Ngày nghinh Ông bên vàm sông Ông Đốc

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Jun 2026

Sông Ông Ðốc vàm, giữa tháng hai âm lịch, trên con đường dẫn ra lăng ông Nam Hải, nhiều người ăn bận chỉnh tề, nách bưng, tay xách, đầu đội những mâm bánh, mâm xôi, mâm trà, mâm trái cây có phủ giấy kiếng màu đỏ, mâm đầu heo bọc mỡ sa. Có người xách tòn ten cặp gà, cặp vịt, nách kẹp chai rượu đế còn đầy. Thấy cảnh nầy cũng đủ biết năm vừa qua mùa biển trúng, vậy ngày nghinh ông chắc chắn sẽ linh đình.  Ngoài những lễ vật dân trong xóm đem ra cúng, trong lăng còn vật thêm đôi heo trăm ký, hàng trăm con gà vịt cũng bị cắt cổ nhổ lông.  “Theo truyền thuyết, tục thờ cá ông của ngư dân nước ta có đâu từ đời xửa đời xưa lận , hồi trước thời Gia Long, cá ông chưa có chức tước, lúc đó ngư phủ còn gọi là thần Nam Hải. Mỗi khi ra khơi gặp sóng to, gió lớn, ghe sắp chìm, ngư phủ hè nhau gọi lớn : “Thần Nam Hải cứu tôi với !”. Tức thì thần trừng lên kê lưng đỡ lườn ghe lội một mạch đưa nghe vô bờ. Theo hầu thần có cặp cá đao, cặp cá đao nầy ngoài việc bảo vệ thần còn có quyền xử tử nếu thần làm không tròn bổn phận. Thí dụ như có tiếng ngư dân kêu cướu, thần chậm trễ để ghe chìm, người chết, lập tức cặp cá đao day ngang chém mỗi con một đao thì thần sẽ bị đứt lìa ra ba khúc.  Lúc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn rượt ch­ạy ra biển, bất ngờ gặp bão, thuyền sắp đắm, đám quân sĩ hè nhau kêu cứu, thần liền chạy tới đỡ thuyền rồng đưa vô hòn Sơn Rái, nhờ đó mà vua thoát nạ­n. Sau nầy khôi phục được giang sơn, vua nhớ ơn phong cho thần chức Nam Hải Tướng Quân. (Cùng lúc vua cũng phong cho loài rái trắng ở hòn Sơn Rái là Lang Lại Ðại Tướng Quân)*. Từ đó về sau ngư dân ra biển gặp nạ­n, đổi lạ­i kêu tướng quân Nam Hải tới cứu.”  Những lăng tẩm khác đều có ngày thống nhứt để cúng giỗ hàng năm, nhưng lăng ông Nam Hải thì không, cho tới nghi thức lễ bái cũng khác nhau. Chỗ nào có cá ông lụy chỗ đó có lăng. Người ta lấy ngày cá ông lụy đầu tiên làm giỗ, ngày đó được gọi là ngày nghinh ông. Những vùng ven biển nước ta có rất nhiều lăng ông Nam Hải, nhưng ngày nghinh ông không trùng nhau là vậy.  Người nào gặp ông lụy đầu tiên phải nhận làm con trưởng và chịu tang ba năm. Theo dị đoan, trong thời gian chịu tang người con trưởng phải chịu nghèo khổ, sau đó mới cất lên được.  Buổi sáng tháng hai năm 1948, ông Tư Ðạ­o đi kéo lưới rùng ngoài bãi, thấy ông lụy nằm trên bãi bùn, ông Tư sợ bị nghèo nên bỏ con nước lưới hôm đó mà trốn về xóm. Sau đó có ông đẩy ruốc, gặp ông nầy không sợ nghèo nên nhận làm con trưởng rồi trở về xóm kêu bà con ra thỉnh ông vô. Thỉnh, có nghĩa là bày nhang đèn, lập bàn hương án đem chỗ ông lụy vái lạ­y. Xong cột đuôi, xỏ mang ông buột vô lái ghe kéo. Bà con hì hục cả buổi nhưng “thỉnh” ông không chịu ra. Có một người đi b­ạn cho ông Tư nói lạ­i, chính ông Tư mới là người thấy ông lụy đầu tiên. Bà con vỡ lẽ ra, ben cho người vô xóm bắt ông Tư ra làm lễ chịu tang và nhận làm con trưởng, có như vậy ông mới chịu cho thỉnh về.  Ðem ông vô đầu xóm, người ta đào một cái hầm rồi bỏ ông xuống. Trong thời gian nầy, bà con trong xóm lưới cùng nhau đốn cột, xẻ lá cất lăng. Chờ đến khi ông sình, rã hết thịt, mới hốt cốt bỏ vô một chiếc quách và lập bàn để lên thờ. Ngày gặp ông lụy là ngày mười sáu tháng hai năm 1948. Dân trong xóm lấy ngày đó làm lễ nghinh ông hàng năm. Về sau có thêm hai ông lụy nữa, thành ra sông Ông Ðốc vàm tới năm bảy mươi tám có ba ông, hài cốt được đựng riêng ba quách.  Hồi đó dân cư còn ít và nghèo nên cất lăng lợp mái, dừng vách bằng lá dừa nước, cột bằng cây đước, nằm tơ hơ bên vàm. Mỗi năm tới mùa gió nam mưa to gió lớn, lăng thường bị tốc nóc, bà con trong xóm phải xúm nhau sửa sang l­ại, Sau nầy dân cư tụ về đông, sông Ðốc vàm trở nên thịnh vượng, bà con bàn nhau lập thành hội lăng. Trong hội gồm có hội trưởng, hội phó, ban tài chánh, ban ẩm thực, ban tiếp tân. Ngoài ra còn có đội lân, và mười hai người khiêng nhà giàng. Hội còn nuôi một ông già để giữ lăng, ông ấy được gọi là ông Từ Lăng.  Hồi xưa, đình làng có chiếu trên chiếu dưới, và sắp đặt thứ tự chỗ ngồi như thế nào không biết, nhưng lăng ông bây giờ thì không. Dĩ nhiên người lớn không ngồi chung với con nít, vì con nít không biết uống rượu. Ngược lạ­i con nít cũng không thích ngồi chung với người lớn vì sợ ăn uống mất tự nhiên. Có dãy bàn được dành riêng cho chúng mà chúng không chịu ngồi. Nhiều đứa lấy tô ra sau bếp múc một tô cháo, xin vài cái trứng non bỏ vô cho có thêm hương vị rồi tản mác ra góc hè ngồi ‘cháp’. Có đứa rinh cục xôi tổ chảng với cục thịt khìa, nhớn nhác ra ngồi cạ­p dưới gốc cột cờ. Những ngày nầy, ra lăng không sợ đói, l­ại vui vẻ nhờ gặp đủ mặt người quen. Ngoài lễ lộc hàng năm ra, hội lăng cũng làm được những việc từ thiện cho bà con trong xóm. Nhà nào có đám ma, đám cưới, có thể ra lăng mượn chén, đũa, bàn ghế. Ðám ma nào sang trọng có thể mượn luôn nhà giàng (lúc nầy mười hai người khiêng nhà giàng trở thành đạ­o tì). Tết thì có đội lân, múa giúp vui, lân ăn được bao nhiêu tiền đều đem về cho hội. Ðoàn lân nầy do ông Từ Lăng huấn luyện, nhờ ông có võ Thiếu Lâm truyền lạ­i cho các anh trong đội nên con lân được mang râu bạ­c. Ðặc biệt đoàn lân nầy, ngoài lân, địa ra còn có thêm ông Tề múa thiếc bảng dẫn đầu.  Sau năm 1968. lăng ông được dời vô đầu khu hai ven rừng, mắm. Bây giờ lăng được xây lạ­i thành hình chữ nhựt, mái xiên lợp tôn, vách xây bờ tường, tô vôi vàng nhợt, chân tường viền màu đỏ. Phía sau là một chái rộng lợp thiếc, vách lá làm nhà bếp. Trong bếp có hai chảo đụng đặt trên chiếc lò được đắp bằng đất, bên cạ­nh là buồng chứa nồi niêu, chén, đũa. Phía sau nhà bếp là một sàn lãng de ra mé r­ạch, là chỗ cạ­o heo, nhổ lông gà, lông vịt và rửa chén đũa… Phía trước một khoảng sân rộng có cột cờ cao, nơi đây lâu lâu mấy anh trong đoàn lân ngứa nghề có thể xách lân ra dợt. Trong lăng được ngăn ra làm hai gian : một bên thờ ông, một bên làm phòng khách có xếp ba dãy bàn, góc trong có mấy bộ ván ngựa lót liền nhau, dành riêng cho mấy bà ngồi uống trà, ăn trầu, tán gẫu.  Bên gian thờ Ông, trên bàn thờ có ba cái quách màu đỏ đựng cốt ba Ông. Ông lụy đầu tiên để chính giữa kê lên hơi cao một chút, còn hai ông lụy sau nầy để hai bên tả hữu. Sau ba cái quách, trên vách tường có hàng chữ đỏ đề NAM HẢI TƯỚNG QUÂN. Trước ba cái quách có một lư hương lớn. C­ạnh bên trái đặt một bàn thờ thờ những oan hồn người chết vì nghề biển. Phía ngoài có hai tấm màn màu vàng viền ren kim tuyến. Ngày thường màn được phủ xuống, ngày lễ được vén lên để lộ rõ hai cặp đao của cá đao dài gần hai thước vắt chéo nhau, phía trước bàn thờ là một khoảng trống để hành lễ.  Lễ nghinh ông được cử hành lúc hừng đông, vì họ phải đưa ông về biển từ sáng cho tới chiều tối mới trở vô.  Sáng sớm, chiếc nhà giàng đã ráp sẵn để trước sân cờ. Những người theo nghinh ông được phục vụ cơm nước trước. Nhóm khiêng nhà giàng bận đồng phục, áo quần đen viền ren màu vàng. Ðội lân cũng sẵn sàng đầy đủ, áo thun trắng, quần đen có hai sọc trắng dọc suôn hai bên ống quần. Giờ hành lễ thì phải chờ mấy ông coi giờ tốt quyết định, nhưng bắt buộc phải ban sáng mới kịp.  Tới giờ nghinh Ông, trước bàn thờ, nhóm khiêng nhà giàng đứng xếp hàng hai bên tả hữu, day mặt lên bàn thờ. Phía trên, trước bàn thờ, có sáu ông bận lễ phục màu vàng, đầu đội mão cánh chuồn. Bác Tư Ðạ­o với tư cách con trai trưởng bận áo dài khăn đóng màu đen, đi ra lạ­y trước, xong ông bước vô đứng một bên. Sau đó, sáu ông bận lễ phục bước ra đứng trước bàn thờ vòng tay ngang trán. Tiếp theo, nhóm khiêng nhà giàng bước ra xếp hàng tư cũng vòng tay ngang trán. Một trong sáu ông bận lễ phục bước tới trước bàn thờ đọc một bài văn chiêu hồn:  Hồn hỡi… hồn hỡi… Xa cây xa cối, xa cội xa nhành, cuối bãi đầu gành, hùm tha sấu bắt, chết vì thắc ngặt, manh áo chén cơm, U-Minh đỏ lòm, rừng tràm xanh biếc, ta thương ta tiếc, lập đàn giải oan… ơ… hồn hỡi… hồn hỡi ơ… ơ… Bái !  Tất cả mọi người ở phía sau đều xuống gối, mọp sát đất lạ­y một lạ­y. Tới khi nghe tiếng ‘hưng’ mới cho hai tay lên gối, đứng dậy. Tiếp tục ‘hưng bái, bái hưng’ một chặp, tất cả d­ạt ra hai bên tả hữu, đứng y như cũ. Liền theo đó trống chiêng nổi lên, Tề Thiên quây thiết bảng vù vù dẫn đầu lân, địa từ ngoài múa vô, tới trước bàn thờ Ông lạ­y ba l­y rồi quay đầu trở ra ngoài múa cầm chừng, đợi đám khiêng nhà giàng lên bàn thờ chia nhau bốn người một quách cốt Ông, khiêng ra để lên nhà giàng. Dẫn đầu là đoàn lân, kế tiếp là con trai trưởng của ông bưng lư hương, sau đó là sáu ông bận lễ phục tiếp theo giàng. Phía sau chót còn có một đám người đi theo hộ tống. Tiếng chiêng, tiếng trống rùm beng, cả đoàn đi dọc theo xóm, ra tới bờ sông, có hai chiếc ghe lớn nổ máy chờ sẵn. Một chiếc chở cốt Ông, một chiếc chở đoàn lân. Sau khi những người theo đưa xuống ghe xong hết, ghe bắt đầu tách bến trực chỉ ra vàm. Ghe chở đoàn lân chạ­y trước, ghe chở cốt ông theo sau. Chiêng trống cứ tiếp tục lùng tùng xèng… Lúc nầy đoàn lân còn sung sức lắm, người thay phiên nhau múa, ông địa leo lên tới mui ghe, đu trên cột hàng hải, Tề Thiên quây thiết bảng vù vù….  Mặc dầu những ngày nầy gió tốt, biển êm rất tiện cho ghe lưới ra khơi, nhưng chánh ngày nghinh Ông, ngư dân trong vùng phải cho ghe đậu l­ại một ngày để tiễn đưa ông về biển. Ghe được nổ máy trực sẵn trong bờ, chờ cho đoàn ghe chở Ông ra rới giữa sông, hè nhau một lượt ồ ­ạt tách bến nối đuôi ghe nhinh ông. Ghe nào siêng thì ch­ạy đưa ông suốt buổi, làm biếng đưa ra khỏi vàm rồi quay trở vô.  Ðoàn ghe nghinh ông chạ­y ra hướng tây, khỏi hòn Chuối, ch­ạy dọc xuống hướng nam, vòng trở lên hướng bắc, vô hòn Ðá Bạc thì trời đã xế chiều. Ngày trước nghe nói người ta chạ­y tới khi nào thấy Ông vọi ( tức là thấy cá ông trừng lên phung nước) mới chịu cho ghe trở về. Bây giờ máy móc nhiều quá, Ông sợ, không dám trừng lên nữa nên mới ch­ạy vô vào lúc trời chiều.  Chiều xuống, đoàn ghe cũng vừa về bến. Những người theo đưa đám chỉ có ngồi nên không thấm mệt.  Duy có đoàn lân, thay phiên nhau múa từ sáng tới chiều nên trông đã mệt lừ. Tề Thiên, thiết bảng vác vai, xụi lơ đi trước, ông Ðịa giắt qu­ạt bên hông xui xị theo sau. Trống, chiêng đánh cầm chừng, lân lâu lâu gật đầu một cái cho có lệ,  anh vũ đuôi bây giờ không còn khòm lưng múa cho giống con lân, mà đứng thẳng người lên, hai tay cầm hai rìa đuôi quạt lên qu­ạt xuống, trông con lân bây giờ đít đầu bằng trơn nhau.  Sau khi khiêng nhà giàng về lăng, đặt ba cái quách lên bàn thờ, làm thêm một màn ‘hưng bái, bái hưng’, đọc thêm bài ‘hồn hỡi hồn hỡi…’ xong, mạnh­nh ai nấy về nhà tắm rửa, dĩ nhiên không quên chập tối phải trở l­ạii lăng.  Tối hôm đó, trai tráng trong xóm đụng rưọu đế với mấy ông già say…chết bỏ ! Lúc đầu còn nói chuyện mùa màng trời trăng mây nước. Chặp sau rượu vào lời ra có hơi ồn ào. Tới khuya đờn ca cổ nh­ạc trổi lên. Rượu càng say đờn càng cứng nhịp, đêm càng khuya ca càng mùi mẫn….Tiệc tùng dây dưa cho tới khi gà gáy họ mới chịu chia tay. Ngày nginh ông đã hết trong cái không khí cởi mở vui tươi.   Chú thích: Tập tục thờ cúng trong bài vào thời trước năm 1968, về sau chiến tranh có thay đổi ít nhiều. Bây giờ nghe nói dân ngư bên vàm Sông Ðốc vẫn còn nghinh ông hàng năm nhưng chắc thay đổi nhiều hơn nữa.    * Tục truyền, hồi vua Gia Long bị Tây Sơn rượt chạy ra tới hòn Sơn Rái, trước khi rút lên núi, quân sĩ để lại nhiều dấu chưn trên bãi cát. Bầy rái trắng kéo xuống dẫm hết dấu chưn binh sĩ. Khi quân Tây Sơn tới, không thấy dấu vết nên bỏ đi, nhờ vậy Gia Long thoát nạn. Về sau khôi phục Giang Sơn, vì loài rái sống trên núi, vua phong chức  Ðại Tướng, còn cá ông sống dưới biển nên phong chức Tướng nhỏ hơn rái trắng một bậc.
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 Jun 2026

“Người Trung Quốc Xấu Xí” (Xú Lậu Dịch Trung Quốc Nhân) là nhan dể mộc cuốn sách của nhà văn Bá Dương (Bo Yang), người Đài Loan, do ông Nguyễn Hồi Thủ một người Việt sống ở Bắc Kinh và Ba Lê dịch và xuất bàn ở Mỹ năm 1999.

Trong lời nói dầu, dịch giả đã phân bua rằng “tuỷ mạch vận, khi thì ông dùng chữ xấu xí, khi thì dùng chữ xấu xa.” nhưng theo tôi, ông đặt đề tựa cho cuốn sách là sai nghĩa nguyên của tác giả. Trong suốt cuốn sách, ông Bá Dương chỉ muốn nói đến cái tính tình và thứ văn hoa “xấu xa” chứ không có đoạn nào nói đến hình thể và nhan sắc “xấu xí” của người Trung Hoa, vì trong lịch sử nước Tàu có rất nhiều đại mỹ nhân nổi tiếng. Trong tiếng Việt, tĩnh từ “xấu xa” nói dến tính cách, “xấu xí” để chỉ hình thức, như vậy một người “xấu xa” chưa hẳn đã là một người “xấu xí.” Trong truyện Kiều những tay như Mã Giảm Sinh, Sở Khanh phải là những người có bề ngoài đẹp đẽ mới dễ lừa người. Chì tiếc là khi xuất bản cuốn sách này ở Mỹ, người họa sĩ trình bảy bìa đã đưa hình ảnh hai mẹ con một người Trung Hoa thiểu số với bộ mặt lem luốc (xấu xí hay dơ bẩn) trái hắn với nội dung cuốn sách là muốn nói đến tính cách xấu xa của người Tàu. Báo chí vừa nhắc đến một chuyện xấu xa về văn hoá của người Trung Quốc. Một người khách du lịch Trung Quốc tên Yuwen đã cho phổ biến một bức ảnh chụp tại đền Luxor, Ai Cập, một bức phù điêu 3.500 năm tuổi đã bị viết nguệch ngoạc lên dòng chữ: “Ding Jinhao đã ở đây.” Ông Yuwen cho rằng đó là khoảnh khắc buồn nhất trong thời gian ông đang du lịch Ai Cập và ông cảm thấy hết sức xấu hổ, khi nhận ra một người dân của nước ông, khi đến đấy, đã vô ý thức viết bậy lên một di tích lịch sử của Ai Cập. Bức anh nhanh chóng lan truyền trên net, đã gây sự phẫn nộ trên mạng và cuối cùng người ta tìm ra “Ding Jinhao” chính là một học sinh trung học, 15 tuổi từ Nam Kinh là thủ phạm đã viết lên dòng chữ này.

Nhiều người chỉ trích hành động của Ding làm cho Trung Quốc xấu hổ. Gia đình của học sinh này đã bảy tỏ hối tiếc trên một tờ báo địa phương và “muốn nói lời xin lỗi với người dận Ai Cập cũng như những người Trung Quốc đã quan tâm đến trường hợp này. Trong một cuộc phỏng vấn với một tờ báo Nam Kinh, cha của Ding nói: “Con tôi dã phạm một lỗi lầm và trách nhiệm chính thuộc về chúng tôi là cha mẹ, dã không dạy dỗ và trông nom con cải không giám sát con cái tốt!”

Theo China Daily, một việc tưong tự khác đã xảy ra vào tháng 3- 2009 khi một người đàn ông đến từ tỉnh Giang Tô khắc tên của mình trong một hòn đá ở Yehliu Geopark của Đài Loan và cũng vào thời gian này, một người khách khác đã khắc tên mình trong một cái vạc tại Bảo tàng Cung điện của Bắc Kinh. Mặc dù người phạm tội đã đi rời khỏi nơi này, các bảo tàng đã đặng những bức ảnh về các di tích đã bị bôi bẩn để làm xấu mặt những du khách đã phạm lỗi. Một người hướng dẫn du lịch Nhật Bản đã mô tả chuyện một nhóm khách du lịch Trung Quốc đến thăm một hang động ở Thái Lan đã hút thuốc, ồn ào, la hét và gây phiền nhiễu du khách khác. Họ cũng đã xả rác bừa bãi, bỏ qua quy tắc ăn mặc trong các đền thờ Phật giáo, hát hò và say rượu. Du khách Trung Quốc tham gia các nhóm toán du lịch, thường xuyên bị chỉ trích vì có những hành vi thô lỗ. Ở Nhật, người ta viết bảng nhắc nhỡ bằng tiếng Tàu, sau khi đi cầu nhớ dội nước. Ở Hồng Kông, cha mẹ Tàu cho con đái ngay trên xe điện ngầm. Khách Trung Quốc đi từng đoàn thường kéo nhau do áo khi cửa thang máy vừa mở mà không đợi người ở trong ra hết. Trước những hình ảnh “phản cảm” này, cơ quan du lịch Trung Quốc phải phổ biến cẩm nang ghi 8 điều cấm kỵ cho người Tàu khi du lịch ra nước ngoài, để khỏi mất thể diện. Nhân vụ “Ding Jinhao,” Phó Thủ Tướng Trung Quốc Wang Yang lên án những gì ông gọi là “hành vi thiếu văn hóa” của một số khách du lịch đã mang lại những hình ảnh xấu xa cho đất nước ông, Ông kêu gọi mọi người cố gắng tạo “một hình ảnh tốt đẹp của du khách Trung Quốc” và ủng hộ cho Luật Du lịch của quốc gia, để giải quyết các vấn đề như cạnh tranh bất chính, tăng giá hàng và nài ép khách mua.

Ông cũng trích dẫn một số hành vi mà ông muốn người Trung Quốc giảm thiểu như nói chuyện lớn tiếng ở nơi công cộng, vượt dèn đò khi qua đường, khạc nhổ …

Đây là bất lợi cho hình ảnh của đất nước Trung quốc và để lại một ẩn tượng xấu xa cho mọi người. Trong mấy năm gần đây, số khách du lịch tử Trung Quốc ra nước ngoài đã tăng rất nhanh. Năm 2000 chỉ có 10 triệu người Trung Quốc ra nước ngoài. So với năm 2011 số du khách Trung Quốc du lịch năm ngoái đã tăng 40% với 13 triệu du khách chi ra 102 tỷ vượt nước Đức dể trở thành nước chi tiêu lớn nhất trong ngành du lịch quốc tế.

Theo Tổ chức Du lịch Thể giới, năm 2015 sẽ có 100 triệu người khách du lịch mang passport Trung Quốc.

Quả thật ngày nay dân Trung Quốc giàu có hơn ngày xưa, nhưng như nhận xát của Nhật Báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc: “Ngày nay, người dân ở Trung Quốc không còn thiếu thực phẩm và quần áo, thậm chí cả trong các cửa hàng sang trọng ở nước ngoài, có những áp phích quảng cáo cho Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều người cũng cảm thấy như thể họ “bàn tay đầy tiền nhưng tầm hồn thì rỗng tuếch.”

Ngay ở Mỹ, ở các địa điểm du lịch, chúng ta thường thấy dân du lịch Trung Quốc đi từng đoàn, tuy ăn mặc khá tươm tất, nhưng cười nói ồn ào, chen lấn, mất trật tự, chẳng kiêng dè, để ý gì đến người chung quanh, Nhiều quốc gia được chia xẻ mối lợi từ dân du lịch Trung Quốc, nhưng liệu có chịu đựng nổi những hành vi “vô văn hóa” của những người này hay không? Những chuyện xẩy ra hôm nay thực ra không có gì là mới mẻ, vì trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” ông Bá Dương đã mô tà gần như hết cả rồi. Đọc “Người Trung Quốc Xấu Xi”và nói đến những thói hư tật xấu của người Tàu khi ra nước ngoài, chúng ta lại chạnh lòng nghĩ đến người Việt Nam hôm nay, một dân lộc cũng “na ná” như người Tàu, đang để lại nhiều hình ảnh không mấy tốt đẹp dưới mắt người ngoại quốc!

Nữ Hải quân Thiếu tá Carolyn Vu (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến mặt nước được đề cử thăng cấp Trung tá Hải quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on June 12, 2026 by dongsongcu

12/06/2026

Post by Sơn râu 13 Jun 2026

Hải quân Thiếu tá Carolyn Vu (hình của contactout.com)

Hải quân Thiếu tá Carolyn Vu, vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (U.S. Navy officer promotion selection boards) chọn đề cử thăng cấp Trung tá cho tài khoá YF-27, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil, ngày 10 tháng 6 năm 2026. Cô hiện giữ chức Trưởng phòng khoa học dữ liệu PERS-41, Bộ Tư lệnh nhân sự Hải quân, một vị trí chuyên biệt, được xếp loại mật cao trong bộ phận chỉ định Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers) của Hải quân Hoa Kỳ. Sĩ quan khoa học dữ liệu phân tích các thông tin liên lạc, quản lý phân tích, số liệu và các giải pháp dựa trên dữ liệu để hỗ trợ việc điều động, lập kế hoạch nghề nghiệp và sức khỏe cộng đồng của các Sĩ quan chiến tranh mặt nước.

Carolyn Vu lớn lên tại Bakersfield, California, cha mẹ cô là người Việt tỵ nạn đến Mỹ khi còn tuổi thiếu niên. Họ luôn ủng hộ binh nghiệp của cô, và đến thăm cô khi Chiến hạm trở về căn cứ Hải quân sau chuyến công tác dài ngày trên biển. Bakersfield ngày nay đã phát triển thành một thành phố lớn, nhưng trong tâm trí của Carolyn Vu, nơi đây vẫn là một nơi chốn dễ thương của tuôi thơ với một thị trấn nhỏ. Cô còn nhớ khi học lớp 8, cô đã tìm hiểu về chiến tranh, và thấy bắt đầu yêu thích quân đội.

Hải quân Thiếu tá Carolyn Vu tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy) với Văn bằng Cử nhân Anh văn năm 2012. Cô theo ngành Sĩ quan tác chiến mặt nước (SWO). Đơn vị đầu tiên trong hải nghiệp của Carolyn Vu, cô là Sĩ quan chống tàu ngầm trên Khu trục hạm USS Gravely (DDG 107), cô phục vụ tại đây từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 9 năm 2014. Đơn vị tiếp theo, cô được chỉ định làm Sĩ quan huấn luyện chống tàu ngầm cho Hải đội Khu trục hạm 28 (COMDESRON 28) từ tháng 12 năm 2014, đến tháng 12 năm 2016.

HQ thiếu tá Carolyn Vu nói chuyện với thủy thủ đoàn khu trục hạm USS Dewey (DDG 105). (hình của Benjamin A. Lewis, dvidshub.net).

Tháng 1 năm 2017, Carolyn Vu tu nghiệp tại trường hâu Đại học Hải quân (Naval Postgraduate School) và tốt nghiệp vào tháng 3 năm 2019 với Văn bằng Cao học khoa học – nghiên cứu hoạt động.

Tháng 5 năm 2020, HQ Thiếu tá Carolyn Vu được chỉ định làm Sĩ quan vũ khí (Weapons Officer) trên Khu trục hạm USS USS Dewey (DDG 105). Thời gian này, chiến hạm gia nhập vào Hải đội Khu trục hạm 15 (DESRON) 15, hoạt động hỗ trợ cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do – mở rộng. Lực lượng đặc nhiệm 71/Hải đội khu trục hạm 15 (CTF71/DESRON 15) là đơn vị tiền phương của Hải quân và là Lực lượng chính trên mặt biển của Đệ Thất hạm đội Hải quân Hoa Kỳ. Tháng 1 năm 2022, cô được bổ nhiệm làm Sĩ quan chỉ huy kiểm soát hệ thống vũ khí tác chiến (Combat Systems Officer) trên Khu trục hạm USS USS Dewey đến tháng 4 năm 2023.

HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan chỉ huy kiểm soát hệ thống vũ khí tác chiến trên Khu trục hạm USS Dewey (DDG 105). (hình của dvidshub.net).

Tháng 6 năm 2023, HQ Thiếu tá Carolyn Vu đươc chỉ định làm Sĩ quan phụ trách bố trí nhân sự Sĩ quan mặt nước phòng khoa học dữ liệu PERS-41, Bộ Tư lệnh nhân sự Hải quân (Navy personnel command). 4 tháng sau, cô được bổ nhiệm chức Sĩ quan trưởng phòng khoa học dữ liệu 41, và phục vụ cho đến nay.

Ngoài các loại huy chương được ân thưởng phục vụ Hải quân, HQ Thiếu tá Carolyn Vu còn được trao tặng giải thưởng của Tư lệnh Hài quân – xuất sắc trong nghiên cứu hoạt động, Trường hậu Đại học Hải quân vào tháng 3 năm 2019, và giải thưởng lãnh đạo chỉ huy của hiệp hội Hải quân và Thủy quân lục chiến trao tặng cho các Sĩ quan và Hạ sĩ quan của lực lượng trên mặt biển Hải quân Hoa Kỳ (US Naval Surface Forces) được các đồng nghiệp của họ công nhận là những nhà lãnh đạo. chỉ huy xuất sắc trong đơn vị.

Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà mynavyhr.navy.mil và Congress.Gov thì ngoài tân HQ Trung tá Carolyn Vu còn có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt khác đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Đại tá, trong số đó có nhiều nữ HQ Trung tá gốc Việt.

Chúc tân HQ Trung tá Carolyn Vu thăng tiến hải nghiệp.

Nguồn: contactout.com; linkedin.com; mynavyhr.navy.mil; dvidshub.net; bienxua-Nữ Hải quân Thiếu tá gốc Việt Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers) Hải quân Hoa Kỳ

Cuộc lui binh nghiệt ngã

buonvuidoilinh.wordpress.com

Bảo Định Nguyễn Hữu Chế –

Posted on October 24, 2012 by minhhieu854

Tiểu đoàn 2/43/SĐ18BB/QLVNCH

Chẳng dám đem mình ví von với danh nhân – Nhưng đầu óc tôi cứ vơ vẩn nhớ tới câu nói của Napoléon Đệ Nhất:

“Nước Anh đánh trận nào cũng thua, chỉ có trận cuối cùng họ thắng” – Anh em chúng tôi, TĐ 2/43, SĐ18BB, ngược lại, đánh trận nào cũng thắng, chỉ có trận cuối cùng là thua ……. Khởi đầu cho trận thua đau đớn này là cuộc lui binh nghiệt ngã đêm 20-4-75 tại mặt trận Xuân Lộc, mà TĐ 2/43 chúng tôi phải rút lui trước địch quân.  Một việc chúng tôi phải miễn cưỡng làm, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng.

Như quý vị đã biết, hành quân Lui binh là loại hành quân rất khó khăn, nhất là khi phải tiến hành dưới áp lực và hỏa lực của địch.  Trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa qua giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975, QLVNCH đã hơn một lần bị thảm bại cay đắng, trong cuộc triệt thoái, hay di tản chiến thuật, hồi trung tuần tháng 3 năm 1975 từ Cao nguyên về Duyên hải miền Trung, với thiệt hại ít nhất 75% khả năng tác chiến của Quân đoàn II.  Cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4 năm 1975 đã thành công tốt đẹp.  Toàn bộ Sư đoàn và các đơn vị tăng phái đã về đến Bình giã, Bà rịa thuộc tỉnh Phước Tuy an toàn.  Nói thế không có nghĩa là không có những tổn thất nho nhỏ, mà Tiểu đoàn 2/43 là một trong những cái nho nhỏ đó.

Thật sự Tiểu đoàn 2/43, đơn vị rời chiến trường sau cùng, vì có nhiệm vụ đánh nghi binh, đánh chặn hậu cho đại quân rút an toàn, nên đã bị tổn thất đáng kể, khi đơn độc vượt qua vòng vây trùng trùng điệp điệp của Cộng quân, nhưng không đến nỗi bi đát như lời của Luật sư Nguyễn Văn Chức trích lại từ cuốn Việt Sử Khảo Luận của LS Hoàng Cơ Thụy, viết theo ký giả Mỹ Frank Snepp trong cuốn Decent Interval: “Trực thăng đã đến bốc cái tiểu đoàn chót của 4 tiểu đoàn sống sót của sư đòan 18, kể luôn tướng Lê Minh Đảo.  Có 600 người dưới quyền đại tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại sau cùng để che chở cho cuộc triệt thoái.  Trong vài giờ, họ bị tràn ngập bởi 40 ngàn quân Bắc Việt đã được bố trí để trực tiếp đánh họ”.   Hai ông Luật sư, một ông ký giả với những nhận định, trích dẫn của nhau về một trận đánh mà chẳng có ông nào tham dự …….Tôi xin miễn có ý kiến về việc này, vì sự thật hiện nay đã phần nào được chứng minh.

Anh em chúng tôi, những người đóng vai chính trong trận đánh, vượt bao hiểm nguy, may mắn thoát chết, bây giờ nghĩ lại vẫn còn thắc mắc: “phép lạ nào mà chúng tôi còn sống sót” – Sự việc xảy ra vừa đúng 30 năm. Tuổi đời của tôi cũng sắp đến “thất thập cỗ lai hy”.  Trí nhớ có phần giảm sút.  Những ngày đêm hãi hùng đó trong khu rừng rậm, trong những căn cứ địa của VC, bị Sư đoàn 341 CSBV truy đuổi và bao vây chặt.  Có những điều tôi vẫn còn nhớ như in, nhớ rất rõ ràng.  Nhưng cũng có nhiều điều tôi chỉ còn nhớ mù mờ, nhớ lẫn lộn, thậm chí đã quên hẳn!

Tên của các vị Sĩ quan trong Tiểu đoàn, tôi cũng nhớ không hết, ngoài các vị sau đây:

-Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức.

-Đại úy Sĩ quan Hành quân/Huấn luyện/TĐ Nguyễn Mỹ.

-Trung úy Nguyễn Văn Thắng, SQ Quản trị Nhân viên kiêm Chỉ huy Hậu cứ/TĐ

-Trung úy Nguyễn Văn Hào, ĐĐT/ĐĐ1

-Trung úy Võ Văn Mười, ĐĐT/ĐĐ2

-Trung úy Nguyễn Văn Hùng, ĐĐT/ĐĐ3

-Trung úy Hà Văn Dương, ĐĐT/ĐĐ4

-Trung úy Võ Kim Thạch, ĐĐT/ĐĐCH&YT

-Trung úy Tuyễn, SQ Truyền tin

-Trung úy Linh

-Trung úy Chánh

-Vị SQ Trợ Y/TD, SQ Tiền sát viên Pháo binh, Vị Trung đội trưởng Pháo binh,…

Có nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm xuống trong khu rừng oan nghiệt đó.  Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, người chịu trách nhiệm đến sự an nguy của Tiểu đoàn trong cuộc Hành quân Lui binh, tôi xin nhận sự phán xét của các Chiến hữu.  Và cũng thay mặt các Chiến hữu, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước Vong Linh của những đồng đội đã anh dũng nằm xuống để cho chúng ta được sống, Nước Việt được trường tồn.  Nhưng bất hạnh thay!  cuộc chiến đấu cho Chính Nghĩa của chúng ta đã bị phản bội.  Rốt cuộc, miền Nam thân yêu của chúng ta đã lọt vào tay bọn CSBV xâm lăng.  Nhưng tôi vẫn tin tưởng sự hy sinh của các bạn không oan uổng, không lãng phí.  Chúng ta chỉ mới thua một trận chiến, cuộc chiến vẫn tiếp tục, nhưng dưới một hình thái khác.  Ngày Quang Phục Quê Hương không còn xa.  Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chế độ Cộng Sản nhất định phải bị tiêu diệt.  Dân tộc Việt, đất Nước Việt nhất định trường tồn.  ĐỘC LẬP – TỰ DO – DÂN CHỦ và HẠNH PHÚC – NO ẤM nhất định sẽ trở về với toàn dân.

Bảo Định

Khi Tiểu đoàn xuống núi, vừng đông đã ló dạng.  Một ngày mới bắt đầu.  Những trái đạn pháo 105 ly được bắn đi xối xả, bắn cho hết đạn, đã liên tục rót lên đầu giặc chỉ mới vừa ngưng.  Hai khẩu pháo thân thương hoàn thành xong nhiệm vụ thì nhận hai trái lựu đạn nỗ tung bụng, đang nằm im lìm, trơ càng như hai đống sắt vụn ở ngọn đồi phía dưới, cô đơn và lạnh lẽo.

Tiểu đoàn yên lặng di chuyển.  Lộ trình ấn định là Xuân Lộc – Bà Rịa, theo Liên TL2.  Điểm tập trung tại Đức Thạnh, Tỉnh Phước Tuy.  Sau đó sẽ có xe đưa về căn cứ Long Bình nghỉ ngơi, tái bỗ sung quân số và đạn dược, rồi nhận nhiệm vụ mới.

Buổi sáng ngày 20/4/75, lối 9 giờ, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, TL/QĐ III, Quân Khu 3 bay vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo để chỉ thị việc rút quân.  Chỉ trong một thời gian ngắn, Tướng Đảo và Bộ Tham Mưu Sư đoàn đã cấp tốc soạn thảo một kế hoạch triệt thoái rất tỉ mỉ.  Vừa quá trưa, tôi đã nhận được Lệnh Hành Quân để kịp thời chuẩn bị.  Tôi đã thi hành đúng theo những chỉ thị ghi trong LHQ: Tiểu đoàn giữ lại 2 khẩu pháo 105 ly, còn tất cả sẽ kéo về Xuân Lộc để di chuyển cùng Sư đoàn.  Hậu cứ Tiểu đoàn gồm cả kho lương thực, đạn dược sẽ theo Sư đoàn đi trước.  Tiểu đoàn vẫn duy trì hoạt động bình thường.  Hoạt động nghi binh – cũng giống như trường hợp của Trương Phi cùng 20 người ngựa, tại cầu Trường Bản, đã mưu trí dùng những nhánh cây cột vào đuôi ngựa cho chạy lui, chạy tới trên đường, tạo đất bụi bay mù trời để đánh lừa quân của Tào Tháo, nhờ thế, đại quân của Lưu Bị đã rút đi được – Hai khẩu pháo vẫn tác xạ quấy rối liên tục vào vị trí địch.  Các toán tiền đồn, phục kích vẫn nằm tại vị trí.  Nhất là Trung đội Biệt Kích Tiểu đoàn hoạt động khu vực Núi Ma, đối diện căn cứ Núi Thị, bên kia đường QL1 về hướng Bắc.  Nhờ sự hoạt động hữu hiệu của Trung đội này, Cộng quân đã không thể nào đến gần đặt súng cối bắn vào Tiểu đoàn.

Theo Lệnh Hành Quân, đúng 7 giờ tối, Tiểu đoàn sẽ vào hệ thống truyền tin của Lữ đoàn 1 Nhãy Dù, đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ đoàn trưởng Dù.  Đến 12 giờ đêm, Tiểu đoàn trở lại hệ thống làm việc của Sư đoàn, phá hủy 2 khẩu pháo, rời bỏ căn cứ Núi Thị, rút về điểm tập trung trước, sau đó là các đơn vị của Lữ đoàn Dù.  Đúng lúc 12 giờ, tôi gọi LĐ Dù cho tôi trở về với SĐ.  LĐ Dù bảo chờ.  Lúc 1 giờ sáng, tôi gọi lại, cũng bảo chờ! Lúc 2 giờ sáng, tôi gọi lần nữa, cũng được trả lời: Chờ!  Lúc gần 3 giờ, nhìn về hướng thị trấn, tôi thấy có rất nhiều ánh đèn xe hơi di chuyển.  Tôi liền gọi về LĐ Dù hỏi và được trả lời: Nó đấy!  Hãy xữ dụng pháo bắn.  Nhưng pháo của tôi đã bắn gần hết đạn từ lúc quá n ửa đêm, chuẩn bị phá hủy để di chuyển.  Và cũng từ lúc đó tôi mới được lệnh cho Tiểu đoàn rời căn cứ. Nhìn đồng hồ, kim chỉ vừa đúng 3 giờ – 3 giờ sáng!  Tôi cho lệnh gom quân.  Việc gom quân không phải dễ dàng.  Làm thế nào để các toán tiền đồn và phục kích rời vị trí, trở về căn cứ mà địch không phát hiện được, không bám sát đi theo là chuyện khó.  Trong suốt cuộc chiến vừa qua, nhất là thời kỳ chiến tranh Việt – Pháp, những đơn vị đi tiền đồn, phục kích về bị địch bám sát theo rồi lợi dụng thời cơ, cướp đồn là chuyện thường xãy ra.  Và phải hơn một giờ sau Trung đội BK/TĐ mới về đến Tiểu đoàn.

Theo tập Hồi ký của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh mà nhà Sử học George J. Veith gửi cho tôi bản dịch tiếng Anh, thì vị cựu Lữ đoàn trưởng LĐ 1 Dù nói đơn vị cuối cùng của LĐ, Tiểu đoàn 9 Dù cùng Trung đội Pháo binh đã rời Long Giao lúc 4 giờ 30 sáng.  Như vậy là toàn bộ LĐ Dù đã rút đi trước, đã rời khỏi Mặt trận trước Tiểu đoàn 2/43.  Và TĐ2/43 là đơn vị cuối cùng rời bỏ Xuân Lộc!

Lúc Tiểu đoàn đi đến gần Ấp Núi Đô thì trời đã sáng hẳn.  Một số Nghĩa quân và Địa Phương Quân vác súng chạy theo, muốn nhập theo đoàn quân.  Nhưng với tinh thần cảnh giác cao độ, tôi buộc phải đổi hướng, tránh xa họ.  Vì tôi không thể phân biệt được thật hay giả.  Tôi phải nghĩ đến sự an nguy của đơn vị trước tiên.  Trong chiến đấu, ta không thể xử sự theo lối nữ nhi thường tình.  Tại mặt trận An Lộc, Bình Long hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, vì lòng nhân đạo, muốn cứu một thương binh Cộng quân, tôi đã mất đi một y tá khi tên thương binh địch mở chốt lựu đạn ném vào người định cứu mình!

Tại Đức Thạnh, tỉnh Phước Tuy, Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB, con chim đầu đàn của chúng tôi, gọi báo cáo với Tướng Đảo là TĐ2/43 vẫn còn kẹt ở Xuân Lộc.

Lối 7 giờ sáng, khi Tiểu đoàn di chuyển gần đến căn cứ Long Giao, đang đi trong khu rừng chồi, sắp đến vùng đồn điền cao su thì tôi nghe tiếng trực thăng bay ngang đầu.  Tôi nghe tiếng gọi tôi.  Đó là tiếng của Đại tá Ngô Kỳ Dũng, Trung đoàn trưởng 52BB đang bay trên chiếc C&C của Tư lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho tôi phải hủy bỏ lộ trình cũ trong Lệnh Hành quân, mà phải chuyển hướng băng rừng ra Long Thành, trên QL15.

Xin nói rõ thêm một chút, để câu chuyện được mạch lạc : Đường LTL2, Lộ trình triệt thoái theo LHQ, nối liền Xuân Lộc , tỉnh Long Khánh và Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy, dài trên 40 km đã bị bỏ hoang phế từ lâu, kể từ sau Hiệp định Đình chiến Paris, khi quân đội Đồng minh (Úc Đại Lợi) rút khỏi chiến trường.  Khi Tướng Đảo quyết định chọn con đường này để làm Lộ trình triệt thoái.  Ông đã có một quyết định táo bạo.  Nhưng đã tạo được sự bất ngờ.  Đoạn đường dài trên 40 km đó, lâu nay vẫn là vùng an toàn của Cộng quân.  Ngoài những toán du kích địa phương có nhiệm vụ canh giữ con đường, Trung đoàn 33 CSBV vẫn thường xuất hiện hoạt động quấy phá.  Con đường đã là hành lang giao liên an toàn giữa các mật khu cuả VC.  Quyết định táo bạo của Tướng Đảo, yếu tố bất ngờ của cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện đã làm cho Cộng quân trở tay không kịp.  Chúng không thể tức thời điều quân đến truy kích và ngăn chặn.  Trong quyển “Lịch sữ Quân Đội Nhân Dân” của CSBV, Quân đoàn IV Cộng quân của Tướng Hoàng Cầm thú nhận: “Chúng tôi đã không phát hiện kịp thời cuộc di chuyển quân của Sư đoàn 18 để tổ chức lực lượng truy kích và ngăn chặn.”  Nhưng những cuộc chạm súng, tấn công vào đoàn quân triệt thoái, tuy không quy mô, nhưng cũng không phải là nhỏ và đã gây cho lực lượng bạn một số tổn thất đáng kể: Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng bị bắt.  Trung tá Tham Mưu trưởng bị tử thương, đồng thời cũng đã gây một số thiệt hại cho LĐ1 Dù, khi đơn vị này vừa chiến đấu vừa bảo vệ thường dân các ấp Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn di tản theo.  Sau khi đơn vị cuối cùng của LĐ1 Dù đi qua, con đường giờ đây lại nằm dưới sự kiểm soát của Cộng quân – Yếu tố bất ngờ không còn nữa – Chúng cố vớt vát những tổn thất mà chúng đã gánh chịu trong suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc, bằng cách phải tiêu diệt cho được đơn vị còn lại của QLVNCH. Đó là Tiểu đoàn 2/43 Sư đoàn 18BB, vừa rời bỏ căn cứ Núi Thị.  Vì lý do đó mà Tướng Đảo đã lệnh cho chúng tôi thay đổi lộ trình.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi xuống núi, tôi bắt được liên lạc với Sư đoàn.  Nhưng khi chiếc trực thăng bay qua, lệnh đã ban xong, tôi lại mất liên lạc hoàn toàn với bên ngoài.  Không còn đơn vị bạn nào ở gần để có thể liên lạc qua lại.  Sư đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn đều ở xa.  Tất cả đang di chuyển.  Chúng tôi lại đang ở trong rừng.  Máy truyền tin không thể hoạt động tầm xa.  Chúng tôi đã hoàn toàn cô độc.  Chúng tôi lạc lõng giữa khu rừng rậm mênh mông với nhiều mật khu, nhiều căn cứ địa của địch.  Khu rừng này nối tiếp với mật khu Hắc dịch nổi tiếng của VC.  Hiện giờ, Sư đoàn 341 của Cộng sản Bắc Việt đang chiếm cứ nơi này.  Đây là một Sư đoàn tân lập, gồm các Tiểu đoàn Chủ lực của hai tĩnh Nghệ An và Hà Tĩnh.  Chúng vừa mới được đưa vào Nam hồi cuối tháng 2, sát nhập vào Quân đoàn IV do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy.  Binh sĩ phát âm giọng Nghệ – Tĩnh, rất khó nghe.

Lối 9 giờ, Tiểu đoàn đến một khu rừng cao su, phía tây căn cứ Long Giao.  Đơn vị tiền phương chạm địch.  Nhưng địch quân chỉ là một toán nhỏ, cấp Tiểu đội.  Chúng đã nhanh chóng bị thanh toán.  Liền sau đó, đơn vị tiền phương lại chạm địch.  Lần này địch phản ứng mạnh.  Nhưng không có pháo binh và phi cơ yểm trợ.  Phải giao chiến trong tình trạng này thật là bất lợi.  Tôi sợ quân sĩ bị thương vong sẽ gây phiền phức.  Tôi quyết định đoạn chiến.  Vừa lúc đó, từ hướng đông, một đoàn xe Molotova chạy vào -sau này đi ở tù cải tạo, được biết đó là loại xe quân sự do Trung Cộng chế tạo để chở quân, có tên là Hồng Kỳ, hơn 10 chiếc đang đổ quân.  Chúng định đánh bọc hậu Tiểu đoàn.  Chúng định lùa Tiểu đoàn tôi vào khu rừng trước mặt, nơi đại quân của chúng đang chờ sẵn để tiêu diệt.  Tôi cho đổi hướng,  Tiểu đoàn đi nhanh về hướng Bắc, lẩn vào khu rừng chồi.  Sau đó phải đổi hướng theo hướng Tây trở lại.  Khi đến một con suối, Đại đội 2 của Trung úy Võ Văn Mười báo cáo phát hiện một túp lều, bên trong có mấy tên VC đang ngồi uống nước trà.  Một khẩu K.54 treo trên vách phên.  Không thể lẩn tránh kịp.  Tôi cho lệnh nổ súng, thanh toán cho gọn.  Toán VC bị tiêu diệt.  Tiểu đoàn tiếp tục tiến.  Đến chiều, chúng tôi đến một khu rừng chồi tương đối thoáng, nối tiếp là rừng rậm.  Tôi cho lệnh nghỉ ngơi.  Tôi hội ý với Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức, và các Đại đội trưởng.  Tiểu đoàn sẽ chia làm hai cánh: một do tôi trực tiếp chỉ huy, và một do Đại úy Chi chỉ huy, xuyên qua rừng rậm, tiến về Long Thành.  Tôi còn nhấn mạnh thêm : Tùy theo tình thế, các Đại đội trưởng có thể đơn độc dẫn đơn vị mình về điểm hẹn.  Tôi phải ra lệnh phân tán như vậy vì tình hình rất nghiêm trọng, địch với một quân số rất lớn, lại đã biết chúng tôi đang trong vòng vây của chúng, sớm muộn gì chúng cũng sẽ tìm được và tiêu diệt trọn đơn vị chúng tôi.

Trời đã về chiều. Bóng đêm đến nhanh.  Tiểu đoàn tiến vào khu rừng rậm.  Từ bìa rừng vào chưa đến 100 mét thì cánh quân của tôi chạm súng dữ dội với địch.  Sau một ngày hành quân mệt mỏi, lại phải chạm địch liên miên.  Tinh thần căng thẳng, thể xác rã rời.  Nhất là khi tôi cho lệnh cố tránh né địch, bão toàn sinh mạng.  Nên vừa chạm súng được một lúc là chúng tôi tìm cách “chém vè”.  Bây giờ toán quân theo tôi tất cả chỉ còn 28 người, kể cả tôi.  Chúng tôi đã bị bao vây chặt.  Đêm đó là một đêm trăng mờ.  Hai mươi tám người chúng tôi mò mẩm, im lặng, tìm đường thoát thân trong bóng đêm, dưới ánh sáng mờ nhạt của vầng trăng khuyết:

Chàng từ đi vào nơi gió cát,

Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?

Xưa nay chiến địa nhường bao,

Nội không muôn dặm, xiết bao dãi dầu.”

Thật ra thì đêm trăng đó chúng tôi không thể nào nghỉ mát được.  Chúng tôi đã phải “dãi dầu” suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc.  Ngày hôm nay phải hành quân đơn độc, chạm súng liên tục, nhưng lại thiếu sự yểm trợ của phi pháo, là hai yếu tố quyết định thành công của bất cứ cuộc hành quân nào.  Tiểu đoàn lại đang lọt giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của địch.  Chúng tôi đang tìm kế thoát thân. Gần nửa đêm, chúng tôi lần mò đến một khu rừng thấp. Một con đường mòn cắt ngang.  Tôi định cho vượt qua thì gặp một toán Cộng quân di chuyển.   Chúng dừng lại ngay trước mặt, và phát loa kêu gọi:

”Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, Biệt hiệu Bảo Định, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn 18BB Ngụy.  Hiện Tiểu đoàn bạn đang bị quân Cách Mạng bao vây.  Hàng thì sống, chống thì chết.”

Tên bộ đội phát loa, giọng đặc sệt Nghệ – Tĩnh.  Chúng thuộc Sư đoàn 341 CSBV.  Có thể chúng chỉ là những đơn vị chủ lực Tỉnh vừa mới đôn quân thành chính qui vì nhu cầu chiến trường miền Nam, nên kinh nghiệm tác chiến còn kém cỏi.  Nếu không, có lẽ……

Chúng tôi đổi hướng.  Nhưng lại gặp tiếng loa kêu gọi đầu hàng với nội dung và giọng nói như lúc nãy.  Có lẽ chúng đã ghi âm – Đầu óc tôi căng thẳng, hiện tại anh em chúng tôi như kiến bò trong chén, tứ bề thọ địch, có thể nói thật, không hề cường điệu là chỉ với tay ra là chạm địch – Thập phần nguy hiểm, tôi suy nghĩ : phần số tôi đến đây là tận cùng sao!  Nếu vậy, tôi phải có quyết định thế nào để bảo toàn tính mạng cho thuộc cấp chứ!  – Tôi bò đến gặp từng anh em và nói với họ: “Các anh có thể ra, nhưng tôi thì không.  Đợi tôi lẩn tránh xa thì các anh có thể bắt đầu”.  Nhưng tất cả đều nhất quyết “KHÔNG” – Lòng tôi chùng xuống, hai cánh mũi cay cay, nước mắt muốn trào ra – Tôi hít thở thật sâu để cảm xúc lắng xuống, huynh đệ chi binh là những giây phút này đây, khốn khó có nhau, sống chết có nhau là lúc này đây!  Cám ơn các anh em đã có những hành động quyết liệt, để khích lệ tinh thần tôi, đã cho tôi nguồn hy vọng để tiếp tục đấu tranh giành sự sống, trong lúc thập tử nhất sinh …….

       Tiểu đoàn 2/43, đơn vị thiện chiến của Sư đoàn 18BB. Kể từ thời cố Trung tá Hắc Long Đỗ Văn Tân, K.7 Võ Khoa Thủ Đức làm Tiểu đoàn trưởng, giao lại cho cố Trung tá Hắc Long Nguyễn Văn Thoại, gốc Thiếu Sinh Quân, dân Thủy quân Lục chiến, đến Thiếu tá Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là tôi, từng phục vụ tại Binh chủng Biệt Động Quân.  Dù chỉ một thời gian ngắn, nhưng cũng học được kinh nghiệm tác chiến “tốc chiến tốc thắng” của Binh chủng ưu tú này, nên đã giữ cho Tiểu đoàn luôn luôn là đơn vị xuất sắc của Sư đoàn cũng như của Quân đoàn III.

Sau trận chiến An Lộc của Bình Long anh Dũng hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi được đại diện đơn vị về Bộ Tư Lệnh Quân đoàn nhận lãnh phần thưởng do Cố Thiếu tướng Lê Văn Hưng, lúc đó giữ chức TLP/QĐ trao tặng.  Tết năm 1974, Tiểu đoàn lại được chọn là đơn vị xuất sắc để Ông Tổng trưởng Kinh tế – Tài chánh Hà Xuân Trừng đại diện Chính phủ đến ủy lạo.  Và năm 1974, Tiểu đoàn được Tuyên dương Công trạng trước Quân đội, Hiệu kỳ của Tiểu đoàn được gắn thêm một Anh Dũng Bội Tinh với Ngành Dương liễu.  Những chiến công vang dội mà Tiểu đoàn đã gặt hái được đã làm cho Cộng quân khiếp sợ.  Từ trận Tái chiếm Phi trường Quản Lợi tại Mặt trận An Lộc, Bình Long; trận Bố Lá thuộc Quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; trận Thái Hưng thuộc Quận Công Thanh, tỉnh Biên Hòa; trận Võ Đắc – Võ Su thuộc Quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy; trận tái chiếm Ngã Ba Dầu Giây thuộc Tỉnh Long Khánh hồi Hiệp định ngưng bắn Paris đầu năm 1973.  Đặc biệt tại trận này, khi khai thác tên tù binh cấp B trưởng, tức Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 33 Cộng quân, hắn nói: “Chúng tôi được lệnh của Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng, mỗi khi gặp TĐ2/43 thì phải đoạn chiến và tìm cách chém vè!  Không biết đó là lời thật hay dối lòng để tâng bốc mình.  Nhưng thực tế, TĐ2/43 đã làm cho Cộng quân phải e dè và kiêng nể.

Nhưng giờ đây chúng tôi như những con thú bị săn đuổi trong khu rừng săn bắn của Triều đình Nhà Thanh từ thời đại Khang Hy đến Càn Long.  Con thú chỉ có thể chạy trốn trong khu rừng săn bắn rộng mênh mông, nhưng khó vượt thoát ra ngoài.  Chúng tôi đang bị sa cơ thất thế – Đau hơn nữa là cảnh sa cơ thất thế của chúng tôi không phải vì tài hèn, sức mọn, mà vì bị đồng minh trói tay, hay nói rõ hơn là bị …. bán đứng.

Lúc gần sáng, chúng tôi gặp một con suối.  Sau khi vội vàng cho lấy nước đổ vào bi-đông, và những bao gạo sấy, chúng tôi lại lên đường.  Phải tránh xa các con suối.  Vì đó là nơi địch cũng thường xuất hiện để lấy nước hoặc tắm giặt.  Toán 28 người chúng tôi hầu hết là lính Văn phòng, Truyền tin, Quân Y, Pháo binh…. Tất cả chỉ được trang bị súng ngắn hay lựu đạn để dể dàng làm việc.  Chỉ có một số anh em thuộc Trung đội Biệt Kích/TĐ là có súng M.16.  Nhưng chỉ với 28 người, lại đang nằm trong vòng vây địch, đang bị lùng đuổi.  Muốn sống còn, chúng tôi phải tìm cách lẩn tránh bọn chúng. “Tránh voi cũng chẵng xấu mặt nào!”.

  Bước sang ngày thứ ba, kể từ khi rời bỏ Xuân Lộc.  Hoạt động của chúng tôi vẫn thế.  Ngày nghỉ, tìm những nơi rậm rạp chui vào.  Đêm đến thì di chuyển.  Cứ nhắm hướng Tây, hướng Long Thành mà đi.

Đến ngày thứ tư, tôi cảm thấy đã thoát ra được khỏi vòng vây địch, nhưng tôi vẫn chưa dám trả lời máy, mặc cho SĐ, TR/Đ lo lắng, và những người vợ lính đang ngày đêm khắc khoải chờ tin chồng tại Tiền trạm Tiểu đoàn ở Long Bình.  Hàng ngày, buổi sáng và buổi chiều đều có máy bay, khi thì trực thăng, khi thì L.19, do Phòng 3 Sư đoàn, Ban 3 Trung đoàn, và thường do Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB đích thân bay đi tìm.

Tại Tiền trạm Tiểu đoàn, đặt tạm bên ngoài căn cứ Long Bình, đối diện với BTL/SĐ, Trung úy Nguyễn Văn Thắng, Sĩ quan quản trị nhân viên TĐ, đã bận rộn suốt ngày để điều động những chiếc xe GMC về Long Thành đón những toán quân vượt thoát vòng vây địch vừa từ trong rừng ra.  Cánh quân của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi đã về đến gần như nguyên vẹn.  Chỉ có cánh quân Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng là đụng độ mạnh, phải phân tán.  Nhưng những quân nhân sống sót, cuối cùng cũng lần mò ra đến điểm tập trung.  Trung úy Thắng lại còn phải trả lời, phân ưu những Bà Vợ Lính, kể cả Bà vợ của Thiếu tá TĐT, những quân nhân còn ghi nhận là “MẤT TÍCH”.  Những người vợ lính đợi tin chồng, đang khắc khoải lo âu.  Hàng ngày họ đến đây từ sáng sớm. Có người tay bồng, tay dắt những cháu bé mới 3, 4 tuổi.  Hoàn cảnh thật thương tâm!

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc triệt thoái, tức là ngày 24/4/75, Trung úy Thắng nhận được chỉ thị từ Sư đoàn là phải chuẩn bị hồ sơ để làm lễ “TRUY THĂNG – TRUY TẶNG” cho những quân nhân được ghi nhận là “MẤT TÍCH”.  Tin này, Thắng hoàn toàn giữ kín.  Thỉnh thoảng, Trung úy Thắng cũng nhận được những cú điện thoại từ Sư đoàn, Trung đoàn của Thiếu tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo, và Đại tá Trung đoàn trưởng Lê Xuân Hiếu hỏi thăm: Phu nhân Thiếu tá Chế còn đó không?

Lối 5 giờ chiều, chiếc máy truyền tin của Tiền trạm Tiểu đoàn bỗng vang lên giọng nói yếu ớt: “Hoàng Yến, đây Bảo Định; Hoàng Yến, đây Bảo Định, nghe rõ trả lời.”   Đó là tiếng gọi của tôi khi khi toán quân đang tiến tới một một khu rừng chồi thấp, mà tôi nghĩ có thể đã thoát ra khỏi vòng vây địch.  Lúc đó vừa lúc chiếc L.19 bay ngang đầu.  Vị Đại tá Trung đoàn trưởng của tôi ngồi trên đó, đang gọi tìm tôi:

– Tôi nghe tiếng ai như tiếng Bảo Định

– Bảo Định đây, Hoàng Yến – tôi vội trả lời.

– Anh cho tôi tọa độ điểm đứng, dọn bãi đáp.

– Không được, tôi sợ chưa thoát khỏi vòng vây. Để tôi đi xa thêm nữa. Đợi sáng mai.

– Được, hẹn Bảo Định sáng mai.

Sau đó, chiếc L.19 trở về căn cứ.  Toán quân của tôi tiếp tục cuộc vượt thoát.  Cố di chuyển càng xa về hướng Tây càng tốt.  Hy vọng thoát được vòng vây của địch.  Đã 4 ngày 3 đêm kể từ khi xuống núi.  Có lẽ đây là giờ phút sung sướng nhất!

Sáng ngày hôm sau, tức 25/4/75, lối 9 giờ, một đoàn trực thăng 4 chiếc bay vào vùng.  Tôi cho trải “paneau” làm tín hiệu nhận nhau.  Tôi cho sắp làm 3 toán.  Địa thế là rừng chồi.  Chỉ có một khoảng trống nhỏ có thể dùng làm bãi đáp cho một chiếc trực thăng.  Chiếc thứ nhất đáp xuống bốc toán đầu tiên rồi cất cánh an toàn.  Chiếc thứ hai, bốc toán thứ hai.  Cũng cất cánh an toàn.  Nhưng đến chiếc thứ ba, tôi ở trong toán thứ ba – trực thăng vừa đáp xuống thì từ hướng Đông, AK, B.40 đồng loạt khai hỏa cùng những tiếng la “xung phong” dậy trời.  Toán quân còn lại của tôi nhanh chóng lao vào trực thăng – Trực thăng vội vàng cất cánh – Vì muốn tận mắt thấy các thuộc cấp được an toàn trước, nên tôi tự xếp mình vào toán thứ ba và là người cuối cùng – Nhìn chiếc trực thăng đang bốc lên, nghe tiếng súng các loại nổ rền, hòa lẫn tiếng hô “xung phong” của địch – Tôi sững sờ – Cái chết đang đến trong đưòng tơ, kẽ tóc – Nhưng bản năng sinh tồn chợt trỗi dậy – Tập trung hết sức lực còn lại, tôi chỉ còn kịp chạy đến, nhảy mạnh lên, hai tay vội chụp lấy càng máy bay, ôm chặt.  Trực thăng lướt nhanh trên đầu ngọn cây rồi từ từ tăng cao độ, trực chỉ Long Bình.  Người xạ thủ đại liên, gunner, cùng những người lính trong lòng máy bay cố nắm chặt hai tay tôi, và kéo tôi lên.  Nón sắt và bản đồ đã rơi mất.  Tôi mệt nhừ, ngồi im bất động.  Cặp kính cận thị của tôi cũng không còn. Những giọt nước, nước mắt hay là máu từ từ lăn xuống trên khuôn mặt dãi dầu mưa nắng và trận mạc từ hơn hai tuần lễ nay, tôi cảm thấy mằn mặn.

Trực thăng hạ thấp, chuẩn bị đáp.  Từ trên cao, tôi đã nhìn thấy mờ mờ vị Đại tá thân yêu đã mấy ngày đêm lo âu cho sự an nguy của tôi và Tiểu đoàn 2/43 chúng tôi; đang đứng chờ trước đầu xe jeep, đậu sát LZ, đàng sau văn phòng Tư lệnh.  Ông đón tôi với tất cả nỗi mừng vui của người anh cả đang dang tay đón đứa em thất lạc trở về mái nhà xưa.  Ông nói: “Lên xe vào gặp Thiếu tướng Tư lệnh. Ổng đang chờ anh!”.

Michigan, Mùa Tuyết trắng 2005

Bảo Định

Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ ngày 30 – 4

Thơ Nguyễn Phúc Sông Hương

Post by Sơn râu 12 Jun 2026

Tiểu đoàn hai hàng đều bước

Tay không súng đạn,

Vẫn ngước cao đầu,

Dân làng bên đường

Vỗ tay chào đón,

Người được thắng trận

Ngơ ngác nhìn nhau.

Ba trăm người sát vai ngồi xuống,

Cởi giày, vắt vớ, nói, cười.

Nghe trong đám đông

Tiếng ai sụt sịt

Các chú lính ơi!

Mẹ già đem cơm, canh, cá,

Các con ăn nhiều cho no,

Nhìn bầy con ăn ngon quá,

Mẹ vui, cảm động khóc òa.

Sư già rộng mở cửa Phật,

Đêm nay thầy không thỉnh kinh

Các con vào chùa yên ngủ*

Quên ngày gian khổ chiến chinh.

Chuyện xưa nhiều khi nhớ lại,

Tưởng chừng như mới hôm qua,

Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ

Chan canh với hạt lệ nhòa…

Nguyễn Phúc Sông Hương

_______

*Chùa xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Đức

Mùa lặng im của sự sống

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 12 Jun 2026

    Những ngày mùa thu, sương mù thường xuất hiện vào những đêm trời quang đãng, không có gió, khi mặt đất nguội đi nhanh chóng, khí ấm và không khí ẩm nguội, khiến hơi nước ngưng tụ thành những giọt nhỏ lơ lửng trong không khí. Mỗi khi nhìn thấy sương mù, tôi thường quay về sống bên trong mình, cho nên những ý nghĩ thường hay “lan man”. Những lúc như vậy, tôi mở laptop ra để gõ bàn phím ghi lại những dòng lan man đó. Sương mù thường xuất hiện lúc giữa đêm và kéo dài cho tới ngày hôm sau, vì thường đạp xe hoặc đi bộ vào những giờ này nên tôi biết. Sương mù hiện ra trên cây cỏ và lan khắp môi trường xung quanh, đó là ấn tượng in sâu trong tâm trí tôi. Nhớ những năm còn làm thủy thủ, tôi ngán nhất là sương mù trên vùng Tô Cách Lan, nó dầy đặc như bức tường trắng, có điều gì đó rất kỳ lạ, rất huyền bí và nó có sức mạnh khiến cho bến cảng phải tê liệt hết, có khi cả ngày. Sương mù Tô Cách Lan đã khiến người dân ở vùng hồ Loch Ness tạo nên huyền thoại con quái vật bí ẩn thỉnh thoảng trồi đầu lên. Sáng nay, sương mù phủ lên khu phố nhỏ Dronten, nơi tôi ở. Nó lan qua những mái nhà, len xuống mặt nước con kênh, rồi dừng lại quanh những con tàu du lịch đang nằm im bên bến. Sương loãng thôi, nhưng làm tôi có cảm giác như nó đủ sức ghì mọi thứ đứng yên. Cả khu vực rơi vào một nhịp thở rất chậm, như thể có bàn tay vô hình của thiên nhiên đang đặt lên lưng lành lạnh, như nhắc nhở tôi dừng lại một chút để lắng lòng… Điều làm cho mùa thu ở Hà Lan trở nên đặc biệt là những buổi sáng sương mù se lạnh. Sương mù thật kỳ lạ. Trắng đục như sữa, nhẹ tênh, tưởng hiền lành mà chứa đầy hiểm nguy. Người đi rừng, người lái xe, kẻ lái tàu nếu không có la bàn thì ai cũng lo sợ có thể lạc đường trong màn sương trắng đục đó. Chỉ cần vài phút mất phương hướng, tai họa có thể ập đến mà không kịp né tránh. Có lẽ vì vậy mà đứng giữa mù sương, người ta dễ liên tưởng đến một cảm xúc quen thuộc mà chẳng ai muốn đối mặt đó là sự sợ hãi. Nỗi sợ cũng giống như sương, không thể nắm bắt, không nhìn rõ được, nhưng lại bao trùm hết cả đời sống. Càng cố xua nỗi sợ đi, ta càng thấy nó len sâu hơn vào bên trong tâm thức. Nhưng qua những giây phút mờ mờ ảo ảo, như sáng nay, tôi phát hiện ra thiên nhiên, dạy một bài học giản dị mà ta thường quên mất: đừng chống lại, hãy nhìn thẳng và chấp nhận nó. Nhưng “chấp nhận” không có nghĩa là chối bỏ hay buông xuôi. Nó là nghệ thuật quay về, thật vậy nhất là những ngày âm u lạnh lẽo như vầy, ta dễ ngồi yên trở về quan sát chính mình: nhìn lại thân tâm, nhìn lại những rung động đang lên xuống trong lồng ngực, và không để hoàn cảnh bên ngoài dắt dẫn. Con người nhiều khi bám víu vào tín ngưỡng như một chiếc phao, dựng lên những bức tường vô hình để che chở cho mình. Tụng vài câu kinh, ngồi nhắm mắt hoặc lim dim thật lâu, nghĩ rằng như vậy là đủ để cho thành đấng cao trượng. Nhưng nếu chưa hề hiểu tâm mình đang làm gì, ta cũng chẳng khác gì người dùng thuốc tê để quên nỗi đau, rồi một ngày nào đó bỗng giật mình nhận ra mình đã đánh mất cảm giác của sự sống. Tôi cũng là người như vậy đó. Từng quen với một loại niềm tin cố định đến mức không dám thử điều mới, không dám bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình. Chỉ vì sợ. Sợ thay đổi thói quen. Sợ mình không đúng. Sợ người ta đánh giá thấp. Sợ những cái mới mẻ khiến mình lúng túng. Càng bám víu, tôi càng cảm thấy một loại kiêu ngạo vô thức len vào trong đức tin của mình. Ngày đó, tôi tin rằng chỉ cần đọc thuộc vài bài kinh, nghe vài câu chú mơ hồ khó hiểu của một vị thầy, tin rằng mình đang đúng, và từ đó không muốn nghe thêm lời khuyên nào nữa. Tệ hại nhất là mạnh miệng phê phán cổ đức, chỉ trích những bậc hiền triết. Nghĩ lại, tôi thấy đó không phải niềm tin, mà là một lớp vỏ cứng dùng để che đậy sự hoang mang bên trong. Còn một điều khác khiến tôi tỉnh ra không phải nhờ lý thuyết của tôn giáo, mà là tôi gặp những con người thật sự vững vàng. Đứng trước những nơi đầy bạo lực, bất công, họ vẫn giữ được sự hiền hòa, trong sạch, và tỉnh táo. Họ có thể chấp nhận mất mát, thậm chí mất cả sinh mạng, mà không mang trong lòng oán hận. Ở trong tâm họ, tình yêu với quê hương, bảo vệ môi trường và sự sống, mạnh hơn nỗi sợ. Nhìn họ, tôi mới hiểu: người can đảm không phải người không sợ, mà là người kiểm soát được sự sợ hãi của mình. Cuối năm ở Âu châu ngày ngắn, đêm dài, tuy lạnh lẽo nhưng luôn mang một vẻ trang nghiêm, trầm mặc mà kiêu sa. Nhà nhà treo đèn kết hoa, đường phố sáng rực để tưởng nhớ hay chờ đợi một vĩ nhân sinh ra hơn hai ngàn năm trước. Những ánh đèn khiến sương mù bớt đặc, đêm đông bớt lạnh và lòng người ấm lại đôi chút. Nhiều người tìm đến những nơi thờ phượng cầu nguyện, tìm chút phước lành cho năm sắp tới. Nhưng thiên nhiên vốn đã có chu trình của nó – có cầu hay không, mọi chuyển hóa vẫn đều đặn xảy ra. Lá già úa đi, rụng xuống, mục nát, rồi hóa thành lớp phân bón nuôi hạt mầm trong lòng đất suốt mùa đông. Khi xuân về, chồi non bật dậy, đâm nhánh, kết hoa. Cuộc sống của con người cũng y chang như vậy. Tuổi trẻ là mùa xuân ồn ào, nồng nhiệt. Trưởng thành là mùa hè, rực rỡ và thử thách. Trung niên là mùa thu, chín muồi và thấm thía. Cuối cùng là mùa đông, mùa của tĩnh lặng; là lúc ta học cách quay về bên trong, hiểu rõ hơn bản chất của sự tồn tại. Cho nên chúng ta không cần cầu xin điều gì, mọi thứ vẫn theo chu kỳ của nó mà đến. Ngay cả cái chết, suy cho cùng, cũng chỉ là một cánh cửa mở sang một khởi đầu mới, cũng giống như hạt mầm đang ngủ im dưới đất kia, chờ ánh nắng hiền hoà đầu tiên của mùa xuân. Mùa đông khiến bóng tối kéo dài. Ngày ít lại, đêm nhiều hơn. Nhưng không vì vậy mà sự sống tắt đi. Cây cối rụng lá để thu mình lại sống bên trong. Muông thú cũng tìm nơi ẩn nương. Đất trời yên lặng, nhưng bên dưới mặt đất, những mầm xanh vẫn âm thầm chuẩn bị cho lần trỗi dậy tiếp theo. Trong cái lặng im ấy, ta nhìn thấy sự sống chưa bao giờ mất, nó chỉ đang âm thầm thở chậm hơn và sâu hơn. Nếu chịu dừng lại một chút, ta sẽ nghe được tiếng gió thì thầm qua cành cây tươi trơ trụi, thấy hơi ấm của đời trong làn khói mỏng manh, và nhận ra một cái bánh thơm mùi quế, một tách trà ấm cũng có thể trở thành chiếc cầu dẫn ta trở về với chính mình. Mùa đông, hóa ra, không đến để làm ta lạnh. Nó đến để dạy ta cách giữ ấm: bằng một nụ cười, một lời hỏi han, hay một sự bình an thật đơn sơ trong tâm. Đến một lúc nào đó, ta hiểu ra rằng: mọi bóng tối đều mang trong mình hạt mầm của ánh sáng. Còn con người thì sao? Lắm khi lại sống ngược với tạo hoá, với thiên nhiên. Người ta vẫn toan tính, ganh đua, gây chia rẽ, hận thù. Lợi dụng những ngày lễ của thánh nhân quan trọng bày biện tiệc tùng, bàn chuyện hơn thua và tìm cách hãm hại nhau, khiến mùa đông càng thêm buốt lạnh. Ta tự đẩy mình vào những vòng xoáy không cần thiết, để rồi trách rằng cuộc đời sao cứ mãi tối tăm. Giá như ta chịu để mọi chuyện thuận theo tự nhiên và để thời gian làm công việc của nó, cũng như ta nhìn nỗi sợ bằng một ánh mắt khác, nhẹ nhàng hơn, bao dung hơn. Được như vậy, dù ánh sáng có ngắn hơn đêm, ta vẫn giữ được ngọn lửa trong tim. Nhìn xem vào những ngày bớt đi ánh sáng, vẫn còn có những người treo đèn trước cửa. Vẫn có những gia đình quây quần chia sẻ bữa ăn ấm áp. Vẫn có những lời chúc bình an được trao nhau giữa sương mù giá lạnh. Và nhờ những điều nhỏ nhặt ấy, bóng tối của cuộc đời không còn chỗ chen vào lòng ta được nữa.  
Dronten 14-11-2025
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 12 Jun 2026

Chúng tôi theo xe hàng từ Phnom Penh lên cảng Kampong Som, trễ mất gần hai tiếng đồng hồ. Ngày đã xế, nhưng nắng còn đổ lửa trên đầu. Trời đứng gió, cái nóng hừng hực như hắt ra từ lò sấy. Người dẫn mối cứ thôi thúc nhanh lên, nhanh lên. Đồ đạc cái xách cái mang tất tả đến được điểm hẹn, chúng tôi mệt phờ người. Ba gã chủ chốt người Miên còn kiên nhẫn chờ trên đầu dốc nơi ngã ba đường lên chợ, dưới bóng râm của một tàng cây. Hai gã ngồi trên hai chiếc xe Honda, phì phà điếu thuốc. Gã thứ ba đứng dựa lưng vào gốc cây. Thấy chúng tôi tới, họ bu lại vồn vã, cùng lúc những chiếc xe đò cổ lỗ xỉ ì ạch bò lên dốc. Khói xe và hơi nóng phả vào mặt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp họ. Người dẫn mối giới thiệu chúng tôi bằng tiếng Miên. Họ cũng tự giới thiệu lại mình. Một gã tên Nu da xám, môi chì, mắt trắng, nói thạo tiếng Việt. Hai gã kia chỉ nói tiếng Miên, tên khó nhớ. Gã tóc quăn, có bịt răng vàng. Giữa cái răng vàng cẩn hình trái tim. Gã thứ ba mặt mày sáng sủa đẹp trai, Tàu lai Miên. Tất cả, trạc tuổi ngoài ba mươi, mặc đồ chải chuốt lịch sự, tư cách đàng hoàng đáng tin cậy.

Tôi xin lỗi vì trễ hẹn, và giải thích rằng đường từ thủ đô lên cảng có quá nhiều trạm kiểm soát làm mất thì giờ.

Gã tên Nu nói không sao, làm ăn đôi khi trễ nải là chuyện thường. Gã cho biết về phần gã đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi, còn phần tôi thì sao?

Tôi nói: “Cũng sẵn sàng.”

Gã hỏi nhỏ: “Có đem theo đủ số không?”

“Đủ. Đi liền bây giờ chưa?”

“Dĩ nhiên.”

Nu quay qua nói với hai gã kia điều gì đó. Trông họ rất phấn khởi. Tôi cũng mừng. Dù trễ hẹn, nhưng mọi việc vẫn tiến hành đúng như dự định.

Xe Honda bắt đầu nổ máy kêu lụp bụp như con ngựa cuồng chân nóng nảy lên đường. Tôi chào từ giã người dẫn mối. Anh là người Việt sống lâu năm ở Kampuchia, cũng là người cuối cùng của đường dây tiếp nhận lúc chúng tôi mới đặt chân đến Phnom Penh. Nhiệm vụ của anh là hướng dẫn, và giao chúng tôi cho người chủ chốt. Anh ta bắt tay tôi lần chót, chúc may mắn. Nu cho biết sẽ đi về hướng Tân Hao, bảo vợ con tôi ngồi xe của gã Tàu lai. Con tôi ngồi giữa. Vợ tôi ngồi sau, choàng tay qua đứa con, ôm eo gã Tàu lai. Nu và tôi đi chung với gã răng vàng. Mỗi chiếc Honda chở ba người. Xe chạy. Tôi ngó ngoái về phía sau, thấy người dẫn mối còn giơ tay vẫy vẫy.

Đường đi Tân Hao rộng thoáng. Mặt đường không tráng nhựa. Nhiều đoạn lởm chởm trơ ra những sỏi đá, hoặc trũng thành ổ gà. Thế nhưng hai chiếc Honda vẫn phóng như bay. Không khéo cán phải đá hay vấp ổ gà, quăng cả lũ xuống đường, sứt tay gãy gọng như chơi. Tôi nói với Nu, bảo gã lái xe chạy cẩn thận hơn. Nu cười rằng đừng lo, gã đã từng lái xe trên đường này hàng trăm lần rồi, chưa bao giờ xảy ra tai nạn.

Hai bên đường là rừng. Có lúc xe chạy ngang qua trảng trống, hoặc đồng cỏ tranh. Nhìn xa xa về bên trái, thấy bờ biển và mặt nước xanh rờn, bao la ngút mắt. Mùa này, gió lặng sóng êm. Mặt biển láng như trải lụa. Vùng biển từ đây tới Lem Ngộp, Nu bảo đảm không có hải tặc. Mọi việc chắc chắn sẽ êm xuôi. Và vào khoảng quá nửa đêm, sẽ đặt chân lên bờ biển Thái Lan. Nghĩ tới một chân trời mới sẽ mở ra cũng đủ thấy đời tươi đẹp. Tự nhiên yêu biển lạ lùng.

Xe đang chạy, Nu bảo: “Sắp tới nơi rồi. Đưa vàng.”

Tôi hỏi: “Sao không chờ lúc xuống bãi?”

“Tới nơi là gấp rút chạy ào xuống bãi lên ghe. Nếu lằng nhằng mất thì giờ vì chuyện này, sẽ bể việc lớn.”

Cũng có lý. Cái giờ phút quan trọng nhất là lúc bắt đầu lên ghe. Thành hay bại cũng từ nơi khởi điểm này. Tôi nghĩ, chiếc ghe đã chờ sẵn ở đâu đó. Honda vừa ngừng là chúng tôi nhào lên ghe liền. Bọn an ninh bờ biển có trở tay cũng muộn. Bởi người đầu mối đã cho biết, ghe được trang bị máy bốn lốc đầu bạc. Tôi chẳng biết máy bốn lốc đầu bạc là máy gì, mạnh yếu ra sao? Nhưng người ta đã khoe như thế thì chắc là phải ngon lành lắm. Dù công an tuần duyên có đuổi theo, cũng đành ngửi khói mà thôi. Chúng tôi sẽ chơi một cú thật ngoạn mục. Hồi hộp bất ngờ giống như phim trinh thám. Còn chuyện đưa vàng, trước sau gì cũng đưa. Thôi thì đưa ngay bây giờ, đổi lấy một chuyến đi định mệnh. Tôi luồn tay vào cái túi nhỏ may dính dưới đũng quần lót, móc hai thỏi vàng, đưa cho Nu.

Gã đặt vàng trong lòng bàn tay nâng thử để ước lượng sức nặng, rồi nhét vội vô túi.

“Chưa đủ.” Gã nói khi xe đang chạy.

Tôi nói: “Còn hai cây nữa, vợ tôi cất.”

“Bảo vợ anh đưa ngay bây giờ.”

Tôi gật đầu.

Nu nói tiếng Miên với gã răng vàng. Gã này phóng xe lên song song với gã Tàu lai.

Tôi bảo vợ: “Anh đưa vàng rồi. Em đưa luôn cho họ đi.”

Vợ nói: “Chờ xuống bãi.”

“Họ muốn ngay bây giờ.”

“Ngồi trên xe, không lấy ra được.”

Tôi biết lý do vợ tôi không thể lấy vàng lúc này.

Tôi nói với Nu: “Anh nghe chưa?”

“Tôi nghe. Xuống bãi đưa.”

Ba gã lại nói líu lo. Xe vẫn phóng như bay, tới một khoảng rừng rậm, họ dừng lại đột ngột. Nu nắm tay vợ con tôi lôi bừa, khom người chạy lúp xúp men theo rặng phi lao, vào rừng. Có lẽ gã sợ những chiếc xe đò ngang qua nhìn thấy. Tôi ôm cái túi xách, hấp tấp chạy theo. Hai chiếc Honda bỏ chúng tôi lại đó, vọt thẳng về hướng Tân Hao. Chúng tôi luồn lách qua những lùm bụi gai góc, đến một con suối cạn. Mùa nắng, lòng suối khô phơi bày cát đá.

Vừa ngồi xuống, Nu bảo: “Núp ở đây, chờ ghe đến, mình sẽ ra bãi.”

Tôi hồi hộp, tinh thần căng thẳng đến cùng tột. Nếu bị lính Miên bắt quả tang đang núp ló để chuẩn bị lên ghe thì đời khốn nạn ngay. Vợ con tôi ngồi nép vào nhau, thở hổn hển, mặt xanh như tàu lá.

Tôi hỏi: “Anh có đi theo ghe với chúng tôi không?”

Nu nói: “Tôi đưa anh tới Thái Lan.”

Rồi gã nhìn vợ tôi, xòe tay ra: “Đưa vàng cho tôi.”

Cách nói chuyện của Nu thẳng thừng, cử chỉ thô lỗ. Tôi nghĩ gã là người Miên quen tính bộc trực nên cũng không lấy đó làm khó chịu. Chỉ cảm thấy có điều gì bất thường, khi vợ ngó tôi, ngầm hỏi ý kiến. Xuống xe, chúng tôi chạy ào, nhưng không phải ào lên ghe như Nu diễn tả, mà ào vào rừng. Ghe đâu không thấy. Thế thì có gì gấp rút? Kế hoạch thay đổi chăng? Dẫu sao, đã tới mức này rồi, một liều ba bảy cũng liều. Tôi nhìn vợ, gật đầu.

Vợ tôi đứng dậy, đi khuất vào bụi rậm. Tôi biết vợ đang móc vàng từ trong cửa mình.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Cửa sổ trông lên trời vằng vặc sao, xung quanh là giàn nho từng chùm trái mọng khẽ rung rinh lặng lẽ như quả lắc đồng hồ.

– Bây giờ em không khóc nữa, mà em có khóc anh cũng đừng để ý. Không phải em khóc đâu, có cái gì mạnh mẽ hơn em mà em không cưỡng lại được. Nhiều khi, mình chỉ biết làm thế thôi, nhưng em không buồn, em sung sướng là khác.

Vai nàng đặt trong vòng tay chàng, đầu nàng nép chặt xuống đầu chàng. Cái giường rất rộng, gỗ hồ đào, đóng kiểu thôn dã, đầu giường nhô lên như một bức tường. Trong góc phòng kê một cái tủ áo cũng bằng gỗ hồ đào, trước cửa sổ có cái bàn và hai chiếc ghế. Dưới bóng đèn điện, một chiếc vòng hoa cô dâu lâu ngày đã ngả ra màu vàng, trên tường một cái gương lớn phản chiếu ánh sáng rung rinh ngoài cửa sổ.

Nàng nhắc lại:

– Em rất sung sướng. Mấy tuần nay xảy ra biết bao nhiêu chuyện em không nhớ hết được. Em thử nhớ lại mà không nhớ nổi. Đêm nay anh phải kiên nhẫn với em một chút.

– Giá trước khi đi, anh có thể mang em đến một làng nào ở ngoài tỉnh.

– Anh đi rồi thì ở đâu em cũng không cần.

– Em nghĩ lầm, làng xóm không bị bom.

– Bom mãi cũng có ngày phải chấm dứt chứ, trong tỉnh này không còn căn nhà nào nguyên vẹn. Vả chăng còn làm ở xưởng thì cũng không thể đi đâu xa. Giá được ở căn phòng xinh xắn của bà quán này!

Nàng bình tĩnh lại, hơi thở không dồn dập nữa:

– Em đã tỉnh ngộ rồi, em không còn điên loạn nữa. Em sung sướng nhưng sự vui sướng mong manh bất định! Thực không phải là thứ sung sướng yên ổn, chắc chắn như hạnh phúc của loài bò.

– Chắc chắn thì ai không muốn.

– Em không biết. Nhưng em cho rằng mình có thể hãy tạm vài phút chơi xuân kẻo già!

– Anh cũng vậy. Người ta kén cá chọn canh chỉ vì người ta không biết tìm ra mà hưởng.

– Mười năm hạnh phúc có bảo đảm, nhàm chán và trưởng giả như hạnh phúc của loài bò – em nghĩ rằng cả đời sống mà như thế cũng không đáng khinh bỉ.

Graber cười:

– Chính đời sống mãnh liệt khốn nạn này làm cho chúng ta nhớ cuộc sống trưởng giả. Nhưng ông cha chúng ta không nghĩ như thế, ông cha chúng ta chán ghét hạnh phúc của loài bò và khao khát phiêu lưu!

– Bây giờ chúng ta trở lại những người giản dị.

Với sở thích giản dị, Elisabeth nhìn chàng:

– Anh thèm ngủ lắm phải không? Một đêm ngủ một giấc thẳng đến sáng không vẩy tai. Biết đến bao giờ anh ngủ được như thế vì chiều mai anh phải đi rồi.

– Lúc đi đường ngủ cũng được. Cũng phải đi vài ngày mới đến nơi.

– Nhưng ít có hy vọng kiếm được cái giường.

– Ít thật. Từ ngày mai, may mắn lắm là kiếm được một mảnh ván hay một ổ rơm. Nhưng được cái người ta quen ngay. Không có gì quan trọng, sắp đến mùa hạ rồi. Chỉ có mùa đông ở bên Nga mới khổ sở thôi.

– Có lẽ phải sống một mùa đông nữa ở bên ấy.

– Nếu cứ lui binh mãi thì chẳng bao lâu sẽ về đến Ba Lan, có thể về đến nước Đức vào mùa đông sau. Sẽ bớt lạnh hơn, vả chăng mình cũng quen với cái lạnh nhà.

Y nghĩ thầm: “Bây giờ chắc nàng sẽ hỏi bao giờ mình lại nghỉ phép nữa. Mình muốn nàng đã hỏi rồi! Nàng sẽ hỏi những câu không thể tránh được và mình trả lời những câu nàng đã biết rồi. Thôi đừng có những chuyện ấy nữa. Mình ngồi đây mà nghĩ tới chuyện ra đi rồi, bây giờ mình như người bị lột da, hơi đụng một tí là đau nhói”.

Y đưa mắt nhìn cây nho trinh tuyết ngoài cửa sổ rồi nhìn bóng phản chiếu trong gương, y có cảm tưởng như một sự bí mật lớn đang quanh quất gần cửa sổ, lúc nào cũng có thể xuất lộ thình lình.

Bỗng dưng họ nghe tiếng còi báo động.

***

– Ở đây thôi. Em không muốn mặc áo vào để chạy xuống hầm núp.

– Tùy em.

Graber ra chỗ cửa sổ. Y đẩy lui bàn vào và đứng ngó ra ngoài. Đêm sáng sủa và yên lặng. Vườn sáng trăng. Ban đêm gợi giấc mơ màng và cũng đem lại cho phi công điều kiện lý tưởng để dội bom. Y trông thấy bà quán chạy ra vườn, người nhợt nhạt vì sợ hãi.

Trông thấy Graber bà ta nói lớn qua tiếng còi vang động:

– Tôi định kêu ông!

Graber gật đầu. Y còn nghe nói thêm:

– Hầm núp ở đường Leibnitz.

Y lại gật đầu. Rồi y thấy bà ta trở vào nhà. Y đợi một phút. Bà ta không thấy ra nữa. Bà ta cũng không xuống hầm núp. Y không lấy làm lạ. Căn nhà và mảnh vườn này không phải như đã có phép bí mật che chở rồi ư? Y đã cảm thấy như mình ở một khu yên tịnh giữa sự náo động của toàn tỉnh. Cây cối đứng cạnh gác đằng sau bãi cỏ ánh bạc mờ. Bụi cây đứng ngay đơ bất động, cả đến chùm nho cũng không rung rinh trong không khí lặng lẽ. Hòn đảo bình yên tắm ánh trăng xanh được bao vây bằng một bức tường vô hình chặn đứng bão tố.

Graber quay lại. Elisabeth giật bắn người lên. Ánh sáng mờ chiếu xuống hai vai, bóng tối nhạt làm cho cái ngực nhỏ và cao như nở thêm. Cái miệng tối đen và hai mắt sáng như trong veo. Người nàng thẳng đẵng, hai tay chống xuống gối như người bất thần ở thế giới khác đến, Graber thấy nàng cũng có cái bí mật giá băng như mảnh vườn thiêm thiếp ngủ dưới trăng.

Graber nói để phá tan sự yên lặng.

– Bà quán cũng ở lại trong nhà.

– Lại đây anh.

Đi qua trước tấm gương, y trông thấy khuôn mặt mình, khuôn mặt một người khác rồi.

– Lại đây anh.

Nàng nhắc lại.

Graber cúi xuống gần. Elisabeth ôm lấy người chàng.

– Mặc kệ nó, muốn ra sao thì ra.

– Không sao đâu. Ít ra đêm nay.

Không biết sao y nói được dõng dạc như thế. Có lẽ nhờ mảnh vườn sáng trăng, tấm gương phản chiếu khuôn mặt y khác đi, hai vai rực rỡ như ngọc trai của vợ mới cưới và sự yên tịnh bất thần nhập vào tận thâm tâm mình.

– Không thể xảy ra cái gì được.

Nàng đẩy chăn mền ra làm rớt xuống đất. Nàng đã bỏ hết quần áo, một thân hình tuyệt mỹ với hai chân thon và chắc, đường lượn trên vai trên ngực như sóng dợn, cái lưng ong xinh xắn và vòng háng nở nang. Không phải vóc dáng con gái nữa, nàng đã trở thành đàn bà.

Nàng nép người vào chàng, chàng cảm thấy sự hiện hữu của hàng ngàn bàn tay nhỏ giữ lấy chàng, vuốt ve chàng từ trong thâm sâu thớ thịt. Không phải hình thức ái ân sôi nổi như những ngày đầu, bây giờ một nhịp điệu êm ái phát ra từ mỗi nhịp tim lôi cuốn theo nó cả lời nỉ non, cả hình hài hữu hạn của con người, cả chân trời đầy đe dọa, cả ý thức về hiện hữu tại thế…

***

Graber ngửa mặt lên. Hình như y mới ở thật xa trở về. Y lắng tai nghe. Y vắng mặt ở thế gian đã bao lâu? Bên ngoài không một tiếng động. Tưởng như giác quan mình lầm lẫn, y tiếp tục lắng nghe. Không có gì cả, không có tiếng còi, không có tiếng xe cứu hỏa, không có tiếng nổ. Y nhắm mắt lại và nằm xuống. Rồi lại trỗi dậy.

– Phi cơ không đến rồi.

– Có chứ.

Hai người lại nằm gần nhau. Graber có thể trông rõ chăn mền dưới đất, tấm gương và cửa sổ mở. Trước y còn tưởng rằng đêm dài vô tận, nhưng bây giờ y đã cảm thấy thời gian trôi lặng lẽ. Chùm nho lắc lư ngoài khung cửa, bóng in trong gương cũng rung rinh, một tiếng nổ từ chân trời xa vọng lại. Y quay lại với vợ. Nàng đã nhắm mắt. Miệng nàng hé mở, nàng thở chậm và đều. Nàng còn thơ thẩn trong mơ trong khi y đã trở lại với thực tại. Xưa nay nàng vẫn thế, nàng bám riết lấy mơ mộng lâu mới trở về. Y nghĩ thầm: “Mình cũng muốn quên mình như thế, quên hẳn mình rất lâu!”. Y thèm muốn tâm hồn nàng, yêu nàng và kinh sợ nàng một chút vì nàng gạt bỏ được hết một cách dễ dàng như thế. Nàng xa vắng, nàng ở trong một vũ trụ khác mà y không thể đi theo được dù có được cũng chỉ trong khoảnh khắc mà thôi; chính vì thế mà y sợ. Bất thần, y thấy mình cô độc lạ lùng, thấy mình kém nàng nhiều.

Nàng mở mắt ra.

– Phi cơ đâu cả rồi?

– Không biết.

Nàng giơ tay lên vuốt tóc:

– Em thấy đói.

Graber trỗi dậy đi tìm vài hộp đồ ăn:

– Anh cũng đói, nhưng thiếu gì đồ ăn.

– Đây có thịt ngỗng và thịt bê lạnh. Có cả ba tê gan, thỏ và mứt.

– Ăn ba tê với mứt.

Graber mở hộp đồ ăn, để cho Elisabeth nằm dài không động đến tay chân. Y thích vậy, y không muốn thấy một người đàn bà của ban đêm và của bí mật bỗng dưng biến thành bà nội trợ đảm đang.

– Anh thấy hơi hơi thẹn vì lấy những đồ ăn này của Binding. Đối với Binding anh đã lãnh đạm quá.

– Có lẽ, nhưng Binding đã không được tử tế với nhiều người khác. Như vậy cũng có bù trừ. Anh có đi đưa đám không?

– Không. Có nhiều đảng viên mặc đồng phục quá. Anh chỉ để ý đến lời ông Hildebrandt. Ông nói rằng chúng ta phải noi theo cuộc đời gương mẫu của Binding, phải nghe lời cuối cùng của Binding. Ông ta muốn nói đến cuộc chiến tranh ác liệt chống lại kẻ thù. Nhưng ý muốn cuối cùng của Binding hơi khác. Binding mặc áo mát trong nhà hú hí với một cô tóc vàng cũng mặc áo ngủ.

Graber đổ thịt và mứt ra hai cái đĩa của bà quán cho mượn. Rồi cắt bánh và mở hai chai rượu. Elisabeth trở dậy đi lại trong phòng không mặc quần áo.

– Coi em không còn là cô thợ ngồi vá áo nhà binh. Coi em như người hàng ngày tập thể thao.

Nàng cười:

– Người ta chỉ tập thể thao khi nào thất vọng.

– Thật ư? Anh không nghĩ đến điều ấy.

– Một liều thuốc rất hay: tập cho đến mệt lử, chạy cho đến rời rụng hai chân, rửa nhà, làm giường đến mười lượt chải tóc đến sướt da đầu v.v…

– Có hết thất vọng không?

– Hết, nhưng chỉ công hiệu với sự thất vọng đã lâu thôi khi người ta không muốn suy nghĩ gì cả. Nhưng nếu mới bị thất vọng thì chỉ có một phương thuốc là mặc kệ nó muốn ra sao thì sao.

– Rồi sao nữa?

– Phải đợi đời sống tự nó trở lại dần dần. Đây em nói đời bình thường còn để cho người ta kịp thở chứ không phải đời sống lúc này.

Graber nâng ly.

– Theo ý anh thì chúng ta với tuổi của chúng ta, chúng ta biết hơi nhiều quá về sự thất vọng. Ta hãy quen đi.

– Vâng, nhưng chúng ta cũng biết khá nhiều về sự quên. Ta cũng phải quên cả sự quên.

– Trái lại, trong ước vọng của chúng ta, chúng ta không quên bà quản gia nhà anh Binding đã cho những hộp thức ăn này không quên bà chủ quán đã cho căn buồng và mảnh vườn này.

Họ uống cạn ly rượu nho mát mẻ thơm tho. Graber rót lần nữa. Trăng chiếu vào ly làm bật ánh lửa vàng.

– Anh yêu quý của em, ngồi gần nhau nói chuyện với nhau lúc đêm tối thú vị thật!

– Ban đêm em là đứa con của Thượng đế đầy tuổi trẻ và sinh lực, ban ngày em là cô thợ vá áo nhà binh, còn anh là một tên lính…

– Ban đêm người ta trở lại là con người xưa nay vẫn thế, ban ngày người ta là người mà xã hội đã làm méo mó…

– Có lẽ.

Graber nhìn bánh, rượu và đĩa thức ăn.

– Nhưng chúng ta đã sống hời hợt! Chúng ta chỉ biết đến đêm là ăn với ngủ.

– Còn yêu nhau nữa, đâu có hời hợt.

– Còn uống rượu nữa.

– Còn uống rượu nữa.

Nàng nhắc lại và đưa ly ra.

Graber cười.

– Đáng lẽ buồn rầu và tư lự, đáng lẽ nói những chuyện thâm thúy cao siêu, chúng ta ngốn hết nửa kí lô gan thỏ, chúng ta thấy đời sống tuyệt diệu và cám ơn Trời.

– Như thế có hơn không?

– Sự thật là thế. Khi không còn trông mong gì ở đời thì đời cho mình cái gì mình cũng cứ cho là phép lạ mà phép lạ phát không.

– Anh học điều ấy ở mặt trận phải không?

– Không, học ở đây đấy.

– Cũng là nguyên tắc hay, không cần biết gì hơn.

– Chỉ cần một chút may mắn nữa thôi.

– Chút may mắn ấy chúng mình có không?

– Có, chúng mình có cái gì con người hằng ao ước.

– Em có buồn không, nếu một ngày kia hết may mắn.

– Không hết được, chỉ thay đổi hình dạng thôi.

Nàng nhìn chàng. Chàng nói:

– Anh nói dối đó, thực ra anh buồn lắm, anh tự hỏi không biết mình có chịu nổi phút chia tay ngày mai không. Anh muốn nghĩ xem làm thế nào để khỏi buồn, anh chỉ thấy một cách là nếu không gặp em, như vậy, anh không buồn, anh sẽ thấy trống rỗng và lạnh lùng với hết thảy và lúc ra đi sẽ còn khổ hơn lúc trở về. Nghĩ như vậy thì buồn không phải là buồn nữa mà là một thứ hạnh phúc đen, mặt trái của hạnh phúc.

Nàng đứng dậy.

– Có lẽ anh nói không rõ. Em có hiểu anh nói gì không?

– Em hiểu, anh nói dễ hiểu lắm, không ai nói được rõ hơn. Vả chăng em biết trước rằng anh sẽ nói thế.

Nàng lại gần chàng, chàng ôm nàng trong tay. Bất thần nàng không có tên nữa, đồng thời nàng có hết các tên ở trên đời. Có một cái gì hiển nhiên và ghê gớm xuất hiện như một mặc khải; tất cả đều hiện ra bộ mặt trơ như đá của vĩnh cửu, đi rồi về, có mặt rồi vắng mặt, sống và chết, quá khứ và tương lai, quanh đi quẩn lại đâu vẫn đấy có gì là lạ đâu – Bỗng dưng y cảm thấy đất dưới chân như trôi tuột đi, mình thụt xuống một vực thẳm với người yêu trong tay. Y nhắm mắt lại để cho mình tan biến vào trong nàng.

***

Đây là buổi chiều cuối cùng. Hai người ngồi trong vườn. Con mèo đi qua như một cái bóng. Nó sắp đẻ con, nó như nhờ một sự bí mật lớn lao của tạo hóa mà sống tách biệt khỏi cuộc đời, nó không để ý đến ai cả.

Bỗng dưng nàng thỏ thẻ:

– Em muốn có một đứa con.

Graber nhìn nàng kinh ngạc :

– Có lẽ em muốn nghe anh nói sẽ hôn em, sẽ tỏ ra cảm động và âu yếm. Nhưng em ạ, anh không thể làm thế được. Điều ấy lạ lùng quá. Không mấy khi anh nghĩ đến cả!

– Chả cần nghĩ đến. Mấy lại anh cũng chẳng cần để ý. Em nói vậy chứ không chắc đâu.

– Một đứa con! Đến thời kỳ chiến tranh sau nó sẽ bằng tuổi chúng mình thời chiến tranh này. Anh nghĩ đến tất cả những cái khổ sở cho nó khi chào đời!

Con mèo cái lại đi ra, nó tiến về phía bếp.

– Ngày nào cũng có trẻ ra đời.

Graber nghĩ đến phong trào “Thanh niên Hitler” và những đứa trẻ đã tố cáo cha mẹ mình với Cảnh sát Mật vụ.

– Nhưng sao em lại nói đến những chuyện ấy? Có phải chỉ là ước vọng không?

– Hay là anh không muốn có con.

– Anh không biết. Thời bình thì có lẽ muốn. Anh chưa kịp nghĩ chín. Chung quanh chúng ta cái gì cũng thối nát cũng bị đầu độc, phải nhiều năm nữa mới gột rửa được ám khí này. Đời thế này thì có còn làm gì?

– Chính thế.

– Thế là thế nào?

– Để nuôi con và không cho nhiễm độc xã hội. Nếu những người sống dưới chế độ này không muốn có con thì tất cả đều suy sụp. Nếu thế hệ sau chỉ là con những tên tàn ác thì ai là người xây dựng xã hội?

– Vì thế mà em muốn có con?

– Không phải, đó chỉ là một ý nghĩ trừu tượng, em nghĩ đến một cách bất thần mà thôi.

Graber yên lặng. Y không biết nói sao để trả lời nàng.

– Em đi nhanh quá anh theo không kịp. Anh chưa kịp nghĩ hết về sự kiện làm chồng, em đã tống ngay cho chuyên làm cha.

Vợ chàng cười mà rằng:

– Anh không nghĩ đến điều chính. Vì yêu anh nên muốn có con với anh, anh hiểu không? Thôi để bây giờ em đi lo bữa ăn tối với bà chủ quán. Phải làm một bữa thịnh soạn bằng đồ hộp.

***

Còn một mình Graber ngồi lại trong vườn. Trên trời mây nhuốm hồng tỏa khắp nơi. Một ngày đã hết, một ngày ăn gian của Nhà nước. Y đã tự kéo dài nghỉ phép thêm hai mươi bốn giờ. Đã tối rồi, còn một giờ nữa phải ra đi.

Y lại trại một lần chót, vẫn không thấy tin tức của cha mẹ. Y đã làm tất cả cái gì có thể làm được cho Elisabeth. Bà quán sẵn lòng để cho nàng ở. Y đã xem xét hầm nhà, cũng khá vững nhưng không đủ sâu để làm hầm núp chắc chắn. Y cũng đến xem hầm núp công cộng khu ấy, cũng tốt như phần nhiều hầm khác trong tỉnh. Y ngồi ngả ra ghế bành, trong lòng thỏa mãn. Từ dưới bếp đưa lên tiếng bát đĩa lách cách. Mấy ngày nghỉ thật là lâu và y đã sống trọn vẹn những ngày ấy! Ba năm nghỉ phép chứ không phải ba tuần. Hẳn là cái gì y cũng làm một cách hấp tấp có khi xây nhà trên bãi cát, nhưng y không muốn nghĩ tới nữa.

Y không nghe tiếng nói của Elisabeth. Chợt nhớ lại những lời nàng nói về đứa con. Một bức vách đã bất thần sụp đổ, để lộ ra một mẩu tương lai bất định giống như một góc vườn. Không bao giờ y có sức lực để dám cả gan một mình đi vào mảnh đất lạ ấy. Hằn là lúc về phép y có mơ màng sẽ để lại cái gì là của riêng mình và mang tên tuổi mình – nhưng ý nghĩ chưa bao giờ phiêu lưu quá xa như thế. Y ngước mắt nhìn những cành xoan dần dần chìm vào trong tối. Trời! Viễn tưởng về thế hệ tương lai có thể kéo mình đi xa! Mới đầu y chỉ nghĩ đến một chút hạnh phúc trôi qua, một chút giành giựt của chiến tranh giữa hai chuyến tàu đi về nghỉ phép. Bây giờ thì hạnh phúc ấy hàm chứa một lời hẹn trở về, hy vọng hạnh phúc bình thản và thỏa mãn, tương lai trinh nguyên mà có lẽ đứa con sau này sinh ra sẽ bước vào đời với những bước tin tưởng. Trước những ảo ảnh mênh mang ấy y bỗng thấy lòng mình trìu mến một cách kỳ dị, không biết sao y thấy mình chấp nhận những hứa hẹn muôn thuở lừa phỉnh và thô lậu.

***

– Sáu giờ thì tàu chạy. Anh đã thu xếp cả rồi, bây giờ anh phải đi. Em đừng ra ga. Anh muốn từ biệt em ở đây để giữ lại hình ảnh khu vườn làm khung cảnh cuối cùng sống với em. Chúng ta nên tránh sự chen chúc ở sân ga và cái bịn rịn những phút cuối cùng. Lần trước mẹ anh đưa anh đến ga, anh không thể làm yên lòng bà cụ được. Cả hai mẹ con đều đau khổ. Phải lâu ngày mới quên được, mà sau này nghĩ đến mẹ, chỉ thấy kỷ niệm một bà cụ già mặt mũi nhếch nhác, mồ hôi nhễ nhại nhìn theo con tàu chạy miết. Anh không muốn thấy mẹ trong trí nhớ dưới cảnh đau thương ấy. Em hiểu không?

– Hiểu.

– Như vậy em cũng không nên thấy anh lếch thếch bị với súng nặng như con lừa chở gạo, anh đã trở lại là một con số trong quân đội rồi. Chúng ta nên từ biệt nhau trong lúc chúng ta thảnh thơi như lúc này. Em cầm lấy số tiền này, anh trữ sẵn cho em. Ngoài mặt trận anh không cần.

– Em không cần. Tiền lương cũng đủ rồi.

– Ở mặt trận không có dịp tiêu tiền. Em dùng để may áo, em may cái áo dài vô ích và vớ vẩn cho hợp với cái mũ hôm trước. Như vậy anh sẽ vui sướng đem lại chút vui sướng cho em.

– Em sẽ mua đồ gửi cho anh.

– Không, đừng gửi gì cả. Ở đấy ăn uống tử tế hơn ở nhà. Đừng quên mua áo dài. Ngồi xem em mua mũ anh đã hiểu đôi chút. Em hứa với anh là em sẽ mua chiếc áo dài, chiếc áo vô ích chứ không phải chiếc áo để mặc làm việc. Có đủ tiền không?

– Đủ, có thể mua thêm đôi giày nữa.

– Thế thì tuyệt, mua thêm đôi giày dạ hội.

– Đồng ý, giày cao gót, nhẹ như lông. Em sẽ đi giày ấy để ra đón anh lúc anh về.

Graber lấy trong bị ra bức hình khung thếp vàng tính mang về cho mẹ.

– Một kỷ niệm của nước Nga.

Nàng lùi lại một bước, biến sắc mặt:

– Không, không, đem cho người khác đi, giữ nó mình có cảm tưởng như xa lìa hẳn.

Y nhìn bức hình:

– Anh tìm thấy trong một căn nhà bị phá hủy. Có lẽ nó không hên, nhưng anh không nghĩ đến.

Y xếp lại vào bị bức hình về thánh Nicalas xung quanh là một bầy thiên thần.

Nàng đề nghị:

– Hay là để mang tặng nhà thờ, chúng ta đã ngủ nhờ một đêm.

Graber nghĩ thầm: “Hôm qua thì còn gần nhưng sang hôm nay đã là một kỷ niệm xa xôi”.

Y trả lời nàng :

– Họ không lấy đâu. Người Nga theo tôn giáo khác người Đức. Những người bảo vệ giáo điều của ông Trời Tình Yêu có quan niệm hẹp hòi lắm.

Y nghĩ rằng có thể mang vùi vào đất nhà thờ với hộp cốt của bác sĩ Kruse. Nhưng có lẽ như thế lại thêm tội phạm thượng chứ ích gì.

***

Y không quay lại nữa. Y bước đi không chậm mà cũng không nhanh. Bị trên vai thì nặng mà phố dài đi mãi không hết. Khi đã rẽ sang phố khác, sự thật để lại sau mình đã trở thành giấc mơ. Vài phút trước, y còn ngây ngất mùi hương thơm của mớ tóc Elisabeth, bây giờ chỉ còn mùi cháy khét lẹt lẫn với mùi thịt người chết đã rữa phảng phất trong khí trời nặng nề.

Y đi qua thành. Một bên lối đi trồng bồ đề cháy rụi, đen thui, bên kia cây xanh tốt. Dưới bãi sông lủng củng những gạch ngói, rơm, bao tải, giường gãy, dầm nhà cháy dở. Y nghĩ thầm: “Nếu có còi báo động thì mình phải xuống hầm và có cớ để nhỡ tàu. Bất thần mình trở về thì Elisabeth sẽ vui sướng biết bao?”. Tự hỏi vậy nhưng không có câu trả lời. Nhưng biết đâu cái gì đã êm dịu rồi đây lại không trở thành nguyên nhân những đau khổ khác, vả chăng mộng mị như thế để làm gì? Gặp báo động tàu sẽ không chạy, y cũng lại lên tàu khi hết báo động.

Y trở lại đường phố trước đây đã đặt chân lần đầu tiên khi về tỉnh nhà. Chiếc xe buýt vẫn đậu chỗ ấy. Y leo lên xe, mười phút sau xe chạy. Nhà ga lại dời đi một lần nữa, bây giờ là một cái kho chứa đồ, nóc lợp tôn, quét vôi xanh và nâu. Một tấm vải màu xám che một phía căn nhà tạm cất. Để che mắt phi công địch, người ta ngụy trang thành một cái trại bằng gỗ ở thôn quê với đầu một con bò bằng gỗ thò ra ngoài. Hai con ngựa gìa ăn cỏ trong bãi cỏ có đường rầy đi qua.

Chuyến tàu đã tập họp được đủ các toa, một vài toa có đeo biển: Dành cho quân nhân nghỉ phép. Một người đứng xét giấy tờ. Anh ta không nhận ra Graber đến trễ một ngày. Graber trèo lên tàu và tìm được một chỗ ở gần cửa sổ. Lát sau ba người nữa bước vào, một hạ sĩ quan, một binh nhất và một người lính pháo binh ngồi được một tí thì giở bánh ra ăn. Một xe đồ ăn do hai cô đeo phù hiệu Quốc xã đẩy đến sân ga.

Người hạ sĩ quan bảo anh binh nhất:

– Người ta cho uống cà phê, anh thấy không?

– Không phải mang cho bọn mình đâu. Đấy là cho tân binh lần thứ nhất ra trận. Lúc nãy tôi nghe họ nói thế. Còn đọc diễn văn nữa. Đối với chúng ta thì kém phần long trọng.

Một đám người tị nạn xếp hàng hai ngoài sân ga. Người ta gọi tên. Người nào cũng có bọc hành lý ở dưới chân, họ hình như bị thôi miên bởi chiếc xe đồ ăn. Một vài sĩ quan mật vụ xuất hiện, họ đi giày bóng và mặc quần kỵ mã, nom như những con cò. Ba người nghỉ phép nữa tiến vào trong toa. Một người mở cửa sổ nghiêng mình ra ngoài. Một người đàn bà dắt đứa trẻ đứng ở sân ga. Graber nhìn đứa trẻ rồi người đàn bà. Bà ta người bé nhỏ, mi mắt chảy xệ, ngực lép kẹp, người bó trong cái áo hè đã phai màu, in hình vẽ cối xay gió.

Y nhìn sự vật thấy hiện ra rõ nghĩa khác thường, đáng lo ngại là khác.

Người đàn bà nói:

– Thôi anh đi nhé!

– Cứ vững tâm, mình về nói tôi gửi lời chào cả nhà.

– Vâng.

Hai người yên lặng nhìn nhau. Đoàn quân nhạc hàng tỉnh đến đứng xếp hàng ở sân ga.

– Ngấy quá. Những khối thịt trẻ măng để làm mồi cho súng cối được hân hạnh quân nhạc đón chào! Tôi tưởng những trò hề này đã chấm dứt lâu rồi.

– Cho tụi mình một hớp cà phê có phải… Dầu sao thì mình cũng ra tiền tuyến.

– Đợi đến chiều sẽ được ăn xúp.

Tiếng hô nổi lên. Tân binh đi bước đều tiến lại. Phần nhiều còn trẻ măng. Tuy nhiên cũng lẫn vào một vài người nhiều tuổi và lực lưỡng hơn; hẳn là họ ở giới Mật vụ phái sang.

– Này coi mấy thằng nhãi kia, chưa phải cạo râu nữa. Trông mong vào chúng mà giữ vững phòng tuyến!

Tân binh đi lại ngoài ga. Hạ sĩ quan hô lệnh. Rồi yên lặng trở lại. Có người đứng ra nói lời hiệu triệu.

Anh binh nhất bảo người đang cúi xuống với vợ:

– Đóng cửa vào!

Người này không trả lời. Tiếng nói diễn giả lại vang lên, khô khan, đanh thép. Graber tựa mình vào lưng ghế nhắm mắt lại. Người tên là Heinrich vẫn nhoài người ra ngoài với vợ. Y không nghe tiếng bảo đóng cửa. Y nhìn vợ một cách hơi ngây ngô, vợ cũng nhìn y. Graber nghĩ bụng: “Mình bảo Elisabeth đừng ra ga thế mà hay”.

Diễn giả đọc xong bài diễn văn. Đoàn quân nhạc trỗi một loạt những bài quân hành. Mấy bản nhạc chỉ chơi một bản một đoạn nên xong ngay. Trong toa tàu không ai nhúc nhích. Anh binh nhất thò tay ngoáy mũi rồi nhìn xem ngón tay thế nào. Tân binh lên tàu, theo sau là các cô cứu thương. Một vài phút sau người ta đẩy ra chiếc xe không.

– Đồ đĩ, họ phó thác mặc trời cho những thằng già như chúng mình!

Người pháo binh ngừng ăn một lát hỏi lại:

– Anh bảo gì?

– Tôi bảo, đồ đĩ!

Người pháo binh cắn một miếng bánh khác.

– Đồ heo!

– Heo à?

Người hạ sĩ quan nói rồi đưa mắt tìm người biểu hiện đồng tình. Người kia có vẻ quên rồi, người đứng gần cửa sổ vẫn quay ra với vợ.

– Sao mãi không đi thế này, hơn sáu giờ rồi.

– Có lẽ còn đợi một ông tướng.

– Tướng tá họ đi bằng máy bay.

Phải đợi thêm nửa giờ nữa.

Thỉnh thoảng Heinrich lại nhắc vợ:

– Mình đi về thôi.

– Đợi một lát nữa cũng được.

– Về còn cho con ăn chứ!

– Suốt buổi tối hôm nay lúc nào ăn chả được.

Một hồi yên lặng nữa, rồi Heinrich lại nói:

– Mình nhớ nói chuyện với Joseph.

– Em không quên đâu.

Anh pháo binh ăn xong đánh rắm kêu vang, thở khoan khoái rồi ngả ngửa người ra ngủ. Hình như con tàu chỉ đợi có hiệu lệnh ấy để bắt đầu chuyển bánh.

– Mình nói lại tôi gởi lời chào cả nhà nhé!

Đoàn tàu dần dần tăng tốc lực. Marie chạy theo bên cửa sổ.

– Coi chừng thằng nhỏ!

– Mình cũng nên cẩn thận.

– Được rồi, được rồi!

Graber trông qua cửa kính thấy bộ mặt của người đàn bà sắt lại. Bà ta chạy theo, làm như tất cả đều tùy thuộc vào một giây theo dõi chồng. Thình lình y trông thấy Elisabeth. Nàng đứng đằng sau một cái kho cho nên trước không trông thấy được. Y còn ngờ ngợ, nhưng sau nhận ra ngay khuôn mặt nàng. Khuôn mặt một người chết rồi. Y chạy thốc ra cửa sổ kéo vai Heinrich lại.

– Cho tôi nhìn chút!

Bất thần y quên hết. Y không hiểu tại sao mình lại ra ga. Y không hiểu gì nữa cả.

Bây giờ phải gặp nàng với bất cứ giá nào. Y chưa nói được điều định bụng nói với nàng hơn cả.

Y lay mãi Heinrich nhưng anh này lấy sức đứng chặn hết cửa sổ, khuỷu tay chặn lối Graber định tiến lại.

Heinrich nói lớn qua tiếng tàu ầm ầm:

– Hôn Liese cho tôi nhé!

– Cho tôi nhìn ra với nào, vợ tôi đứng kia.

– Viết thư ngay nhé!

Graber cố sức mà không lay được anh lính đồ sộ quay lưng lại, anh ta làm hiệu cho vợ đã khuất rồi. Tàu đi vào khúc đường vòng. Graber nhìn qua đầu Heinrich vẫn thấy Elisabeth. Nàng đứng một mình gần cái kho, nom chỉ còn bé bằng cái châm. Y đưa tay qua đầu Heinrich vẫy. Có lẽ nàng trông còn thấy rõ người nhưng không thể phân biệt ra ai. Một dãy nhà xuất hiện, che khuất hẳn nhà ga.

Heinrich thong thả rời khỏi cửa sổ.

Graber nổi khùng định xạt Heinrich, nhưng vừa nói được:

– Đồ…

Y ngậm miệng lại liền. Heinrich quay lại, nước mắt chảy ròng ròng trên mặt. Graber lùi lại một bước, lẩm bẩm:

– Bẩn thỉu, bẩn thỉu!

Anh hạ sĩ khó chịu:

– Ôi dào! Lắm chuyện!

Mùa cá Đường hội

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 12/9/2005

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

(Cách đây mười măn tôi có trở về sông Ông Ðốc. Nghe ngư phủ nơi đây nói lại, cá đường không còn hội ở mũi Cà Mau nữa mà đời xuống rạch Gốc, nhưng hội cũng thất thường lắm. Nghề lưới gộc bây giờ cũng không còn nữa. Tiếc hùi hụi, nên tôi viết lại chuyện nầy để tặng các ngư phủ bên vàm sông Ông Ðốc, những bạn đồng nghiệp trước đây và cũng để đánh dấu trên quê hương chúng ta cũng có một thời tài nguyên thiên nhiên rất là phong phú…)  Hàng năm khi gió chướng nhẹ nhàng và nắng bắt đầu gay gắt, thì trên vàm sông Ông Ðốc ghe lưới, ghe cào, ghe te, vỏ lải… lớn nhỏ đủ loại của ngư dân ra vào nườm nượp. Ai nói chim trời cá nước mênh mông khó bắt, chớ đối với dân vùng nầy, họ có một niềm tin. Họ tin Ba Cậu, Nam ông và tin tưởng tài nghệ đánh bắt cao siêu của mình nữa. Mấy anh ngư phủ tin ở tài năng của mình bao nhiêu thì mấy chị mần khô, mấy bà bán buôn tôm, cá tin các anh bấy nhiêu. Nhiều chị tới nhà chủ nghe đặt cọc trước để khi trúng được tôm, cá chủ ghe dành phần cho mình.

Những ngày nầy thị trấn Sông Ðốc nhộn nhịp vô cùng. Tuy là mùa tôm, mùa cá cho các phần đánh bắt khác nhau, nhưng xóm lưới gộc là xóm bận rộn nhứt. Ngư phủ ở đây hẹn sẽ ăn tiệc lớn sau vụ cá đường hội. Họ o bế lại dàn lưới, tra cán và mài dũa lưỡi câu bắt (1), sửa lạ­i ghe máy cho ngon lành, tuyển chọn ngư phủ “cừ” để chuẩn bị cho những con nước chết từ giữa tháng hai đến tháng tư.

Lưới gộc dạ­o dài ba sải, cước lưới cỡ đầu đũa ăn, lỗ lưới mười phân chuyên dùng bắt cá gộc (2), ngoài ra còn bắt được cá sủ (3), cá sóc (4), cá sạo (5), cá đường và vài ba loại cá lặt vặt khác. Nhờ vừa cỡ bắt cá đường nên người ta dùng lưới gộc trong những ngày cá đường hội. Tuy nhiên khi vô sân hội ngoài lưới gộc ra còn có lưới năm (6), lưới chim. Những ngày này còn có các ghe nhỏ như te (7), cào, vỏ lải đẩy chủ (8), vỏ lải lưới tôm và cả những chiếc xuồng chèo từ rạch Cái Tàu ra tham hội.

Sớm lắm là mùng bảy, trễ lắm là mùng chín tháng ba, đoàn ghe lũ lượt nối nhau ra vàm sông Ông Ðốc rồi trực chỉ xuống mũi Cà Mau. Phía ngoài mũi Cà Mau có một bãi rộng vài trăm thước và tiếp liền một vùng nước cạn mênh mông, nơi đây nước xanh màu lá mạ vào những ngày nước chết (9), đục màu phù sa vào những ngày nước săng (10). Cạn lắm một sải, sâu lắm là ba sải. Chỉ có một vòng tròn độ bốn năm cây số trũng xuống trên ba sải chiều sâu nhứt, nơi đó được gọi là Lòng Chảo. Chính giữa Lòng Chảo có nhiều hàng đáy của dân trong đất Mũi nên dân ngư gọi đó là đáy Lòng Chảo.

Cá đường màu vàng, thân hình ốm và dài, có kỳ vi cũng như nhiều loại cá khác, vảy tròn nhỏ cỡ đồng xu, mỏng manh như lá lúa. Thịt làm khô mặn, đặt biệt bong bóng rất đắt tiền. Hàng năm cá đường về Lòng Chảo ép trứng vào những con nước chết mà dân ngư gọi đó là cá đường về hội.

Ngoài khơi dòm vô thấy dạ­ng rừng đước trong mũi Cà Mau lấp thấp như cù lao dài và nhọn. Ở phía nồm đông (11) hòn Sau và hòn Khoai, tròn như mu rùa khổng lồ úp trên mặt biển. Mênh mông một vùng nước phẳng lặng, bỗng hàng trăm chiếc ghe lớn nhỏ tụ tập về đây, ghe neo kết từng chùm với nhau giống y chang một thị trấn nhỏ nổi bềnh bồng. Bên hướng nồm tây, nhiều chiếc ghe đón cá đêm sợ trễ buổi hội nên sáng sớm đã phóng mút ga phun khói mịt mù trực chỉ vô sân hội.

Ðêm xuống, giữa Lòng Chão đèn điện sáng choang như một thành phố nổi trên biển. Vài chiếc ghe lưới gộc coi bộ nóng lòng mở máy vừa pha đèn tránh những hàng đáy, chạy bủa lưới cầu may.

Những ghe còn lại thì ghe lớn quăng neo, xuồng nhỏ đeo đít ghe lớn. ngư phủ xúm năm tụm bảy nấu nước pha trà, cà phê uống với kẹo đậu phộng, đường tán. Còn mấy tay bợm nhậu thì bày rượu và khô nướn ra nắp hầm nhậu lai rai. Rồi những chuyện gió mùa, đánh bắt, cá hội, nước chết, nước săng nổ giòn tan. Những người có chút máu văn nghệ, hổng thích ồn ào thì cứ tự nhiên ra dựa lưng sau lái ghe ca vọng cổ. Trong mui mấy ghe lưới gộc, nhiều sòng bài được bày ra. Họ ăn thua đủ, đánh lớn bạc trăm ngàn. thế nào cũng có người cháy túi và nợ luôn cả kỳ hội cá đường nữa là khác. Nhưng hề gì, dân hạ bạc (12) mà, lỡ thua hết chuyến nầy thì họ tìm cách gầy lại chuyến sau, rừng vàng, bạc biển lo gì, miễn sao mạnh tay khỏe chưn, đừng bịnh hoạ­n bậy bạ­ là họ còn kiếm ra tiền.

Có câu tháng ba bà già đi biển dùng để chỉ mùa gió chướng êm ái chớ thiệt ra bà già đâu có đi biển. Con gái với đàn bà thì có và có nhiều lắm, mấy bà mấy cô nầy thường mần chung với gia đình đẩy te, đẩy chủ hoặc lưới tôm dọc theo bãi quanh năm suốt tháng. Vào những con nước cá đường, mấy chị cũng tụ hết về đây. Trong nhóm nữ ngư phủ, chỉ có hai chị em Liên và Hoa được nhiều người nhắc tới một cách cảm phục. Hai chị em mần nghề đẩy te trên chiếc ghe máy Yanmar ba lốc đầu xanh. Liên là chị mần tài công, Hoa là em mần tài cải. Hai đứa giỏi dàng trời mây, tay chưn của tụi nó gân guốc như con trai. Cái máy ba lốc đầu xanh đôi khi những đứa con trai phải cà ì cà ạch quay lấy trớn trước khi đóng súp bắp. Con Hoa thì khỏi cần, nó đóng súp bắp trước rồi cầm maniquên rà qua rà lại cho ngay tăng, mới dùng cánh tay lực sĩ của nó giựt mạnh một cái là máy nổ ngon lành. Ðêm nay Liên buột ghe ở cột đáy bên kia cùng mấy cô mấy chị bên ghe khác bày tiệc chè, cháo gì đó ở bển. Dĩ nhiên cũng có vài anh con trai cà kê dê ngỗng tan chuyện trời trăng mây nước. Lâu lâu họ cười ré lên nghe vui vẻ lắm.

Khoảng năm 1968 trở về trước, cá đường hội đúng những ngày nước chết tháng ba, trễ lắm là trong vòng mùng mười tháng tư. Sau nầy kỹ thuật đánh bắt tối tân, máy móc ầm ỹ, bị động ổ nên cá đường hội thất thường. Do đó ngư dân phải chờ từ mùng bảy cho tới mười ba mười bốn âm lịch mới chịu đi. Ðợi cuối tháng, ngày hăm ba hăm bốn con nước yếu dần người ta mới trở l­ại chờ cho tới hăm chín ta. Có nhiều người kiên nhẫn cơm ghe bè bạ­n túc trực trên sân hội từ đầu tháng ba đến cuối tháng tư, đến chừng gió nam sòng ngọn, mây giông nghịch trời họ mới chịu chạy ghe về.

  Sáng nào cũng vậy, khi phương đông trời vừa đâm mây ngang là ngư phủ lo mần cá nấu cơm ăn no nê, họ sẵn sàng “chiến đấu” với bầy cá đường từ sáng tới trưa không cần ăn uống.

Mặt trời vừa nhô lên khỏi dạng rừng đước trên mũi Cà Mau thì cơm nước cũng vừa xong. Tất cả ghe máy chuẩn bị nhập hội. Bác tài phân công, tài cải coi lạ­i dầu nhớt và đề máy để sẵn, ngư phủ coi lạ­i lưới, thắt lạ­i ranh nhiệm vụ ngưòi nào ở đâu thì đứng ở đó, chờ lịnh bác. Còn bác thì ra mũi ghe ngồi… nghe ngóng tình hình.

Biển im phăng phắc gió như ngừng thở, tất cả mọi người nôn nóng ngó về Lòng Chảo. Mắt các bác tài công láo liên như mắt nhàn. Bỗng từ xa một chiếc ghe xịt khói, rồi hai chiếc, ba chiếc… rồi cả đám hè nhau xịt khói. Tiếng hô cá đường! Cá đường !!! hoà cùng tiếng máy nổ vang dội không gian đất mũi. Ghe chạy xịt khói đen hướn mũi về phía cá đường hội. Chính giữa Lòng Chảo mặt nước vẫn phẳng lặng, bỗng nhiên một dợt sóng dài hàng trăm thước nhô lên như một mô đất cao. Những chiếc ghe tới trước vừa bủa lưới xuống tức thì cá đóng nước văng lên tung toé, có con tung lưới nhảy bổng lên không. Tiếng quát tháo, chửi thề ỏm tỏi. Bên nầy tiếng la the thé trong veo của mấy cô ngư phủ, nhứt là những nữ ngư phủ trên ghe của con Liên. Ðầu đội nón lá, tóc bới cao, tay cầm câu bắt, chạy tới chạy lui, miệng quát om xòm trông chẳng khác gì nữ tướng trong tuồng hát cầm giáo xông trận quần thảo với quân thù.

Con trai con gái đều là lực sĩ, một con cá đường tệ lắm cũng bốn năm ký lô mà họ kéo lên liên tục như kéo một chiếc phao. Cá sặc lưới nổi lên một dải vàng lườm như sân lúa ngày mùa. Ngư phủ nhào xuống biển giữ lưới nhà, họ bất kể nhớt nhao, ôm sát vô mình những con cá sút lưới, kề lại be ghe cho cho mấy anh ngư phủ trên ghe dùng câu bắt giựt lên. Xong đợt hội đầu cũng gần hết buổi sáng, mọi ghe đều giạt ra khỏi Lòng Chảo để chờ đợt hội sau. Mấy chiếc ghe nhỏ, trọng tải ít mới đợt đầu mà đã khẵm. Người ta sợ chìm mới mổ bụng moi lấy bong bóng, còn thân cá họ liệng bớt đi.    

Vài ba đợt hội thì trời đã chiều, ngày hội đã tan, ngư phủ neo ghe lạ­i một nơi gỡ cá, mổ bụng moi bong bóng ngâm nước muối. Khi mặt trời đỏ ngầu lần lần lịm xuống mặt nước phía trời tây, tủa ánh hồng lên áng mây vừa đen vừa đỏ như những dám than ngầm cháy. Bên dưới, mặt biển xanh từ từ đổi ra màu xám xịt, thì đoàn ghe hội cá đường khẳm mẹp nối hàng nhau chạy hướng về vàm sông Ông Ðốc.

Gió chướng nhẹ thổi, thoảng mùi thơm của lá phất ra từ khu rừng mắm ven biển. Không ai nói với ai lời nào nhưng trên mặt các anh ngư phủ ánh lên rõ rệt nét mừng vui. Đêm hôm ấy xóm lưới gộc bên sông Ông Ðốc, đèn điện bật sáng choang như hoa đăng ngày hội lớn. ánh trăng mười bốn chênh chếch trên không cũng mờ đi vì những ánh đèn. Mấy anh lính ngoài đồn cao hứng bắn lên không những trái sáng màu chia xẻ niềm vui cùng dân xóm lưới.

Tiếng máy điện chạy rầm rì hoà cùng tiếng dao chặt cá bôm bốp lẫn tiếng mấy anh ngư phủ kể chuyện tiếu lâm làm mấy chị xẻ cá cười lăn nghiêng ngả. Trên boong ghe, bánh bao, xíu mại đầy mâm lave, nước ngọt chất đống, họ khui lách tách mời nhau.

Bong bóng cá đường là loại mắc tiền. Hình tròn cỡ cườm tay, dài hai gang có hơn, lúc còn tươi màu trắng đục. Sau khi ngâm nước muối, người ta cạo bỏ lớp mỡ đóng bên ngoài đem phơi cho dốt dốt, đem mổ một đường giữa, lột lớp màng nhớt ở trong bỏ đi và lấy hết những chỉ máu li ti ra đem phơi gió cho ráo mặt. Sau đó mới cán bong bóng ra hình bầu dục rồi lấy dao con chó vành bìa cho đẹp. Lần nầy mới đem phơi cho thiệt khô, sau đó đem phân hạng. Hạ­ng nhứt ba cái một ký giá bằng hai lượng vàng, hạng nhì bốn đến năm cái một ký giá hơn một lượng vàng, hạ­ng ba từ năm tới bảy cái một ký giá non một lượng, còn nhỏ quá thì vạt ra bán rẻ hoặc mấy bà dành lại nấu thuốc bắc cho mấy ông ăn để …sung sức.

Tại sao bong bóng cá đường mắc dữ  vậy? Thật ra ngư phủ miệt nầy chỉ đoán mò thôi. Có người nói bong bóng cá đường ăn bổ. Ðành rồi! Mà bổ ra làm sao và bổ ở chổ nào. Hổng lẽ đem chưng chung với nhãn nhục, thục địa và vài ba vị thuốc bắc khác để thành một chất nhơn nhớt như cứt mũi xanh con nít, rồi đem cho mấy ông già hết xíu quách ăn để hồi dương. Cho dầu thiệt sự có hồi dương đi chăng nữa thì cũng đâu đến nỗi mắc dữ thần ôn vậy.     

 Ở trong khu vực hai có ông già vợ chú ba Mùi đã ngoài sáu mươi, thuộc hạng giàu có trong xóm, nghe nói ông thường ăn bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu năm (17) chưng thuốc bắc để cải lão hoàn đồng. Vậy sao ông vẫn cúp bình thiếc, mỗi khi ra đường ông phải chống gậy, cây gậy vừa tầm vậy mà ông khom đến đổi đầu gậy còn cao hơn đầu ông nữa. Nhiều người ác mồm ác miệng đồn rằng, tạ­i ông ăn nhiều bong bóng cá đường chưng thuốc bắc, sung sức ‘làm’ nhiều quá nên mới ra nông nỗi. Ðó chỉ là chuyện tiếu lâm cho vui, chớ thiệt ra chuyện ăn bong bóng cá đường có hồi dương hay không, bổ như thế nào đối với dân chúng miệt nầy vẫn còn mù mờ chưa rỏ lắm.

Chú thích:

1.- Lưỡi câu bắt bằng thép, cọng lưỡi lớn cỡ bằng ngón tay út uốn cong như lưỡi câu không có ngạnh, cán bằng tre cỡ cườm tay dài bốn năm thước, rất tiện giựt mấy con cá xẩy lưới.

2.- Cá gộc là loại cá xuất cảng, thân cá dài màu vàng, vảy cứng nhỏ cỡ đồng tiền cắc, đúng lứa nặng từ bảy tới mười ký. Có nhiều ở ngoài khơi mũi Cà Mau.

3, 4.- Giống như cá gộc nhưng thịt bở hơn nên không được xuất cảng, ăn tươi cũng không ngon nên thịt nó phần lớn được dùng để xẻ khô mặn.

5.- Như cá chép, vảy cứng màu xám trắng, chót đuôi màu vàng đậm lợt tùy loại. Ðầu cá sạo nấu canh chua, thịt cá sạo, nhứt là cá sạo sực, tả pí lù nhậu rượu đế … hết xẩy.

6.- Lưới năm: lỗ lưới năm phân, cước số 70.

7.- ‘Te’ tức là ‘xệp’. Ngày trước người ta đẩy xệp bằng hai gộn tre gác chéo có gài lưới đằng trước. Người đẩy ‘xệp’ phải lội xuống nước cong lưng đẩy. Sau nầy tối tân hơn, người ta cải tiến lại làm gộn bằng cây đước lớn hoặc cây sao, tùy máy lớn nhỏ đương lưới cho vừa sức đẩy.

8.- ‘Chủ’ giống như ‘te’ nhưng người ta không xài lưới mà xài tấm nilông mành lỗ nhỏ li ti như vải mùng lưới để bắt con ruốc về làm mắm ruốc.

9.- Nước chết là nước không chảy xuôi một chu kỳ của thủy triều lên xuống. Những con nước chết chánh là mùng mười và hăm lăm âm lịch.

10.- Nước săng là nước chảy mạ­nh, đầu nước từ mười bốn cuối nước là hăm hai âm lịch.

11.- Ngư phủ gọi hướng nồm là hướng nam. Nồm đông: đông nam; nồm tây: tây nam.

12.- Hạ bạc: theo truyển thuyết thì có hai nghề làm ra tiền nhưng bạc bẽo, vì tiền vô cửa trước ra cửa sau. Thượng bạc: Nhứt phá sơn lâm, chỉ những người làm rừng. Hạ bạc: Nhì đâm Hà Bá, chỉ những người theo nghề sông, biển, đóng đáy.

13.- Theo lời đồn, bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu chừng nào công hiệu chừng nấy, có thể dùng làm thuốc… cải  tử hoàn sanh.

Thư cho SCL Tác giả viết: Mấy tuần qua tôi kẹt trên Nga và Ba Lan, vừa về tới Hamburg, lên hội quán liền ghé vào thăm SCL. Và in truyện đủ đọc một chuyến đi…

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngày đăng: 12.09.2005