quyết bằng cách cho cuộc hành quân nào có tôi tham dự đều vô sự. Người không bằng lòng số nhàn ấy trước nhất là tôi. Con người hòa bình của tôi không giúp sớm hòa bình vì nếu đánh nhau mà không đổ máu thì bao giờ chiến tranh mới kết liễu. Nhưng giải quyết chiến tranh thuộc lý chí, cầu nguyện cho đơn vị thuộc tâm hồn. và theo Pascal thì “Tâm hồn có những lý trí của nó mà chính lý trí cũng không biết được”. Chúng tôi qua Bầu Vàng, một rừng cây cổ thụ lá rụng vàng ối lối đi. Một mùa thu “bỏ túi” đâu đây… Có tiếng là “rơi xào xạc” nhưng không nghe tiếng “con nai vàng ngơ ngác” nào “đạp trên lá vàng khô”.Chỉ nghe gót giày saut dè dặt tiếp nối nhau. Tôi đi giữa màu vàng nhớ một lời ca thơm tình dân tộc
“Dạy cho con tiếng nói thật thà
“Mẹ mong con chớ quên màu da
“Con chớ quên màu da
“Nước Việt xưa…”
Đêm thứ hai trong rừng yên tĩnh. Pháo Binh bắn khuấy rối nhiều và sát quá khiến giấc ngủ chập chờn. Chúng tôi đang trên đường rút ra. Vùng mục tiêu còn lại là Bầu Đông, Bầu Rim, chừng sáu cây số bản đồ. Rừng thưa dần, đã có khoảng trống, đồng tranh và ánh nắng gay gắt trên đầu. Đến điểm tập trung lúc ba giờ rưỡi chiều. Lên xe về Chơn Thành.
Chúng tôi bàn tán về hai nguồn tin trái ngược nhau. Một tin tiếp tục đặt Tiểu Đoàn 3 dưới quyền điều động của Trung Đoàn 9 Bộ Binh, một tin rút Tiểu Đoàn 3 về Bình Dương. Năm giờ rưỡi chiều có lệnh về Bình Dương gấp. Phải non một tiềng đồng hồ mới sắp xếp xong đoàn công voa. Tôi thích về Bình Dương hơn ở Chơn Thành, nhưng thú thật không thích về vào giờ này. Sáu mươi cây số đường bộ di chuyển đêm không phải là chuyện đùa. Tôi đọc vẽ nghiêm trọng trên mặt các Sỉ Quan. Từ Chơn Thành về Bình Dương, ở Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát, chặng đường nào về đêm cũng bất an ninh, địch cũng có thể phục kích đoàn xe. Đối phương có một đồng minh lợi hại là đêm tối, nhưng chúng tôi có một ưu điểm an toàn: yếu tố bất ngờ.
Tôi yên tâm nhìn đoàn xe bốc bụi khởi hành. Chiều tắt nắng từ bao giờ. Có hoàng hôn, khói lam, thôn dã in lìm, nhưng không có sáo diều lơ lững, mục đồng cỡi trâu về trên đường làng để gợi lên chút hình ảnh một đồng quê yên vui ngày nào của Trần Tiêu, Toan Ánh, trong “con trâu” hay “sau lũy tre xanh”. Cảnh vật bây giờ đầy cạm bẫy. Ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị: dọc đường xe hư thì dồn người sang xe khác, bỏ xe. Đoàn “cua” dẫn đầu được lệnh chạy hai mươi cây số giờ để tránh đứt khoản, mỗi xe chạy cách nhau ba mươi thước. Đoàn xe rãi dài ngót hai cây số. Chiếc Red Marker bay thật thấp quan sát lộ trình và đoàn xe di chuyển.
Chúng tôi bình yên đến Lai Khê lúc bảy giờ ba mươi tối. Căn cứ Lai Khê đóng cửa từ năm giờ chiều nên không thể mượn đường chạy tắt như chuyến đi. Rời Lai Khê chừng mười phút, một chiếc Jeep của Pháo Binh chết máy vì hết xăng…! Trong cơn bực tức ông Sĩ Quan ban ba hét to trong máy với ai đó:
_Tên tài xế gà chết của anh, mang nó ra pháp trường cát là vừa.
Ông Trưởng lạnh lùng chỉ thị:
_Hỏi mấy con “cua” đằng sau kéo giúp được nó không. Nếu không ủi qua một bên mà chạy.
Đoàn xe tiếp tục hành trình. Tôi không cho quyết định của ông Trưởng quá cứng rắn. Khi có trách nhiệm với cả đoàn xe ngót năm mươi chiếc, những trường hợp “cu ky” phải xem như không đáng kể. Người lính Dù phải biết chấp nhận những cái không đáng kể rất đáng kể ấy. Chúng tôi đến một cây cầu nhỏ có binh sĩ Việt Mỹ canh gác. Họ dăn chúng tôi phải cẩn thận trên đoạn đường này vì có tin từ chiều địch về trong làng. Ông Trưởng ra lệnh cho các “đích thân” căn dặn các “đứa con” mở mắt thật lớn nếu không muốn nhắm luôn. Bóng tối như dày them lên. Tôi nghĩ chỉ cần vài tên du kích phịc đâu đó thổi thật chính xác vài quả B40 vào đoàn xe, cháy một hai chiếc, chết bị thương vài chục người cũng đủ làm chúng tôi điên đầu.
Nhưng đoàn xe vẫn yên thấm tiến trong đêm. Đến gần Bến Cát một G.M.C. nổ bánh. Binh sĩ trên xe được chia đều sang các xe khác. Đoàn công voa tiếp tục. Chúng tôi đến Bến Cát đúng tám giờ ba mươi tối. Dừng lại đây khá lâu để sắp lại hàng xe. Tôi nhảy ra khỏi chiếc Jeep thấy mình đang ở trên một dốc cao. Tôi nhìn xuống, cố tìm một hình ảnh thật đẹp để so sánh những đốm đèn quanh co phía dưới. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của Vũ hoàng Chương:
Đêm hoa đăng đường xanh bóng trăng
Đêm hoa đăng đèn quanh lối xóm…
Bao giờ đất nước thanh bình để có những đêm hoa đăng khắp nẻo quê hương?
Từ Bến Cát đến Bình Dương lộ trình tương đối an ninh, đoàn xe chạy sát nhau hơn. Dù an toàn toàn tôi cũng đã trải mấy giờ trí óc căng thẳng. Chúng tôi về đến Phú Văn hơn chín giờ tối. Một thùng nước tắm, một tô cháo gà nóng và một giấc ngũ vàng…Sáng hôm sau Tường đến thay tôi. Nhẩm tính tôi đi được mười bảy ngày. Tôi không mong ngày về như tôi tưởng. Tính tôi dễ quên, dễ quen nên dễ sống. Chiếc Jeep đưa tôi trở lại Búng, Lái Thiêu. Mới một lần đi, một lần về nhưng tôi có cảm tưởng cảnh đã quen thuộc đâu từ lâu rồi..
Căn phòng máy lạnh nồng khói thuốc muốn bức vỡ vì khối người chen chúc. Đã qua bao nhiêu bản Slow êm dịu, bao nhiêu điệu agogo cuồng nhiệt, tôi vẫn ly rượu cầm tay hững hờ nhìn thiên hạ sống vui, tình tự. Tôi xa lạ mọi người hay mọi người xa lạ tôi? Bình thường tôi rất hòa mình vào những buổi dạ vũ. Nhưng hôm nay tôi hoàn toàn không hứng khởi. Tôi như sửng sốt vì phải sống liền hai cảnh đêm quá trái ngược nhau: Con đường đầy bóng tối tử thần đêm qua và ngôi biệt thự mờ ảo ánh đèn gợi cảm đêm nay. Tôi hiểu những người đang chiến đấu, tôi cũng hiểu những người đang cố quên chiến tranh để thụ hưởng. Tôi hiểu quá nhiều nên tôi không sung sướng. Nhiều lúc tôi kiêu hãnh một cách đáng thương khi tự hỏi người đau khổ tinh thần nhất trong cuộc chiến này có phải chỉ mình tôi. Tôi ra về lúc mười hai giờ đêm bỏ lại đàng trong những tiếng “happy new year” huyên náo. Phải một thời gian tôi mới quên chuyến đi vừa qua. Đêm nay sống giữa Sài Gòn nhưng men lạnh núi rừng vẫn phủ kín tâm tư. Giờ này biết đâu các “đích thân” chẳng đang gọi nhau bằng tên các nữ ca sĩ? Tên những người đẹp gọi lên giữa đêm khuya nghe cũng “mát miệng, ấm lòng”…
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.