Một cuộc săn du kích

Trang Châu

Y Sỹ Tiền Tuyến from Vietmessenger

Typing & Post by Sơn râu 20 July 2023

Chúng tôi đang ở ngày thứ hai mươi tám của cuộc hành quân Bình Phú III tại Tam Quan. Vừa từ làng Tân Mỹ rút về Hoài Thanh đóng quân cạnh đường xe lửa. Binh sĩ mới đặt súng xuống đất du kích đã mò đến bắn khuấy phá. Tôi có cảm tưởng ở Tam Quan mỗi người dân ban ngày là một du kích ban đêm. Làm dân sự vụ cho vùng này thật vô bổ: thuốc men cho họ vẫn lấy nhưng lòng họ vẫn hướng về quân thù. Vào những lúc bình tâm nhất tôi ngồi phân tích tìm hiểu nguyên nhân nào dân chúng thiên về Cộng Sản: Gần hai năm sau trận lụt Tam Quan mất kiểm soát. Tuyên truyền, cưỡng bách đã biến phần lớn dân làng thành Việt Cộng. Sau cuộc hành quân Thần Phong 11, quân chính phủ kiểm soát lại được một phần Tam Quan, nhất là trục giao thông. Nhưng chúng tôi chưa nắm được dân chúng. Dân ở đây chống  chúng tôi không vì một lý tưởng cao đẹp nào mà chỉ vì mối liên hệ gia đình giữa họ và quân du kích. Thuốc men của tôi chỉ là những hạt muối bỏ bể, khi mà mỗi tên du kích bị bắn hạ lại là một thân nhân của dân làng. Họ không có cảm tình với chúng tôi ra mặt, kín miệng như những con hến. Tôi nghĩ muốn diệt hết du kích đôi khi cần phải tàn bạo với cả gia đình họ nữa. Nếu vì liên hệ gia đình mà dân làng chống chúng tôi thì cũng có thể vì liên hệ gia đình quân du kích không dám quấy rối chúng tôi. Đoạn đường từ Phù Cát ra Qui Nhơn do quân đội Đại Hàn kiểm soát rất an ninh, du kích không dám  về hoạt động. Tôi tự hỏi sự an ninh kia có phải nhờ quân Đại Hàn giỏi đánh du kích hay vì nhờ du kích sợ quân Đại Hàn không cần biết mối liên hệ giữa họ và dân làng?

Năm giờ chiều, một chiếc H.34 đáp xuống Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Dù: Chuẩn Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn 22 đến. Chắc lại sắp “lội”. Tối hôm đó có lịnh ngày mai xong xuôi trước sáu giờ, một ngày cơm. Mục tiêu hành quân là vùng Tây Bắc Bồng Sơn. Tin tức cho biết quân số địch chừng một đại đội. Lực lượng chúng tôi gồm có hai Tiểu Đoàn Dù, một Chi Đoàn Thiết Quân Vận và tám trực thăng võ trang yểm trợ. Lực lượng hùng hậu như thế nhưng chúng tôi không hy vọng nhiều vào chiến quả khi đối thủ chỉ là những toán du kích vùng. Thường thường với những cuộc xuất quân rầm rộ, du kích hay được báo động để phân tán lẫn tránh kịp thời. Cứ trung bình năm cuộc tảo thanh thì hết ba vào mục tiêu chúng tôi chỉ thấy dấu vết địch. Phải đi lục soát bắt tình nghi. Sống lẫn với dân, nhờ dân họ lấy tin tức về chúng tôi rất chính xác; thông thạo địa thế họ hướng dẫn quân chủ lực đến tấn công bất thần vào các đơn vị bộ binh. Du kích vùng Tam Quan là những con cáo tinh khôn và nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Phải tung một lực lượng hai mươi lần đông hơn để chận bắt từng con một. Kết quả tùy thuộc một yếu tố duy nhất: sự bất ngờ.

Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn di chuyển. Băng qua đường xe lửa trước mặt chúng tôi là những ngọn đồi đất thoai thoải. Dừa, mít, vườn sắn bao bọc những mái tranh rải rác trên đồi. Dân chúng kéo ra ngồi trước cửa nhà hay ngoài sân lặng lẽ nhìn chúng tôi đi qua. Mấy bà cụ chắp tay chào chúng tôi, miệng cố tạo một nụ cười. Những người đàn bà dò xét chúng tôi. Họ có vẽ lo âu cho ai khác hơn là cho họ. Tôi có thể đoán họ lo sợ họng súng của chúng tôi trong chốc lát chớp mất của họ vài người thân, biến một ít thành góa phụ. Nhưng ngoài tiếng cánh quạt kêu “tình tịch” của bốn chiếc trực thăng võ trang lượng vòng trên không, khu vực tiến quân yên tĩnh. Không bóng dáng một người đàn ông. Nhưng cái bụng u u của mấy người đàn bà vẫn tố cáo sự hiện hữu của họ đâu đó. Nếu có ai hỏi chồng các chị đâu , chắc chắn họ sẽ trả lời đi lính quốc gia hay bận làm ăn xa trên tỉnh. Tôi mĩm cười thầm với ý nghĩ chắc những người đàn bà có chồng ở xa này thụ thai bằng phương pháp…hàm thụ!

Khi toán kinh binh của đại đội 62 đi đầu định vượt qua một đồng lúa thì hỏa lực đich từ những ngọn đồi bên kia bờ ruộng bắn sang. Tôi nghe tiếng đại liên M.60, tiếng M.79 nổ dồn dập. Phi công trực thăng báo chúng tôi biết, họ quan sát thấy VC ngụy trang bằng lá cây đang rút chạy qua những ngọn đồi. Trực thăng bắt đầu xả đại liên và phi đạn truy kích. Chúng tôi được lịnh băng qua cánh đồng, chạy cách khoảng và thật nhanh. Tiếng súng trường vẫn rời rạc đáp lại những tràng liên thanh ròn rã, tiếng M.79, tiếng phi đạn ầm ầm. Tôi đến bên này bờ ruộng. Cánh đồng rộng chừng hai trăm thước trổ mạ non xanh. Tôi khoác tay với toán y tá cho lịnh băng đồng. Tôi men theo đê ruộng lấp xấp nước vừa cố chạy thật nhanh vừa cố giữ thăng bằng cho khỏi trợt chân ngã xuống ruộng. Đan bay vì vèo trên đầu. Một binh sĩ chạy trên đê ruộng bên phải chúng tôi ngã tùm xuống nước. Đúng lúc đó một tràng trung liên cày mặt nước tung tóe. Đich có cả súng cộng đồng. Tôi bám được vào chân ngọn đồi đất. Hàng quân tiếp tục băng qua. Người binh sĩ bị ngã, vẫn nằm im giữa ruộng. Tôi vừa nghi chắc anh ta bị thương thì nghe tiếng quát mắng:

_Đ.M. thằng kia nằm làm gì đó? Có chạy mau vào không chúng nó bắn bể “gáo” bây giờ. Người vừa chửi thề là ông Hạ Sĩ Nhất tổ trưởng súng cối. Tôi thấy anh chàng bị té đứng dậy, lỏm bỏm chạy vào bờ. Đó là một tân binh. Tôi học được một kinh nghiệm mỗi khi băng qua đồng trống phải chạy một mạch bên này sang bên kia, địch bắn rát mấy cũng mặc. nếu vì khớp mà nằm xuống sẽ làm đích cho họng súng của địch nằm canh sẵn chờ mình nhóm là tỉa hạ. Đánh nhau với du kích chúng tôi thường trả giá đắt những lúc băng qua đồng trống. Phơi người cho địch bắn sẻ. Những tấm bia thường được lựa chọn. Địch chỉ nhắm bắn các sĩ quan chỉ huy, thứ đến các y tá. Chiếc cần câu truyền tin, khẩu colt, bàn tay cầm bảng đồ, lưng không đeo xắc, chữ thập đỏ trên nón sắt là những dấu hiệu chỉ điểm người để địch lựa chọn. Tôi đã ra lịnh các y tá, nhất là y tá Đại Đội, xóa chữ thập trên nón sắt và mọi người phải mang vũ khí. Bắt y tá mang vũ khí là một sự nặng nhọc, phiền toái cho họ khi trên lưng mọi người cồm cộm một túi thuốc. Nhưng tôi thấy có hai điều lợi: gây tự tin và tang hỏa lực phòng thủ cho đại đội khi đóng quân. Y tá trạm cứu thương tiểu Đoàn Sáu Dù gồm hai lứa tuổi: Trên ba mươi lăm và dưới hai mươi lăm, một lứa tuổi đầy kinh nghiệm chiến trường hiểu rõ giá trị của cây súng; một lứa tuổi máu nóng hăng say thích xông xáo. Cho nên tôi đã không gặp phản ứng nào, dù đằng sau lưng khi quyết định “vũ khí hóa” trạm cứu thương. Tôi cũng mang một khẩu Carbin M.1 Không phải để ngụy trang hay để lấy tự tin mà chỉ vì một yếu tố tâm lý: hòa mình với đơn vị. Sĩ Quan cũng như binh sĩ Dù thích thấy ông Y Sĩ của Tiểu Đoàn mình có máu nhà binh như họ hơn là một ông Y Sĩ chỉ biết chuyên môn. Tôi muốn, tôi cần tạo cho tôi một tác phong  nhà binh. Tôi đến đây để hòa mình, không phải để sống tách rời. Tôi đến đây không mang một mặc cảm nên cũng không muốn tạo ra một mặc cảm quanh mình. Tôi muốn làm một người lính Nhảy Dù thật sự.

Cánh quân dừng trên ngọn đồi vừa chiếm. Chúng tôi tìm những gốc dừa, gốc mít ngồi vừa bố trí, vừa tránh nắng. Những ngôi nhà tranh vắng người, nhưng thóc lúa, khoai sắn phơi ngổn ngang giữa sân. Trực thăng vẫn truy kích địch. Những trạm khói đen bốc cao ở những ngọn đồi kế cận. Mười giờ hơn. Trời nắng lớn. Quần áo đẫm mồ hôi, khát nước và bắt đầu đói. Buổi sáng tôi không ăn gì chỉ uống một ly cà phê đen, bây giờ xót ruột. Người y tá mang cho tôi một trái dừa, cơn khát làm tôi ực liền ba hơi là ráo trái dừa. Có lịnh di chuyển. Chúng tôi đổ một con đường dốc lởm chởm đá. Hiện ra những hố cá nhân và một cái rãnh được đào sâu thành giao thông hào. Chúng tôi men theo con đường mòn tiến vào một khu làng có bóng cây che khuất ánh nắng. Lệnh truyền miệng đến chúng tôi: “Tiến hàng một cẩn thận, có hầm chông.” Đến một ngã ba tôi thấy một xác du kích cháy đen, banh ngực, gục bên một hố cá nhân. Chắc tên địch đã lãnh nguyên một quả phi đạn từ trực thăng phóng xuống. Những hầm chông tre được phá hủy và đánh dấu để báo hiệu người đi sau tránh. Túi gạo, thắt lưng đạn, quần áo vất rãi rác trên đường tiến quân. Ông Đại Đội trưởng 60 cho tôi biết kết quả tính đến mười hai giờ trưa: Tiểu Đoàn sáu tìm thấy 6 xác chết VC do phi cơ bắn hạ, hạ sát hai tên, bắt sống bảy, giữ mười tình nghi; Tiểu Đoàn 8 hạ sát một, bắt sống bốn, giữ mười lăm tình nghi. Vũ khí tịch thu được gồm: một trung liên Bar, hai tiểu liên Thompson và năm súng cá  nhân. Chiến quả ngoài sự mong muốn.

Ra khỏi khu làng tôi nghe dưới chân cát lún và ngửi trong thoáng gió mát mùi mặn của biển. Bên kia bờ một cánh đồng trống, những cồn cát trắng phau điểm những rặng liễu xanh chạy dài ra biển. Tôi ngồi duỗi chân, tựa đầu vào một gốc dừa, nghe bụng đói cồn cào. Một giờ trưa. Vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ”. Chiến đấu tại chổ là ăn cơm. Tôi ngồi tựa người lim dim mắt, đầu óc trống rỗng, mọi ý nghĩ như bị nỗi mệt mỏi của thể xác tràn ngập. Bỗng một tràng đại liên nổ ròn, tiếp theo mọi thứ súng thi nhau nổ. Hỏa lực của Đại Đội Chỉ Huy. Tôi ngồi bất động chưa biết chuyện gì. Toán y tá bố trí vội quanh tôi. Tôi nghe có tiếng la lớn:

_Chúng nó chạy qua cồn cát.

Men đến một gốc dừa gần cánh đồng, tôi chăm chú quan sát. Xa chừng bốn trăm thước hai người bận đồ đen đang xì xụp chạy trên cát hướng về rặng liễu. Hàng chục họng súng châu vào hai bóng đen di động nhã đạn. Một y tá lên đạn cây súng Carbin M.2 rồi tì súng vào một thân cây định bắn. Tôi ngăn cấm. Sự cấm đoán của tôi thật bất ngờ. Người y tá cố nài nỉ:

_Cho tôi bắn để thông nòng súng luôn, Bác Sĩ.

Tôi dịu dàng:

_Mình chỉ nên bắn khi cần bắn.

Tôi muốn người lính Quân Y chỉ chiến đấu để tự vệ. Hơn nữa tôi không muốn nhìn một người chết, dù kẻ đó là kẻ địch, vì loạt đạn bắn để thông nòng của một y tá. Hai tên du kích chạy xa dần tầm súng của chúng tôi. Có lệnh ngưng tác xạ. Binh sĩ bắn không trúng chửi thề ầm cả lên. Tôi bổng thấy hai chiếc trực thăng võ trang lao xuống hướng hai tên du kích, chờ mãi không nghe bắn. Một lát được tin hai tên du kích bị trực thăng vờn cho mệt rồi đáp xuống bắt sống cả hai. Tôi khen thầm mấy tay phi công Mỹ này chịu chơi thiệt.

Cánh quân tiến vòng lên phải. Hai chiếc phản lực bất thần xuất hiện trút bốn quả Napalm xuống một bờ làng có lũy tre bao bọc rồi biến mất. Lữa khói bốc ngùn ngụt giữa trưa nắng ráo. Chắc phải chiếm xong mục tiêu đó rồi mới dừng quân. Qua máy tôi gnhe tiếng ông Tiểu Đoàn Phó ra lệnh hai đại đội 61, 62 giàn hàng ngang tiến vào làng. Muốn vào làng phải qua một cánh đồng trống. Tôi thấy bốn khinh binh hiện ra ở bên này mé bờ ruộng, tiến hàng ngang, mỗi người cách nhau chừng mười thước, súng AR.15 tì hông. Họ chạy khum khum từng chặn giữa cánh đồng như những con thỏ vừa tung tang vừa nghe ngóng động tĩnh. Họ đến gữa đồng, rồi hai phần ba cánh đồng. Bỗng một loạt AR. 15 xạch.. xạch..xạch vang lên. Bờ làng xủi bụi. Tôi thấy một người bận áo nâu từ dưới đất nhô lên, văng mình chạy. Một loạt AR. 15 thứ hai, bóng người khựng lại từ từ ngã. Một khinh binh lẹ làng nhảy lên vớt cây súng từ tay tên địch đang ngã. Có tiếng reo đằng sau lưng tôi:

_Thằng nào đoạt súng chì quá ta!

Cảnh tượng rõ mồn một xảy ra cách chổ tôi đứng không đầy ba trăm thước. Bốn khinh binh nhảy lên bờ chạy rẽ quạt, bắn xối xả vào các lùm cây trước mặt. Binh sĩ 61, 62 tràn nhanh qua cánh đồng. Không nghe tiếng súng đich. Đại đội chỉ huy được lệnh tiến. Chúng tôi theo con đê ruộng vào làng. Đi qua chổ tên địch vừa bị bắn hạ, tôi tần ngần nhìn cái xác chết. Tên du kích chừng hai mươi tuổi, có nước da vàng bủng của người sốt rét, đầu bị bắn vỡ nát, óc máu đổ lênh láng. Những đám cháy hắt hơi nóng hừng hực. Khói đen quyện lấy cả một vùng. Ba xác du kích chết thui, tay chân đứt lìa tấp dưới một lùm tre đang bốc cháy, nổ lốp đốp. Trên không, trực thăng im tiếng tự bao giờ. Dừng quân dưới bóng mát của mấy cây cổ thụ. Hai giờ chiều vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ” một số binh sĩ lén ăn vội cơm. Tôi đến gặp ông Tiểu Đoàn Phó hỏi tình hình. Ông cho tôi hay ông đề nghị với ông Chiến Đoàn Trưởng nên rút ngay thay vì ba giờ như đã định. Lui quân muộn trong vùng đất địch sẽ bất lợi.

_Bác Sĩ ăn cơm chưa?

_Chưa, đói muốn xỉu luôn đây Đại Úy. Lúc sáng không ăn gì cả.

_Tôi có lót dạ một đĩa cơm rang nên chịu nổi.

Người lính mang máy thông báo lệnh của Chiến Đoàn: năm phút nửa di chuyển. Ông Tiểu Đoàn Phó nói với tôi: “Bác Sĩ có mệt lên M113 ngồi nghỉ cho khỏe. Lui quân chắc cũng không có gì cần đến Bác Sĩ”. Tôi trả lời không sao, tự ái không cho phép tôi nhận lời. Tôi không mệt chỉ đói: bao tử chỉ toàn nước trà, nước dừa nên bụng cồn cào khó chịu. Đoàn quân di chuyển nhanh. Những con “cua” rãi ra bốn phía bao bọc đoàn quân. Ra đến con đường đất, tôi gặp hai người đàn ông gánh võng một bà cụ già bị thương. Binh sĩ dặn họ đứng chờ tôi. Bà cụ bị đạn xuyên qua ngực trổ một lổ ra lớn bằng cái bát đằng sau lưng. Tôi cho y tá băng kín vết thương và chích thuốc. Muốn truyền cho bà một chai máu khô nhưng không thể được, không có lệnh dừng quân. Binh sĩ Đại Đội vượt qua Trạm Cứu Thương gần hết, chỉ còn Đại Đội 64 bọc hậu. Ông y tá trưởng lo lắng hỏi tôi:

_Làm thế nào Bác Sĩ?

Tôi đang bối rối. Lòng nhân đạo, lương tâm nghề nghiệp của tôi lúc này không thể dùng để yêu cầu Bộ Chỉ Huy dừng quân xin trực thăng di tản một thường dân trong khi các cấp chỉ huy đang cần rút quân nhanh ra khỏi vùng đất địch. Tôi cho lệnh Trạm Cứu Thương di chuyển rồi quay sang nói với hai người đàn ông:

_Ráng gánh bà cụ ra đường quan, tôi sẽ xin phương tiện đưa ra Qui Nhơn.

Hai người đàn ông bằng lòng theo chúng tôi. Tôi mong bà cụ còn sống khi về đến điểm xuất phát. Những nạn nhân vô tội khiến tôi buồn chán. Buồn chán không có nghĩa hèn nhát. Tôi không chạy trốn chiến tranh, tôi đang đối diện với nó. Tôi muốn cuộc chiến ngày càng khốc liệt, càng rộng lớn. Có khốc liệt có rộng lớn chiến tranh mới mau kết thúc; có xương thành núi, máu thành sông thì những kẻ sống sót sau cuộc chiến này mới biết nắm chặt hòa bình trong tay.

Chúng tôi đang bắt kịp Đại Đội Chỉ Huy đang nghỉ tại chổ ở lưng chừng dốc đồi. Một đám tù binh chừng ba mươi người dồn ở một góc. Gần phân nửa bị trói: đó là những du kích bị bắt tại trận. Những người không bị trói là tình nghi. Người Hạ Sĩ Quan dẫn đến tôi khám một tình nghi bị thương ở ngón tay trỏ. Hai đốt ngón tay bị dập nát. Người này núp dưới hầm kêu không lên, một binh sĩ dộng xuống một quả lựu đạn. Không hiểu sao quả M.26 chỉ gây cho anh ta vết thương nhẹ thế. Lúc di chuyển, Trạm Cứu Thương đi sau đám người bị bắt. Chúng tôi vượt trở lại những ngọn đồi đất. Một tốp đàn bà, con nít tụ tập từ bao giờ đứng ở mé đường nhìn mặt những người bị bắt. Giữa những khuôn mặt tầm thường quê mùa tôi bỗng thấy hiện ra một nhan sắc tuyệt vời. Người con gái chừng hai mươi tuổi, chếc áo cụt nâu làm nổi bật làn da trắng, khuôn mặt phảng phất vẽ tây phương. Tôi không muốn tin nơi thôn dã này có một thiếu nữ đẹp như thế. Bước chân chúng tôi như bị một ma lực nào làm chậm lại. Tôi bắt gặp cái nhìn của nàng hướng về người đàn ông bị thương ở ngón tay. Tôi thấy hai người khẽ gật đầu với nhau. Người con gái chợt thấy tôi theo dõi, vội nhìn lãng đi nới khác. Người đàn ông cúi nhanh mặt xuống. Chúng tôi đổ đồi băng qua một đồng lúa. Tôi nghĩ vẫn vơ về người con gái: nếu nàng là một cán bộ Việt Cộng, thì sắc đẹp ấy quả là một thứ khí giới nguy hiểm. Đã xảy ra mấy vụ mỹ nhân kế chết người ở Tam Quan. Ba giờ rưỡi chiều, chúng tôi đi như chạy trên con đường mòn. Tôi ước chừng mới nửa đường về. Binh sĩ đã thấm mệt, một số ngồi thở ở các gốc dừa. Hàng ngũ có vẽ hỗn độn. Toán y tá của tôi rơi rớt đi đâu hết. Hai chân tôi bước như cái máy. Tôi có cảm tưởng nếu dừng lại, tôi sẽ không thế nào đứng dậy được nửa. Tôi đi lạc sang Đại Đội 61 ở mặt phải. Tôi theo ông Đại Đội Trưởng 61 thất thểu băng qua một đồng nước cạn. Ra đến giữa đồng, bốn năm phát súng trường từ mé làng bên phải bắn sang chúng tôi. Đại liên trên M.113 tức tốc quạt mấy tràng trả lời. Quá mệt, chúng tôi cứ lửng thửng đi cho hết cánh đồng. Khi tôi bắt đầu thấy chóng mặt, khó thở, hai bàn tay co rút, môi tê run, thì con đường xe lửa chờn vờn hiện ra. Tôi bị chứng thiếu chất vôi trong máu. Mỗi lần sốt nặng hay tháo mồ hôi nhiều, thì lên cơn co giật y như người bị động kinh. Về đến chổ đóng quân tôi xỉu. Đám y tá quấn quít đỡ tôi vào nhà, xoa dầu nóng cùng người. Mười phút sau khi chích một mũi Calcium và uống hết một ly sữa lớn, tôi hoàn toàn tỉnh táo trở lại, nhưng thân thể rã rời. Dân làng khiêng đến Trạm Cứu Thương hai thanh niên bị đạn. Tôi nằm trên võng nhìn các vết thương: một bị đứt lìa cánh tay trái, một bị gãy nát ống chân phải. Tôi cho buộc garrot, bó bất động và truyền huyết tương. Tôi yêu cầu Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn xin trực thăng di tản. Tôi sực nhớ bà cụ bị thương ở ngực, ông y tá trưởng cho tôi biết bà cụ đã chết giữa đường và người nhà đã gánh trở về.

_Bà cụ cũng già quá rồi.

Tôi nói như để biện minh cho sự thiếu sót bổn phận của mình. Dù ngoài ý muốn, nhưng vẫn là thiếu sót. Đêm hôm ấy du kích về bắn quấy rối đến năm lần. Tiếng súng nghe hằn học căm thù. Tôi nghĩ đến quả mìn, những trái lựu đạn của đich chôn vội, gài vội đêm nay trên đường đi. Tôi nghĩ đến những người đàn bà sáng mai ra chợ sớm, những chiếc xe lam chở người buôn bán. Họ sẽ là nạn nhân. Tôi nghĩ mỗi lúc một nhiều về những thảm họa, nỗi thống khổ mà người dân bên này, bên kia phải gánh chịu trong một cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng. Vào một lúc tôi chợt nhận thức: để có đủ can đảm chịu đựng cuộc chiến tranh này tốt hơn không nên nghĩ gì cả.

Thử lửa

Trang Châu/ typing & Post by Sơn râu 19 July 20223

Vietmessenger

Chúng tôi trình diện Đại Dội Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù trước một ngày Bộ Tư Lịnh tung năm Tiểu Đoàn giải tỏa vùng Tam Quan, Bồng Sơn. Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày 4 tháng 2 năm 1966, mùng bốn Tết. Chúng tôi có năm Tiểu Đoàn để đáo nhâm chức vụ Y Sĩ Trưởng: ba tiểu đoàn cũ: 1,6,7 và hai tiểu đoàn tân lập: 2,9. Thiếu Tá Y Sỹ Trưởng thỏa thuận để chúng tôi chọn lựa với nhau.

Trong năm chúng tôi Tín, Đoàn, Nghị đã lập gia đình. Bá và tôi độc thân nên tình nguyện đi xa. Tôi chọn Tiểu Đoàn 6 hậu cứ ở Vũng Tàu, Bá về Tiểu Đoàn 7 hậu cứ Biên Hòa. Tín chọn Tiểu Đoàn 1, Đoàn về Tiểu Đoàn 2; Nghị về Tiểu Đoàn 9. Hai Tiểu Đoàn tân lập đang ở thời kỳ huấn luyện, sáu tháng nữa mới xuất quân.

Ngày hôm sau cuộc hành quân Thần Phong 11 khai diễn. trong năm Tiểu Đoàn tham dự có Tiểu Đoàn 6 của tôi. Tiên đoán sẽ đụng độ lớn mà chúng tôi thì quá mới mẻ, thiếu kinh nghiệm nên Thiếu tá Y Sỹ Trưởng quyết định chiếm xong mục tiêu mới cho bàn giao chức vụ. Ông cũng tháp tùng Chuẩn Tướng Tư Lệnh trong cuộc hành quân. Trong khi chờ lịnh đáo nhậm hành quân chúng tôi làm việc trong bịnh xá Đỗ Vinh và sáng sáng đi nhảy bồi dưỡng.

Tôi vừa ăn cái Tết từ giã đời sinh viên, giã từ cuộc sống thành thị. Cũng có mai nở, pháo nổ, bánh chưng, dưa hấu, nhưng lòng tôi hình như không có Xuân. Tôi mang tâm hồn tiếc nuối quãng đời vô tư lự đã qua. Còn nhớ đêm cuối cùng sau bữa tiệc chia tay do Bác Sĩ Giám Đốc khoản đãi, chúng tôi trở về bịnh viện Đô Thành phá phách, rượt đuổi các cô y tá trực đến hai ba giờ sáng. Tôi không cho cử chỉ của các bạn tôi và của tôi là hành động gỡ gạc cuối cùng, tôi nghĩ cử chỉ đó biểu lộ tất cả sự thèm tiếc xót xa nhất chuỗi ngày tươi vui vừa chấm dứt. Bây giờ trách nhiệm đè nặng trên vai, tôi giật  mình lo sợ sự trưởng thành của  mình.

Bá cáo tổn thất hai ngày đầu của cuộc hành quân là mười lăm tử thương, ba mươi sáu bị thương, trong số có ông Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 và ông Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3. Trận chiến kéo dài đến ngày thứ ba, các mục tiêu mới được thanh toán. Công điện khẩn gọi tôi ra mặt trận thay thế Bác Sĩ Cảnh bị thương ở chân phải về điều trị. Cảnh cho tôi biết tình hình đã yên, đến giai đoạn bình định và dân sự vụ. Một giờ sau khi bàn giao chức vụ chiếc C.130 đưa tôi cùng một toán binh sĩ Dù ra tăng cường đi Qui Nhơn. Tôi ngồi lạc lõng giữa những khuôn mặt sạm đen đang tò mò nhìn tôi.

Bộ đồ hoa mới tinh, nước da trắng trẻo cộng với tính trầm lặng khiên tôi có bộ mặt một tân binh còn rụt rè trận mạc và e ngại phong sương. Tôi không nghĩ đến những ngày sắp tới. Trong tiếng động cơ rầm rì ở cao độ, dưới ánh đèn mờ nhạt của lòng tầu, tôi ngồi ôn lại quá khứ. Suốt quãng đời niên thiếu, những lúc tôi sung sướng, yêu đời nhất lại là những lúc tôi được một mình mơ mộng. Con người tôi không thể tìm thấy hạnh phúc, dù ngắn ngủi với một cuộc sống bình thường an phận được. Phải đi, phải khổ tôi mới thấy đời sống có chút ý nghĩa. Nếu có một lý do nào để giải thích sự lựa chọn của tôi thì lý do mơ hồ nhất lại là lý do xác đáng nhất.

Tôi ngủ lại Quân Y Viện Qui Nhơn một đêm, sáng hôm sau Đại Úy Lộc Sỹ Quan hành chánh Quân Y Dù đưa tôi dạo quanh thành phố kiếm chổ ăn sáng. Dấu vết ngoại nhân in hằn lên mảnh đất quê hương. Nó cần thiết nhưng nó cũng làm đau lòng, dễ ngộ nhận. Chiếc trực thăng Mỹ đưa tôi ra Bồng Sơn lúc hai giờ chiều. Một chiếc Jeep Hồng Thập Tự đưa tôi về Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đóng ở Đề Đức cách phi trường Bồng Sơn độ ba cây số. Sau khi trình diện Thiếu tá Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn tôi được hướng dẫn lên trình diện Chuẩn Tướng Tư Lịnh.

Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đóng trên một ngọn đồi; ngọn đồi bên kia đường là bãi đáp trực thăng. Xa hơn tý nữa là giàn đại bác Tân Tây Lan chốc chốc ì ầm nhã đạn. Con đường đất gồ ghề bốc bụi đầy trời vì những quân xa thường xuyên qua lại. Đã ngửi thấy mùi chiến tranh. Tôi ngủ đêm ở Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn. Trong câu chuyện buổi cơm chiều ông Thiếu Tá có vẽ bằng lòng sự tình nguyện ra Vũng Tàu của tôi. Tôi không thích Vũng Tàu lắm, nhưng muốn xa Sài Gòn ít lâu.  Người yêu tôi ở Sài Gòn, nhưng tôi vẫn muốn đi xa, xa để xem mình nhớ đến mức nào… Sáng hôm sau tôi xuống Tiểu Đoàn 6 nhậm chức Y Sỹ Trưởng. Tiểu Đoàn 6 đóng cách Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn chừng năm cây số, trong làng, dưới những bóng dừa xanh mát.

Dưới quyền chỉ huy của tôi là Trung Đội Quân Y gồm mười sáu y tá và tám cáng viên.  Tuổi lớn, tuổi nhỏ lẫn lộn. Tôi đến họ thật cởi mỡ. Tôi muốn hòa mình vào đời sống mới, còn bở ngỡ nhưng chắc rồi sẽ quen đi. Tiểu đoàn đóng ở Hoài Sơn được năm hôm. Ở giai đoạn bình định này công tác duy nhất của Tiểu Đoàn Dù là làm dân sự vụ. Các trạm cứu thương khám bịnh, phát thuốc, chích ngừa, băng bó thương tích, gắp mảnh bom đạn cho đồng bào. Những nạn nhân vô tội làm tôi đau lòng: một cậu bé mười bốn tuổi bị mãnh bom cắt ngang xương sống lưng làm bại liệt hai chân, bò lết lâu ngày đít và đầu gối thối dần, một gia đình mười người bị đạn đại bác chỉ còn sống sót một cô gái mười sáu tuổi và một em bé trai một tuổi bị mảnh đạn ghim vào lưng. Tôi gắp mảnh đạn ra, vết thương sẽ lành nhưng hai chị em sẽ sinh sống ra sao? Những nạn nhân trẻ thơ kia sẽ là môi trường tuyên truyền hữu hiệu của đối phương. Tôi nghĩ, để gây lại niềm tin trong lòng dân chúng ở đây đòi hỏi những gì khác hơn chiến thắng.

(Kiểm duyệt bỏ hai giòng)

Cảnh ngộ éo le kia nói lên tất cả sự mai mỉa, phi lý của cuộc chiến đẫm máu này. Công tác y tế giúp chúng tôi gần dân chúng hơn, ban đầu họ còn e ngại, dần dần họ trở nên cởi mỡ và biết ơn. Tôi cho tranh thủ nhân tâm không phải là vấn đề khó, khó ở chổ có người không biết tranh thủ nhân tâm. Ngoài giờ khám bịnh tôi chỉ còn biết chui vào lều nằm nhớ Sài Gòn và ngủ. Gặp Trung Úy Châu một Sỹ Quan rất vui tính, ông hỏi tôi:

_ Bác Sĩ đi lễ bên nào?

Tôi cười trả lời:

_ Đi bên này sợ mất lòng bên kia nên tôi đi chơi đây.

Tôi được liệt vào hạng chịu chơi ngay. Chúng tôi kéo nhau ra chợ Tam Quan ăn bún. Câu chuyện thật hứng thú mà chỉ xoay quanh một vấn đề: tiền tuyến với hậu phương. Người hậu phương bị chúng tôi chỉ trích nhất là người đàn bà. Hình như chúng tôi lên án họ không chung tình, nhưng rồi chúng tôi thông cảm hoàn cảnh đơn chiếc của những đàn bà có chồng, có người yêu đi chinh chiến. Chúng tôi đồng ý một phần lớn không phải lỗi họ, lỗi ở chiến tranh đã làm một số chúng tôi không về, làm chúng tôi không đáp ứng được những gì người đàn bà mong muốn để họ sống trong âu lo, thất vọng và đau khổ. Cuối cùng chúng tôi kết luận: người đàn bà ngoại tình mà còn biết che dấu là người đáng được tha thứ vì ít ra họ còn biết nể sợ…!

Theo tin không chính thức thì mười lăm tháng hai sẽ có đơn vị bạn ra thay thế. Hôm nay mười ba tôi nghĩ chậm lắm là mười bảy Tiểu Đoàn sẽ về hâu cứ. Cuộc xuất trận đầu tiên của tôi như thế không có gì gây cấn cả. Tôi vẫn ước ao lần thử lửa đầu tiên của tôi phải là một trận đánh lớn và là một chiến thắng lớn. Những buổi chiều hôm đó tôi được mời lên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn họp hành quân. Tôi nhận tin trên trong thích thú và hồi hộp. Tôi tập họp toán y tá căn dặn chuẩn bị thuốc men và đi nghỉ thật sớm để lấy sức. Chúng tôi được đanh thức lúc ba giờ sáng. Trời rét căm căm. Cơm nước, cà phê xong xuôi, bốn giờ nhổ trại. Lặng lẽ chúng tôi tiến hàng một ra đường. Một đoàn G.M.C. chờ đón. Bốn giờ ba mươi xe chuyển bánh. Tôi ngồi chung cabin với ông Tiểu Đoàn Trưởng. Chúng tôi không ai nói với ai một lời. Vượt quãng đường chừng năm cây số, rẽ trái vào con đường đất gồ ghề xe đổ chúng tôi xuống ven cánh làng nằm dưới chân một ngọn đồi. Ông y tá trưởng cho tôi biết làng tên Gia Hựu, là chiến trường đẫm máu. Cố thủ trong những giao thông hào kiên cố, địch chống trả mãnh liệt. vào ngày thứ ba sau trận mưa bom kéo dài hàng giờ. Tiểu Đoàn 6 Dù mới chiếm nổi mục tiêu. Một trái 60 rơi trúng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn làm bị thương Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó, Cố Vấn Trưởng. Trong khi chạy lên săn sóc thương binh Bác Sĩ Cãnh bị tiếng nổ của một quả 81 ly rơi cách mấy thước hất té nhào xuống hố làm ông trặc chân nặng. Cảnh làng thật thê lương, chỉ còn tro tàn gạch vụn, những thân dừa cháy đổ ngỗn ngang. Trời mưa lâm râm. Tôi ngồi trú mưa dưới mái tranh một ngôi nhà đã sụp mất một nửa. Ông Y Tá Trưởng ngồi cạnh tôi, tháo chiếc nhẫn ở tay cho vào túi, nói với tôi:

_Bác Sĩ ạ, lần trước trời cũng mưa lâm râm như thế này, tôi cũng tháo nhẫn cho vào túi và đã đánh nhau to.

Tôi hiểu ông muốn nghĩ gì: Lần này trời cũng mưa lâm râm, ông cũng tháo nhẫn cho vào túi và chắc sẽ đánh nhau to. Tôi không cười sự dị đoan của người Y Tá Trưởng già vì một lẽ cũng rất dễ hiểu tôi cũng hay tin nhảm như vậy. Suốt tuần trời nắng ráo, đúng vào hôm xuất quân trời mưa. Điềm xấu, tôi nghĩ thế. Khoản bảy giờ sáng cánh quân Đại Đội Chỉ Huy có trạm cứu thương đi theo được lịnh di chuyển. Chúng tôi tiến hàng một theo con đường mòn chạy quanh bờ làng, tôi hiểu vì đâu Tiểu Đoàn 6 phải mất ba ngày tròn mới chiếm nổi mục tiêu. Bất chợt tôi lo lắng: nếu mục tiêu cuộc hành quân này cũng có một giao thông hào tương tự? Cánh quân dừng lại. Tôi vào trú mưa trong một ngôi nhà tranh. Trong nhà có hai thiếu phụ và hai đứa bé chừng năm và bảy tuổi. Chúng tôi dừng lại đây khá lâu. Đã chín giờ hơn. Người y tá mang cho tôi một đĩa cơm. Hai đứa bé nhìn tôi ăn thèm thuồng. Cơm có thịt kho, trứng gà, tôi vẫn nuốt không trôi. Tôi trao cho đứa bé lớn phần ăn còn lại. Chúng nó ăn ngấu nghiến ngon lành.
Ngoài đường mòn dân làng từ phía dưới bồng bế gồng gánh, dắt trâu bò tiến ngược trở lên. Tôi nghĩ thầm dân mà tản cư thì chắc chắn có địch. Cơn mưa đã dứt. Có tiếng động cơ mỗi lúc một gần, tôi nhận ra tiếng máy thiết vận xa M.113. Một giờ trưa được lịnh di chuyển. Tôi biết giờ phút gay go bắt đầu. Đi hết con đường mòn hiện ra trước mặt tôi mấy chóp làng có dừa bao bọc nằm rãi rác như những hòn cù lao giữa biển lúa xanh mênh mông.

Súng trên các M.113 bắt đầu khai hỏa dọn đường tiến quân. Chen lẫn trong những tràng liên thanh, những tiếng nổ lớn của pháo binh yểm trợ. Một Đại Dội bên tay phải tôi bang qua cánh đồng bọc trở lên. Đại Đội 60 tiến theo sau. Bùn ngập tới đầu gối. Tôi phóng tầm mắt quan sát. Đằng xa hai mặt các M.113 sắp hàng ngang từng bốn chiếc tiến bắn không ngừng vài hai ngôi làng nhỏ. Từng hàng lửa đỏ rực nối tiếp nhau mất hút trong rặng dừa. Đại Đội chỉ huy tiến vào mé trái một ngôi làng thứ ba. Sau dẫy làng là những ngọn đồi. Tiếng đại bác bỗng nổ dồn dập, một trong những ngọn đồi bốc khói xám xịt. Một lúc một mặt quân được trực thăng trút xuống án ngữ trên ấy. Đại Đội chỉ huy dừng lại ở bờ ruộng cách làng chừng năm trăm thước. Ở hai làng trên các M.113 tiến sát đến bờ làng. Tiếng súng vẫn ròn rã, thỉnh thoảng chen lẫn vài tiếng “tắc cù” chát chúa. Tiếng đạn xé gió nghe đến rợn người. Lúc này tôi hơi sợ. Nhưng khi nhìn toán y tá thấy sắc mặt người nào cũng bình tĩnh tôi yên tâm. Cánh quân được lịnh tiến vào làng. Tôi lom khom chạy, cố vượt một khoảng trống để bấu vào bờ làng. Tiếng một người y tá phía sau dặn nhỏ tôi:

_Bác Sĩ khom người đầu sẽ ngay tầm đạn của địch nguy hiểm; Bác Sĩ cứ thẳng người chạy, lỡ có trúng cũng trúng từ chân trở xuống.

Tôi đã nghe theo lời dặn, dù sao kinh nghiệm chiến trường tôi chưa có gì. Tôi đặt chân lên bờ làng sau khi qua một con suối. Tựa lưng vào một gốc dừa tôi ngồi thở, mắt hướng về phía mịt mù lửa đạn. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy những chiếc thiết vận xa vừa bắn vừa lùi, bọt nước tung tóe lên chung quanh.

_Chúng nó có cả 57!

Tiếng một binh sĩ ngồi quay lưng lại với tôi. Trúng phải đại bác 57 ly thiết vận xa sẽ bốc cháy. Đoàn “cua” lùi mãi, lùi mãi ngưng bắn chuyển thành hàng dọc rồi nằm im. Các loại súng vẫn nổ tứ phương. Đang phân vân không biết trận chiến ngã ngũ ra sao thì nghe trên không có tiếng ù ù. Lòng tôi khấp khởi mừng. không trông thấy phi cơ nhưng tôi nghe hình như nó đang chúc xuống. Tiếng gió ào ào từ cao bổ xuống đầu chúng tôi, tiếp đó một tiếng ầm ghê gớm nổi lên. Tôi không kịp có phản ứng nào.

_Chúng nó canh 81!

_Không phải, “rốc kết” của mình!

_Thả khói vàng! thả khói vàng! mau lên. 

_Bác Sĩ ơi, em bị thương.

Tôi quay đầu lại. Người binh sĩ ngồi cạnh tôi ban nảy nằm ngữa người, một tay ôm cổ. Tôi gỡ tay anh ta ra., một giòng máu nhỏ chảy xuống vai. Vết thương nhẹ. Tôi bảo anh nằm yên đó rồi chạy về phía xảy ra tiếng nổ. Quả “rốc kết” rơi xuống suối. Đại Đội bọc hậu có bảy người bị thương. Chỉ có một người nặng: mảnh ghim nát cả chân phải. Tôi cho bó bất động, chích morphine và truyền một chai dextran. Toán y tá của tôi làm phận sự cấp cứu thông thạo và lanh lẹ. Chúng tôi khiêng các thương binh để nằm dưới hiên một ngôi nhà tranh chờ di tản. Lát sau hai chiếc khu trục trở lại, lần này “rốc kết”, bom xăng đặc rơi đúng mục tiêu. Tiếp đến hai trực thăng võ trang thay nhau bắn phi đạn và đai liên. Sau hai đợt oanh tạc nhiều đám cháy đỏ rực bốc lên. Cảnh tượng trông thật khốc liệt. Hai chiếc trực thăng vừa bay khuất, đoàn thiết vận xa dàn ngay hàng ngang tấn công trở lại. Nhìn ra cánh đồng tôi thấy vô số nón sắt nhấp nhô trong đám lúa. Đay là đợt tấn công quyết định, nếu không chiếm được mục tiêu chắc phải rút vì trời đã xế chiều.

Tôi trở lại xem chừng tình trạng các thương binh. Nửa giờ sau tôi gặp ông Đai Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy. Ông cho hay đã chiếm được mục tiêu I, đang tiến chiếm mục tiêu II và III. Ông cũng cho tôi biết một tin buồn; Trung Úy Vân Đại Đội Trưởng 64 đi theo thiết vận xa đã tử trận. Nghe tin tôi bàng hoàng cả người. Tôi chỉ gặp trung Úy Vân một lần, hôm tôi đến nhậm chức. Đại Đội ông đóng xa Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nên tôi không có dịp tiếp xúc thêm. Không ngờ buổi gặp gỡ lần đầu ấy lại là lần cuối cùng. Tôi cố nhớ mãi mà không sao hình dung nổi khuôn mặt người bạn đồng đội vừa ngã xuống. Trời bổng dung u ám, cơn mưa lại bắt đầu. Nhìn ra đồng ruộng tôi thấy bốn binh sĩ khiêng cáng một người bì bõm lội về phía tôi.

_Ai vậy?

_Dạ Thiếu Úy Toàn, Đà Lạt mới ra.

Thấy cả ngực ông băng kín, tôi hỏi một trong bốn người khiêng cáng:

_Bị thương ở đâu?

_Dạ nghe ông y tá Đại Đội nói bị đạn xuyên qua vai.

Mạch nhanh và yếu, người sĩ quan trẻ tuổi mắt lờ đờ, trăn trở người muốn kiếm một thế nằm cho đỡ đau, dễ thở. Ông luôn miệng gọi tên một người con gái. Tôi cho truyền một chai huyết thanh có pha thuốc chống xúc kích , thuốc trợ tim, thuốc điều hòa hô hấp. máu vọt ở hai lổ đạn vào và ra. Xuất huyết trong lồng ngực. Để tránh biến chứng do không khí tràn vào lồng ngực, tôi khâu sống bít hai lổ đạn. Hết chai huyết thanh tôi cho truyền tiếp chai huyết tương. Người y tá chích bốn năm lần vẫn không vào máu, các tĩnh mạch bị tắc nghẽn. mạch nhanh yếu không đếm được. Tôi phải dùng kim lớn đâm vào tĩnh mạch đùi để truyền nước. Một xác chết gói trong Poncho được đưa đến trạm cứu thương. Tôi không biết mặt người chết mà tự nhiên lòng căm hờn phừng phừng trong tôi. Ở giây phút này tôi hiểu thế nào là thù hận. Tôi lầm bầm chửi thề mấy câu.

Cánh quân được lịnh di chuyển. Phải di tản thương binh theo. Chỉ có hai người đi được, ba phải dìu, hai phải khiêng cáng, một xác chết phải gánh theo. Một số binh sĩ được huy động giúp di tản. Tôi phụ khiêng cáng ông Thiếu Úy Toàn nằm. Trông ông co quắp, rên rĩ thật tôi nghiệp. Quần áo ướt dầm làm tôi lạnh run. Súng vẫn nổ nhưng thưa và xa dần. Trời đã tối hẳn, mưa vẫn không ngừng. Chúng tôi khó nhọc theo đuôi toán quân. Bờ đê ruộng bùn trơn hết người này trợt chân đến người khác. Hết bờ đê đến một căn nhà sàn. Trạm cứu thương được chỉ định đóng đêm tại đó. Đại Đội 64 ngoài Trung Úy Vân còn thêm bảy binh sĩ thiệt mạng, hai bị thương. Phía Tiểu Đoàn 5 Dù sáu binh sĩ tử thương, ba bị thương. Bên Thiết Vận Xa hai xạ thủ đại liên tử trận, năm bị thương. Tất cả thương binh được trạm cứu thương Tiểu Đoàn 5 săn sóc. Đã chín giờ đêm, tiếng súng im hẳn, mưa cũng tạnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn yêu cầu tôi báo cáo tổn thất và tình trạng thương binh. Trong báo cáo tôi nói rõ tình trạng khẩn cấp của Thiếu Úy Toàn. Ông sẽ không qua khỏi đêm nay nếu không được di tản. Và thật là một niềm vui sướng cho tôi khi biết tin sẽ có trực thăng đến tải thương. Tôi huy động nhân viên đưa các thương binh ra cánh đồng, bãi đáp. Gặp Bác Sĩ Cơ của Tiểu Đoàn 5 Dù. Chúng tôi vui vẽ bắt tay nhau, phụ lực khiêng cáng. Chúng tôi sắp thương binh theo thứ tự ưu tiên di tản.

Ba chiếc trực thăng trong hai đợt đã cho bác sĩ Cơ và tôi trút được mối lo canh cánh bên lòng. Còn lại mười mấy cái xác phải chờ đến sáng mai. Tôi trở về căn nhà, cởi giầy, rửa chân, ăn cơm tối. Mười một giờ đêm. Trời lạnh buốt. Tôi nằm trên tấm ván, không mùng màn. Một ngày máu lửa đã cho tôi cảm nghĩ gì? Điều tôi ước mong đã đến; có đụng độ lớn, có chiến thắng. Nhưng trong vinh quang tôi thấy buồn hơn vui. Chiến tranh ở giờ phút này, trong tư tưởng tôi, không còn là một ván cờ như tôi thường ví. Quân cờ bị loại là quân cờ vất đi, nhưng những cái xác nằm kia còn liên hệ ảnh hưởng đến biết bao nhiêu người. Tôi tin tôi đủ quả cảm, thừa tận tụy, để làm tròn phận sự một y sỹ tiền tuyến nhưng tôi bắt đầu ghê tởm cảnh bằn giết vô ích này…

Nếu hôm xảy ra trận đánh là một ngày căng thẳng tinh thần, thì hôm sau là một ngày hành xác. Tờ mờ sáng đã lo tải xác ra bãi đáp. Rồi theo Tiểu Đoàn tảo thanh vùng mới chiếm. Quanh làng xác địch còn nằm phơi trong các hố cá nhân. Họ mặc đồng phục kaki vàng. Theo lời khai của một Trung Úy tù binh thì họ thuộc Sư Đoàn Sao Vàng. Tiểu Đoàn này đóng ở Hy Văn đã ba tháng nay. Không có bóng một người dân. Cảnh làng tan nát. Lục soát đến trưa không có gì. Về vị trí cũ, vừa nuốt được miếng cơm, lại có lịnh trực thăng vận. Gặp tôi, ông Tiểu Đàon trưởng nói: “Đi gồng tí chơi, Bác Sĩ”. Chúng tôi nhảy xuống ngọn đồi án ngữ phía sau làng. Từ đó men theo con suối tiến ngược trở xuống. Pháo binh được gọi bắn vào những điểm khả nghi. Không gặp địch. Chúng tôi trở về điểm xuất phát lúc năm giờ. Tính cơm nước thì có lịnh rút. Chúng tôi băng rượu trở lại Gia Hựu. Chờ mãi không thấy xe đến đón. Có lệnh cuộc đổ bộ trong đêm tối. Mười giờ đêm mới đóng quân. Mệt mỏi, tôi ăn qua loa rồi leo lên võng nằm.

Trằn trọc suốt đêm vì lạnh và vì không quen nằm võng. Sáng hôm sau lại cuốc bộ về Hoài Sơn. Không biết tôi đã đi bao nhêu cây số, chỉ biết đôi chân mỏi vô cùng. Bây giờ đóng quân chờ ngày về. Một người đàn bà đứng tuổi đến mời tôi đi thăm bịnh cho con gái bà, đau đẻ đã một ngày một đêm vẫn không sinh được. Nhà bà ta ở ngoài vòng canh gác. Sau một phút lưỡng lự tôi cùng ba người y tá theo gót người đàn bà. Tôi khám người thiếu phụ và thấy cái thai nằm ngang nên không sinh được. Trường hợp này ngoài khả năng tôi. Chỉ còn cách đưa đi Qui Nhơn mổ. Tôi trở về xin xe đưa người thiếu phụ lên Đề Đức, rồi liên lạc với người Mỹ xin trực thăng. Họ rất sốt sắng. Chiếc trực thăng cất cánh mười lăm phút sau đó.

Buổi chiều trò chuyện với ông Tiểu Đoàn Phó, vị sĩ quan mà tôi có nhiều cảm tình. Ông thuộc mẫu người vui vẽ trong câu chuyện nhưng cứng rắn trong công việc. Tôi hỏi ông có bao giờ cảm thấy sự hy sinh của mình vô ích không. Ông trả lời nếu chiến đấu để bảo vệ một số người thì thật vô ích, nhưng nếu chiến đấu để bảo vệ miền Nam thì còn phải hy sinh chừng nào còn chiến tranh. Tôi lại hỏi ông, có bao giờ ông chán nản không? Ông đáp:

_Có, những lúc nhìn kẻ khác an nhàn thụ hưởng mà mình thì cực khổ.

Rồi ông tiếp:

_Nhưng khi nhìn xuống thấy lính chúng nó còn khổ gấp máy trăm lần mình thì tôi lại thấy mình đầy đủ quá.

Vô tình tôi phỏng vấn ông. Như để lái câu chuyện ông chỉ tay về phía một đám binh sĩ cười hỏi tôi:

_Đố bác sĩ biết hai đứa kia đang làm gì?

Nhìn theo ngón tay chỉ, tôi thấy hai binh sĩ đang ngồi dưới gốc dừa chăm chăm nhìn xuống đất. Một lúc có tiếng cười rồi một người lượm tờ giấy mà tôi đoán là tiền cho vào túi. Anh kia móc tờ giấy khác, xếp đôi bỏ xuống đất rồi cả hai chăm chăm nhìn. Đoán mãi không hiểu họ chơi trò gì tôi lắc đầu. Ông Tiểu Đoàn Phó cắt nghĩa:

_Chúng nó chơi trò con ruồi. Tờ giấy một đồng được xếp làm đôi, mỗi đứa một nửa. Con ruồi đầu tiên đậu lên tờ bạc nửa phía đứa nào đứa nấy ăn. Tâm hồn người lính thật bình dị họ như đã quên hết những gì đã xảy ra. Không cần tìm hiểu thắc mắc, tính toán. Đóng quân thì vui nghỉ; cầm súng là hăng say chiến đấu. Nhìn họ tôi thấy còn xa lạ. Cũng áo hoa, mũ đỏ, nhưng tôi nghĩ rằng phải còn lâu tôi mới

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

Vietmessenger – typing & Post by Sơn râu 18 July 2023

Khóa 68 Nhảy Dù.

Nhiều người hỏi tôi tại sao đi học Nhảy Dù? Với mỗi người câu trả lời của tôi mỗi khác. Với những thằng bạn “phòng trà” đang mở lớn mắt  nhìn tôi, tôi chỉ nhún vai trả lời: “nhảy twist, nhảy surf biết cả rồi, chỉ còn nhảy dù chưa biết, học cho biết”. Với những người lớn tuổi tôi đứng đắn trả lời tôi học nhảy dù vì tôi có ý định sẽ xin về phục vụ binh chủng Nhảy Dù. Với anh em trong tòa soạn Tình Thương tôi bảo dưới đất hết đề tài viết nên tôi đi kiếm cảm hứng trên không để làm thơ. Với những thằng bạn hay rũ tôi làm cách mạng, làm chính trị tôi nói trước khi làm cách mạng cho dân tộc hãy cách mạng bản thân đã. Cuộc cách mạng bản thân của tôi là đi học nhảy dù rồi về binh chủng dù đi hành quân. Tôi bảo với người này là vì tôi thích cảm giác mạnh, với người kia vì tôi muốn có phù hiệu nhảy dù mang ở ngực cho oai. Với một người con gái tôi bảo tôi buồn, tôi chán đời nên tôi liều, với một người con gái khác tôi nói đi Nhảy Dù sẽ được ở Sài Gòn như vậy gần nàng hơn. Vì tôi giận gia đình, vì có người chê tôi con trai mà trắng quá… Cho đến hôm nay đã hai mươi lần nhảy ra cửa phi cơ và đáp xuống đất bình yên tôi vẫn chưa tìm thấy một câu trả lời nào thích đáng để giải thích với chính lòng mình tại sao tôi đi học nhảy dù.

Trước khi nhập học phải qua một kỳ thi loại gồm mười hai môn thể thao thi trong hai buổi sáng. Buổi sáng thứ nhất chúng tôi thi tám môn gồm có:

  1. Nằm ngữa, một người giữ hai chân, hai tay chắp vào đầu, ngồi dậy, cùi chỏ tay này chạm đầu gối chân kia bốn mươi lăm cái, tính giờ. 
  2. Hít đất ba mươi cái.
  3. Đứng thẳng, đầu gối và chân chụm lại, hai tay đưa song song đằng trước ngồi xuống đứng lên sáu mươi cái.
  4. Barre fix hít mười cái, đánh đầu gối mưới cái.
  5. Mang nón sắt, vũ khí, lấy đà nhảy qua một hố hai thước. Nhảy càng xa càng nhiều điểm.
  6. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải, leo bảy thước giây bằng tay và chân.
  7. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải chạy một trăm thước, tính giờ.
  8. Vác một đồng đội chạy một trăm thước, tính giờ.

Chúng tôi cố gắng một cách uể oải. Môn leo giây chúng tôi bết nhất, không ai leo nổi năm thước. Vài chuyện vui vui đã xảy ra trong buổi thi sức đầu tiên này. Chuyện vui thú nhất phải là chuyện của Bá “điên”. Buổi chiều trước hôm thi thể thao Bá nói với tôi tối hắn đi ăn cưới một cô bạn gái. Tôi dặn hắn đừng ăn nhậu nhiều và nhớ về sớm nghĩ dưỡng sức. Đến giờ giới nghiêm không thấy hắn về, tôi nghĩ chắc hắn ngủ lại đêm ở Câu lạc Bộ An Đông. Sáu giờ sáng hôm sau tôi đến trại Hoàng Hoa Thám một mình. Năm phút trước khi thi thể thao Bá lù lù đến, mặt mày hốc hác tái xanh. Hỏi lý do hắn kể:

_Hôm qua tao uống đến ba ly Wishky nên ngà ngà say. Tao chếnh choáng lái Lambretta đến bót quận Năm nói nhân viên ở đó rằng: “Tôi biết tôi sắp say lái xe thế nào cũng xảy ra tai nạn, các ông cho tôi ngủ nhờ đếm nay ở đây hoặc cho xe đưa tôi về bịnh viện Đô Thành.” Họ đã để hắn ngủ lại, trông mặt mũi hắn bơ phờ ai cũng lo hắn không đủ sức thi. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người bốn môn đầu Bá được điểm tối đa. Trong khi chờ môn thứ năm hắn ngã xuống đất nôn mửa. Sau khi được tiếp sức mấy mũi thuốc khỏe Bá anh dũng cố gắng thi nốt bốn môn còn lại. Chuyện vui thứ hai là môn thi vác đồng đội chạy một trăm thước: bọn chúng tôi lớn con cả nên người này ngại vác người kia. Thấy toán bên cạnh có ba bốn chú tân binh vừa nhỏ vừa gầy anh em Quân Y nhào tới bắt cóc. Có chú bị bắt xâu tới bốn năm lần. Được các quan vác chạy, tuy bị xóc mệt các chú vẫn lấy làm khoái chí. Chuyện vui thứ ba là giọng nói của ông Trung Sĩ Trưởng Khóa. Ông người Nùng nên tiếng Việt của ông khá đặc biệt. Muốn cho mọi người chú ý ông hay hét lớn:

_ “Nghe chơ, nghe chơ”

Để dặn mọi người phải bỏ đồ nhiều trong túi vải đeo lưng, ông nói:

_Cho cái túi nó béo béo nghe chơ, không béo không phải là Nhảy “Rù” nghe chơ.

Buổi sáng thứ hai chúng tôi thi môn chạy bộ. Lần thứ nhất chạy tám cây số trong một giờ với túi đeo vai, vũ khí. Đây là cuộc thử sức chịu đựng và cố gắng. Chỉ độ mười lăm phút sau khi khởi hành đoàn người đã phân tán ra từng toán nhỏ cách nhau hàng trăm thước. Toán sau cùng hầu hết là Quân Y. Tôi sắp hạng áp chót trong toán này. Tôi chủ trương đi chớ không chạy vì có anh bạn Nha Sĩ Dù mách nước là chỉ cần lết về tới đích , đừng bỏ cuộc, đừng ngồi nhờ xe là được, trễ giờ cũng không sao. Độ một phần ba đường, gót và bàn chân tôi bắt đầu sưng đau; cái túi đeo vai đựng toàn giấy báo cũng bắt đầu thấy nặng; cây Carbin trở nên một khối sắt chĩu vai. Tuy khát tôi không uống nước chỉ ngậm chanh. Được nửa đường thì mất hút mấy toán đi trước, hai chân tuy rã rời đau nhức tôi bắt đầu cố gắng đi nhanh. Tôi tách dần toán cuối cùng. Đằng sau tôi mọi người hè nhau chạy, họ bắt kịp tôi, vượt qua tôi rồi dừng lại lững thững đi. Tôi bắt kịp họ, họ lại vượt qua tôi, cứ như thế ngót một cây số. Giận quá, tôi bắt đầu chạy, tôi bỏ xa toán sau và bắt kịp một toán trước. Tôi về đến đích mất tám mươi phút, người về chót mất chín mươi phút. Sau hai mươi phút nghỉ chúng tôi thi môn chạy một ngàn năm trăm thước tính giờ. Lần này tôi về giữa.  Cởi giầy ra hai bàn chân tôi nổi ba bốn cục bong bóng, gót chân phải bị trầy một vết lớn. Tôi ực liên tiếp một bi đông chanh muối, một chai bia lớn, một chai coca, rồi nằm duỗi người dưới một gốc cây gòn. Vào những lúc thân thể rã rời, đẫm mồ hôi, mệt thở không muốn nổi, tôi mới thấy giá trị của một làn gió mát, một bóng cây in đổ xuống, một nền đất phẳng phiu để ngã lưng.

Buổi chiều vào nghe kết quả vòng loại. Phía binh sĩ có mười người bị loại. Tất cả sinh viên Quân Y được chấm đậu. Thật tình mà chấm chúng tôi phải ít nhất năm người bị loại. Khóa học khai giảng ngay sáng hôm sau. Khóa 68 Nhảy Dù gồm có 37 sỹ quan và 120 binh sĩ. Thành phần đến thụ huấn có hai mươi lăm quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt, mười tám sinh viên Quân Y, hai Đại Đức Tuyên Úy, một Đại Úy Thiết Giáp. Tất cả sỹ quan họp thành Toán I, ông Đại Úy Thiết Giáp làm trưởng toán. Thời gian học gồm hai tuần dưới đất, một tuần trên không. Không kể bốn mươi lăm phút thể thao bắt buộc mỗi sáng từ năm giờ bốn mươi lăm đến sáu giờ ba mươi, mỗi ngày chúng tôi học bảy tiếng đồng hồ: sáng từ bảy giờ ba mươi đến mười một giờ ba mươi, chiều từ hai giờ ba mươi đến năm giờ ba mươi. Thứ bảy cũng tập trọn ngày. Chương trình học được soạn theo từng giai đọan nhảy: trước khi lên phi cơ, trên phi cơ, nhảy ra phi cơ, sau khi dù mở, đáp xuống đất và sau khi đáp xuống đất.

Tuần lễ đầu hay giai đoạn I, là giai đoạn hành xác. Mỗi ngày có hai giờ tập té: chúng tôi tập té đàng trước, phải, trái, té ngang phải, té đàng sau, phải, trái. Chúng tôi mệt nhoài vì môn học này. Nhìn huấn luyện viên làm thì dễ đến khi  mình làm mới thấy khó. Té sai bị đau vai, đau bàn tọa mà còn bị phạt mười cái hít đất. Đến ngày cuối cùng vẫn còn vài người té chưa đúng. Đến khi đứng trên giàn sắt cao một thước lấy thế nhảy xuống đất rồi té, một sinh viên Quân Y đã phải bỏ cuộc. Anh này thấp người lại quá mập nên mặc dù đầy cố gắng vẫn không té đúng được. Môn học quan trọng thứ hai là ra cửa phi cơ. Chúng tôi tập lấy thế ở cửa phi cơ, nhảy ra và đếm. Trên phi cơ trước khi nhảy chúng tôi tâm niệm: “Năm điều ghi nhớ” sau đây: “Đứng dậy, móc vào, kiểm soát dù bạn và báo cáo kiểm soát, lấy thế ở cửa phi cơ và “go”! Môn học này nhàn nhất vì được ngôi trong lòng chiếc phi cơ phế thải nên không bị nắng. Trong tuần đầu chúng tôi còn học về hai loại dù: dù lưng và dù bụng, học cách mang và tháo đai dù, mang dù bụng. Kiểm soát và khám dù, xếp và giá dù. Vì ảnh hưởng của hai môn thi thể thao, không kể một số anh em Quân Y còn đau chân, phần còn lại vẫn chưa được khỏe nên sự tập dượt khá nhọc mệt. Cực hình của chúng tôi là những buổi tập họp, cứ một giờ học được nghỉ mười phút, xong phải tập họp lại nơi sân cờ rồi từng toán một di chuyển đến nơi có môn học. Mỗi lần di chuyển phải chạy đều và hô to: “Nhảy Dù..cố gắng”. Hình phạt áp dụng cho sỹ quan là hít đất, cho binh sĩ thì nhiều thứ: hít đất, nhảy xổm, nhào lộn, búng mũi, thoi đá, nặng hơn nửa đánh bằng gậy trong phòng kín. Hình phạt hít đất tạo sứ mạnh hai cánh tay rất hữu ích cho việc kéo dù nên được áp dụn g nhiều nhất. Nghe đâu các huấn luyện viên được lịnh mỗi ngày phải phạt mỗi khóa sinh ít nhất ba mươi cái hít đất. Chúng tôi hít đất tơi bời. Sau một ngày hành xác, tối đến chỉ lo xoa bóp dầu nóng xong lăn ra ngủ thật sớm để lấy sức chịu đựng ngày hôm sau. Một tuần lễ học Nhảy Dù quả thật là dài…

Tuần lễ thứ hai dưới đất hay giai đoạn II là tuần lễ thử thách. Mỗi ngày vẫn hai giờ té như thường lệ. Chúng tôi té xuống đất bằng ba cách: nhảy từ bục gỗ xuống, từ hai vòng sắt xuống và tuột máng xối. Hai máng xối bằng gỗ, một cái cao một thước sáu, một cái cao một thước tư. Ngồi xuôi chân tuột theo máng xối rồi lấy thế té xuống đất. Nhìn không thấy gì nguy hiểm nhưng lên tuột mới thấy ngại. Đã có một sỹ quan khóa trước bị gãy xương bàn chân vì môn này. Chúng tôi tập nhảy ra cửa phi cơ với đai và dù bụng, học thêm các môn: sau khi dù mở, xem dù, tránh bạn, gỡ dù xoắn, kéo gió xuôi, gió ngược, lấy thế đáp xuống đất bình thường, khi có gió mạnh, đáp xuống nước, mái nhà, xuống cây. Môn học chúng tôi chú ý nhất là trường hợp xảy ra tai nạn. Ở trên không có ba loại tai nạn: dù mắc vào phi cơ, dù đuôi nheo và dù số 8. Dù đuôi nheo là dù không bọc gió, dù số 8 là chiếc dù mở nhưng bị dây dù vắt ngang lá dù. Chúng tôi học cách giật và ném dù bụng phòng khi xảy ra các tai nạn trên. Chúng tôi học cách tránh dù lôi khi gặp gió mạnh; môn này lúc mới học rất chán nhưng khi có chiếc quạt máy thổi bung chiếc dù lên chúng tôi mới thấy ham thích, mặc dù nhiều khi bị lôi té lộn đến ba bốn vòng.

Nhưng môn học gây cấn nhất của giai đoạn II là hai môn nhảy đài. Đài 11 hay “chuồng cu” là một đài bằng gỗ cao mười một thước trông going giống cái chuồng nuôi bồ câu. Đài có hai cửa nhảy, mỗi bên có bốn sợi dây cáp được căng nghiêng dần vè phía một mô đất. Trên mỗi sợi dây cáp có một bánh xe sắt, mỗi bánh xe có hai dây đai dung để gắn vào hai đai dù của người nhảy. Khóa sinh mang đai và dù bụng lên đài ra cửa lấy thế hô to: “Khóa sinh số.. sãn sàng!” Khi nghe huấn luyện viên hô “GO” Khóa sinh phải phóng người ra ngoài. Nhảy đài 11 đòi hỏi sự gan dạ tập cho khóa sinh quen rơi trong khoảng không và nhảy đúng thế khi ra khỏi phi cơ. Khóa sinh nhảy đúng là người không do dự khi nghe tiếng “GO” khi nhảy ra hai chân không co, không dang ra, đầu cúi, mắt mở, hai tay ôm dù bụng và nhớ đếm số. Chúng tôi có mười hai giờ để nhảy chuồng cu, mỗi người phải nhảy tối thiểu hai mươi lăm lần. Lần nhảy đầu toán tôi có ba người ngồi trệt xuống khi nghe hô tiếng “GO” riêng một ông Đại Đức phải hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu nhảy. Những lần nhảy sau toán tôi đều nhảy với ít nhiều khuyết điểm: người quên chụm chân, cúi đầu, người quên đếm, quên ôm dù bụng, người quên mở mắt. Quan niệm càng nhảy càng sợ được mọi người cho là đúng. Riêng tôi mỗi lần ra cửa đài là mỗi lần hồi hộp. Lần nhảy thứ hai tôi run sợ thật sự, đứng trước cửa đài nhìn xuống thấy chóng mặt, tôi có cảm giác hai chân sắp khụyu xuống. Ông huấn luyện viên trấn tỉnh tôi bằng câu:

_Trung Úy đừng sợ, an toàn một trăm phần trăm.

Nhưng đến khi nghe tiếng “GO” tôi phóng mình ra không do dự. Nhảy đến lần thứ tư tôi được xếp vào hạng nhảy đài khá nhất toán. Phía binh sĩ có ba người hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu lết ra, một người hô “GO” đến lần thứ bảy vẫn không chịu nhảy, hai tay anh ta bấu cứng lấy cửa đài, huấn luyện viên phải bất thần dùng đầu gối đá anh ta ra ngoài. Lạ lùng nhất là một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt sau tám lần nhảy đài an toàn, anh nhất định không chịu nhảy nửa, leo lên đài nửa chừng anh trở xuống; phải dẫn anh vào trình diện Trưởng Khóa, ông này dọa gửi trả về đơn vị. Ngày hôm sau anh nhảy ba cái liền trong một giờ học. Hỏi anh hết sợ chưa anh bảo vẫn cứ sợ. Không có tai nạn nào xảy ra, ngoài vài vết trầy ở cổ và háng vì dây và đai dù giật. Nhảy không đúng thế hay để rơi nón sắt bị phạt mười cái hít đất. Một tân binh nhảy dù đến phàn nàn với tôi về ông huấn luyện viên của toán anh. Anh ta nói ông ấy kỳ lắm. Tôi hỏi:

_Tại sao ông ấy kỳ? anh chàng đáp:

_Em nói nhảy chuồng cu ổng bảo sai, ông bắt phải nói nhảy lồng chim rồi ổng phạt em hai mươi cái hít đất!

Hai ngày cuối cùng của giai đoạn II chúng tôi nhảy đài 12 “đi dây tử thần”. Đài cao mười hai thước, một sợi dây cáp lớn được căng từ đỉnh đài xuôi thấp dần xuống mặt đất, một bánh xe sắt có hai tay cầm lăn trên dây cáp. Khóa sinh đứng trên đài, nắm lấy hai tay cầm, rút người lên, bánh sẽ đưa dần xuống mặt đất. Huấn luyện viên cầm một cây cờ đỏ đứng cạnh bãi cát. Khi thấy cờ phất và nghe hô “GO” khóa sinh buông tay lộn vòng theo thế đã học. Dây tử thần có mục đích thử thách lòng gan dạ, giúp khóa sinh quen nhìn cảnh mặt đất dâng lên để tránh phản ứng co chân rất nguy hiểm lúc đáp xuống đất. Ông Đại Úy Thiết Giáp Trưởng Toán  nhảy đầu, lúc phất cờ ông sợ quá không buông tay bị đưa luôn vào khung gỗ nơi sợi dây cáp được móc vào. Cả toán xanh mặt. may mắn ông không bị thương tích gì hết. Tuy nhiên ngoài việc xém tai nạn kia không có sự đáng tiếc nào khác. Ở môn nhảy này tôi bị té khá đau, đầu gối sưng và đầu chúi xuống cát. Không có chiếc nón sắt chắc tôi vỡ đầu. Một binh sĩ bị gãy xương bàn chân phải bỏ cuộc. Giai đoạn II mặc dù mệt nhọc nhưng chúng tôi ai cũng thích thú vì được sống những phút hồi hộp, mỗi ngày thưởng thức thêm “một trò chơi nguy hiểm”. Với rất nhiều hăng say và một ít e ngại chúng tôi chờ đợi ngày lên phi cơ.

Giai đoạn III là gai đoạn thực tập trên không. Bốn sauts đầu chúng tôi nhảy phi cơ C47. Loại máy bay này chỉ có một cửa nhảy và chở được hai mươi bốn người. Vì bãi nhảy dài có năm trăm thước, nên mỗi lần nhảy tối đa chỉ được có mười hai người. Saut thứ nhất chúng tôi nhảy tay không và nhảy từng đợt tám người. Còn nhớ sáng hôm đó lúc lãnh dù tôi hồi hộp lạ thường; tôi trịnh trọng mang nó lên vai xem xét cẩn thận các khóa an toàn. Cẩn thận là phải vì sinh mạng tôi được giao phó cho hai chiếc dù trong giây lát. Chiếc C47 mang chúng tôi cất cánh lúc tám giờ ba mươi sáng. Bãi nhảy nằm ở Ấp Đồn, thuộc quân Hóc Môn xa chừng mười lăm phút bay.

Toán chúng tôi nhảy làm ba đợt, tôi mang số 19 nên nhảy thứ ba trong đợt ba. Ngồi trên phi cơ, tâm trạng tôi lúc đó không hẳn là sợ nhưng có cái gì căng thẳng trong đầu. Chúng tôi nhìn nhau cười để tỏ ra bình tĩnh. Tôi thấy hai anh số 5 và số 16 mặt trắng bệch. Hồi nhảy chuồng cu hai số này vẫn vậy. Độ mười phút bay thì tám người đầu được lịnh đứng dậy, móc móc sắt vào dây cáp, người đầu ra cửa lấy thế. Một hồi chuông reng dài, ngọn đèn đỏ cuối thân tàu bật cháy. Tôi nghe từng tiếng “GO” liên tiếp nhau. Từng thoáng người lao ra cửa phi cơ. Tôi chăm chăm nhìn anh số 16, người nhảy chót của đợt hai. Mặt anh trắng hẳn ra, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt. Một hồi chuông reng, tiếng “GO” lại vang lên. Tôi theo dõi anh số 16; ra đến cửa anh khựng hẳn người lại, anh có động tác như muốn ngồi xuống, nhưng tôi bổng thấy anh văng ra khỏi phi cơ: người huấn luyện viên đã đạp anh ra. Đến phiên tám người còn lại đứng dậy, tôi bình tĩnh móc móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Tôi không sợ nhưng tôi không nhớ gì cả. Khi nghe hồi chuông reng tôi theo anh bạn trước lao ra khỏi phi cơ. Tôi có cảm tưởng mình không rơi xuống mà đang bay theo một luồng gió mạnh. Khi tôi sực nhớ mình chưa đếm thì đã nghe giật nhẹ ở hai vai. Ngửng đầu lên tôi thấy dù tôi đã mở lớn, tròn trịa.  nhìn xuống tôi thấy một bải cỏ xanh rộng loang lổ những ô đất vàng vàng. Không thể nào tả được nổi thích thú của tôi khi được lơ lững trong khoảng không gian tịch mịch. Dù xuống nhanh dần, tôi thấy rõ những đứa trẻ con tung tăng chạy theo hướng những chiếc dù rơi. Tôi mở mắt quan sát thật lớn quan sát vùng đất sắp đáp xuống xem có hầm hố, mô đất, bụi bờ gì không? Khi còn cách mặt đất chừng năm mươi thước, tôi kéo mạnh hai dây dù đằng trước, cúi đầu so chân bằng nhau rồi giữ thế chờ chạm đất. TRôi nghe một tiếng động rung chuyển đôi chân và người tôi bị kéo ngã một vòng.  Như một cái máy tôi đứng dậy chạy nửa vòng để tránh gió. Tôi tháo đai dù, cuốn dù cho vào bao, mang dù lên lưng rồi vừa chạy vừa hô: “Nhảy Dù…cố gắng” về điểm tập trung. Toán cuối cùng nhảy xong lúc mười giờ ba mươi. Mọi người đáp xuống đất bình yên. Ai nấy thở dài khoan khoái. Một vài người đã tỏ vẽ khinh thường. Chúng tôi lên xe di chuyển về trung tâm. Ngồi trên xe tôi moi tìm những khuyết điểm của saut vừa qua để rút kinh nghiệm cho những sauts sau. Thứ nhất: tôi đếm số quá muộn. Tôi được chỉ dẫn ra khỏi cửa phi cơ phải đếm bốn tiếng: 331, 332, 333, 334. Thời gian đếm bốn tiếng độ chừng bốn giây; chiếc dù lưng phải tự động mở sau hai giây hoặc hai giây rưỡi. Nếu đếm xong bốn tiếng, dù lưng không mở phải giật dù bụng. Thứ hai: Tôi không nhớ mình nhắm mắt hay mở mắt. Mở mắt rất cần thiết để kiểm soát dù. Mọi việc xảy ra nhanh quá khiến tôi không làm chủ được ý định. Thứ ba: tôi không nhớ tay mình có ôm dù bụng khi nhảy ra hay không. Nếu bị cụp dù không hiểu tôi có tìm ra quai sắt của dù bụng để giật không. Thứ tư: tôi không nhìn trái khói để định hướng gió rất hữu ích cho việc kéo dù và lấy thế để đáp xuống đất.

Saut thứ hai chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người. Hôm ấy toán tôi nhảy đầu, tôi nhảy đợt hai, lần này tôi khá bình tĩnh và nhớ nhiều chuyện: tôi có mở mắt, có đếm số, có nhìn trái khói chỉ hướng gió đầu bãi đến cuối bãi, nhưng tôi không nhớ tay tôi có ôm dù bụng hay không. Đáp xuống đất tôi bị dù kéo lộn một vòng về đằng trước. Một lần nữa mọi người đều bình yên. Anh số 16 vẫn phải bị đạp ra cửa.

Saut thứ ba chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người có mang vũ khí. Chúng tôi có mang Carbin bá xếp nên rất gọn. Toán chúng tôi nhảy cuối cùng. Mười một giờ phi cơ mang chúng tôi mới cất cánh. Sau hai sauts được an toàn mọi người bình tỉnh và tự tin hơn. Lần nhảy này tôi cũng nhớ mọi chuyện trừ chuyện hai tay mình có ôm dù bụng. Chiếc dù đưa tôi băng qua con đường đất, dưới chân tôi hiện ra một vũng nước lớn. Gió thổi từ trái sang phải khá mạnh. Tôi đáp xuống đất trong thế té ngang rất nguy hiểm. Chiếc dù căng gió lôi phắc tôi đứng dậy. Tuy ê ẩm cả chân trái tôi củng ráng chạy nửa vòng để tránh dù lôi. Về đến điểm tập trung tôi mới hay trong mấy toán trước có mấy người bị đập đầu, một người bất tỉnh và chảy máu miệng. Kiểm điểm quân số toán chúng tôi thiếu hai người: anh số 9 và anh số 11. Một đứa bé lại báo tin có người bị nạn ở cuối bãi. Chiếc xe Hồng Thập Tự tức tốc chạy đi cấp cứu. Người bị nạn là anh số 11. Anh kêu đau ở háng trái không cử động chân được. Đưa về bịnh xá chụp hình thấy cổ xương đùi bị gãy. Anh bạn của chúng tôi đã khóc òa khi biết mình phải bỏ cuộc. Anh được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa giải phẫu. Mọi người buồn tiếc cho anh. Đến chiều một anh bạn khác trong toán bị sưng chân. Chụp hình không thấy xương gãy nhưng đau quá anh không đi được. Anh được chấp thuận nhảy những sauts còn lại với khóa sau. Tai nạn xảy ra cho anh số 11 làm chúng tôi bắt đầu e ngại.

Saut thứ tư ngoài vũ khí, chúng tôi còn mang thêm một túi vãi được buộc vào đai dù, nằm ở giữa hai chân. Toán chúng tôi nhảy áp chót. Hôm ấy gió rất nhẹ từ phải sang trái. Mọi người đáp xuống đất an toàn. Lần này tôi đứng chớ không té, chiếc dù không gió bọc rơi chụp lên đầu tôi.

Saut thứ năm chúng tôi nhảy C.123. Nghe nhảy C.123 mọi người đều ngán. Loại máy bay này bay nhanh hơn C.47 nên hay thả ra ngoài bãi. Đầu bãi là cái đồn Nghĩa Quân đầy dây kẽm gai, cuối bãi là ấp chiến lược có rào tre nhọn. C.123 chở được 48 người, tai nạn vướng dù do đó hay xảy ra. Hai cửa nhảy không xa hai cánh trước khi nhảy ra dù hay bị gió từ cánh quạt thổi rối và tai nạn dù số 8 hay gặp ở loại phi cơ này. Ngán thì có  ngán thật nhưng chúng tôi muốn nhảy cho biết. Vẫn mang vũ khí, túi vãi như lần trước. Toán chúng tôi nhảy chuyến thứ ba. Cảm giác của tôi khi ở dưới phi cơ bước lên là khó chịu. Hơi nóng, tiếng động cơ ầm ầm, máy bay nhồi xóc làm tôi chóng mặt. Khi đứng lên chuẩn bị nhảy, nhìn ra cửa phi cơ gió thổi ào ào, tôi hồi hộp lạ thường. Toán tôi nhảy cửa bên phải. ra đến cửa gió không hút tôi ra như ở C.47, gió đẩy tôi trở vào. Tôi quăng chiếc móc sắt và nhảy mạnh ra ngoài. Tôi mở mắt nhưng không kịp đếm. Dù mở rất nhanh. Gió thổi từ phải sang trái. Nhìn sang trái tôi thấy một chiếc dù đang rơi xuống đồn; nhìn sang tar1i tôi thấy một chiếc dù trắng lùng bùng, tôi kêu thầm: “có người bị dù số 8!” (dù lưng màu xám, dù bụng màu trắng). Nhìn xuống tôi thấy ngay dưới chân một cái hầm lớn. Tôi hoảng hốt kéo dù tránh xa. Tôi rơi cách hầm chừng năm thước, xuống ngay một vũng nước. Người bị dù số 8 một mình với hai chiếc dù còn lơ lững trên không. Chiếc dù lưng tóp hẳn lại, nhưng chiếc dù bụng đã bọc gió. Tôi kinh hoàng thấy anh đáp xuống đất bằng bàn tọa và nằm luôn không dậy. Tôi tháo đai dù chạy vội về phía anh, nhưng chiếc Hồng Thập Tự đã đến trước tôi. Nạn nhân là một Sỹ Quan LLĐB. May mắn anh không việc gì chỉ hơi ê bàn tọa. Mặt mày tái mét nhưng anh vẫn cười. Anh cho biết vì dây dù bụng vướng vào chân, khi dù bọc gió kéo luôn hai chân anh lên nên anh phải đáp xuống đất bằng bàn tọa. Hôm ấy không có gió mạnh, nếu không chắc anh đã bị gãy xương chậu, hay xương sống lưng rồi. Ở mấy đợt nhảy trước có đến ba người bị dù số 8 nhưng đều giật kịp dù bụng. Kiểm điểm quân số toán tôi thiếu mất một người. Tôi sực nhớ chiếc dù rơi xuống đồn. Quả nhiên một lúc thấy anh số 17 lò mò vác dù về vừa cười vừa nói:

_Moa rơi xuống đúng giữa hai hàng kẽm gai, may mắn hơn nữa là moa lại đứng chứ không té nên không sây sướt gì.

Cái may hai lần thật hy hữu. Trong mấy toán sau có thêm hai chiếc dù số 8 nữa, nhưng dù bụng vẫn kịp tung ra. Chúng tôi còn chứng kiến thêm một cảnh nghẹt thở khác: người ở trên rơi vào lá dù của người ở dưới, chiếc dù ở trên tóp lại. Dưới đất chúng tôi la hoảng om sòm. Củng may người binh sĩ mang chiếc dù ở trên khá bình tĩnh, anh đạp mạnh lá dù ở dưới, hai chiếc dù tách xa nhau, chiếc dù ở trên bọc gió trở lại. Saut thứ năm là saut nhiều bất trắc nhất, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn. Về đến trung tâm, lúc tập họp, một tân binh của toán bị hai cảnh cáo vì lúc ra cửa phi cơ anh chần chừ làm những người sau bị dồn lại, đến khi nhảy những người sau cùng rơi cả vào ấp chiến lược. Người chuyên viên thả dù hỏi anh ta tại sao không chịu nhảy, anh tân binh ấp úng trả lời:

_Dạ, em chờ Trung Sĩ… đạp em ra!

Saut thứ Sáu là saut nhảy ngày cuối cùng của chúng tôi. Những ai đã nhảy dù đều công nhận có một saut gọi là saut hãi hùng. Thường thường từ saut thứ hai trở đi mới có hiện tượng sợ hãi ấy. Saut hãi hùng của tôi là saut thứ sáu. Sáng hôm đó tôi ăn lót dạ một cái bánh bao ra đến phi trường bụng bỗng lâm râm đau rất khó chịu. Mười một giờ trưa mới có máy bay, mệt nắng và sốt ruột vô cùng. Vẫn nhảy C.123 Lúc mặc dù, vô tình tôi nhìn số dù, dù lưng số 0280, dù bụng số 1300. Tôi nghĩ dù lưng số bù, dù bụng số 13 chắc là điềm xấu. Bỗng chốc tôi phát sợ, một sự sợ hãi vô cớ. Tôi bước lên phi cơ như một người không hồn. Hơi nóng trong lòng tàu làm tôi khó thở. Đảo mắt nhìn anh em bạn thấy mặt người nào cũng lầm lì, xám xanh. Đối diện với tôi là một vị Sỹ Quan Lực Lượng Đặc Biệt bị dù số 8 hôm qua, đang cúi gầm mặt xuống không nhìn lấy một ai. Tôi nghĩ dại, biết đâu hôm nay tôi sẽ bị dù số 8, dù đuôi nheo, biết đâu tôi sẽ rơi vào đồn, vào ấp chiến lược, xuống hầm hố; tôi sẽ chết, sẽ gãy chân, gãy xương sống, sẽ bị đập đầu bất tỉnh. Càng nghĩ vẫn vơ tôi càng mất can đảm, thứ can đảm tôi đã có thừa qua nhiều lần nhảy. Máy bay hôm ấy nhồi quá nhưng tôi không thấy mệt hoặc buồn nôn. Tất cả tôi đang chịu đựng sự sợ hãi của mình một cách khổ sở. Có lúc tôi muốn chạy đến cửa phi cơ phóng đai ra ngoài cho đỡ sợ. Nửa đầu của hai toán được lịnh đứng dậy. Tôi thấy Đại Úy Thiết Giáp tiến ra cửa phi cơ. Gió đẩy ông lui về đằng sau. Bên toán nhảy cửa phải có tiếng của huấn luyện viên la lối. Tôi nhìn sang, một binh sĩ vì thấp không móc được móc sắt vào dây cáp, cứ cầm móc sắt ở tay tiến ra cửa phi cơ. Tôi thấy người huấn luyện viên lấy móc sắt móc vào dây cáp xong tát vào mặt người binh sĩ hai cái. Trống ngực tôi đập mạnh. Chờ mãi không nghe chuông reng, lại thấy huấn luyện viên kéo ông Đại Úy trở vào. Tôi sốt ruột không hiểu chuyện gì. Máy bay lượn vòng một lúc rồi chuông reng lên. Tôi đứng phắc dậy như cái lò xo, không cần đợi lịnh cho móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Chúng tôi dồn về phía cửa phi cơ. Gió mát phừng phực làm tôi dễ chịu. Tôi lấy lại được bình tĩnh. Khi nghe hồi chuông reng lên tôi bay bổng ra khỏi phi cơ. Tôi nhảy như thoát khỏi bầu không khí hãi hung trong phi cơ, quên cả đấm và không biết mình nhắm hay mở mắt nữa. Dù mở tròn trịa, tôi đáp xuống đất bình yên như mọi lần. Trên đường vác dù về chổ tập họp, tôi gặp anh số 14 của toán hai. Anh lắc đầu than với tôi:

_Khổ quá Trung Úy ơi, em lại quên mất cây Garant trên phi cơ!

Tôi hỏi ông Đại Úy sao ra cửa lâu quá mà không nhảy ông cho biết vì phi cơ bay chệch bãi nhảy nên huấn luyện viên không thả. Phân nửa toán tôi thú nhận sợ toát mồ hôi trong saut này. Trong toán nhảy sau một binh sĩ vướng tay vào dây dù của một người khác làm hai chiếc dù dính vào nhau tóp lại rơi xuống vun vút. Chúng tôi dưới đất thất sắc kêu la ầm ĩ. May sao một binh sĩ đạp vào người kia, hai chiếc dù tách ra bọc gió trở lại.

Chúng tôi được lịnh năm giờ chiều ngày hôm sau tập họp nhảy đêm. Đến phút chót Bộ Tư Lịnh bãi bỏ saut đêm vì thiếu an ninh bãi nhảy. Lễ mãn khóa được tổ chức vào sáng hôm sau. Sau ba tuần dầu dãi mặt tay tôi đen sạm, người rắn rõi hẳn ra. Cái huy hiệu nhảy dù gắn trên túi áo mang cho tôi một niềm vui nhỏ và một hãnh diện lớn. Tôi có bằng dù rồi tôi sẽ làm gì đây? Tôi nhớ một lời nói của vị Thiếu Tá đọc hôm lễ mãn khóa: “Nhảy Dù chỉ là một phương tiện vận chuyển. Nhiệm vụ chính của người binh sĩ Nhảy Dù không nhảy ra khỏi phi cơ. Đáp xuống đất nhiệm vụ chính mới bắt đầu, đó là tác chiến như bộ binh”. Nhiệm vụ chính của người Y Sỹ dù không phải tác chiến mà là cứu cấp, săn sóc những binh sỹ tác chiến. Tôi đang sửa soạn đón nhận nhiệm vụ đó.

Y Sĩ Tiền Tuyến

Trang Châu _

Vietmessenger/ đánh máy & Post by Sơn râu 17 July 2023

Tập truyện của Trang Châu _ Đường Sáng xuất bản

Để tưởng niệm anh hồn các cố Y Sĩ Đại Úy đã hy sinh vì Tổ Quốc:

*Đoàn Mạch Hoạch

*Trương Bá Hân

*Đỗ Vinh

*Trần Ngọc Minh

*Phạm Bá Lương

*Nguyễn Văn Nhứt

*Trần Thái

*Lê Hữu Sanh

*Nghiêm Sỹ Tuấn

*Phạm Đình Bách

Trong cuộc chiến hôm nay

Cho tôi xin chiến đấu không hận thù

Xin những vết thương bình đẵng

Cho tôi đổi một trăm chiến thắng

Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

Trước ngày lên đường

Đầu tháng tư năm 1965, một buổi chiều nằm đọc báo trong phòng gác nội trú của bịnh viện Đô Thành, Bảng đến báo chúng tôi một tin buồn: Đỗ Vinh vừa tử trận ở Quảng Tín. Tôi buột miệng kêu lên: “Thế là thằng thư ba hy sinh vì Tổ Quốc!” Còn vài tháng nữa chúng tôi ra trường, một số lớn sẽ đi đơn vị tác chiến trong một thời gian. Dù muốn dù không người y sỹ hôm nay phải góp mặt với cuộc chiến. Hai vấn đề chính yếu đặt ra cho mỗi cá nhân chúng tôi là: hành nghề y sỹ và an ninh bản thân. Vấn đề hành nghề y sỹ hay nói theo lối của chúng tôi là “mở tiệm” ai cũng thích nêu ra mỗi khi bàn cãi. Và câu trả lời cũng dễ dàng dứt khoát: phải “mở tiệm” mỗi khi có điều kiện. Lương nhà binh không đủ sống. Thằng có gia đình đói vì vợ con; thằng độc than rách vì gái và nhiều thứ khác. Cái gọi an ninh bản thân là mối lo âu lớn của đa số chúng tôi, của gia đình nữa. Công trình học bảy năm để rồi ra trận lãnh một viên đạn thì thật phí. Ngoài mặt trận, dưới tầm đạn, người y sỹ không làm được gì hơn công việc người y tá. Trái lại ở bịnh viện khả năng chuyên môn của họ giúp ích nhiều cho các thương bịnh binh. Đa số chúng tôi tán đồng quan điểm y sỹ ở hậu phương phục vụ hữu hiệu hơn ở tiền tuyến. Tán đồng thì tán đồng nhưng mấy năm qua chưa thấy một ai tranh đấu để quan điểm trên được chấp thuận. Chỉ thấy mỗi năm gần đến ngày ra trường phong trào “chạy piston” “đi bắt tuyau” để được chổ tốt lại ngấm ngầm sôi nổi. Chổ tốt đây có nghĩa vừa an ninh bản thân vừa dễ “mở tiệm”. Thâu góp ý kiến đa số chổ nhàn nhất cho một tân y sỹ là Không Quân. Về Hải Quân thì được mặc quần áo đẹp mang lon nhung đỏ, nhưng từ khi có mấy chiếc tàu lớn cần mỗi chiếc ông Lang Tây để hàng tháng lênh đênh ngoài biển cả thì sự hăm hở ban đầu của chúng tôi cũng kém đi. Kể thêm chổ tốt chúng tôi còn Quân Y Viện, Bịnh Viện Dã Chiến. Được ưu tiên chọn về Quân Y Viện là những y sỹ cựu nội trú . Làm việc ở Quân Y Viện, Bịnh Viện Dã Chiến thì được ở ngay tỉnh, an ninh bảo đảm và “mở tiệm” cũng dễ dàng. Chổ không tốt không xấu là các đại đội lựa thương Sư Đoàn không xấu cho những anh em ở trung đoàn về, hết hành quân vất vã, không tốt cho những anh em ở đó lâu mà chưa được về Quân Y Viện. Trung Đoàn là nơi hai phần ba y sỹ ra trường đến phục vụ. So về mặt an ninh dĩ nhiên người y sỵ Trung Đoàn gần gũi với chiến trường, nguy hiểm hơn. Nhưng sự nguy hiểm cũng chỉ tương đối vì người y sỹ cũng chỉ tham dự hành quân cấp Trung Đoàn thôi. Chỉ khi nào Bộ chỉ huy Trung Đoàn bị tràn ngập hay bị pháo kích, tính mạng người y sỹ mới lâm nguy. Những trường hợp trên rất ít xảy ra, ít nhưng không có nghĩa là không có. Nhưng nếu so về mặt “hành nghề tư” thì thành quả thật ngang ngữa. Y sỹ các trung Đoàn đóng vùng lục tỉnh Hậu Giang mầu mỡ. “mở tiệm” đắt thân chủ hơn các y sỹ ở Quân Y Viện các tỉnh miền trung nghèo nàn. Biết được Trung Đoàn nào ít hành quân vùng đóng quân an ninh dễ làm ăn là bí quyết riêng của mỗi chúng tôi. Bí quyết đó chúng tôi giữ bí mật cho đến ngày phân phối đi đơn vị, đôi khi chúng tôi còn đánh lạc hướng nhau nữa. Lực Lượng Đặc Biệt là một chổ tốt của những chổ được cho là xấu. Y sỹ Lực Lượng Đặc Biệt làm việc tại các “C” hai tuần hay một tháng trực thăng mới đưa đến các trại đóng dọc theo biên giới Lào Việt hay Miên Việt để khám bịnh cho binh sĩ đồn trú. Những chổ còn lại là những đơn vị lưu động: Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Ở Biệt Động Quân một chiến đoàn mới có một y sỹ. Đơn vị có y sỹ phục vụ ở cấp Tiểu Đoàn là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Phục vụ ở hai binh chủng này người y sỹ đều kham khổ như nhau, nhưng tiêu chuần quyền lợi khác xa nhau: Y Sỹ Nhảy Dù phải là người tình nguyện và phải nhảy dù như mọi binh sĩ Dù do đó họ được hưởng một khoản phụ cấp không vụ. Ngươi Y Sỹ Thủy Quân Lục Chiến không bắt buộc tình nguyện và không có phụ cấp hải vụ.

Lúc bấy giờ chiến cuộc vừa leo thang, Mỹ đổ vào miền Nam mấy chục nghìn quân và bắt đầu oanh tạc Bắc Việt. Nhưng chiến trường miền Nam vẫn do quân đội Cộng Hòa gánh vác. Những trận địa chiến khởi đầu với Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả. Trong số hàng chục hàng trăm thanh niên ngã gục hằng ngày giới y sỹ bắt đầu góp phần xương máu.

Người y sỹ tử trận đầu tiên vào giữa năm 1964 là anh Đoàn Mạnh Hoạch. Anh đã nhảy ra khỏi xe bọc sắt, để lên trận tuyến săn sóc một thương binh, mặc dù có sự ngăn cản của vị Trung Đoàn trưởng và anh đã gục ngã trước lằn đạn địch. Chúng tôi đón nhận tin anh hy sinh ở Quảng Ngãi với tất cả bàng hoàng. Cái chết của anh như một nhát búa đập vào chữ “Thọ” của giới Quân Y. Sáu tháng sau, người thứ hai, anh Trương Bá Hân tử trận ở Bình Giả. Còn nhớ hôm đó ngày cuối năm 1964 tôi đang thực tập giải phẫu ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Nghe hung tin các sinh viên Quân Y đang có mặt tại phòng trực chạy xuống nhà xác. Một mình tôi ở lại: Tôi không thích nhìn mặt người chết. Tôi ngồi một mình cố moi trí nhớ xem anh Hân là ai, nhưng không hình dung nổi mặt anh. Chỉ biết anh học trên tôi ba lớp vừa từ Pleiku thuyên chuyển về thủy Quân Lục Chiến. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị một Trung Đoàn địch tràn ngập. Tất cả sỹ quan Bộ Chỉ Huy tử thương. Mấy thằng bạn ở nhà xác lên kể lại tôi nghe một chi tiết về cái chết của anh Hân: người ta tìm thấy xác anh hai tay bị trói thúc ra đàng sau và bị trúng đạn ở tim. Mọi người đều nghĩ anh bị bắt rồi mới bị hạ sát. Không khí buồn bã vây quanh chúng tôi suốt cả tuần. Hôm đưa đám tang anh Hân tôi không đi, cố tình không đi. Tôi sợ cảnh khóc lóc của người thân làm tôi mủi lòng. Trong niềm thương tiếc, pha lẫn cảm nghĩ riêng tư của hai lớp người y sỹ: những người đã ra trường lâu đang được ở chổ tốt, mừng số mình may mắn và những kẻ sắp ra trường như bọn chúng tôi nhìn người đi trước ngã xuống trong lòng cũng mang ít nhiều âu lo cho tương lai mình. Một thằng trong bọn chúng tôi nử đùa nửa thật: “Trông cảnh đàn anh hy sinh vì Tổ Quốc khối thằng đàn em hèn người ra” Rồi nó trắng trợ tuyên bố thêm “Trong số đó có em”.

Ngày 31 tháng 3 năm 1965 anh Đổ Vinh Y Sỹ Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù tử trận ở Thăng Bình (Quảng Tín). Một mảnh 81 đã phạt trúng đầu khi anh đang ngồi săn sóc một thương binh. Vinh là Y Sỹ Nhảy Dù đầu tiên tử trận. Vinh học trên tôi một lớp, không thân nhưng quen mặt nhau. Vinh chết trong vinh quang vì trận đó Tiểu Đoàn anh thắng lớn. Tôi không đi gác xác cũng không dự đám tang trọng thể của anh. Không phải tôi vô tình với người đã khuất nhưng tôi dang phấn đấu để giữ vững tinh thần. Tôi có ý định tình nguyện về Nhảy Dù sau khi ra trường. Cái chết của Vinh quả là một thử thách lớn lao với dự tính của chúng tôi. Chúng tôi đây là Đoàn, Tính, Bá và tôi, bốn đứa đang mon men học khóa Dù sẽ mở vào tháng tám tới đây. Sau cái chết của Vinh khi đứa này hỏi đứa kia bao giờ nộp đơn đứa nào cũng trả lời: “để xem lại đã”. Nhưng cô y tá chủ nhân của con cơ hình quả tim mà cô quả quyết làm bằng ván hòm thì cô tin lắm. Bảng “bánh đúc” được chỉ định cầm nhang khấn. Chúng tôi gọi hắn là “bánh đúc” vì mặt hắn nục như miệng bánh đúc. Bảng khấn xong đem nhang cắm trước bàn cơ. Cô y tá bảo phải ba người đặt ngón tay trỏ vào cơ, cơ mới lên. Ngoài ngón tay của cô y tá là hai ngón tay của Bá “điên” và Ân “thợ đấm”. Gọi điên chứ thật Bá chẳng điên tí nào hay có điên cũng là điên khôn. Hồ sơ bịnh lý của hắn chẳng có gì lạ ngoài ghi chú đương sự có tánh nóng giận, buồn vui thất thường. Tiền căn ghi năm học Sinh Lý, Hóa hắn bị động kinh một lần. Biệt danh “thợ đấm” anh em đặt cho Ân không phải vì hắn to con hay đánh lộn mà vì hắn rất khỏe về phương diện sinh lý. Một buổi chiều thứ Bảy hắn đưa một em về phòng ở bịnh viện Đô Thành (mỗi sinh viên nội trú có một phòng ngủ riêng). Chín giờ tối có người thấy hắn dẫn em qua quán Thanh Bạch ăn, một lát hắn dẫn em trở về ngủ. Mười giờ sáng Chủ Nhật hắn lại lò dò dẫn em đi ăn rồi lại dẫn em trở về phòng. Mãi đến tối hắn mới thả em về, chúng tôi lôi hắn vào phòng gác chất vấn:

_Bao nhiêu tất cả?

Hắn uể oải đưa sáu ngón tay cho chúng tôi đếm rồi ngã xuống giường. Phải chích cho nó một mũi D.O.C.A. và một ống sinh tố C. Sáng hôm sau hắn thức dậy với biệt danh “Ân thợ đấm”.

Cuộc cầu cơ không mấy hấp dẫn, con cơ chỉ chạy loanh quanh rồi “thăng” mà không trả lời các câu hỏi. Chúng tôi sắp chán nản thì Đức “vịt” đề nghị phải ra nhà xác khấn cơ mới lên và chỉ định “Châu cá ngựa” là tôi. Cả bọn chỉ chờ có thằng bị chỉ định là nhao nhao làm áp lực bắt nhận lời. Tôi bước ra khỏi phòng gác lẩm bẩm chửi thề Đức “vịt”. Người hắn thấp giọng nói lại khàn khàn thật đúng là con vịt đực. Chúng nó gọi tôi là “Châu cá ngựa” vì hồi đó tôi say mê cá ngựa lắm. Chiều thứ Bảy, Chủ Nhật nào cũng có mặt tôi ở trường đua. Có bao nhiêu tiền cũng cúng vào các độ ngựa. Cứ mỗi trưa thứ Bảy, Chủ Nhật thấy tôi ăn uống vội vàng chúng nó kháo nhỏ nhau nhưng cốt để tôi nghe: “Nó lại đi cho ngựa ăn cỏ”

Sau khi tôi khấn ở nhà xác về quả nhiên cơ lên vùn vụt, quỷ có, ma có, có một ông xưng là thần. Chúng tôi tranh nhau hỏi, toàn những câu hỏi nghịch ngợm để đùa vui. Bảng “bánh đúc” nảy ra ý kiến gọi hồn Đổ Vinh về. Con cơ di chuyển trên mặt giấy. Bảng “bánh đúc” hỏi:

_Có phải Đổ Vinh đó không?

Cơ chạy qua các chữ P.H.Ả.I

_Hồn Vinh bây giờ là gì?

Cơ chạy nhanh qua mấy chữ T.H.Á.N.H.

_Vinh bị đạn ở đâu?

_Đ.Ầ.U

_Lúc mất có đau lắm không?

_K.H.Ô.N.G

_Chổ Vinh ở có vui không?

_V.U.I

_Vinh nhớ ai nhất?

_M.Ẹ

_Vinh có người yêu chưa?

_C.H.Ư.A

_Vinh mất có nhiều cô khóc lắm, Vinh biết không?

_X.Ạ.O

Chúng tôi nhìn nhau cười, Đức “vịt” vụt hỏi:

_Vinh có biết anh em nào sẽ đi theo Vinh không?

Bảng “bánh đúc” cú vào đầu Đức “vịt”

_Sư thằng này chỉ thối mồm

_K.H.Ô.N.G  N.Ó.I  Đ.Ư.Ợ.C

Rồi cơ chạy nahnh qua các chữ V.I.N.H.  Đ.I. Bảng “bánh đúc” bàn:

_Sẽ còn nhiều thằng chết nửa Vinh nó nói “không nói được” tức sẽ còn thằng chết nhưng nó không muốn nói tên.

Bá “điên”nhất định không tin, nó bảo Ân “thọ đấm” và Đức “vịt” đẩy con cơ. Hai đứa này thề không đẩy. Bá “điên” vẫn không tin, nó bảo cô y tá đẩy. Tuy nhiên câu hỏi thối mồm của Đức “vịt” và lời bàn của Bảng “bánh đúc” gieo vào lòng chúng tôi mối lo âu cho thân phận mình cùng thân phận bạn bè.

Tháng 5 1965 Trần Ngọc Minh Y Sỹ Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC tử trận cũng ở Thăng Bình. Minh bị thương ở tay vào lúc địch mở đợt xung phong biển người. Khi Tiểu Đoàn phản công chiếm lại mục tiêu, người ta tìm thấy Minh nằm chết dưới hố với một vết dao đâm vào tim. Tôi quen Minh từ hồi còn học ở Yersin Đà Lạt. Con người nho nhỏ ăn nói vô cùng có duyên, Minh vào trường Quân Y muộn, năm thứ tư mới vào. Một người bạn kể lại rằng hôm phân phối đi đơn vị Minh ao ước:

_Cho tao đi đâu cũng được trừ TQLC. Tao ốm yếu sợ về TQLC lết theo không nổi.

Định mệnh đã đưa anh về TQLC và máu của anh đã đổ cho màu áo của binh chủng này.

Bá “điên” tuyên bố:

_Tao sẽ tự sát chứ không bao giờ đầu hàng hay để chúng nó bắt rồi giết.

Chiến tranh thực sự đã đến với người thầy thuốc. Còn nhớ ngày nào khi mới vào ngành thuốc được một hai năm tôi thường mơ ước khi ra trường có một phòng mạch đông đảo thân chủ, tạo một cuộc sống an nhàn sung túc. Bây giờ ngày ra trường không còn xa, nhưng cái phòng mạch đông đảo thân chủ ngày nào không còn là mối bận tâm của tôi nửa. là đơn tình nguyện đi học Nhảy Dù tôi vừa viết xong, nhưng còn đắn đo chưa ký tên. Những cái chết liên tiếp của bạn bè quả có làm tôi xúc động nhưng không làm tôi khiếp hãi. Tôi tin ở số mạng. Tôi cũng biết trước về Nhảy Dù sẽ phải hành quân liên miên, gian khổ và nguy hiểm. Nhưng tôi tin tôi sẽ chịu đựng nổi; tôi tin tôi sẽ yêu đời lính; tôi tin bom đạn chiến trường, cuộc sống xê dịch, những cánh dù nở vội trên không hợp với thú ưa phiêu lưu, thích cảm giác mạnh của tôi. Về Nhảy Dù tôi biết sẽ phải thiệt thòi hơn chúng bạn, nhưng tôi không có mộng làm giàu. Lý do còn lại làm tôi đôi chút đắn đo là người con gái tôi đang yêu. Nàng có chấp nhận cuộc sống bôn ba nay mai của tôi không? Tối hôm đó thật tình cờ một cô bạn nàng hỏi tôi ra trường sẽ làm việc ở đâu? Tôi đáp định về Nhảy Dù nhưng còn để xem. Người yêu tôi trả lời thật bất ngờ:

_Con trai là phải đi Nhảy Dù.

Câu trả lời của nàng như một cánh cửa lớn mở cho tôi thấy giữa khung trời bao la một cánh dù lơ lững…

Sáng hôm sau tôi mang đơn vào trường Quân Y nộp. Trong tổng số mười lăm lá đơn, trong có đơn của Bá “điên”, Tín “móm” và Đoàn “cái bướm” tôi là người thứ mười sáu. Tôi đã nói về Bá “điên”, Tín “móm” thì chẳng có gì lạ ngoài cái miệng móm của hắn, móm quá nên nói chớt. Gọi Đoàn “cái bướm” vì hắn là tác giả bài “thằng cu hay cái bướm” đăng trong nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y Khoa. Hắn trích dẫn một lô phương pháp để sinh con trai hay con gái theo ý muốn. Khi vợ nó có bầu tôi hỏi hắn áp dụng phương pháp sinh thằng cu hay sinh cái bướm, hắn cười đáp sinh thằng cu. Kết quả vợ nó để lọt ra một cái bướm. Gọi Đoàn “cái bướm” là để nhạo nó. Trưa hôm đó tôi về phòng gác ăn cơm gặp đủ mặt Bá, Tín, Đoàn tôi chửi thề:

_Sư chúng mày nộp đơn sao không rủ ông đi cùng. Ba đứa nhìn nhau, nhìn tôi rồi cả bốn ôm nhau cười. Thì ra mỗi đứa chúng tôi lặng lẽ nộp đơn mà không cho đứa khác hay; đứa này sợ rũ đứa kia mai mốt lỡ nó gtheo chân Đỗ Vinh thì ân hận suốt đời.

Ngày mươi lăm tháng bảy 1965, anh Phạm Bá Lương Y Sỹ Trưởng trung Đoàn 7 bộ binh tử trận ở Bàu Bàng. Một y tá sống sót kể lại:

_Lúc tờ mờ sáng địch từ dưới hầm chui lên. Bác Sỹ Lương lúc ấy đang mặc quần lót đứng đánh răng. Lúc chúng ập vào bắn xối xả em thấy bác sỹ Lương đưa tay đầu hàng nhưng chúng vẫn hạ sát. Em bị thương nằm giả chết, một tên đến đá vào người em một cái rồi bỏ đi.

Lương và Vinh là đôi bạn thân. Hồi nghe tin Vinh chết, từ Bến cát Lương viết một bài khóc bạn gửi về chúng tôi đăng ở nguyệt san Tình Thương. Sau đó một lần vào buổi chiều có người gặp anh thơ thẩn ngồi bên mộ Vinh ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Bây giờ đôi bạn chắc không bao giờ xa nhau nửa. Bốn Y Sỹ tử trận trong vòng bảy tháng nói lên mức độ ác liệt của chiến cuộc. Trước hành động bất chấp của địch đối với Quân Y, chúng tôi nêu vấn đề võ trang tinh thần người Y Sỹ. Khi cuộc chiến không có quy ước, không thể tin vào thiện chí của đối phương.  Người Y Sỹ còn là một sỹ quan họ phải biết, phải có tinh thần chiến đấu, ít ra là chiến đấu tự vệ. nhưng bốn thằng Nhảy Dù tương lai chúng tôi không kích thích nổi máu anh hùng của đám bạn bè. Một bàu không khí bi quan bao trùm chúng tôi. Ân “thợ đấm’ thằng thỏ đế nhất đám nghĩ lẩn thẩn: từ khi đổi phù hiệu mới chết chóc nhiều. Cái phù hiệu Quân Y mới hình hai nhánh liễu tréo nhau ôm lấy chữ thập đỏ trông cũng giống mẫu hình chạm trổ ở đầu quan tài của hãng Tôbia. Ti dị đoan lan nhanh như một bịnh truyền nhiễm. Sinh viên Quân Y không ai chịu đeo phù hiệu mới cả.

Tháng mười 1965 Y Sỹ Trung Úy Nguyễn Văn Nhất tử trận ở Dầu Tiếng. cái chết của anh Nhứt gây một xúc động lớn trong giới Y Sỹ, nhất là phía Dân Y vì Nhứt là Y Sỹ trưng tập đầu tiên tử trận. Trận Dầu Tiếng là một trận đánh xáp lá cà đẫm máu. Vị Trung Đoàn Trưởng cũng tử thương trong trận đánh. Nhứt bị trúng vào đầu và ngực. Tôi nhớ dáng người anh dong dõng cao, tính tình trầm lặng. Nhứt đổ thủ khoa nội trú năm 1963, xuất sắc về Sản Khoa. Nghe nói anh được biệt phái sang Bộ Y Tế chờ ngày du học Mỹ. Không hiểu vì sao anh lại được gọi nhập ngũ rồi thuyên chuyển về Trung Đoàn 7 thế chổ anh Lương.

Tháng mười hai 1965 Y Sỹ Trần Thái tử trận trong một cuộc phục kích đoàn xe tải đạn và vũ khí trên đường đi Sài Gòn – Bà Rịa. Thái được ở gần Sài Gòn thế mà vẫn chết. Phe “diều hâu” bốn đứa chúng tôi lại có dịp cổ võ cái thuyết sống chết có số. Phần tôi sự cổ võ nhằm trấn an bạn bè thì ít mà để trấn an mình thì nhiều.

Năm 1965 trong niềm đau chung cho quê hương khói lửa, xáo trộn; lòng người chia rẽ, hận thù, chúng tôi còn mang cái tang riêng của bảy đồng nghiệp hy sinh.

Niềm đau của những người ý thức còn sống không phải ở chổ tiếp tục chịu đựng hy sinh mà ở chổ chịu đựng sự thất bại của mọi cố gắng hy sinh. Những cái chết kia không cứu vãn nỗi một giai cấp đang tự vùi chôn trong thụ hưởng và sợ hãi chiến tranh. Tôi quá cô đơn trong ý thức nhiệm vụ của mình. Dù cô đơn tôi vẫn hăng hái bước theo con đường đã chọn.

Chuồng người

Lâm Chương Post by Sơn râu 17 July 2023

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức. 
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Ðổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh. 

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó: 

– Mày tên gì? 

– Ný! 

– Tên ngộ quá! Họ gì? 

– Nê! 

– Cái gì? Làm gì có họ Nê? 

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný 
. 
Tôi chợt hiểu, bật cười: 

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý. 

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný! 

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný. 

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn: 

– Ný! Mày làm cái gì đó? 

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi. 

– Hôm nay sao chú được nghỉ? 

– Tao bị bong gân chân. Còn mày? 

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội! 

– Mày tìm gì trong thùng phân? 

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn. 

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi! 

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết! 

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau. 

Ðứng tần ngần một lúc, nó hỏi: 

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi! 

-Vô đây! 

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói: 

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi. Tiếc thật! 

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc? 

– Thích chứ! Ðược xơi thịt! 

– Cán bộ cho ăn hả? 

– Không. Làm gì có người tốt thế! 

– Vậy ăn bằng cách nào? 

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Ðến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát! 

-Tụi mày tài thật! 

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật. 

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ? 

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết. 

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi: 

– Chú cho cháu thêm bi thuốc! 

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ. 

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục: 

– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày! 

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết! 

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo. 

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi! 

– Ăn thịt sống hả? 

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao? 

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử! 

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu? 

– Chẳng phải xứ nào cả! Ðó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống. 

– Ðấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế! 

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng? 

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng. 

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào? 

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon. 

Nói xong, thằng Ný đứng dậy: 

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều. 

Nó quay lưng, ra khỏi lán. 


Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai cuþa người bệnh ho lao, tôi gọi:

-Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh! 

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Ðồi nương ẩm đục. Ngày hai mưới chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phaþi xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ coþ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói: 

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân! 

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. 

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng! 

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế! 

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió. 

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói: 

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay! 

Nhiều thằng khác lao nhao: 

– Nôn đi! Nôn đi! 

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn: 

– Hãy khoan! 

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný: 

– Hãy nôn vào đây! 

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Ðồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn. 

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá! 

Thằng bưng thau nói: 

– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi! 

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi: 

– Mày khỏe hẳn chưa? 

– Hôm sau nà khỏe ngay! 

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không? 

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi. 

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ? 

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ! 

Tôi trợn mắt: 

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi? 

– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói. 

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Viễn Thám

Lâm Chương Post by Sơn râu 17 July 2023

Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn. 
Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: “Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?” 

Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng. 

Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên “lưới”. 

Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên “lưới viễn thám” cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. 

Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt. 

Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời. 

Tôi nói ngắn gọn: “Chuẩn bị.” 

Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để. 

Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán. 

Khi vác khẩu phần về, Năng nói: “Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.” 

Thằng Nhiêu hỏi: “Để làm gì?” 

“Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.” 

“Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.” 

Năng sừng sộ: “Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.” 

“Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.” 

Anh em cười rộ. 


Năng nhìn tôi: “Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?” 

Tôi trợn mắt: “Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?” 

“Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?” 

“Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu…, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.” 

“Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!” Năng càm ràm. 

Tôi nói: “Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?” 

“Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.” 

“Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.” 

Thượng sĩ nhất Sử, nói: “Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!” 

Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mạng và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết… sợ. 

Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định “lót ổ” qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup. 

Có tiếng của Đại Bàng Già: “Dấu vết mới hay cũ?” 

Tôi trả lời: “Có mới, có cũ.” 

Lệnh Đại Bàng Già: “Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.” 

Trong đặc lệnh truyền tin, “ngày mưa phùn” là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc? 

Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: “Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc? 

Hắn cười: “Chồn già.” 

“Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?” 

“Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?” 

“Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.” 

Hắn gục gật cái đầu: “À, ra thế.” 

Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy. 

Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng “cốc cốc” của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào? 

Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: “Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?” 

Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai. 

Tôi nói nhỏ: “Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyến đi này, mày ghé về thăm vợ.” 

“Trung úy hứa thì giữ lời nhe.” 

“Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.” 

“Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.” 

Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: “Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?” 

“Làm sao biết còn hay không?” 

“Rách màng trinh, chảy máu.” 

“Tối quá. Không nhìn thấy.” 

“Có tỏ vẻ đau đớn không.” 

“Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.” 

“Có “bót” không?” 

“Bình thường.” 

Tôi vặn: “Bình thường là sao?” 

Năng lí nhí: “Hỏi khó nói quá.” 

“Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.” 

Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: “Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng… tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.” 

Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: “Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?” 

Tôi nói: “Xù rồi.” 

“Ai xù?” 

“Đàng gái.” 

“Tại sao?” 

“Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen “gốc lớn”. Làm sao xin?” 

“Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?” 

“Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.” 

Năng chửi thề: “Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.” 

“Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 

Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói. 

Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: “Không cưới được vợ, có thất tình không?” 

Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không? 

Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu: 

Em như cục cứt trôi sông 
Anh như con chó đứng trông trên bờ 
Em như cục cứt dật dờ 
Anh như con chó trên bờ đứng trông. 


Năng cười rúc trong cổ: “Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.” 
Tôi nhắc lại lần nữa: “Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 
Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc. 
Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: “Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.” 
Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi…, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng. 
Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn. 

Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên. 

Nó nói nhỏ: “Lắng nghe.” 

Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua. 

Tôi nói: “Con đầm già L19, bay quan sát.” 

Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây. 

Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy. 

Tiếng Đại Bàng Già: “Tao đưa mục tiêu lên “lưới”. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển “thiên lôi” làm việc, và cho biết kết quả. Hết.” 

Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao? 

Tôi bảo mấy thằng trong toán: “Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải “dọt” khỏi chỗ này cho xa.” 

Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền. 

Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không? 

Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran. 

Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào “chốt” tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: “Đụng rồi.” Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng “cạp… cạp… cạp…” liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt. 

Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính. 

Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch. 

Lệnh của Đại Bàng Già: “Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.” 

Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó. 

Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế. 

Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn. 

Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu. 

Tôi nói: “Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.”

Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt. 

Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch. 

Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim “tắc cọ”. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la “tắc cọ… tắc cọ…” vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim “tắc cọ” báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: “chim tiền sát”. 

Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải “chốt” tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa. 

Năng lắc đầu tuyệt vọng: “Thôi, chạy đi.” 

Tôi hét: “Ráng!” 

Nó xô tôi ra: “Không được.” Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân. 

Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế. 
Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia. 
Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa. § 

Đôi dòng cảm nghĩ về tập Hồi Ký Thung lũng Tử Thần của Vũ Ánh

Sơn râu 16 July 2023

Gấp lại quyển sách trong tay bạn đọc có những suy nghĩ cảm tưởng như thế nào sau khi đọc xong quyển sách này? Riêng tôi, người đã đánh máy lại 31 phần của tập Hồi ký đăng trên trang Web Vietmessenger trong gần hai tháng đã cho tôi có thật nhiều xúc động. Phải nói tôi đã sống cùng tác giả Vũ Ánh từ những ngày đầu khi ông bước chân vào tù cho đến những kinh nghiệm xương máu ông đã trãi qua những trại tù nghiệt ngã của chế độ. Sự tàn ác và dã man của cai tù Việt Cộng đối với tù nhân trong chế độ cùm kẹp, giam hãm và giết người không cần đến gươm dao, súng đạn. Bạn thử hình dung người tù hai chân bị cùm, nằm ngồi một chổ, tiêu tiểu cũng một chổ, ăn uống với khẩu phần:

“Như thế trung bình một ngày hai bữa trưa và tối, mỗi tù nhân biệt giam được nhận mỗi bữa 150 grams thực phẩm. Thực phẩm gồm cơm và khoai mì. Thực tế mỗi bữa ăn chúng tôi được phát 6 lát khai mì phơi khô rồi luộc chín. Sáu lát khai mì khô ấy “cõng” thêm từ 250 đến 300 hạt cơm. Người tù có nhiệm vụ chia cơm biệt giam tưới vào đó khoảng hai muỗng nước muối. Tiêu chuẩn nước bình thường là ¼ ca đánh răng nước uống. Tình trạng này dẫn đến một hiểm họa khát triền miên và phù dẫn đến chết người mà tôi sẽ đề cập ở phần sau”

Không còn gì tàn nhẫn cho bằng sự đày đọa thân xác người tù như vậy, thiển nghĩ nếu đem ra mà bắn bỏ thì họ còn có lòng nhân đạo hơn là việc đày đọa con người sống còn thua kém con vật! Vũ Ánh đã trãi qua hơn 13 năm tù trong đó có 7 năm nằm biệt giam trong chuồng cọp với hai chân bị cùm và có khi còn bị còng cả hai tay, tối đến là miếng mồi ngon cho muỗi rừng hút máu suốt đêm, bạn thử nghĩ trong điều kiện sống như thế có còn ra là một con người hay không?

Vũ Ánh đã sống và các bạn ông cũng sống trong tù với hoàn cảnh khắt khe như vậy, có người vì sức khỏe yếu kém hoặc không may đã bỏ xác vùi nông chốn rừng sâu đó. Tôi phải nói lời vinh danh sự can trường và ý chí vươn lên của ông để vượt qua những năm tháng lưu đầy khổ nạn đó. Bằng ý chí, bằng sức mạnh tinh thần bạn đọc có thể thấy qua những tiêu đề của các phần trong tập Hồi Ký

  • Tờ Hợp Ðoàn ra đời trong bí mật ở A-20 Xuân Phước trong hoàn cảnh nào?
  • Kiểu tra tấn vượt xa Đức Quốc Xã
  • Làm sao để không cúi đầu trước cường quyền?
  • Những nhân cách đáng quý
  • Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam

Còn nữa, còn rất nhiều bạn ơi, đọc chậm rãi từ tốn để từng dòng từng chữ cũa Vũ Ánh thẩm thấu vào lòng, vào sự suy nghĩ của bạn để cảm nhận, chia sẽ những năm tháng, những thống khổ mà tác giả đã trãi qua. Đây là đời thực không phải là một câu truyện hư cấu, được viết ra với tất cả tâm tư nỗi lòng của một người phải nói là một chứng nhân lịch sử để cho tất cả mỗi người Việt Nam đều biết thế nào là Cộng sản.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 16 July 2023

Phần 31                       

Lời kết

Gần đây, đứa cháu nội của tôi, Catherine Vũ tuy mới 11 tuổi nhưng trong đầu nó đã tràn đầy những thắc mắc về người ông đã từng làm phóng viên thời còn trẻ ở Việt Nam như tôi. Vì ông cháu ở cách xa nhau mấy ngàn dặm từ Đông sang Tây nên tôi cũng ít có dịp nói chuyện với nó. Mỗi lần có dịp đi công việc ở Virginia phải ở lại nhà bố mẹ cháu nên ông cháu mới lại có dịp nói chuyện và nó hỏi tôi khá nhiều về nghề nghiệp của tôi trước đây cũng như hiện tại. Tuy nhiên, nó không dám hỏi tôi về những năm tháng dài tôi bị tù dưới chế độ Cộng Sản. Trong đầu nóc non nớt của một đứa trẻ sinh ra và đang lớn lên ở nước Mỹ chắc Catherine  Vũ có thể nghĩ trong đầu nó chắc là tôi phạm một tội hình sự nào đó nên mới bị tù lâu như vậy. Nó không dám hỏi thẳng tôi có thể là sợ chạm vào vết thương của ông nội chăng. Nhưng nó hỏi bố nó. Những câu trả lời của thằng con trai tôi với con gái của nó không thể đầy đủ và nó phải tham khảo nhà tôi.

Người bạn đời của tôi cũng là một người tốt nghiệp báo chí ở bậc đại học, có thời gian dài làm phóng viên cho Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia và biện tập viên tin tức Đài Phát Thanh Quân Đội và cũng từng là đặc phái viên của hệ thống có nhiệm vụ tường thuật những hoạt động của đệ nhất phu nhân VNCH, bà Nguyễn Văn Thiệu, cho nên rất quan tâm đến việc làm sao để cho con cháu biết rõ ngày xưa vợ chồng tôi xuất thân từ đâu và làm việc ra sao. Cho nên, nhà tôi và mấy đứa con nhiều lần thúc giục tôi viết lại hồi ký về những năm hoạt động trong  ngành truyền thông  VNCH trước 30 tháng 4, 1975 và ở hải ngoại từ năm 1993 tới nay, đồng thời ghi lại quãng đời tù đày dưới chế độ Cộng sản sau khi mất miền Nam Việt Nam. Do lười biếng và lại thiếu thì giờ nên tôi cứ khất lần. Nhưng kể từ khi biết những thắc mắc của cháu nội tôi liên quan đến giai đoạn tù đày của tôi ở Việt Nam tôi không thế khất hay hứa mãi được. Vì thế trong phần hồi ức Thung Lũng Tử thần tôi chỉ ghi lại một số những điểm căn bản về một thế giới riêng của những người tù biệt giam trong cái thế giới chung của nhà tù kiên giam như trại A-20 (có người gọi là trại trừng giới). Ở Việt Nam, những trại kiên giam biểu thị bằng mã số A không có bao nhiêu và đếm chưa hết một bàn tay A-10, A-20 và A-30.

Nhưng ngày nay những trại này đã trở thành quá khứ . Riêng tại vùng đất mà A-20 Xuân Phước tọa lạc nay đã là nơi đặt một nhà máy nhỏ cấp vùng. Cách đây khoảng 7 năm, lúc còn sống nhà báo Nguyễn Tú của báo Chính Luận có gởi cho tôi một bức hình và một video clip thu hình cơ sở điện lực này mà theo lời người giới thiệu trong video là nơi trước đây đặt các nhà giam của phân trại E thuộc trại A-20 Xuân Phước. Nói tóm lại những hình ảnh và video clip là do một người bạn tù ở trong đội có án chính trị phân trại E trại A-20 gởi cho ông và ông gởi từ thành phố Alexandria, tiểu bang Virginia gởi sang cho tôi xem với điều kiện phải gởi trả lại ông một tuần lễ sau. Vết tích quá khứ của trại A-20 nay chỉ còn là một trại giam cấp tỉnh được sử dụng chỉ để nhốt tù hình sự. Vị trí của trại này chính là phân trại B của trại A-20 trước đây.

Ghi lại hồi ức Thung Lũng Tử Thần tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con, cháu tôi, con cháu những bạn đồng tù với tôi cũng như để cho những người nào chưa từng biết, chưa từng trãi qua ngày tù nào trong các nhà tù Cộng Sản sau biến cố 30 tháng 4, 1975 dùng nó làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này. Tôi không có tham vọng được mọi người coi đây như là một sử liệu mà chỉ là một tài liệu mà khi sử dụng nó cần phải đối chiếu với những tài liệu khác trước khi đi đến kết luận về chế độ lao tù Cộng Sản trong giai đoạn từ sau 30 tháng 4, 1975 cho tới giai đoạn mà Việt Nam mở cửa 1994.

Điều bình an nhất trong lòng là tôi còn nhớ và ghi lại được nơi đây nhiều điều chính tôi đã trải qua ở Thung Lũng Tử Thần.

Nhà báo VŨ ÁNH

Sinh ngày 5 tháng 5 1941 tại Hải Phòng, Việt Nam

Mất ngày 14/3/2014 tại California USA

Đi học Chu Văn An và Luật Khoa

1964-1973: Phóng viên Mặt Trận Đài Phát Thanh Sài Gòn

1973-1975: Trưởng Phoàng Bình Luận, Chánh Sự Vụ Sở Thời Sự Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia

1975-1988: Tù Cải tạo Chí Hòa, Z30-C Hàm Tân, A-20 Xuân Phước…

1992-2014: Định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO

Cộng tác với nhiều cơ quan truyền thông tại Hoa Kỳ qua các vai trò Ký Giả, Bình Luận Gia, Tổng Thư Ký và Chủ Bút:

Báo viết: Nhật báo Người Việt, Viễn Đông;

Tuần báo Việt Mercury, Sống Magazine

Báo nói: Văn Nghệ Truyền Thanh, VNCR

Little Saigon Radio, Saigon Radio Houston

Truyền hình: Little Saigon Radio, SBTN

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn Lu 15 July 2023

Phần 30                       

Làm Lại Từ Đầu Ở Tuổi 51

Khoản giữa năm 1985 tôi và một vài người nữa được đọc lệnh tha ra khỏi biệt giam. Có thể quyết định này liên hệ tới một cuộc tổng thanh tra các nhà tù của Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Sản diễn ra chỉ nữa tháng sau đó. Tôi không có bằng chứng nào để gắn vụ thanh tra này với kế hoạch “đổi mới tư duy” của chế độ, nhưng trước khi bị biên chế từ đội làm lò gạch sang đội “đặc biệt” phải di chuyển vào ở chung với khu tu sĩ, tôi đã bị gọi ra làm việc với an ninh trại và qua những chi tiết trong câu hỏi của viên sĩ quan công an phụ trách an ninh này tôi hiểu rằng đang có một biến chuyển chính trị nào đó khá quan trọng ở bên ngoài.

Trên thực tế một biến chuyển quan trọng đã xảy ra: cuộc trở mình đổi mới tư duy được thực hiện với một cái nhìn xa hơn của Hà Nội đối với đàn anh Liên Xô. Nói cho đúng ra những nhà lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải chọc thủng nồi nước sôi ở Việt Nam nên tránh được sự sụp đổ như Moscow. Tuy người Việt ở hải ngoại rất không muốn nghe điều này, nhưng đó là thực tế. Phải công bằng mà nói như vậy. Tôi không biết có phải do ảnh hưởng của việc Hà Nội thỏa thuận chương trình Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích hay chương trình đưa cựu tù  nhân cải tạo đi tái dịnh cư ở Hoa Kỳ hay không mà một số anh em chúng tôi được chuyển về một trại gần Sài Gòn hơn, đó là trại Z30-A Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, một trại mà cuộc sống của tù nhân cải tạo tương đối thoải mái hơn so với A-20.

Cá  nhân tôi, không bao lâu sau khi được gặp mặt mẹ già lần đầu tiên tại trại Z-30A kể từ năm 1977, nhóm chúng tôi gồm T.D.S., N.C.T. và Ng. “đen” lại bị di lý về nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu trước cửa chợ Bà Chiểu năm 1986 để ra tòa vì Công An Sài Gòn nắm được bằng chứng chúng tôi bí mật cho ra tờ Hợp Đoàn ở A-20. Nhưng khi hỏi cung xong và có bản cáo trạng đòi án chung thân đối với 4 người chúng tôi và theo kế hoạch nhà cầm quyền dự tính đưa ra xử trước tòa ngay sau vụ xử nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Dương Hùng Cường, vào giờ chót Viện Kiểm Sát lại quyết định không truy tố nữa mà đưa chúng tôi trở lại trại Xuân Lộc tiếp tục cải tạo trong biệt giam vài tháng trước khi được thả cùm và riêng tôi được thả ra khỏi trại cuối năm 1988 khi trại chỉ còn một nhóm nhỏ tù cải tạo án tập trung.

Tuy nhiên những nhà giam mà tôi đi qua trước hoặc sau trại A-20 Xuân Phước chưa biểu lộ tính chất tột cùng địa ngục trần gian của chúng. Cho nên ở đây tôi chỉ ghi lại những chi tiết về những năm tháng phải sống ở tại thung lũng chết Xuân Phước ấy, nơi tôi trải qua đầy đủ những thử thách và những mưu mô hủy diệt con người như một điểm nhấn trong đời tù của mình. Ngày tôi được gọi tên để chuyển trại về Z-30A Xuân Lộc, người tù thứ 125 qua đời tại bệnh xá phân trại B. Anh là một trong những tù nhân của đội hình sự được đưa vào bệnh xá để chữa trị lao phổi thời kỳ cuối và vài ngày sau khi chúng tôi đã trở thành nhân số tù nhân cải tạo của Z-30A thì tù nhân thứ 126 ở A-20 cũng qua đời vì bị bệnh suyễn mà không được cấp thuốc để làm giảm nguy cơ tử vong. Người tù đó là Linh Mục Nguyễn Luân, một tu sĩ trẻ trầm tĩnh và cương quyết.

Tuy nhiên chưa bao giờ tôi ngồi tính sổ cái giá của cuộc lưu đầy mà tôi phải trả. Chỉ biết rằng với cá nhân và gia đình tôi cái giá đó khá đắt. Nhưng không phải vì thế mà tôi ân hận những việc mình đã làm và mặt khác tôi cũng không giữ mãi lòng thù hận những người chiến thắng. Khi đặt chân xuống phi trường San Francisco để bắt đầu một cuộc đời mới muộn màng là lúc tôi quyết tạm xếp lại những ngày tháng đau thương cũ. Tôi cần bắt tay làm việc ngay trong một đất nước thật sự tự do và dân chủ. Trong rất nhiều lá thư gửi về từ Mỹ, bạn bè tôi sang trước vẫn cứ hay khuyên nhủ: “Nếu mày có sang đây việc đầu tiên là mày phải tập tạm quên đi những ngày nhục nhã và đau đớn mà chúng ta từng phải chịu đựng để bắt đầu ngay công việc của mày. Chúng ta chẳng còn tuổi để thực hiện giấc mơ Mỹ, nhưng nếu mày không nghe chúng tao thì không thể tồn tại được ở đất nước này đâu.”

Tôi phải thú thực rằng được định cư ở Hoa Kỳ để làm lại từ đầu vào lúc tuổi đã 51 là một cơ may. Từ ngày đi tù trở về, tôi chưa bao giờ mơ đến việc đến được nước Mỹ. Thứ nhất, sống gần bốn năm với nghề lao động chân tay ở Sài Gòn, phải khó khăn lắm tôi mới tự nuôi sống mình và giúp đỡ gia đình được., làm gì có vàng để nộp cho chủ tàu vượt biển. Thứ hai, sau hơn 13 năm tù trong đó 7 năm nằm biệt giam và phải đối phó với những đòn nhục hình vô nhân đạo nhất, thực tình tôi đã cảm thấy “lạnh cẳng” rồi và luôn luôn tự nhủ lòng  mình rằng nếu chúng kè xe honda vào sát chiếc xe đạp hay chiếc xích lô tôi dùng làm phương tiện sinh sống hằng ngày, tôi nhất định phải đương cự bằng mọi giá hoặc là trốn thoát hoặc chết còn hơn lại tiếp tục chết dần mòn trong biệt giam ở một nhà tù nào đó nữa.

Thật may trong những năm tháng sống ở Sài Gòn trong sự kỳ thị ra mặt của chính quyền địa phương, không có chuyện gì xảy ra cho tôi. Nhà cầm quyền phường từ chối mọi đơn tôi xin di chuyển ra khỏi Sài Gòn để thăm một vài bạn tù sinh sống tại những thành phố khác lấy lý do lệnh quản chế vẫn còn hiệu lực, nhưng họ không tìm cách dồn tôi vào chân tường. Vả lại khi họ thấy một người tù cải tạo mà lúc nào lưng chiếc áo tôi mặc để lao động cũng ướt mồ hôi, có thể anh chàng Vinh đen công an phường tôi ở đã chép miệng: “Ồ như thế là cuộc đời thằng này đã chấm dứt vì nó lo miếng ăn hằng ngày cũng đã khốn nạn rồi làm gì mà còn dám manh động nữa.” Một trong những người cậu của tôi và cũng là một nhà văn khá nổi tiếng trong hội nhà văn ngoài Bắc cũng bị tù 6 năm chỉ vì nhà cầm quyền nghi ông là người theo chủ nghĩa xét lại. Có lần gặp tôi tại Mỹ nhân chuyến thăm Hoa Kỳ theo lời mời của hiệp Hội American Joiner ông nói như thế này: “ So với cháu, ngày tù của cậu chẳng thấm vào đâu. Nhưng cái khốn nạn nhất không phải là thời gian cậu ở trong tù mà là lúc được thả ra ngoài đời. Việc câu thúc con người của họ (Cộng Sản) vào thời đó thật kinh hãi. Cái nghề mọn nhất là ngồi lên yên chiếc xích lô để kiếm sống cũng không được phép, chỉ có cách sống duy nhất là ngồi gấp và dán những bìa carton để làm bao bì ngày chỉ đủ tiền ăn cháo.” Nhưng cậu tôi không chỉ nói ra những câu chuyện như vậy với những người thân. Cậu đã viết nó thành chuyện và dĩ nhiên phải xuất bản nó ở Hoa Kỳ sau khi các sợi dây trói giới văn nghệ miền Bắc đã được nới lỏng do tình hình đã đổi thay.

Đôi lần cậu hỏi tôi xem nghĩ như thế nào sau khi đọc các tác phẩm của cậu, tôi chỉ nói cần phải viết ra, không nên giữ trong lòng làm gì khi có cơ hội. Tôi nhấn mạnh với cậu là đến như tôi cũng không thể ngờ được là Đảng của cậu là đì những đảng viên như cậu đến mức phi nhân như thế, nhất là bà tôi và là mẹ của cậu là người từng đem tất cả tài sản vàng bạc cúng vào tuần lễ vàng dành cho cuộc kháng chiến chống thực dân của Việt Minh.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 14 July 2023

Phần 29                       

Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam

Tôi đã nhìn thấy người bạn đồng tù L.Q.M. chết như thế nào do phù thủng và tôi cũng đã bắt đầu cảm nhận dần dần trạng thái của một người bị phù thủng nặng. Mỗi ngày, những cơn buồn ngũ bất thường đẩy tôi thiếp đi trong sự mệt mỏi đến lã người và khi thức dậy cảm thấy lười biếng không muốn ngồi lên, người lúc nào cũng gây gây lạnh, thấy tưng tức ở bàng quang nhưng không thể nào tiểu nhiều được. Tôi không muốn khai bệnh vì tôi sợ hai điều: một là khai bệnh sẽ làm lộ rõ yếu điểm vì sẽ làm đám quản trại sẽ không chậm chạp trong việc dùng nhu cầu thuốc của tôi để làm áp lực, hai là nếu được cấp thuốc thì cùng lắm cũng chỉ nhận được vài viên xuyên tâm liên uống vào chẳng có tác dụng gì mà có khi còn dẫn mình vào chổ chết. Chi bằng cứ phó thác mạng sống cho đấng linh thiêng và chấp nhận định mệnh mà chúng tôi vẫn thường đùa cợt nhau bằng một từ ngữ “trời kêu ai nấy dạ.” Để cho lòng thanh thản và giảm đi cảm giác khó chịu của phù thủng, tôi ngồi thiền rồi đứng dậy đánh Dịch Cân Kinh rồi sau đó ngồi đọc Chú Lăng Nghiêm cho tới tờ mờ sáng mới nằm xuống. Sự tập luyện này kéo dài khoảng một tháng thì tôi nhận thấy cơ thể mình có vẽ khá hơn. Trạng thái ngũ như thiếp đi bớt dần và khi lựa thế cùm để có thể đứng lên đánh Dịch Cân Kinh “cải tiến” (vì một chân bị cùm, nhưng nhờ cùm rộng nên có thể lựa thế đứng dậy được) tôi đã thấy mồ hôi rịn ra ở lưng áo và ngày cũng đi tiểu được vài lần. Điều đáng mừng nhất là khi cúi xuống, tôi không thấy nặng ở mặt nửa. Đúng vào lúc ấy thì “phi vụ” tiếp tế thuốc diễn ra. Vì sự kiện diễn ra đã lâu quá, hơn ba thập niên rồi trí óc đã mòn mỏi nên tôi không còn nhớ ngày nhưng nhớ được là chuyện xảy ra vào trưa Chủ Nhật, tuần lễ đầu của tháng Tư,1985. Buổi trưa hôm đó tiêu chuẩn cơm tù của biệt giam hơi đặc biệt. Phần “cơm” không phải là khoai mì lát luộc như thường lệ mà là một cái “bánh bẹp” và nước muối được thay vào bằng một cái chén nhỏ cà tím nấu với một thứ nước mắm cá mà chúng tôi gọi là “nước mắm mút giòi”

Xin độc giả cho tôi một ít phút để giải thích rõ hơn về “bánh bẹp” và “nước mắm mút giòi”. Sở dĩ chúng tôi gọi loại bánh làm bằng bột mì rồi đem luộc giống như người Tây phương luộc Spaghetti vậy là vì bề dày của miếng bánh chưa tới một centimetre nên trông rất mỏng, gọi là “bẹp.” Có anh em bạn tù thì nói rằng bột mì là do Canada viện trợ. Cũng lại có anh em nói rằng đây là bộ mì Sơn Đông của Trung quốc. Thời gian còn ở trại Hàm Tân Z30-C, anh tổ trưởng tổ cơm trong đội nhà bếp trước 30 tháng 4, 1975 vốn là chuẩn úy biệt phái và là thuộc cấp cũ của tôi tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia cho biết khi đội nhà bếp đi lãnh bột mì ở thị xã Bình Tuy bột vẫn còn trong bao bên ngoài có ghi rõ là quà tặng của chính phủ Canada. Do không có bột nổi và cũng không có ai biết xây dựng lò làm bánh mì nên cuối cùng nhà bếp trại đành phải nhồi bột với nước, đóng bánh rồi cho vào luộc chín thành những miếng bánh diện tích khoảng bàn tay hay có khi nhỉn hơn một chút. Chúng tôi gọi đó là “bánh bẹp.” Tiêu chuẩn bên ngoài trại lao cải thì mỗi bữa ăn, một tù nhân cải tạo được cấp phát một miếng như thế, nặng khoảng 150 grams. Còn tiêu chuẩn trong xà lim biệt giam thì miếng bánh bẹp ấy bị cắt đi một góc.

“Mắm mút giòi” là một nhóm từ ngữ do anh em làm ở đội nhà bếp trại A-20 Xuân Phước đặt ra để chỉ một loại nước mắm mà tôi nghĩ có lẽ chỉ dùng để phát cho tù nhân cải tạo thời bấy giờ thôi, chứ nếu ngày nay mà đem loại nước mắm này phát cho tù cải tạo hiện nay ở Việt Nam thì chắc chắn các tổ chức nhân quyền như Human Rights Watch hay Phóng Viên Không Biên Giới sẽ có nhiều việc làm tốn giấy mực hơn. Vì ở nhà tù tại Việt Nam đến ngay tù nhân thọ án là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ không được gặp vợ thường xuyên hay luật sư Lê Quốc Quân không được gặp linh mục và không được mang tài liệu sách báo vào phòng giam nghiên cứu mà cũng đã trở thành vấn đề lớn hiện nay rồi huống chi nếu họ lại còn bị cho ăn mắm mút giòi.

“Mắm mút giòi” thực ra là loại mắm cá của người Tuy Hòa, nhưng khi nước mắm đã được chắt hết thì các trại tù cải tạo thuộc phạm vi tỉnh này mua lại những bã cá mắm đó mang về chứa trong các chum vại ở nhà kho trại, nhưng do bảo quản không kỹ, bã mắm hư hại dần trong kho chứa và trong rất nhiều trường hợp ruồi nhặng đã đẻ ấu trùng vào mắm. Anh em nhà bếp cho biết họ phải pha nước vào thùng nước mắm còn nguyên những ấu trùng đó, đun cho thật sôi, vớt xác chúng ra rồi mới đem phát cho tù cải tạo. Người tù nào sợ thì vứt bỏ, người nào không sợ thì vẫn dùng. Đang trong tình tạng bị phù thủng nên tôi không hề đụng tới cái món cà tím này, dù rất thèm, đành ngồi nhai hết chiếc bánh bẹp rồi nằm ngã lưng một chút.

Đang mơ màng thì tôi bỗng giật mình nghe tiếng chân chạy rầm rập trên hành lang phía ngoài xà lim, rồi nghe một tiếng “soạt”. Một gói nhỏ bọc ngoài bằng bao nylon nằm giữa lối đi giữa hai bệ cùm. Nhặt lên mở ra thấy có hai tán đường, 12 viên Vitamin B1(trị phù thủng) và 6 viên dầu cá loại nhỏ (thời đó dầu cá viên chỉ có kích cỡ chỉ bằng đầu đũa) và một miếng bao nylon. Tôi hiểu ngay bao nylon này là một lời nhắn: phải tiêu thụ hết đường ngay kể từ buổi trưa cho tới giờ điểm số xà lim vào buổi chiều vì khi điểm số cai tù hay khám xà lim, gói thuốc B1 dầu cá vào bao nylon và nhét vào hậu môn như chúng tôi vẫn thường làm thế để giấu những mẫu tài liệu dùng thực hiện tờ Hợp Đoàn.

Từ buổi trưa cho tới giờ đếm số buổi chiều, tôi uống 2 viên Vitamin B1 và điều ngạc nhiên là ngay lúc bóng tối phủ kín xà lim cho tới gà gáy sáng hôm sau, tôi đi tiểu khoảng hơn chục lần và có cảm giác dường như bao nhiêu nước tích tụ trong người được xả ra ngoài hết. Nhưng hiệu quả của thuốc chỉ trở nên hoàn hảo sau khi tôi sử dụng hết các viên dầu cá và B1. Chỉ có điều sau khi không còn triệu chứng phù thủng nữa thì lại cảm thấy đói kinh khủng, nhưng do vừa trãi qua kinh nghiệm, tôi luôn dùng tự kỷ ám thị và luyện tập thiền để vượt qua đói khát. Tôi cần nhấn mạnh ở đây rằng điều này thật sự hữu hiệu trong những hoàn cảnh khốn khó nhất. Đầu thập niên 1990 gặp lại những bạn tù cùng trại tại Sài Gòn ngồi uống cùng nhau ly cà phê bên vệ đường giữa một thành phố bắt đầu hồi sinh, chúng tôi vẫn còn có nhiều tranh cãi về giai đoạn tù đày và tình trạng bị quản chế vì hoàn cảnh đôi khi khác nhau, nhưng có một điểm chung giống nhau. Đó là, trong tù thực phẩm chính của người tù vẫn là tinh thần bởi chính nó mới giúp chúng tôi kiên nhẫn, chịu đựng bền bỉ vượt qua khó khăn và giữ trọn được nhân cách.

Thời gian sau đó gặp lại Ng. “đen” khi được biên chế vào đội làm lò gạch thì hóa ra những viên thuốc B1 và dầu cá được đưa vào biệt giam cho tôi cũng như các bạn khác có thể phải đánh đổi bằng chính mạng sống của anh em đồng đội với tôi trong nhóm Hợp Đoàn: họ phải nghiên cứu phương thức leo qua hàng rào kẽm gai trên bức tường hông của khu biệt giam. Bức tường này nằm sát một khu gọi là khu tu sĩ. Sở dĩ chúng tôi gọi là khu tu sĩ vì khu này có một nhà giam duy nhất được ngăn đôi cầm giữ các tu sĩ Công Giáo, Phật Giáo và các chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo của người Chàm ở Ninh Thuận và Châu Đốc. Chung quanh khu giam giữ các tu sĩ là một bức tường cao khoảng bốn thước và cửa ra vào khu có khóa. Như thế nếu cửa này bị đóng lại thì những người tù khác tại những đội lao cải không nhìn thấy gì bên trong tiểu khu tu sĩ và đám quản trại ra một lệnh đặc biệt phạt rất nặng khi bắt gặp một tù nhân cải tạo nào liên hệ với những tu sĩ trong khu chuyên giam này.

Mục tiêu của việc thành lập khu tu sĩ chỉ là để cô lập tất cả những tu sĩ của các tôn giáo với chúng tôi và ngược lại. Ng. “đen” và P.Đ.N. phải mất một tuần lễ để “điều nghiên” cách leo tường vào khu biệt giam. Họ chú ý đến các phiên đổi gác của vệ binh trên chòi gác và nhận ra phiên đổi gác vào khoảng trưa Chủ Nhật sau giờ các đội lao cải lãnh thực phẩm là kéo dài lâu hơn cả. Hơn nửa, giao ca ở các vọng gác trong các trại tù cộng sản có khi không diễn ra ở dưới chân chòi gác mà ngược lại giao ca được tiến hành ở cổng trại, nơi có một cái bàn làm việc của trực trại. Từ cổng ngoài của trại vào đến khu biệt giam một vệ binh súng dài phải mất khoảng từ 7 đến 10 phút di chuyển. Một khuyết điểm thứ hai của an ninh trại là vòng kẽm gai trên tường trong khu biệt giam là vòng đơn  và chỉ được móc vào một cái móc bằng đinh đóng cong xuống rồi kéo ra. Cả hai bạn tù chí cốt nhất của tôi chọn một lối tương đối khuất nằm ngay giữa búc tường của khu tu sĩ chạy từ cổng khu biệt giam vào và bức tường của khu biệt giam. Chỉ cần tháo móc giữa vòng thép gai đầu tiên là có thể tạo thành một khoảng trống hẹp leo qua tường để nhảy vào khu biệt giam. Dĩ nhiên người nhảy vào phải tương đối còn mạnh, cởi trần và mặc quần đùi thật hẹp để tránh vướng víu.  Nhưng điểm hóc búa nhất trong kế hoạch cần phải giải quyết là liệu các tù nhân tôn giáo có đồng thuận để ủng hộ việc làm này của anh em chúng tôi không? Họ có sợ bị vạ lây mà đi báo cáo với an ninh không? Do đó, cả hai bạn tù của tôi lại phải tham khảo và may mắn là hầu hết các tu sĩ trong khu này đều là những vị từng giữ chức Trưởng phòng Tuyên Úy của các Quân Đoàn hay Sư Đoàn hoặc từng làm công việc tuyên úy tại những phòng sở phụ trách về Đức tin cho Quân đội VNCH cho nên họ đồng ý cầu nguyện và coi như không biết, không nhìn thấy “phi vụ” nguy hiểm như tôi vừa trình bày. Nó nguy hiểm vì chỉ cần anh vệ binh súng dài nhận ca gác leo lên chòi gác sớm hơn thời gian dự tính từ lúc leo vào và leo ra khỏi khu biệt giam là có thể Ng. “đen” hay P.Đ.N. có thể mất mạng do  vệ bịnh từ chòi canh bắn xuống.

Câu chuyện này không phải là một kịch bản trong phim mà là chuyện thật biểu lộ tinh thần đoàn kết và cưu mang nhau ở một trong vài trại tù được liệt vào danh sách những trại tù khắc nghiệt nhất tại Việt Nam thời chưa mở cửa.