This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thời gian lướt trôi, ngày rồi đêm, tôi chưa nhìn thấy tia hy vọng nào báo trước việc học tập cải tạo sớm được thực hiện. Mỗi ngày qua đi đều nhạt nhẽo vô vị. Tôi không muốn nhìn, muốn thấy những chiếc nón cối, những bộ đồ trận nhầu nát, những đôi dép lốp thô kệch, chậm tiến, cũng phải nghe những câu nói ngọng L thành N. 99% tụi Việt Cộng, đều nói ngọng và cách phát âm của họ nghe nặng nề, nhức nhối, mở miệng ra là Cách Mạng, Đảng và Nhà Nước!
Sau bữa cơm chiều, mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng, ngong ngóng chờ đến giờ đi coi ciné. Tôi nhìn ai cũng bảnh bao hơn ngày thường. Chắc họ cho vấn đề đi coi ciné tối nay là niềm ưu ái của kẻ thắng trận đối với người thua trận! Thế mới hay, con người có thể thích hợp với mọi hoàn cảnh, nếu hoàn cảnh buộc như vậy! Trước kia, Miền Nam có những rạp ciné sang trọng, hầu hết đều trang bị máy điều hòa không khí, mà còn chẳng mấy khi đi. Nay đi xem phim ngoài trời, ngồi đất, súng AK vây quanh, chẳng hiểu sao, có nhiều người náo nức? Có lẽ quá buồn, họ muốn tìm ít phút để lãng quên cuộc sống tủi nhục này chăng?
Tên cán bộ quản giáo từ phía bên kia đường băng qua. Chiếc nón cối đội sụp xuống gần mắt. Hai bàn tay hắn vung vẫy như hai chiếc bơi chèo. Từ ngày đi học tập cải tạo, tôi chưa nhìn thấy tên bộ đội nào đeo quân hàm, ngoại trừ tên Thiếu úy ở trường Don Bosco. Nhưng có thể phân biệt được giữa cấp sĩ quan và binh sĩ qua khẩu súng ngắn hay dài. Điều làm tôi ngạc nhiên nữa, không bao giờ họ chào nhau theo quân kỷ của một quân đội có tổ chúc. Tất cả đều ngang hàng. Một hôm đi lao động dọn cỏ, tôi chứng kiến vụ hai tên bộ đội cãi nhau vì chiếc ghế. Một muốn lấy đi, một giữ lại!
– Tôi nói cho đồng chí biết, tôi “nà” Cách Mạng, cái gì của Cách Mạng “nà” của tôi. Đồng chí không có quyền “nấy” đi.
– Này đồng chí, thế tôi không phải “nà” Cách Mạng sao? Cái gì của Cách Mạng “nà” của chung. Cái ghế này do tụi “Ngụy” để “nại” ai cần, nấy dùng!
Họ nói rất to, dù chúng tôi có mặt gần đấy! Tôi biết, khi họ đã dùng chữ “đồng chí” để xưng hô với nhau là “căng” lăm. Tôi liếc nhìn. Hai tên đều nắm chặt chiếc ghế trong tay. Một tên mặt đỏ gay, một tên tái mét. Họ có thể đi đến ấu đả, nếu không có tên thứ ba đến kịp thời can gián. Sau cùng, chiếc ghế vẫn ở lại chỗ cũ.
Chúng tôi xếp hàng hai ngay trước nhà. B. Trưởng điểm số rồi báo cáo cho quản giáo. Trước khi cho lệnh đi, hắn nói:
– Tối nay, Ban Chỉ Huy Trại, có tổ chức chiếu phim cho mấy anh xem. Các anh nên nhớ, đó “nà” sự “chiếu cố” đặc biệt của “Trên” đối với những người đi học tập cải tạo. Các anh phải giữ kỷ “nuật” trước, trong và sau khi xem. Không ai được tự ý đi ra ngoài khu vực ấn định. Các anh phải chú ý, để còn “nàm” thu hoạch!
Nghe thấy hai chữ “thu hoạch” (*), anh em có vẻ ngán.
(*) Viết cảm tưởng và ý nghĩ của mình sau khi xem. Cộng Sản dùng từ “Thu hoạch” với nghĩa rộng, sau mỗi bài học tập, kết quả của công tác trồng trọt, làm ruộng cũng thâu hoạch v.v.
Mậu đứng cạnh tôi, nói khẽ:
– Xem để giải trí, thu hoạch cái con mẹ gì, chán ghê, chán ghê!
Google images
Tên quản giáo cho lệnh đi. Đến cổng, chúng tôi phải dừng lại chờ vì quá đông. Những cánh tay giơ cao để chào nhau khi gặp bạn quen. Chúng tôi qua cổng. Tên lính gác dùng chân dẫm lên cây cản. Cây cản cất bổng một đầu như chiếc cần câu khổng lồ. Tên quản giáo báo cáo số người với tên lính gác. Tên này đếm lại trước khi cho đi.
Chúng tôi quẹo trái, đi theo con lộ đất đỏ khá rộng, đủ chỗ cho 2 xe lớn tránh nhau. Hai bên bờ cỏ gianh cao lút đầu. Dòng người đông đảo lấp kín một đoạn đường khá dài. Đi chừng trên 1 cây số, đến khu đất rộng, đã đông nghẹt anh em cải tạo. Phía cuối bãi, một khung vải trắng lớn căng thẳng thắn bằng những chiếc sào tre. Gần đấy, chiếc xe đặt máy chiếu phim. Xung quanh dầy đặc Việt Cộng, kẻ có súng, người không. Tên quản giáo chỉ cho chúng tôi nơi ngồi, rồi chuồn ra tán láo với mấy tên khác đứng gần đấy. Trời bắt đầu tối. Trên khung vải ánh đèn đã chiếu sáng để điều chỉnh máy. Tiếng truyền qua loa phóng thanh, nói về mục đích nội dung các cuốn phim sắp được chiếu. Chúng tôi được xem 3 cuốn: Ca Múa, Nguyễn Thái Bình và Một Ngày Của Hà-nội.
Ngoài cuốn phim Ca Múa (hoàn toàn thuộc loại nghệ thuật) nhằm mục đích giới thiệu các điệu vũ Dân Tộc, với sự tập luyện công phu, 2 cuốn kia đều thuộc loại tuyên truyền.
Cuốn phim Nguyễn Thái Bình, tên không tặc, đã cưỡng bức chiếc Boeing 747 đi Hà-nội, vào năm 1973, bị bắn chết tại phi trường Tân Sơn Nhất, được Việt Cộng đề cao là ”anh hùng Cách Mạng” cũng như tên Nguyễn Văn Trỗi đã ám sát hụt Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, Mac Namara ở cầu Công Lý. Dĩ nhiên, cuốn phim tài liệu do phóng viên ngoại quốc có mặt tại Miền Nam lúc đó, quay được.
Còn cuốn Một Ngày của Hà-nội, nội dung diễn tả một ngày sống động của nhân dân Hà-nội vừa làm việc vừa chống máy bay “cánh cụp, cánh xòe” của Mỹ. Nó là loại phim tuyên truyền có tác dụng tốt. Vô tư nhận xét, kỷ thuật quay khá cao, nhiều hình ảnh đẹp.
Toàn khu chiếu phim im phăng phắc trừ tiếng vỗ tay rào rào sau mỗi cuốn, từng đốm lửa hút thuốc lập loè đó đây. Những tên Việt Cộng chắc đã xem nhiều lần nên có vẻ chán. Chúng nói chuyện, ngó đâu đâu chứ không nhìn lên màn ảnh.
Đêm không trăng, trời tối như bưng. Chúng tôi ra về theo tiếng loa gọi số B tuần tự. Những vệt đèn pin quét vào bóng tối từng vệt sáng dài để soi đường. Tiếng nói chuyện rì rầm về nội dung các cuốn phim. Tên quản giáo đưa chúng tôi đến nhà. Trước khi cho lệnh giải tán, hắn nói:
– Theo “nệnh” trên, ngày mai các anh hội ý với nhau “nàm” bản thu hoạch, theo mục đích yêu cầu như sau: Các anh nghĩ gì về hình thức và nội dung mỗi cuốn? Chủ yếu “nà” nội dung. Ngày kia, anh B. Trưởng nộp cho tôi. Thôi, các anh nghỉ!
Chúng tôi tan hàng, đi vô nhà. Tiếng điếu cày rít rèn rẹc đó đây, khói tỏa mù mịt. Lời bàn tán về 3 cuốn phim cất lên sôi nổi. Chỉ thấy khen, chẳng ai chê. Có người khẳng định đó là bước đầu chính thức đi vào vấn đề học tập cải tạo. Cách Mạng họ giáo dục theo lối mới mà! Có thế mới là Cách Mạng! Câu chuyện đang sôi nổi, đèn tắt phụt. Đã đến giờ ngủ. Tiếng kẻng từ xa vọng lại não nề. Một vài người đi ra ngoài, chắc còn nhiều điều cần phải bàn cãi.
Hôm sau, B. Trưởng hội anh em để thảo luận về 3 cuốn phim tối qua và đề cử người viết thu hoạch theo lệnh quản giáo. Khi thảo luận, ai nói cũng hay lắm, nhưng đến lúc đi vào thực tế, viết thu hoạch, ai cũng né tránh.
– Vị nào xung phong? – B. Trưởng hỏi, rồi đưa mắt dò xét.
Tất cả ngồi im như phổng đá.
– Nếu không có, tôi xin đề cử anh Lâm, thay mặt anh em viết bản thu hoạch.
Bỗng nhiên, mặt Lâm đỏ au như vừa uống rượu, vội vàng từ chối, tự nhận chỉ biết viết toa thuốc và xin đề cử anh Mậu. Mậu đang ngồi trầm ngâm bỗng giật mình như bị kiến đốt.
– Ủa, sao lại tôi? Các anh bảo tôi “bóp cò” thì O.K, còn viết xin chịu!
Google images
Đùn qua, đẩy lại mãi, chẳng ai chịu nhận cái của nợ đó. Sau cùng, B. Trưởng năn nỉ tôi viết dùm, sẽ miễn lao động cho tôi một tuần. Tôi hết sức từ chối, nhưng B. Trưởng và anh em nài nỉ mãi, tôi đành nhận lời.
Lẽ dĩ nhiên, bản thu hoạch phải ca tụng các cuốn phim cả hình thức lẫn nội dung và kết tội đế quốc! Ở trong hoàn cảnh này, không làm khác được, nhưng cố sức sao cho ngòi bút đừng hèn hạ, để qua đấy kẻ thù đánh giá thấp những người đi học tập cải tạo. Sau 1 ngày cắm cúi viết, tôi đưa cho B. Trưởng.
Buổi tối sinh hoạt, B. Trưởng đọc lên cho tất cả anh em nghe xem ai có ý kiến gì thêm, bớt không? Chẳng ai phản đối. B. Trưởng đại diện ký tên để sớm mai nộp. Trong lúc viết bản thu hoạch 3 cuốn phim, tôi đã nhìn thấy tụi Việt Cộng mở chiếc bẫy thứ nhất nhằm đưa những người học tập cải tạo vô tròng. Chúng rất xảo quyệt khi bắt cả B làm một bản thu hoạch, chứ không bắt mỗi cá nhân. Đây là một tính toán rất tế nhị và khoa học, để mọi người không có mặc cảm, chính mình đã nói xấu, kết tội chế độ mình vừa phục vụ, ai cũng cảm thấy thoải mái vì tin đó là ý kiến chung của tập thể, mình không có trách nhiệm! Từ bước đi thứ nhất này, Việt Cộng sẽ mở lần lần những chiếc bẫy khác, bắt buộc mỗi cá nhân phải chui vô như đàn cá chui vô chiếc nôm, không cách nào thoát khỏi. Cộng Sản không dùng hình thức tra tấn, dọa nạt trực tiếp để khai thác đối tượng, chúng chỉ dùng mưu mô, thủ đoạn xảo quyệt bắt đối tượng phải làm theo những gì chúng muốn.
Quả thực, khi viết xong bản thu hoạch, lòng tôi không yên ổn nhưng nghĩ cho cùng, dù tôi viết, hoặc ai viết cũng không sao khác đượcc, vì hoàn cảnh đã đẩy tới như vậy, làm sao tránh?
Giữ đúng lời hứa, B. Trưởng để tôi nghỉ 1 tuần không đi lao động. Tôi cảm thấy, ngày nghỉ rất dài và buồn. Đi lao động có vất vả, bẩn thỉu, nắng nôi thật đấy, nhưng vui, chóng hết ngày, những ngày chờ đợi của một tội nhân trong ngục tối trước khi nghe tuyên án!
Vào lúc gần trưa ngày nghỉ thứ 3, tôi đứng nhìn một đoàn người mồ hồi nhễ nhại, gánh gồng lương thực đi qua căn nhà tôi ở, bỗng có tiếng nổ lớn tiếp theo những tiếng nổ nhỏ, một cuộn khói đen kịt tung cao ở phía xa, chiếu thẳng khu Đại Tá. Tiếng nổ dồn dập rền vang như tiếng súng giao tranh nơi trận địa, khói lửa bốc mù mịt. Những tên bộ đội từ bên kia đường xách súng băng qua, chạy về hướng phát ra tiếng nổ. Các toán lao động tới tấp trở về, ngơ ngác. Tôi hỏi một người trong bọn:
– Chuyện gì thế bồ?
– Nổ kho đạn khu F!
– Có ai chết hoặc bị thương không?
– Đâu biết!
Vừa lúc ấy, anh em thuộc B tôi về. Trên nét mặt mệt mỏi, áo quần đẫm mồ hôi, nhìn về hướng đám khói. Có vài khối lửa tung cao như những quả bóng đỏ rực, rất đẹp. Cuộn khói cao dần làm tối cả một khoảng trời. Có tiếng nói thì thào bên tai:
– Đù mẹ, mong cho nổ tung, chết cha hết tụi Việt Cộng.
Tôi quay lại, thấy Huy.
– A, ông nói sao? Nó chết, để tụi mình sống?
– Cho chết, chết hết! – Huy dằn giọng. Kho đạn tiếp tục nổ tới xế chiều mới dứt. Hôm sau, tôi nghe nói có vài anh em ở khu D lao động gần đó, bị thương nhẹ. Khu vực nổ, tụi Việt Cộng đã mang kẽm gai quây kín. Chính vì kho đạn khu F nổ, tuần sau, Việt Cộng mang 2 chiếc GMC của Quân Lực Cộng Hòa, đến kho đạn thuộc khu tôi ở mà bữa trước, tôi và Huy đã lấy thùng đựng nước. Chúng tôi được phân công bốc đạn từ dưới hầm chuyển lên GMC. Đứng giữa hầm đạn, tôi nhìn những viên đạn đã được vứt bừa bải khắp căn hầm, lòng se lại. Ôi, những viên đạn quý báu mang nhãn U.S, đã gần gủi với các chiến sĩ, đã đóng góp vào nổ lực bảo vệ Miền Nam và Tự Do, đã ngăn chặn từng bước chân quân thù suốt mấy chục năm chinh chiến, giờ này đang nằm dưới chân tôi như những vật vô giá trị, dư thừa. Các loại đạn được chuyền tay đưa từ dưới hầm lên để xếp vào 2 chiếc GMC đậu ngay cửa hầm.
Google images
Gần 30 con người chuyền cả buổi sáng, tay chân mỏi nhừ, kho mới chỉ vơi một nửa. Tên bộ đội cảnh vệ cho lệnh thôi, vì xe đã qua đầy. Chúng tôi phải làm việc cả ngày hôm sau nữa, hầm đạn mới trống trơn. Trước khi rời khỏi căn hầm, tôi nhìn nó lần chót. Con nhiều viên đạn đại liên rớt rải rác đó đây. Những băng vải đựng đạn M 16, giấy bồi, quăng bừa bải. Hầm đạn lúc này giống một hố rác. Mấy năm sau, tôi được biết, những viên đạn này được chi viện cho chế độ Hen Som Rin, để chống lại Pol Pot Ieng Sari tại Campuchia, cũng là Cộng Sản, không quy phục Liên Xô mà theo Trung Cộng!
Có những chiều, sau khi ăn xong, chả biết làm gì, tôi đi lang thang dọc theo con lộ đất đỏ để suy nghĩ những gì thuộc riêng mình. Đôi khi gặp Cung, nhà thơ, đã có mấy bài thơ hay được Phạm Duy phổ nhạc. Anh là Trung Tá Không Quân tuy ở cùng chung khu vực, nhưng không chung C với tôi. Mỗi lần gặp, chúng tôi lại đề cập tới vấn đề số phận của mình trong tương lai.
Những ngày đầu Việt Cộng chiếm Miền Nam, Cung vì quen thân với Hoàng Trọng Miên, em ruột của Thanh Nghị, tên trí thức “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản” chạy theo Việt Cộng từ Tết Mậu Thân, nay trở về với chức vụ Phó Tổng trưởng Thông Tin Văn Hóa của chính phủ Cách Mạng, thường tỏ ý chê bai và lên án những người di tản qua Mỹ trước ngày 30-4. Sau mấy chục ngày, sống trong Trại Tập Trung Cải Tạo, đụng chạm với thực tế, chắc Cung đã thấm phần nào, và cũng đã nhìn rõ sự gian xảo của Cộng Sản, nhưng có lẽ do tự ái, hay vì bảo thủ lập trường, Cung vẫn khẳng định:
– Theo moa, vấn đề học tập cải tạo phải có. Chính nhờ vào học tập chính trị, mình mới có thể ý thức một cách đúng đắn về đường lối Cách Mạng. Hiện tại, mình chả có cách nào hơn là tuyệt đối tin vào Cách Mạng.
– Thanh Nghị không bảo lãnh, cứu cậu à?
– Truớc khi “đi”, moa có gặp anh để trình bầy, anh bảo cứ đi, lo sau!
Tôi mỉm cười, tuy không nói ra những gì mình nghĩ, sợ bị ngộ nhận, mất tình anh em, nhưng vững tin Cộng Sản không bao giờ biết tha thứ cho ai hết, nhất là anh, ngoài cấp Trung Tá, lại giòng dõi quan liêu, phong kiến, có nhiều nợ máu với nhân dân, với Cộng Sản từ xưa!
Cung khác hẳn với Thục Vũ (nhạc sĩ, Trung Tá Thuộc ngành Chiến Tranh Chính Trị), quan niệm rõ ràng mình, người thua trận, đang bị đối xử đúng với tư thế của con người mất chỗ đứng. Thục Vũ làm nhạc cũng như làm thơ, những tiếng thơ buồn bã mang nhiều uất hận! Thục Vũ vốn có bệnh đau gan nặng, da mặt và mắt anh vàng màu lá úa! Anh ít nói, không thờ ơ cũng chẳng vồn vã. Chúng tôi cùng chung C nhưng không cùng B, ở sát nhà nhau. Tuy ở gần, nhưng ít khi gặp, mỗi lần gặp, tâm sự chẳng muốn rời!
Tự dưng đêm qua, tôi lên cơn sốt. Toàn thân đau nhừ như vừa qua cơn tra tấn nặng nề. Tôi nghĩ, có lẽ do nằm sát đất quá, hơi ẩm mỗi đêm bốc lên, thấm dần vào cơ thể nên dễ bị đau. Trong bóng tối, tôi lần tìm thuốc trong túi vải. Tôi bỏ luôn 2viên Aspirin vô miệng, chiêu ngụm nước. Vị thuốc chua chua đọng lại trong cuống họng. Tôi nằm, không sao ngủ được. Đó đây tiếng ngáy đều đều như bản hợp tấu tùy hứng. Bỗng có tiếng hét từ cuối nhà:
– Rắn, anh em ơi!
Mọi người chồm dậy. Ánh lửa được bật lên châm vào đóm.
– Đâu? Tiếng hỏi nhao nhao.
Ánh lửa bập bùng rồi cháy lớn vì nhiều que đóm chụm lại. Tôi cố đứng dậy nhìn qua ánh lửa. Một con rắn cạp nong khoanh trắng, khoanh đen đang trườn mình thật nhanh phía cuối vách tìm lối thoát. Trong khi mọi người loay hoay tìm gậy đánh rắn, nó đã biến mất.
Anh em mất ngủ, bàn tán lao xao về chuyện rắn. Các câu chuyện về rắn được kể lại qua miệng mọi người. Tôi nằm xuống, cơn sốt dịu đi trong chốc lát, xong nóng lại. Tôi thiếp đi, trong cơn sốt miên man!
Tiếng kẻng báo thức gõ từ lâu, nhưng tôi cứ nằm lì trong mùng vì quá mệt, tuy đầu đã bớt nhức! Tôi báo cáo với B. Trưởng, sẽ đi khai bệnh bữa nay.
Google images
Từ chỗ ở đến nơi khám bệnh không xa bao nhiêu. Tôi ghi tên vào sổ khám bệnh. Trong khi chờ đợi đến lượt, tôi nhìn quẩn quanh, đọc những khẩu hiệu ghi trên vách: Lương Y là Từ Mẫu, Phòng Bệnh hơn Chữa Bệnh, Sức Khỏe là Vàng v.v…. Tôi biết, đấy chỉ là những sáo ngữ. Người bệnh khá đông, có lẽ vì khí hậu và do sự nằm đất chưa quen.
Tôi được gọi vào. Người khám bệnh cho tôi, Bác sĩ Tín, cựu giám đốc viện Bài Lao Ngô Quyền. Tên bộ đội phụ trách phòng khám bệnh nghe nói hắn chỉ là tên Y tá, quân hàm Trung Sĩ. Tín, bận quần áo thường như mọi người cải tạo khác, không mũ, không blouse trắng, nên chỉ ai quen, mới nhận ra anh. Anh hỏi bệnh, rồi bắt mạch, áp tai vào ngực, vào lưng tôi nghe ngóng, thay ống nghe, xong báo cáo với tên cán bộ quân y về bệnh trạng của tôi.Với giọng nói lạnh lùng, nó ra lệnh cho Tín.
– Rỏ nước tỏi vô mũi! Tiêm một ống B1.
Tín bảo tôi ngữa mặt lên, thọc ống nhỏ giọt vào chai nước đục ngầu, rồi bóp vào lỗ mũi tôi 2 giọt. Mùi tỏi xông lên nồng nặc làm tôi hắt hơi. Trong khi đó, một bệnh nhân khác vô. Có lẽ, anh này thuộc loại khách hàng quen thuộc, mặt xanh như tàu lá. Anh luôn mồm kêu tên y tá Việt Cộng là Bác Sĩ. Tên cán bộ nhấc một ống tiêm trong chiếc khay nhôm, rồi thọc mũi kim xuyên qua lớp nylon bịt kín miệng chai soda trong có chứa đầy nước. Tôi nhìn Tín như hỏi. Anh nói khẽ: đó là chai nước ‘Sérum lô-canh’ để hòa tan Bi, tức Péniciline đó”. Tôi rùng mình. Tín rút thưốc vào ống chích. Anh bảo tôi vén tay áo. Mũi kim quá to và cùn đâm vào thịt làm tôi đau đớn! Tôi cũng chẳng hiểu vì lý do nào, tên cán bộ quân y lại cho tôi chích B1, trong khi tôi sốt? Tôi hỏi Tín, anh chỉ lắc đầu, tỏ ý không hiểu.
Tôi bước nhanh ra cửa. Ánh nắng làm chóa mắt. Tôi đi lảo đảo như người say. Qua sự kiện vừa xẩy ra, tôi suy nghĩ hoài về sư đảo lộn của từng giá trị, chăng cứ gì ở phạm vi Y tế, mà còn ở nhiều cơ cấu khác, kể từ sau ngày bại trận!
Về tới nhà, tôi nằm lăn ra ván. Anh em đi lao động hết nên căn nhà rộng rinh. B. Trưởng được miễn lao động, đang ngồi nhìn trời. Cơn mệt làm tôi không tha thiết đến việc gì nữa. Có tiếng ồn ào từ ngoài cửa vọng vào. Tôi hé mắt nhìn. Mậu và Huy đang xốc nách một người dìu vô. Tôi đoán, có tai nạn lao động. Lâm theo sau. Tôi hỏi:
– Sao, có chuyện gì thế?
– Ông Giác, đang làm tự nhiên quỵ xuống, đứng dậy không nổi.
– Sao không đưa đi Bệnh xá?
– Mới báo cáo; cán bộ y tế bảo cứ cho về nhà, tính sau!
Trung Tá Giác, thuộc đơn vị tác chiến, người khá to lớn. Trông bề ngoài, không ai ngờ anh có thể bệnh. Nhưng sự thực, Giác đang nằm phía bên kia, chênh chệch chỗ tôi đang nằm, hai chân không còn đủ sức mang nổi thân hình anh nữa.
Lát sau, tên y tá đi vô, mang theo chiếc túi vải nhà binh nhỏ. Hắn ngồi xuống ván, lấy đầu ngón tay ấn vào hai chân Giác. Trong khi đó, Lâm trình bầy với tên y tá về bệnh trạng của Giác.
– Rất tiếc, hiện nay chúng tôi cũng thiếu thốn và không có thuốc tốt. Nếu các anh muốn, có thể gửi tiền tôi đi “Nong Khánh”, hoặc Biên Hòa mua thuốc dùm các anh.
– Dạ, thưa cán bộ, tốt quá! Như vậy phải bao nhiêu tiền?
– Tôi không biết giá, các anh cần thuốc gì, đưa bao nhiêu tôi sẽ mua chừng nấy.
Lâm hỏi Giác muốn mua bao nhiêu thuốc, rồi nhân tiện bảo ai muốn mua góp tiền một thể. Số tiền được góp thật lẹ vì anh em nhìn thấy hình ảnh Giác nên sợ. Tên y tá cài tiền đi ra nhanh như hơi gió.
Sau hai ngày nằm bệnh, nhờ anh em cho thuốc tốt, tôi đã khỏi nhưng vẫn còn chóng mặt chưa đi lao động được. Lúc ấy vào khoảng 9 giờ sáng, tên cán bộ y tế sồng sộc đi vào phòng đến thẳng chỗ anh Giác nằm, mở túi vải trao cho Giác những vỉ thuốc với tờ giấy kê khai giá tiền mỗi thứ. Giác vẫn chưa đi lại được, mỗi lần đi tiêu hoặc tiểu, phải nhờ 2 người dìu, nếu di chuyển ngắn phải chống gậy lần từng bước khó nhọc.
Tên thật là Nguyễn Thụy Long sinh ngày 9/8/1938 tại Hà Nội (Bắc Việt). Sống qua thời thơ ấu ở núi rừng Việt Bắc cùng lúc với cuộc kháng chiến của toàn dân Việt Nam chống ách đô hộ của Pháp. Khi chế độ Cộng Sản manh nha thành hình, Nguyễn Thụy long theo gia đình hồi cư về Hà Nội, sau đó vào miền Nam trước hiệp định Geneve hai năm (1952).
Theo học trường Thiếu Sinh Quân nhưng rồi lại bỏ binh nghiệp sau khi thân phụ mất. Theo học tiếp tục những năm trung học tại Sài Gòn, Cao Đẵng Mỹ Thuật rồi lại bỏ học đi lính khi gia đình gặp chuyện khổ, ly tán. Sau năm năm quân đội, đào ngũ tù tội ra khỏi tù sống những ngày lang thang ở nơi hạ lưu của xã hội. Vì vậy bối cảnh trong những tác phẩm của Nguyễn Thụy Long sau này hầu hết hình thành qua những đ0ời sống mà tác giả đã sống qua. Tác phẩm đầu tiên của tác giả được ấn hành là tập truyện Vác Ngà Voi. Sau đó ra tiếp theo hàng loạt tác phẩm. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả là Loan Mắt Nhung hiện vẫn tiếp tục sáng tác.
Quan niệm về truyện ngắn
Tôi khởi sự viết văn bằng truyện ngắn. Nhưng không phải vì vậy mà tôi đồng ý với một số người cho là viết truyện ngắn dễ hơn viết truyện dài. Trái lại nửa là khác, cho đến bây giờ tôi đã có hơn ba chục cuốn truyện dài đã được xuất bản, vậy mà tôi vẫn còn nao nức sung sướng khi hoàn tất được một truyện ngắn khá ưng ý. Tôi cũng không đồng ý một số người cho rằng truyện ngắn là một số đoạn của truyện dài cắt ra hoặc nói một cách khác là truyện dài do nhiều truyện ngắn góp nhặt lại. Theo tôi, truyện dài và truyện ngắn thuộc hai lãnh vực khác hẳn nhau. Mỗi loại có nghệ thuật riêng của nó.
Mỗi một truyện ngắn theo đúng nghĩa của nó là một truyện khác biệt, không thể một truyện ngắn này giống truyện ngắn khác. Truyện ngắn còn là bước khởi đầu của một nhà văn và một nhà văn suốt một đời viết văn vẫn còn cái thèm muốn khi viết được một truyện ngắn ưng ý.
Về truyện ngắn “Ngày Tháng Buồn Hơn”
Chiến tranh Việt Nam mỗi một nhà văn nhìn theo một khía cạnh khác nhau. Dĩ nhiên chiến tranh phải có súng nổ, bom rơi, tàn phá và người chết. Có những nhà văn viết thuần túy về những tiếng động ồn ào ấy. Nhưng không phải chỉ những nhà văn ấy mới đủ thẩm quyền viết về chiến tranh. Tất cả mọi nhà văn đều có quyền viết về chiến tranh Việt Nam. Mỗi nhà văn nhìn chiến tranh qua khía cạnh riêng của mình. Ngày khởi đầu lại cuộc chiến tại Việt Nam sau hiệp định Geneve tôi đã để ý đến chiến tranh tái phát. Nhưng tôi để ý và qaun sát theo lối riêng của tôi. Không có một tiếng nổ nào, nhưng tôi nhìn thấy chiến tranh ở đó. Ngay cổng xe lửa ở giữa thành phố này. Nỗi buồn của ông xếp ga, của đám trẻ nhỏ nghịch ngợm. Ở quán cà phê đầu đường. Chiến tranh rồi đó và ngay thời gian đó người ta đã mơ tưởng đến ngày ngưng tiếng súng. Ngày mà những chuyến xe lửa khởi hành vào lúc năm giờ sáng.
Google images
18. Ngày tháng buồn hơn
Ông xếp ga Hai Thợ thức giấc vào khoảng năm giờ sáng. Ông quơ tay sang bên cạnh, chị vợ mập ú của ông đã ra khỏi giường từ bao giờ. Ánh lửa từ dưới bếp hắt lên, có lẽ chị đang nấu nước dưới đó. Hai Thợ nhìn ra cửa sổ chấn song, trời còn tối. Ngọn đèn đường vàng vọt chiếu hắt qua tàn cây trứng cá rọi vào vuông cửa thú ánh sáng nhấp nhá lay động trên tấm màn ngã mầu nước dưa. Phía ngoài đường tiếng xe cộ chạy rầm rầm sinh hoạt bắt đầu nhộn nhịp sau giờ giới nghiêm. Hai Thợ nằm ngữa nhìn lên đỉnh mùng, người lão ta hơi mền mệt nhưng hai mắt lại mở toang. Thói quen từ bao nhiêu năm nay đã làm Hai Thợ dậy rất đúng giờ. Bốn giờ ba mươi mỗi sáng. Cách đây không lâu khi đường chưa bị nghẹn khoảng giờ này lại có một chuyến xe lửa dài thậm thượt chạy qua. Hai Thợ vụt dậy khi hồi chuông báo ở trạm trước rung lên. Lão chạy ra cây chắn ngang đường cầm chiếc đèn có mặt kiếng đỏ quơ qua quơ lại chắn xe. Trong khi Hai Thợ vít cần chắn bên này. Chị vợ cũng giúp chồng hạ cây chắn bên kia. Chiếc xe lửa từ phía xa lù lù tiến lại hú lên một hồi còi dài. Sức nặng của chuyến tàu làm rung chuyển cả một vùng đất. Khói đen lẩn lộn bụi than đỏ thổi bạt về phía sau trong bầu trời nhờ nhờ sáng. Mùi khói than khét lẹt tỏa rộng trong không khí tươi mát. Chuyến xe lửa hú còi lên rồi lao xao, xầm xập trên đường sắt, ánh đèn pha gắn phía đầu tàu sáng chói soi rõ từng viên sỏi trên đường đang rung lên bần bật, những căn nhà lá làm tun hút theo đường tàu sáng tỏa rộng như nhát chổi khổng lồ cản bóng tối phía trước mặt hắt khỏi con đường sắt dài vô tận dưới hầm đầu máy lò than cháy đỏ rực, bụi than tia ra tạt về phía sau. Từ những cửa sổ toa tàu đèn còn sáng, những khuôn mặt thò ra nhìn xuống thành phố, những bàn tay vảy lia gửi xuống đám người không quen biết đứng sau cây chắn. Chuyến tàu dài thậm thượt trôi qua. Hai cây chắn đường được thả cho đứng thẳng lên trời. Những chiếc xe rú ga ngược chiều nhau lao trên đường nhựa như nguồn nước lớn vừa bị vỡ ra ở một bờ đê.
Hai Thợ không quên tháo cây đèn có bốn mặt kính màu ra khỏi cây chắn. Sau khi tắt đèn cất vào nhà lão thủng thẳng ra khỏi quán cà phê phía góc đường như một người nhàn hạ. Trời dần dần sáng rõ. Hai Thợ điểm tâm một dĩa cơm tấm, nhâm nhi một ly cà phê đen nhỏ với điếu thuốc Bastos đỏ. Lúc đó Chín Vè, một người bạn già cùng xóm với Hai Thọ cũng ra ngồi quán. Hai người ngồi chung một bàn và nói chuyện trời đất với nhau cho tới khi trời sáng bạch mới chia tay nhau ai về nhà nấy. Hai Thợ về nhà nằm ngửa trên giường vổ bụng ê a ca vọng vổ, lúc đó chị vợ đã xách giỏ đi chợ. Cuộc sống đời vợ chồng Hai Thợ bình thản trôi qua. Cả hai tóc đã ngã màu tiêu mà vẫn chưa có nổi một móng con nào. Hai Thợ nghĩ rằng ông Trời phạt mình vì cái tội ghét con nít. Thật thế Hai Thợ không thể nào hình dung ra nào đứa con của mình lại giuống bọn nhãi ranh ở khu này. Chúng nó như những đúa con hoang bị cha mẹ ném ra đường một cách vô tội vạ. Chúng ăn nói hỗn hào, chửi thề văng tục. Mỗi khi chuyến tàu chạy ngang qua, Hai Thợ lại rát cổ hò hét. Hai Thợ chịu khổ với bọn chúng. Lão thầm nghĩ nếu ta có con đứa bé không thể nào giống được bất cứ đứa nào trong bọn con nít này. Ta phải giáo dục nó. Rồi cho đi học. Bắt buộc nó phải nên người.
Nhưng điều ao ước đó chỉ là ảo tưởng. Nhiều khi Hai Thợ cảm thấy cô đơn, lão chép miệng thở dài, ta bạc phước. Nằm mãi trên giường cũng chán, Hai Thợ trở dậy cuộn mùng mền rồi trở xuống nhà dưới. Chị vợ ngồi bên bếp lửa, cời những cục than đỏ rực trong lò cho thêm hồng. Nghe tiếng động chị hỏi:
_Ba nó dậy làm chi sớm quá vậy?
Google images
Không có con, vợ chồng Hai Thợ vẫn kêu nhau bằng “Ba nó” hoặc “Má nó” choi thêm ấm cúng.
Hai Thợ dơ tay lên che miệng ngáp:
_Không ngủ được thì dậy chớ nằm hoài sao?
Chị vợ nói dấm dẳng:
_Không có việc thì ngủ cho khỏe xác, hơi sức đâu sáng nào cũng mò mẫm.
_Ở đấy mà khỏe, thất nghiệp đến nơi rồi. Sở Hỏa Xa đâu có phải như mình nằm ăn không hoài. Còn Má nó dậy sớm làm chi vậy?
Chị vớ ú ớ một hồi rồi thấp giọng trả lời:
_Bởi tôi quen rồi
Hai Thợ hứ một tiếng rồi bỏ ra ngoài.
Quán cà phê Thọ sứt mỗi buổi sáng vào giờ này đều đông khách. Đèn đã tắt cho đỡ hao điện nên ánh sáng trở nên nhá nhem, nhưng ấm cúng. Những khách hang có cảm tưởng gần gũi nhau hơn trong câu chuyện, bên ly cà phê, hơi thuốc. Khói thuốc nhòa nhòa bay trong một chu vi hẹp làm chiếc quán nhỏ trở nên mờ ảo như được bao phủ một lớp sương mỏng. Hai Thợ bước vào quán vừa dịp Chín Vè bàn đến chuyện chiến tranh đang bùng nổ tại Trung Đông giữa Do Thái với Ả Rập. Nhìn thấy Hai Thợ, Chín Vè vui vẽ dơ tay vẫy:
_Vô đây nhập cuộc với bọn này anh Hai
Hai Thợ cà rà tới kéo ghế ngồi. Chín Vè chìa tay giới thiệu thanh niên với Hai Thợ:
_Xin giới thiệu với anh đây là thằng Ngọn, con rễ tương lai của tôi, nó mới được phép về chơi hồi hôm.
Chín Vè quay sang Hai Thợ:
_Còn đây là anh Hai xếp ga, ở căn nhà ngoài đường tàu.
Hai Thợ đưa tay ra bắt tay gã thanh niên. Ngọn nắm lấy tay lão cúi đầu một cách lễ phép. Bàn tay hắn to chai nhưng ấm áp. Hai Thợ bỗng có thiện cảm với hắn, lão bèn hỏi một câu:
_Chú em được dìa phép bao lâu?
_Dạ, một nửa phép thường niên bảy ngày.
_Về lo cưới vợ hả?
Ngọn cười, chiếc răng vàng bóng loáng lộ cuối môi trái:
_Dạ đâu có, cháu tính để cuối năm, bởi cháu cứ phải đi hoài nên chưa tính đâu ra đâu hết.
Chín Vè cướp lời con rễ tương lai:
_Ấy tui biểu nó hoài, thời buổi này, trường hợp nó biết lúc nào rãnh được. Cưới thì cưới cái rụp cho xong rồi nó đi đâu thì đi. Vợ chồng già này bộ nuôi không nổi con vợ nó sao?
Hai Thợ kêu ly “xây chừng”. Khi cà phê được bưng ra lão quậy đường và hớp một hớp nhỏ. Đặt ly xuống, lão chép miệng, đưa điếu thuốc, rít nốt điếu thuốc đã cháy gần đến ngón tay và dụi tắt vào cạnh bàn gỗ:
_Anh Chín bàn vậy phải đó chú em, thời buổi này làm gì cũng phải lè lẹ cho ăn chắc.
Ngọn nhìn tàn thuốc chưa tắt hẳn ở góc bàn, một sợi khói ngún lên ở đó, uốn éo rồi mất hút, hắn thấp giọng:
_Dạ, dạ, cháu cũng mong lắm, trước sau gì cũng phải lấy nhau, cháu thương con Lan, cháu cũng muốn cho.. xong đi, nhưng..cháu..mắc kẹt.
_Ủa, mắc kẹt gì?
_Dạ..mắc kẹt tiền cưới.
Hai Thợ buột miệng:
_A…
Chín Vè sợ ông bạn già hiểu lầm mình cậy có con gái đẹp nên làm khói dễ thằng rễ tương lai chi đó, nên phân bua một cách gay gắt:
_Tao cho không mày con lam chớ có bày đặt tiền cưới xin gì với mày đâu mà mày “gài” tao câu ác nhơn thất đức đó quá mạng vậy?
Biết mình lỡ lời với ông bố vợ tương lai, Ngọn bối rối cắt nghĩa:
_Ba hiểu lầm lời con nói rồi. Con biết ba má thương không đòi hỏi gì con. Nhưng dẫu sao con cũng phải lo được năm mười ngàn đồng để làm bữa nhậu sơ sài mời bà con lối xóm. Chớ khi không…
Hai Thợ cướp lời:
_Cháu tính vậy cũng phải nhưng thời buổi này làm sao xong thì thôi. Câu chuyện xoay quanh việc vợ con của Ngọn một hồi cả ba vô tình xoay sang một đề tài khác. Hai Thợ khề khà hỏi:
_Vậy chớ lon cánh gà vàng vàng trắng trắng cháu mang ở cánh tay là cái cấp bực gì vậy?
_Dạ hạ sĩ nhất.
Chín Vè nhanh nhẩu cắt nghĩa cho Hai Thợ.
_Hạ sĩ nhất tiếng Tây kêu là cặp bò rằng đó anh không biết sao?
Hai Thợ không hiểu cặp bò rằng là cái gì nhưng cũng cứ gật đầu lia lịa:
_Xếp hả,cha,coi bộ thằng rễ của anh còn ít tuổi mà đã được chức tước cao vậy đó sao. Chu cha, chắc chiến công nhiều lắm hả?
_Ừa, chớ còn cái gì, mỗi cái khuôn vàng nho nhỏ là chiến công máu lửa đó, lu bù thần tượng chiến công mà.
Hai Thợ nhìn Ngọn đầy vẽ khâm phục. Chín Vè tiếp:
_Bắc Đẩu bội tinh, Anh Dũng bội tinh, Chiến Công bội tinh, ối lu bù, trai thời loạn mà anh Hai.
Hai Thợ lại bắt đầu để ý đến sợi dây bện như xoay chảo bỏ long thòng bên vai Ngọn hình đầu con cọp màu vàng. Chín Vè cắt nghĩa luôn:
_Dây chiến thắng đó
_Còn con cọp?
_À, cái đó là “nhãn hiệu” lính Biệt Động Quân. Hạ sĩ nhất Ngọn phì cười, hắn vui lây cái vui của ông bố vợ tương lai. Hắn cắt nghĩa lại lời của ông già vợ cho đúng:
_Dạ phù hiệu Biệt Động Quân, tiểu đoàn Cọp Ba Đầu Rằn.
_Cha nghe tên đã thấy ớn xương sống rồi.
Google images
Hai Thợ càng trở nên khâm phục thằng rễ tương lai của Chín Vè. Chín Vè cao hứng khoe luôn:
_Ngày xưa tôi cũng là lính đó chứ bộ. Lính hồi đó khó lắm, học về súng ống rặt bằng tiếng Tây thôi hà. Cha 10 năm lính mà tôi chỉ bò lên được chức bếp thôi. Nếu tôi ở lính đến giờ thì hạng bét ra cũng phải được chúc úy, chức tá, chớ đâu có nghèo mạt rệp như ngày nay, cũng chỉ bởi tại má bầy trẻ bắt tôi cắt đứt binh nghiệp, lâu lâu nghĩ lại tôi tiếc hùi hụi.
_Ở lính anh có đi trận không?
_Hồi đó thái bình mà, tôi giữ chức huấn luyện vũ khí cho bọn lính mới. Bọn lính mới ngu như con bò, có mấy câu tiếng Tây mà cũng không thuộc. Nè, bác coi có mấy câu học về khẩu súng trường Đông Dương chỉ có mấy câu thôi: Lơ phú dình anh dó thiên hoa, sỡ dĩ vĩ dằng ăng xít bạc ti bằng thi bành mà cũng không thuộc nữa.
Hai Thợ và hạ sĩ nhất Ngọn phát cười ngất. Dứt hồi cười, Hai Thợ nói:
_Tôi nghe cũng đến chịu luôn.
Chín Vè nhìn hai người lơ láo:
_Khó gì đâu bác. Tôi cắt nghĩa ra tiếng Việt cái một, cây súng trường Đông Dương chia ra làm sáu bộ phận chính. Vậy thôi.
Nói xong Chín Vè lật ngữa bàn tay nhịp nhịp trước mặt. Từ nãy hạ sĩ nhất Ngọn chỉ ngồi cười mãi tới bây giờ hắn mới lên tiếng:
_Mỗi người có một nghề, như nghề bác Hai đây con với ba đâu biết được các “bí quyết”.
Hai Thợ khiêm nhượng:
_Nghề tôi có chi khó đâu, nâng cần chắn lên, hạ xuống là xong hà. Đứa con nít cũng làm được.
Chiều sắp Tết, Hai Thợ đi theo đường xe lửa, lão thấy buồn bã vô cùng. Lão bổng thấy cuộc đời lão trở nên vô vị. Ánh nắng thật mong manh dãi trên những mái nhà tôn dọc theo đường tàu xe lửa con đường uốn vòng xa ngút mắt. Lão đứng tần ngần ở trước cây chắn, lão cuối xuống nói nhỏ:
_Mới hôm nào còn đây mà nay đã ngủm rồi, cuộc đời chẳng biết ra sao!
Hai Thợ vừa ở nhà ông bạn già Chín Vè ra, đứa con gái của Chín Vè ngồi khóc ở một góc nhà. Chín Vè nói với Hai Thợ:
_Tôi không biết làm sao, con nhỏ này khóc suốt ngày hôm nay. Từ lúc bạn thằng Ngọn về báo tin nó đã tử trận.
Nói xong lão thở dài sườn sượt quay mặt nhìn ra ngoài đường tàu. Hai Thợ cũng ngồi thở dài bâng quơ. Lão biết lão có an ủi gì thêm cũng bằng thừa. Tốt hơn cứ để cho đứa con gái khóc, có thể nó sẽ nguôi ngoai đi phần nào nổi khổ tâm. Hãy nhìn vào cái bụng nó, cái bụng nây nẩy của người đàn bà mang thai. Hai Thợ hiểu nỗi khổ tâm của người bạn già hơn ai hết. Sẽ chẳng có một sự bồi thường nào vì hai đứa chưa chính thức làm vợ chồng. Một đời con gái..
Nắng nhạt màu dần Hai Thợ ngồi xướng đường tàu, lão sớ tay lên con đường sắt song song chạy dài gần sét rỉ. Trước kia nó nhẳn bóng ông từng mỏi miệng hò hét bọn nhãi con trong xóm nghịch ngợm mang những nút chai bia xếp dọc theo đường sắt ngồi chờ chuyến xe dài thậm thượt chạy qua cán dẹp mỏng dính, sắc lem lẻm. Vậy mà thời gian này, lũ trẻ không còn gì để nghịch ngợm, chơi đùa ở đường sắt nửa. cách đây nít lâu, một đứa trẻ ôm đến một đống nút chai bai đến bày trên đường sắt vào trước giờ xe chạy, nó chờ hoài hủy đôi mắt dõi về cuối đường sắt xa tít tắp. Chuyến xe không tới, trời nhọ mặt người, thằng nhỏ uể oải đứng dậy tính thu xếp đống nút chai bia để ra về. Ông xếp ga bỗng thấy mình buồn lây với nỗi buồn của đứa nhỏ. Ông xách hai chiếc búa ra đứng sau lưng nó:
_Khoan về cháu!
Đứa nó ngước lên, nó ngạc nhiên vì lần đầu tiên ông xếp ga già nói được một câu dịu dàng với nó. Ông cầm lên một cái nút bia, bóc cái lõi bằng li-e ở bên trong ném đi, ông trao cho thằng nhỏ một cái búa.
_Cháu ngồi đây đập nút phéng với tao, đường sắt cứng thay cho chiếc đe tốt chán.
Thằng nhỏ bạo dạn thủ thỉ:
_Hồi trước có xe lửa chạy ngang tụi cháu đâu phải bóc cái lõi. Một chuyến xe chạy qua là cái lõi nát nghiến. Nút phén phẵng lì. Đập bằng búa chưa chắc đẹp bằng, ông có tin vậy?
Hai Thợ gật đầu:
_Ông tin chứ:
_Dầu sao thì máy móc “ngon lành” hơn.
Những tiếng đập chan chat đều đều trên đường sắt. Đứa nhỏ vừa đập vừa nhìn ra cuối đường sắt:
_Bao giờ xe lửa mới lại chạy qua đây hả ông?
Hai Thợ lắc đầu:
_Ai biết được
Đứa nhỏ hỏi tới:
_Bộ “lịnh” cấm sao ông?
Ông già nhìn đứa bé trong bóng tối nhờ nhờ khuôn mặt ông nổi những nếp nhăn hầu như bị xóa nhòa vầng trán hẹp. Ông lắc đầu:
_Không phải, tại Việt Cộng phá hoại.
Đứa nhỏ ngây thơ hỏi:
_Việt Cộng là ai mà lại dữ vậy ông?
Hai Thợ ngẫm nghĩ một hồi, lão cố moi óc tìm một giải thích thật giản dị:
_À..à.. cái tụi mà đặt lát-tích nổ chết bao nhiêu người đó.
Đứa nhỏ vừa nói vừa reo lên:
_Vậy hả? Cha, hôm tụi nó còn liệng lự đạn ở Sài Gòn đó ông. Phải bọn đó không?
Hai Thợ gục gặt cái đầu:
_Thì bọn đó chớ còn ai vô đây nữa, tụi nó không phải chỉ có lựu đạn không đâu, tụi nó còn đặt mìn ở đường tàu cho lật xe hỏa kia. Chết biết bao nhiêu người. Sợ nguy hiểm cho người vô tội nên hồi này xe lửa mới ít chạy. Lâu lâu có một chuyến.
_Hôm qua bằng giờ này cháu thấy có chuyến xe chạy qua, cháu nghi hôm nay nó lại chạy nữa nên cháu mang hết nút phéng ra đây, đâu có dè.
_Mà tụi cháu lấy nút phéng làm chi vậy?
_Để chơi để bán lấy tiền mua cà-lem ăn.
Hai Thợ liệng cái nút phéng xuống đường sắt kêu đến beng:
_Điên à! ai mà mua đồ quỷ này.
_Trời! Ông đâu có biết. Mắc lắm đó ông, một đồng trước kia mười cái nút phéng; bây giờ một đồng có năm cái thôi. Nhưng phải là cái thứ xe lửa cán kia. Còn đập bằng búa thì rẽ mạt hà ông. Một đồng hai chục cái dách còn ai thèm mua.
Hai Thợ hỏi tới:
_Mà tụi bây bán cho ai vậy cà?
_Mấy thằng nhỏ con nhà giàu. Tụi cháu chơi thảy đáo.
Hai Thợ đập một nhát búa chót lên nút chai đã phẳng ho lên một tiếng:
_Ờ tao đâu có dè.
Thằng bé thủ thỉ tâm sự:
_Ở nhà cháu có cả thùng nút phéng mà chưa cán, cháu chờ cho lúc có chuyến xe. Khi nào có ông cho cháu biết nhe, đừng nói với bọn bạn cháu nghe.
_Ai?
_Mấy thằng đi chơi với cháu đó
_Nói thì đã sao?
Đứa nhỏ nhoẻn miệng cười, nó có một chiếc răng cửa sún, nên trong miệng tối om nó nói như thì thầm:
_Chỉ mình cháu có mới bán mắc được, đồ “quí” mà ông.
Hai Thợ nhìn vào khuôn mặt sớm ranh mãnh của đứa trẻ. Lão thầm nói: Mày ranh thật, mới nứt mắt ra đã biết đầu cơ rồi. Nhưng ông cũng gật đầu:
_Được, khi nào có xe tao sẽ kêu mày
Đứa bé thu dọn những đồng phéng nhét đầy hai túi quần, đứng dậy, nó không quên dặn:
_Cháu là Tót nghe ông, Tót sún!
_Ờ! Ờ
_Nhà cháu ở bên kia đường tàu. Đó là cái nhà có cáo sáo xanh trước cửa. Ông chạy qua nhấp nháy mà. Chịu hôn?
Đứa nhỏ chỉ tay, Hai Thợ nhìn theo.
_Được nhưng ngộ lỡ khi có chuyến xe tao kiếm mày không có nhà thì sao?
Đúa nhỏ đứng ngẩn mặt ra.
_Ờ! Ờ! Quên mất, lại còn cái vụ đó nửa, kẹt rồi.
Đôi mắt nó bỗng sáng lên:
_Hay thế này cháu mang thùng nút phéng sang gởi ông, khi nào có chuyến xe ông cán dùm cháu?
Hai Thợ trả lời ngay:
_Không được đâu mày ơi! Con mụ vợ tao dữ như bà chằng, thấy đống đó nó liệng vô thùng rác tao mất công đền mày
Đứa nhỏ ngẩn ngơ nó suy nghĩ một hồi rồi hỏi:
_Ông biết ở đâu có xe lửa còn chạy không?
_Trên ga Sài Gòn còn ít chuyến.
_Xa quá!
_Nhưng cháu cũng không vô được đâu, vì vào ga là phải mua giấy rồi. Vã lại cháu không thể tới gần đường tàu.
_Sao vậy, cháu canh đúng lắm mà ông?
_Lính nghi cháu tới đường đặt lát-tích thì sao?
Đứa nhỏ le lưỡi:
_Thôi ngán rồi, người ta tưởng Việt Cộng thì thấy mẹ luôn!
_Pum! Pum!
Hai Thợ dí một ngón tay vào be sườn thằng nhỏ. Lão giúp nó một tay thu dọn nút phéng:
_Thôi tối rồi cháu về nghe.
_Dạ, cháu dìa..
Đứa nhỏ bước qua đường tàu ngoắc một tay lại vẫy Bai! Bai! Hai Thợ cũng giơ tay vẫy lại.
Buổi chiều chầm chậm xuống con đường nhòe nhoẹt bóng tối. Hai Thợ thở dài, lão sờ tay lên cằm. Những sợi râu mọc ra tua tủa.
Cánh cửa hé mở lộ ra khung trời bên ngoài. Vào mùa này mặt trời lên muộn. Đã gần sáu giờ sáng rồi mà mây vẫn xẫm không khí mới mờ mờ, trắng đục mầu sữa loãng. Hơi sương quện theo trong gió lùa qua cửa sổ, phả vào người bà Mùi, làm ớn lạnh hai bả vai, chại dài suốt sống lưng.
Bà rùng mình, kéo vội chiếc chăn len đắp kín người. Suốt cả đêm, bà trằn trọc, ngủ không đầy giấc. Có mệt lắm chỉ chợp đi được một lát, rồi lại thức chong mắt ra. Tới bây giờ trời đã bắt đầu vào ngày thì suốt người bải hoải, đau nhức từng khớp xương, cứ như kẻ bị đánh đòn thù ấy.
Bà thầm nghĩ “Thì ra tinh thần và thể chất liên hệ mật thiết thật” câu chuyện xẩy ra từ bữa cơm trưa hôm qua, nó còn “hành” bà tới giờ. Bà nghĩ đến con gái lớn của bà, cô Bích đang còn ngủ với chồng con ở căn gác ngoài.
“Không biết đêm qua nó có ngủ được không, có còn ‘đau đớn’ vì thấy mẹ bị chồng ‘khinh miệt’ không?” Lúc xẩy ra câu chuyện vào bữa cơm trưa, ăn xong, bà buông đũa lên ngay đây nằm khóc thầm. Hình như con gái bà nói gì với chồng nó ở phòng ngoài. Cô Bích cố sức nói nhỏ giọng như sợ bà nghe.
Nhưng thằng chồng nó chốc chốc lại lớn tiếng “Tôi xử đến vậy thôi chứ, bộ muốn tôi phải lậy nữa hả…” Yên lặng một lát, nhưng bà biết trong phút giây yên lặng đó cô Bích vẫn cằn nhằn chồng, vì tiếng thằng Sàm con rể bà lại cất lên “Bảo bà ấy ở đây một mình đi, nếu có phải ‘cung phụng’ thì tôi cũng chỉ ‘cung phụng’ bà ấy thôi, chứ bắt tôi phải nuôi ‘lũ kia’ thì không khi nào.”
Nghĩ tới đây bà lại ứa nước mắt! Lũ kia là con người chồng sau của bà. Thằng Ái và con Ly. Chúng là em khác cha với cô Bích. Hồi Bích mới ba tuổi đã mồ côi bố, bà tái giá và sinh thêm hai đứa này đây.
Chúng nó đang nằm kia, trên mảnh chiếu trải trên sàn gỗ của căn gác nhỏ, cất thêm trên mé nhà bếp. Từ một năm nay, cha chúng nó mất, bà buôn bán thua lỗ, nên phải về ở với con gái lớn và con rể.
Mấy tháng đầu còn “dễ thở”! Lần lần mỗi ngày một chuyện, nay thì không khí trong nhà đặc quánh lại rồi! Mỗi ngày một chút, những chuyện gì ở đâu, cứ bất ngờ xẩy ra thật ngột ngạt hết sức. Bà đã cố gắng nhẫn nhục, trong khi con rể bà cố tình gây. Thằng Ái và con Ly luôn luôn là “đề tài” của mọi chuyện. Bà có mình Ái là con trai nên rất thương yêu. Thấy Ái và Ly bị hất hủi, bà lại càng xót, đem hết tình thương để bao bọc cho hai đứa. Ái mới có mười lăm tuổi, nhưng người cao tồng ngồng. Chân tay dài quá khổ. Đã nhiều lần bà xót xa khi bắt chợt Sâm “lườm lườm” nhìn Ái, lẩm bẩm nói: “Bất thành nhân dạng, thứ này chỉ sớm thành du đãng chứ gì.” Bà không hiểu sao rể bà lại ghét thằng Ái đến thế. Hình như cái vóc người cao “lêu nghêu” của nó mỗi khi ra vào làm vướng cả gian nhà này. Chắc Ái cũng cảm thấy thế, nên nó ít dám xuống nhà, cả ngày cứ ngồi thu mình trên căn gác “xép”, hoặc lỉnh ra phố. Có hôm nó về vào lúc cả nhà đang ăn cơm, bà đã thoáng thấy nó, nhưng nó không dám vào ngay. Đợi lúc ăn xong, anh chị nó đi ngủ trưa, mới len lẻn về, xúc chén cơm chan nước mắm lên gác ngồi ăn. Bà trông mà ứa nước mắt nhưng chả biết làm sao!
Bà cũng biết cô Bích vì bênh vực bà mà hàng ngày vẫn ngấm ngầm gây gổ với chồng. Từ ngày bà về đây, gia đình này cũng mất cả nếp sống bình thường, mọi thứ, mọi chuyện, đều thay đổi. Trước kia cô Bích vẫn mua gạo “Nàng Hương” cho chồng con ăn. Giờ phải đổi ăn thứ gạo Mỹ hạt tròn cho đỡ tốn. Cả thức ăn nữa chứ, mọi thứ mọi giảm. Phần tại lúc này quá đắt đỏ, phần nhà đông miệng ăn, cô Bích cố sức tằn tiện. Tô canh nho nhỏ ngọt chất thịt, trước kia cô vẫn nấu cho chồng con ăn, nay thành tô canh rau lớn, những đĩa sào thơm ngút, không còn được “trình diễn” thường xuyên trên bàn ăn nữa, mà chỉ còn là đĩa đồ kho cho mặn miệng. Cốt sao cả nhà ăn cho no bụng, qua bữa là được. Bà Mùi cũng không mong gì hơn thế. Nhưng khổ nỗi không khi trong nhà các bữa ăn cứ nặng chịch. Như vừa mới trưa hôm qua, cả nhà đã ngồi quanh bàn ăn, cơm đã xới ra bát rồi, mà rể bà cứ cố tình đi ra đi vào, rót chén nước, rửa cái tay. Cô Bích có vẻ tức cất tiếng giục thì chồng cô nói “Ai muốn ăn trước thì ăn đi, việc gì phải đợi.” Thế nhưng lúc con Ly mới cầm đũa gắp miếng đậu rán, bà Mùi chưa kịp đưa mắt cản thì nó đã bỏ vào mồm. Vừa đúng lúc Sâm ra tới, Sâm nói trống không:
“Cứ như đồ mất dậy.” Con Ly biết Sâm nói nó, đã mười hai tuổi rồi nên cũng biết tủi thân, nó cúi gằm mặt xuống chén cơm, mắt rưng rưng, miệng ngậm miếng đậu, nhai chệu chạo. Bà Mùi thắt cả ruột lại, ngây dại như kẻ mất hồn. Cô Bích cất tiếng cố gắng làm ra vẻ bình thường để xóa không khí căng thẳng:
– “Cụ” ăn cơm đi chứ, hôm nay chị Ba “trổ tài” nấu món cà bung, cụ thử coi có ngon không?
Bà Mùi gượng cười:
– Ừ… thì… cứ ăn đi, hôm nay ta chóng mặt quá, nó làm như muốn cảm.
Chị Ba “người làm” biết bà Mùi buồn, cầm bát cơm đặt hẳn vào tay bà Mùi:
– Bà ăn đi mà, con mới học bà Kim nấu cà bung lối Bắc đấy.
Cô Bích lại tiếp giọng có vẻ van lơn:
– Mẹ ăn đi, hay nếu mẹ mệt để con bảo nấu cháo mẹ húp cho khỏe.
Bà Mùi bắt chợt ánh mắt của cô Bích nhìn bà, nửa thương xót, nửa an ủi, làm bà suýt bật khóc. Bà cầm vội bát cơm cười cười:
– Nào thì ăn, nấu cháo… làm gì…
Giọng bà nghẹn lại, bà cầm đũa đưa mấy hạt cơm lên miệng cố nuốt cho trôi tủi cực.
Trong khi đó Sâm ngồi ăn như không cần biết có sự hiện diện của mẹ vợ, không cất được một tiếng mời, thản nhiên nói với bé Ánh:
– Con chan canh không? Đưa bố chan ăn cho mau nào.
Không khí trong bữa cơm dù nặng nề đến đâu rồi cũng phải qua. Sau đấy bà lên nằm vùi trên này, lấy cớ là “ốm” bỏ bữa cơm chiều không xuống. Thằng Ái và con Ly cũng ở luôn với bà. Chiều tối cô Bích đem lên cho mẹ và các em mấy miếng bánh mì chả. Cô bùi ngùi bảo mẹ:
– Hay… mẹ tìm chỗ cho các em… ở đỡ đâu ít ngày. Để con “tính” với Sâm… cho ngã ngũ ra. Con thật hết chịu được rồi… Muốn ra sao thì ra chứ.
Bà cố khuyên con gái:
– Thôi con, một đời người rồi cũng qua đi mau lắm. Con cố gắng chịu đựng cho con con nó hưởng. Con đừng trách chồng con, cũng tại mẹ tới đây làm xáo trộn cho các con.
Cô Bích chậm nước mắt:
– Gì thì chứ, con có một mẹ mà anh ấy xử như vậy, đâu con có chịu. Mẹ còn nhớ hôm tuần trước cái vụ con chó con đấy không? Mỗi ngày mỗi gây, mình có muốn nhịn cũng không được mà…
Bà Mùi ậm ừ… Bà quên sao được cái chuyện ấy chứ. Hình như Sâm cố tình gây không cho mẹ con bà ở thêm ngày nào nữa.
Một hôm Sâm đi xin đâu được con chó con mới sinh. Suốt đêm suốt ngày con chó kêu ăng ẳng “làm xấu” vung vít đầy nhà. Mẹ con cô Bích cố nhịn, được hai ngày, hết chịu nổi cô Bích bảo chồng:
– Anh đem con chó về nuôi làm gì, nhà đã chật, lại có mình chị Ba dọn dẹp sao cho hết việc…
Sâm quắc mắt, ngắt lời vợ:
– Á… à, nhà chật hả, nuôi một con chó không có chỗ hả…
Sâm tiếp cười khan:
– Thế mà tôi tưởng nuôi đến ba bốn con cũng còn được cơ đấy…
Biết chồng ám chỉ mẹ và em mình, cô Bích giận. Bất chợt, cầm tách nước đang uống dở ném vào Sâm, không kể phải trái, cô hét lên:
– Đồ khốn, ăn nói đểu cáng thế mà nghe được à! Tôi nói cho mà biết dù tôi có nuôi mẹ tôi đi nữa, cũng không ai có quyền nói tôi. Đã “ai” nuôi tôi ngày nào đâu. Hay lại chính tôi phải làm nuôi “báo cô” bao nhiêu năm rồi. Giờ có phải anh “ghen” ăn với mẹ tôi không, thì anh nói trắng ra đi!
Bốp… Bốp… Hai cái tát như trời giáng vào mặt. Cô Bích sợ mẹ chạy xuống trông thấy lại khổ cho mẹ. Cô cắn răng nhịn, một vệt máu rỉ ra bên khóe môi cô. Sâm buông vợ vào túm lấy con chó thẳng tay đập, con chó trước còn kêu ăng ẳng, sau lịm dần. Con Ánh còn nhỏ quá mới sáu tuổi đầu, phải chứng kiến chuyện này nó đứng chết run ở kẹt cửa, không khóc nổi, mắt mở lớn nhìn bố đánh con chó. Trên căn gác xép, thằng Ái và con Ly đang quýnh lên lay bà Mùi. “Mẹ ơi… Mẹ… Mẹ ơi…” Bà Mùi từ từ mở mắt nhìn hai con ứa nước mắt. “Mẹ không sao đâu đừng sợ.”
Nghĩ đến đây bà Mùi thở dài nói nho nhỏ:
– Người thương người phải xa nhau cũng khổ. Mà người ghét người, phải ở với nhau lại càng khổ hơn.
Con đê dài rộng, hai bên trồng dừa Tam Quan cao hơn đầu người thẳng hàng, đều khoảng. Những quày dừa màu hỏa hoàng oằn trái. Bóng dừa chìm dưới đáy nước của hai đầm sen – bên trái đầm sen trắng, còn bên phải đầm sen hồng. Từ con đê đi vào khoảng ba trăm thước, một ngôi chùa nằm im lìm giữa hai hàng dương.
Chùa này vì ít thiện nam tín nữ lui tới nên càng thêm vẻ đìu hiu, lạnh ngắt. Từ đường cái nhìn vào, ít khi người ta nhìn thấy bóng dáng những nhà tu. Chỉ nhìn thấy chiếc tháp cao trơ vơ với rêu bám nham nhở và vài viên gạch mục rớt ra lở lói. Mái chùa thấp ẩm ướt và bóng tối đặc quánh. tiếng kêu vo ve của đám muỗi đói lẫn tiếng chí chóe của đàn chuột dưới những bàn thờ và tiếng vỗ cánh của đàn dơi hoang. Cao hứng chúng bài tiết bừa bãi không vị nể các ông Phật đang ngồi trang nghiêm nhìn ánh đèn chong leo lét. Bình hoa huệ sắp tàn, chỉ còn vài búp gắng gượng trên chót nhánh. Những cánh trắng héo hắt rớt tả tơi trên bàn thờ không mấy ai buồn dọn quét chăm sóc.
Lâu lắm, người ta mới thấy bóng một sư nữ gầy gò xanh xao ngoài năm mươi tuổi ngồi bên hông chùa, uể oải cầm chiếc dao cùn chặt những cành dương khô rớt trên nền đất và bó thành từng bó nhỏ. Ni cô ngồi dưới bóng nắng loang lổ đỏ, khoác chiếc áo cà sa màu cà. Hình như bà cố tìm vài mảnh nắng rớt nhiều nhất trên nền đất để hóng nắng. Giữa màu lá xanh bao quanh da mặt, bà càng thêm nhợt nhạt. Ðôi mắt trũng sâu nhiều, tròng trắng nhìn bâng quơ khi cánh tay gầy guộc khô khan của bà đưa chiếc dao chành lên xuống vài lượt, và giọng ho húng hắng được đè nén làm bà run rẩy.
Bà đã đến tu ngôi chùa này hồi hai gò má còn hồng và nụ cười tươi sáng ẩn một chút ngổ ngáo. Nay hàm răng trắng xa xưa đã rụng mất vài ba cái và đóng bợn vàng ối.
Ông yết ma vốn người bán nam bán nữ, cao to mập trắng hếu và có đôi mắt lém lỉnh. Hình như ông yết ma này gọi ni cô bằng dì họ. Ông này cùng theo bà đến chùa hồi mười tuổi và bây giờ ông đã quá ba mươi. Ông có tật lãng tai, mỗi khi ni cô nói với ông điều gì, bà phải lấy tàn hơi gào thét. Ông cứ vểnh tai ra, nét mặt ngơ ngác như người đi lạc vào một thế giới xa lạ thiếu âm thanh. Ni cô mỗi lần muốn đàm đạo với ông cháu quí phải nặng hơi mỏi cổ nên bà lười biếng ít muốn nói chuyện với ông ta lâu. Ngoài hai người, còn có một chú tiểu đầu để chởm với thẻo tóc dài vắt qua vành tai. Chú tiểu này vừa giúp đỡ ni cô như một tiểu đồng, vừa làm thông ngôn khi ni cô muốn nói chuyện dài với ông yết ma. Chú tiểu có vẻ nhẫn nhục và cam chịu. Chú sống thui thủi giữa hai người lớn, mỗi người có một thế giới bưng bít. Họ chỉ hợp nhau vào những buổi tụng niệm, còn ngoài những giờ lo cho Ðấng Từ Bi, họ mỗi người mỗi việc tưởng chừng như sự hiện diện của nhau thật là mờ nhạt thừa thải. Chú tiểu lo phần cơm nước. Những bữa cơm dọn với rau muối mè, tương hột đơn sơ, chú tiểu có thể quán xuyến chu tất. Mỗi buổi sáng, chú ra sau chùa bứt những đọt mùng tơi, hái những bông mướp vàng ối còn thơm mật, nhổ vài nắm rau đáng mọc dọc mé đê đem vào luộc. Ông yết ma ngoài mấy buổi tụng kinh, gõ mõ, còn có bổn phận vun quét rườn rau, cưng dưỡng mấy dây bầu và giàn mướp sai trái. Cái quá khứ không tì vết của ông yết ma – ông sống xa người trần tục không tiếp nhận cuộc sống đầy rẫy bon chen – khiến ông chỉ hiểu cuộc đời lờ mờ ngoài mái chùa. Cơm rau mỗi ngày hai bữa, ông làm việc hùng hục ngoài vườn rau và ngủ li bì vào những giờ rảnh rỗi. Những giấc ngủ êm đềm khoan khoái nuôi dưỡng thân xác ông mỗi ngày một to béo đẫy đà. Vẻ mặt ông cười cợt dễ dãi và phẳng phiu như tâm hồn ông. Ði tu từ lúc còn bé, ông sống kham khổ cũng đã quen. Ông cảm thấy yên phận để dọn mình mai sau về với Phật Tổ, dẫu làm con chuột uống dầu tại chùa Tây Phương cũng cam. Ðầu óc ông tiêm nhiễm giáo lý một cách lờ mờ, cuộc sống trong kinh kệ chưa in rõ vào đầu óc ông. Ông còn mơ ước gì hơn; vả lại, ông không có thì giờ để nghỉ ngơi suy ngẫm gì ngoài những thủ tục đọc kinh trồng rau. Công việc nhà chùa chiếm hết ngày tháng. Ông dạy chú tiểu học kinh và cách tụng kinh. Chú ấy cũng là người để cho ông ta tâm sự về sự tiến triển của mấy dây bầu, của nụ hoa mướp có mòi thành quả. Chỉ có vậy thôi, thế mà ông ta sống lây lất hơn hai mươi năm qua đến không ngờ. Ngày đó, ông theo ni cô Diệu Tâm đến ngôi chùa này giữ vai trò một tiểu đồng, Lúc đó còn sư cụ và ni cô thì mới ngoài ba mươi tuổi, dung nhan còn mặn mòi sắc lẽm. Ðến khi sư cụ qua đời và được mai táng trong cái tháp trước sân chùa, ni cô Diệu Tâm mới lo quán xuyến ngôi chùa này.
Những ngày rằm hoặc những ngày lễ Phật, chỉ vài ba thiện nam tín nữ đến dâng hương vội vã. Hình như họ nghĩ rằng chùa nào đông đúc tấp nập, Phật Trời mới có mặt thường xuyên. Chớ chỗ buồn bã như vầy, chắc Phật Trời cũng lười lui tới. Ông yết ma cảm thấy phơi phới trong cuộc sống trống vắng quạnh hiu. Những lúc đám khách thập phương này chiếu cố chùa, ông có cảm tưởng như họ đến quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Nhưng ông phải giữ đúng quy luật nhà chùa là cửa thiền lúc nào cũng mở rộng. Ông biết lán mán về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Ðạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh. Thủa đó, tất cả phụ nữ miền Nam chưa hề trang điểm, thế mà bà đã biết dùng phấn nụ do các công chúa của triều đình Huế sai tì nữ đem bán. Trước khi đánh phấn, bà dùng chỉ đánh cho săn lại rồi lăn lên da, nhổ sạch những sợi lông măng để cho da mặt tiếp nhận phấn dễ dàng. Ðoạn bà dùng phấn nụ bôi lên mặt, lấy giấy hồng đơn thấm nước đắp lên mặt má. Bà nhai trầu cho đôi môi nhuộm đỏ.
Thật ra bà vốn là đào hát bộ, tên Năm Thàng. Ông phú hộ có tính phong lưu tao nhã. Ðời ông chỉ có việc lấy hát xướng làm tiêu khiển. Bất kỳ gánh hát nào có bà, ông cũng ngồi ghe bầu theo coi cho bằng được. Ngồi ghế thượng hạng để cầm chầu, ông say sưa chiêm ngưỡng tấm nhan sắc chim sa cá lặn của bà trong vai Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô, hoặc Lưu Kim Ðính. Người bạn theo hầu kiêm luôn anh đầu bếp giỏi, và tối đến, được theo chủ xem hát. Người phu trạo đã bắt đầu ghiền cuộc sống rày đây mai đó. Cũng bao nhiêu tuồng hát đó mà nhà phú hộ nọ vẫn coi hoài không chán mắt. Ðối với ông, cô Năm Thàng từ cánh gà tuông ra làm đổi mới cả sân khấu.
Hai năm xuôi ngược mỏi mê, ông cố gắng điều đình với ông bầu gánh chuộc cô Năm Thàng bằng mười mẫu đất, đem về làm vợ kế. Muốn thoát khỏi cảnh đời rày đây mai đó, cô Năm Thàng bằng lòng với ngôi vợ thứ hai do sự đồng ý cưới hỏi rỡ ràng của bà phú hộ. Cuộc sống huyên náo bỗng dừng lại làm cô Năm ngỡ ngàng xa lạ. Sự giàu sang và chiều đãi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa của chồng không bao lâu làm cô thêm nhớ lại cuộc đời sống cũ. Cô nhớ sân khấu, nhớ đời sống lang thang trên những chiếc nghe chài xê dịch từ làng này sang tỉnh khác. Cuộc sống tập thể tuy quấy nhiễu cô thường xuyên, nhưng đem lại cho tâm hồn cô những đổi mới. Cô say những vai trò nữ tướng, công chúa, bà hoàng… để bôi xóa tạm bợ trong vài tiếng đồng hồ đời sống nghèo đói cơ cực của mình. Một cô đào hát tên tuổi chưa được mấy mà đã làm bà phú hộ, có kẻ hầu người hạ. Thế mà cảnh giàu có vẫn không quyến rũ được cô lâu, không đủ quyền lực làm cô quên hẳn quá khứ.
Ni cô Diệu Tâm trở mình thức giấc. Bà lần mò ra chánh điện để kịp gác công phu. Trong im vắng hoàn toàn, ni cô nghe rõ tiếng chuột bọ chạy rột rẹt và tiếng thằn lằn trên kèo nhà chắc lưỡi. Bên ngoài, ếch nhái dưới ao con trổi giọng uênh oang át cả tiếng dế trong bụi ô rô nhọn hoắt. Ni cô bước ngang phòng ông yết ma. Tếng ngáy từ trong buồng vọng ra ào ạt, đều đặn. Bỗng giọng mớ ú ớ vang lên:
– Ê! mấy thằng chăn trâu, bây bẻ trộm bầu của người ta hả? Bớ Phật Kim Cang, Phật La Hán vặn họng nó cho rồi. Bớ Hộ Pháp.
Ni cô mỉm cười, bỏ xuống nhà sau rửa mặt. Nước mưa chứa trong hàng mái đầm sau hậu liêu mát lạnh lôi bà ra khỏi cơn ngầy ngật buồn ngủ. Bà trở lên chánh điện vặn to ngọn đèn và thành kính cầm dùi dộng vào cái đỉnh đồng chung. Tiếng chuông ngân dài như réo gọi ông yết ma ngủ muộn và nhắc cho chú tiểu đến lúc tụng kinh công phu. Sau đó, từ lò cạo heo, tiếng heo bị thọc huyết eng éc bên kia sông, cách chùa hơn năm trăm thước. Tiếng kêu cứu thê thảm của mấy con heo vắn số nối đuôi tiếng công phu. Phía sau chùa là lò rèn. Tiếng nổ lách tách của đám than vừa rực cháy nghe rất vui tai. Hai ống bể khò khè như tiếng ngáy ngủ của loài trâu nước.
Chú tiểu dụi mắt đi ra đỡ lấy dùi chuông thay cho ni cô. Bà ngồi âm thầm giữa chánh điện hai bàn tay gầy lần tràng chuỗi hạt hổ phách, ni cô tụng hết tuần kinh lui vào trai phòng bên tách trà nhạt còn bốc khói. Bà ôn lại ngày bà còn là một cô đào chánh đã làm say mê giết bao nhiêu vương tôn công tử. Ông phú hộ Thọ đã chia gần nửa số gia sản của ông để đổi cô. Rồi cô bỏ sân khấu về sống trong một ngôi nhà nền đúc cao tới ngực có hàng chục người hầu hạ. Mỗi lần cô giam mình sốt mẩy, thầy lang được rước về tận nhà và ở lại đó cho đến khi cô khỏi hẳn. Cô mê món ếch bắc thảo chưng đường phèn. Người tớ gái đem cục mỡ gần thận ếch để vào một cái thố vẽ bát tiên và cho đường phèn vào, chưng cách thủy. Cục mỡ ếch nở to bằng cái chén trong như pha lê, thơm ngọt ngào rồi đặt chiếc thố sứ vào cái mâm bằng gỗ quí. Trong lúc cô dùng ếch bắc thảo, hai đứa con gái đứng hầu quạt hai bên. Cuộc sống lắm kẻ nuông người chiều đó níu kéo cô được vài ba tháng. Một hôm đoàn hát Cẩm Ðuờng Ban có dịp trở lại làng Ðạo Ngạn, cô Năm Thàng cảm thấy có cái gì xót xa ray rứt không yên thúc dục cô, nhứt là khi tiếng chiêng trống và tiếng phèn la nổi lên inh ỏi ở đầu đình. Cô Năm bồn chồn không thể tả, thế rồi đêm hôm sau đó, lúc ông phú hộ yên giấc cô lần mò bỏ trốn theo đoàn hát và tiếp tục nghiệp dĩ. Phải chăng cô muốn thay đổi cái không khí nhờn nhợt âm thầm trôi nổi bên cạnh ông chồng chỉ có lòng sủng ái, nhưng tình yêu cô cho ông còn lờ mờ chưa thắng nổi tiếng trống chầu.
Khi ông phú hộ biết cô đã trốn về đoàn hát, lập tức ông xuống ghe bầu cùng với người phu trạo đi theo. Cuộc săn đuổi gian nan không làm ông thất vọng. Ông tin tưởng sự đi theo vừa giúp ông tiêu dao ngày tháng, vừa có dịp săn sóc cô và mong rằng ngày nào đó, cô Năm sẽ hồi tâm quay trở về. Mãi cho tới ba năm sau, ông vẫn vừa đi theo cô Năm Thàng vừa tập soạn tuồng hát. Ông đã gởi gấm tâm sự, tình ý vào bản Hát Nam, Hát Khách và Hát Văn. Ông để hết tâm trí vào các tác phẩm thai nghén suốt mấy năm liền và sau đó được đưa lên sân khấu để cho cô Năm thủ diễn. Kỳ lạ, sau khi diễn xong tuồng hát của chồng, cô Năm Thàng ôm ông phú hộ Thọ khóc hu hu rồi cởi áo mũ giáp trả lại sân khấu và hai vợ chồng đưa nhau về chốn cũ sống lại cuộc đời cố định. Cô Năm mới tìm thấy tình yêu muộn màng nhưng có một sức mạnh lôi cô ra khỏi ánh đèn sân khấu vĩnh viễn, bỏ hẳn cuộc sống nay miếu này mốt đình nọ. Chỉ một năm sau, cô sanh được một đứa con trai kháu khỉnh. Ðứa con trai đó nối dõi tông đường của ông phú hộ trong khi bấy lâu nay ông cứ ngỡ là mình tuyệt tự. Ông mừng đến sa nước mắt khi đứa con trai độc nhất của ông càng lớn càng giống những nét thanh tú trên gương mặt của ông và cô Năm.
Ông phú hộ toan tính biết bao nhiêu về dự định tương lai cho đứa bé. Nhưng ông đột nhiên chết bất thần vì một tiếng sét long trời xẹt vào nhà làm đổ cả tủ kiếng và giết ông nhanh chóng. Cái chết tức tưởi đó làm cho dân làng xầm xì bàn tán là ông ăn ở thiếu phúc đức nên trời sai Thiên Lôi xuống giết gấp rút như vậy.
Từ đó, cô Năm đoạn tuyệt cuộc đời cũ ngay trong ý nghĩ và tận tụy chăm sóc đứa con để đền ơn đáp nghĩa với người vừa là tri kỷ vừa là bạn chung tình đã cho cô một niềm tin yêu bao la. Nhất định cô chẳng đời nào cho con cô nối nghiệp cô. Cuộc đời hát xướng bị người đời cho là vô loài. Cô cũng chẳng mơ con cô giàu có như cha nó chỉ ước ao sau này nó sẽ có nhiều bằng cấp học hành đỗ đạt. Cô ẩn nhẫn sống nuôi con, mặc dầu lúc ông phú hộ vừa mới chết, còn biết bao nhiêu người gấm ghé được lấy cô, nhưng cô quyết không buồn ngó đến họ.
Ðến ngày giỗ chồng, đợi vào lúc nửa đêm, cô Năm Thàng hóa trang, mặc áo giáp đóng vai Ðoàn Hồng Ngọc oai phong lẫm liệt cầm dao múa trước bàn thờ làm như ông phú hộ đang ngồi trên ấy thưởng thức tài nghệ siêu phàm của cô. Ðường đao bay vun vút quấn lấy người cô. Trong im vắng, cô cất tiếng hát nho nhỏ những bài hát trong những vai tuồng mà ngày xưa ông phú hộ đã dày công biên soạn. Sau những đường đao bay như rồng lộn, cô Năm đúng thẳng người nhìn đăm đăm lên bức ảnh ông phú hộ và hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má. Ðứa con của cô được một năm thì bị một cơn sốt dữ mà tất cả danh y đều bó tay đầu hàng. Cô Năm tê điếng trong niềm tuyệt vọng. Ðã bao lần ý nghĩ tự sát chập chờn qua tâm nảo cô. Ba lần tự tử bằng ba cách: cắt gân máu, uống dầu nóng, treo cổ được phát giác ngay.
Cô lần tính lại đã quá hai mươi năm, nỗi đau khổ và bất hạnh xa cũ đã bắt đầu mờ nhạt. Những việc nhà chùa làm cô bận rộn suốt năm bôi xóa dần những nỗi buồn thảm, tưởng chừng vẫn rỉ rả hành tội cô trong khoảng đời còn lại. Nắng đã lên từ chân vườn, sau chùa, vài ba đứa mục đồng đang nghêu ngao mấy bản Kim Tiền. Nắng tuôn ánh sáng hình rẽ quạt trên mặt đất. Ni cô Diệu Tâm lục đục ở trú phòng. Những cây tre non được vót từng cọng nhỏ bằng cây tăm nhang bày đầy trong cái nia. Ni cô khệ nệ bưng nồi nước cơm từ bên bếp đem lên để kế bên nia tăm tre cắt dài khoảng ba tấc. Ni cô dùng những loài lá có mùi thơm như lá quao, lá ngũ trảo, lá bưởi phơi khô rồi giã nhỏ xay lấy bột đựng trong mấy chiếc thau đầy ắp. Chú tiểu ngồi bên cạnh rây lại lần nữa phần bột mịn, thơm ngát, cho vào cái chậu tráng men sứ trắng vẽ hoa hồng đỏ. Ni cô bỏ những cây tre chẻ nhỏ vào một ống tre cao độ hai tấc đựng nước cơm gạo mới đặc quánh như hồ nhúng ướt rồi mang ra lăn những cây tre đó vào chậu bột lá mịn. Hồ trên thân cây tre chẻ nhuyễn quyến lấy bụi lá thơm và những cây nhang này được đem đi phơi nắng.
Tất cả những thức ăn lẫn hương hoa cúng kiếng đều do một tay ni cô làm ra. Xài không hết, bà mang ra chợ bán lấy tiền bỏ vào quỹ nhà chùa. Ðặc biệt bà có tài làm tương ta. Bà lựa nếp đem xôi rồi bỏ vào nia ủ bằng lá chanh hay lá ngấy độ ba ngày cho nếp lên men rồi thắng đường cho chút muối, đổ vào nếp làm tương ta. Những món hàng do nhà chùa sản xuất sẽ nhờ chú tiểu đem ra ngồi chợ bán lẻ. Công việc bề bộn đó chiếm cả ngày, ni cô Diệu Tâm say sưa, có khi quên cả việc ăn uống. Mãi đến chập choạng tối, lúc bao tử đòi hỏi gấp rút, bà vào nhà bếp xới tô cơm nguội ăn với chút tương ta. Ăn uống thiếu thốn lâu ngày làm thân thể bà gầy gò và những cơn ho húng hắng xảy ra thường xuyên. Nhưng bà không để tâm đến và cơn bịnh cũng lây lất trôi qua khi ông yết ma chưng cho bà chín lá chanh với chút đường phèn bưng lên cho bà uống. Món thuốc ho không tốn kém này cũng làm bớt cơn đau ngực và bà tiếp tục lây lất với cơn bịnh.
Diệu Tâm cảm thấy bứt rứt nơi ngực. Hình như có một bàn tay nắm lấy trái tim, bà ngột ngạt tưởng chừng trai phòng này thiếu không khí. Bà gượng ngồi dậy tựa lưng vào thành giường một lúc rồi cố gắng đứng dậy đẩy nhẹ cánh cửa sổ. Ánh nắng túa vào khe cửa ảm đạm rớt trên một lõm giường và lác đác vài mảnh vuông trên nền gạch tàu. Diệu Tâm lần dò ra ngoài để tìm chút thoáng khí. Ni cô lầm lũi bước ra ngồi tựa lưng bên tháp sư cụ và ngước mặt nhìn trời. Cơn lạnh tiết ra từ trong lá, từ ao sen làm bà rờn rợn. Cơn ho tiếp tục và ni cô cảm thấy hình như chiếc tháp muốn xiêu đổ và mặt trời túa ra nhiều vành sáng nhảy múa trước mắt. Diệu Tâm bám chặt lấy thềm cửa tháp và cơn buồn nôn hối hả dâng lên, ni cô chỉ còn thấy cảnh vật đảo lộn, ánh sáng và bóng tối xoay tít, và nơi ngực như có cả khối tháp đè lên đó. Tiếng chim vụt tắt ngỏm đâu đây và cơn gió rào trên ngọn dương ngừng lại.
Ni cô bừng mắt nghe tiếng nói lào xào văng vẳng đâu đây. Ni cô nhướng đôi mắt còn chút ít thần sắc nhìn quanh trai phòng. Chú tiểu túc trực bên giường mừng rỡ hỏi dồn:
– Dạ thưa ni cô cảm thấy đỡ chưa?
Bà lặng lẽ gật đầu và muốn ngồi dậy. Chú tiểu hiểu ý đến đỡ bà lên tựa lưng vào thành giường. Bỗng cửa trai phòng vụt mở. Diệu Tâm nhếch mép cười tiếp nhận sự có mặt của đứa cháu dâu và cô em họ đến đúng lúc bà thấy cơn bịnh này không hy vọng lành. Ðứa cháu dâu gọi bà bằng cô chuyên nghề sống với nghề cờ gian bạc lận và nghề cho vay đoạt nợ. Nghề nghiệp nàng đến mức tuyệt xảo. Riêng cô em họ cùng đi theo cô cháu dâu đến thăm bà là một tay từng nhổ râu ông huyện này, cạo đầu ông phủ kia. Cô em họ có tấm nhan sắc cũng ưa nhìn thôi, nhưng cô có biệt tài hễ cập sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tán gia bại sản một cách nhanh chóng và êm thấm. Hai người đàn bà thân thích này thường lui tới cửa thiền hầu sám hối để chuộc tội. Họ thích thân thiện với bà có lẽ nghĩ rằng khi Diệu Tâm đắc đạo để về chầu Ðấng Từ Bi sẽ với tay níu họ theo lên cõi Niết Bàn. Vì mặc cảm tội lỗi nên họ càng thích đi chùa dâng hương đem lễ lộc hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan khiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa…. Càng thấy họ đi chùa là phải hiểu rằng họ vừa làm được một cái áp phe. Khi có nhiều tiền, họ lại vào chùa thành khẩn hối lỗi, nhưng khi bước ra khỏi chánh điện thì họ lại quên tuốt.
Ni cô mệt nhọc gắng gượng trả lời họ vài ba câu hỏi thăm sức khỏe. Rồi không còn ngồi được nữa, bà nằm rũ xuống. Cô em họ đề nghị ông yết ma nên tụng kinh cho Diệu Tâm để nếu như bà có phải về nơi cực lạc cũng sớm được nhẹ nhàng hồn phách.
Ni cô nghe trong người rã rời từng khớp xương. Bà cố mở mắt nhìn ánh đèn vàng vọt đặt trên chiếc bàn cạnh bàn nước. Cổ họng bà khô đắng và lạt lẽo. Ni cô hé mắt nhìn cô em họ đang ngồi bên cạnh và cô cháu dâu đang lây quây rót nước từ trong vỏ bình vào tách định bưng lại. Ni cô khoác tay tỏ ý không cần uống nước. Bà đã ăn chay ròng rã hơn hai mươi năm quá đạm bạc nên thân thể bà thiếu cả chất đạm.
Bà làm việc quần quật, suốt ngày. Không biết bà tìm cách quên ẩn tình hay để tăng ngân quỹ nhà chùa. Người ta thấy ni cô Diệu Tâm không sống cho mình nữa, kể từ khi bà bước vào chùa này. Bà sống kham khổ, nhẫn nhục và chịu đựng. Tiền công quỹ nhà chùa được đem ra bố thí cho những người tàn tật nghèo khổ. Bà ăn uống bất thường và coi việc ẩm thực là điều phụ thuộc. Chỉ cần một chén tương và một nhúm rau chấm tương cũng rồi một bữa. Từ một tháng nay, bà không ăn uống được như thường nhật, mỗi khi ăn xong, bà đều mửa thốc mửa tháo ra, đến cả thuốc men cũng không giữ được trong bao tử. Họ hàng hay được tin bà thọ trọng bịnh cho mời biết bao danh y đến cứu chữa. Phần linh hồn thì do ông yết ma và một số sư sãi các chùa lân cận đến tụng niệm siêu độ.
Thân xác bà mỏi mòn trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng. Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc của bà dán chặt vào ý nghĩ lưỡi bà khô đi, đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ của bà trôi xa hơn, nước tàu vị yểu, rồi nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa này.
– Nước mắm! Muỗng nước mắm!
Ni cô hoàn toàn quên mất cái đời sống hiện tại ở trong chùa, quên cả mấy mươi năm tu hành khổ hạnh. Bà rơi trong một ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muỗng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng và trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử thì biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muỗng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
Ngoài hậu liêu, hình như trời đã chiều. Mùi thuốc bắc sắc trong siêu ngai ngái bay lên làm bà có cảm tưởng mình sắp nghẹt thở.
Bà phải uống một muỗng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muỗng nước mắm. Nước mắm sẽ là một món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông. Cố gắng lấy hết tàn hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muỗng nước mắm. Tất cả những người có mặt bên giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần:
– Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
Tiếng kêu gọi như một lời van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần tách trà ướp sen kề gần miệng. Ni cô khép chặt môi, lắc đầu phản đối:
– Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn môi.
Nói xong ni cô dìm hồn vào trong cơn đồng thiếp hai cánh tay còn xòe ra quờ quạng van xin.
Cô em họ bước ra trai phòng thỉ thầm:
– Rõ là ma đưa lối, quỉ dẫn đường. Hồi nào tới giờ chỉ ăn chay lạt, đến lúc sắp chết lại đòi uống nước mắm. Tôi nhất định chống lại lời ma quỉ xúi biểu, xui khiến chỉ phạm trai giới. Thà để cho chỉ chết mà không mang tội với Trời Phật và không uổng công tu khổ hạnh hai mươi mấy năm nay.
Nói đoạn bà xuống trú phòng ngồi nói chuyện áp phe với cô cháu dâu, hoặc những thành quả bà đã thu đoạt được kể từ ngày bà bước chân vào đời. Giọng bà oang oang uốn éo và những tràng cười nói xôn xao vọng lên trên chánh điện. Ông yết ma với đôi mắt nhắm lại và nét mặt phẳng phiu dễ dãi thường nhật nhuốm một chút lo âu. Không khí nặng nề trùm xuống, nghẹt thở. Tiếng hét từ trai phòng vang lên. Ông lẹ chân tông cửa vào vừa lúc chú tiểu định bước ra, vẻ mặt còn hốt hoảng. Tất cả đứng im lặng quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi cô đang vật vã từng đợt với tử thần. Tiếng nói bà vụt sang sảng như lúc còn ở trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo tỉnh táo, nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền:
– Tôi mới biết thương mình mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng hát cho tôi hát.
– Con ráng học cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
– Tôi chỉ thích sắm vai Ðoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhất?
– Bớ này Tiết Giao! Ô này bạc tình lang! Mặt chàng đẹp trai mà làm chi? Lời chàng ngọt ngào mà làm chi Cổ thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
Cả một quá khứ trôi nhanh lên ký ức bà rõ rệt và nhanh như một đoạn phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà sang sảng vụt dừng lại và dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu nhận hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:
– Hãy cứu tôi, cho tôi uống một muỗng nước mắm thôi.
Cô cháu dâu nhìn bà em họ:
– Mợ ơi! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.
Bà em họ tức mình:
– Ðể tôi đi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn cái chị này sắp về Tây Phương tới nơi mà cũng chưa yên thân.
10. Phần 10 Bình xịt thuốc từ tay một gã coi trại xịt thẳng vào người Hải. Chất bột nhão trắng nhớt nhợt có mùi thuốc sát trùng bắn tung tóe lên tóc tai, cứ như đang xát xà phòng. Người tỵ nạn mới đến bị tẩy uế thật kỹ. Nhóm người Hải theo thứ tự đếm số: bảy mươi lăm người tính luôn cả trẻ con. Tên xịt thuốc đặt bình xịt thuốc xuống đất, móc chìa khóa ở thắt lưng đi mở cửa. Gã mặc đồng phục xanh dương đậm, không mang vũ khí, mặt lạnh lùng như con gà cắt hết tiết. Bốn dãy buồng cửa bằng song sắt tròn, tường bằng đá khối sù sì nằm thẳng góc với cửa chính ra vào xuất hiện. Từ sau song sắt, những khuôn mặt xanh úa túa ra, tò mò nhìn bọn người mới đến. Những đôi mắt lo ngại chia sẻ. Căn dãy buồng tối om dù trần nhà rất cao. Những chiếc giường sắt ba tầng kê sát hai bên tường đá đã chật những người đến trước. Chợt một gã quản trại ngoắc Hải khi anh vừa leo lên một tầng ba theo sự bố trí của một buồng trưởng. – Anh ra đây chúng tôi nhờ. Gã có khuôn mặt trắng nhão như cái bánh đa ngâm nước. Gã dẫn Hải vô một cái phòng nhỏ, bảo chàng ngồi trên cái ghế xoay trước cái bàn nhỏ. Hải nhún nhún thoải mái. – Anh ngồi chép hộ tôi danh sách những người mới tới. Gã nói tiếng Anh không tệ lắm. Gã kéo ghế, móc túi đưa Hải một gói Marlboro vừa mới bóc. Gã bảo: “Cứ hút”. Một tay vừa viết một tay mồi thuốc, Hải hút muốn ngất đi tại chỗ. Người chàng đê mê như sắp lịm dần. Gã quản trại ra vẻ thông cảm: – Anh cứ giữ luôn gói thuốc. Có vẻ chán nản với công việc, bắt chuyện Hải. Thì ra gã thuộc sở Phòng Vệ Nhân Dân (Civil Assistant Service), một tổ chức dân sự thành lập để hỗ trợ cho chính quyền trong trường hợp có tai biến lớn. Họ được chính phủ Hồng Kông trưng dụng để coi mấy trại tỵ nạn và không được trả lương. Qua gã, Hải biết trại này tên là Thanh Châu, một trại chuyển tiếp đón “thuyền nhân” – Hải lần đầu nghe người ta gọi mình là thuyền nhân, sau đó thuyền nhân sẽ được chuyển đi chỗ khác. Điều tuyệt vọng mà gã cho Hải biết là bọn chàng đến Hồng Kông quá chậm. – Là sao? Hải hỏi. – Là các anh sẽ không được coi là tỵ nạn nữa… – Chúng tôi… – Vì kể từ 16 tháng 6, tất cả những người đến trước đó đều được coi là người tỵ nạn. Các anh khác. Rồi các anh sẽ bị Cục Di Dân thẩm vấn thanh lọc, coi có phải tỵ nạn chính trị không, nếu không…tôi không biết… Hải chỉ đến sau ngày ban hành “chính sách dứt điểm” hai tuần lễ định mệnh. Chàng cười tự tin: – Tất cả chúng tôi đều là tỵ nạn. Gã quản trại lại nói “Tôi không biết”. Quả thật, gã không biết thật. Chính sách này mới mẻ và lạ lùng ngay với chính gã. Cái gì mà đến sau ngày đó lại bị coi là boat people? Và chỉ trước một phút lại là refugees? Giữa cái giây khắc mong manh ấy, là cả một định mệnh à! Những người bị cầm chân trên đất Tàu đã bị đói khổ khắc lên đời mình một dấu ấn chối bỏ. Hải hỏi thăm gã danh sách những người đến trước đó. Chàng hy vọng có tên lão Mục và Sương.
Google images
– Họ có thể được đưa thẳng vào đất liền. Tuy nhiên, tôi có thể tìm hộ anh. Bỗng có tiếng la hét từ một dãy nhà vọng ra. Tiếng chửi rủa tục tĩu, giọng đàn bà the thé, giọng đàn ông cộc cằn. Gã quản trại lật đật chạy đi, lẩm bẩm: – Lại đánh nhau. Hải đã chép xong danh sách bảy mươi lăm người cùng thuyền. Bốn chục đàn ông, mười bảy phụ nữ, còn lại là con nít. Mười tám đứa trẻ dưới mười lăm tuổi. Chúng nó cũng là tỵ nạn chứ. Hải bâng khuâng nghĩ. Người ta sẽ dựa vào định nghĩa nào, dựa vào…chàng mù tịt. Chàng mân mê điếu thuốc thơm, chàng nhớ những cữ thuốc lào chia nhau trong một căn nhà tối. Căn phòng chàng đang ngồi cũng mờ đục dưới ngọn đèn trắng. Hơi đá toát ra lạnh lẽo. Hải thèm được ăn, thèm được tắm… bột vôi khử trùng và thuốc tẩy chí rận xịt vào người chàng vẫn còn bám trên người. Gã quản trại đã trở về, vẻ bực dọc hiện lên mặt: – Anh về buồng được rồi. Gã đưa Hải đi theo hành lang hẹp, mở khóa cửa buồng lóc cóc, vỗ đầu một đứa bé tì mặt vào song cửa nhìn gã tò mò, rồi đóng cửa máy móc. Chỉ một giây ngắn ngủi, Hải đã ở bên trong cái buồng hôi hám phân người và nước tiểu. Hải leo lên tầng giường ba, nhìn dãy người xếp hàng vào nhà vệ sinh mà ngao ngán. Những đứa bé nín không nổi, ỉa tòe loe ra nền nhà. Mấy đứa khác bắt chước, cứ vạch quần nhằm chỗ nào không có chân người là đái. Một chị đàn bà tát thằng con trai cởi truồng một cái nảy lửa, quát: – Mồ tổ mày, cơm đâu mà cứ đòi ăn hử. Con mẹ mày cũng đói nẫu cả người ra đây. Thằng bé bị tát oan, ré lên the thé. Lập tức, ông bố từ đâu ở giường bên kia phóng về. Ông bố nắm đầu thằng con đẩy chúi vô mấy cái hộp giấy trống để trên giường: – Tao bảo mầy nín. Nín. Cứ lải nhải tao cho về Việt Nam đấy con ạ. Thằng bé có vẻ sợ, chỉ còn thút thít nước mũi. Cái bụng lép kẹp đếm đủ hai hàng xương sườn của nó giựt giựt theo tiếng nấc. Phía cuối buồng bỗng một giọng đàn ông la toáng lên: – Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi. Giọng một bà trả đũa: – Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào. Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu: – ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à! Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng: – Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…! Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”. Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la giẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địt mẹ, biết thế này ông thèm vào”. Hải bàng hoàng trước cảnh trại giam mà chàng không hề hình dung trước đó. Những chấn song, hai đầu buồng kín đến cả ánh sáng còn thiếu. Ban sáng tàu cảnh sát chở vào, Hải nhìn thấy chỉ cách đảo non cây số thành phố cảng Hồng Kông cao nghều nghệu những cao ốc. Vậy mà chàng tưởng chừng xa xôi cách trở nghìn trùng. Chàng đang ở dưới chân núi, vách đá dựng cao sững mà nhìn qua song cửa, Hải chỉ thấy phẳng lì màu đá trơ xam xám với kẽm gai chất lớp lớp leo lên tới mút tầm mắt. Suốt đêm Hải nghe tiếng sóng rì rầm đâu đó. Chàng tưởng hòn đảo sắp sửa bị cuốn trôi.
Google images
Người đàn ông mặt mày phương phi trắng trẻo, trạc độ bốn mươi. Cái cần cổ béo ụt của hắn choàng sợi dây chuyền bằng vàng ta đính vào cái tượng Phật ngà voi bọc vàng. Hắn bận bộ vét trắng sang trọng, thắt cà vạt đỏ to bản. Cả bảy mươi lăm người trên thuyền Hải xếp thành hai hàng dọc trước mặt hắn. Đôi mắt một mí him híp của hắn lừ đừ nhìn bọn người quần áo bẩn thỉu. Nhắm chừng bảy mươi lăm mạng người sợ sệt đã thấm cái oai vệ toát ra từ mình, hắn quát, giọng như loa sắt ở Hà Nội: – Độc thân đứng riêng qua bên này, gia đình đứng qua bên kia. Mọi người líu ríu đổi vị trí. Một thanh niên ngập ngừng chưa biết đứng theo hàng nào liền bị gã đàn ông tát hai cái “bốp…bốp…” – Đù mẹ mầy, đứng qua hàng độc thân. Hai má người thanh niên xui xẻo lằn đỏ dấu tay. Anh sợ sệt nói: – Bẩm, em có vợ. Gã đàn ông lại giơ tay lên, tính tát: – Mả mẹ mầy muốn qua mặt tao hử. Mầy cặp trên thuyền chứ vợ chồng gì. Hôn thú đâu? Gã đẩy người thanh niên chúi qua hàng độc thân. Hải chụp người thanh niên cho khỏi ngã, nhìn qua dãy gia đình thấy mặt Phú kèn trắng bệch đứng sau lưng vợ. Vợ Phú kèn bồng đứa con gái ba tuổi, sợ muốn ngất liền tại chỗ. Gã đàn ông đi tới đi lui giữa hai hàng như chủ tịch nhà nước duyệt binh. Hắn đi ngang ai là người ấy nhìn xuống đất, chờ hắn qua khỏi mới len lén nhìn trộm. Hắn nói giọng Nam Bộ, tiếng thanh chan chát áp đảo. Thình lình hắn dừng trước một thanh niên khác đứng bên hàng gia đình trợn mắt: – Qua bên kia. – Em có vợ con mà. Người thanh niên mặc quần cụt, hai đầu gi run run muốn sụp xuống. – Đù mẹ mầy lại muốn qua mặt tao hả. Hôn thú đâu? – Dạ…em…không đem theo. Gã đàn ông của cục di dân túm ngực áo kẻ xấu số: – Qua bên kia. Gã nhấc bổng người thanh niên như xách một con gà. “Toạc…”. cái áo người thanh niên rách toạc. Gã lật đật bỏ người thanh niên xuống, rút khăn mùi soa lau tay cẩn thận, rồi quát liền: – Qua bên kia, chờ tát vỡ sọ à. Trong thời gian gã lau tay, một anh có vợ đi theo thật sợ quá, lén nhảy qua phía hàng độc thân. Chị vợ đứng trân bên hàng này, ứa nước mắt. Hai hàng nước mắt lăn lăn làm thành dấu trên bộ mặt chị vợ dơ dáy đen đủi. Dấu nước mắt trên má người đàn bà như hai sợi dây móc từ hàng mi rung động loăng quăng chảy xuống cái cằm tóp nhọp. Gã cà vạt đỏ thình lình chiếu tướng ngay người đàn bà khốn nạn: – Chị kia chồng đâu? Người đàn bà không dám nhìn anh chồng vừa lẻn qua hàng nam độc thân, ấp úng nói: – Dạ…em…độc thân. – Dzậy qua hàng nữ, đứng làm gì đó hử. Người đàn bà riu ríu qua hàng nữ. Có lẽ công an Việt cộng cũng chỉ dữ bằng gã béo này. Gã khuỳnh khuỳnh hai tay đi tới đi lui. Bảy lăm con người nín khe sợ sệt. Hải nghĩ thầm, hắn chắc là…an ninh? Chàng cảm thấy bẽ bàng tê tái cả cõi lòng, những hồ hởi phấn khởi khi thấy ánh đèn Hồng Kông tiêu tan như đốm than nhúng vào nước lạnh. Khí thế gã áp đảo quá, thậm chí mấy đứa con nít núp sau cửa sắt cũng co rúm lại, kinh hoàng. Gã béo lại quát lên: – Đứng yên cả đây chờ tao cho đi mới được đi. Gã vô văn phòng báo cáo với hai nhân viên Cục Di Dân bằng tiếng Quảng. Gã xoa tay, vẻ khúm núm trước cặp mắt sắc lạnh của sếp. Một chập, gã hùng hổ đi ra nói: – Nữ đi lối này, nam đi lối kia, gia đình thì vào cả đấy. Người đàn bà bị bắt làm gái độc thân khóc thút thít, vừa đi vừa ngoái lui. Anh chồng đôi mắt cũng đỏ hoe, cứ theo sức đẩy của người đi sau mà về buồng.
Google images
Sáng hôm sau, Hải được người quản trại thuộc sở Phòng Vệ Nhân Dân CAS cho biết gã béo chỉ là thông ngôn viên cho Cục Di Dân, mục đích đến Thanh Châu để tìm người Đại lục trốn theo thuyền vượt biển vì người Đại lục sẽ bị trả ngay về Trung Quốc. Gã béo trước kia ở Sài Gòn, về Hồng Kông năm 1972 và được tuyển làm thông ngôn khi số người vượt biển đến Hồng Kông càng lúc càng nhiều. – Chỉ thế thôi ư? Hải hỏi, vừa tức vừa sợ. – Thì cũng…đồng hương của anh đấy. Gã CAS cười khó hiểu. – Ai lại… – Rồi anh sẽ còn gặp nhiều phiền toái nữa. Gã CAS nói, gã không có ý dọa Hải. Gần một tháng sau thì Hải được lệnh chuyển trại. Chàng lại nuôi hy vọng về cái đời sống bí mật bên ngoài cái vách đá lạnh của Thanh Châu. Hải sợ hãi cuộc sống ở đây. Như những con người nghệ sỹ khác, chàng bàng hoàng trước cảnh đời xôn xao nhiều mặt trái. Chàng co rút người sống trong vỏ ốc. Chàng giấu kín mọi tâm tư ước vọng trong những ngày dài sau tường đá. Dường như không còn gì để nói giữa chàng và Dũng, giữa chàng và người bạn văn nghệ Phú kèn, ngoại trừ chia nhau cái điếu cày khi xin đâu đó được nhúm thuốc lào. Hải chứng kiến những đoàn người rách rưới tả tơi như chàng thi nhau đến Thanh Châu. Mặt mày lơ láo còn nguyên nét kinh hoàng về cuộc hải trình, bộ trình khốn nhọc. Hải có cảm tưởng đôi mắt của đồng bào chàng như đôi mắt của loài thú hoang, vừa loang loáng vừa sợ sệt, vừa hy vọng vừa tuyệt vọng. Những cô gái chân đất, ống quần rách tả tơi, đôi mắt cụp xuống tưởng như cả thế giới này chỉ có mặt đất là đáng chú ý. Có thể đúng như vậy thật. Tiếng khóc ỷ ôi của bầy trẻ thiếu ăn. Đôi tai âm nhạc của chàng chỉ lắng nghe tiếng khóc của đời, của những lạc loài trên đất khách, của những phiền não câm lặng. Có thể nào chàng sinh nhầm thời và chọn lầm nghiệp chăng. Hải bao lần tự hỏi, những bài ca mà chàng ấp ủ ở quê nhà, rồi sẽ được hát to giữa những con người khốn khổ bị bao vây bằng nước mặn và núi xám trùng điệp này chăng? Hải ra khỏi hành lang hẹp, chóa mắt khi chân đặt lên cầu tàu, lên tàu cảnh sát. Hai bên và trước mặt Hải tàu bè rộn rã, những cao ốc sáng chói dưới ánh mặt trời. Cả một bầu khí sinh động lần lượt diễn ra trước mắt. Những người đi cùng với Hải há hốc mồm, kinh ngạc. Chỉ non mười lăm phút là chiếc tàu cảnh sát đưa bốn trăm mạng người đến ngay trung tâm Hồng Kông. Hải đi theo đoàn người như máy, leo lên một xe bọc lưới trước những cặp mắt tò mò của người qua đường. Đoàn xe dài hai mươi chiếc nối đuôi nhau chen lách giữa đường phố chật hẹp. So với những chiếc xe chở người chật cứng ở Việt Nam thì loại xe chở tù của Hồng Kông quả thật tử tế. Những đường phố tráng lệ và sự thịnh vượng của đất nước có thể thấy trên khuôn mặt no đủ của người dân. Thậm chí, con đường hầm xuyên dưới biển dẫn qua Cửu Long còn sáng hơn đất nước cực kỳ tối tăm của Hải. Hơn một tiếng sau, chiếc xe đầu tiên ngừng trước một trại giam giữa lòng đảo Cửu Long. Hải hỏi một nhân viên Cục Cải Huấn: – A Cố, trại nầy tên gì vậy? – A Kai – Lẩu – Cái đấy. (trại giam argyle). Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước. Hải được xếp chung “giường” với một cậu bé chừng mười tuổi. Cậu ta liến thoắng khi Hải vừa ngồi xuống tấm ván: – Anh mới đến phải không? Em biết từ hôm qua kia đấy. – Sao em biết? – Họ báo trưởng buồng chuẩn bị nhận người hôm qua lận. Trước em ở với cặp vợ chồng… Cậu bé ngập ngừng bỏ lửng. Một chập mới nói: – Em tên Thơ đấy. – Anh tên Hải.
Google images
Thơ cười. Khuôn mặt đen nắng, tóc dài chấm vai khiến Thơ có vẻ già trước tuổi. Thơ cởi trần, mặc quần cộc, gia tài của nó là cái ca nhựa màu vàng tươi, một cái muỗng đỏ cũng bằng nhựa, hai thùng mì gói trống, một tấm chăn xám. Nó bảo anh cũng được phát như thế. Hải ngã lưng trên tấm ván thiu thiu ngủ, nghe thằng bé dặn chút xíu để em đi lãnh cơm, anh cứ ngủ đi nhé. Nó có vẻ phấn khởi vì không phải ở chung với cặp vợ chồng nào đó nữa. Thơ được mẹ đưa xuống thuyền vượt biển ra nước ngoài để “cho tương lai con sáng sủa, mai mốt bảo lãnh thầy mẹ. Thầy mẹ nghe đồn xứ ngoài trọng con nít nên yên tâm để thằng bé đi một mình”. Hai tháng từ ngày xa gia đình đã dạy cho Thơ đủ điều. Thằng bé trưởng thành và hội nhập mau chóng vào thế giới xung quanh. Nó biết cả chuyện chăn gối của người lớn nhờ cặp vợ chồng lục đục cạnh nó vào buổi tối. Nó biết tên những thằng A Xòe hay đánh người trong trại, mấy con “cú lường” ế chồng mặt mụn chỉ chực nhéo tai con nít. Nó còn bày trò đánh nhau với bọn trẻ khác gần một cú lường hắc ám nào đó để xô cho cô ả té ngã trên đường rãnh bẩn nước. Thơ kể mấy chuyện đó với Hải, hả hê và kết luận như một ông lão: – Em bày trò thế cho đỡ nhớ nhà. Và ở đây chẳng học hành gì cả. Rồi anh coi! Thằng bé chạy vụt đi. Một người trạc độ bảy mươi tuổi kế giường Hải cười khành khạch. Ông già nửa nằm nửa ngồi, thân hình co rút trong lớp da nhăn nhúm khô như đất. Những đường gân máu trên cổ, trên tay càng khiến ông trông như một người mắc bệnh lao thời kỳ cuối. Mà kìa, ông ho sặc sụa, chĩa mồm qua hỏi Hải khi cơn ho chưa ngớt. – Ở đâu tới? khục…khục… – Cháu ở Thanh Châu. – Tôi cũng ở đấy. Thế chưa vợ con gì hết à? Hải nói: – Chưa đi được bác ạ. – À thế, khủ khủ khủ…e…hèm! Ông chòm xóm ho một hồi, lại bắt chuyện: – Cậu người Hà Nội à. – Vâng. Chợt nhớ ra: – À, tôi là Thâu, mọi người cứ gọi là Sâu Róm. Hải nhìn ông Thâu, trông giống một con sâu rọm già không còn cả vỏ để thay da. – Cẩn thận đấy nhá. – Sao cơ? – Thằng bé ở chung với cậu đấy. – Vâng. Hải “vâng” nhỏ. Chàng thấy không có điều gì cần cẩn thận với đứa bé con. Chàng hỏi: – Bác năm nay được bao nhiêu? – Sáu mốt cậu, chết đến nơi rồi. E hừm. “Vậy mà sợ đứa nhỏ”, Hải tính nói, lại thôi. Hay là cảnh cáo ông Sâu Róm chỉ là căn bệnh thích như thế của những tâm hồn già? Chợt có tiếng gọi: – Này bác Sâu Róm ơi! Người thanh niên đứng me mé trên tấm ván, nháy nháy mắt với ông Sâu Róm. Ông ta bảo khẽ: – Thằng Thịnh đấy, nó có cái gì cho ăn rồi. Cùng làng tôi cả. Vẻ mệt nhọc của Sâu Róm biến mất, ông ta nhỏm phắt dậy, kề tai Thịnh nói nhỏ, xong hất hàm ra dấu Hải đi theo. Ba người đi hàng một vì lối đi chỉ bằng dấu chân. Ra khỏi buồng, Thịnh nói: – Về chỗ tôi chơi. Sát buồng anh đấy.
Google images
Thịnh được phân một mảnh vuông ngay góc buồng. Có lẽ mỗi buồng chỉ có bốn góc sát vách là riêng biệt “kín đáo” nhất. Vợ Thịnh chờ ba người ngồi xuống, kín đáo giở cái khăn đậy đĩa bánh tráng cuốn, Sâu Róm ầm ừ: – Nhất vợ chồng nhà này đấy nhé. Cái Hà đâu? – Nó về ngay đấy. Thịnh đáp, bảo cái Hà là em tôi. Vợ Thịnh cầm một cuốn trao cho Hải, chén nước mắm có dầm cả ớt đỏ coi sâu sắc giàu mạnh như xã hội chủ nghĩa. Sâu Róm móm mém nhai, hỏi: – Vợ chồng mầy kiếm đâu ra của tiểu tư sản nầy? – Ông lại trêu, bộ tiểu tư sản mới có đồ nầy sao? Thịnh nhai nuốt nhồm nhoàm, vẻ tự tin và hưởng thụ. Thịnh du học ở Tiệp Khắc, đỗ kỹ sư công nghiệp. Về nước thấy đời sống càng tệ hại khi so sánh với Tiệp Khắc, anh chán nản lấy vợ, vẫn cứ chán, quyết định dắt theo cô em gái mười tám tuổi vượt biên. Thịnh hỏi gia cảnh Hải, cắn một miếng cuốn chia buồn, rồi bảo: – Cái giá của tự do là thế. Cơ bản mà nói vinh quang nào không trả bằng xương máu. – Mầy bảo thế này là vinh quang à? Sâu Róm há mồm cự, thức ăn còn mắc ở nướu răng. – Cái gì cũng tương đối thôi. So với bác ngày xưa, cái nầy không vinh quang là gì. – Ừ phải. Nhưng tao chỉ nông nỗi vì cái thời buổi chó chết này thôi. Ngày xưa tao đâu đến nỗi. Thịnh đã ăn xong, rút cái khăn treo trên vách chùi mép, bảo vợ pha chè, nói: – Nói như bác thì còn nói làm gì. Cháu hỏi: thế không có bọn người…như bác, xin lỗi bác nhé, cháu không có ý nói bác đâu, thì nước ta đâu đến nỗi… – Mầy đổ lỗi… -…điển hình là Tiệp Khắc ấy, cũng cộng sản như ai, mà nhân dân có khổ như ta đâu. – Mầy chỉ nói xàm. Tao làm gì mà lôi kéo vô cái tội tày đình ấy. Nói có cậu Hải đây, tôi chỉ là thằng già vô dụng. – Chính vì thế. Thịnh vỗ tay. Bác tự cho mình là vô dụng, chứ nào phải thế. Cộng sản nó thắng là bởi những người tự cho mình vô dụng. Sâu Róm đỏ mặt, cười gằn: – Mầy hay. Thế mầy làm gì được nào? Cũng chạy như tao thôi. Chống đối tiêu cực đấy. – Đúng thế. Nhưng cháu biết mình sai ngay từ đầu, chứ như bác, mãi…mới biết mình sai. Thế cứ như cải cách ruộng đất đấy, sai rồi sửa sửa rồi sai. Khối người chết. Sâu Róm tợp ngụm nước, không muốn cãi lý với Thịnh nữa. Trọn đời Sâu Róm chỉ có thần tượng Hồ Chí Minh. Sâu Róm đi theo con đường của Bác, tiến nhanh tiến mạnh xuống vực thẳm. Dù thế, Sâu Róm không bao giờ muốn chối bỏ thần tượng của mình. Bao nhiêu tội lỗi Sâu Róm đổ cả lên đầu hậu duệ của Bác. “Nếu bác còn sống, nhân dân ta đâu đến nỗi nầy”, Sâu Róm lý luận và cố gắng tin như thế để khỏi thấy uổng phí cả đời tin vào huyễn tượng của mình. Thịnh bồi thêm: – Cả đời bác, có bao lần ăn được một bữa như thế này nào. Cái đích của con người là cơm áo mặc trước đã, sau đó mới đến cái gọi là tinh thần. Bác cứ đi ngược. Thịnh mò tay vào túi móc ra đúng ba điếu Marlboro. Anh học cái mốt hút Marlboro của thanh niên Hồng Kông mau chóng. Có lẽ nhờ cái màn ảnh nhỏ trong trại thường xuyên loại thuốc lá nầy. Hải ngạc nhiên: – Làm sao anh có được? – Cứ có tiền là có hết à. Nhờ mấy thằng A Cố đấy.
Google images
Vừa lúc đó một cô gái bước lên ván, tay xách đôi dép nhựa mới toanh. Cô khe khẽ đi men theo vách. Thịnh bảo: – Chừa phần cho em đây. Đi đâu lâu thế. Sâu Róm như thoát nợ bị Thịnh hạch tội, nói: – Cái Hà diện đẹp nhỉ. Anh em nhà mầy lại tiểu tư sản. Hà khép nép gật đầu chào Hải, ngồi xoay mặt vô vách ăn cuốn. Trái tim Hải thắt lại một khắc trước vẻ đẹp lộng lẫy của Hà. Vẻ đẹp của một bông hoa vừa nhú, mơn mởn như loại trái vừa ươm hồng. Bộ bà ba sạch sẽ của Hà nổi bật lên giữa những người còn mặc áo quần đem theo từ Việt Nam. Thịnh nói: – Bác lại thành kiến. Của Cao ủy cho nó đấy. Mái tóc Hà lắc lắc về phía Hải theo động tác lên xuống đang ăn. Khói thuốc phả trắng trước mặt Hải, lờn vờn cái lưng cong của cô gái. Cô gái đã ngốn hết mấy cái cuốn, kín đáo chùi mép rồi mới quay lại. Đôi mắt đen không lớn quá, nhìn phớt qua Hải, mỉm cười. Hải thấy lòng chao động thật sự. Chàng vờ nhìn tách chè nhưng lạ lùng thay trong màu nước sóng sánh ấy chỉ thấy chiếc mũi thon nhỏ, đôi môi hồng của cô gái. Hải tự mắng mình: “Rõ khéo, lại…tiếng sét ái tình à. Đâu có dễ thế được”. Hải châm trà từ cái ca nhựa, cố lấy vẻ tự nhiên bằng cách uống ngụm nước đắng. Chàng đặt cái tách xuống, đôi mắt chợt nhìn đúng vào chiếc nhẫn cưới còn đeo tay. Hải đã giữ nó suốt cuộc hải trình. Cái kỷ niệm giữa chàng và Thu. Nỗi ngậm ngùi về người vợ thủy chung xấu số. Những đêm giông bão. Những vì sao vỡ nước trên trời… Thịnh thình lình hỏi em gái: – Thế em có biết chừng nào khai trường không? – Các anh ấy bảo chắc tuần tới. Anh là hiệu trưởng lại hỏi thế. – Em có được học không? Hà lắc đầu: – Em nhớn thế này. Hai anh ấy bảo nhiều lắm chỉ đến lớp 9. Sâu Róm hỏi: – Thầy cô giáo sắp xếp như thế nào? – Cháu nghe còn thiếu thầy phụ trách bộ môn nhạc thôi. Thịnh reo lên: – Thì thầy Hải đây này. – Vậy cơ. Hà cũng reo lên. – Tôi chẳng hiểu gì cả. Hải nói. Thịnh giải thích: – Có hai anh ở nước ngoài về làm thiện nguyện ở trại này. Họ phụ trách công tác giáo dục, kêu gọi bà con cho con em đi học, sắp đặt giáo viên. Coi cũng xôm trò lắm. Sâu Róm bàn ngang: – Học với hành gì, sống như thế này. Hà cãi: – Bác cứ bảo thế, các em nó bớt nghịch cũng hay chứ, phải không anh…Hải. – Học được là một vận hội. Hải tiếp ứng. Sâu Róm nhìn Hải: – Tôi…đồng ý giá trị của học vấn. Nhưng trong hoàn cảnh thế này tôi chẳng thấy sẽ có vận hội gì… Hải nói: – Chỉ sợ người làm công tác giáo dục không được khích lệ và đánh giá đúng mức vai trò của mình. – Ừ thế, làm công tác văn hóa mà lại. – Bác nói sao? – Thì giáo viên là người có văn hóa, đem văn hóa… – Không…hẹp như thế đâu bác. Hải cắt lời Sâu Róm. Giáo dục chỉ là một trong nhiều khía cạnh của đời sống, văn hóa không phải chỉ có giáo dục.
Google images
– Cậu nói sao lạ. Tôi lấy thí dụ nhé: trong tờ khai sơ yếu lý lịch của mọi người, có câu “Trình độ văn hóa”, vậy chứ cậu ghi làm sao ở đấy? – Cháu sổ toẹt. Trình độ văn hóa mà ghi lớp mấy, hay trình độ đại học, văn bằng vân vân thì hẹp hòi quá. Đi cày cũng là văn hóa vậy, thậm chí, xin lỗi bác, đi ỉa đồng cũng là văn hóa… Thịnh cắt: – Ông nói tôi nghe được đấy. Nhưng thôi, để khi khác. Tôi phải đi họp với anh em buồng trưởng. Thịnh đứng dậy trong khi Hà cứ cười rúc rích khiến Hải bỗng dưng ngượng vì câu nói… “văn hóa” của mình. Chàng chào Hà với vợ Thịnh, đi qua buồng bên cạnh tìm Dũng. Đợt chuyển trại chỉ có Dũng là quen biết, Phú kèn còn ở lại, nghe nói sẽ chuyển về Chi Ma Wuan. Riêng Mân, có lẽ còn ở Thanh Châu. Hải không hiểu cùng chung thuyền mà bọn chàng bị cắt đi làm nhiều mảnh. Tiếng loa sắt gắn đầu buồng đọc tên người dồn dập, rộn ràng.
9. Phần 9 Mười hai ngày trôi qua trên thành phố ma. Cơ thể họ đã cạn kiệt sinh lực. Họ không còn sức để nói với nhau nhiều như trước. Mấy hôm đầu, Hồng lão nhường cho ít cháo, nhưng càng ngày thì lượng cháo càng ít dần vì chính Hồng lão cũng không có ăn, mỗi người chỉ đủ một chén lưng. Hằng ngày, Hải và Dũng thay phiên nhau ra ngồi trên bãi vắng, mắt đăm đăm nhìn ra biển ngóng một chiếc thuyền tỵ nạn nào đấy tạt vào. Đêm, họ đốt lửa sáng một góc núi, vừa sưởi ấm vừa làm tín hiệu cấp cứu. Cơ thể họ sắp trở thành bốn ông lão quên lối về. Tóc đã dài chấm vai, mắt thụt vào sâu bằng hai vỏ ốc chết trơ vơ trên bãi, áo đã mủn, quần đã rách, còn lại là da thịt chen màu đất chết. Hai nhánh cây làm gậy của họ gõ lách cách trên đường vắng nghe như tiếng mõ biếng lười. Hải tìm được một thứ trái nhỏ bằng quả mít non, ruột tím như sim, mọc quanh một đại thụ. Chàng ngâm trái tím với nước biển cho bớt chát, lớp vỏ mỏng trầy trớt thẳm tím cả tay. Đó là thực phẩm duy nhất họ tìm được trong rừng, không kể vài con cá ốm tong teo Hồng lão chia cho. Con mực lâu lâu đánh mùi cá lại xuất hiện đứng rình chừng, nhưng có lẽ nó là con chó khôn nhất trần đời. Có khi Hải đứng rình sau một góc phố, lăm lăm khúc cây sẵn sàng giáng xuống thì bỗng đâu từ sau, nó vụt chạy qua mặt Hải nhanh như cắt. Cách một quãng nó dừng lại, bốn chân dang ra quay đầu ngó lui khiêu khích. Hải nhìn con mực thèm nhỏ dãi. Cái thân hình còm cõi của nó dư sức nuôi sống ba người cả tuần lễ. Chàng thấy dùng sức mạnh không xong, làm bộ đưa tay vẫy vẫy con mực, “Chặc…chặc…”. con mực nhìn Hải nghi ngờ, đôi mắt long lanh ma quái. Chưa bao giờ trí óc của một con người lại ngu hơn một con chó hoang như thế. Sương quanh quẩn gần căn nhà làm chỗ ngủ nghe Hải tả màu mây, màu cát vàng, hình dáng con mực, màu tím đậm bâng khuâng của quả rừng. Nàng bảo: – Em chưa ăn thịt chó bao giờ. Hải bảo, một hôm có ả chó chết xuống gặp diêm vương. Diêm vương hỏi cớ sao ngươi chết. Chó đáp người ta đập đầu tui, cắt khúc tui ra, lòng mề để qua một bên, tim gan để qua một bên, đùi thì chiên, sườn thì xào với lá…Sương cười khúc khích. Nàng bảo anh nói xấu mai mốt chết không được đầu thai. Nàng vòng tay qua cổ Hải, thì thầm: – Nhỡ em chết trước thì sao? Hải cười tỉnh, không có chuyện đó, ít bữa thuyền tỵ nạn tới mình cùng đi bây giờ. Sóng mũi Sương cọ vào má Hải, nhồn nhột hơi thở ấm của nàng trong khuya lành lạnh. Dục vọng bỗng dâng lên trong lòng Hải. Chàng nghe thân thể mình cựa quậy, căng thẳng. nhưng liền khi ấy, cơn ham muốn lại bỗng như chiếc xe đã gài hết số mà dốc thì cao vời vợi. Chàng nghĩ đến mùi thịt chó, chàng nghĩ đến một bát canh cá thơm sừng sực. Chàng nghĩ mình đã thành người cô quạnh trên đời nầy. Có vẻ như chàng chỉ còn gần gũi một cô gái tàn tật, một cô gái sống rất thật với lòng mình, sống rất thật với người mà nàng thương yêu. Nàng đã là của chàng, từ cái hôm đầu tiên khi nghe tiếng chó tru đã nằm gọn trong lòng chàng, co rút sợ hãi. Bây giờ nàng đã là của chàng, đã yêu chàng, nhưng chàng không còn sức để bày tỏ, để giữ nàng, cho dù hai tay đang ghì lấy tấm thân nhỏ bé hiền hậu của nàng. Cuộc hành trình, hoang địa, tất cả đã giết chết mầm sống nuôi dưỡng yêu thương.
Google images
Sáng ngày thứ mười ba. Nắng hè chói lòa rực rỡ. Thốt nhiên từ phía rừng tiếng kên kên rít the thé. Chao lượn trên bầu trời hồng nhạt. Dũng buột miệng: – Phải gì hạ được một con… Anh chống gậy ra biển. Cái thân hình lực lưỡng ngày nào còm xuống, xác xơ như con gà trống sau một trận đá căng thẳng. Hải mơ màng nói: – Tại sao chúng cứ lượn vòng vòng thế? Chàng chống gậy ngược hướng lên rừng, tạt vào bể xi măng, chiêu một ngụm nước đầu ngày. Chàng nghe tiếng của bầy kên kên lớn độc địa. Thốt nhiên Hải lạnh xương sống. Chàng ngừng lại bên bìa rừng để thở. Người chàng nhẹ như bông gòn bay lững thững giữa trời. Hải thở, mắt hoa lên, rồi gắng gượng chống gậy vô sâu hơn. Ánh nắng nhạt dần, rừng càng lúc càng dầy đặc. Mùi lá mục bốc lên ngây ngấy. Tiếng kên kên quần quật trên đầu inh cả óc. Hải đánh dấu mấy khúc cây sợ lạc. Chàng chưa bao giờ đi hướng này vì những cây kiền kiền trông giống nhau như tạc, rất khó tìm lối ra nếu không nắm chắc phương hướng hoặc quen đường. Xung quanh chàng giờ đây là hàng cây trơn trợt tựa như có bàn tay ai xát mỡ vào. Hải lại thấy chóng mặt, phải tựa đầu vào thân cây nghỉ. Chàng định quay lui nhưng hai chân cứ dính chặt trên đất. Như có một tiếng gọi vô hình giục chàng đi tới, đi tới. Chàng lảo đảo đi tới nữa, một vật gì lo ló trước mặt, vật đen nhảy múa giống như khi đi thuyền nhìn thấy hòn đảo lắc lư ở xa. Một mùi khăm khẳm bốc đi. Tiếng kên kên long óc nạt nộ trên đầu. Mắt Hải vẫn quáng gà. Cả bầu khí bị bầy chim quấy động hỗn loạn. Ô kìa, Hải lắc đầu thật mạnh. Một xác người nằm nghiêng. Mùi xác rữa đã hơi nặng. Hai cái xác chứ không phải một. Cái xác ở trên ôm choàng cái xác ở dưới, cánh tay cong xuống tham lam ôm trọn cái xác kia vào lòng. Hải thở hồng hộc, lắc đầu để chắc mình không lầm. Cường, chính hắn là cái xác nằm dưới, hai tay xếp vào nhau, mặt nghiêng trên đất, đôi mắt trừng trừng nhìn Hải. Người Cường phình to như cái lốp xe hơi bơm cứng. Khuôn mặt nhăn nhúm vẻ bất trắc. Cái xác nằm đè một bên Cường chính là cô gái đã bị đưa qua tàu Trung Quốc hy sinh thân xác để cứu cả thuyền. Mân, chính Mân, Mân nằm úp đè một nửa lưng Cường, cánh tay vòng qua ngực Cường bảo vệ xác gã con trai khỏi mồm miệng của lũ kên kên bay lượn. Hải sờ soạng khuôn mặt lạnh băng của Cường, ngăn sự xúc động đang làm mờ cả mắt. Cường đã chết thật, xác anh bốc mùi khăm khẳm. Hàng kiến đỏ bò quanh trên tay trên mặt tử thi. Hải lật ngửa cô gái, tần ngần cầm mạch tay cô gái xấu số, Hải cảm được sự động đậy dưới lớp da lạnh lẽo. Chàng lấy hết sức gọi tên cô gái dồn dập: – Mân… Mân…Mân! Vẫn bất động. Hải ân hận không mang theo một bình nước nào. Chàng ngó quanh bắt gặp một hố đất sụp đủ nhét xác Cường vào đó. Hải hì hục kéo cái xác nặng hơn trọng lượng người chàng xuống hố, mồ hôi vã như tắm. Chàng lượm cây gãy đậy lên xác Cường để che mắt lũ kên kên. Hải cởi áo lót dưới người Mân làm võng, rồi cứ thế kéo đi xềnh xệch. Hơi thở Hải đứt từng quãng ngắn, cổ chàng nghẹn vì khát. Hải tưởng chừng mình không thể nào đi nổi nữa. Chàng quá đói, ruột nóng như hòn than đỏ, chàng muốn gục xuống ngủ một giấc. Chàng đã ngồi nghỉ lâu quá rồi. Nhưng rồi nhìn khuôn mặt thật thà của Mân, đôi mắt mở của Cường giục Hải đi, Hải đi. Thời gian dài thế kỷ, lối ra dài vạn lý. Hải không còn tỉnh táo để định hướng nữa. Cứ thấy lối nào dễ là đi. Tiếng kên kên xa dần. Bằng một cách nào đó Hải đã kéo được Mân ra tới bìa rừng. Dường như chàng đã ngất, hoặc sắp sửa ngất đi nhiều bận. Khi Hải bừng mắt ra lần thứ nhất, chàng tưởng mình chưa ra khỏi rừng. Chàng mở mắt ra lần nữa, xung quanh chàng có Hồng lão, có Dũng và bàn tay Sương đặt trên trán. Chàng chỉ kịp quơ tìm tay Dũng, thều thào: “Cường chết trong rừng” rồi lịm đi mê mệt. Hải mơ hồ nghe Dũng hét, vai chàng bị lắc mạnh. Chàng nghe xung quanh ồn ào náo động, những âm thanh như chọc vào phần mềm nhất của não. Chàng lại ngất đi nữa. Khi tỉnh lại thì xung quanh Hải chỉ còn bóng tối. Thân hình ốm nhom của Sương đang áp sát vào người chàng, hình như Sương đã ngủ, tiếng thở nàng đều đều. Hải ôm cái thân hình mảnh khảnh, bỗng như sự cô độc và im lặng biến thành một âm thanh quánh đặc, gõ thành tiếng trong lòng Hải.
Google images
Chàng còn sống ư? Lạ quá! Chàng còn sống và còn nằm đây, ôm vào lòng người đàn bà thứ hai đến với cuộc đời. Hải vuốt tấm lưng dài thon nhỏ của Sương nhè nhẹ. Chuyện gì đã xảy ra, chàng đã mê bao lâu rồi? Hải không biết, dường như có một khoảng hở dài lắm từ giây phút này ngược về quá khứ. Có lẽ đến một lúc nào đó, chàng sẽ không còn cảm thấy cô đơn khi nằm bên Sương nữa, bây giờ, cõi lòng chàng nguội lạnh vô cùng. Hải mở mắt vì sức nóng của mặt trời. Hình như là tiếng ve kêu ròn rã. Chàng thấy mình nằm trên cát ấm, có Dũng ngồi bên thả mắt nhìn ra biển lặng. Hải cầm tay bạn cảm xúc: – Ông đưa tôi ra đây à? – Ừ. Dũng đáp, vẫn bất động. Một lúc lâu, dường như hai người đều không muốn lên tiếng. Không khí buổi xế trưa trong lành. Mặt trời lên, càng lúc càng chói. Lâu lắm, Dũng kể. Anh đi theo vết đất mà Hải để lại do kéo Mân. Dũng tìm thấy chỗ Hải đậy xác Cường không khó. Bầy kên kên đang hất bỏ đống cây đậy tử thi. Dũng ngồi bên xác em, lòng đau đớn đến độ người anh lạnh giá, không khóc được. Cho đến khi trời chập choạng, Dũng khiêng xác em về. Anh ra khỏi rừng thì không còn thấy đường đi nữa. Dũng để Cường trong một ngôi nhà, ở lại suốt đêm với người em xấu số. Sáng hôm sau, anh dùng cây khoét đất, khoét mãi đến quá trưa mới đào được cái huyệt chôn Cường. Lúc đó Hải vẫn chưa tỉnh. Hồng lão câu được hai con cá lớn bằng bàn tay, nấu cháo, rồi nhường cả phần mình cho Mân và Hải. – Thế ra tôi ngất suốt ngày! – Ừ, cái Mân tỉnh trước. – Tại sao cô ấy lại ôm xác Cường. Dũng bảo, cô ấy kể chuyện cũng như bốn lão già kia. Cứ nhát gừng từng miếng. Nguyên buổi chiều ấy Cường cứ đuổi mãi con mực mà bắt không được. Anh phần cáu mệt, nhưng quyết không bỏ cuộc. Cường bảo Mân đứng chặn một góc đường, khi nào nghe tiếng anh la “đập xuống” thì cứ lấy gân mà giáng khúc cây vào con mực. Mân đứng chờ mãi không nghe tiếng Cường hô đập mà chỉ nghe tiếng Cường la hét càng lúc càng xa mãi trong rừng. Mân sợ hãi rời chỗ núp, vừa lúc thấy Cường đang đuổi theo con mực sát nút. Con chó tinh ranh cứ nhắm hướng rừng mà lủi. Dường như nó đánh hơi biết chạy loanh quanh trong phố thế nào cũng có người rình. Mân hối hả chạy theo, trong thâm tâm Mân muốn có cái gì để ăn, phần muốn trả ơn Cường đã bênh vực mình hôm nàng bị bắt dâng cho tàu đánh cá Trung Quốc. Cứ thế, con chó chạy trước, Cường ở giữa, Mân theo sau cùng. Chạy một lúc thì bóng Cường mất hút, Mân cũng vừa nhận ra là mình đã ở trong rừng cây rậm muốn lui cũng không còn đường. Mân nghe văng vẳng tiếng Cường khi được khi mất. Nàng sợ hãi quay ra nhưng cứ loanh quanh mãi trong rừng, cứ như bàn chân đặt tới đâu thì cây hiện ra liền tới đấy. Mân cất tiếng gọi Cường, gọi Dũng, nhưng bốn bề chỉ trả lời một âm thanh ghê rợn. Nàng chịu đựng ba đêm liền, nàng ngắm từng đàn đom đóm lẫn với lân tinh vòng vo trêu ghẹo. Mân nghĩ chắc mình sẽ chết. Ngày thứ tư Mân gặp một rừng cây trái tím. Nàng ăn trái tím thêm hai hôm nữa rồi cứ loanh quanh tìm hướng ra. Mân không còn sức đứng, chỉ còn bò trên đống lá mục, ngất đi, tỉnh dậy lại bò. Rừng trái tím như một loài cây ma hiện hồn vì chỉ ngày hôm sau Mân không biết nó ở đâu nữa. Xung quanh toàn cây dại giống nhau như tạc. Mân đói quá, thỉnh thoảng bắt được con sên đập chết rồi nhắm mắt nuốt sống. Mân mò tới mò lui giữa rừng lá cho đến khi thình lình đụng phải Cường đang nằm ngất. Cường cũng chỉ ngất vì đói. Có lẽ anh không được may mắn như Mân là tìm ra rừng trái tím. Mân ôm Cường như vị cứu tinh của đời mình trong cơn bĩ cực. Khi Cường hơi tỉnh nhìn thấy Mân ôm mình, anh còn đùa bảo thế nào anh Dũng cũng đem thịt cầy đến. Thế rồi Cường mê đi. Mân cứ ôm siết lấy Cường. Mân không biết là Cường đã chết lúc nào, chỉ mơ hồ nhận biết thân hình người con trai càng lúc càng lạnh, buốt cứng như tảng băng cô độc giữa rừng. Khi biết chắc là Cường đã chết, Mân mới bật khóc một tiếng ngắn. Nàng biết mình rồi cũng chết như Cường nên lòng không sợ hãi cứ ôm cái xác từ lúc bắt đầu giá lạnh cho đến khi khẳm mùi, rồi lịm đi, thấy thân mình nhẹ nhàng bay bổng.
Google images
Hải ngồi dậy. Chàng nổi gai ốc hình dung một cô gái ôm xác chàng trai giữa rừng sâu lạnh lẽo. Dũng nói, tiếng nói đã hết dõng dạc ngày nào: – Tôi, tại tôi…nếu hôm ấy bọn thằng Cảng bỏ đi, và mình không nghĩ là có Cường trên ấy… Hải biết là chính chàng cũng gánh trách nhiệm trong cái chết của Cường. Nếu cả chàng và Dũng vào rừng hôm ấy…Chàng sực nghĩ tới Sương, tới Mân. – Hai cô ấy đâu? – Cái Mân nó nằm dài ra đấy, ai đưa gì thì ăn chứ chẳng động đậy gì. Tôi e thêm vài ngày nữa thì người kế tiếp là Sương đó. – Có thể là tôi. Hải nói. – Là cậu, là tớ… Đột nhiên, Dũng nhỏm dậy, đưa tay chỉ: – Trông kìa, có thuyền… Một chấm trắng xa tít chân trời. Chấm trắng tiến vô bờ chậm như đứa trẻ tập bước, nghiêng ngả, chập chờn. Lâu hơn một tiếng đồng hồ hình ảnh cánh buồm mới rõ nét. Những đầu người lố nhố. Nước mấp mé chực tràn vào khoang chiếc thuyền buồm dù biển lặng phắt như mặt hồ. Chiếc thuyền con chầm chậm trôi vào bờ, Hải nom rõ những bóng người nhảy xuống nước, lội thẳng vào bốn cánh tay vẫy của Hải và Dũng. Mép thuyền cao lên một chút vì sức nặng đã giảm. Những bộ tóc bù xù tổ quạ, những hàm râu quăn tít của người mới đến bay phất phất trong nắng trưa nhạt nhòa. Địa ngục biển. Một người đàn ông xấu đến trước mặt Dũng, nói tiếng Quảng bập bẹ. Dũng dang rộng cánh tay, cười lớn: – Việt Nam đây mà. Cả nhóm người la lên một tiếng, một triệu câu hỏi ập xuống. Người trên bờ hỏi, người mới tới hỏi. Những nét mặt đang tươi bỗng sạm đi khi nhận ra tình thế ngặt nghèo. Chiếc thuyền buồm đi từ bãi cháy đã hai tháng. Họ đói lăn lóc, họ ăn xin suốt dọc đường. Họ chỉ thay buồm một lần ở Bắc Hải. Họ tưởng đây là một thị trấn lớn. Không biết một thị trấn ma vĩ đại như cuộc Cách mạng Văn hóa. Người tài công lắc đầu chỉ tay ra chiếc thuyền chòng chành: – Bác xem đấy, chỉ thêm một đứa con nít thuyền cũng chìm, nữa lại bốn người thì có về chầu “bác”. Hải nói, ruột rối bòng bong: – Bọn tôi nhẹ như bông gòn. Gã tài công lắc đầu cương quyết. Gã tên Độ, người Quảng Ninh. Cả thuyền đều là anh em bà con của gã. Độ nói: – Tôi tiếc gì mấy bác. Thôi, để bọn tôi kiếm cái ăn cái uống đã. Hải hướng dẫn gã đi sâu vào phố, dắt gã ra cái bể nước sau núi. Hải vẫn không nản: – Bác nghĩ tình đồng hương, nỡ nào nhìn bọn em chết ở đất khách quê người. Độ có vẻ cảm động hỏi: – Thế hai cô kia đâu? Hải khấp khởi: – Chúng nó đi không nổi, cứ nằm liệt ra đấy. Độ im lặng uống nước. Gã chuyền cái gáo cho bọn đồng thuyền. Thân hình gã nhỏ bé, lông mày rậm, hai mắt sáng long lanh. Người gã, cũng như mấy người kia, hôi một thứ mùi hăng hẳng nắng cả mũi. Độ giậm chân bảo: – Tôi bảo thật, phải tôi giúp các bác được. Trông thuyền là biết đấy.
Google images
Hải tưởng mình sắp quỳ xuống, lạy gã: – Bác cứu bốn mạng người, chỉ một mạng… Đôi mắt Độ quắc lên, quát: – Thôi phải, chắc tôi cho một bác đi nhờ được. Gã hội ý với những người uống xong. Một người đàn bà nhăn nhó: – Chắc gì mà một người không khẳm nào. Thôi đi. thế nào mà chẳng có thuyền khác. Độ quát: – Bà biết cái gì mà xía vào. Mấy gã thanh niên bắt đầu lục lạo xung quanh. Độ bảo: – Tôi còn ở đây, chắc đến mai mới đi được. – Sao thế? – Chờ gió lên. Buổi tối hôm ấy, bọn người của Độ đốt lửa trên bãi cát. Dũng và Hải rút vào nhà. Độ dứt khoát là chỉ cho một người đi nhờ. Thuyền gã đã khẳm, gã không muốn lòng tốt của gã có thể làm chiếc thuyền buồm mỏng manh của gã bị đắm. Hải và Dũng đều nghĩ là cái người may mắn đó chỉ có thể là Sương hoặc Mân mà thôi. Nhưng ai? Cả hai đều kiệt sức, đều đáng được đi sớm chừng nào tốt chừng ấy. Hải nói: – Hay cứ để cho hai cô ấy bốc thăm. – Chỉ còn cách đó. Bốn người ngồi xúm xít trong bóng tối. Tiếng chó tru đầu phố nghe buồn bã. Hải báo cho Mân và Sương tình hình, chàng nghẹn ngào: – Tùy hai cô mà thôi. Sương đáp: – Cứ để chị Mân đi trước, em chẳng vội gì. Hải nhìn Mân chờ đợi. Cô ngồi thu lu, chỉ thấy một bóng hình bất động. Tiếng u u của chó làm không khí thêm buồn thảm: – Không! – Em nói không là sao? Dũng hỏi. – Em không đi. – Em muốn nhường Sương à? – Vâng. Hải nói: – Nếu cứ bắt em đi trước thì sao? – Không. Giọng Mân mệt mỏi nhưng cương quyết. Sương đã thiếp đi từ hồi nào. Nàng quá kiệt, không ngồi lâu được. Như vậy là xong, Sương sẽ rời thành phố ma ngày mai. Đường đến Hồng Kông chắc không còn xa lắm. Nhưng một thân một mình nàng sẽ ra sao? Ai sẽ quan tâm giúp đỡ người con gái mù lòa. Hải trù trừ trước bóng tối mà chẳng hình dung ra: – Hay ông đi trước, Dũng? – Tất nhiên là không, nhưng tôi hiểu tại sao ông đề nghị tôi. – Tôi chỉ sợ cô ta mù lòa. – Tôi cũng nghĩ đến điều đó. Nhưng chắc ít hôm thôi là đến Hồng Kông. Xứ tự do, người ta coi trọng con người. – Thì mong vậy. Hải đáp.
Google images
Ừ, biết đâu chừng cô ấy gặp lão Mục đâu đó trong trại tỵ nạn. Hải nghĩ thầm. Một con đom đóm lang thang ngoài song, chui ra chui vào nhà rọi một màu xanh biêng biếc lập lòe trên tường. Chàng sẽ còn một đêm nay bên Sương, rồi chàng sẽ trả nàng về cho cha, cho tự do đang cách mấy ngày đường. Hải nằm xuống, ôm siết thân hình bé bỏng của nàng. Những buổi chiều trên biển, nắng hè soi cát nóng, soi lên thân hình trần của nàng. Chiếc áo nàng đã nhão ra, tựa hồ chỉ một chạm khẽ là những sớ vải sẽ rơi xuống. Nàng đã sinh ra nơi miệt biển, cha nàng đã nuôi nàng bằng biển mặn, nàng đã khốn khổ trên cuộc hải trình sống chết. Nhưng nàng vẫn yêu biển tha thiết. Một tối nào, trăng thượng tuần treo lơ lửng, Sương trần truồng tung mình xuống nước. Màu sáng trăng dìu dịu chiếu trên đầu ngực căng tròn của nàng, lấp lánh những giọt nước như xâu chuỗi kim cương óng ả đọng trên thịt da phơi bày rạng rỡ. Hải ngồi trên cát, ngắm người con gái lõa thể đi tới đi lui. Mái tóc dài rã rượi của Sương bay lê thê như những cánh hải âu ngược gió ngàn và tan trong màu trăng trắng mơ hồ gợi cảm. Một sự tương phản quá lớn giữa khuôn mặt nhỏ nhắn và mái tóc dầy khiến Hải nghĩ gió sẽ nâng mái tóc thổi tung nàng lên trời. Hải lượm một cục sỏi ném xuống biển: – Anh ở đâu đó? Hải cố tình im lặng. Sương hỏi đến lần thứ ba, liền giả vờ cắm đầu chạy lên bờ. Biện pháp này lập tức có hiệu quả. Hải chạy sau lưng nàng, khi thấy Sương sắp đâm bổ vào một cây dại chàng mới ôm choàng ngang thắt lưng bé như cổ cò của nàng vật xuống. Sương cười nắc nẻ, tiếng cười nàng làm vỡ cả ánh trăng xao xuyến: – Chịu thua em chưa nào. Hải hôn nàng. Đôi mắt nàng sâu thẳm. Một vũng tối đày đọa. Sự ham muốn tắt thình lình khi Hải nhìn sâu vào vũng tối ấy, hai hàng mi dài động đậy. Một hố sâu, sâu như đáy vực. Đáy vực đang mở ra “nhìn” chàng. Hải thở hồng hộc mỏi mệt. – Khi nào minh đi, anh nhỉ? Hải hình dung giả sử chàng và Sương sẽ được một chiếc tàu nào đó tiếp tế lương thực, chàng sẽ không đi đâu hết, sẽ sống một đời trên bãi vắng. Nhưng ý nghĩ ấy chỉ lóe ra như vì sao băng tắt ngúm trong bóng tối nửa vời và không để thừa một dư âm sáng lòa nào cả. Cuộc đời Hải đã tô bằng nước mắt, chàng đã mất mát quá nhiều, chàng chưa dành lại từ cuộc đời mỗi muôn một. Chàng đã đánh một ván bài không thấy thắng. Lộ trình đã vạch, Hải phải tới đó, Sương phải tới đó, nào có đâu đường về. Chiếc thuyền của Độ nhổ neo khi bầu trời còn giăng đầy sao nhỏ. Những vì sao đang tan loãng trong ánh mặt trời. Hải và Dũng chống gậy, cặp Sương ra bãi. Nàng không còn đứng vững, có lẽ Hải cũng không còn đứng vững nếu ý chí không kiềm chân chàng dậy. Hai người dìu Sương lên cùng với sự trợ sức của Độ. Họ đứng ngâm chân trong nước lạnh, nhìn con thuyền chậm chạp trở mũi. Nước mấp mé mép thuyền. Họ đứng như thế lâu lắm, hằng giờ, cho đến khi cái chấm trắng xóa nhòa trong không gian bất tận. Sương sẽ gặp lão Mục ở trong trại tỵ nạn nào đấy, Hải tin như vậy. Chàng cũng sẽ gặp lại Sương ở bến bờ đấy, một ngày nào đó. Người con gái mù sẽ “nhìn” thấy ánh sáng tự do sau những đêm dài đằng đẵng. Nàng đã xa tận ngoài biển. Hải nhớ quay quắt. Chàng nhớ từng sợi lông măng phớt sau gáy nàng, khuôn mặt gầy gộc biếng tiếng cười, giọt nước đọng nơi đầu vú trong veo màu trăng vỡ, và hai vực thẳm ngày càng sâu… Tiếng ve kêu re re trên bãi vắng. Hải đang nghĩ đến chuyện tự đào huyệt chôn mình thì ngoài đường bỗng có tiếng người ồn ào. Hai tai chàng lùng bùng như có muôn vàn tiếng động đập liên hồi. Chàng vịn theo tường gượng ra cửa. Mấy gã thanh niên chạy lăng xăng ngoài đường, dường như họ mới đến. Một người bật thấy Hải, ré lên một tiếng: – Ở đây có thêm một ông già nữa bây ơi. Gã tiến lại, nhìn Hải chăm chú rồi vờ lễ phép: – Lạy cụ, cụ bảo cho tụi cháu biết đây là đâu. Hải cười thầm trong bụng. Chàng nghe giọng nói quen quen.
Google images
– Việt Nam à? Gã thanh niên cười bỡn: – Việt gian phản quốc. Hải không còn sức để đùa với gã, chàng nhếch mép nhọc nhằn: – Cho cái gì ăn… Gã thanh niên nhận ra mình đang đùa với lão già sắp chết. Gã hối một người khác: – Xuống thuyền lấy cơm, chả sắp chết kìa. Mà Hải sắp chết thật. Chàng ngồi mới một chút mà đã xây xẩm mặt mày. Rồi Hải ngã chúi vào hai cánh tay gầy của gã thanh niên. Khi Hải mở mắt, lại nghe ùn ùn những âm thanh hỗn loạn, nhưng chàng đã thấy bớt mệt. Dường như có một nguồn sinh lực ở đâu đó tiếp vận cho chàng. Một nguồn sinh lực trống rỗng, cái chỗ trống Sương để lại. Giọng gã thanh niên quen thuộc: – Ổng tỉnh rồi, thôi dang ra bớt cho người ta thở. Hải đã nhớ ra gã, yếu ớt gọi: – Phú kèn, trời ơi, Hải vĩ cầm đây nầy… Phú kèn rú lên, gã vạch tóc, vuốt râu Hải, bàn tay trơn trượt của Phú kèn lắc lắc khuôn mặt teo bằng quả chanh của chàng: – Ối bác và đảng ơi… “ông” tưởng “con” đang hành lạc ở Hồng Kông rồi, sao ra nông nỗi này chớ… Những người đứng xung quanh ồ lên một tiếng, “quen hả”, “quen hả”, Hải nghe tiếng người lao xao, tiếng Phú: – Thôi thế mà tôi không nhận ra ông chớ. Nhẽ ra nhìn “nụ cười cơ giới” của ông là phải nhớ liền, rõ thật. Hồi còn chơi trong ban nhạc ở Hải Phòng, Hải được anh em tặng cho cái tên “nụ cười cơ giới”: Một cái nhếch mép khó hiểu, cười không ra cười, một kết hợp hữu cơ của vách thịt, méo xệch. Ngược lại Phú kèn – thổi saxophone – lau chau, đùa giỡn trong mọi trường hợp, thuộc típ người chưa thấy mặt đã nghe tiếng, Phú nói: – Nhìn cái mặt đám ma của ông, mẹ, cứ có một canh xì phé là tỉnh ngay chứ gì. Hải nhếch mép, cười “cơ giới”: – Ừ, mà tính sao đây? – Đi chung với tụi này luôn thể. Hải yếu ớt kể cuộc hành trình của mình. Chàng nghẹn lời nửa chừng, một điều cấm kỵ đối với Hải khi phải biểu lộ xúc động trước mặt bạn bè. Phú nói: – Tôi may mắn hơn ông nhiều. Đoạn gay nhất của Phú là sau khi vượt qua eo biển Lôi Châu, nghĩ sắp đến Hồng Kông rồi, gã chủ thuyền cho tấp vào Xương Giang, ăn chơi nhậu nhẹt một bữa đã đời. Say quá, tài công chấm lộn tọa độ. Gã tính đi hai ngày một đêm là tới Ma Cao, không dè đi được một ngày là gió trở, sóng đánh thuyền về gần chỗ cũ. Lên bờ đi xin ăn, Phú gặp công an Trung Quốc “dụ” chở đi mua thuyền khác, không dè họ chở ngược về Việt Nam. Phú nhận ra điều đó khi càng đi gã càng thấy hai bên đường nhà cửa càng lúc càng xơ xác, chỉ có Quảng Tây mới nghèo như vậy. Gã nhảy khỏi xe khi chiếc xe giảm tốc độ vì phải tránh một chiếc xe chạy ngược chiều. Gã biết tên tài xế thấy gã nhảy qua kính chiếu hậu, nhưng hắn cứ lờ đi chạy thẳng. Phú đi ngược lại đoạn đường đã qua rồi gã đón xe đò tìm về chỗ thuyền đậu. Dọc đường, gã chỉ biết mỗi một câu “Ngộ mậu dậu xìn, chẩu hớn cỏn” (tôi không có tiền, đi hồng kong), ấy thế mà nhờ lòng tốt của nhân dân Trung Quốc, gã xin được tí tiền về lại thuyền kịp khi cả thuyền đã tập hợp đông đủ, sắp nhổ neo. Ngang thành phố ma, tài công lại tưởng là một thị trấn lớn, tấp vào. Nhờ thế, họ cứu được bọn Hải. – Thế ra công an nó chở cậu về Việt Nam đấy. Hải hỏi. – Chính thế! Mà phải mình tình nguyện về mới không ức. Trên xe, có chừng hai chục người xin về, thuyền họ đắm, một nửa kiếm phương tiện đi tiếp, cái nửa đi cùng xe với tớ họ lạnh cẳng, tìm đường đi về qua cửa Đông Hưng đấy. Giờ này chắc đã về tới Hà Nội.
Google images
– Phước ba đời nhà ông. Chủ thuyền ra lệnh chuẩn bị đi. Ông ta đếm lại số người, cộng thêm ba người bọn Hải. vừa lúc, Hồng lão từ trong phố đi ra, lão dặn: – Đi khỏi đây chừng một dặm khéo kẻo vướng phải cồn cát… – Cồn cát à. -…ngầm đấy. Thượng lộ bình an nhé. Hồng lão có vẻ tỉnh táo vì được bọn đi thuyền với Phú cho mấy lon gạo. Chắc lão vừa nấu cháo ăn xong. Hải lội ra thuyền, trong khi hai người đàn bà khác dìu Mân leo lên. Hải nhìn những tòa nhà bốn tầng lần cuối. Chỉ còn một mình Hồng lão tiên sinh đứng bơ vơ trên bãi biển. Mái tóc bạc lơ phơ trong gió. Bộ áo quần xám xịt màu đất của lão in khối cô độc thê thiết trên nền cát vắng, trên nền trời xanh lơ thăm thẳm. Trên vùng đất ngặt nghèo ấy, Dũng đã để lại một phần ruột thịt của mình dưới gốc cây. Thuyền đi được nửa ngày thì trời sụp tối. Đúng như Hồng lão nói, đang giữa mặt biển phẳng lặng như tờ bỗng rít lên tiếng nước réo như một ấm nước đang sôi. Tài công vừa lái vừa cho thọc cây thăm dò độ sâu. Anh ta lách giữa cồn cát ngầm khéo léo. Ngang một khúc, trên mặt cát thẫm màu đêm, xương người phơi trắng trên cồn cát nổi. Những chiếc sọ ngửa mặt nhìn trời, có cái sọ láu lỉnh, có cái sọ lớn trừng trừng uất hận. Những chiếc xương tay xếp như chiếc đàn T’rung. Đàn bà trên thuyền lâm râm niệm Phật trước những mẩu xương rải dọc theo bờ, nghe từ đâu đấy đang reo lên tiếng than ai oán của những linh hồn đoản số ngậm ngùi gửi nắm xương tàn trên biển khách. Hải thấy đôi mắt Dũng đầm đìa lệ. Anh ngồi im lìm như cái xác chết, dường như bóng tối đang lan ra từ linh hồn sầu não ấy. Hải nhìn thấy những chùm sao tan tác như những giọt nước vỡ toang ra đọng trên nền (trời) đen thăm thẳm. Chàng nhớ những vì sao tua ở quê nhà: Sao Tua chín cái nằm kề Thương em từ thuở mẹ về với cha Chàng đã xa mảnh đất man rợ cắm dùi trên những câu ca dao lãng mạn. Chàng đã xa cái cuống rún (như thế nào nhỉ) mà một buổi sáng khi còn thơ mẹ Hải dắt con ra vườn chỉ vào gốc cây phượng: – Mẹ chôn cái cuống rún con ở đây. Cậu bé Hải mường tượng mẹ đang nói điều gì ấy. Cậu sờ cái lỗ rốn cạn lợt của mình, mân mê một cục đất bé bằng con chấy. Bao nhiêu năm qua rồi, Hải vẫn còn nhớ buổi sáng dưới gốc cây phượng sau hè. Có nguồn cảm xúc lan chảy trong dòng máu Hải, nhớ điên cuồng một miếng nắng rải ngoài sân. Những giọt nước vãi trên trời mờ dần như bị lấn bởi một thứ ánh sáng lung linh từ đâu đây. Rồi tiếng ồ đánh thức những đôi mắt im ngủ: – Hồng Kông kia rồi đấy! Từ xa, một màu sáng vàng nhạt hực lên cả chân trời. Ánh sáng diễm ảo vô cùng, tráng lệ vô cùng. Và những tấm lòng nức lên. Cái đích đã tới, không còn ngờ gì nữa. Hồng Kông, Hồng Kông! Cả thuyền chồm dậy. Bóng tối nghe chừng có lửa, lửa của niềm sung sướng tột cùng. – Sướng quá, ha ha ha. Phú ôm chặt Dũng, hét bên tai: – Bọn mình nhậu một bữa xả láng ông ơi… Chân trời sáng rực, chân trời sáng rỡ, chân trời sáng lóa. Thuyền băng băng chạy. Những mỏm đảo thấp thoáng, những sườn núi mờ sương khói. Mặt trời lại bắt đầu lên, biển lênh láng nước mênh mang. Từ sau một hòn đảo, hai chiếc tàu cảnh sát chẻ sóng tiến lại. Hai chiếc tàu màu xanh lá mạ, chẻ thành gọng kiềm xáp tới. Những chiếc áo trên thuyền con hồ hởi vẫy. Hai lượn sóng từ tàu lớn làm thuyền chao đảo nghiêng bên này lượn bên kia.
Google images
– Việt Nam vượt biển đây. Tiếng “rao hàng” từ thuyền Hải ré lên. Tàu cảnh sát tắt máy liệng quanh quan sát. Một sợi dây thừng ném qua, cột, xáp lại. Thuyền con đã cập sát song song vào tàu lớn, nhìn lên cao những nấc thang. Dùi cui cầm tay, cảnh sát Hồng Kông đếm từng người leo lên tàu họ. Phú kèn xin thuốc lá hút khi vừa vượt qua một viên cảnh sát. Gã phải nói hai lần bằng thứ tiếng Quảng Đông ăn đong của mình. Bất ngờ, viên cảnh sát bợp cho Phú hai cái bạt tai xây xẩm mặt mày. Hải tái mặt, một sự bẽ bàng bỗng dâng trong lòng. Xứ tự do mà có cảnh này à. Viên cảnh sát nạt: – Đại lục phải không? Dũng nghe được, đỡ lời: – Chúng tôi toàn người Việt Nam cả. Thì ra viên cảnh sát tưởng Phú là người đại lục. Gã ăn hai cái tát oan uổng. Rút kinh nghiệm, Hải hỏi một gã khác bằng tiếng Anh: – Ông thông cảm, tôi thèm thuốc quá! – Địt mẹ… Điếu thuốc cháy hết một nửa ngay cú rít đầu tiên của Hải. Bỗng một bàn tay giựt ngay điếu thuốc: – Chia anh em với chứ. Một viên cảnh sát khác trao một xấp truyền đơn cho Hải, bảo phát. Truyền đơn viết bằng tiếng Việt, thứ tiếng Việt không văn phạm. Hải đọc lướt qua giật mình: – Nghĩa là sao? Viên cảnh sát nhìn Hải thương hại. Y nói chậm rãi: – Các anh đến muộn rồi!
8. Phần 8 Những ngôi nhà tầng san sát thấp thoáng sau hàng cây xanh một màu ướt mịn. Đoàn người trên thuyền ào xuống nước, bì bõm lội vô bờ. Dấu chân in trên cát, đè lên nhau, hồ hởi tiến vào thị trấn. Bao tử được nuôi bằng hy vọng, đôi mắt đã bớt mờ soi chòng chọc vào lớp nhà hiện ra, to dần, to dần. Cả một thành phố thế kia, sống là cái chắc. Ô kìa! Thành phố vắng ngắt không một bóng người. Có phải là thành phố không? Những con đường ngang dọc phẳng lì mở ngay trước mắt, im lặng chờ người đến. Khi không, những bàn chân chưa khô nước mặn đồng loạt ngừng lại trước con đường đầu tiên dẫn vào phố. Đôi mắt căng rách mí, nhìn nhau, nhìn con đường rộng, dè dặt: – Quái! Cường nóng nảy: – Ta đông thế này, sợ gì. Cường dợm bước nhưng Dũng ngăn lại, quay qua hỏi Cảng: – Hượm đã. Này, ông ở đây lâu hẳn phải biết đây là đâu chớ, sao vắng thế này? Cảng lắc đầu, mặt bí xị: – Quả thật tôi chịu thôi. Có bao giờ ra khỏi làng đâu. Cảng nói thật. Đời sống quá nghèo nàn và lạc hậu ở những vùng ven biển đâu có cho những người như gã có dịp ra khỏi làng xóm. Những người ở xa đến có khi còn rành phong thổ địa phương hơn chính gã nữa. Dân nghèo như con ngựa bị che mắt, chỉ thấy một con đường áo cơm trước mặt. – Thế có ai biết… – Tôi còn không biết… -…không? Dũng hỏi. -…huống hồ là họ. Cảng nói. Dũng nói: – Thôi cứ vào cả, không có gì thì mình đi tiếp. Lòng hiếu kỳ, sợ hãi cộng thêm cái đói cái khát khiến tất cả đồng loạt tiến vào, rất cẩn thận. Hải men theo một dãy phố, mắt nhìn ngang dọc cứ như một anh cao bồi đang đề phòng kẻ địch xuất hiện thình lình từ một cánh cửa nào đó, nã đạn vào mình. Quả thật, dường như chẳng có ai ở trong thành phố câm này. Những dãy nhà mái bằng, cao đúng bốn tầng, nằm khít bên nhau dễ có cả nghìn cái…mái nhà đã dột nát, nước thấm qua chỗ dột mà màu vôi trắng đã đổi thành màu đen. Hải chui vào một ngôi nhà, lông tóc không dưng dựng cùng mình. Vách tường rêu phong che kín phát ra một hơi lạnh như đá. Nền nhà cáu đen, xi măng tróc từng miếng vì bị nước nhỏ từ nóc ngâm lâu ngày, bốc lên mùi rêu phong nghẹt thở. Cái đói hành hạ ruột gan, tay run, mắt mờ, bước chân giở lên nặng tựa núi. Cường độ đói tăng dần cùng với cảnh phố càng đi càng thấy tiêu điều xám lạnh. Có tiếng la: – Bắt con chó. Bắt con chó! Một con chó mực xẹt qua trước mắt Hải. Tiếng chân người chạy rầm rập từ ngã tư đường. – Chận đầu đó, Hải.
Google images
Hải nhận ra tiếng Cường. Chàng xoạc chân đứng giữa đường, quơ tay loạn cả lên. Con mực thấy bị chận, quay đầu chui tọt vào một cánh cửa hé. Cả Cường lẫn Hải la lên: – Vậy là con cùng đường. Cường cẩn thận cầm một khúc cây cẩn thận bước. Hải đứng rình ngay cửa. Chàng nghe cái “chảng” từ bên trong. Tiếng Cường chửi: – Chết mẹ con, nhanh quá! Bỗng nhiên một vật đen từ trong nhà tống vào đùi Hải khiến chàng ngã sóng soài. Con mực thoát ra ngoài, cong đuôi biến mất ở một ngã rẽ. Cường hít hà: – Tiếc quá, tiếc quá! Cường để mặc Hải lầm bầm nhăn nhó, anh cầm khúc cây chạy theo hướng con chó ngây dại. Hải vừa tức, vừa tiếc “của” bảo Sương: – Xém chút nữa là ta có dồi chó rồi, tiếc thật. Hai người đi qua mấy con đường vắng vẻ nữa. Thỉnh thoảng vài người cùng thuyền đi ngược về phía họ, giơ tay lên trời thất vọng. Một đàn quạ bay về hướng núi. Hải rùng mình. Sương bấm vào tay Hải: – Có ai gọi? Chẳng có ai cả, chỉ có tiếng quạ kêu từ hướng núi. Một khắc đi qua, Hải nghe có tiếng người nói chuyện rì rào đâu đây. Chàng định hướng đi tới. Tiếng nói chuyện càng lúc càng rõ dần. Tiếng người, trời, rõ là tiếng động có ý nghĩa nhất trong thành phố hoang liêu này. Qua cánh cửa mở hé, Hải thấy Dũng đang ngồi đối diện với bốn hình nhân kỳ dị. Bốn hình nhân tất nhiên là mang vóc dáng người, một giống người đã …tuyệt chủng. Tóc họ bạc như vôi (những ông vôi xấu xí) lơ thơ trên da mặt xám xịt. Làn môi đen động đậy, phì phèo lòi hai nướu răng thâm sì. Bốn hình nhân che chỗ kín bằng loại vải không còn màu. Toàn bộ bức tranh trong căn phòng là màu đen sạm, đen tro, làm nổi lên những cọng tóc trắng. Hải thấy Dũng bình tĩnh ngồi, khuôn mặt có vẻ đang kiên nhẫn chịu đựng điều gì đó. Hướng ra cửa, Dũng gọi: – Vào đây ông, thú lắm! Hải dắt Sương bước qua mép cửa. Mùi mốc bốc lên khiến cái bụng trống của hai người sắp dâng lên chất nước gì nhờn nhợt, đắng cả miệng. Một cái màn chia đôi căn phòng. Một lão già (ông hay bà?) đi qua bên kia tấm màn mỏng hơn tờ giấy quyến. Dũng nói: – Họ nấu cháo đãi mình đó. Lão già bên kia tấm màn lui cui, Hải có thể nom thấy cái lưng cong vòng như lưng tôm của lão. Chợt một luồng gió từ cửa thổi vào, cái màn rách toạc một đường dài. Một lão lật đật chạy ra khép cửa. Dũng giới thiệu lão đóng cửa: – Đây là Hồng Tiên sinh. Hải mỉm cười. Dũng tiếp bằng tiếng Quảng: – Chỉ có Hồng Tiên sinh là còn nhớ họ của mình, bà cụ kia không còn nhớ gì hết. Hồng Tiên sinh đã trở vào. Lão ngồi xuống một khúc cây tròn, gật đầu chào Hải và Sương, đôi mắt tiên sinh kèm nhèm hấp háy. Hồng Tiên sinh tiếp tục câu chuyện với Dũng, thỉnh thoảng anh ngắt lời, ráp những câu nói rời rạc của tiên sinh lại cho ăn khớp. Lâu lắm, những câu nói lúng nhúng của Hồng lão bối mới kết thành một câu chuyện có đầu có đuôi. Hồng lão là cháu nội của thi sĩ Hoàng Tuân Hiến, rất nổi tiếng với bài “Ai Lữ Thuận” hùng hồn và bi đát, từng được người đời gọi là “thi sử”. Ảnh hưởng nếp sống hào phóng dù cảnh nhà đang suy tàn, Hồng lão thuở nhỏ thích đi đây đi đó, mê tuồng cổ, từ bé đã lập chí theo tuồng. Rồi theo học ở đại học Thanh Hoa, mê đọc tác phẩm cổ điển, tác giả tiêu biểu của thời đại như Quách Mạt Nhược, Lỗ Tấn. Từ đó tập làm văn, tập kịch suốt thời hàn vi.
Google images
Nhưng Hồng lão đã không trở thành thi sĩ nổi tiếng như ông nội. Đỉnh cao nhất của Hồng tiên sinh là dạy học ở trường Thanh Hoa, cuộc sống đó đóng khung trong khuôn viên đại học êm đềm. Cho đến khi cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản bùng nổ vào mùa xuân năm 1966. Hồng lão sống trong lo âu thấp thỏm đợi chờ tai họa giáng xuống đầu mình, một điều chắc chắn sẽ xảy ra. Hằng ngày, báo đảng liên tiếp công kích các nhà văn, nhà báo dám bôi nhọ chương trình “nhảy vọt”, chính sách công xã mà đảng đề ra trước đó và đã thất bại. Học trò của Hồng tiên sinh lúc đó được phát cho một băng đỏ đeo tay và trở thành Vệ binh Đỏ, được giao nhiệm vụ đi khắp nơi truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông qua cuốn sách đỏ. Vệ binh Đỏ – kỳ thực là học trò của Hồng Tiên sinh đập phá đền miếu, chùa chiền, triệt hạ mọi dấu tích văn hóa có liên quan đến tàn tích phong kiến, suy tôn Mao thành bậc thánh nhân, là đại thi hào sánh ngang Lý Bạch. Thậm chí, Vệ binh Đỏ ở mỗi địa phương tự phát huy sáng kiến, tấn công các thành phần có tư tưởng hay quan hệ với phương Tây, hạ nhục họ trước công chúng. Trí thức bị Vệ binh Đỏ đánh đập không chết thì cũng thương tích trầm trọng, hàng vạn người bị tù đày, hàng trăm vạn người phải tự tử để khỏi trông thấy sách vở của mình bị thiêu hủy, hàng triệu người bị tập trung đi cải tạo. Biết không chóng thì chầy cũng không thoát được…đảng mệnh, Hồng treo cổ tự tử nhưng nợ đảng chưa trả xong nên người nhà cứu sống. Hồng lão bị Vệ binh Đỏ bắt làm “tự phê”, đầu bịt một tấm giấy trắng dài ngoẵng chĩa lên trời, trên viết một hàng chữ kể tội ác, rồi bị điệu đi diễu hành ngoài đường phố. Đó là mùa xuân năm 1967, Hồng lão còn nhớ. Sau đó, Hồng lão bị đưa đi tập trung lao động, qua rất nhiều trại không nhớ xuể, cuối cùng về đây, một công trường cải tạo được xây dựng trong cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản. Hồng lão chiêu một ngụm nước lạnh, “khà” một tiếng, chuyền cái chén bể miệng cho lão nhân bên cạnh. Lão nhân này bị một dị tật ở hai chân. Hai bắp chân lão cụp ra đằng sau một góc nhọn khiến lão không khi nào đứng thẳng được. Lúc đi, người lão khùm xuống, thân mình gần như song song với mặt đất. Hồng lão nói: – Y tiên sinh đây là bác sĩ. Kiến thức chuyên môn của tôi đã giúp tôi giết cha tôi. Ai cũng biết điều đó. Phải, tôi đã giết cha tôi bằng chính đôi tay hành nghề của mình, đôi tay đã giành giật mạng sống của nhiều người từ tay thần chết. Linh hồn tôi là một linh hồn tội lỗi, lở loét và đầy sâu bọ, không bao giờ hàn gắn. Dù có biện luận gì, dù có thể nói hai cộng hai thành năm theo kiểu biện chứng pháp duy vật, tôi cũng không thể tha thứ cho mình được. Tôi bị tuyên án chung thân, rồi tôi lại được bè lũ bốn tiên sinh tha bổng, chỉ phải đi tập trung cải tạo. Tôi đã tự ải như hàng triệu người khác đã tự kết liễu đời mình, như nhà văn lão xá, tác giả của miêu thành ký, lạc đà tường tử, vì không muốn thấy tim óc của mình bị phá hủy trong cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản. Nếu tôi không giết cha tôi thì cha tôi hẳn ông còn sống đến bây giờ. Ông khỏe mạnh, không bệnh tật gì hết. Cha mẹ tôi sống trong một căn nhà khang trang, có gác thượng, cùng với em trai tôi và tôi. Tôi đang làm việc ở bệnh viện tân sinh, thành viên tích cực của đoàn thanh niên cộng sản, là bác sĩ kiểu mẫu, thậm chí còn được giấy khen của đoàn. Buổi sáng ngày mười ba tháng tám năm 1966. Phải không? Không, ngày mùng chín thì phải. Cả thành phố náo động vì Vệ binh Đỏ đánh đập các thành phần bị quy là hữu khuynh, trí thức phản động, thì chính trong “quyết nghị mười sáu điểm”, Mao chủ tịch đã minh định đối tượng của cuộc cách mạng vô sản trong điểm thứ nhất là “các phần tử đã xâm nhập đảng, đứng vị trí lãnh đạo nhờ đi theo con đường tư bản và các phần tử trí thức nổi danh đã quảng bá ý thức hệ tư bản”. Chỉ một cái điểm thứ nhất thôi mà thành phố đã náo loạn, bị đập phá. Tôi ngồi trong nhà mà run sợ. Vì tôi là trí thức hành nghề theo học thuật phương Tây thì ắt là hữu khuynh tư bản rồi. Thình lình, cánh cửa nhà cha mẹ tôi bị đạp tung, một đội Vệ binh Đỏ tay cầm gậy gộc xông vào. Chúng dõng dạc tuyên bố gia đình tôi thuộc thành phần trí thức tư sản, rồi xông vào đập phá đồ đạc. Chúng giựt tranh treo tường, đập tủ chén, xô ngã bàn thờ, không còn một thứ gì còn gọi là nguyên vẹn. Thậm chí chiếc áo có thêu kim tuyến của mẹ tôi cũng bị kết là tư sản, chúng lấy kéo cắt nát. Cha mẹ tôi, em trai tôi và tôi nữa bị chúng bắt quì gối ngay giữa phòng trước.
Google images
Sau đó, chúng xởn hết tóc chúng tôi, còng tay và dẫn đi diễu phố. Hết ngày, chúng dẫn về, lấy roi da đánh đập chúng tôi ngất đi rồi mới bỏ đi, không quên khóa trái cửa căn nhà. Gia đình tôi là kẻ thù của nhân dân. Cả thành phố là kẻ thù của nhân dân. Sự căng thẳng khiến đầu tôi căng trướng, không còn tri giác của một vật bình thường nữa. Trong suốt bốn ngày, chúng tôi không có gì để ăn. Chén bát đã bể hết. Chỉ còn ít mì gói nhai sống. Chúng tôi sợ hãi và đói khát. Sáng sớm hôm sau chúng nó lại tới, lại hành hạ, lại đi diễu phố, lại bị đánh bằng roi da. Trời ơi, đảng ơi…! Điện đã bị cúp hết. Căn nhà tối mù. Bên ngoài mưa rơi nức nở. Chúng tôi ngồi nghĩ đến cái chết. Phải rồi, sao không chết đi để hết nhục, để bớt đau khổ thấy mình thua cả chó. Chắc là đã quá nửa đêm. Tiếng mưa rơi tê tái quá! Làm sao để tự ải đây? Cha tôi suy nghĩ, mẹ tôi suy nghĩ, còn tôi thì nát óc. Đứa em trai trên gác thượng chắc cũng đang suy nghĩ. Thình lình tôi nhìn thấy con dao rọc giấy ở chân bàn. Bọn Vệ binh Đỏ hẳn đã làm rơi nó. Trời đã gửi thiên sứ xuống. Tạ ơn trời. Tôi là bác sĩ. Tôi biết là nếu động mạch cổ bị cắt thì các mạch máu sẽ ngưng hoạt động và người ta chết tức khắc, chết tức khắc, chắc chắn như thế. Đây là cách chết nhanh nhất và vô phương cứu chữa. Cha mẹ tôi chưa tin hẳn vào lời giải thích của tôi. Người hỏi có đúng là chết dễ như thế không? Tôi phải lấy bằng bác sĩ ra để đảm bảo với người là chắc chắn như thế. Cuối cùng mẹ tôi bảo: “Tạ ơn trời, sao lại dễ thế được. Tạ ơn trời đã ban cho tôi đứa con học ngành y”. Người nói hoài như thế, mắt long lanh sung sướng. Cha tôi bảo: “Con là người duy nhất biết việc, vậy hãy cắt cổ cha mẹ trước rồi hãy tự cắt cổ con”. Chúng tôi nắm tay nhau ngồi yên lặng trong bóng tối không biết bao lâu nữa. Chúng tôi sắp sửa xa nhau trên cõi đời này chỉ còn đứa em trai tôi sống. Nó chỉ mới mười bốn tuổi chắc không đến nỗi nào. Tôi nhắm chặt mắt, hồi tưởng từng mảnh vụn kỷ niệm giữa tôi và cha mẹ. Cha tôi là họa sĩ suốt đời lao nhọc để nuôi tôi ăn học. Mẹ tôi là người đàn bà đảm đang nuôi tôi khôn lớn. Chỉ vì tôi là bác sĩ nên nhà tôi trở thành kẻ thù của nhân dân, hai người nuôi tôi nên người để tôi đủ kiến thức kết liễu mạng sống. Tôi ngồi như vậy lâu lắm, cha mẹ tôi phải giục giã tôi phải ra tay ngay đi thôi. Trời sắp sáng rồi. Cha tôi bảo: “Con sắp giải phóng sự đau khổ của cha mẹ. Mẹ và cha không chịu được nữa rồi, vệ binh đỏ sắp đến, con ngoan của cha, nào!” Tôi đứng dậy, lục lọi trong đám đồ đạc ngổn ngang tìm một mẩu giấy và một cây bút. Trong ánh sáng he hé vừa rựng, tôi viết lời cuối cho em trai tôi, giải thích cho nó hiểu, và cũng để cho nó có chỗ dựa vào đó mà không bị ngược đãi vì cái chết của ba chúng tôi. Chúng tôi là kẻ thù của nhân dân, là rắn độc của cả nước, để tránh cho nhân dân bị nhiễm độc, chúng tôi hạ quyết tâm xa lìa cuộc sống. Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản muôn năm. Em thân yêu, xin em hãy dứt khoát đi trên con đường của Đảng, của cách mạng, cha mẹ và anh chỉ là chướng ngại trên đường đi của em mà thôi. Mao chủ tịch vĩ đại muôn năm. Chờ tôi viết xong, cha tôi giục tôi hãy ra tay tế độ mẹ tôi trước. Mẹ tôi lại khăng khăng bảo hãy cắt cổ cha tôi trước rồi cắt cổ mẹ sau. Ai cũng muốn nhường phần sung sướng cho người khác vì chết trước thì sớm khỏi phải thấy thêm một cảnh hãi hùng. Sau cùng, cha tôi đầu hàng mẹ tôi, ông đồng ý để tôi cắt cổ trước. Tôi sờ soạng cổ ông và nắm được mạch máu mạnh mẽ của ông, ngón tay tôi cầm được dòng máu cuồn cuộn của ông như từ thác cao đổ xuống. Tôi đâm đầu nhọn của con dao vào. Một dòng máu nóng hổi phun ra xối xả. vậy mà cha tôi không chết ngay, ông còn hỏi coi thử các mạch máu đã ngưng đập chưa. Tôi đáp với kiến thức của tôi thì không đầy một phút mạch sẽ ngừng. Ông nói phải gì mau hơn nữa. Mẹ tôi hỏi tôi có chắc là sẽ tự cắt cổ mình mà chết không. Tôi trấn an là khi mẹ tôi “đi” rồi, tôi chắc chắn sẽ chết theo. Bà không nói gì nữa, kiên nhẫn ngồi chờ cứ như là tôi sắp sửa chữa bệnh cho bà. Chúng tôi ngồi im lặng cho đến khi đầu cha tôi gục xuống.
Google images
Tôi lại sờ cổ mẹ tôi, nắn nắn, cả sở học của tôi đều bỏ ra trong phút này. Thình lình tiếng đứa em tôi trên gác thượng gào lên khủng khiếp như ma đuổi. Vệ binh Đỏ đã tới. Nó nhảy ba bậc xuống ôm chặt lấy tôi. Tôi biết tôi không thể làm tiếp việc “giải phẫu” được nữa, nên vùng chạy lên lầu, mẹ tôi chạy theo. Tôi ra đến ban công thì Vệ binh Đỏ đã xông vô tới bên dưới. Tôi rú lên một tiếng, nhảy xuống đất. Tôi cố ý cho đầu xuống trước. Xung quanh tôi tiếng la hét hỗn loạn như tiếng quỷ cười. Câu chuyện như vậy đó. Tôi chỉ còn nhớ là mẹ tôi nhảy theo tôi. Rồi tôi nhắm mắt lại. Thế là hết. Tôi nhớ đã mở mắt lần đầu, thấy ai đứng quanh như là Vệ binh Đỏ. Rồi mở mắt lần thứ hai thấy nằm giữa cha mẹ tôi. Thì ra chúng tôi đã cùng tới địa ngục. Nhưng không phải may như thế, tôi chỉ bị ảo giác đó thôi. Tôi đang nằm một mình trong bệnh viện. Đầu băng kín, hai chân gãy. Một tuần sau tôi ra tòa án nhân dân. Tôi bị kết tội giết người và nặng nhất là tội tự ải để tránh bị nhân dân trừng phạt. Tôi bị kết án chung thân và bị đưa vào nhà tù. Hai xương chân gãy lìa, thằng cha bác sĩ bó lại không thẳng, nó để chồng hai khúc xương lên nhau khiến chân tôi bị ngắn đi, rồi băng bột. Thật ra đầu tiên nó dùng một bao cát nặng mười ký để kéo đầu xương gãy dãn ra cho ăn khớp, nhưng khi tôi vô tù, bệnh viện lấy lại bao cát nên hai khớp xương lại thu lại như cũ. Tên bác sĩ cũng không chống đối việc thu hồi bao cát. Tôi chỉ mong là nó không hành nghề bác sĩ nữa. Tôi vẫn chịu đựng được đời tù vì được bảo rằng mẹ tôi vẫn còn sống. Niềm hy vọng được gặp lại mẹ tôi đã giữ cho tôi ráng thở trong suốt mười một năm tù. Nhưng hóa ra người ta đã lừa tôi, thậm chí đứa em tôi còn dối như thế mỗi lần nó đi thăm. Mẹ tôi đã chết, mẹ tôi đã… Hồng lão kể xong chuyện y tiên sinh, lại chiêu thêm ngụm nước lã. Y tiên sinh cũng như hai lão nhân kia đã mất trí sau khi bị đưa về đây một thời gian ngắn. Hồng lão là người duy nhất còn khỏe mạnh. Hằng buổi tự chèo cái thuyền độc mộc đi câu cá. Cả bốn người sống trong câm lặng, cũng như cái tử thành câm lặng này. Khoảng năm năm trước đây, thành phố bắt đầu vắng bóng người, lớp thì chết vì già, vì bệnh tật, lớp bỏ trốn đi đâu mất biệt. Rốt cuộc chỉ còn Hồng lão và ba “đồng chí” cũng già nua, lọm khọm quên lối về và cũng không biết về đâu, đành ở lại trong cái công trường đã bị nhà nước và thậm chí cả nhân dân cũng không còn nhớ sự hiện diện của nó trên một phần đất hẻo lánh hoang vu ở ngọn Đài sơn. Bốn kẻ sống sót từ cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản và ba người mới đến chia nhau một nồi cháo loãng hơn nước vo gạo. Hồng tiên sinh chưa bỏ được thói quen hiếu khách tàn dư của giai cấp phong kiến phản động, kẻ thù của giai cấp vô sản bần cố nông bằng cách mang thêm một nồi đất lèo tèo mấy con cá kho nhỏ bằng hai ngón tay chụm lại, trắng nhợt và tanh như còn sống. Hồng tiên sinh lèm nhèm kể: – Trước cũng có mấy thuyền đến đây…(cắn cái đầu cá nhai bỏm bẻm). Có mấy cô còn xin…ngủ với già nữa để xin tiền…(trái cổ chạy lên chạy xuống), cho dù lão có tiền đi nữa cũng sức đâu… Hồng tiên sinh chuyển đề tài: – Có con đường đất, độc nhất, đi chừng năm mươi cây số thì tới làng phố, đông lắm, lão nhớ in như vậy. Đột nhiên phía cửa có tiếng chân chạy thình thịch, tiếng người la hét “chận lại, chận lại”, tiếng chân chạy ngang qua trước nhà, rồi mất hút. Hải bảo: – Cường nó chưa bắt được con mực. Dũng nói: – Vô phương kiếm ăn ở đây. Thành phố như thế này này.. Hải nói: – Vào rừng kiếm thử cái gì. Dũng vái từ biệt Hồng lão, rồi bảo Hải: – Ừ, đi gần gần thôi. Tôi về thuyền dặn dò rồi về lại với ông.
Google images
Hồng tiên sinh dẫn ra sau núi, ở đó có cái bể xi măng chứa nước ngọt. Nước từ trên núi chảy qua những ống tre bắt từ lưng chừng núi xuống, thật khoái vô cùng khi vừa chiêu ngụm đầu tiên từ cái gáo làm bằng vỏ dừa khô. Chàng bắt chước Dũng, vái Hồng tiên sinh rồi dắt Sương đi theo con đường đất dẫn ra rừng. Bỗng tiếng Dũng kêu lớn đằng sau: – Hải ơi, Hải ơi, khoan đã. Dũng thở hồng hộc, mặt đỏ gay, hấp tấp vẫy. Linh tính báo chuyện chẳng lành, Hải hỏi: – Gì thế? – Chiếc thuyền biến mất rồi. – Cái gì! Hải lôi Sương chạy theo Dũng ra bờ biển, bãi biển vắng ngắt, chiếc thuyền neo gần bờ đã không còn ở đó nữa. Dũng vò đầu bứt tai, ngửa cổ kêu trời, chửi thề loạn xạ. Rõ ràng là mọi người đều lên bờ hết, sau đó mạnh ai nấy túa đi kiếm ăn. Trước khi Dũng vào nhà Hồng lão, mọi người vẫn còn đó. Dũng nghiến răng bảo Hải: – Ông nhéo thử coi tôi có nằm mơ không? Hải cũng nghĩ thế. Chàng nhéo mạnh vào cánh tay Dũng, anh la “ối” một tiếng. Không có thuyền! Trời, và ở lại thành phố ma với bốn lão già. Hải nổi gai ốc. Chiều đang buông dần trên bãi vắng, tiếng chim gọi bầy trong rừng ai oán. Hải đưa ra hai giả thuyết: hoặc là Cảng thấy cuộc hành trình khổ ngoài dự tính; hoặc gã bị áp lực của đồng bọn không muốn đi nữa nên lén lấy thuyền trở về khi không có bọn Dũng. Nhưng còn Cường đâu? Cả ba người bắt tay làm loa, gọi lớn. Tiếng vọng rền cả thành phố nhưng vẫn tuyệt nhiên im lặng. Chắc chắn là Cường còn đâu đây vì anh đuổi con mực chỉ mới vài giờ trước. – Bây giờ tính sao? – Bây giờ tình sao? Hai người cùng hỏi nhau trong khi Sương ngồi thụp xuống, sợ hãi. Hải bảo: – Ông đi hướng nầy, tôi đi hướng nầy coi chúng nó có núp đâu không? Sương chờ đây nhé. Sương sợ hãi nhổm dậy quơ tay tìm Hải: – Không, em đi tìm… Nàng sực nhớ ra là nàng đã thành người vô dụng. Hải nắm tay Sương đi dọc bãi biển. Gió thổi ù ù, bãi biển hoang lạnh và những tảng đá vô tri. Hy vọng nhìn thấy con thuyền đâu đó tan biến như nắng chiều đang dần sẫm. Hải đi ngược lại con đường cũ, chàng rối trí không biết phải xử trí ra sao nếu phải chờ mãi nơi đây. Bóng đêm đã trùm lên cây, lên cát, lên biển. Không biết bao lâu, Dũng nói, tuyệt vọng: – Chịu thôi! Hải đề nghị vào trong phố ngủ qua đêm. Những nóc nhà chìm trong bóng tối như sắp thành những hình thù ma quái. Không gian lạnh lùng ghê rợn. Hải tưởng như tim mình ngừng đập khi từ vũng tối đang dần dà dầy thêm, xẹt ngang những đốm lân tinh ma quái. Thành phố này đã chứa bao nhiêu người chết, hẳn linh hồn oan tử đang trở về rủ rê. Hải muốn trở lại chỗ của Hồng lão nhưng bóng tối càng lúc dầy đặc quá, tựa hồ như bầu trời đang đổ thêm mực, chàng không thể nào nhớ ra mình đã đi đường nào đến. Sương nhắc khẽ: – Vào nhà này đi. Hải nhớ sực là bóng tối đã trở thành thế giới của Sương. Nàng đã “ngửi” được một căn nhà trong khi chàng và Dũng còn quờ quạng giữa đường. Họ lần theo bức tường rêu phong ẩm thấp. Tay họ đụng mép giường sắt, chất thép chạm tay như một luồng điện lạnh chạy thốc vào người xuyên lên tận óc. Bỗng từ đâu, tiếng chó tru từng hồi đe dọa. Tiếng u..u..u theo gió xuyên qua những đường vắng vọng lên như tiếng than về từ địa ngục, một địa ngục có thật nơi cõi người.
Gần hai mươi năm nay, cùng với người vợ dấu yêu luôn luôn bên cạnh, ông Mishio du lịch đã nhiều nơi, dự bao nhiêu hội nghị, có mặt trong những buổi tiếp tân tiếng tăm và lộng lẫy nhất, những bữa tiệc sang trọng và danh dự nhất, đã tiếp xúc với bao nhiêu khuôn mặt, tên tuổi lẫy lừng, danh vọng bậc nhất, xứ này và xứ khác, nhưng chưa bao giờ ông nhìn thấy một bóng dáng đàn bà nào như thế. Chưa bao giờ. Chỉ có những vóc dáng Tây phương rỡ ràng và quyến rũ, những đường nét đa tình thanh lịch của Đông phương như Trung Hoa hay Đại Hàn, hoặc cả những tài tử điện ảnh là những nhan sắc nổi bật nhất trong giới nữ lưu cao cách, nhưng chưa bao giờ ông tìm thấy đúng những đường nét uyển chuyển, mộng mị và tuyệt vời cho một cảm hứng bức tranh chưa bao giờ vẽ…
Người đàn bà ngồi đó, một tay nâng tách trà, một tay tì nhẹ lên thành trường kỷ cần xà cử, hai chân khép nép xếp vào nhau, tà áo đen dài ẻo lả buông xuống tận mũi hài thêu hoàng hạc lượn, mái tóc đen hơn nhung vén cao từng lọn nhỏ và thanh trên đỉnh đầu tròn nhỏ nhắn, để hé một nét cổ trắng ngần chảy xuống khung ngực áo rộng hình vuông lấp lánh một cành huyết ngọc bên phía trái.
Trong khung mắt vương buồn, người đối diện vẫn tìm thấy một lấp lánh ánh sắc tươi vui, hân hoan, như một thứ ánh đèn lồng hò hẹn trong vườn cây làm tăm tối sao mờ, dấu hiệu của một giờ tình tự ngọt ngào đằm thắm… Nét mày cong thỉnh thoảng cau lại, như hỏi han ân cần, như hờn giận nũng nịu, như vòi vĩnh van lơn làm nõn nàng đôi gò má cao phơn phớt một thoảng hồng man mác toả xuống đôi môi san hô non mấp máy giấu che hai hàng răng màu lựu non hé hé từng lời nói tiếng cười. Giọng nàng nhỏ, thanh, nhưng nghe rõ, như tiếng vang xa được lọc qua những tầng thanh khí trong vắt vắng im, nghe xa vời như từ cõi nào vọng vang, mà gần gũi như thủ thỉ gần kề bên gối.
Một chút vâng, một chút thưa, nàng dịu nhẹ, khoan thai, trân trọng trong câu chuyện, từng lời từng chữ nhỏ nhẻ, vừa ân cần từ tốn, vừa kiểu cách đoan trang, làm người nghe cảm tưởng mình luôn luôn được trọng vọng, kính nhường yêu dấu vô chừng…
“Thưa ông, ông bà còn ở lại đây chừng bao lâu mới trở về Nhật”. Nàng hỏi, với một thoáng nghiêng đầu dịu dàng và ánh mắt nghiêng hẳn về người đối diện chờ câu trả lời.
Ông Mishio bâng khuâng nghe chính tiếng nói mình lạ hẳn đi:
“Chúng tôi có lẽ phải về ngay sau buổi tiếp tân chiều nay”.
“Cuộc vui còn dài, ông bà vắng mặt, chúng tôi, những người ở lại sẽ mến tiếc vô cùng”.
Nàng nói và đối xử với những cử chỉ, cung cách và lời lẽ đặc biệt Đông phương như thế.
“Chúng tôi cũng tiếc, có phải không, mình nhỉ” – ông quay sang phía bà vợ mặc áo kimono tím với những tấm hoa in màu trắng xám, ngồi ghế bên cạnh, nhưng mà không thể làm sao hơn – “vì chúng tôi có việc cần chờ ở nhà”.
Bà vợ ngồi bên cạnh, im lặng, thỉnh thoảng một nụ cười dịu dàng, hiểu biết nở trên đôi môi hình trái tim nhỏ xíu màu hồng non. Theo ông, bà không biết một ngoại ngữ nào cả, và ngay đến tiếng Nhật, nhiều khi những người khác nói bà cũng không nghe hiểu nữa. Người đàn bà nói:
“Như vậy” – là vì bà chỉ biết có ông và muốn nghe mình ông thôi. Ông là vũ trụ của bà.
Người đàn ông chợp mắt, những vệt tóc trắng mềm mại rủ xuống vầng trán cao.
Ông tiếp tục giới thiệu vợ mình với người đàn bà vừa được gặp:
“Nhà tôi ít nói, gần như là không nói chuyện, nhưng hiểu biết tất cả mọi vấn đề, còn thông thái và sâu xa hơn cả sự hiểu biết của tôi. Nhất là về hội hoạ, chính khi tôi đang hoạ tranh, đang phân vân về màu sắc nào cho thích hợp với đường nét của bức tranh, nhà tôi đã chọn hộ màu đúng như tưởng tượng. Việc gì cũng thế, nhà tôi như lột hết những ý nghĩ thầm kín của tôi và làm giúp trước khi tôi thực hiện được.
Người đàn bà ngắm nghía và Mishio với một vẻ thán phục và cảm mến chân thành:
“Bà thật đáng quý, hai ông bà như vậy, đã tạo ra một thế giới riêng tư, không cần gì đời sống chung quanh nữa rồi”.
“Vâng, chúng tôi có thế giới riêng tư, và vì vậy, luôn luôn phải chống đối với bất cứ xâm nhập nào của người ngoài, đôi khi…”
Bà vợ vỗ nhẹ bàn tay mũm mĩm lên cánh tay chồng nói một câu dài tiếng Nhật.
Ông ta quay lại phía người đàn bà áo đen, tiếp tục câu chuyện, nhưng vấn đề khác.
“Thưa bà, còn bà ở lại đây bao lâu?”
Mặc dù cuộc vui vẫn còn tiếp tục, nhưng nếu ông bà ra về, có lẽ tôi cũng phải từ bỏ hết đi theo, bởi vì, xin thú thật trong đám quan khách kia, tôi không tìm thấy một ai có thể ý hợp tâm đầu để trò chuyện, dù chỉ là những chuyện vu vơ. Như thế, là tôi cũng sẽ sang Nhật khi ông bà đi rồi…
Người đàn bà ra ý hiểu điều người lạ nói, liếc nhanh dò xét nét mặt chồng. Nhưng trong khuôn mặt khả kính của người đàn ông yêu dấu, bà không tìm thấy một thoáng xúc động nào cả, nên lại cúi mặt xuống, ngắm những móng tay màu hồng nhạt của mình, khẽ mỉm cười âm thầm.
Bên kia, người ta đang tán tụng, chúc mừng nhau theo nghi lễ. Hình như Tổng thống và phu nhân đang lần lượt bắt tay quan khách để ra về. Những người hầu cận rào rào chạy lên xuống những bậc thang lầu trải thảm nhung đỏ. Tiếng áo xiêm sột soạt cạnh những hàng ghế bọc gấm. Rồi tiếng chân như xa dần dưới kia lầu.
Người đàn ông ngồi lại bên cạnh vợ, chỉ tiếp những bạn bè bằng hai con mắt đằm thắm nhìn theo, nói với người đàn bà bằng thứ giọng nhỏ và trầm của ông.
“Hình như họ ra về hết. Bà đã về chưa?”
“Bao giờ ông bà đứng lên, tôi sẽ xin theo”.
“Không, chúng tôi theo bà”.
Nàng nói:
“Chúng ta ra ngoài kia xem cảnh yên ba của buổi chiều”.
Nàng nói, và lùi lại, nhường cho người đàn ông đi trước, rồi dịu dàng, niềm nở, với một chút tôn quý nàng nâng cánh tay bà Mishio, dìu bà ta theo mình, sau lưng người đàn ông.
Bà vợ cười, im lặng, cánh tay nhẹ hẫng tay nàng, và bước đi nữa, cũng như lãng đãng vật vờ trong sương sao.
Người đàn bà ra tựa lan can, nhìn xuống mặt hồ khói mây mịt mờ dạo chơi lãng đãng trên những bờ cây sẫm sắc chiều hôm. Tiếng ông Mishio ung dung đều đều bên cạnh.
“Không bao giờ có nét bút hoạ nổi những cảnh nét quá tuyệt vời trong thiên nhiên và đời thật, đáng tiếc”.
“Thế sao những bức tranh vẫn đẹp hơn những cảnh ngoài, thưa ông?”
“Chỉ khi người vẽ tìm thấy đúng một ảo giác nào đó. Với tôi, hoạ tranh do xúc động hơn là ảo giác, nhưng chính sự xúc động thái quá làm xô lệch hết màu sắc và đường nét. Ví dụ như…”
Giọng ông chìm rồi tắt.
Người đàn bà tưởng chừng như họ, cả hai vợ chồng, đã tan biến vào thinh không.
Nàng quay lại ông Mishio đang ngẩn ngơ nhìn phía sau mình. Người vợ đã đi đâu mất. Ông ta có vẻ buồn bã, băn khoăn.
“Nhà tôi đi xuống dưới ấy rồi”.
“Dưới ấy là ở đâu ông?”
“Dưới ấy mà…”
Ông Mishio nói lửng lơ, rồi thở dài kín đáo và tì tay vào lan can, hai mắt đắm chìm vào bóng chiều tịch mịch vây phủ quanh lầu. Trong mắt ông bây giờ, những người khách cuối cùng qua lại đó, cũng ẩn hiện, lãng đãng như khuất chìm trong sương, những tiếng động cũng nhỏ và xa như tiếng ông trên môi mấp máy. Mọi sự đều mơ hồ xa tắp trong cảm nhận mịt mùng lênh láng của ông bây giờ. Người đàn bà trong mắt ông bỗng nhỏ lại, mất hết bề dài, chiều dày, chỉ còn lại một nét thuôn mơ mòng trong hai mắt ông hình dung bức tranh sẽ vẽ. Nhất định sẽ vẽ bức tranh chờ đợi. Nhập nhoà trên bức tranh phác hoạ với tưởng tượng và ký ức, ông thấy như có khoé mắt nhìn trách móc của bà Mishio. Ông nói thầm trong im:
“Không phải như mình đang nghĩ và làm đâu mình yêu quý ạ, nhưng tôi chỉ muốn thực hiện bức tranh mong ước thôi. Cả một đời người, chỉ vẽ được một bức tranh như thế thôi, mình nỡ buồn lòng và hẹp lượng sao? Cho tôi vẽ, nghe mình, nghệ thuật là nghệ thuật, mình phải hiểu, như mình đã gần và đã hiểu tôi, hai mươi năm xưa, và hai mươi năm từ ấy đến bây giờ…”
Mặc dù băn khoăn về việc bỏ đi đột ngột của bà vợ, ông Mishio vẫn trao cho người đàn bà lạ tấm thiếp, căn dặn đường đi và nơi chốn rõ ràng, mời nàng đi sang Nhật bớt chút thời giờ ngắn ngủi ghé thăm ông bà ở Kyoto, một ngôi nhà u tịch gần ngôi chùa cổ.
Khi người đàn bà tìm được nhà ông Mishio, trời chợt mưa lất phất. Cơn mưa nhẹ và mờ như bụi phủ trên vườn cây xanh tĩnh mịch quanh ngôi nhà cũ hoang vắng với mái nâu cũ kỹ loáng thoáng bóng rêu phong, với những đọt cây lô nhô từ sau hiện như bầy rắn nhỏ đang tìm đường chạy trốn khỏi những khối cây cối rậm rạp lạnh lẽo bốn bề. Trời nhuộm một màu sáng bạc như bạn hữu một cơn bão lớn về đêm, bay vừa qua một trận biến động đất trời, bây giờ, những người chết vì trận thiên tai như còn lảng vảng oan hồn đâu đó.
Nàng gọi, không thấy một bóng người nào lai vãng trong khoảng sân lát gạch loáng thoáng bóng những cây tùng lùn thấp già cỗi trồng trong những chậu sứ khổng lồ màu sắc vừa rực rỡ vừa kỳ dị được lấy trộm từ một cung điện nào từ ngàn năm. Lối đi là những mặt gỗ cắt ngang của một thân cây lớn, khảm thành hàng không đều nhau trên mặt đất màu nâu đen cẩn những đường viền sỏi trắng và tím. Đây đó lởm chởm những cụm cỏ già màu lục sẫm, thỉnh thoảng một bông hoa tím dại ngơ ngẩn mọc lên như một dấu hỏi lặng câm giữa màu xanh u tịch của vườn cây. Thoang thoảng mùi thơm của một loài lan quý nào nở kín bên hiên vắng.
Cánh cửa bằng giấy phía phòng khách mở hé cho thấy một tấm thảm màu đỏ gạch, thêu những vòng hoa xanh và tím sặc sỡ. Mấy đôi dép Nhật Bản xếp ngay ngắn ở lối ra vào. Tiếng một con chim bay qua mái hiên, cất tiếng hót ngại ngần trong thinh không hiu hắt. Người đàn bà đi chậm từng bước nhỏ, cái dù nghiêng trên vai, qua khoảng sân vắng, vào trong hiên, đứng đợi một người nào ra chào đón. Nhưng không có ai cả, nhưng những dấu vết quanh nhà chứng tỏ vẫn có người ra vào, qua lại luôn luôn. Sự hiện diện thường trực và bí mật của một bóng người làm cho không khí chừng như lạnh lẽo và trang nghiêm hẳn đi trong một cảm nhận bàng hoàng và sợ hãi về một cõi nào ở ngoài đời sống thật.
Tiếng mưa từng sợi chảy từ những tầng lá cao xuống cây hoa thấp là đà sát mặt đất, âm vang buồn bã xa lạ và lạnh lẽo, làm nàng chợt cảm thấy mình đang lạc lối trong một cõi nào cách trở và huyền hoặc, không bao giờ còn tìm đường trở về được những lối đời quen thuộc trước kia, nếu không có một dẫn dắt vô hình và thân thuộc nào đó.
Chiếc xe thả nàng xuống cổng nhà đã mất hút bóng từ lâu ngoài con đường vắng vẻ lạnh lẽo. Bỗng nhiên nàng lạnh người nghĩ nếu mình đang tới lầm nhà một người nào khác hoặc đã đến nơi nhưng ông bà Mishio đã đi vắng, còn lâu lắm mới trở về.
Người đàn bà nhìn vào trong, trên chiếc chiếu hoa mà ngà và tím, cái bàn vuông sạch sẽ đặt một bình hoa cúc tím nhạt. Mấy cái hoa còn rung rinh ướp kín những giọt mưa sương lóng lánh. Một đĩa bánh ngọt và hộp thuộc bằng đồi mồi bên cạnh những chiếc khăn lau bằng giấy cắt hình hoa cúc thật khéo. Như chủ nhà dọn sẵn và chờ đợi một người khách có hẹn từ trước. Nàng nghĩ:
“Hai ông bà ấy chắc chắn là có nhà vì sắp đón một người khách nào đó”.
Nàng quả quyết và lấy hết can đảm, tháo giày, thong thả dè dặt từng bước một, bước hẳn vào trong nhà, mở ví, lấy hộp bánh và những gói trà ngon, làm quà tặng chủ nhà đặt lên bàn.
Có tiếng guốc gỗ lóc cóc thật nhẹ phía hành lang bên trái. Rồi tiếng cửa giấy động khẽ. Nàng chờ một tiếng nói, một bóng người, nhưng không có ai cả.
Chờ một lúc, một lúc lâu như hàng ngày ở đời sống quen thuộc ở quê nhà, nàng đành lên tiếng:
“Chào ông bà Mishio, có tôi đến thăm…”
Một tiếng cười nhẹ, như gió cầm thoảng qua. Rồi tiếng dép sột soạt trên tấm chiếu hoa. Người đàn bà ngẩng lên nhìn. Bà Mishio tươi thắm với chiếc kimono màu hoa đào với những cành lá trắng, mái tóc láng lẫy như hôm đầu tiên gặp nhau, cài thêm một búp hoa hồng ngọc. Đôi môi không thoa son hồng tươi hé một nụ cười dịu dàng làm lắng dịu những băn khoăn trong lòng người đối diện, bà Mishio bỗng nói, không bằng tiếng Anh, không phải là tiếng Nhật, nhưng người đàn bà vẫn nghe và hiểu, như thường nghe và hiểu được ngôn ngữ của những người chuyện trò trong chiêm bao: “Mời bà ngồi, tôi biết thế nào bà cũng sẽ đến, chắc chắn là bà sẽ đến, cho nên mấy hôm nay vẫn có mong chờ. Tiếc thay, ông nhà tôi lại đi vắng hôm nay. Có lẽ ông ấy cũng sắp về, thôi tôi xin phép được đón tiếp bà vậy và ước mong bà sẽ hài lòng những giờ dừng lại trong gia đình chúng tôi”.
Người đàn bà nhìn quanh, tỏ vẻ thán phục cách trang hoàng của chủ nhân. Bà Mishio tươi cười:
“Bà sắp khen, phải không, nhưng lối trang hoàng này đã cũ quá, như thế này đã gần hai mươi năm, không thay đổi”.
Người đàn bà lạ kinh ngạc:
“Tại sao gần hai mươi năm, bà có thể giữ nguyên mọi vật trong nhà không thay đổi?”
“Có gì khó đâu, thưa bà, chỉ do người ta muốn giữ gìn hay thay đổi đó thôi. Giữ gìn thì hai mươi năm hay hai trăm năm còn nguyên vẹn đó. Nhưng nếu muốn thay đổi thì chỉ cần một ngày, một giờ, một chớp mắt ta thôi”.
“Thưa bà nói về cái gì?”
“Tất cả mọi thứ đều như thế cả, phải không bà, những vật bên ngoài cũng như những ẩn tình trong lòng người”.
Người đàn bà lại nhìn quanh, không thấy dấu vết một đồ chơi, quần áo gì của trẻ con hay một kẻ thứ ba nào ngoài hai ông bà chủ nhân.
“Thưa bà Mishio, các em hẳn đi học ở xa?”
Bà Mishio ngồi xếp chân trên chiếc gối thêu, vén tay áo kimono rón rén pha trà trong bình ra tách ngọc.
“Mời bà dùng trà, trà ướp hoa cúc của tôi tự làm cho nhà tôi dùng đó, nhà tôi chỉ uống được trà do tôi làm thôi cho nên, những lúc đi đâu, nhà tôi chỉ nâng tách trà mà không uống, bà có thấy không?”
“À, bà lại nhắc, bà nhớ từng chi tiết ấy sao?”
“Thường thì tôi không nhớ gì những lần đi theo nhà tôi, vì không có gì quan trọng đáng nhớ cả, nhưng mà từ hôm đó đến nay thì tôi cố nhớ lại từng chi tiết từ đầu và tôi nhận ra…”
“Cái gì vậy thưa bà?”
Bà Mishio nhìn ra ngoài vườn hoa lặng lẽ, bỗng thở dài, với một giọng nói nửa u buồn, nửa hoảng hốt.
Có lẽ sẽ có một cơn bão nhỏ đâu đây, và nhà tôi về nửa đường sẽ gặp cơn bão nhỏ.
Người đàn bà lạ cũng nhìn trời u ám bên trên những mái cong rêu phủ.
“Bà có cần đi đón và mang dù hay áo ra cho ông hay không?”
“Nhà tôi có mang dù theo, không sao. Nhưng với cơn bão thì trăm ngàn cái dù cũng vô ích thôi”.
Giọng của bà Mishio có vẻ trách móc, tiếc than lạ lùng làm cho bà khách bối rối và ái ngại.
“Xin lỗi bà, có lẽ tôi xin về thì hơn, hôm khác trời tốt, nếu còn nấn ná ở lại Nhật, tôi sẽ lại thăm ông bà”.
Tiếng cười bà Mishio có vẻ giễu cợt và chua chát:
“Xin bà nán lại cho qua buổi trưa nhà tôi sẽ về, dù là về trong cơn bão nhỏ, nếu biết có bà lại trong lúc đi vắng, nhà tôi hẳn buồn tiếc vô cùng và sẽ trách tôi vô ý không giữ chân bà lại”.
“Bà thật khéo nói, vậy tôi xin ở lại chờ ông về để thăm ông. Biết đâu không có dịp trở lại và gặp nhau lần khác nữa”.
“Thật rủi ro, bà đến thăm vào hôm trời không đẹp nên không thể đưa đi ngoạn cảnh được cũng không xem hoa trong vườn”.
Người đàn bà lại nhìn quanh và băn khoăn vì câu hỏi về con cái của mình chưa được trả lời. Hình như bà Mishio không muốn nói đến con cái.
“Chắc là các em cũng sắp về”.
Bà Mishio lạnh hẳn mặt đi.
“Chúng tôi không có con”.
“Dạ…”
Người đàn bà nghĩ thầm, chắc là hai ông bà Mishio có một bí mật nào đó về mối tình của họ. Họ chênh lệch tuổi tác, trông rõ hẳn. Ông gần gấp đôi tuổi bà và vì thế, hẳn ông đã có một đời vợ trước, có nhiều con đã lớn lên, và đến khi lấy bà vợ trẻ sau này thì… vì một nguyên do nào đó, không muốn có con nữa. Vì thế cho nên nhắc đến con cái, bà đã buồn bã không muốn trả lời.
Nhưng như đoán biết những ý nghĩ thầm kín trong trí khách, bà Mishio nói:
“Tôi chỉ mang thai có một lần, vào lúc gần ba mươi tuổi, nhưng bị tiểu sản và tôi cũng… rồi thì gần hai mươi năm nay…”
Khách kinh ngạc:
“Nếu vậy, bây giờ bà đã… bốn mươi sao, xin lỗi tôi phải hỏi như thế, bởi vì trông bà chỉ chừng hơn hai mươi tuổi”.
“Phải, tôi chỉ hơn hai mươi tuổi. Nhưng mà đã gần năm mươi… bà thấy là lạ lắm, phải không, đời tôi như vậy… đã hai mươi lăm năm nay… hình như trời hẩng nắng ngoài kia, nắng giữa hai cơn mưa, mời bà nhấp tách trà rồi ra xem cảnh”.
Khách đi theo người chủ ra ngoài. Những tia nắng long trên hàng mưa còn đậu trong vắt trên những đợt tùng láng lẫy. Những bông hoa đủ màu đủ vẻ lộng lẫy rung động trong cơn gió mát lạnh.
Càng đi về phía trái ngôi nhà, vườn hoa càng rộng và hoa càng trồng nhiều cho đến khi tiếp giáp với hồ sen rộng mênh mông. Những bông sen Nhật Bản trắng nõn nàng, cánh xếp chồng chất như từng mảnh lụa cắt khéo, với những tấm lá lớn đựng đầy nước mưa lóng lánh trên hồ như thủy ngân. Những đám bèo Nhật Bản li ti từng tai nấm tí hon xếp từng vầng trôi giạt quanh quẩn giữa vùng nước xanh rêu in bóng những đợt cây già nghiêng mình soi năm tháng. Tiếng một con cóc kêu nhỏ trong một bụi cây nào ẩm ướt cuối vườn.
Bàn tay lạnh ngắt và trơn láng như bụng một con thằn lằn của bà Mishio bỗng nắm lấy bàn tay bà khách. Giọng bà Mishio như chỉ còn là hơi gió thoảng trong lá cây.
“Những bông hoa này, hồ thả sen này, tôi chăm nom đã hơn hai mươi năm nay…”
“Hai mươi năm, không thay đổi”.
“Bây giờ thì thay đổi”.
“Sao bà cho là thay đổi?”
“Nhà tôi thay đổi, thì mọi thứ cũng phải thay đổi theo chứ, bà xem rồi cả tôi nữa, tôi là thứ bị thay đổi trước nhất, bà sẽ thấy như thế”.
“Thưa bà, ông thay đổi, làm sao bà biết như thế?”
Bà khách quay nhìn lại. Mặt bà Mishio trắng như phiến giấy với hai con mắt bỗng hừng lên một màu hồng vàng kỳ lạ như mắt cá thia đỏ. Trong con mắt chợt đổi màu long lanh ấy, con ngươi như sáng lên với một tia lửa hắt hiu ảm đạm, như ngọn đèn nhỏ được treo từ một đáy sâu nào xa hút âm u.
“Từ lúc ấy, nghĩa là gần hai mươi năm nay, nhà tôi chỉ trau chuốt những bức tranh dở dang, nhưng không bao giờ vẽ một bức tranh mới nào. Nhà tôi bảo là những cảm xúc đã chết hết, đã chết theo…”
“Chết theo…”
“Phải, chết theo… như bây giờ nhà tôi muốn vẽ tranh lại, nhà tôi đang đến hoạ một cảnh gần chùa, cách đây không xa lắm. Nhà tôi vẽ, là mọi sự thay đổi cả”.
“Như thế… bà nên mừng đón sự thay đổi của ông chứ”.
Sắc mặt bà Mishio trở lại tươi thắm và bình thường như cũ.
“Vâng, thưa bà, đó là điều đáng mừng, bao nhiêu năm nay, tôi chờ đợi sự thay đổi đó, khuyên nhủ nhà tôi cần phải thay đổi đi như thế kia mà, nhà tôi đã khăng khăng giữ lấy đời sống cũ, những bức tranh cũ, những xúc động cũ. Nhưng bây giờ thì nhà tôi đã tìm thấy điều tôi mong muốn, dù rằng như vậy thì tôi sẽ… Thôi thưa bà, xin bà đừng nói đến những điều đó nữa… Kìa, hình như nhà tôi đã về. Đúng là nhà tôi về. Lạy trời, cơn bão đã không tới. Không chừng là sẽ tới, nhưng muộn hơn, khi nhà tôi đã ở trong nhà, và bà nữa, bà cũng đã đến nơi…”
Người đàn bà nhìn ra ngoài cổng. Qua những tàn thông tùng xanh ngắt cách khoảng nhau thành những ô hình thoi và hình chữ nhật trong mắt nhìn bỡ ngỡ, người đàn ông tay xách hộp thuốc vẽ, và giá, tay cầm dù thong thả đi vào. Nhận ra dấu vết của khách tới thăm, ông ta dừng bước, nhìn vườn hoa, cất tiếng chào hỏi. Nét mặt ửng lên một thoáng hồng tươi đầm ấm và giọng nói hơi run, tỏ ra ông vừa mừng rỡ vừa xúc động lạ thường.
“Đúng là bà, không ngờ bà lại giữ lời hứa đến thăm chúng tôi từ xa xôi. Mời bà vào trong nhà… nhà tôi hẳn đã pha trà cúc hoa rồi chứ. Này mình ơi, chọn cho bà đây một cái kimono đi mình, bà sẽ ở lại với chúng ta…”
Người đàn bà nhìn lại, định cầm tay bà Mishio tỏ dấu hoan hỉ và cám ơn sự đón tiếp nồng hậu của hai ông bà, nhưng một thoáng nhìn quanh quất, nàng không thấy bà chủ nhà đâu nữa. Chỉ còn tiếng gió quạt nhẹ nhàng trên những tàn lá cây xanh loáng loáng những giọt nước mưa đong đưa óng ánh nắng vàng yếu ớt như một nụ cười gượng gạo cuối cùng. Chỉ còn, vẫn tiếng một con cóc, buồn bã kêu lên trong cụm hoa nào cuối vườn, và tiếng một cành hoa nào rụng xuống mặt hồ sen, âm vang mơ hồ, xa xôi, như tiếng một giọt nước mắt âm thầm rơi từ khuôn mặt mùa thu ảo não.
Bà Mishio nói, đã lâu không được đón tiếp một người khách nào nên bây giờ cơn vui làm no lòng và bà không thấy thích ăn cơm bằng được ngồi tiếp khách bên cạnh, mặc dù từ chối bữa cơm khi có khách như vậy là một việc khiếm nhã. Bà thành khẩn xin lỗi và luôn tay tiếp thức ăn cho chồng và bà khách quý. Bữa cơm thanh đạm, nhưng ngon lành, gồm một chén canh cải nấu với cá, một đĩa tôm lột vỏ chiên bột ăn kèm với khoai chiên, một đĩa nhỏ dưa gang ướp mật rượu và đường màu mã não, những khoanh trứng gà luộc trên một đĩa xà lách thật tươi ghim từng trái táo đen, hạnh nhân và hạnh đào mào đỏ. Tất cả được trình bày khéo léo trong bát đĩa bằng một thứ gỗ đen và nhẹ, cẩn hoa và chim bạc, bướm và những cánh tùng già. Những hột cơm trắng, dẻo vít lên đầu mút đũa nhẹ tênh mà đủ thắm. Người đàn bà đã được bà Mishio mời đi tắm nước nóng, thay một chiếc kimono đẹp nhất của chính bà cất giữ từ nhiều năm, màu đỏ và những bông hoa đen trắng lớn, một đôi dép nhẹ cùng màu, mớ tóc vấn cao để lộ chiếc gáy trắng mỏng lưa thưa những dải hoa vải mong manh. Ba người quỳ gối quanh chiếc bàn vuông thấp, mỗi người một mâm cơm riêng trước mặt. Bà Mishio ngồi tiếp thức ăn một lúc rồi lấy cớ đang bận những việc gì đó ở nhà sau, cáo từ và rút lui.
Bà Mishio chỉ trở ra một lần để dọn dẹp bàn ăn thay thế một tấm khăn trải bàn thêu tay khéo, dọn trà bánh và chưng một bình hoa rồi mới biến mất sau nhà bếp.
Ông Mishio xin lỗi khách về sự vắng mặt bắt buộc của vợ và tỏ vẻ hân hoan nếu được khách chiếu cố đến những bức tranh đã vẽ từ hai mươi năm xưa của ông.
Phòng tranh chỉ cách phòng khách một bức tường giấy mỏng. Những cửa nhỏ sát hàng hiên sau được kéo lên. Ánh nắng vàng tươi nhảy múa chao lượn trong những góc phòng quen bóng tối. Gần một trăm bức tranh treo san sát nhau quanh bốn bức tường thấp của gian phòng rộng thênh thang. Một số, không đủ chỗ, đã phải chồng chất lên nhau xếp vào các góc. Màu sắc trong xanh u trầm, mờ nhạt, như những vết khói mờ tan loãng dần trong hư vô.
Trên giá vẽ của kệ trong góc phòng, một bức tranh lớn được phủ một tấm lụa vàng đã bạc màu. Người đàn bà tò mò tiến lại gần giá vẽ. Ông Mishio có vẻ bối rối, nửa muốn ngăn cản, nửa ngại ngần. Cuối cùng ông nói:
“Đó là bức tranh dở dang cuối cùng của tôi. Từ đó đến nay, tôi gác bút luôn, không thêm được nét nào nữa”.
“Bà nói, ông vừa vẽ trở lại, và hôm nay ông vừa đi hoạ thắng cảnh nào gần đây”.
Ông Mishio cười buồn rầu:
“Tôi tưởng là có thể vẽ lại được, nhưng tay đã cứng mất rồi. Trái tim già cỗi và những ngón tay cứng khô”.
Người đàn bà băn khoăn.
“Bức tranh kia chưa xong, sao ông không hoạ tiếp tục. Ông hoạ gì trong đó”.
“Vợ tôi, tôi vẽ bà ấy mang thai ba tháng hồi đó, tôi say mê vẽ đến bất kể một thứ gì khác, nhất là bức tranh ấy… đến nỗi… mỗi ngày dù mệt nhọc đến đâu, nhà tôi cũng bắt buộc ngồi làm mẫu cho tôi vẽ chừng ba bốn tiếng đồng hồ sau công việc mệt nhọc. Hồi đó, chúng tôi nghèo cực kia, tranh tôi không bán được, vợ tôi cũng chưa có tiếng tăm gì để làm ra được chút tiền, nhà tôi phải âm thầm tần tảo lo liệu lấy mọi việc để giúp tôi yên ổn thời giờ tâm trí hoạ tranh. Thời ấy, tôi không nghĩ ra mọi điều tai hại của sự say mê của mình, cũng như không hề lưu tâm tới những khổ sở mà nhà tôi vì tôi phải chịu đựng những mệt mỏi, đau đớn quá mức để ngồi cho tôi vẽ, nhà tôi bị hư thai, và phải mổ… rồi thì…”
Người đàn bà bỗng lắng nghe. Hình như một tiếng khóc nức nở mơ hồ từ bên kia bức tường giấy vọng sang. Người đàn ông như không nghe tiếp tục những ý nghĩ đắm chìm.
“Tiếc thay, tôi đã dành lại cặp mắt cho nét vẽ cuối cùng. Cho nên không kịp nữa. Và bức tranh đã dở dang”.
Người đàn bà thắc mắc:
“Về sau, bà không ngồi tiếp cho ông vẽ xong đôi mắt?”
“Đôi mắt ư? Trong bức tranh bây giờ là hai vầng tối trống không. Và trong đời sống thì… chỉ còn là cái nhìn xa vắng. Bà không thấy điều đó sao?”
“Đôi mắt bà… tôi thấy, nếu ông tiếp tục bức tranh bà thì đôi mắt bây giờ không chừng đẹp hơn xưa”.
“Tôi không thể hình dung lại, tưởng tượng nhà tôi để vẽ lại. Cái gì xoá nhoà, mờ mịt, một khoảng cách vô bờ giữa chúng tôi ngăn chia tầm mắt và biến đổi cái nhìn”.
Người đàn bà lạ lùng:
“Sao bà không ngồi đây, và ông vẽ bà?”
“Tôi không thể vẽ cái bóng”.
Người đàn bà cảm thấy có nỗi gì bí ẩn, muốn hỏi nhưng người đàn ông đã khép cánh cửa sổ lại, ánh sáng đã lần về trời, căn phòng mờ tối lạnh lẽo và hai người trở ra phòng khách, tiếp tục những chén trà nóng thơm ngát mùi hoa cúc.
Người đàn bà tỏ ý muốn mời bà Mishio lên ngồi nói chuyện, vì nàng không thể ở lại lâu, còn phải trở về Osaka để cùng đi mua sắm với mấy bà bạn.
Ông Mishio thở dài:
“Ở Kyoto này thì không có gì vui cả, nhưng nếu bà ở lại với chúng tôi, ngày mai chúng tôi sẽ đưa bà đi xem ngôi chùa cổ. Còn nhà tôi thì… bây giờ là buổi trưa, buổi trưa nào nhà tôi cũng phải vắng mặt để ra ngoài ấy“.
“Dạ, ông bà còn có một ngôi nhà nào khác?”
“Không, chỗ của nhà tôi”.
Người đàn bà bỗng nhớ tới bức tranh dở dang trong phòng tranh cũ. Có cái gì làm bà nghĩ tưởng lan man không dứt đến bức tranh kia, và những câu nói nửa vời của ông Mishio. Nàng hỏi không ngăn được lòng trí tò mò.
“Xin ông… cho tôi được xem bức tranh của bà trong ấy, tại sao ông lại phải che tấm lụa như vậy, phòng không có bụi mà? Những bức tranh khác để trần cũng có hư hao gì đâu”.
“Nhà tôi muốn che lại như thế, và tôi phải che lại từ ngày ấy. Bà muốn xem thật ư? Chắc là nhà tôi không bằng lòng đâu, nhưng mà… từ xa xôi đến, chẳng lẽ bà chỉ muốn ngắm một bức tranh lại không thể được. Mời bà cứ trở lại phòng tranh và xin tùy tiện”.
Người đàn bà đứng lên, trong lúc ông Mishio ngồi lại một mình ở phòng ngoài.
Nắng bỗng tắt khi nàng nâng khung cửa sổ lên chờ chút ánh sáng hắt vào phòng. Căn phòng mờ tối lạnh lẽo phảng phất mùi ẩm mốc, mùi thơm lạnh và nồng của một thứ gỗ trầm xưa cũ.
Người đàn bà rón rén lại gần bức tranh trên giá và giở tấm lụa vàng lên. Nàng lùi lại một bước và cảm thấy một luồng nước lạnh luồn khắp châu thân làm hai chân cơ hồ dán in xuống đất và hai tay run cứng lại treo nửa vời. Nàng nhìn đăm đăm bức tranh kỳ diệu lồ lộ khuôn mặt kiều mị của người đàn bà đã nhìn thấy. Vẫn đôi môi đỏ, cặp má hồng đầy, cái vẻ tươi thắm và thanh tú sống động của khuôn mặt vương vất sợi tóc đen nhánh lung linh. Bức tranh như diễn tả đầy đủ một khuôn mặt sống thật đang linh động trong mắt người nhìn ngắm. Nhưng… không như ông Mishio nói chưa vẽ xong cặp mắt ngày ấy, người đàn bà nhận ra đúng là màu mắt và dáng nét, cái nhìn vừa dịu dàng vừa u uất của người đàn bà, và vẻ dị thường của ánh mắt nàng đã nhìn thấy tình cờ trong vườn hoa buổi sáng. Nàng nhớ rõ là ông Mishio đã nói chưa vẽ cặp mắt, trong tranh, mắt chỉ mới là hai khoảng trống. Không lẽ nhiều năm, và ông đã quên, hay một lúc nào ông đã vẽ tiếp đôi mắt bà, nhưng ông chẳng nhớ. Thắc mắc, và sợ hãi trong một cảm giác rờn rợn kỳ lạ, nàng lùi lại từng bước vội vã, đi nhanh ra phòng khách. Nàng nói cho ông Mishio biết điều vừa trông thấy, và nàng cũng nhờ ông vào che lại bức tranh như cũ mà trong lúc vội vàng nàng đã quên.
Ông Mishio đứng phắt dậy, im lìm như trời trồng một lúc lâu khi nghe nàng nói. Mái tóc trắng rung rung, vầng trán xếp lại từng nét nhăn xót xa, hai tay run run lần về phía trước, ông như chết điếng đi một lúc lâu rồi lẳng lặng bước vào phòng tranh. Người đàn bà rón rén theo sau, đứng ở khung cửa nhìn vào.
Hai tay bưng mắt, người đàn ông đứng lặng trước bức tranh, rồi ông tháo bức tranh ra khỏi giá, áp vào ngực, nước mắt giàn giụa chảy dài xuống má. Người đàn bà nghe tiếng ông hỏi vọng ra…
“Bà để… tấm khăn lụa đâu rồi?”
“Bên cạnh giá vẽ, trên mặt bàn ấy”.
Im lặng một lúc, rồi bỗng người đàn ông kêu lên:
“Tôi tìm khắp không thấy tấm khăn lụa vàng đâu cả, xin bà nhớ lại cho, bà có mang khăn ra khỏi phòng không?”
Người đàn bà rợn người:
“Tôi… có cầm khăn ấy đi đâu. Ông tìm lại xem”.
“Cái khăn không còn trong phòng nữa. Chắc là nhà tôi đã lấy đi rồi”.
Người đàn bà lạc giọng đi:
“Bà… đã về”.
“Có lẽ và lại đi rồi, lần này thì… không chừng nhà tôi đi chẳng trở về nữa…”
Không ngừng được, người đàn bà níu lại cánh tay ông Mishio:
“Ông nói cái gì, có chuyện gì vậy? Xin ông nói ra”.
Ông Mishio thận trọng đặt bức tranh trở lại chỗ cũ, yên lặng kéo cánh cửa lại và lặng lẽ đi ra khỏi phòng. Ông ngồi xuống chiếu, hai tay chắp trước ngực, mắt khép lại, tâm thần phiêu diêu trong một cõi xa vời mộng mị nào. Rồi trên môi thoang thoảng một nụ cười nhợt nhạt, ông Mishio lẩm bẩm một mình như không có ai trước mặt:
“Mình hiểu lầm tôi, mình đã hiểu lầm tôi rồi, không phải như mình nghĩ đâu”.
Ông Mishio nghe như trong xa vắng có tiếng nói rất khẽ đáp lại lời mình thì thào:
“Ông đừng chối, tôi thấy rõ ông hơn cả chính ông nhìn thấy ông mà. Mặc dù chưa đến đâu, chưa xảy ra chuyện gì cả, nhưng mà câu chuyện đã khởi đầu, nếu cứ tiếp tục, một lúc nào đó điều tôi đang nghĩ về mình sẽ đúng”.
Ông giang tay trong không khí mong níu kéo một chéo áo kimono mơ màng đâu đó:
“Không, không phải thế, chẳng có chuyện gì xảy ra, dù chỉ là trong ý nghĩ tôi thôi. Tôi chỉ yêu quý mình, suốt đời tôi chỉ biết có mình mình mà thôi”.
Ông lắng nghe. Không còn lời nào đáp lại, dù là trong xa vắng. Ông tưởng như lời mình không còn ai nghe nữa và một giây ông cảm nhận tất cả nỗi quạnh hiu của tuổi già, và cô đơn đã kéo dài từ bao nhiêu năm và từ đây nối tiếp, mãi mãi vô tận của đời người, không biết tới bao giờ.
Người đàn bà chậm rãi từng bước nhỏ qua khung cửa vắng. Mù sương buổi sáng giăng mắc một vùng cảnh vật đắm chìm trong giấc ngủ. Ngôi chùa cổ cao rộng mênh mông đen thẳm cắt thành một khối khổng lồ im lìm và bí mật trong vùng mù sương trắng bạc. Những hàng cây bốn phía lù lù đen sẫm như những tượng người quái dị cao lêu nghêu vươn tay lên trời mở lời cầu nguyện nín câm. Các tháp chuông cao lớn đứng lù lù ở một góc u tịch như khối đen chứa đựng những bí mật chết chóc truyền kiếp nào từ bao nhiêu thế kỷ.
Đến trước hiên chùa, nàng dừng lại nhìn quanh tìm kiếm. Ông Mishio đã hẹn gặp ở chỗ này, đúng chín giờ. Bây giờ hình như đã quá chín giờ, và ngoài kia bức tường, lũ học trò đã sắp hàng vào lớp của ngôi trường nhỏ bên kia chùa đã từ lâu. Nắng chưa lên, nhưng một vài bóng người đã len lén vào chùa, thấp thoáng sau những tàn lá thưa, dâng hương lễ bái. Một cái gì u ám, bí mật phủ trùm, ám ảnh quanh trí nàng, như một lớp mù sương. Và hình như đêm qua, sau một buổi chiều dài ngồi chờ không thấy bà Mishio về, trở lại nhà trọ ngủ cho qua đêm trước khi tới chỗ hẹn với ông bà Mishio, nàng đã chiêm bao, thấy một điều gì lạ lùng, liên quan tới bà Mishio và bức tranh. Hình như nàng mơ thấy bà ấy về, nói chuyện về bức tranh, về việc tiểu sản ngày trước của bà, liên hệ tình cảm giữa ông và bà, về sự có mặt của nàng trong đời sống đang yên lặng. Và những gì gì nữa, hình như rất quan trọng, nhưng nàng không thể nhớ, và chính vì vậy nàng băn khoăn, hoang mang không cùng.
Bỗng nàng nghe một tiếng kêu nhỏ, trầm ấm, như một tiếng reo vui, nhưng cũng là một hơi thở dài kín đáo.
“Kìa, bà đã đúng hẹn”.
Người đàn bà cũng mừng rỡ:
“Ông mới đến, bà đâu, thưa ông?”
Ông Mishio đan những ngón tay vào nhau, đầu cúi xuống, những vệt tóc trắng bay phơ phất trên vầng trán căng hằn mấy vết nhăn vừa đánh dấu một đêm phiền muộn không ngủ.
“Bà có thể lại kia, chúng ta ngồi lại cho qua câu chuyện, câu chuyện cuối cùng”.
Hai người thong thả đi bộ về phía hiên chùa ngồi xuống những bậc thềm lạnh lẽo không nắng chiếu.
Người đàn bà hỏi lại vì sao bà Mishio chưa tới, ông thở dài, tránh không nhìn hai con mắt đằm thắm của người đàn bà.
“Nhà tôi không đến. Và vì thế, lẽ ra tôi cũng không đến, nhưng mà lỡ hẹn với bà, vả lại, đây là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau, đúng ra là tôi được gặp bà, vả lại hôm nay là ngày… ngày gì bà có biết không, ngày Giáng sinh… và ngày nhà tôi… không còn nữa, tôi đến đây để cầu cho nhà tôi…”
Người đàn bà sững sờ:
“Ông nói gì, bà đã…”
“Vâng, nhà tôi đã chết”.
“Chiều hôm qua?”
“Không, cách đây gần hai mươi năm rồi, ngày đó, ngày tôi vẽ bức tranh”.
Người đàn bà ớn lạnh khắp châu thân nhớ đến đôi mắt như màu cá thia vàng kỳ dị đã nhìn thấy trên khuôn mặt trắng nhợt của bà Mishio trong vườn hoa hôm qua.
“Vậy thì bà hôm qua…”
“Vâng, hôm qua nhà tôi, nhưng mà…”
Một bà già thủng thỉnh, yên lặng từng bước trên đôi guốc gỗ cao, chống gậy trúc, một tay cầm thẻ nhang đi gần lại phía chùa, nhìn lên, trông thấy hai người, quay lưng đi lảng ra chỗ khác. Bước chân bà làm bầy bồ câu đang mổ thóc trong sân bay vụt lên, tiếng cánh rào rào như mưa rơi trên sông lụa.
Ông Mishio đột ngột quay lại nhìn đăm đắm trong hai mắt mơ màng của người đàn bà, giọng ông nhỏ xuống như lời thú tội bàng hoàng:
“Nếu tôi cắt nghĩa về những sự việc xảy ra giữa chúng tôi, và để bà hiểu được vì sao nhà tôi đã có mặt, rồi vắng mặt, và bây giờ… không đến, không bao giờ đến nữa, tôi phải thú thật với bà những gì ám ảnh trong lòng tôi bấy lâu nay, từ hồi gặp bà ở hội nghị, từ hôm… trong lòng tôi băn khoăn mỗi một điều, làm thế nào có thể hoạ được bức chân dung của bà dù chỉ là vài ba nét loáng thoáng. Như xưa kia, hồi mới gặp nhau, tôi ao ước làm thế nào hoạ được lên lụa những đường nét diễm kiều thanh cao của nhà tôi. Tôi… tôi phải nói hết ra mọi điều, để khi ra về rồi, phương trời nào đó, bà có thể nghĩ, vì mình một đời sống nào ở xa xôi, đã biến đổi, đã sống lại một người, đã chết đi một người, đã vì mình mà một đời sống kỳ diệu, một phối hợp phi thường giữa âm và dương, gần hai mươi năm ròng rã đã phút giây trở thành mây khói xa vời. Sẽ nghĩ…”
Giọng ông bỗng đổi thay, chìm xuống như một dây tơ chùng:
“Đêm qua… đêm qua, những đêm trước… tôi chiêm bao thấy bà, từ khi… từ khi gặp bà, tôi vẫn chiêm bao thấy bà. Và cũng từ hôm ấy, tôi muốn vẽ tranh lại. Sau hai mươi năm thề rằng không bao giờ vẽ nữa sau bức tranh không mắt của nhà tôi. Tôi mang giá vẽ ra khỏi nhà, đi xa, tìm cảnh khuất vắng, pha màu, mong vẽ một cảnh nào đó, nhưng tôi cầm bút lên, bất cứ nét nào cũng là nét dáng của bà mà thôi. Tôi phải dập xoá bức tranh và mang khung tranh lụa trắng trở về. Nhưng vô ích, nhà tôi biết hết, thấy hết, nhà tôi biết tôi nghĩ gì về bà, tôi chiêm bao thấy bà, tôi sẽ hoạ hình bà lên khung lụa mỗi lần ra khỏi nhà một mình… Và nữa, nhà tôi cũng biết tôi đã soi bóng mình xuống hồ sen…”
Người đàn bà cười mơ mộng:
“Ông soi ngắm mình dưới hồ sen sao?”
“Xin bà đừng cười, tôi phải nói ra điều không thể nói. Chính với hình bà, từ hôm gặp nhau, tôi sống lại đời sống thật, tôi muốn thấy lại mình sự thật ra sao. Bao nhiêu năm nay, với hình bóng trẻ trung không thay đổi của nhà tôi bên cạnh, đời sống bình yên kia tôi cứ tưởng mình vẫn còn như hai mươi năm xưa, nhưng mà tôi đã già rồi, tôi đã chôn sống tôi hai mươi năm với một cái bóng, với một người đã chết. Điều đó cũng không làm cho người chết sống lại, mà làm chết luôn đời sống của tôi. Hai mươi năm, tôi không tình cảm, không hoạ tranh, không giao du với ai, không biết đến gì trong đời sống bên ngoài, chỉ có nhà tôi, nhà tôi… Tôi nhận ra những điều đó khi nhìn thấy mái tóc trắng của mình cúi xuống trong hồ nước, và tôi ân hận vô cùng, tôi tiếc đời sống vô cùng. Từ phút đó, bao nhiêu ân tình và lòng chung thủy đối với nhà tôi gần hai mươi năm, dù cũng còn đó, nhưng chừng như tiêu tan thành mây khói hết. Giữa chúng tôi sợi dây nối kết giữa âm dương cũng dứt lìa, và nhà tôi… nhà tôi…”
Người đàn bà ngắt lời ông Mishio:
“Như vậy là… bà mất đúng khi bị tiểu sản?”
“Vâng, nhà tôi mất lúc ấy, nhưng mà vì… vì mối tình u uẩn khăng khít của chúng tôi, vì… nỗi chết quá bất ngờ, ai oán, nhà tôi đã phải trở về quanh quẩn với tôi. Nhà tôi chỉ cần một điều kiện, là bao giờ lòng tôi thoáng đa mang, dù cách nào, một hình bóng khác thì mối tình kia không còn lý do tồn tại, và nhà tôi cũng sẽ biến tan theo mối tình nồng nàn. Bây giờ thì…”
“Bà ấy không có vẻ gì khác lạ cả. Bà ấy vẫn đi đứng nói cười, như mọi người, tôi hay bất cứ một người nào cũng không tin đó chỉ là cái bóng”.
“Nhà tôi về từ cõi kia, trở về với tôi với lời hứa, là khi nào tôi đổi thay, vẻ tươi trẻ nhà tôi giữ gìn cho tôi suốt hai mươi năm nay sẽ không còn, nhà tôi sẽ già bằng tuổi. Từ chiều hôm qua, nhà tôi đi không trở về, và nếu có trở về, như nhà tôi nói trong chiêm bao đêm qua, sẽ không còn tươi trẻ nguyên vẹn như bao lâu nay nữa, vì rằng, tôi đã thú thật với bà từ đầu câu chuyện”.
Người đàn bà bứt rứt mân mê tà áo:
“Vì tôi, vì tôi thật ư? Tôi không tin như vậy. Bà cũng có thể hiểu lầm, sự quen biết và thăm viếng giữa chúng ta, tôi tìm đến, là chỉ vì quý mến hai ông bà giữa bao người xa lạ khác. Còn ông đối với tôi, chẳng qua cũng chỉ là chút tình cảm, như bao nhiêu người khác đã gặp đều có cảm tình với tôi. Chỉ khác là giữa chúng ta có một thông cảm im lặng và sâu xa nào đó thôi. Sự thông cảm ấy, bà cho là…”
“Cám ơn bà đã nói như vậy, nhưng điều ấy không giải toả được những thắc mắc trong lòng tôi, những u uẩn trong hồn người. Bây giờ thì muộn rồi, nhà tôi đã xa hẳn tôi. Tôi mất nhà tôi, sau suốt hai mươi năm còn gắng gượng lẩn quất quanh tôi, kéo dài chút tình đằm thắm. Nhưng tôi được gì, tôi có gì, tôi còn gì không. Đối với bà, tôi chỉ có chút lòng cảm mến, đúng ra là tôi đã tìm lại nguồn rung cảm thuần tuý nghệ thuật mà gần hai mươi năm trời nay đã khô cạn, héo khô. Mà dù có thể nào rồi ngày mai ngày kia, bà lại đi, bà có phương trời của bà. Còn tôi, tôi với cái bóng già cỗi của mình trong hồ sen, với hình ảnh nhà tôi chỉ còn trong trí nhớ, với những vết tích thân yêu trong ngôi nhà vắng lặng kia, một mình… một mình với những chiếc dép màu quanh thềm nhắc nhở bước chân ra vào lững thững, những chiếc kimono còn vương vất mùi hương hơi trong tủ, những chiếc gối thêu hoa, những chăn nệm đượm nồng, những tách trà cúc hoa…”
Những giọt nước mắt bồi hồi nhỏ xuống má môi người đàn bà:
“Nhưng ông sẽ còn bức tranh, bức tranh bây giờ đã có hai con mắt của bà… bức tranh sẽ là bà…”
“Bà lầm rồi, như tôi nói, bao giờ nhà tôi mất đi hẳn, những nét trong tranh cũng sẽ nhạt mờ theo. Còn hai con mắt mà bà thấy đó, không phải là con mắt đâu, mà cái nhìn muốn nói với tôi tất cả những điều tôi vừa nói với bà đó. Nhà tôi đã lấy tấm lụa vàng đi, vì rằng… bức tranh bây giờ chỉ còn là cái tấm vải trống trơn không còn dấu vết màu sắc hình nét nữa. Bà không tin lời tôi, nếu bà có thể trở lại phòng tranh, bà sẽ thấy lời tôi nói. Nhưng ở đây cuối cùng rồi bà cũng sẽ thấy một cái gì đó làm cho bà tin những điều tôi nói là có thật”.
“Ông nói cái gì là cái gì…?”
Ông Mishio đứng dậy. Người đàn bà đứng dậy theo. Sương đã tan hết trong sân chùa cổ. Mùi hương thoang thoảng từ một bệ thờ nào đó. Bỗng ông hỏi ngập ngừng:
“Bao giờ bà đi?”
“Trưa nay, tôi đã ghi lại vé máy bay”.
“Vậy thì… phút này, xin từ biệt bà, và xin gặp lại ở đời sau, cả ba chúng ta, nếu còn có đời sau cho mỗi người”.
Trong cơn xúc động bàng hoàng, người đàn bà trao bàn tay nhỏ nhắn của mình cho ông Mishio. Hai bàn tay ông dịu dàng, thân ái và kính cẩn, nâng bàn tay người đàn bà lên mặt mình, im hơi lắng nghe những nhịp luân chuyển của sự sống trong mạch máu, lòng dịu lắng trong một nỗi xúc động buồn thảm và mông lung, ông nghĩ, từ phút này, ta chỉ còn lại niềm quạnh hiu cuối cùng cho đời người, và ông giữ bàn tay người đàn bà trong hai bàn tay mình một lúc lâu, thành khẩn, như người đi lễ bái giữ những nén hương đã đốt trong tay mình lúc cầu khẩn.
Rồi họ cùng bước xuống thềm, cùng đi ra sân bây giờ nhoà nhạt bóng cây thêu bóng nắng. Tiếng một hồi chuông nhỏ văng vẳng từ cõi tịch liêu xa vời nào đó.
Bỗng từ đằng kia, đi lại, thoắt chậm thoắt nhanh một bóng người áo trắng. Cái bóng tới gần mãi trong hai mắt sửng sốt nhìn không chớp của người đàn bà. Nàng đưa hai tay về phía trước, kêu lên:
“Bà… bà Mishio!”
Ông Mishio cũng vừa nhận ra vóc dáng mảnh mai và nét mặt xinh tươi rạng rỡ của bà. Bà mặc cái kimono trắng, mỏng và thưa, với từng tầng vải mong manh như kết tụ bằng tơ trời, hai tay rộng thùng thình buông xõa chập chờn như những mảnh mây chiều, với một cái nón tre che hở nửa mặt. Bà Mishio chập chờn tiến lại trước mặt hai người, dừng lại, nhìn ông bằng đôi mắt trong suốt, nửa trách hờn, nửa mãn nguyện, rồi im lặng, bà đi lướt qua ông, ngược chiều với hai người, bước nhanh như bay biến về phía sau chùa.
Người đàn bà băng mình chạy theo. Nàng lạc vào một vùng sân lô nhô đây đó những bức tượng đồng đen kỳ dị. Bà Mishio đi lầm lũi, vẫn khi chậm khi nhanh, len lỏi vào giữa những bức tượng đồng đen. Người đàn bà hoa mắt cố theo dõi đuổi theo kịp bà Mishio, với ý nghĩ níu được bà lại với ông, dù chỉ một lần cuối cùng, để giải thích mọi điều bà đã lầm lẫn, và buồn lòng bỏ đi mãi mãi.
Quanh co một lúc, đến cuối sân chùa, một vùng bóng cây đen che khuất nắng sáng trên cao, chỉ còn lại những lớp sương mù trắng che kín mặt đất âm u, làm cho những gốc cây, những pho tượng đồng đen như nổi lềnh bềnh trong không trung mờ mịt, bà Mishio bỗng chậm bước, rồi dừng lại. Người đàn bà mừng rỡ cất tiếng gọi. Bà Mishio xoay mình, từ từ quay mặt lại. Người đàn bà kêu thét lên. Vẫn là vóc dáng và xiêm y của bà Mishio vừa nhìn thấy, vẫn cái nón tre che hờ nửa mặt, nhưng trong một thoáng nhìn lên, khuôn mặt người đàn bà Nhật đã hoàn toàn biến đổi. Khuôn mặt nhăn nheo tối tăm, những sợi tóc phất phơ bạc trắng, đôi môi trũng xuống héo hon, khắp cả là những nét già nua, dấu vết thời gian của hai mươi năm tàn phá. Chỉ còn trên khuôn mặt tàn héo cằn cỗi lạ thường kia, là hai con mắt, đúng là hai con mắt cá thia vàng của bà Mishio mà người đàn bà đã nhìn thấy trong vườn hoa, nhưng bây giờ, con ngươi đã nhoà đi một màu trắng đục như sương pha, và tròng mắt trong sáng long lanh hôm qua chỉ còn là một màu vàng đục mờ ủ ê, buồn bã. Nàng nhìn xuống. Bà Mishio đứng như chôn hờ trong vũng khói sương trắng xoá, hai chân lao đao muốn ngã, những cánh tay áo phất phơ run rẩy theo hai bàn tay buông duỗi khẳng khiu. Hai vai như còng xuống, khoảng lưng cúi khom, bà Mishio, với tất cả vẻ già nua dị thường ma quái, lững lững đi về phía cuối sân chùa, và người đàn bà thấy, như trong giấc mơ xa, bà Mishio đi vào một pho tượng đồng đen vừa mọc ra giữa vùng sương trắng.
Tôi có người em gái xinh đẹp yêu chồng, trung thành với chồng, không ngớt lo lắng và không ngừng săn sóc cho chồng. Chồng của em tôi là một lính Dù.
II
Anh em tôi rất ít khi gặp nhau, không những vì xa nhà, mà còn vì chồng của Duyên mắc nhiều công chuyện nặng nhọc, vì tôi luôn luôn bê bối với những cuốn sách đang in dở dang, hoặc những bài báo lòng thòng năm bảy chục ngàn chữ. Còn về phần Duyên thì nó bận với chồng. Cho nên chúng tôi không thấy mặt nhau thường, nhưng hằng nhớ đến nhau luôn. Đó có lẽ là nguyên nhân khiến cho khi em tôi gặp chuyện khó khăn – khó khăn về tinh thần – thì nó chạy thẳng đến tìm tôi, thay vì tìm những người thân khác gần gụi với nó hơn tôi.
– Anh đừng cười em, em mới nói!
Duyên sợ bị tôi chế giễu nên đặt điều kiện trước. Tôi phải nói rõ thêm: Duyên có học khá, rất lịch lãm vì giao thiệp rất giỏi, rất rộng. Như tất cả mọi người có học theo người Pháp, em tôi sợ nhất trần đời là sợ mang tiếng lố bịch. Tôi biết tánh em tôi nên hiểu ngay rằng nó tìm tôi không vì tiền bạc. Cũng không vì công việc chỉ huy lính tráng của chồng nó. Không phải tiền, không phải việc làm ăn, nhưng vẫn là một cái gì quan trọng. Nhìn mắt em tôi đăm đắm, mất hết nét trong sáng và tinh anh mọi bữa, tôi biết nó có điều gì lo nghĩ nặng nề. Nhưng thoắt một cái nó trở lại vui vẻ, và trong sự cười đùa dường như nó có vẻ muốn nhạo báng chính mình.
Rồi đợi khi bạn hữu của tôi ra về thật hết, nó mới đòi tôi đừng cười nó. Tôi định nói “xong rồi”, như chúng tôi thường nói mỗi khi vui chuyện, để tỏ ý bằng lòng. Nhưng dáng điệu nghiêm chỉnh của Duyên làm cho tôi khựng lại.
– Được, tôi hứa sẽ không cười cô dâu.
Duyên nói khẽ cám ơn anh, cám ơn anh… một cách long trọng như đối với người ngoài. Xong nó mới nói tiếp, rành mạch từng tiếng một, mắt quay nhìn đi chỗ khác:
– Em nằm mơ thấy nhà em chết!
Có thế thôi, làm suýt nữa tôi bật thành tiếng cười thật lớn, mà may mắn là tôi đã hãm lại kịp. Bởi vì tôi bắt được quả tang em gái tôi, cô Duyên xinh xắn thông minh, cô Duyên kiến thức đầy mình, cô Duyên em gái tôi, dang quan trọng hoá một việc xảy ra hàng ngày cho ngót một triệu người đàn bà, vợ sĩ quan, vợ binh sĩ. Ngót một triệu người vợ lính chắc hẳn không có người nào không nằm mơ thấy chồng mình chết trận, ít ra là một lần trong đời.
Tiếng cười nghẹn lại đầu cuống họng: bàn tay em tôi đặt trên tay tôi lạnh ngắt. Nó cúi đầu, như nặng trĩu hai vai dưới một gánh nặng quá sức chịu đựng. Tôi nhẹ nhàng vuốt mớ tóc xoã trên bờ vai có vẻ kém đầy đặn của nó.
– Anh linh cảm thấy có gì đặc biệt. Em nói đi, anh nghe đây.
Duyên ngước mắt lên nhìn tôi, cười thật buồn. Tôi ra hiệu: em khỏi phải cám ơn nữa, cứ vào chuyện ngay đi. Duyên gật đầu, im lặng trong giây lát, rồi kể, giản dị:
– Em mơ thấy ảnh nhảy đêm, lạc xuống rừng, bị cành cây đâm tuốt từ sau lưng ra trước ngực. Em sợ quá!
III
Tôi cần nói thêm em tôi là một người đàn bà can đảm. Can đảm và bình tĩnh. Hồi còn con gái, chính nó bắt được chồng nó nhảy dù xuống chiến khu. Nó trói anh chàng trong hầm bí mật, ngày ngày đưa cơm xuống cho ăn, và đun nước nóng pha muối lau rửa vết thương nơi chân, chờ anh chàng đi được là nó giải lên ban tỉnh. Được hai mươi mấy ngày, tên tù binh hết đau rồi thì chính hắn đưa vợ về thị trấn. Như thế là nó nuôi trai trong nhà cả tháng mà thầy mẹ chúng tôi không biết. Đến lúc biết thì quá muộn. Nó khóc lóc nói nó thương thằng nhỏ đẹp trai mà hiền lành. Nó khóc mãi, kỳ được thầy mẹ chúng tôi nhận rể mới chịu nín. Xong đâu đấy nó phây phây đưa anh lính nhảy dù vượt năm bảy hàng rào canh gác đến tìm tôi. Tôi nghe nó trình bày cách thức trốn về xuôi mà hết cả hồn vía.
Giấy tờ? – Của anh.
Quần áo? – Của anh.
Võ khí? – Của anh.
Tiền bạc? – Anh cho.
Tôi chẳng còn biết làm gì, ngoài việc thu xếp cho hai đứa theo đường thủy về thủ đô. Mười bữa sau chúng nó về đến nơi. Nhưng trước khi về đến nơi, theo chồng nó sau này kể lại, hai đứa đi trên bè bị một toán du kích xã chèo thuyền ra đón bắt. Nó vui mừng tự giới thiệu là nữ bí thư của tôi – tôi ở đây là chồng nó – để cám ơn tụi du kích cứu chúng tôi kịp thời, vì thuyền lớn đi công tác bị tàu bay địch bắn đắm. Tụi du kích mới hơi nghi ngờ nó đã kể một đống chuyện về đồng chí tư lệnh chiến khu, đồng chí chủ tịch tỉnh, đồng chí chủ tịch xã… đều là bạn thân của tôi. Tôi bị đau không nói gì nhiều, chỉ ừ hử và lắc đầu. Nhưng đã có nó… nó nói gì đều đúng, tỏ ra nó là dân địa phương thật sự. Dân địa phương thì tin nhau, nhất là tin nữ đồng chí bí thư xinh đẹp và khéo léo hứa hẹn cả với đồng chí xã đội trưởng, đồng chí xã đội phó, cả đồng chí bí thư xã. Kết quả là hai ngày một đêm ăn uống linh đình, rồi “mượn” một chiếc thuyền tam bản mới tinh tiếp tục đi công tác. Hai đồng chí đội viên du kích cũng được đưa về công tác luôn… trong nội thành. Tôi, ngãi là chồng của em tôi, trốn thoát hơn một tháng rồi tôi – chính là tôi thật – mới bị bắt vì tội đồng loã với em gái tư thông với gián điệp địch. Tôi bị tuyên án tử hình, có lẽ sắp đến ngày thi hành, thì lại chính một tiểu đoàn dù nhảy xuống thị trấn, giải thoát được hơn hai trăm tù binh. Và tôi.
Tôi thuật lại câu chuyện trên đây để tỏ rằng em gái tôi không phải hạng người mới trông thấy khẩu súng đã run lên bần bật. Em gái tôi đã chạm trán với cái chết nhiều lần, và em rể tôi càng chạm trán nhiều lần hơn với cái chết. Cho nên một giấc mơ đâu có phải thứ làm cho em tôi sợ!
– Như em sợ, vì em mơ thấy nhiều lần, lần nào cũng in hệt như thế. Mỗi lần một rõ rệt hơn. Em sợ… em sợ mà không dám nói với ai. Nói với bạn thì chúng nó khinh, làm vợ lính Dù mà nằm mơ thấy sợ thì sợ suốt đời. Em không dám nói với nhà em… Không, nhà em không bao giờ khinh em đau. Có điều ảnh thường nói, con người ta lúc nghèo khổ rất dễ can đảm, đến lúc khá giả, nhất là có con còn nhỏ, là sinh ra nghĩ ngợi vẩn vơ – nghĩ đến nghèo lại sợ, nghĩ đến mất con lại càng sợ. Nhà em cho đó là bằng chứng về những tình cảm tốt đẹp của con người. Nhà em không cười em, nhưng nhất định thế nào cũng lôi mấy ông bác sĩ về nhà hạch hỏi đủ điều để tìm căn bệnh của em.
– Đúng! Tôi kêu lên. Dượng ấy mời bác sĩ là đúng. Bây giờ, mấy nhà chuyên môn về thần kinh tiến bộ nhiều lắm.
Em tôi lắc đầu quầy quậy: về y học nó còn hiểu biết hơn tôi nhiều.
– Em biết! Em biết có ông đoán mộng mà chữa được người điên; có ông đoán mộng mà tìm thấy nguyên nhân, từ 30 năm trước, căn bệnh của một người đàn bà mắc chứng tâm lãnh(1). Nhưng họ sẽ không hiểu gì về những giấc mơ của em. Trước hết, vì khoa chữa tâm bệnh hiện nay mới chỉ do các y sĩ Tây phương nghiên cứu, mà tâm hồn em, em biết khác với tâm hồn người đàn bà Tây phương một trời một vực. Ví dụ người đàn bà Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chịu thiệt với chồng, mà người đàn bà Tây phương không bao giờ chấp nhận điều đó. Vì sao? – Vì người đàn bà Tây phương thèm khát hưởng thụ từ người chồng nên tự nhiên phải có mặc cảm tùy thuộc, thua kém đối với người chồng đó – và đã có mặc cảm thua kém thì luôn luôn có phản ứng đền bù, tức là đòi hỏi được bình quyền và tranh giành mọi ưu thế. Người đàn bà Việt tất nhiên cũng biết hưởng thụ nhưng không coi sự hưởng thụ là một lạc thú không thể không có ở đời, cho nên bề ngoài thì người đàn bà Việt lệ thuộc nặng nề người chồng về sự sống vật chất hàng ngày, nhưng ngược lại, trong lòng lại không cần đến người đàn ông quá lắm… Em nghĩ thế mà cho rằng các bác sĩ thần kinh không thể căn cứ vào những nguyên tắc tâm lý Âu Mỹ mà tìm thấy căn bệnh cho em được.
– Nhưng em vẫn có thể thử một lần cho đích xác?
Tôi hỏi.
Em tôi có vẻ hơi hơi xấu hổ, trong thoáng chốc nó nhìn tôi mà cười, rồi quay đi, má đỏ hây hây. Nó thú thật:
– Em giấu nhà em, có đến hỏi bác sĩ F. ở Phan Thanh Giản. Ông ta già rồi, nếu không em đã tát cho mấy cái!
– Phải rồi! Tôi nói. Chắc hẳn lão ta cho rằng người đàn bà đang tuổi khoẻ mạnh và được thoả mãn, nên ngấm ngầm trong vô thức có lo sợ sự mất chồng. Nằm mơ thấy chồng chết, bị đâm suốt và có máu chảy, là sự cố gắng giải toả trạng thái nén tâm, bằng cách chuyển dịch hành động ái ân thoả mãn thành một tai nạn ghê sợ.
– Đúng thế! Em tôi la lên. Đáng ghét nhất là cái nhìn và cái cười đầy vẻ đồng loã, ra điều ta đây thông minh, ta đây tài giỏi, đã soi thấu cả ruột gan nhà ngươi rồi. Em cố nén giận giải thích cho lão ta hiểu rằng nghĩ về cái chết của một người chồng thân yêu, người đàn bà Tây phương tiếc người đàn ông trước hết, và có than khóc là than khóc cho sự thiệt hại của mình. Trong khi đó, người đàn bà Việt trước hết là thương chồng nằm xuống cô đơn lạnh lẽo, rồi thương con bơ vơ, rồi mới thương mình không nơi nương tựa. Lão bác sĩ già kêu chịu không sao hiểu được. Lão ta nói cứ nghe bà thì người ta có cảm tưởng người đàn bà Việt Nam là thánh. Sau đó lão ta viết cho em một cái toa thuốc bổ, không lấy tiền. “Đáng lẽ tôi phải trả tiền bà về buổi nói chuyện hôm nay”… lão ta bảo thế.
– Được lắm! Tôi khen viên y sĩ già. ít ra cũng phải thế: đã không giỏi thì phải có can đảm nhận mình không giỏi… Người giỏi là em tôi!
Duyên có vẻ sung sướng nhận lời khen. Nhưng nó vẫn buồn buồn thé nào.
– Em không cần giỏi, em cần anh giúp em.
– Thì em nói đi. Em bắt đầu mơ thấy thế từ bao giờ?
– Từ mười bốn ngày… đêm nay là mười lăm đêm.
– Đêm nào cũng thế?
– Vâng, đêm nào cũng thế. Em giật mình thức giấc vào khoảng từ 4 giờ đến 6 giờ.
– Cuối giờ Dần đầu giờ Mão, mơ vào giờ này thật lắm đấy!
– Thật thế sao anh?
– Thì cũng nghe người ta nói. Có phần nào hữu lý: lúc bây giờ trời đất êm ả, không khí trong lành… Nhưng đoán là đoán bậy mà thôi. Em kể tiếp đi. Giấc mơ bắt đầu thế nào?
– Em thấy em lâng lâng như đang bay. Rồi em thấy mình đang trong tàu bay. Em từ phía trong nhìn ra cửa mở bên tay trái. Hơn mười lính dù đứng thành hàng một, sát vào sườn tàu bay, tất cả mọ người đều nắm tay vào một sợi dây cáp không lớn lắm. Mọi người đều có vẻ lo ngại. Một người nói: “Gió lớn quá!…”. Em nhìn ra là nhà em. ảnh đứng ngay sau một người Mỹ. ảnh không thấy em. Em muốn gọi nhưng không gọi được thành tiếng. Thế rồi có tiếng trong phòng hoa tiêu nói ra, về hướng đi, chiều gió, vận tốc của gió, độ cao… Thế rồi đèn đỏ phựt lên, người Mỹ bước sang bên kia cửa, nhà em khuỵu hai chân lộn ra ngoài. Em theo ra. Trời đầy mây, tối mù mịt. Nhưng em vẫn thấy những cánh dù như những bông hoa lẳng lặng tổi trên mặt nước. Mặt nước mênh mông, gió thật mạnh. Một cái dùi đã mở tung ra tự nhiên lại cuốn lại. Em nghe rõ tiếng người thúc giục: “Mở ra mày! Mở ra mày!”… không phải tiếng nhà em. Nhà em xuống gần đến đất rồi, bỗng nhiên ảnh kêu lớn, kêu thật lớn: “Chết cha rồi! Lầm rồi! Coi chừng bay ơi! Nhiều cây lắm!”… ảnh kêu để báo động cho anh em. Trong lúc đó anh đáp xuống vùn vụt. Em muốn la lên khi thấy dù của ảnh bị rách băng mất hai khổ vải. Có lẽ vì thế mà ảnh rớt mau quá. Hoặc giả vì chú ý nhìn để báo động cho đồng ngũ, ảnh co chân, khép gối, rụt cổ, sẵn sàng. Nhưng đúng vào lúc đó em nhận ra một cành cây khô chĩa thẳng lên trời. Ngay đằng sau ảnh, ảnh không nhìn thấy nó… Ngay đằng sau ảnh… ảnh không nhìn thấy nó… trời ơi!
Tiếng kêu thảng thốt của em tôi in hệt như tiếng kêu chết của một con chim gẫy cánh. Nó ngơ ngác nhìn chung quanh, hai má ướt nước mắt. Không phải một mình nó sợ mà cả tôi cũng sợ. Người ta nói giấc mơ nào hợp lý là giấc mơ báo trước sự thể xảy ra. Sự thật xảy ra. Em gái tôi có bao giờ đi trên tàu bay thả dù, có bao giờ nhảy dù, mà biết điều này điều kia y như thât . Tôi cảm thấy ngay rằng tình không thôi không đủ đem đến cho em tôi những giấc mơ – hay một giấc mơ? – quái lạ như thế. Nhất là, như tôi đã nói, nó không thuộc loại đàn bà ở lì trong gia đình để suốt ngày nhớ đến chồng, nghĩ đến chồng, mà tưởng tượng ra chuyện này chuyện khác. Em tôi tính hồn nhiên vui vẻ nên có nhiều bạn đến thăm hỏi… Vả lại trong khi tôi hoang tàng phá tán hết phần gia tài của tôi thì em gái tôi buôn bán, mở mang. Có thể nói nó giàu lắm, giàu lắm.
Nhưng tất cả tiền bạc trên thế gian không mua được sự yên ổn trở lại trong tâm hồn cho em tôi. Tôi cố nghĩ đến một điều nào đó…
– A! Cũng lạ, tôi hỏi. Em nằm mơ đến hơn chục lần rồi mà không có gì xảy ra, thì chắc đâu đã có gì đáng ngại? Người ta nói…
– Vâng, nó cắt lời tôi. Sau khi thấy mình mơ đến bốn năm lần rồi mà vẫn không thấy gì, em đã hơi yên dạ. Nhưng rồi em mới nhận rõ… em mới nhận rõ cứ mỗi lần sau thấy cảnh nhà em bị nạn, em lại thấy rõ hơn đầy đủ chi tiết hơn lần trước. Ví dụ lúc đầu em chỉ nhận được có mình nhà em thôi, nhưng lần sau em nhận được thêm một người bạn của ảnh, lần sau nữa lại thêm một người bạn nữa của ảnh. Lần đầu nhà em nhảy ra ngoài rồi, em chỉ thấy bóng đen kịt, nhưng mỗi lần sau lại rõ hơn… rõ hơn. Đêm hôm qua…
Duyên nấc một tiếng khẽ, hai hàm răng cắn chặt chiếc khăn tay. Rồi đột nhiên nó vùng dậy chạy ra cửa. Tôi đuổi theo giữ lại kịp.
– Em phải can đảm! Dù sao cũng vẫn còn là giấc mơ… chẳng lẽ em nằm mơ chồng em bị nạn khi nhảy mà dượng ấy cứ nằm lì ở nhà cũng chết được hay sao! Anh có thể gọi dây nói cho ông lữ đoàn trưởng yêu cầu ông ấy cho dượng ba nghỉ nhảy một tháng.
– Anh định nói thế nào?
– Thì… thì nói như em kể…
– Không được đâu anh ơi! Vợ nằm mơ mà đòi được cho chồng nghỉ, thì quân đội không còn người lính nào ra trận. Nhà em mà biết thế, ảnh cũng giận…
– Thì nói cho dượng ấy biết trước?
– Không được đâu anh ơi! Nhất là hôm nay, em trông thấy ảnh là em muốn khóc. Vì em mơ thấy ảnh em sợ quá rồi!
– Em thấy dượng ba thế nào?
– Em thấy rõ mồn một. Như có đèn chiếu riêng cho một mình em. Em thấy máu trào ra, chảy thành dòng xuống áo xuống quần, xuống đất. Lúc đầu ảnh la lớn: “Chết tao rồi, bây ơi!…”, sau ảnh đau quá đưa hai tay níu đầu cành cây như muốn nhoài ra. Máu nhầy nhụa cả hai bàn tya. Sau cùng ảnh ngửa mặt lên, rồi gục xuống, đầu ngoẹo sang một bên vai, cánh tay thõng xuống. ảnh gọi em: “Duyên ơi!”… ảnh muốn nói gì nữa nhưng không kịp. Em muốn gọi ảnh, muốn chạy đến ôm lấy ảnh… ảnh chết rồi… chết thật rồi…!
IV
Thật là một giấc mơ ghê gớm. Tôi bắt buộc phải tìm một cách thức nào đó để giúp em tôi: số mạng, nếu đã có và không lay chuyển được, thì cố gắng chống đối cũng hoàn toàn vô ích. T ôi muốn đến gặp em rể tôi, nhưng cũng chỉ vô ích thôi. Bởi nó cũng có học khá và còn chịu khó đọc sách lắm. Đọc nhiều sách, thật nhiều, thì có thể chấp nhận một vài điều phi lý… Nhưng cho dù tôi thuyết phục được cho nó tin thì nó có thể làm được gì? Không lẽ xin nghỉ nhảy “vì sợ tôi mơ thấy tôi bị nạn” hay sao? Đời nào một sĩ quan nổi tiếng can trường như nó, lại chịu lui bước vì một đe doạ viển vông như vậy! Con người ta mất sự kính trọng của kẻ khác còn có thể sống được, chứ mất sự tự tin vào tư cách của mình thì chắc chắn không sống được.
Tôi không thể nói gì với em rể, nhưng nhất định tôi phải làm gì giúp em gái. Nếu chồng nó chưa chết, mà em tôi cứ tiếp tục nằm mơ như thế một tuần lễ nữa thì chính nó sẽ chết, điên mà chết. Cho nên vấn đề không phải là cứu một sĩ quan dù – vào lính dù, ai nấy đều chờ đợi lượt mình đổ ngã, cũng như người con gái lấy lính dù đã có phần nào nghĩ mình goá bụa – mà vấn đề là xua đuổi giấc mơ ác nghiệt kia đi. Tôi nghĩ chỉ còn một cách.
– Nghe nói vùng Trương Minh Giảng, Nguyễn Thông có nhà thờ… Đức mẹ Maria thiêng lắm, nhiều người đến nguyện xin điều này điều nọ đều được thoả mãn… Nhiều người trả lễ bảo vật…
– Em đã đến rồi. Em xin cho nhà em bình yên, em nguyện trả lễ một chiếc cà rá 7 ly.
– Em đến lâu chưa?
– Từ tuần trước.
– Còn ngôi chùa ở Hàng Xanh?
– Em đến rồi. Ông ta bảo nhà em có hạn nặng trong tháng này, nhưng bản mệnh thì vững.
– Thế mà em vẫn không hết!
Duyên chán ngán gật đầu. Bây giờ tôi mới nhận ra mắt nó sâu hoắm xuống, hai gò má nhô cao lên, bắp thịt ở đuôi con mắt trái giật giật. Tôi nắm chặt hai bàn tay run rẩy của em tôi và quyết định.
– Anh giúp em.
Hai mắt em tôi mở lớn, ngạc nhiên nhiều hơn hy vọng. Anh giúp em? Anh giúp ra sao?
– Anh có biết một ông thầy pháp người Tàu, mới trốn từ Trung cộng sang Hồng Kông rồi sang Việt Nam. Ông ta già rồi, có phép thuật giỏi lắm. Anh nói chuyện với ông ta nhiều lần…
– Nhưng anh có biết nói tiếng Tàu đâu!
– à… ông ta nói tiếng Pháp.
– Ông ta là con quý phái, họ Mã… con của tướng Mã Chiếm Sơn, người đầu tiên hạ lệnh kháng Nhật năm 1938 ở Lư Cầu Kiều. Ông ta còn trẻ có du học ở Ba-lê, ấn Độ…
– A, có thế chứ! Chắc ông ta học phép ở ấn Độ?
– Nhất định! Ông ta đã tu khổ hạnh bà-la-môn trong rừng… à rừng Tu-la-khê-da mười năm, mỗi ngày chỉ uống bốn ly sữa…
– Bốn ly sữa?
– Bốn ly… phải rồi, bốn ly nhỏ bằng ly uống li-cơ.
– A, có thế chứ! Chắc ông ta có nhiều người nhờ. Em không thấy đăng báo?-Ông ta ở trên gác cao, ai có duyên ông ta mới tiếp. Có khi mình đang đi ngoài đường ông ta đã sai người ra mở cửa đón sữa. Mình không nói tên ông ta cũng biết.
– Giỏi quá nhỉ! Ông ta làm thế nào mà biết được?
– ừ, thì thần giao cách cảm mà! Có thế mới đi vào trong mộng mà giúp em được chứ.
– Đi vào trong mộng? Mộng của em?
– Chứ sao! Ông ta giác ngộ sắp thành Phật…
– Sao anh nói ông ta tu t heo bà-la-môn? Bà-la-môn làm gì có Phật?
– Thì… sau đó ông ta bỏ bà-la-môn theo đức Thích ca. Ông ta tịnh khẩu ba mươi năm.
– Ba mươi năm? Bây giờ ông ta còn tịnh khẩu?
– Nhất định! Ông ta nói bằng thần giao cách cảm không? Nói không thành tiếng!
– Sao bảo ông ta nói chuyện tiếng Pháp với anh?
– Thì thần giao cách cảm cũng phải có hình ảnh chứ! Có hình ảnh cũng phải có danh từ, động từ, để diễn tả hình ảnh chứ!
– Phải rồi! Có nhiều cuốn sách về tê-lê pa-ti. Ông ta giỏi thật đó! Ông ta giúp người có lấy tiền không anh?
– Có! Ông ta lấy ba trăm ngàn, đưa trước hai trăm ngàn, một tấm ảnh mới chụp của cô, một tấm ảnh chụp chú mặc đồ trận.
Em tôi có vẻ tin tưởng hơn khi thấy số tiền lớn. Không có ông thầy nào mới lần thứ nhất đã đòi đến hai trăm ngàn. Hai trăm ngàn là giá một chiếc xe 4 ngựa còn mới. Nhưng em gái tôi giàu có. Hai trăm ngàn đủ nhiều nhưng chưa xótruột.
– Nếu có thấy nhiều quá, anh có thể nói ông ta bớt cho cô.
– Không, chỉ cần ổng thiệt giỏi. Thiệt giỏi thì hai trăm cũng đáng.
– Giỏi thì bảo đảm mà.
– Để em gửi anh một cái chi phiếu. Rồi em về nhà lấy ảnh.
Khi em tôi trở lại, tôi đã sẵn sàng. Sẵn sàng một vụ lừa đảo lấy hai trăm ngàn. Thật ra tôi không cần được số tiền, nhưng em tôi cần mất nó. Vì tất cả mọi người, khi thấy nguy hiểm đe doạ đến vợ chồng hay con cái họ, đều thấy cần được tổng cậy vào một thế lực siêu nhiên. Người đàn bà ngày thường sáng suốt và cứng cỏi đến đâu mà sợ mất chồng, mất con, cũng tìm đến thầy bói, thầy ngải, thầy pháp – ở Việt Nam, Hoa Kỳ hay Liên Xô cũng thế. Em gái tôi cũng thế. Tôi tính số tiền vừa đúng cho nó chú ý, trong sự giàu sang của nó. Nói ít nó coi thường.
Công việc của tôi là làm sao cho em tôi tin tưởng có một sự giúp đỡ vô hình bên cạnh nó. Tôi không có tài cán gì giải thích giấc mộng lạ lùng. Nhưng tôi cố gắng trả lại sự yên ổn cho tâm hồn nó. Một người như em tôi không thể vì cái chết mà bấn loạn thế: nguồn gốc sự khích động là tình trạng bất lực của nó trong giấc mộng.
Mục đích của tôi nhàm làm cho Duyên có cảm tưởng làm được một việc nào đó giúp chồng. Tôi phải giảng giải cho nó nhiều về những giấc mơ mà trong đó không phải chỉ năng lực của thân xác mới có khả năng tác động mà thôi. Nhu cầu sinh lý, cảm quan của trẻ thơ, nếu bị đè nén, có thể ảnh hưởng đến một giấc mơ nào đó. Nhưng không phải chỉ có thế mà thôi. Bởi người ta phải hiểu mình nằm mộng với ký ức của mình, nhưng cũng có khi với ký ức của người khác. Như em tôi thấy cảnh nhảy dù mà chỉ chồng nó biết rõ. Và cũng có thể người ta nằm mộng thấy một hình ảnh không thật sự có trên đời, như có lần, tôi mới lên mười, mơ thấy bị nhiều con vật quái đản đuổi theo để giết: tôi trèo lên mái nhà, ngọn cây, đều bị chúng húc đổ tan tành. Tôi sợ quá mà tỉnh giấc, mồ hôi vã như tắm, tim đập liên hồi, đến mấy đêm sau còn sợ.
Ý tôi muốn nói rằng linh hồn người ta là cả một sự chắp nối phức tạp và lâu dài những xúc cảm và những hình ảnh. Chúng ta gọi đó là những ký ức. Có điều, thiên hạ nói đến ký ức thì chỉ nghĩ đến những xúc cảm và hình ảnh riêng biệt, mà chỉ có ý chí của người ta, lúc tỉnh mới tập hợp lại thành một chuỗi dài có ý nghĩa như một sự kiện, hoặc tiến xa hơn, so sánh nhiều sự kiện để rút ra một kết luận – công việc mà thiên hạ gọi là suy luận. Nói tóm lại, người ta nghĩ về linh hồn như một sự vận động của ký ức, chỉ hiển hiện khi người ta tỉnh táo: mắt mở, tai nghe, mũi ngửi v.v…
Tôi thì tôi nghĩ khác. Người ngủ, hay người chết, có một phần giống nhau là mắt nhắm, miệng ngậm, thân thể ở yên… Nhưng ở người chết thì tim ngừng đập, máu ngừng chảy, khí ốc-xy không theo máu luân lưu trong cơ thể, nên mọi bộ phận đều ngừng hoạt động, các giác quan đều nghỉ làm việc và thân xác nguội dần vì năng lực liên lạc không còn cơ sở, tiết dần vào khoảng không. ở người ngủ thì chỉ c ó hai con mắt được thật sự nghỉ ngơi, còn tai vẫn nghe, mũi vẫn ngửi, da thịt vẫn xúc cảm – một tiếng động lớn, một mùi thơm gắt, một luồng gió lạnh, có thể làm cho người ngủ tỉnh giấc; tỉnh giấc sau tiếng động, mùi thơm hay luồng gió, mà vẫn có ký ức, dù mơ hồ, về các sự kiện đó – nên có thể nói là một phần linh hồn vẫn ở trong thân thể; đó là giác hồn. Còn một phần có khả năng rời cơ thể, làm một cuộc du hành dài hay ngắn trong không gian. Đó là phần ý thức, vì không có cơ sở giác quan nên không thấy được cảnh vật chung quanh như lúc tỉnh, nhưng ngược lại, anh hồn – tôi gọi phần ý thức này là anh hồn – có thể giao tiếp với anh hồn của một hay nhiều người khác, và, với tư chất ký ức trong khoảng không có thể giao tiếp với khoảng không, là sự tụ họp của anh hồn của tất cả các thế hệ người đã sống. Chính sự giao tiếp đó tạo nên những giấc mơ: mơ kỳ dị, quái đản, mơ không đầu đuôi, nhưng cũng có khi mơ thấy cảnh tượng mà trong tương lai, gần hay xa, người nằm mơ sẽ gặp.
Tôi tin có những giấc mơ như vậy, nhưng tôi không tin có một định mệnh an bài. Tôi có cảm tưởng rằng một người tỉnh có thể không có ý muốn này, ý muốn khác – như em tôi không thể có ý muốn thấy chồng gặp nạn chết – nhưng có thể là để đáp lại một phản ứng thầm kín nào trong đáy sâu tâm linh của người đó. Sự giao tiếp giữa anh hồn của hắn với khoảng không đã có một kết quả là một vùng năng lực rất lớn được vận dụng để tạo thành sự thật những gì mà người đó thấy trong giấc mơ… Em tôi ngồi yên nghe tôi nói, chỉ hơi cười trong ánh mắt. Tôi biết nó không hiểu, hoặc không, khoảng không đã là “không” thì còn năng lực nào để tạo thành cả một cảnh tượng có thật ngoài đời? Vả lại, đã là một cảnh tượng của Định Mệnh thì không có cố gắng nào thay đổi được.
Sự chất vấn của em tôi có lý trong giới hạn hiểu biết thông thường hiện đại. Tôi không cãi mà chỉ kể cho nó nghe – cho nó nhớ lại thì đúng hơn – trưởng hợp bà vợ tướng De Gaulle nằm mơ bốn đêm liền thấy chồng mình bị bắn chết bởi 3 phát đạn trung liên, khi chiếc xe của ông vừa đi khỏi mọt cây cầu nhỏ và một quãng đường vòng cung. De Gaulle nói với vợ: “Bà hãy cầu nguyện cho tôi”. Rồi quên đi. Hai ngày sau ông ta đi một chiếc xe DS.21 có mô-tô hộ tống, theo đường bộ về nhà riêng, cách Ba-lê khoảng 200 cây số. Đoàn xe đi chậm lại để qua cầu, rồi tiếp tục đi chậm trên con đường uốn cong về phía trái. “Uốn cong về phía trái” bà De Gaulle nói như thê,s và nói tiếp: “Ông ngồi bên traí”… De Gaulle nhận ra mình ngồi bên trái thật, khác hẳn lệ thường ông ta bao giờ cũng ngồi bên phải. De Gaulle giật mình, một sức mạnh nào đẩy ông ta sang góc xe bên kia, vừa lúc súng nổ, ba viên đạn xuyên qua thành ghế nơi ông ta vừa tựa lưng – một viên khác xuyên thủng vỏ sau xe, nhưng bánh xe thuộc loại không bể (vì chia làm nhiều ngăn?) nên chỉ mất một phần hơi mà không xẹp: người quân nhân lái xe nhấn mạnh ga thay vì ngừng lại… Kinh nghiệm của gia đình De Gaulle được nhiều báo thuật lại, sau khi ông ta chết. Người sùng đạo tin chắc là nhờ bà vợ thành tâm cầu nguyện mà ông chồng thoát nạn. Nhưng cũng còn nhiều trường hợp khác, mà người ta có thể kể suốt ngày không hết. Điều quan trọng là không tin tưởng một cách mù quáng, nhưng vẫn phải có sự chấp nhận, chấp nhận để không chống đối, kháng cự… kháng cự làm cho tâm hồn tê điếng, chính là nguồn gốc của trạng thái kinh hoàng bất lực của người trong cuộc. Tôi muốn nói, như con thuyền giữa cơn giông tố, chỉ có cách thuận theo chiều gió mới có hy vọng sử dụng đến bánh lái phần nào. Như người không biết bơi lỡ té xuống dòng sông chảy xiết, việc phải làm trước hết là tuyệt đối không vùng vẫy: cứ mặc cho làn nước đưa đi thì tất nhiên cả người sẽ nổi lên mặt sóng.
Tôi muốn bảo em tôi đừng sợ, đừng buồn… nhưng lời nói nào, trong lúc này cũng vô ích. Tôi không thể khuyên nó cầu nguyện, vì, cũng như tôi, nó có nhiều lẽ phải quá trong đầu óc. Bởi thế, tôi đành phải lừa dối nó.
V
Sau đây là bức thư mà Duyên gửi cho tôi từ Đà Lạt.
Anh thân yêu,
Em cứu được nhà em rồi, đáng lẽ đến báo tin mừng cho anh, nhưng nhà em về đến nhà đã gần sáng, mà 8 giờ có máy bay chờ sẵn đưa chúng em lên nghỉ trên này cho nhà em bình tĩnh trở lại, nên em không đến được. Vả lại, em tin chắc ông thầy đã biết hết, và đã kể hết với anh.
…Bây giờ em nghĩ lại, mới thấy thật may mà em đã nghe lời ổng, làm hết mọi việc đúng như anh dặn. Em nói thế, anh đừng buồn, tội nghiệp em. Mong anh hiểu cho em… người có đôi chút học vấn, mà bảo em… à, mà thôi, để em thuật lại có đầu đuôi anh mới hiểu cho em nhiều hơn.
…Lúc em ở đằng nhà anh ra về thì đồng hồ đã chỉ 12 giờ. Em sửa soạn đón nhà em về ăn trưa, rồi chờ ảnh đi ngủ mới bắt đầu tìm kiếm trong mớ kỷ vật bề bộn từ khi thầy mẹ còn sống để lại, mãi gần 2 giờ mới thấy mấy đồng cắc bằng bạc và chiếc khăn tay của em thời con gái. Mãi hơn 3 giờ nhà em mới đi làm. Em lên lầu mở cửa sổ ngồi chờ. Trong khi chờ, em thấy lố bịch quá. Em băn khoăn mấy lần định bỏ xuống dưới nhà, nhưng không hiểu sao vẫn ngồi yên.
Đúng 4 giờ, ông già câm xin ăn đi qua. Ông ta ngước nhìn lên em, em làm dấu quyết đúng như anh dặn. Ông ta dừng lại chờ.
Em xuống, mở cửa ra đường, vừa đi vừa đếm nong, thoong, than, thí, hả, hốc… đến thíp thì em dừng bước, chân phải trước, chân trái sau. Ông già ăn xin, quần áo rách, nhưng khá sạch sẽ đưa cho em tờ giấy vẽ bùa và hai đồng cắc bằng chì. Em nhìn đúng năm 1960 và so đúng hình ông Diệm ngược đầu với bó lúa. Em đưa hai đồng cắc bạc, em nhớ năm 1927 và 1931, cho ông ta, với chiếc khăn tay.
Em trở lên lầu, ngồi nhìn mãi lá bùa. Em tưởng như không thể nào làm theo lời anh được. Nhưng rồi sau em nghĩ đến nhà em, em nghĩ vợ chồng hy sinh cho nhau đến thế nào còn được… Em đốt lá bùa vừa thả dần vào ly nước, vừa đọc thần chú, xong em nhắm mắt uống cạn cả ly. Rồi đúng 6 giờ, em đi bộ ra đường, đi bộ đến bến sông, ném thật xa hai đồng các vào đêm tối. Em về đến nhà đã hơn 9 giờ. Nhà em chưa về, nhưng chỉ một lúc sau em được sĩ quan trực ở văn phòng gọi dây nói cho biết nhà em không về: khoảng quá nửa đêm có nhảy tập phản phục kích.
Từ bấy giờ trong lòng em như lửa đốt. Em không sao ngồi yên đứng yên được. Em lên lầu xuống lầu cả mấy chục lần. Mãi hơn 12 giờ em mới đi nằm, nhưng cũng không sao ngủ được. Em vùng dậy mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời. Trời trong vắt, có trăng, có sao. Em thấy hơi vững bụng. Nhưng chỉ được một lúc thôi, vì sau đó những đám mây lớn ở đâu kéo đến đầy khắp. Em bắt đầu sợ trở lại. Nhưng em sợ mà không thấy bối rối trong lòng như mấy bữa trước. Em tì tay vào khung cửa, liên miên những hình ảnh cũ: hồi chúng em mới gặp nhau, khi chúng em đi trốn trên sông Thao, hồi nghe tin anh bị bắt… Quá khứ, quá khứ… từng trải bao nhiêu gian nguy, em được hưởng nhiều hạnh phúc mà em không biết. Em cảm động, em muốn cảm ơn, em thấy cần được cầu nguyện. Nhưng không lẽ em cầu nguyện những vị mà ngày thường em không nghĩ tới? Em không làm như thế được… trong lúc băn khoăn, em chợt ngẩng mặt lên trời cao có mây đen vần vũ. Một nửa tâm hồn em bỗng nhiên mở rộng: em cầu nguyện bâng quơ vào khoảng không. Xin đất trời phù hộ. Tiếng em nhỏ và đều, ru em vào giấc ngủ. Giấc mơ quen thuộc lại bắt đầu, nhưng lần này em nghe rõ tiếng em cầu nguyện. Thế là đủ. Em biết sự gì sẽ xảy ra. Em tiếp tục mơ thấy nhà em trên máy bay, lại thấy cái dù mất hai khổ vải… Em thấy rõ ảnh níu một bên dây, kéo hết sức để quân bình chỗ trống. Em theo ảnh rớt xuống đu đưa theo những cơn gió mạnh. Em thấy em yên ổn, bình tĩnh. Em nhận được cành cây sớm hơn mọi bận. Như chỉ chờ có thế thôi, em la hết sức lớn: Anh! Coi chừng! Anh ơi!…”. Tiếng em la chưa dứt, em thấy nhà em ngẩng mặt lên thật nhanh, cúi xuống nhìn thật nhanh. Rồi em thấy cả người ảnh như co lại, như bổng lên và tạt sang bên cạnh. Mũi nhọn của cành cây vút qua xượt ngang vai ảnh…
Em thức giấc, nhận ra mình ngủ quên, gục đầu trên bậu cửa sổ. Em đóng cửa, vào giường ngủ một giấc thật say. Gần 6 giờ nhà em về. Em bình thản, nhưng nhà em tái xanh. Em mở cửa, ảnh ôm chầm lấy em, hôn lên đầu, lên cổ. Trong khi đó thì tay nhà em run run, đầu gối nhà em lập cập. ảnh đi không muốn vững. Về đến nhà, gặp được vợ con rồi, ảnh mới thấy tai nạn vừa qua ghê gớm biết bao. “Thằng phi công nhận nhầm tín hiệu, thả dù cách xa địa điểm hơn 10 cây số, đúng vào khu rừng thưa, bên chủ nghĩa là con sông nhỏ mà thật sâu. Cả tiểu đội chỉ huy chết 8, bị thương 2, trong đó có 6 đứa chết đuối vì đêm tối, dù quấn vào người, không thoát ra được”.
Trong số người chết có Trung úy H., bạn thân của nhà em. Trung úy H. mới lấy vợ được một năm có đứa con vừa vặn ngày sinh nhật đầy tuổi tôi: đang vui với bạn bè thì có xe đến gọi đi gấp. Khi nhảy, anh nhảy sau cùng, cách mặt đất còn bốn năm thước thì một cơn gió mạnh đánh tạt dù vào một cây sồi không cao lắm. Nhưng một cành sồi gãy chỉ còn một đoạn dài hơn gang tay, lọt giữa vành mũ và cổ áo, xuyên ngập vào gáy anh, và như cái đinh treo anh lơ lửng, hai chân cách mặt đất hơn một đầu người. Hình như H. không thấy đau, vì anh kêu gọi đủ tên các anh em trong tiểu đội. Anh bảo nhà em đi gọi vợ con anh đến. Nhưng sau đó anh bị mê man. Dưới ánh sáng đèn chiếu của trực thăng cấp cứu, bác sĩ và mọi người không tìm cách nào đưa anh xuống được…
Trung uý H. chết trước khi trời sáng rõ, trước khi trực thăng lớn đưa đủ dụng cụ đến cưa cành cây. Nhà em đã chứng kiến nhiều cái chết nhưng chưa bao giờ ảnh gặp một cái chết phi lý, dữ dội như vậy. Nhất là chính nhà em suýt nữ cũng phải chết một cách tương tự. “Anh không hiểu được. Không hiểu được. Không phải anh tưởng tượng, không phải anh nghĩ đến em – trong giây phút đó, bất cứ ai cũng chỉ nghĩ đến những việc phải làm – nhưng rõ ràng anh nghe tiếng em gọi anh Anh coi chừng, anh ơi!…”. Anh giật mình ngẩng nhìn, nhưng vội cúi xuống ngay, vừa vặn thoáng trông thấy mũi nhọn từ dưới đâm lên. Anh hết sức đu lên cánh tay phải, văng cả người theo. Anh thoát chết trong gang tấc, chỉ bị móc rách một bên vai áo… “Chỉ rách một bên vai áo!”. Anh ơi, em cảm động và hối hận biết bao vì anh cứu vợ chồng em và em không tin, mà có lúc em định không làm như lời anh dặn. Trong lúc mừng rỡ, em chỉ biết ôm lấy nhà em mà khóc hoài, không sao nín được. Em cũng không sao kể ngay cho nhà em nghe nằm mơ thế nào, và anh giúp em thay đổi giấc mơ thế nào. ảnh sẽ không tin và em sẽ rất buồn.
Vì thế em nín lặng giữ chặt cái vui của em trong lòng. Cả đến khi nhà em cởi dây tháo giày ra khỏi chân, có hai đồng bạc cắc rơi ra em cũng không nói, mặc cho ảnh cằn nhằn em tin nhảm: “Em giấu tiền vào giày anh thế này, khi nhảy đụng mạnh xuống đất, rủi đồng cắc nằm nghiêng, nó có thể ngập vào chân anh”. Em rúc đầu vào nách ảnh để cười một mình. Rồi em khẽ nhặt hai đồng cắc bạc gửi biếu anh đây, để anh giữ làm kỷ niệm…
Một lần sau cùng, vợ chồng em quyết không bao giờ quên được những ngày vừa qua. Nhà em sau khi ng he em kể chuyện, đồng ý với em rằng hiểu thì không hiểu được đến tận ngọn ngành, nhưng chồng em có thể tin – chúng em rất tin thì đúng hơn – có sự giao tiếp, vay mượn ký ức giữa anh hồn của một người đang ngủ và anh hồn của một hay nhiều người khác. Chồng em tin rằng cái cảnh tượng được tạo ra do ý muốn của một anh hồn có thể được thông báo cho chân không để chân không đào tạo nên cảnh tượng đó trong thực tế. Em không mường tượng nổi tại sao trong vô thức của em lại có thể có sự gặp nạn của nhà em, nhưng em thành thật tin tưởng rằng nhờ quyền phép của ông thầy và sự chỉ dẫn của anh, và nhờ tình thương yêu của em đối với chồng em, mà em xâm nhập được vào giấc mơ, mà em cất được lời cầu nguyện trong khoảng không, mà giữ được tinh thần tỉnh táo và chủ động để can thiệp cứu nhà em đúng lúc… xưa nay chưa bao giờ có người cố gắng giải thích những giấc mơ báo trước tương lai; người ta gạt phăng đi không tin, hoặc nếu tin thì cho đó là sự hiển hiện của Định Mệnh, mà đã nói đến Định Mệnh thì làm gì có sự thay đổi, sửa chữa được.
Anh là người đầu tiên giải thích những giấc ơ, ông thầy là người đầu tiên đưa người đang sống vào khu vực linh thiêng của chân không và anh hồn, còn em là người đầu tiên thay đổi được giấc mộng của chính mình. Sau một nửa tháng kinh hoàng, anh biết không, hôm nay em hãnh diện không ít! Em chỉ tiếc có một điều là không tìm được cách nào để kể câu chuyện của em cho mấy người bạn. Mấy lần em định kể, nhưng muốn kể thì phải giải thích, mà em giải thích không được, không lẽ cứ mỗi lần kể lại đời có anh ngồi bên cạnh hay sao? Em gái thân yêu của anh.
Thiếu Duyên
Tái bút – Em vừa tìm thấy trong túi bộ đồ trận của nhà em chiếc khăn tay, còn y nguyên nếp gấp. Kể cũng lạ: không biết ông thầy làm cách nào mà bỏ được nó vào túi nhà em… Cũng như hai đồng bạc cắc, em xem lại đồng niên hiệu 1927, 1931, làm sao vào được giày nhà em mà nằm… Nhưng mà thôi, anh hiểu được cái gì anh hiểu, còn cái mà em thấy, mà em không hiểu nổi, thì em gọi nó là thiêng liêng huyền bí – ở trong sự chuyên chở và bao bọc của Chân Không, như anh thường nói!
VI
Tôi đọc đi đọc lại bức thư của em tôi, cố tìm xem nó có ý định trêu cợt gì tôi không. Vì trong tay tôi lúc ấy có đến hai chiếc khăn tay và bốn đồng bạc cắc. Như các bạn đoán biết, sau khi ông bạn già của tôi – ông bạn già trong một chỗ chơi bời không lấy gì làm sang trọng lắm – đóng vai người ăn mày câm đổi hai đồng cắc và đưa em tôi lá bùa, lá bùa do tôi vẽ, ông ta đã trả lại cho tôi cả chiếc khăn tay lẫn hai đồng cắc bạc. Như vậy thì khăn tay nào, bạc cắc nào, mà ai bỏ trong túi, trong giày người lính dù, em rể tôi?
Ơ hay! Có lẽ đâu những điều tôi tưởng bày đặt ra, để trấn an em tôi, đều là thật cả!
“Hãy cứ nén lại một chút, có gì bực đâu”, nghĩ vậy, Tâm đứng tỳ tay lên cửa sổ toa tàu hạng nhì nhìn bao quát cả khung cảnh bên phải nhà ga. Bên hông trái con tàu mang chàng đến, một đoàn tàu khác vừa khởi hành. Hồi còi của chiếc đầu máy chạy bằng diesel tạo nên âm điệu buồn riêng. Trước kia Tâm tưởng chỉ có thứ còi trang bị trong những chiếc tàu cũ – thứ chạy bằng máy hơi nước – mới có thể gây nên tác động nào đó thấm vào tâm hồn anh. Mỗi khi nghe tiếng còi tàu huýt lên, nhất là vào buổi chiều, tự nhiên Tâm thấy thất vọng và buồn bã mênh mông. Thật vậy tiếng còi đó như là những tiếng nấc, nức nở và thê thiết. Cho nên khi mới nghe tiếng còi của đầu máy chạy diesel lần đầu. Tâm chưng hửng, cụt hứng. Ừ, thì ra Tâm đã ghiền cái giọng buồn bã và thê thiết của tiếng còi những năm xưa. Nhưng không. Sau một thời gian bảy tám năm, Tâm mới chợt thấy rõ tiếng còi mới đã tạo được âm hưởng riêng biệt. Tiếng còi bây giờ ngắn ngủn, nhỏ nhoi, hối hả và lạnh lùng hơn. Vô tình cái giọng của cơ giới đã trùng hợp trạng thái tâm hồn con người thời đại. Mà thật ra cơ giới đã ảnh hưởng đến tâm hồn hay tâm hồn đã chi phối cơ giới? Khó trả lời. Chỉ biết hồi còi bây giờ ngắn ngủn, nhỏ nhoi, lạnh lùng, không muốn ai biết đến và thật ra cũng không ai để ý đến. Hồi còi vô danh và vô nghĩa như thân phận nổi trôi và mong manh của kiếp người được ý thức mãnh liệt ở cái thế kỷ đầy náo loạn và khủng hoảng nhất từ ngàn xưa này. Tâm cảm thấy sầu héo cả một chân trời quá khứ xa, rất xa. Anh chỉ thích nằm xuống, nằm yên, ngủ vùi cho hết những chiều tà còn lại trong đời anh như chiều nay. Anh chỉ muốn đắm chìm trong một khung cảnh êm ái vỗ về của một mái tóc, của một hồ nước, của một đêm trăng. Anh chợt như trông thấy bóng mình lung linh bất động bên hồ nước trong như gương. Lòng anh thiêm thiếp như lá rụng ven bờ. Nằm yên. Nằm yên. Hãy nằm yên thật yên, đồng hóa với cây cỏ và rong rêu. Hãy nằm yên nhé Tâm. Hãy gờn gợn một chút như mặt hồ trong như gương của quá khứ kia. Hãy lao xao nhẹ nhàng như lá rụng ven bờ kia. Rồi rã rời một cách êm ái. Rồi mục nát như rong rêu. Hãy nằm yên, mặc những đoạn tàu rúc nhanh hay rúc chậm, cụt ngủn hay lê thê. Nằm xuống, đó, hạnh phúc chân thật nhất của đời mày. Nằm xuống, đó, căn phần của đời mày. Mày đã đứng lên nhiều phen, vô ích rồi. Bạn mày cũng đã đứng lên, tất cả đều đã và đang ngã xuống rồi. Thu đã bảo mày nằm xuống, Thanh đã bảo mày nằm xuống. Hà đã bảo mày nằm xuống. Và sau chót Nga đã bảo mày nằm xuống. Nhưng những đứa con gái trước kia đã xa tầm tay Tâm. Bây giờ chỉ còn Nga. Tâm cảm thấy mình đã đầu hàng. Tâm cảm thấy mình muốn nhắm mắt, nằm xuống suốt những chiều tà còn lại trong đời. Chàng từ giã đột ngột các bạn, bỏ đứt một chân dạy ở một tư thục mà chàng phải mỏi mắt kiếm được để đáp chuyến tàu suốt Sài Gòn – Đà Lạt lên đây sau khi nhận được thư Nga. Tâm đã quyết định để cho thân thể, trí óc và tâm hồn anh nằm xuống vĩnh viễn. Anh đã cảm thấy rất mạnh sự vô nghĩa cùng cực của tất cả mọi hoạt động, phản kháng và ước ao. Anh đã tính đầu hàng. Sao bây giờ anh không xách hành lý đến nhà Nga ngay? Và nằm xuống. Và chết đi. Và mục rã. Như hồ nước yên lắng muôn năm đằng sau biệt thự của Nga. Sao bây giờ anh còn do dự? “Quái, cái tia nắng.“ Từ nãy giờ thỉnh thoảng Tâm vẫn để ý đến những đợt nắng nhỏ, yếu nhưng sáng vô cùng phía trên đường leo quanh cái đồi trước mắt. Nó cực kỳ quyến rũ anh, dù âm thầm cũng như cái âm thầm của rong rêu bên hồ nước. Vâng, rong rêu của hồ nước chỉ âm thầm kéo anh xuống để nằm luôn, ngủ luôn, suốt một trăm năm, một trăm năm êm đềm mục rã. “Không được”, Tâm nói nhỏ vừa đủ nghe vừa lúc một ánh sáng lóe lên đàng sau óc anh, trong tâm hồn anh, Tâm nhìn người hành khách cuối cùng đã khuất hẳn về phía nhà ga.
Bây giờ sương mù không biết từ dưới đất bay lên, trên trời cao tỏa xuống hay từ đồi núi tung ra. Cả bầu trời mù mịt. Từng đám lãng đãng bay tạt vào cửa sổ khiến Tâm cảm thấy lạnh. Có lúc Tâm rung lên. “Nằm xuống có lý mày ạ.” Tâm nghĩ đến, suýt nói ra thành lời cho mình nghe. Anh châm thuốc hút, mắt vẫn lơ đãng nhìn ra ngoài trời đầy sương khói. Trên con đường dốc phía trước mặt dẫn về trung tâm thành phố mang nhiều âm tính nhất Việt Nam này. Chốc chốc một chiếc xe nhà chạy bắn qua rất nhanh, bỏ lại đằng sau, trong tâm hồn chàng, từng phiến cô đơn hàn lạnh vô danh. Có lúc Tâm tin mình nhìn thấy chiếc xe màu trắng xám của Nga. Chiếc xe hiệu gì anh không để ý gì hết – cũng như không bao giờ anh để ý đến tên một tài tử hay minh tinh quốc tế nào – nhưng Tâm biết chiếc xe thuộc loại đắt tiền và ở đây số người dùng có thể đếm được trên đầu ngón tay. Kiểu xe hoàn toàn thoát khỏi những cái gì lộng lẫy, kiêu sa, phí phạm như phần đông xe Hoa Kỳ. Tuy vậy nó cũng không thể nào rơi vào chỗ cũ kỹ, già nua, nghiêm nhặt và bảo thủ như loại Traction đen của Pháp mà ngày nay một số người đứng tuổi còn dùng. Nó trẻ trung nhưng cô độc. Tâm nghĩ có lẽ nó được chế tạo ra cho những thanh niên và thiếu nữ trí thức, độc thân, sống bằng nghề tự do. Nó chạy rất khỏe và bền. Một linh mục người Ý đã từng cho Tâm biết ông đã dùng loại xe đó để đi qua con đường nhầy nhụa trong mùa mưa từ Ban Mê Thuột về Đà Lạt mà không gặp một khó khăn nào. Tâm không rõ nội vùng Cao Nguyên này có chừng bao nhiêu người sở hữu xe đó. Chắc ít. Nhưng dù sao cũng đến năm bảy người. Thế nhưng không hiểu sao Tâm cứ tin chiếc xe màu xám vừa chạy qua trước mắt anh trên con đường dốc kia là chiếc xe của Nga. “Có thể nào Nga ra đón mình? Mà mình đâu có cho Nga biết ngày mình lên. Hơn nữa theo thư gửi cho mình tháng trước, đây là thời gian Nga phải có mặt ở Di Linh. Nàng sẽ về đó để coi sóc tạm thời cái đồn điền cà phê của ông cha.” Nghĩ lan man một lúc, Tâm rút điếu thuốc thứ nhì rồi thứ ba.
Giữa hoàng hôn, sương mù chợt tan biến. Trên đồi cao trước mắt, ánh nắng thu hết tàn lực nhuốm lên một màu vàng rực rỡ. Thật kỳ lạ. “Nga ơi, anh chưa muốn nằm xuống. Anh chưa muốn rục rã. Anh còn đang chờ mặt trời những buổi sáng sẽ thiêu cháy rong rêu bên hồ nước. Đây chỉ là xứ của hoàng hôn, của nằm xuống, của ngưng đọng và có thể của phiêu diêu.” Tâm mới vừa nghĩ đến đó thì ánh nắng đã hóa ra đục mờ và tan nhanh trong khói đá và sương mù. Trong khắc giây trước đó Tâm đã bắt được gần trọn vẹn một khung cảnh nào xa lắm. Khung cảnh như ở ngoài không gian và thời gian. Êm đềm. Mục rã. Tâm nhìn đăm đăm. Anh muốn giũ lại trong đôi mắt màu trắng rực rỡ kỳ dị kia. Tự nhiên Tâm đau nhói trong tim và nước mắt ứa ra. Tâm biết chỉ trong phút giây cảnh sắc kia sẽ tan biến và không bao giờ hiện ra lần thứ ba trong đời anh. Tâm không dám nhìn lên khu đồi trước mắt nữa. Anh quăng tàn thuốc cuối cùng xuống đường sắt và ngồi thừ xuống chiếc băng nệm bọc nhựa đỏ. Tuy đã thuộc lòng gần hết cái thư Nga gửi cho anh tháng trước ở Sài Gòn – cái thư bảo anh nằm xuống, ngủ yên, suốt những chiều tà còn lại trong đời anh – anh vẫn lấy ra đọc lại. Một đoạn quyết định: “Ngôi biệt thự ở đường Hoa Hường sẽ thuộc hẳn về em. Sau khi ba em chữa bệnh về sẽ trở lại Di Linh rồi lên đây làm giấy cho em. Em đang dọn cái certificat cuối. Dĩ nhiên em sẽ về Sài Gòn thi. Em rất ít đi Sài Gòn nhưng em không thèm Sài Gòn như những con bạn. Sài Gòn nắng gắt. Em không ưa mặt trời. Sài Gòn không có nắng tà. Sài Gòn không có sương mù. En không bao giờ tin rằng mình sẽ ngủ được một đêm sung sướng ở đó. Nhưng được cái là có anh, thiên đàng của Nga, cái thiên đàng sắp di chuyển vĩnh viễn lên xứ của sương mù. Sương mù của trời đất và sương mù của tâm hồn em. Anh thích cái hồ nước ở đằng sau nhà em lắm phải không? Dạo đó anh thường mang cả tấm bảng đen lớn trong nhà mà ra đây dạy em. Anh biết không, em không nghĩ đến những con toán trên bảng mà em chỉ nhìn lén mặt hồ. Nước trong và phẳng như gương. Em mê mệt nhìn bóng hai đứa lung linh, lung linh. Em không vọng tưởng những chân trời nào mà xa như mấy con bạn. Em không thèm những Paris, những Rome, những New York. Em chỉ ao ước nhìn thấy bóng hai đứa bất động trên mặt hồ, cho đến một trăm năm. Một trăm năm bình an và thanh thản như cánh rừng thưa ở đây. Anh, anh, nghe Nga nói đi. Yên nghỉ là chân hạnh phúc của đời người. Có lẽ phần đông con gái đều mơ hồ cảm thấy điều đó. Mọi hoạt động, mọi chống đối – mà anh cho là bản thể của trí thức – rốt cuộc rồi cũng thu về một mục đích duy nhất: nằm xuống, em nghĩ. Vâng em sẽ thi ở Sài Gòn. Em tin đỗ dễ dàng. Xong em sẽ ngoại giao giữ một chân giáo sư ở Yersin hay Couvent. Ba em quen nhiều với ông F., giáo sư của hai lysée đó. Nhưng em sẽ dạy ít giờ thôi. Giờ còn lại trong ngày và trong đời, em nằm xuống, ngủ. Em sẽ đi Pháp, đi Mỹ, đi Đức, đi Nga, đi bất cứ nơi nào có thể đến chơi nhưng em sẽ mang theo hình ảnh thanh bình ngàn năm của hồ nước sau nhà và rồi em cũng sẽ về đó nằm xuống, như rong rêu mát rượi. Anh hãy bỏ học nếu không thích. Mà em mong em bỏ học đi. Một hai chứng chỉ cho đủ, có nghĩa gì. Em không… nuôi được anh suốt đời sao. Mà anh sống nhiều nhất là một trăm năm nữa chứ mấy… chúng mình cứ ngồi yên bất động suốt thời gian đó suốt thời gian đó trên bờ hồ cũng thư thả như thường. Em đi dạy mục đích là để lấp kín khoảng thời gian trong ngày em không nằm xuống thôi. Anh hãy bỏ học nếu thấy rõ không cần thiết gì cả. Cần thiết là anh hãy bỏ những ý nghĩ điên cuồng – em xin lỗi trước – của anh, của anh Thái, anh Phát và một lô bạn anh, thân và không thân. Anh cũng đừng lui tới chỗ anh Huy và anh Ngạn. Hai anh ấy tube nặng lại không thèm trị. Thật quái gở, bạn anh đó. Anh tưởng Nga không biết sao. Không liên lạc với anh, em đã có những con bạn học dưới đó cho biết hết. Thật sự các anh ấy chỉ muốn làm khổ mình và cho người khác. Như mấy vụ bạo động với phong trào gì đó. Và anh nữa, anh cũng có nhúng tay và hăng lắm. Rồi lại còn ra báo văn học nghệ thuật gì đó để gặp bao nhiêu khó khăn và đe dọa bên trong, bên ngoài. À cái anh Huy, thật tệ vô cùng và tệ nhất xóm, anh ấy đã xong Bac II vừa rồi chưa? Thôi em chỉ nói tắt là anh đừng lui tới với họ. Anh hãy dò lại tâm hồn anh đi. Có phải dưới bề mặt cuồng nộ gió bão trong đại dương của tâm hồn, ở đáy sâu tận cùng, nước vẫn không hề lay động, cũng như anh chỉ thích một cuộc đời lặng lẽ với những ngày im bóng…” Đọc đến đó Tâm thấy lạnh cả người. Anh tưởng tượng đến ngôi biệt thự của Nga ở đường Hoa Hường, một con đường vòng, nhỏ, thanh lịch xếp vào hạng nhất ở Đà Lạt ở gần viện Pasteur và chỉ cách nhà ga năm phút tắc-xi là nhiều lắm. Vâng, chỉ cần mười phút là anh sẽ nằm xuống đó, bên hồ nước trong veo, đắm mình trong cái êm ái lười biếng vạn niên của chiều tà. Rồi Nga sẽ từ Di Linh lên. Rồi anh sẽ nằm xuống trọn những buổi chiều tà còn lại của đời anh. Anh nghĩ đến cái sân cỏ hoang vu đây đó thường mọc lên một nhánh lan tím dại rất đậm và êm như nhung. Anh nghĩ đến căn phòng mát rượi đầy tiện nghi của Nga ở trên cao nhìn bao quát xuống đó. Anh nghĩ chiều đến mặt hồ im bóng phía sau, bên gốc thông cổ thụ và hàng cây mimosa thứ lá tròn và dài màu xam xám rất đặc biệt. Anh nghĩ đến cái sân về phía bên phải ngôi nhà với hai cái ghế đá mát lạnh quanh năm, nơi anh đã có lần về đó đọc sách, nghiền ngẫm những tư tưởng của riêng anh trong cuộc đời sôi động, nổi trôi từ khi anh bỏ hẳn gia đình đi vì nhiều nguyên do. Rồi anh lang thang ở Sài Gòn. Rồi định mệnh đưa đẩy anh đến gia đình Nga qua lời rao vặt đăng báo cần một chỗ prescepteur ăn ở luôn Đà Lạt. Anh nhớ đến căn phòng của riêng anh. Nó tình cờ nằm sát dưới phòng Nga. Hồi đó anh có ý nghĩ nghịch tặc. Anh sẽ bắc ghế xoi mỗi ngày chừng một ly mét thôi cái trần nhà phòng anh. Vậy là trong vòng một năm anh đã lọt lên phòng Nga, một đêm nào đó, và hai đứa sẽ không thể rời nhau trên cõi đời này nữa. Là hai đứa sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào nhau và cần khổ phải có nhau. Là anh sẽ ở lại đó mãi mãi. Hồi đó, khi vừa bỏ gia đình đi, Tâm chỉ có Bac I và Nga chỉ học lớp 4ef. Tuy đã đi dạy kèm một vài nơi để sống. Tâm không quyến luyến ai như Nga. Không phải vì Nga thông minh hơn những đứa con gái khác. Nga cũng tầm thường nữa. Có điều trong tâm hồn nàng, trong tâm hồn đứa con gái càng lớn lên đó, có một nguồn hạnh phúc cho kẻ nào biết nâng niu. Và nguồn hạnh phúc này thoát ngoài sự giàu sang phú quý và cũng thoát ngoài cái bấp bênh gian nguy của một cuộc đời vô định. Một thứ hạnh phúc không bao giờ chạm phải cái bóng hình của những đau khổ lớn lao trên trần gian dù chính cái đau khổ lớn lao kia vẫn bao trùm lấy nó. Tâm có thể không cần biết cái màn bao phủ kia. Nhưng chắc không khỏi bị ám ảnh. Đó là chỗ khác biệt nói chung giữa bản tính và tâm hồn con trai và con gái, đàn ông và đàn bà, và nhất là của riêng Tâm và Nga. Cho nên nếu ngày nào Tâm sống chung với Nga, từ trong cái hạnh phúc trong như gương. Con mắt và trí óc Tâm nhất định phải nhìn xuyên qua cái màn sương mờ, cái vỏ nhung êm đềm của của hạnh phúc bình yên kia để chạm đến cái đau khổ ngàn kiếp của đời người. Lúc đó chắc chắn anh sẽ đứng lên như anh và các bạn anh đã từng đứng lên ở Sài Gòn này, dù đứng lên rồi loay hoay, tuyệt vọng để có lần Tâm lại mò lên nhà Nga sau vài tháng hay vài năm từ giã. Đã ba lần như thế. Trong thời gian đó Nga đã lớn và không cần người phụ giáo. Nhưng Nga vọng tưởng mãnh liệt ở Tâm. Nàng tin mơ hồ bằng trực giác rằng ngững đầu óc sôi động nhất là những tâm hồn vốn thích nằm xuống nhất, thèm bóng mát nhất, thèm rong rêu nhất. Tâm nhớ mãi lời Nga trong một lần khi anh từ giã Nga về Sài Gòn: “Anh đi, được rồi, em không cản. Em chỉ mong anh trở về khi anh thích. Căn phòng của anh vẫn vô chủ. Có hai chìa khóa, em giữ một, anh một. Thỉnh thoảng một mình em vào đọc sách. Đọc mấy kệ sách văn chương tư tưởng nổi loạn, tấn công và hư vô của anh. Thỉnh thoảng một đứa con gái đến đọc chừng một trang trong những tác phẩm đó cũng thú vị đó chứ? Hơn nữa căn phòng này nhìn ra một cái vue khác phòng em. Đôi khi em thèm cái vue đó. Chứ không phải thèm… anh đâu nhé. Anh cứ về bất thần lúc nào. Khỏi chào ba em, mà ba em cũng ít khi ở đây. Dĩ nhiên là khỏi cần thưa trình với … Nga, chủ nhân một ngày rất gần đây của ngôi biệt thự này. Anh cứ về bất thần lúc nào. Một, hai giờ khuya cũng được. Cà phê trong phòng anh chưa mốc meo đâu dù anh vắng dùng đến hàng chục năm và trở về với râu tóc xồm xoàm. Anh cứ rung chuông cho chị Hai dậy và sửa soạn cơm cho anh dùng. Chị ấy ở khá lâu, trung thành và tốt. Chỉ ngại có con Lou Lou. Sợ nó quên anh chăng? Đó, anh làm sao nói được với con chó hơi điên điên đó thì nói. Nhưng cũng đừng ngại vì ở đây rất gần viện Pasteur!” Dạo đó Tâm đã tính nằm xuống và đầu hàng. “Nga, dù em cứ tin rằng anh chỉ muốn hôn tóc em suốt đời và ngủ trong đó suốt những chiều tà còn lại trong đời anh. Nhưng nắng lên. Mặt trời nhảy múa và mặt trời đau nhức. Anh cũng nhảy múa và anh đau nhức. Anh hân hoan tê điếng và anh tàn rụi bi thương. Làm sao anh nằm xuống an tâm trên trái đất xao dộng và lung lay ngàn đời này. Con gái làm sao trông thấy trái đất này đang quay và nhất là ý thức được sự tuần hoàn kỳ cục kia. Họ chỉ nhìn thấy chu kỳ những hoàng hôn êm ả . Phải. Em nghe kỹ. Con gái không thể nào trông thấy trái đất này đang quay đâu.“ Anh đã trả lời với Nga như vậy. Anh đã trả lời giùm cho các bạn anh, những người bạn có thể chống đối nhau toàn diện trên bất cứ quan điểm chính trị, xã hội, văn nghệ hay đến cả đời sống hàng ngày nói chung nhưng khi gặp nhau và nhận thức chân lý rằng bản chất muôn đời của trí thức là phản kháng, rằng cái trách nhiệm đầu tiên và vinh dự cuối cùng của trí thức, bằng phản ứng tự động mạnh nhất và hết mình. Rồi Tâm lại nửa đùa nửa thật viết cho Nga: “Nga vào phòng anh làm gì. Em có đỗ mười cái tiến sỹ hay thạc sỹ gì đó bản chất của em vẫn là xách giỏ đi chợ. Con gái mà, dù có đỗ mười cái tiến sỹ khoa học hay thiên văn học hay trời đất… học nếu có cũng không thể nào nhìn thấy trái đất này quay đâu. Nga có nhìn thấy trái đất này quay bao giờ không? Nó quay, nó quay, nó quay. Nó quay, nó quay, nó quay khiến anh điên đầu. Em đừng vào phòng anh hay rõ hơn đừng giở những trang sách mà em cho là tấn công là phản đối là hư vô đó. Coi chừng… truyền nhiễm đó. Coi chừng em sẽ thấy trái đất này nó quay, nó quay, nó quay, rồi em không còn muốn xách giỏ đi chợ (một mình hay với chị Hai) nữa và anh sẽ đói. Em hãy hãnh diện như bản tính của em và của những đứa con gái từ cỡ đẹp trung bình lên thượng đỉnh. Hãy hãnh diện đi dù không biết hãnh diện cái gì và hãnh diện với ai. Anh tưởng tượng khi vừa mở mắt chào đời, đứa con gái nào cũng đã bắt đầu hãnh diện ngay. Nằm trong nôi quơ chân quơ tay tầm bậy tầm bạ như đuổi bắt trống không cũng cứ hãnh diện đi, hỡi bé con lớn lên sẽ thành con gái, lớn một chút sẽ thành đàn bà và yêu tinh cùng một lúc. Hỡi con gái, hãy hãnh diện đi. Từ nhà đến trường cũng cứ hãnh diện. Xách giỏ đi chợ cũng hãnh diện. Đi ra đi vô cũng hãnh diện. Dù không bao giờ thấy trái đất này nó quay, nó quay, nó quay. Hãy cứ hãnh diện, hãnh diện, hãnh diện như mặt đất này nó quay, nó quay, nó quay.“ Nghe xong Nga cười ồ lên, vô tư và âu yếm biết bao nhiêu. Tâm cũng không thể nín cười được. Nhiều lúc trong đời Tâm không hiểu anh nói đùa hay thật. Nhưng anh phải suy nghĩ về lời nói của Nga: “Anh khôn hơn em nhiều quá thành anh thua em.“ Nhiều năm trôi qua. Trong lúc Tâm phiêu bạt sống dằn vặt từ vật chất đến tinh thần phải bỏ dở dang việc học – hay đúng hơn việc thi cử – thì Nga đã gần xong cái cử nhân văn chương Pháp. Tâm tự ý cắt đứt mọi liên lạc với Nga, những liên lạc cách khoảng nhưng gần gũi và cột chặt hơn. Có lần suýt đối diện với ông thân của Nga ở Sài Gòn, Tâm cũng lờ đi dù anh thừa biết ông cụ đích thật là một người ưu thời mẫn thế, rất mến chuộng anh, chấp nhận gần hết tính khí của anh mà ông cho là giống tuổi trẻ của ông mà con ông – đứa con gái độc nhất là Nga – không hấp thụ và hun đúc được chút nào. Tâm thì cao ngạo nghĩ rằng tuổi trẻ của ông không thể nào có được nồng độ tha thiết và chán mứa như Tâm. Song Tâm mến ông. Tâm thấy hình như ông cũng thoáng thấy trong tuổi thanh xuân, rằng trái đất nó quay, nó quay, nó quay. Nhưng vì sợ hãi, ông nhắm mắt lại và nằm xuống cho lúc ông hoàn toàn quên rằng trái đất này còn quay. Bây giờ ông chỉ thoáng nhớ rằng ngày xưa có lần ông đã thấy trái đất nó quay, nó quay, nó quay. Nhiều thanh niên thấy trái đất nó quay, nó quay, nó quay. Nhưng họ bị chóng mặt và không muốn nhìn nữa. Họ nằm xuống và quên đi vĩnh viễn. Đó là thân phận nhân loại. Tâm tự thấy mình phải và nên xa cách Nga dù trong thâm tâm, nhất là trong những ngày chán ngán thấy mình đứng trước mọi ngõ cụt của bao nhiêu tư tưởng đã nghiền ngẫm, Tâm chỉ muốn nằm xuống như bao nhiêu thanh niên khác. Tâm chỉ muốn trở về ngôi biệt thự kia, được ngồi xuống ghế đá mát rượi, được thoa mát hai bàn tay lên đó, và để thấy lại một trong những buổi hoàng hôn êm ả nào xa lắm, những đợt nắng vàng rực rỡ chiếu sáng qua đám cỏ hoang vu có điểm một vài cánh hoa tím dại trước nhà.
Phải rồi. Bây giờ Tâm mới bắt được cái khung cảnh thời gian và không gian đặc biệt kia mà anh đã lầm với đợt nắng vàng lúc nãy trên khu đồi phía trước hàng thông lơ thơ. Có lẽ hoàng hôn ở đây không trôi đi, trôi đi. Có lẽ trên thế gian này, có một cái gì, một chút gì, đứng lại, bất động và vĩnh viễn. Heraclite có lẽ chưa nhìn thấy cái đó nên người đã nhỏ lệ xuống dòng nước đang chảy dưới cầu chăng? Tâm bỏ thư Nga vội vào một ngăn da trong chiếc va ly. Anh đứng vụt dậy đến mở toa xe nhìn lên chiếc đồi để tìm lại những đợt nắng vàng rực rỡ như thu hết cả thanh sắc trên trần gian này. Nhưng hết rồi. Sương mù đã bắt đầu trở lại vây kín bầu trời. Mất rồi. Tâm ngồi thừ xuống ghế, cảm thấy tất cả mối sầu vạn niên trên mặt đất này khi hoàng hôn đến. Anh biết chắc chắn rằng ngày mai, ngày kia, hay một ngày nào sẽ đến, dù anh có về đây, ở sân ga này, hay trở lại ngôi biệt thự kia, không bao giờ anh gặp lại khung cảnh thời gian và không gian kia, không bao giờ anh còn nhìn thấy nắng quái hoàng hôn kia nữa. Vậy thì Tâm ơi cái gì đứng lại giữa mọi thứ trôi đi, trôi mãi nếu không là ảo giác kết quả của một tin tưởng mãnh liệt? Vậy thì Hesraclite khóc có lý? Tâm nhắm mắt lại để cố nhìn cho kỹ hình ảnh nắng vàng kia trong tâm thức. Anh đã bất lực. “Phải chăng hạnh phúc giữa mình và Nga cũng chỉ là ảo tưởng?” Bây giờ nếu Tâm đáp tắc-xi đến ngôi biệt thự của Nga, chắc gì Tâm tìm lại được một chút màu nắng kia dù phải đợi bao nhiêu hoàng hôn nhuốm vàng mặt đất này? Chắc gì. Tâm bỗng lo sợ mông lung. Chưa nằm xuống. Chưa nằm trong cái hạnh phúc êm đềm của mái tóc, bàn tay và tâm hồn trung bình của Nga. Chưa. Mới sắp đến gần tấm nhung mềm mại. Nhưng chưa lọt vào trong. Chưa trùm kín người lại. Chưa bao giờ phủ cái đầu và những tác phẩm nổi loạn, tấn công và hư vô của Tâm, chưa gì cả. Chưa gì cả mà Tâm đã thấy một sợi dây vô hình bén nhọn chọc thủng cái màn hạnh phúc kia để chạm đến những khắc khoải vô biên tràn lan khắp nơi, trên cả đợt nắng vàng rực rỡ buổi chiều tà, trên cả sắc thái những đợt nắng vàng rực rỡ đã mất đi trong quá khứ, trong hiện tại vừa mới trôi qua. Tâm, chàng chỉ là một phiến nam châm bệnh hoạn. Phiến nam châm này đã thu hút những mối sầu không có trên trần gian này sao? Mày điên rồi Tâm. Mày điên rồi. Trái đất này nó quay, nó quay, nó quay thì mặc kệ nó chứ. Nó quay một cách ý thức hay một cách vô tri thì mặc kệ nó chứ. Mà làm sao mày thấy nó quay? Mày có té đâu mà sợ. Hàng tỷ nhà cửa và nhân loại trên mặt đất có té đâu. Ngôi biệt thự của Nga và Nga có té đâu. Nó quay thì cứ để mặc nó quay. Mà mày có làm phi hành gia không gian để vọt hẳn ngoài vỏ đất này không mà thấy nó quay? Mày điên rồi. Mày điên rồi Tâm ạ. Tâm ngẫm nghĩ. Rồi anh đắm mình trong cái êm ả và tê nhức của buổi chiều tà vô danh này. “Không, ta chịu là ta điên nhưng không thể nằm xuống. Nga ơi, anh chưa thể nằm xuống với em đâu. Em làm sao hiểu được sự đau khổ kỳ dị của anh. Nga ơi, anh chưa thể nằm xuống. Anh sẽ mất Nga như anh đã mất nhiều Nga như Thu như Thanh như Hà trong những năm anh từ giã Nga mà Nga không biết. Nga, anh vẫn nghĩ là Nga hơn tất cả những đứa con gái kia. Nhưng tất cả con gái đều không thể nào nhìn thấy trái đất này nó quay, nó quay, nó quay, không thể nào thấy đau nhức và phẫn nộ trong một chiều tà êm ả vạn niên với từng đợt nắng nhỏ vô cùng rực rỡ. Rất xin lỗi Nga khi gần đây anh đã gián tiếp và trực tiếp cho biết anh sẽ về, nằm xuống, nằm xuống.” Tâm loay hoay. Cuối cùng anh gục đầu lên trên va ly đã khiêng từ cái kệ trên ngăn sát nóc toa xe xuống dưới băng. Một chút nắng vàng lại lóe lên mang một chút sáng vào toa xe, Tâm đau nhức, y như một bệnh nhân cùi hủi gặp mùa trăng.
“Ai đó?”
Một nhân viên kiểm soát xách chiếc đèn măng sông soi sáng cả toa xe. Ông la lớn như vậy khi thấy bóng người đàn ông độc nhất lù lù trong toa. Tâm bực mình nhưng cũng buồn cười trông thấy nhân viên kia chệnh choạng muốn ngã vì đã qua một cơn sợ mất vía. Bây giờ Tâm mới nhận thấy bóng đêm đã buông xuống từ hồi nào. Anh nhìn ra cửa ngoài toa xe nói lửng một câu như không hay biết gì sự có mặt của nhân viên nọ:
“Trời tối mau quá! Mới đó.”
Nhân viên khó chịu vì thái độ dửng dưng của Tâm. Nhưng khi soi đèn và nhận ra dáng một thanh niên trạc tuổi hăM bảy, hăm tám có vẻ đàng hoàng và không có gì đáng khả nghi, ông ôn tồn bảo Tâm:
“Ông làm ơn cho tôi xem vé. Tàu đến hơn một giờ rồi.”
Tâm không trả lời. Làm bổn phận xong, anh hỏi nhân viên:
“Thưa ông có chuyến tàu nào sắp trở lại Sài Gòn không?”
Hai tiếng “trở lại” thay vì tiếng “đi” cho nhân viên ấy biết ngay trường hợp hành khách này không phải là thông thường. Nhưng đồng thời nhân viên ấy cũng hiểu lờ mờ rằng đó chỉ là một biến cố nội tâm thuộc đời tư và rất cá nhân của người hỏi, không liên lạc gì đến mọi nghi ngờ mà bổn phận của ông trong tình thế lộn xộn đòi hỏi phải biết đến.
“Tàu Sài Gòn đi Đà Lạt và tàu Đà Lạt đi Sài Gòn chứ tại sao phải trở lại?”
“Vâng, tôi dùng chữ sai”, Tâm chịu lỗi ngay.
“Phải đợi đến sáng mai.”
“Tôi có thể ngủ lại đây một đêm.”
“Thật không tiện cho ông. Hơn nữa ở đây không được phép.”
“Tôi vẫn thường ngủ đỗ lại một nhà ga là thường kia mà.”
“Vâng, nhưng phải ở lại trong ga, ngồi hay nằm ở những hàng ghế, thì được. Nhưng không có phép ở lại trong toa.”
“Vậy tôi đi vào trong ga.”
“Xin lỗi tôi chưa nói kịp. Trước đây thì được nhưng mấy ngày nay ở đây tình thế lộn xộn nên hành khách phải chịu thiệt. Nhà chức trách sở tại đã ra thông cáo dán trước sân ga. Ông có thể xem.”
Như đoán được một thoáng nghi ngờ của nhân viên. Tâm rào trước:
“Tôi cảm nặng thình lình. Hơn nữa quên một việc rất quan trọng ở Sài Gòn.”
Tâm đã đứng dậy hẳn. Anh xốc lại quần áo cẩn thận, khoác cái pardessus lên, nấn lại cái cà vạt. Trông đàng hoàng. Tâm bước ra khỏi toa sau khi chào cám ơn nhân viên lấy lệ. “Thôi rồi, mày phải nằm xuống.” Tâm nghĩ như vậy mà mường tượng trong trí khoảng đường đến biệt thự của Nga. Nhưng vài phút sau đó, khi Tâm đi gần đến cửa nhà ga, tiếng nhân viên kêu giựt lại:
“Này ông, hết sức may cho ông. Có một chuyến tàu tốc hành đặc biệt sắp chạy trong chốc lát. Không chở hành khách. Dĩ nhiên không bán vé và chỉ kéo theo một gon sau cái đầu máy diesel. Ông có thể trình bày lý do và trường hợp đặc biệt với trưởng ga và trưởng xa rồi đi ngay. Kìa kìa nó sắp chạy!”
Nhân viên chỉ về hướng phải nhà ga. Những hồi còi diesel vốn ngắn ngủi, cộc lốc, lạnh lùng bây giờ lại càng ngắn ngủi, cộc lốc lạnh lùng hơn. Vì không chở hành khách và đi với một nhiệm vụ khẩn thiết nào đó, nó không cần báo hiệu lôi thôi. Tâm tiến vội vã tới nhân viên ở phía đầu máy để nhờ giới thiệu với trưởng xa không thôi cũng đủ. Không đợi nghe hết câu chuyện, trưởng xa thấy dáng đàng hoàng của Tâm ngoắc tay ra dấu cho chàng bước lên chiếc toa độc nhất không chở hàng hóa gì cả mà chỉ có một phụ khuân vác ngồi trong một góc tối và một nhân viên công vụ đang đứng gần cửa toa.
Chiếc đầu máy diesel rúc rúc một hồi ngắn ngủn nữa và lao mình vào đêm tối. “Thôi vậy là xong!” Bây giờ Tâm nấc lên và muốn bật khóc. Anh cảm thấy hối tiếc như đã tính sai một bài toán quan trọng nhất đời mình. Anh hối tiếc tràn ngập tuy biết rằng nếu ở lại Đà Lạt nằm xuống lần này là anh sẽ nằm luôn, sẽ hối tiếc nhiều hơn trăm lần.
Khi tàu ra khỏi khu vực nhà ga, nhân viên thừa hành công vụ làm quen với Tâm:
“Ông thật may mắn vì đáng lẽ chuyến tàu này khởi hành từ mười lăm phút trước.”
Tâm không biết trả lời sao. Vì anh chưa chắc đó là may hay rủi. Phải về Sài Gòn cắm đầu làm việc. Anh tự nhủ như thế. Còn may hay rủi thì chưa chắc. Tâm đáp lễ:
“Chưa chắc may hay rủi ông ạ!”
“Ông nói sao?” Nhân viên ngạc nhiên nhìn Tâm.
“Tôi nói chưa chắc may hay rủi khi tôi được đi chuyến tàu đặc biệt này.”
“Sao thế?”
Tâm lại bối rối. Thật ra may hay rủi? “Nga ơi.” Tâm kêu vọng lên, nhỏ vừa đủ nghe. Hay đúng ra tiếng kêu chỉ ở trong hồn anh. Anh không rõ nữa. anh thấy như đã thực sự phản bội và lừa dối Nga. “Nga ơi, có thể, rất có thể lắm Nga ạ, là ngày nào kia anh sẽ thống hối khi anh không bao giờ được về ngôi biệt thự của em nữa vì nhiều lý do. Xa mái tóc em, đôi mắt em, hồ nước trong như gương, những đám rong rêu ven hồ và nhất là những chiều tà êm ả vạn niên mà chỉ có khung cảnh nhà em mới tạo nên một cách kỳ ảo, anh sẽ tiếc suốt đời. Nhưng anh không muốn phản bội lý tưởng và con đường của anh, con đường chỉ thỉnh thoảng mới rợp bóng chiều tà, còn hầu hết nó sẽ chạy qua sa mạc rát bỏng nhảy dựng chân, qua đấu trường để chứng kiến giờ khắc uy nghi nhất đời mình, qua dại dương để đón nhận cuồng phong bão táp, qua những đêm trăng hàn lạnh và cô tịch trên một bờ biển hoang vu nào đó để tiếp nhận sự mong manh, vô nghĩa của kiếp người.”
“Sao thế, thưa ông?” Nhân viên lập lại, thái độ săn đón.
“Thưa ông thật sự tôi không biết trả lời sao.”
Vâng, Tâm không chắc chuyến tàu này may hay rủi cho anh. Anh chỉ biết rằng suốt đời chắc không bao giờ Nga biết đến chuyến tàu kỳ cục này. Cũng như Nga làm sao biết được rằng Tâm đã nhìn thấy rất rõ trái đất này nó quay, nó quay, nó quay.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.