This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Phần 13 Trong trại bỗng xuất hiện một loại truyền đơn miệng do trưởng buồng mớm. Nội dung: “Những người đến sau ngày 16 tháng 6 sẽ được đi định cư ở Á Căn Đình”. Không còn gì đáng hồ hởi phấn khởi hơn thế nữa. Mọi người hoang mang, ngờ vực, hy vọng với cái tin giật gân như thế. Hải dò Phương, người mà chàng tin tưởng thật lòng: – Chị ở ngoài rành tin tức hơn chúng tôi. Thế có đúng thế không? Phương há hốc mồm, mắt cô đầy nét kinh ngạc: – Ai bảo anh như thế. Nếu có tin như vậy thì tôi là người đầu tiên cho các anh biết chớ. Phương trầm ngâm tiếp: – Các anh sống với hy vọng hão như vậy thì sẽ không biết cách đối phó với tình hình thực tế, rồi có ngày trắng mắt. Hải nhận xét chỉ sau vài tháng làm việc, Phương đã tiếp thu cái cách nói chuyện và phê phán của người miền Bắc khá kỹ. Hải bảo: – Tôi nghe Sơ nói. – Thì anh cứ đi mà hỏi Sơ. Tôi chỉ nói là không, hoàn toàn không có những tin bịp bợm như vậy. Phương vùng vằng bỏ đi. Hải bỗng đâm nghi ngờ chính mình. Bản thân chàng cũng không tin là chính phủ Hồng Kông lại thay đổi chính sách liền liền như Bác và Đảng. Trong khi Hải đang hát thầm “Em biết tin ai bây giờ” thì cả trại kháo nhau rần rần “có Sơ vào đấy”. Hải đã thấy người nữ tu ấy mấy lần. Một người nhỏ bé ăn mặc đơn sơ giản dị. Khuôn mặt ốm nhỏ của bà có vẻ vừa hiền lành vừa sắc sảo, đôi khi sắc diện bà lại lạnh lùng dù đang cười tươi rói vui vẻ với những người đang xúm xít chung quanh. Bà thường cho tiền Hội Công Giáo, một nghĩa cử cao đẹp mà giáo dân khắc tạc trong lòng. Hình ảnh người nữ tu thật đẹp đẽ trong lòng những kẻ khốn cùng. Vì thế, mặc dù không phải là lần đầu vào trại, tin Sơ vào vẫn làm cho nhiều người hồ hởi. Hải đang trèo xuống giường thì đúng lúc Thịnh xẹt qua, nét mặt căng thẳng: – Không xong rồi Hải, buồng trưởng kêu tôi họp, đại diện Khối Giáo Dục. – Thì có sao? – Chẳng phải thế thôi đâu. Có cả anh Bổng. Dường như đây là ý Sơ Diễm Công nữa. Hải theo Thịnh lên căn phòng sinh hoạt Công Giáo. Bà con đã ăn sáng xong, vây kín ngoài căn phòng. Hải chen chân vào kiếm một chỗ đứng gần sát cửa sổ, hé mắt nhìn vào. Buồng trưởng đang đứng quanh Sơ Diễm Công, nét mặt hằn học. Sơ nói gì đó, họ gật, rồi một người gầm gừ hung dữ: – Giết nó, phải giết nó. Đám đông đứng ngoài như bị kích thích, gầm lên: – Đúng, phải giết nó. Quân Giu Đa bán Chúa. Đám động chợt im bặt khi từ đâu, Bổng xuất hiện đi bên cạnh Jack, Cao ủy đại diện trại Đầu Bạc. Nét mặt Bổng xanh xám như tàu lá chuối. Riêng Jack có vẻ bình tĩnh, bộ dạng vẫn khoan thai như ngày thường. Bổng đi thẳng vào phòng họp, tránh nhìn những đôi mắt hằn học đang muốn ăn tươi nuốt sống Bổng. Đám đông vừa khép lại khi Bổng và Jack vừa vào liền vội vã tránh ra để lấy chỗ cho lão Siu trưởng trại. Lão đường bệ đi thẳng lên chỗ ngồi ngay giữa phòng, bên trái là Sơ Diễm Công, bên phải là Bổng và Jack. Buồng trưởng ngồi cả bên dưới chung với các bộ phận khác. Mặt Thịnh xanh mét. Dường như anh ta đang nín thở.
Google images
Lão Siu ra hiệu bảo đám đông im lặng, rồi bắt đầu khai mạc bằng một tràng tiếng Quảng. Viên thông dịch đứng sau lưng, chờ lão dứt liền vô đề: – Tôi đến đây theo yêu cầu của ông Jack và quý vị. Những hiềm khích giữa quý vị là chuyện của quý vị, tôi không muốn dính líu tới. Tuy nhiên, với tư cách là trưởng trại, tôi muốn đảm bảo rằng mọi người đều được đối xử công bằng, cũng như đảm bảo an ninh cho đời sống trong trại. Tôi yêu cầu quý vị phải nhã nhặn và tôn trọng lẫn nhau. Lão Siu mời Cao ủy Jack phát biểu. Bổng, đối tượng chính của cuộc họp, thông dịch: – Thưa bà con, tôi đại diện cho Cao ủy Tỵ Nạn, đến đây theo lời yêu cầu của anh Bổng, bởi vì anh Bổng cũng là nhân viên gián tiếp của Cao ủy. Đây là chuyện nội bộ của quý vị, tôi sẽ lắng nghe ý kiến của quý vị một cách khách quan. Bổng dịch xong, mọi người im lặng một giây. Bổng tằng hắng, nói: – Thưa bà con, có lẽ bà con đã biết mục đích của cuộc họp hôm nay. Có dư luận nói rằng tôi có mâu thuẫn gay gắt với Sơ Diễm Công, rằng tôi đi nói xấu Sơ, đủ cả. Trước mặt Sơ và bà con ở đây, tôi xin khẳng định là không bao giờ có chuyện ấy. Giữa Sơ và tôi không có điều gì gọi là mâu thuẫn cả. Mặc dù sự thật là như thế, nhưng vẫn có tiếng đồn qua tiếng đồn lại. Tôi muốn làm sáng tỏ việc này, và cũng theo yêu cầu của Sơ, tôi đã yêu cầu ông Jack đây tổ chức buổi họp này để làm sáng tỏ vấn đề. Tôi xin hết. Bổng quay qua dịch lời phát biểu của mình cho Jack. Sơ Diễm Công cười nhạt: – Trước hết Sơ xin nói với các anh chị ở đây là Sơ không bao giờ yêu cầu anh Bổng tổ chức cuộc họp ni, thực tế anh Bổng có nói điều chi không tốt về Sơ, bà con đây đều rõ. Sơ cũng không yêu cầu phân trần làm chi, ai trắng ai đen bà con đây biết cả. Sơ vào đây chỉ làm theo ý Chúa mà thôi. Bổng nói: – Chính Sơ đã yêu cầu tôi, rồi kêu gọi bà con trong trại tổ chức cuộc họp, bây giờ… Đám đông bên ngoài la ó cắt lời Bổng: – Im đi, im đi, dám bảo Sơ nói láo hả! Người nữ tu giấu vẻ hài lòng. Nhân dân ủng hộ thế kia thì chân lý phải về phía Sơ rồi. Tổ trưởng Thi Đua giơ tay xin phát biểu. Lão Siu gật đầu, Thận hùng hổ nói: – Câu kết tội vừa rồi của anh Bổng nà một cơ sở vững chắc để bà con hiện diện hôm nay nắm rõ thực chất con người anh. Anh Bổng bảo Sơ yêu cầu anh tổ chức cuộc họp trong khi thực tế Sơ không nàm việc đó. Có khác gì bảo Sơ ăn gian nói dối. Ta đi vào chi tiết: Anh đã nhiều lần tuyên truyền trong hàng ngũ anh chị em giáo viên nà Sơ vào đây chỉ để gây rối an ninh trật tự của bà con, Sơ chỉ nà con người đạo đức giả, Sơ không xứng đáng khoác áo thầy tu. Có đúng thế không? Bổng cãi: – Tôi không… Tổ viên Trật tự Thuyên, một gã râu ria xồm xoàm, đứng dậy hét: – Im, anh chưa được phép phát biểu. Ný do của buổi mít tinh hôm nay nà để chúng tôi, những người đại diện bà con trong trại, hỏi tội anh. Anh nà kẻ vô nương tâm, chỉ có những người như thế mới đành lòng qui chụp một nữ tu đức độ hết lòng vì bà con trong trại. Thử hỏi trước khi Sơ vào đây thì có ai nàm công tác ấy nào? Một bàn tay kéo gã tổ viên trật tự ngồi xuống. Gã ăn nói không khéo có thể làm vỡ kế hoạch. Gã hậm hực hiểu ý, nhưng hai cánh tay trần cứ quơ quơ như sự tức giận đã khiến những thớ thịt săn cứng trên người gã di động. Lão Siu lạnh lùng nhìn gã, ngắm nghía hai hàng chữ nổi bật xăm trên hai bắp tay: “Xa Quê Hương Nhớ Chị Dâu”, tay kia “Sướng Chỉ Một Lần”. Lão Siu nói một câu ngắn. Viên thông dịch:
Google images
– Ngài trại trưởng yêu cầu ai muốn phát biểu giơ tay trước, không làm mất trật tự như thế. Một buồng trưởng giơ tay, sắc bén: – Thưa ngài trại trưởng, thưa ngài Cao ủy Jack, thưa Sơ và bà con, trước hết tôi khẳng định tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, do đó lời phát biểu của tôi hoàn toàn khách quan. Anh buồng trưởng cao giọng, càng nói càng hăng: – Từ trước đến nay, đời sống của bà con trong trại rất an ninh và vui vẻ. Bà con chỉ biết có một mình Sơ, một nữ tu đức hạnh đã hết sức giúp đỡ đồng bào, từ đứa trẻ sơ sinh cho đến cụ già gần đất xa trời, không ai là không mang ơn Sơ. Nhưng từ khi có những người từ nước thứ ba trở về thì trong trại này nảy sinh ra nhiều việc tiêu cực. Điển hình là anh Bổng, anh đã gây cho bà con một bầu khí nghi ngờ, hoang mang, thậm chí có kẻ còn xét lại hành vi tư tưởng của Sơ Diễm Công nữa. Anh bảo rằng Sơ quyên tiền của đồng bào ta đã định cư ở nước thứ ba để làm việc riêng, số tiền mà Sơ cho Hội Công Giáo ở trại thật ra không thấm vào đâu so với số tiền Sơ quyên được. Tôi nghĩ rằng hành động của anh Bổng là hành động của kẻ phá hoại, bóp méo sự thật, vô giá trị, thiếu lương tâm. Chưa hết, riêng trong hàng ngũ của anh chị giáo viên, anh Bổng còn nói rằng sở dĩ Sơ không thích anh vì Sơ sợ bị chia ảnh hưởng, trước đây bà con chỉ biết có mỗi mình Sơ, nay bà con lại chia sẻ lòng mến thương ấy cho người khác, do đó Sơ cảm thấy bị mất mát, bị thiệt thòi. Tôi nghĩ đó là tư tưởng tiêu cực, ích kỷ, không đáng đứng trong hàng ngũ của những kẻ hy sinh quyền lợi cá nhân vì bà con tỵ nạn. Những điều tôi vừa nói là có bằng chứng, xin cứ kiểm tra với anh Thịnh, hiệu trưởng Khối Giáo Dục thì rõ. Mọi người dồn mắt về phía Thịnh. Một buồng trưởng khác giục: – Anh Thịnh, có đúng anh Bổng nói với anh thế không? Thịnh ấp úng. Anh ta bối rối vì những đôi mắt đổ lửa. Bổng nói: – Anh cứ nói sự thật. Thịnh nói, ngập ngừng vì bầu không khí căng thẳng: – Bản thân cá nhân tôi không nghe anh Bổng nói như thế. Tuy nhiên, tôi nghe nhiều người nói là giữa anh Bổng và Sơ có sự mâu thuẫn. Sơ Diễm Công cười nhạt, có vẻ xúc động: – Sơ thông cảm tại răng anh Thịnh nói rứa. Anh dù sao cũng dưới quyền anh Bổng mà. Đám đông phẫn nộ: – Nói đi, nói sự thật đi, đồ hèn. Bổng nói: – Tôi xin sơ rút lại lời vừa rồi. Anh Thịnh làm hiệu trưởng do các giáo viên bầu lên, bản thân Sơ làm gì thì tự Sơ biết lấy, tôi không phải loại người đi nói xấu sau lưng kẻ khác. Nếu có điều gì Sơ mâu thuẫn với tôi, có thể vì Sơ không thích tôi: Sơ Diễm Công đứng dậy, phân trần: – Anh lại vu oan giá họa cho tôi rồi. Tôi chỉ là người đàn bà chân yếu tay mềm, tôi không đủ sức tranh cãi với anh, tôi…tôi… Sơ Diễm Công lấy khăn tay cầm sẵn, đưa lên chặm mắt. Mọi người trong phòng họp và đám đông vây ngoài có thể không ngờ Sơ dễ xúc động như thế. Họ im lặng một khắc như để chia sẻ với người đàn bà chân yếu tay mềm đang gặp nạn, rồi gầm lên hung dữ: – Quân Giu Đa phản Chúa. Mầy ăn hiếp một vị Sơ yếu đuối thế à! – Rõ đẹp mặt chưa! – Địt mẹ, đánh chết mẹ nó đi. – Có thấy Sơ khóc không đấy.
Google images
– Giết…nó…!!! Đám đông như bị kích thích sau tiếng thét gào lên hung dữ. Một bàn tay mềm mại nắm tay Hải. Chàng nghe giọng Hà thì thào: – Eo ôi! Ghê quá. Hải bảo nhỏ: – Em về đi, đến đây dự buổi đấu tố này về tối nằm mơ à. Bên trong, lão Siu đập bàn bảo trật tự. Một anh buồng trưởng át tiếng đám đông.: – Bà con trật tự coi nào. Làm gì mà nhặng lên thế. Một thanh niên ở trần đứng cạnh Hải, lầm bầm chửi: – Mẹ kiếp cái thằng phản thùng. Nó bảo mình la lớn như thế giờ lại bảo im. Một gã khác ra vẻ hiểu biết: – Mầy! Thế mới ăn khớp chứ lị. Hải đã hiểu ra câu chuyện. Chàng kéo tay Hà đi, vừa nghe trật tự Thuyên hét: – Thưa ngài trại trưởng và Cao ủy Rát, tôi yêu cầu quí ngài phải cấm anh Bổng vào trại nầy, nếu không khối trật tự chúng tôi không đảm bảo toàn tính mạng anh ta. Tiếng hét của gã Thuyên u u trong tai Hải. Chàng may mắn chưa hề biết một cuộc đấu tố trong kỳ cải cách ruộng đất như thế nào, nhưng chàng hình dung màn kịch chỉ có thể đến như hôm nay là cùng. Bị cáo là kẻ thù của nhân dân, kẻ phản động dám chận đường bánh xe lịch sử, phản tiến bộ, lạc hậu, phong kiến, hữu khuynh, tiểu tư sản bán nước. Hải hình dung khuôn mặt thiểu não của Bổng. Đôi mắt ông ta lạc thần, có lẽ trong xứ sở tự do mà ông ta từ bỏ để về đây, chưa bao giờ có một cảnh đấu tố sát khí như thế. “Bảo toàn tánh mạng, bảo toàn tánh mạng!” Hải rên lên đau đớn. Chàng nắm tay Hà rảo bước trong sân, không ai thèm để ý chàng trong lúc này. Nghệ thuật kích thích quần chúng, gọi là xách động, đã lôi kéo mọi sự chú ý về căn phòng tôn giáo làm tòa án. Nắng chưa tràn ngập những lưới rào cao vòi vọi. Khi lên án kẻ khác, khi xâm phạm thô bạo tự do của người khác, người ta mới thấy mình còn tự do, người ta quên mất bốn bề là hàng rào với kẽm gai giăng vời vợi che mất bầu trời. Hà nói, giọng còn xúc động: – Em thấy chỉ có người mình mới đối xử với nhau như thế. – Ừ, một dân tộc được tập luyện trong hận thù. Nhưng anh không đồng ý với em khi nói “người mình”. Em thử đếm xem có bao nhiêu “người mình” như thế? – Chỉ hơn mười người trong tổng số 2000 người trong trại. Hải mỉm cười, đôi mắt sáng rực vẻ hài lòng: – Đấy, em xem. Không tới một phần trăm. Nhưng khi thiểu số hoạt động thì thiểu số đại diện cho đám đông hiền lành tiêu cực. – Em thấy tội nghiệp anh Bổng. Cái anh Thịnh nhà em khi không cũng bị lôi vào cuộc. – Anh thương hại anh Bổng. Một con người cô độc, muốn xa lánh đám đông mà lại nhảy vào đám đông. Một kẻ trầm lặng, thích tư duy hơn làm việc. Với mớ kiến thức tu học ở nước ngoài, anh ta có khả năng đùa cợt với sách vở, anh ta có thể bẻ cong một lý thuyết trừu tượng nào đấy ngay cả chỉ dùng một lối ngụy biện nào đấy, nhưng phải đối diện với đám đông, anh ta chỉ là kẻ ngờ nghệch, ngây thơ và lúng túng. – Anh ấy học cao đến thế à? – Tiến sĩ sử học. Đó là điều đáng ngạc nhiên bởi anh ta phải hiểu lịch sử phản ánh cá tính của một dân tộc. Hoặc có thể vì anh ta suy luận rằng đám đông không làm nên lịch sử nên anh ta coi thường đám đông. Chính bởi thế nên khi cái sức mạnh rời rạc ấy được kết hợp lại, anh ta đâm ra bỡ ngỡ. Nhưng em tin đi, và anh nghĩ anh Bổng cũng sẽ tư duy là, đám đông không bao giờ kết hợp được trường kỳ, họ chỉ kết hợp vào một thời điểm duy nhất nào đấy, rồi sau đó sẽ tan đi. Nhưng chính sự kết hợp vào thời điểm định mệnh ấy, đám đông có khả năng tạo nên… – Lịch sử. Hà ngắt lời.
Google images
Hải mỉm cười: – Em giỏi lắm. Ừ, anh sẽ ghi vào lịch sử tỵ nạn em ạ. Có tiếng cậu bé Thơ gọi đằng sau: – Anh Hải ơi, anh có thơ đây. Hải lật đật đi lên phòng phúc lợi. Chàng hỏi: – Sao em biết. – Em thấy số thẻ của anh mà. Em có lấy thẻ cơm của anh nè. Hải dò, tờ giấy dán ở cửa phòng quả nhiên thấy số thẻ của mình. Chàng trình thẻ cơm lãnh thư. Đó là lá thư của Phú kèn từ Chi Ma Wuan. Chàng lật đật bóc phong bì, chụm đầu đọc chung thư với Hà. Phú kèn đã rút đơn xin hồi hương, gã phấn khởi kể Lê Khắc đã vượt trại thành công, còn viết thư cho gã nữa dù không ghi địa chỉ hồi âm. Gã bảo thư tới sẽ nhờ một Cao ủy chụp bản sao lá thư của Lê Khắc “để ông đọc chơi cho biết tình hình tự do bên ngoài. Thích thật nhưng cũng gian nan cực kỳ”.
Khi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá câỵ Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩỵ Nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nàỵ Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua, nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu lấy thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa, nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
– “Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành.” Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng:
– “Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ Đời. “Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng.”
Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: “Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”
Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nỗi nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núi. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảỵ Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: “Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về.”
Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ.
Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.
Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.
Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẫn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên: Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đời.
Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có mê ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc, và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.
Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa. Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa có thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lặn suối mới về tới được chỗ cũ.
Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa. Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi.Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.
Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.
– “Đại huynh”
– Sư đệ! – Đại huynh về bao giờ thế ? – Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới nàỵ. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt. -“Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẫn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn cho đệ khép cửa chắng ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núi.”
Chàng dũng sĩ cau mày:
“Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái? Sao cửa lại đóng chặt?”
Người sư đệ cười lớn: – “Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậy.”
Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối. Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn.
“Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh “mê ngộ cảnh” sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?” Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:
– Còn đây
– Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.
Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.
Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.
Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.
Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.
– “Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi”
Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: “Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế.”
Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu diệu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.
Vừa dừng xe trước cửa ngõ nhà bác, Diễm đã bấm chuông inh ỏi. Chị Bé Tý chạy ra, vừa cười vừa với cái giỏ mây: “Vô đây đã Diễm, vô cúng”. Diễm lắc đầu quầy quậy: “Thôi, để em về, sáng mồng Một em sang mừng tuổi hai bác, các anh các chị. Em về, nhà em hôm ni cũng cúng Ba mươi mà chị”. Chị Bé Tý nhìn chăm chăm vào bàn tay của Diễm đang cầm chặt chiếc ghi-đông xe đạp: “A, con ni khá quá hí, đeo nhẫn rồi ta. Ra giêng cưới há? ” Diễm cúi đầu e thẹn: “Dạ”. “Mời tao đi phụ dâu nghe? “_”Dạ, mời chị chớ”. “A, con này đeo nhẫn không sợ tụi nó nói dị chết. Mi đi lấy chồng còn học không?” Diễm buồn buồn: “Không biết nữa chị, ba anh Phan nói em cứ đi học”. “Học con khỉ, ở đó mà học”. Diễm lật cái nó đội lên đầu: “Thôi em về chị, má đợi. Hôm ni ở nhà cũng cúng”.
Diễm xoay ghi đông, cua vòng ra sân rồi leo lên. Diễm sửa lại hai vạt áo dài, vạt sau giắt vào sợi dây thung nơi cái bót ba ga, Diễm ngẩng đầu lên hết cho hết tóc ra đừng sau, rồi đạp xe, đi thong thả. Diễm phải vất vả lắm mới lách xe qua khỏi được con đường Trần Hưng Đạo dọc theo vườn hoa Nguyễn Hoàng, phía gần cầu là chợ hoa. Diễm nhìn chỉ thấy những cành hoa mai vàng giơ cao lên khỏi đầu người. Diễm đạp xe qua cầu Tràng Tiền, đi rẽ ngả bưu điện, rồi đạp qua vào con đường nhỏ, đến hàng Đoát. Diễm biết chắc thế nào đi trên con đường này, giờ này cũng gặp Phan. Con đường hàng Đoát này vắng nhất và cũng đẹp nhất. Diễm không thể nào quên được những buổi trời chạng vạng. Phan và nàng, hai người hai chiếc xe đạp, đạp song song vừa đi vừa nói chuyện. Diễm cũng không quên được vẻ hốt hoảng vụng về của cả hai đứa khi dang hai ghi-đông xe ra cho xa nhau, một đứa chậm chạp một tí, một đứa đạp nhanh lên, khi có người từ đằng xa đi ngược chiều tới. Và lịch sử mối tình của hai đứa cũng đầy di tích trên con đường ngắn này. Hình như hôm đó Diễm đi xe đạp, cũng trên con đường này, chiếc sên xe bị sút xa. Diễm dựng xe lên loay hoay sửa mãi mà không được. May mà Phan gần đó, và phút làm quen không mấy khó khăn. Nửa giờ sau, Diễm lên xe đi về, trời chiều, những ngọn điện đường đã bật. Phan đạp xe đi hộ tống đằng sau. Khi tới gần nhà Diễm chậm lại một chút, quay mặt lại giấu trong nón: “Cám ơn anh, Diễm vô nhà”. Và Diễm đạp xe rẽ vào ngõ chè tàu. Về sau, nghe Phan nói lại là chàng bắt đầu yêu Diễm ngay buổi tối hôm đó, khi hai vạt áo trắng cùng chiếc xe đạp ghi đông chữ U khuất sau hai dãy chè tàu xanh, cắt bằng phẳng.
Ngang qua nhà Phan, Diễm không dám nhìn vào nhưng nàng biết Phan sẽ trông thấy nàng. Một lát Diễm nghe tiếng xe đạp lách cách đằng sau, rồi tới sát bên. Diễm cúi mặt, chiếc nón che kín chỉ chừa hai mớ tóc buông xoã phía trước vai. Nhưng Diễm đợi chờ, hai má nàng nóng bừng.
“Diễm”.
“Dạ”.
“Em đi mô về đó?”
“Em đi sang nhà bác trai đưa trái cây cúng. Má sai em đi”.
“Chừ em đi mô?”
“Em về nhà”.
Câu chuyện thật nhạt nhẽo, nhưng Diễm thấy quá quen thuộc, nàng đoán trước những câu hỏi của Phan. Lần nào cũng chừng đó câu hỏi, rồi hai đứa đưa nhau trên đoạn đường từ hàng Đoát, nghẹo qua đường Nguyễn Huệ, đi ngang qua Ty Công chánh rồi về đường Trần Thúc Nhẫn. Nhưng lần này thì không, Phan nói tiếp:
“Anh đưa Diễm tới vườn bông Bến Ngự thôi nghe, lên cầu về tối lắm. Hôm ni anh cúng Ba mươi”.
“Em cũng cúng Ba mươi”.
“Sáng mồng Hai anh sang hí. Mồng Một anh về Truồi, ông nội dưới nớ”.
“Dạ”.
Phan nhìn thấy ngón tay của Diễm đang bấu trên ghi đông:
“Diễm”.
“Dạ”.
“Diễm đeo nhẫn à?”
Diễm liếc nhìn Phan rồi háy một cái.
“Đeo dị òm”.
Phan cười, mặt hơi cúi xuống.
“Ừ, mai anh đeo luôn hí”.
“Dị òm, bắt chước người ta chi lạ rứa”.
“Dị chi mà dị”.
“Đi quá, anh đi xê ra, rủi gặp ai…”
Phan vừa bẻ ghi đông quẹo ra vừa nói nhỏ:
“Kệ họ, mình sắp cưới rồi mà…”
Diễm đưa tay trật nón ra đằng sau, nàng nhìn con đường hàng Đoát sắp nhập vào con đường thẳng Nguyễn Huệ:
“Má nói khi mô cưới hẳn hay”.
“Chán mấy bà già”.
“Anh không thấy à, khi mô anh tới má cũng bắt em đi rót nước, sai gọi em lăng xăng. À, hay bữa ni anh lên nhà em ăn cúng Ba mươi”.
“Không được, ông rốp chửi chết. Hôm ni lạy bàn thờ. Dưới chú anh cúng buổi trưa, nhà anh cúng túi”.
“Mệt hỉ”.
“Ừ”.
Bàn tay Phan thả ghi đông, đưa sang chụp tay Diễm. Diễm để yên, nhưng lắc đầu quầy quậy:
“Anh làm rứa té chết. Dị chết”.
Ngón tay Phan đã vuốt trên ngón tay đeo nhẫn của Diễm:
“Em hỉ?”
“Dạ chi anh”.
“Thương anh không?”
“Thương anh hoài. Khi mô cái nhẫn này rời khỏi tay em thì em chết”.
“Chớ không phải em tháo ra, em vất dưới sông Hương hay liệng trên núi Ngự à?”
“Mần chi có”.
“Em hỉ?”
“Chi anh?”
“Nói thiệt nghe”.
“Anh dị òm. Còn có mấy ngày mà lo chi cho mệt”.
“Biết răng mà noái. Khi sáng anh tới má em noái cho cưới tháng Giêng để anh còn đi Thủ Đức. Còn chưa đầy mười ngày”.
“Em chưa noái chi cho tụi bạn em biết hết. Tụi bạn noái em bí mật quân sự”.
“Đầu năm em với anh đi thăm tụi nó, nói cho tụi nó biết”.
Diễm lắc mạnh cánh tay:
“Anh, tới gần cầu, anh về đi”.
“Em sợ túi không?”
“Không, khoảng đường ni sáng rồi, qua khỏi cầu, đi lên dốc một tí, có ông cảnh sát gác nơi cầu anh tề”.
“Anh về hỉ”.
“Dạ, anh về”. Diễm trả lời xong cúi đầu đi thẳng. Hàng chè tàu đã lấp ló đằng xa nơi cột điện. Khi Diễm rẽ vào nhà, ngọn điện đường cũng vừa bật lên. Má nàng đang gội đầu trước hiên. Diễm dựng xe dưới gốc cây khế. Má nàng ngẩng lên:
“Đưa đồ cúng cho bác chưa, Diễm”.
“Dạ rồi”.
“Con thay áo, đi gội đầu bồ kết nì. Má có để sẵn phần cho con. Ra vườn hái trái chanh mà gội cho trơn tóc. À con ơi, con lau lại cho má cái sập gụ nghe. Tối ni rảnh đánh tứ sắc chơi”.
Diễm vừa đi vào nhà đã nghe tiếng mẹ vọng theo:
“Chút xíu nữa con dặn bác Bảy mang xích lô tới bác Thị đón ông nội về. Ra sau hè mà gọi qua cũng được, đừng đi ra ngõ chi cho xa con hỉ”.
Diễm đi vào phòng, thay quần áo rồi nằm duỗi ra giường. Chút nữa hãy đi hái chanh, đi gội đầu. Diễm nhìn bình bông nhỏ cắm mấy bông tường vi của Phan mang sang cho hồi sáng. Mấy đoá tường vi màu hồng sáng lạng, nhưng lòng Diễm chợt vui chợt buồn. Nàng nghĩ tới những mùa xuân cũ, những mùa xuân cũ khác hẳn xuân này. Năm nay Diễm không thấy nô nức đón xuân như mọi hôm, mà Diễm thấy mình bắt đầu lớn, bắt đầu thay đổi. Thay đổi cả một đoạn đời cũ. Đi lấy chồng, lấy chồng đối với Diễm như bước vào một đoạn đời dài lắm và đầy xa lạ, bỡ ngỡ. Ở với một người cho tới già, tới chết, dù đó là người yêu, Diễm cũng thấy trong lòng sôi động bao lo sợ, nghi ngờ. Dĩ vãng của Diễm yên lặng quá, hiện tại, Diễm không một điểm nhỏ phàn nàn, còn tương lai nữa. Diễm như một đứa bé con đang đứng trước một ngôi nhà quá lớn và hiểu được rằng không bao giờ mình khám phá hết nổi nó. Diễm nhìn ngón tay đeo nhẫn của mình, nàng đưa lên môi, chà chà cạnh nhẫn lên làn da môi mềm mát. Thôi thế cũng xong, một ước mộng bình thường, cứ thế, ta sẽ sung sướng. Diễm cắn chặt ngón tay đeo nhẫn: Anh Phan, răng em có sắc mấy cũng không cắt nổi ngón tay đeo nhẫn.
Diễm mở cái rương nhỏ, ngắm nghía chiếc áo phin trắng nõn. Chiếc áo này Diễm sẽ mặc để tiếp Phan vào ngày mồng Hai. Phan sẽ hỏi: “Ai may áo đó”. Diễm sẽ sung sướng mà cho Phan biết là chính nàng đã cắt và may lấy. Em sẽ là một bà nội trợ giỏi.
Chắc chắn mà, không tin thì thôi, Diễm mỉm cười một mình.
Sau đó, Diễm nhớ là mình phải ra vườn hái chanh gội đầu, nhân tiện đó Diễm sẽ gọi luôn bác Bảy. Diễm vừa đi vừa nhảy ra vườn. Chiếc áo trắng vải phin nõn còn lung linh trong trí tưởng tượng của nàng. Hình ảnh Diễm đang ở trong đó cùng áo cánh trắng thêu hoa hồng đỏ trên ngực và mái tóc chảy dài. Nhưng ơ kia, làm gì có cánh hoa hồng đỏ tựa như trái tim thêu trên ngực? Diễm bật cười: Thêu như vậy cũng đẹp, nhưng chiếc áo đó đã không thêu. Màu đỏ không hợp với sở thích của nàng. Nàng coi màu đỏ như sự bất trắc, sự hung bạo. Bởi thế, Diễm thích đi lấy chồng hơn là đi học nghề cô mụ. Tụi bạn Diễm đã nạp đơn xin học ngành này gần hết.
Cây chanh đã hiện ra trước mặt Diễm. Diễm chỉ cần nhìn lên, chỉ cần với một cành vít xuống, tha hồ mà nàng lựa chọn. Hạnh phúc của nàng cũng giản dị quá, mọi lúc đều như vừa vặn trong tầm tay của nàng. Diễm nghĩ đêm nay, sau khi ngồi chầu rìa coi cả nhà đánh tứ sắc, Diễm sẽ nằm lăn ra nơi cái sập gụ, trước khi ngủ, nàng sẽ ăn hết những cánh hoa tường vi cuối năm của Phan gửi tặng.
Anh Phan,
Rứa là anh đã kẹt dưới Truồi không lên được rồi. Anh ơi, em cũng đã kiệt lực. Em ngồi viết thư cho anh lúc đang sống trong một căn hầm hết sức chật. Một cái hầm nổi, làm sát góc nhà với mười bốn mạng người. Ngày nào cũng chừng đó tiếng động, chừng đó nỗi kinh hoàng. Từ đêm mồng Một rạng ngày mồng Hai, cả nhà bị mắc kẹt không còn tản cư vào đâu được nữa. Em viết thư này cho anh là ngày Mười bốn, và gia đình em đã chịu sống mười ba ngày trong chiếc hầm nhỏ hẹp này. Xung quanh, Thạch bạn em đã trúng đạn chết, xác lấp vội vã ngoài vườn. Ngay trong nhà mình, phòng bên cạnh cũng có một gia đình hàng xóm xin làm hầm, mang sang hai người bị thương, đêm nào họ cũng la hét khóc lóc ghê quá. Mấy ngày đầu, mấy anh ngoài nớ còn cho thuốc băng bó, mấy ngày nay họ bỏ liều rồi. Chắc mấy người đó chết quá anh ơi, mà họ chết là thành ma trong nhà mình rồi.
Em có bị bắt đi khiêng đạn và chở người bị thương bằng xe ba bánh lên phía Tây Thiên mấy lần, lần nào đi cũng sợ muốn chết giấc vì những quả bom dưới Phú Bài câu lên. Những người đi với em chết nhiều lắm. Em đi khiêng đạn được năm hôm, khiêng người bị thương được hai hôm thì khiếp quá, ngất xỉu mấy lần. Em theo mấy người trốn về lại bị nạn kiểm soát. Họ tới tận nhà. Má phải xoa nghệ lên mặt em, vả vào mắt em cho sưng húp để xưng bệnh cho họ khỏi bắt đi. Mà em muốn bệnh thật, em bệnh vì lo sợ, vì buồn phiền, vì thương cảm. Má đã rơi nước mắt ròng khi đưa bàn tay tát vào mắt em cho sưng vù. Em cũng không cầm được giọt lệ khi nhìn thấy anh Văn trốn trên trần nhà mười mấy hôm, khi ăn khi nhịn, sợ tới chết điếng người vì những trái mọt chê rơi đều đều dội tứ tung trên miệt bến Ngự, Từ Đàm.
Mấy hôm nay thì đạn đại bác bắn quá lắm. Em nằm ép mình sát đất, cứ bị dội người lên vì đất đai nhà cửa rung chuyển, ngực em cơ hồ như đã vỡ vụn bên trong nhưng lạ là em không thấy đau đớn và tắt thở. Em vẫn thở được nhưng hơi thở nặng nề, em vẫn nhai được những bát cơm nấu vội vã, đôi khi chưa kịp ăn đã vất bát cơm, nằm sát xuống mặt hầm, hoặc ôm cứng lấy nhau, và khi dứt tiếng nổ, thấy mắt mình hết nổ đom đóm, ngắt vào da thịt thấy đau, em mới biết rằng mình còn sống. Anh Phan, chắc em chết không gặp anh. Chắc chết quá anh ơi, súng vẫn bắn như mưa trên đầu những người chờ đợi. Nhưng anh ơi, trong những phút kinh hoàng như thế này, trong những phút nằm chờ một quả bom canh đúng rơi trúng miệng hầm, đôi lúc em vẫn còn đầy tưởng tượng lãng mạn. Em nhớ anh hơn, nao nức hơn, và thấy mối tình mình trở nên quan trọng hơn. Em nhớ buổi chiều cuối năm đi với anh trên con đường hàng Đoát. Thơ mộng quá, đẹp quá, phải không anh? Và em đã thề thốt gì với anh, anh còn nhớ không? Anh ơi, nếu em chết, anh tìm cho được xác em, nhìn ngón tay em đeo nhẫn nhé. Nhưng em sợ chết quá, em chết đi rồi anh sẽ còn ai để thương, còn ai để cưới làm vợ, mà anh lấy người khác em ghen, em chết không nhắm mắt. Con gái Huế ghen dễ sợ lắm, ghen cay như ớt. Anh ơi, ớt đầy một vườn mà bữa ăn nào em cũng thèm tới rớt nước miếng. Em muốn được ăn trái ớt trước khi chết để thành một con ma ghen kinh khủng, em nói bậy quá rồi. Lại bắt đầu bắn đó anh. Làm sao đưa cơm lên cho anh Văn, làm sao cho anh ấy trốn đi được. Ngọn đèn cầy đặt trong hầm lại sắp hết. Phải tiết kiệm, thôi em tắt. Nằm xuống khoảng tối em sẽ nhớ anh, nhớ anh như điên để rủi có chết đêm nay còn tưởng tượng ra anh, anh nghe. Ngọn đèn lụi quá rồi, chữ em viết không biết đang lên dốc Nam Giao hay xuống dốc bến Ngự.
Anh Phan,
Tai nạn đã xảy ra rồi. Sáng hôm nay chị Tư ra khỏi miệng hầm thật sớm để đưa vắt cơm lên trần nhà cho anh Văn, sợ lát nữa mấy ổng vào kiểm soát, chị vừa ra khỏi miệng hầm thì bị mảnh bom chơm. Máu ra nhiều quá. Em phải xé chiếc áo dài mới để băng bó cho chị. Bây giờ chị đang nằm lịm nơi chân em đây này. Còn anh Văn, anh ấy đã chết. Anh Phan, anh Văn không bị bom không bị đạn, anh đói lả và rơi từ trên trần nhà xuống, chết liền tại chỗ. Xác anh Văn đang nằm nơi chiếc sập gụ của ông nội, nhằm chung với ông nội em còn sống. Má đã khóc lóc xin mấy anh ngoài nớ ra vườn chôn tạm anh Văn nhưng họ nói ra ngoài đó máy bay thấy đào đất rồi bắn xuống. Trưa nay mấy ổng họ rút lên phía trên nữa rồi. Má nói có thể trốn được. Nhưng trước khi trốn đi tản cư, phải tìm cách chôn anh Văn đã. Cách tốt nhất là đặt anh Văn trong hầm này, khi về hãy hay. Nhưng lại gặp chuyện phiền phức khác là chị Tư và ông nội. Chị Tư bị thương, khó khiêng đi, ông nội thì nhất định ở nhà. Cả nhà khóc mãi, ông vẫn không đổi ý. Chị nói thà chết ở nhà, và năn nỉ cả nhà nên tìm cách trốn đi.
Anh ơi, gia đình em sao thê thảm thế này. Không, đâu phải chỉ gia đình em. Nhà chú Bảy xích lô đã chết hết, cả một cái hầm sập xuống. Đứa cháu bên đó chạy sang cho hay vậy. Ngoài đường còn những xác người chưa chôn. Chị Thọ cho biết là bây giờ chỉ có hai lối đi, một là xuống cầu bến Ngự, rồi băng về bên kia sông, nghe nói có Mỹ, một là đi ngược lên Tây Thiên. Nhưng lên Tây Thiên thì gặp họ cũng không sống được. Bà Minh, anh Vỹ, anh Cao, bác Hịch đã bị họ bắt theo lên Tây Thiên hết rồi. Nhà mình có anh Văn đã chết. Còn bà già, con nít. Có em thì họ chưa bắt đi, vì vậy má nói phải trốn. Đêm qua họ đem mấy cậu sinh viên vào xử tại sau vườn nhà. Em nghe thấy tiếng súng bắn, tiếng người hét, họ vào nhà xin chiếu, chiếu hết rồi. Em nghe họ đào sau vườn. Họ lấp đất, rồi họ kéo nhau đi. Đại bác vẫn câu lên đều đều. Má nói đến chiều tối, khi bớt tiếng đại bác, sẽ tìm cách trốn ra khỏi nhà. Ở đây thì thế nào cũng chết. Nhưng ông nội sợ chết đường. Em không chịu ý kiến ông nội. Thà mình cứ đi tìm lối thoát còn hơn ở nhà chịu chết. Phía dưới gốc cầu người ta đi cũng nhiều, chết cũng nhiều, buổi sáng khi khóc anh Văn, em nhìn ra cửa ngõ thấy một bà mẹ đang nhét một đứa nhỏ vào bụi chè tàu trước cổng rồi vừa khóc vừa chạy. Em chưa kịp la thì phải vào hầm vì những tiếng nổ gần quá, con Mẹo có ra coi, hắn nói thằng nhỏ chết rồi, đang bị kiến đỏ bu đầy người, có con chó Mực đang rình rập vào ăn thịt. Lũ chó đói quá, chúng cứ xông vào nhà. Trên sập của ông nội có một đống gạch thật lớn. Ông lấy ném để canh xác anh Văn. Từ sáng đến giờ, ông nội vừa khóc vừa đọc kinh, đôi khi ông chửi bới lung tung. Có một trái đạn rớt giữa sân, mảnh bay đầy sân nhà mà chỗ ông nằm vẫn yên lành, ông nói đạn sợ ông rồi, ông chỉ sợ bầy chó đói.
Anh ơi! Chắc em chết, gia đình em chết hết. Em khóc ròng đây, em khóc muốn ngất khi nghĩ rằng, khi yên, anh sẽ tới tìm em nơi này, anh sẽ không thấy xác em đâu nữa. Tay em nằm trong bụng con chó này, mặt em ở trong bụng con chó khác. Anh ơi, em tội tình chi mà không được một nấm mồ. Anh Văn, ông nội em… Em thèm cúng giỗ, thèm được người ta cúng giỗ quá. Bây giờ em mới hiểu tại sao mọi nhà đều cúng chiều Ba mươi, tại sao có trầm hương, có cô hồn, có ác quỷ.
Anh Phan, em vừa nghe cả nhà bàn sáu giờ chiều nay sẽ trốn đi vùng khác, ông nội ở lại, chị Tư ở lại, xác anh Văn đặt trong hầm. Má em với Út, với Tây, với Bằng sẽ trốn đi. Mẹo đi theo. Bác Chắc ở lại canh chừng ông nội và rửa vết thương cho chị Tư. Ông nội, chị Tư sẽ vào hầm nằm chung với anh Văn để khỏi đuổi chó. Em sẽ đặt lá thư này dưới chiếc sập gụ, chiếc sập gụ lát nữa đây sẽ được đem tới kê trước miệng hầm. Nếu em chết, má sẽ chỉ cho anh thấy lá thư này. Em nghĩ là má sẽ sống, cả em cũng phải sống. Chiếc nhẫn mấy ngày nay đã lỏng lẻo, nhưng em vẫn đeo, coi như một thẻ bùa may mắn. Anh ơi, anh đang ở Truồi hay ở đâu. Em lo sợ quá. Chiều tối em sẽ đi, chưa biết là tìm thấy sự sống hay sự chết.
Đến hôm nay đèn cầy hết, thực phẩm chỉ đủ cho hai người ăn trong mười lăm hôm. Cầu mong sẽ yên sớm hơn. Nghe nói Mỹ đã chiếm được Công Chánh, phía hữu ngạn. Anh có về đến đó chưa?
Em đã ăn hết những bông hoa tường vi của anh đêm Ba mươi Tết, thuốc trường sinh, thuốc thương yêu.
Anh ơi, em phải sửa soạn để đi, lá thư này xin gửi lại dưới sập gụ và nếu anh còn sống, em còn sống.
Từ trường Kiểu Mẫu, Phan đã mấy lần kiếm cách đi lên mạn bến Ngự, nhưng mấy ngày nay, súng nhỏ súng lớn nổ ran về miệt đó. Phan đi lần được tới bờ sông, người Mỹ đuổi Phan trở lui lại, Phan đứng dọc đường đón tất cả mọi người tản cư đi qua, hỏi thăm tin tức, nhưng chàng cũng không nhận được một tin tức nào. Cho tới khi gặp được một người từ bến Ngự chạy về lánh nạn ở Tân Lăng, Phan đến hỏi tin tức, được biết gia đình Diễm một nửa còn mắc kẹt ở lại, một nửa đã trốn theo đường rầy về An Cựu, nhưng tới nửa đường thì Diễm bị một trái bom rơi trúng, cả thân thể Diễm bay kẹt vào một bụi cây. Chỉ nghe chừng đó Phan đã bụm mặt khóc oà, chàng không còn đủ sức hỏi thăm thêm gia đình Diễm nữa. Mười mấy ngày sau, khi bến Ngự đã dẹp xong, Phan là người trước nhất đi dọc theo đường rầy xe hoả về bến Ngự. Dọc đường, Phan đã nhận ra xác Diễm. Diễm chỉ còn lại đầu tóc, gương mặt đã bầm dập, cả người đã sinh thối, nàng kẹt vào giữa bụi cây, và những dòng nước vàng đã chảy xuống. Cánh áo phin trắng của Diễm đã rách nát, nhưng nơi ngực áo, hai chữ P D lồng nhau thêu bằng chỉ trắng vẫn chưa bị mục, và nhờ đó Phan nhìn ra xác Diễm. Diễm mất một cánh tay, và nơi bàn tay còn lại, Phan không nhìn thấy ngón đeo nhẫn đâu hết. Ngón tay đeo nhẫn của Diễm đã bị cắt lìa. Phan tìm cùng khắp không thấy vết tích đốt tay và chiếc nhẫn đó nữa.
Khi đem xác Diễm về tẩm liệm, mọi người phát giác ngón tay đeo nhẫn của nàng đã nằm gọn trong đám ruột bầy nhầy, không ai hiểu tại sao, và chiếc nhẫn cũng không tìm thấy.
Chôn cất Diễm xong, Phan đi tìm mẹ Diễm, bà đang nằm tại một bệnh viện của Mỹ. Phan tìm tới ngôi nhà cũ của Diễm, ông nội nàng đã chết, chị Tư cũng đã chết, xác của Văn, của ông nội, của chị Tư bị chó chui vào gặm nát, người mất tay, người mất chân. Khi dở cái sập gụ ra để lôi những xác chết, Phan đã tìm thấy bức thư của Diễm.
Chiếc xe của Diễm vẫn còn nguyên, dựng ở một góc tường chưa bị sập. Phan dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà, chàng dắt đi bộ chớ không ngồi lên đạp.
Căn nhà của Phan chỉ bị thủng mấy lỗ đạn. Những ngày sau đó, bạn bè của Diễm còn sống sót, chiều đi ngang qua con đường hàng Đoát thấy Phan ngồi trên chiếc xe đạp, dắt theo một chiếc xe đạp, và bên ghi đông chiếc xe không người, lủng lẳng cột một chiếc nhẫn vàng. Bạn bè không ai dám hỏi thăm, dám an ủi, vì Phan không bao giờ trả lời, không bao giờ đứng lại nghe ai nhắc tới tên Diễm.
Con đường hàng Đoát đến bây giờ vẫn còn đẹp, và chiều chiều vẫn còn những đôi tình nhân song song đạp xe đi trên đó. Bóng dáng của Diễm cũng như những đống gạch vụn, những dấu bom đạn đã lùi dần trong trí nhớ bạn bè. Người ta bắt đầu quen dần với cảnh Phan vừa đi vừa dắt thêm một chiếc xe đạp bên cạnh. Không ai còn thì giờ nhắc tới mối tình của họ.
Tôi gõ cửa một lần nữa. Vẫn không nghe thấy tiếng trả lời. Chắc không có Diệp ở nhà. Tôi châm thêm một điếu khác, và trong đốm lửa nhỏ lập loè, tôi dò dẫm từng bực thang trở xuống. Cầu thang hôi một mùi khó chịu và thanh gỗ vịn tay rít nháp nghe lợm cổ họng. Kỳ quá, không biết cô nhỏ này đi đâu. Hồi sáng gặp tôi ngoài phố, cô còn nhắc, anh nhớ đến, thế nào anh cũng phải đến nghe, vậy mà tôi đã gõ cửa không biết bao nhiêu lần, đốt không biết đến điếu thuốc thứ mấy vẫn biệt tăm em.
Xuống đến mặt đường tôi mới biết trời đang mưa. Cơn mưa không to lắm, có lẽ bão rớt của miền Trung, nhưng gió từ bờ sông thổi lùa trong hơi nước mát lạnh làm tôi rùng mình. Thời tiết thay đổi đột ngột như vậy, buổi sáng sớm nay có chút sương mù và còn lâm râm vài hột. Tôi đi nép trong hàng hiên tránh mưa và trong bụng thầm tiếc về việc đã tới nhà thăm Diệp. Sẽ đi đâu bây giờ đây? Tôi nghĩ đến quán nước quen có mấy người bạn ngồi ở đó. Từ xa ánh đèn pha của một chiếc xe chạy ngược chiều làm tôi chói mắt. Tôi bước ra lề đường đưa tay đón xe. Trời vẫn mưa lặng lẽ. Bỗng nhiên tôi khám phá ra là dù có hơi tiếc về việc thất hứa của Diệp, nhưng tôi không xúc động về thái độ của nàng. Đốm lửa đỏ của điếu thuốc cho tôi cái cảm giác ấm áp và tỉnh táo hơn. Chiếc xe trờ tới và bất ngờ đậu sát bên tôi. Đèn chiếu vụt tắt.
“Taxi!”
Tôi cúi đầu xuống chực hỏi người tài xế coi có đi không, nhưng đèn trong xe đã vụt sáng. Tôi thấy Diệp ngồi trong xe và đang mở sắc lấy tiền.
“Anh!”
Diệp thò đầu ra cửa xe kêu tôi. Cái vẻ hối hả làm lạ hẳn một Diệp lặng lẽ và trầm tĩnh mà tôi từng quen biết. Trả tiền xong Diệp bước xuống xe, cầm tay tôi kéo đi, không nói thêm một lời nào khác.
Và chúng tôi trở lại căn gác của Diệp.
“Anh không giận em phải không?”
“Không.”
“Tin chừng bao nhiêu?”
“Một trăm phần trăm.”
“Thôi, đừng có giận giả bộ, ông ơi!”
Diệp ôm chặt cánh tay tôi bên hông nàng.
“Cám ơn anh. Ấm quá!”
“Ấm cái quái gì. Lạnh thấy mồ.”
“Đừng có thô bỉ với đàn bà con gái nghe ông!”
Diệp thả tay tôi ra, nhưng mùi thơm của tóc nàng bay tận mũi tôi.
Đến chân cầu thang, Diệp mở sắc tay lấy cây đèn bấm nhỏ, và chúng tôi lần lên gác.
“Em có chút chuyện nhờ anh.”
“Biết rồi. Nhưng chuyện gì vậy?”
“Bí mật!”..
Diệp mở khoá đẩy cửa vào.
“Chút nữa em nói cho anh nghe.”
Nhà tối mù mù, tôi đứng im trên bục cửa, Diệp lần đến bên vách bật đèn trên trần. Ánh sáng chói chang đổ ập xuống làm ngợp mắt. Diệp nói: “Anh ngồi xuống đây chờ em một chút.” Và nàng bỏ ra nhà sau. Tôi ngồi lên ghế dựa, bắt chéo chân và tình cờ ngó thấy một mảng bùn vấy ở đầu mũi giầy. Con đường từ quãng nhà tôi xuống phố thật tệ, những hôm trời mưa đường lầy lội không thể tưởng, những lỗ trũng đầy nước, ổ gà tùm lum, mặt lộ dợn sóng làm chao xe, nhiều bữa đang chạy ngon trớn tôi bỗng hụp xe xuống một cái, tá hoả tam tinh, tưởng chết đi được. Diệp đã thay quần áo xong. Nàng đứng trước mặt tôi, trong tay ly trà đang bốc khói:
“Anh nghĩ cái gì vậy. Anh coi nhà em có đẹp không?”
Nhà của Diệp là một căn phòng hẹp, trần nhà thấp, tường quét vôi màu vàng sẫm tối ám và trơ trẽn. Tôi không ưa lắm cái tối tăm ảm đạm và cái vẻ nhớp nhúa của căn phòng. Tuy vậy tôi đã nói, dù tôi không tin lắm điều tôi nói:
“Đẹp. Đẹp lắm!”
“Thôi đi ông. Đừng bày đặt nịnh đầm.”
“Đẹp thiệt mà.”
Diệp ngồi xuống ghế đối diện tôi, đẩy cái gạt tàn thuốc bằng sành về phía tôi. Lúc này tôi mới nhìn thấy Diệp rõ hơn. Nàng đã thay chiếc áo dài màu xanh thẫm, choàng trên vai một chiếc áo len nhẹ cùng màu nhưng nhạt hơn nhiều, hai cánh tay bỏ lửng, quần chẽn, ống khá rộng phủ gót chân. Da mặt Diệp xanh xao, và trên đôi gò má hơi hóp của nàng, tôi nhìn thấy lấm chấm những nốt mụn nhỏ, hai con mắt đen sâu và to chìm dưới lớp màu xanh (khá xanh) của phấn. Nhìn màu da ấy của Diệp, tôi như nghe thấy lại có lần nàng nói, anh thấy không, da em khô thế này đầu em không có đến lấy một sợi tóc mượt, em bị đau gan đó anh, chịu không cách nào trị cho hết được. Dù sao, tôi phải công nhận là Diệp đẹp. Có lẽ vì cái dáng cao cao của nàng, bộ ngực khoẻ mạnh trên một thân thể khá mong manh, cái vẻ lạnh lẽo ở khuôn mặt cẩm thạch, cùng với mớ tóc rối đen khô làm tôi choáng váng.
“Nhất định là anh nịnh em.”
“Nịnh em thì tôi ăn cái giải gì!”
“Thôi, được rồi. Anh uống nước đi, rồi đưa em đến đó nghe.”
“Đến đâu?”
Diệp sửa cách ngồi:
“Chỗ anh vẫn thường ngồi với mấy ông bạn của anh đó!”
“Ở đâu? Hồi này em làm sao vậy?”
“Thôi, anh đưa em đi rồi em sẽ chỉ cho.”
Tôi đốt thêm một điếu thuốc nữa và nhìn những ngón tay ám khói vàng nghệ của mình.
Tôi thực tình không hiểu Diệp muốn gì.
“Nhưng sao em lại nhờ tôi?”
“Chớ em còn biết phải nhờ ai bây giờ?”
“Có cái gì ở chỗ đó?”
“Em cần gặp một người.”
“Một người? Quen?”
“Em không biết người ta, nhưng người ta nói người ta biết em. Người ta nói người ta ao ước được quen em.”
“Tóm lại là em muốn gặp một người đàn ông ngưỡng mộ em, phải không?”
“Không phải vậy đâu.”..
“Thì đó là một người yêu em cũng vậy thôi!”
“Đừng có xịa ông.”
“Tôi có nói là em yêu người ta đâu. Rồi. Bây giờ đi được chưa?”
Mưa lâm râm nhỏ hạt và trời vẫn lạnh. Diệp đội khăn lên đầu, mái tóc giấu sụp dưới lớp vải. Chúng tôi đi dọc trở lại theo những hàng hiên. Phố vắng. Diệp nói:
“Phải biết đón xe khó thế này, lúc nãy em đã giữ chiếc taxi cho xong.”
Rốt cuộc chúng tôi phải kéo bộ một quãng khá dài. Khi đi ngang qua chiếc xe mì của người Tàu núp dưới chái hiên, tôi hỏi Diệp:
“Em có thấy đói không? Mình ăn cái gì đi!”
“Ở chỗ đó có bán thức ăn mà” – Diệp cười, “Có lần ở sở về đi ngang qua đó em thấy anh ngồi ăn với mấy ông bạn của anh. Mình có thể vừa ăn vừa chờ đợi được mà anh.”
“Chờ đợi? Chờ đợi cái gì mới được chứ?”
“Trời đất! Mới nói đó mà anh đã quên rồi. Sao mau quên dữ vậy ông?”
Tôi nắm tay Diệp băng qua con lộ nhỏ. Những ngón tay tròn mềm và lạnh lẽo của nàng nằm trong tay tôi làm tôi sợ. Chúng tôi đã ra đến đường lớn. Mặt lộ đọng nước mưa sáng lấp lánh ánh điện từ những cột trụ trồng dọc theo hai bên lề đường. Xe cộ chuyển động ồn ào đến chóng mặt. Dù Diệp đội khăn, tôi tưởng nhìn thấy mái tóc nàng ướt sũng trên một đôi mắt hân hoan cười cợt. Diệp đi bên tôi tung tăng như một thiếu nữ mới lớn. Có lúc nàng giống một chiếc bong bóng mà sức căng đã giảm không bay được lên cao, lơ lửng trên sợi chỉ nằm trong tay một cậu bé lúc nào cũng chực ngã. Một chiếc xe nhà binh phóng qua thật nhanh làm bắn nước lên người chúng tôi. Diệp giật tay tôi nhảy lui lại. Tôi nghe rõ tiếng nàng lẩm bẩm nguyền rủa người lái xe mắc dịch. Đến ngã tư đường Diệp bảo tôi:
“Anh qua đây với em một tí.”
“Chỗ này sao? Tôi có bao giờ ngồi ở chỗ này đâu.”
“Đâu có. Em muốn mua cho anh một gói thuốc mà.”
“Anh hút Winston phải không?”
“Sao biết?”
“Sao không biết. Anh làm gì mà em không biết. Anh, đi đâu, ở đâu, quen ai, em biết hết.”
“Biết gì nhiều dữ. Còn gì nữa nói nghe chơi.”
“Muốn nghe thiệt không. Nói toạc móng heo, không được giận à nghen.”
“Bộ tưởng tôi con nít à. Hồi này làm sao vậy, cô ba?”
“Có sao đâu. Anh thực tế một chút coi. Lè phè quá trời. Lông bông lêu bêu cái kiểu anh, ai mà yêu cho nổi ông.”
Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay, sắp đặt vào môi đã bị tôi kéo lại. Tôi vỗ điếu thuốc lên bao diêm. Tôi nói:
“Ai mà yêu cho nổi. Yêu ai mà ai yêu?”.
“Đừng có hỏi giọng nhà quê, ông! Lại đây, em mua cho ông mấy tờ báo. Tờ này phải không?”.
Tôi đứng lại giữa chừng, hơi sợ hãi một chút. Cái cách hiểu biết và nói năng của Diệp làm tôi bối rối. Tôi nghịch chiếc nắp bật lửa, hỏi:
“Em chẳng quên thứ gì hết. Sao em còn đợi gì mà chẳng lấy quách tôi đi có hơn không.”
“Đừng có giễu nghe bạn.”
Đâu có ai ngăn cản không cho chúng tôi cười thả ga giữa đường phố trong một đêm lạnh lẽo và riêng tư như thế này.
Quả như lời Diệp nói, quán nước quen, trần bằng gỗ đánh vẹc-ni, ghế bành rộng thấp, điện ấm và không sáng lắm. Tôi đẩy cửa kính và đứng qua một bên nhường Diệp vào trước. Nàng lột khăn xuống rũ nước mưa và chúng tôi chọn một chiếc bàn hơi khuất trong góc phòng.
“Anh thường ngồi bàn này phải không?”
“Đúng rồi.”
“Anh uống cà phê đen nghe. Kêu cho em một ly sữa nóng đi anh.”
“Không, để tôi gọi cái gì bỏ bụng. Đói muốn chết đây này.”
Diệp biên món ăn lên giấy đưa cho người hầu bàn kéo tay áo nhìn đồng hồ, thở dài.
Tôi hỏi:
“Mệt hả?”.
“Đừng giễu ông. Em khoẻ mà.”
Diệp có vẻ khoẻ thật, dưới ánh đèn chụp bóng tròn, da mặt Diệp hồng hào hơn lúc nãy nhiều. Nàng đập tay lên vai tôi:
“Kìa anh, anh có thấy chiếc ghế bành da màu đỏ kia không. Ừa, ở chỗ đó đó, cá với anh mười ăn một, là thế nào cũng có một người ngồi ở đó.”
Tôi nói:
“Tôi chẳng hiểu trời trăng gì hết.”
Và tôi phá lên cười.
“Còn em, bộ anh tưởng em hiểu trăng sao gì hả?”
Nói xong, Diệp ngã đầu ra sau ghế, cười bằng tất cả cái dáng điệu kỳ cục của nàng. Người hầu bàn đến bên chúng tôi, nghiêng mình lễ phép:
“Ông bà gọi thêm món chi?”
“Không.” Diệp nói trong tiếng cười. “À, à mà có; làm ơn gọi cho tôi một chú bồi khác.”
Nhưng liền ngay khi đó tiếng cười của nàng chợt tắt sau câu nói và mắt Diệp mở lớn ngạc nhiên hướng về chiếc ghế bằng da màu đỏ. Một người đàn ông đã ngồi trong ấy tự bao giờ.
Thức ăn đã mang lên và tôi bắt đầu bữa cơm tối một mình.
Nếu một bức tranh đáng giá cả ngàn lời nói thì bức ảnh này có thể trị giá một triệu. Chúng ta thường nghĩ rằng giới trẻ và thanh thiếu niên có một chút tự ti, nhưng Liang Yaoyi là một lời nhắc nhở tuyệt vời về việc họ thực sự có thể vị tha như thế nào. Một cậu bé 11 tuổi đến từ Trung Quốc, Yaoyi bị khối u não không thể phẫu thuật và đã qua đời vào thứ Sáu tuần trước. Nhưng trước khi chết, Yaoyi nói với cha mẹ rằng cậu muốn hiến tặng nội tạng của mình để người khác có thể sống. Yaoyi luôn mơ ước trở thành bác sĩ và cứu sống, và đây là một cách để hoàn thành mục tiêu của mình. Trước khi các bác sĩ cắt bỏ nội tạng của cậu bé, họ đã dành một chút thời gian để cúi chào cơ thể cậu, một dấu hiệu của sự tôn trọng ở Trung Quốc, trong một khoảnh khắc được chụp ở đây. Hình ảnh đã trở nên lan truyền khi thế giới biết được quyết định vị tha của cậu bé.
“Có rất nhiều người làm những điều tuyệt vời trên thế giới”, Yaoyi nói với cha mẹ mình, theo trang Facebook của KTVU. “Chúng thật tuyệt, và tôi cũng muốn trở thành một đứa trẻ tuyệt vời.”
Thiếu tướng James W. Ring trao bằng khen cho Thiếu tướng Lapthe C. Flora trong buổi lễ kỷ niệm 36 năm phục vụ Lục quân Hoa Kỳ ( Ảnh của facebook.com/VaNationalGuard ).
Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá đặc biệt cho Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia, đã vê hưu sau 36 năm phục vụ Lục quân. Một buổi lễ kỷ niệm kỷ đã được long trọng tổ chức cùng gia đình, bạn bè và Sĩ quan các cấp trong đơn vị ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Học viện Quân sự Virginia ở Lexington, Virginia. Thiếu tướng James W. Ring, Phụ tá Vệ binh Quốc Gia Virginia chủ trì buổi lễ đã trao cho Thiếu tướng Lapthe C. Flora bằng khen của Tổng thống Hoa Kỳ, giấy chứng nhận nghỉ hưu do Tham mưu trưởng Lục quân quân ấn ký, giấy chứng nhận phục vụ do Tư lệnh Vệ binh Quốc gia ấn ký và Huy chương phục vụ xuất sắc của Vệ binh Quốc gia Virginia. Thiếu tướng James W. Ring còn trao tặng Bằng khen của Tham mưu trưởng Lục quân cho bà Thủy Flora, Phu nhân Thiếu tướng Lapthe C. Flora. Thượng sĩ I Kelly B. Reich, Thường vụ Bộ Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Virginia đã hỗ trợ Thiếu tướng Lapthe C. Floravà và Thiếu tướng James W. Ring treo Lệnh kỳ của Thiếu tướng Lapthe C. Flora tượng trưng cho việc ông nghỉ hưu.
Thiếu tướng Châu Lập Thế Flora, sinh năm 1962 tại Sài gòn. Phụ thân của ông là một Thuỷ thủ Hải quân VNCH tử trận trong cuộc chiến Việt Nam. Ông vượt biên đến Mã Lai Á năm 1980 và được cha mẹ nuôi người Mỹ bảo lãnh sang Mỹ 1 năm sau đó. Ông thông thạo Hoa ngữ (Quảng Đông) và Việt ngữ. Ông học Trung hoc tại Trường Cave Spring High School tại Roanoke, Virginia và tốt nghiệp năm 1983.
Kiếm chỉ huy của Thiếu tướng Châu Lập Thế Flora (Ảnh của facebook.com/VaNationalGuard).
Sau khi tốt nghiệp trung học, Thiếu tướng Châu Lập Thế Flora thụ huấn tại Học Viện quân sự Virginia 1983 và tốt nghiệp năm 1987 với văn bằng Cử nhân Sinh học. Đơn vị và chức vụ khởi đầu binh nghiệp của ông là Thiếu uý Trung đội trưởng, Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 115, Sư đoàn 29 bộ binh đồn trú tại Clifton Forge, Virginia. Và đơn vị và chức vụ sau cùng của ông là Thiếu tướng Phụ tá đặc biệt cho Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia.
Ông Châu Lập Thể Flora mang cấp thiếu úy năm 1987, được thăng cấp trung úy năm 1990, thăng cấp đại úy 1994, thăng cấp thiếu tá năm 2001, thăng cấp trung tá năm 2006, thăng cấp đại tá ngày 30 tháng 6 năm 2011, thăng cấp chuẩn tướng ngày 23 tháng 5 năm 2016, thăng cấp Thiếu tướng năm tháng 5 năm 2020.
Thiếu tướng Châu Lập Thế Flora đã từng giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng như: Phụ tá đặc biệt cho Tư lệnh vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia; Tư lệnh phó lục quân Hoa Kỳ vùng Phi Châu; Cố vấn Lục quân trừ bị, kiêm phụ tá Tư lệnh vệ binh Quốc gia tiểu bang Virginia, đặc trách chỉ huy Lục quân bộ chiến; và Chỉ huy trưởng Lữ đoàn 91 Vệ binh Virginia.
Thiếu tướng Châu Lập Thế Flora được trao tặng nhiều loại huy chương cao quý như: Huy chương Defense Superior Service Medal;Huy chương Legion of Merit, Huy chương Bronze Star, 3 huy chương Meritorious Service Medal (with 3 Bronze Oak Leaf Clusters), Huy chương Joint Services Commendation Medal; Huy chương Army Commendation Medal (with 1 Bronze Oak Leaf Cluster), 3 huy chương Army Achievement Medal with 3 Bronze Oak Leaf Clusters, Huy chương Joint Meritorious Unit Award; Huy chương Army Meritorious Unit Commendation; Huy chương Army Superior Unit Award; Huy chương National Defense Service Medal (with Bronze Service Star) và nhiều loại huy chương giá trị khác.
Sĩ quan cấp tướng Hoa Kỳ gốc Việt hiên nay gồm có 6 vị. 3 vị đương nhiệm: Tân Phó Đề đốc Tuấn Nguyễn, Hải quân Hoa Kỳ; Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc chiến lược Quốc phòng, Hội đồng an ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C; Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng tình báo, Bộ tư lệnh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Và 3 vi hồi hưu: Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021. Phó đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022 và Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia, hồi hưu tháng 4 năm 2024.
Nguyễn Quân
Nguồn: nationalguard.mil; facebook.com/VaNationalGuard; va.ng.mil/News/; linkedin.com; bienxua-Chuẩn Tướng Châu Lập Thế Flora được đề cử thăng cấp Thiếu Tướng.
Từ một nữ sinh trường đầm kiêu sa, thành bà Tướng đầy uy quyền, rồi thế thời đổi thay thành thợ hớt tóc 30 năm dài để nuôi 4 người con nên người mang tên QUANG, MINH, CHÍNH, ĐẠI, đặt tên theo tâm niệm của người chồng chiến binh một đời anh dũng.
Đó là Bà Phan Thị Minh Yến, phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ, vị tướng tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực VNCH, một trong 5 vị tướng Miền Nam đã tuẫn tiết để nêu cao khí phách anh dũng và để gìn giữ danh dự của một quân đội vừa mới thua trận trong biến cố 30. 04. 1975.
…Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nho nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.
Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.
Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chưn vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm.
Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.
Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. “Hỏi rằng bây giờ chị làm gì” Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu.
Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ.
Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thiệt khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.
Khi được hỏi rằng “thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ”. Được trả lời rằng “trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ.”
Hỏi rằng “đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không.” Trả lời rằng “lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con”.
“Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không” Trả lời rằng “thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.”
Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối thuận thảo với mẹ chồng.
Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. “Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời”.
Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.
Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.
Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.
Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.
Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.
Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước đã rơi vào tay giặc.
Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.
Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ./-
Phần 12 Một tiếng “bịch” rồi “ối” la lên phía khoảng sân hẹp trước buồng. Con nít ríu rít chạy ra, người lớn ùn ùn nhào nháo. Gã quản trại Phòng Vệ Nhân Dân sắp sửa đá tiếp một quả vào mạng sườn của anh lạp-xạp liền ngưng bộ khi thấy bà con rần rần túa ra coi. Gã nạt: – Vào hết trong buồng! Gã rút chân về nhưng không phải để ngưng trò đánh đấm. Bất thình lình trong khi anh lạp-xạp đang dúi dúi cái đầu núp sau cán chổi, gã Phòng Vệ Nhân Dân trở người đánh cú “rờ-ve” chát ngay mặt anh lạp-xạp. Con nít rú lên: – Ồ…ồ…! Thịnh kéo tay Hải đang đứng coi, bàn: – Chả có nghề, tớ cá với ông. Hải nóng: – Nghề mẹ gì, tại thằng kia không dám đánh trả. Gã Phòng Vệ đánh trúng cú nữa, xí xố nói, cử chỉ hung dữ. Đám con nít reo hò chọc: – Phòng Vệ Nhân Dân đánh nhân dân, Phòng Vệ Nhân Dân đánh nhân dân. Hí hí hí! Gã Phòng Vệ giơ tay dọa đám con nít. Chúng thụt cổ, le lưỡi làm bộ sợ hãi. Gã vừa quay gót, chúng lại la đồng loạt: – A Xòe, A Xòe, A Xòe ăn mười cục cứt. Anh lạp-xạp vừa tức vừa xấu hổ, cũng bật cười. Anh ta ngước cái mặt đỏ lên, phân trần: – Tôi chỉ lượm cái tàn thuốc dưới rãnh. Đối với dân nghiện ngập thì nhựa thuốc lá còn mê ly rùng rợn hơn ngủ với đào chớp bóng. Hải đã thấy một anh lạp-xạp triển khai chức năng làm sạch của mình qua việc bắt “dế nhủi”. Anh ta đứng canh me ở đường rãnh thoát nước ở chỗ văn phòng trại. Ô kìa! Một tàn thuốc lấp lửng chảy ra. Đến một ngã ba, cái tàn thuốc nhập vào dòng thác cách mạng thứ hai từ hố xí chảy xuống. Để biểu diễn tình đồng rận keo sơn, cái tàn thuốc tán ngay vào một cục phân người đang lững thững trôi bồng bềnh. Anh lạp-xạp, tư duy kiểu tiểu tư sản hữu khuynh, dùng cái xẻng chận ngay cái tàn thuốc một cách chuyên nghiệp trong khi cái xẻng không đụng cục phân một ly. Anh ta nhìn trước nhìn sau tránh đôi mắt của bọn xét lại Phòng Vệ Nhân Dân, rồi nhanh như Mig 23 cúi xuống vớt cái tàn dư phản động cho vào tấm khăn tay cáu bẩn. Sau giờ công tác, anh ta tranh thủ phơi cái tàn thuốc, lật qua lật lại cho chóng khô. Thế là có một cữ rất phê. Với cái tinh thần triệt để khai thác tư liệu tiêu thụ có sẵn, anh lạp xạp cất kỹ cái bình thuốc lào vừa hút vì “nước đã thấm chất nicotin mà lị”. Lấy một cọng vải từ cái khăn gói tàn thuốc, anh ta nhúng vào bình nước chỉ hơi đen đen, lại phơi cọng vải cho khô trước khi tiêm cọng vải vào ống, bật lửa kéo một cữ nữa, xong, anh ta cất kỹ cái bình không thì có kẻ cứ xin đi “rửa hộ”. Anh ta giải thích: – Nó rửa cái gì, cứ cho nước sạch vào thì mất cả mùi. Hút nhạt thếch chẳng ra cái thể thống nào cả. Mà phải đâu chỉ có anh lạp xạp. Từ thượng tầng trí thức đến hạ tầng cơ sở đều đổ đốn ra một chất nhựa rất phê ấy. Cả Hải, bữa nào không kéo nhờ được một cữ, cữ cuối, có khi hút cả tàn vào miệng là người cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, lên lớp giảng bài mà như kẻ mộng du. Mỗi lần Bổng vào là Hải lại nhận được một bữa thuốc. Ngoài cái đó ra Bổng còn làm công tác gửi thư. Cũng như phần lớn bà con khác, trong tập vở giáo án Hải luôn kẹp một lá thư viết sẵn. Chàng ngượng ngùng bảo Bổng “dán hộ” tem, có khi những lá thư không dán tem lên tới hàng chục nhưng Bổng cứ nhận.
Google images
. Hải biết là Bổng gửi giúp vì chàng nhận thư hồi âm của mẹ. Nét chữ run rẩy rất khó đọc của cụ làm Hải bật khóc. Cụ cứ ngỡ như thư Hải viết là mọi người đã tới Hồng Kông vô sự. Cụ viết: “Nhà ta quả còn phúc ấm, chẳng chóng thì chầy con của mẹ cũng thành Việt kiều”. Hải khổ sở vì sự hy vọng của mẹ. Chàng nhớ con nhớ vợ rạc cả người. Có hôm đang dạy lũ trẻ tập hát, Hải muốn chừng bỏ dở buổi dạy khi nom một đứa giống bé Ngọc không chừng. Đồng nghiệp đều có nỗi khổ tâm riêng nên chẳng ai buồn nghe tâm sự kẻ khác. Giữa mấy ngàn người xào xạc náo nhiệt, nỗi cô đơn đè nặng Hải như núi. Nhưng dường như trời không khe khắt với riêng ai cả. Một hôm Bổng triển khai thêm một lớp cho khối mẫu giáo. Ông ta tuyển thêm giáo viên, nhờ Hải giới thiệu một người, Hải nói: – Có cô Hà đang học giáo viên ở Hà Nội. Tuy chưa có kinh nghiệm nhưng nhiệt tình công tác lắm. Lạ lùng là Bổng nhất trí ngay với đề nghị. Hà được Hải báo tin, cười nắc nẻ: – Em không làm tốt là anh chịu cả nhé. – Ừ, anh chịu. Nhưng Hải không “chịu” vì Hà giảng dạy không được tốt. Chàng phải chịu những xầm xì bất mãn của đồng nghiệp vì tình thân của chàng và Hà đã không che mắt ai được nữa. Có người độc miệng bảo: – Con bé ấy mới nứt mắt mà đã đứng trong hàng ngũ giáo viên. Cái ông Hải mê gái ấy, không có tươi mát thì rũ cả ra. Hải tảng lờ như không. Chàng thấy mình được đền bù mỗi lần trông Hà đùa giỡn với lũ trẻ trong lớp. Nhưng Hà chỉ vui lúc ấy. Tan giờ, nàng tìm Hải bảo: – Người ta nói em có gì với anh đấy. – Kệ. – Em không chịu đâu. Hà vùng vằng, Hải mỉm cười: – Em không chịu là không chịu người ta nói hay không chịu anh? Hà chúm môi nói: – Cả hai. Hải nhìn khuôn mặt trắng hồng của Hà mà thốt nhiên rùng mình. Chàng hình dung nếu Hà đi một mình ở trại Chi Ma Wan thì làm sao giữ thân cho được. Ngay cả vợ Phú kèn có chồng bên cạnh mà còn bị làm nhục như thế. Trong một lá thư khác Phú kèn nói gã đã rút đơn xin hồi hương sau khi Lê Khắc trốn trại. Gã nói sẽ quyết tử ở lại đối đầu với Cục Di Dân. Cuối thơ gã chúc Hải bớt cô đơn và phấn đấu công tác tốt. Hải nhắc lại lá thơ của Phú kèn mà chàng đưa cho Hà đọc hôm trước, nói: – Em không chịu cả hai thì Phú kèn nó chúc trật rồi. – Thì mặc kệ anh ấy. Vài ánh mắt soi mói ngoài cửa. Hải nghĩ thầm, thậm chí người mình với nhau mà còn khó cảm thông, nữa là người nước ngoài. Chàng gấp vở, chờ Hà ra cửa mới đi theo. Tiếng ô tô ngoài đường vọng lên ròn rã. Trại Argyle nằm sát bên một con đường lớn ở Cửu Long, chỉ khuất sau vài cây lớn. Khúc đường dẫn về phía trại khá thưa nên người ngoài khó lòng biết họ đang đi ngang một trại giam nạn dân. Cuối năm 1988, thuyền nhân vẫn tiếp tục đến Hồng Kông bất chấp thời tiết cực kỳ xấu và lòng hiếu khách tồi tệ của dân bản xứ. Con số bao nhiêu người bỏ mình trên biển không ai biết nhưng số người đến thì xuất hiện đều đều trên tờ nhật báo Anh ngữ lớn nhất ở Hồng Kông, tờ South China Morning Post. Ngày 1 tháng 12, tờ báo đăng hình một thanh niên đầu tiên được ra tự do. Người này đến trước ngày bắt đầu thanh lọc, đang ở trại tỵ nạn Pillar Point, hay còn gọi là Trại 46. Các trại được xếp là tỵ nạn đã mở cửa, người tỵ nạn tự do ra ngoài tìm việc làm.
Google images
Dân chúng liền bày tỏ sự bất mãn vì cùng với tệ nạn xã hội – một điều không tránh được – họ cho là khối người đến trước ngày dứt điểm đang giành giựt công ăn việc làm của người bản xứ. Song song với việc mở cửa các trại tỵ nạn, chính quyền bắt đầu dựng thêm các trại giam. Những phương án đề xuất tìm địa điểm dựng trại đều gặp sự chống đối của dân chúng. Hai vấn nạn hàng đầu của Hồng Kông đã rõ rệt: năm 1997 (Hồng Kồng bị trả về thuộc địa) và nạn dân. Giữa tình thế sôi bỏng của một xã hội phú túc và hỗn loạn như thế, trại Argyle được lệnh dời trại qua trại mới, trại giam Đầu Bạc (Whitehead). Lúc đó là đầu năm 1989, Hải chuyển trại chuyến này. Hải có thể nghe tiếng sóng biển thật khẽ trong những đêm khuya vắng. Tiếng động khe khẽ nhẹ nhàng ấy vỗ về tâm tư Hải, hình ảnh ngôi nhà ba gian và một cái dãi nước lờ đờ đục sau hè, những ngày Hải vừa chập chững lớn, chạy loanh quanh sân sau, nhìn nắng chiều chiếu một nửa thân cây chuối và nghe tiếng gà gáy xa xăm u uẩn. Hình ảnh ấy ăn sâu trong tâm khảm, khi khôn lớn đi lang bạt giang hồ, Hải ôm đàn hát thầm, nước mắt ứa lặng lẽ mỗi lần hát “Ngày trở về” của Phạm Duy. Ngày trở về Anh bước lê Trên quãng đường đê đến bến lũy tre Nắng vàng hoe Vườn rau trước hè chờ đón người về Mẹ lần mò Ra trước ao Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ Tiếc rằng ta Đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ… Hải lui về một hình ảnh có sẵn. Chàng hình dung người mẹ quơ tay lần mò ra ao, thân hình mẹ run rẩy. Chàng khóc vì bài hát bao lần, những khi ngồi một mình, những khi chiều tà hoang vắng, những đêm buồn gió rít ngoài cửa, hay ngay cả những đêm giao thừa nghe đì đùng pháo nổ xa xôi. Hải nghĩ cả cuộc đời nghệ sỹ của chàng cũng sẽ không bao giờ làm được một lời ca tài hoa như vậy. Chàng biết sẽ chẳng bao giờ có một ca khúc làm chàng xúc động với những hình ảnh tràn ngập như thế, như mọi hình tượng ấy đã dàn dựng sẵn trong hồn. Chàng cho rằng một nghệ phẩm thành công không phải chỉ vì nó dựng lên được hình tượng trong lòng người, mà thực ra nhờ nó khơi được một cảnh sắc có sẵn, một âm thanh ngự đâu đó trong lòng tha nhân. Khi hình và thanh trú nơi người được khuấy lên do tác động của tác phẩm, người nghệ sỹ đã thành công, thành công không phải vì hắn đã truyền được bản chất rất riêng của hắn qua những kết cấu hữu cơ, mà vì đã đánh thức được nhiều (hay chỉ một) hình tượng trong lòng người thưởng lãm, đã từ lâu ấp ủ, đã bao ngày yêu dấu, hay thậm chí đã quên mất rồi vì những phồn âm tạp cảnh giăng bít ngõ đời. Hải nghe tiếng sóng thật khẽ. Mẹ chàng sẽ níu áo con trong một chiều tà nào đó, có nắng vàng rơi trên bụi chuối sau hè. Chàng nghĩ Phạm Duy đã làm tuyệt vời lời ca vì thể hiện được hình ảnh đẹp nhất của người mẹ là sự lặng lẽ, lặng lẽ cực kỳ mà cũng sinh động cực kỳ. Chỉ “nắm áo” và “lần mò”, mẹ không nói lời nào cả. Nhưng thế, đã đưa cái động của mẹ hòa vào nỗi hàn tĩnh mịch của chiều vàng hiu hắt nắng. Thơ đạp nhẹ vào chân Hải, ú ớ cơn mê. Chàng và Thơ nằm trên tầng thứ ba. Có một khoảng không quý báu từ giường gỗ lên trần nhà. Hai tầng dưới cao chỉ vừa đủ cho người lớn ngồi. Hải phải tấn mấy cái thùng giấy đựng mì gói nơi mép phòng vì sợ Thơ mê ngủ lăn xuống đất như hôm có thằng bé rớt từ tầng ba xuống vỡ óc. Thơ lại ú ớ: “Bà…bà…bà cho cháu cái đó đi”. Chàng nghiêng mặt nhìn thằng bé. Nước dãi đọng một bên má nó ướt nhẹp.
Google images
Khuôn mặt nó như quắt lại sau tiếng mớ. Thình lình, nó hét lên lanh lảnh, cái mồm xéo xệch gọi: “Bố…bố”. Hải thảng thốt khi thấy đôi mắt nhắm nghiền của nó ươn ướt nước. Bên ngoài, trời he hé sáng. Có tiếng kêu ơi ới từ hàng rào phân trại B. Tiếng trả lời oang oang bên phân trại Hải. Hai trại chỉ cách nhau cái hàng rào lưới, sáng sớm nào cũng có tiếng gọi ơi ới như thế. Người bên này vừa đánh răng ở vòi nước sát hàng rào vừa trao đổi. Người kia bảo: – Mày tranh thủ qua bên này chút đi. Bên này: – Qua sao được. Bên kia: – Hôm nay anh Bổng vào đấy. Nhờ anh ấy dẫn qua. Bên này: – A Xòe khó lắm. Bên kia: – Tao biết mà. Thì cứ canh lúc nào “cú lường” đổi ca hẳn qua. Tao nhờ anh Bổng xin mày qua tham quan trường học. Gần tới trưa Bổng vào. Hải thấy Bổng trình giấy ở cổng, đeo ba lô lầm lũi bước. Ông ta đi với một cô gái nhỏ nhắn, vừa đi vừa vẫy tay chào mấy người quen đứng dán mắt vào hàng rào. Có chị giáo viên hồ hởi hỏi vọng ra: – Anh Bổng vào đấy à. – Vâng. – Thế có mua lạp xưởng hộ em không đấy. – Có đây. Cô kêu hộ giáo viên tập trung ở lớp nhé. Dù đã dặn kêu hộ, Bổng cũng lên văn phòng trại gọi loa. Cô gái đi theo Bổng đeo ba lô, tóc ngắn, trên khuôn mặt bầu bĩnh thoáng vẻ e dè khi những người trong trại vây lấy cô trong lúc Bổng tạt qua buồng hiệu trưởng Thịnh kêu đi họp. Hải tò mò đứng ngoài đám đông, quan sát cô gái lạ. – Thế chị vào đây công tác đấy à? Đám đông lao nhao hỏi. – Vâng. – Làm ở trại chúng em đấy phải không? – Vâng, tôi làm ở trại này. – Thích nhỉ. Mấy đứa bé thấy cô gái hiền lành, bạo dạn níu tay. Cô mỉm cười vỗ vỗ đầu mấy đứa trẻ. Vài người bàn nhỏ: – Trông bình dị nhỉ. – Xùy, người ta ở nước ngoài về. – Ai chả biết thế – Nầy chị ấy ơi, chị là người Bắc hay Nam đấy? Cô gái lộ vẻ không vui. Cô ngần ngừ nói: – Tôi cũng là người Việt Nam như các anh các chị mà. Một gã giáo viên sồn sồn vồ vập: – Tui nghe giọng chị biết người miền Nam mà. Chà, rứa là người mình cả. Quí rứa hè. Gã vừa phát biểu là giáo viên Anh ngữ. Gã có vẻ tự tin nói tiếp: – Tui tên Lào – Anh là giáo viên à?
Google images
Lào hiu hiu nói lớn: – Tui dạy tiếng Anh Cô gái mỉm cười. Đám đông giãn ra khi thấy Bổng. Bổng gọi: – Đi vào đây Phương ơi Chờ giáo viên lục tục kéo tới, Bổng lẩm nhẩm rồi hỏi: – Còn thiếu ai nữa? Thịnh đáp: – Báo cáo anh, còn thiếu cô Thi phụ trách khối mẫu giáo. Bổng nhăn mặt khó chịu: – Lúc nào cũng trễ, ở ngay trong trại mà. – Cô ấy có con mọn Bổng ừ hử: – Thôi được, giới thiệu với các anh chị đây là cô Phương, giáo viên từ Tân Tây Lan về làm việc tại trại ta. Tiếng ồ lên: – Thế anh Bổng bỏ chúng em đấy à. Bổng pha trò: – Tôi đâu bỏ các chị nổi. Cô Phương sẽ điều hợp và giúp đỡ các anh chị ở trại A. Tôi sẽ coi ở trại B. Có điều gì cần giải quyết, từ nay các anh chị cứ báo cáo lên cô Phương. Bổng cho biết trại sẽ dành hai dãy buồng làm lớp học, tạm dùng niệm Phật đường làm hai lớp mẫu giáo. Bổng ra hạn tuổi cho học sinh tiểu học. Thịnh giơ tay phát biểu: – Tôi nhất trí về đề nghị của anh. Tuy nhiên, vì tình hình thực tế không cho phép, số tuổi anh quy định cho khối tiểu học không phản ánh được trình độ khả năng của bản thân nhiều em. Bổng cau mày, mắt lỏ ra: – Anh Thịnh muốn nói gì? – Ý tôi là do tình hình khó khăn ở nước ta nên nhiều em đã lớn vẫn chỉ mới học đến lớp một. Bổng đáp: – Con số ấy chắc không nhiều. Các anh chị biết em nào như thế thì cứ bố trí cho thích hợp. Mọi người lao nhao hỏi. Dường như Phương có vẻ chưa thông với lối bàn thảo như thế. Những từ ngữ mà Bổng sử dụng không khác gì một người sinh ở miền Bắc đối với cô có vẻ xa lạ. Cái gì là “bố trí”, rồi thì “tình hình thực tế”! Sau buổi họp, Bổng cắt nghĩa lại cho Phương, ông ta cười bảo: – Rồi Phương sẽ quen đi. Giáo viên có vẻ phấn khởi vì có thêm người mới. Họ hỏi đủ thứ chuyện về đời sống ở nước ngoài. Hải thấy Phương toát mồ hôi vì những câu hỏi tò mò. Cô gái ban đầu còn trả lời nhỏ nhẹ, dè chừng, sau, chừng đã quen thuộc cô hăng hái thảo luận, phê bình. Hải nhớ nhất là câu nói của Phương: – Tôi cũng là tỵ nạn như các anh chị, chỉ may mắn đi trước thôi. Cô gái cũng có khối điều để tìm hiểu đời sống ở một trại giam. Tiếng loa sắt gắn ở đầu buồng gần đó chợt vang lên gắt gỏng: – VRD 21212, VRD… Tôi nhắc lại lần chót là lên ngay văn phòng trại nhé. Người xướng tên có vẻ khó chịu, anh ta lầm bầm chửi nho nhỏ sau khi đọc. Bổng nói: – Thôi cô giáo Phương ở lại sinh hoạt. Tôi qua bên kia. Chờ Bổng đi khỏi, giáo viên lại bu quanh Phương mời mọc: – Trưa nay chị vào chỗ em ăn cơm trại nhé. – Vào chỗ em đã nào.
Google images
Giáo viên anh ngữ Lào đằng hắng: – Có chị đây tui lại có người tâm đầu ý hợp rồi. – Anh bảo sao cơ? – Thì có chữ mô khó, chị giải thích cho tui. Mà nầy, chị phải giúp cho tui cái ni lớp tiếng Anh mới tốt được. – Anh cứ nói. – Tui cần cuốn tự điển Anh Việt, Việt Anh. Chị coi, dũng sĩ mà không có kiếm báu thì mần ăn chi được nợ. Phương thoáng khó chịu nhưng cũng lật sổ tay ghi. Cô làm việc ngay tại chỗ, yêu cầu Thịnh nộp danh sách học sinh đăng ký đi học, sắp xếp thời khóa biểu, bố trí giáo viên phụ trách bộ môn. Phương bảo Hải: – Tôi cần những người như anh. Trong điều kiện sống như thế này, cần làm không khí học đường vui nhộn, tập cho các em những bản nhi đồng ca, cần gì anh cứ nói. – Chị quan tâm thế thì còn gì bằng. Hải nói, chàng nghĩ đến Thơ. Phải bắt thằng bé đi học đi hát để nó được mơ những mộng đẹp. Buổi tối, chàng sai Thơ chạy qua buồng nữ tìm Hà. Từ khi về đây, Hà ở buồng nữ độc thân, cấm địa của đàn ông độc thân tại chỗ như Hải. Năm phút sau, Thơ trở về, thở hồng hộc: – Chị Hà bảo anh ra chỗ vòi nước chờ chị ấy. Hải ra chỗ vòi nước. Ngay căn phòng trống dành cho giáo dân sinh hoạt, Hải nghe các buồng trưởng đang bàn thảo. Giọng Thận, tổ trưởng Tổ Thi Đua, ong ỏng đề xuất phương án kiểm tra chất lượng giảng dạy của giáo viên. Chàng đoán rồi đây Thận sẽ không để Phương làm việc dễ dàng. Quả nhiên vài ngày sau, một đại diện buồng trưởng yêu cầu Phương đến dự một buổi họp liên ban. Phía bộ phận giáo dục, có Phương và Thịnh, bên thi đua có Thận và ba người đàn ông trung niên khác. Chờ Phương ngồi, Thận vô đề ngay: – Chúng tôi “nà” Tổ Thi Đua. Phương gắt: – Cái gì vậy? Thịnh cắt nghĩa, giọng anh ta rụt rè khác thường: – Anh Thận là tổ… Thận nói: – Chúng tôi lập ra Tổ Thi Đua để kiểm tra và động viên mọi sinh hoạt của bà con trong trại. Trước khi trình bày, tôi xin được thay mặt bà con trong trại cám ơn chị đã quan tâm giúp đỡ bà con trong trại ạ. – Thế ra chú là trưởng trại. Phương vẫn chưa hiểu rõ người đàn ông cận thị nặng, khuôn mặt xương và giọng nói thật dứt khoát muốn nói gì. Thận kiên nhẫn: – Không phải thế. Tôi “lói” thế này thì chị đả thông tư tưởng: Trong trại này có nhiều ban ngành chuyên môn. Chẳng hạn như Khối Giáo Dục, đại diện các buồng vân…vân… Tuy nhiên, nếu các ban ngành mạnh ai nấy nàm việc thì sẽ thiếu nhất trí, hơn nữa sẽ không phản ánh tình hình chung trong trại cũng như tâm tư nguyện vọng của bà con. Phát xuất từ nhu cầu thực tế đó, chúng tôi mạnh dạn đứng ra thành lập Tổ Thi Đua. Chức năng chủ yếu của chúng tôi nà kiểm tra chất nượng phục vụ của các ban ngành để đảm bảo mọi người mọi việc đều được thi hành tốt. Nói tóm nại, chúng tôi tự thấy có nhiệm vụ đảm bảo cho bà con trong trại có một nếp sống văn minh lành mạnh, có văn hóa. Phương hỏi: – Vậy có nghĩa là chú muốn tham gia vào Khối Giáo Dục. Thận mỉm cười. Giọng ông ta trầm bổng: – Gần như thế. Chúng tôi biết chị đang phụ trách Khối Giáo Dục, và trong nay mai các cháu sẽ được cắp sách đến trường. Tuy nhiên, muốn cho các cháu được học tốt thì chất nượng giảng dạy của các giáo viên phải đạt yêu cầu chuyên môn. Có lẽ chị mới về chưa biết, nhiều giáo viên chưa từng tốt nghiệp sư phạm nhưng vẫn đang nàm công tác giảng dạy của người giáo viên nhân dân.
Google images
Thịnh đỡ lời: – Chẳng hạn như tôi, bản thân là một kỹ sư nông nghiệp. Thận lại mỉm cười tế nhị: – Vâng. Nhưng anh Thịnh chỉ nàm công tác điều hành trường lớp. Điều chúng tôi muốn nói là có một số giáo viên chưa thông qua trình độ chuyên môn nhưng vẫn đang nàm công tác của người kỹ sư tâm hồn. Nếu tình trạng này còn tiếp diễn thì bà con trong trại sẽ không để con em mình đến lớp. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị một phương án kiểm tra chất nượng giáo viên để đánh giá trình độ chuyên môn, giáo viên nào không đạt mục đích yêu cầu thì chúng tôi không để họ nên lớp. Phương gắt: – Nếu vậy các chú muốn làm gì đây? – Chúng tôi sẽ lập ra một ban chuyên môn khảo sát trình độ của từng người. Ban chuyên môn sẽ gồm những giáo viên kinh nghiệm đã có quá trình giảng dạy ở Việt Nam. Chúng tôi biết ai nà người có kinh nghiệm, tuy nhiên điều nầy cần có sự nhất trí của chị. Mục đích chúng tôi mời chị đến hôm nay là để trình bày như vậy. Phương nói, dường như cô đã quyết định trong thời gian Thận nói: – Tôi không đồng ý. Tôi là một giáo viên, tự tôi sẽ đánh giá khả năng của từng người khi họ lên lớp. Hơn nữa, giáo viên là nhân viên do cơ quan ISS tuyển, họ ăn lương của ISS, dù chỉ một trăm hai chục đồng một tháng. Không khí căng thẳng trước phản ứng quyết liệt của cô gái nhỏ bé. Người đàn ông thứ nhất ngồi cạnh Thận nói: – Chị chưa nắm rõ ý anh Thận. Chúng tôi chỉ muốn đảm bảo chất lượng giảng dạy nên mới đề xuất một phương án như thế. Phương cương quyết: – Tôi hiểu chứ sao không. Nhưng đó là các anh vi phạm tự do của người khác. Các anh nên nhớ là: Ai sẽ là người đủ tư cách kiểm tra giáo viên. Làm sao tôi tin là người kiểm tra cũng là giáo viên như các anh chị nói. Phương đổi từ “chú” qua “các anh”, cô gằn chữ “vi phạm” mạnh. Người đàn ông thứ hai phát biểu: – Chị nói như thế là không rõ tâm tư nguyện vọng của bà con trong trại. Chúng tôi muốn đảm bảo các cháu sẽ được giảng dạy tốt. Chị cũng nên nhớ bản thân các giáo viên của chị cũng chỉ là bà con trong trại mà thôi. Người đàn ông thứ ba tiếp: – Chúng tôi chỉ phản ánh nguyện vọng của tuyệt đại đa số bà con trong trại. Người đàn ông thứ nhất: – Nếu chị nhất trí, ta sẽ triển khai việc thành lập ban giám sát. Phương hỏi: – Các anh được mọi người bầu lên à? Thận đỡ: – Không ai bầu chúng tôi, tuy nhiên việc nàm của chúng tôi dứt khoát nà thể hiện tâm tư tình cảm của bà con. Phương cứng rắn: – Đã vậy, tôi không…nhất…nhất…nhất trí với các anh chị. Chính tôi sẽ mở các khóa huấn luyện cho giáo viên: Thịnh hạ bầu không khí căng thẳng bằng một câu ba phải: – Tôi đề nghị thế này: Nói chung là các anh trong Tổ Thi Đua cũng có lý mà chị Phương cũng có lý của chị ấy. Chúng ta nên bàn lại việc này trong một dịp khác.
Google images
Phương đứng lên, bảo: – Tôi không có thì giờ để bàn gì thêm nữa. Tôi có nhiều việc phải làm chứ không chỉ để họp. Thận và ba người đàn ông cười gượng khi Phương chào họ. Trên đường về, Phương trách Thịnh: – Từ nay anh đừng kêu tôi đi họp thế nữa, chỉ tổ mất thì giờ. Họ lấy quyền gì mà giám sát chúng ta chớ, chỉ có độc tài mới đàn áp thô bạo như vậy. Thịnh cười buồn. Anh đồng ý như vậy nhưng bản thân anh cũng bị nhiều sức ép trong trại, anh phải chiều lòng họ để được yên. Thịnh kể nội dung cuộc họp cho Hải, bảo: – Tôi sợ cô ấy thẳng quá, chắc bên Thi Đua họ không nhượng bộ. Hải nói: – Những người quen sống trong môi trường tự do là thế. Không có chuyện cưỡng bức thô bạo. – Tớ không hiểu ý cô ta khi mới đầu thì “chú chú” sau kêu “anh” tuốt luốt. – Nhân xưng đại danh từ đâu có nói lên sự kính trọng. Ngôn ngữ phản ánh văn hóa. Người mình hay chê là tiếng Anh tiếng Tàu nghèo từ xưng hô. Tớ thì tớ cho là một dân tộc càng có nhiều tiếng để gọi nhau chỉ phản ánh một sự độc tài, độc tài trong định chế xã hội nhưng đặc biệt hơn cả là độc tài trong tổ chức gia đình. Bởi vì cậu phải gọi người đàn ông là “cha” nên cậu không được quyền cãi lại những ý kiến có khi vô lý của “cha”. Có đúng thế không? Cậu có một ngàn cách để bẻ lại tuy nhiên khi phản bác ý kiến của tớ, cậu không biết mình đang đứng trong một phạm trù ngôn ngữ, nghĩa là bị ước lệ, để biện giải. Người ta hay nói mình có tôn ti trật tự, cháu thì phải thưa bác thưa chú, cái đó giữ cho gia đình có riềng mối, xã hội có luật lệ. Kỳ thật, những cái gọi là tôn ti trật tự đó chỉ là một sự áp đặt, một ước lệ thiếu duy lý, và bóp chết tự do cá nhân. Không phải vì Tây phương thiếu những cụm từ đó mà gia đình và xã hội tan rã, không… – Cậu nói nhiều quá. Hải mỉm cười nhưng mặt đăm chiêu. Dường như chàng đang chịu đựng một nỗi cô độc. Hải tiếp: – Khi tự do cá nhân bị bóp nghẹt thì con người không bao giờ vươn quá những điều kiện hiện hữu. Thịnh nói: – Tớ không hiểu cậu. Việc xưng hô có gì là mất tự do đâu? – Có chứ. Chẳng hạn một nàng dâu sẽ không dám bảo với bà mẹ chồng là ý kiến của mẹ thiếu cơ sở luân lý, mẹ chấp nhất từng cái nhỏ nhặt cỏn con trong khi nếu loại trừ những điều nho nhỏ ấy mẹ sẽ thấy thế giới này rộng vô cùng, thế giới này không phải chỉ có bốn góc nhà và chiếc xe hơi đâu. Nhưng mà nàng dâu sẽ không dám nói điều ấy chỉ vì cô ta kêu người đàn bà ấy bằng mẹ. Tuy nhiên, dẫu gọi bà ta là “mẹ” hoặc chỉ chữ “you” thì sự phán xét của cô ta về người đẻ ra chồng mình vẫn không thay đổi. Vậy mà ác thay cô ta chỉ có thể nói “you không đúng” chứ không thể nói “mẹ không đúng”. Tự do cá nhân hay con người thật của cô ta đã bị các ước lệ vắt quắt lại thành một dị hình khác. Con người đã bị xúc phạm thô bạo. – Tớ hiểu ý cậu. Cậu đã bị những danh từ hành hạ. Chắc thế. – Không hẳn thế. Con người chỉ có thể đối thoại thẳng thắn khi cùng ở một vị trí. Cũng như cậu đâu có thể đối thoại trực tiếp được với người không muốn nghe. – Vì thế mới đi. Thịnh đáp. – Cậu có đối thoại được với Cục Di Dân không khi cậu vẫn kêu họ bằng “ngài”. – Cậu thấy đấy!
Google images
Hải thấy. Phong trào chống thanh lọc đang dâng lên mạnh mẽ từ sau đợt thuyền nhân gồm 75 người đầu tiên về Việt Nam trong chương trình tự nguyện hồi hương. Sâu Róm có mặt trong đợt đầu ấy. Hôm chuyển trại từ Argyle qua Đầu Bạc, Sâu Róm ở lại, khóc dầm dề, bảo: “Cuộc đời tôi như thế đã hết rồi. Cái chút hy vọng tự do tôi nhường cho các cậu.” Hải nghĩ Sâu Róm chúc thật. Chỉ tiếc lời chúc không đúng một phần trăm thực tế vì trước khi chuẩn bị đánh nhau với Cục Di Dân giành tự do thì “nhân dân” đã dàn trận đánh nhau trước. Đánh nhau bằng tay, bằng chân, bằng cô lập. Người miền Nam, nghĩa là sống từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, rút vào ở chung một buồng. Họ vừa có vẻ ngạo nghễ vừa căng thẳng sợ hãi vì số người miền Bắc đông gần gấp mười. Có người xin chuyển qua trại Cape Collinson vì trại này dành riêng cho người miền Nam mà thôi. Có hôm Hải đọc một tờ báo Việt ngữ xuất bản ở nước ngoài. Chàng thấy tờ báo đăng lá thư của một cựu sĩ quan chế độ cũ kêu gọi đồng bào hải ngoại hãy cứu gấp ông ta vì ông ta đang phải ở chung với… Việt cộng! Nhu cầu cần đọc tin trong trại quá lớn nên chẳng mấy chốc ai cũng đọc được lá thư thống thiết này. Kẻ phẫn nộ chửi thề, kẻ cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ. Hải buồn bực sẵn, thêm cái lá thư khiến chàng ngao ngán. Hơn mười năm thống nhất, dù là sự thống nhất tạo bằng xương máu, đau khổ chồng chất nhưng con người vẫn đóng khung. Hải nghĩ cái biên giới chính trị còn độc hơn hầm chông thuốc độc, và có lẽ còn lâu lắm đất nước chàng mới thống nhất được.
Phần 11 Người đàn ông ở nước ngoài về làm ở trại trạc khoảng bốn mươi. Nước da ngâm ngâm lầm lì, môi lúc nào cũng mím lại như một thói quen. Con người ấy thoạt trông như có điều gì bí mật trên khuôn mặt nghiêm trọng, hoặc giả thì phải khoác bộ mặt nghiêm trang ấy để che đậy một sự bối rối trong lòng. Hải gặp ông ta lần đầu ở căn phòng phía sau niệm Phật đường. Ông ta tự giới thiệu là Bổng, làm cho Quốc Tế Xã Hội Vụ, tức International Social Service. Bổng nói năng thiếu mạch lạc, chuyện gì cần đào sâu thì ông ta nói phớt qua, chuyện gì nhỏ nhặt thì lại bàn kỹ. Tuy trả lời các câu hỏi của giáo viên khá trôi chảy, nhưng dường như ông ta thuộc loại người không phải sinh ra để quyết định (có thể Bổng quá cẩn thận chăng?). Dù sao Hải cũng công nhận thiện chí của Bổng khi một tuần ông ta vào trại hai hoặc ba ngày, những ngày kia làm ở trại khác. Bổng mang nhiều loại sách giáo khoa in ở Hà Nội, một số in ở Hoa Kỳ. Hai loại sách giáo khoa này khiến giáo viên nhức đầu không ít vì không biết nên theo loại nào. Hải xin phép Bổng tự biên soạn chương trình dạy theo ý muốn. Phần thưởng mà Hải cho đáng nhất là chàng có thể xuống khu trường học nằm cách các buồng một hàng rào. Khu trường học có cây cối, hàng rào vây quanh sát nhà dân để thỉnh thoảng Hải có thể thả mắt qua hàng rào kẽm gai, xuyên qua kẽ hở của những tấm sắt đen nhìn một ngách đời sống của người bên ngoài cho thơm lây cái tự do thèm muốn và ước vọng. Trong tình cảnh chờ thời và dạy học như thế, Hải nhận được lá thư của Phú kèn từ trại Chi Ma Wuan do Bổng đem vào. “Bạn thân mến của tôi. Đến nay, do có điều kiện thuận lợi tôi viết thơ này cho bạn. Đầu thơ tôi chúc bạn được bằng an, mạnh khỏe và công tác tốt. Sau gần một tháng ngày bạn đi, tôi mới được kêu chuyển trại. Tôi mừng vô cùng vì nghĩ cái trại sắp tới đời sống chắc không đến nỗi nào. Trước khi tôi đi tôi có động viên cái Mân nhưng coi bộ không ăn thua gì. Bạn biết không, từ ngày vào trại nó cứ lầm lầm lì lì không nói năng gì cả. Người ta cứ trêu nó là Mân điên nhưng tôi không muốn tin như thế. Để mình kể tiếp: Sau đó tôi ra tàu cảnh sát, nhìn qua bên phải thấy thành phố cảng đẹp ghê hồn bạn nhỉ. Ai dè bạn biết không bọn tôi bị chở đi hướng…trái, nghĩa là chỉ thấy núi và biển Hồng Kông càng lúc càng xa. Tôi tưởng bị trả về Việt Nam chứ. Nhiều người cũng tin như thế nên đã rục rịch triển khai một phương án đối phó. Rất may là bọn tôi chưa kịp hành động gì cả thì tàu đã cặp vào một hòn đảo lớn. Đảo đẹp vô cùng bạn ạ. Tôi cứ ước được đi dạo một vòng trên ấy thì có chết cũng thỏa. Vợ tôi thì ói mửa mật, nó không quen đi tàu cao nhanh như tàu cảnh sát. Riêng có cháu bé thì không hề hấn gì. Bọn tôi đi bộ từ cầu tàu đến trại mất mười phút. Trại nằm sát biển, một bên là núi. Tôi ở cái trại dưới chân núi tên là Chi Ma Wuan Hạ, một số người đi lên trại trên gọi là Chi Ma Wuan Thượng. Lúc bọn tôi đến, cũng có một số người từ hai trại Chi Ma Wuan chuyển vô đất liền. Chúng tôi hỏi mới biết bọn người này đến trước ngày 16 tháng 6, họ được chuyển qua trại tỵ nạn. Tôi gặp một số người quen trong đám này. Bạn nhớ Sơn gù không, tay chơi bass có thời ở đoàn mình. Nó đi ngược hướng mình, thấy tôi nó nhào ra ôm đại bị một tay ở Cục Cải Huấn gõ ba toong lên đầu. Nó gửi lời thăm bạn và chúc bạn phấn đấu tốt. Nhìn Sơn gù tôi thấy tủi hổ cho thân phận bọn mình. Tôi còn gặp một số gái mù được người khác dẫn đi trong đoàn Sơn gù (Tôi biết điều đó vì nghe bọn chúng bàn về cô gái khi đi ngang qua). Tội nghiệp, không biết cô ta làm gì qua đây, vì đôi mắt như thế thì ở đâu mà chẳng vậy, có thấy đời là cái quái gì đâu!
Google images
Hải ạ! Tôi kể cho bạn nghe những sự cố nhục nhã đã xảy đến cho vợ chồng tôi. Lòng tôi đau đớn vô cùng khi nghĩ đến điều này, có lẽ tương lai tôi cũng xin về Việt Nam thôi. Vợ chồng tôi được buồng trưởng bố trí cho ở trên một giường sắt ở tầng thứ ba. Buồng này nằm phía hướng biển, đêm đêm tôi có thể nhìn thấy những chiếc thuyền lơ lửng bên ngoài. Qua ô lưới rào, tôi hình dung cảnh sống tưng bừng ngoài kia rộn rã biết mấy. Có lẽ tôi đã sinh nhầm trong một cộng đồng thiếu văn minh, vị kỷ, bè phái và thậm chí còn dã man nữa. Ban trật tự ở đây quy tụ toàn bọn đầu gấu, du thủ du thực. Bọn chúng cấm hút thuốc trong buồng. Tôi bị một thằng bắt đứng kiểu cò bay một chân, hai tay giơ ngang, rồi bắt một lúc phải hút tám điếu thuốc cho đến ngất đi vì lỡ dại hút lén điếu thuốc xin bọn A Xòe trong phòng. Một đêm vợ chồng tôi đang ngủ, cháu Ly nằm giữa, tôi nằm ngoài. Một thằng đầu gấu, cũng cái thằng bắt tôi hút tám điếu thuốc một lúc, hắn tên Minh, leo lên giường. Hắn gí dao vào lưng tôi, bắt nằm day mặt ra ngoài, rồi…hắn làm chuyện đó với vợ tôi. Tôi không thể nào kể tiếp, tôi khóc đây… Bọn đầu gấu đánh đập tàn nhẫn những người dám kháng cự. Bọn chúng muốn lấy gì của ai là lấy, chính thằng Minh này đã hiếp gần tám chục, tôi nói tám chục cô gái nhẹ dạ khi mới chân ướt chân ráo vào trại. Nó bảo “Ngủ với anh đi rồi anh cho định cư”. Những người mới đến tưởng hắn là quan chức gì quan trọng vì hắn nghênh ngang trước mặt bọn A Xòe la hét, khi vỡ lẽ ra chỉ đành ôm hận mà thôi. Chính bọn Quản giáo A Xòe cũng khối đứa làm chuyện đồi bại đó. Cả trại ở trong không khí bàng hoàng sợ hãi, sự khủng bố đã lên cực điểm. Chúng tôi không có một thể chế nào bao che, những người dân mất nước ngậm nước mắt trong trái tim rỉ máu. Vợ chồng tôi cũng sống trong bầu không khí kinh hoàng ấy. Chúng tôi cùng ngượng ngập không muốn nhìn nhau. Lỗi tại tôi, một thằng chồng đớn hèn không bảo vệ nổi vợ mình, một thằng đàn ông ăn hại đái bát, tôi đã quá lo bảo vệ mạng sống bèo bọt của mình. Tôi… Có phải chính chế độ cộng sản đã sinh sản những đứa như thằng Minh không, đã sản sinh những con người hèn như tôi, suốt cuộc đời không dám kháng cự, suốt cuộc đời không dám ăn ngay nói thật, chỉ biết cúi đầu cam chịu, đến khi chết, có lẽ cái hèn đó cũng không buông tha mình, nó theo mình xuống địa ngục, để nếu đầu thai làm người Việt Nam nữa, cái hèn nó sẽ đi theo. Tôi đã muốn tự tử là việc can đảm nhất của người hèn, ấy thế mà tôi làm cũng không được. Tôi sẽ bỏ cháu Ly lại cho ai? Tôi viết thơ về nhà dặn đừng ai đi nữa. Chẳng thà sống trên đất nước mình, dù lắm điều xấu xa đê tiện nhưng những xấu xa đê tiện dù sao cũng được rải mỏng trên toàn đất nước, chia đều ra thì mỗi người chỉ chịu một ít mà thôi, còn ở đây mọi điều xấu tập trung lại trong một vuông đất nhỏ hẹp, cứ như là tinh hoa của bọn xấu đã qui tụ về đây, nổi bật sau hàng rào sắt và kẽm gai. Tôi đã làm đơn tình nguyện xin về Việt Nam. Trong thâm tâm tôi, Hải ạ, vẫn nghĩ nếu được đầu thai làm kiếp khác thì tôi vẫn muốn là người Việt Nam. Tôi thèm bát canh rau dầm cà, tôi yêu những con đường dài lặng lẽ, tôi yêu nỗi buồn phiền, cái buồn buồn của cỏ cây xứ mình. Tôi chúc bạn một lần nữa phấn đấu hoàn thành công tác tốt trên bước đường tìm tự do. Phần tôi, định mệnh đã an bài. Chào bạn thân của tôi. Phú kèn” Nộp lá đơn xin hồi hương xong, Phú kèn thấp thỏm chờ đợi. Gã hình dung ngày vợ chồng gã bế con mặc áo rách về làng. Tất cả vốn liếng vay mượn, dành dụm của Phú kèn đã tiêu ra cho chuyến đi. Hàng xóm sẽ cười khinh miệt kẻ thất bại là gã, sẽ cho gã là ngu xuẩn khi lại xin về một nơi ai cũng muốn đi. Gã sẽ sống ra sao trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy. Nhà nước sẽ không bao giờ tha thứ cho những người như gã, kẻ phản nước, phản dân, chạy theo bã phồn vinh giả tạo. Gã là tên Việt kiều lỡ vận, thành thế ai mà thương xót kẻ cùng đường ấy!
Google images
Phú kèn hình dung một ngày mai cực kỳ đen tối và đau nhức. Gã trăn trở, không còn thấy một lối thoát nào nữa. Buổi sáng, Phú kèn qua buồng kế tìm ông kịch tác gia Lê Khắc cố vấn. Lê Khắc là con người trầm tĩnh và kín đáo. Ông đi một mình, vợ đã lấy chồng khác trong thời gian ông bị tập trung cải tạo ở Thanh Phong, Thanh Hóa. Khi khai lý lịch ở nhà giam, Lê Khắc ghi: Họ và tên: Lê Khắc. Bí danh: không. Nghề nghiệp: Việt gian Tội danh: (để trống) Trú quán: vô gia cư Nguyên quán: vô tổ quốc Tình trạng gia đình: vô gia đình Trình độ văn hóa: vô văn hóa Công an chấp pháp đập ông một trận, lột mắt kiếng bẻ làm đôi, bắt khai lại. Nhưng Lê Khắc trước sau vẫn như một. Được thả sau 20 tháng cầm tù, Lê Khắc vượt biển, cái mắt kiếng gãy được ông ta chắp lại bằng keo, dính lỏng lẻo trên sống mũi. Ông lê la các buồng an ủi nạn nhân của bọn đầu gấu, trong đó có Phú kèn. Lê Khắc kể cuộc đời của ông ta cho Phú kèn nghe, bảo: – Cậu biết nhục thì còn lương tri. Ông ta gỡ mắt kiếng cận, chỉ vào chỗ gãy: – Chừng nào chân lý bị bẻ làm đôi thì ta phải sống để hàn nó lại. Lê Khắc khinh miệt bọn đầu gấu ra mặt. Chúng tức lập kế đánh ông một trận nằm liệt giường ba ngày. Ngày thứ tư, ông bảo những người tới thăm: – Chân lý còn bẻ đôi, ta còn sống. Ai cũng nghĩ Lê Khắc thuộc loại người gàn. Riêng Phú kèn nể tư cách ngạo nghễ của ông, biết người như Lê Khắc ôm hoài bão lớn. Đang đọc sách, thấy Phú kèn đến, ông bảo: – Ngồi đó, kẻ sĩ của thời đại trại giam. Tôi sẽ dắt cậu vào lịch sử. Lê Khắc gấp cuốn sách bằng chữ Tàu lại, lấy cọng kẽm làm dấu chỗ đọc dở, nói: – Cậu biết đây là cuốn gì không? Ông trì ngón tay lên bìa cuốn sách đọc: “Thống Sử”, những gì mà chính sử không chép thì nó nằm cả ở đây. Truyện chép thời nam Tống, vua thì u mê, quan thì gian ác. Tôi đọc mà cứ ngỡ là thống sử thời đại ta vậy. Cậu nghe cái đoạn nầy, một quan nha mắng một quan nha, tôi chỉ đổi ít chữ thôi nhé: “Muốn làm lãnh đạo giỏi thì trong tự điển lãnh đạo không có chữ nào gọi là lương tâm, phải gạt liêm sỉ, tập thói hung ác, xúi bọn giàu làm xấu để bắt chúng nộp tiền chuộc mạng, đứa nào chống thì đánh kỳ chết, đày lên rừng thông nước độc, đứa nào theo thì bắt chúng nạp vợ làm tin. Lãnh đạo giỏi mà còn chút lương tâm, liêm sỉ thì chỉ trị được nước trong thời bình, thời loạn ắt bị lật. Ấy là nguyên tắc của phép ngồi trên ăn trước. Lãnh đạo giỏi phải biết lật sấp lương tâm mà cai trị. Thế mới là thức thời” Lê Khắc vỗ tay cười lớn. Chưa bao giờ Phú kèn thấy ông cười như vậy. Bình thường ông kín đáo, vầng trán nhăn nếp suy tư. Cười xong, Lê Khắc nói giọng trầm ngâm cố hữu: – Cậu làm đơn xin về đấy à – Anh cũng biết? – Cậu quên tôi là nhà báo hả. Vả lại, bà con trong này biết nhau nhất cử nhất động. tôi hỏi thật: Cậu về vì cái vụ đó hay vì con đường mờ mịt. Phú kèn qua để tìm người tâm sự, không dè được Lê Khắc mở lời trước. Gã đáp: – Cả hai anh ạ.
Google images
Lê Khắc chế nước lạnh đun sôi từ ca nhựa ra chén. Cử chỉ thận trọng, mời Phú: – Uống tí nước. Cả hai, hừm, cả hai. Cậu về nước thì làm nên trò trống gì? – Em qua hỏi anh việc đó. – Cậu mau quên nhỉ. Thế cậu đi làm gì. Đói quá đi à, tôi chắc cậu không phải loại đó; thấy người ta đi mình cũng đi, cũng không phải; đời sống trong nước khó thở, không phải nốt, khó thở chứ không phải không thở được. Trả lời tôi, thành thật nhau nhé. – Em chỉ muốn ôm cái kèn thổi những gì mình muốn. Em biết mình mất tất cả nếu ở đây hay trở về. Nhưng đằng nào cũng là quê mình mà anh. – Cậu tự suy nghĩ lấy. Không ai cho mình chân lý. Cậu hãy “lật ngửa tư duy” ra mà trăn trở, tìm tòi. Với tôi, dứt khoát là không về, dứt khoát cũng không ở lại đây. Vài hôm sau, Lê Khắc đi tìm Phú kèn. Hai người ra đứng bên hàng rào, tì tay vô ổ lưới nhìn những hòn đảo mờ sương xa xăm ngoài biển. Ngay trước mặt họ là bãi cát gồ ghề đá. Một chiếc thuyền con đang neo vào bến đậu chờ khách, Phú kèn gợi: – Hôm qua em thấy anh trả cuốn “Thống Sử” cho A Xòe. – Ừ, tôi đã đọc xong. – A Xòe có vẻ trọng anh. – Cậu nghĩ thế? Bọn nó vẫn coi dân mình bằng một phần tư góc mắt. Một lũ hèn hạ ăn nhờ ở đậu, chạy trốn, mất phẩm giá. Thật không gì tàn mạt hơn nữa. Bầy chim hải âu nhảy tung tăng trên bãi biển. Lê Khắc lưỡng lự hồi lâu mới nói: – Tôi dứt khoát trốn trại. Điều này chỉ một mình cậu biết. Phú kèn bàng hoàng một giây. Người đàn ông đứng tuổi nầy không đùa giỡn bao giờ: – Anh trốn đi đâu? – Ra ngoài Hồng Kông, tìm đường đến nước thứ… Lê Khắc im bặt khi nhận diện một tên trong bọn đầu gấu đi lại. Hắn mặc áo ba lỗ bỏ vô cái quần bò chặt cứng, đầu sùm sụp nón tai bèo. Đôi mắt sau vành nón của hắn khiến Phú kèn run bắn. Lê Khắc bảo: – Mát nhỉ. Giá gì tắm biển được thì nhất. Tên đầu gấu đi thẳng. Phú kèn thở ra nhè nhẹ, hỏi: – Làm sao anh sống được ngoài Hồng Kông? Lê Khắc trầm ngâm: – Tôi biết không đơn giản. Nhưng hề gì, tôi còn sống được trong “bao tải” ở Thanh Hóa, tôi tin là Hồng Kông sẽ khá hơn “bao tải” cậu ạ. – Mà anh làm gì mới được chứ? – Vốn liếng của tôi chỉ còn cái đầu. Ừ, để coi. Lê Khắc lầm lì hoạch định phương án trốn trại. Ông đã dò hỏi, làm như chỉ vì tò mò, nhân viên Cao ủy và một thông dịch viên người Việt đến làm ở Chi Ma Wuan, con đường mà họ đã đến đây. Chỉ có hai ngả: một bằng tàu cảnh sát hay thuyền đi từ đảo Peng Châu, một đường bộ cắt núi (thấp) từ đường cái chạy đâu trên đảo này, đảo Lan Tau. Với khả năng đọc và nói tiếng Quan Thoại và Quảng Đông, ông lần dò hỏi thăm vài nhân viên Cải Huấn dễ tính về lối sống, cách sinh hoạt ngoài tự do. Lê Khắc đọc báo hằng ngày, tìm tòi và hình dung mạng lưới của xã hội Hồng Kông qua báo chí. Với đầu óc tinh tế và cực kỳ nhạy bén, ông từng bước hoạch định phương án trên cơ sở kiến thức thâu lượm được. Ông vững tin là mình sẽ thoát được hàng rào lưới, những cuộn kẽm gai lủng lẳng giăng bốn bề đến chim bay không lọt, và bốn trại canh ở bốn góc trại.
Google images
Từ khi biết ý định của Lê Khắc, Phú kèn ăn ngủ không yên. Gã thấy giống như chính gã sắp trốn trại vậy. Gã hình dung đủ thứ cực hình tra tấn man rợ mà bọn A Xòe và bọn đầu gấu sẽ dành cho Lê Khắc nếu ông bị bắt. Gã cứ đi giáp vòng hàng rào trại, túng quẫn như con gà bị nhốt trong chuồng. Hơi nóng từ một sân đổ bê tông bốc lên hừng hực, có khi gã thấy hoa mắt, e ngại nhìn những đứa trẻ bẩn thỉu đứng trốn nắng dưới mái hiên nước mũi chảy lò thò. Gã đi vòng vòng đến một hôm, cũng trưa nắng chang chang, Lê Khắc từ hướng kia đi lại chận đầu gã, bảo nhỏ: – Vào chỗ tôi uống tí chè. Những hộ ở buồng Lê Khắc tuyệt đại đa số là gia đình có con. Trẻ con, tuổi từ một tháng đến mười lăm làm nên một không khí náo động. Lê Khắc bảo: – Cái Vân bên cạnh vừa ủng hộ ít chè tươi. Uống cậu, hừm…Buổi tối lắm lúc ngủ không được vì vợ chồng nó cứ lục đà lục đục. Con vợ biết điều thỉnh thoảng “chè nước” để tôi thông cảm. Lê Khắc chỉ một thằng bé chừng mười tuổi, ngồi bên giường đối diện, hai mắt mở thao láo nói: – Con cái Vân đấy. Người choắt lại vì tối nào cũng phải coi bố mẹ “làm việc”. Ông thở dài nói: – Hai mươi lăm phần trăm là trẻ con vị thành niên. Chúng được nuôi nấng trong hoàn cảnh đổ mồ hôi này. Khi lớn lên, nếu không bị bệnh tâm thần thì cũng thành kẻ bất thường, thậm chí cả bất lương nữa. Hỡi ơi! Phú kèn đau đớn nhớ đêm nọ, cái Ly con gã bị đánh thức thình lình vì bàn chân đạp ra thình lình của tên đầu gấu. Con bé bật khóc the thé thấy bố mình nằm úp mặt một bên, còn mẹ mình nghiến răng chịu đựng. Con bé sẽ mang hình ảnh ô nhục của bố mẹ đến bao giờ? Lê Khắc cắ đứt dòng tư tưởng nhưng nhức của gã: – Cậu suy nghĩ về việc rút đơn tình nguyện hồi hương chưa? – Em chưa dứt khoát tư tưởng – Tôi không khuyên cậu điều gì trong hoàn cảnh này. Cậu thấy đó, số người lên thanh lọc về chỉ có ăn “cánh gà”. Cái cơ may được bao nhiêu phần trăm? Một! cho dù tôi ở trong số một đó đi nữa, tôi cũng không đi tiếp kiến. – Sao vậy? – Tôi chống lối làm ăn tắc trách phản động của chúng nó. Tôi không chấp nhận để người khác lục vấn tư cách của mình. – Vì thế… – Đúng. – Anh sẽ nói cho thế giới biết! Lê Khắc cười khinh miệt. Khuôn mặt xương xẩu toát ra nét dữ dằn ngạo nghễ: – Thế giới! Thằng mù trong phim “Hà Nội trong mắt ai” đâu cần biết thế giới này. Cậu hãy cho thằng mù cái máy chụp hình để nó chụp thế giới này. Thấy gì? Tôi chỉ làm bổn phận của một con người lương thiện biết tự trọng. Tôi sẽ xử tử thế giới bằng sự tự do của chính mình, do mình chọn lấy, không ai khác. Cậu hiểu chưa? Tiếng ca nhựa lóc cóc các dãy buồng. Mọi người lục đục lãnh cơm trưa. Phú kèn nói: – Em phải về lãnh cơm cho cháu. Lê Khắc nói: – Cậu lãnh đi, qua đây ăn với tôi bữa cơm trại cuối cùng. Một đứa bé nghếch đầu lên giường Lê Khắc: – Chú đưa ca cháu lãnh giùm cho Lê Khắc đưa ca và thau nhựa cho đứa bé, ông khòm mình chổng mông trên giường, đầu chúi xuống vì thằng bé thấp quá với tay không tới. Cái mắt kiếng sút ra rơi đúng vào cái thau nhựa.
Google images
– Chết chửa, chú khéo đấy, không lại không thấy đường thì khổ. – Cám ơn cháu. Lê Khắc đeo kiếng vào lại, chờ Phú kèn. Một chập thằng bé mang thức ăn về, nó khoe: – Hôm nay không phải ăn cánh gà chú ơi. Đậu phụ cơ. Phú kèn cũng vừa đến, gã báo: – Phải bón cho cháu. Hai người ngồi xếp bành trên giường. Phú kèn lo sợ ngó quanh quất: – Anh làm sao… – Cứ ăn. Đâu vào đấy cả rồi. – Em không dám nói gở, chỉ nghĩ dại anh có mệnh hệ gì. Khuôn mặt Lê Khắc nghiêm trọng: – Phải, nếu tôi gặp chuyện không may, cậu giúp tôi điều này được không, – Anh cứ nói. – Cái giỏ xách của tôi đấy. Chút xíu nữa cậu cẩn thận lấy cái bao thơ tôi để trong đó. Nếu tôi chết… – Xin anh… – Chết là cùng chứ gì. Nếu tôi chết, cậu tìm cách gửi nó cho nhân viên Cao ủy. Lá thơ tôi viết bằng tiếng Anh. Còn không nghe tin tức gì của tôi thì cậu cứ giữ lấy nó làm kỷ niệm. Phú kèn suýt bật khóc. Gã thấy như đang nghe một lời vĩnh biệt. Gã gật đầu lia lịa, mắt mờ lệ. Gã đút lá thơ trong bụng, không dám nói một lời từ biệt. Thình lình gã nói: – Em không có gì, xin kỷ niệm anh vật quý nhất phòng thân. Phú kèn lận trong túi ra chiếc nhẫn cưới. Lê Khắc lắc đầu cương quyết: – Tôi hiểu lòng cậu. Giữ nó mà lo cho vợ con, tôi đã chuẩn bị đủ. – Em biết thế… – Tôi dứt khoát không nhận. Phú kèn cười méo xệch, gã thấy mình bỗng thông minh hơn ngày thường. – Anh đừng vùng vằng thế kia, có thấy cái đám kia nó đang nhìn mình không. Em đi đây. Gã bỏ chiếc nhẫn trong ca nhựa khéo léo, rồi tụt xuống giường đi ngay. Vài người tò mò nhìn vẻ xúc động của gã. Lê Khắc bình tĩnh ngồi uống nước một mình. Ông xúc động trước tấm lòng của Phú kèn. Ông nhìn chiếc nhẫn vàng tây mỏng tanh nằm dưới đáy ca, lòng dào dạt cảm xúc. Nhớ sực ra thái độ bất thường của mình có thể gây chú ý, ông vờ lấy báo đọc. Những dòng chữ tàu nhảy múa. Chưa bao giờ Lê Khắc thấy mình thiếu tập trung đến thế. Hoàng hôn đã xuống ngoài kia. Trời tối mờ, rồi tối hẳn. Lê Khắc nhập vào đám đông đang xúm xít quanh cái ti vi màu trong trại. Ông thương cảm những bộ mặt hốc hác đắm nhìn cái màn ảnh màu. Ông thương những kèn cựa thúc đẩy nhau. Chương trình cuối đang hồi gây cấn. Những cảnh làm tình lãng mạn, những nụ hôn kịch tính trên màn ảnh. Lê Khắc rời đám đông, đi dạo như ngày thường ông vẫn làm. Khuất một ngọn đèn cuối trại, ông rẽ ngoặt đứng trong bóng tối. tim ông đập thình thịch. Ông đã tập làm quen với phương án trốn trại hàng tối, nhưng sao đến lúc hành động ông vẫn không tránh khỏi sự bức xúc. Ông chăm chú quan sát cái chu vi hàng rào vuông nhỏ ông đã cứa sẵn nhiều đêm trước. Chợt một gã đàn ông đâu trong buồng gần chỗ Lê Khắc đứng đi ra. Gã ngó dáo dác nhìn ông tò mò rồi đi thẳng ra sân trại. Tim Lê Khắc thắt lại. Ông lại lắng nghe, sửa lại mắt kiếng. Tiếng trầm trồ từ đám người xem ti vi vọng lại. Ông cho tay vào túi lấy cái kềm nhỏ cắt thép. Cái kềm lao công khổ trí ông lấy cắp được của đám thợ từ bên ngoài vào trại làm việc. Lê Khắc lại nhìn trước nhìn sau, rồi từ tốn đi lại sát hàng rào nhìn ra biển như vẫn làm mọi đêm. Ông dùng ngũ quan để phán xét đằng sau. Ông cắt, cắt vòng một ô vuông nhỏ sát đất, rồi lại đứng lên trầm ngâm nhìn ra biển.
Google images
Bỗng có tiếng hỏi từ xa: – Chú Khắc chưa đi ngủ đấy à? Hai đầu gối ông muốn quị xuống. Thực tình ông đã nghe tiếng hỏi này nhiều đêm rồi, người hỏi chỉ hỏi cho có hỏi, chứ đã quen mắt với cảnh thằng cha nhà…văn hóa khùng đứng một mình trong bóng tối. Chờ tiếng chân người hỏi đi xa, Lê Khắc lập tức cắt mạnh mẽ, gấp rút. Mồ hôi ướt rịn trán, ướt nhẹp tay. Lê Khắc cương quyết cắt lần cuối, nếu bị phát hiện ngay lúc này thì ông cũng tuôn qua lỗ chạy. Gã gác trại ở cái chòi canh ở góc trại sẽ đuổi theo, sẽ bắn. Mặc kệ, ông đã đến phút cuối, ông đã cưỡi lên lưng cọp. Lê Khắc ngửa người đút đầu ra trước. Không gian bỗng như ngào ngạt trải vô bờ trên mặt ông, cái hàng rào cao vòi vọi. Ông trườn lưng, xương sống cào cào vào lề bê tông đau điếng. Hai chân đạp mạnh, ông đã lọt ra ngoài hàng rào trại. Lê Khắc bẻ lại chỗ cắt, cằn người theo vệt đen của một cây cao hướng ra biển. Ông nhìn vô trại một lần chót rồi cắm đầu chạy băng qua cầu tàu. Đến chân núi, ông hối hả leo lên. Chạy, chạy! Lê Khắc băng qua đá, lên dốc, xuống dốc… Ông đã tìm ra con đường mòn dẫn vào trại. Đi cách con đường chừng một thước, ông giảm bớt tốc độ. Ông biết đường còn dài phải giữ sức. Vài căn nhà lá lưa thưa im như nghĩa trang. Ông thấy biển khi hiện ra xa xa khi biến mất lúc qua một gò cao. Ông nhìn thấy những ánh đèn chớp nháy của tàu bè. Ông đi miết, hai đầu gối bắt đầu mỏi. Nếu đúng hướng và chắc chắn là đúng hướng vì đây là con đường dẫn vào Chi Ma Wuan độc đạo, ông sẽ đến làng Bối áo chỉ non một giờ nữa. Tới ngã ba làng Bối Áo, ông rẽ phải để ra bến phà. Quả đúng như Lê Khắc tiên liệu, những ngôi nhà tầng đã hiện ra sau một ngã ba. Ánh đèn trắng ríu rít sức sống trên sườn núi sau những ngôi nhà ấy. Lê Khắc sửa áo, bình tĩnh đi như người dạo mát. Một con chó sủa inh ỏi khi ông đi ngang một căn nhà lợp ngói. Ông đã đến một con đường tráng nhựa vừa đủ hai chiếc xe chạy ngược nhau. Những hàng quán bên đường đã đóng, ngọn đèn trước cửa hiệu vẫn còn mờ, những ngọn đèn nghiêng nghiêng buồn bã trong đêm khuya đìu hiu vắng vẻ. Ông đi ngang qua một chiếc xe buýt sơn vàng đậu nghỉ đêm bên đường. Ông thấy trơ trọi quá. Cái ông đang tìm đã có, nhưng là sự hiện hữu cô độc ly khách trên đường vắng. Không một ai xung quanh chia sẻ nỗi niềm của ông. Lê Khắc ngồi xuống một phiến đá, những hàng cây cao rào rạt, sương đêm ướt đẫm… Ông ôm mặt khóc thổn thức.
Tôi đang ngồi ngoài hiên nhìn cảnh anh em xếp hàng lấy nước, tên y tá đi qua dừng lại hỏi:
– Sao anh không đi “nao” động.
– Dạ, tôi bịnh, mới đi bệnh xá bữa qua.
– Bệnh gì?
– Cảm sốt!
Tên y tá nhìn tôi một lúc rồi không hiểu sao, hắn ngồi xuống một gốc củi chẳng rõ ai để đó từ bao giờ.
– Trước anh ở đơn vị nào?
– Chiến Tranh Chính Trị!
– A, tình báo Xê-i-a!
– Không, không phải. Chiến Tranh Chính Trị không phải Cơ quan Tình Báo Mỹ, Xê-i-a, cán bộ hiểu lầm!
– Thế nó có phải “nà” Chiến Tranh Tâm “Ný” không? Cơ quan này ác ôn lắm!
– Cục Tâm Lý Chiến chỉ là một phần của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
– Khi còn ở Cục “Rờ” chúng tôi đã nhiều lần được đọc các tờ truyền đơn thay cho giấy thông hành do máy bay Mỹ ném xuống.
– Không phải máy bay Mỹ, Việt Nam đấy, cán bộ!!
– Ồ, Miền Nam với đế quốc Mỹ “nà” một, ai ném cũng vậy thôi! ·
Thấy tên này ấm ớ quá, tôi toan đứng dậy lỉnh đi chỗ khác, chợt hắn hỏi:
– Anh có biết, tại sao nhân dân Miền Nam không thích Cách Mạng?
– Cái đó, cán bộ nên hỏi thẳng nhân dân, tôi đâu biết!
– Họ bị cơ quan Chiến Tranh Tâm “Ný” của các anh tuyên truyền đó. Khi chúng tôi hỏi, vì sao bà con cô bác không hợp tác chặt chẽ với Cách Mạng, họ trả “nời”, ngày trước, họ nuôi heo, nuôi gà, trồng trọt hoa mầu, họ được bán tự do. Từ ngày Cách Mạng vô Miền Nam, muốn bán thứ gì, họ phải báo cáo với Ủy Ban Nhân Dân, nên họ không thích. Nhưng họ có biết đâu họ bị đế quốc và các anh bóc “nột”, còn Cách Mạng kiểm soát họ “nà” để bảo vệ tài sản chung của Nhà Nước!
Tên y tá nói tỉnh bơ, coi như lời nói của mình là chân lý! Thốt nhiên hắn nhìn thẳng vào mặt tôi, hỏi:
– Anh có biết vì sao Miền Nam thua không?
Tôi hơi sửng sốt vì câu hỏi đó, nhưng cũng cố tìm vài lý do để chứng minh:
– Chúng tôi thua trận, vì Miền Nam không có cấp lãnh đạo giỏi, lại chia rẽ, tham nhũng làm nản lòng các chiến sĩ. Người Mỹ đã bội ước!
Tên y tá lắc đầu:
– Không, không phải vậy đâu! Anh nghĩ cao xa quá, không sát với thực tế. Các anh thua, do chính các anh đó!
Tôi sửng mắt nhìn. Hắn nói tiếp nhởn nha:
– Các anh thua vì các anh có nhiều thứ phải giữ quá! Này nhá, các anh giữ vợ đẹp, con khôn, giữ tình nhân, giữ ô tô, nhà “nầu”, giữ tiền gửi ở Ngân Hàng, giữ công danh địa vị, nhưng các anh “nại” quên, không giữ mảnh đất đã nuôi dưỡng và cho các anh tất cả những thứ đó. Anh có nhất chí với tôi không?
Google images
– Cái đó, chỉ đúng phần nào thôi, cán bộ. Không phải tất cả các sĩ quan của Quận Đội Miền Nam lúc trước, ai cũng có của cải vật chất và công danh, địa vị như cán bộ tưởng. Chúng tôi chiến đấu vì lý tưởng Tự Do, vì Hạnh Phúc của nhân dân Miền Nam.
– Thế sao chúng tôi thắng? Tôi có được đọc báo chí của Miền Nam trước đây. Các anh cho rằng chúng tôi trước khi ra trận, được chích thuốc tăng kích để không sợ chết “núc” xung phong! “Nầm”, các anh đã “nầm”. “Núc” này, tôi cần nói thẳng cho các anh biết “ný” do nào đã khiến chúng tôi can đảm và thắng các anh. Nó cũng đơn giản thôi, chúng tôi đa số thuộc “nứa” tuổi nghĩa vụ. Sống mãi trong rừng, khổ quá! Phần thiếu thốn về vật chất, phần “no” sợ B52, chưa biết phút nào nó trải thảm trên đầu mình. Chúng tôi sống như đàn chuột chui rúc dưới hầm hố, trong rừng già u thẳm, chẳng có thú vui nào ngoài điếu thuốc, mà thuốc cũng thiếu. Mỗi tháng được cấp 5đ. Với số tiền đó, chúng tôi phải mua đủ thứ, nào kem đánh răng, bàn chải, xà-phòng, thuốc hút, hỏi sao đủ. Vì đời sống quá khổ cực như vậy, chúng tôi chỉ mong được tham dự trận đánh. Mỗi “nần” ra trận, mỗi “nần” chúng tôi quyết tâm: nếu chết, sẽ thoát khỏi đời sống quá gian khổ, khỏi phải ngửa tay cầm 5đ mỗi tháng, khỏi “no” sợ, hồi hộp, khỏi phải kiểm thảo mỗi đêm để xây dựng ý chí, đề phòng sự “chao đảo tư tưởng”, nản “nòng” của những người kém chịu đựng. Nếu thắng, chúng tôi sẽ được hết!
Tên y tá ngưng lại nhìn, như dò xét thái độ của tôi đối với quan niệm của hắn vừa phát biểu. Tôi cho rằng, hắn hơi chủ quan! Lúc này hắn đang ở cái thế thượng phong của người thắng trận, muốn nói sao cũng được. Tôi nói cho qua chuyện:
– Cán bộ thuộc ngành Quân Y đâu phải ra trận!
– Ai nói với anh như vậy? Ra quá đi chứ, vừa cứu thương vừa chiến đấu.
Toán lao động đã về. Những bước chân nặng nề, mệt mỏi kéo lê trên mặt đất. Tên y tá đứng dậy, xách túi thuốc đi, không nói thêm lời nào.
Lâm đến bên tôi hỏi:
– Cán bộ có đưa thuốc lại không?
– Hình như có, ông vào hỏi Giác xem?
Lâm đi vô nhà. Tôi lui cui tìm đồ đựng cơm vì bữa nay đến phiên trực. Từ trong nhà, tiếng Lâm vọng ra:
– Đắt quá, đắt quá! Chúng ta bị bóc lột rồi. Một vỉ Bévétine giá tới 50đ, trước đây chỉ 20đ là nhiều, lại còn cái này nữa, ối cha!
– Nè, ông Lâm, vách có tai đó. Ông nói vừa vừa chứ, chê đắt, khen rẻ, lần sau có ai ốm đau, nó bỏ chết đấy ông ạ!
Đúng là tiếng Mậu, có lẽ anh ta nói cạnh B. Trưởng, vì mọi sinh hoạt, tên cán bộ quản giáo đều biết, anh em nghi B. Trưởng đã báo cáo! Nhưng chẳng phải vì câu nói của Mậu mà Lâm bớt càu nhàu.
Bữa cơm trong Trại Cải Tạo lúc nào cũng vậy, nếu thỉnh thoảng có thay đổi cũng chỉ thêm tí thịt, tí cá! Trong những ngày tháng đầu, vấn đề ăn uống còn đỡ. Hơn nữa, họ còn tổ chức “căng tin” bán mì ăn liền, tương chao, thuốc lá, thuốc lào, xà-bông giặt v.v… Nếu ai có tiền, vẫn có thể sống ung dung, thoải mái! Nhưng số người mang theo nhiều tiền không bao nhiêu, vì phần đông tin vào chính sách 1 tháng theo Thông Cáo!
Google images
Hôm nay, Tổ tôi có nhiệm vụ đi lãnh thực phẩm cho C. Nơi lãnh thực phẩm, ngoài cổng chính, cách xa chỗ ở chừng trên 1 cây số. Chúng tôi kẻ mang quang gánh, kẻ đeo bị, lếch thếch kéo nhau đi. Trên đường, tôi gặp một người mang túi xách, ăn mặc sạch sẽ, bảnh bao, có vài người đi kế bên lăng xăng. Có quen một người trong số đó, tôi hỏi, chuyện gì vậy? Anh ta cho biết, bác sĩ Hoàng, con rể Luật sư Trịnh Đình Thảo được tha về. Đây, người cải tạo thứ nhất được tha, sau 2 tháng tập trung, chưa phải học tập chính trị ngày nào! Qua sự kiện ấy, có người lạc quan, có người bi quan. Những người lạc quan cho rằng, chẳng cần học tập, miễn mình có lý lịch tốt, ít nợ máu với nhân dân là về. Những người bi quan, nghĩ khác. Họ nói Bác sĩ Hoàng có gốc lớn, bố vợ là Trịnh Đình Thảo, sống ở Pháp nhiều năm, có ảnh hưởng nhiều đến chính giới Pháp, đã hoạt động tích cực để yểm trợ cho đường lối, chính sách của Cộng Sản nên mới được “chiếu cố” như vậy, chứ tụi mình, còn lâu!
Cuộc tranh luận kéo dài, chúng tôi đến địa điểm lúc nào không hay. Khi đến nơi, khu đất đã đông nghẹt người. Tôi gặp lại nhiều anh em quen, tù các khu khác. Chúng tôi quấn quít nói chuyện, hỏi thăm tin tức nhau. Tôi được biết Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Thanh Tâm Tuyền và Phan Nhật Nam đang ở khu B. Anh em còn cho biết cách đây mấy hôm, có một Đại úy chết vì bịnh cấp tính. Tụi Việt Cộng đem chôn người xấu số ở bãi cỏ, sát mé rào! Vì tình chiến hữu, anh em góp tiền nhờ một tên bộ đội đi công tác Saigon, đến báo tin cho vợ con anh Đại Úy biết. Hôm nay, người vợ mang 2 đứa con lên thăm mộ chồng, nhưng tụi nó không cho vô. Câu chuyện vừa đến đây, có tiếng nạt nộ:
– Mấy anh kia, vào đây!
Tên bộ đội lăm lăm cầm súng tiến về phía chúng tôi. Tôi nhanh chân đứng khuất sau chiếc xe tải chở đầy rau. Tên bộ đội lùa mấy bạn tôi vô căn nhà nhỏ gần đấy, dùng lời lẽ nặng nề xỉ vả.
– Mấy anh đáng tội chết, Đảng và Nhà Nước đã khoan hồng cho sống, còn được học tập cải tạo “nại” ngoan cố, không nghe “nời”. Bảo đừng “niên” hệ vẫn “niên” hệ. Mấy anh bố “nếu” bố “náo”, bầy nhầy, giết không được, nuôi khó chịu! Mấy anh “nà” đồ “thiếu văn hóa”!
A, tôi chẳng hiểu, tên bộ đội quan niệm thế nào là văn hóa? Hạng người như chúng có văn hóa sao? Bỗng có tiếng gọi tên tôi lãnh rau. Tôi đi ra phía cổng.
Huy giúp tôi xếp đầy 2 thúng rau muống. Tôi xỏ đòn gánh vào, thử cho cân. Từ thuở nhỏ, đây là thứ nhất, tôi gánh nên không biết vai mình có chịu nổi sức nặng gánh rau chừng 40 ký?
Trong khi chờ đợi về, tôi nhìn ra ngoài. Chiếc cổng mở rộng, tên gác đeo súng trên vai đi đi, lại lại. đó, độ mười thước, một người đàn bà vận bộ đồ trắng, đầu quấn khắn tang, tay cầm bó cúc Vạn Thọ và bao nhang, tay dắt đứa con nhỏ chừng 5 tuổi, bên cạnh đứa lớn hơn, cả 2 đứa trẻ đều buộc khắn trắng ngang đầu. Tôi thấy cặp mắt người đàn bà đỏ hoe, sưng húp tương phản với sắc da xanh mét của khuôn mặt. Người đàn bà dắt con tiến đến gần tên lính gác. Hắn dừng chân, bỏ súng trên vai xuống, cầm ngang như đe dọa.
– Thưa anh, cho phép mẹ con tôi vô thăm mộ một chút.
– Không được, Trên không cho! Tôi đã nói nhiều “nần” rồi, chị về đi, để tôi “nàm” việc.
– Xin anh thông cảm với hoàn cảnh của mẹ con tôi.
– Không thông với cảm gì hết, chị về đi!
Giữa lúc đó, Mậu đến bên, nắm tay tôi.
– Ông ơi! muộn rồi!
Tôi đặt gánh rau lên vai, bước đi. Hình ảnh người đàn bà và 2 đứa trẻ thơ ẩn hiện trong đầu, gây cho tôi nỗi buồn man mác. Chúng tôi về đến nhà lúc gần trưa. Tôi cởi áo nhìn, hai vai đỏ au như thoa phẩm.
Bữa cơm trưa, chỉ có một tô canh lỏng le. Đi lãnh thực phẩm mệt gần chết, về nhà lại gặp bữa cơm như vậy, hết muốn ăn. Tôi hỏi Huy.
– Canh gì như nước muối vậy ông?
Google images
Huy nói giọng buồn rầu:
– Có một con gà chết nấu cho 180 người ăn. Tụi làm bếp chả biết sao hơn, cho vào chảo ninh nhừ rồi chà tan. Có thánh cũng không chia nổi một con gà chừng 1.5 ký thành 180 miếng! Thế hồi hôm lúc ngồi chơi ở sân, ông không trông thấy tên “cối”, đeo một xâu gà trên ghi-đông sao?
– Tôi đâu để ý!
– Chắc đi xa quá, gà chịu không nổi, chết cha nó mấy con. Chúng nó thẩy cho tụi mình, mỗi C một con gà chết, lấy đồ tươi của tụi mình thế vào. Chơi cha không?
– Ai bảo buông súng? – Tôi nói mỉa mai!
Buổi trưa không ai ngủ được vì tiếng cãi nhau om sòm về chia chác thực phẩm. Vấn đề cân, đo, đong, đếm chưa bao giờ được anh em chú ý như vậy. Người chê non, kẻ chê già, người bảo ngon, người bảo không. Tiếng ồn ào như cái chợ nhỏ. Nhưng việc gì rồi cũng xong, dù xong bằng vui vẻ hay ấm ức!
Cơn mưa buổi chiều báo hiệu bằng một đám mây đen đang lởn vởn trên vòm trời. Hơi gió thổi dìu dịu đột nhiên cất mạnh làm rùng mình, thế là cơn mưa bắt đầu. Những hạt nước rơi xuống thưa thớt, dần dà dày đặc đổ xiên theo chiều gió. Tiếng sấm nổ âm vang sau mỗi lằn chớp sáng ngời. Từ trong nhà, tôi chạy nhanh ra sân đứng dưới giọt gianh. Nước mưa thấm vào da thịt làm tỉnh táo. Cơn mệt mỏi tan đi nhanh chóng. Dòng nước chảy xối xả, tôi mở nắp các thùng đạn hứng nước. Giặt giũ quần áo, bộ đồ thấm ướt mồ hôi khi sáng, xong tôi chà xà-bông khắp người, kỳ cọ cho trôi hết bụi đất đỏ. Tiếng nói cười thoải mái. Nhiều người tắm truồng, chắc họ nghĩ, đây thuộc thế giới đàn ông! Từ ngoài rào, có tiếng la qua mưa:
– Ai cho các anh tắm truồng? Mặc quần vào ngay!
Tên lính gác trùm kín áo mưa, nhòm vào, sắc mặt cau có. Mấy người chạy nhanh vô nhà như ánh chớp!
Thường thường mỗi tối có sinh hoạt sau khi B. Trưởng đi hội về. Các tin tức được phổ biến, không ngoài công tác lao động ngày mai. Nhưng chẳng hiểu sao, không khí buổi sinh hoạt tối nay có cái gì khang khác. Như thông lệ trước khi chấm dứt, B. Trưởng hỏi:
– Sau đây, anh em, ai có ý kiến gì không?
Một phút trôi qua, căn nhà im phăng phắc. Tôi thấy đôi môi B. Trưởng mấp máy, như định nói câu “buổi sinh hoạt chấm dứt”, bỗng có cánh tay giơ cao:
– Tôi, tôi có ý kiến!
Anh em quay về phía cánh tay xem ai? A, Chính thuộc Tổ 3. Anh vốn tính lầm lì, ít nói. Da ngăm đen, thân hình gân guốc. Anh thuộc binh chủng Biệt Động Quân.
– Xin mời! – B. Trưởng nghiêng mình về phía Chính.
– Tôi có vài điều thắc mắc, để mãi trong bụng không đành, nên phải nói ra. Thưa B. Trưởng, anh hãy trả lời trước anh em những câu hỏi sau:
1/ Vì sao tất cả những câu chuyện anh em nói chơi với nhau tại căn nhà này, cán bộ lại biết?
2/ Tại sao anh không đi lao động với anh em?
3/ Tại sao anh lợi dụng lúc anh em đi lao động, ở nhà anh lấy trứng, mỡ, bột ngọt thuộc khẩu phần chung để dùng riêng?
Tiếng nói gãy gọn khúc chiết, như được nghiền ngẫm từ lâu. Mỗi lời nói như một nhát búa chắc nịch. Dưới ánh đèn dù không đủ sáng, tôi cũng nhìn thấy da mặt B. Trưởng tái ngắt. Tuy nhiên, anh cố lấy giọng bình tĩnh:
– Tôi xin trả lời từng điểm một:
1/ Vấn đề cán bộ biết mọi sinh hoạt của anh em là do tôi. Nhiệm vụ của B. Trưởng, phải báo cáo mọi sự việc xảy ra trong nhà cho cán bộ quản giáo.
2/ Tôi không đi lao động vì chức vụ của tôi được miễn.
3/Anh có bằng cớ gì, cho rằng tôi lấy khẩu phần của anh em để dùng riêng? Xin nêu ra!
Google images
Đột nhiên, Chính đứng dậy. Hai tay nắm chặt như có ý tấn công B. Trưởng. Anh dằn giọng:
– Đồ khốn nạn! Tất cả những gì tao nói đều có chứng cớ. Tao đánh vỡ mặt mày bây giờ!
B. Trưởng ngồi im nhếch mếp cười:
– Anh có muốn về sống với vợ con không? Nếu anh tình nguyện bỏ xác ở đây, cứ việc đánh!
Không hiểu câu nói có mãnh lực gì mà trước đây một phút, Chính hung hăng là thế, tự nhiên xìu đi, tiu nghỉu ngồi xuống, chẳng nói thêm câu nào! Tôi thầm phục B. Trưởng đã cao tay, đánh ngọn đòn gió mà hạ đối phương ngã gục! Buổi sinh hoạt tan với những lời thì thào to nhỏ. Mọi người cảm thấy còn có cái gì vướng vất trong tâm tư, như chiếc nhọt mưng mủ, chưa vỡ!
Tối nay, tôi muốn được ngồi một mình, nhìn về vùng ánh sáng phía xa để suy tưởng. Đã hơn 2 tháng trôi qua, hơn 60 ngày sống mất tự do, sống trong lo âu, hồi hộp mỗi đêm nằm xuống. Tất cả những tính toán đã sai lầm. Tôi như con thú mắc bẫy, cứ quanh quẩn giữa những mắt lưới dày đặc. Cuộc thua trận bất ngờ, vô tư nhận xét, mỗi người dân Miền Nam, ít nhiều gì cũng có phần trách nhiệm. Chúng ta đã xử dụng tụ do như xử dụng trò chơi đu bay. Cuộc nhào lộn tuy đẹp mắt thật đấy, nhưng nào ai có thể biết trước được bất ngờ! Chỉ một cái nháy mắt, chỉ một ly sai lầm, dự ước có thể gây nên đổ vỡ, tang tóc! Nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về lãnh đạo. Lời phát biểu của tên y tá Việt Cộng bỗng nhiên vang dội trong đầu. Sự nhận xét đơn giản của hắn không phải hoàn toàn vô căn cứ. Nó cũng có cơ sở của nó! Trên một trận tuyến dài cả ngàn cây số, mỗi giờ, mỗi phút đều có chiến sĩ hy sinh, hay mang thương tích, trong khi đó, tại thủ đô cũng như các đô thị lớn, ngày đêm vẫn quay theo nhịp sống riêng rẽ, coi như cuộc chiến không thuộc về mình. Lúc này, tôi ngồi đây, giữa không khí oán thù, không phải để trách cứ, đổ lỗi, mà chính để tự mình nói lên lời sám hối!
Đã nhiều lần, tôi tiễn đưa các chiến hữu đến nơi ở cuối cùng, tại Nghĩa Trang Quân Đội. Những nấm mồ, chạy dài, thẳng tắp, ngang dọc, giữa một khu đất rộng rinh bao quanh bởi những ngọn đồi cao thấp, nhấp nhô như sóng biển.
Tôi đã được thấy những xác chết hôi thối, không còn ra hình thù con người, bầy nhầy bọc trong túi nylon. Tôi cũng đã nhỏ lệ và chứng kiến bao nhiêu cảnh khóc than, vật vã trước những chiếc quan tai phủ lá Quốc Kỳ với vòng hoa cườm có ghi hàng chữ: Tổ Quốc Ghi Ơn! Ôi, Tổ Quốc, một danh từ vừa thiêng liêng vừa trừu tượng, nó được biểu hiện ở trong mỗi con người tuy theo mức độ và trình độ hiểu biết về danh từ đó.
Tôi ngồi đây, trong vùng tăm tối này, hoàn toàn cách biệt với đời sống bên ngoài, cách biệt như hai thế giới, để suy nghĩ, dù biết rằng mọi suy nghĩ đều vô ích trước thực tế.
Có tiếng huýt gió từ đâu vẳng lại. Tiếng huýt gió run rẩy, lãng đãng trôi vào không gian thăm thẳm. Tai tôi đã được nghe nhiều âm thanh, nhưng chưa một lần tôi nghe tiếng huýt gió não nề như vậy. Tôi đoán, người đang rót vào tai tôi những âm thanh quyến rủ đó, chắc cũng có một tâm sự bi đát. Âm điệu lê thê, nghẹn ngào, có lúc nức nở như tiếng khóc không thành tiếng. Nó ray rứt, tiếc nuối một cái gì quá đẹp đã vuột khỏi tầm tay!
Tôi đứng dậy, lần tìm đến nơi phát ra thanh âm.
Trên gộc củi, một bóng nguời, hai tay khoanh gối, đang ngước mắt nhìn trời, vòm trời đầy sao. Tiếng huýt gió ngân dài rồi lịm dần vào tăm tối.
– Ông đi đâu, chưa ngủ sao?
– Ai đó?
– Minh đây!
– À, Minh, ông huýt gió hay quá vậy? Sao tối nay tôi mới được nghe!
– Buồn ghê ông ơi! Chưa buồn ngủ, ngồi nhớ nhà nên huýt gió tầm bậy cho vui.
– Ô, vui! Ông nói lạ vậy? Tôi nghe buồn đứt ruột!
Google images
Qua bóng tối, tôi nhìn thấy hàm răng Minh trắng ởn. Anh cười không ra tiếng. Minh vốn ốm yếu, bị đau phổi. Anh người miền Trung, cùng ngành với tôi, tuy không cùng Quân Khu. Tôi kiếm khúc củi ngồi xuống cạnh Minh. Chúng tôi ôn lại vài ba kỷ niệm lúc trước, nhưng sau cùng, vẫn trở về hiện tại, với những thắc mắc, lo âu có đấy.
– Ai ngồi đây?
Chúng tôi giật mình quay lại. Tên bộ đội vũ trang đã đứng sau lưng từ lúc nào. Hắn đi dép lốp nên không gây tiếng động. Tôi nhanh nhẹn trả lời:
– Dạ, chúng tôi ở B-30, nóng quá, chưa ngủ được!
– Đi vào ngay! – Tên bộ đội ra lệnh gay gắt.
Tôi vội kéo Minh đứng đậy đi vô. Căn nhà đã tắt đèn, tối như vực thẳm.
***
Đi lao động về, tôi cởi quần áo nằm nghỉ mệt, bỗng Trần Mộng Chu và Đổ Trọng Huề ghé thăm. Chu, nhà luật pháp kiêm nhà giáo, nhà thơ. Huề, nhà biên khảo, cả 2 đều “Bò Lục” [Bò Lục = Đại Tá. Danh từ này, anh em dùng để hiểu riêng với nhau, vì Việt Cộng không cho gọi qua cấp bậc cũ].
Chu nói:
– Ông này, tôi mới làm được mấy bài thơ, lúc nào rảnh, đọc ông nghe.
– Sống trong hoàn cảnh này, ông còn làm thơ được sao?
-Việc đời kệ nó chứ? Thơ của ta mà!
– Sao, ông Huề, có tin tức gì mới không? – Tôi quay về phía Huề hỏi.
Cặp mắt Huề long lanh:
– Tên cán bộ quản giáo khu tôi cho biết sắp học tập chính trị đó!
– Thật sao? Tôi đã nghe tin đó cả chục lần rồi! Khó tin quá!
Huề chưa kịp trả lời, Chu đã kéo tay Huề đứng dậy đi ra, vì tiếng kẻng khua vang, báo giờ cơm!
Tin sắp có học tập chính trị được loan ra nhanh chóng như dòng điện. Moi người đều phấn khởi. Không khí trong nhà thay đổi hẳn.
– Này B. Trưởng, anh dò hỏi cán bộ quản giáo xem sao?
Nhân dịp này, B Truởng làm le với anh em, sắc mặt lanh lùng, ra điều quan trọng.
Vừa lúc ấy, tên quản giáo đi vô. Mọi người đều im. Ai cũng hy vọng hắn sẽ nói về vấn đề học tập chính trị! Nhưng không, hắn bảo B. Trưởng:
– Tối nay, Trại lại tổ chức chiếu phim. Đúng 6 giờ chiều, cho mọi người tập họp đi xem.
Khác với mọi lần, hắn ngồi xuống mép ván. Một vài người sán lại gần, gợi chuyện, men lần đến việc học tập.
– Các anh cứ an tâm. Chính sách của Đảng và Nhà Nước “trước sau như một”. Sớm muộn gì cũng học thôi!
Nghe câu trả lời, thấy nản qua, anh em lãng dần.
Tên quản giáo nói nhỏ chuyện gì đó với B. Trưởng, rồi đi ra.
– Cho xem phim thì được, chứ bắt làm “thu hoạch”, ngán bỏ mẹ! Chán ghê, chán ghê !
Mậu vừa nói vừa ngáp.
Quanh quẩn đã đến giờ lao động chiều. Dưới ánh nắng đổ lửa, từ trong bóng mát nhìn ra thấy chán nản. Nhưng dù muốn, dù không, mọi người vẫn phải đi, tuy lao động nơi đây chỉ là công việc tạp dịch, linh tinh. Dưới sức nóng, mồ hồi tôi vã ra như tắm, dù chưa lao động. Chiếc mũ vải như bị hơ trên lò lửa, ôm chặt lấy khuôn đầu, làm tôi cảm thấy nhức nhối! Chiều nay, Tổ tôi được phân công phụ trách làm cỏ hai bên lộ đá, ngay trước căn nhà quản giáo. Tổ di chuyển ra phía cổng. Mọi người dừng lại, để Tổ Trưởng báo cáo số người cho tên lính gác. Nó gật đầu cho đi. Chúng tôi đi từng bước uể oải đến nơi làm việc. Từng nhát cuốc nặng nề bổ xuống tung bụi đất mà cỏ không đứt rễ. Loại cỏ củ ấu mọc chắc lắm, rễ ăn rất sâu, cuốc lơ mơ không sao bứng lên được
Google images
Mười người làm suốt buổi chiều, không cuốc xong đoạn đường dài khoảng 20 thước. Những tên bộ đội qua lại, thấy chúng tôi làm việc lơ mơ cũng chẳng nói gì. Cuốc vài nhát, lại chống cuốc nhìn trời, tán láo.
Nhưng rồi việc gì cũng qua đi, tiếng kẻng tan tầm, làm ai nấy vui mừng, tập họp đi về. Cũng như lúc đi, khi về chúng tôi cũng phải dừng lại nơi trạm gác để Tổ Trưởng báo cáo.
Vừa về đến nhà, mọi người đổ xô đi tắm. Mỗi người, tay xách một thùng đạn dội ào ào. Tắm xong, mặc quần áo khác, bộ đồ lao động để vào một nơi, chờ mai dùng lại.
Cơm nước xong, anh em ngồi tụ tập mỗi nhóm dăm ba người chờ giờ đi coi phim. Tôi sực nhớ bữa nay, thứ Bẩy. Những tháng trước, vào ngày giờ này, Saigon vui lắm. Các đại lộ tràn ngập xe cộ, mầu sắc. Biết bao nhiêu dung nhan kiều diễm diễn hành trên các vỉa hè Lê Lợi, Tự Do? Có bao nhiêu hò hẹn vào mỗi dịp cuối tuần? Thành phố như đẹp hẳn lên trước sức sống tràn trề quá dư thừa vật chất. Nay cũng chiều thứ Bẩy, chúng tôi ngồi đây, áo quần nhầu nát, chờ xem phim bố thí.
Anh em tập họp. Tiếng B. Trưởng từ trong nhà vọng ra. Chúng tôi đứng hàng ba. Lần này không có tên cán bộ quản giáo dẫn đi, B. Trưởng thay thế. Chúng tôi đến địa điểm cũ. Tên quản giáo chờ sẵn đó, chỉ cho chỗ ngồi. Vẫn ngần ấy phong cảnh. Anh em có vẻ nản, nhưng bắt buộc phải tham dự. Nếu có thể nại cớ ở nhà được, tôi chắc sẽ ở lại phân nửa. Nhưng có điều anh em yên tâm, vì không nghe nói tới vấn đề “thu hoạch”. Trời vừa đổ tối, tiếng nói từ loa phóng thanh oang oang:
– Ban Chỉ Huy Trại, tối nay hân hạnh chiếu hai cuốn phim. Một cuốn thời sự nội dung hướng về “ngày lễ Đại Thắng của Quân Đội Cách Mạng”. Cuốn thứ hai, phim thần thoại của Liên Xô mang tựa đề “Trẻ Mãi Không Già”, nhằm mục đích để giải trí cho các cấp cán bộ và để cho các anh cải tạo có dịp học tập !
Màn ảnh sáng rực. Hình ảnh cuốn phim thời sự hiện lên cùng những lời giải thích. Hàng đoàn T54 tiến vào thành phố Saigon với lớp lớp bộ đội cầm AK, B40 chạy lúp xúp theo sau ở hai bên lề phố. Cổng Dinh Độc Lập bị chiếc T54 ủi đổ nghiêng. Lá cờ giải phóng bay cao trên nóc Dinh. Cảnh dân chúng Saigon nô nức xem “quân Giải Phóng”. Cảnh Tôn Đức Thắng, Chủ Tịch nhà nước và Bộ Chính Trị Đảng đứng trên lễ đài, tràn ngập cờ sao. Không muốn nhìn mãi cảnh đau lòng, tôi nhắm mắt lại, nhưng tiếng nói dẫn giải vẫn vang vang trong đầu. Mỗi hình ảnh, mỗi tiếng nói, như một mũi nhọn cắm sâu vào tự ái, dù hôm nay, tôi đã thuộc thành phần thua trận và đang bị giam cầm dưới hình thức học tập cải tạo.
Từ lúc ấy, tôi không xem phim nữa, quay mặt nhìn nơi khác, hoặc gục đầu xuống gối. Trong tôi, dâng lên sự uất ức khó tả. Hai dòng lệ trào ra tự lúc nào. Vì quá đông, nên không ai để ý. Cứ thế tôi suy nghĩ một mình, dù xung quanh có đông đảo anh em cùng chung cảnh ngộ.
Tiếng vỗ tay rào rào. Mọi người đứng dậy, tôi làm theo. Có tiếng nói thì thào bên tai:
– Phim dở ẹc, thua đế quốc xa. Có mỗi đoạn hay và đúng, đó là cảnh “Vương Quốc Nói Dối”!
Tôi đoán, chắc anh em nói về cuốn phim “Trẻ Mãi Không Già!”. Vì không xem, nên tôi chẳng có ý kiến.
Con đường trở về cũng y như đêm trước. Chúng tôi đến nhà khoảng 9 g 30 tối.
– Đúng, “Vương Quốc Nói Dối”! Hay, hay thật!
Mậu vừa nói vừa cười, hỏi:
– Ông có đồng ý với tôi không?
Tôi trả lời rằng vì nhức đầu quá nên không coi.
– Uổng, uổng quá ông ơi! Như vậy, ông không được nhìn thấy “Vương Quốc Nói Dối” rồi! Nhưng nó cũng xêm xêm như đây vậy.
Tôi biết tính Mậu vốn thẳng thắn, muốn gì cứ nói, mặc kệ hậu quả.
– Sao, B. Trưởng, có phải làm thu hoạch không?
Google images
– Không.
Tiếng vỗ tay đôm đốp tỏ vẻ khoái chí.
– Đù mẹ, nếu phải làm, đếch biết viết ra sao?
Lần thứ nhất tôi nghe thấy tiếng Hoài (Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn F5, đã từng làm mưa, làm gió trên vùng trời vĩ tuyến Gio Linh – Bến Hải). Anh cao lớn, nhưng tính nết lại hiền hoà như con gái. Hôm trước, trong lúc nói chuyện vui, tôi hỏi, sao khộng vọt? Anh cho biết, vì không có tàu, vả lại, cũng chẳng thích Mỹ, vì Mỹ đã đâm sau lưng Đồng Minh.
– Thôi, thà nhục với kẻ thù, còn hơn phải đối diện với người bạn phản bội!
Những chiếc mùng đã buông kín. Vài người không quen ngủ sớm, ngồi hút thuốc lào vặt, nhỏ to tâm sự.
Tôi nằm, mắt vẫn mở chong chong. Tuy không muốn nghĩ, nhưng sao tâm trí tôi vẫn quẩn quanh, chập chờn từng hình ảnh của cuốn phim thời sự. Tôi nghĩ đến bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu hy sinh trong mấy chục năm, chỉ có 58 ngày đêm đã tan vào ảo ảnh! Sự tan rã bất ngờ của một Quân Đội với cả guồng máy tổ chức khoa học và hiện đại nhất trong vùng Đông Nam Á. Quân Đội Miền Nam không thiếu những đơn vị cũng như cá nhân dũng cảm. Chỉ vì một qụyết định lỡ lầm của vài người, làm cả Miền Nam sụp đổ. Sự thật, không phải Miền Nam có tiềm năng dồi dào, có tinh thần cao, có ý chí chiến đấu để khuất phục đối phương một khi người Mỹ đã bỏ Miền Nam, nhưng muốn đánh ngã nó, Việt Cộng, cũng không dễ dàng chiến thắng như vậy ! Sự chiến thắng của Việt Cộng hoàn toàn do ngẩu nhiên vì Quân Đội Miền Nam không chấp nhận giao tranh, ngoài mấy trận như Phan Rang, Xuân Lộc. Riêng mặt trận Xuân Lộc, Việt Cộng đã dùng 3 Sư Đoàn thiện chiến nhất định đè bẹp quân Dù và Sư Đoàn 18 cùng các đơn vị phụ thuộc có trách nhiệm cản đường tiến quân của Cộng Sản vô thẳng Saigon. Nhưng chúng đã thất bại, thiệt hại rất nhiều quân số sau mấy ngày đêm giao tranh. Cuối cùng, chúng phải đi vòng, băng qua Đồng Nai để tiến chiếm sân bay Biên Hòa và thọc sâu nữa! Hình ảnh những chiến sĩ Dù đứng oai nghiêm, theo lệnh của vị sĩ quan chỉ huy, từ từ bỏ mũ, hạ súng, cởi quân phục đầu hàng, đến bây giờ còn làm tôi xúc động! Có người ôm mặt khóc. Có người mắt quắc lên, nghiến răng như uất hận. Một tiếng súng nổ dòn, ngắn. Một thân hình đổ xuống. Bộ đồ hoa ôm gọn xác người sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi.
Ôi! các Thiên Thần Mũ Đỏ, trong mấy chục năm chinh chiến, các anh đã tung hoành, đã giáng cho địch những đòn chí tử, trên khắp các mặt trận quê hương. Các anh đã đem xương máu của tuổi thanh niên để gìn giữ từng thước đất Tổ Quốc. Binh chủng Nhẩy Dù, binh chủng thiện chiến nhất, dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng hôm nay, không hiểu vì lý do nào, khi tác chiến, giữa những giờ phút cam go nhất của lịch sử, các anh lại mang quần áo dân sự bên trong bộ đồ hoa tác chiến? Như vậy, cái lý do vì sao Miền Nam thua trận đã rõ!
Tôi không được chứng kiến sự tan rã của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến trong trận chiến cuối cùng, một binh chủng cũng mang nhiều thành tích oai hùng, tuy tuổi chinh chiến chưa được bao nhiêu, nhưng tôi chắc nó cũng thê thảm không kém! Và còn nhiều đơn vị khác, mỗi đơn vị đều có thành tích riêng, bỗng nhiên sống lại trong tôi như bức bích họa vĩ đại, hoen ố đầy máu và nước mắt!
Xung quanh đã có tiếng ngáy đều đều, xen kẽ tiếng thở dài nhè nhẹ. Tôi biết có người chưa ngủ được. Một đốm lửa loé lên. Tiếng rít thuốc lào trong đêm khuya như lời rên ngắn ngủi!
Thời gian trôi rất chậm. Tôi cố nhắm mắt đi vào giấc ngủ nặng nề, mệt mỏi!
Khi thức giấc, ánh nắng đã lên cao. Hôm nay chủ nhật, không lao động. Những người dậy sớm đã ăn sáng xong xuôi, đang ngồi uống nước, hút thuốc.
Từ ngoài đi vào, Phát nhìn tôi cười:
– Ông ngủ say ghê! Tối qua chắc mệt, ông lại mơ, hét vang nhà. Tôi lay, ông cũng không tỉnh. Cẩn thận, đau ốm ở đây khổ lắm đó!
Google images
– Ừ, đêm qua nhức đầu quá, từ lúc xem Ciné cơ mà!
Tôi đứng dậy cuốn mùng mền rồi kéo điếu thuốc lào. Điếu thuốc sáng nay, mới rít được nửa hơi, đã ho sặc sụa. Tôi biết, đêm qua mất ngủ, trong người mệt, phản ứng có thể làm cho ho. Điếu thuốc buổi sáng nay không có chút hiệu năng nào để gây cơn say thường lệ. Các khớp xuơng đau nhừ. Cũng như mọi chủ nhật, anh em ở các khu đi thăm nhau, vì không ở chung chỗ. Trên con lộ đất nhiều người qua lại, căn nhà tôi ở vui nhộn tiếng nói cười. Tôi nhìn, người nào cũng tươm tất, mày râu nhẵn nhụi. Tất cả những khuôn mặt hiện diện trong vòng đai doanh trại nay, đều đã nắm những chức vụ khá quan trọng trong guồng máy chiến tranh trước đây. Họ tuy không có quyền quyết định tuyệt đối, nhưng sự thắng bại phần lớn đều do họ. Họ là Trung Đoàn Trưởng, Thiết Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Trưởng, Hạm Trưởng, các Trưởng khối, Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Phụ Tá v.v… Nhưng hôm nay, đều hiền lành và có vẻ nhẫn nhục, cam chịu những gì định mệnh đã đành cho họ trong hiện tại cũng như tương lai. Nói vậy, không có nghĩa tôi đã nhìn thấu suốt tâm can họ, nhưng qua câu chuyện và thái độ, đã cho tôi nhận định một cách rõ ràng, mọi người đều cố gắng tỏ ra mình vô tội, không có nợ máu với nhân dân, để có thể sớm được tha về như trường hợp Bác sĩ Hoàng, con rể Trịnh Đình Thảo. Hình như họ không mong muốn gì hơn, ! Tất cả những vinh quang của chiến trường khi trước, họ muốn nhận chìm xuống, càng sâu càng tốt để che giấu thực chất của quá trình bản thân.
Sự bốc đồng, ăn to nói lớn của Mậu hay của ai nữa, cũng chỉ để che giấu sự lo sợ thầm kín của mình trước viễn ảnh không mấy rực rỡ. Sự thực này cũng đơn giản thôi, vì bây giờ họ chẳng còn gì ở phía trước, cũng như phía sau, thực tế làm họ mất tin tưởng. Do đó, họ chỉ còn trông mong vào sự khôn ngoan của chính mình để vượt thoát được những khó khăn do hoàn cảnh đẩy tới.
Sau bữa cơm trưa ăn vội vã, tôi lăn ra ngủ, giấc ngủ bù đêm qua.
– Này, đậy đi chứ! Ngủ kiểu này, tối ông lại thức, hút thuốc sòng sọc, ai ngủ được?
Phát đánh thức tôi. Tôi vặn người qua lại mấy lần, trước khi ngồi lên. Nhìn ra ngoài, bóng mát đã ngả dài gần tới luống khoai. Hàng chục người đứng lố nhố, kẻ cầm xẻng, người cầm cuốc. B. Trưởng đứng gần đấy, đang giơ tay chỉ chỏ vào các luống khoai. Những nhát cuốc vung lên, lấp lánh dưới ánh nắng. A, luống khoai được dỡ . Tôi thầm nghĩ, khoai hãy con non quá, mới trên 2 tháng làm sao thu hoạch? Tôi đứng lên, đi ra ngoài, đến bên luống khoai. Sở dĩ, tôi chú ý đến nó, vì tôi có đóng góp công sức lao động trong ngày đầu. Nhũng củ khoai nhờn nhợt bé bằng ngón tay được moi lên dần dần, có vài củ to bằng cườm tay đứa trẻ. Tôi chẳng hiểu vì lý do nào và ai đề xuất việc dỡ luống khoai, thực tế không phải vì đói. Sau chừng hơn 1 tiếng đồng hồ đào bới, số lượng khoai thu được chừng một rổ nhỏ, nếu chia đều cho 30 người chưa chắc đã đủ. B. Trưởng đang nhìn đống khoai, bỗng sửng sốt khi chợt thấy một tên Việt Cộng to lớn, người chắc nịch, sắc mặt hầm hầm, đứng bên cạnh từ lúc nào.
– Ai cho các anh dỡ khoai? Các anh xin phép chưa?
B. Trưởng mặt nghệt ra như đứa bé con bị bắt quả tang ăn vụng.
– Dạ, thưa cán bộ, chúng tôi dỡ đi, trồng mì!
– A, anh nói dễ nghe nhỉ? Tôi nói cho các anh biết, tất cả những gì ở Trại này đều thuộc nhà nước Cách Mạng quản “ný”, từ ngọn rau “ná” cỏ, các anh biết chưa? Nếu các anh có “nao” động “nàm nuống” khoai, bãi sắn thì cũng thuộc về tài sản của Trại! Ai nuôi các anh ở đây? Các anh sống nhờ cơm gạo của ai?
Mọi người đều đứng ngay như khúc gỗ. Nói một hơi, chắc hả cơn giận, tên Việt Cộng xuống giọng:
– “Nần” này tôi tha,nần” sau muốn gì phải xin phép, hiểu chưa ? Hãy “nàm nại” các “nuống” khoai như trước.
Nói xong, nó bỏ đi. Những nhát cuốc lại vung lên. Các luống khoai lại thành hình. Dây khoai được vùi xuống vội vàng.
Google images
– Đù mẹ, có mấy củ khoai như cu trẻ con thế nay mà bị nhục, chả bõ!
– Ông rắc rối lắm! Khi chưa dỡ, ông là người hăng hái nhất, sao lúc này xìu vậy?
Tôi chán không muốn nhìn và nghe ai cãi với ai, quay nhanh vào, kiếm nước tắm. Tôi cầm thùng nào lên cũng nhẹ hẫng. Tôi biết, trong lúc ngủ, ai đó đã đỡ nhẹ để tắm trước. Câu chuyện lấy nước lén của nhau trở thành vấn đề thời sự! Ngày nào cũng có cãi lộn và chửi bới tục tằn về chuyện nước. Đứng trước việc đã rồi, tôi tự nhủ, mai tắm cũng chưa chết.
Ánh nắng đã tắt. Toàn thể cảnh vật xung quanh Trại đượm sắc thái thanh bình. Ngọn đồi trước mặt vì hàng cây thưa, chiều nay có đám khói trắng bốc cao. Làn khói bay xiên xiên theo hướng gió. Tôi nhìn, nhìn đăm đăm, để tưởng nhớ đến nhiều buổi chiều dĩ vãng, tôi cũng đã nhìn, trên đường đi công tác tại những vùng núi rừng Dalat hoặc Pleiku cùng nhiều nơi khác, khắp giải quê nhà. Buổi chiều miệt Long Giao, xung quanh, rừng cao su xanh ngắt. Một đàn vạc ăn đêm, xoải cánh phía xa nhịp nhàng. Vài ngôi sao lấp lánh trên vòm trời thăm thẳm màu nhung. Cảnh vật có đó, vẫn cảnh vật quen thuộc từ xưa, sao lòng người không hòa chung một nhịp ? Cảnh vật và con người đôi khi cũng trở thành xa lạ, chẳng có chút liên hệ nào trong thực tại. Buổi chiều nay, tôi ngồi đây, nhìn cảnh vật này, tôi nhận biết có nó và tôi, nhưng không có sự liên hệ nào ngoài hình thể cũng như màu sắc. Cũng chỉ ít phút nữa thôi, bóng tối sẽ xóa nhòa tất cả. Tới lúc đó, giữa nó và tôi hoàn toàn cách biệt. Nếu có nghĩ tới, cũng chỉ là nghĩ tới sự bủa vây, cầm giữ, giữa một chu vi hạn hẹp, kìm chế Tự do!
Có tiếng gọi, tôi quay nhìn, thấy Phạm Văn Sơn.
Tôi hỏi:
– Sao, nhà viết sử, có gì lạ không?
– Tụi Cộng Sản phi nhân thực ông ạ! Ông Đại Tá Cẩm bị bệnh trĩ mãn tính, nằm đâu ỉa đái đấy, khổ quá!
– Ai dọn?
– Còn ai nữa. Tôi phải rửa ráy, giặt giũ hết. Chiều nay, tôi vừa chửi tụi Cộng Sản một mách. Tôi nói thẳng cho tên cán bộ biết, Hà-nội ăn cắp tài liệu của tôi để viết sử. Nếu không ăn cắp, sao không ghi chú, trích dẫn ở đâu? Tên cán bộ cãi lại, cho rằng tôi vu khống, không bao giờ Hà-nội chịu làm công việc đó. Giận quá, tôi nói: “Anh không phải thành phần nói chuyện với tôi. Người có thể nói chuyện với tôi là cấp lãnh đạo của anh như Trường Chinh, Xuân Thủy chẳng hạn!”. Tên cán bộ nghe vậy, dằn giọng: “Nếu ngược lại, người nói câu vừa rồi là tôi, chắc anh đã cho cái tát rồi. Nhưng anh đã già, tôi không nỡ!” Nói xong, hắn đi cái một.
Sơn, con người tương đối dám nói thẳng. Anh đi học tập cải tạo cùng 3 con trai và 1 con dâu. Một gia đình có tới 5 người đi cải tạo, quả hy hữu. Chúng tôi ngồi ngoài sân tâm sự tới giờ ngủ. Sơn, vị “Bò Lục” duy nhất đã khẳng định, chúng ta bị đánh lừa, việc học tập cải tạo này chỉ là hình thức giam cầm vô hạn định!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.