This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
HQ Đại tá Cadeyrn Okely (hình của portal.engineersaustralia.org.au).
Hải quân Đại tá Cadeyrn Okely hiện là Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, Hải quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi, ông gia nhập Hải quân Hoàng Gia Úc vào tháng 2 năm 1991. Khởi đầu hải nghiêp, ông là Thuỷ thủ chuyên viên thám xuất, phân tích âm thanh trong lòng biển trên tàu ngầm HMAS Oberon, sau đó ông chuyển sang ngành kỹ thuật điện tử và được thăng cấp Trung sĩ (petty officer) và thăng tiến dần lên Sĩ quan kỹ thuật điện vũ khí vào năm 2000. Ông theo học tại Học viện Kỹ thuật Hoàng Gia Melbourne (RMIT) 5 năm, thông qua Chương trình Sĩ quan Kỹ thuật và hoàn thành Văn bằng Kỹ sư với thành tích xuất sắc. Ông đã phục vụ trên các chiến hạm HMAS Anzac, HMAS Ballarat, HMAS Parramatta, và vị trí cuối cùng trên biển là Sĩ quan kỹ thuật điện vũ khí trên Khu trục hạm HMAS Perth.
Trong thời gian phục vụ trên các chiến hạm Hải quân, HQ Đại tá* Cadeyrn Okely đã đi nhiều nơi, với những trải nghiệm ở Nam Cực, Trung Đông và Đông Timor. Một điểm nổi bật trong sự nghiệp Sĩ quan Hải quân của ông là làm việc tại Washington DC Hoa Kỳ, nơi ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan Kỹ sư điện tử vũ khí Hạm đội, tiếp theo là công việc với tư cách là Sĩ quan kỹ thuật hỗ trợ các Khu trục hạm hoả tiễn (Guided-missile destroyer).
HQ Đại tá Cadeyn Okley trao chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, khóa 018 cho Trung sĩ Anable tại HMAS Cerberus, Victoria (hình của facebook.com/HMASCerberus)
HQ Đại tá Cadeyn Okely chuyển sang làm việc trong ngành công nghiệp vài năm trước khi trở lại phục vụ toàn thời gian vào năm 2025 với tư cách là Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, nơi ông lãnh đạo và duy trì các tiêu chuẩn chuyên môn của các Sĩ quan kỹ thuật và kỹ sư trong Hải quân Hoàng gia Úc. Ông tốt nghiệp Học viện Giám đốc Công ty Úc (AICD) và có bằng cấp từ Viện huấn luyện điều hành và lãnh đạo (IECL), nơi ông hiện đang cung cấp dịch vụ huấn luyện điều hành cho các Sĩ quan và Thủy thủ Hải quân. Cadeyn Okley được giải cứu khỏi một Cô nhi viện trong thời gian Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những người cứu giúp ông là hai nhà ngoại giao Úc, sau này trở thành cha mẹ ông. Mẹ ruột của ông mất lúc ông mới sinh, cha ruột của ông là một người lính trong Quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Năm ông hai tuổi thì được đưa vào Cô nhi viện, và cha mẹ nuôi của ông đã đưa ông đến Úc trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn. Cha nuôi ông tiếp tục làm nhà ngoại giao Úc, và sau một thời gian sống ở Úc, gia đình ông đã trải qua vài năm tiếp theo sống ở Anh, Nga và New York, nơi cha ông làm việc tại Liên Hiệp Quốc về giải trừ vũ khí hạt nhân.
Thuỷ thủ Cadeyn Okley và cha mẹ (hình của inkedin).
Trở lại Úc, HQ Đại tá Cadeyn Okley hoàn thành chương trình học lớp 12 và quyết định gia nhập Hải quân. Ông biết nước Úc đã cho ông một khởi đầu tốt đẹp và một cuộc sống tuyệt vời như vậy, nhưng ông nghĩ không có cách nào tốt hơn để đền đáp ngoài việc phục vụ đất nước. Hải quân cho phép ông bảo vệ nước Úc và cuộc sống mà đất nước này đã mang lại cho ông, đồng thời có thể đào tạo những người sẽ bảo vệ di sản của nước Úc.
Với vị trí Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, HQ Đại tá Okely định hình và duy trì các tiêu chuẩn cho sự nghiệp kỹ thuật và chuyên môn của Hải quân, đồng thời bảo đảm bảo các chính sách kỹ thuật và an toàn được tuân thủ. Điều này có nghĩa là ông chịu trách nhiệm chứng nhận tất cả các Sĩ quan kỹ thuật đủ năng lực để đảm nhận vai trò trưởng bộ phận kỹ thuật trên tàu HMAS.
HQ Đại tá Okely đã tham gia vào các nhóm tham khảo của Bộ Quốc phòng nhằm hỗ trợ, đại diện và thúc đẩy sự hòa nhập của các Quân nhân phục vụ trong Lưc lượng Quốc phòng Úc đến từ các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, giúp họ cảm thấy được trân trọng. Ông cũng dành thời gian làm cố vấn, tham gia huấn luyện lãnh đạo cho các Sĩ quan và Thủy thủ.
Ngoài HQ Đại tá Cadeyn Okely, Người Việt tị nạn tại Úc đã gia nhập Lực lương Quốc phòng Úc (ADF), từ thập niên 90 được ghi nhận như sau: Cựu Nữ Đại uý Trần Thanh Tâm, Bác sị Quân y Lục quân; Cựu Đại uý Trần Chính, Không quân; Cựu Thiếu tá Trần Thanh Nhơn, Bác sĩ Quân y Lục quân trừ bị; Cựu HQ Thiếu tá Tuan Vo, và một số vị Sĩ quan khác phục vụ Quân đội Úc trong thời kỳ đầu. Hiên nay, số Quân Nhân Úc gốc Việt còn rất khiêm tốn so với Quân nhân Mỹ gốc Việt, nhưng có nhiều nam nữ Sĩ quan Úc gốc Việt mang cấp bậc Đại uý và Thiếu tá được ghi nhận như: Đại uý Dangar Nguyen, Lục quân, Đại uý Brendan Nguyen, Lục quân; Đại uý Andrew Pham, Lục quân; Nữ Thiếu tá Vu Thuy An, Luc quân; Nữ HQ Đại úy Fiona Nguyen; Nữ HQ Đại uý Vicky Nguyen; Nữ Đại uý Dana Pham, Không quân; Nữ Trung uý Sophie Tran, Lục quân, và còn rất nhiều Sĩ quan cấp uý gốc Việt khác chưa cập nhật hết được. Riêng số Quân nhân Úc gốc Việt mang cấp bậc Hạ sĩ quan và Binh sĩ có thể lên đến hàng trăm. Chú thích: *HQ Đại tá=Navy Captain.
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 8 Jun 2026
Graber tỉnh giấc. Có bước đi rón rén làm đá sỏi kêu lạo xạo. Y khẽ vạch mền ra. Elisabeth cũng cựa mình nhưng vẫn ngủ. Có lẽ thầy Pohlmann, cũng có thể là kẻ cắp hay Mật vụ – vì giờ này là giờ họ hay đi qua. Nếu là Mật vụ thì phải báo cho Pohlmann biết kẻo mắc lưới họ.Y trông thấy hai bóng người. Y cố lẳng lặng đi theo. Chân không đi giày; nhưng đi được vài thước thì vấp phải một hòn gạch. Một trong hai cái bóng quay lại. Graber vội cúi xuống.
– Hình như có ai ở đây!
Graber nghe rõ tiếng Pohlmann, y đứng dậy.
– Tôi đây. Graber đây, thầy.
– Graber, có chuyện gì đây?
– Không. Chúng tôi bị nạn. Chúng tôi không biết đi đâu, tôi chợt nghĩ thầy có thể cho chúng tôi ở tạm vài ngày.
– Ai nữa mà chúng tôi?
– Vợ tôi và tôi. Tôi mới lấy vợ mấy ngày nay.
– Được, anh cứ ở lại.
Pohlmann đi lại gần. Bộ mặt nhợt nhạt của ông hiện ra một điểm trắng trong chỗ tối.
– Anh trông thấy tôi đi vào đây à?
Graber ngập ngừng một chút. Nhưng nghĩ lại, cần gì phải cẩn thận vô ích đối với Elisabeth và người lạ mặt chắc là nấp sau bức tường.
– Vâng, nhưng thầy có thể tin tôi.
Pohlmann đưa tay lên trán.
– Hẳn rồi, tôi tin anh.
Ông ra vẻ lưỡng lự:
– Anh trông thấy ai nữa không?
– Có một người nữa.
Pohlmann như quyết định cái gì :
– Được, cứ lại đây. Anh nói vài ngày? Không được rộng chỗ lắm. Nhưng bây giờ không nên đứng đây.
Hai người đi sang phía bên kia bức tường.
– Xong rồi, không sao cả.
Pohlmann nói vào trong tối.
Một người hiện ra. Pohlmann mở cửa đi vào rồi hỏi.
– Vợ anh đâu?
– Ở ngoài kia. Chúng tôi mang theo nệm và căng lều.
Pohlmann dừng lại trong tối.
– Tôi phải nói cho anh biết. Nếu người ta trông thấy anh ở đây có phải là nguy hiểm cho anh không?
– Tôi biết.
Pohlmann đằng hắng.
– Vì tôi bị tình nghi. Anh cũng hiểu chứ. Anh có nghĩ đến vợ anh không?
– Có.
Graber nghĩ một lát mới trả lời.
Cho đến bây giờ người lạ mặt vẫn đứng yên sau Graber. Chỉ nghe tiếng thở của ông ta thôi. Pohlmann đi trước, dẫn hai người đến cái hầm và thắp ngọn đèn để trên bàn sau khi đã kéo kín màn cửa.
– Không nên gọi tên nhau. Người ta không biết gì về mình thì người ta không nói đến mình… Anh này là Ernst. Ông này là Joseph. Gọi như thế là đủ rồi.
Joseph là một người độ bốn mươi tuổi, mặt mảnh mai, kiểu mặt người xứ Israel. Ông ta rất bình tĩnh, mỉm cười với Graber. Rồi ông ta phủi quần áo để rũ bụi cát.
– Chỗ này không chắc chắn lắm. Nhưng Joseph vẫn phải ở đây suốt ngày. Nhà ông ở trước bị phá rồi. Phải kiếm chỗ ở chiều nay, chỉ vì cái hầm này không còn kín đáo như trước nữa.
– Tôi biết.
Giọng của Joseph bỗng trở nên thận trọng bất ngờ.
– Còn anh. Tôi nhắc lại cho anh nhớ, tôi bị tình nghi. Anh thừa hiểu rằng người ta thấy anh ban đêm ở với một người bị tình nghi sẽ nguy hiểm cho anh thế nào.
– Vâng, tôi biết.
– Có lẽ đêm nay cũng không sao. Trong tỉnh còn lộn xộn vì mới dội bom. Nhưng ai biết đâu mà nói trước được. Anh có chịu nhận lấy sự nguy hiểm ấy chăng?
Graber không trả lời. Pohlmann và Joseph nhìn nhau.
– Riêng tôi, tôi không sợ gì cả. Vài ngày nữa tôi ra mặt trận, đối với vợ tôi thì khác. Tôi không nghĩ đến điều ấy thật.
– Tôi nói vậy không phải để từ chối đâu.
– Vâng, tôi biết.
– Cùng lắm ông có thể nằm ở ngoài không? – Joseph hỏi.
– Vâng chúng tôi trú mưa ở ngoài kia.
– Thế thì ở đây, cứ nằm đây. Ngày mai đem đồ đạc vào gửi đây, có lẽ cái đó làm ông bận tâm hơn cả. Hẳn là ông có thể đến nhà thờ. Nhà thờ bị phá rồi nhưng hầm còn nguyên vẹn. Đem đồ đến đấy gửi thì ban ngày được rảnh rang đi kiếm chỗ ở.
– Có lẽ ông Joseph nói phải. Ông có nhiều kinh nghiệm hơn chúng ta.
Graber cảm mến ông thầy học già như những năm về trước. Y nói:
– Vâng, tôi cũng nghĩ thế, tôi rất tiếc đã làm thầy sợ hãi lúc nãy.
– Sáng mai anh đến đây nếu cần cái gì. Gõ hai tiếng cách xa rồi hai tiếng gần nhau. Không cần mạnh lắm tôi cũng nghe thấy.
– Vâng, cám ơn thầy.
Graber trở lại lều vải căng. Elisabeth vẫn ngủ. Nàng khẽ rên khi y chui vào nằm gần, lát sau y cũng ngủ.
***
Sáu giờ sáng hôm sau nàng tỉnh dậy. Một chiếc xe ngựa lắc lư đi qua phố.
– Em ngủ ngon quá. Chúng ta nằm chỗ nào thế này.
– Công trường Jahn.
– Tối nay ngủ đâu?
– Ngày hôm nay đi kiếm.
Nàng lại nằm xuống gần chàng. Một tia sáng ban mai chiếu qua miếng vải lều. Chim hót quanh đấy. Nàng giơ tay kéo vải ra coi. Trời đã ửng hồng, không gợn chút mây.
– Thật đúng là đời sống bô-hê-miêng. Đầy thú vị phiêu lưu.
– Như thế gọi là nhìn đời dưới góc cạnh lạc quan. Tối hôm qua anh gặp thầy Pohlmann. Có thể nhờ thầy nếu có gì cần.
– Chúng ta không cần gì cả. Không biết có còn cà phê không? Nấu bếp ở đây có được không?
– Hẳn là bị cấm, cái gì hợp lẽ phải mà không bị cấm? Nhưng cần gì. Dù sao chúng ta cũng là bô-hê-miêng!
Elisabeth định chải đầu.
– Đằng sau nhà có cống nước mưa. Đủ để rửa mặt.
Nàng mặc áo vào.
– Y như ở nhà quê, ra máng nước rửa ráy. Ngày xưa mình thấy thế này rất thơ mộng!
Graber cười.
– Bây giờ cũng vẫn thơ mộng nếu so sánh với đời sống ngoài mặt trận. Cái gì cũng là tương đối cả.
Y lấy mền bọc nệm lại, đốt bếp rượu đặt ga-men đun nước. Thình lính y chợt nhớ ra quên mất thẻ thực phẩm ở nhà. Nàng vừa trở lại sau khi rửa mặt xong, mặt nàng tươi tỉnh trẻ trung.
– Em có giữ thẻ thực phẩm không?
– Không, để ở ngăn kéo chiếc bàn con gần cửa sổ.
– Trời! Anh lú ruột quên mất rồi. Ấy thế mà ngồi lần chần mãi đây!
– Anh phải nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn. Thí dụ áo dài mặc dự hội của em. Thôi để làm đơn xin thẻ khác. Hẳn là hôm qua có nhiều người cháy mất thẻ.
– Đành là xin nhưng biết bao giờ được. Dù có đến lúc tận thế người công chức nước Đức cũng không chịu làm sai thể thức.
Elisabeth cười.
– Đến xưởng em xin nghỉ một giờ để xin thẻ. Viên trưởng xóm sẽ nhận thực cho mình cháy nhà.
– Hôm nay em trở về xưởng à?
– Phải trở về chứ. Cháy nhà thì có gì quan trọng!
– Thế này thì muốn cho xưởng may một mớ lửa không?
– Nhưng rồi họ lại tống mình đi nơi khác, đã chắc đâu bằng ở đây. Em không muốn làm súng đạn.
– Cứ lẳng lặng thế mà chuồn. Họ biết đâu hôm qua mình có yên lành không hay bị thương.
– Phải cho xem vết thương. Trong xưởng có thầy thuốc và cảnh sát. Khai bậy là họ phạt: làm việc thêm hay mất nghỉ phép – nếu cưỡng lại thì đi học tập công dân giáo dục trong một trại tập trung. Đã đi học về một lần thì không ai muốn đi học lại nữa.
Elisabeth cầm ga-men nước sôi đổ chậm lên vung, dưới để chút bột cà phê.
– Anh cũng chớ quên rằng em được nghỉ ba ngày để lấy chồng. Không nên đòi hỏi nhiều quá.
Y biết rằng vì cha bị bắt mà nàng chịu theo kỷ luật ấy. Đó là cách hạ nhục thân nhân những người bị giam.
– À! Đồ súc sinh! Họ làm cho chúng ta đến nỗi này!
– Thôi uống cà phê đi và hãy bình tâm. Chúng ta không có thời giờ để than thở.
– Quả như thế. Chúng ta chẳng còn bao nhiêu thời giờ!
Nàng gật đầu.
– Em biết, em biết. Anh gần hết phép rồi, mà mất bao nhiêu thời giờ để chờ đợi nhau. Em phải có can đảm không trở lại xưởng cho đến ngày anh đi.
– Em có đủ can đảm. Chẳng thà có người chờ đợi còn hơn chẳng có ai để chờ đợi cả.
Nàng mỉm cười ôm lấy chàng hôn.
– Kể ra anh học ăn học nói cũng chóng. Nhưng em phải đi đây. Tối nay gặp nhau ở đâu?
– Ừ nhỉ! Ở đâu! Chúng ta không cửa không nhà. Phải làm lại từ đầu. Anh đến xưởng đợi em.
– Nếu vì lẽ gì không gặp nhau, báo động hay bị ngăn cản?
Graber nghĩ ngợi.
– Anh sẽ mang đồ đạc đến nhà thờ. Ta lấy chỗ ấy làm nơi hẹn.
– Đêm cũng mở cửa à?
– Tại sao lại đêm? Không lẽ đến đêm em mới về?
– Biết đâu đấy. Có hôm phải ở trong hầm đến sáu giờ đồng hồ. Tốt hơn hết là kiếm một người mà chúng ta cũng có thể gặp để nhắn tin. Chỗ hẹn bây giờ cũng không chắc nữa.
– Em muốn nói đến trường hợp xảy ra cái gì bất thần cho một người.
– Vâng.
Graber gật đầu. Bây giờ y hiểu rằng rất dễ bị thất lạc.
– Ngày hôm nay sẽ nhờ thầy Pohlmann… À không, bây giờ không chắc nữa rồi. Nhà Binding thì không đến nỗi. Anh đã chỉ cho em biết nhà rồi. Hẳn là hắn chưa biết tụi mình mới thành hôn, nhưng không sao. Để anh đi qua báo tin cho hắn biết.
– Anh lại đến Binding làm một mẽ nữa?
Graber cười.
– Anh không nghĩ đến đấy. Nhưng mình cũng phải kiếm cái gì để ăn chứ. Sống mãi trong tình trạng này rồi mình cũng trở thành hèn nhát!
– Đêm nay còn ngủ đây không?
– Mong rằng không, ta có một ngày trời để đi tìm chỗ ở.
Mặt người thiếu phụ sa sầm lại giây lát.
– Anh thì có thời giờ nhưng em phải đến xưởng đây. Giờ thu xếp đồ đạc đem gởi thấy Pohlmann rồi anh đưa em đen xưởng.
– Không có thời giờ đâu. Em phải chạy mới kịp. Thôi, đến tối anh nhé, ở xưởng, hay nhà thờ, hay nhà Binding. Chà, cuộc sống phiêu lưu khá hấp dẫn!
– Gớm, phiêu lưu như thế này thì ngán lắm!
Nàng đi qua công trường, y đứng nhìn theo. Buổi ban mai sáng sủa. Trời xanh ngắt cao thẳm. Sương phủ cảnh hoang tàn một tấm màn bạc.
Nàng quay lại gửi chàng cái hôn tay rồi cắm đầu đi.
Graber thầm khen dáng đi nàng thật là đẹp. Hai chân lần lượt đặt thẳng đường se chỉ như nàng men theo một làn bánh xe. Bên Phi châu y đã thấy những người đàn bà có dáng đi ấy. Nàng quay lại một lần nữa trước khi mất hút sau căn nhà cuối phố “Chẳng khác nào ở mặt trận, không biết rồi có gặp nhau nữa không. Ngán với lối sống phiêu lưu hấp dẫn này!”
Đến tám giờ thì Pohlmann ở trong nhà ra đến chỗ Graber:
– Tôi đến xem hai người có gì ăn không. Tôi có thể cung cấp bánh mì.
– Cám ơn thầy, chúng tôi cũng có. Thầy cho chúng tôi gửi va-li và chăn mền cho đến lúc chúng tôi ở nhà thờ về.
– Ừ, mang vào đi.
Graber mang đồ đạc vào. Joseph ngồi khuất mặt đâu đấy không thể thấy được.
Pohlmann nói:
– Lúc trở lại nếu không thấy tôi cứ gõ cửa hai tiếng mau hai tiếng khoan. Joseph sẽ ra mở.
Graber mở một chiếc va-li.
– Càng ngày càng hóa ra người bô-hê-miêng. Lúc về nghỉ phép có ngờ đâu lại ra thế này!
Pohlmann sẽ mỉm cười:
– Joseph sống như vậy đã ba năm nay. Ông ta ngủ trên xe điện trong nhiều tháng. Suốt ngày ông đi khắp nơi trong tỉnh. Dĩ nhiên ông ta chỉ có thể ngủ ngồi độ mười lăm phút mà thôi. Bấy giờ chưa có ném bom. Nhưng bây giờ làm thế không thể được nữa rồi.
Graber lấy một hộp đồ ăn ra tặng Pohlmann.
– Anh cho Joseph thì hơn. Tôi, tôi không cần lắm.
– Thịt đây! Thầy không cần thật à?
– Không. Để cho Joseph thì hơn. Phải giúp những người như ông ta thoát cơn nguy biến. Nếu không thì khi tan cơn ác mộng này nước Đức còn ai là nhân tài? Ai xây dựng lại đất nước?
Ông già lặng yên một lát, rồi ra đứng gần quả địa cầu đặt trên kệ đưa tay xoay đi.
– Anh thấy cái chấm đen này không? Đấy, nước Đức đấy. Một ngón tay tôi cũng đủ che lấp. Đó chỉ là một phần nhỏ nhoi của thế giới.
– Nhỏ nhoi thật, nhưng nước Đức đã thôn tính những phần đất quan trọng hơn trong mấy năm gần đây.
– Chiếm đóng thì có nhưng chưa chắc đã giữ nổi.
– Nhưng nếu giữ được những đất đã chiếm thì sao? Mười năm hay hai mươi năm? Chiến thắng và thành công là những sự kiện gây tin tưởng cho chúng ta một cách ác nghiệt. Cứ xem nước nhà thì thấy.
– Chúng ta chưa thắng.
– Đó không phải là một bằng chứng.
Pohlmann trả lời :
– Có chứ. Đó là một băng chứng. Một bằng chứng hùng hồn.
Tay ông nổi gân lớn vẫn xoay quả địa cầu.
– Cuộc đời vẫn tiếp tục. Khi người ta không tin tưởng nước mình người ta phải nhìn sang các nước khác. Nhật thực có thể xảy ra nhưng không phải đêm dài vĩnh viễn ở trên trái đất này. Thất vọng chỉ là một cách nhìn cận thị.
Ông xoay quả đất lại chỗ cũ.
– Anh tự hỏi ai là người xây dựng lại đất nước? Anh thử nghĩ xem. Thiên Chúa giáo lúc đầu chỉ có một số người sống chết với đạo ở trong hầm hố và những người sống sót sau cuộc tàn sát ở La Mã.
– Nhưng, thưa thầy, đảng Quốc xã cũng chỉ ra đời với một số thợ thất nghiệp cuồng tín ở Munich.
Pohlmann mỉm cười.
– Anh nói có lý. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng bạo chúa không bao giờ ngồi lâu. Nhân loại không bao giờ tiến triển một cách liên tục và đều đặn. Phải có thăng trầm, nhảy vọt và thoái lui. Chúng ta đã phạm tội vì kiêu ngạo, chúng ta đã tự hào rằng vượt khỏi được quá khứ nhân loại tàn ác bạo lực, nhưng bây giờ chỉ vì một cơn khủng hoảng qua loa chúng ta lại trở lại tàn ác bạo lực.
Ông cầm lấy mũ:
– Tôi phải đi đây.
– Xin trả thầy quyển sách về nước Thụy Sĩ. Nó hơi ướt. Tôi đã đánh mất nhưng lại tìm thấy.
– Thà mặc cho nó “chết” vì bom đạn còn hơn, không nên bao giờ cứu vớt những giấc mộng.
– Nên chứ. Nếu không cứu vớt những giấc mộng thì cứu vớt gì bây giờ?
– Niềm tin. Còn những giấc mộng thì tự chúng sẽ hồi sinh lại.
– Thế cũng là may nếu không thì treo cổ mà chết cho rồi.
– Anh còn trẻ thật! Tôi vẫn tưởng tượng ra tuổi trẻ bây giờ khác.
– Tôi cũng vậy.
***
Joseph nói đúng. Ở nhà thờ người ta nhận cho gửi đồ đạc. Graber gởi ba lô rồi đến Sở Gia cư. Người ta đã dọn sang phòng giảng Tự nhiên học của nhà trường. Vết tích ngày xưa còn lại là một cái giá đựng bản đồ và một tủ đựng chai lọ. Người công chức làm việc ở đây lấy một mớ chai lọ ra làm đồ chặn giấy. Rắn, ếch, thằn lằn ngâm rượu trong cóng được hân hạnh canh giữ hồ sơ của dân bị nạn. Một con sóc nhồi rơm hai chân giữ viên hạt dẻ, giương hai mắt thủy tinh nhìn Graber. Bà công chức đã già, tóc hoa râm, mặt tươi cười.
– Tôi sẽ ghi tên ông vào sổ những người không có nhà ở. Ông có địa chỉ không?
– Không.
– Thế thì lúc nào trở lại đây xem có kiếm được chỗ nào ở cho ông không.
– Có hy vọng gì không?
– Không. Trước ông đã có sáu ngàn người, cố gắng đi kiếm lấy thì hơn.
Y trở lại nhà Pohlmann. Gõ cửa không ai trả lời. Y đợi một lúc rồi trở lại phố Marie để xem nhà còn lại gì không.
Nhà cháy đến lầu giữa. Lính chữa lửa mãi đến lúc cuối cùng mới tới nơi. Nước còn ướt đầm khắp nơi.
Phòng Elisabeth không còn gì cả. Cái ghế y khuân ra ngoài đã biến mất. Một đôi găng tay xanh ướt nhèo bỏ quên dưới cống, tất cả chỉ còn lại có thế.
Graber trông thấy khuôn mặt lão trưởng xóm đằng sau màn cửa. Y chợt nhớ ra mình đã hứa cho lão mấy điếu xì gà. Lời hứa ấy và tất cả mọi sự việc hình như đã thuộc về quá khứ xa vời; tuy nhiên đã biết đâu mà nói trước sau này sẽ thế nào. Y định trở lại nhà Binding – vả chăng y cũng cần tảo ít đồ ăn.
***
Chỉ có một căn nhà trúng bom. Vườn tược chan hòa ánh nắng ban mai, lá trên cành rung ào ào, lấp lánh sương đêm; ánh vàng bông thủy tiên kín đáo giữa bụi cỏ; cây cối mới trổ hoa nom như bám đầy bươm bướm trắng và hồng; chỉ có căn nhà của Binding biến thành một đống gạch ngói rác rưới ở trên một cái hố như miệng núi lửa phản chiếu nền trời xanh thẳm. Graber đứng ngoài hàng rào nhìn vào mà không tin mắt mình trông thấy thực, y yên chí rằng không thể xảy ra cái gì cho Binding được. Y đẩy cổng bước vào. Hồ tắm cho chim tan ra từng mảnh vụn. Cửa vào bật tung ra chỗ bụi xoan. Sừng hươu cắm xuống cỏ như con hươu bị chôn tại đây. Một cái thảm vắt ngang trên cành cây như lá cờ của một chiến sĩ Mọi. Một chai rượu còn nguyên vẹn cắm thẳng xuống luống hoa như một trái bí mọc bất ngờ. Graber nhặt lấy vuốt ve rồi bỏ vào túi áo. Y nghĩ rằng hầm còn nguyên vẹn, họ chuyển đồ đi và bỏ quên chai rượu.
Y đi quanh nhà một lượt. Lối vào bếp còn nguyên. Y mở cửa bếp ra thì thấy có người động đậy.
– Bà quản gia!
Bà quản gia nấc lên khóc và đứng dậy đi ra.
– Tội nghiệp ông chủ quá!
– Sao thế bà? Ổng bị thương à?
– Ông ấy chết rồi. Tội nghiệp quá!
– Chết rồi!
– Vâng, thật là bất ngờ, phải không ông?
Graber gật đầu. Không ai tin cái chết, dù chết trở thành cái gì thường quá rồi.
– Đầu đuôi thế nào bà?
– Ông ta ở trong hầm nhưng hầm không chịu nổi bom.
– Dĩ nhiên hầm xây sơ sài không chịu được bom hạng nặng. Nhưng tại sao ông ấy không xuống hầm công trường. Đây ra đấy mất có vài phút.
– Ông ấy tưởng rằng đây yên ổn, vả chăng…
Bà quản gia ngập ngừng:
– Ông ấy còn có bạn.
– Mới trưa đã có bạn đến à?
– Cô ta ở đây từ hôm qua. Một cô tóc vàng cao lớn. Ông ấy thích những cô tóc vàng. Tôi nấu cho ông ấy một món gà hầm rượu. Ăn xong thì còi báo động.
– Cô ta cũng chết à?
– Vâng, mà cả hai người ăn mặc không đàng hoàng. Ông ấy bận áo ngủ còn cô ta bận áo trong nhà, chiếc áo dài bằng lụa. Ông ấy chết như thế đây, không mặc đồng phục.
– Tôi thiết tưởng đồng phục cũng chẳng làm gì. Ông ấy có kịp ăn sáng không?
– Ông ấy ăn rồi, tôi làm cho món bánh kem mà ông ấy thích nhất.
– Như vậy thì ông ấy chết sướng rồi còn gì. Tôi, tôi cũng muốn được chết như vậy. Bà cũng chớ buồn phiền.
– Vâng, nhưng ông ấy còn trẻ. Chết sớm quá!
– Ai thì cũng tưởng mình chết sớm quá, mặc dù đã chín mươi tuổi. Bao giờ thì đưa đám?
– Ngày mốt, chín giờ. Hòm mua rồi, để kia.
– Đâu?
– Trong phòng chứa lương thực. Phòng ấy mát hơn cả. Hòm đã đậy nắp rồi. Phía này căn nhà còn đỡ, đằng tnước đổ nát hết.
Hai người đi qua bếp sang phòng chứa lương thực. Mảnh chai vỡ đã thu gọn vào một góc. Mùi rượu vang, mùi mứt kẹo xông lên khắp nhà. Các hòm gỗ chiếm một khoảng lớn. Kệ đóng trên tường chất đầy hũ và hộp, nước rớt xuống đầy nhà.
– Bà mua đâu được cái hòm đẹp thế?
– Đảng cấp cho đây.
– Đám tang sẽ khởi hành từ đây?
– Vâng.
– Tôi sẽ lại đưa đám ông ấy.
– Ông ấy sẽ được vui sướng lắm.
Graber nhìn bà, bà vội nói thêm :
– Ông ấy ở trên thiên đàng sẽ vui sướng lắm. Lúc sống ông ấy vẫn mến ông lắm.
– Tôi à? Tại sao thế?
– Ông ấy nói rằng chỉ có ông là người bạn không nhờ vả gì ông ấy cả. Mấy lại ông ở ngoài mặt trận luôn luôn.
Graber đứng một lúc trước áo quan. Y cảm thấy một nỗi buồn mờ mịt nhưng không có gì hơn và y phải ngượng ngịu với người đàn bà sụt sịt khóc chủ này, bà ta tỏ vẻ thương tiếc thật tình.
Y chỉ tay lên tường mà hỏi:
– Những thứ này bây giờ tính sao?
– Ông cứ lấy mà dùng không thì họ cũng khuân đi hết
– Bà cũng cất lấy mà dùng chứ, chính tay bà làm mà.
– Tôi đã để riêng ra rồi, không thể mang hết được. Ông lấy được bao nhiêu thì lấy. Đảng viên đã đến thăm rồi, họ giương mắt chầu ra dòm ngó. Tốt hơn hết là nên để lại đây một tí thôi, không thì họ lại cho rằng ông Binding làm chợ đen.
– Có thể thế lắm.
– Vả lại còn bao nhiêu thì rồi họ cũng lấy hết. Ông là bạn của ông nhà, chẳng thà tôi để cho ông còn hơn.
– Ông Binding không còn thân nhân à?
– Ông thân sinh còn sống nhưng hai cha con bất bình nhau. Vả chăng ông cụ vẫn đủ ăn. Hầm trong còn nhiều chai nguyên vẹn. Ông muốn lấy bao nhiêu thì lấy.
Graber nói:
– Nếu lấy được thì bà để tôi chọn lựa cẩn thận.
Y nhìn các hộp:
– Măng Hòa Lan, không cần. Cũng không ưa cá mòi và cá thu ngâm rượu.
– À phải, tôi rối ruột không kịp suy nghĩ.
– Nhiều quá, mang sao hết?
– Ông qua đây vài chuyến mà lấy, tội gì để cho ai hưởng? Ông là quân nhân, ông đáng hưởng hơn những đảng viên Quốc xã kia chỉ biết no cơm ấm cật ở nhà.
Graber nghĩ thầm: “Mà đúng như thế thật, Elisabeth, Pohlmann và Joseph cũng đáng được hưởng nhiều hơn. Mình sẽ ngu như lợn nếu không biết nhận lấy: Binding đã chết rồi cũng chẳng cần gì nữa”.
Mãi sau, khi đã đi xa rồi, y mới nghĩ đến sự ngẫu nhiên xui khiến, y không đến ở với Binding và không chết như anh ta.
***
Joseph ra mở cửa.
– Ông biết tôi đến à?
– Tôi trông thấy ông đi lại.
Joseph vừa nói vừa chỉ một lỗ hổng khoét ở cánh cửa.
– Như thế có ai đến mình đỡ lúng túng.
Graber đặt gói đồ xuống bàn.
– Tôi đã đến nhà thờ. Người ta nói rằng đêm có thể đến ngủ được. Cám ơn ông đã mách giúp.
– Đó là ông thầy dòng trẻ?
– Người này già.
– Ông gặp người già thì may, ông ta tử tế lắm. Tôi đã ở nhà thờ được một tuần lễ nhờ ông nhận tôi là người giúp việc. Một hôm lính đến khám xét, tôi phải nấp trong cây đàn lớn. Người thầy dòng trẻ đã tố cáo tôi. Người ấy thù Do Thái. Thù Do Thái vì tin đạo. Có sự căm thù ấy thật. Chỉ vì trước đây hai ngàn năm người Do Thái đã đóng đinh câu rút chúa Giêsu.
Graber mở một gói ra. Y đặt lên bàn một chồng hộp cá và ba tê gan. Y cũng lấy mấy chai rượu trong túi ra. Joseph thản nhiên nhìn y hành động, chỉ nói qua loa:
– Một kho tàng.
– Bây giờ chia mỗi người một ít.
– Ông có nhiều mà chia thế à?
– Ông thấy đấy, thế cũng là nhiều đấy. Tôi được thừa hưởng một gia tài. Đồ này của một người Mật vụ. Ông nghĩ sao?
– Ăn thế càng thêm thú. Ông quen họ thân lắm không mà họ cho quà?
Graber nhìn Joseph.
– Người này thì tôi quen. Y không có gì là độc ác.
Joseph không trả lời.
– Ông cho là không thể có chuyện ấy được à?
– Còn ông, ông cho là có thể có?
– Có thể lắm. Có người phải theo người khác vì lo sợ yếu ớt hay không có đủ cương nghị.
– Vì thế mà người ta trở thành Mật vụ à?
– Có lẽ thế.
Joseph mỉm cười mà rằng:
– Lạ thật, người ta tưởng tượng ra một kẻ giết người thì ở đâu và lúc nào cũng là kẻ giết người. Tuy nhiên, một người chỉ yếu ớt vì một khía cạnh nào đó cũng dám làm những tội ác tày trời.
– Vâng. Một con thú dữ chỉ là thú dữ, nhưng con người có nhiều tiềm năng để hành động khác.
Joseph gật đầu.
– Ở trại tập trung có nhiều người chỉ huy nhiều tinh thần hài hước, có những anh mật vụ tỏ ra rộng lượng và thân hữu với nhau lắm, vả chăng còn có quần chúng mê hoặc vì những cái họ cho là nhu cầu tối thượng, họ nhắm mắt lại mặc nhà cầm quyền tàn bạo, họ cho là sự đau khổ cần thiết. Như thế gọi là lương tâm co giãn.
– Và cũng có những người sợ sệt.
Joseph nhắc lại với giọng nhã nhặn:
– Cũng còn những người sợ sệt.
Graber yên lặng một lát rồi nói :
– Tôi muốn làm cái gì để giúp ông.
– Không cần gì nhiều, tôi sống có một mình. Một là tôi bị bắt, hai là tôi thoát nạn, chỉ có thế thôi.
– Ông không có gia đình?
– Gia đình tôi chết hết rồi, một em trai, hai em gái, cha tôi vợ tôi, con tôi đều chết hết. Hai người bị đập chết, một người chết cái chết tự nhiên, còn thì chết trong phòng hơi ngạt.
Graber nhìn ông ta.
– Ở trại tập trung à?
– Trại tập trung.
Joseph nói với giọng lạnh lùng.
– Trại tập trung tổ chức thật là chu đáo.
– Ông đã thoát ra được?
– Tôi thoát được.
– Chắc ông căm thù chúng tôi lắm!
Joseph nhún vai.
– Ai còn dám nghĩ đến chuyện căm thù? Căm thù làm cho người ta bất cẩn, dễ bị lộ.
Graber liếc mắt nhìn cửa sổ che lấp hẳn bởi đống gạch ngói. Ánh sáng ngọn đèn con càng như yếu đi. Ánh sáng nhợt nhạt rọi vào quả địa cầu để trong góc tường.
Joseph nhã nhặn hỏi:
– Ông sắp trở về mặt trận?
– Vâng. Tôi ra mặt trận để giúp những kẻ giết người giữ được địa vị ít lâu nữa. Có lẽ đủ thời gian để người ta bắt ông và đem xử giảo.
Joseph lẳng lặng tán đồng.
– Tôi phải đi nếu không họ sẽ xử bắn tôi.
Graber nói vậy nhưng Joseph không trả lời.
– Nếu tôi đào ngũ có lẽ cha mẹ tôi và vợ tôi bị bắt và giết chết.
Joseph vẫn không nói gì.
– Tôi phải đi tuy biết rằng lý lẽ của tôi không còn là lẽ phải tuy rằng đó là lý lẽ của hàng triệu người như tôi. Chắc ông khinh bỉ chúng tôi.
– Tôi làm gì được cái vinh dự ấy.
Graber nhìn Joseph, không hiểu.
– Còn ai nói đến khinh bỉ, chỉ có mình ông thôi! Tại sao chú trọng nhiều đến vấn đề ấy? Tôi có khinh bỉ Pohlmann đâu? Tôi đâu có khinh bỉ những người cho tôi ẩn núp và mỗi đêm họ liều mạng vì tôi? Nếu không có họ tôi sống sao được đến ngày nay? Kể ra ông cững ngây thơ!
Bất thần, ông ta mỉm cười, cái mỉm cười lạ hẳn đối với khuôn mặt của ông.
– Chúng ta đi xa đề tài quá, và chúng ta nói nhiều quá. Không nên nói nữa và cũng không nên suy nghĩ nữa. Đừng nên suy nghĩ vội, suy nghĩ làm cho yếu người. Việc cũ cũng làm cho người ta ủy mị. Bây giờ chưa đến lúc suy nghĩ. Bây giờ chỉ có một mục tiêu không được xao lãng: sống cái đã.
Joseph ngoảnh mặt lại đống đồ hộp.
– Cái này giúp mình sống. Tôi nhận, cám ơn ông.
Ông ta cầm lấy đồ hộp định cất vào sau chồng sách. Graber nhận thấy ông ta có cử chỉ ngượng ngập, mấy đốt ngón tay cong lại và mất cả móng. Joseph trông thấy mắt Graber bèn nói:
– Một chút kỷ niệm ở trại tập trung. Trò chơi hấp dẫn nhất của tụi mật vụ. Họ gọi như thế là đốt nến Noel. Nến là que diêm vót nhọn. Chẳng thà họ chọc vào ngón chân, đỡ lộ hơn. Ở ngón tay thì dễ thấy quá, không lẽ lúc nào cũng đeo găng.
Graber đứng dậy.
– Bộ quân phục và sổ quân bạ của tôi có giúp được việc gì cho ông không? Ông đem thay đổi chút ít đi mà dùng, còn tôi, tôi bảo cháy mất rồi.
– Cám ơn, tôi không dùng đến. Tôi sắp sửa trở thành người Lỗ-ma-ni đây. Pohlmann đã có sáng kiến ấy và đang vận động giúp tôi. Nom bề ngoài thì không ngờ ông ta có tài riêng ấy nhỉ? Tôi sẽ trở thành người Lỗ, nhân viên Mặt trận sắt, nghĩa là bạn của đảng Quốc xã. Diện mạo của tôi dễ cải trang ra người Lỗ, còn vết thương thì đổ tội cho tụi Cộng sản. Ông có muốn lấy va-li và chăn mền bây giờ không?
Graber hiểu rằng Joseph muốn ngồi một mình không phải tiếp khách. Y hỏi:
– Ông còn ở đây lâu không?
– Sao lại cần biết?
Graber đưa cho Joseph một phần đồ hộp rồi nói :
– Tôi còn có thể lấy nữa được.
– Nhiều quá rồi. Tôi không thể mang theo được nhiều. Vả chăng tôi cũng phải đi đây. Tôi không thể đợi được.
– À còn thuốc nữa, tôi quên mất thuốc. Mà thuốc thì thiếu gì. Để tôi mang lại.
– Thuốc lá à!
Ông ta nói như nói đến một người bạn.
– Thuốc lá đáng kể hơn hết mọi thứ khác. Được rồi tôi ngồi đây đợi.
Những ngày ăn không ngồi rồi ở nhà bai bác Huế Quảng, làm tôi mặc cảm. Muốn tìm một việc gì đó, góp phần với gia đình bác. Buổi sáng, tôi ra chợ giúp bác Huế bày hàng và buổi chiều dọn hàng. Nhưng bác Huế nói, công việc không có gì bề bộn, một mình bác làm cũng được. Tôi ở nhà, phụ bác Quàng đánh máy các hồ sơ và giấy tờ khai sinh. Vì không quen việc nên bôi xóa sửa chữa nhiều lần. Bác Quảng nói, con mó tay vào chỉ làm hư việc của bác. Tôi trở thành một thứ dây leo tầm gửi ăn bám vào gia đình bác Huế. Bác cũng chẳng giàu có gì, lại cưu mang tôi như một món nợ đời. Khi tôi tỏ những lời ái ngại này, bác Huế gạt ngang. Thêm một miệng ăn cũng chẳng tốn kém gì mô, thắc mắc chi chuyện nớ. Nếu con ngại, thì dạy kèm thêm cho hai em như trước kia vẫn đi dạy kèm cho người ta. Còn một điều khác, tôi không tiện bày tỏ. Đó là thái độ của Đông. Nó vừa xa cách với tôi, vừa gìn giữ e ấp bằng những cử chỉ hết sức kín đáo. Lòng tôi cũng dao động. Mỗi lần ngang qua nó, tôi cố tình chạm nhẹ vào vai, hoặc nói những lời cợt nhã. Nhiều đêm tôi hối hận. Cợt nhã với Đông là điều không thể tha thứ. Thế nhưng, một lúc nào đó, tôi vẫn không nén được rung cảm vì mắt vì môi của nó. Kể cả khi nó nhăn mặt nhíu mày hờn giận cũng làm tôi xao xuyến. Không biết xưa Bao Tự, Tây Thi mặt ủ mày châu thế nào mà kéo sập cả giang sơn của hai vua U Vương, Phù Sai? Dù Đông ngày nay không là tuyệt đại mỹ nhân, nhưng cũng đã làm tôi từng đêm mộng mị. Tôi tự hỏi lòng, sao nhìn đứa con gái nào tôi cũng thấy nó có cái nét duyên dáng quyến rũ đáng yêu? Có phải đó là bản chất của thằng mê gái, hay tại ông Trời sinh ra người nam nào cũng thế? Từ đó, tôi lan man nghĩ về một Thượng Đế. Đấng toàn năng làm nên tất cả. nhưng cái công trình tuyệt tác nhất của Ngài vẫn là người đàn bà. Với một cải xương sườn cong queo. Ngài tạo nên một sinh vật hấp dẫn lạ lùng. Nếu không có bà Eva, đời sống ông Adong không còn ý nghĩa, Và nếu trên mặt đất này, bỗng dưng người nữ biển mất, chắc tôi cũng không còn thiết sống nữa.
Sử sách xưa còn cho thấy, những đấng vua vì đam mê tửu sắc nên ông nào cũng chết sớm. Như thế, trên thế gian đâu phải chỉ mình tôi mê gải? Tôi nghĩ, nếu tôi được làm vua với một bầy cung phi mỹ nữ chờn vờn uốn éo truớc mặt, chắc tôi cũng không thể nào sống quá ba năm. Dù Thượng Đế nhân từ, nhưng cũng biết chơi khăm. Ngài tạo ra người nữ, giống như giăng một chiếc bẫy sập. Thằng nào léng phéng nhào vô, không thân tàn ma dại thì cũng thân bại danh liệt. Với những người trong gia đình bác Huế, tôi phải tuyệt đối giữ gìn tốt đẹp. Làm đĩ chín phương, chừa một phương lấy chồng, là thế. Tôi không muốn một ngày nào đó, bác Huế
nhìn thấy tâm địa xấu xa của tôi. Tôi phải rời khỏi gia đình bác, trước khi bác khám phá ra tôi là một thằng tồi. Tôi chạy rong kiểm việc bên ngoài.
Lên bến xc đò, xin làm phu khuân vác. Tất cả đều có băng có nhóm. Không phải tự nhiên mà được kê vai vào
việc. Gã đầu nậu vai u thịt bắp, mồ hôi ướt trán, mặt có ngầu. Dáng vẽ là một tay anh chị. Gã đứng chống nạnh, một chân ghếch lên thùng hàng, nhìn tôi như quan sát một quái vật: “Muốn làm với tụi tao à?”
Kiểu cách nới chuyện của gã làm tôi hơi rét.
Tôi nói: “Vâng, em xin làm kiếm cơm.”
“Cái tướng cò ma của mày thì làm được gì?
“Việc gi cũng làm được. “
“Vác nổi một bao tạ không?”
“Nhẹ hơn mot chut thì dưc.”
Gá cười lớn: “Đừng giỡn mặt! Những ngón tay quều quào của mày đi móc túi thiên hạ, thích hợp hơn là làm cu li.”
Tôi cười giả lã: “Anh khéo nói chơi, chứ em đâu phải hạng người như thế.”
Tôi thất vọng, bỏ đi. Với thái độ cùa tên đầu nậu, nếu gã nhận tôi vào làm việc, chắc gì tôi chịu đưng được lâu dài? Tôi lên Mã Giồng xin làm thợ đục đá. Tôi quen ông già đục đá vào thời gian còn ở nơi căn nhà lá. Ông thường chở những bộ táng đá và mộ bia đến nghĩa địa xây mã. Đôi khi ông vào nhà uống nước, hút thuốc. Nói vài câu bâng quơ chẳng đâu vào đâu. Dầu sao, đó cũng là người quen củ. Ông già nói nhận tôi làm có bạn cho vui, và hỏi sao tôi xin làm cái nghề chết tiệt này? Tôi tả oán về hoàn cảnh. Phần lớn là bịa. Ông hỏi cho có chuyện để hỏi, chứ hoàn cảnh của tôi thì có ăn nhằm gì tới ông. Cái quan trọng là tôi có làm được việc hay không mà thôi. Tôi rời nhà bác Huế, về ở chung với vợ chồng ông già đục đá.
Bác Huế hiếi không ngăn được, nên cũng buông xuôi:
“Con đi mô thì đi, nhưng cuối tuần cũng về ăn bữa cơm với gia đình bác.”
Tổi cảm động, ôm vai bác. Đôi vai gày mỏng mãnh mà có sức bao dung. Từ ngày má tôi mất, tôi khao khát một tình mẫu tử biết bao.
Tôi ra tới ổống. Đông đang đứng đó cắt tỉa những cành bông giấy. Trưa hè hanh nắng. Trán nó lấm tấm mồ hôi. Những sợi tóc thề vương bên má.
Tôi nói: “Đông ơi, anh đi nhé,”
Nó nhìn tôi. Mắt nó chứa đựng một vầng mây mùa hạ.
“Ai làm chi anh buồn mà anh bỏ đi?”
“Chẳng buồn ai cả. Anh có lý do riêng.”
“Em nghĩ, anh buồn em.”
Không đâu. Anh thương ern và bé Hà không hết. Nói chi chuyện buồn,”
Hình như nó còn muốn nói thêm điều gì nữa, nhưng không nói.
Tôi ngồi lên yên xe: “Thôi, anh đi nhé.”
Tôi đi trong tâm trạng bơ vơ mất mát. Gia đình bác Huế là một tổ ấm. Ở đó có tình thương yêu đùm bọc. Bỏ những tình cảm ấy ở phía sau lưng là dấn thân vào chặng đường bất trắc đắng cay. Chẳng biết tôi làm thế có đúng không, hay chỉ là bản tính nông nổi của tên ngông cuồng?
Tôi quen gia đình chị Hoàng từ hồi qua trại tị nạn Pulau Bidong. Má chị mất trên đường vượt biển, chị còn lại bốn đứa em với ông già. Người em trai kế tên Hải, tiếp theo cô Hoa, tuổi tôi, cô Cúc mười tám và đứa em trai mười bốn. Năm đó tôi hai mươi hai tuổi, chị Hoàng không bao giờ cho tôi biết tuổi, tôi đoán tuổi chị chừng trên dưới ba mươi. Chuyện xảy ra hơn hai chục năm rồi, mãi tới hôm nay tôi vẫn chưa biết chuyện tình cảm giữa tôi và chị ra làm sao nữa. Đi xa thì lúc nhớ lúc quên. Nhưng mỗi lần trở về Hamburg, nhứt là những chiều nhìn tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi trên dòng sông Elbe thì lòng tôi chạnh nhớ, nhớ cái thời xa xôi ấy. Năm 1980 gia đình chị Hoàng sang Đức định cư. Trong một căng nhà lớn, ở ngoại ô thành phố Hamburg. Tánh tình chị trầm tỉnh, nghiêm nghị và không cười nói ồn ào như hai cô em kế. Nhan sắc chị trung bình, duyên dáng nhờ thân hình mảnh mai và trang phục giảng dị. Dạo đó con gái Việt Nam sang đây lèo tèo dâm ba mống, còn con trai Việt Nam thì lủ khủ. Hễ nghe chỗ nào có gái, bất kể đẹp xấu, dầu ở xa xôi cách trở, bọn đực rựa sẵn sàng vượt đường xe lửa, băng xa lộ tìm tới. Tuổi chị Hoàng nếu còn ở Việt Nam thì lỡ thời rồi, nhưng sang đây chị vẫn còn ngon và có giá lắm. Rất nhiều anh tới lui săn đón, mời chị đi chơi nhưng không bao giờ chị nhận lời, các anh theo riết, thấy không chấm mút được gì hết, cháng không đeo đuổi nữa. Chị dửng dưng, lạnh lùng với mọi người, ngày lo chuyện bếp nút, dọn dẹp nhà cửa, tối giữ nhà cho mấy đứa em đi chơi. Cùng thời gian ấy, tôi sang định cư Hòa Lan, cách chỗ ở của chị Hoàng trên năm trăm cây số, tôi thường đáp xe lửa qua thăm gia đình chị Hoàng. Thật ra chuyện thăm viếng chỉ là cái cớ để tôi săn đón hai cô em kế của chị. Lần nào tôi qua khách khứa cũng chật nhà, toàn là con trai cùng lứa, mặt mài người nào cũng sáng sủa, đầu tóc mướt rượt, áo quần bảnh bao và có người đã sắm xe hơi. Hồi còn ở Việt nam tôi làm ngư phủ, da ăn nắng đen thui, lại mắc chứng mụng bọc mặt mài nổi u nổi cục, rổ chằng rổ chịt. Tôi không rành thời trang, ăn bận lè phè, nói năn không biết chao chuốt, bị chúng bạn sửa lưng hoài. Hôm ra hội chợ chơi bắng súng, tôi bắn điểm cao, lấy được con gấu và con khỉ đột nhồi bông lớn bằng chiếc gối ôm, tôi tặng Hoa con gấu, Cúc con khỉ. Dạo đó tôi còn cà nhỗng thất nghiệp, có đủ tiền mua vé xe lửa bận đi, bận về là quá lắm rồi, còn tiền đâu mà quà với cáp. May nhờ tài thiện xạ, tôi có được quà đắc giá tặng cho hai em. Hai em ôm hai con thú bông đi theo, miệng không ngớt khen tài bắn bá phát bá trúng của tôi, làm tôi nở mũi và hãnh diện quá chừng. Không ngờ cái tài vặt của tôi lại làm cho mấy thằng bạn đi chung đâm ra khó chịu, sẵn thấy mặt con gấu nhồi bông có in lấm chấm màu đen đen, chúng liền gọi tôi là chàng Mặt Gấu. Rất tiếc tài của tôi được thi thố trước mặt hai em chỉ được một lần trong đêm hôm đó. Lần sau ra hội chợ chúng bạn cho xe vô St. Pauli rồi bỏ tôi xuống đường Reeperbahn, viện cớ là tôi ở Hòa Lan qua chơi, nên tham quan khu nầy cho biết, chúng nó hẹn tôi đúng mười hai giờ đêm ra chỗ cũ đứng chờ chúng sẽ tới rước về. Dầu có ngu ngốc đến mấy đi nữa tôi cũng đoán được trong bụng chúng toan tính những gì, tất nhiên chúng lo ngại tài bắn súng của tôi, biết đâu tôi day qua bắn trúng một trong hai trái tim của hai em thì phiền quá! Mùa hè, bảy tám giờ đêm trời vẫn còn sáng. Người ta chen chút nhau đi trên đường phố, các bà các cô bận đồ mát mẻ, mặt mày hớn hở vui tươi, nhiều cặp ngực, cặp đùi, rún và bụng để lộ ra ngoài trắng như bông bưởi. Mấy thuở mới được đi dạo khu ăn chơi nổi tiếng Hamburg, nhưng bực mình mấy thằng bạn chơi xỏ lá nên tôi đâu còn lòng dạ nào mà dạo mà chơi. Tôi không dại gì đợi tới mười hai giờ mới ra chỗ hẹn, tin tưởng tụi nầy đêm nay có nước tôi phải lang thang ngoài đường suốt đêm. Tôi xuống xe điện ngầm tìm đường về nhà. Thề có đất trời, kể từ đêm nay trở đi tôi sẽ không giao du với mấy tên cà chớn đó nữa! Sang xe điện, đổi xe bus và bị lạc hết mấy trạm xe, hơn một tiến đồng hồ sau tôi mới lót tót về tới nhà. Tôi bấm chuông, chị Hoàng ra mở cửa. Vừa thấy tôi chị trố mắt ngạc nhiên hỏi: – Sao anh dìa mình ên vậy? Còn mấy người kia đâu? Tôi trả lời. – Mấy người kia chắc ra hội chợ. – Sao anh hổng theo chơi mà bỏ dìa ngang xương vậy? Không biết trả lời sao, chuyện chẳng hay ho nói ra thêm mắc cở. Tôi nín lặng lách người bước vô nhà. Chị cũng không hỏi gì thêm, nhẹ gót bước qua nhà bếp, rót hai ly nước cam bưng ra chiếc bàn tròn sau vườn, mời tôi ngồi uống với chị. – Nhà đi đâu hết rồi chị? Tôi hỏi. – Ba với thằng Út ngủ trên phòng. Chị nhìn tôi mĩm cười. Sao hôm nay tôi thấy cái nhìn của chị rất thân thiện và nụ cười của chị thật tươi, làm tôi quên hết mọi chuyện phiền phức vừa rồi. Tuy nhiên, tôi hay mặc cảm về gương mặt mụng của mình, hễ gặp ai ngó thẳng mặt thì tôi ngượng. Để tránh cái nhìn của chị tôi ngó mông lung. Trên trời mây không gợn, sao thưa thớt, không biết đêm nay mùng mấy mà trăng khuyết một bên, ánh sáng chang hoà cùng bóng đêm làm nhạt nhòa cỏ cây hoa lá. – Qua đây thường chắc anh biết nhiều cảnh đẹp của Hamburg? Nghe chị hỏi tôi ngoái lại: – Ồ, đâu có chị, ngoài cái bến xe lửa tới nhà chị và cái hội chợ ra tui hổng biết chổ nào khác hết. – Hamburg có nhiều cảnh đẹp lắm mà. – Qua đây đi xe ké, ai chở đâu thì đi đó chớ biết gì đâu. Chị bưng ly nước cam lên nhấp một cái, nhẹ nhàng để ly xuống rồi ngã người dựa lưng ghế, chị đưa lưỡi rà vị nước cam còn đọng bên vành môi và mím môi lại ra chiều suy nghĩ. Hồi sau chị nói: – Sáng mai anh đi chợ mua cá với Hoàng nghen. – Cá biển hả chị? Chị cười một cái thiệt tươi. – Ở bên nầy làm gì có cá đồng. – Mấy giờ đi chị? –Sớm chừng nào tốt chừng nấy, mình đi sớm mới mua được cá tươi. Chúng tôi bắt qua chuyện về cá tôm hồi còn ở quê nhà. Đúng ra chị kể nhiều về chuyện quê hương Bạc Liêu của chị. Trong lúc chị nói tôi nhìn chị được tự nhiên hơn, chị bận bộ đồ vải bông, áo ngắn tay, ôm sát thân hình mảnh mai của chị. Chị khoanh hai cánh tay cao ngang ngực, hai bàn tay vén tay áo lên xoa xoa vuốt vuốt đôi vai, hai cánh tay chị suông nhưng không gầy guộc, trắng bật dưới bóng trăng mơ màng. Thấy tôi chăm chú nhìn, chị tưởng tôi lắng nghe chuyện, nên hăng hái kể, càng kể tôi thấy chị càng có duyên, chưa lần nào tôi thấy chị xinh đẹp như đêm nay. Thật ra tôi thích ngắm chị hơn là nghe chị nói, quê tôi ở Cà Mau, giáp giới Bạc Liêu, sông nước miệt nầy tôi đâu lạ gì, những địa danh trong vùng chị nói ra ít nhiều gì tôi cũng biết. Khi kể hết chuyện, chị hỏi tôi: – Anh có tới Bạc Liêu lần nào chưa? – Có chị, ở một tháng và đi ngang nhiều lần bằng đường xe lẩn đường sông. Tôi muốn chị ngồi lại kể chuyện để tôi được ngắm chị thêm hồi nữa, nhưng chị đứng dậy dọn hai cái ly, rồi kêu tôi đi ngủ và căn dặn sáng mai thức sớm đi chợ mua cá với chị. Chị dịu dàng bước vô nhà bếp xả nước rửa ly. Tôi lên phòng tắm đánh răng, rửa mặt. Khi trở về phòng, tôi nghe tiếng mấy người kia vừa đưa Hồng và Cúc về. Mặc kệ, tôi nghĩ mình cũng không nên dây vào bọn họ làm gì. Tôi leo lên giường nằm vắt tay lên tráng, chưa biết chuyện làm ra sao hết mà trí óc tôi toan tính đủ điều. Tôi chọn lựa giữa chị Hoàng, Hoa và Cúc. Cuối cùng hình ảnh chị Hoàng hiện trong đầu tôi rất đậm. Cảm giác vừa rạo rực vừa thích thú chạy khắp thân thể làm suốt đêm tôi trằng trọc, giấc ngủ cứ chập chờn….Đến khi nghe tiếng giựt nước trong phòng tắm. Tôi mở mắt ra, thì đã thấy ánh sáng bên ngoài xuyên qua màng cửa sổ. Tôi đoán chừng chị Hoàng đã thức. Tôi bước xuống mang dép đi qua phòng tắm, đầu óc tôi tù mù, tôi bèn xả nước lạnh đầy chậu, rồi cúi xuống nhúng nguyên đầu vô, nước lạnh giúp tôi đôi phần tỉnh táo. Đánh răng, rửa mặt, thay áo quần, mang dớ, dày xong. Tôi đi xuống, thấy chị Hoàng đứng làm bửa điểm tâm trong phòng bếp. Tôi chưa kịp chào, chị đã ngước lên. – Hồi hôm anh ngủ ngon hông? Tôi ngập ngừng. –Cũng…được… Nghe mùi thuốc lá toả ra từ phòng khách, biết chú Ba, ba của chị, đã thức. Thấy chị định bưng mâm điểm tâm lên. Tôi đi tới hỏi chị cho tôi bưng. Chị đưa mâm cho tôi và dặn: – Anh bưng lên cho ba tui rồi trở xuống ăn sáng. Ông già đương ngồi hút thuốc và đọc báo trong phòng, thấy tôi vô ông để tờ báo xuống và hỏi tôi. – Sao thức sớm vậy mậy? – Dạ, chị Hoàng rủ con đi chợ mua cá. Tôi để mâm đồ ăn xuống mời ông và hỏi vài câu vấn an. Sau đó tôi trở xuống ngồi uống cà phê, ăn bánh mì với chị trên chiếc bàn nhỏ kê trong phòng nhà bếp. Khi chúng tôi ra khỏi nhà mặt trời đã lên khỏi đọt cây. Sáng nay cỏ cây tươi, không khí sạch, trời trong và có nhiều tiếng chim réo ra réo rít gọi nhau trên những cành cây xanh lá. Sang một lần xe bus, hai lần xe điện mới tới nơi. Chợ cá nằm bên bờ sông Elbe, dác nầy người đi thưa thớt, chuyện mua cá rất dễ dàng. Cá còn tươi rói chị ham quá lựa mua, nhét vô giỏ một hồi sau chiếc giỏ phình ra như bụng người có chửa. Chị khệ nệ rinh giỏ cá đầy, đã vậy thấy cua tươi chị còn tấp vô lựa mua thêm mấy con cua biển nữa. Thấy chị xách nặng, tôi kêu chị đưa giỏ cá cho tôi xách. Chị đưa giỏ cá qua cho tôi, rồi chị nắm lấy tay tôi dẫn đi ra bờ sông. Chúng tôi đứng nghỉ mệt và ngắm sông. Nắng sớm mai đã tỏa vàng lên thành phố cảng, sinh hoạt trên sông bắt đầu nhộn nhịp hơn. Những chiếc tàu đò ngược xuôi theo giòng, sóng nước lăng tăng, chưng vịt tàu quấy nước ào ào. Chị nghĩ gì không biết, nhưng sao chị cứ nắm chặt tay tôi, đứng lặng yên ngắm cảnh dòng sông sống động. Một hồi sau chị ghì tôi sát lại, ngước mặt lên nói nhỏ nhẹ. – Đi mua thêm một mớ rau tươi rồi dìa, trưa nay cơm nước xong, mình ra đây chơi. Tay bên nầy xách giỏ cá nặng trịch, nhưng tôi không muốn đổi, vì tay bên kia được chị nắm chặt trong bàn tay mềm mại của chị, như sợ chị buông ra rồi tôi không còn cơ hội nào để nắm lại lần nữa. Trưa hôm đó không hẹn mà tôi và chị Hoàng bận đồ gần như giống nhau; quần Jean, áo thung cổ rộng, chưn mang dày thể thao, chỉ khác nhau áo tôi màu xanh cứt ngựa, áo chị màu trắng. Lúc chúng tôi ra khỏi cửa, mấy người khách hôm qua cũng vừa dậu xe trước bãi. Chị phớt lờ, câu tay tôi đi thẳng ra bến xe bus. Khác với tánh dịu dàng trước kia, chị nhanh nhẹn như con sóc. Sang xe bus, xuống xe điện ra bến đò. Mua vé, xuống đò, chị dắt tôi lên mui tàu ngồi ngắm cảnh trên sông và hải cảng. Hết đuờng tàu chúng tôi đi đường bộ từ khu phố nầy qua khu phố khác. Khi mỏi chân, khô cổ thì vô quán dọc đường ngồi nghỉ, mua nước uống. Đói bụng ăn Hamburger và khoai tây chiêng xốt mayonaise. – Tới Hamburg ăn Hamburger là đúng điệu. Nghe tôi nói chị phân trần. – Hamburger của Mỹ chớ hổng phải của Đức đâu. Chị kể tôi nghe chuyện nhà họ McDolnalds ở Mỹ là người đã chế biến ra món Hamburger kẹp bánh mì. Thức ăn tuy bình dân nhưng nhờ khung cảnh nơi ăn, uống sạch và vui vẻ nên được tiếng tăm khắp thế giới… Khi không còn biết chỗ nào để đi nữa, chúng tôi xuống đò trở vô phố. Nắng chiều vẫn còn trải vàng lên thành phố cảng. Tôi với chị ngồi trên mui tàu cùng với nhiều du khách. Gió trên sông phất phơ mát rượi, tóc chị phả qua mặt tôi mơn trớn, tôi choàng tay qua vai chị, chị ngã đầu lên vai tôi. Chợt nhiên chị ngó xuống ngực, tôi ngó theo, cổ áo chi hở, ngực chị dẹp lép, áo ngực xệ xuống, chi thọc hai ngón tay kẹp vành áo ngực kéo lên, rồi ngữa mặt nhìn tôi mĩm cười. Hồi sau chị hỏi tôi. – Chừng nào anh dìa? Tôi nói. – Định mốt dìa, nhưng vui quá chắc ở thêm vài ngày nữa. Chị muốn nói gì đó nhưng thôi. Chị day người, ngã đầu trở lại vai tôi. Tôi choàng tay xoa xoa vai chị, da thịt chị mềm mại làm tôi đê mê. Chị vẫn ngồi yên, mắt mơ màng hướng ra mặt sông, nơi có nhiều chim nhàn đương sớt cá. Phút dây thần tiên ấy trôi qua khi con tàu cặp bến cuối cùng và chúng tôi là người lên sau chót. Bắt đầu từ hôm đó, ngày nào chị cũng sắp xếp dẩn tôi đi chơi. Lúc đi rừng, khi vô khu phố lạ, đến những khu du lịch mướn thuyền đạp nước. Chị nói, nhiều nơi chị cũng không biết, nhưng cứ đi cho biết. Chuyện đi chơi, thắng cảnh đối với tôi bây giờ không thành vấn đề. Được lẻo đẽo theo chị, được chị cặp kè đi dạo là tôi thấy đời lên hương rồi. Những toan tính lúc ban đầu tôi cho qua, thật ra tôi cũng có để ý tới Hoa và Cúc vài lần, nhưng sao tôi thấy trong lòng không còn háo hức như trước nữa. Ngày tôi trở về chỉ có chị Hoàng đi theo tiễn. Trước khi lên xe tôi hôn lên hai bên má chị, chị cũng hôn lại tôi và ân cần dặn tôi nhớ sang chơi thường, khi xe chạy một đoạn, tôi ngó ra thấy chị vẫn còn đứng bên kè đá nhón giò, giơ thẳng cánh tay lên cao vẫy vẫy… Về lại Hoà Lan tôi xin được chân thủy thủ. Tôi theo tàu hơn một năm sau tôi mới trở lại thăm gia đình chị. Tôi vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng khi biết chị là sinh viên đại học. Tuy bận rộn học hành, nhưng chị cũng dành một ít thởi giờ dẫn tôi đi chơi và xem trường học của chị. Chị giới thiệu những người bạn sinh viên chung lớp, toàn là con trai ngoại quốc, chị nói chuyện với họ bằng tiếng Đức. Tôi nghe như vịt nghe sấm, chỉ biết nhe răng ra cười khi người đối diện chìa tay ra bắt. Tới giờ ăn, chị rủ tôi vô căn tin thưởng thức món ăn sinh viên với chị. Chị cư xử với tôi rất thâm tình. Nhưng tôi cảm thấy không được tự nhiên và trong lòng áy náy làm sao. Khỏi bận tâm tính toán nữa, tôi biết tới lúc mình phải rời khỏi nơi đây, đi càng xa càng tốt. Tôi nán lại chơi một tuần. Sau đó tôi trở về và tiếp tục đi, đi miết… Hơn hai năm sau, tôi nhận được thiệp cưới của chị. Đọc thiệp tôi mới biết chị lấy chồng người nước ngoài. Tôi đoán người cưới chị là một trong những anh sinh viên chung trường chung lớp. Không nhớ lúc nhận thiệp trong người tôi vui hay buồn. Tôi còn nhớ là, tôi không qua dự đám cưới mặt dầu lúc đó tôi đương nghỉ dài hạng trên đất liền.
***
Những năm gần đây tôi đi tuyến Bắc Âu. Tàu ghé cảng Hamburg hàng tuần. Một năm bốn bận đi, về. Mỗi bận tôi đều lên xuống xe ở nhà ga Hamburg. Thành phố nầy đối với tôi không còn xa lạ nữa và khu St. Pauli tôi đã thuộc lòng, nhưng tôi đã mất liên lạc với chị Hoàng từ lâu. Thỉnh thoảng tôi đi dạo phố hoặc ngồi chờ xe lửa ở nhà ga, tôi thường ngó quanh, ngó quất mong tìm một người Việt nào hỏi dò, may ra có người biết địa chỉ của gia đình chị. Nhưng mấy năm rồi tôi không thấy người Việt đi dạo phố, hoặc tiễn đưa hay chờ đón người thân nơi sân ga như cách đây hơn hai mươi năm về trước. Rồi một ngày tôi chợt nhận ra, những người Việt tỵ nạn hồi đó, bây giờ ai cũng có xe hơi, đâu còn dùng xe công cộng nữa. Đời sống máy móc Tây phương bắt họ phải chạy theo, dư chút thời giờ dành lo chuyện nhà cửa, con cái muốn hụt hơi có rảnh đâu mà đi dạo. Chỉ có tôi, một tên không nhà cửa, không bận chuyện gia đình mới dư thời giờ đi lang thang, đầu óc rảnh rang nghĩ ngợi chuyện tình cảm cũ xì và cái kỹ niệm của một thời xa lơ xa lắc… Baltic zee, tháng 3-2007
Nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời, bắt chước người xưa, tôi là tên lính già qua đường, đứng lại khóc ba tiếng, sau đó lại cười ba tiếng. Nếu có ai lấy làm lạ, hỏi lý do làm sao mà khóc, tôi xin thưa rằng: “Ba tiếng khóc dành cho nửa đời trước của ông, một thời liệt oanh, được kể như anh hùng gặp vận, danh tiếng lẫy lừng, mà nay cuối cùng, theo quy luật của tạo hóa, cũng mồ chôn ba thước đất (nếu ông không chịu thiêu!) Nghĩ chuyện đời “sắc sắc không không”, buồn mà khóc thương cho ông!” Có người lại hỏi vì sao sau khóc lại cười, xin đáp: “Ba tiếng cười dành cho nửa đời sau của ông, nửa đời nặng nề lưu lạc, chia ly, chán chường, thất bại. Nửa đời tiếng bấc tiếng chì, ông chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, mỉa mai, cay đắng, nguyền rủa. Ông nằm xuống, đi vào cõi tĩnh lặng, gác hết mọi sự, từ nay không còn nghe, không còn thấy những điều bất như ý, không còn vận dụng trí óc để đua chen, không còn vận dụng thể xác để rày đây mai đó. Sống ký tử quy, mừng ông đã về (không biết về đâu?) mà cười ba tiếng là vậy!
Thi sĩ Cao Tần ngày bỏ đất nước ra đi, lưu lạc đến xứ người đã than rằng:“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”Cao Tần tự hỏi vậy mà không làm gì, nên ông sống cuộc đời bình an. Nhiều người cũng tự hỏi như Cao Tần mà loay hoay chuyện này đến chuyện nọ, rút cuộc đời chẳng ra chi.
Có người bất như ý về nửa đời sau của ông để gọi những thăng tiến tột cùng và may mắn của ông ở nửa đời trước là những may mắn của “Xuân Tóc Đỏ”. Ví von như vậy là không công bằng và nặng lời, vì trong khi nhân vật “ma cà bông” của Vũ Trọng Phụng là trẻ mồ côi, sống ngoài lề, nhặt banh quần vợt, lớn lên dù có mang danh “cứu nước” thì cũng là danh hão, thì nhân vật Nguyễn Cao Kỳ, xuất thân không phải là danh gia thì cũng vọng tộc. Ông nội của ông làm tới chức thương tá (tức thương biện hay thương tá tỉnh vụ), thân phụ của ông là nghề thầy giáo, đương nhiên thường phải dạy con “giấy rách phải giữ lấy lê”. Di cư vào Nam, giữa tình thế đất nước nghiêng ngửa, ông cũng làm nhiệm vụ người trai tòng quân nhập ngũ. Xưa nay thời thế vẫn tạo nên anh hùng, nhất là buổi loạn lạc. Nói cho công bằng, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất thân thế nào, gia thế ra sao, mà làm đến chức Tổng Thống, sao không nghe ai nói lời cay đắng, mà ông Nguyễn Cao Kỳ lên đến Thủ Tướng, rồi Phó Tổng Thống lại có kẻ dèm pha? Phải chăng một chuyện không nên, thì mười chuyện cũng bỏ. Người xưa đã có câu “cờ đến tay ai, người đó phất, chỉ sợ cờ đến tay rồi mà không biết phất, hay phất không nổi đó thôi. Thời trước, đã có lúc tưởng như ông Nguyễn Cao Kỳ lên tuyệt đỉnh, như Tết Mậu Thân, ông Tổng Thống “an tâm, tin tưởng” hưu chiến, về quê vợ ăn Tết (!) để Cộng Sản bất thần tiến công vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã và nhiều quân ly, khiến ông Phó phải tả xung hữu đột, hay thời biến động miền Trung, nếu không có ông Kỳ chơi đòn quyết liệt xả láng thì Quân Khu I có thể đã tách rời miền Nam thành vùng đất trung lập.
Trong cuộc tranh chấp ai là người lãnh đạo miền Nam, nếu ông Kỳ cầm đầu một liên danh tranh cử Tổng Thống và đắc cử thì việc gì đã xẩy ra cho miền Nam? Đó là câu hỏi tôi đã từng đặt ra cho một ông bộ trưởng, dân biểu thân cận với ông Nguyễn Cao Kỳ. Câu trả lời là: “Chúng ta sẽ chịu nhục nhiều lần hơn!”
Nghĩa là nếu một ông cựu Phó Tổng Thống quay về với Việt Cộng thì chúng ta đỡ nhục hơn là một ông Cựu Tổng Thống của chúng ta đi làm việc ấy. Nhân vật này hiểu tính nết của ông Nguyễn Cao Kỳ!
Sự lỗi lầm của ông Kỳ theo quan điểm của đồng bào tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại là ông đã từng khẳng định, “muốn làm sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc” khi ông theo bà vợ sau cùng về Việt Nam năm 2004, khen ngợi chế độ Cộng Sản và lên án những người chống Cộng ở hải ngoại là thiểu số và muốn quay về với quá khứ. Ông về Việt Nam, trong va li, lập trường chính trị nằm chung với dự án môi giới làm ăn mở sân golf và khách sạn tại một khu du lịch ăn chơi tại Hạ Long trị giá 4.5 tỷ đô la. Tiếc rằng ông đã qua đời quá sớm và đột ngột, có lẽ chưa được hưởng những lợi lộc mà ông hy vọng kiếm được qua vai trò trung gian, môi giới và hòa hợp, hòa giải, đổi bằng tất cả danh dự của đời ông.
Ngoài những lời nói đãi bôi, thù tiếp có tính cách tuyên truyền, mà ông Nguyễn Cao Kỳ đứng về thế “hạ phong” (dưới gió) như trường hợp khi Nguyễn Minh Triết đến Dana Point năm 2007, dù không được mời, ông cũng từ Việt Nam bay về để có dịp cụng ly và nói đôi lời tâng bốc, như ông thực sự là đại diện cho tất cả chúng tôi, kể cả những người đang đứng la hét phẫn nộ ngoài đường. Hầu hết hội đoàn cựu quân nhân, là những người đã từng là chiến hữu của ông, đã đồng loạt lên án và gọi ông là “tên phản bội”. Ở trong nước, ngoài những cựu quân nhân VNCH, thương binh đã đổ máu vì ông, coi rẻ ông, mà ngay cả những cựu thù, cũng không đánh giá cao về ông, một người của “thời cơ” và “phản bội”. Những đãi ngộ của chính phủ Cộng Sản Việt Nam dành cho ông, nếu có, cũng chẳng là bao, không xứng với danh phận và những gì ông đã làm lợi cho họ. Khi chết, ông cũng chỉ được gọi là “nhân vật của chính quyền Saigon” mà thôi!
Gần đây vợ cũ của ông đã về Saigon mở tiệm phở, rồi con gái ông chọn Đà Nẵng mở quán cà phê cao cấp theo sự khuyến khích của ông, làm cho tên tuổi ông càng xấu thêm ở hải ngoại. Giá như ông thuộc một gia đình dân giả tầm thường, hay là một người lính dưới quyền ông, dư luận có lẽ không mẩy chú ý, nhưng 36 năm trước đây, gia đình này hưởng “ơn Vua lộc Nước” đã nhiều, sợ rằng những việc như thế nó không phải, với lòng tự trọng và nề nếp “giấy rách phải giữ lấy lề” theo đạo lý Việt Nam.
Tôi mừng khi nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ chết ở quê người rồi đem về Việt Nam, dù chôn hay thiêu, như vậy là đúng theo ý nguyện của ông và tôi không chắc sẽ có Nguyễn Minh Triết đến viếng ông, vì ông chưa đủ thời gian và cơ hội để trở thành hàng “quốc táng”. Nếu ở Mỹ này, không khéo lại có người quý mến, hăm hở đem quốc kỳ đến phủ quan tài cho ông cũng nên!
Tàu có câu “Cái quan định luận” có nghĩa là khi người chết đã nằm trong quan tài, nắp hòm đậy lại thì mới định công luận tội. Tôi là kẻ hậu sinh, một tên lính quèn thời ông lên cao ngất ngưỡng, đâu dám định công luận tội, chỉ dám có đôi lời bộc bạch lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng về ông. Nhưng Tây lại có câu “Laissez les morts tranquille” nghĩa là xin để yên cho những người đã chết.
Khóc ông, nhưng cũng cười, mừng ông được yên nghỉ.
Sử gia Tạ Chí Đại Trường (1938 – 2016) Ảnh: Nguyễn Việt
1.3.7 Vì thế chỉ đoành một phát là xong
Một trong những lý do góp phần vào hố chia cắt dân tộc—ngoài chính trị, giáo dục và văn học– là sự khác biệt giữa mức sống, cách sống của người dân và sự chênh lệch giữa 2 nền kinh tế hai Miền khi chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4. Những thí dụ do Tạ Chí Đại Trường ghi nhận sau đây cho thấy như vậy:
… Chúng tôi cũng bắt đầu có một vài lần được gởi mua đồ dùng qua trại. Bảng đăng kí–lại cũng đăng kí–theo với nhu cầu đủ thứ loại tam khoanh tứ đốm. Lẽ tất nhiên không được thoả mãn – người ta không thể hiểu dược đời sống bọn này sao mà phức tạp quá. Chúng tôi còn gặp phản ứng bất ngờ nữa. Có người đã gởi mua giấy vệ sinh, vì thói quen, vì có người đau trĩ, vì chưa hề sử dụng giấy dán tập, giấy báo, nói gì đến lá cây, cành cây, đất đá cục! Đội trưởng chuyển lại lời mắng mỏ mà mặt anh phừng phừng như chính mình bị xúc phạm: “Người chiến thắng không đi mua giấy chùi đít cho kẻ chiến bại!” Viên y sĩ tiểu đoàn lân la đến chơi, nghe chuyện đã mắng: “Sao các anh ngu thế? Người ta bảo anh không phải là tù nhưng mà là tù thật đấy! Tù sao mà đòi hỏi nhiều thế?” (…) nhưng thói quen của cả một lớp người không được chuẩn bị để chịu đựng sa sút thì phải trải qua những vấp váp nhục nhã thế thôi…! (…) Trong sinh hoạt người ta vẫn cố tránh gọi chúng tôi là “tù”. Chúng tôi chỉ là những người “đi học tập”, và thỉnh thoảng thêm chữ “cải tạo”, “học tập cải tạo” (…) Tự do hiểu như thế thì cũng là giản dị và cũng có khía cạnh thật là đúng. Này nhé: Mình tự nguyện đi trình diện học tập (có ai lại tự nguyện đi ở tù bao giờ?), ăn, ngủ, chơi thong thả, hàng rào gọi là có với một hai đường kẽm gai mỏng manh. Nhưng chớ bước qua: Tự do nào cũng có giới hạn! … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 93-94]
– … Lại nổi lên sự va chạm của hai lối sống Nam, Bắc. Có anh kêu lên: “Tôi còn ba trăm ngàn đồng, một triệu bạc cất chỗ này, chỗ nọ, vợ tôi không biết. Cho tôi gởi thư về nhà…” Đề nghị được chuyển đạt, thư cho gửi cấp tốc, chẳng biết kết quả ra sao. Có điều chúng tôi lại được tập họp nghe một lời trách mắng: “Giáo dục đế quốc nó làm hư hỏng các anh, đến vợ chồng cũng không tin tưởng nhau…” Làm sao giải thích được điều này – cũng như những điều khác nữa của những người sống trong một nền kinh tế tầm mức rộng, phức tạp cho những người của nền kinh tế tiểu nông, công chức thư lại có tiền bạc nằm trong lòng bàn tay cũng không trọn nói chi đến chuyện cất giữ? … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 97-98]
Và đoạn sau đây thì muốn cười mà không cười nổi. Hết còn AK47 chống lại M16 mà là “quần dải rút” chống lại “quần dây thun”, “che bẹn” chống lại “tồng ngồng” (!):
… Tất nhiên trong cuộc sống ở đây, chúng tôi có buông thả hơn ngoài xã hội- tù mà! Nhưng những lời chỉ trích cũng toát ra một cái gì từ thứ lễ giáo đã qua không biết đến sự thay đổi của thời đại cũng như thực tế của chúng tôi. Họ trách chúng tôi suốt ngày “ở trần trùng trục như lai (nai)!”, gặp họ không chắp tay chào, “cứ trương mắt ếch lên”. “Bọn thực dân đế quốc đã tung tiền biến các anh thành những con người mất gốc, không biết đến những gì tốt đẹp của truyền thống dân tộc, những gì quý báu ông bà ta đã tạo ra và tâng tiu gìn giữ nó. Phải tách rời những cái tốt đẹp, thân thiết đó, các anh mới đang tâm dội bom xuống xóm làng, xuống đầu những người thân thích các anh mà không chút ân hận xót xa…” Ừ, cũng đúng sách vở đấy, nhưng giá lúc nào anh gặp một tên cải tạo cũ, được hắn mời về nhà chơi trong tư thế làm chủ bản thân của hắn, anh sẽ thấy hắn như thế nào. Trừ khi anh còn nhớ sách vở và hắn còn khinh ghét anh. Bộ đội còn dạy chúng tôi cả cách đi đái. Bỏ ra ngoài tính chất hoàn cảnh ràng buộc thì đây cũng là một mối xung đột do hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau. Họ không biết chúng tôi không ai mặc quần dải rút mà tất cả đều là dây thun, cho nên vào cầu tiêu một mình một cõi sao không tuột ra cho nó thong thả? Bây giờ bạ đâu đái đấy – đất rộng mà là tù mà! Lại cũng vẫn cách ấy mà làm, gặp quản giáo tới, luống cuống xoay đàng nào cũng chẳng được, càng ngơ ngơ ra đấy (…) Hành động như thế là mất dạy rõ ràng. “Thực dân đế quốc – lại cũng thực dân đế quốc, dạy các anh trâng tráo không biết xấu hổ là gì hết, ông bà mình xưa (!) làm việc đó một cách kín đáo, khuất lấp, vén quần che bẹn chứ có đâu như các anh bây giờ cứ tồng ngồng ra, chẳng văn minh, văn hoá gì cả!”. Kinh nghiệm trực tiếp và những hiểu biết về sau sẽ cho chúng tôi biết và chứng kiến mức độ tàn bạo của họ được hướng dẫn bằng sự quá khích lí tưởng vượt ra ngoài những ràng buộc pháp lí thông thường. Lí tưởng cách mạng biện minh cho mọi hành động đẫm máu đối với những kẻ tự nhận hay bị coi là kẻ thù – bị đặt bên kia biên giới của sự khoan dung. Nhưng những con người ưu việt kia không được biết ranh giới giới ấy co dãn là chứng nào khi bước từ lí thuyết đơn giản qua cuộc sống phức tạp để từ đó thấy bộ mặt con người thù bạn cũng thiên hình vạn trạng, nay thế này mai thế khác theo đường lối, chính sách mang tính thực dụng đến ngỡ ngàng quay quắt – hay đường lối, chính sách đẻ ra từ những sai lầm ngớ ngẩn, ngu ngốc không được thú nhận. Tuy nhiên, chẳng thắc mắc nhiều – mà thắc mắc cũng chẳng được, về đường lối giai đoạn, các tín đồ mới chỉ thấy những kẻ thù trước mắt, tức khắc, chỉ thấy lí tưởng, hay nói đúng hơn, giáo dục lí tưởng là luật pháp đã trao quyền áp dụng cho họ. Vì thế chỉ đoành một phát là xong, là đủ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]
Sự cách biệt (và khác biệt) giữa 2 miền càng được chứng minh một cách thuyết phục thêm bằng khả năng của người tù Miền Nam. Tạ Chí Đại Trường cho thấy khả năng ấy xuất phát từ một kiến thức chung đã được nâng cao trong một xã hội đa dạng, tự do và tiến bộ khiến họ có thể “tùy cơ ứng biến”. Sự kiện ấy cũng khiến ông có thể liên kết được người Tù Cải tạo tay không bấy giờ với tù binh đã dựng những “công trình cổ đại” từ bao nhiêu thế kỷ trước:
… Không phải chỉ làm cho trại, dân cải tạo còn nghiền ngẫm làm vật dụng riêng cho mình nữa. Ống sáo, điếu cày, lược, kẹp, đàn guitare… Mỗi thứ mới ra đời, mỗi một kiểu là thành một phong trào, càng ngày càng cải tiến. Dây đàn quấn bằng các dây điện phối hợp theo cỡ cần thiết, bộ trục bằng gỗ trợt lên trợt xuống, khung tôn, khung gỗ, hộp vuông, chữ nhật (vì thiếu phương tiện cưa xẻ), nhiều cạnh rồi uốn dợn sóng như đàn ngoài đời. Và chính trong những công việc phức tạp một cách lặt vặt này mà khả năng những con người cũ nổi bật. Trước kia ngày thường họ chẳng động tay động chân đến những công việc này. Không phải vì muốn “ngồi không ăn bám” như lí thuyết mới nói, nhưng vì họ đã có những công việc khác để làm. Ở đây, thời gian dư thừa giúp họ kéo dài thí nghiệm, thử thách, bằng mày mò đã đành mà căn bản còn vì sự hiểu biết từ trong sinh hoạt có kĩ thuật cao đã giúp họ nhận định một vật liệu có thể làm được cái gì, biến cải thì sử dụng làm được việc gì. Những người quản giáo trong các kì kiểm soát tập thể thật ngạc nhiên mà cũng tỏ vẻ bực mình khi lục tung túi xách nguỵ ra thấy một cuộn dây, một miếng bìa, lớp lớp bao cát mục từng mảng, cái ông bơ rỉ… “đủ các thứ trên đời”. Thế mà cuộn dây điện tách ra làm dây đàn, cái bánh xe, vòng cao su, thỏi sắt lắp lại làm cái xa quây để xe các sợi tháo ra từ bao gạo, bao cát làm dây đan túi, đan võng; bao sợi nhựa cắt ra thành cái áo sơ mi thật thời trang, thật có gu; tút đạn uốn làm bình hoa. Viên tiểu đoàn trưởng nhờ làm giùm cái nồi ngồi trên cái cốc đã phải lắng nghe tên nguỵ chỉ dẫn cách pha cà phê sao cho gọn, cho ngon. Và gật gù nhẹ nhàng, riêng tư… “Bọn chúng toàn là đại uý, bác sĩ, kĩ sư…” Dưới mắt người bộ đội tâm sự với gia đình thì sự kiện ở đây thật đáng ngạc nhiên không phải chỉ ở cái cấp bậc đại uý cao ngất đối với anh binh nhì, không phải chỉ trình độ trí thức cao nói chung mà là một tinh hoa của chế độ bị vào tròng vì bại trận. Số đông với trình độ cao có thêm sự ép buộc đã đưa đến sự thành công không ai ngờ tới: Với tay không và vài cục sắt họ tháo gỡ cả một giàn sắt thép di chuyển đi cất một ngôi nhà đồ sộ, đập nước đắp bằng tay không nhiều hơn xẻng cuốc, nhà cửa hàng hàng lớp lớp xây dựng nên… Vai trò của người tù binh ở các công trình cổ đại có vẻ được chứng minh bây giờ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170-171]
Nhân đây, tôi muốn cho thấy bức ảnh của một chiếc bút nịt/khóa dây lưng/bell buckle bằng đồng được chạm trổ hình “Long Phượng” công phu, chi tiết (những chiếc vẩy) và tuyệt đẹp của Tâm Hữu, một người Tù Cải Tạo. Ông giải thích cách “khắc chạm” từ khi chế tạo “cái ve” đến khi khắc chạm:
– Trước hết phải có dụng cụ là vài cái “ve” (đồ nghề của thợ kim hoàn dùng để khắc chạm).
Cái ve dài khoảng 10 cm, có mũi khác nhau, cái nhọn, cái rộng 1mm đến 2mm, đầu sắc bén như mũi đục. có cái mũi cong lưỡi liềm… Đến tổ rèn (anh em tù cải tạo đang rèn dao đi rừng, cuốc xẻng làm rẫy hay làm lưỡi cưa, cưa cá mập để xẻ gỗ cây…) lượm vài que sắt vụn. Chọn sắt vụn từ mấy cái nhíp xe hơi cho cứng vì bằng thép. Lượm đá làm lò nung nhỏ. Nung lên khi thấy que thép đỏ hồng lên rồi thoáng qua xanh là bỏ lên đe lấy búa gõ cho tròn hay dập cho dẹp lại. Muốn có mũi cong lưỡi liềm thì nung tiếp thanh mũi dẹp rồi lấy kềm mũi nhọn mà uốn. Khâu tiếp theo là mài trên đá cho nhẵn. Và cuối cùng là “tôi”. (Dùng tro gỗ lim ngâm nước vôi để qua đêm. lấy nước nỗi trên mặt làm nước tôi). Nung mũi ve cho cháy hồng, nhúng nhanh vào nước tôi khoảng 1 cm. Mũi ve ánh lên màu ánh xanh và màu ánh vàng là đã đạt được độ cứng và độ bền.
Khắc chạm: Sơ thảo bản vẽ lên giấy, dùng mũi ve vẽ lên trên mặt cái bút nịt (belt buckle). Lấy miếng sắt dày để dưới, dùng gỗ nhỏ chêm dưới cho chắc để khi chạm trổ cái bút nịt không bị móp. Xong dùng các mũi ve thích hợp để khắc chạm hình ảnh. Không có dầu đồng để chùi cho bóng nhưng có thể dùng bàn chải làm bằng những sợi kẽm trong dây điện thoại để đánh bóng tác phẩm [Tâm Hữu].
Ông còn cho biết thêm: bút nịt/khóa dây lưng được làm bằng đồng cho cấp sĩ quan, bằng nhôm cho cấp từ hạ sĩ quan trở xuống.
Bút nịt (bằng đồng) chạm trổ Long Phượng của Tâm Hữu
Những người tù này còn tạo được cả các loại đàn, như đàn của Hà Thúc Sinh:
… Hà Thúc Sinh đêm nào cũng nói với tôi rằng thèm một cây guitar quá, nhưng mới đến chưa thể tìm gỗ và dụng cụ được, cũng như chưa biết tình hình ra sao… Còn nhớ bên Trảng Lớn, Đặng Thế Tiến cũng thèm đàn và tự chế được cây “độc huyền” nho nhỏ, tối uốn lên uốn xuống, sau đó trong bữa ăn nói với tôi, chiều nay đi làm nhớ mang nhiều nhiều thứ đó một chút để hắn làm…đàn. Chuyện quá dễ, khu phi trường loại đó nhiều lắm. Thế là những ngày sau, Sinh xin làm việc nhẹ ở nhà, cặm cụi chặt, cưa, mài, đánh lõm những đoạn thép dài ngắn khác nhau rất ư là năng nổ và say mê, rồi lại đo đạc cẩn thận. Vài ngày sau, công việc đã xong, buổi tối tôi phụ Hà Thúc Sinh cột những đoạn thép đó vào những sợi dây dù, treo lên trước đầu nằm. Cây đàn coi cũng khá, loại nhạc cụ gõ Xylophone, Sinh cầm cây kẽm lớn có bịt vải ở đầu gõ thử, tiếng kêu không lớn lắm, nhưng thanh khá chuẩn, cả những nốt thăng và giáng. Thế là Sinh chơi ngay vài đoạn của Mozart, Bach… Anh em trong nhà giật mình kéo đến nghe, đông quá, nhà trưởng Bính phải “van nài” Sinh thôi chơi. Cây đàn thật tuyệt, đối với tù là quá “đã” rồi. Từ đó, tối tối cơm nước xong là HTS lại “gõ”, khởi đầu cứ làm như tập nhạc “Cách Mạng” để đánh lạc hướng “ăng-ten”, sau đó thì “tới luôn bác tài” đủ thứ loại nhạc “vàng” mà anh em lâu quá không được nghe nên thèm chết đi được … [Trích trong một bài báo khoảng 1984, không rõ xuất xứ]
Từ những quan sát đó, Tạ Chí Đại Trường đặt giả thuyết về lối ngồi kiểu nước lụt kèm theo sự lặng lẽ của người dân hay nhân viên mà ông được chứng kiến.
1.3.8 Tránh nước lụt nhân tạo kinh niên
Theo ông, kiểu ngồi nước lụt — hai chân co lên, “đầu gối quá tai”– đi kèm với sự lặng lẽ khác thường của người dân (trái ngược với lối sống cởi mở và kiểu ngồi thong dong của dân Miền Nam) phản ánh sự tự bảo vệ một cách vô thức trong khuôn phép của hoàn cảnh sống đã được định hình:
… Khi có việc lên tiểu đoàn (lãnh gạo, muối…), lên trung đoàn chúng tôi kịp nhận ra cảnh vắng lặng trái ngược. Không phải cái không khí lặng lẽ của một nơi làm việc nghiêm túc. Vài người lính lui cui ngoài vườn tưới nước, xới cây. Đám anh nuôi lăng xăng qua lại nhưng cũng không nói một lời. Những anh trai tán gẫu cô thợ may mà như người thăm bệnh. Trong các phòng, họ xúm lại quanh tách trà, điếu thuốc lào, im lặng. Những người ngồi góc cột, dưới gốc cây, ngó vẩn vơ. Tất cả cùng ngồi một kiểu – kiểu nước lụt, hai chân co lên trên giường, trên ghế, trên đất với hai tư thế: hoặc là đầu gối quá tai như hai cái càng muốn che khuất cả thân mình, hoặc là chống trên hai bàn chân để bộ mặt nhô ra, nhưng tất cả đều có một vẻ gì gò bó, muốn thu nhỏ lại chừng nào hay chừng nấy. Cái lối sống đó đối chọi với chúng tôi nhưng tất nhiên lại là căn bản cho khuôn mẫu học tập. Sự sửa sai thường xuyên được nhắn nhủ qua các lần giao ban hoặc lên lớp… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]
1.3.9 Đi, Về, Vào, Ra trại giam Tù Cải tạo: Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…
Một trong những đoạn quan trọng nhất về tiểu sử văn học của Tạ Chí Đại Trường nằm trong chương này, trong cuốn sử ký này. Ông thuật lại về việc, ngay trong khi bị giam, đã viết phản bác khi Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 bị sử quan thắng trận kết án ròng rã. Tác phẩm này nguyên là luận án Cao học, Đại học Văn Khoa (niên khóa 1962-1964)- Viện Đại học Sài Gòn, rồi đoạt giải thưởng quốc gia VNCH về Bộ Môn Lịch Sử, 1970, do Văn Sử Học xuất bản, 1973, Sài gòn. Năm 1976, hai nhà phê bình Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Đức Nghinh chỉ trích cả tác phẩm lẫn tác giả qua bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2 và 3. Được tin và được đọc, ông viết tay bài phản bác khi bị giam tại “Trại tập trung 7590-L19 T5, Long Khánh” từ tháng giêng, 1978 đến tháng 7. 1978. Sau đó, ông nhờ được một bạn đồng tù không quen biết–một “giặc lái”-viên phi công mãn hạn tù– giấu xấp bài vào chỗ kín nên thoát được kiểm soát của quản tù rồi gửi đến Tòa soạn. Giới sử quan Miền Bắc thắng trận đang kiêu ngạo nhận được một cách đột ngột bài phản bác với câu kết đầy thách thức từ một sử gia Miền Nam thua trận đang bị giam giữ:
-… Và nhất là đừng đe dọa chúng tôi. Đừng để chúng tôi phải mang tiếng hợm mình nhắc lại chuyện Galilée sau khi phủ nhận vũ trụ quan Copernic trước tòa Inquisition lại tuyên bố: “Tuy vậy trái đất vẫn cứ quay.” Thân xác có sự run sợ chính đáng của nó, nhưng chân lí lại ở bên ngoài sự hèn nhát đáng thông cảm ấy: xin hiểu cho…
Điều tôi chú ý, ngoài sự can đảm của ông và thêm của người sĩ quan Không quân chuyển thư, là ý thức được việc làm của họ. Người phi công nhận chuyển chắc chắn phải biết nội dung và nơi sẽ đến (nên đem giấu vào chỗ kín), nhưng chấp nhận hậu quả nếu bị phát giác. Hậu quả đó quả là kinh khiếp nên có nhiều người, dù quen ông, đã không dám nhận. “Không dám nhận” không đồng nghĩa với hèn nhát. Chính ông đã phải giấu mấy bài thơ của mình (sđd, trang 352) đến nỗi khi được tha, chữ nhòe mực, mất hết. Lần này, ông bất chấp hậu quả hầu bảo vệ không những “phẩm giá” chính mình mà còn cho cả thế hệ (có người sĩ quan kia) hầu chu toàn điều mà ông nhắc đến 2 lần: “bổn phận”.Khi ông phát biểu: “Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…” là ông đã khẳng định vị trí không đứng bên lề thời thế, nhưng ngược lại, chủ động hầu vận hành chung với một tập thể có cùng quá khứ, giá trị và văn hóa. Không chỉ ở đây, ông cũng đã lập lại quan điểm chủ động -trong-thế-bị động đó khi quyết định “phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt…” [“Đôi lời phân trần”- Thần, người và đất Việt-Bản mới]
Thế nên, có lẽ sự phản kháng của ông còn bắt nguồn từ hoàn cảnh vô vọng khi không được tiếp tục học hỏi hầu chia sẻ các tìm kiếm mới và nỗi uất ức khi bị cô lập với sinh hoạt nghiên cứu. Ông không còn được, như một ngày đã xa, làm công dân trong một chế độ cho phép có sự khác biệt hầu đạt được tiến bộ chung, trong và ngoài nền đại học tự trị của Miền Nam, đã hiện diện mấy thế hệ sử gia trước và sau, bên cạnh những sử gia khác với kiến thức chuyên môn riêng. Một chương sử mới mở ra với nhiều cái chết như cái chết của sử gia/Đại tá Phạm Văn Sơn hoặc sử gia /Trung Tá Phạm Việt Châu vv. . Chương sử ấy sẽ tiếp tục với sự phấn đấu của nhiều cá nhân hầu bảo vệ danh dự tập thể, mà sử gia/Đại úy Tạ Chí Đại Trường và viên sĩ quan Không quân vô danh là thí dụ qua lời chính ông ghi lại rất rõ ràng:
– … Về đến đây tôi mới biết được một chuyện có tầm mức vượt ngoài cá nhân của tôi. Việc các nhà sử học Miền Bắc phê bình tác phẩm của tôi. Thực ra việc cố công học hỏi trong bao nhiêu năm, ý thức thầm kín muốn làm một người viết sử của thời đại khoa học – chuyện ở nước người đã có từ khuya – muốn tách khỏi thế hệ cũ như Trần Trọng Kim, muốn chuyên môn hoá không theo kiểu những anh bàn-sử, luận-cổ-suy-kim, công chức già về hưu… ý muốn xây dựng tác phẩm theo một quan điểm riêng biệt — điều mà Mạc Đường chắc thấy rõ nên gọi một cách hằn học là “lập dị” — tất cả những công sức, ước muốn thật to rộng ấy, than ôi “trời chẳng chiều người”, cả mươi năm trời có hơn chỉ gồm trong một quyển sách còn nặng đầy tính chất compilation rụt rè của học trò. Có ước muốn tìm hiểu cơ sở của xã hội Đàng Trong, lấp một sự ơ hờ lớn trong dòng sử cũ cứ coi như 200 năm mở đất ấy chỉ là một phóng ảnh của Đàng Ngoài trên đất mới — Tôi coi quan niệm ấy như là quan niệm sử về vương triều xưa cũ được nối tiếp một cách không ý thức. Có ước muốn viết cuốn thông sử sơ sài bao gồm cả Phù Nam, Champa vào sử toàn-Việt — biết chắc là khó có người chia xẻ nên định đặt tên là “Bài sử Việt cho người ngoài phố”, ước muốn ấy chưa được nơi phát tiết trừ vài mươi trang lộn xộn, tả pín lù mang tính cách của dân-mới-ra-trường trên tờ Sử Địa 1964. Chỉ có quyển sách “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” ấy mang dấu vết truân chuyên của đời mình tạo được một tiếng vang nhỏ với một giải thưởng mà “bên trong (cũng) có lắm điều hay…” Sách ra đời không nghe được một lời phê bình nghiêm túc, có lẽ vì sự cả nể của một giới quá thu hẹp, vì tình hình thời sự không phải của chuyện quá khứ chững chạc. Chỉ có những lời tán dương vuốt đuôi, ở những bài báo giới thiệu lạng quạng vì tình thân hữu, vì cần người tiêu thụ…Cho nên nghe có một chiều hướng phê bình khác, thấy thật háo hức kể như một đáp ứng. Nhưng hoàn cảnh gặp gỡ quả không thuận tiện cho sự trao đổi quan điểm– và sau này lại thấy rằng nếu có trao đổi cũng thật là vô ích. Một ít lâu sau khi nhóm Kà Tum về, một người bạn trẻ nghe nhắc đến tên, chợt nhớ đến một số báo Xuân Đại Đoàn Kếtđược nhà gởi cho: “À, tôi thấy có ông Phạm Huy Thông nói qua về anh một vài câu nặng nề.” Chẳng biết câu ấy ra sao. Chuyến về phép cha chết, nghe nói có bài phê bình trong hai số Nghiên Cứu Lịch Sửlại bị anh bạn cũ tận Mĩ Tho hỏi mượn hẹn đến hè sẽ đem lên trả — Đường sá xa xôi, lưu thông đâu có thuận tiện nữa. Trên đường đi rông ở Sài Gòn tình cờ gặp Nguyễn Mộng Giác nhắc đến bài phê bình. Hỏi về nội dung thì Giác cũng chỉ nói được: “À cái kiểu cả vú lấp miệng em, nói anh viết với tư cách người bán nước, phục vụ chế độ thực dân kiểu mới…” Lời nói ậm ừ mơ hồ cũng cho thấy đó là cốt cán của bài phê bình, được thấy ngay, nổi bật và quán xuyến trong toàn bộ các trang viết. Kì thăm nuôi khoảng tháng 5 gì đó (1977), ở nhà bảo rằng đã đem vào nhưng bị quản giáo chặn lại để “đọc cho biết”. Trong một buổi giao ban, quản giáo hỏi quan điểm, ý kiến tôi về bài phê bình. Chẳng biết trả lời sao với người có quyền, với người không có thẩm quyền chuyên môn, đành tìm cớ tránh né: “Tôi chưa được đọc nên không thể bày tỏ ý kiến…” Người quản giáo cũng bỏ qua nhưng không giấu chút thán phục: “Không ngờ anh cũng là một nhà tư tưởng (!) nhưng tôi cũng tiếc và không đồng ý về việc anh ca tụng Gia Long…” Làm sao giải thích được bây giờ? Khi anh ta nghe hai nhà phê bình nhấn mạnh những đoạn tôi trích dẫn lời ca tụng “tên bán nước, rước voi về giày mả tổ…”, điều đó va chạm đến tinh thần yêu nước có hướng dẫn, có tính Đảng của anh ta! Nhưng một câu chuyện khác, mãi về sau này mới cho tôi một cảm giác ấm lòng để thấy, ngoài sự tự ái được vuốt ve, thoả mãn còn thấy có những người đặt trong ranh giới bạn thù rõ rệt, trong quan điểm thù nhìn thù phân minh, mà vẫn có suy nghĩ riêng tư, không bị thống nhất hoá, không trở thành con robot trong hệ thống (…) Tập báo phải chờ đến tháng 11, có một anh bạn về phép, được dặn dò mãi, không mang giùm gì vào hết, ráng đưa các thứ ấy cho tôi (có thêm ít tờ Khảo Cổ Họcnữa mới oai!) Ngoài cái tự ái riêng tư bị động chạm, quả thật tôi đã thấy thất vọng với các học giả Miền Bắc. Trước kia, trong khung cảnh giấu giấu giếm giếm của các người có sách, cộng với sự háo hức được thấy loáng thoáng một vài tác phẩm nghiên cứu của ngoài ấy, có khi chỉ được thấy nhan đề mà không thể nào biết nội dung, tôi cứ nghĩ rằng “dù sao người ta cũng đã làm việc”. Bây giờ thì phải thêm “Làm như thế, thà đừng làm còn hơn.” Cách làm như thế là một bằng cớ để mấy ông theo Lão Tử chối bỏ ngôn từ, văn tự… bởi vì quả là làm loạn đời, phủ thêm đám mây mù lên quá khứ để cho một khoa học có nền tảng bấp bênh như sử học tụ tập thêm nhiều thành phần chống đối nhau, hoài nghi hay tán thưởng với chỉ một mục đích là có lợi cho mình, phe mình. Tờ Nghiên Cứu Lịch Sửcó những bài không hơn một lời hô hào trong một cuộc mít tinh, muốn chứng minh cho lời nói của một lãnh tụ hơn là một sắp xếp giải thích sự kiện một cách thông minh, chứng tỏ khả năng, trình độ của người viết. Tạp chí Khảo Cổ Họcmang tính chiến đấu cũng không rời được mục đích hiện đại hoá: Có câu chuyện cãi nhau về cái sọ thuộc giống người nào mà ông Phạm Huy Thông gán buộc cho người bác sĩ nghiên cứu là “vẽ đường cho nguỵ chạy”! Và sau này tôi được biết vì nhu cầu chống Trung Quốc mà ông Viện trưởng lớn Nguyễn Khánh Toàn đã viện dẫn đến cả tiểu thuyết kiếm hiệp! Cái dáng sâu sắc của chuyên môn không lấp được cái sơ hở, cẩu thả không ngờ được (…) Không biết cái “cơn” nào đã khiến cho tôi viết bài trả lời. Có lẽ tại thói quen hay-cãi không có được ở những người dĩ hoà vi quý (quý cái sinh mạng). Có người bĩu môi chê cái thói hay cãi ấy: “Lí của kẻ mạnh, đó là chuyện thường tình, việc gì phải đi tranh hơn thua?” Có người tưởng tìm ra một ý khôn ngoan để cản tôi bỏ ý định: “Hiện giờ anh ở trong tay họ, làm việc dại dột chỉ tổ thiệt thân. Sao không đợi họ thả ra ngoài kia rồi hãy tìm cách tranh luận?” Cứ kể ra cái thói hay cãi của tôi cũng chẳng hay ho gì nhưng các lí lẽ đưa ra chưa đủ thuyết phục. Chuyện ngụ ngôn chỉ dạy được một sự khôn ngoan bình thường mà cuộc sống có giá trị đòi hỏi phải vượt lên. Trong thư tôi có viện dẫn đến lí do thúc đẩy: Dù biết bài trả lời không được phổ biến, tôi vẫn phải viết vì trước hết đó là “làm tròn bổn phận đối với chính mình”. Lời công kích chỉ đích danh một cá nhân thì sao cá nhân ấy không có phản ứng nếu thấy mình cũng còn có chút phẩm giá – đã bị vùi giập? Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng. Không phải gàn bướng, không phải là làm theo kích động nhất thời, anh hùng rơm, quân tử Tàu, làm vì thấy có bổn phận phải làm… Mà cũng không nên chờ đợi, lần lữa. Hiện tại đã không dám làm thì mai mốt sao lại không có cớ khác để chần chừ? Ngưới khuyên có ý tốt tìm giúp cho tôi một thứ “hoãn binh chi kế”, nhưng có lẽ vẫn tưởng như ở chế độ cũ, bước ra khỏi nhà tù là có phương tiện rộng rãi để tranh đấu cho ý tưởng của mình mà không biết rằng ở cái nhà tù lớn ngoài kia cũng như ở cái nhà tù nhỏ trong này không bao giờ có thể có kiểu cách tranh luận như anh thường thấy trước kia. Đành phải làm cái hành động cô đơn vậy. Thực tình lúc đầu tôi vẫn coi bài phê bình như là phản ứng riêng lẻ của một vài cá nhân “say men chiến thắng” thôi. Trong hoàn cảnh bưng bít của trại tập trung, tôi không ngờ mình đã được đề cao quá mức – dưới khía cạnh xấu, cố nhiên. Khi lên Gia Trung tôi được đọc tập Kỉ yếu của hội nghị Tây Sơn tổ chức tại Quy Nhơn, cũng thấy có bài công kích nhưng chỉ là rút gọn từ tờ Nghiên Cứu Lịch Sửvà chỉ một trong hai tác giả trước kí tên. Lời văn, nội dung cẩu thả hơn nhiều, dường như sự kiêu ngạo của một trí thức thủ đô đối với địa phương không thể kềm giữ được (…) Thư trả lời được viết trên trang giấy học trò, giữa hàng gạch nhỏ. Từ lâu lắm, kể có mấy mươi năm rồi tôi mới lại viết chữ chen vào hàng giữa của khuôn dành cho cậu học trò. Nhưng lúc ở Bồng Sơn năm 1950 viết như vậy vì tiếc rẻ giấy, tưng tiu cái phần thưởng cuối năm chỉ được mỗi cái tập vở trăm trang giấy trắng có gạch hàng, quá sang trọng so với các trang giấy đen dùng hàng ngày, làm bằng xơ bẹ chuối, bông (cây) gòn còn mắc vào đầu ngọn bút lá tre làm nhoè mực văng tứ tung. Bây giờ viết vào hàng nhỏ là để thu gọn các trang giấy, tiện giấu giếm gởi đi. Nhưng cũng thật là muôn vàn khó khăn. Không phải ở những người quản lí mới là đáng tiếc. Sự phóng thích ồ ạt càng làm tăng thói quen ơ hờ của những người quản lí ở đây khiến việc kiểm soát người về hầu như chỉ làm lấy lệ. Thế mà đi tìm một người chịu việc “vác ngà voi” cũng thật như người xưa cầm đèn ban ngày. “Xắc tôi không có chỗ giấu… Tôi cho anh em hết cả đồ dùng, chỉ về tay không…” Những người có lúc tự nguyện làm giùm cho tôi! Cũng không nên trách họ. Việc tôi nhờ bao hàm một đe doạ lớn lao cho họ. Chứ mỗi một người về bao giờ cũng được người quen, người không quen gởi hàng tá thư mà họ vẫn chịu giấu mang đi. Có bị phác giác thì lí do viện dẫn cũng có vẻ vô tội. Đằng này…Tôi tưởng đã không còn hi vọng thực hiện ý định của mình nữa. Cho đến lúc bất chợt hỏi nhờ một anh bạn “giặc lái” không quen gì lắm, tôi biết mình chỉ có thái độ ơ hờ cầu may thôi. Nhưng anh ta lại nhận lời. Trong cả nửa năm trời tôi không biết rõ được kết quả bức thư giấu vào chỗ kín ấy đã đi về đâu. Cũng ngại anh ta vứt vào cầu tiêu hay muộn lắm là ngoài sân khám xét – như khi ở Long Khánh nhờ gia đình một anh bạn đem mảnh giấy nhỏ về nhà xin món tiền nhỏ trả cho nhu cầu bất khả kháng thuộc loại nhà nước và nhân dân (tù) cùng làm, vợ anh ta nhận lời rồi gởi lại hàng rào nhờ gió đưa về Sài Gòn! Tên giặc lái vẫn còn chút hào hùng liều lĩnh! Lại sợ gia đình ngại tôi sẽ gặp khó khăn nên không gởi đi – dù rằng tôi đã dặn anh ta nhắn rất cương quyết. Tôi có nghe nhắn rằng việc đã xong, và kiểm chứng lúc về nghe anh bạn nói Lê Văn Sáu đã gầm gừ trong một buổi hội: “Có những người như Tạ Chí Đại Trường đến giờ này mà vẫn còn cho mình đúng!” Giờ này hay giờ nào thì chẳng cần quan tâm lắm. Mục đích tôi đã đạt. Và lại còn có một bất ngờ hơi “bậy bạ”: Tôi cứ tưởng tượng những con người chiến thắng vững tin ở chân lí của mình đó – vì nói một mình – đang chuyền tay xấp giấy mỏng, nhoè mồ hôi, dán mắt vào đọc những dòng chữ li ti, không phải chỉ đoán nghĩa chữ mà còn phải đoán mùi!…[Tạ Chí Đại Trường, Đi, Về, Vào, Ra, sđd, trang 181-188]
Sau khi đề cập tới “phẩm giá” của Tạ Chí Đại Trường và của tập thể, tôi sẽ dẫn tới “phẩm giá” của người lính tù, người tù và người vợ cùng gia đình của họ.
1.3.10 A Thăm nuôi Tù Cải Tạo: dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới…
Sau khi người tù tình nguyện “đăng ký” vào tù, đến phiên người vợ và thân nhân lũ lượt kéo nhau đi tình nguyện “động viên” người tù. Ngay trước và trong khi đó, gia đình người tù đã bị xiểng liểng, kiệt quệ về mấy vụ đổi tiền, vụ đuổi đi Kinh tế Mới vv. nên bao nhiêu thảm cảnh xẩy ra là chuyện đương nhiên. Nhất là khi người duy nhất làm ra tiền trong gia đình bị vào tù. Nhiều bài viết hoặc hồi ký của người Tù Cải Tạo đã ghi lại những cuộc tự tử của người tù quen biết hay không, từ dân đến quân. Đời tù không ngày về, không rõ số phận người thân, có khi bị lìa khỏi nỗi an ủy duy nhất còn lại khi người vợ bỏ đi vv. đã đẩy người tù vào cõi miên viễn. Tạ Chí Đại Trường viết về một cuộc tự tử trong tù rất thê thảm. Ông cực tả nỗi tuyệt vọng của người tự tử mà khi chết, nỗi kinh sợ chính phủ hà khắc vẫn còn bám theo, căn cứ vào lời xin tha tôi cho vợ con vì đã tìm đến cái chết! Sự kinh sợ này có lý do khi chúng ta được biết phản ứng phi lý một cách máy móc theo giáo điều của người quản tù; một thứ phản ứng chỉ có trong một thế giới không nhân tính:
– … Một vụ tự tử đầu tiên xảy ra. Đêm của những ngày trước Noel càng ảm đạm hơn khi có hiện tượng sao chổi xuất hiện. Đêm về sáng đứng ở sân cát trong ánh mờ sao vây phủ, nhướng mắt nhìn về một hướng để từ trong khoảng không bắt gặp một chùm bụi sáng lung linh, sao mà không lúc nào cảm thấy sự hư ảo, mong manh của kiếp người hơn những ngày cuối năm ấy. Chính cái cảm giác ngợp hư vô ấy chứ không phải sự sợ hãi mê tín đã khiến tôi bước vội vào nhà. Trong mơ màng tôi nghe tiếng xì xào bàn tán về một người chết nào đó. Bước ra sân, còn cảm giác ngây ngây, tôi thấy từng nhóm tụ tập rầm rì giữa ánh chân trời rựng sáng. Người chết là một dược sĩ khủng hoảng tinh thần đã hơn nửa tháng và không giấu diếm ý định của mình. Anh em xúm lại khuyên can và có người nói dỗi: “Mày cứ chết đi, thiệt thân mày, khổ vợ con mày thôi chứ những thằng khác vẫn sống nhăn răng ra, chúng còn cười mày dại nữa, ngu lắm con ạ!” Tổ trưởng, đội trưởng báo cáo lên trên, hi vọng quàng xiên về một sự can ngăn nào có hiệu quả của quyền hành. Vô ích, sao lại cứ tưởng mình còn có một giá trị nào đó? Rồi cả tổ dặn nhau canh chừng. Đêm về sáng một người thức dậy, ngồi trong bóng tối gật gù, thoáng thấy một bóng đen lướt qua, tưởng mình hoa mắt lại tiếp tục gật gù, đầu óc lửng lơ. Một lúc sau anh mò xuống bếp, trong bóng tối đụng phải một vật gì đu đưa. Cái gì thế này? Chết cha! Thằng G.! Chuyện bàn quanh cũng nhiều, nào là hoạ sĩ TC. trong bức họa đương sự đã thấy cái dáng sầu muộn tử khí phảng phất, nào là những dấu hiệu hiển linh ngay sau đó trong nỗi sợ hãi vẩn vơ của tôi: ‘Đến vô thần như thằng T. mà cũng rùng mình kia mà!” Những khám xét tử thi, cái hòm gỗ chôn thì cũng là thường thôi. Nhưng quả thật tử khí đã tràn ngập cả trại. Không có tiếng cười đùa như thường ngày. Tôi đã đến đấy, liếc qua: Từ trong gian bếp vẫn còn cái xác thòng nhưng cặp chân co lên cho khỏi chạm đất hàm một ý quyết định. Nghe nói bức thư để lại có câu: “Xin đừng bắt tội vợ con tôi…” Chúng tôi được tập họp lên lớp. Bầu khí nặng nề ảm đạm vây phủ. Chẳng có tiếng rì rầm nào mặc cho người trưởng quản giáo giải thích về cái chết, kể tội người chết, kết tội chúng tôi là bi quan, không tin tưởng ở chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước… Nhưng khung cảnh im lìm bỗng vỡ tan, người quản giáo vừa nói: “Anh H. (?) chết tức là trốn học tập…” Chúng tôi cười ồ lên. Người quản giáo ngơ ngác lặp lại. Vẫn cười ồ. Sau này có người xầm xì: “Trốn sao được mà trốn, còn gặp Bác kia mà…” Nhưng sự kiện ấy là một trong những lúc hiếm hoi gây xúc động ở tôi trong những ngày cùng khốn đó. Phải đặt mình vào cái buổi sáng âm u, người trĩu buồn, tuyệt vọng, không ai muốn hé môi của ngày hôm ấy. Phải nhớ lại cái xác còn treo tòn teng như hình ảnh có thể có của mỗi người trong chúng tôi. Thế mà có những tràng tiếng cười, tràng cười ồ không vươn dài ra biểu lộ một nỗi vui mà cắt đứt cụt ngủn, đột ngột, đã ngưng lại mà người cười còn ngơ ngác. Đó là tiếng cười của một lũ điên, tiếng cười không còn dấu vết của lương tri. Nhưng ai đã đánh mất lương tri? Lễ chôn cất làm vào lúc sập tối. Hình như người ta cố ý trùng trình để chờ lúc thuận tiện tránh xáo động hơn. Chỉ có một số người khiêng quan tài qua bên kia suối. Chúng tôi bị đuổi hết vào nhà nhưng từ trên các chái chúng tôi vẫn theo dõi được con đường của ánh đuốc, ánh nến bập bùng trồi lên trụt xuống của chiếc quan tài trên đường thung lũng vắng lặng. Đêm đổ xuống ôm lấy con người yếu đuối kia nhưng cũng ôm choàng tất cả chúng tôi, bất lực… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 122-123, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, Hoa Kỳ, 1993]
Ông quan sát, ghi nhận và tổng hợp bao nhiêu cảnh éo le, oan khốc của người tù và thân nhân một cách chi tiết với lòng cảm thương dành cho nạn nhân phụ nữ và phẫn nộ dành cho một chế độ đã mắt nhắm tai ngơ trước cảnh lầm than nhục nhã của họ:
… Ở địa điểm này chúng tôi được hai lần gia đình gởi “quà” bằng đường bưu điện cách nhau ba tháng và hai lần gia đình đến “thăm viếng” cách nhau sáu tháng. Ngay đến cách dùng từ cũng làm ngạc nhiên chúng tôi, kể cả các tay Bắc Kì tàu há mồm. Sự lựa chọn từ ngữ thể hiện được cả tính chất Bắc Kì phong kiến được nâng lên mức độ thể chế hiện đại hóa. Chẳng phải ở tù –có người bị kiểm điểm vì đã thốt lên ý nghĩ này — cho nên không có chuyện “thăm nuôi”. Đấy chỉ là sự vắng mặt dài lâu được nhà nước tính toán chu toàn đủ, nên không có sự thiếu thốn, không có chuyện đi nuôi tù. Thấm nhuần tinh thần nhân đạo truyền thống, nhà nước mới tổ chức cho thân nhân đi thăm viếng những người đang học tập cải tạo, mang “quà” đi động viên, khích lệ chồng con học tập tốt để sớm trở về với gia đình, sớm trở thành người công dân tốt phục vụ đất nước. Cái ngọt ngào sao mà đầy vị đắng cay! Và đắng cay nhân đôi với những người nghèo trong trại. Ở nơi khác đã có người mang cả con heo quay đến trại, có người lãnh “quà” lôi luôn cả tổ trên 10 người đi khuân vác. Lại có người lủi thủi đi thăm chồng với ổ bánh mì kèm theo như lời trối trăn: “Lần này ráng chạy tiền đi thăm anh, không biết lần sau có vay được không.” Ở T. này cũng có người từ nhà thăm nuôi vào vừa khiêng vừa vác, vừa réo gọi anh em tiếp tay, và cũng có người lặng lẽ xách một bọc nhỏ về phòng mà trí óc vẫn băn khoăn không biết làm sao con vợ nuôi nổi mấy đứa con mà còn chạy được tiền đi thăm mình nữa? Cái dấu hỏi to tướng này không mấy người đặt ra. Có người thản nhiên không nghĩ tới vì tưởng có đủ tiền để được thăm nuôi suốt đời. Có người không nghĩ tới vì thói quen đòi hỏi hưởng thụ đã che lấp tất cả. Một thảm cảnh gia đình từ đấy mà ra: Người vợ phải đi bán thân và phân trần với người mẹ cải tạo cùng phố: “Dì tính, nhà còn gì nữa đâu, còn phải nuôi mấy đứa con mà anh ấy cứ viết thư về giục gởi thứ này thứ nọ, cứ tưởng như là hồi trước kia!” Chúng tôi cũng từng ghé mắt nhìn qua các bản danh sách yêu cầu này và đặt tên cho chúng là những “tờ sớ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd,trang 182-183]
– … Thư viết chỉ một trang giấy học trò mà thôi. “Quản giáo còn bận nhiều việc”, không thú nhận rằng mình ít chữ, đọc nhanh không được mà tính đa nghi lại khiến anh ta nhìn thư dài ngoằng không biết bọn nguỵ cầu kì rắc rối nói chuyện sinh hoạt phức tạp có chen vào ẩn giấu âm mưu gì không. Nội dung thư cứ nói “học tập tốt, lao động tốt”, “động viên gia đình lao động tốt” để “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là đủ rồi. Thế mà có những đứa viết thông báo cho gia đình biết chỗ ở của mình với các câu đại khái “Lúc này vườn anh Long chị Khánh chắc cỏ mọc um tùm”… Phần lớn khác nói chuyện mùi mẫn anh anh em em đầy tính cách tiểu tư sản uỷ mị, kéo dài hàng lô món ăn xin gởi liệt kê cả một dọc! Thế thì làm sao gọn trong một trang giấy cho được! Không vuốt ve vợ thì tình cảm không chỗ phát tiết đã đành, nhưng nếu không mùi với con vợ thì làm sao nó chấp nhận cái “toa” kê ra? Cho nên vẫn có kẻ kéo dài hai tờ giấy học trò, chữ viết nhỏ đi, theo hàng gạch hẹp, tái bút lên tái bút xuống, lại xoay ngang tờ giấy viết vào cái lề còn chừa trắng trước kia, mất cả ý định dành cho thư có tính cách trang trọng. Thư các ông có mục đích “đồ ăn” rõ rệt thì thư các bà lại nặng về tình cảm kể lể, thương mến lẫn giận dỗi ghen tương– có cả chuyện phòng the ẩn giấu nhưng khá trắng trợn, có nhắc cả chuyện vợ lẽ con riêng đâu tận đời kiếp nào trong năm bảy tờ giấy làm dày cộm bức thư. Chắc tức vì đọc mệt, Ban Chỉ Huy bèn tổ chức một hai cuộc lên lớp, bắt đương sự lên bục đọc thư vợ, kéo dài cả buổi tối. Tất nhiên chẳng phải vì ác ý nhưng mọi người đều cười ngả nghiêng tán thưởng cái dâm của người vợ trẻ xa chồng. Nhưng sau đó là những điều phải suy nghĩ liên hệ đến gia đình từng người: Cô giáo nọ vốn đã trải qua một thời làm tình nhân, làm vợ đầy hạnh phúc, nay mang từng cái bánh ra bến xe bán, lạc lõng bơ vơ ngoài đường, cô đơn khi về nhà, nhắc đến chuyện ái ân cũ với chồng có phải dùng kỉ niệm để làm bức thành ngăn chận những quyến rũ của cuộc đời lôi cuốn từng giây, từng phút trước mắt không?
Những bức thư viết đi cũng được cho lên lớp vì có những lời lẽ tuyệt vọng động chạm đến lòng tự cao tự đại phình to của người chiến thắng. “Thôi, đời anh như vậy là hết rồi, em nên đi tìm hạnh phúc mới, coi có người bộ đội nào…” Lời gầm phản đối thật đầy vẻ kiêu hùng: “Nhà nước giam giữ các anh không phải nhằm mục đích chia rẽ gia đình, và chúng tôi chiến đấu không phải là để cướp đoạt vợ con của các anh!” Thật đầy lí tưởng nhưng chẳng thực tế chút nào… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 186-187]
-… Một thảm kịch cũng diễn ra với một nhân vật ý thức thật đúng hành động của mình. Người vợ trẻ dắt theo cả mẹ chồng, thuật với anh chồng phi công về chuyện mình bị công an hãm hiếp bao nhiêu lần, những lúc bị đòi lên lấy khẩu cung chuyện nguỵ. Một vài lần riêng lẻ, một lần bề hội đồng và kết quả là cái thai mấy tháng. “Mẹ nói để một mình mẹ lên nói với anh cũng được, để tránh cho em điều khó nói. Nhưng em nghĩ em chẳng có điều gì phải ngượng vì không hề có ý nghĩ phản bội anh. Em muốn tự tử nhưng cũng muốn gặp thẳng anh, bởi vì nghĩ rằng trước sau gì anh cũng biết chuyện – biết một mình chắc có nhiều điều vương vấn thắc mắc hơn là biết với em để ít ra em còn sống mà chia xẻ, chịu đựng với anh…” Đêm kéo dài với những lời kể lể và anh phi công nọ về trại ngẩn ngơ mấy ngày rồi vượt biên giới trong một buổi đẵn cây rừng. Bây giờ anh ở nơi nào? Chuyện có thể được bào chữa là do sai trái của một vài cá nhân lẻ tẻ, như thói quen biện hộ thông thường. Nhưng “con dại cái mang”, một quyền bính chối bỏ trách nhiệm của mình thật chẳng bình thường tí nào, huống chi đối với một chính quyền cứ tự cho mình không chỉ bênh vực lẽ phải mà chính là hiện thân của lẽ phải, văn minh. Đây chính là điều đáng nói. Thường nhân sai lầm có thể bị mắng mỏ, đánh đập nhưng cũng được tha thứ. Còn những người tự xưng là thánh thiện có thể được kính trọng tôn sùng nhưng khi đổ vỡ thì thật là tai hại, tan tành không phương cứu vãn. Sống mà cái gì phải, cái gì thành công thì vơ về mình, cái gì trái, cái gì thất bại thì đẩy cho người khác, sống như thế, cai trị như thế cũng “dễ” thôi. Tất nhiên đây chỉ là bàn tới trên lí lẽ mà thôi. Nếu sức mạnh khiến cho lí lẽ không giành được ưu thắng thì đối lại chỉ còn sự khinh miệt- tuy rằng khinh miệt chẳng nhằm nhò gì đối với quyền thế. Về Sài Gòn ít lâu tôi thấy thái độ trên chất chứa thật sâu xa, thật lan tràn trong dân chúng. Và cả người cán bộ cũng ngượng ngùng, lẩn tránh…Không thể không nhìn nhận sự hấp dẫn của Sài Gòn đối với người chiến thắng hấp dẫn về mức sống cao, từ đó là hấp dẫn bởi con người, đầu tiên bao giờ cũng là đàn bà! Lúc mới giải phóng, con gái ngõ hẻm đã chê bộ đội “không láng”. Có nghĩa ngược lại là con gái đàn bà Sài Gòn “láng” lắm. Văn chương Giải phóng có vào khuôn phép cho mấy cũng lộ ra một sự vùng vẫy chống cự sự hấp dẫn đó. Với uy thế chiến thắng sao họ không biết lợi dụng tình thế? Kẻ đạo đức trong vụ này là những tên chậm lụt, ì à ì ạch. Những người ở địa vị lãnh đạo tiếp thu cơ sở có đủ quyền uy, tiền bạc để che cái “không láng” của họ, mà có còn thì cũng dễ dàng nhanh chóng khắc phục… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 188-190]
– … Huỳnh Tấn Phát quy định thời gian cải tạo là ba năm. Tuy cũng đã trải qua một năm rồi nhưng khoảng thời gian còn lại vẫn thấy là ngút ngàn! Quy định có nói đến trường hợp được về sớm nếu có cơ quan bảo lãnh, có người thân là Cách mạng. Thế là tự nhiên nảy nòi những tay bà con Cách mạng, từ những bà con thực sự, tuy xa lắc xa lơ mà honda, tivi rút ngắn con đường thân thuộc đến những tay bà con chẳng biết từ đâu, bằng cách nào lại trở nên cùng họ hàng! Trong đó yếu tố can thiệp mạnh vẫn là đàn bà. Nhiều anh nôn nóng viết thư trách mắng vợ không giỏi giang như người khác để lo chạy cho mình về. Và một anh nhận được bức thư nhẹ nhàng, cay đắng nhưng có hiệu quả như một lời nhiếc mắng nặng nề ngoài ý muốn của người viết: “Anh trách em không lo cho anh, nhưng nếu bắt chước như chị A, chị B thì sợ khi anh về rồi, chúng mình không dám nhìn mặt nhau…” Nhưng có vẻ như không chỉ có sự lợi dụng xấu xa. Một bức thư với mục đích phân trần về hành động rẽ bước nhưng có chi tiết tình cảm không đơn giản: “Nhà ta đã không thong thả gì mà bây giờ em phải gánh lấy 7 đứa con dại với một tương lai mờ mịt. Nhớ ngày nào ở nhà anh vẫn thường ước muốn sao cho em được hạnh phúc, sao cho các con được sung sướng. Phần em bây giờ không đáng kể gì rồi nhưng các con vẫn là điều quan trọng. Thời thế đã đổi thay, các con sống chật vật đã đành mà quá khứ ngụy của anh còn là một trở ngại lớn cho chúng nó nữa. Nay có người chịu nhận nuôi nấng con anh, hi vọng dây liên kết với người của chế độ mới sẽ bảo đảm một chừng mực nào đó cho chúng sống dễ thở hơn, em tưởng tuy không dùng đến chữ hi sinh, nhưng dù mọi người chung quanh có nhìn em bằng cặp mắt khinh bỉ, dù anh có bực tức thế nào đi nữa, em cũng nghĩ là em đã làm theo ý nguyện của anh…”. Bức thư được những người đọc lên tỏ vẻ hoài nghi, khen chê rối mù, nhưng không ai không cảm động với lời tâm tình mà vì hoàn cảnh lúc bấy giờ không ai biết đến sự bao vây khắt khe của chế độ, không ai thấy được sự tính toán sai lầm của người vợ kia. Xã hội không có quy mô công nghệ nữa mà lại suy sụp trở về với thời làm ăn tủn mủn, vụn vặt, một thứ “chạy chợ” tuy ở khung cảnh đô thị nhưng vẫn mang dáng dấp của sinh hoạt “con cò lặn lội bờ ao”. Người “làm ăn” được là đàn bà, con gái, trẻ em đi làm để nuôi đàn ông vào tù hay co rút lại. Những người này không được chuẩn bị sẵn để chống đỡ với những cạm bẫy do chính bởi cái ưu thế đàn bà đã giúp họ làm ăn dễ dàng: Qua mặt công an, luồn lọt công quyền, ứng biến khi sơ thất ngay cả trên đường xa… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 190 -191]
– … Nhà nước mới cũng nên biết ơn những gia đình có con em cải tạo đã giúp cho chính sách có bằng cớ khoan hồng hơn bằng cách moi vàng ra, bán đổ bán tháo rađio, tivi, tủ lạnh cho cán bộ đem về Bắc, để lấy tiền nuôi nấng người thân trong rừng sâu núi thẳm, cho cuộc sống họ đỡ cực nhọc hơn. cho họ đủ sức chịu đựng hơn: “Này, đi học tập về béo tốt như thế đó…” Chút tiền của bòn mót từ cái đuôi của tư bản, chút cặn thừa của thời kì thực dân kiểu mới “phồn vinh giả tạo” đã gợi nên câu nói khôi hài đen: “Mai sau có con, tôi nhất định khuyên nó đi lính cho phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng phải vì muốn nó ‘yêu nước, yêu nhân dân, yêu đồng bào, vì nhân loại tiến bộ’ đâu! Mà vì lỡ nó có bị làm tù binh thì tư bản nuôi nó sướng như tù Phú Quốc hồi đó, chớ đi lính cho tư bản mà bị phe xã hội chủ nghĩa bắt thì ôi thôi, chém-tre-đẵn-gỗ-trên-ngàn!” Đi thăm nuôi cũng không dễ dàng gì. Đã nói hơn 30km đường xe bò đi, có thể đếm bao nhiên hang ổ gập ghềnh là bấy nhiêu cay đắng cực nhọc cho người chinh phụ thời hậu chiến của một phe này. Sầu hận họ lắng sâu, sâu mãi để có thể đối xứng với tiếng reo hò tở mở của tiếng người trực tiếp, tiếng người nhắn qua phương tiện truyền thông của nhà nước tập trung, qua những trang giấy in triệu triệu tờ tung ra khắp đất nước, vòng quanh trái đất để hoan hô chiến thắng, reo mừng ngày thống nhất của một phe họp mặt, sum vầy (…) Có người giữa đường rừng đã bị chặn lại, cướp đồ đạc, bị chọn lựa để dẫn sâu vào bên trong. Người thân còn kể rằng đã đọc thấy trong đôi mắt của chị mình một lời trăn trối – không phải chỉ sự tuyệt vọng không bảo vệ nổi tiết trinh mà còn là dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới, của đất nước với trống với kèn, với tiếng súng đạn nổ mừng hội hoa đăng, trùm lấp những lời than vãn – còn nói chi đến một cử chỉ thầm lặng buông xuôi! Lượng tiền tích trữ của Sài Gòn cũng còn là lớn. Anh thiếu uý bên nhà tôi được gia đình mang cả con heo quay ra đãi bạn. Nhưng một bà mẹ đã nói nhỏ với con về thảm trạng của người bạn gái nhỏ cùng khu phố. Bà già thuật chuyện ấy đâu phải để làm quà thóc mách nhưng để gợi về giá trị những gói mì, cái bánh… trên đường xa lặn lội… [Tạ Chí Đại Trường, “Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 250 -251]
Liệu có ai còn nhớ để so sánh quang cảnh náo nhiệt rợp màu đỏ tại Việt Nam mới đây khi kỷ niệm 50 năm “Giải phóng Miền Nam” và “Thống nhất đất nước” với đoạn bình luận cách đây hơn 30 năm của một sử gia về những người vợ, người chị, người em gái Miền Nam bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi thân nhân bị giam tại các trại Tù Cải Tạo Miền Bắc?
1.3.10 B Vài suy nghĩ về Phụ nữ Việt Nam và Phụ nữ Miền Nam sau 1975
Tuy bị Tạ Chí Đại Trường rủa là “đồ răng đen mã tấu”, tôi vẫn có mỹ cảm với ông về một khía cạnh mà hình như chưa ai bàn đến khi viết về ông: quan tâm và chia sẻ với phụ nữ về những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến họ, nhất là sau năm 1975. Ngoài những đoạn thượng dẫn về chuyện Thăm Nuôi người Tù Cải tạo, tôi còn được đọc những lời bàn sau đây trong tác phẩm khác. Ông bàn về vị trí của người phụ nữ qua tên họ và gia phả:
-… Nhưng ngay cả ở cội gốc, ở quan niệm tông phả của Trung Hoa cũng đã có sự thiếu sót trong sự kết nạp các thành phần làm nên một dòng tộc. Không phải người nào cũng được ghi chép như nhau. Ðược chú ý nhất là các nhân vật thuộc ngành Trưởng, và là người nam. Gia phả mang tính phụ hệ, chỉ giữ lại cái “họ” của thành phần nam. Ngưởi nữ được ghi theo chồng, cả theo con, với những chi tiết tối đa gán ghép theo ý nghĩa phục vụ kia, nghĩa là ngoài những điều khoản căn bản phải theo thì những thuộc tính của người nữ được thêm là từ sự liên hệ với người nam gần gũi: công dung ngôn hạnh không có, không cần thiết cũng được nêu ra, chức tước ân thưởng về mặt xã hội được nhận lãnh từ người cha, người chồng, người con (…) Tính chất bất toàn của gia phả theo quan niệm phụ hệ dẫn đến sự bất công đối với người nữ, đã được ông Phan Khôi nêu ra theo bằng chứng gia đình: bà cố của ông tái giá, dựa vào sinh kế nhà chồng mới, nuôi con chồng cũ học hành đỗ đạt, với chức tước hưng vượng cả nhiều đời sau đó cho những người họ Phan của ông mà vẫn bị nhà chồng cũ bỏ bài vị, không cho cúng giỗ! Bây giờ, thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm Tây phương đã gây nên sự bất mãn kia của ông Phan Khôi, xã hội Việt Nam trở về với “truyền thống” cũng cho thấy bóng dáng người phụ nữ năng động xưa. Tuy các nhân vật nữ trong chính quyền chỉ làm việc tô điểm cho một chính quyền Ðực đến mức thô bạo nhưng nấp sau các công cuộc “làm ăn”, “chạy mánh”, kể cả ở các tập đoàn kinh doanh đều có bàn tay những người phụ nữ tháo vát. Rồi như minh chứng cho sự chèn ép của xã hội, những người nữ chống đối hiện nay cũng nổi bật lên, chịu đựng nặng nề quyền uy sấm sét của những người cầm đầu đất nước đang lúng túng níu kéo quyền lực. Ðã có sự dọ hỏi về số người nữ bị tù đày về chính trị ở Việt Nam hiện nay, cho thấy là họ có số lượng vượt lên mọi nước trên thế giới… [Tạ Chí Đại Trường, Sử Việt thời thổ tả (IV): Chuyện Gia Phả, Tông Phả Họ Hàng Nhà Ta, Da Màu, ngày 8. Tháng giêng. 2014
Rồi ông bàn đến đến những cái họa ngày nay. Chiếc áo dài cũng lợt phai trên sân trường trên dưới 10 năm cho đến khi cô Đàm Thị Ngọc Thơ, Hiệu Trưởng một trường trung học tại Cà Mau cổ võ thành công cho việc tái xuất loại đồng phục này vào khoảng 1984:
-… Thiếu Gia miếu là dấu hiệu hiện diện của thần Bạch Mã Thái Giám cũng từng cứu vớt người đi biển tận trong tít mù thời gian. Tính nữ đã nổi bật với người đi biển xưa, người nữ vượt biển của thời nay, trong ý thức xông xáo cố hữu mạnh hơn người nam với toan tính bứt ra khỏi sự nghèo đói bình thường mà bức xúc, khỏi sự chèn ép của hệ thống phụ hệ còn đó hàng ngày, người nữ đi tìm sự giải thoát cho chồng cho con, tìm sự giải phóng cho mình hẳn cũng một lần kêu gọi đến vị nữ thần bảo trợ (“Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”) khi thấy sóng gió, gặp hải tặc? (…) Cô đã thật có sự an bình – an phận – bên trong chiếc áo dài kia? Chiếc áo dài cũng tội nghiệp vì tuy được ca ngợi liên miên nhưng lại chỉ là khuôn mẫu độc nhất của trang phục dân tộc trên thân người phụ nữ Việt ngày nay. Vậy mà có một thời nó đã phải biến mất như một dấu vết đáng xấu hổ của tầng lớp trưởng giả, tiểu tư sản. Nó chỉ xuất hiện lại trong khuôn khổ nhỏ hẹp, trong nhà trường với màu trắng đơn sơ, ở tận xứ Cà Mau hóc-bà-tó của đất nước. Và cô hiệu trưởng hồi kết ấy phải chịu bao điều mắng mỏ, đe dọa của cấp ủy địa phương. Họ không chịu thấy rằng chính bộ đồng phục ấy mới là dấu hiệu bình đẳng ít ra là ở trong nhà trường, nơi dù sao cũng là khởi điểm của những người điều hành đất nước, công cũng như tư. Học sinh có gì mặc nấy, có cô cậu te tua rách rưới, có cô cậu như ông hoàng bà chúa, thế mà cấp ủy Đảng không thấy ra điều ấy chỉ nhìn việc theo thói quen định kiến và quyền uy, thói quen tuân phục của thuộc lại thời mới. May mắn cho cô Hiệu là đàn bà trong một chế độ tuy thường tuyên truyền về vai trò bình đẳng của phụ nữ nhưng ưu thế đó không phải là từ trong lý tưởng thực hiện được mà từ trong thực tế có sự nể nang lẫn coi thường kiểu cách luồn lọt xông xáo của đàn bà… [Tạ Chí Đại Trường, “Từ nơi sóng vỗ bềnh bềnh”, Văn Học số 123, trang 99, Tháng 7. 1996]
Là một nữ sinh mặc áo dài trắng suốt 7 năm Trung Học, nhiều lúc còn cột 2 tà áo vào nhau cho dễ đá banh, trèo cây (hái trộm hoa quả), nhưng sau đó ít mặc hơn mà khi ra đi, không biết tại sao lại quơ đúng 1 chiếc áo dài mang theo, tôi rất ngậm ngùi khi đọc đoạn này. Đọc đến đây thì đã quá đủ mà không cần lời bàn thêm. Đến đây, cũng đã đủ để chúng ta sang phần người lính VNCH trong các trại giam Tù Cải tạo.
1.3.11 Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính ngụy”
Tạ Chí Đại Trường là một người lính. Ông có những quan sát, suy nghĩ của một người lính. Trong đoạn sau đây, ông đặt sự tương phản giữa những phương tiện truyền thông ngoại quốc không thấu nổi lúc thập tử nhất sinh của nền tự do chìm theo đáy vực của một quân đội chưa đánh hết mà phải bỏ súng. Tạ Chí Đại Trường đứng trong đoàn quân ấy để ca than:
– … Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính nguỵ”. Những ngày di tản, chuyện bạo tàn của lính kể không hết từ những người quen thuộc cuộc sống ấm êm sát bên lửa đạn bao nhiêu năm, từ phương tiện truyền thông quá thừa chỗ trống. Sau khi Đà Nẵng thất thủ, một người lính Biệt động quân vào chi nhánh tiết kiệm Việt Nam Thương Tín Ga Sài Gòn gởi một số tiền tròn giản dị: một triệu đồng. Nhưng có ai thấy họ đói khát thất thểu lê bước, có ai thấy nỗi tủi nhục của họ khi đội ngũ còn mà phải bỏ chạy một cuộc phục kích của du kích địa phương? Sức căng chiến đấu đẩy mũi súng trở về phía trước mà quay đầu lại thì cò súng ấn vào viên đạn tất chĩa về hậu phương. Nhưng khi đã quăng súng, lột áo quần giày mũ, rời rã về với cá nhân thì chỉ còn mong trốn chạy cho yên thân, núp vào đám đông mà trốn, chui vào sinh hoạt bình thường mà trốn, ở nơi người phổ ki bưng tô hủ tiếu cho khách, người chủ cà phê ghế, cả cái anh đang mơn mơn anh bộ đội gạ bán cái đồng hồ không người lái gốc Chợ Lớn kia nữa… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, sđd, trang 27]
Từ đó, ông giải thích lý do người dân Miền Nam phản ứng với chế độ Cộng sản bằng sự ưu ái công khai với tù nhân Trại Cải Tạo vì chính họ–không chỉ có thân nhân trong tù—cũng thuộc về quá khứ chung với đoàn tù:
– … Câu chuyện về cảnh đồng bào ùa ném quà bánh cho tù binh có thật nhiều, nhiều pha thật cảm động và cũng thật không ngoài tiên liệu của những người quản lí chúng tôi cứ phải di chuyển chúng tôi trong xe bít bùng vào đêm tối. “Trời sụp”, tai nạn tràn đầy, trên 25 triệu dân Miền Nam có ai là không có thân nhân phải vào trại tù? Đứa bé bán thuốc lá ném cả gói lên xe, có chút hi vọng nào là trong những người hút có cha của nó? Người vợ thầy giáo bộc lộ tâm tình son trẻ trong thư nghe đọc ở hội trường mà chúng tôi đã cười nhạo cợt, khi bán bánh kẹo ở bến xe, thấy một xe tù, dám tung cả rổ lên mà không tiếc chút nào! Lí thuyết giai cấp không đủ phủ nhận sự nghèo đói thời hậu-giải-phóng, thời đại đầy ước mơ của thời tiền-giải- phóng. Chạm trán với thực tế, người ta à một tiếng: “Cũng thế thôi!” Và bây giờ thì chỉ có chuyện biện minh – biện minh có sự phù trợ của sức mạnh. Sách vở, chữ nghĩa đâu có phủ lấp được đời sống! Bà già từng nuôi giấu cán bộ, chờ chực đến bao nhiêu ngày để xin cái giấy gì đó không được, chửi bới lung tung không kể gì bọn nguỵ dân cười thầm với nhau. Người trí-thức-một-chút ngơ ngẩn trước sự lệ thuộc tư tưởng đến trắng trợn, loại lệ thuộc không giấu diếm đã đành mà còn được hãnh diện khoe khoang. Chưa kể đến sự bàng hoàng cuống quýt vì thất nghiệp trước quan niệm “lao động là vinh quang” được hiểu với tính chất cầm cày, cầm cuốc, chọc lỗ, bới tay chứng tỏ một trình độ kĩ thuật kém cỏi đến mức họ không thể nào thích nghi được. Trong một hai tờ báo lọt đến tay chúng tôi, thỉnh thoảng có các câu chuyện xa gần đến sự quay đầu (về đâu?) của đám thanh niên tả phái cũ từng làm nổ tung thành phố một thời. Lí lẽ chê bai họ của chính quyền mới thật nhiều nhưng không đủ phủ nhận đuợc sự kiện. Còn chính sách bao tử kềm cho người dân ở mức độ bận tâm đến sinh sống hàng ngày khỏi gây nguy hiểm cho chính quyền, đem lại vững chắc cho điều theo lí thuyết gọi là chuyên chính vô sản, thì lại dẫn họ đến sự so sánh thực tế mà thốt nên lời mỉa mai: Gạo được trị giá ba phần khoai lang được gọi là gạo Ba lan(g), xe đóng hộp cá người xộc xệch trên đường đi gọi là xe Liên Xô – xô liên liên, liền liền… Người con gái gốc Sài Gòn mót lúa trên vùng kinh tế mới, trả lời tên cải tạo: “ Đúng là nhân dân làm chủ tập thể (tiền của, lúa gạo) nhưng mà nhà nước quản lí, anh ơi!” Đã bất mãn với hiện tại mà không mơ ước nổi tương lai thì người ta hay tẩn mẩn quay về quá khứ. “Luyến tiếc quá khứ” bị buộc là cái tội nhưng quyền lực nào xua đuổi được quá khứ? Quá khứ còn trước mắt họ không chỉ là căn nhà đổ nát, tàn tạ, con đường thưa vắng mà còn là nhúm người được tách ra như vi trùng nguy hiểm thành một cuộc sống “Việt Nam Cộng hòa nốidài”riêng biệt bên trong hàng rào dây kẽm gai, vọng gác… Với phần lớn thì chẳng ai có hành động gì tích cực mà chỉ có luyến tiếc thôi! Nhưng trên sự luyến tiếc ấy một tình cảm đẹp đẽ được trỗi dậy: người ta dễ tha thứ, khoan dung với những lỗi lầm đã qua và cảm thương cho sự thất thế, cùng khốn thấy trước mắt. Họ quên chuyện những “tên” cảnh sát đậu xe bít bùng bên hàng xóm, thân mình mang súng, lựu đạn cay, khiên mộc rầm rộ ngoài đường phố rượt đuổi đám thanh niên tay không chơi trò cút bắt với đại diện chính quyền, như một phần thể hiện sức trai trẻ thừa mứa cho lí tưởng. Họ quên đám lính lùng sục trong làng khi chạm trận thì cũng có thể quơ con gà, con vịt, xẻo vội cái đùi để con heo ba chân chạy trốn… Họ quên đám quan lính nhậu nhẹt nổ súng tưng bừng. Họ quên… Họ quên… Trước mắt họ bây giờ chỉ có sự tồi tàn sa đoạ, chỉ những gương mặt lầm lì, những bộ đồ rách tả tơi mà dù người bộ đội có thúc giục “Vui lên… Vui lên… Áo quần lành lặn vào” cũng không làm thay đổi được. Và từ đó quà bánh ném lên xe, không phải của những nhà giàu, nhà tư sản — họ đang trốn tránh, trong nhà riêng hay ở ngoại quốc — mà là từ những người buôn gánh bán bưng, những bà già lụ khụ với cái mẹt kẹo ruồi bu, những người mà lí thuyết không phủ nhận được tính cách tầng lớp thì lại chuyển lí luận trừu tượng về sự “tàn dư của chế độ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 198-200]
Không chỉ dân Miền Nam, dân Miền Bắc có dịp tiếp xúc với Tù Cải tạo cũng dần thay đổi cách đối xử với “bọn ngụy”:
… Giáo dục tinh ranh trong độc quyền phải mang lại hiệu quả. Chỉ đến khi có sự kiện lạ ngoài đường lối chung, sự thực khác đến mới làm lung lay hệ thống. Không có ý thức tích cực nhưng đám nguỵ thu nanh, cùn vuốt — dù là nanh vuốt cá nhân — cũng trở thành yếu tố tiêu cực làm rạn nứt hệ thống. Ừ, đám người mà sách báo, đài của Đảng, bài nói của cán bộ đều chỉ rõ ràng đó là những tên ác quỷ ăn gan uống máu người không tanh, hiếp dâm từ trẻ lên ba, cắt vú đàn bà, quăng ông già vào lửa rồi rú lên cười man rợ, đám ngưởi ấy sao cũng áo rách tả tơi, sao lù đù mà sao cũng có kẻ xốc vác, vui đùa, sao cũng biết thưa gởi, sao cũng biết nói tiếng cám ơn, tiếng nói mà dưới chế độ mới người ta đã quên? Hoàn cảnh cũng giúp họ một ít. Dân Miền Nam tiếp xúc với thần tượng mới, gặp những sự kiện bết bát không có một hệ thống truyền thông vĩ đại nào đủ sức cải chính, bèn quên ngay rằng bọn binh lính, viên chức cũ đã làm phiền họ nhiều, từng hoạnh hoẹ, nhậu nhẹt phá phách họ, cũng từng vác khẩu súng ra giải quyết chuyện kình cãi lặt vặt trong xóm làng, từng mặc bộ rằn ri bắt con gà đá ưa thích… Cái biến đổi của dân Miền Nam xảy ra mau hơn vì còn mối liên hệ ruột thịt với những tên bị làm dê tế thần cho chế độ sụp đổ. Nhưng tình cảm vốn là chung của con người. Cho nên bọn tù nguỵ cũng lần lần biến cải thành kiến của nhóm dân Miền Bắc tiếp cận với họ, chưa vướng víu sâu đậm vào “lí thuyết” của Đảng ta. Những người đi làm gần các vùng Mường, Thái… vẫn thường được cho ăn, tuy chỉ là khoai củ – họ còn có gì hơn để cho? … [Tạ Chí Đại Trường, K3, sđd, trang 416-417]
Người lính thất trận VNCH bị đẩy vào lịch sử với tội “ăn thịt người” và nhiều thứ tội tưởng tượng khác bởi những người Miền Bắc không biết chút gì về sinh hoạt hay cả tiếng nói của họ.
1.3.12 “Bớ lính”…
Tính chất lính VNCH của Tạ Chí Đại Trường lại được ông cho thấy trong bốn chữ “Hàng ngũ chúng tôi”:
… Trong lúc ấy thì chúng tôi cũng có vài tờ báo Tết bên ngoài gởi vào theo các gói quà, theo một vài cách mua đặc biệt mà những kẻ có tiền lanh tay lẹ mắt nào cũng kiếm được. Báo tất cả đều xuất xứ từ Sài Gòn. Dù là của chế độ mới, báo chí Sài Gòn vẫn có một cái gì quen thuộc. Hẳn không phải chỉ vì là của những người cũ chuyển hướng – dù là dưới quyền lãnh đạo của Đảng. Báo chí, sách vở Giải phóng ở một mức độ nào đó có những người tiếp xúc với thực tế ở Miền Nam không thể viết một cách trắng trợn như của Miền Bắc. Cái lối viết “không có ai cãi lại”, bất kể đến lí luận sơ đẳng nhất, do một lẽ giản dị là người viết không cần biết đến những thực tế tầm thường nhất. Đường lối Đảng hướng dẫn ngòi bút họ chứ không phải là sự thực. Trong các trang feuilleton ở báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, chúng tôi đọc vừa tức cười vừa bực mình với các đoạn tác giả cho lính, dân Miền Nam thưa với sĩ quan – có khi chỉ với thượng sĩ, là “Bẩm quan, bẩm ngài”, xưng là “con” ngon ơ!… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 130-131]
… Hàng ngũ chúng tôi, lính cũng kêu “trung uý, đại uý” chẳng bẩm lạy gì cả, và chúng tôi không như một vai kịch của đoàn Kịch nói Trung ương gọi “Bớ lính” như trong tuồng hát bội, chúng tôi đã thành thị hoá đến mức trở thành thô lỗ, du côn, chỉ sai lính trống không “Ê, mày đi lại đàng kia…” … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 140]
Ông nói quả không ngoa: cứ đọc một đoạn đối đáp trong Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) là thấy hiện ra mấy “hiện tượng” quái gở thượng dẫn. Ông tác giả này là… “Bắc kì giải phóng” chứ không phải “Bắc kì ‘tàu há mồm’ di cư 1954-1955” (mượn chữ Tạ Chí Đại Trường), nên đã có những câu nói gán cho một anh lính thám báo (lại thám báo!) Miền Nam gốc di cư lẽ ra phải dành cho chính ông (!) Đây là vài câu đối đáp của anh lính VNCH gốc Bắc di cư bị Kiên (và nhóm lính Miền Bắc) bắt được, theo Bảo Ninh:
-… Đột nhiên tên giọng Bắc rống to và vùng dứt khỏi đồng bọn, nhào xô tới quỳ xụp, ghé mặt xuống chân Kiên ư ử rên lên, và ằng ặc nấc lên, hắn quằn quại không thốt ra lời.
– Mày tình nguyện đi tiên phong à? – Kiên chọc móc súng vào trán hắn.
– Ối giời ơi? Con van ông, con van các ông. . . cho con sống! Cắn rơm cắn cỏ con lạy. Lạy các ông. . . ông ơi . . .
Tiếng tru tréo như xóc vào óc Kiên. Anh thúc một báng súng tống ngược tên ngụy ngã ngửa ra. Cú đánh như làm hắn bừng tỉnh, ngừng bặt kêu la. Hắn nhổm dậy, vẫn quỳ, lờ đờ nhìn Kiên, tay hướng tới anh. Từ vết thương ở trán một dòng máu nhóng nhánh chạy dọc xuống sống mũi.
– Em xin tình nguyện lấp huyệt. Các anh khỏi nhọc sức. Và em xin được tình nguyện được khai nhiều tin với cấp chỉ huy của các anh. Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại. Các anh không có quyền giết em… Không có quyền! Ối giời ơi, em lạy các anh rồi mà!..” [Bảo Ninh, Thân phận của tình yêu, trang 42-43, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn tái bản, 2005-In 1.000 cuốn]
“Cắn rơm cắn cỏ con lạy”?!!! “Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại…”?! Ối giời ơi/Trời ơi là trời! Bảo Ninh nhầm rồi: Cái “Đảng ta” này là của quý ông, xin tha cho chúng tôi thứ “ngư tiều vấn đáp” ấy, nhất là trong một tiểu thuyết có 2 chữ “tình yêu” ngay trong tên.
Sau cùng, Tạ Chí Đại Trường cũng được phóng thích khỏi trại giam do “Đảng ta” lập ra đặng bắt giam tất cả những kẻ chưa kịp…chạy đi và luôn nhiều kẻ dại dột chạy lại mà không khôn hồn chạy luôn. Ông theo “Đường trở về trần” vào “buổi trưa ngày 10-6-1981”. Cuốn sử ký có ghi lại tất cả những điều trên được bắt đầu vào tháng 9. 1981 và kết thúc vào ngày 5, tháng 6. 1982. Hơn mười năm sau, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài được Thanh Văn xuất bản tại Hoa Kỳ lần thứ nhất vào năm 1993. Việt Nam Cộng Hòa nối dài trở thành một thuật ngữ để chỉ sự tái xuất hiện tại hải ngoại của một số sản phẩm tinh thần thuộc Miền Nam trước đây. Trên phần đất Hoa Kỳ tự do, ông nghiên cứu, viết sách trở lại, tái gia nhập cộng đồng văn nghệ gồm giới di tản- vượt biển-vượt biên-H.O. – đoàn tụ tại Nam California. Không những thế, với thời gian, nhiều tác phẩm mới và cũ của ông vượt biên vượt biển trở ngược ra mắt bạn đọc trong nước, lần này được chính thức công nhận ngay từ giới sử gia trong nước. Có điều chắc chắn: ông không bao giờ ngừng bàn luận trong loạt sử mới về hậu quả điêu đứng mà chính phủ mới đã áp đặt lên dân Miền Nam, không bao giờ ngừng cảnh báo về nỗi điêu đứng ấy sẽ có thể xẩy ra trong tương lai.
Hình ảnh cuối tôi giữ về ông là một người cô lẻ, nhậy cảm nhưng giữ kín tâm sự (không hiểu vì sao lại có cảm tưởng đó). Một buổi chiều cuối năm, nhà văn Bùi Bích Hà và tôi đi sắm Tết tại một khu chợ tại Little Sài gòn. Đúng là chị ấy lôi đi vì tôi không thể đậu xe trong những ngày đông đảo có hội hè đình đám. Hai chị em mua bán đã xong, vừa định băng qua một con hẻm nhỏ thì chị Bùi Bích Hà kêu lên: “Ai như anh Tạ Chí Đại Trường?” Rồi gọi. Ông quay lại, tiến về phía chúng tôi, tay mang túi vải. Lập tức, chị Bùi Bích Hà xếp nào chả lụa, nào kẹo mè xửng, nào lạp- xưởng, nào trái cây vào túi chia cho ông. Còn tôi thì trông chẳng giống con giáp nào. Số là tôi đến thẳng chị Hà từ sở làm nên vẫn mang giầy cao gót. Mới qua vài cửa hàng thì gót giầy sụp xuống một kẽ hở giữa mấy viên gạch. Tôi phải mua vội một đôi dép– khổ lớn cho vừa nhưng, vì thế, quai lại quá rộng khiến giống Minnie Mouse– lê đi khắp nơi với đôi giầy trọng thương buộc vào lủng lẳng một bên tay, tay kia vòng ôm mấy bó hoa khổng lồ. Ông tiến lại gần hơn, đưa cho một túi giấy nhỏ (sau này mới biết là bánh đậu xanh) rồi cứ đứng đấy, không lùi lại. “Vâng, ông cho tôi xin”. Chợt nhớ ông đã cảm khái về hoa trong tù, tôi rút vài cành hoa cúc, hoa huệ, cành đào và cành mai đưa biếu: “Ông cầm lấy cho chị em tôi vui. Cung kính không bằng tuân lệnh.” Ông đỡ lấy hoa, tay kia nhận túi thức ăn từ chị Hà, ngần ngừ một lúc nhưng không nói gì hơn ngoài gật đầu, cảm ơn rồi quay đi. Chắc chắn ông biết tôi có ý khi tặng hoa (không ai lại tặng hoa cho một người đàn ông bao giờ) mà lại có cả hoa huệ lẫn cúc đại đóa.
Vừa lên xe, chưa an vị, chị Bùi Bích Hà đã lườm xiêu đình đổ quán:
-Đồ Điêu Thuyền! Vào trong mã tấu, ra ngoài tặng hoa!
Không thấy trả lời, chị hỏi lại: “Em đang nghĩ gì thế?” Tôi nói đang liên tưởng về thế hệ đàn ông trong đó có nhiều người bạn. Vào năm 1975, họ chỉ khoảng dưới 40. Như Tạ Chí Đại Trường. Như Tô Thùy Yên. Thế rồi họ bị bắt vào tù, mất một thời thanh xuân không bao giờ quay lại. Tôi đọc ông không đủ, ngoài cuốn sử ký tù ngục, nhưng ấn tượng sau cùng vẫn là loạt tiểu luận về chính sách không lịch sự của chế độ mới với dân Miền Nam, trong đó có phụ nữ, mà ông cập nhật với đầy đủ tin tức, như bài này:
– Người hải ngoại– ít ra là ở Mĩ –thì biết ai nói câu này. Người trong nước chắc là không, vì nếu có chú ý đến thời sự, đọc tin tức chỉ thấy các phái đoàn ta đi công cán ở nước ngoài đều gây được thành tích rực rỡ, đến đâu cũng được kiều bào – những người tốt – đón tiếp niềm nở, thân thương. Chỉ có người chứng kiến tại chỗ, không ghi lại trong báo cáo, mới nhận ra có bọn người xấu phất cờ la ó, xua đuổi, để ngạc nhiên thấy mình không được quỳ luỵ như ở trong nước, nên nhẹ nhàng vì không thể giận dữ quát mắng – trách: “Sao các anh thù dai thế?” Đó là lời của ông Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin nói ở Washington D.C. năm 2003. Lời nói chỉ nhắc đến “anh” mà không có “chị”, lộ ra một ý thức quyền đàn ông truyền thống bao trùm, nhưng thôi, chớ nên bắt bẻ thái quá.
Nhưng có thù có hận thì cũng phải sống trong thực tế, có lúc cũng quên đi, hay tưởng người ta quên đi. Và người người đi về Việt Nam (đi hay về?) Trong đó có tôi. Nhân cơn bệnh hoạn, hết xí quách, không làm việc nổi nữa, ráng đủ sức cầm tấm vé máy bay on sale, tiền nào của nấy, ê ẩm mình mẩy với với chuyến du hành vòng lên Alaska, trở xuống Kamichatka (hèn chỉ có lúc bị Liên Xô anh hùng vô địch bắn tan xác!) ghé Inchon (Nhân Xuyên) với mấy chú Củ sâm đánh lộn trong phi cơ trên bãi đậu, trễ đến 6 tiếng đồng hồ mới tới Tân Sơn Nhứt. Phi trường khuya về sáng, lưa thưa người, như một sân bay tỉnh lė. Những ngày lang thang trên đất quen mà lạ. Bởi vì đã là khách, lạ mà quen. Tờ mờ sáng, bận quần xà lỏn, bắc cái ghế ngồi nhâm nhi cà phê, đọc hết mấy tờ báo hàng ngày thì đường đã đông. Ngay trước mặt, chỉ cách vài thước, chắc là tám thước như của ông Tố Hữu, là cổng Bộ Công An, có lúc tự hỏi không biết vào lúc nào thì mình phải bước qua. Không. Tuy chẳng phải ăn cắp ăn trộm bẻ bí bắt gà nhưng thói quen áy náy vẫn cứ buộc mình thanh thản ở thế trông chờ. Không. Làm người dân của thời đại văn minh, không phạm luật – cả đến luật của nước người, khỏi vào Công an không phải là chịu một ơn huệ, tuy nhiên vì phép lịch sự vẫn thấy nên nói lời cảm ơn.
Nhưng vẫn phải hỏi “Sao các anh thù dai thế?”
Một buổi sáng mở tờ Thanh niên, thấy có chuyện về cái DVD hải ngoại “Tuyển lựa…” gì đấy mang hình các cô ca sĩ, mô-đờ trong nước bị công kích dữ dội nhiều kì báo, với thời mới có cả thư độc giả bốn phương imeo, imiếc nữa. À thì ra bọn xấu hải ngoại lúc nào cũng tìm cách bôi đen chế độ ta! Bọn xấu đó không nằm trong các thùng hàng gởi về tiếp sức lúc chế độ điêu đứng không phải vì bọn đế quốc thả bom. Chúng không in hình trên gần ba tỉ đôla trong năm vừa qua, như của trên trời rơi xuống mà thực ra có ý nghĩa như tiền chuộc tội cho hàng chục triệu con tin ngụy không kịp thoát chạy, bị nhà nước mới cầm giữ. Chúng không cố bám trong các tỉa dầu vọt lên từ biển Đông, tỉa dầu không có ở miền Bắc, nơi chỉ có nước lũ sông Hồng đi theo nền thống nhất tràn ngập miền Nam vì người ta phá rừng bừa bãi, lúc đầu là theo chủ trương khai hoang vỡ hóa của ý thức nông dân thời vua Hùng dựng nước, tiếp theo và dài dài đến nay là chủ trương di dân chiếm đất củng cố chế độ, theo sức mạnh công phá của những người “ăn theo” chiến thắng, những người quen sống bất hợp pháp trong một chế độ kềm thúc gắt gao (chui lọt thỏm giữa rừng sâu phá ra!), phải sống như thế mới tồn tại được. “Vào miền Nam, đẻ sướng!”, không quen với capote/condom để khỏi lo sợ có con, không sợ bị người khác dòm ngó phê bình, chuyện trên giường còn như thế kia mà! Mà hãy nhìn lại hình các cô được trưng dẫn. Tuy có nghèo, có thiếu vải, vì nhởn nhơ trên bãi tắm, nhưng không phải là không vải như chắc chắn là ở hình của hai cô cậu 21, 22 tuổi đóng phim X 16 phút cho người trong nước thưởng thức. Chắc chắn không nhiều vải hơn cô giáo đi thi thạc sĩ hở rún, hi vọng giám khảo nhìn nơi khác mà không chú ý đến bàn tay quay phim của cô. Thế thì căn cớ gì cứ chỉ vào mặt bọn hải ngoại? (…) Ngày trước, văn công của các ngài đặt ra câu vè muốn mang tính chất khêu gợi tình yêu nước, yêu dân tộc mà rẽ ra tinh thần kì thị chủng tộc và ngầm ý miệt thị người phụ nữ Việt: “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ. Em ở nhà lấy Mĩ nuôi con. Đến khi yên nước yên non, Anh về anh có Mĩ con anh bổng.” (…) Như chuyện người Đài Loan đi “con mắt” con gái Việt. Mà ngày trước Mĩ có lột truồng đàn bà con gái Việt thì chỉ trong bóng tối, tiền trao cháo múc chứ có đâu săm soi giữa thanh thiên bạch nhật dưới con mắt của bàng dân thiên hạ, để cân nhắc trinh tiết, cò kè bớt một thêm hai như mấy ông già Đài Loan bây giờ? Hay đó không phải là phụ nữ Việt? Chỉ là Việt của nguy? (…) Chưa nghe ai giải thích XHCN là Xấu Hơn Cả Nguy ư? Sao phải cần là ngụy mới xấu? Vậy thì “thù dai” chỉ là cái cớ che đỡ, một mặc cảm của sự chiến thắng không toàn vẹn, càng lúc qua sàng lọc của thời gian càng bộc lộ những che giấu xưa, vì sơ hở hay vì đầy tự tín nghênh ngang, để xem “ai làm gì ai nào!” Kỉ niệm Điện Biên Phủ oai hùng “chấn động toàn cầu” ghi dấu cho tương lai bằng việc tách ra lập tỉnh Điện Biên, với khí thế hào hùng ngút trời, văn chương tuyệt đỉnh, chỉ có ông già gần chết Trần Văn Giàu là nhắc tới ngoại viện (hay một chữ gì tương tự, quên mất) chung chung, chứ sử gia tò mò quen thói phản động mới thấy thung lũng Điện Biên trở thành hẩm sụp chiến tranh chỉ vì Việt Minh có súng lớn từ Trung Quốc đưa sang, và nay lại biết thêm rằng có cả cố vấn điều khiển bắn nữa — nghĩa là suy thêm, còn là chuyện cố vấn “hò kéo pháo” tuy thân chèn pháo là của người khác! Và sau này có “chuyên gia nước bạn” vào tận chiến trường Miền Nam tính toán, điều hành tiếp liệu… Đến lúc nào thì ta biết thêm được điều gì khác nữa? (…)
Không thể hối hận vì đã ra đi khi nhìn những người ở lại. Đành rằng sự kế tục thế hệ có thể làm cho một lớp người phải lùi vào bóng tối nhưng ở đây không chỉ là sự hủy hoại của thời gian. Người trở về còn thấy quá khứ của mình nơi người ở lại, đã rủi ro ở lại với một sự nhẫn nhục cam chịu trong cuộc sống lầm lũi, trong những nỗi bực dọc không lời. Và có cả nỗi ân hận xót xa vì sự hiện diện của mình đã gợi lại sự thất thế tủi nhục mà người ở lại dằn nén từ lâu, đã tưởng quên đi trong tê diếng của cuộc đời lỡ bước với những thăng trầm không tùy thuộc bản thân. Ân hận với cả những lớp người mới mà hiện thực không đủ sức ghìm giữ ước mơ. Có thể coi đây là chuyện cá nhân, nhưng đời sống không phải chỉ là lí tưởng cao vời tự đặt để để rồi ép buộc người theo. Giữa cảnh rộn ràng tiễn đưa, tôi chỉ loáng thoáng nghe cô cháu gái ngày thường nhí nhảnh, nói giọng trầm trầm: “Con muốn ông mang cái vali thật lớn bỏ con vô, qua Mĩ…” Sau này mới nhớ là đã hai lần lặp lại. Và giật mình. Trong những ngày rộn ràng gặp gỡ, huyên thuyên kể chuyện xứ người, không ngờ đã làm khuấy động một cuộc sống đang bình yên. Chắc thời điểm chia tay đã làm cảm xúc thành lời. Nhưng ước mơ vừa thốt ra là đã thấy ngay tuyệt vọng. Sao tôi lại phải là người gây nên nông nỗi ấy? Với tuổi trẻ, và với thực tế, cô cháu rồi sẽ trở về với cuộc sống thường nhật nhưng tôi có nên lại gây nên xáo trộn lần nữa không? Đi/Về đâu có phải là giản dị như những đầu óc khô cứng tưởng nhìn ra cái cớ cho sự kiêu căng không dời đổi về sự chiến thắng của mình, để trút trên đầu lũ người thất thế rồi cứ nghênh ngang dửng dưng lên tiếng giả vờ ngạc nhiên “Sao các anh thù dai thế?”
Những người quen với cuộc sống hoà hoãn, văn minh có thể không bằng lòng với cảnh tuột quần, chổng mông, chửi tục… nhưng nếu đừng quên chuyện cũ được nhắc nhở bằng sự chịu đựng những tấn công trước mắt, liên tục của quyền lực ở bên kia, từ thực tế đổi thay dẫn đến gần như là tuyệt vọng, những người đó có thấy cả một thương cảm, với cả chính mình không? Lưu dân nào thì cũng không thể là một khối đồng nhất huống chi là lưu dân tan tác vì chính trị của thời hiện dại. Hãy nhìn xem từ phong trào Thiên An Môn mà Nguy Kinh Sinh và Vương Đan chống đối nhau. Dân Trung Hoa còn có hai thực thể địa vực Lục dịa và Đảo quốc để ai có phe người nấy, chứ còn lưu dân Việt thì chỉ có đất người mà cứ tự an ủi là xứ tạm dung, với cuộc sống mất dần về phía đất khách và sự tấn công từ quê hương cũ. Họ phản đối người gởi tiền về, họ chống đối người trở lại, rốt cục chính họ cũng phải gởi cho người thân và lò mò im lặng về (…) Các chính sách “kiều vận” và vừa qua, Nghị quyết của Bộ Chính trị về sự nâng đỡ người Việt Nam ở nước ngoài với những hiểu biết kém cỏi về tương quan quốc tế, với những rơi rớt của tinh thần tiến công liên tục, trông chúng như một mặt trận đuổi tận giết tuyệt trong hồi chót đến những người đã trốn chạy xa, thật xa nhưng vẫn không có cách nào rời bỏ trái đất, đồng loại. Có cần hỏi vì “sao các anh thù dai thế” không? Ý thức lấn lướt, không nhường bước không chỉ dừng lại ở người sống. Nó cần đến cả các xác chết, cần giết người đã chết nếu đó là dịp để vinh danh chính nghĩa cao vời của phe mình.
Kỉ niệm Điện Biên Phủ, người ta lôi ra người đội trưởng công binh thời ấy, là con của Thủ Tướng / Tổng thống Trần Văn Hương của “chế độ cũ”. Lại có dịp cho người ta nói đến “sự ăn năn muộn màng của người cha” và “sự ưu việt của chế độ ‘dánh kẻ chạy di chứ không đánh người chạy lại””. Tuy nhiên người ta vẫn ghi lại những lời “sám hối” (chữ của báo Công an TP. HCM) của ông, nghe như phát xuất từ các trại cải tạo khoan dung của “Cách mạng” lập ra cho “những người chạy lại”. Không thấy nhắc tới chuyện ông già nghe nói bị ung thư, đã từ chối không nhận quyền công dân của chính quyền mới, cho đến khi người lính cuối cùng của ông trong trại giam trở về nhà. Chỉ nghe nói chính quyền cho phép người con “về ở cùng cha mình để chăm sóc cha lúc tuổi già cho đúng đạo lí làm con của người Việt Nam” mà không thấy nói đến nỗi điêu đứng của người con trên đất Bắc nếu, hình như, Bộ trưởng Ung Văn Khiêm không che giấu giùm ông. Không chỉ ra chuyện con gái Thủ tướng Huỳnh Tấn Phát vẫn học trường Gia Long, ngôi trường nội hoá sang nhất thủ đô Miền Nam. Không nói đến con trai ông ta vẫn đậu tú tài để đi vào Thủ Đức như mọi công dân khác, để so sánh với tình cảnh điêu đứng ở Miền Bắc của vợ con ông Ba Quốc / Đặng Trần Đức, người điệp viên tài ba tuyệt vời làm việc ở Phủ Đặc uỷ tình báo, không cần chút công lao đánh phá Cách mạng mà vẫn được tín nhiệm, xúi người này người nọ đảo chính, nắm được các tài liệu bí mật nhất để sao chép chậm chạp theo lối bán thủ công mà kẻ địch không hay biết! Về mặt nghiệp vụ thì sự đàn áp kia là để che giấu công tác của người bình thường khác. Một nửa sự thật không phải là sự thật nhưng người ta có thể sử dụng nửa sự thật chế tạo để sơn phết mình trước người đương đại, từ “chân lí” đó vinh danh mình trong lịch sử, để vùi dập kẻ thù thất thế đến tận đất đen. Nói làm gì đến kẻ thù, có thể mà không chịu buông tha. Có khi không phải chỉ vì hận thù – thắng thì cũng hả rồi, chỉ còn chút áy náy là không đày đọa tiếp được “chúng nó” nữa, là không bằng “chúng nó”. Không buông tha vì thói quen phải có đối tượng để bày tỏ quyền uy. Ở đây không có chuyện phe phía như một chức quyền đã trả lời anh bạn “Việt kiều” trẻ “Sao thắng đã lâu, quyển bính đã vững mà vẫn cứ ngụy này ngụy nọ mãi”: “Thì họ vẫn gọi chúng tôi là Việt cộng đó sao?” Ông quan mới này vẫn không thấy mình cầm quyền ở một nước mà cứ khăng khăng là chỉ của một phe, phe cộng sản, phe thắng. Người phỏng vấn ông Tô Hoài thì hẳn không coi ông ta là ngụy, mà đích danh là của “phe ta”. Hỏi như thế nào? Đại khái, sao trước 1945 được nổi danh là những người ngang tàng mà sao sau đó lại co đầu rút cổ. Ơ kìa, ai làm cho ông ta trở nên hèn nhát? Chẳng phải là bởi chính chế độ của người phỏng vấn đang phục vụ đấy sao? Không thấy ra cái nhục của mình khi đặt câu hỏi mà cũng không chỉ thấy cái nhục của người bị hỏi. Trong tận cùng chỉ là nỗi hả hê của kẻ cầm quyền được bày tỏ quyền uy, được có dịp làm nhục kẻ dưới quyền mình. Thế thì kẻ ngụy cũng không nên thù dai nữa, để ông Nguyễn Đình Bin được bằng lòng sống với đám dân đang thù mà không được phép, không có dịp nói ra cho ông rõ. Có ai như anh thanh niên ở Bình Định dằn đạp lên “lá cờ Tổ quốc” thì bắt bỏ tù nó là xong!
Này cháu gái bé, nếu để dành được tiền vé máy bay, ông lại sẽ về, không phải để cháu thoả mãn ước mơ mà là để cho cháu quen thuộc với khổ tâm rồi đủ sức đương đầu với cuộc sống chắc chắn sẽ còn nhiều gian truân lâu dài của cháu.- 4-4-2004 [Tạ Chí Đại Trường. “Sao các anh thù dai thế?” Không chỉ là chuyện thời sự hay cá nhân”, Văn Học, số 217, trang 66-75, tháng 5.2004, Hoa Kỳ – https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_217?mode=window&viewMode=doublePage]
Tạ Chí Đại Trường sang đây với nỗi buồn xa xứ. May mắn thay, trong cái điêu tàn có cái phục sinh. Ông được tự do đọc, tự do viết bù lại bao năm mất tự do. Ông gặp gỡ và kết thân với bạn cũ bạn mới. Trong số đó, Phùng Nguyễn, nhà văn kiêm thương phế binh VNCH, sẽ là người bạn trẻ chung lý tưởng đến cuối đời. Phùng Nguyễn đả phá huyền thoại “Lính thám báo/lính ngụy ăn thịt người”, thứ huyền thoại đã xâm nhập vào tiểu thuyết của nhà văn Miền Bắc, song song với tin tức được cấp phát cho người dân Miền Bắc.
Những nhà văn và nhà báo này phấn đấu hầu như vô vọng. Sự kháng cự của họ bị bỏ quên ngoài quê hương, số phận của họ được ngụy trang bởi chính phủ đương thời nhằm đánh lừa dư luận thế giới. Những gì đang diễn ra ở Việt Nam là một chương mới đáng xấu hổ trong lịch sử nhân loại, là một thách thức đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới và đối với hàng ngũ trí thức tại mọi quốc gia …
Ngày 2 tháng 10, 1980-Paris Nhà báo/Trung Tá Không quân Trần Tam Tiệp Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm Tù 1979-1995
&
Người ra đi người đến phương nào như mây bay lang bạt trời sầu từ núi từ sông từ biển lớn nhìn người đi hay nhìn mai sau…
1991 –Sài gòn Nhà thơ/cựu quân nhân Khoa Hữu, Tiễn bạn diện HO đi Mỹ. Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Tìm đâu cho thấy cố nhân Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương… [Nguyễn Du, Truyện Kiều]
50 năm 1975-2025.
Vận mệnh nào dành cho người lính, cho một quân đội đã chiến đấu để bảo vệ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa? Họ đã bỏ mạng tại chiến trường? Bị giam giữ? Bị đẩy sang rìa xã hội? Lìa tan người tình, người vợ? Tàn phế? Chấp nhận lưu xứ vì không thể trú thân trên quê hương? Không nhận được chân dung chính mình tái hiện trên các trang giấy nhân danh nghệ thuật và sự thật của từ kẻ cựu thù trên trận mạc đến vài người từng cùng chiến tuyến vì đầy những điều man trá? Những viên đạn bắn đi có thể kết liễu đời họ trong tích tắc, nhưng những viên đạn mệnh danh những điều man trá ấy sẽ lưu lại mãi mãi trên hệ thống thông tin, trước đây giới hạn vào một quốc gia, nay đã toàn cầu.
Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa cũng từng có một nền văn học với nhiều nhà văn thuộc Văn học Miền Nam phục vụ trong quân đội. Sau 1975, họ bị bắt giam cũng vì không chỉ là người cầm bút mà còn là người lính. Tác phẩm bị cấm phổ biến. Giới quân nhân, kể cả vô số văn nghệ sĩ, bị giam giữ. Huyền thoại thời lập quốc của 50 con lên rừng và 50 con xuôi biển tái diễn. Ngàn ngàn người bị giam trong các trại Tù Cải Tạo dựng tại Miền Nam và vùng rừng núi tại Miền Bắc. Ngàn ngàn người vượt biển vượt biên. Một số–cả dân cả lính– bỏ nước sang Hoa Kỳ (Mỹ quốc) hay các quốc gia khác theo vài chương trình nhập cư khác nhau mà chương trình nổi tiếng nhất vẫn được biết đến thông thường là “Diện H.O.”. Diện này, bao gồm người tù chính trị và người lính (chiếm đa số) cùng gia đình, là một chương trình nhân đạo do chính phủ Hoa Kỳ thành lập, thực hiện vào đầu thập niên 90. Từ đây, họ hòa vào cộng đồng tỵ nạn và di dân người Việt. Dấu vết về lý lịch của chương trình H.O. vẫn để lại, không chỉ trong sự đóng góp chung mà còn trong văn chương. Nhà thơ Khoa Hữu, cựu quân nhân VNCH, từ giã các bạn bằng bài thơ
Tiễn bạn diện HO đi Mỹ
Người ra đi người đến phương nào như mây bay lang bạt trời sầu từ núi từ sông từ biển lớn nhìn người đi hay nhìn mai sau
Cả không gian coi hẹp dưới chân nhưng thời gian là sợi máu hồng buộc tương lai vào ngày bất tử buộc con người vào đất quê hương.
Người ra đi sao người ra đi bốn nghìn năm lịch sử nằm nghe tám mươi năm bước chân xiềng xích những đau thương theo gió gọi về.
Ta tiễn người hay tiễn đời ta những ngày những tháng cắt thịt da ôi trái tim của thời nô lệ như vết thương đau mãi không già.
Người ra đi và người ra đi ba mươi năm huyết nhục còn nghe dù nước Cửu long mài gươm bén dù đá Trường sơn dựng lời thề.
Viên đạn nào trong trí nhớ tôi hay dấu bom xâm trên hình hài là vết thương của nghìn sự thật là lương tâm Việt Nam, một mai…
[Khoa Hữu, “Tiễn bạn diện HO đi Mỹ”, tạp chí Văn Học số 68, trang 7, tháng 10. 1991, California, Hoa Kỳ]
Khoa Hữu (Ngô Đình Khoa, tháng 8. 1938-tháng 4.2012), Sài gòn, gửi sáng tác ra ngoại quốc. Tôi nhận được tờ Văn Học có bài thơ này trong một bao thư gửi qua địa chỉ Khởi Hành vào năm 2005. Nhiều tiếp xúc tương tự xác nhận ba vị thế của người lính VNCH: cầm súng, cầm bút và hoạt động sau khi không còn cầm súng. Giới cầm bút hai miền đã phán xét ra sao về giới nhà văn Miền Nam cùng tác phẩm của họ trước và sau ngày bị phần thư? Và về quân lực ấy sau ngày bị ra lệnh buông súng?
Lần này, tôi sẽ chọn các phát biểu về người lính VNCH và người dân Miền Nam của 3 cựu quân nhân cầm bút Miền Nam làm tiêu đề theo 3 tiêu chuẩn: hoặc là nhân chứng qua hồi ký hay nghiên cứu, hoặc về một vấn đề chưa được chú ý đúng mức; hoặc phát biểu về đồng đội của họ mà đủ quan trọng để đáng được khai triển. Trước hết, trong phần thứ nhất, tôi sẽ đề cập đến sử gia/Đại úy biệt phái Tạ Chí Đại Trường. Kế đó, là nhà văn/nhà tiểu luận/thương phế binh Phùng Nguyễn rồi nhà văn/họa sĩ/sĩ quan biệt phái Trương Vũ. Cả hai đều bắt đầu hoạt động văn nghệ tại Hoa Kỳ và không bị giam say 1975. Không kém phần quan trọng, tôi cũng sẽ trích dẫn phát biểu của nhân chứng trong đó có vài nhà văn thành danh Miền Nam, kiêm tù binh Cộng sản, liên quan đến các vấn đề thượng dẫn. Phần I này rất cần thiết để dẫn vào Phần II, phần hoạt động của Trung tá Không Quân/nhà báo Trần Tam Tiệp, Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù (1979-1995) và Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Cuộc nghiên cứu này chỉ có một mục đích: Góp phần vào việc tái tạo chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua nhân chứng và tài liệu thu thập khoảng hơn 30 năm nay từ đồng đội tới đối thủ của họ. Thế nên, tôi thỉnh cầu những người được nhắc đến, độc giả và các bậc thức giả xa gần chỉ giáo cho những sai lầm và thiếu sót hầu chân dung ấy được đậm nét hơn. Bài này cũng là bài đầu trong hành trình ngoái nhìn 50 năm lìa xứ.
I-Người lính Việt Nam Cộng Hòa Khi thất thế tên rơi đạn lạc/Bãi sa trường thịt nát máu rơi/Bơ vơ góc bể chân trời/Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?[Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh]
Tôi không ngạc nhiên khi tiểu sử một số người cầm bút thuộc Miền Nam không thấy ghi rõ ràng thời gian phục vụ cũng như cấp bực trong Quân lực VNCH một cách chi tiết. Thí dụ như Khoa Hữu hoặc Tạ Chí Đại Trường. Tôi không cách nào tìm được tin tức tại ngũ với binh chủng phục vụ của nhà thơ Khoa Hữu, trong khi nhiều bài thơ của ông nhắc đến những địa danh từng nổi tiếng là nơi ác chiến một thời. Thật hết sức đáng tiếc. Tôi may mắn hơn với Tạ Chí Đại Trường. Bức ảnh ông nhìn nghiêng, mặc quân phục Bộ binh—có bảng tên, gắn 3 bông mai đen tượng trưng cho cấp bực Đại úy, ló một chút áo trắng bên trong quân phục như vẫn thấy nơi các quân nhân khác1— vẫn luôn luôn là một phần đời lưu lại của ông.
Ông tốt nghiệp Khóa 18, Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức vào năm 1964 khi trình luận án Cao Học tại Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Sài gòn. Thoạt đầu, ông phục vụ tại binh chủng Thủy quân Lục chiến, giữ chức Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết, rồi chuyển về Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu, Sài gòn. Nhiệm sở cuối là giáo sư biệt phái ngoại ngạch tại Trường Trung học Tân An, Long An, nơi ông tiếp tục chứng kiến những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Nhà thơ Lữ Quỳnh cho biết giai đoạn đầu khi Tạ Chí Đại Trường mới nhập ngũ:
– Năm 1964, lần đầu tiên tôi gặp anh Tạ Chí Đại Trường, sau khi chúng tôi rời trường Bộ binh Thủ Đức để về trường Quân Y học giai đoạn 2, ngành Hành chánh Quân y. Cùng thời gian này anh học cao học, chuẩn bị lấy bằng Thạc sĩ và đang sưu tập, nghiên cứu về tiền cổ. Anh từng cho tôi xem những đồng xu mà anh sưu tập được. Trường là người kín đáo, có lẽ do bản tính của anh. Ngày chọn đơn vị phục vụ, anh và tôi có tên sát nhau và đều cùng muốn chọn Đại đội Quân y Thủy quân lục chiến ở Thị Nghè. Với tôi chỉ vì muốn ở Sài Gòn, trong khi anh cần ở đây để học và viết cho xong luận văn Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802, mà bấy giờ tôi hoàn toàn không biết… [Lữ Quỳnh, “Tạ Chí Đại Trường-Đời thường”, ngày 4 tháng 4.2016, https://hopluu.net/a2807/ta-chi-dai-truong-doi-thuong ]
Tiếp đó, Phan Chính cho biết về giai đoạn thứ hai cho đến tháng 4.1975:
– (…) Tôi có cơ may sống bên anh tại Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch từ khoảng đầu năm 1969 đến năm 1972. Đơn vị này đóng bên cạnh phi trường quân sự Phan Thiết (Bình Thuận) có tên Camp ESEPIC, xung quanh là bãi tha ma nối dài đến Bia đài- Cổng Chữ Y, cách trung tâm thị xã Phan Thiết khoảng 3 cây số. Khi Tạ Chí Đại Trường từ một đơn vị quân y của Thủy quân lục chiến về với cấp bậc Trung úy, là sĩ quan hành chánh quân y. Anh được giao chức vụ Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện. Dáng người anh cao lêu nghêu, lại đeo kính cận không có gì mang vẻ một người lính của binh chủng dữ dằn với bộ quân phục rằn ri như lúc mới trình diện (…) Thực ra công việc hành chánh cũng khá nhàn nhã, trừ khi nghe tiếng trực thăng Shinook đáp xuống khoảnh đất cạnh Quân y viện với hàng chục chiếc băng ca chuyển lính trận bị thương về mới thấy chuyện bận rộn, kinh hoàng. Khi nghe Hồ Tà Dôn, một nhà thơ trẻ trong nhóm văn nghệ ở Phan Thiết, ở Phú Hài vừa san ủi đất công trình đã lộ ra một số chum sành có nhiều đồng tiền cổ,Tạ Chí Đại Trường vội đến ngay, không biết bằng cách nào anh xin được vài chục đồng tiền điếu, có xu đã mòn hết chữ nhưng cẩn thận xếp vào valy sưu tập cất ở đầu giường. Sau này, không hiểu sao valy tiền cổ bị mất cắp, anh như người mất cả hồn phách, rồi cạo trọc đầu và trông anh thất thểu. Trong quân đội cấm lính để râu, cạo trọc nhưng là đơn vị chuyên môn cho nên cấp trên cũng lờ đi (…) Đến năm 1970, Tạ Chí Đại Trường nhận được giải thưởng văn chương toàn quốc với tác phẩm “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802”, đây là luận văn cao học của anh từ năm 1964 nói về cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Đến năm 1971 với tên tuổi về tác phẩm này mà anh được điều về Ban Quân sử của Bộ TTM ở Sài Gòn. Đời lính từ nơi đối mặt với chiến trường, rồi về một bệnh viện quân y tưởng yên ổn nhưng lại phải thường xuyên ám ảnh cảnh chết chóc, những chiếc quan tài vội vàng bọc lớp tôle kẽm mỏng giao cho thân nhân hoặc đưa chôn ở nghĩa địa. Đêm đêm nghe tiếng rên rú của lính trận bị thương … mà nay được về Sài Gòn, ai cũng mong được vì đó là chỗ nương thân không gì bằng, nhất là đối với những người luôn sợ hãi chiến tranh. Có người nói do nội dung tác phẩm được giải này mang nội dung đề cao vai trò lịch sử của Gia Long, hạ thấp Quang Trung mà anh gặp nhiều rắc rối sau ngày giải phóng. Theo tôi, với cái lý lịch sĩ quan ngành quân y thì cũng được nhìn nhẹ nhàng thôi, nhưng đúng hơn có một phần chịu tiếng là một “sử quan” ngụy quân càng thêm nhiều nỗi thăng trầm, là thế! [Phan Chính, “Khó Quên Những Ngày Tạ Chí Đại Trường Ở Phan Thiết!”, Tạp chí Hợp Lưu, ngày 4.4.2016 – https://hopluu.net/a2803/kho-quen-nhung-ngay-ta-chi-dai-truong-o-phan-thiet-]
Quân Y viện Đoàn Mạch Hoạch được đặt theo tên của Y sĩ Trung úy Quân Y Đoàn Mạch Hoạch, bị trúng đạn tử thương tại một tỉnh Miền Trung vào năm 1964, khi tiếp cứu một thương binh ngay tại trận chiến. Phần đời trong quân ngũ đó sẽ thấp thoáng trong vài cuốn sử của ông sau 1975 và giải thích lý do ông thương tiếc một sĩ quan sử gia, có thời cùng hợp tác với tạp chí Bách Khoa, tuẫn tiết. Phần đời ấy cũng kết thúc khi ông bị bắt giam cùng với khoảng trống của Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa do Đại tá Phạm Văn Sơn — (1915-1979, Trại Tù Cải tạo Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú), Trưởng Khối Quân Sử, Phòng Nghiên Cứu — đứng đầu. Khoảng trống này sẽ giúp người Cộng Sản trở thành bá chủ trong Bộ Môn Quân sử sau 1975, một thực tế mà các sĩ quan sử gia/ Khối Quân sử VNCH sống sót như Tạ Chí Đại Trường phải đối đầu. Khối Quân sử VNCH đã xuất bản nhiều tác phẩm về cuộc chiến tranh 1954-1975. Tôi may mắn giữ được 1 bản về cuộc Tổng Công kích Mậu Thân thất bại của Miền Bắc vào Miền Nam. Cho tới nay, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, cuốn sử ký lưu lại khoảng đời tù ngục hình như vẫn chưa xuất bản tại Việt Nam (?). Nếu đời tù của ông chấm dứt vào năm 1981, thái độ chống lại Chủ nghĩa Cộng sản cũng bắt đầu kết tinh bằng thời điểm ấy. Không chỉ bằng tác phẩm hậu-1975, ông đã bầy tỏ công khai căn cước quân nhân bằng lá thư ngỏ “Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia” khi tự nhận “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà” trước tư cách “sử gia” trong trường hợp này:
-Westminster ngày 4 tháng 5 năm 2010
Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia.
Lý do:
Đây là một tồn tại lịch sử từ một vùng đất (nửa nước), một thời gian (20 năm) có công nhận quốc tế. (Bằng lòng hay không thì cũng đã có một “quốc tế” bao gồm những nước công nhận Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện tại.)
Là một dấu tích lịch sử như những dấu tích khác đang được Nhà nước CHXHCN Việt Nam sử dụng: Dinh Norodom / Dinh Độc lập / Dinh Thống nhất… đã được sắp vào hạng 10 trong 10 di tích, chưa kể Toà Đô chánh Sài Gòn / Trụ sở Uỷ ban Hành chính Tp. Hồ Chí Minh, hay các xây cất mang chức năng hiện đại ở các vùng, thành phố thuộc Việt Nam Cộng hòa cũ…
Đây cũng là tưởng niệm duy nhất còn lại của một phía về những người lính, người Việt Nam, đã chết trong chiến tranh – tuy nhỏ nhoi, ít ỏi hơn những nghĩa trang liệt sĩ của phe thắng trận đang đứng chân hàng hàng lớp lớp trên đất nước Việt Nam.
Sự công nhận này là một hành động văn minh học được của thế giới ngày nay như khi công nhận, bảo trì Mĩ Sơn của người Chàm, khu phố Hội An gốc của người Hoa và người Nhật, cũng như trở lại giữ gìn thành trì lăng tẩm họ Nguyễn có lần đã bị bỏ luống, tàn phá, trở lại tiếp nối hành động văn minh của triều Nguyễn khi cho người coi sóc lăng tẩm các vua Lê…
Lời đề nghị có ngày tháng nên trước tiên là với Quốc hội CHXHCN Việt Nam hiện nay. Vì quan niệm chế độ nào rồi cũng qua, chỉ có đất nước là tồn tại nên lời ghi “Quốc hội Việt Nam” là để dành cho những lần mai sau liên tiếp một khi yêu cầu chưa được thỏa mãn.
Ôngkèm thêm tin tức cập nhật về Nghĩa trang Biên Hòa và một viễn tượng bi quan nếu nhà cầm quyền không bảo vệ di tích này:
–Lời bên lề
Nghĩa trang Biên Hoà nay gọi là Nghĩa trang Bình An, thuộc quyền quản lí của Uỷ ban Hành chính huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ việc Chính phủ CHXHCN Việt Nam chuyển quyền quản lí từ quân đội sang bộ phận hành chính, có người, cả trong nước, đã coi như một cử chỉ hoà giải để địa điểm khỏi bị xoá vết tích như trường hợp Nghĩa trang Gò Vấp. Tuy nhiên vấn đề vẫn dẫn tới những nguy cơ tuyệt tích khác. Những người có liên hệ đến Nghĩa trang mà ít phải dè dặt thường là ở ngoại quốc, nay cũng đã già rơi rụng, lớp người nối tiếp hẳn rồi cũng phải chật vật bon chen trong cuộc sống với căn cước mới, không thể quan tâm lâu dài đến những mồ mả hoang vắng ở một nơi nào đã trở thành xa lạ với họ. Mặt khác, sự phát triển kinh tế sẽ khiến cho dân chúng xâm phạm mồ mả, cất nhà, kinh doanh trên ấy để rồi gặp một chính quyền địa phương có “sai lầm về nhận thức” sẽ ra lệnh tịch thu, tiếp tục sự phát triển dành cho Nhà / nước mình. Phải là người tại chỗ, một quyền bính tại chỗ có cam kết ở bậc cao nhất mới may ra còn hi vọng níu kéo sự tồn tại của nó. Vì thế mới nảy sinh lời đề nghị trên. Và vì đề nghị – có thể mang sơ sót về văn từ, ý tưởng, nhưng là có đối tượng cụ thể (Nghĩa trang Biên Hoà và Quốc hội Việt Nam), nhắm vào một mục tiêu chưa thấy khả năng thực hiện nên chúng tôi sẽ không quan tâm đến những bàn tán, theo hay chống, đến từ bên ngoài. Xin cáo lỗi trước. [Tạ Chí Đại Trường, sđd]
Ông rời Miền Nam ngày 2 tháng 8. 1994, sang tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ. Lời Đề nghị này ký vào tháng 5, năm 2010. Như thế, hơn 15 năm sau, ông vẫn đồng hành với những đồng đội bị truy diệt tới cả nơi an nghỉ. Lúc ấy, tôi còn nhớ đã đọc bản đề nghị này trên một tờ báo chợ trong một quán ăn đông đảo người qua người lại. Buổi chiều không nóng nhưng hơi oi bức. Mấy chữ “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa” nhẩy khỏi trang báo, khiến tôi phải đọc lại vài lần. Người bạn mang cho cả nhóm xem, trầm ngâm: “Viết thế này không biết họ có đọc không? Họ có làm gì không. Chắc là không.” Ai cũng hiểu “họ” ở đây là những người nắm quyền tại Việt Nam.
Ø Tác giả và tác phẩm: một khoảnh tự do nối dài bằng một khoảnh tù ngục
Tạ Chí Đại Trường cao dong dỏng, vẻ khắc khổ vì nụ cười âm thầm dù rất tươi, lông mày lưỡi mác, miệng rộng, có sôi nổi đến đâu cũng chờ đến phiên mình, không cướp lời bạn hữu. Ông viết cay, cái cay của một lối châm biếm hơi lộ, mà nói cũng cay không kém. Ông từng tặng tôi mấy chữ “Đồ Bắc kì răng đen mã tấu” sau khi tôi có loạt bài phản đối một số phát biểu của ông về sinh hoạt chính trị, văn nghệ của người tỵ nạn tại California. Chưa hết, không những phạm húy ông, tôi còn một loạt bài phạm húy vài người trong nhóm bạn thân ông. Tôi gửi lời nhắn, Cảm ơn lời khen, nhưng “Mã tấu thì có. Răng đen thì không”. Tại sao lại là “lời khen”? Nói cho công bằng, ông không tin nhà thơ (chủ nhiệm Viên Linh), hay bất kỳ ông nào, viết thay hay đưa ý cho tôi khi những lời bàn tán của người khác đến tai liên quan đến các bài này. Ông đã biết Viên Linh từ Sài Gòn, sang đây lại đọc Khởi Hành thường xuyên (có lần đã trích dẫn một bài viết từ Khởi Hành) nên chẳng bao giờ nghi hoặc về trách nhiệm của tôi. Từng sinh hoạt trong sinh hoạt báo chí Miền Nam– mà ngày nay Trần Phong Giao (Thư ký Tòa soạn tạp chí Văn) và Viên Linh (Thư ký Tòa soạn tạp chí Nghệ Thuật và Khởi Hành-Sài Gòn) thường được nhắc đến– ông đủ tinh tế để phán đoán và thừa kinh nghiệm để tránh lỗi của một người chưa bao giờ lai vãng đến nền văn học ấy hoặc/và vẫn bó mình vào ngõ cụt của những nhóm đoàn văn nghệ.
Ông còn biết đến tôi qua 1 việc không tình cờ: Cùng có bài trên Xưa Nay, tạp chí “Chuyên đề về Lịch sử Việt Nam của Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam”. Bài “Phan Khôi dịch Kinh Thánh Tin lành như thế nào” của tôi được chọn đăng thành 2 kỳ trên các số 429 và 430 vào tháng 6. 2013. Tên của bài còn được là 1 trong 2 bài ra bìa số 429, một hân hạnh khác 1. Ngay sau đó, bài “Y Khoa và Sử Việt: một gói viện trợ bội thực” của Tạ Chí Đại Trường xuất hiện trên Xưa Nay số 431 vào tháng 7.2013 2. Trước đó, 2 bài về “Tự Lực Văn Đoàn và thái độ với vấn đề Nữ quyền” của tôi được chọn đăng trên Xưa Nay số 411 và 412, tháng 9. 2012. Họ cũng đã đăng bài của ông ít nhất từ năm 2005. Theo tin tức của ông, sử gia/Tổng Biên tập Dương Trung Quốc đã có bài “Thần, người và đất Việt, một quyển sách cần được tái bản” trên Xưa Nay số 238 (6. 2005). Ông đặt mua nhiều tạp chí văn học và nghiên cứu từ Việt Nam và còn từng chỉ trích nhiều sử gia trong và ngoài nước, trước và sau 1975, nên phải nhận ra việc cho đăng các nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từ hải ngoại, không là một sự hên xui may rủi nếu từ một Tổng Biên tập và ban chủ trương có chân tài và viễn kiến 3.
Thật ra, các cao thủ đều nhận ngay được loại vũ khí (mã tấu hay ám khí) và đường quyền (có dẫn chứng và dẫn chứng ra sao) của lẫn nhau. Sau khi có lời đính chính về việc “mã tấu răng đen”, tôi được nhận Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài từ một người bạn ông, tuy bên trong không có chữ ký lưu bút của tác giả. Bìa sách có thêm 4 chữ TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG đóng bằng dấu đỏ lên bìa rồi lên cả trang 1 và bìa 4 (bìa sau). Theo tôi, đây là một trong những tác phẩm đặc biệt vì đó là cuốn sử mà ông viết khi đang tham dự, khác những tác phẩm có nguồn từ quá khứ. Ông không phải là người cầm bút Miền Nam duy nhất ngưng cầm viết chỉ vì tù đầy. Bởi thế, nhận xét sau đây của nhà phê bình Trần Doãn Nho làm tôi hơi ngạc nhiên:
Lời nhận xét trên trở thành một thứ khen Phò mã tốt áo một cách vô tình. Thời đó, Phò mã Miền Nam nào mà không tốt áo nếu chỉ căn cứ trên mấy tiêu chuẩn “vẫn viết và gửi ra hải ngoại…”? Hoàng Hải Thủy không những “viết” mà còn bị bắt giam vì tội gửi ra ngoại quốc. Doãn Quốc Sỹ, dưới bút hiệu Hồ Khanh, bị bắt vì cùng tội danh. Trần Tam Tiệp bị xử khiếm diện dù đang ở …Pháp. Thanh Tâm Tuyền cũng xuất hiện dưới 1 bút danh khác (Trần Kha), nhưng Văn Quang đáng được phong là Chưởng môn. Sau mươi năm tù, được thả ra, vẫn tiếp tục viết lách ròng rã, viết lách công khai, viết lách chính thức, rồi đem phân phát tứ phương đến nỗi bị quý Công An vào nhà lục soát, tịch thu đồ nghề và tịch thu luôn tiền nhuận bút kiếm được. Sau nữa, Tạ Chí Đại Trường không hề có chủ ý “gửi ra hải ngoại để xuất bản” trừ một quyển (hình như là Việt Nam, nhìn từ bên trong) ngoài nỗi khao khát được chia sẻ khám phá mới, nhu cầu tự nhiên của khoa nghiên cứu. Ông đã khẳng định “Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản…” hoặc trình bày về hoàn cảnh sáng tác của chính ông, của thân hữu đoạn giải thích lý do tác phẩm có mặt tại ngoại quốc trong phần “Đôi lời phân trần” khi cuốn Thần, người và đất Việt được tái bản tại Hoa Kỳ:
… Những năm vào trại cải tạo giúp chúng tôi có thực tế để suy ngẫm về những gì vừa xảy ra, đang xảy ra trước mắt mà không bị tràn ngập bởi sách vở trùng trùng lẫn tiếng la hét đe doạ của những tay thư lại mới, bởi sức nặng kiến thức của các học giả Tây Phương thừa phương tiện và đầy uy tín quốc tế (…) Vậy là bắt tay vào việc, bắt đầu “làm việc” sau những giờ làm việc mệt nhọc hay thời gian trống rỗng ngồi cà-phê-ghế dựa lưng vào tường nhìn người, xe qua lại hỗn độn sát mặt. Bây giờ ngồi nghĩ lại, chẳng hiểu tại sao đã có những ý nghĩ như đã được viết ra. Đúng là có sự tích tụ của kiến thức cũ từ nhà trường, trong sách vở, ngoài hiện trường. Nhưng trong sâu thẳm hẳn là có sự phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt (…) Tại sao lại là “bản mới” trong lúc chẳng có gì mới hơn? Đã nói, không phải là một lời phân trần nhưng tập sách viết vào lúc ấy, ngoài cái hoàn cảnh chung ai cũng biết, còn có những điều riêng mà nay mới có dịp chấn chỉnh lại. Viết sau những giờ lăn gỗ, xúc bột giấy, theo xe áp tải ngơ ngơ không biết hối lộ để anh chàng công an đuổi: “Đi cho được việc!” Viết trong thời gian chưa có điện Trị An, ngọn đèn 60w trở thành đèn ngủ đành đánh một giấc, đổi giờ làm việc thành nửa khuya về sáng. Viết vào lúc không mong gì xuất bản, chỉ để tuôn ra ý tưởng thấy là mới mẻ, đánh máy trên giấy rơm đen điu, rồi chuyền cho bạn bè người quen đọc, chưa kịp thấy nỗi nguy hiểm của cách phát biểu “chui” như thế. Một bản liều lĩnh đi ra nước ngoài – cũng chỉ mong người quen đọc – được hỏi: “Đăng không? Muốn kí biệt hiệu gì?” –“Chữ nghĩa chính quy, ai lại phải cần giấu giếm!” Trả lời thí-mạng-cùi trong lúc chưa biết đến cái án mươi năm của Doãn Quốc Sỹ – Hồ Khanh… [Tạ Chí Đại Trường, “Đôi lời phân trần”, Thần, người và đất Việt–Bản mới, Văn Học tái bản-1999; Kệ Sách eBook Publishing Center, 2011, Hoa Kỳ]
Trần Doãn Nho còn có thêm nhận xét:
… Về viết lách, TCĐT có một giọng văn riêng, phải nói là rất riêng, khó lẫn với những nhà viết sử khác. Dùng lại một chữ của anh, văn sử. Viết sử như văn. Đúng hơn, phải nói là anh viết sử trong tâm thế của một nhà văn. Và viết văn trong tinh thần của một người nghiên cứu sử (…) Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT. Không biết có phải do vậy không mà nói chung, đọc TCĐT tưởng dễ, nhưng lại không dễ. Sách và các bài viết của anh không thể đọc ngay, đọc hết một lần. Thích lắm mới đọc được. Mà có đọc thì đọc nhẩn nha, không thể vội. Với tôi, vì thích, tôi ráng đọc, nhưng phần nào chuyên môn quá, tôi đành bỏ qua. Đọc TCĐT vừa như đọc một câu chuyện kể, lại vừa như đọc một bài nghiên cứu… [Trần Doãn Nho, sđd.]
Về cách dụng văn của ông, thì mượn lời Tạ Chí Đại Trường: “bá nhân bá bao tử” hay mượn lời bà-mẹ-quê-của tôi: “nhân tâm tùy mạng mỡ”, nhưng về “tưởng dễ nhưng lại không dễ…”, thì là một độc giả, tôi muốn nới rộng hơn một chút, ra khỏi lời bàn-Trần Doãn Nho. Tạ Chí Đại Trường, như các sử gia khác, đang viết sử chứ có phải chuyện diễm tình đâu mà ước “đọc ngay, đọc hết một lần” như mì-ăn-liền được. Trong số tác phẩm của ông, có 2 tác phẩm hoàn chỉnh từ luận án Cao học và Tiến sĩ trước 1975. Tuy thế, cho rằng đọc ông “khó” vì …hàn lâm hay “không dễ” vì “Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT” (Trần Doãn Nho, sđd) cũng chưa hẳn chính xác. Hãy đọc đoạn rất dễ hiểu sau đây từ bài “Gresham trong Sử học” để trước hết, xem ông tường thuật về đồng hương chuyên đọc báo chợ đặng kiếm thợ sửa xe, thợ may, thợ uốn tóc, thợ sửa ống nước vv.; đoạn xem ông đánh giá đồng bào lãnh trợ cấp oen-phe/welfare mà dám tập tễnh đòi làm sử gia ra sao. Sau nữa, để xem ông viết như-thế-nào:
… Hãy nghĩ nếu trước kia một nhà in nhỏ với khoảng ba phòng lớn chứa mươi lăm thợ sắp chữ, anh thầy cò, thợ in report, phơi bảng kẽm in ốpxét với máy móc so với thời di tản có sẵn một bộ phận sắp chữ trong computer, cái hộp in với mấy dây điện làng nhàng, tất cả để vừa trên bàn giấy mà đủ in khoảng 500 bản cho một đầu sách – số bản in sách khoa học xã hội cho 70 triệu dân trong nước – thì hẳn có tuyệt đối số người Việt lưu vong đi làm rồi chờ weekend, thấy tháng ngày đều đặn nhàm chán đến nỗi hai bà công nhân cùng line nhìn nhau riết đâm đổ khùng làm náo loạn cả sở: “Nó nhếch mép chọc giận tui!” “Nó chửi thầm tui!” Vậy là có sách báo để ông bạn ham đọc ôm vào sở nghe các đồng sự ngoại quốc nhăn mặt: “Sao mày chịu khó đọc các quảng cáo vậy?”. Ngày xưa ông học giả văn-học-sử-Hai-Bà-Trưng chỉ đủ xuất hiện ở một phần trang tư báo Chính Luận, còn bản thảo vẫn nằm trong cặp và hình như gần đây ông lại la cà nơi các bàn đánh máy mướn bày ra thời đổi mới. Trên đất Mỹ nhờ sự thuận tiện in ấn đã nói và tiền oen-phe, các loại sử viết bằng cái tâm – nồng nhiệt tin tưởng có, ôn ào hung hăng cũng không thiếu – đã phô bày trên kệ sách. Tâm tình lưu vong vốn nhạy cảm vì tác động của những biến cố kinh hoàng hay thê thảm mới xảy ra ngay trong đời đương sự. Bởi vậy khi nghe nói “viết bằng cái tâm” thì không ai dám cãi. Phiền một nỗi cái tâm đáng khen của cá nhân ấy lại muốn trở thành chân lí và tích tụ lại thành chân lí thật… [Tạ Chí Đại Trường, “Gresham trong sử học”, Văn Học số 125, trang 16, Tháng 9.1996]
Riêng vấn đề in ấn, không phải cứ có tiền oen-phe là in và bán được sách như chính Tạ Chí Đại Trường sẽ kinh nghiệm hoàn cảnh in ấn mà ông có dịp nhận xét. Văn học hải ngoại là một nền văn học tự do đúng nghĩa: có cầu mới có cung. Ngay từ đầu, tại hải ngoại, tác phẩm của ông ra mắt độc giả Hoa Kỳ hầu hết là nhờ tri kỷ (Nhà Xuất bản Văn Nghệ hay Thanh Văn), sách không bán được nhiều; sau này, ông nhờ mối quen biết với tay nghề Phùng Nguyễn đặng cho hết lên mạng Kệ Sách:
… Tại sao lại là “Bản mới”? Bản cũ in ra năm 1989 từ lúc chúng tôi còn ở trong nước, theo lời Nhà xuất bản Văn Nghệ, vẫn còn chất đầy kho, trong garage của ông chủ và bạn bè… [Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, sđd]
Sau nữa, tôi vẫn nghĩ chuyện khó hay dễ (đọc) là tùy độc giả có lưu tâm về chủ đề hay tác giả nào đó hay không. Người ta đã muốn đọc thì… Đọc nhau tam tứ núi cũng trèo/Thất bát sông cũng lội/Cửu thập đèo cũng qua. Mà đã không muốn đọc thì thiếu gì cách đóng cửa từ quan? Việc đọc sách khác gì việc nghe nhạc? Với tôi, một người mù nhạc, không có nhạc nào quý phái không có nhạc nào nhạc sến; không sách nào khó đọc không sách nào dễ đọc. Tôi chỉ tránh không đọc những bài đầy-chữ-Hán Nôm không cần thiết (sở trường của các ông đồ nho tân thời) hoặc lũ lượt lê thê bóng bẩy (sở trường của Trường phái “Cao đơn hườn tán”) hoặc có những tin tức động trời mà không kèm dẫn chứng (sở trường của Trường phái Vô tội vạ) mà rút cuộc, vẫn không học được điều gì. Có phải Trần Doãn Nho cố đọc Tạ Chí Đại Trường? Có phải chính Tạ Chí Đại Trường đã nói ông chưa đọc Mémoires d’outre-tombe của François-René de Chateaubriand? Rõ ràng hơn, ông không ngại chỉ vào chính mình:
… Còn đã có đối tượng, ở đây là lịch sử, thì nếu có ai không thích thú lại phải tìm khuyết điểm ngay từ đối tượng ấy, từ những bài viết có gợi được sự tò mò của người đọc không, hay chỉ là sự lặp lại dửng dưng vô cảm?… [“Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn của Nhã Nam”, Dương Thanh Hoài, Nhà Xuất bản Nhã Nam thực hiện, Ngày 30. 5. 2007- Sử Việt, Đọc vài quyển, Văn Mới tái bản, 2004- VietMessenger https://vietmessenger.com/books/?title=su%20viet%20doc%20vai%20quyen&page=13 Talawas Blog- https://www.talawas.org/26278/ ]
Xin báo động trước, rằng Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài cũng không dễ đọc vì sách dài 434 trang mà trang nào cũng kín những chữ là chữ, lại viết theo kiểu lan man, liên miên, nhớ đâu viết đó, biến cố này kéo sang biến cố kia, bao nhiêu thứ biến cố nêm chặt 6 năm tù. Tác giả cũng đôi khi không văn vẻ chi lắm như từng chỉ đích danh một anh họa sĩ Trẻ giờ đã “sồn sồn”, một cậu thi sĩ “cà lăm”.
Ông trải qua 6 năm bị giam cầm, từ đầu tháng 6. 1975 tới ngày 10.6.1981. Ông nhập cư Hoa Kỳ vào năm 1994, trở về Việt Nam dưỡng bệnh vào tháng 10. 2015 rồi qua đời vào tháng 3.2016.
1.2 Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài: Sử kýcủa sáu năm “chẳng giống con giáp nào hết” …
– Sáng lập và xây dựng Thư viện Kệ Sách eBook (kesach.org). Đưa kesach.org vào sinh hoạt từ tháng 5, 2008. Cho đến nay đã xuất bản và ấn hành miễn phí hơn 150 tác phẩm văn chương tiếng Việt trong dạng ebooks trên các hệ thống ấn hành ebook Scribd.com và Smashwords.com. [https://damau.org/author/phungnguyen]
Như vậy, tôi có thể tin rằng đây là bản chính thức được tác giả xếp loại, hiệu đính và giữ bản quyền.So với Bản Thanh Văn 1993 (do Thanh Văn giữ bản quyền), Bản Kệ Sách 2012 (do tác giả giữ bản quyền) mở đầu bằng lời chính tác giả giải thích về hành trình soạn thảo gồm đầy đủ ngày tháng, hầu hiệu đính bản 1993. Cũng theo tác giả, Bản Thanh Văn 1993 đã được ấn hành tại hải ngoại mà không có sự hay biết của ông dù không e ngại hậu quả. Lời giải thích này được ông đặt tên “Kể lại chuyện trước năm 2000” khi hiệu đính vào năm 2012. Tôi xin mạn phép được dẫn toàn bản sơ lược hành trình 20 năm của cuốn Sử ký này từ lần phổ biến lần thứ nhất đến lần phổ biến thứ hai (một thứ phép lạ trong hoàn cảnh ngặt nghèo của tác giả):
-Viết như trên không phải để lân la làm quen với một tác giả nổi tiếng trong ngoài nước về quyển sách ghi lại kinh nghiệm tù đày của ông ta ở các trại Miền Bắc (Chuyện kể năm 2000, Bùi Ngọc Tấn, Hà Nội.) Tác giả nổi tiếng vì là con dân của chế độ hiện hành nên sách dù sao cũng đã được in ra cho 80 triệu người với chuyện lạ dễ gợi tò mò, lại vì hành động “phản động” đó đã gây ra phản ứng với cơ quan công quyền trong nước và sự hưởng ứng nồng nhiệt bốc cao của những người chống Cộng thường dễ dàng ca tụng những xuất hiện như thế. Tuy nhiên dù sao thì mượn một chuyện kể tương tự để nói chuyện mình, chuyện của những chuẩn công dân hạng nhì trong giai đoạn đổi thay quyền lực, nghĩ cũng là một cơ hội làm sáng tỏ thêm một thời đại từ nhiều phía, có hại gì đâu! Nguyên, cũng giống như người viết bài bạt đăng trên bìa 4 quyển sách in năm 1993, chúng tôi đã có ý nghĩ dùng những kinh nghiệm tù đày như một tài liệu lịch sử, thói quen của những người muốn viết sử mà không muốn chép lại lời người khác khi có dịp, như dịp này: biến động sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và tác động đến một thành phần của nó, trong đó có chúng tôi. Trong thư viết cho Giáo sư Nguyễn Thế Anh khi ra tù, nói về việc đang làm, có câu ‘Biến động lớn quá, không ghi cũng uổng.’ Trong trại, không thể ghi chép và lưu giữ được chút gì, chỉ còn lại ý định ngay từ đầu làm khởi điểm nên trí nhớ là chỗ cất chứa duy nhất. Và vì thể không xa khi về nhà, chúng tôi bắt đầu làm việc ngay, cứ sợ để lâu ngày quên mất! Chính vì thế mà không cần câu cái, văn từ, cứ viết theo những gì mình cho là còn nhớ. Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản. Trong cuộc sống co rút của mình, chúng tôi không hề biết có những hồi kí cải tạo làm xôn xao bên kia bờ đại dương. Chưa kể những điều viết ra, vì mục đích ghi sự kiện, có thể đụng chạm đến những người còn sống, bạn bè quen thuộc đã đành mà còn có những người có danh vọng trong thời đại cũ, nổi bật so với đời sống ẩn khuất của chúng tôi. Lại còn về phía chính quyền đương đại, cách thức nhận xét của chúng tôi hẳn không thể làm họ bằng lòng nhất là khi họ đang được tung hô, những lời tung hô chưa bị những biến động tiếp sau 1975 làm họ nhụt ý thức kiêu căng mà chiến thắng, mà quyền bính thì còn thừa đủ để trút lên đầu những cá nhân “tội phạm” lẻ tẻ vừa tạm thoát khỏi vòng tay của nhà tù. Một đời người thì ngắn so với biến chuyển lịch sử cho nên đã có ý nghĩ để những điều ghi lại là một Mémoires d’Outre-tombe, mượn ý của ông văn sĩ Tây, chưa đọc! Xin những người cùng “phe” theo với sự tình cờ của lịch sử chớ coi đó là một biểu hiện bi quan. Kravchenko, người đầu tiên tố cáo chế độ Xô-viết Nga trong những ghi chép, kiện tụng lẫy lừng trước Thế chiến II vẫn không ngăn được phong trào cộng sản thế giới hàng hàng lớp lớp, cuối cùng phải tự tử (1946) khi Liên Xô mang sức mạnh chiến thắng quân sự phù trợ cho chính nghĩa diệt trừ phát xít nổi bật lên như một chứng minh hùng hồn ngược lại. Ông không thể đợi sống đến nửa thế kỉ sau. Trong tình hình suy nghĩ và hiểu biết cá nhân như thế thì tập hồi kí tuy có được đánh máy cho thoát khỏi tình trạng giấy rơm đen điu cũng không được chú tâm nhiều. Gởi qua Mĩ trong lúc biết mình sắp ra đi cũng không ngờ người quen biết đem ra phổ biến. Không có gì phải trách để phụ các tấm lòng ưu ái đó. Không có gì hối hận vì sợ hãi khi nó được in. Chuyện kí tên thật trên các chữ nghĩa viết ra đã được xác định từ lâu. Có điều vì sự lạo thảo đã kể mà bản in có quá nhiều điều không được ưng ý. Bây giờ ngồi chép lại, chắc vẫn không khỏi thiếu sót, nhưng hãy cứ coi như thêm một giai đoạn sửa chữa. Sửa chữa không đánh mất những suy nghĩ cũ, dù đến bây giờ thấy có sai sót, thấy vụng về. Chuyện của một tập thể nhìn từ một cá nhân, tính chất của một hồi kí đã đủ phân trần về sự thiếu sót kia trong khi vẫn giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét. Chúng tôi chỉ sửa chữ, kể cả những chữ sai sót vì người in không hiểu ý, nhưng như đã nói, không để sai lạc ý tưởng ban đầu. Lúc viết vì ngại ngùng đã ghi tắt các tên người, nay được chỉ thẳng ra, trừ một vài tên thấy không cần thiết, không nhớ được. Các cá nhân được đề cập nay có người vẫn còn sống, lại thêm danh vọng ở hải ngoại nữa, hẳn có chút ngứa mắt không bằng lòng tuy người viết rõ ràng đã ráng chỉ làm việc ghi chép, không thiên lệch. Nên, xin thưa: Lịch sử nay đã định hình, ân oán giang hồ tuy vẫn còn đấy nhưng ba mươi năm trôi qua rồi, tập sách dự định làm một tài liệu lịch sử nay đã có vị trí đúng của nó, ít ra là trong tính cách một vật nằm ở góc tủ nào đó chờ người đến phủi bụi đi tìm thời gian đã mất. Nên, xin chớ giận hờn làm chi. Chép lại sách cũ, có hứng cũng ghi thêm vài dòng nhỏ mới, đã cẩn thận không bỏ qua thời điểm “2004” để khỏi lẫn lộn. Việc làm, nhìn kĩ lại thì cũng chỉ vì mình, vì chút ý thích cá nhân, thấy cũng hơi ích kỉ. Nên, để đỡ ân hận, trong lời đề tặng có thêm một chứng tích về tình trạng nghĩ là post-traumatic syndrome của người đồng cảnh cùng chia xẻ với mình trong những cơn mơ nơi xứ cho đến bây giờ vẫn còn không biết là lạ hay quen mà vẫn phải chấp nhận nó.
Hãy cứ coi là xong lúc 8:06 ngày 8-1-2005 ở Westminster, California, USA.
Ngày 21-9-2004, bắt đầu chép lại trên bản in 1993 của Thanh văn xuất bản.
Ngày 8 tháng Mười hai 2004: dự định làm đề từ cho bản chép lại này.
Ngày 14-3-2005, về SàiGòn tìm lại bản thảo cũ, không thấy bản đánh máy, chỉ có bản viết tay, nửa phần trên giấy rơm đen, nửa phần trên mặt trái giấy pelure đã đánh máy bản Luận án Tiến sĩ dở dang (thiếu giấy quá mà!), định so sánh xem có gì thiếu sót để chấn chỉnh lại, cũng vẫn giữ ý định không làm sai ý nghĩ ban đầu. Chắc cũng không làm việc so sánh đầy đủ vì hơi làm biếng, vả lại cũng không cần thiết phải chi li đến như thế. Thấy tiêu đề sách, ghi tháng 8-81 là “Mémoires d’outre-tombe… nối dài”, Prélude – chắc cho chương đầu. Lúc đánh máy đã khác với lúc viết tay vì thấy bản viết tay dư nhiều đoạn không chắc người biên tập ở Mĩ có thì giờ sửa gọn như đã xuất hiện. Dòng chữ Một khoảnh VNCH nối dài có mặt bên trong bản thảo, không biết đã nghĩ ra để dùng làm tên sách từ lúc ấy không. Nhan đề có lẽ gợi từ tên lạ lùng của những con đường Sài Gòn lúc mới đến năm 1955 như: Rue Richau Prolongée (Phan Đình Phùng / Nguyễn Đình Chiểu). Đùa bỡn cũng có cái hay là khiến người ta nhớ dai nên thấy trên một tờ báo ở Úc có một tên khác: “Một khoảnh Liên Xô nối dài”, hay “Một khoảnh VNCH nối dài” dùng cho loại văn nghệ hải ngoại, cả những thứ “nối dài” mơ hồ nào đó chắc có bà con thân thuộc. [Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài -Sử ký, “Kể lại chuyện trước năm 2000”, trang 3-4, Thư viện Kệ Sách eBook phát hành trên Mạng, 2012. Tác giả giữ bản quyền * Những chữ in đậm, có gạch dưới hay in ngả là theo nguyên bản]
Mở đầu là “Lời đề tặng” gợi lại kỷ niệm trong tù ngoài tù:
-Tặng anh bạn xích lô trên đường phố Sài Gòn một hôm nào đó, đạp xe chồm tới: “Ê, Trường, mạnh giỏi?” Không lúc nào nhớ tên anh nhưng biết vì sao anh quen tôi, nhớ đến tôi. Và tôi cũng đã quen anh, nhớ đến anh. Lại anh bạn cùng nghiệp “cu li” nằm đêm ở Mĩ (năm 2000), kêu khóc: “Sao tới bây giờ mà cũng vẫn chưa về?” để bà vợ thúc cùi chỏ đánh thức dậy! [Tạ Chí Đại Trường, sđd]
Bản sử ký này còn chứng thực một điều mà khi viết đến đây, tôi mới nhận thấy một cách sâu sắc: Sở dĩ Phùng Nguyễn được Tạ Chí Đại Trường tin cậy giao cho bản thảo Để ở đâu rồi biến thành di cảo vì mối giao tình mà quyển sử kýMột khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài chứng minh ngay từ năm 2012. Đôi bạn vong niên này đã gặp nhau ở chỗ chống Cộng kịch liệt. Phùng Nguyễn đã giúp Tạ Chí Đại Trường lấy lại vị trí xứng đáng cho một cuốn sử ký vì, trước hết, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài rất chi tiết kèm suy luận hay lý luận của một người đã từng kết thúc luận án Tiến sĩ về Sử học tại Miền Nam. Kiến thức học hỏi ấy khiến ông đẩy một thứ hồi ký cá nhân sang được hồi ký lịch sử “giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét” như suy tính. Ông nói rất đúng: hơn 30 năm sau khi cuốn sử ký này xuất hiện, một người sau—là tôi –sẽ có dịp nhận xét. Không chỉ nhận xét, tôi sẽ thừa tin tức để kiểm chứng người khác, nếu muốn. Bởi thế, theo tôi, một người có dịp quen hay biết Ngô Thế Vinh, Phùng Nguyễn rồi Tạ Chí Đại Trường, thì việc nhà văn Ngô Thế Vinh cho phổ biến di cảo của Tạ Chí Đại Trường trước Da Màu –một tạp chí trên mạng mà Phùng Nguyễn dự phần sáng lập, nhất là phần kỹ thuật, rồi khổ công góp sức gây dựng cho đến khi qua đời– là điều đáng tiếc, hết sức đáng tiếc. Trong thế giới văn nghệ, những mối giao tình riêng ngoài liên lạc chung, hoặc là một thứ tài liệu ngầm hầu góp phần suy luận phán đoán trong khi nghiên cứu hoặc một thứ kim chỉ nam hướng dẫn hầu khỏi thất thố khi xử sự với một/nhiều nhân vật nào đó.
[Tác giả cho biết “Bản thảo không có mục này. Ý định cắt là từ 1994 ở Oklahoma City khi nhận được bản in. Để bớt lệch quân bình của quyển sách, đúng với hai giai đoạn ở tù khác nhau. Lúc viết bản thảo, theo đà, quên mất điều này. * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: “Bản in”tức là Bản Thanh Văn 1993]
-Chương 8: K. 3.
-Chương 9: Cánh cửa trại hé mở.
-Chương 10: Đường trở về trần.
Tạ Chí Đại Trường là một quân nhân khoảng hơn 11 năm nên không xa lạ với thế giới quân nhân; mặt khác, khoác áo sinh viên khoảng trên dưới 10 năm nên quen thuộc với sinh hoạt và nhân sự tại đại học. Ông lại có bài hướng về thời sự văn hóa chính trị trên tạp chí Bách Khoa nên có dịp tái kiến nhiều tác giả của Sài Gòn như nhà văn/nhà xã luận Võ Phiến hoặc qua bài đăng như giáo sư Y khoa/nhà nghiên cứu/học giả Trần Ngọc Ninh. Từ vốn đọc nhiều, biết nhiều, nhất là về sử, ông đã hoàn thành một cuốn sử ký chứa hầu hết các sự kiện điển hình trong trại giam Tù Cải Tạo như sẽ dẫn chứng tiếp đây. Một số sự kiện hay chi tiết này sẽ tái xuất hiện trong các tác phẩm sau đó. Hơn thế nữa, điều tôi đặc biệt chú ý là nhiều đoạn ông tường thuật rất chi tiết rồi dẫn giải, bày tỏ cảm tưởng về bao cảnh thăm nuôi khốn khổ của phụ nữ, về những tan vỡ chia lìa giữa vợ và chồng, về người vợ bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi chồng hay ngay tại địa phương . Sau này, ông còn sẽ viết về sự tái hiện của chiếc áo dài sau 1975, về những cô gái lấy chồng xa. Tôi không ngạc nhiên khi ông vô tình bầy tỏ về chính mình:
… Những buổi dọn cỏ – trong đó có buổi quá chân bị nạt – tôi đã ôm về các bụi huệ và những loại hoa gì không biết tên. Tôi đã đùa với các bạn: Có một nhân vật hình như của A. Dumas-père nhắn bạn trồng một chậu lan đặt bên cửa sổ để từ cachot anh ta có thể nhìn ngắm như một dấu hiệu níu kéo với cuộc đời bên ngoài. Chẳng biết hình ảnh bi quan tôi đưa ra có gây chút xáo động nào không… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 70]
1.3Sài gòn gần biết là bao- Về đây nắng suốt cả ngày/Trưa không buồn ngủ ngồi say thuốc lào/Sài Gòn gần biết là bao/Mà xa như cả vì sao trên trời/Ngoài sân chiếc lá vàng rơi/Khoanh tay ngồi để sự đời trôi qua… [nhà thơ/sĩ quan biệt phái Tạ Ký (1928-1979), Thơ làm trong trại Tù Cải tạo, Long Khánh]
Với tôi, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài vẫn là tác phẩm quan trọng nhất của người lính VNCH Tạ Chí Đại Trường khi ông bị giam và được thả theo cấp bực Đại Úy biệt phái mà, đồng thời, cũng của sử gia Tạ Chí Đại Trường khi ông ghi nhận một phần lịch sử của VNCH qua những năm tù này. Tôi sẽ trích dẫn theo các tiêu đề đã chọn hầu phản ảnh nội dung Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài nên sẽ không theo thứ tự số trang. Tôi trích dẫn theo Bản Thanh Văn 1993, cộng thêm số trang, hầu độc giả nào có sách tiện theo dõi. Tôi xin thâm tạ VietMessenger đặng mạn phép xin bản số hóa, chỉ xin điều chỉnh cho đúng với Bản Thanh Văn 1993 mà tôi có nên sẽ ghi cả 2 nguồn. Tôi dẫn bản này vì độc giả sẽ đọc được một cách dễ dàng hơn. Đây là một website mà tôi rất tin cậy vì sự chính xác của các bản do họ post lên dù là bản số hóa hay nguyên bản.
1.3.1 Những ngày cuối và những ngày đầu– Nên bắt đầu vào lúc nào? – Cái bắt đầu của một lúc nào mà sau này trong trại người ta gọi bằng những từ ngữ “lúc đứt phim”, “hồi trời sụp”, “khi sập tiệm” …?
Tạ Chí Đại Trường thuật lại một trong những quang cảnh xẩy ra vào “lúc đứt phim” của chính ông, tại Sài gòn:
… Vậy mà lúc radio loan tin Tổng thống Dương Văn Minh loan báo “chờ bàn giao chính quyền”, tôi vẫn bật dậy: “Đầu hàng rồi!” Cả hẻm ồ lên: “Hết chiến tranh!” Giản dị quá. Tôi quay ra chỗ quán cà phê. Độ mươi người lính cảnh sát còn lẩn quẩn ở đấy, hình như cũng chưa biết phải làm thế nào (…) Người ta nói chuyền vào trong hẻm: “Quân giải phóng tới!” Lại lấp ló rồi đứng hẳn giữa trời. Những chiếc xe Jeep còn bảng số vàng trắng cũ từ hai đầu đường dồn ứ trước cổng Tổng nha. Người trên xe nón tai bèo, áo quần đen mặc chẽn, giày bata thể thao hay dép râu. Cờ. Biểu ngữ. Hình ảnh mới: Những người phụ nữ áo ngắn, khô cằn hay sồ sề, lăng xăng nhưng đầy tự tín. Xe vẫn nhích từng bước. Một thanh niên rắn gọn có vẻ chỉ huy, đang ngồi buông thõng chân trên đầu xe, nóng ruột nhảy xuống, bước vài bước nghiêng ngó vào trong. Xe vẫn nhích từng bước. Nhưng hai bên đường dân chúng đã đông hơn. Hai đầu đường đã thông nhưng có người gác. Một thanh niên chạy mobylette ngang qua, áo thun trắng, quần dài da beo biệt kích, bị chận lại nhưng rồi cũng được đi. Lảng vảng đã có vài người đi sâu vào trong xóm, nghiêng ngó dò la. Mọi người đứng nhìn dè dặt. Buổi tối tivi mở ra, một vài người bộ đội lân la đứng ngoài song gỗ, ghé mắt dòm vào rồi được mời ngồi ghế xem “chiếu bóng trong tủ”, không phải lật đật như hồi Tết Mậu thân. Sáng 1-5. Tôi nhập vào đoàn xe, đoàn người, thoạt tiên chẳng định hướng, cứ đến chỗ nào có người ùn lại là quay sang lối khác. Đi ngang qua khu bộ Nội vụ cũ, trong đám người chồm lên tường ngắm kẻ qua đường có một thiếu uý còn mang nguyên bộ quân phục với cặp hoa mai trên cổ áo và huy hiệu hình như là Hành chánh Tài chánh. Nếu không vì một nguyên cớ tự tin nào khác thì anh chàng hoặc là bướng hoặc là ngu ngốc nên cứ dửng dưng bình thản như thế trong lúc người ta cuống cuồng đốt quần áo treillis, đốt giấy tờ cá nhân liên quan đến quân đội, chính quyền vừa qua và lùa huy hiệu, huy chương vào thùng rác. Trên đường Gia Long, trong một thùng rác dưới gốc cây, tôi thấy cả một bộ mạc chược ngà óng ánh. Những nghề kiếm ăn mới xuất hiện. Từng chặng đường có những đứa bé, những người phụ nữ đứng cầm bó cờ Mặt trận chặn xe nài mua và dễ dàng có khách. Cờ đỏ sao vàng ít hơn: Buôn bán với ý thức tự phát thì cần gì đến suy luận chính trị. Sao lấy từ màu vàng nền cờ ba sọc cũ, sọc đỏ cũ làm nền mới cho cờ nhỏ cầm tay, hay cờ treo nhà cho những người hà tiện. Cờ 5 sao vàng nhiều hơn; cờ búa liềm rời rạc. Chợ Lớn như rừng cờ 5 sao, có nhà cắm đủ thứ cờ Trung Quốc, cờ sao vàng, cờ Mặt trận – cho chắc ăn mà! Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy bán ngoài đường Lê Lợi. Các chú nhạy cảm về việc làm ăn thật. Chỉ tội nghiệp cho một hình ảnh thần thánh bị đem ra buôn bán, dầm mưa dãi nắng, hứng chịu bụi đường lem luốc. Từ xưa người ta ghét cay ghét đắng thương buôn kể cũng phải. Và ngoài lề đường đã thấy bày bán tivi, chén bát…[Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, trang 22-23, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993]
Cờ đã đổi. Người đã thay. Tiếng nói cũng khác.
1.3.2 Đi vào quyền sở hữu mới: Đăng kí vào xưởng đẻ một cách khẩn trương
Tạ Chí Đại Trường phân tích một loại ngôn ngữ từ Miền Bắc theo chiến thắng đưa xuống Miền Nam. Tôi trích đoạn này cũng vì có 2 chữ “đăng ký” được sử dụng rất phổ thông sau 1975:
-… Không hiểu tôi đã được nghe chữ đăng kí lần đầu tiên vào lúc nào trong các ngày 1, 2-5. Có lẽ vì nhiệm sở tôi ở tận Tân An, không dính tới những cơ cấu ở Sài Gòn nên không có những tin tức kịp thời bắt buộc (…) Các từ ngữ cũng gây nên những bỡ ngỡ lúc ban đầu. Có người ngẩn ngơ trước danh từ mới, và qua cơn khiếp sợ ban đầu, lại nhạo báng, ghép cùng loại với các tiếng lóng cái đổng, cái đài… Thật nhiều những từ ngữ mới đem ra sử dụng khiến dân Miền Nam bỡ ngỡ rất nhiều. Có những từ không phải là mới lạ nhưng chính vì những nét gần gần giống ấy mà có khi dẫn đến những lầm lẫn tai hại. Tai hại đáng kể tác động nhiều nhất đến với bọn người vô phúc, nên chúng tôi có lần đùa với nhau không phải là không có chút cay chua: “Có lẽ nên có một quyển Từ điển Bắc – Nam…” Có những chữ khác xuất phát từ ý thức dân tộc hoá quá đà mà người ta hùa theo lãnh tụ đề xướng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. “Lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng”… là những giao tiếp buổi đầu, sau đó là những từ ngô nghê thuộc loại Xưởng đẻ (nhà hộ sinh). Nhưng có sợ tính chất hán hoá làm tiếng Việt mất trong sáng thì chiều hướng tiến hoá mới dựa vào một tỉ dân tiếp tế cả rau muống để cái tiền đồn anh hùng chống đế quốc cũng bắt buộc người ta phải sử dụng ngôn ngữ của nước bạn vĩ đại. Sửa lại đảm bảo, giản đơn, điều chỉnh phản ánh cho sát với hán tự, đi ngược lại con đường phản ảnh sai, nhưng là dấu vết của một thời gian dài đổi thay bởi người Việt (…) Cứ giở một quyển sách mang tính cách chuyên môn thì thấy tha hồ mà nhức đầu với cú pháp, từ ngữ Hán Việt mới cũ, cái nhức đầu được biện hộ rằng ta đã đem lại trình độ cao cho tiếng Việt, trái với trình độ thấp kém của Miền Nam còn nằm trong nô lệ, không có chỗ cho ý thức dân tộc vùng lên – có nói rõ ràng trình độ thấp ấy tỏ lộ trên ngôn ngữ, báo chí Sài Gòn! Cái tinh thần nô lệ sâu kín đã đổi lốt thực thi trong một chính sách thực dân văn hoá gốc gác từ quan niệm vương hoá ngày xưa! Cái nguy hiểm của sự hẹp hòi là khi nó được khoác áo lí tưởng. Có điều thực tội nghiệp là loại tiếng “lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng” sinh ra vào thời kì phe-ta chưa có cơ sở vật chất để xuất hiện thể chế, vật dụng đó, thành thử chỉ dùng nhắm vào đối phương – có thật nhiều điều xấu xa, chữ dùng hàm ý khinh bỉ, miệt thị, đến lúc cần để chỉ của mình thì lại thấy ngượng ngùng phải ráng xài thật tỉnh: thủy quân lục chiến, trực thăng… Vô tuyến truyền hình / tivi rõ ràng trên chân máy phát hình, rồi những tên ngoại quốc dịch âm ngớ ngẩn được thay bằng tên nguyên gốc một cách rụt rè (rồi lại quay về mốt cũ theo phản ứng co rút)… Chuyện như thế nhưng có ai dám vặn vẹo người chiến thắng? (…) Nhưng chắc không có chữ nào khi diễn giải ra khiến cho dân Miền Nam phải giật mình cho thân phận hơn là chữ “đăng kí”. Cũng may là thường thường người ta chỉ hiểu được lần lần để khi gặp trường hợp vấp váp cụ thể thì không giật mình tuyệt vọng. Có người quả quyết rằng mình chỉ mới nghe chữ đăng kí lần đầu sau ngày 1-5. Họ chỉ nghe đến “ghi danh”, “ghi tên”, “khai báo” (…) Chữ đăng kí là từ pháp lí, ngày trước chỉ liên quan đến một vài giới, bên ngoài các dáng người phây phây như cây như cỏ. Thế mà nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì lại có bổn phận phải quản lí, quản lí con người, quản lí tài sản. Hai tầng lí do quản lí: quản lí thêm về tài sản, con người trên phần đất chiến thắng – gọi là “giải phóng” cho hợp thời trang. Nhưng người chiến bại cầm tờ giấy chấp nhận một chủ quyền sở hữu trên thân xác, tài sản của mình chỉ thấy được một mối lo sợ vẩn vơ, chắc chưa có ý thức hãi hùng. Bởi vì có ý thức trước được thì người ta đã tự giải quyết rồi. Những người lính dù chĩa súng vào nhau bấm cò. Các viên tướng tự tử mặc lễ phục, mang đủ huy chương. Một viên trung tá cảnh sát cho các con uống thuốc độc rồi hai vợ chồng tự giải quyết, xác sình thúi lối xóm mới hay vì cứ tưởng ông ta đã di tản. Một tay nhà binh có máu văn nghệ, nặng tình bạn, lỡ chuyến bay, để lại cho đời câu nói tự an ủi mà nhuốm mùi vị thiền đạo một thời: “Đại sự thành tiểu sự, tiểu sự hoá vô sự.” Có khỏa lấp gọi đó là “những kẻ tội phạm” trốn chạy sự phân xử của “quần chúng nhân dân”, “những kẻ tránh phải trả lời về tội ác của mình trước toà án của nhân dân”, thì cũng chỉ chứng tỏ là những người chết kia đã đúng, thứ chân lí mà những người vì lẽ này hay lẽ khác còn sống đã dần dần hiểu ra, và thế nào cũng có một lần thấy những người kia quả đã tìm được lẽ “vô sự”…[Tạ Chí Đại Trường, “Đi vào quyền sở hữu mới”, Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài, trang 31-33, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993 * Chữ in ngả là từ nguyên bản **Trong bản hoàn chỉnh như trên VietMessenger, tác giả ghi chú: “(2004: Trung tá Nguyễn Văn Nhỏ / Phạm Việt Châu)”, nhưng tên thật của sử gia Phạm Việt Châu là Phạm Đức Lợi. https://vietmessenger.com/books/?title=mot%20khoanh%20viet%20nam%2 0cong%20hoa%20noi%20dai&page=2 ]
Chiến thắng của Miền Bắc-Cộng sản mở đầu bằng 2 chữ “đăng ký” kéo theo chính sách lường gạt đã sửa soạn, đưa hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam-Tự do tình nguyện “đăng ký” dẫn thân vào tù và vào thế giới của một nơi hoàn toàn thụ động, từ người giam tù đến người tù.
Từ Thức Tạ Chí Đại Trường—số tù Ngụy 7886–bắt đầu cuộc đời bị giam giữ vào ngày 23.6.1975 và một bài thơ:
… Một buổi sáng có lệnh báo tập trung để chụp hình. Mỗi người có một con số viết trên tấm bảng kê trước ngực, ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế dài đặt ngoài trời. Thế là từ đây ngoài cái họ chung là Nguỵ, mỗi một người chúng tôi đã có tên là một hàng số. Hình như tên mới của tôi là Nguỵ 7886… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 207]
… Câu chuyện thần tiên thơ mộng xưa không vẽ lại hình ảnh hãi hùng của cảnh Từ Thức về trần biết được mình đã đi bao lâu, khiến phút chốc từng sợi, từng sợi trắng dần phủ lên lớp da mặt nhăn nheo, co rúm, đè còng tấm thân vừa mới còn thanh xuân, cường tráng kia (…) Chẳng ai có tờ thông báo trong tay lúc ấy để kẽ vạch phản bác. Nhưng nội một sự đinh ninh “đi học 10 ngày” của toàn thể sĩ quan cấp uý cũng đủ chứng tỏ sự thực nếu không nằm trên văn bản thì cũng nằm trong mưu mô tính toán có ý thức lường gạt của người chiến thắng. Này nhé! Mở đầu cho hạ sĩ quan và binh sĩ học 3 ngày cấp giấy cho về làm ăn, không còn nghi ngờ gì cả. Việc gọi các chức quyền cấp cao và tướng tá đi học “mang tiền ăn một tháng”, chưa hết thời gian ấy để nghi ngờ thì có lệnh “mười ngày” tiếp theo lập lờ giữa cái thực và cái giả, cái giả nấp sau cái thực để giả toàn vẹn. Người cộng sản đã dạy cho người Việt Miền Nam bài học thấm thía bàng hoàng về cách làm chính trị (…) Người chiến thắng nói họ quá thừa kiêu hãnh để không cần lừa gạt kẻ chiến bại họ nắm trong tay. Nhận như thế thì làm sao có thể nói về chính sách “khoan hồng đại độ, trước sau như một” được? Trăm điều chỉ tại mi u tối! Ờ hé! “Có ai bắt bớ gì các anh đâu? Các anh tự động mang giỏ xách đi trình diện đấy thôi!” Trong lời nói ấy có chút đểu cáng hả hê của con mèo vờn con chuột. Một chút sai lầm trong chi tiết là có người bị bộ đội lùng sục cả trước khi hết hạn trình diện. Nhưng cũng thật đúng là hầu hết đều bình thản đến cổng, xin vào (…) Nhìn lại, có ai ngạc nhiên về cái thua ngày 30-4 vừa qua không? (…) Sáng 23-6, tôi đi vòng vòng giã từ phố phường rồi cầm khúc bánh mì đến cổng trường Taberd. 10 giờ 30. Hai viên sĩ quan cầm súng lặng lẽ chỉ lối vào. Ngoài đường vắng, cổng trường kín chỉ chừa chỗ lách, không thể biết bên trong có gì (…) Chung quanh tôi mọi người đã ngủ. Bầu trời tối đen. Mưa còn nặng hạt rơi qua vùng sáng đèn, tủa xuống đám người nhích dần, nhích dần vào phía trong, mình ướt đầm. Có cái gì nghẹn ngào dâng trong tôi, tôi cúi nhìn đồng hồ. Đúng 12 giờ. Tôi vào làm bài thơ đầu tiên trong đời của tuổi lớn, tuổi tưởng chừng không còn xúc động để làm thơ (…) Những người như chúng tôi hoặc do kiến thức mà có, hoặc bởi cuộc sống coi thì giờ là tiền bạc của xã hội kĩ nghệ, thành phố xô đẩy nhau nên thắc mắc, chán ghét lối làm việc này, nhưng về sau thấy những người bộ đội ngồi kiểu nước lụt, buồn thiu hay tán gẫu với nước trà, thuốc lào, có xông xáo hoạt động thì với ý niệm nông dân là thời gian được tính bằng tháng, bằng năm không phải bằng ngày, giờ, phút, giây, chúng tôi mới không lấy làm lạ. Thì giờ không cần, công sức không kể, cái họa da vàng hồi còn tản mạn đối với người Tây Phương còn làm cho họ hoảng sợ đến thế huống hồ là khi được những người lãnh đạo lái cho hướng vào một mục đích. Mục đích đó họ đã đạt, đến 30 năm. Không tính rằng trong 30 năm đó ta sẽ đi đến đâu! Và bây giờ họ đem sức lăn ỳ ạch đó đem huấn luyện trên cả nước (…) Hoạ sĩ tài tử lẫn hoạ sĩ chuyên nghiệp tha hồ vung vẩy trổ tài… Có cả một panneau to tướng trưng ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh do một giáo sư trường Mĩ thuật Gia Định vẽ. Nhưng sau đó có lệnh không được vẽ ảnh chủ tịch và tấm panneau được khiêng về trung đoàn. Phải biết phận mình. Lãnh tụ là của riêng không thể để cho bọn nguỵ lập lờ thoát xác làm con cháu được. Hình ảnh lãnh tụ là một cái gì thiêng liêng, được tiêu chuẩn hoá ngay từ lúc xuất hiện trước ống kính. Mỗi một thế đứng, dáng đi, nụ cười… của lãnh tụ là cả một sự cân nhắc góp phần vào việc huyền thoại hoá một nhân vật lịch sử: Bác với chòm râu bạc phất phơ tiên phong đạo cốt – chòm râu khi vẽ lại phải lệch đúng một phần bao nhiêu; Bác đứng tưới cây vú sữa để nhớ Miền Nam… Cho nên từ đầu tháng năm ở Sài Gòn đã có lệnh cấm bán hình lãnh tụ ngoài đường. Một nhân viên đồn điền Michelin thấy hương án, bàn thờ khói hương nghi ngút quanh hình lãnh tụ đã thốt ra: “Ils le considèrent comme un Bouddha.” Đồng hoá lãnh tụ với Phật, đó là cách nhìn “lạc hậu”, người ta không chịu đâu! Tuy nhiên nếu bởi dân chúng còn có lòng tin, còn cảm theo một dạng như thế thì có thể dễ chấp nhận để phục vụ Cách mạng. Cũng như tính chất thần quyền, vương quyền ấy đã từng có ích trong thời tranh chiến khi người nông dân Nam Bộ bảo nhau: “Đảng xuống lịnh phá ấp chiến lược, phá bình định ác ôn…” (…) Văn chương phục vụ ở Việt Nam đã được dọn đường từ những năm trước Thế chiến theo khuôn mẫu – cũng từ chương, đầy tính chất tôn giáo từ nước Nga đến, thứ lí thuyết đó chỉ cần đợi thêm có khẩu súng hỗ trợ là trở thành thống soái, khó bài bác. Khoan nói đến những toan tính ích kỉ, cuộc sống hướng về quá khứ khiến cho người ta khó chấp nhận rằng một vĩ nhân – dù là vĩ nhân thực, chết đi cũng là điều đáng mừng cho những người còn lại, cho đám hậu sinh, cho dân tộc, một cách thế thoát khỏi sự kềm kẹp họ không làm được hay không muốn làm mà tự nhiên đã ra tay thay (…) Chiến thắng 1975 làm ngợp mặt người Cộng sản, những người vừa có sự trì níu của quá khứ và sự lôi cuốn của tương lai, sức nào cũng thật là mạnh đến nỗi không chấp nhận ai khác mình vào lúc quyết định tới hay lui. Sự biến chất nằm ở hai cực đó tạo ra hai mẫu người chậm lụt và xông xáo mà sự cách biệt nổi bật lên sau chiến thắng. Người nào chậm lụt, ở vị thế không thuận lợi thì rụt rè mặc cảm – và bất mãn, đó là số đông. Người nào biết chớp thời cơ, ở vị thế mà mối lợi từ sự liều lĩnh đủ lấn át sự sợ hãi thì tha hồ buông tuồng, quên hết kinh kệ, và sử dụng sự thần bí của quyền bính làm bức màn che cho hành động tư lợi của mình, bù lúc thiếu thốn… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 47-64, 83]
Các Từ Thức-ngụy, tuy thế, vẫn không đau bằng Từ Thức bù nhìn, một tên khác cho các nhóm “trí thức”, sinh viên, văn nghệ sĩ thiên tả hoặc nằm vùng đã hoang tưởng đến một Miền Nam tự trị trong vòng tay của cuộc thống nhất huy hoàng.
1.3.4 Từ Thức bù nhìn không được giữ cả dưa
Từ Thức bù nhìnđã đánh giá ý định của chính phủ Miền Bắc quá thấp và tự tôn quá mức về tài năng của họ. Đúng như Tạ Chí Đại Trường nhắc đến, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cho biết toàn cuộc “chủ động tấn công từ Hà Nội” trong Đại thắng mùa xuân, một cuốn quân sử in ấn rất công phu, dầy 324 trang, gồm 4 trang bản đồ màu khổ to, mỗi trang gập làm 4, kèm vào sách. Cuốn này, khổ nhỏ 12 cm1/2 x 18cm1/2, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tái bản 130.000 cuốn lần thứ 2 vào tháng 4, 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh (tên mới của Sài gòn). Tạ Chí Đại Trường cũng hết sức chính xác khi đối chiếu sự bùng nổ của thành phần thiên tả trong một xã hội dung thứ mọi thứ nhân quyền. Họ lợi dụng sự tự do ấy để len lách, tựa trăm loại hoa vươn lên từ nhiều kẽ hở của xã hội; thành thử họ sẽ bại liệt trong một chế độ đòi hỏi sự tuân phục hoàn toàn—toàn những cúc vạn thọ– như đã thấy sau 1975:
… Gọi là không có gì mới lạ bởi vì bài học, lí luận vẫn chỉ là cách giải thích cho lí thuyết, biện minh cho chính sách trên các sự kiện ai cũng thấy. Gọi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Chính Phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam là bù nhìn cũng đúng với cái nghĩa một cơ cấu được xếp đặt sẵn tuy thật là khôn ngoan – nhưng cũng không nên phủ nhận sự nồng nhiệt ở nơi những người lãnh đạo, tham gia phong trào. Chính quyền Quốc gia, Cộng hoà trong hoàn cảnh riêng biệt của nước nhà, và các chính quyền tư sản Tây Phương với quan niệm xây dựng chính quyền của họ, đã để trống thật nhiều những cơ hội tung hoành ở cơ cấu hạ tầng xã hội mà những người chống đối tưởng có thể tìm ở đấy ước mơ muốn thoả mãn. Xã hội thành thị giúp họ lòng tăng tiến can đảm. Thế rồi đường dây bí mật dẫn họ ra bưng, bảo vệ họ hoạt động ở đấy đủ là một sự đe doạ vô hình cho sự hèn nhát không kịp thành hình trong khi sự tính toán khôn ngoan đẩy họ tiếp tục theo phong trào. và những người lãnh đạo thực của phong trào đã tìm cách đặt họ đúng chỗ – có xộc xệch chút ít thì những người kém may mắn ráng chịu, gắng phấn đấu để tương lai sẽ đền bù. Họ không là bù nhìn nhưng người ta đã dùng họ như bù nhìn với lời dẫn dụ tự nguyện: “Bù nhìn giữ dưa cũng có ích cho người lắm chứ!”. Khả năng “sinh hoạt” lãnh đạo của họ chỉ vừa đủ trong nhóm, trong vòng thân thuộc quen biết nên ở chính phủ này, mặt trận nọ cũng đủ cho họ thi thố tài năng, công kích đế quốc tay sai, phát biểu ý kiến về đường lối chính sách (tất cả đều dễ vì có sẵn rồi). Còn sự chỉ đạo, tuyên truyền trong ngoài nước, chỉ đạo chiến tranh, kết hợp quần chúng, họ không với tới được cũng chẳng sao. Họ bồng bềnh trong một môi trường có sẵn nâng đỡ, nuôi sống họ, nên đủ thấy gắn với “đất nước” để tự phô trương mà không thấy thắc mắc. Cho nên hết dưa, bù nhìn mất tác dụng, hay đúng hơn mất tác dụng dần dần trong mùa hái dưa. Sau 30-4 còn thấy dáng chính phủ đây đấy với một ít bộ trưởng, thứ trưởng nhưng chỉ có những người ngờ nghệch mới chờ ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát về đóng ở dinh Độc lập. Cả một bộ máy tiếp quản không để ai nghi ngờ về thực chất quyền bính nằm ở đâu. Chỉ sau này, như một phản ứng – kín đáo – của kẻ bị cướp công, người ta mới thấy bày tỏ công tác chiến đấu ở địa phương trong hồi kí của tướng Trần Văn Trà, chứ ở quyển Đại thắng mùa xuân, người chỉ huy từ Miền Bắc đưa xuống đã công khai nói đến sự chủ động tấn công từ Hà Nội. Nếu có cần giải thích cho một biểu tượng thì người ta cũng sẵn một lời giải đáp: “Cờ đỏ sao vàng là cờ Tổ quốc, cờ xanh đỏ sao vàng là cờ Mặt trận.” Hay nói như một kẻ nào đấy không biết mình là ngụy khi tìm ra lời giải thích: “Cứ kéo màu đỏ đè xuống màu xanh là ra cờ thiệt chớ còn gì phải hỏi!” Vở kịch cổ điển quá nên hồi kết cục chẳng ai ngạc nhiên. Chỉ người khó tính mới thắc mắc với chữ “hiệp thương thống nhất”, còn thì: “Như mẹ bảo con đưa tiền hai mẹ con ta tiêu chung.”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 153-154]
Từ Thức-ngụy chợt nhận ra đã đi quá nhanh. Từ Thức-Mặt trận lẽo đẽo nối đuôi. Cùng một đường, nhưng sau lưng là Từ Thức-Miền Bắc đang gắng sức bắt kịp.
1.3.5 Từ Thức-Miền Bắcvề trần Miền NamNgười Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi…
Từ Thức-ngụy già vì bị tước hết một đời xuân trong lúc Từ Thức-Miền Bắc còn lâm vào thế bí hơn. Họ bỗng nhiên bị đẩy vào một thế giới khác với tiện nghi đầy cám dỗ mà một đời hy sinh cho “đánh Mỹ cứu nước”, “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” hay “còn cái lai quần cũng đánh” chưa hề được thấy hay được hưởng. Còn được… “quần” đã là may, nói chi tới đồng hồ, xe gắn máy:
… Người ta có nhận xét rằng trong mấy mươi năm qua người dân Miền Bắc sống rất trẻ. Bao nhiêu năm chiến tranh họ có vẻ không phải đói. Không phải chỉ vì chế độ ưu việt đã mang lại no ấm cho tất cả mọi người, mà vì có viện trợ các nơi cùng phe dồn lại – không thừa mứa vì bà con cũng còn nghèo, nhưng vừa đủ để người dân đứng khỏi run đầu gối mà chiến đấu. Quá khứ khốn khổ hàng thiên niên kỉ không đòi hỏi nhiều quá sự mong ước ấm no nên chỉ cần một sự tiếp sức nhỏ giọt cũng giúp người ta chịu đựng. Cuộc sống ấy, dân Tây Phương trong sự xa hoa của mình, không tưởng tượng ra nổi. Khi người ta đã quen với điện năng với thành quả thiết thân của nó, người ta không thể nào hiểu tại sao kẻ khác có thể sống với ánh trăng sao, với đèn dầu tù mù. Một cái building bị cúp điện, gây rối loạn thần kinh, gây tai nạn chết người trong khi ở những ngôi nhà tre lá, nhà ngói cũng được, ở thôn quê dân chúng vẫn ung dung hoạt động. Cái bi thống trầm hùng ở đây mà một số người Tây Phương tô vẽ trong quan điểm nhân bản của mình, thật cũng là bình thường để người dân có thề chịu đựng được mà chờ sắp hàng lãnh tiêu chuẩn. Không có thịt cá thì cà mắm tương rau, không có xe cộ thì lết bộ cũng tới – nhà nước lại chẳng cần họ đi xa, đi nhanh vì muốn thấy bóng họ để dễ bề kiểm soát. Họ chẳng cần lo nghĩ nhiều vì cái không với tới được thì nghĩ cũng vô ích, còn chuyện bình thường thì đã có nhà nước lo sẵn rồi. Sự cô lập tạo thêm yếu tố khách quan để khỏi thấy sự phiền tạp của cuộc sống – vô tri bất mộ mà! Quyền bính hờm sẵn về mặt tích cực, và mối lo cơm áo về mặt tiêu cực giúp chận những ý nghĩ rắc rối riêng tư. Quả thật người ta đã sống rất trẻ. Ấy thế rồi chiến thắng mở ra thế giới – không phải thế giới “của chúng ta”. Sài Gòn như là ngoại quốc đối với Hà Nội, một thứ ngoại quốc có cách biệt hàng trăm năm về phía trước dù bộ máy tuyền truyền ra sức phủ nhận. Người Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi... ý thức được không gian vô cùng, ý thức thời gian biền biệt, ý thức cuộc sống quay cuồng. À, thì ra thế giới là thế đó. Cái huênh hoang chiến thắng không đủ che lấp nỗi dằn vặt, chưa kể dằn vặt không xuất hiện kịp vì khối chiến lợi phẩm lù lù đè xuống. Thói quen phục tùng khiến không đủ sức khơi dậy những biến động có ý thức. Nhưng như mối mọt đục ruỗng bên trong, nền tảng chính trị phải sụp đổ: Cái trong sạch của thời Kháng chiến, cái lí tưởng nhiệt thành chung tan biến, người ta lo xây dựng chủ nghĩa xã hội cho riêng mình mặc dù nhà nước, lãnh đạo cố gào thét, kìm cương, cái dây cương không còn hiệu quả vì phải buộc vào hàng trăm hàng nghìn con ngựa tuột mất cái tích che mắt. Chỉ còn lại những quyền lợi ráng chia nhau mà hưởng, còn lại lòng tự ái về quá khứ oanh liệt cố trì níu thời kì lù lù trước mắt! Người trong đã vậy mà người ngoài thì cũng chẳng khác. Giấc mơ nhân bản của họ tan biến sau một chặp thiếp đi ngắn. Có bàng hoàng thì họ kêu khóc về thân phận kiếp người. Thiếp đi nữa thì họ có thể đi vào một giấc mơ nhân bản mới với đối tượng cập thời. Đó là biểu hiện của những người phản chiến cũ, những nhân vật mà còn vì nể nang, hay đúng hơn để khỏi chứng tỏ mình quay quắt, chính quyền “ta” gọi là “những người nhẹ dạ” trước đường lối tuyên truyền của bọn phản động quốc tế… Biện minh là quyền của tất cả, vấn đề là biện minh có tính thuyết phục hay không… [Tạ Chí Đại Trường, “Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 272-273]
“Chiến lợi phẩm” không chỉ bằng vào số tiền, vàng khổng lồ trong ngân khố, ngân hàng, trong những thương xá ngập ngụa hàng hóa ngoại quốc và biệt thự, cao ốc cùng xe hơi, máy điều hòa không khí mà chỉ có giới cao cấp mới phân phát cho nhau được, nhưng còn truyền xuống những trại giam Tù Cải tạo một cách bất ngờ với loại sản phẩm thực dụng khác. Người giam tù cũng có thể lợi dụng được số binh khí, quân trang bỏ lại từ sự viện trợ của Hoa Kỳ với sức lao động của người tù:
… “Hòm” của cấp trên làm bằng nhôm, dura. Các bình xăng phụ sáng loáng của phi cơ, vèo cái là hết… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170]
Hoặc qua sự trao đổi giữa người giữ tù và người tù tại các trại tù. Người giữ tù (quản giáo, vệ binh) ở Miền Bắc chuyển hộ thư từ cho gia đình người tù ở Miền Nam bằng một giá được hai bên đồng ý. Nhờ đó, thân nhân biết rõ người tù cần gì. Đôi khi, họ nhận đổi hộ tiền cũ của người tù mang theo thành tiền mới. Theo thời gian, giới giữ tù cũng nhìn người tù khác đi khi nhận ra sự phú cường của dân Miền Nam là do sức lao động, không phải do Đế quốc đổ tiền vào hay “ăn bám nhân dân”. Bởi thế, theo tôi, sự hàn gắn giữa dân chúng hai miền đã bắt đầu ngay tại các trại tù này, từ ngay hồi những năm cuối 1970.
Ông phân tích về một chính sách sử dụng nhu cầu sống còn nhắm triệt tiêu giai cấp tiểu tư sản–giai cấp đông đảo có tiềm năng chống lại họ mạnh mẽ– và giữ mọi giai cấp khác tại mức chỉ có thể tồn tại hầu không còn thừa năng lượng mưu cầu những thứ xa xỉ khác, nhất là thứ xa xỉ làm cách mạng chống lại nhà nước:
… Chính sách “cái bụng” kể cũng hay, và chẳng ai thực hiện có căn bản chừng mực như chính quyền này – tầm mức xã hội lại vừa với khả năng cai trị của họ. Mọi người tuôn ra đường kiếm ăn không kịp suy nghĩ gì khác dù là để than vãn. Người công nhân viên chức chờ chực nhu yếu phẩm, đúng là phần nhu yếu để không dám có ý nghĩ lệch lạc khiến phải mất đi. Đám trí thức cấp cao cũng được tập tành sống trong sự ràng buộc đó từ lúc còn là sinh viên với khoản lương nhỏ sống hàng tháng. Số ít người được ưu thế thì tuy ưu thế thật quá nhỏ so với các nước khác nhưng thật quá, quá to đối với người thường chung quanh nên cũng nơm nớp sợ mất. Ấy thế mà chính sách cũng khôn ngoan không để người dân phải đói – số đó thật quá ít để khỏi phải lưu tâm sợ gây nên biến động, nhất là trong tình trạng có sự ràng buộc kiểm soát chính trị chặt chẽ không để hở cho một lực lượng chống đối nào. Những cuộc chống đối có hệ thống còn để lại trong lịch sử không phải của những người cùng đinh xơ xác mà là của những người sống trong một hoàn cảnh còn đủ ý thức nhận định riêng. Những người này còn đủ ăn nhưng ở mức bấp bênh để lo sợ suy sụp hơn nữa, và đủ ăn để còn mong muốn, hi vọng có khả năng vượt qua tương lai đen tối, có đủ ăn riêng biệt để không bám vào ơn huệ của chính quyền mà còn đặt nhà cầm quyền vào vị thế đối lập để trút căm hờn vào chính quyền như là tác nhân của sự khốn cùng của chính họ. Hãy xem những người Xô viết Nghệ Tĩnh gây biến động năm 1930 vốn là những người đủ ăn, thuộc khu vực giàu có tương đối trong vùng trong khi những vùng khác, cằn cỗi, nghèo nàn thì im lìm thụ động… Sự truy bức những người giàu có lan xuống đến tầng lớp trung nông, được mệnh danh là “cải tạo tư sản”, và những lời nhắc nhở trông chừng tư sản ngóc đầu dậy là phương tiện kiến hiệu áp dụng chủ thuyết để phục vụ chính sách cái bụng, bảo đảm an ninh chính trị, củng cố quyền lực của Đảng…[Tạ Chí Đại Trường. Đường về Long Khánh, sđd, trang 214-216]
Cai trị người dân bằng “bao tử” –ở đây thì không còn bá nhân bá bao tử vì bao tử cũng đồng nhất do chính phủ ban phát—kèm theo một sự thuần hóa cán bộ bằng bàn tay sắt không bọc nhung khiến bộ máy hành chánh và quân lực chạy đều. Ở đây, ông cho rằng sự thuần hóa đến nỗi phi lý này xẩy ra được vì nhiều thế hệ cán bộ lớn nhỏ đều bị giáo dục và tiếp tục bị giáo dục từ chủ đích chính trị kèm bạo lực:
– … Có những cái giả thật trơ tráo nhưng không phải được nghe nói y như thật mà chính là sự thật qua công trình uốn nắn giáo dục lâu dài. Chúng tôi hiểu rõ được điều đó qua một nhân vật trẻ tuổi dược cử làm phụ tá quản giáo đội chúng tôi, anh P. có lúc đã vỗ ngực xưng “từng học Đại học” để chứng minh thêm cho cái dáng nhanh nhẹn, cái lối ăn nói lưu loát của anh. Trong một buổi tham dự thảo luận tổ, anh đã góp ý kiến nhận xét phê bình với chi tiết về tinh thần tham gia học tập của chúng tôi, về những ưu khuyết điểm của cuộc thảo luận, đọc từ quyển sổ anh rút trong túi ra, không biết đã được hí hoáy ghi chép vào lúc nào. Trong buổi chúng tôi cắn bút làm tờ khai, anh cũng bước vào, giật lấy một bản nháp nhìn qua rồi góp ý: “Này, anh nói thế này thì ai tin? Đến ngày đến tháng thì lên thiếu uý, đến ngày đến tháng thì lên trung uý, ai mà tin cho được? Anh giấu làm gì? Anh đã hiếp dâm bao nhiêu lần để lên đại uý?” Tội nghiệp cho anh chàng bác sĩ lai Đức, con một cựu tổng trưởng, thừa tiền ăn chơi, thừa dáng sắc và giáo dục để hấp dẫn người mà cũng đủ nhút nhát để sợ đàn bà con gái la lên! Câu chuyện đó được bàn tán sôi nổi vào buổi chiều, và người ta biết thêm không phải chỉ có một trường hợp bị vạch mặt như thế. Bực tức và khinh miệt. Làm sao giải thích được rằng một xã hội đầy dẫy đĩ điếm như lời tố cáo mà lại không giải toả được những ham muốn nhục thể? Nếu còn có phần không kềm được thì những hành động bạo lực sao không bị trừng trị bởi một xã hội dù sao cũng phải có kỉ cương để sống còn – cũng theo lời tố cáo, là sống còn cho giai cấp nắm quyền? Lí trí bình thường, cái thứ lương tri đó, đã bị đàn áp như thế nào để không gượng nổi trước những lời tuyên truyền tinh vi, một thứ giáo dục quần chúng chỉ cần đạt mục đích chính trị? Mức độ tham gia sự phóng đại của anh chàng bộ đội tốt nghiệp phổ thông này, chắc là bắt nguồn theo đà chiến thắng nâng cao, nhưng giáo dục lâu dài hẳn phải cấu thành căn bản vững chắc cho suy nghĩ của anh… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 114-115]
Thế nên, không lạ gì khi đoàn xe tăng Miền Bắc tiến vào Sài gòn, họ không cần che giấu chi hết:
– … Một nhà nước muốn mang danh nghĩa chính thống thì phải biết kềm hãm cái đà sắt máu mình đã khuyến khích vì nhu cầu cướp chính quyền – câu chuyện đã xảy ra từ sau tháng 8-1945, chưa phải đợi tới Tây, Mĩ. Phải kềm hãm được một chừng mực nào đó để chứng tỏ mình làm chủ được tình hình, tức là có thực quyền. Lúc này, khi đã có tiếng la hét “tắm máu” thì phải chứng tỏ chúng toàn đồ láo khoét, phải chứng tỏ chúng đã thất bại ngay cả sau chiến tranh. (Có một tên nguỵ nói: “Không có tắm máu chỉ vì có tiếng la tắm máu rồi. Vả lại cứ giết đi thì làm sao sống yên với 24 triệu người còn lại!”) Nói như thế chứ cái đà hăng say chiến thắng đã khiến người ta không thể có một tầm nhìn xa rộng hơn. Mãi sau này, mỗi khi kỉ niệm ngày 30-4, người ta vẫn cứ hãnh diện nhắc chuyện người sĩ quan vào Dinh Độc lập nói với tướng Dương Văn Minh: “Không bàn giao gì hết, các anh thua trận, bây giờ là tù binh!” Chúng ta có thể thấy cái ngớ ngẩn của mấy ông Tối cao Pháp viện thắt cà-la-oách ngồi, cứ tưởng để chứng kiến thi hành một thủ tục pháp lí mà không hiểu tính chất cuộc chiến của những người phủ nhận cái pháp lí được coi là riêng của kẻ thù bị thất bại, và chỉ xử sự như là kẻ chiến thắng mà thôi. Lời nói vớt vát của một lãnh tụ: “Chỉ có đế quốc thất bại, còn dân Việt là người chiến thắng” nồng nàn tình cảm dân tộc đậm đà như thế, lại chỉ có ý nghĩa với tiền đề “phe ta” là cả dân tộc, không tranh cãi. Một nền độc lập ghép với một chính kiến được theo đuổi với nhiệt tình – quá nhiều nhiệt tình, rốt lại đòi hỏi sự nô lệ của người trong nước! Nỗi đau nhục còn dài lâu… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 138-139]
“Nỗi đau nhục” trước hết là hai lối sống, hai lối suy nghĩ hoàn toàn khác nhau giữa 2 miền khiến người giam tù không chỉ sỉ mạ người tù vô cớ mà còn sử dụng bạo lực cũng vô cớ vì lối giáo dục bất chấp sự thật cần đến bạo lực mới tồn tại được.
Có những người lính, nhắc tên lên là cả một bầu trời kỷ niệm hiện về…
Không phải vì họ nói hay.
Không phải vì họ thích kể công.
Mà vì sau lưng họ là quá nhiều lần đi mà không biết có ngày trở về.
Lê Thanh Xuân… anh em gọi thân thương là “Xuân nháy”, là một người như thế.
Một đời lính âm thầm đi giữa lằn ranh sống chết, công tác Bắc Bộ, từ rừng sâu Hạ Lào, Campuchia cho tới tận đường mòn Hồ Chí Minh… để hôm nay, những thằng lính sữa như tụi tôi còn được ngồi nghe lại chuyện đời binh lửa qua giọng kể bình thản của anh.
Tôi viết, không phải để thần tượng hóa một con người.
Mà để nhắc nhau nhớ rằng… đã từng có những người lính sống rất thật, rất gan lì, rất khiêm nhường giữa một thời máu lửa.
Và “Xuân nháy”… là một trong những người như thế.
LÊ THANH XUÂN, “XUÂN NHÁY”
Một cái tên mà anh em Đoàn 11 nhắc hoài không chán…
Nhiều người hỏi:
“Tại sao bài viết nào cũng thấy nhắc tới anh Xuân nháy vậy?”
Xin thưa… anh là tự điển sống , của một phần nha kỹ thuật, vì đời lính của anh quá dữ dội, quá nhiều chuyện để kể.
Một đời lính thật sự. Một đời sống giữa ranh giới sống chết.
Anh Lê Thanh Xuân, anh em gọi thân thương là “Xuân nháy”, gia nhập Đoàn 11 từ năm 1965… rồi đi cho tới ngày “đứt phim”.
Cả cuộc đời lính của anh gần như chỉ có hai chữ:
“XÂM NHẬP.”
Bắc Việt có mặt anh.
Hạ Lào có dấu chân anh.
Campuchia có bóng anh.
Đường mòn Hồ Chí Minh, dọc biên giới, vùng tam biên… nơi nào hiểm độc nhất, nơi đó thường có Xuân nháy.
Đi công tác riết thành huyền thoại.
Nhưng điều anh em quý anh nhất… không phải vì thành tích, mà là cái khí chất rất lạ của anh.
Sống sót qua biết bao trận đụng độ, bao lần trực thăng bốc nóng, bao lần rượt chạy giữa mưa đạn… vậy mà chưa bao giờ thấy anh khoe khoang hay tự nhận mình giỏi.
Ai hỏi bí quyết sống còn… anh chỉ cười nhẹ:
“Tao nhờ ơn trên thôi mày…”
Nghe đơn giản vậy thôi… mà lạnh sống lưng.
Vì tụi tôi hiểu… những người từng đi công tác thật sự, mới hiểu mạng người nhỏ cỡ nào giữa rừng già và họng súng.
Anh Xuân nháy giàu kinh nghiệm lắm. Nhìn dấu rừng là biết có phục kích.
Nghe tiếng động là đoán được hướng địch.
Đêm ngủ, mắt thì nhắm, tai vẫn mở.
Máu lính trong người anh chắc chưa bao giờ nguội.
Mà lạ một điều… càng dữ dội bao nhiêu, anh càng hiền bấy nhiêu.
Tụi tôi là lính sữa, hân hạnh được cùng đơn vị với anh.
Lại may mắn sống gần anh hôm nay… nên mới có dịp ngồi “bà tám”, nghe anh kể chuyện đời các chuyến xâm nhập năm xưa.
Mỗi câu chuyện của anh không phải để khoe chiến công… mà là những mảnh đời còn sót lại sau chiến tranh.
Có những lần nghe anh kể… cả bàn cà phê im re. Không ai chen vô nổi.
Bởi có những người lính…
không cần quân phục nữa vẫn làm người khác đứng nghiêm khi nhắc tới tên mình.
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 7 Jun 2026
Đến trưa lại có một trận dội bom. Buổi sáng trời đã u ám oi ả như sắp có cơn giông. Mây thấp lắm, ánh sáng bom nổ chiếu lên từng thác lửa từ mặt đất đổ lên rồi dội trở xuống. Giờ nghỉ buổi trưa làm phố xá đầy ắp người. Một người trưởng xóm bảo Grabe phải xuống hầm núp gần đấy. Graber nghe lời, y tưởng rằng chỉ có còi báo động lấy lệ, nhưng khi bom bắt đầu nổ, y định chen qua đám đông về phía cửa hầm. Cửa mở để vài người ăn mặc dân sự đi xuống, y thừa dịp lẻn ra ngoài.
– Vào ngay! Không ai được ở ngoài, trừ trưởng xóm.
– Tôi là trưởng xóm.
Y chạy vội về phía xưởng may. Không chắc có thể tìm thấy Elisabeth nhưng y cũng ráng đưa nàng đi chỗ khác vì xưởng là mục tiêu thường lệ của trận bom.
Y rẽ sang phố khác. Đầu phố, một căn nhà bay bổng lên không trung, phân ra từng khối, rồi lại phân tán nhỏ ra, sau cùng xoay tròn mà rơi xuống rất ngoạn mục; tiếng bom nổ liên tiếp làm cho người ta có cảm tưởng rằng căn nhà rớt xuống không có tiếng kêu. Y nằm rạp xuống cống, hai tay bịt chặt lấy tai. Một tiếng nổ thứ hai có gió làm như một bàn tay khổng lồ nhấc bổng người lên quẳng xa mấy thước về sau. Chung quanh mình đá tảng rớt như mưa. Giữa những tiếng nổ kinh khủng hình như đá rớt không tiếng kêu. Y đứng dậy ráng sức cựa mình cho khỏi hoa mắt. Dãy phố trước mặt là một rừng lửa. Không thể đi được; y quay trở lại.
Nhiều người chạy lại gần y, mặt mày hớt hải, miệng la hét. Y không nghe thấy tiếng la. Họ đi bên y như những người câm điếc đang lên cơn điên khùng. Người cuối cùng lê cái chân gỗ đi chậm chạp, tay còn cắp cái đồng hồ treo. Một con chó chạy theo sau, cụp lại, quắp đuôi vào giữa hai cẳng sau. Một đứa con gái độ năm tuổi ẵm đứa bé đứng đợi dưới một cái cổng. Graber dừng lại:
– Đến hầm núp kia! Ba má đâu, đứng đây làm gì?
Con bé không đưa mắt nhìn lên, nó đứng nép chặt vào tường, sợ hãi đến tê liệt cả người. Bấy giờ y chợt thấy một người trưởng xóm bảo y cái gì đó nhưng không nghe được. Y cũng la lớn đáp lại nhưng không ai thấy gì cả. Người trưởng xóm lại mở miệng, vung hai tay lên. Graber không nghe, lấy tay chỉ hai đức bé. Hai người như đóng kịch câm. Người trưởng xóm đã đến giơ tay dắt đứa bé. Bấy giờ y mới thấy mình cất được gánh nặng có thể nhảy từng bước lớn qua dãy phố. Chỉ vài giây sau có một bàn tay vô hình đẩy y ngã giúi xuống đường. Một cái tủ đứng, hai cánh mở tung lượn qua đầu y như một con chim tiền sử. Ngay trước mặt y vừa mở ra một ngọn núi lửa trùm lên cái cổng, đổi ra màu trắng bạc, hơi nóng rát mặt, thấu vào phổi. Y vòng tay che lấy mặt, nhịn thở rất lâu, cho đến lúc mình muốn bể tung mới thở lại và ngẩng mặt lên. Một bức ảnh mờ mờ, nhảy múa loạn xạ trước hai mắt đầm đìa nước mắt; dần dần cảnh vật hiện rõ: một bức tường đổ xuống thềm nhà. Đứa con gái nằm sóng sượt, hai tay bắt tréo, chiếc váy ngắn hất lên để lộ hai đùi khẳng khiu, một chiếc gióng sắt đâm ngang mình – xa xa một chút, người trưởng xóm mất hẳn đầu, người nát bấy, khớp xương hình như xoay ngược lại, hai chân quặp vào vai. Đứa trẻ sơ sinh biến mất, chắc là bị hơi nổ cuốn đi; bây giờ có một luồng hơi đi ngược trở lại làm chuyển động ngược chiều trước. Graber nghe có tiếng nói:
– Quân khốn nạn! Quân khốn nạn!
Y ngửa lên nhìn quanh thì ra chính là tiếng nói của mình.
Y chạy miết theo dãy phố, và không biết tại sao y thấy mình ở gần xưởng may. Xưởng may gần như không sao cả chỉ có cháy bên phải lủng một lỗ lớn, còn những nhà khác vẫn nguyên vẹn.
Người canh cửa cản lại.
– Vợ tôi ở trong ấy, cho tôi vào.
– Không được. Hầm núp ở ngay kia, hầm của xưởng không để cho người ngoài vào.
– Trời ơi! Ở đây cái gì cũng cấm hết! Nếu anh không để cho tôi vào thì liệu hồn.
Anh gác đưa tay chỉ một cái lô-cốt thấp ngay lối vào xưởng:
– Trong ấy có hai người canh với một khẩu liên thanh. Bây giờ anh thử làm gì xem. Đồ ngu!
Không cần nói thêm gì nữa. Y hiểu rằng khẩu liên thanh lia quanh chỗ này không trừ một chỗ nào.
– Súng liên thanh, rồi còn gì nữa? Trong này là đàn bà may áo lính hay là tội nhân mà phải cẩn mật thế?
– Anh ngu thật! – Anh ta ra vẻ khinh bỉ – Nào chỉ có may áo lính mà thôi đâu; còn cả hàng trăm tội phạm chính trị làm ở dưới hầm. Anh đã hiểu chưa?
– Hiểu rồi. Hầm ở đây tốt không?
– Dĩ nhiên hầm tốt. Người ta cần bảo vệ người làm. Thôi đi đi. Không ai được đến gần xưởng may. Anh còn lảng vảng ở đây người ta nghi phá hoại thì chết mất xác!
Những tiếng nổ lớn đã chấm dứt nhưng súng phòng không vẫn nổ ầm ĩ. Graber đi theo dọc tường xưởng may, tránh ra xa. Y không muốn vào hầm núp và đến ngồi xổm trên một hố bom còn bốc khói ở phía bên trái. Mùi hôi hắc làm y nghẹn cổ, y bèn trở ra nằm lên trên chỗ đất bom đào lên, mắt quay lại nhìn về phía xưởng. Chiến tranh ở đây có bộ mặt khác hẳn! Ở mặt trận, ai nấy lo cho tính mệnh mình, ít khi có anh em ruột trong cùng một đơn vị. Ở đây mỗi người lại lo cho người thân trong gia đình. Chiến tranh được nhân với hai, với ba, với mười – Y nghĩ xác đứa con gái nhỏ bị xúc phạm vì bom nổ, y nghĩ đến cha mẹ, đến vợ mới cưới và thấy căm thù xoắn lấy ruột như cơn đau bụng. Đó là mối căm thù không ngừng lại ở biên giới xứ mình nữa, một mối căm thù không còn kiêng nể gì công bằng đạo đức và không nghĩ đến sự giao hảo trở lại với lân bang.
Trời bắt đầu mưa xuống. Hạt mưa như từng giọt nước mắt rớt mau trong bầu không khí ngột ngạt hơi độc. Rớt xuống mặt đất giọt nước xòe ra thành từng chấm thấm xung quanh tua tủa gai nhọn. Bấy giờ là lúc oanh tạc cơ bay đến.
Y có cảm tưởng như phổi mình rách tung. Tiếng gầm nổi lên, trở thành một tiếng rít như tiếng kim khí, chái bên trái xưởng may cất bổng lên không, tan thành từng mảnh đen trong một vùng lửa đỏ. Dường như có một người khổng lồ chơi tinh nghịch, ném đồ chơi của hắn từ trong lỗ đất của hắn ra.
Graber há hốc miệng nhìn lửa trắng xanh bốc lên trời.
Y nhảy chồm lên chạy đến cửa xưởng.
– Trời lại làm chi đây, con khỉ? Không thấy xưởng trúng bom rồi à?
– Vì thế nên tôi trở lại. Chỗ nào bị trúng bom thế, chỗ vá đồ chăng?
– Vá đồ! Nói càn, vá đồ ở xa cơ.
– Thật hả? Vợ tôi…
– Câm mồm. Đàn bà ở cả dưới hầm. Để yên cho người ta làm việc. Có cả chục người chết và bị thương phải mang ra bây giờ.
– Đã ở hầm sao còn bị thương.
– Đây là những người khác, người ở trại tập trung. Anh không biết gì cả. Người ta không đưa họ xuống hầm. Anh tưởng rằng họ có hố cá nhân hả?
– Không.
– À! Anh bắt đầu hiểu rồi đó. Nhưng không sao. Đi lính đã lâu như anh thì phải bình tĩnh một chút chứ. Thôi có vẻ êm rồi. Ngày hôm nay chắc chỉ có thế thôi.
Graber lắng tai nghe. Chỉ còn tiếng súng phòng không.
Y hỏi:
– Này anh, tôi chỉ hỏi anh có một điều, có ai bị thương trong số những thợ đàn bà ở xưởng may quần áo này không? Cho tôi đi một chút. Anh cũng có vợ mà.
– Có vợ! Anh làm như tôi không lo cho vợ tôi đến mất mật à?
– Thế thì vào hỏi giúp tôi. Nếu anh giúp tôi chắc vợ anh cũng không sao đâu.
Anh ta chỉ cười gằn lắc đầu:
– Anh thật là!… Anh là người điên hay là ông trời?
Anh ta đi vào, một lát sau trở ra.
– Gọi dây nói hỏi rồi. Xưởng may không bị. Chỉ có mấy anh trại tập trung ăn bom thôi. Thôi nhé, mời ông đi cho khuất mắt.. À này anh lấy vợ từ bao giờ?
– Được năm ngày rồi.
– Sao anh không nói ngay, tôi sẽ hiểu!
Graber nghĩ thầm: “Mình muốn có cái gì ràng buộc mình ở lại đây, không ngờ rằng chính sự ràng buộc ấy làm cho mình dễ bị ảnh hưởng khốc hại hơn”.
***
Trận bom thế là hết. Trong tỉnh, chỉ còn là khói lửa và chết chóc. Có đến hàng ngàn đám cháy. Đủ các màu lửa: đỏ, xanh, vàng, trắng, có những đám cháy chỉ bò sát trên mặt đám gạch vụn, đám khác lẳng lặng bốc lên thành từng cột; có những ngọn lửa vui mừng liếm quanh mấy cái cửa sổ còn nguyên vẹn, có những ngọn lửa rụt rè sờ soạng tìm từ cửa nọ sang cửa kia, nhưng có những cái cửa sổ khạc ra từng đống lửa đỏ rực hung dữ lạ thường. Lửa vừa la hét, vừa ở trong nhà xô ra, chạy từng vòng tròn, xoắn xít lại với tiếng rít mỗi lúc mỗi thêm mạnh, nhảy lồng lên rồi mới tắt ngúm tỏa ra mùi thịt đốt thành than tanh lộn mửa.
Một người đứng gần Graber nói :
– Những bó đuốc người. Không thể cứu được. Họ có thể cháy vì bom phun ra một chất tẩm cho da thịt xương họ rất đượm lửa.
– Tại sao không thể dập tắt được?
– Phải có một vòi thán khí riêng cho mỗi người mà chưa chắc đã đủ.
– Thế thì tốt hơn hết là bắn cho họ một viên đạn, nếu không thể cứu họ được.
– Anh cứ thử mà bắn coi để mà mang tội giết người! Vả chăng họ cứ chạy lồng lên, vì có gió nên họ hóa ra bó đuốc. Tại gió, anh hiểu không?
Graber nhìn người ấy. Dưới cái mũ, hai mắt sâu như hai lỗ đáo đen, miệng thiếu mấy cái răng.
– Vậy thì họ phải đứng yên à?
– Cứ theo lý thuyết thì như vậy. Đừng giẫy giụa, tìm chăn mền trùm lên người. Nhưng làm thế nào có chăn mền? Vả chăng bị cháy bỏng thì ai mà đứng yên được?
– Khó thật… Anh là lính chữa lửa hay trưởng xóm?
– Không. Tôi chỉ đi nhặt xác chết và người bị thương. À xe đã đến rồi, sớm quá!
Graber thấy một cỗ xe ngựa kéo tiến lại.
– Đứng lại! Không thể đi xa hơn được nữa. Để khiêng cả lại đây. Có cáng không?
– Có hai cái.
Graber đi theo hai người. Người chết nằm sau một bức tường. Y nghĩ thầm: “Y như ở lò heo vậy”. Không, không được như lò heo, ở lò heo người ta còn làm việc theo thể thức rõ rệt con heo được mổ ra, cạo lông và chọc tiết. Nhưng ở đây người ta bị đè bẹp, nát thây, hay đốt thành than. Từng mảnh áo còn dán chặt vào thịt, một tay áo len, một cái váy vải hoa, một ống quần nỉ, một bộ nịt ngực dây kim khí còn quấn chặt lấy hai vú đen thui và máu me. Xác trẻ con chất thành một đống, chúng bị chết một loạt vì hầm lún. Có những bàn tay, bàn chân đứt riêng ra, những cái sọ bóp nát, những cái cẳng long khớp, lẫn lộn vào đấy còn có cả đồ vật, một cái cặp sách học trò, một cái giỏ trong đó có xác con mèo cong queo. Xác một đứa con trai trắng như bạch tạng, trông không thấy thương tích gì rõ rệt, y như vớt ở âm ti lên đợi bà mụ truyền cho hơi sống. Xa xa, một xác chết bị cháy qua loa nhưng cháy đều, trừ chân phải đỏ lửng và phồng lên, không thể biết đàn ông hay đàn bà vì lửa cháy hết ngực và hạ nang. Một cái nhẫn vàng ở ngón tay cong queo ném ra tia sáng rực rỡ.
Có người nói:
– Mắt cũng cháy. Ai có ngờ mắt cũng cháy.
Xác chết được chất đống lên xe.
“Linda Linda”. Một người đàn bà vừa đi theo cáng vừa khóc thảm thiết.
Mặt trời chọc thủng mây đen. Phố xá đầm nước mưa sáng loáng. Cây cối còn nguyên lành rung rinh những chòm lá xanh mơn mởn sau cơn mưa rào.
– Không có xá tội gì cả.
Một người đứng gần Graber nói vậy.
Y quay lại thấy một người đàn bà đội mũ đỏ rất chải chuốt đang cúi xuống với mấy đứa con.
– Không bao giờ có xá tội, dù ở kiếp này hay kiếp khác.
Một toán người đi tuần qua la om sòm:
– Các ông các bà đi giùm, cấm tụ tập ở đây!
Graber bỏ đi: “Tại sao lại không có xá tội?” Y tự hỏi. Sau trận chiến tranh có biết bao nhiêu cái không thể tha thứ được, nhưng người ta cũng phải tha thứ. Một đời người không đủ. Còn biết bao nhiêu người, bao nhiêu trẻ con bị giết ở Pháp, Hòa Lan, Ba Lan, I Pha Nho, Phi châu, Nga, đứa trẻ nào cũng có cha mẹ thương xót, chứ không phải chỉ có ở nước Đức mà thôi (nếu cha mẹ chưa bị mật vụ thủ tiêu). Nhưng tại sao y lại có quyền nghĩ vô tư như vậy? Một giờ trước đây có phải chính mình đã ngửa mặt lên trời nhìn phi cơ kéo đến mà mắng người ta là quân khốn nạn không?
***
Nhà Elisabeth không bị bom trực tiếp, nhưng một trái bom lửa đã rớt trúng một căn nhà cách xa một chút, lửa bị gió thổi lại có thể làm cháy nóc.
Lão trưởng xóm ngồi vỉa hè nhìn đám cháy.
– Sao không tìm cách dập tắt ngọn lửa?
Lão ta chỉ về phía tỉnh:
– Chẳng thấy ai thử dập tắt đám lửa cả.
– Không có nước à?
– Có nước nhưng vòi yếu quá, chảy nhỏ giọt, vả chăng không thể đến gần được. Mái nhà sụp xuống đến nơi rồi.
Ngoài hè ngổn ngang đủ thứ, ghế, va-li, họa phẩm, gói, bọc. Có cả con mèo với cái lồng chim. Từ cửa sổ lầu nhất nhiều người mặt vã mồ hôi đang ném hết gói nọ đến gói kia xuống đường.
Graber hỏi:
– Suốt căn nhà có thể cháy được không?
– Có thể lắm nếu lính cứu hỏa không tới ngay. May mà trời ít gió. Chúng tôi đã đóng hết cửa và mở vòi nước cho chảy. Bây giờ không biết làm gì nữa. Xì gà ông hứa đâu? Lúc này nên hút một điếu.
– Ngày mai. Chắc chắn.
Y đưa mắt tìm cửa sổ nhà Elisabeth. Căn phòng không bị đe dọa trực tiếp, còn nhiều từng lầu trên mới đến nóc. Nhưng nóc đã bắt đầu bốc khói, cửa sổ bên cạnh bóng mụ Lieser qua lại lãng xăng. Mụ ta đang gói một bọc lớn, chắc là chăn mền. Trong bóng tối mờ nom mụ như một con ma mập ú.
– Mình cũng phải thu xếp vài gói đồ mới được.
Một người đeo kính đụng phải Graber ở cầu thang, ông ta như sụm xương vì mang một gói lớn quá.
– Xin lỗi.
Y nói lễ phép rồi đi không nhìn mặt người hàng xóm.
Cửa nhà mở. Ngoài hành lang đầy những gói với bọc. Mụ Lieser tất tả chạy qua nhanh như luồng gió, răng nghiến chặt, mắt mũi nhếch nhác. Graber vào phòng Elisabeth và đóng cửa lại.
Y ngả người xuống chiếc ghế bành và đưa mắt nhìn quanh. Trong nhà im lặng và bình ổn một cách kỳ dị. Y ngồi một lúc lâu, đầu rỗng không, không nghĩ ngợi gì cả. Rồi y bắt đầu đi kiếm va-li. Dưới gầm giường có hai cái. Y tự hỏi không biết mang cái gì đây.
Y bắt đầu chọn mấy cái áo dài có vẻ thường dùng, rồi mở tủ lấy chăn mền, bít tất, nhét một xấp thư vào giữa đôi giày. Bên ngoài tiếng gọi nhau ấm đi. Y nhìn ra cửa. Không phải lính cứu hỏa, chỉ có dân cư trong phố chở đồ đạc đi. Một người đàn bà mặc chiếc áo lông thú ngồi trong một chiếc ghế bành nhung đỏ để trên vỉa hè, tay giữ một két tiền đặt trên đầu gối. Chắc là nữ trang. Y tìm các ngăn kéo xem có nữ trang của Elisabeth, nhưng chỉ thấy một cái vòng vàng nhỏ và một cái trâm nạm ngọc. Ngập ngừng một chút, sau y quyết định mang cả chiếc áo Elisabeth mặc hôm đi ăn ở lữ quán Germania. Y cảm thấy xúc động khi sờ tư trang của Elisabeth, hơi e lệ như mình xúc phạm bí mật của người yêu.
Y để hết đồ đạc vào một cái va-li thứ hai của cha vợ và khóa lại, rồi ngồi xuống ghế đợi. Y lại thấy căn phòng bình ổn lạ thường. Có lẽ nên mang theo cả chăn mền thì hơn. Y bèn cuốn hết chăn mền vào một tấm khăn phủ lớn như đã thấy mụ Lieser làm. Khi đẩy gói đồ ra cửa y mới trông thấy ba lô của mình bỏ quên sau giường nằm. Y nhấc bị lên, cái mũ rớt xuống sàn với tiếng kêu mềm nhũn. Y nhìn cái mũ như một vật lạ lùng khó hiểu rồi lấy chân hất vào đống đồ đạc.
***
Nhà cửa dần dần sụp đổ trong đống lửa. Lính cứu hỏa vẫn chưa đến. Có lẽ họ mắc ở nơi khác. Xưởng may có vẻ quan trọng hơn biệt thự lẻ loi này. Vả chăng suốt khu phố đang bị cháy.
Ai có gì mang được đã mang ra ngoài hết. Họ tự hỏi không biết bây giờ làm thế nào? Không có cách nào chở đi mà cũng không có chỗ trú. Cách căn nhà cháy vài thước phố bị chặn rồi. Từ ấy đến đây, hè và đường đẩy nghẹt bàn ghế và đồ đạc. Người ta ngồi vào ghế quay mặt nhìn nhà mình như ngồi xem hát. Một gia đình ngồi quây quần lại xung quanh cái bàn xếp như đợi người ta dọn ăn. Những người khác chiếm lấy một góc hè, thấy ai cũng níu lại phân bua. Người trưởng xóm lăn ra ngủ trên một cái ghế thêu. Bức ảnh Quốc trưởng lớn của mụ Lieser để tựa vào góc tường. Mụ ngồi vào một chiếc đi-văng bế con vào lòng.
Graber lôi trong phòng Elisabeth ra một cái ghế bành bèn ngồi xuống nghỉ mệt, xung quanh để đồ đạc đã chạy được. Y đã thử tìm cách tạm trú vào một ngôi nhà còn nguyên vẹn ở gần. Nhưng bấm chuông hai lần không thấy ai ra tuy trông qua cửa sổ thấy lấp ló bóng người. Hỏi nhiều nhà khác họ trả lời rằng đã có người đến trước rồi. Đến sau một người đàn bà kêu lên:
– Nếu ông thấy ở đây yên ổn ông có ở mãi không?
Nghe nói vậy y không muốn nhờ nữa. Khi trở về soát gói đồ đạc thì thấy mất gói thực phẩm của Elisabeth, đến sau y nhận thấy gia đình ngồi quanh cái bàn bếp đang ăn cái gì có vẻ kín đáo và vội vã.
Nhưng có lẽ thức ăn của họ không muốn chia cho láng giềng.
Thình lình y trông thấy Elisabeth. Nàng trèo qua rào cản mà vào, nàng đứng nhìn ngọn lửa cháy chập chờn. Graber đứng phắt dậy.
– Elisabeth! Anh ở chỗ này
Nàng quay lại nhưng không trông thấy ngay. Trong chỗ ấy nom nàng chỉ thấy một cái bóng đen thui, ngọn lửa chập chờn hiện ra sau mớ tóc rủ như qua bức mành.
Y gọi lần nữa và lấy tay ra hiệu.
Nàng chạy lại.
– Trời ơi! Anh!
Họ ngả vào tay nhau.
– Không thể đến xưởng kiếm em được, anh phải ở lại đây coi đồ.
– Em tưởng đã xảy ra chuyện chẳng lành cho anh.
– Tại sao lại xảy ra cái gì được?
Y ngạc nhiên mà hỏi.
Nàng nép vào ngực chàng thở mạnh.
– Ừ mà thế thật, anh không phải là cái gì bất khả xâm phạm! Anh chỉ nghĩ đến em trong lúc bom dội.
Nàng ngước mắt lên.
– Ở đây làm sao vậy?
– Nhà cháy nóc. Em ngồi đây mà nghỉ.
Nàng vẫn chưa hết thở hổn hển. Y trông thấy ở rìa đường một thùng nước và cái chén để cạnh. Y chạy đến rót đầy chén đưa cho nàng.
Một người đàn bà la lên:
– Này, nước của tôi đó.
Một đứa trẻ độ mười hai tuổi, mặt đầy tàn nhang đỏ tru tréo:
– Chén của tôi!
– Uống đi, mặc kệ họ.
Graber bảo nàng rồi quay lại bảo những người kia:
– Khí trời cũng của các người nữa đấy hẳn?
Nàng bảo:
– Đưa trả họ nước và chén, hay là úp thùng lên đầu họ thì hơn.
Graber vẫn để ly nước gần môi Elisabeth:
– Không, em cứ uống đi. Em đã chạy nhiều phải không?
– Chạy không nghỉ.
Graber trở lại thùng nước. Người đàn bà lên tiếng trách Graber thuộc gia đình ngồi xung quanh bàn xếp. Y lại rót chén nữa, uống một hơi hết rồi để trả lại gần thùng nước. Không ai dám cự nự. Nhưng khi y đã để trả chén thì đứa con trai vội vã cầm lấy để vào bàn nhà. Người trưởng xóm mở mắt ra:
– Quân khốn nạn!
Ông ta nói rồi thì ngủ nữa. Mái nhà thứ nhất sụp xuống phun ra một đống tia lửa lớn.
Graber nói:
– Anh đã khuân ra đây được ít đồ. Gần hết quần áo và bức ảnh của ba, cả chăn mền nữa. Hay là vào lấy bàn ghế nữa cũng chưa muộn.
– Thôi anh ạ, cho nó cháy đi lại rảnh chuyện.
– Cái gì rảnh chuyện?
– Quá khứ đau khổ ấy. Những kỷ niệm ấy chẳng được việc gì cả, chỉ làm bận thêm. Bây giờ chúng ta bắt đầu từ số không. Trang sách đã lật rồi.
– Nhưng em có thể bán được đồ đạc.
– Ở đây có mà bán cho ma!
Nàng giơ tay chỉ dãy phố:
– Không thể tổ chức một cuộc bán tầm thường ở giữa phố. Những nhà ai còn lại cũng nhiều đồ rồi. Cảnh tình này cũng chưa chấm dứt đâu.
Trời lại mưa. Những hạt mưa lớn nóng hổi rớt xuống mặt đường. Mụ Lieser giương ô ra. Một người đàn bà chạy được cái mũ mới đội lên đầu cho tiện, bây giờ bà ta vội tụt ra giấu vào trong váy. Viên trưởng xóm hắt hơi. Từng giọt nước mắt lớn chảy trên má Hitler trong bức hình. Graber lấy trong bị ra áo choàng và vải căng lều, làm chỗ tạm trú cho mình và vợ.
– Phải nghĩ đến một mái nhà để nghỉ đêm nay.
– Có lẽ mưa sẽ làm tắt lửa. Những người này không biết họ ngủ đâu.
– Không biết. Người ta bỏ quên dãy phố này.
– Chúng ta có thể ngủ đây với chăn mền này, áo choàng và vải lều.
– Em có thể nằm được không?
– Khi mệt thì ngủ đâu cũng được.
– Binding có một căn phòng bỏ không. Nhưng có lẽ em không muốn đến đây.
Elisabeth lắc đầu.
– Thế thì chỉ còn nhà thầy Pohlmann. Dưới hầm ấy còn có chỗ. Mới mấy ngày trước đây anh đã hỏi thầy. Những trung tâm tiếp tế đầy ắp cả rồi.
– Ta hãy đợi. Gác mình chưa cháy mà.
Mưa rớt lộp độp trên nóc lều tạm bợ. Elisabeth không ra vẻ đau xót vì cảnh ngộ.
– Cho em uống cái gì. Đừng cho uống nước.
– Có đây. Anh tìm thấy một chai vốt-ca đằng sau chồng sách. Chắc chúng mình bỏ quên.
Graber giở gói chăn mền ra. Y giấu một chai dưới gối, vì thế không mất cắp, trên miệng chai cồn rượu úp một cái ly.
– Đây rồi. Chúng ta uống đừng cho ai biết nếu không mụ Lieser sẽ tố cáo chúng ta bêu nhục một quốc nạn.
– Muốn không ai để ý tốt hơn là đừng giấu diếm. Em đã có kinh nghiệm ấy rồi.
Nàng cầm chai tu một hớp.
– Ngon quá, chúng ta đang cần. Tưởng như mình ngồi ngoài hiên một tiệm cà phê. Anh có thuốc lá không?
– Mang hết chỗ thuốc còn lại.
– Tốt lắm.
– Em không muốn khuân bàn ghế thật à?
– Bây giờ họ không cho lên nữa rồi, vả chăng khiêng xuống cũng chẳng làm gì được. Không lẽ kéo đến chỗ ngủ tạm tối nay.
– Hay một người ở lại coi đồ, một người đi tìm chỗ trú.
Nàng lắc đầu. Nàng uống cạn ly. Đến lượt mái nhà Elisabeth sụm xuống. Tường như rung rinh, rồi đến lượt sàn các lầu trên cao sụp đổ. Khắp phố người ta thốt ra một tiếng giận dữ bất lực. Từng thác tia lửa vọt ra ở các cửa sổ. Màn cửa bùng cháy trong nháy mắt.
– Tầng lầu của mình còn nguyên.
Một người đứng sau vội nói:
– Không được lâu đâu.
– Sao vậy?
– Tại sao ông lại muốn may mắn hơn tôi. Tôi ở nhà này đã hai mươi ba năm. Bây giờ phòng tôi cháy rồi. Tại sao phòng ông lại không cháy?
Graber nhìn người ấy. Người ông ta mảnh khảnh, đầu hói. Y nói:
– Tôi cho rằng ngẫu nhiên chứ không phải vấn đề đạo đức.
– Đây là vấn đề công bình, nhưng có lẽ ông không hiểu rõ thế nào là công bình?
– Không rõ thật nhưng không phải lỗi tại tôi.
Y cười gằn :
– Nếu ngày nào ông cũng nghĩ vậy thì không có gì làm cho ông vui cả! Ông dùng với tôi một ly vốt-ca! Như vậy còn hơn vì đạo đức mà nổi lòng căm phẫn.
– Cám ơn, xin để cậu. Cậu sẽ cần đến khi nào đến lượt nhà cậu cháy.
Graber đặt chai rượu xuống.
– Ông có muốn cùng tôi đánh cá rằng tầng lầu của tôi không cháy không?
– Hử?
– Tôi muốn cá với ông.
Elisabeth bật cười. Ông già nhỏ bé sói đầu nhìn nàng ra bộ ghê tởm.
– Lúc này mà còn đánh cá! Còn cô, cô còn cười sao. Thật các người đã xuống thấp quá rồi!
Graber hỏi:
– Tại sao lại không cười! Cười còn hơn khóc, khóc cũng vô ích như cười.
– Cầu nguyện là hơn!
Phần trên mặt tiền lật nhào vào trong. Khói che hết cửa sổ nhà Elisabeth. Mụ Lieser bật ra tiếng khóc tấm tức. Gia đình ngồi xung quanh bàn xếp nấu cà phê bằng đèn đốt rượu. Người đàn bà ngồi trong ghế bành bọc nhung lấy nhật trình che lưng ghế cho khỏi mưa. Một đứa trẻ la inh ỏi.
– Thế là hết, tổ ấm mới được hai tuần.
Ông già hói thích chí:
– Thế mới công bình!
– Giá ông cá có phải ông được rồi không.
– Tôi không duy vật đâu cậu ơi.
– Thế sao than thở vì nhà của ông?
– Nhà tôi, tổ ấm của tôi. Cái đó quá tầm hiểu biết của cậu.
– Vâng, phần nào đó. Tôi đã thành ra dân du mục từ lâu.
– Vậy cậu phải cám ơn nền Đệ tam Đế quốc.
Lão xoa miệng định khạc nhổ.
– Bây giờ thì tôi không từ chối một cốc vốt-ca.
– Đây là để tang nhà của ông. Ông cầu nguyện đi thì hơn.
Lửa bốc ra từ phòng mụ Lieser. Elisabeth lẩm bẩm:
– Bàn giấy của con mẹ chó săn cháy rồi.
– Mong rằng cháy hết giấy má đi. Trước khi đi ra anh đã tưới một chai dầu vào đây. Bây giờ chúng ta phải làm sao đây?
– Phải tìm chỗ trú, nếu không kiếm được thì ngủ ngoài đường phố.
– Ngoài phố hay kiếm cái vướn hoa nào.
Graber nhìn lên:
– Đã có miếng vải lều nhưng không tốt. Dầu sao mình cũng kiếm được một mái nhà. Còn ghế bành với sách thì làm thế nào?
– Cứ để đây, sáng mai lại nếu còn sẽ liệu.
Graber đeo bị lên lưng và vác chăn mền lên vai. Elisabeth xách va-li.
– Để anh mang cho. Anh có thói quen ôm đồm cắp nắp mà chạy.
Các tầng lầu thượng căn nhà kế bên bắt đầu sụp đổ. Từng lưỡi lửa nhỏ bay lên không. Mụ Lieser nhảy lồng lên kêu gào. Một cục lửa vừa rớt trúng giữa mặt mụ. Bây giờ lửa vọt ra cửa sổ phòng Elisabeth. Trần sụp xuống.
– Thôi ta đi.
Graber nhìn lại cửa sổ một lần cuối cùng.
– Chúng ta đã sống những phút êm đềm trong ấy. Có lẽ những phút đẹp đẽ nhất.
Ánh lửa chiếu hồng mặt Elisabeth. Hai người đi quanh đống đồ đạc và gói bọc. Phần nhiều những người bị nạn có vẻ cam chịu. Có người chỉ mang xuống được một ít sách. Ông ta mở sách ra ngồi đọc chăm chú, quên cả sự vật bên ngoài. Hai người già bọc chung nhau một cái áo tơi nom như con dơi lớn hai đầu.
Elisabeth nói:
– Lạ thật, không biết sao em thấy mình từ bỏ dễ dàng những vật mới cách đây mấy giờ còn coi là cần thiết cho cuộc sống!
Graber quay lại nhìn một lần cuối cùng, đứa con nít mặt tàn nhang đỏ đã ngồi chễm chệ vào chiếc ghế bành nhung.
– Trong lúc mụ Lieser thét lên, anh đã phỗng của mụ cái cặp giấy má này, đến đám cháy kia ta quẳng mẹ nó vào đó có lẽ cứu được khối người sắp bị tố cáo.
Elisabeth gật đầu. Nàng bước đi không hề nhìn lại đằng sau.
***
Graber gõ cửa rất lâu rồi đẩy mạnh cửa. Không ai mở.
Y trở lại chỗ Elisabeth.
– Giáo sư Pohlmann không có nhà, hay ông ta không muốn cho ai vào.
– Có lẽ ông ta không ở đây nữa.
– Vậy thì ông ấy ở đâu? Làm gì có chỗ nào khác. Đi đã ba giờ đồng hồ rồi.
Y quay lại cửa:
– Không. Mật vụ không qua đây. Không có dấu phá phách, đi đầu bây giờ? Hay xuống hầm núp?
– Không, ở quanh đây có được không?
Y nhìn quanh. Trời đã tối. Đống gạch lởm chởm in hình trên nền trời đỏ ối.
– Trên còn chút trần nhà, đất khô. Có thể căng miếng vải lều làm một tấm vách, cái áo choàng làm tấm vách khác.
Y lấy báng súng đập thử lên trần. Một chút thạch cao rớt xuống nhưng trần còn vững. Y lựa hai cây dằm cắm xuống làm cột căng vải lều.
– Được một bên, bên kia dùng cái áo tơi. Em nghĩ thế nào?
– Để em làm giúp.
– Không, đứng đấy mà coi đồ đạc.
Y dọn một khoảnh đất, bỏ hết đá và gạch, rồi mang đồ đạc vào, trải nệm ra.
– Thế là có cái nhà mới. Nhiều khi anh phải ngủ chỗ tồi tệ hơn. Nhưng em thì khác.
– Đã đến lúc em tập cho quen.
Graber lấy một cái bếp đun và một chai rượu đốt bếp.
– Họ lấy mất bánh mì rồi nhưng chúng ta còn ít đồ hộp trong bị.
– Có soong để làm bếp không?
– Lấy cái ga-men. Ở đâu cũng lấy được nước mưa. Chai vốt-ca còn một nửa. Lấy nước nóng pha vào đấy. Để chống cái lạnh.
– Em muốn để nguyên thế uống.
Graber đốt bếp đun rượu. Ngọn lửa xanh mờ soi sáng trong lều. Họ mở một hộp thịt xào đậu, cho thêm xúc xích của người bạn lính già làm chứng hôn lễ.
– Chúng ta đợi Pohlmann hay đi ngủ?
– Đi ngủ thôi, em mệt nhoài rồi.
– Phải để cả quần áo nằm ngủ. Em ngủ được không?
– Mệt thì may ngủ được.
Elisabeth tụt giày để lên đầu nệm cho khỏi bị mất cắp còn bít tất thì cuộn lại bỏ túi. Graber quấn nàng vào trong mền.
– Em thấy thế nào?
– Như ở khách sạn.
Y nằm bên cạnh.
– Em có buồn vì không còn phòng của em không?
– Không. Em vẫn đợi từ lúc bắt đầu có bom. Mới đầu cũng buồn. Những ngày sau đây cuộc đời đã tặng không em.
– Như thế lại hay. Làm sao mà biết rõ về cuộc đời, về ý nghĩa của mình được?
– Em không biết. Có lẽ không trông mong gì nữa.
Nàng ngủ thiếp đi. Graber nằm thức nghe nàng thở đều và yên tĩnh rất lâu. Ở mặt trận y thường nói với bạn hữu rằng những đêm yên ổn âm cúng bên cạnh người đàn bà mình yêụ là giấc mơ khó thực hiện, điều mơ ước thiết tha nhất.
Tôi nằm trên tầng gác. Toàn thân ê ẩm. Tức ngực. Đau lưng. Vùng mắt bên trái tím bầm, tròng mắt hằn máu đỏ. Cú đấm của thằng dầu trâu ác thật. Cũng may là không bị đui! Tôi vùi mặt vào gối, nghiền ngẫm hận thù. Thành phố Nha Trang nhỏ hẹp, đi tới đi lui mãi rồi cũng có ngày gặp lại hại thằng thú vật ấy. Đánh lộn với chúng ư? Đem sức trói gà mà đọ sức voi, chẳng những không làm được gì, còn bị rêm mình lần nữa. Bất ngờ lụi cho chúng một dao ư? ở tù! Hận này có đáng để tôi dấn thân vào tù không? Suy đi tính lại, vì quá thương thân mình nên tôi sợ bị tù. Mọi sự hèn nhát đều bắt nguồn từ đó. Đã bao nhiêu lần tôi hèn nhát, tôi nuốt hận
cũng vì không dám liều mạng thí thân. Không trả được thù bằng hành động, tôi trả thù tưởng tượng. Tôi nghĩ, tôi sẽ quật cho mỗi thằng đầu trâu mặt ngựa một hèo vào ống quyển. Chúng sẽ gãy giò, nằm quằn quại rên la. Tôi sẽ đái vào mặt chúng bằng thứ nước đái mang vi trùng bệnh lậu. Vi trùng lậu sẽ làm đui mắt. Thằng đui sẽ xách rổ lê lết đi ăn mày. Thiên hạ đều biết cái quá khứ du côn của chúng, họ sẽ nhổ nước bọt. Thật đáng kiếp! Những ngày nằm dưỡng thương, tôi tưởng tượng như thế. Tôi bị người ta đánh bằm giập lỗ đầu, bác Huế vừa an ủi, vừa trách rằng tôi sống lông bông ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà. Bác Quảng nói, làm thanh niên là phải biết lăn xả vào xã hội. va chạm với đời. Đó là môi trường dạy cho con người những bài học thực tế nhất. Như con gà bị nhốt trong chuồng lâu ngày, khi thả ra nó không biết bươi, không biết tránh mặt quạ diều chồn sói. Tôi nghĩ, mọi chuyện giống như đùa. Tự dưng lại can thiệp vào chuyên người khác để bị người ta đánh gần bỏ mạng. Bài học làm người thật là nguy hiểm. Bác Huế nói, tôi trở về sau hai năm không ở nhà bác, tinh tình tôi thay đổi đến kỳ lạ, hành động của tôi khó hiểu. Tôi nói, bao giờ tôi cũng thế. Bao giờ tôi cũng coi đây là gia đình mình, là chỗ gần gũi thân yêu duy nhất. Bác vẫn nghi ngờ tôi có điều gì giấu bác. Làm sao tôi có thể thố lộ cùng bác, chuyện đã từng dan diu với chị Triều? Làm sao tôi dám nói với bác, chuyện tôi cặp theo thằng Hoàng, suýt nửa đã thành ma cô? Nếu biết những sự thực này, có lẽ bác không dám chứa tôi trong nhà. Người ta nói, tuổi mười chín hai mươi là tuổi của giấc ngủ không trở mình. Nhưng tôi cứ thao thức hoài với những nghĩ ngợi mông lung. So với ngày mới vào nhà bác Huế, tâm hồn tôi già hơn thấy rõ. Cay đắng, buồn rầu, và bất mãn với đời. Ra đường nhìn vào ai, tôi cũng tự hỏi ở phía sau lưng họ còn che giấu những bỉ ổi xấu xa gì? Chơi với thằng Hoàng một thời gian rất ngắn, nhưng tôi bị đầu độc theo cái lối suy nghĩ của hắn, Chi rhìn vào mặt trái xã hội. Nhất là sau ngày bị đánh lỗ đầu, tôi càng hận đời nhiều hơn. Theo yêu cầu của mãnh giấy nhỏ dán ở đầu giường, tôi không còn gọi bé Đông là bé nữa. Tôi cũng ít khi đùa với nó. Và nó cũng it khi lên tầng gác. Tôi đóng vai người anh đàng hoàng đạo mạo một cách giả dối. Sau lần tôi bất chợt ôm nó trong căn nhà lá, nó tỏ ra dè dặt giữ khoảng cách với tôi. Hình như đứa con gái nào lớn lên, cũng mơ hồ biết rằng có một cái gì đó trong tiềm ẩn sâu xa, cần phải bảo vệ. Mãi đến khi cái tiềm ẩn sâu xa ấy mất đi rồi, vẫn tiếp tục bảo vệ cái cuống không cho đến mãn đời. Mỗi ngày, Đông giúp tôi thay băng chổ vết thương đầu.
Nó nói: “Đầu anh Hiên cứng lắm. Đá đập vào không vỡ.”
“Nếu vỡ thì toi mạng rồi.”
Nó lau rửa vết thương bằng cồn như một y tá chuyên nghiệp.
“Cứng đầu rứa mà cũng biết đau hè?” Nó kéo mạnh tóc tôi.
Tôi la: “Làm cái gì vậy?”
“Tóc bết dính vào vết thương. Em cắt bớt một lõm hì?”
“Ử, thì cất bớt”
Khi nó cắt, tôi nói: “Đừng cắt nhiều quá, sói đầu.”
“Sợ chị Phương Nghi cười?
“Không sợ. Nhưng đừng cho Phương Nghi biết chuyện này.”
“Tối qua, chị Phương Nghi đến nhà thu tiền đóng hụi, em có nói anh bị nguời ta đánh lổ đầu. Chị muốn thăm anh, em bảo anh đang ngũ.”
“Rồi sao nữa?”
“Chị về.”
“Không nói gì?”
“Không.”
Nhắc đến Phương Nghi, tôi lại buồn. Tình yêu như những giọt cường toan cháy bỏng, mỗi lần khơi động mỗi lần đau. Ngừng một hồi lâu, nó hỏi: “Anh còn nhớ chị Phương Nghi?
Tôi nói dối: “Chuyện cũ. Nhớ làm gì?”
“Rứa chừ, anh nhớ ai?”
Tôi nhìn sâu trọng mắt nó: “Em muốn biết không?”
Nó chớp chớp đôi mắt: “Chuyện của anh. Em cần chi biết!”
Trong cái chớp mắt, tôi nghĩ ra biết bao điều thơ mộng ẩn giấu trong con tim lay lắt của một đứa con gái dậy thì. Hàng ngày ra vào đối mặt, cử chi nó thiếu tự nhiên. Nó dã biết biết làm dáng. Và lòng tôi cũng xao xuyến khi nhìn thấy nó soi gương chải tóc. Tóc nó mượt trên cổ tròn vai phấn. Nó mỉm cuời e thẹn khi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trong gương. Nụ cười như hoa nở vuờn xuân. Tôi như con bướm chập chờn muốn đậu xuống đài hoa, nói những lời gợi tình bóng gió xa xôi, Nó đỏ mặt, nhưng vờ đi như không hiểu.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.