Lê Đại Lãng
Post by Sơn râu 8 May 2024

9. Phần 9
Mười hai ngày trôi qua trên thành phố ma. Cơ thể họ đã cạn kiệt sinh lực. Họ không còn sức để nói với nhau nhiều như trước. Mấy hôm đầu, Hồng lão nhường cho ít cháo, nhưng càng ngày thì lượng cháo càng ít dần vì chính Hồng lão cũng không có ăn, mỗi người chỉ đủ một chén lưng. Hằng ngày, Hải và Dũng thay phiên nhau ra ngồi trên bãi vắng, mắt đăm đăm nhìn ra biển ngóng một chiếc thuyền tỵ nạn nào đấy tạt vào. Đêm, họ đốt lửa sáng một góc núi, vừa sưởi ấm vừa làm tín hiệu cấp cứu. Cơ thể họ sắp trở thành bốn ông lão quên lối về. Tóc đã dài chấm vai, mắt thụt vào sâu bằng hai vỏ ốc chết trơ vơ trên bãi, áo đã mủn, quần đã rách, còn lại là da thịt chen màu đất chết. Hai nhánh cây làm gậy của họ gõ lách cách trên đường vắng nghe như tiếng mõ biếng lười.
Hải tìm được một thứ trái nhỏ bằng quả mít non, ruột tím như sim, mọc quanh một đại thụ. Chàng ngâm trái tím với nước biển cho bớt chát, lớp vỏ mỏng trầy trớt thẳm tím cả tay. Đó là thực phẩm duy nhất họ tìm được trong rừng, không kể vài con cá ốm tong teo Hồng lão chia cho. Con mực lâu lâu đánh mùi cá lại xuất hiện đứng rình chừng, nhưng có lẽ nó là con chó khôn nhất trần đời. Có khi Hải đứng rình sau một góc phố, lăm lăm khúc cây sẵn sàng giáng xuống thì bỗng đâu từ sau, nó vụt chạy qua mặt Hải nhanh như cắt. Cách một quãng nó dừng lại, bốn chân dang ra quay đầu ngó lui khiêu khích. Hải nhìn con mực thèm nhỏ dãi. Cái thân hình còm cõi của nó dư sức nuôi sống ba người cả tuần lễ. Chàng thấy dùng sức mạnh không xong, làm bộ đưa tay vẫy vẫy con mực, “Chặc…chặc…”. con mực nhìn Hải nghi ngờ, đôi mắt long lanh ma quái. Chưa bao giờ trí óc của một con người lại ngu hơn một con chó hoang như thế.
Sương quanh quẩn gần căn nhà làm chỗ ngủ nghe Hải tả màu mây, màu cát vàng, hình dáng con mực, màu tím đậm bâng khuâng của quả rừng. Nàng bảo:
– Em chưa ăn thịt chó bao giờ.
Hải bảo, một hôm có ả chó chết xuống gặp diêm vương. Diêm vương hỏi cớ sao ngươi chết. Chó đáp người ta đập đầu tui, cắt khúc tui ra, lòng mề để qua một bên, tim gan để qua một bên, đùi thì chiên, sườn thì xào với lá…Sương cười khúc khích. Nàng bảo anh nói xấu mai mốt chết không được đầu thai. Nàng vòng tay qua cổ Hải, thì thầm:
– Nhỡ em chết trước thì sao?
Hải cười tỉnh, không có chuyện đó, ít bữa thuyền tỵ nạn tới mình cùng đi bây giờ. Sóng mũi Sương cọ vào má Hải, nhồn nhột hơi thở ấm của nàng trong khuya lành lạnh. Dục vọng bỗng dâng lên trong lòng Hải. Chàng nghe thân thể mình cựa quậy, căng thẳng. nhưng liền khi ấy, cơn ham muốn lại bỗng như chiếc xe đã gài hết số mà dốc thì cao vời vợi. Chàng nghĩ đến mùi thịt chó, chàng nghĩ đến một bát canh cá thơm sừng sực. Chàng nghĩ mình đã thành người cô quạnh trên đời nầy. Có vẻ như chàng chỉ còn gần gũi một cô gái tàn tật, một cô gái sống rất thật với lòng mình, sống rất thật với người mà nàng thương yêu. Nàng đã là của chàng, từ cái hôm đầu tiên khi nghe tiếng chó tru đã nằm gọn trong lòng chàng, co rút sợ hãi. Bây giờ nàng đã là của chàng, đã yêu chàng, nhưng chàng không còn sức để bày tỏ, để giữ nàng, cho dù hai tay đang ghì lấy tấm thân nhỏ bé hiền hậu của nàng. Cuộc hành trình, hoang địa, tất cả đã giết chết mầm sống nuôi dưỡng yêu thương.

Google images
Sáng ngày thứ mười ba. Nắng hè chói lòa rực rỡ. Thốt nhiên từ phía rừng tiếng kên kên rít the thé. Chao lượn trên bầu trời hồng nhạt. Dũng buột miệng:
– Phải gì hạ được một con…
Anh chống gậy ra biển. Cái thân hình lực lưỡng ngày nào còm xuống, xác xơ như con gà trống sau một trận đá căng thẳng. Hải mơ màng nói:
– Tại sao chúng cứ lượn vòng vòng thế?
Chàng chống gậy ngược hướng lên rừng, tạt vào bể xi măng, chiêu một ngụm nước đầu ngày. Chàng nghe tiếng của bầy kên kên lớn độc địa. Thốt nhiên Hải lạnh xương sống. Chàng ngừng lại bên bìa rừng để thở. Người chàng nhẹ như bông gòn bay lững thững giữa trời. Hải thở, mắt hoa lên, rồi gắng gượng chống gậy vô sâu hơn. Ánh nắng nhạt dần, rừng càng lúc càng dầy đặc. Mùi lá mục bốc lên ngây ngấy. Tiếng kên kên quần quật trên đầu inh cả óc. Hải đánh dấu mấy khúc cây sợ lạc. Chàng chưa bao giờ đi hướng này vì những cây kiền kiền trông giống nhau như tạc, rất khó tìm lối ra nếu không nắm chắc phương hướng hoặc quen đường. Xung quanh chàng giờ đây là hàng cây trơn trợt tựa như có bàn tay ai xát mỡ vào. Hải lại thấy chóng mặt, phải tựa đầu vào thân cây nghỉ. Chàng định quay lui nhưng hai chân cứ dính chặt trên đất. Như có một tiếng gọi vô hình giục chàng đi tới, đi tới. Chàng lảo đảo đi tới nữa, một vật gì lo ló trước mặt, vật đen nhảy múa giống như khi đi thuyền nhìn thấy hòn đảo lắc lư ở xa. Một mùi khăm khẳm bốc đi. Tiếng kên kên long óc nạt nộ trên đầu. Mắt Hải vẫn quáng gà. Cả bầu khí bị bầy chim quấy động hỗn loạn. Ô kìa, Hải lắc đầu thật mạnh. Một xác người nằm nghiêng. Mùi xác rữa đã hơi nặng. Hai cái xác chứ không phải một. Cái xác ở trên ôm choàng cái xác ở dưới, cánh tay cong xuống tham lam ôm trọn cái xác kia vào lòng. Hải thở hồng hộc, lắc đầu để chắc mình không lầm. Cường, chính hắn là cái xác nằm dưới, hai tay xếp vào nhau, mặt nghiêng trên đất, đôi mắt trừng trừng nhìn Hải. Người Cường phình to như cái lốp xe hơi bơm cứng. Khuôn mặt nhăn nhúm vẻ bất trắc. Cái xác nằm đè một bên Cường chính là cô gái đã bị đưa qua tàu Trung Quốc hy sinh thân xác để cứu cả thuyền. Mân, chính Mân, Mân nằm úp đè một nửa lưng Cường, cánh tay vòng qua ngực Cường bảo vệ xác gã con trai khỏi mồm miệng của lũ kên kên bay lượn. Hải sờ soạng khuôn mặt lạnh băng của Cường, ngăn sự xúc động đang làm mờ cả mắt. Cường đã chết thật, xác anh bốc mùi khăm khẳm. Hàng kiến đỏ bò quanh trên tay trên mặt tử thi. Hải lật ngửa cô gái, tần ngần cầm mạch tay cô gái xấu số, Hải cảm được sự động đậy dưới lớp da lạnh lẽo. Chàng lấy hết sức gọi tên cô gái dồn dập:
– Mân… Mân…Mân!
Vẫn bất động. Hải ân hận không mang theo một bình nước nào. Chàng ngó quanh bắt gặp một hố đất sụp đủ nhét xác Cường vào đó. Hải hì hục kéo cái xác nặng hơn trọng lượng người chàng xuống hố, mồ hôi vã như tắm. Chàng lượm cây gãy đậy lên xác Cường để che mắt lũ kên kên. Hải cởi áo lót dưới người Mân làm võng, rồi cứ thế kéo đi xềnh xệch. Hơi thở Hải đứt từng quãng ngắn, cổ chàng nghẹn vì khát. Hải tưởng chừng mình không thể nào đi nổi nữa. Chàng quá đói, ruột nóng như hòn than đỏ, chàng muốn gục xuống ngủ một giấc. Chàng đã ngồi nghỉ lâu quá rồi. Nhưng rồi nhìn khuôn mặt thật thà của Mân, đôi mắt mở của Cường giục Hải đi, Hải đi. Thời gian dài thế kỷ, lối ra dài vạn lý. Hải không còn tỉnh táo để định hướng nữa. Cứ thấy lối nào dễ là đi. Tiếng kên kên xa dần.
Bằng một cách nào đó Hải đã kéo được Mân ra tới bìa rừng. Dường như chàng đã ngất, hoặc sắp sửa ngất đi nhiều bận. Khi Hải bừng mắt ra lần thứ nhất, chàng tưởng mình chưa ra khỏi rừng. Chàng mở mắt ra lần nữa, xung quanh chàng có Hồng lão, có Dũng và bàn tay Sương đặt trên trán. Chàng chỉ kịp quơ tìm tay Dũng, thều thào: “Cường chết trong rừng” rồi lịm đi mê mệt. Hải mơ hồ nghe Dũng hét, vai chàng bị lắc mạnh. Chàng nghe xung quanh ồn ào náo động, những âm thanh như chọc vào phần mềm nhất của não. Chàng lại ngất đi nữa.
Khi tỉnh lại thì xung quanh Hải chỉ còn bóng tối. Thân hình ốm nhom của Sương đang áp sát vào người chàng, hình như Sương đã ngủ, tiếng thở nàng đều đều. Hải ôm cái thân hình mảnh khảnh, bỗng như sự cô độc và im lặng biến thành một âm thanh quánh đặc, gõ thành tiếng trong lòng Hải.

Google images
Chàng còn sống ư? Lạ quá! Chàng còn sống và còn nằm đây, ôm vào lòng người đàn bà thứ hai đến với cuộc đời. Hải vuốt tấm lưng dài thon nhỏ của Sương nhè nhẹ. Chuyện gì đã xảy ra, chàng đã mê bao lâu rồi? Hải không biết, dường như có một khoảng hở dài lắm từ giây phút này ngược về quá khứ. Có lẽ đến một lúc nào đó, chàng sẽ không còn cảm thấy cô đơn khi nằm bên Sương nữa, bây giờ, cõi lòng chàng nguội lạnh vô cùng.
Hải mở mắt vì sức nóng của mặt trời. Hình như là tiếng ve kêu ròn rã. Chàng thấy mình nằm trên cát ấm, có Dũng ngồi bên thả mắt nhìn ra biển lặng. Hải cầm tay bạn cảm xúc:
– Ông đưa tôi ra đây à?
– Ừ.
Dũng đáp, vẫn bất động. Một lúc lâu, dường như hai người đều không muốn lên tiếng. Không khí buổi xế trưa trong lành. Mặt trời lên, càng lúc càng chói. Lâu lắm, Dũng kể. Anh đi theo vết đất mà Hải để lại do kéo Mân. Dũng tìm thấy chỗ Hải đậy xác Cường không khó. Bầy kên kên đang hất bỏ đống cây đậy tử thi. Dũng ngồi bên xác em, lòng đau đớn đến độ người anh lạnh giá, không khóc được. Cho đến khi trời chập choạng, Dũng khiêng xác em về. Anh ra khỏi rừng thì không còn thấy đường đi nữa. Dũng để Cường trong một ngôi nhà, ở lại suốt đêm với người em xấu số. Sáng hôm sau, anh dùng cây khoét đất, khoét mãi đến quá trưa mới đào được cái huyệt chôn Cường. Lúc đó Hải vẫn chưa tỉnh. Hồng lão câu được hai con cá lớn bằng bàn tay, nấu cháo, rồi nhường cả phần mình cho Mân và Hải.
– Thế ra tôi ngất suốt ngày!
– Ừ, cái Mân tỉnh trước.
– Tại sao cô ấy lại ôm xác Cường.
Dũng bảo, cô ấy kể chuyện cũng như bốn lão già kia. Cứ nhát gừng từng miếng. Nguyên buổi chiều ấy Cường cứ đuổi mãi con mực mà bắt không được. Anh phần cáu mệt, nhưng quyết không bỏ cuộc. Cường bảo Mân đứng chặn một góc đường, khi nào nghe tiếng anh la “đập xuống” thì cứ lấy gân mà giáng khúc cây vào con mực. Mân đứng chờ mãi không nghe tiếng Cường hô đập mà chỉ nghe tiếng Cường la hét càng lúc càng xa mãi trong rừng. Mân sợ hãi rời chỗ núp, vừa lúc thấy Cường đang đuổi theo con mực sát nút. Con chó tinh ranh cứ nhắm hướng rừng mà lủi. Dường như nó đánh hơi biết chạy loanh quanh trong phố thế nào cũng có người rình. Mân hối hả chạy theo, trong thâm tâm Mân muốn có cái gì để ăn, phần muốn trả ơn Cường đã bênh vực mình hôm nàng bị bắt dâng cho tàu đánh cá Trung Quốc. Cứ thế, con chó chạy trước, Cường ở giữa, Mân theo sau cùng. Chạy một lúc thì bóng Cường mất hút, Mân cũng vừa nhận ra là mình đã ở trong rừng cây rậm muốn lui cũng không còn đường. Mân nghe văng vẳng tiếng Cường khi được khi mất. Nàng sợ hãi quay ra nhưng cứ loanh quanh mãi trong rừng, cứ như bàn chân đặt tới đâu thì cây hiện ra liền tới đấy. Mân cất tiếng gọi Cường, gọi Dũng, nhưng bốn bề chỉ trả lời một âm thanh ghê rợn. Nàng chịu đựng ba đêm liền, nàng ngắm từng đàn đom đóm lẫn với lân tinh vòng vo trêu ghẹo. Mân nghĩ chắc mình sẽ chết. Ngày thứ tư Mân gặp một rừng cây trái tím. Nàng ăn trái tím thêm hai hôm nữa rồi cứ loanh quanh tìm hướng ra. Mân không còn sức đứng, chỉ còn bò trên đống lá mục, ngất đi, tỉnh dậy lại bò. Rừng trái tím như một loài cây ma hiện hồn vì chỉ ngày hôm sau Mân không biết nó ở đâu nữa. Xung quanh toàn cây dại giống nhau như tạc. Mân đói quá, thỉnh thoảng bắt được con sên đập chết rồi nhắm mắt nuốt sống. Mân mò tới mò lui giữa rừng lá cho đến khi thình lình đụng phải Cường đang nằm ngất. Cường cũng chỉ ngất vì đói. Có lẽ anh không được may mắn như Mân là tìm ra rừng trái tím. Mân ôm Cường như vị cứu tinh của đời mình trong cơn bĩ cực. Khi Cường hơi tỉnh nhìn thấy Mân ôm mình, anh còn đùa bảo thế nào anh Dũng cũng đem thịt cầy đến. Thế rồi Cường mê đi. Mân cứ ôm siết lấy Cường. Mân không biết là Cường đã chết lúc nào, chỉ mơ hồ nhận biết thân hình người con trai càng lúc càng lạnh, buốt cứng như tảng băng cô độc giữa rừng. Khi biết chắc là Cường đã chết, Mân mới bật khóc một tiếng ngắn. Nàng biết mình rồi cũng chết như Cường nên lòng không sợ hãi cứ ôm cái xác từ lúc bắt đầu giá lạnh cho đến khi khẳm mùi, rồi lịm đi, thấy thân mình nhẹ nhàng bay bổng.

Google images
Hải ngồi dậy. Chàng nổi gai ốc hình dung một cô gái ôm xác chàng trai giữa rừng sâu lạnh lẽo. Dũng nói, tiếng nói đã hết dõng dạc ngày nào:
– Tôi, tại tôi…nếu hôm ấy bọn thằng Cảng bỏ đi, và mình không nghĩ là có Cường trên ấy…
Hải biết là chính chàng cũng gánh trách nhiệm trong cái chết của Cường. Nếu cả chàng và Dũng vào rừng hôm ấy…Chàng sực nghĩ tới Sương, tới Mân.
– Hai cô ấy đâu?
– Cái Mân nó nằm dài ra đấy, ai đưa gì thì ăn chứ chẳng động đậy gì. Tôi e thêm vài ngày nữa thì người kế tiếp là Sương đó.
– Có thể là tôi. Hải nói.
– Là cậu, là tớ…
Đột nhiên, Dũng nhỏm dậy, đưa tay chỉ:
– Trông kìa, có thuyền…
Một chấm trắng xa tít chân trời. Chấm trắng tiến vô bờ chậm như đứa trẻ tập bước, nghiêng ngả, chập chờn. Lâu hơn một tiếng đồng hồ hình ảnh cánh buồm mới rõ nét. Những đầu người lố nhố. Nước mấp mé chực tràn vào khoang chiếc thuyền buồm dù biển lặng phắt như mặt hồ. Chiếc thuyền con chầm chậm trôi vào bờ, Hải nom rõ những bóng người nhảy xuống nước, lội thẳng vào bốn cánh tay vẫy của Hải và Dũng. Mép thuyền cao lên một chút vì sức nặng đã giảm. Những bộ tóc bù xù tổ quạ, những hàm râu quăn tít của người mới đến bay phất phất trong nắng trưa nhạt nhòa. Địa ngục biển. Một người đàn ông xấu đến trước mặt Dũng, nói tiếng Quảng bập bẹ. Dũng dang rộng cánh tay, cười lớn:
– Việt Nam đây mà.
Cả nhóm người la lên một tiếng, một triệu câu hỏi ập xuống. Người trên bờ hỏi, người mới tới hỏi. Những nét mặt đang tươi bỗng sạm đi khi nhận ra tình thế ngặt nghèo. Chiếc thuyền buồm đi từ bãi cháy đã hai tháng. Họ đói lăn lóc, họ ăn xin suốt dọc đường. Họ chỉ thay buồm một lần ở Bắc Hải. Họ tưởng đây là một thị trấn lớn. Không biết một thị trấn ma vĩ đại như cuộc Cách mạng Văn hóa. Người tài công lắc đầu chỉ tay ra chiếc thuyền chòng chành:
– Bác xem đấy, chỉ thêm một đứa con nít thuyền cũng chìm, nữa lại bốn người thì có về chầu “bác”.
Hải nói, ruột rối bòng bong:
– Bọn tôi nhẹ như bông gòn.
Gã tài công lắc đầu cương quyết. Gã tên Độ, người Quảng Ninh. Cả thuyền đều là anh em bà con của gã.
Độ nói:
– Tôi tiếc gì mấy bác. Thôi, để bọn tôi kiếm cái ăn cái uống đã.
Hải hướng dẫn gã đi sâu vào phố, dắt gã ra cái bể nước sau núi. Hải vẫn không nản:
– Bác nghĩ tình đồng hương, nỡ nào nhìn bọn em chết ở đất khách quê người.
Độ có vẻ cảm động hỏi:
– Thế hai cô kia đâu?
Hải khấp khởi:
– Chúng nó đi không nổi, cứ nằm liệt ra đấy.
Độ im lặng uống nước. Gã chuyền cái gáo cho bọn đồng thuyền. Thân hình gã nhỏ bé, lông mày rậm, hai mắt sáng long lanh. Người gã, cũng như mấy người kia, hôi một thứ mùi hăng hẳng nắng cả mũi. Độ giậm chân bảo:
– Tôi bảo thật, phải tôi giúp các bác được. Trông thuyền là biết đấy.

Google images
Hải tưởng mình sắp quỳ xuống, lạy gã:
– Bác cứu bốn mạng người, chỉ một mạng…
Đôi mắt Độ quắc lên, quát:
– Thôi phải, chắc tôi cho một bác đi nhờ được.
Gã hội ý với những người uống xong. Một người đàn bà nhăn nhó:
– Chắc gì mà một người không khẳm nào. Thôi đi. thế nào mà chẳng có thuyền khác.
Độ quát:
– Bà biết cái gì mà xía vào.
Mấy gã thanh niên bắt đầu lục lạo xung quanh. Độ bảo:
– Tôi còn ở đây, chắc đến mai mới đi được.
– Sao thế?
– Chờ gió lên.
Buổi tối hôm ấy, bọn người của Độ đốt lửa trên bãi cát. Dũng và Hải rút vào nhà. Độ dứt khoát là chỉ cho một người đi nhờ. Thuyền gã đã khẳm, gã không muốn lòng tốt của gã có thể làm chiếc thuyền buồm mỏng manh của gã bị đắm. Hải và Dũng đều nghĩ là cái người may mắn đó chỉ có thể là Sương hoặc Mân mà thôi. Nhưng ai? Cả hai đều kiệt sức, đều đáng được đi sớm chừng nào tốt chừng ấy. Hải nói:
– Hay cứ để cho hai cô ấy bốc thăm.
– Chỉ còn cách đó.
Bốn người ngồi xúm xít trong bóng tối. Tiếng chó tru đầu phố nghe buồn bã. Hải báo cho Mân và Sương tình hình, chàng nghẹn ngào:
– Tùy hai cô mà thôi.
Sương đáp:
– Cứ để chị Mân đi trước, em chẳng vội gì.
Hải nhìn Mân chờ đợi. Cô ngồi thu lu, chỉ thấy một bóng hình bất động. Tiếng u u của chó làm không khí thêm buồn thảm:
– Không!
– Em nói không là sao? Dũng hỏi.
– Em không đi.
– Em muốn nhường Sương à?
– Vâng.
Hải nói:
– Nếu cứ bắt em đi trước thì sao?
– Không.
Giọng Mân mệt mỏi nhưng cương quyết. Sương đã thiếp đi từ hồi nào. Nàng quá kiệt, không ngồi lâu được. Như vậy là xong, Sương sẽ rời thành phố ma ngày mai. Đường đến Hồng Kông chắc không còn xa lắm. Nhưng một thân một mình nàng sẽ ra sao? Ai sẽ quan tâm giúp đỡ người con gái mù lòa. Hải trù trừ trước bóng tối mà chẳng hình dung ra:
– Hay ông đi trước, Dũng?
– Tất nhiên là không, nhưng tôi hiểu tại sao ông đề nghị tôi.
– Tôi chỉ sợ cô ta mù lòa.
– Tôi cũng nghĩ đến điều đó. Nhưng chắc ít hôm thôi là đến Hồng Kông. Xứ tự do, người ta coi trọng con người.
– Thì mong vậy. Hải đáp.

Google images
Ừ, biết đâu chừng cô ấy gặp lão Mục đâu đó trong trại tỵ nạn. Hải nghĩ thầm. Một con đom đóm lang thang ngoài song, chui ra chui vào nhà rọi một màu xanh biêng biếc lập lòe trên tường. Chàng sẽ còn một đêm nay bên Sương, rồi chàng sẽ trả nàng về cho cha, cho tự do đang cách mấy ngày đường. Hải nằm xuống, ôm siết thân hình bé bỏng của nàng. Những buổi chiều trên biển, nắng hè soi cát nóng, soi lên thân hình trần của nàng. Chiếc áo nàng đã nhão ra, tựa hồ chỉ một chạm khẽ là những sớ vải sẽ rơi xuống. Nàng đã sinh ra nơi miệt biển, cha nàng đã nuôi nàng bằng biển mặn, nàng đã khốn khổ trên cuộc hải trình sống chết. Nhưng nàng vẫn yêu biển tha thiết. Một tối nào, trăng thượng tuần treo lơ lửng, Sương trần truồng tung mình xuống nước. Màu sáng trăng dìu dịu chiếu trên đầu ngực căng tròn của nàng, lấp lánh những giọt nước như xâu chuỗi kim cương óng ả đọng trên thịt da phơi bày rạng rỡ. Hải ngồi trên cát, ngắm người con gái lõa thể đi tới đi lui. Mái tóc dài rã rượi của Sương bay lê thê như những cánh hải âu ngược gió ngàn và tan trong màu trăng trắng mơ hồ gợi cảm. Một sự tương phản quá lớn giữa khuôn mặt nhỏ nhắn và mái tóc dầy khiến Hải nghĩ gió sẽ nâng mái tóc thổi tung nàng lên trời. Hải lượm một cục sỏi ném xuống biển:
– Anh ở đâu đó?
Hải cố tình im lặng. Sương hỏi đến lần thứ ba, liền giả vờ cắm đầu chạy lên bờ. Biện pháp này lập tức có hiệu quả. Hải chạy sau lưng nàng, khi thấy Sương sắp đâm bổ vào một cây dại chàng mới ôm choàng ngang thắt lưng bé như cổ cò của nàng vật xuống. Sương cười nắc nẻ, tiếng cười nàng làm vỡ cả ánh trăng xao xuyến:
– Chịu thua em chưa nào.
Hải hôn nàng. Đôi mắt nàng sâu thẳm. Một vũng tối đày đọa. Sự ham muốn tắt thình lình khi Hải nhìn sâu vào vũng tối ấy, hai hàng mi dài động đậy. Một hố sâu, sâu như đáy vực. Đáy vực đang mở ra “nhìn” chàng. Hải thở hồng hộc mỏi mệt.
– Khi nào minh đi, anh nhỉ?
Hải hình dung giả sử chàng và Sương sẽ được một chiếc tàu nào đó tiếp tế lương thực, chàng sẽ không đi đâu hết, sẽ sống một đời trên bãi vắng. Nhưng ý nghĩ ấy chỉ lóe ra như vì sao băng tắt ngúm trong bóng tối nửa vời và không để thừa một dư âm sáng lòa nào cả. Cuộc đời Hải đã tô bằng nước mắt, chàng đã mất mát quá nhiều, chàng chưa dành lại từ cuộc đời mỗi muôn một. Chàng đã đánh một ván bài không thấy thắng. Lộ trình đã vạch, Hải phải tới đó, Sương phải tới đó, nào có đâu đường về.
Chiếc thuyền của Độ nhổ neo khi bầu trời còn giăng đầy sao nhỏ. Những vì sao đang tan loãng trong ánh mặt trời. Hải và Dũng chống gậy, cặp Sương ra bãi. Nàng không còn đứng vững, có lẽ Hải cũng không còn đứng vững nếu ý chí không kiềm chân chàng dậy.
Hai người dìu Sương lên cùng với sự trợ sức của Độ. Họ đứng ngâm chân trong nước lạnh, nhìn con thuyền chậm chạp trở mũi. Nước mấp mé mép thuyền. Họ đứng như thế lâu lắm, hằng giờ, cho đến khi cái chấm trắng xóa nhòa trong không gian bất tận. Sương sẽ gặp lão Mục ở trong trại tỵ nạn nào đấy, Hải tin như vậy. Chàng cũng sẽ gặp lại Sương ở bến bờ đấy, một ngày nào đó. Người con gái mù sẽ “nhìn” thấy ánh sáng tự do sau những đêm dài đằng đẵng. Nàng đã xa tận ngoài biển. Hải nhớ quay quắt. Chàng nhớ từng sợi lông măng phớt sau gáy nàng, khuôn mặt gầy gộc biếng tiếng cười, giọt nước đọng nơi đầu vú trong veo màu trăng vỡ, và hai vực thẳm ngày càng sâu…
Tiếng ve kêu re re trên bãi vắng.
Hải đang nghĩ đến chuyện tự đào huyệt chôn mình thì ngoài đường bỗng có tiếng người ồn ào. Hai tai chàng lùng bùng như có muôn vàn tiếng động đập liên hồi. Chàng vịn theo tường gượng ra cửa. Mấy gã thanh niên chạy lăng xăng ngoài đường, dường như họ mới đến. Một người bật thấy Hải, ré lên một tiếng:
– Ở đây có thêm một ông già nữa bây ơi.
Gã tiến lại, nhìn Hải chăm chú rồi vờ lễ phép:
– Lạy cụ, cụ bảo cho tụi cháu biết đây là đâu.
Hải cười thầm trong bụng. Chàng nghe giọng nói quen quen.

Google images
– Việt Nam à?
Gã thanh niên cười bỡn:
– Việt gian phản quốc.
Hải không còn sức để đùa với gã, chàng nhếch mép nhọc nhằn:
– Cho cái gì ăn…
Gã thanh niên nhận ra mình đang đùa với lão già sắp chết. Gã hối một người khác:
– Xuống thuyền lấy cơm, chả sắp chết kìa.
Mà Hải sắp chết thật. Chàng ngồi mới một chút mà đã xây xẩm mặt mày. Rồi Hải ngã chúi vào hai cánh tay gầy của gã thanh niên. Khi Hải mở mắt, lại nghe ùn ùn những âm thanh hỗn loạn, nhưng chàng đã thấy bớt mệt. Dường như có một nguồn sinh lực ở đâu đó tiếp vận cho chàng. Một nguồn sinh lực trống rỗng, cái chỗ trống Sương để lại. Giọng gã thanh niên quen thuộc: – Ổng tỉnh rồi, thôi dang ra bớt cho người ta thở.
Hải đã nhớ ra gã, yếu ớt gọi:
– Phú kèn, trời ơi, Hải vĩ cầm đây nầy…
Phú kèn rú lên, gã vạch tóc, vuốt râu Hải, bàn tay trơn trượt của Phú kèn lắc lắc khuôn mặt teo bằng quả chanh của chàng:
– Ối bác và đảng ơi… “ông” tưởng “con” đang hành lạc ở Hồng Kông rồi, sao ra nông nỗi này chớ…
Những người đứng xung quanh ồ lên một tiếng, “quen hả”, “quen hả”, Hải nghe tiếng người lao xao, tiếng Phú:
– Thôi thế mà tôi không nhận ra ông chớ. Nhẽ ra nhìn “nụ cười cơ giới” của ông là phải nhớ liền, rõ thật.
Hồi còn chơi trong ban nhạc ở Hải Phòng, Hải được anh em tặng cho cái tên “nụ cười cơ giới”: Một cái nhếch mép khó hiểu, cười không ra cười, một kết hợp hữu cơ của vách thịt, méo xệch. Ngược lại Phú kèn – thổi saxophone – lau chau, đùa giỡn trong mọi trường hợp, thuộc típ người chưa thấy mặt đã nghe tiếng, Phú nói:
– Nhìn cái mặt đám ma của ông, mẹ, cứ có một canh xì phé là tỉnh ngay chứ gì.
Hải nhếch mép, cười “cơ giới”:
– Ừ, mà tính sao đây?
– Đi chung với tụi này luôn thể.
Hải yếu ớt kể cuộc hành trình của mình. Chàng nghẹn lời nửa chừng, một điều cấm kỵ đối với Hải khi phải biểu lộ xúc động trước mặt bạn bè. Phú nói:
– Tôi may mắn hơn ông nhiều.
Đoạn gay nhất của Phú là sau khi vượt qua eo biển Lôi Châu, nghĩ sắp đến Hồng Kông rồi, gã chủ thuyền cho tấp vào Xương Giang, ăn chơi nhậu nhẹt một bữa đã đời. Say quá, tài công chấm lộn tọa độ. Gã tính đi hai ngày một đêm là tới Ma Cao, không dè đi được một ngày là gió trở, sóng đánh thuyền về gần chỗ cũ. Lên bờ đi xin ăn, Phú gặp công an Trung Quốc “dụ” chở đi mua thuyền khác, không dè họ chở ngược về Việt Nam. Phú nhận ra điều đó khi càng đi gã càng thấy hai bên đường nhà cửa càng lúc càng xơ xác, chỉ có Quảng Tây mới nghèo như vậy. Gã nhảy khỏi xe khi chiếc xe giảm tốc độ vì phải tránh một chiếc xe chạy ngược chiều. Gã biết tên tài xế thấy gã nhảy qua kính chiếu hậu, nhưng hắn cứ lờ đi chạy thẳng. Phú đi ngược lại đoạn đường đã qua rồi gã đón xe đò tìm về chỗ thuyền đậu. Dọc đường, gã chỉ biết mỗi một câu “Ngộ mậu dậu xìn, chẩu hớn cỏn” (tôi không có tiền, đi hồng kong), ấy thế mà nhờ lòng tốt của nhân dân Trung Quốc, gã xin được tí tiền về lại thuyền kịp khi cả thuyền đã tập hợp đông đủ, sắp nhổ neo. Ngang thành phố ma, tài công lại tưởng là một thị trấn lớn, tấp vào. Nhờ thế, họ cứu được bọn Hải.
– Thế ra công an nó chở cậu về Việt Nam đấy. Hải hỏi.
– Chính thế! Mà phải mình tình nguyện về mới không ức. Trên xe, có chừng hai chục người xin về, thuyền họ đắm, một nửa kiếm phương tiện đi tiếp, cái nửa đi cùng xe với tớ họ lạnh cẳng, tìm đường đi về qua cửa Đông Hưng đấy. Giờ này chắc đã về tới Hà Nội.

Google images
– Phước ba đời nhà ông.
Chủ thuyền ra lệnh chuẩn bị đi. Ông ta đếm lại số người, cộng thêm ba người bọn Hải. vừa lúc, Hồng lão từ trong phố đi ra, lão dặn:
– Đi khỏi đây chừng một dặm khéo kẻo vướng phải cồn cát…
– Cồn cát à.
-…ngầm đấy. Thượng lộ bình an nhé.
Hồng lão có vẻ tỉnh táo vì được bọn đi thuyền với Phú cho mấy lon gạo. Chắc lão vừa nấu cháo ăn xong. Hải lội ra thuyền, trong khi hai người đàn bà khác dìu Mân leo lên. Hải nhìn những tòa nhà bốn tầng lần cuối. Chỉ còn một mình Hồng lão tiên sinh đứng bơ vơ trên bãi biển. Mái tóc bạc lơ phơ trong gió. Bộ áo quần xám xịt màu đất của lão in khối cô độc thê thiết trên nền cát vắng, trên nền trời xanh lơ thăm thẳm. Trên vùng đất ngặt nghèo ấy, Dũng đã để lại một phần ruột thịt của mình dưới gốc cây.
Thuyền đi được nửa ngày thì trời sụp tối. Đúng như Hồng lão nói, đang giữa mặt biển phẳng lặng như tờ bỗng rít lên tiếng nước réo như một ấm nước đang sôi. Tài công vừa lái vừa cho thọc cây thăm dò độ sâu. Anh ta lách giữa cồn cát ngầm khéo léo. Ngang một khúc, trên mặt cát thẫm màu đêm, xương người phơi trắng trên cồn cát nổi. Những chiếc sọ ngửa mặt nhìn trời, có cái sọ láu lỉnh, có cái sọ lớn trừng trừng uất hận. Những chiếc xương tay xếp như chiếc đàn T’rung. Đàn bà trên thuyền lâm râm niệm Phật trước những mẩu xương rải dọc theo bờ, nghe từ đâu đấy đang reo lên tiếng than ai oán của những linh hồn đoản số ngậm ngùi gửi nắm xương tàn trên biển khách. Hải thấy đôi mắt Dũng đầm đìa lệ. Anh ngồi im lìm như cái xác chết, dường như bóng tối đang lan ra từ linh hồn sầu não ấy.
Hải nhìn thấy những chùm sao tan tác như những giọt nước vỡ toang ra đọng trên nền (trời) đen thăm thẳm. Chàng nhớ những vì sao tua ở quê nhà:
Sao Tua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha
Chàng đã xa mảnh đất man rợ cắm dùi trên những câu ca dao lãng mạn. Chàng đã xa cái cuống rún (như thế nào nhỉ) mà một buổi sáng khi còn thơ mẹ Hải dắt con ra vườn chỉ vào gốc cây phượng:
– Mẹ chôn cái cuống rún con ở đây.
Cậu bé Hải mường tượng mẹ đang nói điều gì ấy. Cậu sờ cái lỗ rốn cạn lợt của mình, mân mê một cục đất bé bằng con chấy. Bao nhiêu năm qua rồi, Hải vẫn còn nhớ buổi sáng dưới gốc cây phượng sau hè. Có nguồn cảm xúc lan chảy trong dòng máu Hải, nhớ điên cuồng một miếng nắng rải ngoài sân.
Những giọt nước vãi trên trời mờ dần như bị lấn bởi một thứ ánh sáng lung linh từ đâu đây. Rồi tiếng ồ đánh thức những đôi mắt im ngủ:
– Hồng Kông kia rồi đấy!
Từ xa, một màu sáng vàng nhạt hực lên cả chân trời. Ánh sáng diễm ảo vô cùng, tráng lệ vô cùng. Và những tấm lòng nức lên. Cái đích đã tới, không còn ngờ gì nữa. Hồng Kông, Hồng Kông! Cả thuyền chồm dậy. Bóng tối nghe chừng có lửa, lửa của niềm sung sướng tột cùng.
– Sướng quá, ha ha ha.
Phú ôm chặt Dũng, hét bên tai:
– Bọn mình nhậu một bữa xả láng ông ơi…
Chân trời sáng rực, chân trời sáng rỡ, chân trời sáng lóa. Thuyền băng băng chạy. Những mỏm đảo thấp thoáng, những sườn núi mờ sương khói. Mặt trời lại bắt đầu lên, biển lênh láng nước mênh mang.
Từ sau một hòn đảo, hai chiếc tàu cảnh sát chẻ sóng tiến lại. Hai chiếc tàu màu xanh lá mạ, chẻ thành gọng kiềm xáp tới. Những chiếc áo trên thuyền con hồ hởi vẫy. Hai lượn sóng từ tàu lớn làm thuyền chao đảo nghiêng bên này lượn bên kia.

Google images
– Việt Nam vượt biển đây. Tiếng “rao hàng” từ thuyền Hải ré lên.
Tàu cảnh sát tắt máy liệng quanh quan sát. Một sợi dây thừng ném qua, cột, xáp lại. Thuyền con đã cập sát song song vào tàu lớn, nhìn lên cao những nấc thang. Dùi cui cầm tay, cảnh sát Hồng Kông đếm từng người leo lên tàu họ. Phú kèn xin thuốc lá hút khi vừa vượt qua một viên cảnh sát. Gã phải nói hai lần bằng thứ tiếng Quảng Đông ăn đong của mình. Bất ngờ, viên cảnh sát bợp cho Phú hai cái bạt tai xây xẩm mặt mày. Hải tái mặt, một sự bẽ bàng bỗng dâng trong lòng. Xứ tự do mà có cảnh này à. Viên cảnh sát nạt:
– Đại lục phải không?
Dũng nghe được, đỡ lời:
– Chúng tôi toàn người Việt Nam cả.
Thì ra viên cảnh sát tưởng Phú là người đại lục. Gã ăn hai cái tát oan uổng. Rút kinh nghiệm, Hải hỏi một gã khác bằng tiếng Anh:
– Ông thông cảm, tôi thèm thuốc quá!
– Địt mẹ…
Điếu thuốc cháy hết một nửa ngay cú rít đầu tiên của Hải. Bỗng một bàn tay giựt ngay điếu thuốc:
– Chia anh em với chứ.
Một viên cảnh sát khác trao một xấp truyền đơn cho Hải, bảo phát. Truyền đơn viết bằng tiếng Việt, thứ tiếng Việt không văn phạm. Hải đọc lướt qua giật mình:
– Nghĩa là sao?
Viên cảnh sát nhìn Hải thương hại. Y nói chậm rãi:
– Các anh đến muộn rồi!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.