Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Đêm cuối cùng, tôi ở nhà bác Huế cho tiện lên bến xe. Sáng mai, tôi sẽ rời Nha Trang. Trong đêm chờ sáng, tôi đứng ngoài hành lang trên tầng gác, nhìn về cuối con đường. Những ngọn đèn mờ ảo trong sương như những con mắt âm u buồn thăm thẳm. Tôi nghĩ về ba tôi. Với một quê nhà mấy năm xa cách. Con đường đất tử nhà tôi dẫn về quê ngoại, hai bên là đồng ruộng mênh mộng, Mùa khô, mặt đồng trơ cuống mạ. Lũ nhỏ chúng tôi đã chơi đùa lăn lộn, dầm mưa dãi nắng ở đó và lớn lên tự nhiên như cây cỏ ngoài đồng nội, Đứng trước nhà tôi, nhìn xa xa thấy những rẫy mía trổ bông trắng xóa cả một vùng. Tôi mường tuợng, mỗi ngày ba tôi đi làm ngang qua đó. Bao nhiêu năm, ngày nào cũng thế. Ông đi, đầu hơi cúi xuống, chẳng nhìn chẳng ngó ai. Dáng đi lầm lũi, khép kín, cô đơn như người di một mình trên sa mạc. Gợi lại hình ảnh ấy, tôi xúc động, và thương ba tôi hết sức. Từ trước dến nay, có lẽ chưa bao giờ tôi cảm thấy thương ông như thế. Nhất là khi cô Hường nói cho tôi hiểu ra rằng ba tôi đuổi tôi đi như một thử thách ý chí tôi trước hoàn cảnh xã hội, chứ không phải là thái dộ ruồng bỏ con cái. Giờ đây, tôi sắp trở về. Một đứa con đi hoang trở về, mang theo trong tâm hồn nhiều vết thương, Phương Nghi là nỗi ước mơ tình yêu tuyệt vọng. Chị Triều đưa tôi vào đời bằng con đường tình dục. Xa chị, những tế bào đam mê dục vọng trong tôi hàng đêm thôi thúc. Tôi đi, cũng mang theo hình ảnh của Đông, một dứa con gái chớm tuổi dậy thì, e ấp rụt rè mà thân thiết biết bao. Tôi miên man nghĩ ngợi hết người này đến người khác, cùng những kỷ niệm vui buồn. Đêm đã khuya lắm, Đông lên tầng gác, đứng sau lưng tôi từ lúc nào.

Nó bảo: “Khuya rồi. Anh vào ngủ để mai đi sớm.”

Tôi nói: “Có nằm cũng không ngủ được.”

Tần ngần một lúc, nó lại hỏi: “Anh Hiên về lần ni, rồi chừng mô trở lại Nha Trang?”

“Anh không biết, Ba anh cần có anh bên cạnh, trong lúc này. Nó dựa vào thành lan can, im lặng nhìn xuống đường. Tóc rủ một bên vai, sương xuống ướt lá dương lả ngọn vào hành lang hẹp.

“Em vào ngủ di. Đứng đây coi chừng cảm lạnh.”

“Em củng không ngủ dược. Em thức chờ sáng với anh.”

“Anh có nhiều tâm sự. Em có gì đâu mà cũng thức?”

“Răng anh biết được em?” Nó nhìn tôi, trong đáy mắt u ẩn đựng đầy bóng tối. Tôi nhìn về phía những ngọn đèn vàng, buồn tím ruột gan. Bầu trời trắng một màn sương đục. Không thấy những vì sao. Đêm thành phố miền biển, thoảng nghe có muối măn tan hòa trong hơi sương.

“Trước khi đi, anh cần nhắn lại điều chi cho ai không?”

“Ngoài sư Trí Tâm và những người trong gia dình em, anh không còn ai thân thiết”

Nó hòi nhỏ: “Với em, chừ anh cũng không có điều chi để nói răng?

Câu hỏi làm tôi xúc động mãnh liệt. Tôi đứng nhích lại gần Đông, muốn quàng lấy đôi vai nhỏ bé thấm đẩm mù sương mà ấp ủ. Đêm lắng đọng chìm vào tịch mịch hư vô. Tôi như nghe hơi thở của Đông lùa rất nhẹ trong chùm dương rủ lá. Đồng thời, tôi cũng chợt nghĩ đến bác Huế. Tôi tưởng tuợng trong bóng tối ở phía sau lưng, đôi mắt bác đang theo dõi từng cử chỉ của tôi. Nếu tôi cầm lòng không đậu, thì bao nhiêu gìn giữ tốt đẹp bấy lâu, sẽ tức khắc tan tành sụp đổ trong lòng bác.

Tôi nói thầm: “Đông ơi, em vào ngủ đi.”

Nó ngó xuống bàn chận một lúc, buồn bã quay vào. Tôi đứng một mình trong đêm chờ sáng. Lòng đẩy sương giá cô đơn. Năm giờ sáng, trời còn chạng vạng. Hai bác Huế Quảng và bé Hà đưa tôi ra cổng. Không có Đông. Tôi ôm bé Hà, hôn tóc nó, nới lời từ giã hai bác, rồi lên xích lô. Lúc xe bắt đầu lăn bánh, tôi ngoái nhìn lên tầng gác. Đông đứng ngoài hành lang, ngó theo. Tôi vẫy tay. Nó vẫn im lìm như tượng đá.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Thấy vợ đang nấu ăn ở trong bếp, ông chồng đang đọc báo ở phòng khách bên, bỏ tờ báo xuống bước vào cạnh vợ, ông nhìn vào nồi canh rồi nói: “Sao ít nước quá vậy. Chắc mặn rồi đấy Thêm nước kha khá vào đi em!” Ông lại giở nắp song nồi thịt bằm, cúi xuống hít hà mấy cái, góp ý kiến: “Cái này em đã ướp đủ gia vị chua? Sao không thấy thơm tho gì cả vậy?” Ông quay người lại chổ để nồi cơm điện, đưa tay định dở nắp ra. Bà vợ nãy giờ im lặng theo dỡi cử chỉ lạ lùng của chồng, nhưng đến lúc ông sắp chõ miệng vào nồi cơm, thì bà nổi nóng, hết chịu đựng, la lên: “Ông đi ra khỏi nhà bếp đi! Khi nào xong, tôi mời ông cầm đũa. Việc bếp núc là của tôi, tôi yêu cầu ông đừng xen vào: Giỏi thỉ ông vào nấu đi, cho tôi ra ngồi đọc báo!”

Bấy giờ ông chồng chậm rãi trả lời: “Nấu ăn là việc của bà, lái xe là việc của tôi, thế mà lúc tôi lái xe, ngồi bên cạnh bà cứ hết nhắc nhở hết chuyện này đến chuyện nọ, hết kêu chậm lại, lại kên nhanh lên! Hết nhắc đừng, lại giục đi, mà tôi có nổi nóng hồi nào đâu?”

Trong một cuộc phỏng vấn điều tra các vị đàn ông lái xè, thì đã có 908% quý ông bị các bà vợ ngồi bên can thiệp bằng cách cố vấn thô bạo vào việc lái xe. Ngày xưa quý vị phi công nếu có cho vợ đi nhờ máy bay thi cũng chỉ được để vợ ngồi ở thân tàu, nếu ngồi ở cockpit, dù các bà chẳng hể học lái máy bay ngày nào, cũng muốn lái cả phi công. Quý bà thường hay xen vào công việc của ông chồng, nếu có đàn bà thích lái tài xế, lái phi công, thì ngày xưa cũng có bà lái cả tướng, tá. Cò bà tư lệnh mỗi đêm thường goi các vị trung đoàn trưởng để nhắc nhỡ chuyện “hụi hè” cho nên chúng ta mới phải chịu cái cớ sự bỏ nước mà đi ngày nay.

Tôi đã từng ngồi chung xe với nhiều cặp vợ chồng, nhất là khi ông chồng lái thì bà vợ hình như không bao giờ chịu ngồi yên:

-” Bảng “stop” kìa auh!”- Đèn đỏ kìa anh!” – Xanh kìa đi đi anh!” – “Sao chậm vậy anh!”- “Nhanh lên một chút anh.”

Hình nhự đa số phụ nữ thường không chịu ngồi yên khi ông chồng lái xe, nhưng chưa có ông chồng nào dám nói:

“Nào, giỏi thì bà lái xe đi, cho tôi ngồi đọc báo!”

Tôi tin rằng người lái xe có nhiều kinh nghiệm và phản ứng hơn là người ngồi bên cạnh, nên không thể hỏi họ, sao lúc này hay đoạn đường này chạy nhanh, mà ở chỗ kia lại giảm chân ga. Trong bản chất người phụ nữ nào cũng có chút ít mầm móng của người mẹ, người chị, cô giáo mà ít thấy điều gì tỏ ra họ là đứa con, đứa em, thích chủ động hơn là thụ dộng. Thông thường là người phụ nữ ít giữ đuợc bình tĩnh hơn người đàn ông, Xe dang chạy trên đường mà thấy ở phia tay phải có xe cảnh sát đang chớp đèn dừng lại biên phạt một xe hơi khác là mấy bà đã quýnh lên: “Cảnh sát kìa! Cảnh sát kìa anh!”

Người lái xe sẽ hỏi lại: Nếu có một con sư tử đang nhai ngấu nghiến một con nai đầy máu me bên bìa rừng, thấy một con nai khác chạy qua, nó có bỏ mồi đi rươt theo con nai mới không?” Câu trả lời là không. Nhưng thấy ông cảnh sát đang đứng biên giấy phạt lên đường thì nên đổi lane, gọi là “pass over” nếu không sẽ bị phạt nặng, vì đã có trường hợp tài xế chạy gần đụng chết ông cảnh sát vì có lẽ muốn quan sát chuyện gì đã xảy ra.

Có khi thấy xc cảnh sát chạy bên kia đường các bà đã la hoảng: “Cảnh Sát kìa! Cảnh Sát kìa!” Thì thây kệ nó. mình chạy xe đúng luật là được rồi. đừng hoảng. Thật tình nếu giao tay lái cho mấy bà, ông chồng làm người quan sát ngồi một bên chắc cũng phải lên ruột. Tôi vẫn nghĩ là đàn ông lái xe giỏi hơn đàn bà. Ở Bolsa này đă có hai trường hợp lái xe tông thẳng vào quán ăn, hay ngoài chợ lui xe cán phải bà giả dều là … phụ nữ. Nhưng cũng có trường hợp đản ông lái xc đụng cột đèn làm mất điện cả khu phố như một ông nghị viên. thì đó là vì … xỉn, chứ không phải vi lái dỡ!

Tôi cũng dã từng biết chuyện một bà lai xe vào thẳng garage, thay vì rà chân thắng thi lại đạp mạnh chân ga, may mà ông chồng đang đứng trước xe nhảy kịp, chỉ làm đổ vách, chứ chưa đụng đến người. Ở các lớp học xóa ticket, phụ nữ đông hơn đàn ông. Có lẽ cảnh sát Mỹ có lòng kỳ thị, phân biệt giới tính chăng?

(Thuy Sĩ, theo hãng bảo hiểm Suva, một hãng bảo hiểm có khách hàng đông nhấ, thì đàn bà gây nhiều tai nạn lái xe hơn đàn ông. Phái đẹp hiện nay có tỷ lệ gây tai nạn cạo hơn nam giới là 25″%, lý do là hay bị căng thẳng và “lo ra” hơn cánh mày râu. Tại Anh Quốc theo Telegraph, một cuộc khảo sát cho thấy có tới 13 nam giới cho biết họ không cảm thấy an toàn khi để vợ hoặc bạn gái lái xe hơi, với lý do chị em ta quá dễ bị xao nhãng, chia trí bởi chuyện con cái, cảnh vật trên đường hoặc người lái xe khác.

Nhưng thco nghiên cứu trên 700 người của Công ty Carrentals cũng ở Anh thì phụ nữ lái xe ít vi phạm an toàn

giao thông, ít gây tai nạn hơn đàn ông. Có đến 57% nam giới vướng phải mệt hoặc nhiều tai nạn, trong khi tỷ lệ này của phụ nữ chỉ 44%. Cũng theo các thử nghiệm của Đại học Braford (Anh) lại cho thấy khoảng thời gian tập trung và khả năng học luật ở phụ nữ tốt hơn nhiều so với nam giới. Nguyên nhân có thể do lượng hóc môn ocstrogen của phụ nữ dã kích thích lên một phần não gọi là thùy trán chuyên xử lý các kỷ năng liên quan. Điều này cũng giải thích vì sao học sinh nữ dễ tập trung ở trường hơn nam và vì sao phụ nữ lái xe cẩn thận hơn đàn ông.

“Ông nói gà bà nói vịt.” Vậy biết tin ai bây giờ? tôi không phải là người viết tạp ghi nói xấu phụ nữ nhưng đôi lúc cũng là người trong cuộc, cũng như đã nhiều lần chứng kiến cảnh quý bà đang tận tụy dạy lái xe cho chồng, nói rõ là “làm nghiệp vụ lái tài xế.” Có điều, trong 23 năm lái xe ở Mỹ, tôi đã nhiều lần bị cảnh sát theo chớp đèn sau xe, bắt dừng lại bên vệ đường để viết giấy phạt và những lần đó là những lần trong xe không có “bà thầy” dạy lái xe ngồi bên cạnh. Ơ một lớp học “xóa ticket,” tôi gặp một ông bạn già khá thân, ông “nhày nhỏ” với tôi: “Đừng nói với vợ tôi là mình gặp nhau ở đây nghe anh!” Tôi bắt tay ông thật chặt. nói nho nhỏ với ông một câu nửa Tàu, nửa Tây: OK! OK! Me too! Kỷ sơ bất dục, vật thị ư nhân!” (Dịch theo hòan cảnh này là: – Điều gì anh không muốn tôi nói với vợ anh, thì anh cũng đừng nói với vợ tôi nhé!)

“Không Thầy đố mày làm nên!”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi!

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Một con chim én lượn quanh gác chuông đã sạt mất nửa. Tia nắng thứ nhất làm bừng sáng những viên ngói ngũ sắc còn lại. Graber thắp bếp đun rượu. Không biết ở chỗ tôn nghiêm này có được phép nấu bếp không, y theo tác phong nhà binh, cứ làm trước đi đợi lệnh cấm hãy hay. Y lấy ga-men ra và đi tìm vòi nước. Đằng sau trạm thọ hình thập tự giá có một vòi. Cách đấy không xa, một người nằm ngủ miệng há hốc, cằm lởm chởm râu đỏ. Y chỉ có một chân. Cái chân gỗ đã tháo ra để bên cạnh. Nắng chiếu vào nom như một cái máy dị kỳ. Graber bây giờ mới thấy rõ những lối đi có che mái và những cột trụ cách nhau rất đều. Người ta đã tôn trọng lời dặn của ông thầy dòng: nam nữ biệt tịch, phía nam dành cho phụ nữ.Graber trở lại thì Elisabeth đã tỉnh dậy. Coi nàng tươi tắn và tỉnh táo, không giống những người khác trong nhà rẫy này.

– Có chỗ rửa mặt rồi. Em nên đến trước không thì lát nữa đông không chen được. Những nơi tôn nghiêm phần nhiều kém về mặt thiết trí y tế. Ra đây anh chỉ cho buồng tắm của các thầy tu.

– Anh ở lại coi chứ không về đến nơi thì chẳng còn đèn bếp với cà phê nữa. Anh chỉ cho em tìm lấy cũng được.

Nàng theo lời chỉ đi qua vườn. Nàng ngủ yên cho nên áo không nhàu. Chàng trông theo mà bỗng cảm thấy xúc động lòng yêu mạnh mẽ.

– À ra bây giờ ông đun nấu trong vườn của Chúa?

Hẳn là ông ta rón rén bước lại nên không ai biết:

– Mà lại còn đun nấu trước trạm thánh?

– Nếu có bếp riêng cho người tị nạn chúng tôi đến nấu.

– Bếp à! Ông nên nhớ rằng đây là đất thánh. Ông không thấy mộ các giám mục à?

– Không phải lần thứ nhất tôi nấu bếp trong nghĩa địa. Nhưng có lẽ ở đây có quán ăn hay xe bán đồ ăn.

– Quán ăn ở đây?

Ông ta nuốt những danh từ ấy như trái cây thối.

– Có cũng hay chứ sao?

– Hay với người vô đạo như ông. May mà không ai nghĩ như ông! Quán ăn trên đất của Chúa! Thật là gàn dở!

– Đâu đến nỗi. Đấng Ki-Tô đã cho một số lớn người ăn với vài chiếc bánh và vài con cá, ông phải biết những điều ấy chứ. Hẳn là Chúa không phải là người ác nghiệt như ông. Thôi mời ông đi đi! Bây giờ là chiến tranh, phải nói cho ông biết thế!

– Tôi sẽ trình với viện trưởng.

– Ông cứ lên trình, viện trưởng sẽ tống cổ ông ra, với lũ quỷ cho ông chết rã thây!

Ông thầy dòng quay đi với điệu bộ người đáng kính bị ngạo mạn. Graber lấy ra một gói cà phê, thừa hưởng của Binding. Để gần mũi ngửi, đúng là cà phê bột. Đổ nước nóng vào mùi thơm bay khắp nơi. Thấy ngay hậu quả. Một cái đầu râu ria không cạo nhô lên đằng sau ngôi mộ và hít gió. Một người nhọc nhằn trỗi dậy đến gần.

– Này ông bạn, có nhiều cho uống một chút.

– Thôi xin ông. Đây chúng ta đang ở nhà của Chúa người ta nhận của bố thí chớ không ai bố thí cả.

Elisabeth trở lại. Nàng đi nhẹ nhàng vui vẻ như đi chơi về.

– Cà phê ở đâu thế?

– Của anh Binding, uống ngay đi không thì cả nhà rẫy này đổ đến tranh phần bây giờ.

Mặt trời lần lượt chiếu từng trạm trong đường thập tự. Một bó hoa tím vừa tàn hết trong một chậu để dưới trạm thọ hình thập tự giá. Graber lấy bánh mì và bơ trong bị ra, cầm dao bỏ túi phết từng miếng.

– Bơ tươi à? Cũng của anh Binding?

– Của Binding hết. Lạ thật, y luôn ăn ở rất tốt, mà anh không thể nào cảm tình được với y.

– Có lẽ vì thế mà y phải hết lòng với anh. Ở đời có những trường hợp như thế đây.

Elisabeth ngồi trên bị, gần Graber:

– Gần như cuộc đời mà em mơ màng khi lên bảy tuổi.

– Anh thì anh muốn là thợ làm bánh.

Nàng cười.

– Thế thì không làm bánh lại đi chạy hàng và kiếm được những thứ thiệt hay. Mấy giờ rồi?

– Thu xếp lại rồi đưa em lại xưởng.

– Không, chúng ta ở đây thật lâu. Gởi đồ đạc đây cũng lâu lắm, lại phải đứng nối đuôi để xuống hầm. Nhà rẫy cũng đông rồi. Em đi rồi anh có đủ thì giờ thu xếp.

– Đồng ý. Không biết ở đây có được phép hút thuốc không?

– Chắc là không, nhưng hút thì có sao?

– Thôi ta cứ làm cho thỏa thích đợi lúc họ tống ra cũng chẳng lâu gì đâu. Để anh đi kiếm chỗ ngủ tối nay, nằm không phải mặc cả áo ngoài. Ta đồng ý rằng không đến làm phiền viện trưởng nhé!

– Thà đến nhà thầy Pohlmann còn hơn.

Mặt trời đã lên cao rồi chiếu xuống cổng hình vòng cung, in bóng cột vào tường. Người cụt chân đeo chân giả vào và buông ống quần xuống. Graber gói bơ, bánh mì và cà phê lại.

– Tám giờ kém mười lăm. Em đi thì vừa. Anh sẽ lại xưởng kiếm. Nếu có xảy ra cái gì thì đến nơi hẹn: vườn quán Witte, sau đến nhà rẫy này.

– Vâng, cứ thế nhé, lần cuối cùng em xa anh suốt ngày.

– Tối nay có thể đi ngủ muộn hơn, lâu rồi mình sẽ bù lại thời gian đã mất.

Nàng hôn chồng rồi rảo bước đi. Graber nghe tiếng cười đằng sau, y bực tức quay lại. Một người đàn bà trẻ đùa giỡn với con. Đứa trẻ đứng trên tường vừa kéo tóc và tai mẹ. Hẳn là người ấy không để ý đến chàng và nàng.

Y đến vòi nước rửa ga-men thì nghe tiếng chân gỗ của người phế binh chạy theo mình:

– Này bạn, lúc nãy anh uống cà phê phải không?

– Phải, nhưng không còn.

– Tôi đã ngờ thế. Nhưng tôi nghĩ đến cái bã. Nếu anh định đổ đi thì cho tôi để nấu lại.

– Ừ, anh lấy mà dùng!

Graber đổ bã cà phê vào cái vung anh ta chìa ra. Rồi anh ta đi tìm đồ đạc xếp vào chỗ để với những người mang vào hầm. Y đợi một chuyến cãi vã nữa với thầy dòng. Nhưng lại thấy một ông già mũi đỏ. Ông này hơi rượu sặc sụa và không nói gì.

***

Viên trưởng xóm ở từng lầu thứ nhất một căn nhà đã cháy hết những từng khác. Trông thấy Graber, ông ra hiệu gọi lại.

– Ông có thư cho tôi à?

Graber vừa bước vào vừa hỏi :

– Có thư cho vợ ông. Đề tên cô Kruse, tôi đưa cho ông cũng được chứ gì?

– Vâng được.

Graber cầm lấy phong thư. Hình như lão trưởng xóm nhìn y với đôi mắt khác thường. Y đưa mắt nhìn phong bì mà thấy máu đông lại. Bức thư của Sở Công an. Y xoay bức thư trong tay. Bức thư dán vụng về, hình như có người bóc ra rồi dán lại.

– Thư gởi đến bao giờ thế ông?

– Chiều hôm qua.

Graber nhìn bao thơ. Y chắc chắn rằng lão ta đã mở. Mở ra xem là giấy gọi Elisabeth phải đến Sở Cảnh sát Mật vụ sáng nay vào lúc mười một giờ rưỡi. Y xem đồng hồ. Đã gần mười giờ rồi.

– Được rồi. Kể ra không sớm quá, chúng tôi vẫn đợi từ lâu.

Y để thơ vào túi.

– Có thế thôi à ông?

– Thế chưa đủ à?

Ông ta nheo mắt lại, hiếu kỳ.

Graber cười.

– Ông có biết một căn nhà nào không mách giùm tôi.

– Không. Ông cần nhà à?

– Tôi không, nhưng nhà tôi cần.

– Thật à?

Ông ta hỏi lại vẻ như không tin lắm.

– Thật, tôi trả tiền vô cửa hậu.

– Thật à?

Ông ta nhắc lại lần nữa.

Graber bước ra. Y cảm thấy lão ta đưa mắt qua cửa sổ nhìn theo. Y dừng lại và làm như nhìn mấy cái xà nhà. Rồi y thong thả bước đi. Khi đã đi khuất y lấy thư ra. Một cái thư in sẵn, cả chữ ký nữa, chỉ có ngày tháng và tên Elisabeth mới đánh máy điền vào. Chữ A nào cũng ở trên đường kẻ.

Y không thể rời mắt khỏi mảnh giấy hình chữ nhật đã choán hết chỗ trong tâm hồn không để cho y nghĩ đến cái gì khác. Nó có ý nghĩa như một sự đe dọa, nó như có mùi vị cái chết.

***

Không biết sao y lại trở về nhà thờ mà không biết.

– Graber!

Một tiếng gọi khẽ ở đằng sau. Y giật mình. Thì ra Joseph. Joseph mặc cái áo tơi kiểu nhà binh, lẳng lặng bước vào nhà thờ không để ý đến Graber. Graber nhìn quanh và một phút sau thì đi theo Joseph. Joseph ngồi trên một cái ghế không có ai gần hậu đường, ông ra hiệu cho Graber bảo phải cẩn thận. Graber tiến tới bàn thờ, nhìn quanh mình, quay lại, rồi đến quỳ ở bên Joseph.

– Pohlmann bị bắt rồi.

– Sao?

– Pohlmann. Cảnh sát Mật vụ sáng nay đến bắt đi.

Graber bỗng tự hỏi trát đòi Elisabeth có liên lạc gì với Pohlmann bị bắt không. Y nhìn Joseph.

– Pohlmann cũng bị bắt, thế thì…

Joseph đưa mắt lên.

– Còn gì nữa?

– Vợ tôi mới nhận được trát đòi của Cảnh sát Mật vụ.

– Ngày nào?

– Sáng hôm nay, mười một giờ rưỡi.

– Ông có mang trát đòi theo đây không?

– Có, đây này.

Graber đưa mảnh giấy cho Joseph.

– Pohlmann bị bắt thế nào?

– Tôi không biết. Lúc vào tôi thấy một hòn đá mất dấu. Chắc là Pohlmann bị bắt đã làm lệch hòn đá đi để báo tin. Chúng tôi đã hẹn với nhau báo hiệu như thế. Một giờ sau tôi thấy họ mang xe cam-nhông đến chở sách đi.

– Có cuốn gì khả đĩ nguy hiểm cho ông không?

– Có lẽ không. Cái gì nguy hiểm để chỗ khác, cả đồ hộp nữa.

Graber cúi nhìn bức thư Joseph cầm ở tay.

– Tôi vừa định đến hỏi thầy xem phải làm thế nào.

– Vì thế cho nên tôi phải đến gặp ông. Hẳn là họ nấp trong nhà ấy.

Joseph đựa trả bức thư:

– Ông định làm gì?

– Tôi cũng không biết. Tôi không có thì giờ để suy nghĩ. Theo ông thì ông làm thế nào?

– Tôi đi trốn.

Graber nhìn Joseph trong bóng mờ tối nhà thờ :

– Tôi muốn đến trước xem họ muốn gì.

– Nếu họ muốn bắt vợ ông thì họ không nói gì cả.

Người y toát ra một thứ mồ hôi lạnh. Tuy nhiên Joseph chỉ xét sự việc một cách sáng suốt.

– Nếu họ muốn bắt vợ tôi thì họ chỉ việc đến nhà mà bắt như Pohlmann. Chắc có chuyện gì khác. Để tôi đi xem. Có lẽ không quan trọng lắm (y nói vậy chứ không tin hẳn). Nếu như vậy thì không nên trốn đi.

– Vợ ông là Do Thái à?

– Không.

– Thế thì khác. Khi mình là Do Thái thì mình phải trốn đi. Cứ nói là bà nhà đi vắng có được không?

– Không. Vợ tôi làm việc ở xưởng may, dễ phối kiểm quá.

Joseph suy nghĩ.

– Có lẽ họ không có ý bắt. Ông nói có lý, nếu định bắt thì họ cứ đến xưởng mà bắt. Ông có một ý kiến gì về lý do đưa trát đòi này không?

– Ông già vợ tôi ở trại tập trung, có thể rằng vợ tôi bị một người đàn bà ở bên cạnh tố cáo. Bây giờ, cũng có thể rằng vì lấy chồng mà người ta để ý.

– Ông hủy tất cả cái gì đáng ngờ vực như thư từ, sách vở, báo chí, v.v… Rồi đi một mình. Ông định hành động như thế chăng?

– Vâng. Tôi sẽ nói rằng thư mới đến hôm nay và vợ đi làm xưởng không đến được.

– Như thế là hơn cả. Cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì. Ông thì ông không lo vì ông sắp ra mặt trận. Người ta không muốn giữ ông đâu. Nếu muốn tìm chỗ ẩn náu cho vợ ông tôi cho ông địa chỉ. Thôi ông đi đi, tôi ở đây cho đến tối.

Joseph ngập ngừng một lát :

– Phòng xưng tội của viện trưởng, ngoài có tấm biển “Vắng mặt”. Tôi đến đấy ngủ được vài giờ.

***

Graber đứng dậy. Ở trong chỗ mờ tối ra ánh sáng nắng chói chang như xuyên thủng qua người chẳng khác nào đèn rọi của Cảnh sát Mật vụ. Y đi thong thả qua các đường phố.

Y có cảm giác như sống trong một cái chuông bằng thủy tinh làm cho vật bên cạnh mình mà xa lạ không với được. Một người đàn bà đi qua, tay bế con, trước mắt y đó là biểu tượng của sự tin cậy yên ổn, y thèm thuồng, lòng đau đớn. Một người ngồi trên ghế với tờ nhật trình. Hình ảnh bằng xương bằng thịt của sự vô tư vô lự; hai người thanh niên đi qua cười cười nói nói, họ đã thuộc về một thế giới xa xôi đổ vỡ hoàn toàn. Y có cảm tưởng như mình bị một thứ hủi lở vô hình khiến cho mình cách biệt với mọi người.

Y bước vào Sở Cảnh sát Mật vụ và đưa trát đòi ra. Một người dẫn vào phía bên phải, có một cái hành lang dài, thoang thoảng mùi hồ sơ để lâu ngày, rồi đến phòng giấy kín cửa và trại lính. Phải ngồi đợi trong một căn phòng với ba người nữa. Một người ngồi gần cửa sổ nhìn ra sân, hai tay để sau lưng gõ nhịp vào chỗ không. Hai người khác ngồi sâu xuống ghế nhìn thẳng trước mặt. Còn một người hói trán, luôn lấy tay sờ lên chỗ sứt môi; bên cạnh là một người khác râu kiểu Hitler, hai má mềm xìu xa xị xuống. Thấy Graber đến họ đều giương mắt nhìn rồi làm ra dáng không để ý đến.

Một người Mật vụ vào. Họ đứng dậy. Graber ngồi gần hơn ba người kia.

– Ông làm gì ở đây? Quân nhân thì thuộc quyền chỉ huy của hội đồng chiến tranh.

Graber đưa trát đòi. Hắn đưa mắt nhìn qua.

– Không phải ông, giấy gọi cô Kruse.

– Cô ấy là vợ tôi, mới thành hôn mấy ngày nay. Vợ tôi làm việc tại xưởng may hàng tỉnh. Tôi nghĩ rằng đi thay vợ cũng được.

Graber đưa sổ gia đình ra, y đã cẩn thận mang theo. Hắn gãi tai, phân vân.

– Ồ! Cũng chẳng can dự gì đến tôi. Ông xuống phòng 72, dưới hầm một.

Hắn đưa trả giấy má. Graber nghĩ thầm: dưới hầm. Người ta đồn rằng Cảnh sát Mật vụ làm những việc tàn ác ở dưới ấy.

Y đi theo một cầu thang. Hai người đi trở lại nhìn y với vẻ thèm thuồng. Họ cho rằng Graber được phóng thích còn họ chưa biết cái gì đang chờ đợi mình.

Phồng 72 là một phòng lớn có vách ngăn làm hai. Một nhân viên ngồi sau một cái bàn gỗ trắng. Graber trình giấy và cắt nghĩa tại sao mình đi thay vợ.

Nhân viên gật đầu.

– Ông ký thay bà nhà được không?

– Được.

Ông ta đưa hai tay ấn chỉ ra bàn:

– Ông ký vào đây. Dưới đề: chồng Elisabeth Kruse, ghi cả ngày tháng và phòng hộ tịch làm phép cưới. Tờ kia ông giữ.

Graber ngồi ký thong thả. Y không để cho nó biết rằng y đọc những hàng chữ ở trên. Trong khi ấy thì viên chức văn phòng nóng ruột tìm kiếm hồ sơ :

– Hộp hài cốt ở đâu! Holtmann, để lung tung thế này biết đâu mà tìm? Hộp cốt ông Kruse đâu?

Một tiếng gầm gừ trả lời ở đằng sau vách. Graber hiểu rằng mình ký nhận hộp tro hài cốt của người tù nhân chính trị tên Kruse. Tờ giấy kia ghi chết về bệnh gì: tim ngừng đập.

Viên chức biến mất sau bức vách. Y trở lại với một hộp đựng xì gà bọc tờ giấy ngắn quá. Ở một góc ghi chữ Le Caire, thỉnh thoảng còn sót lại vài mảnh giấy thếp vàng dán hộp thuốc, có vẻ một người Da đỏ tay cầm phù hiệu của nhà sản xuất.

Y nhìn Graber với cặp mắt buồn rầu:

– Hài cốt đây. Ông là lính, tôi không cần phải dặn ông phải giữ thật kín những tin tức này. Không có chia buồn đăng báo gì cả, không có nghi lễ tôn giáo. Yên lặng tuyệt đối. Ông hiểu không?

– Hiểu.

Graber cầm hộp cốt đi ra.

Y định bụng không nói cho vợ biết. Đối với nàng thì bao giờ đưa tin bố chết cũng là sớm quá. Chắc hẳn Cảnh sát Mật vụ không buồn đưa giấy báo tin lần thứ hai nữa. Bây giờ chỉ cần để nàng yên bụng một chút, không nên đưa tin bố chết về để nàng đau khổ thêm.

Y đi thong thả về nhà thờ. Phố xá đã trở lại nếp sống tấp nập. Nguy hiểm xa rồi, bây giờ đã thành ra cái chết xa lạ, không tránh được và hiền lành như một việc đã rồi. Y đã quen với cái chết của người khác, vả chăng y chỉ biết cha của Elisabeth lúc y còn nhỏ tuổi.

Y cắp hộp tàn cốt dưới tay. Rất có thể rằng đây không phải là cốt của bác sĩ Kruse.

Nhân viên Sở Cảnh sát có thể lầm lẫn hộp nọ với hộp kia, vả chăng ở lò nấu người, chả có lẽ người ta còn cất công để riêng tro của xác này và tro của xác khác vì phải đốt hàng trăm xác chết, ấy là cho rằng có thể làm như thế được. Chắc là họ để cho một người xúc đại một xẻng tro đổ vào một hàng hộp để sẵn rồi ghi tên những người bị hỏa thiêu vào sau. Y tự hỏi, không biết sao họ còn cất công làm trò múa rối này để làm gì. Hẳn là sáng kiến nhân đạo của mấy ông công chức, nhưng thực ra chỉ làm cho càng thêm vô nhân đạo.

Y tự hỏi không biết phải làm gì với hộp hài cốt này. Có thể để vào chỗ nào trong những đống nhà đổ nát kia cũng được, thiếu gì chỗ. Có thể mang ra nghĩa địa được nhưng lại phải phép tắc và tìm nơi chôn cẩn thận, vợ chàng sẽ biết.

Y qua nhà thờ, dừng lại trước phòng xưng tội của viện trưởng. Tấm biển vắng mặt để trước cửa. Y kéo bức rèm xanh. Joseph trông ra, ông ta ngồi cách nào để có thể chồm ra đẩy ngã người đến bắt mình mà chạy thoát. Graber buông màn xuống và đến ngồi trên chiếc ghế dài gần hậu đường. Lát sau Joseph cũng đến. Y đưa cho coi cái hộp.

– Họ gọi lại để đưa cho hộp cốt này.

– Không có gì khác nữa?

– Thế thôi. Ông có tin thầy Pohlmann không?

– Không.

Hai người cùng cúi xuống nhìn cái hộp.

– Một hộp xì gà. Thường thường người ta dùng cái hộp bằng bìa, cái hộp đồ ăn hay một bao giấy. Hộp xì gà nom đã gần như cái săng rồi. Làm gì với cái hộp này bây giờ? Bỏ lại đây à?

Graber lắc đầu. Y vừa mới nảy ra một ý kiến:

– Để tôi mang vào nhà tu kín, đó cũng là một thứ nghĩa địa.

Joseph gật đầu.

– Tôi có thể làm gì giúp ông không?

Graber hỏi.

– Nhờ ông ra cửa ngách xem ngoài phố có gì đáng ngờ không. Trong năm phút nếu ông không trở lại nghĩa là không có gì lạ. Tôi phải đi đây. Lão thầy dòng chống Do Thái làm việc từ một giờ trưa.

– Được.

***

Graber ngồi đợi ngoài nắng. Vài phút sau Joseph cũng ra. Ông ta đi gần Graber mà không nhìn y, chỉ lẩm bẩm: “Cứ vững chí”.

– Vững chí.

Graber trở lại nhà thờ và vào khu nhà rẫy. Lúc này vắng vẻ. Hai con bướm vàng lốm đốm đỏ nhởn nhơ xung quanh một bụi cây đầy hoa trắng bao bọc mấy ngôi mộ. Nhiều ngôi nứt rạn thông vào trong. Chỗ này rất thích hợp để cất hộp cốt.

Y ghi vào mảnh giấy: “Hộp này đựng hài cốt một người theo đạo Thiên Chúa bị giam chết”, rồi cột vào hộp cốt. Y lấy lưỡi lê cắt một khoảng cỏ, đào to lỗ, chôn hộp cốt xuống và trồng lại cỏ. Như vậy bác sĩ Bernhard Kruse – nếu phải là hài cốt của chính bác sĩ – sẽ được táng vào đất thánh, bên cạnh một nhân vật cao cấp trong giáo hội..

Làm xong y ngồi trên bức tường nhỏ. Mặt trời chiếu xuống làm đá nóng ran. “Có lẽ như thế này là phạm thượng, hay là một cử chỉ nặng về tâm tình vô ích”. Bác sĩ Kruse theo Thiên Chúa giáo, mà giáo hội nghiêm cấm sự hỏa thiêu, đã đành là trường hợp này có thể châm chước. Vả chăng nếu không phải hài cốt của bác sĩ Kruse mà là của những người khác, Tin Lành, Do Thái giáo chẳng hạn, thì cũng không tai hại là bao nhiêu. Mà Jéhova hay ông Trời của Thiên Chúa giáo, đúng lý ra, cũng chẳng phiền trách gì.

Y nhìn một lần cuối cùng nấm mồ mà y đã vùi hộp cốt của ông già vợ – y như con chim cu vùi trứng của nó. Xong rồi y mới thấy lòng buồn tê tái. Người chết mới này dần dần có ý nghĩa to rộng hơn, nắm xương tàn y vừa cầm trong tay tượng trưng cho Pohlmann, cho Joseph, cho tất cả đau khổ đã chứng kiến, tất cả chiến tranh, cả vận mệnh đen tối của mình.

Ở Ba lê, y đã đến thăm mộ chí người chiến sĩ vô danh, công lao người Chiến sĩ vô danh được nói lên một cách huy hoàng bởi Khải hoàn môn ghi lại những chiến thắng của Pháp. Hầu như khoảng đất cỏ vuông vuông đào lên rồi trồng lại này, cái hộp xì gà hài cốt này rốt cuộc sẽ tượng trưng cho cái gì tương tự hay lớn hơn thế – tuy rằng không vinh quang, không chiến thắng quân sự.

***

– Đêm nay ngủ đâu anh? Hay lại nhà thờ?

– Không. Đã xảy ra phép lạ. Anh gặp bà quán. Nhà có căn phòng trống. Con gái bà ta mới về quê. Chúng ta có thể đến ngủ ở đây và anh đi rồi em có thể tiếp tục ở đấy. Anh đã mang hết đồ đạc về đầy rồi. Bây giờ em nghỉ chưa?

– Bắt đầu từ chiều nay. Anh không phải đợi nữa.

– Cám ơn trời! Ta phải ăn mừng mới được! Đêm nay chúng ta thức chơi, mai ngủ thật trưa.

– Chúng ta ngồi ngoài vườn cho đến lúc sao mọc. Nhưng bây giờ em phải đi mua mũ.

– Mua mũ à?

– Vâng, mua bây giờ, chứ không thì không bao giờ mua nữa.

– Nhưng em mua mũ làm gì? Để tối hôm nay ngồi ngoài vườn đợi à?

Nàng cười.

– Sao lại không? Nhưng cái đó không quan trọng, điều quan trọng là đi mua đã. Đó là một hành động tượng trưng. Cái mũ cũng như cái cờ. Người ta mua mũ khi người ta sung sướng hay đau khổ, hiểu không?

– Không. Nhưng không sao, ta mua cái mũ để ăn mừng tự do. Cái này phải làm trước bữa ăn mới được. Không biết bây giờ còn tiệm nào mở cửa không? Không biết có phải có thẻ mua vải vóc không?

– Em có, và em cũng biết nơi bán mũ nữa.

– Đồng ý, mua cái mũ hợp với bộ áo mặc dạ hội.

– Mặc đồ dạ hội thì không đội mũ. Thôi mua cái mũ để mua thôi, để tỏ ra không có xưởng may nữa. cần lắm.

Mặt tiền cửa tiệm còn nguyên. Nhưng trong thì phải lấy ván đóng lại. Rồi câu chuyện đàn bà với người bán hàng liến láu một hồi, Graber chẳng hiểu gì cả. Y đến ngồi trên cái ghế thếp vàng mỏng mảnh ở gần cửa. Bà già chủ tiện bật đèn sáng trưng tấm gương ba mặt rồi đi tìm vải và bìa cứng. Bỗng dưng cửa tiệm tồi tàn biến thành cái động tiên. Những chiếc mũ xanh, hồng, trắng bày ra tứ phía trong khi băng và vóc dợn sóng hay mỏng bay như dải mây như làn khói phất phới xung quanh hai người đàn bà Elisabeth tiến lên, lùi lại, quay mình uốn éo trước gương phản chiếu khung cảnh trong mơ ấy vô cùng tận. Graber ngồi trong chỗ tôi giương mắt nhìn cảnh vật của một thế giới khác lạc lõng vào cảnh điêu tàn này mà không ngờ một ngày lo âu tất bật lại kết thúc một cách kỳ lạ thế này. Hầu như đây là lần thứ nhất Elisabeth cởi bỏ được hết sầu muộn, trở lại với chính mình để thử thách vũ khí quyến rũ của đàn bà với sự trầm ngâm ý nhị. Y nghe hai người ríu rít nói những gì xa lạ với mình nhưng vuốt ve lỗ nhĩ như tiếng suối reo. Elisabeth đi lại dưới ánh đèn sáng như tỏa từ người nàng ra, nàng cũng tỏa ra cái hạnh phúc êm đềm, thậm chí y phải tự hỏi đâu là thực, đâu là hư, chết chóc và khắc khoải là hư hay lụa là gấm vóc rực rỡ kia là thực?

Elisabeth nói:

– Một cái mũ chỏm thôi, một cái mũ chỏm gọn trên đầu.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Như thường lệ, cuối tuần, tôi trở lại nhà bác Huế. Bác hỏi: “Con làm ăn chi mô mà thân thể xác xơ tàn tạ, mắt thâm quầng như thiếu ngủ?

Tôi sa sút và thất tình Phương Nghi, nhưng bịa lý do nói dối: “Chỉ còn hai ngày nữa là khai trường. Con lo quá, không ngủ được”

“Bác chưa thấy ai chăm học như con. Trời Phật sẽ gia hộ độ trì cho kẻ có lòng. Con ráng đi. Hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai.”

Đông chen vào câu chuyện: “Mạ có dành cho anh món gà xào gừng.”

Tôi cười: “Đúng là sau một tuần bỉ cực, bây giờ tới hồi thới lai.”

Bác Huế nói: “Nhà vừa cơm xong. Con ăn một mình đi.”

Tôi ăn cơm ở nhà sau. Đông ngồi nhìn tôi ăn.

Nó hỏi: “Món này tự tay em nấu đó. Ngon không?”

Tôi nói. “Tiểu thư nấu, của có dỡ cũng thành ngon.”

Nộ nguýt đài: “Hứ! Nói rửa cũng nói được.” Rồi như trực nhớ va điều gì, “À, anh có thư.”

“Đưa dây.”

“Đừng có mà ham. Không phải thư của chị Phương Nghi.

 Tôi dối lòng: “Phương Nghi như cơn gió thoảng. lâu không gặp. Bây giờ, nếu có gặp nhau ngoài đường, chưa chắc anh đã nhìn ra cô ta là ai.”

“Hổi trước, em thích chị Phương Nghi lắm. Chừ, em hơi chán. Chị có vẽ kiểu cách chi mô không biết. Chị hỏi thăm anh ở mô, làm gì? Em bảo, anh không nói nên em cũng không rõ. Chi cười nhạt. Chắc chị biết em không muốn nói.”

“Bỏ qua chuyên Phương Nghi đi. Thư của ai gửi cho anh?

“Xa lắm. Tây Ninh.”

Tôi đùa. “Thư của ba anh gọi về cưới vợ đấy. Trước khi anh đi, gia đình anh có hứa hôn cho anh một cô bé tóc thề mắt xanh môi thắm như em vậy. Nhưng cô ta không hay giận hờn như em.

Nó đọa: “Anh chế nhạo em, em giấu thư luôn.”

“Thằng khờ nào cưới em. Thường xuyên bị em hành hạ khó dễ thế này, thì trước sau gì cũng vào nhà thương điên.”

“Nếu thằng khờ không chịu khôn ra, thì cũng đáng cho nó vào nhà thương điên.”

Tôi chồm tới, nói thật nhỏ: “Anh là một trong những thằng khờ trên thế gian.”

Nó bẻn lẽn: “Cái anh ni, vô duyên!”

Tôi lên nhà trên. Đông đưa thư. Thư của mẹ kế, dì tôi. Trong thư, dì bảo nhờ cái thư tôi gửi về, do cô Hường trao lại, nên biết địa chỉ của tôi. Sau đó, dì kể ba tôi chuẩn bị đi tìm đưa tôi về thì bị tai nạn, Tôi đọc thư bằng tất cả nỗi lòng đau xόι. Bao nhiêu năm, gia đình ba tôi sống nhờ vào cơ sở làm đường. Tôi lớn lên, đã thấy có sẵn như thế rồi. Trước kia, công việc ép mía làm đường còn dùng sức trâu. Sau này, dùng máy thay trâu. Cơ sở càng khuếch trương rộng lớn, ba tôi càng bận rộn nhiều hơn. Quán xuyến nhân công. Tính toán sổ sách. Lo cho cho có đủ mía để cái máy ngốn hằng ngày. Theo dõi giá cả thị trường và tiêu thụ nhanh chóng lượng đường sản xuất. Một mình ba tôi lo liệu tất cả. Ông không còn thì giờ để ý đến tôi. Máy lớn có nhiều bánh răng cưa ăn khớp với nhau, từ dưới sàn lên cao quá đầu người. Từ giàn máy truyền lực ra ngoài bộ phận ép mía. Người vào phòng máy, chỉ mặc duy nhất cái quần đùi, đề phòng những bánh răng cưa cuốn vào quần áo. Theo thư dì tôi kể, người thợ máy bận việc nhà, ba tôi tạm thay thế. Nữa khuya, ba tôi vào phòng mở máy để bắt đầu cho công việc hàng ngày. Không biết loay hoay thể nào, ong trượt chân ngã vào giàn máy. May mà có nguời kịp kéo ra. Nhưng bánh răng cưa đã nghiến mất một bàn tay phải, và liếm tận xuơng một mảng thịt bên mông. Thương thế trầm trọng. Hiện giờ, ba tôi đang nằm trong nhà thương Chợ Rẫy.

Tôi thuật lai chuyện đó với hai bác Huế Quảng, Hai bác giục tôi mau thu xếp về với ba tôi trong thời hạn sớm nhất. Bác Huế mua một chục cam gởi theo như tấm lòng ân cần thăm bệnh. Tôi bỏ lại tất cả sách vỡ. Chỉ mang vài bộ quần áo như ngày mới ra đi.

Miền kinh rạch

Vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 4/10/2019

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Tiện dịp gia đình người em từ Úc sang thăm gia đình tôi và gia đình đứa em kế. Sau hơn hai mươi năm ba anh em mới gặp, phải tính chuyện đi chơi coi sao cho được. Tôi là anh lớn và tất cả qua ở nhà tôi, nên tôi phải chọn một nơi thắng cảnh đẹp của Hoà Lan để mọi người cùng thưởng ngoạn. Tôi hỏi ý kiến bà xã và con gái, bà xã tôi thích bông nên chọn đi vườn bông, con gái thì thích những thắng cảnh thành phố nên chọn Amsterdam, Den Haag hoặc Rotterdam, hai người nói qua nói lại cả buổi nhưng chưa chọn được chỗ nào. Bà xã tôi bèn day qua hỏi tôi:

– Anh đi nhiều chắc anh biết chỗ nào đẹp?

Tính ra cả đời tôi thường xê dịch đó đây, mang tiếng là dân Hoà Lan nhưng thường thì tôi sống ngoài Hoà Lan nhiều hơn, nên sự hiểu biết về đất nước con người ở xứ hoa tulip của tôi có phần giới hạn. Tôi cười và nói:

– Ở Hoà Lan anh biết ít lắm.

– Anh thường tìm hiểu chuyện du lịch mà, bộ ở Hoà Lan anh hổng có ấn tượng chỗ nào sao?

Nghe hỏi tôi chợt nhớ ra và buông lời không do dự:

– Theo anh thì ở Hoà Lan, Giethoorn là ấn tượng.

Con gái tôi thắc mắc:

– Chú và mấy em bên Úc tới Hoà Lan thì phải đi những nơi có tiếng và nhộn nhịp, ai mà tới một nơi hẻo lánh và buồn hiu.

Con gái tôi sanh ra và lớn lên ở xứ sở bông tulip, trên vùng đất thấp. Nơi đây tuy ẩm ướt nhưng rất thanh bình, tên nghe có vẻ cổ tích là quê hương ếch hoặc nhái (Kikkerlandje), cho nên đầu óc nó không phức tạp và sự so sánh của nó khác biệt hơn thế hệ cha chú. Vì vậy tôi phải một phen giải thích cho nó và mọi người cùng nghe:

– Giethoorn thuộc về tỉnh Overijssel ở phía đông của vương quốc Hoà Lan,  nơi đây kinh đào chằng chịt trong một khu vực rộng lớn, nước có màu lục, cỏ màu xanh và một nơi rất thanh bình. Ngôi làng nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào kinh rạch, nhiều ngôi nhà cheo leo không thể đến được bằng đường xe hoặc đường bộ, nhân viên bưu điện đưa thư phải dùng xuồng bơi hoặc xuồng máy. Nhứt là những đám cưới người ta cũng tổ chức trên thuyền, thuyền được treo đèn kết hoa và chạy chầm chậm trên kinh trông đẹp lắm. Thật ra thì Giethoorn hẻo lánh nhưng không buồn hiu, vui vẻ nhưng hổng ồn ào và cũng là một trong nhiều nơi có tiếng Âu Châu về bảo tồn cảnh đẹp của thiên nhiên.

Đứa em ở Hoà Lan chen vào:

– Ờ… ờ… ở đó giống quê mình.

– Theo anh thì du khách dùng xuồng bơi, trong nhiều năm qua ca nô hay đò dọc rất thịnh hành ở Giethoorn. Với hơn chín mươi cây số đường nước và nhiều xuồng máy cho mướn, nên trông có vẻ giông giống miệt đồng bằng quê hương mình.

Đứa cháu hỏi:

– Mà sao tên là Giethoorn chú?

– Theo chú biết thì tên Giethoorn bắt nguồn từ những cư dân đầu tiên tới đây sinh sống, họ phát hiện ra hàng trăm sừng của con dê (gietehorens) ở vùng đầm lầy, sau một trận lụt hồi thế kỷ thứ mười. Hôm nay không còn thấy sừng dê ở đây nữa, cảnh quan cũng khá khác biệt, tuy do bàn tay con người xây đắp, nhưng đất, nước, kinh, rạch gần như còn nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên. Từ bìa của những ao hồ rộng lớn bên ngoài vô tới những con kinh, con rạch nhỏ hẹp trông đẹp đẽ, rất lý tưởng cho du khách di chuyển bằng thuyền để thắng cảnh hoặc câu cá. Theo chú thì nếu quan cảnh của hồ Sils ở Thụy Sĩ và trong thung lũng Engadine được bao quanh bởi cây kaneelkleurige trông đẹp như cảnh thiên thai trong tranh vẽ thì Giethoorn đẹp đơn giản với bờ cỏ xanh um và cây gì hổng biết mà trông giống như cỏ lát hoặc rau bồn bồn mọc khích khao xung quanh trảng nước. Một trảng nước minh mông đến đổi tưởng như không phải thật giữa cái xứ sở văn minh này. Có lẽ cũng vì đơn giản và trông như hổng phải thật, nên du khách ta từ xa tới đây tha hồ mà tưởng tượng.Đứa em hô lên:

– Ồ, anh nói đúng rồi. Là người Việt Nam, nhứt là sống trên vùng sông nước miệt đồng bằng sông Cửu Long thì hình dung nó ra cảnh đồng quê miền Nam.

Tôi nói chỉ có bao nhiêu đó mà thuyết phục được mọi người. Nhưng cả hai phe, một phe Hoà Lan và một phe ở Úc cộng lại gần chục mạng. Em tôi day qua hỏi tôi:

– Đông người quá, mình phải đi bằng cách nào?– Để thưởng ngoạn vùng trời và khám phá nhiều kinh rạch ở Giethoorn, có hai cách, một là tham gia một chuyến du thuyền trên kinh, trên thuyền có những nhân viên người địa phương hướng dẫn, giải thích qua các địa điểm và  những nơi quan trọng nhất trong ngôi làng yên tĩnh này. Vì du khách đến Giethoorn tăng vọt trong vài năm qua và số lượng tàu, xuồng, hạn chế, nhứt là những ngày nắng đẹp, du khách phải đặt chuyến du hành trên kinh rạch trước. Cách thứ hai thì mình có thể mướn một chiếc xuồng máy điện nhỏ, chiếc xuồng này không đòi hỏi kỹ năng lái, ai cũng có thể lái được, lái một chút là quen, nếu lỡ lái đụng nhau với xuồng khác cũng không sao, có thể nói đụng nhau cũng là một thú vui để cho mọi người cùng cười. Ngoài ra còn có ba bảo tàng bên kinh để tham quan và xưởng đóng tàu Schreur, nơi đóng những chiếc tàu và những chiếc xuồng nhôm ở Giethoorn.

Vậy là tất cả đồng ý đi Giethoorn. Ngày hôm sau trời trong và nắng rất đẹp, tất cả kéo nhau tới Giethoorn lúc mặt trời đã lên cao. Chúng tôi mướn một chiếc xuồng lớn, vỏ nhôm, chạy bằng điện, rộng rãi cho chín người ngồi rất là thoải mái. Mấy đứa nhỏ hôm nay được giao nhiệm vụ lái xuồng, chúng thích thú và thấy mình quan trọng lắm. Tiếng máy điện thì thào, nhẹ nhàng lướt trên dòng kinh. Thả tà tà dọc theo những con kinh hẹp quanh co vừa đủ cho hai chiếc xuồng qua mặt nhau. Khi ra khỏi những trang trại trước bãi cỏ xanh với những mái tranh cũ kỹ, ven bờ có những con đường nhỏ tráng nhựa và những chiếc cầu gỗ bắc ngang nối liền qua hai bờ kinh thì tới một trảng nước minh mông, ở giữa trảng là một cù lao rộng vừa đủ cho du khách sau khi chạy vòng trảng tham quan, cặp vô bờ cắm xuồng, cột dây rồi leo lên cù lao, trải khăn ra ngồi thư giãn, ăn, uống. Nếu ai thích thì có thể bơi lội trên vùng nước sạch sẽ, trong màu lục và mực nước sâu không ngập khỏi đầu.

Khi xuồng trở vô kinh hẹp, tới nơi đông đúc, mỗi khi hai chiếc xuồng đụng nhau làm mọi người cười rộ lên vui vẻ, nhìn các cháu vui vẻ cười nói hồn nhiên, đầu óc không phức tạp, không suy tưởng mông lung như những người lớn. Làm tôi nhớ lại cách đây hơn hai mươi năm, mỗi khi nhớ quê hương, tôi và vài người bạn hay tới đây mướn xuồng máy chạy tà tà trên những con kinh và ra trảng nước chạy vòng vòng. Nhứt là mỗi khi vô kinh, chạy ngang những chiếc cầu gỗ vững chắc dành cho người đi dạo hoặc cho những người già đi qua thăm bạn bè hàng xóm. Khi đi ngang một chiếc cầu, có người bạn đi cùng hô lên:

– Ồ, Cầu khỉ!

Nhiều người cũng hùa theo:

– Giống cầu khỉ ở quê mình quá.

Tuy hổng giống cầu khỉ chút nào, nhưng vì ai cũng còn nặng tình quê hương đất nước nên nghĩ ra vậy thôi. Ngày đó tôi cũng nghĩ vậy và khi nhìn trảng nước rộng minh mông, chiều sâu không quá hai thước, làm cho tôi nhớ quê hương sông nước miền Tây Nam Việt với những trảng nước rộng trong rừng và cỏ lát mọc chen nhau hoặc là một đầm nước đầy rau bồn bồn. Hổng phải người Việt Nam vì nhớ nhà, nhớ nước non rồi sanh ra viễn tượng. Người Tây phương du lịch tới đây cũng tưởng tượng không kém, họ đặt cho nơi này biệt danh là “Dutch-Venice”, nghĩa là Venice Hòa Lan. Theo tôi thì so sánh giữa Giethoorn với thành phố Venice, một trong bảy kỳ quan thế giới ở nước Ý thì có thể bị sai lầm về mặt diện tích và sự ồn ào náo nhiệt của du khách, sự bán buôn và ăn uống trong thành phố, hơn nữa Venice thành phố ven biển. Đây là làng quê Giethoorn của Hoà Lan, buổi trưa nghe văng vẳng tiếng gà, thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa vu vơ rồi trở lại yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh thản, thân thương và gần gũi. Cũng có hàng quán, bán buôn nhưng nó không náo nhiệt, sự yên bình của miền quê đến đổi du khách tới đây cũng tự mình hạn chế sự ồn ào. Âm thanh nổi bật thường nghe thấy là tiếng vịt kêu cạc cạc trên dòng kinh hoặc tiếng hót, tiếng kêu của những loài chim khác nhau ở trên các cành cây cổ thụ.

Trên đây là những cảm xúc mà tôi còn nhớ được hơn hai mươi năm về trước. Hình như nỗi nhớ quê hương trong tôi đã nguội lạnh, nên hôm nay tôi trở lại đây thì những ý nghĩ, cảm xúc và tưởng tượng ngày trước tan biến hết. Còn những đứa con, đứa cháu lớn lên bên này thì chúng đâu biết gì về quê hương đất nước, chúng chỉ biết giành nhau lái xuồng đùa dỡn khi gặp chỗ đẹp thì dừng lại chụp hình. Riêng tôi thì không tưởng tượng nữa mà so sánh thực tế hơn, thắc mắc và tự hỏi. Cũng rơm rạ, xi-măng, vôi gạch mà người Hoà Lan cất lên cái nhà rất kiên cố, bền vững cả trăm năm. Còn người Việt mình thì cất cái nhà lên chưa bao lâu thì nhà đã dột, cột đã siêu, ấy vậy mà hể có dịp thì đem ra thở than rất là văn hoá với giọng điệu ca dao “Ví dầu nhà dột cột siêu…”. Và cũng chừng đó cây, ván, đinh, ốc vậy mà người Hoà Lan đóng một cây cầu bắc qua con kinh nhỏ rất vững chắc, người đi bộ hoặc đạp xe qua cầu rất an toàn. Còn người Việt ở đất nước Việt Nam thì cũng chừng đó dụng cụ, cây ván có thể nói là tốt hơn ở đây nữa, mà lại đóng một cây cầu chỉ một người bước qua nó lắc lư như đưa võng, nhứt là những mùa mưa trơn trợt, người nào đi hổng khéo thì bị té nhào đầu xuống kinh. Ấy vậy mà còn tự hào văn hoá và đặt tên là “cây cầu khỉ, cầu dừa, cầu ván…”. Cách đây bốn năm, tôi về Việt Nam thăm nhà người em họ ở Bến Tre, thằng cháu chở tôi trên chiếc xe gắn máy hai bánh, mỗi lần băng qua những chiếc cầu xi măng lót ván ở quê, tôi thót ruột thót gan khi thấy chiếc cầu hẹp té mà hổng có lan can, lại còn long đinh, sút ván, xe chạy nghe tiếng ván khua lụp cụp làm tôi  sợ khiếp vía, xanh máu mặt, trong khi đó thằng cháu nó tỉnh bơ, còn ra vẻ anh hùng, nói:

– Trước đây có vài người phóng xe qua cầu và bị lọt xuống kinh đó chú.

Sau khi đi thuyền thấm mệt lên quán ngồi nghỉ ngơi uống nước. Ven bờ kinh có rất nhiều quán cà phê, nhà hàng và hầu hết các nhà hàng trên kinh đều có phòng cho du khách từ xa tới ở trọ. Con đường nhỏ tráng nhựa bên cạnh các kinh đào là nơi lý tưởng để đi bộ hoặc đi xe đạp. Du khách cũng có thể đi dạo trên những con đường nhỏ bên bờ kinh, dưới những tàn cây cổ thụ mát mẻ, ngang những ngôi nhà tranh ấm áp và thong thả đi qua những chiếc cầu cây nhỏ duyên dáng, chắc chắn, rất an toàn và bảo đảm hổng sợ té nhào đầu xuống dòng kinh hay dòng sông.

Dronten cuối hè 2019

 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Thế là ngày 21 tháng 12-2012 đã đi qua, trong khi trái đất vẫn bình an. Sáng nay, ngoài đường chiếc xe đổ rác vừa chạy qua, người phát thư mới dừng lại truớc cổng nhà. Tin tận thế đã loan truyền từ lâu, nhưng không ai hồi hộp đợi chờ vì người ta không còn tin tưởng ở những lời sấm ký, tiên đóan nữa. Có ăn mừng khi ngày tận thế đã không xảy ra, cùng chỉ là cái cớ để vui chơi, chứ không phải sự mừng rỡ thật sự như khi một người vừa thoát nạn sau một vụ đắm thuyền ngoài biển khơi hay như người du khách ở Phuket Thái Lan được sống sót qua trận sóng thần năm 2004. Tôi nghĩ là không ai tin rằng ngày 21 tháng 12 năm vừa qua là ngày tận thế, bằng chứng là vào chiều ngày trước đó, ngày 20, tại phòng mạch, ông bác sĩ đã cố gắng nán lại khám cho xong người bệnh cuối cùng hay nhà hàng bán thức ăn “to go” ráng vét món canh trong cái chậu nhôm bán cho khách dể lấy thêm đồng bạc, trước khi đóng cửa. Ở Las Vegas, du khách vẫn đông như mọi ngày và chuyến xc buýt chỡ khách lên sòng bài hôm nay cũng không vắng người. Không ai lo sợ mà cũng chẳng ai hối hả về tin ngày mai trái đất sẽ nổ tung và mọi người trở thành cát bụi. Không có tuổi trẻ mà chẳng có tuổi già, không có nhan sắc mà cũng không có tình dục. không có giàu má cũng không có nghèo, không có hạnh phúc mà cũng chẳng hề có đau khổ, không có ngày cũng chẳng có đêm. Mọi sự đều tan biến, tưởng chừng như chưa bao giờ hiện hữu, như chúng ta chưa bao giờ tới nên cũng chẳng đi.

Thế giới đã có những ngày nào sự việc xảy ra như ngày tận thế. nên người ta định nghĩa tận thế tương tự những điều có thể xảy ra ở trên. Đối với cư dân Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản thì hai quả bom nguyên tử đuợc Mỹ ném xuống ngày 9 và ngày 12 tháng 8-1945 tàn phá nơi này thành bình địa, giết hơn 200 nghìn người quả là một ngày tận thế đối với họ. Sức tàn phá lớn gắp nhiều lần một quả bom nguyên tử như thế. nguời ta đã nói đến thảm họa sóng thần vào Sumatra một ngày sau Giáng Sinh năm 2004, thực sự gấp

đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong chiến tranh thế giới thứ 2, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cuờng độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23.000 quả bom nguyên tử ở Hiroshina. Thảm khốc hơn thế nữa, trận đói xảy ra ở Bengal, Ấn Độ n m 1770. làm chết 10 triệu người, lụt ở Trung Quốc năm: 1931 giết gần 4 triệu người, cơn lụt năm 1887 của riêng con sông Hoàng Hà đã giết gần 2 triệu nguời. Và mới đây thôi, tai họa của cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại Nhật làm thiệt mạng gần 20 nghìn người. Đó không phải là hình ảnh của tận thế hay sao?

Nhưng bản tính con người vẫn mau quên. Khi kề cận với cái chết, người ta có những suy nghĩ khác, nhưng sau khi sống sót, người ta trở lại với tính tình cố hữu của mình. Có bao nhiêu người thập tử nhất sinh trên đường vượt biển khi cái chết chỉ trong gang tấc, họ cầu nguyện những gì, mong mỏi những gì, nhưng sau đó, khi đã đặt chăn được đất liền, không còn đói khát, hết đối mặt với sự hãi hùng, cơn người trở lại tầm thường, cùng chẳng hiền lành, đạo đức hơn đuợc chút nào. Vì thật sự, chắc chắn, ngày mai là ngày tận thế, trái đất hoàn toàn bị hủy diệt. tất cả chỉ còn là những dúm tro rải rác trong không gian rộng lớn. vô tận này, thì hôm nay con nguời dã có suy nghĩ và hành động khác hẳn rồi. Nếu ngày mai đã là ngày tận thế, hôm nay chúng ta vẫn cộn chăm chỉ nhặt nhạnh thêm vài đồng bạc cuối cùng để lảm gì” Nếu ngày mai là ngày tận thế, hôm nay đâu cần phải nói ra một lời cay đắng với nhau? Nhưng con người không phải ai cũng giống ai. Có người nói nếu có ngày tận thế, chỉ mong được nắm tay một ai đó vào thời điểm ấy và trước khi nhắm mắt thì chỉ cầu mong được ai đó hôn một nụ hôn cuối, được nghe ai đó nói là yêu mình. Một người khác thì nghĩ nên làm những việc gì mình chưa làm, nên nói những gì mình chưa nói, nên yêu đi nếu chưa yêu. Có nhiều người đi mua cho gia đình một chiếc hầm trú ẩn cho ngày tận thế, sẽ được chôn sâu dưới đất giá $75,000.

Trên trái đất này có hàng tỷ tỷ người thì nhà sản xuất chi bán ra mỗi ngày được một cái, nghĩa là con người ít có ai tin rằng ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của mình. Trong khi có người muốn dành những giờ phút cuối cùng để cầu nguyện thì cũng có những người muốn lêu giường ngũ với người khác phái lần cuối trước khi ngày tận thể ập đến. Cô cô gái kên lên:

-Tôi chưa muốn tận thế vì tôi chưa có chồng!”

Tôi cũng không nghĩ là sống sót sau ngày tận thế là hạnh phúc! Cử tưởng tượng một mình đi giữa cảnh hoang tàn, không thức ăn, nước uống, không có gia đình, bạn bè, thân quyến, không cả một đồng loại. không cả tiếng chim kêu hay tiếng một con chó sủa … thì sống như vậy cũng như đã chết. Trịnh Công Sơn chỉ mới thấy rừng thay lá. Đã gọi hãy yêu nhau đi, huống gi ngày mai đã là ngày cuối cùng của nhân loại! Chúng tôi xin nhắc lại một câu nói các bạn dã nghe nhiều lần: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương, “(Kahlil Gibran) Nếu ngày mai tận thế, tối hôm nay gia đình chúng ta sẽ quây quần ôm lấy nhau, nghĩ đến những người đã khuất, mong đợi những người ở xa chưa về và nghĩ rằng từ cát bụi chúng ta sẽ trở về cát bụi, cũng chẳng có chi để tiếc nuối và nhận ra, cuối cùng trên cuộc đời phù du này, tiền tài, danh vọng chẳng là gì cả!

Vậy là ngày tận thế đã qua: Cuộc đời không chỉ những cho chúng ta thêm một ngày mà còn thêm nhiều ngày để sống yên thương. Phải chi ngày mai chắc chắn là ngày tận thế, để hôm nay người ta sống với nhau đàng hoàng, tử tế hơn và tôi sẵn sàng tha thứ cho ai đó đã ném những viên đá thù hận, ganh ghét vào tôi hôm qua!

Nhưng ngày tận thế đã qua rồi, Tất cả cần phải xem xét, suy nghĩ lại! Khổ quá, tôi cũng chỉ là một con người tầm thường thôi!

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Một đám người đã đứng đợi dưới nhà rẫy của nhà thờ. Hầu hết đều ngồi trên va-li hay hòm xiểng hay mang theo gói và bọc. Phần nhiều là đàn bà con nít. Một bà già mặt ngựa đứng cạnh Graber.

– Miễn là họ không di tản mình đi chỗ khác. Người ta nói đến những nơi ấy không vui sướng gì. Mấy căn lều, một chút đồ ăn, lẫn lộn với người nhà quê tham lam và bần tiện.

– Tôi thì tôi không cần. Tôi có thể đi chỗ khác được. Thà cái gì thì cái còn hơn là bom đạn. Người ta phải săn sóc mình chứ, mình mất hết trọi hết trơn.

– Mới mấy ngày trước tôi đã thấy một đoàn xe đi tị nạn. Gớm, nom họ mà phát ngán quá! Họ được đưa về Mecklembourg.

– Mecklembourg à? Dân quê ở đó giàu lắm mà.

– Giàu à?

Bà già mặt ngựa cười nhạt.

– Họ bắt làm việc đến sụm xương mới được đủ miếng ăn. Quốc trưởng sao không biết đến điều ấy.

Graber nhìn bà già và người con gái gầy guộc nói chuyện với nhau. Đằng sau, trông qua hàng cột kiểu trung cổ thấy vườn nhà thờ. Hoa thủy tiên mọc dưới chân những bức tượng trên đường đi, một con chim đậu trên vai chúa Ki-Tô cất tiếng hót.

Người con gái lại nói:

– Họ phải nuôi không mình chứ, họ có tiền của. Chúng ta là nạn nhân chiến cuộc. Nạn nhân chiến cuộc!

Ông thầy dòng đến. Ông ta là một người mảnh khảnh, mũi dài và đỏ, hai vai xuôi. Graber nhận thấy khó lòng mà con người như thế có thể can đảm giấu những người bị cảnh sát mật vụ lùng bắt.

Ông thầy dòng bảo mọi người vào. Mỗi người lãnh một tấm thẻ có số và đặt vào mỗi gói đồ một cái thẻ cùng số. Ông ta bảo Graber:

– Tối nay đừng nên về trễ quá, trong nhà thờ không có nhiều chỗ đâu.

– Không có nhiều chỗ à, coi nhà thờ lớn thế này.

– Nhưng không ai được vào thánh đường, chỉ được ở dưới hầm và bên rìa thôi.

– Người đến muộn thì nằm đâu?

– Trong nhà rẫy hay còn chỗ trống. Cũng có người nằm ngoài vườn.

– Hầm có chịu nổi bom không?

Ông ta nhìn Graber dịu dàng:

– Khi xây nhà thờ không ai nghĩ đến chuyện bom. Cái đó ngày nay người ta gọi là đêm dài trung cổ.

Khuôn mặt mũi dài buồn thiu không để lộ vẻ gì cả, cũng không có chút gì là hài hước. Graber nghĩ thầm: “Chúng ta đã tiến bộ rất xa về nghệ thuật che đậy. Ai cũng gần như là người lão luyện rồi”.

Y đi qua nhà rẫy, vào nhà thờ. Nhà thờ bị tàn phá nặng; một gác chuông đã sập, ánh nắng rọi tứ tung vào chỗ trang nghiêm. Nhiều bức bích họa cũng bị bể nát. Chim sẻ đuổi nhau giữa đám mảnh kính đủ màu sắc. Thánh cung chỉ còn là một đống gạch vụn. Từ nhà thờ Graber đi thẳng xuống hầm. Đây là hầm rượu cũ của nhà thờ. Giá đựng thùng vẫn còn. Không khí mát mẻ ẩm thấp và thoang thoảng mùi thơm. Mùi rượu nho già hàng thế kỷ còn mạnh hơn mùi khét những đêm dội bom; phía trong cùng có nhiều vòng sắt lớn gắn liền vào đá tảng. Bây giờ Graber mới nhớ ra rằng hầm này dùng làm hầm tra tấn kẻ ngoại đạo và các mụ phù thủy trước khi dùng làm hầm chứa rượu. Người ta cột tay tội nhân vào vòng sắt và nướng sắt đốt người họ kỳ cho đến lúc xưng tội. Sau mới đem giết chết, nhân danh Thượng đế và lòng nhân từ Thiên chúa giáo. Y nghĩ thầm: “Chẳng có thay đổi bao nhiêu. Những tay đồ tể Quốc xã có những tiền bối đáng làm thầy họ. Và con người thợ mộc ở Nazareth có những môn đệ kỳ dị…”

***

Graber bước vào đường phố Adler. Đã sáu giờ chiều. Suốt ngày nay y đi tìm một căn phòng mà không được. Vì mệt quá y định thôi không tìm nữa. Khu này bị tàn phá trọn vẹn. Hết đống gạch ngói này đến đống gạch ngói khác. Chân bước đi mà trái tim thắt lại.

Thình lình y dừng lại, hết sức ngạc nhiên. Giữa chỗ tàn phá bỗng nổi lên một căn nhà hai tầng trơ trọi. Nhà đã xưa và không được ngay ngắn lắm nhưng nguyên vẹn, xung quanh là mảnh vườn đầy hoa nở. Một vùng đất xanh tươi giữa bãi sa mạc. Từng bụi xoan ngả nghiêng bên rào không thiếu một cái cọc nào. Độ hai mươi bước nữa là cảnh xơ xác trơ trụi như ở mặt trăng. Nhưng căn nhà nhỏ và mảnh vườn con đã đượp yên lành như thường xảy ra trong những vụ tàn phá lớn. Một tấm biển ngoài cửa đề mấy chữ: “Quán Witte”.

Cửa vườn mở. Y cũng không ngạc nhiên rằng cửa kính không cái nào bị vỡ. Y vẫn đợi thế. Phép lạ không xa chỗ thất vọng là bao nhiêu. Một con chó săn tai dài nằm ngủ gần cửa vào. Từng khóm thủy tiên, từng khóm hoa tím, có cả hoa kim hương. Nhìn cảnh vật y có cảm tưởng như đã quen biết từ lâu, nay thấy lại sau nhiều năm xa cách và lãng quên. Có lẽ y chiêm bao chăng? Y mở cửa vào.

Nhà không có ai. Một cái ly trên kệ, không có một chai rượu nào, vòi nước bằng đồng sáng choang, bồn rửa sạch sẽ và khô ráo. Ba chiếc bàn ghế đẩy áp vào tường. Chỉ có một bức họa treo trên tường: bức họa một cảnh xứ Ti-rôn, một đứa con gái ăn mặc lối bản xứ đang chơi đàn, một chàng thanh niên cúi xuống gần. Không thấy hình Quốc trưởng. Thoạt bước vào Graber cũng biết rằng không có của ấy.

Một người đàn bà có tuổi bước vào. Bà ta mặc áo choàng màu lam đã bạc, hai tay xắn cao. Bà ta không nói Quốc trưởng muôn năm! Bà ta chỉ nói:

– Chào ông.

Trong tiếng chào của bà có hương vị yên tĩnh buổi chiều. Sau một ngày làm ăn, đó là ước vọng được hưởng buổi tối êm đềm thư thả. Y nghĩ thầm: “Tất cả đều tự nhiên quá và phi thường quá!”. Y muốn uống một chút gì để rũ bụi bặm đã phải thở suốt ngày hôm nay – nhưng bây giờ y nghĩ rằng điều quan trọng hơn hết là tối nay phải cùng vợ đến đây. Phải đến cái động thiên thai này, để lại ngoài rào tất cả thống khổ tang tóc của chiến tranh.

– Tối nay chúng tôi đến ăn có được không bà?

Bà ta nhìn y, ngạc nhiên; y vội nói thêm:

– Chúng tôi có thẻ thực phẩm. Tối mà ở đây thì tuyệt, ở trong vườn này. Ngày nghỉ cuối cùng của tôi đấy. Rồi tôi ra mặt trận. Nếu bà muốn trả bằng hiện vật thì chúng tôi cũng có đồ hộp.

– Tối nay chúng tôi chỉ có đậu trắng thôi. Lâu nay hàng không bán.

– Đậu thì ngon lắm rồi còn gì nữa. Từ ngày chiến tranh đến giờ tôi chưa từng ăn đậu.

Bà già mỉm cười. Một nụ cười bình thản như xuất hiện từ quá khứ xa xôi.

– Nếu ông chịu ăn thế thì mời ông cứ lại. Có thể ngồi ngoài vườn được nếu trời không lạnh.

– Bây giờ còn sớm, tám giờ chúng tôi lại được không?

– Giờ nào cũng được. Đậu để đến bao giờ cũng được.

***

Một bức thư đặt ngay ngưỡng cửa. Y nhận ra chữ mẹ mình. Bức thư từ mặt trận gởi trả lại. Y vội mở ra coi. Bà cụ viết mấy chữ vội vàng cho biết nhà sẽ rời thành phố vào hôm sau theo một đoàn xe tị nạn. Không biết trước được sẽ đến nơi nào. Không có gì đáng lo vì chỉ là phòng trước thôi.

Y tìm ngày gởi thư. Bức thư gởi đi một tuần trước ngày y về tới nơi. Thư không nói gì đến bom đạn. Bà cụ đã cẩn thận, có lẽ vì sự kiểm duyệt. Không chắc là nhà bị phá ngay trước ngày đi. Có lẽ trước nữa, vì đã đi lánh nạn thì tất nhiên bị nạn rồi.

Y gập thư lại bỏ vào túi. Như vậy là cha mẹ hãy còn sống! Y lấy làm chắc chắn như người ta có thể chắc chắn được cái gì trong lúc chiến tranh. Y nhìn chung quanh, hơi bị lóa mắt. Tấm màn màu xám bao phủ sự vật lúc trở về bỗng tan đi. Phố Haken chỉ là một phố bị bom phá hủy, thế thôi, không hơn không kém. Mây buồn, mây khắc khoải bao quanh ngôi nhà số 18 bỗng dưng tan biến, chỉ còn những đống gạch vụn hiền lành. Y mạnh mẽ thở hít không khí, nhưng không thấy gì là vui vẻ. Chỉ có gánh nặng đè trên vai từ hai tuần lễ nay đã cất đi được để y có một cảm tưởng nhẹ nhàng gần như choáng váng. Y không hề nghĩ đến hy vọng được thấy cha mẹ trước khi đi. Hy vọng ấy đã mất từ lâu. Y chỉ cần biết cha mẹ còn sống không. Cha mẹ còn sống: vậy là y có thể sống trọn vẹn.

Căn phố lại bị thêm một chuyến bom nữa. Căn nhà còn nguyên vẹn mặt tiền chuyến đến thăm trước nay đã bị phá hẳn. Tấm cửa dán đầy giấy nhắn tin nay dời ra chỗ khác cách đấy vài thước. Graber tự hỏi không biết lão trưởng xóm điên đâu thì bỗng thấy lão đi qua phố tiến lại.

– A! Ông lính! Vẫn còn đây à?

– Vâng, ông cũng còn đây à?

– Ông nhận được thư chưa?

– Rồi.

– Thư đến chiều hôm nay. Sắp sửa gạch tên ông đi thì vừa. Ở đây thiếu chỗ, mà có nhiều người đang đợi.

– Chưa đâu, vài ngày nữa tôi mới đi.

– Đã đến lúc rồi. Sự kiên nhẫn của người ta chỉ có hạn.

– Ông là chủ bút tờ báo thông tin này à?

– Trưởng xóm phải kiêm hết. Trưởng xóm tượng trưng cho trật tự. Mới có một bà góa mất ba đứa con trong trận bom mới đây. Chúng tôi cần chỗ cho họ nhắn tin.

– Thế thì lấy chỗ tôi đi. Bưu tá đã quen để thư của tôi trước căn nhà sập đằng kia.

Trưởng xóm gỡ biển của Graber đưa trả, y định xé đi thì lão ta ngăn lại:

– Ông điên à! Xé đi như thế xui chết, ông đã hết hy vọng sống sót! Bản tin đã cứu ông một lần sẽ cứu ông mãi mãi. Thật là dại dột chưa biết gì!

Graber nhét mảnh giấy vào túi mà rằng:

– Vâng, tôi chỉ muốn dại dột như thế chừng nào hay chừng nấy. Bây giờ ông ở đâu?

– Tôi phải dọn sang chỗ khác, một hang chuột trong cái hầm khá khang trang. Thuê lại của chuột kể cũng thú vị.

Graber nhìn ông ta. Khuôn mặt khắc khổ không lộ nét gì cả.

– Tôi định tổ chức một hội những người có thân nhân bị vùi dưới gạch ngói. Phải liên kết với nhau mà hành động nếu không chẳng ai để ý đến cả. Thí dụ, chúng tôi đòi hỏi rằng những nơi có người chết vùi dưới gạch phải được ban phép lành và kính trọng như một cái nghĩa địa. Ông hiểu không?

– Dạ hiểu, hiểu quá mà!

– Có thế chứ, có người hiểu cho tôi chứ. Người ta cho tôi là ngu đần. Nhưng ông không thể có chân trong hội được rồi. Ông đã nhận được bức thư khốn nạn kia!

Nét mặt căng thẳng bỗng rã rời, phản ảnh đau đớn và tức giận khôn tả. Con người đáng thương đó quay gót chạy hấp tấp đi chỗ khác.

Graber nhìn theo trong chốc lát, rồi cũng bước đi. Y định giữ kín không nói cho vợ biết rằng cha mẹ mình còn sống.

***

Chỉ có một mình nàng ở xưởng ra chạy mau lại với chàng. Nom nàng bé li ti giữa bãi rộng mênh mông mà hoàng hôn còn làm cho thêm rộng.

Nàng thở hổn hển mà rằng:

– Em lại được nghỉ nữa.

– Mấy ngày?

– Ba ngày, ba ngày cuối cùng.

Nàng im bặt vì cảm động quá, hai mắt rưng rưng lệ.

– Em trình bày cảnh ngộ cho họ nghe, họ không làm khó dễ. Có lẽ sau này phải làm bù, nhưng nghĩ cũng chẳng làm sao. Em chẳng cần. Có lẽ bận công việc túi bụi lại hơn.

Graber không trả lời. Y vừa thấy đau đớn mà nhớ ra rằng xa nhau sắp đến rồi. Y biết thế từ lâu nhưng chỉ biết rằng cái gì rồi cũng xảy ra, người ta vẫn biết thế nhưng không bao giờ ước lượng tầm quan trọng.

Biết bao lo toan, sợ hãi, hy vọng đã che lấp tâm tình về phút chia ly nhưng nay nó xuất hiện với vẻ một sự kiện hiển nhiên không thể chối cãi được, một tia quang tuyến X đã rọi qua bộ mặt mầu nhiệm của cuộc sống, chỉ làm biểu lộ phương diện thiết dụng thô thiển và lạnh lùng của nó.

Hai người nhìn nhau. Tâm tình họ như nhau, chàng cũng như nàng hiểu nhau trong sự đau khổ. Họ đứng yên lặng nhưng tâm hồn khuynh đảo như bão táp. Họ đã tránh thất vọng nhưng nay thất vọng dồn dập trở lại, họ đã thấy mình xa nhau và cô độc – Graber đã mường tượng thấy nàng trơ trọi trong xưởng may, trong một cái hầm hay một căn phòng đợi chờ trong hy vọng mong manh – còn nàng đã thấy chàng trở lại với sự nguy hiểm chiến đấu cho một lý tưởng mà chàng không còn tin tưởng. Họ chỉ được quỵ ngã vì đau khổ dồn dập mãnh liệt, nhưng họ dồn hết nghị lực để không quỵ ngã trước làn sóng mãnh liệt. Họ ôm sát người nhau trong giây lâu để chống lại xúc động như vũ bão. Thời gian đó như dài vô tận, mãi sau sóng mới rút đi.

Graber thấy nước mắt Elisabeth dần dần tan đi như đã chảy vào trong.

Khi đã nói được nên lời chàng bảo nàng:

– Như vậy là chúng ta có mấy ngày sống trọn vẹn bên nhau.

– Vâng, bắt đầu từ tối mai. – Nàng cố gắng mỉm cười.

– Thế là hay rồi. Vì nghĩ rằng mình chỉ có vài ngày cho nên anh có cảm tưởng như nghỉ phép dài ra hàng mấy tuần lễ.

– Vâng.

Hai người rủ nhau đi. Ánh chiều tà xuyên một tia hồng thắm vào khung cửa sổ rỗng không.

– Đêm nay ngủ đâu?

– Chúng ta vào ngủ trong nhà rẫy, nhưng may ra có thể kiếm được chỗ ở hành lang thánh đường. Trước hết hãy đi ăn một bữa đậu tươi.

Quán Witte nổi lên giữa những đống gạch vụn. Không biết sao Graber ngạc nhiên là lại tìm thấy nó, vì nó giống như cái gì không có thật.

Y đẩy cửa bước vào và bảo vợ:

– Em thấy thế nào?

– Một nơi yên ổn đã bị thời gian bỏ quên.

– Có thế thật, tối nay chúng ta phải có một nơi yên ổn như thế.

Hơi ẩm ướt xông lên từ các luống hoa. Chắc là người ta mới tưới. Một con chó chạy quanh nhà, nó ngoe nguẩy đuôi khi thấy hai người vào.

Bà quán đến trước mặt họ, bà ta choàng chiếc khăn trắng.

– Ông muốn ngồi trong vườn không?

– Có, giá bà có nước cho rửa tay thì hay quá.

– Có chứ cô!

Bà Witte đưa Elisabeth vào nhà, lên từng lầu nhất. Graber đi qua bếp ra vườn thì đã thấy kê một chiếc bàn phủ khăn ca-rô trắng đỏ. Hai chiếc ghế và hai bộ bát đĩa tinh tươm đã bày sẵn. Y cầm bình nước để giữa, rót một ly uống cạn. Nước uống còn ngon hơn cả rượu nho của lữ quán Germania. Thực ra mảnh vườn rộng chứ không bé nhỏ như đứng ngoài phố nhìn vào. Bãi cỏ mới xén, xung quanh mọc hương mộc và xoan, và một vài cây khác mới trổ lá non vừa gặp tiết xuân về.

Elisabeth trở lại:

– Làm thế nào mà anh kiếm ra chỗ này?

– Tình cờ, ở đây chỉ nhờ tình cờ mà sống.

Nàng trở lại gần chàng, sực nức mùi nước mát rượi, mùi xà bông, tuổi son trẻ.

– Ở đây thật là thoải mái. Lạ thật, em có cảm tưởng như trước đã đến đây rồi…

– Chiều nay anh cũng có cảm tưởng ấy.

– Cứ như là mình đã có đến đây hồi nào, em với anh, trong vườn này, nói với nhau những chuyện này. Và hình như chỉ có một cái gì không gì cả, một chi tiết cỏn con cũng làm em nhớ lại một kỷ niệm đích xác.

Nàng tựa đầu vào vai chàng.

– Nhưng cái không gì cả ấy không bao giờ trở lại thực sự, không bao giờ chúng ta nắm được chìa khóa bí mật của quá khứ. Có lẽ khung cảnh này vẫn nằm ngủ yên dưới đáy tâm hồn chúng ta, có lẽ một ngày mai nó trở lại ám ảnh chúng ta…

Bà quán mang lại một cái liễn đậy vung kín.

– Chúng tôi xin đưa ngay thẻ thực phẩm cho bà. Chúng tôi không có nhiều vì nhà bị bom cháy hết. Nhưng chỗ còn lại cũng đủ.

– Tôi không lấy nhiều đâu. Đậu này từ trước chiến tranh chỉ cần thẻ để mua xúc xích và bơ thôi. Ông uống gì? Đây chúng tôi có rượu bia.

– Thế thì tuyệt diệu rồi. Chúng tôi chỉ thèm bia.

Trời đã nhá nhem. Một con chim khuyên khuất trong cây cất tiếng hót. Graber nhớ lại lúc ban ngày đã nghe tiếng nó rồi, đó là con chim ở sân nhà thờ. Từ bấy đến giờ đã nhiều việc xảy ra cho y. Y mở vung liễn :

– Xúc xích này! Một đĩa đậu này! Bữa ăn này phải thú vị!

Y múc ra đầy đĩa, trong một giây y có cảm tưởng rằng mình có căn nhà, mảnh vườn, người vợ trẻ, cơm nước tinh tươm và sự an toàn bình ổn.

– Em ạ, thí dụ như người ta cho em sống mười năm nữa với anh trong mảnh vườn lạc lõng ở giữa cảnh tan hoang thì em nói sao?

– Em sẽ nhận lời ngay, hơn mười năm cũng được.

– Anh cũng thế.

Bà quán mang rượu bia ra. Chàng mở nút rót ra uống. Rượu bia mới và ngon. Họ ăn thong thả, nhìn mặt nhau, không tin rằng mình có được hạnh phức này.

Trời đã tối. Một tia sáng đèn rọi quét lia lịa trên trời rồi biến mất. Con chim khuyên đã im lặng.

Bà quán trở lại múc thức ăn thêm vào liễn.

– Ông bà ăn ít thế. Tuổi trẻ phải ăn ngon miệng hơn chứ!

– Chúng tôi ăn được bao nhiêu thì ăn, liễn đậu hãy còn.

– Để tôi lấy thêm rau ghém và phó mát.

Trăng lên. Nàng nói:

– Thế là đầy đủ. Ánh trăng, vườn hoa, bữa ăn thịnh soạn rồi ngủ yên lành tối nay. Nhiều hạnh phúc quá sợ mình không có sức hưởng hết.

– Thế mà ngày trước thì là chuyện rất thường.

Nàng gật đầu và đưa mắt ngó quanh.

– Không thấy sự tàn phá nào ở chỗ này. Cây cối che khuất cả. Giá có một nước mà chỗ nào cũng thế này!

– Hết chiến tranh chúng ta sẽ đi du lịch. Chúng ta sẽ qua những tỉnh còn nguyên vẹn đêm thắp đèn sáng trưng. Chúng ta sẽ đi dọc những tiệm áo có tủ kính choáng lộn, sáng sủa đến nỗi có thể soi gương thấy rõ mặt mình như ban ngày.

– Biết người ta có cho mình sang nước của người ta không?

– Đi du lịch thì làm gì họ không cho. Ta sang Thụv Sĩ chẳng hạn.

– Thế thì phải có tiền Thụy Sĩ, làm thế nào có?

– Chúng ta mang máy ảnh sang đây bán. Như thế có thể sống được vài tuần lễ.

Nàng cười :

– Máy ảnh hay đồ nữ trang, hay áo lông thú, toàn là thứ đắt tiền mà mình không có.

Bà quán mang rau ghém và phó mát lại

– Ông bà ở đây có thấy dễ chịu không?

– Tuyệt thú. Ở lại một lát nữa có được không?

– Đến bao giờ cũng được mà. Để tôi lấy cà phê.

– Còn uống cà phê nữa. Chúng ta sống như ông hoàng rồi.

Nàng lại cười:

– Mới đầu chúng ta sống đế vương thật. Ca-vi-a, gan béo, rượu nho. Tối hôm nay chúng ta sẽ sống như người thường, sau này chúng ta sống như thế này. Có phải đời sống là như vậy không?

– Chính thế đó em ạ.

Chàng ngồi ngắm nàng không chán mắt. Lúc mới ở xưởng ra nàng nhợt nhạt bơ phờ mệt nhọc. Bây giờ hai mắt nàng sáng ngời sinh lực và tuổi trẻ. Nàng chóng lại người thật và nàng không đòi hỏi nhiều.

– Chúng ta phải học sống lại, chúng ta đã quên mất cả cách sống rồi! Mà có lẽ chính vì vậy mà tương lai của chúng ta phong phú. Cái gì người khác thấy nhàm chán vô vị chúng ta sẽ thấy là cuộc phiêu lưu rất mê ly. Thí dụ, chỉ có bầu không khí không có hơi khói này, hay bữa cơm không cần thẻ thực phẩm, một tiệm để mình muốn mua gì thì mua, một thành phố không có nhà nào bị bom đạn có thể nói cái gì mà không sợ hàng xóm nghe được, không phải sợ hãi gì cả! Phải mất một thời gian người ta mới quên được sợ hãi, vả chăng sau này có thấy sợ nữa mình cũng sung sướng mà nói rằng sợ hão sợ huyền. Anh có thấy thế không?

– Có chứ, nếu đứng về phương diện ấy thì hạnh phúc lớn đang chờ đợi ta.

Họ ngồi lại rất khuya. Graber trả tiền rồi bà quán lui về phòng, chỉ còn hai người ngồi trong vườn.

Trăng đã tỏ. Mùi đất ẩm, mùi lá rau thoang thoảng, vì không có gió nên hơi đêm đánh tan được mùi a xít và bụi vôi cát vẫn lưỡng vưỡng khắp các dãy phố. Có cái gì động đậy trong bụi. Một con mèo đang vồ chuột. Thành phố giờ nhiều chuột quá, xác người chết và vật đổ nát thuận lợi cho chúng sinh sôi nảy nở.

Đến mười một giờ họ mới ra về. Họ có cảm tưởng như từ một hải đảo bước chân lên đại châu.

– Ông đến chậm quá, hết chỗ rồi.

Không phải ông thầy dòng ban sáng. Ông này trẻ, mày râu nhẵn nhụi và ra dáng người oai nghiêm lắm.

Có lẽ ông ta tố cáo Joseph.

– Chúng tôi ngủ trong vườn nhà rẫy có được không?

– Vườn nhà rẫy những chỗ có mái che chật hết rồi. Tại sao ông không đến trung tâm cứu trợ hàng tỉnh?

Vào lúc khuya này câu hỏi ấy thật là quá lố.

Graber trả lời:

– Chúng tôi muốn cầu đến Thượng đế.

Ông thầy dòng nhìn y, nghiêm sắc mặt :

– Nếu ở đây thì phải ngủ ngoài trời.

– Không sao.

– Ông có vợ không?

– Có, tại sao?

– Ông nên nhớ rằng mình ở đất thánh, những người không phải vợ chồng không được nằm gần nhau ở đây. Nhà rẫy cũng là nhà thờ. Chỗ tôn nghiêm phải giữ cho tinh khiết. Coi ông như chưa vợ thì phải.

Graber lấy sổ gia đình ra. Ông ta đeo kính gọng thép lên và đưa gần đèn đêm để đọc.

– Chưa được bao lâu mà.

– Bổn đạo đâu có bắt buộc phải đúng ngày tháng.

– Đã làm phép cưới tôn giáo chưa?

– Này thầy. Vợ tôi làm việc suốt ngày, bây giờ nhọc mệt. Chúng tôi xin ngủ trong nhà rẫy. Nếu thầy thấy trở ngại thì cứ tìm cách mà đuổi. Nhưng một mình thầy làm không nổi đâu, kiếm thêm người ra đây.

Bỗng có một thầy khác chạy ra, ông ta đi nhẹ gót không ai nghe tiếng.

– Có chuyện gì thế?

Ông thầy dòng trẻ tuổi muốn nói đầu đuôi câu chuyện nhưng ông kia gạt đi:

– Không nên cho mình là ông trời. Họ phải đến đây cũng đã khổ lắm rồi.

Rồi quay lại bảo Graber:

– Nếu ngày mai muốn có chỗ trú thì ông đến trước chín giờ, số 7 phố Nhà Thờ, hỏi trưởng tu viện Biedendieck. Người quản gia của tôi sẽ kiếm chỗ cho ở.

– Cám ơn cha.

Cha Biedendieck gật đầu rồi đi. Graber bảo ông thầy dòng trẻ:

– Đầy nhé, bề trên cho lệnh rồi cứ thi hành thôi. Chỉ có giáo hội là giữ được phong thể tuân thượng lệnh thật đúng trong bao nhiêu thế kỷ. Đường đi vào nhà rẫy lối nào?

Ông ta đưa hai người vào hậu đường. Đồ thờ óng ánh trong tối. Qua một cái cửa, một hành lang rồi họ vào vườn nhà rẫy.

– Đừng có ngủ trên ngôi mộ các giám mục. Người nọ phải nằm cách người kia một thước, và không được cởi áo ra.

– Bỏ giày ra được chứ?

– Giày thì được.

Họ lần từng bước mà đi. Tiếng ngáy đã vang rộn dưới vòm cửa. Graber trải miếng vải căng lều và chăn đệm lên cỏ.

Y nhìn vợ. Nàng cười.

– Sao em lại cười?

– Lão thầy dòng tức cười thật, chắc anh cũng tức cười.

Y để va-li áp vào tường và lấy bị làm gối. Thình lình tiếng một người đàn bà nổi lên giữa những tiếng ngáy :

– Trời! Trời! Chết rồi!

Tiếng nói biến thành một tiếng rên. Một tiếng đàn ông la mắng :

– Câm mồm!

Tiếng kêu lại nổi lên.

Người đàn ông lại thét:

– Câm mồm, con khỉ!

Tiếng kêu bỗng im bặt.

Graber nói:

– Đó là giống người làm thầy. Chúng ta phục tòng ngay cả trong lúc nằm mơ!

Họ nằm gần nhau. Chỉ có hai người ở gần tường, ở những góc tường còn những đống đen đen nữa tỏ ra có người nằm ngủ. Mặt trăng ngự trên đống gạch vụn sót lại của gác chuông, ném tia sáng mờ xuống một ngôi mộ giám mục. Cái mộ đã nứt nhiều đường, không phải bị trúng bom mà vì ảnh hưởng của thời gian, ở giữa vườn một cây thánh giá mọc giữa bụi hồng dại. Có thể trông thấy những hàng cột và những cửa vòng cung kiến trúc trung cổ mà đoán biết những trạm lễ trên con đường thập tự. Trên mỗi trạm đều có đặt giá cầu nguyện.

– Này em, nằm lại gần đây. Kệ lão thầy dòng với phép tôn nghiêm khắc khổ của lão.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

Ông già giao cho tôi một cái đục bằng thép, một cái búa và một cái kinh đeo mắt để tránh những mảnh đá nhỏ bắn vào mắt. Công việc đơn giản. Tiện những phiến đá hình khối chữ nhật làm mộ bia, ông vẽ những bông hoa đối xứng hai bên. Nét màu đen, đục lõm xuống. Nét màu đỏ. đục theo đường viền cho nét vẽ nổi lên. Khoảng giữa để trống, tên họ người chết điền vào sau. Cả ngày ngồi đục đá, ông già và tôi có hàng trăm thứ chuyên kể cho nhau nghe. Ông cho biết, ông có biệt danh là Năm Thổ Mộ. Mấy chục năm trước, ông làm nghề đánh xe ngựa lộ trình Phương Sài, Cầu Đá, Thời thế đổi khác, ông giải nghệ lâu rồi. Biệt danh còn đeo theo ông mãi. Ông bảo tôi gọi ông là bác Năm. Ông cũng nói, một ngày nào đó, ông sẽ tự làm cho mình một bộ táng đá và mộ bia thật đẹp. Tôi nghĩ đến sự chết, thấy sợ. Tôi nói cảm tưởng đó với bác Năm. Ông cười, cái tướng bất cần đời của mày cũng sợ chết hay sao?

Tổi cũng kể về nghề ép mía làm đường của ba tôi. Đường nóng được đổ ra khuôn, phía dưới có lót tấm đệm.

Mật đường rỉ qua tấm đệm, chảy vào thùng chứa. Loại mật này không thể nấu cho đông đặc lại dược. Những nguoi bán mất ong, mua mật đường trộn một ít mật ong vào. Đôi khi chỉ là những mảnh tàng ong bóp vụn cho vào mật đường. Nhưng bao giờ họ cũng quảng cáo mật ong nguyên chất trăm phần trăm. Họ còn bày ra cách thử mặt ong bằng cách dùng cây tăm chấm vào mặt, rồi cho nhỏ giot xuống tờ giấy quyến. Nếu giọt mật không loang ra là mật ong nguyên chất. Tất cả dều là đánh lừa người mua. Mật đường khi nhỏ xuống tờ giấy quyến cũng không hề loang. Nghe xong, bác Năm chưởi sảng: “Tổ cha nó! Tháng nào, tao cùng mua mật ong, cũng thử bằng cách đó. Nó bảo, mỗi sảng uống một cốc rượu thuốc hòa với mật ong, trị được bệnh đau lưng. Tao uống hoài, bệnh vẫn hoàn bệnh.” Ngưng một lát, bác nói tiếp, “Hồi thời trai trẻ tao đánh xe thổ mộ, giao

tiếp với nhiều người, chơi bời trác táng quá độ. Cái hậu quả đó là di chứng của bệnh đau lưng kinh niên sau này,”

Tôi ngồi cấm cúi đục đá, cũng đau lưng. Có lẽ nào, đó cũng là di chứng của chơi bời trác tráng quá độ?

Bác Năm có người con đi lính ở xa. Trong kỳ về phép,  anh cho tôi chiếc áo lính và chiếc mũ lưỡi trai màu cứt ngưa. Anh tên là Kiên, vui tinh, sõi đời. Chưa có vợ, nhưng rất sành phụ nữ. Tôi thích nghe những chuyện tình của anh. Chẳng biết anh có phịa hay không, nhưng chuyện nào cũng ly kỳ hấp dẫn. Anh nói, đàn bà con gái có thể yêu thằng ăn cuớp, nhưng không thể nào yêu thằng ăn mày. Tôi hỏi, sao thế? Anh giải thích, người phụ nữ vốn thích được che chở. Trong moi tình huống hiểm nguy, thằng ăn cuớp có thể che chở cho họ. Thằng ăn mày quen thói van xin quỵ lụy thì còn che chở được ai? Tôi nói, đây là một phát giác chân lý tình yêu vô cùng mới mẻ. Anh bảo, đừng bao giờ quỳ lụy van xin trước mặt đàn bà con gái. Họ sẽ khinh bỉ. Đã không yêu mà còn thêm khinh bỉ, họ sẽ chà đạp một cách tàn nhẫn không thương tiếc. Tôi hỏi, trường hợp họ đã yêu, chừng một thời gian sau không còn yêu nữa. Mình phải làm sao? Anh Kiên bào, họ xoay mặi thì mình cũng quay lưng. Tôi lại hỏi, nếu mình không muốn quay lưng, có cách nào dụ dỗ cho họ quay lại với mình? Anh lắc đầu, hết thuốc chữa! Tôi nghĩ đến Phương Nghi và thấm thích cho một mối tình hết thuốc chữa.

Bác Năm nằm trên chiếc chõng gần đó, nghe anh Kiên dạy tôi về bài học căn bản tình yêu. Bác bảo, mày nghe lời thằng Kiên, có ngày bán lúa giống. Tôi nói, anh Kiên phân tích tâm lý tình cảm xã hội đúng phóc. Đàn bà con gái có thể yêu thằng ăn cướp, nhưng không thể nào yêu thằng ăn mày. Bác bảo, mày cứ thử đi. Ra đường, chĩa dao vào hông con người ta, và giựt bóp đầm. Rồi hỏi, cô có yêu tôi không? Mày sẽ được trả lời bằng những móng tay nhọn cào rách mặt. Đó là chưa nói đến chuyện bị còng tay đi tù. Anh Kiên nói, cái thời đánh xe thổ mộ của ba, xưa rồi. Thời đại mới, phải dùng lực lượng xe tăng thiết giáp tấn công, mới mong chiếm đoạt dược tình yêu. Bác Năm nói, tụi bây là thứ de non động cỡn, thời kỳ đó, tao đã trãi qua từ mấy chục năm về trước. Chẳng có tình yêu gì đâu. Tất cả chì là tình dục được che đậy dưới danh nghĩa tình yêu. Hôn nhân là một cuộc gán ghép với nhau, cho có bạn đi trên đường đời mà thôi. Anh Kiên hỏi, đơn giản thế à? Bác Năm nói, không tin cứ hỏi má mày. Bác Năm gái đang ngồi ngoáy trầu nói, yêu cái con khỉ mốc. Tao ăn ở với ổng, thì sinh con đẻ cái cho ổng. Anh Kiên nói, quan niệm cổ lỗ xĩ như vậy, mà ông bà cũng sống được với nhau mấy chục năm. Lạ thật! Lời của bác Năm gái, làm tôi nghĩ đến chị Triều. Tôi có yêu chị không? Hay chỉ là tình dục? Tôi làm với bác Năm hơn nửa tháng. Những ngón tay sưng vù lên, bởi lơ đểnh đập búa vào tay, Bác hỏi, hồn vía tôi để tận đâu đâu? Sao lúc nào cũng thấy tôi mang bộ mặt đưa đám? Tôi nói, cải mặt tôi vốn đã hãm tài, nên không ngóc đầu lên nồi. Bác Năm cho tôi tạm ngừng đục đá, phụ bác đạp xe ba gác chở táng đá, mộ bia và xi màng lên nghĩa địa xây mả. Lại lẩn quẩn bên những nấm mồ. Không biết số tôi ra sao mà cứ khiến xui về nghĩa địa? Những khi buồn chán, tôi nghĩ, tại âm khí người chết che ám vận mệnh nên đời tôi khốn khó. Lòng tôi buồn bã. Suy nghĩ mông lung. Thèm sống lại những ngày ái ân dục lạc với chị Triều. Nhớ lại những kỷ miệm êm đềm mắt trao mày gửi với Phương Nghi, Bây giờ, tất cả đã qua rồi. Chị Triều, biệt vô âm tín, Phương Nghi, không còn nhìn ngoái lại. Nổi đời như cơn sóng dữ, nhấn chìm hết mọi thứ.

Mặt buổi trưa, tôi chở táng đá và xi măng lên nghĩa địa. Qua những doạn dường dốc, tôi phải xuống xe ba gác còng lưng mệt nhọc mà đẩy. Mỗ hôi ướt mặt. Lưng áo ướt dầm. Bổng lôi thấy Phương Nghỉ đạp xe ngược chiều trên đường Lữ Gia. Tôi nghiêng dầu cho vành mũ che khuất mặt. Tôi không muốn nó nhìn ra tôi trong cái lốt của một người phu cực nhọc. Nó dừng xe bên lề đường.

_Anh Hiên.” Nó gọi.

Không giấu mặt được nữa, tôi dừng lại, ngẫng lên. Tôi cười rất gượng và lau mồ hôi trán bằng cái mũ lưỡi trai. Nó nhìn tôi ngại ngùng. Tôi chào nó và muốn bỏ đi.

Nó nói: “Khoan đã. Anh cho Nghi nói chuyện.”

Tôi sợ nó gợi lại vấn để tôi dến nhà chị y tá chích thuốc, nên tìm cách thối thoát: “Còn có gì để nói nữa đâu?”

“Nghi muốn xin lỗi anh.”

“Về vấn đề gì?”

“Hôm ở trên chùa. Nghi làm anh buồn. Nghi áy náy mãi trong lòng.”

Tôi nhớ lại hôm ấy, nó nói một cách tàn nhẫn, trong tình yêu không có thương hại đâu. Câu nói đã làm tim tôi thắt lại. Bây giờ, rõ ràng nó thương hại tôi. Có một chút gì nghèn nghẹn như tự ái vừa bị tổn thương.

Tôi cay đắng: “”Thương hại không phải là tình yêu,”

“Nghi không ngờ anh vất vả thế này.”

“Lại thương hại nữa. Tôi không thích ai ban bố cho tôi cái thứ tình cảm dư thừa ấy đâu.”

“Nghi cảm thấy mình có lỗi với anh .*

“Không yêu thì thôi, chứ lỗi phải gì? Tôi quên hết mọi chuyện rồi.”

Dù nói cứng, nhưng tôi nghe chỉa lìa từng đoạn ruột.

Nó dựa xe đạp vào xe ba gác. Bàn tay nó đặt trên yên xe. Những ngón tay nõn nà trắng muốt. Những ngón tay mà ngày nào đó. tôi đã mân mê bằng tất cả nỗi niềm xúc động của một tình yêu đầu đời. Giờ đây, tôi cũng thèm được cầm bàn tay ấy mà vuốt ve. Nhưng nhìn lại bàn tay sần sùi thô nhám của mình, tôi cảm thấy có một khoảng cách quá xa giữa bàn tay nó và bàn tay tôi. Bất giác, tôi sờ lên những ngón tay tủi cực của mình.

Nó cau mày tỏ vẽ xót xa: “Sao tay anh sưng vù lên thế?”

Tôi khộng trả lời.

“Đừng buồn nữa. Hiên ơi, hai đứa mình là bạn.” Giọng nó tha thiết.

Tôi nói: “Tôi và Nghi đâu phải Kim Trọng với Thúy Kiều sau mười lăm năm chia cách, rồi đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Nó mím môi, xụ mặt. Đôi môi tươi thắm, ngày mới gặp đầu tiên đã làm tôi điên đảo thần hồn. Khi nó mím lại, đôi môi cũng biết nũng nịu giận hờn. Tôi nhìn lãng đi hướng khác, giả vờ lãnh đạm. Thật ra, lòng tôi như lữa cháy. Tôi muốn thốt những lời nóng bỏng tình yêu ngày củ. Nhưng, tôi nhớ đã đọc ở đâu đó một câu triết lý vặt rằng, tình yêu như trò cút bắt, khi ta tìm nó sẽ trốn, khi ta quay lưng nó sẽ đuổi theo. Có phải vậy không? Sao không nhân cơ hội này, thay vì thuyết phục Phương Nghi hàn gắn lại chuyện tình, tôi thử lòng nó bằng cách tỏ thái độ khước từ? Nó nói: “Tuần sau là bắt đầu tựu truờng cho niên học mới. Nghi coi trong danh sách, thấy anh và Nghi được sắp xếp học chung một lớp. Như thế, nếu không là bạn thì gọi là gì? “À, hóa ra sắp phải nhìn mặt nhau hằng ngày nên Nghi nói đến tình bạn. Nghi ơi, cái thử tình gượng ép này, nhạt lắm. Giữa trai và gái, làm gì có tình bạn đích thực? Thà coi như người xa lạ còn hơn. Không thích nhau nữa thì thôi. Việc gì cứ phải đóng kịch?”

Khi nói, tôi tạo nét mặt rất lạnh như thể dã chán chường lắm. Dường như bị bất ngờ tước thái độ của tôi, nó sững sờ trong giây lất, rồi cúi đầu suy nghĩ. Tôi chờ nó hạ mình năn nỉ.

Một lúc sau, nó ngước lên, nhìn thẳng vào tôi: “Anh Hiên! Nghi đã xin lỗi anh rồi, nhưng anh là nguời cố chấp. Vâng, nếu anh muốn coi như người xa lạ, thì từ nay đừng nhìn mặt nhan nữa. Chào anh.”

Bây giờ. đến phiên tôi bị bất ngờ. Sự thử thách bị phản tác dụng như con dao đâm vào tử huyệt. Tôi còn đang lớ ngớ chưa nói được lời gì, Phương Nghi lên xc đạp phóng đi. Tóc nó lả tả bay ngược về phia sau. Tôi á khẩu đứng như trời trồng, như Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Trời ơi là trời! Cải thẳng khốn nạn nào đã đã đặt ra câu triết lý rẽ tiền, tình yêu như trò cút bắt … Nó hại tôi rồi. Trên đời, không có cái ngu nào giống cái ngu nào. Không bao giờ tôi học đuợc những bài học kinh nghiệm từ những lầm lỡ chua cay. Tôi cứ di lừng lững từ những vấp ngã này đến vấp ngã khác. Cú vấp ngã làm tôi đau đớn nhất, có lẽ là mối tình vừa vĩnh viễn chia tay.

33. Lên đường trước Tết Ta

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

Năm nay tôi được về nhà ăn Giáng Sinh và tết Tây. Hôm tôi về tới nhà thì bà xã đã dựng cây thông nhân tạo có trang trí những bóng đèn li ti, dây kim tuyến và đồ chơi treo lủng lẳng với nhiều màu sắc trông rực rỡ vô cùng. Nhưng năm nay hai đứa con gái không dám về nhà vì sợ lây nhiễm co-vi. Nhớ những năm trước vào những ngày Giáng Sinh và Tết tây cả nhà quây quần bên nhau đầm ấm, vui vẻ lắm. Năm nay chỉ có tôi và bà xã ở nhà nên hổng thiết tha gì tới Giáng Sinh. Đêm giao thừa dương lịch hai vợ chồng hâm một bình rượu ấm uống với oliebol, phó mát, trái ô liu và ngồi xem truyền hình, cứ để mặc cho dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.

Nhớ hồi còn trẻ, hễ sau tết Tây tôi hay nhớ về Tết ta ở quê nhà, rất hứng thú viết bài cho báo xuân và chờ báo xuân ra cũng như chờ Tết. Có lẽ nhiều năm ở xứ người với mùa đông lạnh lẽo, đón Tết ta qua những trang báo xuân riết rồi nhàm, năm nào như năm nấy, cũng chỉ có bấy nhiêu màu mè, hoa tươi sắc thắm, én liệng trời cao, hoa mai, hoa đào nở, chùa chiền người đông như kiến cỏ và khói hương nghi ngút. Đọc thấy không khí xuân trên báo lúc nào cũng hao hao giống lúc chị em Kiều du xuân của mấy trăm năm trước:  “… Ngày xuân con én đưa thoi… Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa, Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh, Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm…” Không biết thời gian phôi pha hay sao và cũng không biết từ lúc nào lòng tôi trống vắng khi nghe Tết đến và có năm tôi quên luôn ngày Tết cổ truyền của dân tộc mình. Tôi không đợi chờ năm hết, Tết đến nữa nên thấy thời gian qua mau và tuổi đời chồng chất bao nhiêu tôi cũng hổng màng. Có lẽ ở xứ nầy nó thiếu cái gì đó, mà người ta gọi là không khí tết, thấy hàng quán trang hoàng sặc sỡ, thiên hạ mua bán rộn ràng và nhạc xuân văng vẳng khắp nơi lòng mình cũng rộn ràng theo. Năm nay tôi biết được Tết đến là nhờ trước ngày tôi lên đường, bà xã rủ đi chợ Việt Nam mua đồ về gói bánh tét và làm dưa món. Về nhà bà xã kêu tôi phụ bà dẹp cây thông Giáng Sinh bỏ vô thùng và đem cất. Sau đó vô rừng lựa chặt một cành cây tươi đem về cắm vô chỗ cây Giáng Sinh để cho bà xã gắn bông mai bằng nhựa lên làm cây mai chưng trong phòng khách. Bà xã nói:

– Cho nhà có không khí Tết.

Khi tôi vô rừng chặt cây đem về, bà xã kêu tôi lấy cái xô và mấy cục gạch chèn hai bên để cắm nhánh cây cho khỏi ngã. Vợ kêu làm sao thì tôi làm theo vậy, trong buổi sáng tôi vừa dọn cây giáng sinh vừa chặt và cắm xong cành cây tươi, phần tôi đã xong rồi. Tới phiên bà xã đứng gắn từng cái bông mai nhựa nhỏ xíu màu vàng lên nhánh cây. Khi gắn hết bông rồi bà đứng ngắm nghía trông có vẻ hài lòng lắm. Tôi thì thấy nhánh cây có bông mà hổng có lá, tôi nói:

– Cây mai gì có bông mà hổng có lá trông hơi kỳ cục.

Bà xã cười cho cái sự thiếu kinh nghiệm về cây cảnh của tôi, bà liền giải thích cho tôi hiểu:

 – Ở ngoài trời lạnh cây hổng ra lá được, đen vô nhà ngâm trong nước và không khí ấm áp, từ đây tới Tết mình lá cây ra xanh màu đọt chuối trông cũng bắt mắt.

– Ồ, ngộ vậy…

– Ngộ gì, ông múc nước đổ vô gốc cây dùm đi.

– À, vậy  thì bây giờ gọi là cây mai được rồi.

Tôi lấy nước đổ vô gốc cây, coi như phần cây mai đã xong. Bà xã chợt nhớ ra một chuyện, liền nói:

– Hôm rồi đi chợ Việt định xin lịch về treo, nhưng năm nay bị cô-vi nên người ta hổng in lịch nữa, Tết năm nay nhà mình hổng có lịch Việt treo rồi. 

– Hổng có lịch Ta thì treo lịch Tây.

– Treo lịch Tây hổng thấy không khí Tết.

– Có lịch mới treo được rồi, năm nay không khí đại dịch cô-vi thì có, chớ Tết nhứt khỉ khô gì.

Bà xã càu nhàu:

– Nhưng cả nước Hoà Lan bị phong toả, tiệm đóng cửa hết, hơn nữa tết Tây qua lâu rồi, đi mua lịch năm tới chắc!

Tôi chợt nhớ ra hôm ở trên tàu người giao hàng có tặng tôi tờ lịch, tôi cuốn tròn nhét trong học trên nắp va li, nếu không có chuyện lịch Tết thì tôi đã quên luôn rồi. Tôi nói:

– À, anh có tấm lịch còn trong va li, để anh lên lấy xuống cho bà xã treo.

Tôi lên phòng mở va li lấy cuộn lịch đem xuống đưa cho bà xã. Bà xã mở ra thấy nguyên xấp lịch toàn hình phụ nữ trần truồng. Bà trợn mắt nói:

– Cái này làm sao treo được?!

Tôi cũng có hơi bị bất ngờ, tôi đi lại lấy xấp lịch lật xem, nhìn những cô gái Tây khoả thân. Chắc người tặng lịch nghĩ là những người làm việc trên tàu cũng giống những thợ sửa xe hơi trong garage, là thích treo hình phụ nữ sexy để nhìn cho ấm lòng. Tôi cười và nói dỡn chơi cho vui nhà vui cửa:

– Ờ, trông cô nào cô nấy cũng “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang… Mỗi người một vẻ, Mười phân vẹn mười”.

– Hứ, còn ở đó mà đọc Kiều.

– Anh thấy năm nào bà xã cũng vô tiệm Việt tìm xin cho bằng được lịch có hình các cô gái Việt Nam về treo, năm nay hổng có gái Việt thì treo gái Tây có sao đâu.

Bà xã nghiêm giọng nói:

– Ông già rồi mà còn ăn với nói, lẩm cẩm rồi hả, ông quên nhà mình toàn là con gái.

Tôi cười cầu hoà:

– Biết rồi bà xã, dỡn chơi thôi mà, để tôi đem bỏ thùng rác.

– Bỏ chi uổng vậy, mai mốt ông đi rồi, sao hổng đem theo xuống tàu treo.

– Thật ra thì trên tàu tui cũng hổng có treo lịch sexy trong phòng.

– Thì cho người khác.

– Trên tàu lịch thiếu gì.

Tôi để tờ lịch lên bàn. Bà xã thấy cũng không còn chuyện gì làm nữa mới đề nghị ăn bánh tét dưa món. Tôi nói: 

– Ô kê, cái này hấp dẫn à nha.

Trong khi chờ đợi bà xã cắt bánh tét, tôi nhìn lên tờ lịch cũ treo trên tường, một cô gái Việt Nam trong chiếc áo dài mà tôi thường nghe những nhà văn hoá ca ngợi là “quốc hồn quốc tuý” của dân tộc và được coi như là một trong những biểu tượng văn hoá truyền thống của Việt Nam. Tôi ngắm nghía nhìn kỹ, tự dưng trong đầu nảy sanh ra một ý nghĩ so sánh. Các cô người mẫu Việt Nam bận áo dài phủ từ cổ xuống chân, tuy kín đáo nhưng thân hình lồ lộ đầy gợi cảm, cũng bốc lửa đâu thua gì những cô gái Tây phương. Nhưng khác cái là các cô gái Tây phương chụp hình in lịch thì trần trụi khoe hết cả thân người, dù cho các cô gái Tây có mập, có ốm gì mà khoả thân chụp hình thì trông cô nào cô nấy cũng hấp dẫn như nhau. Còn các cô gái Việt Nam muốn mặc áo dài cho đẹp, hấp dẫn và cho bắt mắt mọi người thì người thợ may phải chọn những cô người mẫu ôm ốm, chân dài, ngực, mông đầy đủ và vòng eo càng nhỏ càng tốt, mà người ta thường gọi đó là “thắt đáy lưng ong”. Chọn xong, người thợ may cẩn thận đo từng ly từng tí những chỗ lồi ra lõm vào theo thân người của các cô để tạo nên sự gợi cảm tưởng tượng. Sau đó mới tới người thợ chụp hình, cho các cô người mẫu bận áo dài mới, đi tìm chỗ nào có bông hoa đẹp để các cô đứng làm kiểu, chụp mỗi cô vài ba chục tấm và lựa lấy một tấm đem về sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu bận mới vừa ý. Nhờ thợ may và thợ chụp hình tốn nhiều thời gian và công sức, nên trông hình cô gái Việt bận áo dài, cô nào cô nấy cũng đẹp giống như tranh vẽ, nó hổng giống thiệt như các cô gái Tây phương.

Bà xã bưng bánh tét và dưa món ra để lên bàn. Tôi lấy xấp lịch nhét vô thùng giấy, báo vụn và đứng lên phụ bà xã dọn chén, tôi thích ăn bánh tét chấm xì dầu cay cay mới lấy chai xì dầu xịt ra dĩa dầm thêm trái ớt hiểm rồi bưng mọi thứ để lên bàn. Bà xã gắp bánh bỏ vô chén mời tôi ăn. Chúng tôi im lặng ngồi ăn ngon lành. Tới khi ăn gần hết bánh bà xã mới lên tiếng hỏi:

– Sao, ông ăn thấy được không?

– Được, được, ngon bá chấy luôn, cám ơn bà xã.

– Coi như mình ăn Tết sớm đi.

– Ừa, không khí tết qua cây mai, hương vị Tết qua những thứ nằm trên bàn này đây.

– Còn chả lụa tôi cắt ra để trong tủ lạnh, lát tối tôi với ông uống bia. À, mà công ty có cho ông biết ngày đi chưa?

–  Chưa, họ chỉ kêu ngày mai đi khám sức khoẻ và xét nghiệm PCR.

– PCR là gì?

– Là Polymerase Chain Reaction, đại khái là thử coi mình có dương tính không?

– Nhớ coi đồ đạc, đủ thiếu gì nói tui biết để tui mua.

– Áo quần đi làm còn nguyên trong va li, có lẽ mua thêm bàn chải, kem đánh răng và dầu gội đầu.

– Được rồi, ông xem thiếu cái gì thì ghi vô giấy, mai ông đi lo thủ tục, tui ra chợ mua cho.

Cả đời tôi đi đi về về là chuyện bình thường. Có điều khác là lần này sắp lên đường tâm trạng tôi nao nao làm sao. Những ngày ở nhà, mỗi khi ra ngoài trở về thì phải khử trùng hai bàn tay và vợ chồng tránh tránh né né, ngồi nói chuyện cũng giữ khoảng cách, khi đụng chạm nhau cũng ngài ngại sao đó, như vậy còn nói gì tới chuyện săn sóc cho nhau. Ở nhà thì thấy hơi phiền, ra đi thì trong dạ không yên.

Canary Islands

 3/2/ 2021

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

HUY PHƯƠNG

Một tiếng nói nhân bản

Một tâm tình quốc gia

GS NGUYỄN NGỌC BÍCH

.. Phải nói, tác-giả Huy Phương hiểu rất rõ khả-năng của mình. Ông đủ thực-tế để biết, cũng như chúng ta thừa biết, là sống trong một môi-trường văn-hóa mà căn-bản rất  khác với nhiều điều chúng ta được học trong quá-khứ,chúng ta khá bất lực, không bẻ ngược được lại những điều “trái tai gai mắt” ta chứng-kiến chung quanh ta. Do đó dù không đồng-ý, chúng ta cũng không cấm cản được nhưng cũng không ai cấm được ta có thái-độ, một thái-độ tự-trọng vì ta chung thủy, không phản phúc, không “qua sông đấm bòi” như một thành-ngữ của VN đã mô-tả một cách rất hình-tượng và linh-động.

Do đó nên ông dành những bài đanh thép nhất mắng thẳng vào những kiểu trí-thức hèn hạ như Nguyễn Hữu Liêm đã vì chút danh hão mà quay ra ca tụng “kẻ thù của dân-tộc” là chế-độ ở quê nhà.

Như vậy, nói đến ngòi bút Huy Phương là nói đến một ngòi bút dứt khoát, một ngòi bút kiểu Nguyễn Đình Chiểu, chính tà phân minh, không khoan nhượng. Ông đáng yêu cũng ở chỗ đó, chính vì vậy mà tôi thẳng thừng gọi ông là một ngòi bút Quốc gia-không mặc-cảm, không ngượng ngập. Vì sao? Vì tôi biết là ngày mai, sau khi cái họa CS không còn nữa trên đất nước quê hương tôi, người ta sẽ đọc như người Nga ngày hôm nay đọc Solzhenitsyn, mà vất vào sọt rác những bài ca tụng CS của một người vô liêm sỉ kiểu Nguyễn Hữu Liêm. Đó là lý do tại sao 35 năm sau khi chúng ta đi lưu vong vẫn còn những nhà văn viết tiếng Việt, vẫn còn những độc- giả đọc tiếng Việt như hầu hết chúng ta ngồi đây, và văn-học tiếng Việt của chúng ta ở hải-ngoại vẫn còn chỗ đứng vững mạnh của nó như trong hiện-tại. Đây cuối cùng là sản-phẩm của một niềm tin, niềm tin vào ngôn ngữ và chính-nghĩa bất diệt của chúng ta.

Và khi chính-nghĩa đó được viết ra bằng một ngòi bút, hay nói đúng hơn là “ngòi”(?) computer, tài-hoa như của Huy Phương thì chúng ta có được những tác-phẩm để đời.

(Đọc trong buổi ra mắt Hạnh phúc xót xa ở Mason District

Government Center Springfield, Virginia

Ngày 31 tháng 10 năm 2010)

Nhà Văn DIỆU TẦN

… Có ba nhà văn coi Huy Phương là người viết tạp ghi hay nhất hiện nay ở hải ngoại. Gom lại thấy có mấy nhận xét chính:

a. Vốn là nhà giáo nên văn phong của ông hiền lành, nhân hậu, trầm tĩnh, không gào thét, phá phách, nhưng ung dung, từ tốn mà sâu sắc, đầy thuyết phục. Văn ông như tên thật của ông: Nghiêm và Kính.

b. Gốc người Huế, Huy Phương viết về Huế, Quảng Trị là đúng chỉ số, gây xúc động độc giả, viết thật, viết đúng, không bi thảm hoá.

c. Huy Phương có tài viết câu kết khéo gọn, giàu ý nghĩa, Chỉ mấy chữ, nửa dòng hay một dòng thôi đủ gói ghém, đủ gây bất ngờ và khiến người phải suy nghĩ rộng hơn, sâu hơn.

… Trong tác phẩm thứ năm này có ba cái nhất:

Bài gây cảm động, xúc động nhất là «Ngày Tốt Nghiệp » (trang 12). Hãy lắng nghe: « Ngày ra trường kết thúc một thời gian theo đuổi việc học, có thể để bắt đầu cho cuộc đời mới mẻ của con, nhưng người mẹ mơ hồ cảm thấy đó là một giai đoạn kết thúc từng chặng đời của bà. Như con chim đủ lông đủ cánh, đứa con sắp rời tổ để bay xa. Đội mũ tốt nghiệp … nhưng có đứa con nào nói được một lời, chân thành với nước mắt, mà cũng không người mẹ nào mong được con nói một câu như: « Mẹ ơi! được như ngày hôm nay cho con, mẹ đã trải qua biết bao lo âu, hy sinh biết bao nhiêu tiền bạc, sức khỏe. Con mang ơn mẹ biết bao nhiêu ».

Mỉa mai, tức cười nhất trong bài Bà .. Tư lệnh”. Văn chương nhất là bài “Những tiếng còi tàu” (trang 158). Xin nghe: « Ngày tôi bỏ xứ ra đi, những người tiễn tôi trên sân ga, ngày nay đã khuất bóng. Con tàu chạy qua những con đường quen thuộc của thành phố nhỏ ngày ấy. Qua những cửa sổ toa tàu, tôi thấy mọi người dưới đường đều nhìn theo con tàu, trong đó có những người chưa bao giờ được đi xa, họ sinh ra và lớn lên và chết trong thành phố đó. Không những với một con tàu, tôi đã đi nhiều con tàu, qua nhiều sân ga, qua nhiều bến cảng, bỏ lại quê hương bất công nghèo đói sau lưng ».

Viết về đề tài phụ nữ ngòi bút ông thật xót xa, chua chát. Trong các tác phẩm ông không quên có những bài ca tụng, đề cao, cảm phục, tạ ơn, xót thương cho phụ nữ. Như tiến sĩ Nguyễn Kim Qúy đã viết: « Huy Phương có tham vọng đáng yêu, đáng qúy là muốn “ôm cả cuộc đời” qua những cuốn tạp ghi sâu sắc.” Để chấm dứt, chúng ta không cần khen phò mã tốt áo nữa. Cho nên phải nhái thơ Vũ Hoàng Chương:

“Một nét bút đưa đời vẫn đẹp,

dù khen hay chẳng cũng là dư”.

Vì đã có đến gần hai chục văn, thi sĩ có danh khen ngợi ông rồi. Chỉ nên mượn lời bài hát « Đời Còn Dễ Thương »:

« Cũng may đời còn dễ thương

Vì đã đọc Huy Phương ».

(trích bài nói chuyện trong buổi RMS ở Trung Tâm VIVO-San José ngày 12-9-2010)

QUỲNH GIAO

.. Cũng là người viết hàng tuần cho Người Việt, Quỳnh Giao rất phục sức sáng tác và những đề tài ông chọn. Nói là tạp ghi nên tưởng rằng dễ, nhưng chọn đề tài thì không. Huy Phương có một vốn sống rất dầy và trái tim rộng mở nên viết về mọi đề tài. Đôi khi chỉ cần đi dự một lễ cưới là tác giả đã cho chúng ta một nụ cười với lối châm biếm nhẹ nhàng, mà cũng có chút xót xa tội nghiệp nữa. Vì sao vậy?

Có lẽ với bản chất hiền hòa của một nhà giáo, Huy Phương không bao giờ cười trên sự đau khổ của người khác. Nếu có, thì chỉ đùa chút cho vui, rồi tự nhiên bài viết của ông mang một thông điệp mà chính độc giả tự suy ra. Cách viết của ông hơi gần với của Phan Lạc Phúc, chan chứa tình cảm và lòng bao dung. Ông không nỡ chê ai tận tình và bao giờ cũng cho người một lối thoát. Trừ những bài viết về chế độ Cộng Sản và kỷ niệm lao tù khốn khổ của hàng triệu người, trong đó có ông.

Nhớ lại chuỗi thời gian dài, mỗi cây bút tạp ghi lại để cho người đọc những suy tư của tác giả vào một hoàn cảnh và thời gian nào đó, có những cái rất riêng và những chuyện rất chung. Chính là những suy tư về cái chung của chúng ta qua rất nhiều biến động mới khiến tác phẩm tồn tại vì người đọc tìm thấy mình ở trong đó và còn muốn đọc lại. Huy Phương thuộc thành phần ấy …

Nhà thơ DU TƯ LÊ

(dutule.com)

Thời gian cho thấy, Huy Phương viết, không chỉ do sự thúc bách của nhu cầu tinh thần mà, ông còn viết vì trách nhiệm của một nhà văn trước quê hương, dân tộc và, thành những trang văn mang tên Huy Phương thấm đẫm thời thế. Hai tác nhân chính này, hòa quyện nhau làm tình yêu thương đất nước và con người. Với tôi, đó là những trang văn gần gũi nhất, tha thiết nhất và, cũng ân cần nhất mà, một nhà văn có thể có được cho cuộc đời viết văn của mình ở thể loại Tạp Ghi. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy tạp ghi Huy Phương được đông đảo quần chúng hân hoan đón nhận. Trước thực trạng thị trường chữ, nghĩa ngày một co cụm vì sự thờ ơ, hờ hững hoặc quay lưng của độc giả hải ngoại mà, tác phẩm của Huy Phương vẫn được khắp nơi đón nhận như một món ăn tinh thần cần thiết, tôi cho, đó là một ngoại lệ. Một hiện tượng hiếm, quý. Với 61 bài tạp ghi viết dọc lộ trình nhân sinh gập ghềnh, nhồi xóc nơi quê người, được tác giả chọn để làm thành tác phẩm “Hạnh Phúc Xót Xa,” theo tôi, một lần nữa, nhà văn Huy Phương lại ghi, khắc được một cách sâu sắc, thâm trầm những mảng đời Việt Nam, lênh đênh, ty nạn. Đóng góp của ông về phương diện văn chương, qua tác phẩm vừa kể, là một đóng góp ý nghĩa và hữu ích cho mai sau – Những ai muốn thở, sống với buồn vui một  thời, của những số phận Việt, đầu thiên niên kỷ 2000, nơi xứ người!

Nhà văn PHẠM PHÚ MINH

.. Điều đáng nói thứ nhất là cách chọn đề tài của ông: toàn là những chuyện rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Mỗi hăm mươi bốn giờ trôi qua, biết bao là sự việc, là tin tức đến với một con người sống trong xã hội, nhất là trong thời đại thông tin bùng nổ như bây giờ. Hầu hết chúng ta đón nhận thông tin một cách vội vã, có khi cầm tờ báo chỉ lướt mắt nhìn qua các tin chính, và ít khi chúng ta suy nghĩ sâu xa về một sự kiện nào. Nhưng đối với Huy Phương thì khác, ông nhìn tin tức với con mắt và tấm lòng khác hắn đa số chúng ta, có những cái đối với chúng ta rất bình thường, hầu như chẳng có gì đáng nói, ấy vậy mà đối với Huy Phương có thể là một đề tài rất hay.

Có đề tài là mẩu tin tức hay sự kiện làm nền rồi, cách khai triển đề tài ấy của Huy Phương cũng rất là đặc biệt. Ông suy nghĩ về sự kiện ấy, ông đặt tâm tình và lý trí của ông vào đấy, ông tìm thêm tài liệu dính dáng với câu chuyện đó, tất cả trình bày rất gọn, trung bình chỉ từ ba trang rưỡi đến bốn trang sách thôi. Viết ngắn là một biệt tài của tác giả. Hình như tác giả biết chúng ta đang sống trong một thời đại rất vội vã, ít ai có thì giờ và tâm tư để đọc những gì dài lê thê, nên chỉ viết vừa đủ, ngắn gọn mà súc tích, sâu sắc.

Một điều thú vị cho người đọc Tạp ghi của Huy Phương là những đề tài ông viết rất gần gụi với chúng ta, hầu như chúng ta đều có nghe qua rồi. Biết rồi thì đọc thêm làm gì cho mất công, chắc hẳn mỗi người trong chúng ta đều tự nhủ như thế. Nhưng mà không, ở đây có cái lạ là chính vì đã biết rồi mà chúng ta càng ham đọc ông. Đó là vì cũng với đề tài ấy, nhưng Huy Phương phát triển ra theo cách của ông, và cái cách ấy làm chúng ta say mê không rời ông ra được. Bí quyết của ông là gì? Thứ nhất ông bổ túc cho đề tài bằng một số kiến thức mới, giúp cho người đọc hiểu rõ lai lịch nguồn gốc câu chuyện ấy thực ra là như thế nào. Rồi dựa vào đó, ông trình bày, lý giải, biện hộ cho ý kiến riêng của ông, để bênh vực hay bài bác.

… Có thể nói đề tài của ông là bất tận, khi nào còn cuộc sống của con người thì ông còn đề tài để viết. Muốn thế, điểm then chốt là ông có một tấm lòng rất nhân đạo, từ căn bản và từ lập trường đó ông nhìn ra vấn đề cần phải bàn. Ông chống cái ác, không ưa sự lố bịch, và rất có cảm tình, luôn luôn biểu dương những tư tưởng và hành động dựa trên điều thiện. Và ông cũng nghiên cứu tài liệu một cách công phu để củng cố cho lập luận của mình, vì biết rằng chỉ đưa ra vài cái nhìn rất chủ quan thì không đủ thuyết phục ai cả trong thế giới đầy ắp thông tin này. Cuối cùng ông có một khả năng viết lách rất khúc chiết sáng sủa, giọng văn tự nhiên như trò chuyện thân mật với bạn bè, ai đọc cũng cảm thấy gần gũi, thích thú.

(phát biểu trong buổi RMS tại báo Người Việt ngày 19 tháng 8, 2010).

THƯ SINH (San José)

… Còn Huy Phương, khác hẳn. Anh chọn đề tài rộng rãi hơn. Và cách viết cũng nghiêm túc hơn. Nên nếu ta bắt gặp đâu đó nơi Tạp Ghi Huy Phương những nụ cười. Thì những nụ cười đó chưa hắn thoải mái một cách trọn vẹn. Tạp Ghi Huy Phương không dồn dập, không sôi nổi, mà trầm lắng. Có lẽ vì cái chất nhà giáo và một người lớn tuổi như anh. Mà một “ông đồ già” như anh, thì chọn những đề tài gì, ngoài những kinh nghiệm đời và những kiến thức anh tích lũy được hơn bẩy chục năm cọ sát với đời. Nên độc giả của anh, hầu hết là những người lớn tuổi. Đối với Tạp Ghi Huy Phương, là ôn cố tri tân, là thấy người lại nghĩ đến ta. Tạp Ghi Huy Phương đã nối kết được cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu quả đúng như thế, thì chúng ta sẽ không còn phải thắc mắc. Tại sao Huy Phương quá mặn mòi với thể văn Tạp Ghi. Có người cho rằng. Tạp Ghi là một bài tùy bút ngắn. Xem ra lối ví von này lại rất đúng với Tạp Ghi Huy Phương. Mỗi bài anh viết chỉ dài 4 hay 5 trang giấy (khổ sách bình thường). Nhưng làm sao, chỉ vỏn vẹn vài trang giấy Huy Phương lại có thể tuân thủ mấy nguyên tắc mà một bài tạp ghi đòi hỏi: Ghi lại những cảm nghĩ của mình, và trình bày một cách trung thực những sự kiện khách quan.

VŨ ĐÌNH TRỌNG/Việt Herald

Mỗi ngày, những tin tức trong nước hay cộng đồng người Việt hải ngoại, thường cho ta nhiều cảm xúc. Chính cảm xúc đó đã tạo nên một Huy Phương Tạp Ghi. Những cảm xúc của nhiều người cũng là cảm xúc của ông, nhưng ông biết “đãi vàng” trong hàng trăm tin tức để gởi đến độc giả chiều sâu sự việc. Cho dù, giọng văn có chua xót, ngậm ngùi, hay đôi khi có chút cay đắng, đọc xong một bài tạp ghi của ông, tôi chia sẻ được cái tâm của ông, cái tâm của một nhà giáo, muốn dùng ngòi bút để làm trong sạch xã hội, làm thăng hoa đời sống con người.

Tôi thích cách đặt vấn đề gián tiếp của ông. Ở những bài tạp ghi như thế, tôi lại được học thêm một điều gì đó ngoài những điều ông muốn nói. Tôi thích những đề tài ông viết về cuộc sống ở đây hơn, vì nó gần gũi, chia sẻ được với lớp trẻ ở đây điều mà các bạn ấy ít bận tâm. (2010)

ĐINH QUANG ANH THÁI

(Westminster, California)

“Quê Nhà”, ông Huy Phương nói về những nhục nhằn mà đồng bào tại Việt Nam phải cúi mặt gánh chịu; về nhân cách bất khuất của những người dám đấu tranh cho khát vọng dân chủ, tự do của dân tộc; về phận đời lây lất của những cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. “Quê Người”, không cường điệu, không uất giận, nhà văn từng mặc áo lính này từ tốn nói lên những điều có thể gây phật lòng một số người, nhưng rõ ràng là những sự thật diễn ra hàng ngày trong cộng đồng Việt Nam; nhưng ông cũng không quên nhắc đến những đóng góp tích cực của người Mỹ gốc Việt nơi quê hương thứ hai này. “Quê Nhà-Quê Người” của Huy Phương, như cách nói của nhà văn Hoàng Tiến hiện ở Việt Nam, “là những giọt máu nhỏ trên giấy”. Máu của một người lúc nào cũng trăn trở, buồn vui với vận mệnh chung của con người và đất nước Việt Nam.

LM. Joseph NGUYỄN THÁI (Trung Tâm Công Giáo- Orange County)

Tại mỗi bài viết bút ký, tôi học và biết được những sự kiện hiện tượng xẩy ra, những kinh nghiệm cuộc đời. Đằng sau đó, kèm theo một cái nhìn sâu sắc về nhân bản và giá trị yêu thương của con người. Ở nơi bộ sách của anh đã giúp tôi như một tài liệu để dọn những bài suy niệm tôn giáo, hoặc giảng thuyết về một đề tài nào đó. Rất chân thành cám ơn anh như một người anh đi trước, đã ghi nhận các biến cố trong thời đại chúng ta đang sống và truyền lại những bài học làm người thật đáng quý. (2011)

NGUYỄN THANH HOÀNG

(Toronto, Canada)

Huy Phương viết về những sự việc gần gũi với đời sống bình thường, những trăn trở của người Việt tị nạn ở hải ngoại. Ông viết với một tấm lòng đôn hậu đầy ắp tình người khiến cho người đọc xúc động. Ông khéo léo trình bày những cảnh ngộ thường thấy hàng ngày, thêm vào những cảm nghĩ và nhận xét tinh tế của ông. Thảo nào những tác phẩm của ông đều được đọc giả đón nhận nồng nhiệt.

Nhà Văn PHAN LẠC PHÚC

(Sydney, Úc)

Đọc tạp ghi của Huy Phương tôi bắt gặp cái mực thước về văn phong cũng như suy tưởng của một ông thầy giáo, cái kiên định của một người lính chiến đấu không mệt mỏi cho tự do và phẩm giá con người.

Nhưng thấm thía hơn hết là cái xót xa của một người Việt Nam nhìn về quê hương thấy đất nước ta tan nát, xã hội ta băng hoại vì bè lũ lãnh đạo bất nhân đang sẵn sàng làm tôi tớ ngoại bang, công khai bán nước buôn dân. Là một người lính già thua trận, đã ở cái tuổi “mũ ni che tai”, tôi xin cảm ơn người anh em đồng đội Huy Phương đã nói giúp tôi những điểu tôi chưa kịp nói.

LÊ ANH DŨNG

(ký giả-Westminster)

Chúng ta thử điểm lại những tác phẩm của Nhà Văn Huy Phương từ trước đến nay thì sẽ thấy rõ ràng trong ông, thuần khiết, vốn là một nhà Giáo dục, một người Thầy đứng trên bục giảng … Toàn bộ những bài tạp ghi – phiếm luận – trong những tác phẩm của Nhà Văn Huy Phương như: “Ấm Lạnh Quê Người”, “Nhìn Xuống Cuộc Đời” …  Rồi giờ đây là “Hạnh Phúc Xót Xa”; đều có một nét rấtriêng, rất Huy Phương. Nó không giống bất cứ những tap ghi nào của những tác gỉa trước ông hay cùng thời với ông!

(2010)

ĐỖ XUÂN THẢO

Cũng cần để ý là các bài tạp ghi của HP tuy đại thể mang cùng chủ đề hoặc lãnh vực, nhưng không hề trùng lặp, mỗi bài một vẻ, tình tiết khác nhau. Có giống nhau là giống ở văn phong, lập trường quan điểm của tác giả, có trùng hợp là trùng hợp ở cách nhìn nhân bản và tấm lòng thương cảm của nhà văn vốn trải dài xuyên suốt trong các tập tạp ghi của anh. Chính vậy mà cùng một sự kiện, cùng một câu chuyện nếu người khác viết thì chưa chắc đã có cách nhìn và cách viết tương tự như “thương hiệu văn bút”

Huy Phương.

(Quận Cam 8-22-2010)

*LINH TRẦN

(độc giả Người Việt 7-2009)

Linhichiban@hotmail.com

Những bài viết thật hay nhưng cũng xót xa quá. Những gì qua ngòi viết chân phương của tác giả Huy Phương đều dễ làm cho dộc giả ngậm ngùi, nhưng luôn luôn làm cho mọi người muốn ngẩng đầu lên một chút, vì lòng tự trọng của con người, vì lòng tự trọng của một dân tộc.

BÌNH NGUYỄN (độc giả Cali Today 2007- San José)

Tôi đã đọc hết các tác phẩm của Nhà văn Huy Phương, và tôi đã khóc khi thấy chính mình cũng đã ở đó, một phần đời của tôi cũng có cùng chung nỗi đau thấm thía như trong văn của ông.

HOÀNG THU (độc giả Người Việt 2009)

Tôi năm nay xấp xỉ 70, sống ở Mỹ 26 năm, đã từng đọc rất nhiều sách báo VN đạo cũng như đời nhưng thú thật chưa có tác giả nào hay bài viết nào (kể cả các vị chức sắc tôn giáo) làm tôi cảm kích như bài viết “Người khách trọ vô tình” (Người Việt 30-8-2009) của Huy Phương. Xin được gửi lời cám ơn chân thành đến Ông Huy Phương.