This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mảnh trăng thượng tuần cong veo đã xế về hướng tây. Chúng tôi lại bắc ghế ra sân ngồi tán láo.Tôi và Lâm rì rầm ước tính ngày học tập chính trị.
– Vấn đề lao động là bước đầu đó ông. Chúng ta phải tỏ ra nhiệt tình để gây thiện cảm, tôi thấy nhiều anh em làm phất phơ quá! – Lâm nói.
Sự thực, tôi chẳng có ý kiến gì về vấn đề này, vì vốn yếu, nên lao động cầm chừng, chi bằng im lặng là hơn. Tôi phát biểu chung chung :
– Ông ạ! Tôi thấy vấn đề học tập chính trị mới cần, lao động như vậy là được rồi! Còn hơn 20 ngày nữa, làm gì không dọn xong mấy bãi cỏ?
Giữa lúc ấy, Phát đến bên, ngồi xuống ghế. Phát (Hải quân Trung tá, cựu Hạm Trưởng). Sở dĩ hắn không đi được trước ngày 30-4 vì lý do kỷ luật, đã bị giải ngũ. Phát không giấu điều đó. Phát người miền Trung, cũng còn trẻ như Lâm và Mậu.
– Cứ tưởng lao động vất vả thế nào chứ, nếu lao động kiểu này, sướng quá hỉ? Nghe đồn, tuần sau mình sẽ học tập chính trị, học rồi, ra căn cứ Sóng Thần làm lễ mãn khóa, thế là xong! Một tháng đi lẹ lắm mà!
Nói chung, mọi người đi học tập cải tạo, ít nghi ngờ về chính sách của Mặt Trận Giải Phóng, do Ủy Ban Quân Quản ban bố. Dù sao, họ cũng đã thắng trận, Quân Đội miền Nam đã tan rã, còn lực lượng quân sự nào có thể chống được họ, do đấy, họ chỉ dùng chính trị để cải hóa những người khi trước đã chống lại, vì không hiểu đường lối và chủ trương của Cách Mạng! Một khi đã phục tùng, chắc họ sẵn sàng theo đúng chính sách hòa giải, hòa hợp Dân Tộc, để cùng xây dựng lại đất nước sau mấy chục năm dài chinh chiến!
Cũng có vài ý kiến trái ngược với số đông, nhưng vì dè dặt, họ không nói huỵch toẹt ra, sợ bị hiểu lầm, mà chỉ tâm sự với một, hai người bạn chí thiết. Trong số đó có Hải (Trưởng Phòng 3, Quân Đoàn A) và Tường (Tham Mưu phó Chiến Tranh Chính Trị, Quân Đoàn G). Cả hai, đều khẳng định, công việc học tập cải tạo này sẽ lâu dài. Ngoài Bắc có những sĩ quan thuộc chế độ cũ và những nhà trí thức bị nhà nước Cộng Sản cầm tù từ năm 1954 tới năm 1974 mới thả, như trường hợp nữ văn sĩ Thụy An Hoàng Dân. Vị nữ sĩ nay, trong thời gian bị giam cầm, đã dùng bút chọc thủng một bên mắt để phản đối chế độ nhà tù Cộng Sản và mang tật suốt đời …
“Đừng tin những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn những gì Cộng Sản làm!” Trong suốt thời gian làm Tổng Thống của ông Thiệu, chỉ mỗi câu này có giá trị thôi!
Hải cười mỉa mai! Tôi nghe, trong lòng nhức buốt nhưng rất đồng ý với Hải, vì vẫn thường nghĩ, không lý do nào Cộng Sản có thể dễ dàng buông tha cho kẻ thù đã bao năm truờng làm họ điêu đứng. Chúng tôi có mặt trong Trại Cải Tạo này, vì không có phương tiện di tản, trước và sau ngày 30-4. Nói vậy, không có nghĩa, tất cả mọi người đều muốn di tản, có người vì lý do này, lý do khác, muốn ở lại Việt Nam, nhưng số này tương đối ít. Ở lại, là điều không may, nhưng nghĩ cho cùng, không hoàn toàn vô ích cho vốn sống của mỗi người, nếu có nuôi trong tâm tư ý chí phục thù!
Đứng lên, nhìn vùng ánh sáng phía xa, tôi mường tượng ra những sinh hoạt của người dân dưới chế độ mới, nhưng chắc chắn, còn hơn phải sống giữa vòng đai cải tạo, tràn ngập bóng tối và phiền muộn, dù chỉ mấy ngày đầu!
Sương xuống uớt vai áo. Cảm thấy lạnh, chúng tôi cùng đi vào. Tìm điếu, làm hơi thuốc lào, tôi nằm vật xuống!
Google images
Hôm sau, Tổ tôi được phân công đào hố xí, thay vì phát cỏ. Tổ Trưởng chia anh em làm 2 toán: 5 đào đất, 5 đi kiếm vật dụng. Tôi thuộc toán đào đất. Long Giao là vùng đất đỏ, có lẫn đá ong nên rất cứng. Chúng tôi thay phiên nhau kẻ đào, người bốc, suốt buổi sáng mà chưa được 1 thước khối, trong khi chỉ tiêu đề ra 2 thước trong buổi sáng. Tay chân người nào cũng bê bết bùn đất. Mồ hôi chảy nhễ nhại. Trong số chúng tôi, cũng có người mạnh, nhưng vấn đề ở đây là quen việc. Toán đi lo vật dụng khiêng về nào gỗ, nào tôn cũ, cong queo, rỉ sét! Đinh không có, họ phải tháo ở những tấm ván, bằng cách dùng cục đá đập qua đập lại, rồi lấy tay nhổ ra. Cứ như thế, chúng tôi làm đến trưa vẫn chưa đạt được một phần công việc. Mọi người đều mệt nhoài, sau hồi kẻng. Nhưng rồi căn nhà xí cũng xong, sau 3 ngày lao động. Nó không kín đáo và vững chải gì, cũng may, khu này không có đàn bà!
Trong khi chúng tôi làm có tính cách thông thường, bên khu Đại Tá, xây dựng chiếc cổng chào vĩ đại, như kiểu cổng chào mừng ngày Quốc Khánh hoặc ngày Quân Lực khi xưa, ngay trên con lộ đá, trước căn nhà quản giáo. Trên nóc cổng, có đặt một trái cầu lớn, tượng trưng cho trái đất. “Con chim hoà bình” xoè rộng cánh, đậu ngất ngư trên đó. Công tác này rất vất vả, do một Đại Tá Công Binh chịu trách nhiệm. Vị Đại Tá này quá quen thuộc với công việc, vì khi còn tại chức, ông quen làm cổng chào và khán đài trong các ngày lễ lớn. Đôi lúc, tôi ngưng tay, nhìn các vị Đại Tá leo trèo, vác cây, đào lỗ, đóng đinh, làm mọi công việc mà lúc trước, thường chỉ tay 5 ngón! Khi xưa, tất cả những công việc nặng nhọc đều do “em út” đảm nhiệm. Nay thời thế đã thay đổi, làm đảo lộn mọi giá trị. Đó cũng là một bài học, tuy đắt giá, nhưng không phải vô ích!
Một tuần lễ trôi qua. Vẫn những công tác lao động có tính cách cỏ-vê. B. Trưởng nêu ý kiến, nên đánh vài luống khoai và rau muống. Có người phản đối, cho rằng, thời gian 1 tháng có lâu la gì mà trồng với trọt? Khoai lang ít nhất 3 tháng mới có củ, còn rau muống cũng phải trên 1 tháng, ai ở lại mà ăn?
B. Trưởng không nói gì, cứ tiến hành dự định, chắc nghĩ, không làm việc này cũng làm việc khác. Anh đề nghị, anh em mỗi người đóng chút tiền, nhờ cán bộ mua hộ hạt giống rau muống, còn dây khoai, anh lo được! Ngày ngày qua đi, không ai nói chi đến việc học tập chính trị. Một hôm, tên quản giáo vô nhà, nói với B. Trưởng:
– Các anh có cần điện ban đêm không?
B. Trưởng nhỏ nhẹ trả lời:
– Dạ, tốt quá! Nếu có đèn, anh em có thể học tập, sinh hoạt buổi tối, còn gì bằng!
– Được, mỗi anh đóng 10 đồng, tiền mua bóng và dây!
– Thưa cán bộ, bao giờ đóng?
– Mai, nhất chí chứ?
– Dạ, nhất chí!
A! B. Trưởng tiếp thu từ ngữ Việt Cộng nhanh thực, chưa chi đã “nhất chí”! Buổi tối sinh hoạt, mọi người đều vui vẻ đóng 10 đồng, vì nghĩ Cách Mạng mới cầm quyền còn nghèo, mình đóng tiền để có phương tiện học tập buổi tối, chứ đèn dầu sao học? Thời gian trôi vùn vụt. Vấn đề đèn điện cũng như học tập không được nhắc đến. Anh em lại bàn tán xôn xao, mỗi tối ngồi tán dóc. Tin đồn này, tin đồn khác bay đến càng làm hoang mang ! Hàng ngày anh em vẫn đi lao động, khi chặt hom trồng sắn, khi dọn dẹp các nhà cửa đổ nát, khi sửa đường, khi làm cỏ! Đời sống đi từng bước đều đặn, riêng vấn đề lấy nước, gây cho anh em nhiều khổ cực. Nếu mỗi ngày đều có cơn mưa, không nói làm gì, nhưng mưa là chuyện của Trời, ai biết được? Ngoài chiếc giếng kéo giây, ở phía bên kia đường còn chiếc giếng nữa, dành riêng cho tụi quản giáo và bộ đội.
Google images
Vì số người học tập cải tạo quá đông, một chiếc không đủ cung cấp nước tắm giặt, nấu cơm, nên họ cho phép những người học tập được xử dụng chung chiếc giếng, nhưng muốn lấy nước phải xếp hàng, mỗi lần qua được 3 người. Khi 3 người về, 3 người khác mới qua. Mỗi lần, đều phải xin phép tên bộ đội gác cổng, khi nào nó gật đầu mới được. Nếu tự tiện, nó nạt nộ, chửi bới, đuổi về! Do vậy, anh em trong Tổ phải chia phiên, chầu chực lấy nước. Chúng tôi kiếm một cây đòn dài, xỏ những thùng đạn vô, 2 người khiêng, còn 1 người xách 2 tay, 2 thùng. Sở dĩ phải đi 3 người vì giếng sâu, lại kéo bằng thùng tôn 20 lít, quá nặng. Hai người quay nước, một người đón bắt đổ vô thùng đạn. Trung bình, mỗi chuyến phải chờ 1 tiếng.
Mỗi sáng sớm, dẫy thùng đạn xếp hàng 6, đã dài cả trăm thước. Ai ra muộn, phải chờ đến trưa, may ra mới qua được, chưa kể hôm nào tụi Việt Cộng mổ heo cần nhiều nước, phải chờ đến chiều.
Buổi nay, Tổ chia công tác cho tôi đi lấy nước cùng Mậu và Phát. Từ sớm, tội đã ngồi chầu giữa một đống thùng đạn to, nhỏ, đủ cỡ. Tên bộ đội đứng trong vọng gác ngay đầu cổng. Mặt nó đầy mụn trứng cá sần sùi. Hai con mắt nhỏ như 2 sợi chỉ, liếc ngang về phía chúng tôi. Có tiếng cãi nhau về chỗ ngồi trước, sau gì đó. Tiếng cãi to dần rồi trở thành cục cằn:
– Đù má mày, tao đập bể mặt mày ra bây giờ!
– Có giỏi đập đi! Tôi đến trước, anh đến sau, sao dành chỗ trên tôi?
– A, mầy thách hả?
Tiếng sắt chạm vào nhau rộn ràng. Tôi quay lại. Một anh to con đang sấn tới, giơ cao quả đấm.
– Ê, thôi đi, hay gì chuyện đó! Nhường nhịn nhau chút, không được sao?
Tiếng nói vọng ra giữa đám đồng. Gã to con chưa hạ cơn nóng:
– Tao đập chết cha mày, không biết tao là ai hả?
Mậu nói nhỏ:
– Dạ, biết rồi, ông là Trung tá Dù, đàn em tướng Cảnh-sát. Một dạo, ổng làm Quận Trưởng, Quận 1 Sàigòn, tức là vua Snack Bar và điếm thượng lưu. Ông cũng là trùm ba gai, khổ lắm, ai không biết?
Nghe tiếng cãi nhau, tên bộ đội ôm súng đi ra ngoài vọng gác, nhíu cặp mày rậm:
– Mấy anh “nàm” gì đấy?
Gã to con vừa hung hăng như thế, sao lúc này đứng trước tên lính Cộng Sản, gã có vẻ hiền lành, ngoan ngoản:
– Dạ, thưa cán bộ, anh kia lộn xộn quá ! Hôm nay, chúng tôi lấy nước nấu cơm chứ đâu phải cho cá nhân. Xin phép cán bộ cho qua!
Tên lính Việt Cộng gật đầu. Thế là mấy người trong phe gã khiêng thùng qua cổng, dù hàng của phe gã ngồi mãi dưới xa. Trước khi đi, gã còn ném cái nhìn thách thức, đe dọa vào mặt người gã định đánh. Trong lòng tôi nổi lên sự bất mãn. Ở trong hoàn cảnh này còn dùng sức mạnh, thủ đoạn để lấn hiếp nhau trước mặt tên Cộng Sản nhãi ranh, không đáng gì. Như vậy, sao không thua trận? Sao Cộng Sản nó chẳng khinh mình? Tôi cho tay kéo chiệc mũ vải che lấp khuôn mặt, một phần để che nắng, phần khác, không muốn nhìn thấy ai.
Bữa ấy, chúng tôi lấy được mấy thùng nước vừa hết buổi sáng. Vì việc lấy nước quá vất vả, cực khổ, chưa kể thùng đứt giây phải dùng móc, câu lên mất cä tiếng đồng hồ, nên chúng tôi dùng rất tằn tiện, trừ hôm nào trời mưa.
Google images
Trong khi ăn com, Huy đố tôi biết, căn nhà có gì lạ? Tôi nhìn quanh quất một lúc, nhận ra căn nhà mới có 2 bóng điện, mắc bằng những sợi giây cũ mèm, trong khi chúng tôi góp tiền để mua giây mới. Tôi hỏi Huy:
– Công tắc đặt ở đâu?
Huy cười, nụ cười chế nhạo:
– Ông tưỏng việc tắt, mở đèn mỗi tối, do ông sao? Còn lâu!
Tôi lùa nốt miếng cơm cuối vô miệng, đi rửa gà-mèn, muỗng, rồi vô nhà rít một hơi thuốc lào như thường lệ. Buổi tối, căn nhà có đèn vui hẳn lên. Từ ngoài sân, tôi nhìn khắp, nơi nào cũng có chút ánh sáng, chứ không còn tối mò như trước. Sự có ánh điện ban đêm làm anh em tin tưởng ngày học tập chính trị sắp tới. Một tháng đã trôi qua, ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến tinh thần, dù cho ai có nhiệt tình với Cách Mạng mấy đi nữa !.
Tất cả câu chuyện lại xoay quanh vấn đề, bao giờ học, học cái gì ? Một bóng người từ xa đi lại, đúng B. Trưởng! Anh đi hội mỗi tối để nhận lệnh của quản giáo. Vừa bước chân vô cửa, anh la to: Có điện, “dui”quá ta ! – rồi anh mời tất cả mọi người vô nhà để phổ biến tin tức.
Giở tập vở ghi chép, lấy nét mặt trang nghiêm, anh đưa mắt nhìn khắp lượt, chậm rãi nói:
– Tất cả dự đoán anh em đều đúng. Vấn đề học tập của chúng ta đã đến. Buổi hội tối nay, cán bộ quản giáo cho biết, cấp lãnh đao Trại quyết định đặt 2 câu hỏi, để qua đấy, đánh giá mức độ hiểu biết của chúng ta về Cách Mạng! Các anh hãy lấy giấy bút ghi theo lời tôi đọc.
Tất cả đứng dậy đi về chỗ nằm tìm giấy bút. Khi mọi người đã ở trong tư thế sẵn sàng, B. Trưởng dõng dạc:
– Thứ nhất, ghi số La Mã, Lao động là gì? Các anh quan niệm thế nào là lao động? – Thứ nhì, cũng ghi số La Mã, Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập từ năm nào? Do ai lãnh đạo?
Sau khi ghi xong, tôi liếc nhìn mặt mọi người có phần thờ thẫn dưới ánh điện chẳng sáng là bao nhiêu. Có lẽ, 2 câu hỏi vừa nêu, phần nào xa lạ đối với mọi người. Có tiếng hỏi:
– Bao giờ phải viết xong?
– 2 ngày! hôm nay thứ Tư, đến chiều thứ Sáu, các Tổ Trưởng thu bài trong Tổ mình, đưa tôi nộp cán bộ quản giáo!
Sau khi giải tán, một số ra sân, một số ngồi quây quần hút thuốc lào, bàn tán về 2 câu hỏi.
Ra đến ngoài, chiếc ghế đã đầy người, tôi đành đứng ngơ ngơ nghe Mậu, Huy, Lâm, Phát và Định đang thì thầm to nhỏ. Trong số đó, tôi nhận thấy Lâm tương đối là một sĩ quan có kiến thức cao, có suy luận sâu sắc trong mọi vấn đề thảo luận. Nhưng đứng trước 2 câu hỏi này, Lâm cũng chỉ có thể phát biểu loanh quanh:
– Bố ai biết được Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập từ năm nào. Mình có là Đảng viên đâu? Còn ai lãnh đạo, cái đó dễ rồi. Vấn đề lao động, tuy câu hỏi đơn sơ, nhưng hóc búa đấy các cụ a! Mình có lao động tay chân bao giờ đâu, mà quan niệm? Việc này phải hỏi mấy ông làm ruộng ở miệt quê, hoặc mấy cha xích lô ở thành phố, may ra!
Tôi đứng ngoài nghe, không tham gia ý kiến. Định kéo tay tôi, hỏi:
– Nè ông, phải có ý kiến giúp anh em chứ? Khi nào học tập xong được trở về, tôi mời ông nhậu một bữa, làm toàn món Huế.
Sự thực, tôi nào hơn gì anh em về vấn đề này, nhưng trước sự nài nỉ của Định, tôi đành trả lời ngu ngơ:
– Lao động, ai chẳng phải lao động, do đó, Marx mới quan niệm “Người là con vật lao động” trái hẳn với quan niệm của Pascal “Người là động vật siêu hình”!
– Hay, hay! – Tiếng vỗ tay nhè nhẹ. – Còn ngày thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương, ông biết không?
– Tôi nhớ mang máng, vì trước có được đọc cuốn tài liệu nói về Đảng này, hình như ngày 3-2-1925, nhưng không chắc đâu nhé!
Google images
Nghe tôi nói vậy, anh em ngồi im như phân vân. Ít lâu sau, khi được học tập một bài về Lao động, tôi mới biết, mình chẳng hiểu lao động là cái quái gì cả.
Hai ngày qua đi rất nhanh. Trong hai ngày đó, chúng tôi không phải làm cỏ-vê. Sự bàn tán về 2 câu hỏi không ngớt, nhưng cũng có người phớt tỉnh như Kiên (thuộc Đơn vị 101) cứ nằm võng đu đưa suốt ngày, ban đêm anh cũng ngủ võng luôn! Do đó, chỗ nằm của anh không có ván kê.
Sự thực, viết không lâu, chỉ trong vòng nửa tiếng, nhưng có người cẩn thận, cứ sửa đi sửa lại, để chứng tỏ khả năng hiểu biết của mình, họ viết tới 5, 6 trang giấy, nhưng càng viết nhiều, càng nhầm, hối không kịp.
Sớm nay, tôi đang đứng nhìn đôi chim khuyên chuyền cành, bỗng có tiếng nói nhỏ nhẹ:
– Ông cho tôi mượn bài đi!
Tôi ngoảnh nhìn thấy Bích (Cựu Tỉnh Trưởng, mới mất chức trước ngày 30-4 vì tham nhũng).
– Cọp-dê sao cha?
– Ừa, nghĩ mệt quá. Sao y bản chính cho tiện!
Bích cười khà khà:
– Ở đời, nghĩ cũng tức cười. Khi trước đi trận, có bữa mình uýnh tụi nó chạy vãi cứt ra quần, nay nó bắt mình trả bài, ức thật!
Buổi chiều, sau khi nộp bài, mọi người như vừa trút xong gánh nặng, dù câu trả lời đúng hay sai? Có người ngụy biện:
– Mình dốt mới phải học chứ? Dốt mới thua!
Nhưng rồi hình như, mọi người quên đi, lại quây quần xung quanh chiếc điếu để nhắc nhở đến kỷ niệm và những gì đã xảy đến cho mình trước ngày 30-4. Nhưng những chuyện được nhắc đây, không phải để căm thù, hoặc ân hận về những quyết định sai lầm trong khi trong tay còn quyền lực và vũ khí mà chỉ để chứng minh, sự thua trận không phải do lỗi lầm của họ.
Bỗng không khí căn nhà vui nhộn hẳn lên vì tiếng vỗ tay đôm đốp:
– Có chuyện gì vậy?
– Ciné! A, thích quá ta! Lâu lắm mới được coi.
B. Trưởng, dáng điệu chững chạc đứng giữa nhà nói:
– Chiều mai, thứ Bẩy, 6 giờ, anh em sẽ sang khu Tiểu Đoàn xem chiếu phim. Có vài điều, anh em cần nhớ: khi đi, giữ đội hình. Lúc xem, ở đâu ngồi đấy, không nói chuyện. Nếu ai vi phạm sẽ bị kỹ luật!
Tiếng bàn tán lại xôn xao. Người đoán phim này, kẻ đoán phim nọ. Vấn đề học tập tự nhiên chìm xuống. Ai cũng mong chóng đến chiều mai, như trẻ thơ chờ áo mới. Thời gian 1 tháng đã qua được mấy bữa rồi. Các luống rau muống đã lú cao, sắp sửa được ăn lứa đầu. Các luống khoai, lá mọc xanh um, tươi tốt. Bãi cỏ gianh đã được dọn sạch. Toàn trại trông gọn gàng vì có bàn tay con người săn sóc. Chúng tôi đã kiến tạo được trái bếp nhỏ để đun nấu và có cả một số soong, chảo, nồi niêu đủ đùng.
Nóng quá, không ngủ được, buổi trưa tôi ngồi ngoài thềm tựa lưng vào chiếc cột, nhìn những cụm mây trôi lang thang trên vòm tròi. Có nhiều cụm hình thù kỳ dị, sần sùi như mặt quỷ. Có những dải mây mỏng như lụa bay lang thang, bình bồng. Bỗng có tiếng còi xe rúc vang phía bên kia đường. Tôi nhìn sang. Một chiếc Molotova không mui, trên chở độ 4,5 người, trong đó có một cụ già khoảng trên 70 tuổi, râu tóc bạc phơ, rối bời theo chiều gió. Chiếc xe vòng qua lối cổng, chạy thẳng đến khu Đại Tá. Tôi không hiểu những người trong xe thuộc thành phần nào, nhưng chắc chắn, họ được đưa đến đây không phải để chơi! Tên bộ đội mang khẩu AK, ngồi nghiêm chỉnh sát tấm chắn hậu. Lát sau, chiếc xe vòng ra, khoang sau trống rổng. Vì tò mò, tôi rủ Mậu cùng đi xem những người mới đến. Chúng tôi đi qua căn nhà Nữ Quân Nhân. Tôi ngạc nhiên, thấy căn nhà đó bỏ trống.
Google images
Tôi hỏi Mậu:
– Nè ông, các “phún” biến đâu rồi?
Mậu cười khục khục:
– Ông ngu ngơ bỏ cha! Tụi Việt Cộng đã chuyển các “bà cố nội” nó đi từ tuần trước.
– Đi đâu?
– Nghe đồn về Trường Thủ Đức!
Vài bóng người lố nhố chạy ra, chạy vô trong một căn nhà nhỏ. Nhìn thấy Sơn, nhà viết sử, tôi vẫy tay gọi. Sơn ngó ra, nét mặt cau có như còn đang cơn tức giận. Sơn nói với tôi, như phân trần:
– Tụi khốn nạn! Người ta già cả, ốm đau như vậy, còn bắt đi cải tạo!
– Ai vậy, bạn?
– Đại tá Cẩm đó! Ông cụ đang bị bệnh rề rề, máu trỉ chảy tùm lum, gần đất xa trời rồi, cũng không tha!
Tôi ghé mắt nhìn vô trong. Một ông già, quá già, nằm dài trên tấm ván đặt sát mặt đất, mồm há ra, thở mệt nhọc.
Tôi hỏi:
– Còn mấy người nữa đâu ông?
– Mấy người kia thuộc diện Trung Tá, trốn học tập cải tạo, bị bắt ở dọc đường. Họ được đưa đến khu D rồi!
Mậu kéo tay tôi.
– Thôi về ông, chán ghê, chán ghê!
Vừa đi, tôi vừa nhìn bóng mình lẩn quẩn trên mặt đất đỏ, như vết nhọ.
Quả thực, không có gì nản bằng khi mắt mình phải nhìn mãi một cảnh tượng không ưng ý. Chẳng còn chi vui thú khi biết tự do của mình đã mất. Vùng trời xanh thẳm trên kia, hàng cây giăng dài phía trước, những vòng kẽm gai quấn quít, tua tủa muôn ngàn mũi nhọn như đe dọa, những mũi súng lạnh lùng ẩn khuất đâu đó, tất cả chẳng khơi động trong tâm trí tôi mảy may xúc động! Những bước chân, quanh quẩn vẫn là những bước chân tù túng, bị hạn chế trong một chu vi nhất định.
Đoàn xe rời xa lộ, quẹo vào con đường đất đỏ chừng vài cây số rồi dừng lại. Trời bắt đầu sáng. Sau một đêm di chuyển mất ngủ, tôi nhìn những nét mặt mệt mỏi, những cặp mắt đờ đẫn, những mái tóc rối bời, không ai nói một lời. Tên bộ đội trẻ măng ôm khẩu AK ngồi ở cuối xe, liếc nhìn mọi người với cặp mắt nghiêm khắc. Hắn đưa ngang cây súng như đề phòng, sợ có người nhảy xuống trước khi có lệnh. Tên khác, ngồi sát ca-bin nhoài người, một tay cầm súng, một tay vén chiếc bạt xe, thò đầu ra ngoai. Chiếc Molotova chứa 80 người đi học tập cải tạo cùng tư trang với 2 tên bộ đội áp tải. Lòng xe chật cứng không ai có thể cựa quậy, xoay trở. Chiếc bạt che kín mít, làm nghẹt thở. Mùi hôi dầu mỡ do tấm bạt tỏa ra tăng thêm khó chịu. Ai cũng muốn thò đầu ra ngoài để mong được hít thở chút không khí trong lành, nhưng không được. Những tiếng ngáp kéo dài từ người nọ qua người kia tạo nên cảnh tượng vô cùng chán mỏi. Một vài đốm lửa lập lòe. Khói thuốc quanh quẩn không thoát khỏi lòng xe quến vào mùi dầu mỡ và hơi nóng từ đầu máy dội lai làm cổ họng tôi ngứa ngáy, buồn nôn. Vì ngồi sát phía sau, tôi cố tìm cách quay mặt ra ngoài. Mặt tôi gần chạm vào thân súng AK. Tên bộ đội nhìn chăm chăm. Bỗng từ trên xe, lao nhanh xuống một bóng người. Khẩu AK quay nhanh nòng về hướng đó:
– Anh kia, “nên” [Các tên bộ đội V.C. đều nói ngọng L thành N] xe ngay. Ai cho xuống? Xin phép ai? – Tiếng nói gắt gỏng mang nhiều tính cách dọa nạt.
– Thưa…., cho đi tiểu ! – Vừa nói anh vừa cho tay mở cửa quần.
– “Nên” ngay, nếu không tôi bắn!
Tên bộ đội đặt tay vào cò súng. Mọi người trong xe im phăng phắc. Chiếc áo trắng quay lại, cửa quần mở toang, cho tay bám vào thành xe, leo lên. Tôi nhìn, nhận ra Lâm, Trung Tá Quân Y. Vì nhỏ con và sau một đêm thức trắng, xe lại quá cao, không còn sức để leo. Tôi cúi xuống nắm tay Lâm, kéo lên. Sau khi Lâm đã ngồi thu lu trong lòng xe, tên bộ đội vẫn chăm chú nhìn, như muốn trút tất cả bực bội xuống hắn.
Trời sáng rõ. Tên bộ đội nhảy khỏi lòng xe theo lệnh của tên ngồi phía trước. Hắn cầm ngang súng, trong tư thế sẵn sàng. Một tiếng hô, khô và sắc: Xuống!
Mọi người như trút được gánh nặng, nhảy ồ ạt mong thoát khỏi lòng xe càng sớm càng tốt. Khi bàn chân vừa chạm đất, ai nấy đều khoa tay, nhún chân, vặn mình cho đỡ mỏi. Những khớp xương kêu răng rắc. Vài người mót tiểu quá, kéo nhanh cửa quần. Dòng nước tức tưởi bung ra!
– Tập họp hàng hai!
Tiếng hô của tên bộ đội âm vang. Đôi mắt hắn quắc lên như hằn học. Có người đái chưa hết bãi, vội cho tay kéo cửa quần, những dòng nước vẫn chảy làm ưót sũng một khoảng vải.
Google images
Dưới làn ánh sáng buổi mai, giữa một khung cảnh tươi mát của cảnh vật còn ướt đẫm hơi sương, tôi nhìn tên bộ đội với bộ đồ tác chiến nhăn nhúm, chiếc nón cối đã sờn vành, chiếc dây nịt bằng nhựa nâu kiểu dân sự thường dùng, đôi dép lốp “Bình Trị Thiên”, được sáng tạo từ hồi Kháng Chiến chống Pháp, đúc tại Trung Quốc, tất cả như toát ra sự nghèo nàn, nhớm nhếch không phù hợp với khẩu AK mới toanh, màu gỗ đỏ au, nòng thép xanh biếc có gắn chiếc lưỡi lê sáng quắc. Hắn cũng có vẻ mệt mỏi không kém chúng tôi, nhưng ở cuơng vị này, không cho phép hắn có những lời nói và hành động thiếu “tính chất Cách Mạng”! Vì đứng gần, tôi nhìn rõ hàng lông to mọc bừa bải trên mép hắn như vết nhọ.
– Thưa…, cho mang đồ xuống! – Một người trong bọn chúng tôi nói ấp úng vì chưa biết phải gọi tên bộ đội bằng gì?
– Một “nên”, một đứng dưới đỡ xuống. Còn ở tại hàng! – Giọng nói khô khan, lạnh lùng.
Trong khi chờ đợi mang đồ xuống xe, tôi nhìn phía trước và phía sau. Ở cuối mỗi chiếc Molotova, đều có hàng người đứng ngay ngắn. Đoàn xe quá dài, ở trước mặt cũng như sau lưng, những bộ quần áo đủ màu làm cảnh trí nơi đây cũng bớt phần tẻ nhạt. Một tên bộ đội chắc là cấp sĩ quan tuy không mang quân hàm, có dáng chững chạc, đeo K 54, đi từ đầu hàng xe lại. Hắn đi như duyệt qua hàng rào danh dự. Không đội nón cối. Mái tóc hớt ngắn, đen rậm. Cặp chân mày như hai nét mác chếch lến cao gần chấm tóc. Vầng trán hẹp, thấp. Khuôn mặt vuông. Chiếc cằm bạnh ra làm tăng phần cương quyết. Hàm răng hô nên môi hắn lúc nào cũng mở hé như cười. Thân hình tầm thước, nhưng đôi vai khá rộng. Nhìn hắn, tôi đoán biết từ miền Bắc mới vào cùng với ngày 30-4. Bộ quân phục hắn mang trên người thuộc loại hàng bóng, tương đối tươm tất. Hắn không mang dép lốp mà mang dép nhựa nâu, kiểu rọ heo. Cách xa hắn một khoảng, đám bộ đội, kẻ đội cối người đầu trần; tất cả đều không mang vũ khí.
Khi đi qua hàng chúng tôi, hắn liếc nhìn. Đôi mắt sắc sảo lướt nhanh như ánh chớp. Hắn không nói câu nào. Hai tên bộ đội áp tải, không chào, cứ đứng trơ trơ, coi như không có ai trước mặt.
Cảnh tượng đó làm tôi suy nghĩ.
Chúng tôi lợi dụng lúc này để trò chuyện trao đổi với nhau những lời nói thì thầm. Tôi nhận thấy, trên mỗi nét mặt, thoáng hiện sự lo âu nhiều hơn bình thản.
Tất cả, cầm đồ trong tay ! Sau tiếng ra lệnh, moi người cúi xuống xách túi tư trang của mình. Có người khiêm nhường, chỉ mang theo một túi nhỏ, chứa vài chiếc áo quần thay đổi cùng dăm ba thứ vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày. Có người lo xa, mang một “xắc ma-ranh” tròn vo như con heo nái! Tất cả sự không cân xứng đó như báo trước và đánh giá về tầm mức hiểu biết của mỗi cá nhân về vấn đề học tập cải tạo ! Một tên bộ đội, cao, gầy, nét mặt xương xương từ đâu tiến đến sát chỗ chúng tôi. Hắn nói với một trong hai tên áp tải:
– Các đồng chí cho tôi “nãnh” B [B= Trung Đội] này! A, các anh ở B-30 phải không? B. Trưởng đâu?
Một người trong chúng tôi bước ra khỏi hàng:
– Thưa… tôi đây!
Đó là Trung tá Bảy thuộc Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Anh Bảy người lùn, mập mạp. Cái lối trình diện của anh vẫn theo đúng tác phong một quân nhân, dù hôm nay, anh không còn là sĩ quan cấp Tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nữa. Anh đứng thẳng tắp, hai gót chân đụng nhau, hai đầu bàn chân tẽ chênh chếch đúng 45°. Tôi nghĩ, có lẽ do thói quen nhiều hơn sự sợ sệt của một người bại trận đứng trước một người thuộc phe thắng trận!
Google images
– Tốt, các anh theo tôi.
Anh Bảy đi đầu, theo sát tên bộ đội, chúng tôi bước sau, không ai cất tiếng.
Từ chỗ tập họp đi vào doanh trại, nơi chúng tôi sẽ phải học tập cải tạo, cũng khá xa. Con đường đất đỏ còn ướt sũng nước mưa đêm hôm trước, gây trở ngại cho sự di chuyển. Từng mảng bùn đỏ, quánh đặc dính vào dép như một lớp keo dầy, không cách nào làm nó lìa khỏi đế. Nó dính cứng, mỗi bước mỗi dầy thêm, càng lúc càng nặng nề, mệt mỏi! Tôi đang loay hoay chùi dép vào rìa cỏ cho ra bớt đất, có bóng người qua mặt. Tôi ngước nhìn. Một anh cao lớn, vai mang túi đeo lưng khá to, mặc chiếc áo xám ô vuông, quần dacron mầu nâu, chân đi “bốt-đờ-sô” hùng hục bước, coi thường bùn đất. Tôi nghĩ, anh này có lý. Chắc trước khi đi, anh đã được một tên Việt Cộng quen thuộc nào đó nói cho biết, cần mang theo những gì khi đi học tập cải tạo! Tôi biết, anh tên Dinh, người miền Trung, Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn X thuộc Sư đoàn III.
Vừa vào qua chiếc cổng làm bằng những cây trụ Ấp Chiến Lược, một bên cánh đã hư, sà xuống gần sát mặt đất, cong queo, như bị sự va chạm nặng nề, có thể do chiếc GMC hay chiếc M113 đụng phải. Ngay bên cạnh đấy, một đống rác to, cao hơn đầu người. Trong đống rác có đủ thứ nhơ nhớp, xen kẽ vào đấy, nào giấy đánh máy, giấy in Ronéo, các văn kiện quân sự bị xé nát, lon bia, lon đồ hộp, chân bàn ghế gẫy, nồi niêu, soong chảo bẹp rúm, chiếu rách và những tấm nylon tả tơi cùng giầy, dép cũ. Có một chiếc giầy trẻ con màu đỏ nằm giữa lối đi. Tôi toan cúi xuống nhặt, người đi trước đã vô tình dẫm lên làm nó chìm xuống măt bùn. Có một cái gì tang thuơng buồn bã đang khỏa lấp cảnh tượng nơi đây làm lòng tôi se lại. Tôi cảm thấy ngay từ giờ phút này, cuộc sống của mọi người bắt buộc phải chuyển hướng, dù tốt, dù xấu!
Chúng tôi di chuyển qua 2 căn nhà rồi quẹo sang bên phải. Tên bộ đội dừng lại trước một căn, bốn phía quây bằng lưới ngăn ruồi, không có tường, có cửa sổ gì hết. Phía trước có chiếc mái hắt nhô ra, được chống bằng 2 chiếc cột gỗ bắt chéo. Lối kiến trúc này tôi thường thấy nơi các Câu Lạc Bộ thuộc doanh trại quân đội. Quay mặt ra ngoài, tôi đảo mắt nhìn. Toàn khu khá lớn, rất nhiều căn nhà làm sẵn, lợp tôn. Một người ghé vào tai tôi nói nhỏ:
– Căn cứ của Trung Đoàn 48.
Tên bộ đội đi vào, anh Bẩy theo sau. Từ chỗ đứng, tôi nghe tiếng nói:
– Đây, chỗ ở của các anh! Từ phút này, tôi quản “ný” các anh. Các anh phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của tôi. Mai đây, tôi sẽ sinh hoạt để nói với các anh những gì các anh phải “nàm”. Còn vấn đề xưng hô, các anh muốn nói gì với tôi, phải dùng danh từ: “cán bộ”. Còn tôi gọi các anh bằng “anh”, không phân biệt tuổi tác ! Các anh không được xưng hô với nhau qua cấp bậc cũ, không được nói tiếng nước ngoài. Đó, tôi nói để các anh hiểu sơ qua.
Hắn nói ngọng, giọng nói một trăm phần trăm nông dân miền Bắc. Hắn đi ra, hai tay khoanh sau lung, quần áo xốc xếch như mọi tên bộ đội khác. Đôi dép lốp không được mang quai tử tế mà xỏ như xỏ guốc. Hai chiếc quai sau bị đè bẹp dưới gót chân. Hắn không nhìn ai, đi thẳng ra ngoài, hướng về dãy nhà khang trang hơn ở bên kia con đường đá.
Mọi người đi vào. Tôi sững mắt nhìn căn nhà. Nền đất dơ dáy, rác rưởi mỗi nơi một đống. Đó đây vài vũng nước đục ngầu, đỏ quạch, nhơ nhớp vì mưa tạt. Những tấm lưới ngăn ruồi dính bụi lâu ngày trông giống màu sắt rỉ, vài chỗ rách nát, tả tơi! Tất cả, tuy không ai nói lời nào, nhưng nhìn qua nét mặt, đều có thể đoán được phần nào ý nghĩ của nhau trước thực tế này.
Google images
Anh Bẩy nói với tư cách B. Trưởng.
– Chỗ ở của tụi mình đây. Bây giờ chúng ta hãy làm vệ sinh cho sạch sẽ, rồi chia nhau chỗ nằm.
– Chổi đâu? – Một tiếng hỏi như gắt.
Anh Bẩy nhỏ nhẹ.
– Mấy anh tự tìm lấy. Tôi cũng như mấy anh biết gì đâu mà hỏi!
– Anh là B. Trưởng mà!
Nghe câu đó, anh Bẩy không giữ được bình tĩnh:
– B cái con mẹ gì? Tôi yêu cầu 3 anh Tổ Trưởng phân công cho anh em làm vệ sinh. Nếu không, tôi sẽ…
Anh chưa nói hết câu nhưng mọi người đều nhận biết đó là lời đe dọa ! Một tiếng nói vọng ra từ góc nhà.
-Đù mẹ, chưa chi đã phách lối!
Tất cả đồ hành trang được xếp vào một góc. Mọi người túa đi tìm chổi. Tôi đi lang thang nhìn ngó khắp mọị chỗ xung quanh nhà, nhưng không tìm đâu ra cây chổi hoặc một vật dụng nào có thể thay thế. Nhiếu nguời đi mãi xa. Tìm chổi không được, tôi đến bên cây chuối mọc sát bờ rào, bứt lá chuối khô buộc lại, bên ngoài bọc lớp bẹ tươi cho cứng. Từ xa, nhiều người trở về, mỗi người cầm trong tay một cành lá.
Chúng tôi quét loạn xạ, bùn đất văng tứ tung. Những bãi rác được bốc bằng tay quăng sát bờ rào kẽm gai. Các vũng nước được lùa qua kẽ hở, đùn ra ngoài.
Sau chừng một tiếng đồng hồ làm vệ sinh, căn nhà tương đối sạch sẽ, nhưng nền nhà ngâm nước mưa lâu ngày không cách nào khô mau được!
– Vấn đề giường chiếu sao, anh Bẩy?
– Có chi nằm nấy. Ai có nylon trải ra. Tổ 1, Tổ 2 nằm phía tay mặt, Tổ 3 phía trái.
Căn nhà bỗng nhiên nhộn nhịp vì tranh giành chỗ nằm tốt. Một vài tấm nylon được trải ngay trên nền đất ướt. Tôi không mang theo gì, vì nghĩ 1 tháng chẳng bao lâu, bây giờ đối diện trước thực tế, chẳng biết xử trí ra sao ? Sau cùng, tôi lại ra cây chuối, dùng con dao nhỏ, cắt mấy tàu lá mang về trải chỗ nằm.
Có lẽ, sau cuộc hành trình vất vả, vài người đã ngủ vùi. Trên mặt tấm nylon rộng vừa đủ 2 chỗ nằm, mấy người chụm đầu nói chuyện thì thầm. Tôi đoán, họ nói không ngoài vấn đề thực tế đã mặc khải cho họ những gì sai với ước tính, trước khi ra đi.
– Anh B. Trưởng đâu? – Tên bộ đội đứng ở cửa, hỏi vọng vào…
– Dạ, tôi đây, cán bộ!
– Trong các anh, có ai biết nấu cơm không?
Anh Bẩy quay mặt hỏi anh em.
– Có tôi! – Một cánh tay giơ lên cao.
– Một mình anh đâu được, nấu cho cả C [C= Đại Đội] chứ đâu cho riêng B. Phải 1 Tổ. – Tên bộ đội nhìn chúng tôi như tìm hiểu.
– Tổ nào xung phong? – Anh Bẩy nhìn các Tổ Trưởng. – Tổ 1 được không?
Google images
– Dạ, chưa quen.
– Tổ 2 được không?
– Được! – Tiếng nói thật dứt khoát, làm mọi người tin tưởng.
– Đi theo tôi! – Tên bộ đội quay ra cùng với 10 người thuộc Tổ 2.
Anh Bẩy nói khẽ với những người còn lại:
– Cán bộ quản giáo đó. Chúng mình sẽ thuộc quyền anh ta trong suốt thời gian học tập tại đây!
Cứ vô tư nhận xét, tên bộ đội tuy quê mùa, nói ngọng, nhưng trông bề ngoài không đến nổi ác độc. Tôi nằm dài trên những tàu lá chuối, hơi nước chuyền lên làm sống lưng lạnh giá như nằm trên vũng nước. Bụng đói meo vì thức suốt sáng, tới giờ này chưa được miếng nào vô bụng!
Tôi nhắm mắt, hồi tưởng những gì đã xẩy ra trong 2 ngày qua, khi vừa đặt chân đến Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco, để đăng ký học tập cải tạo theo Thông Cáo của Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh. Sau khi làm thủ tục xong, biết mình thuộc B-30, tôi được hướng dẫn lên lầu cùng vài người khác. Đây là căn buồng nội trú cửa học sinh, những dẫy giường ngang dọc kê san sát, chỉ chừa lối đi nhỏ. Một tên bộ đội đeo quân hàm Thiếu úy, cho lệnh chúng tôi làm tờ khai lý lịch và thu tiền ăn một tháng 12,600$. Theo Thông Cáo đăng tải trên tờ Nhân Dân, và tờ Sàigòn Giải Phóng, vần đề ăn uống do nhà hàng Đồng Khánh phụ trách. Anh em ai cũng yên tâm và tin tưởng về cách đối xử “mã thượng” của Cách Mạng, không đánh người ngã ngựa ! Đi học tập cải tạo, được như vậy, nhất rồi! Sau khi thâu tiền và lý lịch, tên Thiếu úy cho tay chỉ vào mặt chúng tôi dõng dạc nói:
– Mấy anh đáng tội chết! Các anh đã tiếp tay với Mỹ-Ngụy để phản “nại” Cách Mạng, nhưng Đảng và Nhà Nước khoan hồng, tha tội chết cho mấy anh đó, biết không?
Hắn quắc mắt nhìn như muốn ăn tươi, nuốt sống. Chúng tôi cứ đứng im, không có thái độ. Tôi nghĩ, còn thái độ nào tốt hơn là giả câm, giả điếc trong trường hợp này! Từ giờ phút đó, tôi đã nhận thức được cương vị của mình trong hoàn cảnh mới. Có tiếng nạng gỗ đập cành cạch xuống sàn gạch. Tôi quay nhìn. A, một chiến hữu cụt chân, vai đeo túi vải, đang chống nạng tiến về phía chiếc giường ngủ ở cuối buồng. Tôi sững sờ, vì anh cùng đến với tôi một lượt. Tên Việt Cộng ghi danh đã từ chối nhận anh, hắn nói:
– Thôi cho anh về, chờ khóa sau. Anh tàn tật như vậy, chúng tôi sẽ cấp giấy chứng nhận được hoãn.
– Dạ, xin cho tôi được đăng ký học khóa này. Trước sau cũng phải học. Một Iần cho xong, để yên tâm làm ăn!
Anh cố nài nỉ, trong khi tôi lên lầu nên không hiểu sự việc được diễn tiến ra sao? Nay nhìn thấy anh, như nhìn thấy một quyết tâm, thiện chí trong vấn đề học tập cải tạo!
Bữa cơm chiều, quả thực chúng tôi có được ăn những món do nhà hàng Đồng Khánh nấu. Tên đầu bếp nói tiếng Tàu, các cô chiêu đãi cũng mặc áo trắng có thêu chữ Đồng Khánh Tửu Lầu trên ngực. Nhưng đó chỉ là bữa ăn rất tầm thuởng, rất bình dân, số lượng lại ít, ăn chẳng đủ no, không tương xứng với số tiền chúng tôi bỏ ra. Hơn nữa, có người đến muộn chỉ ăn một bữa, vẫn phải đóng đủ số tiền ấn định ! Ai nấy nhìn nhau thất vọng ! Một vài tiếng chửi vọng từ xó kín nào đó. Tôi cố tìm nhưng không ra!
Buổi tối qua, sau bữa cơm chiều còn đói, chúng tôi được lệnh chuẩn bị di chuyển. Chiếc sân trường Don Bosco rộng thế, chật cứng người, toàn Trung Tá! Tất cả hàng đèn phía trước ngôi trường được bật sáng, những chiếc Molotova cao lênh khênh phủ bạt kín mít đậu nối đuôi nhau. Những tên bộ đội vai đeo AK, đi lại tấp nập. Không khí ngôi trường như có sự gì quan trọng sắp xảy ra. Chiếc loa phóng thanh kêu những số xe theo thứ tự và nhắc những người đi học tập cải tạo chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh.
Google images
Vấn đề chuyển vận trên 1,500 con người không phải chuyện dễ dàng, do đó không thể tránh được lộn xộn, khi sắp xếp. Những chiếc đèn pin, đèn bão được xử dụng tối đa vì chiếc sân quá rộng lại thiếu ánh sáng. Từng B một, lần lượt lên xe theo tiếng loa gọi. Mỗi xe 30 người gồm cả hành trang, nên lòng xe chật cứng, dù Molotova là loại vận tải của Nga khá lớn, lại thêm 2 tên bộ đội áp tải nên càng chật. Chúng tôi lần lượt leo lên, chiếc bạt phủ kín làm nghẹt thở. Mọi người đều cố tìm cách thò đầu ra một kẽ hở nào đó để tìm chút không khí. Chúng tôi mong xe chạy càng sớm càng tốt để có gió lùa vào. Nhưng nó cứ đứng ì một chỗ, thỉnh thoảng có chuyển bánh nhưng chỉ xích qua, xích lại để dồn xe. Mồ hôi vã ra như tắm. Tôi không dám hút thuốc dù cơn thèm đã lên đến cao độ.
Bỗng có nhiều tiếng máy nổ cùng một lượt. Tôi đoán, sắp đến giờ khởi hành. Khi chiếc xe chở chúng tôi vừa lăn bánh, một tên bộ đội lách mình ở phía trước nơi gần ca-bin, trèo vô, nòng súng chạm vào thành xe nghe sắc lạnh. Vì vội vàng và trong tối, hắn đạp cả dép lên đầu, lên cổ những người ngồi phía đó. Tiếng la oai oái chìm lấp vào tiếng máy. Từ phía sau, tên bộ đội khác cũng trèo lên, tương đối không làm phiền ai. Hắn thò đầu ra khe bạt, tay ôm chặt khẩu AK. Tôi ghé mắt nhòm qua kẽ hở. Đoàn xe nối đuôi nhau ra khỏi cổng. Giờ này chắc đã khuya. Tôi nhìn đồng hồ tay, nhưng chẳng thấy gì vì kim không có dạ quang. Các cửa nhà đều đóng kín. Từ trên chiếc ban-công, 2 cô gái xoả tóc nhìn xuống. Hình như các cô vừa qua giấc ngủ ngắn. Đoàn xe dừng lại ở ven phố. Mấy tên bộ đội chiếu đèn pin kiểm soát. Chiếc bạt được vén lên, ánh đèn rọi vào lòng xe quét một vòng, rồi cánh bạt lại hạ nhanh xuống. Có tiếng hỏi vọng lên:
– Các đồng chí hiểu rõ tiêu lệnh rồi chứ?
– Hiểu! – Tên bộ đội áp tải ngồi phía sau, trả lời ráo hoảnh.
Hơi nóng từ đầu xe hắt lại càng làm cho nóng nực, khó thở. Có tiếng ho sặc sụa nổi lên. Vì nhờ ngồi sát tấm bạt, nên tôi có thể dí sát mũi vào kẽ hở để thở, nhưng đôi chân tê bại vì không có chỗ nhúc nhích. Nếu tình trạng này kéo dài, thế nào cũng có người xỉu. Một hồi còi rúc vang. Đoàn xe rồ máy, lăn bánh. Hơi gió lùa qua các khe hở xua bớt không khí ngột ngạt ra ngoài. Tôi nhìn lên chiếc ban công lần cuối. Hai cô gái vẫn đứng đó. Dòng tóc lẫn vào bóng đêm dầy đặc. Xe đến ngã tư, tôi nhìn thấp thoáng ánh đèn của tiệm hủ tiú và quán cà-phê cùng mấy người đang ăn uống. Tất cả đều thuộc giới lao động. Đó, những hình ảnh cuối cùng, tôi ghi nhận được trước khi đi vào cánh cửa thứ nhất của Địa Ngục.
Xe chạy bon bon trên con đường êm và rộng thênh thang. Mọi người đều biết đó là xa lộ. Một tiếng nói nhỏ trôi vào tai tôi.
– Căn cứ Long Bình. Tụi mình sẽ học tập ở đây!
Tiếng nói có vẻ khẳng định. Đoàn xe chạy chừng 2 tiếng rồi quẹo vô căn cứ Long Bình thật. Tôi thán phục anh bạn nào vừa xác định địa điểm học tập một cách chính xác như vậy ! Căn cứ Long Bình, tôi biết, nó là một trong những căn cứ lớn của Quân đội Mỹ tại miền Nam. Tất cả phòng ốc đều có hệ thống điều hòa không khí. Biết bao nhiêu thiết bị quan trọng cung cấp cho nhu cầu chiến tranh đều xuất xứ tại đây. Người ta không thể đi bộ trong căn cứ, mà phải dùng xe gắn máy hoặc xe hơi. Chỉ có địa điểm này, may ra mới đủ chỗ chứa nổi một số lượng lớn lao các sĩ quan Quân Lực V.N.C.H đi học tập cải tạo. Tôi thầm khen những người lãnh đạo Cách Mạng đã sáng suốt khi quyết định chọn lựa địa điểm này. Nhưng không, đoàn xe chỉ dừng lại chừng nửa tiếng, lại rồ máy vòng qua ngả khác và cứ thế, tiếng máy đều đều chạy tới mờ sáng mới dừng lại.
Google images
Một người nói:
– Căn cứ này của Trung đoàn Thiết Kỵ Hoa Kỳ.
– Không phải, đây doanh trại của Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn D, không có thiết kỵ nào ráo trọi, chỉ có tụi cố vấn Mỹ ở căn nhà đằng xa kia kìa. Có một thời gian tôi giữ chức vụ Tiểu đoàn Trưởng ở đây mà! Đây, thuốc vùng Long Giao. Buồn bỏ cha, toàn đồi cao su! Tôi hành quân, mòn cả “bốt- đờ-sô”, không biết sao?
Tiếng nói qua lại, tranh đua về sự hiểu biết vùng đất, vẫn chưa ngã ngũ, bỗng có tiếng gọi:
– B-30 lãnh cơm. Yêu cầu mỗi Tổ cử người đi lãnh.
Mọi người nhổm dậy như có chiếc đũa thần gõ vào sợi dây thần kinh nhạy bén nhất. Các loại ca, lon, muỗng được cầm sẵn trong tay. Những người có nhiệm vụ trực cơm, nhốn nháo tìm vật dụng đựng cơm, canh.
– Tại sao không xuống hầm đạn lấy vài thùng T5 mà dùng.
– Ý kiến hay!
Hai, ba bóng người lao nhanh về phía sát bờ rào, nơi có gò đất cao, cỏ phủ dầy.
Một lát sau, những chiếc thùng gỗ mới toanh, đựng đạn đại bác 75 ly không giật, được mang lên khỏi hầm cùng những thùng sắt đựng đạn đại liên 30.
Bữa cơm thứ nhất trong đời sống cải tạo không ngon lành gì. Cơm vừa khê, vừa nát lại sống ! Canh thì lỏng bỏng toàn nước, váng mỡ, vài sợi mì ăn liền chìm tuốt dưới đáy, hôi mùi dầu mỡ thùng đạn. Tuy đói, mọi người không ai nuốt nổi, qua 2 lần bới. Tiếng chê trách ồn ào. Tổ Trưởng Tổ 2 phân trần:
– Anh em tính coi, có bao giờ mình nấu cơm bằng chảo đâu, chiếc chảo to bằng nửa chiếc chiếu, cho 180 người ăn. Củi lại ướt, khói mù mịt, mắt ai cũng đỏ ngầu như vừa khóc xong, lấy đâu mà ngon! Chiều nay, rút kinh nghiệm, may ra khá hơn! Củi đang phơi kia kìa!
Vừa nói, anh vừa cho tay chỉ về phía trước. Những khúc cây to bằng bắp chân, bắp tay nằm ngổn ngang, màu thâm xịt vì ngâm nước lâu ngày. Sau khi ăn xong, anh em mới chợt nghĩ đến vấn đề nuớc. Nhiều tiếng hỏi nhao nhao:
– Nước lấy ở đâu? Đựng bằng cái gì?
– Đù mẹ, giếng xa và sâu quá. Cả khu, mấy ngàn con người, chỉ có một cái giếng cạn, tuy lúc này đang mùa mưa ! Muốn lấy nước phải đi 2 người. Một đeo dây vào vai, chạy thật nhanh để kéo thùng nước từ dưới sâu hơn 10 thước lên, nơi miệng giếng có giắt một chiếc “pu-li” lớn, còn người kia đón bắt thùng, đổ vào đồ chứa. Cực ghê vậy đó ! Người chờ đông như kiến, biết bao giờ tới lượt mình?
Tôi nghe phát nóng lạnh. Vì ngại đi lấy nước, tôi đến bên một vũng nước mưa, vừa rửa gà-mèn, muỗng, vừa rửa mặt luôn. Tôi bắt đầu làm quen với sự mất vệ sinh!
Tôi vào nhà, ngồi trên những tàu lá chuối, lúc này đã héo, quăn lại, để hở những mảng nền còn ướt bùn. Cầm điếu, nhồi thuốc, tôi kéo một hơi thuốc lào. Khói thuốc sau bữa cơm thật khoái cảm. Nó làm tan đi những dư vị của thức ăn không mấy ngon lành.
Google images
Buổi trưa trời nắng gắt. Từ trong nhìn ra, ánh nắng như một khối lụa khổng lồ táp xuống cảnh vật. Căn nhà tôi ở, tuy bốn bề là lưới, nhưng vẫn nóng vì hơi từ mái tôn phả xuống hừng hực. Cây cối im phăng phắc. Trời cao và xanh, nhưng phía chân trời có nhiều cụm mây xám đùn lên. Có thể, chiều nay sẽ mưa. Chưa bao giờ tôi mong mưa như buổi nay. Nếu có mưa, tôi sẽ không phải đi guồng nước, lại có nước tắm giặt thoải mái. Bộ quần áo mặc mấy bữa nay đã dơ dáy. Mùi mồ hôi xông lên khó chịu. Nhưng lúc nay trời đang nắng, nên hy vọng của tôi, có thể trở thành ảo vọng!
Tôi đi ra phía ngoài cho thoáng. Vài người dễ ngủ đã ngáy ngon lành, như giấc ngủ bình yên dưới mái gia đình. Họ thực sung sướng. Tôi cởi áo, phanh ngực cho mát, đảo mắt nhìn một vòng. Doanh trại khá lớn, nhưng có vẻ hoang tàn. Căn cứ này có lẽ, từ lâu không được xử dụng, nếu có, cũng chỉ được xử dụng một phần nào đó. Những đám cỏ gianh cao gần bằng đầu người mọc tràn lan, chỗ nào cũng có. Đó đây, vài căn nhà đổ nát, tiêu điều. Ngay trước mặt, trên bờ rào kẽm gai, dây leo mọc chằng chịt. Sau hàng rào, có con đường trải đá khá bằng phẳng. Một căn nhà ngói nằm phía bên kia đường, thấp thoáng bóng những chiếc áo xanh. Tôi đoán đó là nơi của tụi quản giáo. Thỉnh thoảng, tên lính liên lạc cưỡi xe đạp tay cầm ghi-đông, tay cầm xấp giấy ra vào.
Từ chỗ chúng tôi ở, muốn sang đó, phải đi ngược lên mấy chục thước, qua vọng gác có lính canh. Xung quanh khu vực, toàn kẽm gai, không phải do Việt Cộng mới làm để nhốt những người học tập cải tạo, mà đã có từ trước, đề phòng sự tấn công của quân Cộng Sản khi chiến tranh còn tiếp diễn.
Đang suy nghĩ viễn vông, bỗng có bàn tay đặt nhẹ lên vai, tôi quay lại. Lâm cười bải lải:
-Ông mơ mộng gì đấy!
– Nóng quá, ở trong nhà chịu không nổi, ra đây hóng gió, chứ mơ mộng mẹ gì!
Lâm nói giọng buồn:
– Rồi mai đây, chả biết số phận tụi mình ra sao nhỉ?
Lâm, người bạn mới quen ở Don Bosco, cũng như Huy, như Mậu, như Phát, như Định và những người khác cùng B. Hắn là Bác sĩ Quân Y, một trí thức. B-30 gồm nhiều thành phần, ở nhiều đơn vị khác biệt, chỉ mới biết nhau một, hai bữa nay. Nhưng vì cùng chung cảnh ngộ, nên dễ thân. Lâm còn trẻ, mới trên dưói 40, đã mang cấp Trung Tá, vì có một thời gian dài, phục vụ ở đơn vị tác chiến, luôn luôn hiện diện sát mặt trận.
– Sáng nay, ông suýt ăn đạn AK nhé!
– Nó dọa vậy thôi, chứ dám bắn!
– Ai nói với ông như vậy? Ông thử chạy vài bước xem!
Lâm cười, đầu gục gặc:
– Này ông, đứng đây cũng vậy, mình đi một vòng xem sao!
Tôi đồng ý. Lâm vào nhà lấy 2 chiếc mũ vải, chụp lên đầu tôi một chiếc.
Chúng tôi đi dưới ánh nắng gay gắt. Tôi nhìn từ xa thấp thoáng có những chiếc áo mầu. Ngạc nhiên, tôi hỏi Lâm, sao có sự tình như vậy? Lâm nhìn, có vẻ nghi ngờ về sự hiểu biết của tôi.
– Thế ông không biết tí gì à? Đó, các vị sĩ quan cao cấp Nữ Quân Nhân đấy!
– A, nhi nữ cũng phong trần, lại coi chút!
Google images
Tôi kéo tay Lâm đi nhanh về phía những chiếc áo mầu. Trong căn nhà, tương đối kín đáo sạch sẽ, chừng mấy chục đàn bà, kẻ đứng, kẻ nằm, kẻ ngồi trên những tấm nylon mầu, mặt mày buồn xo. Vài người, không chịu nổi sự nóng bức, nên đứng mé ngoài hóng gió. Tôi chợt nghĩ đến những gì, họ sẽ phải gánh chịu, nếu cuộc sông này kéo dài. Một cô gật đầu chào tôi với nụ cười buồn vì trước có quen biết. Các khuôn mặt hiện diện giữa không gian này, không trang điểm phấn son, nên sắc đẹp phần nào giảm sút. Ai cũng có vẻ gầy đi, chắc lo âu làm hao mòn thể xác! Lâm huých nhẹ khuỷu tay vào sườn tôi, khẽ hỏi:
– Ai đấy?
– Cô Thúy, Trung Tá chức sắc của ngành Nữ Quân Nhân đấy, đàn em bà Đại Tá Hương. Cô có mặt trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày đầu, trong ngành Nữ Trợ Tá (PAF).
Vừa đi, tôi vừa suy nghĩ vơ vẩn, không hiểu bằng cách nào, họ kéo nước, nơi nào họ làm công việc vệ sinh thường nhật? Đàn ông dễ rồi, chỗ nào cũng được, còn họ, quả thực, một vấn đề khó khăn! Bỗng tôi nghe có tiếng gọi:
– Ê, bồ vô chơi!
Tôi ngoảnh nhìn. Một người cởi trần, khăn tắm vắt vai, chiếc quần xà-lỏn bó sát hông! A, Nghiêm. Tôi rẽ ngang, giơ tay nắm chặt tay Nghiêm – Đại tá Dù, khi Việt Cộng đánh vào Saigon Tết Mậu Thân (1968) đã cho tôi chiếc áo giáp, mà dạo ấy, chỉ riêng binh chủng Dù mới có.
– Nóng bỏ cha, muốn đi tắm, ra đến nơi, đông quá, đành quay về chờ vậy!
Nghiêm định kéo vô nhà, nhưng tôi từ chối với lý do đang đi với Lâm. Tôi liếc nhìn vô trong. Những thân xác nằm ngổn ngang trên nền đất, ai cũng mặc quần xà-lỏn hoặc xì-líp, trông như đàn heo mới cạo lông!
Chúng tôi đi loanh quanh. Mấy trăm Đại tá, chia nhau vài căn nhà, ngay phía trên căn nhà của nữ quân nhân. Các vị nữ quân nhân, chẳng biết làm cách nào, có thể chịu nổi cái cảnh mấy trăm người đàn ông suốt ngày mặc xì-líp, xà-lỏn đứng nhởn nhơ trước cửa:
– Ông đã biết giếng nước ở đâu chưa?
– Chưa!
– Vậy nên coi cho biết!
Chúng tôi đi vòng qua khu đất trống, rồi băng qua dẫy nhà thấp như nhà kho. Mắt tôi bỗng bắt gặp một cảnh tượng vô cùng huyên náo. Hàng trăm người mặc quần cụt, đầu đội khăn lông, đứng phơi mình dưới nắng. Một người đang gò lưng kéo sợi giây dài, trông có vẻ vất vả.
– Thôi, thôi!
Người kéo giây đứng lại, nhưng vẫn ở cái thế kéo, cho tới lực sợi giây chùng xuống, hắn mới đứng thẳng người, thả sợi giây xuống đất. Hắn quay lại chỗ giếng nước, vừa đi vừa cho tay vuốt mồ hôi mặt.
-Lẹ lẹ mày, còn tắm chứ!
– Mệt bỏ cha, cho thở chút chứ!
Google images
Tuy nói vậy, nhưng hắn cũng rảo bước đến nơi có tiếng gọi. Hắn cúi xuống cùng khênh với người bạn một thùng đạn 12.7 đầy nước!
Họ khiêng ra, không xa giếng bao nhiêu, rồi thản nhiên cởi quần ra tắm. Từng lon nước tưới lên thân xác họ, những thân xác xù xì lông lá, như muốn rửa sạch hết bụi bậm đường dài và bực bội!
Vì tò mò, tôi đến bên giếng dòm xuống. Nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài chiếc miệng giếng lở lói, sâu hoắm, đen ngòm như vực thẳm!
– Xô gì dữ vậy Bố? Té xuống là chết đấy!
Ai nói gì cứ nói, tôi cứ đứng trơ trơ như pho tượng!
Bữa cơm chiều cũng chẳng ra gì. Tuy không khê, không sống nhưng nhảo nhoẹt như cháo đặc. Vẫn món canh mì y hệt buổi sáng. Tôi nuốt từng miếng uể oải cho xong bữa. Gió thổi ào ạt, hàng cây phía xa vật vả. Tôi nhìn lên vòm cao. Mặt trời đã khuất sau đám mây đen kịt. Mầu đen cứ tan dần, loang thành một vùng rộng. Tôi chờ đón cơn mưa. Màn nước trải rộng ngang tầm nhìn, những lằn chớp chạy loằng ngoằng theo sau. Tiếng sấm nổ ầm ĩ. Tôi rủ Lâm sẵn sàng tắm rửa và giặt giũ. Huy có mặt gần đấy, ngước nhìn vòm trời:
– Hỏng rồi, các ông ơi! Tôi đoan chắc không mưa tới đây, vì mây mỏng lắm! Mình ở cuối cơn, mưa sao nổi?
Huy đã nói đúng. Mây đen tan dần. Trời sáng lại. Nơi chúng tôi đang ở chỉ lắc rắc vài hột mong manh.
– Thôi, ở bẩn sống lâu! – Lâm vừa nói vừa cười.
– Bác sĩ, ăn nói như vậy đó! – Tôi nhìn Lâm với con mắt diễu cợt.
Ngay dưới mái hiên, có sẵn chiếc ghế gỗ dài, tôi đề nghị nên mang ra ngoài ngồi cho mát, có thể nhìn thấy cảnh vật xung quanh. Huy và Lâm khiêng ghế đặt ngay giữa sân. Chúng tôi ngồi nói chuyện và ước đoán cái gì sẽ xẩy đến trong những ngày sắp tới.
– Sao? Sau nhiều sự kiện vừa xẩy ra, trong mấy chục tiếng đồng hồ, các bạn nghĩ gì? có hy vọng một tháng sẽ về không? – Tôi hỏi ngu ngơ!
Huy, con người đã làm ông Quận, dưới trào Đệ Nhất Cộng Hoà, trầm ngâm.
– Tôi thấy ngài ngại làm sao ấy. Nếu họ giữ đúng lời hứa theo Thông Cáo, thì cách đối xử của họ đối với bọn mình phải khác, chứ đâu đến nổi, họ canh giữ gắt gao như vầy? Ông Lâm vừa nhẩy xuống xe đi đái, nó đã định bóp cò! Tên Thiếu úy Việt Cộng ở Don Bosco sỉ nhục tụi mình thẳng thừng. Còn những tên khác, nhìn mình với con mắt đầy thù hận! Như vậy, tôi cảm thấy khó tin quá!
Lâm nhổm cao đầu:
– Riêng tôi, tin chính sách của Cách Mạng là đứng đắn. Còn vấn đề thi hành có sai lệch, do cấp dưới. Chúng ta đã buông súng, đầu hàng vì không muốn cảnh huynh đệ tương tàn tiếp diễn quá lâu. Cách Mạng cũng chủ trương như vậy. Các ông đã đọc Thông Cáo 10 điểm chưa?
Tôi nhìn Lâm rồi nhìn Huy như dò xét. Luôn luôn tôi nghĩ Cộng Sản là bọn chuyên dùng mưu lược và coi sự dối trá như một thứ vũ khí nhiệm mầu để thắng địch, nên trả lời:
– Tôi không đọc, vì nghĩ rằng, tất cả đều thuộc về tuyên truyền. Thực chất của vấn đề không nằm trong những dòng chữ. Sự ra về, chắc không dễ đâu, nhưng sự tình ra sao một phần cũng tùy thuộc vào thái độ của chúng ta trong những ngày sắp tới!
Google images
Ba chúng tôi thì thào trao đổi, mổ xẻ ý kiến của nhau, nhưng không ai đưa ra được kết luận nào hợp lý, có thể tạo được niềm tin để yên lòng, dù tốt dù xấu!
Trời đã tối. Chúng tôi không còn nhìn rõ mặt, chỉ nghe tiếng nói. Toàn thể khu vục tối om. Không căn nhà nào có ánh đèn, trừ căn nhà của tụi quản giáo, bên kia con đường, le lói ánh đèn dầu. Không khí trở nên hoang vu lạ thường. Do sương đêm và gió, tôi cảm thấy dễ chịu, dù đã 2 ngày chưa tắm giặt.
Từ trong nhà, có bóng người bước ra, đi thẳng đến chỗ chúng tôi ngồi. Tiếng cười hì hì:
– Ủa, mấy cha ngồi chi lâu dữ vậy? Nói chuyện gì thế, cho góp được không?
– Mậu hé!
– Còn ai nữa? Nằm trong nhà hôi mùi đất quá, chịu không nổi. Muốn ngủ cũng không được, nên ra đây góp chuyện cho vui.
Mậu (Thiết đoàn Trưởng) người nằm kế tôi. Hắn cũng không mang theo gì cả, dùng lá chuối thay chiếu.
– Ngồi xuống cha, chờ gì nữa!
Ba đứa tôi, mỗi người xích một chút lấy chỗ cho Mậu ngồi. Vừa đặt người xuống ghế, Mậu nói:
– Chán ghê, chán ghê, biết thế này đếch bỏ súng. Uýnh đến chết còn sướng hơn. Chỉ tại tụi Mỹ hết!
– Nè, khe khẽ cái miệng chứ, chết oan bây giờ!
– Các ông nghĩ coi, mấy chục chiếc tăng chưa hết xăng, hết đạn mà đành bỏ chạy, thế có tức không ? Những giờ phút cuối, chúng tôi đang yểm trợ cho Dù ở Xuân Lộc, nghe Dương văn Minh cho lệnh đầu hàng qua radio. Chán ghê, chán ghê!
Mậu cũng thuộc loại sĩ quan tuổi trẻ, cấp cao! Với bản tính nóng nẩy, thẳng thắn của người miền Nam, khi hứng lên, nói bất cần đời.
– Sau khi đầu hàng, ông dùng phương tiện nào để trốn thoát về Saigon mà không bị Việt Cộng tóm?
– Thay đồ “si-din” chạy trối chết, sau cùng đi Molotova về Saigon.
– Bằng cách nào, ông lên Molotova được? – Lâm hỏi.
– Mình cứ đứng ngơ ngơ ở xa lộ, thấy xe tụi nó, giơ tay ngoắc, tụi nó tưởng mình là dân, cho đi nhờ, dễ ẹc! – Nói xong, Mậu cười hí hí!
Tôi nhìn ra xa, thật xa, qua vùng tối tăm, thấy một khoảng ánh sáng thật rộng tỏa lên nền trời. Tôi đoán, đó là thành phố Biên Hòa. Trong lòng tôi chợt quặn đau, nghĩ đến gia đình. Giờ này dưới vòm trời Saigon chan hòa ánh sáng, vợ con tôi đang làm gì và có ngờ rằng tôi phải ngồi đây, giữa bóng tối, trong một khung cảnh không mấy khích lệ, và thời gian 1 tháng, có phải là thời gian quá lâu, đối với đợi chờ?
Chúng tôi đi vô nhà vì đã thấm mệt. Giữa bóng tối, tôi lần mò trong túi vải, lôi chiếc áo mưa trải lên những tàu chuối, và tấm vải mỏng làm mền đắp. Tuy mệt, vẫn không ngủ đựợc. Hơi lạnh thấm qua áo mưa, chiếc áo đã cũ, đôi chỗ mất lớp cao su, không còn đủ khả năng ngăn hơi ẩm. Đàn muỗi vo ve bên tai như thổi sáo. Mùi đất xông lên hôi hám làm khó thở!
Google images
Biết không thế nào lười được, tôi ngồi dậy mở túi, lôi chiếc mùng nhà binh ra. Tôi mò mò buộc đại vô giây mùng của Mậu và Phát (Trung tá Hải Quân), nằm kế 2 bên. Tôi vùi đầu vào tấm vải, xoay qua trở lại một lúc, thiếp đi lúc nào không hay.
Một hồi kẻng khua vang. Tôi bừng mắt, toàn thân đau nhừ, mệt mỏi. Chẳng biết giấc mộng nào đến với tôi đêm qua, đêm thứ nhất trong đời một người sống ở Trại Cải Tạo. Tôi không nhớ gì hết. Tôi cuốn mùng, xếp đồ vào túi vải. Đó đây, có tiếng rít thuốc lào. Quơ tay cầm chiếc điếu, tôi vê vê thuốc nhồi vào nõ. Tôi biết, khói thuốc đầu tiên buổi sớm, sẽ làm ngây ngất, phải nằm xuống ngay sau khi hút. Chuẩn bị chỗ nằm xong, tôi đánh lửa. Tiếng nước rít trong lòng ống tre nghe ròn rã. Khói thuốc ùa vào lồng ngục. Tôi giữ không cho khói thuốc tuôn ra quá mau. Tự nhiên đầu tôi choáng váng, tim đập mạnh, dồn dập. Tôi nằm vật xuống thở dốc, tay chân bủn rủn. Tôi đang đi vào cơn mê cảm của ảo giác, tuy ngắn ngủi, nhưng vô cùng thú vị! Con say đã tan, nhìn sang hai bên, Phát và Mậu còn ngủ vùi. Tôi đi ra ngoài. Mặt trời chưa lên. Sương mù buổi sáng giăng ngang lưng chừng đồi cao su trước mắt. Từ căn nhà, phía bên kia đường, một tên bộ đội mang súng đi ra.
– Dậy, anh em, kẻng rồi! – Tiếng B. Trưởng.
Một giọng ngái ngủ:
– Còn sớm mà, mệt bỏ cha! Có làm gì đâu mà dậy?
Tuy vậy, nhưng mọi người cũng cuốn mùng, gấp mền cho vào túi hành trang. Mậu vươn vai đi lại phía tôi, nói:
– Đêm qua, sao ông mơ dữ vậy?
– Mơ gì đâu? – Tôi sững mắt ngó Mậu.
– Ông nói lung tung, chả đâu vào đâu. Mấy tên bộ đội đi tuần nhòm vào, chúng biết ông nói mớ, tụi nó bỏ đi!
Sự thực, tôi không biết mình mơ. Có lẽ mất ngủ liền mấy đêm, mệt quá, nên thần kinh rối loạn.
– Ông có gì ăn sáng chưa?
Mậu hỏi. Tôi trả lời, có mấy gói mì ăn liền.
– Làm gì có nước sôi để ông ăn mì? Ông ăn khô đại đi, cho đỡ đói.
Tôi nghĩ, chẳng còn cách nào hơn là làm theo ý Mậu.
Tôi chỉ ăn nửa gói, vì nghĩ còn nhiều buổi sáng kế tiếp, mà vợ tôi chỉ xếp có 10 gói mì phòng đói bất tử và 1kí ruốc thịt cùng mấy trăm đồng dằn túi. Đó, tất cả vốn liếng của tôi chuẩn bị cho một tháng học tập cải tạo!
Lát sau, Mậu ngồi bên tôi thủ thỉ:
– Nè ông, sáng nay, tôi với ông phải đi kiếm mấy miếng ván kê làm chỗ ngủ, chứ nằm lá không được đâu. Ông ngó mà xem, lá của ông rách nát, cong queo hết rồi, của tôi cũng vậy, nằm thế chó nào được? Cả đêm xương sống lạnh buốt như ướp nước đá. Nếu kéo dài, sớm muộn gì cũng vô bệnh viện.
Google images
Trời vừa hừng sáng, hai đứa tôi đi ngược lên chỗ khu Đại Tá, rồi quẹo qua phía dẫy nhà thấp. Bữa qua, tôi để ý thấy có một căn không khóa cửa. Chúng tôi bước nhanh vô. Bên trong có kê chiếc giường đã gẫy một chân, nghiêng sát mặt đất. Mấy chiếc nồi nhôm bẹp rúm, vài chiếc quần áo cũ quăng rải rác trên mặt đất. Duới gầm giường có đôi guốc đứt quai. Chắc đây là căn nhà của một Hạ sĩ quan coi kho, đã bỏ đi sau ngày 30-4. Căn nhà vách ván, đôi chỗ gỗ đã mục, long đinh. Tôi cho tay giựt mạnh. Thanh gỗ bung ra, nhưng chưa rời khỏi khung cột. Mậu giúp tôi lay mạnh. Chỉ trong chốc lát, mỗi đứa đã có 3 tấm ván rộng chừng 0m25, dài chừng 2 thước. Mừng quá, chúng tôi vội vả vác lên vai toan chạy về. Bỗng có tiếng nói:
– Ê, mấy anh kia, ai cho phép phá nhà vậy, muốn chết phải không?
Chúng tôi tự nhiên biến thành 2 khối đá, đứng ngay đơ.
– Bỏ xuống ngay! – Tên bộ đội cho lệnh.
Mậu bỏ trước, tôi bỏ sau, rồi lủi nhanh sang bên hông, đi ra phía giếng nước. Tên bộ đội nhìn theo một lát, rồi cũng bỏ đi. Chúng tôi đứng nấp vào bụi cây gần giếng, chờ hắn đi khuất, quay lại căn nhà. Vì có sức hơn tôi, Mậu vác cả 6 tấm ván lên vai, còn tôi nhặt vội mấy chiếc nồi nhôm bẹp, xong chạy nhanh về phía kho đạn, nơi đó tương đối vắng người. Khi tôi bắt kịp, Mậu bảo tôi quan sát xung quanh xem có tên bộ đội nào không. Nếu không, làm hiệu, để hắn vác ván chạy về. Đi một quảng, không thấy tên bộ đội nào, ngoài anh em, tôi khoa tay lên cao làm hiệu. Với 6 tấm ván trên vai, Mậu chạy vun vút, chỉ một loáng đã về đến nơi ở.
Tôi lửng thửng xách mấy chiếc nồi bẹp dí về, thấy Mậu đang ngồi thở dốc, mồ hôi ướt đẫm khuôn mặt. Chúng tôi cứ tưởng làm được như vậy là nhất B rồi, ai ngờ, lát sau, mỗi người đều mang về vài tấm ván có phần tốt hơn của chúng tôi. Hỏi ra, mới biết ở phía cuối dẫy, có căn nhà đã hư sẵn, ai muốn lấy gì tùy ý.
Chúng tôi ngồi nghỉ một lát rồi tổ chức chỗ ngủ. Các tàu lá chuối được quăng đi. 6 tấm ván được đặt ngay hàng, giữa 3 tấm, chừa một khe hở, ngăn cách. Mậu chưa hài lòng, hắn lại nhào đi tìm mấy cây vuông, kê phía dưới, cho ván không ép sát mặt đất. Tôi nhìn xung quanh, chỉ còn 2 khoang chưa có ván, đó là phần của B. Trưởng và của Kiên, thuộc đơn vị 101.
Tên quản giáo từ ngoài xồng xộc đi vô trừng mắt nhìn. B. Trưởng đến chào. Tôi đứng ngoài cửa nói chuyện với vài ba anh em. Chừng l5 phút sau, tên quản giáo đi ra.
B. Trưởng mời mấy Tổ Trưởng vô hội để phổ biến lệnh của quản giáo. Sau mấy phút, tôi được biết tên quản giáo không muốn anh em phá nhà lấy ván kê chỗ ngủ. Tất cả, lấy đâu phải mang lại đấy trả. Nghe vậy, xương sống mọi người cứng đơ. Chúng tôi cùng đề nghị với B. Trưởng nói lại với cán bộ quản giáo, trình bầy về hoàn cảnh của anh em, nếu nằm đất, ngã bệnh hết, làm sao học tập? B. Trưởng gật gù, hứa chiều nay đi hội C sẽ trình lại, nhưng phải thi hành trước đã! Mọi người đồng tình cứ ì ra, đánh ván bài liều thứ nhất.
Những giờ phút qua đi thật nặng nề. Vấn đề cơm nước buổi nay do B khác lo, vì làm luân phiên. Bữa ăn trưa nay, khá hơn hôm qua, tuy cơm nhiều sâu mọt vì gạo giấu dưới hầm lâu ngày trong thời gian chiến tranh, nay được khai quật để nấu cho cải tạo ăn. Bữa cơm có cá ngừ và canh mì lỏng. Cơm ăn không hết, phải đào lỗ chôn. Tôi nhìn những hạt cơm trắng ngần đổ xuống hố, chợt nhớ đến lời mẹ dạy khi còn nhỏ dại quá đúng và ứng nghiệm ngay đến bản thân, trong những năm tháng dài cải tạo sau này!
Google images
Ăn xong, Huy rủ tôi đi xuống hầm đạn lấy mấy chiếc thùng đựng nước. Nếu chậm, anh em lấy hết. Tôi nghe theo. Hầm đạn khá lớn và kiên cố. Một lớp đất cao dầy trên một thuớc, phủ trên những thanh sắt PSB, loại dùng làm sân bay dã chiến. Bên trong, xây bê tông chìm sâu. Từ trên, tôi nhìn xuống, những băng đạn vàng chóe nằm bừa bải. Những viên 57 ly cả đống, ngổn ngang. Tôi thấy ớn quá. Có mấy người coi thường nguy hiểm, đang lục lọi tìm kiếm những thứ cần dùng như vải bọc đạn, bao cát mới. Những trái mìn và lựu đạn tấn công, lăn lóc bên cạnh nhưng sợi bấc cháy chậm. Huy nhào xuống, kéo tôi theo. Chúng tôi lần đến nơi xếp những thùng đạn đại liên 30. Tôi kéo chốt, mở nắp, những viên đạn sáng ngời, trông thật đẹp. Tôi gỡ từng lớp, nhẹ nhàng để sang bên, lấy 2 chiếc, Huy lấy 4. Khi chúng tôi chuẩn bị đi lên, từ miệng hầm có người sắp đi xuống, môi ngậm thưốc lá, thở khói trắng xóa. Huy kêu to:
– Muốn chết sao? Xuống đây còn hút thuốc?
Biết mình vô ý, anh ta quay người, không trở xuống nữa.
Từ từ, tôi bước trên đống đạn sào sạo. Tôi chợt rùng mình, nếu vì sự không may nào đó, kho dạn phát nổ, chắc chắn sẽ tan thây! Hai tay xách 2 thùng đạn rỗng, tôi thấy yên tâm khi nghĩ đến vấn đề nước dùng hàng ngày. Chẳng hiểu sao, những viên đạn lại chập chờn trong đầu. Vì đâu mình thua trận, khi số vũ khí đạn dược còn đầy ăm ắp trong các kho chứa từ Quảng Trị tới Cà Mâu? Với số lượng đạn được chứa đầy ắp trong căn hầm này, ít ra cũng tiêu diệt được vô số Việt Cộng! Hơn nữa, căn cứ to lớn này, đâu phải chỉ có một hầm dạn duy nhất? Ít ra, nó cũng phải có dăm bảy hầm như vậy. Tôi cứ loay hoay với ý nghĩ vừa ngây thơ vừa chủ quan đó, bỗng câu nói cũ kỹ của Hitler chợt hiện lên trong trí nhớ: “Súng ống chỉ là vật vô tri, tinh thần quân đội mới đáng kể !” Đúng, chúng tôi thua do yếu tố tinh thần và nhiều lý do khác, làm miền Nam sụp đổ.
Trời bỗng dưng tắt nắng. Cả vùng mây đen vận chuyển rất nhanh theo tốc độ gió. Một cơn lốc xoáy bụi cát tung mũ mịt. Hàng cây nơi cuối trại vật vã, như có bàn tay khổng lồ lay manh, những bãi cỏ gianh cúi rạp dưới sức gió. Tôi đi rảo bước về nhà. Huy lúp xúp theo sau. Chúng tôi vừa về đến cửa, cơn mưa cũng vừa chụp xuống. Mưa quá mau làm tôi không kịp chuẩn bị gì hết. Tôi mở vội nắp thùng đạn, đặt dưới mái hiên, nơi có dòng nước xối mạnh, xong cứ để nguyên áo quần đứng dưới giọt gianh. Vừa tắm, vừa cởi quần áo ra giặt, không xà-bông. Từ trong nhà ào ra đống người. Tiếng nói cười có vẻ thoải mái vì được tắm giặt sau mấy ngày chịu đựng dơ dáy. Mưa mỗi lúc mỗi tăng cường độ. Từng khối nước chảy xối xả từ mái nhà đổ xuống như thác. Những lằn chớp sáng chói chạy loằng ngoằng và tiếng sấm nổ chát chúa, có lúc tưởng ngay trên đầu. Các thùng đạn chứa nước đầy ắp. Anh em tắm giặt xong, trời vẫn còn mưa. Tôi vô nhà, chỗ ngủ đã bị mưa tạt uớt sũng. Chiếc túi vải đựng áo quần, mùng mền như bị ngâm nước. Thế là không có đồ thay. Chỗ ngủ của Mậu và Phát ít ướt hơn. Mình trần như nhộng, tôi ngồi thu lu, lạnh run vì gió lùa qua ô lưới. Thấy tôi như vậy, Định mở ba lô cho mượn bộ đồ ngủ, mặc đỡ.
Bữa cơm chiều, vì trời mưa, chúng tôi được ăn trong nhà, thay vì ngoài sân như đã quy định. Trời vẫn mưa tới tối, những giọt mưa nhỏ như rây bột. Căn nhà vẫn chưa có đèn. B. Trưởng đi hội C, cách xa nhà khoảng 200 thước. Tôi buông mùng sớm với chủ đích hong cho khô, cùng tấm vải đắp. Vừa nằm xuống, hình ảnh gia đình chợt hiện trong tâm trí. Mới có mấy ngày, tôi tưởng đã mấy tháng !
Sáng hôm sau, theo lệnh của B. Trưởng, chúng tôi ào ra sân tập họp. Anh cho biết, theo chỉ thị của cán bộ quản giáo, B-30 có nhiệm vụ phát quang các bãi cỏ gianh xung quanh khu vực. Cuốc và xẻng do Tổ trực đi lãnh tại kho hậu cần. Đây là công tác lao động đầu tiên, nên anh em ai nấy hăng hái tham gia. Những nhát cuốc bổ xuống chắc nịch, xẻng xúc liên hồi. Đám cỏ gianh lần lượt ngả xuống, ngả xuống, được gom lại thành đống, chờ khô, đốt làm phân bón. Sau mấy giờ hăng say lao động, bàn tay tôi đỏ au, có những mụn nước căng phồng, vài người bị lột cả da, nhìn đỏ loét. Trông như vậy, nhưng công tác cũng chưa tiến hành được bao nhiêu. Bãi cỏ vẫn mênh mông, chắc còn lâu mới hoàn tất.
Google images
Gần trưa, tên quản giáo lù lù đi đến. Hắn nhìn bãi cỏ và một mảng mới khai quang, rồi gọi B. Trưởng:
– Từ sớm đến giờ, các anh mới “nàm” được chừng này sao? Các anh phải tích cực triển khai công tác “nao” động chứ, “nàm” việc “nề” mề như vậy sao được?
B. Trưởng phân trần vì buổi đầu, nhưng anh em sẽ tích cực! Đứng một lúc, tên quản giáo, hai tay khoanh sau lưng, lửng thửng bỏ đi. Mầu áo xanh nhầu nát chìm dần sau bãi cỏ.
Chúng tôi rửa tay chân, vào nhà nằm soài trên ván. Tôi giơ bàn tay nhìn chòng chọc vào những mụt nước. Tôi biết, nếu làm nó vỡ ra, sẽ rát.
Sau giấc ngủ trưa, khi nghe tiếng kẻng gõ, chúng tôi lại ra làm cỏ. Dưới ánh nắng gay gắt, mọi người đều mặc may-ô hoặc cởi trần để lao động. Nhưng có lẽ, tay mỗi người ít nhiều gì cũng mang thương tích, nên dù có sự hối thúc của B. Trưởng, công việc cũng chẳng tiến triển được bao nhiêu. Giờ trả dụng cụ đã đến. Ai nấy thở phào nhẹ nhỏm, đi đến phía những thùng nước. Tiếng mở thùng lách cách. Những ca nước xối ào ạt lên thân hình đang ướt đẫm mồ hôi và bụi bậm. Không ai sợ bị cảm.
Một ngày lao động đã hoàn tất. Gần 30 con người, làm cả ngày, chỉ cuốc được khoảng 7, 8 thước vuông cỏ ! Buổi tối nay, sau khi đi hội về, B. Trưởng có cầm theo ngọn đèn dầu do Trại phát. Ánh lửa le lói không đủ soi sáng khoảng nhà, nhưng còn hơn không, và ngọn đèn đã giúp cho các tay ghiền thuốc lào đỡ tốn hộp quẹt. Họ quây tròn xung quanh ngọn đèn, chuyền tay nhau chiếc điếu, rít liên tục. B. Trưởng hội với 3 Tổ Trưởng để phổ biến công tác ngày mai, không quên nói, cán bộ quản giáo không hài lòng về lao động! Tất cả đều lơ là như chẳng cần chú ý!
Thập niên 80, do thời thế, do có điều kiện tự do, ở hải ngoại đã hình thành ra được một đội ngũ đông đảo người cầm bút. Lắm nhà phê bình lạc quan xem đó là một tựu thành đầy khởi sắc, đầy hưng phấn khởi đầu cho nền văn học của cộng đồng người Việt lưu vong. Sau đó chẳng mấy lâu, trên các trang tạp chí thuần về văn học nghệ thuật có đăng tải một số ý kiến, rằng “e có lúc quý vị chớ nên đào sâu vào đề tài trại tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển hoặc đời sống ở trên những đảo, những trại tỵ nạn”.
Hằng tháng tôi có gửi bài đến hầu hết các tạp chí và dĩ nhiên tôi hơi bị choáng váng. Do đâu người ta có lối suy luận trái khuấy và sai lạc đến vậy? Tù cải tạo. Thuyền Nhân là một vết thương mãi còn đó sự nhức buốt. Là một ám ảnh khó dứt bỏ riêng cho người Việt từng sống sót qua cơn hồng thuỷ. Nó chẳng khác gì khi nhìn về ngày 30 tháng Tư, con số ấy tự động kéo trí nhớ bạn trở lui những tháng ngày tăm tối, rồi bạn tự hỏi: Do đâu mà có hơn 1 triệu người Việt bỏ nước ra đi, có nửa triệu linh hồn bất hạnh không siêu thoát mãi chịu lạc lối dật dờ trên biển Đông. Tôi nghĩ thầm, có thể lỗi lầm nằm ở phía người viết, trong đó có tôi, đã không đủ tài sức để chuyển tải được thảm trạng kia bằng giấy trắng mực đen, cứ thường thường bậc trung, chả ấn tượng khiến người đọc “ớn tới tận cổ”? Tìm cái gì vui vui coi, chuyện sang đây mần ăn thành đạt ra sao. Con mẹ ấy ra toà vì tội uýnh con riêng của chồng. Khai trương phòng mạch tặng thân chủ trong ngày bao gạo, sang ngày sau thì chai nước mắm. Ừ, nhiều chuyện xoay quanh vấn đề hội nhập “ngộ” lắm kìa, đọc chuyện buồn mấy ổng kể xuống tinh thần lắm!
“The Vietnam War” có thể rơi vào vấn nạn y như vậy không? “You don’t remember, I’ll never forget”. Chiến tranh Việt Nam, nghe tới bốn chữ ấy tự khắc nghĩ về sự oan khiên nhuộm bi phẫn dưới bầu trời đầy bom rơi đạn lạc, máu me cả trong những ngộ nhận vì khác chiến tuyến và về cái nhìn bị bưng bít cách nửa quả địa cầu. Đồng Minh tháo chạy. Họ không chỉ chạy một hai lần. Chạy trên mặt trận và chạy trên phương tiện truyền thông: Báo chí cũng như phim ảnh.
Những ngày qua, Bắc Hàn đã thử nghiệm thành công khi bắn đi hoả tiển tầm xa bay qua bầu trời Nhật Bản. Hải quân Trung Cộng luôn lộ ý đồ làm chủ biển Đông, thong dong đi vào hải phận Việt Nam như kiểu Triệu Tử Long một mình một ngựa một thương, như cách Quan Công qua ải chém 6 tướng (hai nhân vật tưởng tượng do họ nặn ra)… thì hôm 17 tháng 9 đài truyền hình PBS cho công chiếu “The Vietnam War” dài 10 tập với thời lượng là 18 tiếng. Đã im tiếng súng hơn 40 năm và hôm nay hai “ông anh bà con” Cộng Sản châu Á đang hăm he điệu võ dương oai. Thời chiến tranh Việt Nam, Trung Cộng đã chí tình giúp đỡ người em phương Nam dành thắng lợi, vậy em còn nhớ tới tình anh đã trao? Còn nhớ đấy nhỉ? Môi hở răng lạnh nhỉ? Vậy thì anh xâm phạm chút xíu nào có hề hấn gì đâu nhỉ? Mai nầy có thêm phim nhiều tập “Vietnam War” do Trương Nghệ Mưu làm đạo diễn không nhỉ? Khi ấy lãnh đạo Cần Thơ có dõng dạc trước ba quân: “Đánh cho tới rách cái quần bò cũng đánh. Ngộ tả nị. Có nhất trí không bà con? Thằng Mỹ hoành tráng còn cút huống hồ thằng Tàu khựa ưa chảnh”. Và người thuyết minh e dè đọc lời thoại, nhắc lại câu tuyên bố của vị tướng năm nào: Dùng bộ binh đánh trên đất liền thì chưa rõ ai thắng ai, nhưng phải thú nhận là hải quân Trung quốc thuộc dạng siêu khủng, hiện đại tối tân hơn ta cả vạn lần.
Theo quảng cáo rầm rộ, tôi vào đường dẫn “pbs.org/vietnamwar” nhưng màn hình hiện ra dòng chữ: “Rất tiếc, chúng tôi không phát sóng video này tới địa phương bạn ở được”. Canada sát biên giới mà! Tình hữu nghị đời đời bền vững sao hành sử kiểu đó? Không xem phim thành ra chẳng biết nói năng chi, viết tản mạn kiểu này là vin vào những thông tin mượn từ nguồn BBC và VOA. Bạn cho hay, sao ông không vào youtube mà xem, dài miên man có cả phụ đề Việt ngữ. Nói muộn thế. Thôi đành viết trước xem sau, bởi sợ xem rồi, ắt phải hậm hực, phải đè nén bất bình thì khi ấy cái viết sẽ đi lan man lạc hướng.
Đầu tiên phải nên hiểu điều cơ bản, là khi thực hiện một cuốn phim tài liệu chứa đựng nhiều vấn đề lịch sử, thì nhóm làm phim (thủ lãnh là hai vị Ken Burn và Lynn Novick) phải cố cung cấp một cái nhìn có tính khách quan, trung thực. Soi rõ nhiều góc cạnh, đứng ở nhiều vị trí khác nhau. Thu thập nhiều nguồn thông tin để đối chiếu mới thuyết phục được điều mình trình bày là xác đáng. Hơn ai cả, người làm phim nhiều kinh nghiệm như ông Ken Burn đã thủ đắc điều ấu trĩ ấy và dường như ông cũng xem đó là cẩm nang khi hành sự.
Vậy mà hôm 25 tháng 8 có diễn ra buổi trình chiếu phim ở Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn (có mặt nữ đạo diễn Lynn Novick). Số đông khán thính giả tham dự đều trẻ tuổi (có thể sinh vào thời điểm 1975 hoặc trở về sau và có thể thông thạo Anh ngữ). Một đôi người dong tay xin được phát biểu ý kiến sau khi xem từng trích đoạn quan trọng, đã khiến bà Lynn Novick thực sự bối rối:
– Tại sao xem xong, tôi chỉ thấy những nhân vật được phỏng vấn đến từ miền Bắc Việt Nam? Như vậy tiếng nói của người miền Nam có được quan tâm trong phim không?
Khán phòng im lặng.
– Một cuộc chiến luôn được viết và giới thiệu bằng cái nhìn hằn học và rạn vỡ từ cả hai phe, nơi chúng tôi học trong sách giáo khoa về một miền Nam “bù nhìn”, dơ dáy, bẩn thỉu, đàng điếm; hoặc đọc trên mạng về một miền Bắc đói kém, sĩ diện, ngu xuẩn và tàn bạo”.
Khán phòng im lặng.
– Tôi nghĩ bộ phim phải có tên là “American War” mới đúng, chứ sao lại là “Vietnam War”?
Đại diện đoàn làm phim câm lặng.
Phần được chiếu trong khán phòng Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ có ghi hình ông Bảo Ninh cùng câu nói: “Chiến tranh không ai thắng ai thua hết. Những ông không bao giờ đánh nhau mới bàn luận ai thắng ai thua…”
Ông này tình nguyện vào bộ đội năm 17 tuổi, được điều vào chiến trường Tây nguyên và đã viết được cuốn “Nỗi Buồn Chiến Tranh” dựng đặt nhiều chi tiết sai lạc nếu không muốn nói là bôi nhọ quân đội miền Nam tàn ác, mang đầy thú tính. Hung hăng là thế mà giờ đây sao phát ngôn linh tinh kiểu mất lập trường đến vậy? Mỹ thua ta thắng, trẻ quàng khăn đỏ cũng biết rõ mười mươi chuyện ấu trĩ ấy. Ta thắng một cách đúng quy trình và hơn 40 năm qua, băng-rôn cùng pa-nô dựng đầy trên mỗi góc phố vẫn mới một cách cực đoan ca ngợi chiến thắng thần thánh kia. Cờ búa liềm vẫn bay, cho dù có mưa sa trên mầu cờ đỏ trẻ con vẫn thuộc nằm lòng: Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Phải ở bên thắng cuộc anh mới ngông nghênh vậy, chứ anh mà thua hả… Mượn ý thơ Cao Tần nhé: “Lùa cả nước vào trại cải tạo, học tập thương yêu”.
Thắng hoặc thua, chẳng thể vin vào con số tử vong để luận bàn: Quân đội Hoa Kỳ có hơn 58.000 bỏ mạng trên đất lạ (từ 1965 tới 1973) trong khi người Việt chịu hy sinh hơn 3 triệu người (thống kê này chưa tính tới những xác bị chôn vùi, không tìm thấy hoặc mất tích). Và báo cáo tổn thất ấy chỉ kiểm kê sau khi kết thúc chiến tranh. Giờ đây cả hai phía đang cố gắng xoá vết thương đau ngày cũ. Tháng 4 năm 2016, 11 cựu pilot của US Air Force đã bay sang Hà Nội gặp gỡ địch thủ Cộng sản cuồng tín năm xưa. “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại”, ngày 21 tháng 9, 2017 vừa rồi Trung tướng Nguyễn Đức Soát dẫn phái đoàn, cũng 11 cựu phi công Bắc Việt lòng mở hội sang tới San Diego, bang California để tương phùng “bạn cố tri”. Đại Tá Lê Thanh Đạo hể hả: “Chỉ mới một năm không gặp thôi mà đã thấy nhớ rồi!”. Thậm tình cảm kiểu tiểu tư sản, mặn mà có duyên. (Nếu ông này làm được thơ như Đồng Đức Bốn hẳn đã ngôn: Em bỏ chồng về ở với tôi không?) Không khí trong khán phòng bảo tàng hàng không mẫu hạm USS Midway hôm ấy coi bộ vui vẻ gắt. Đại Uý phi công John Cerak chỉ tay về phía Trung Tướng Nguyễn Đức Soát (nay đã 72 tuổi, người có thành tích bắn rơi 6 máy bay Mỹ), khôi hài: “Chúng tôi đang bay qua không phận Lào, chuyển hướng về phía Đông, liên tục dùng radar rà soát thì đột nhiên, ông Nguyễn Đức Soát đây đã phá hỏng một ngày đẹp trời”.
Đại Tá không quân Bắc Việt Lê Thanh Đạo: “Những người ném bom không có lỗi, kẻ gây ra chiến tranh mới có lỗi”.
Cựu Đại Uý không lực Hoa Kỳ John Cerak: “Chiến tranh là thứ ngu xuẩn nhất loài người từng làm”.
Đại Uý Clint Johnson: “Tôi không bao giờ ghét kẻ thù, cả hai đều làm những điều mà chúng tôi nghĩ là tốt nhất. Người Mỹ muốn ngăn cản sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản, còn người Việt chỉ muốn thống nhất đất nước, chẳng thể tranh cãi gì được với thứ sứ mệnh như thế”.
Đại Uý Hải quân Jack “Fingers” Ensch: “Nhà tù nhỏ nhất thế giới là giữa hai tai anh. Nếu anh cứ tiếp tục căm thù thì họ cũng vẫn cách xa nửa thế giới. Họ không biết anh đang nghĩ gì về họ, hận thù họ hay những thứ tựa thế. Họ tiếp tục với cuộc sống của mình. Nếu anh vẫn hận thù thì anh vẫn bị giam cầm”.
Buổi giao lưu thật rôm rả giữa những quý ông chẳng mấy khi được nói thánh nói tướng. Không rõ có bao nhiêu người tham dự và có quý ông nào từng chong mắt xem phim “The Vietnam War” đã công chiếu từ hôm 17 tháng 9 trên kênh đài uy tín PBS? Lỗi lầm có thể không nằm trong cái nhìn hạn hẹp của họ, người Mỹ chẳng hề biết tới thứ mấu chốt quan trọng, rằng đối phương chưa bao giờ dám nhìn thẳng vào sự thật, luôn tìm cách che đậy và dấu diếm, vì thế bàn về chiến tranh Việt Nam vẫn chỉ là lột truồng được tấm áo khoác ra mà bỏ quên phía sau lưng còn nguyên một vết thương chưa lành miệng. Họ từng nghe nhạc phản chiến của Bob Dylan nhưng họ chẳng thông hiểu ca từ “Cần gì tới nhân viên dự báo thời tiết mới biết được chiều gió”.
Phía Cộng sản Việt Nam thì khác, mọi người phải luôn chấp hành, tuân thủ, nghe theo “nhân viên đài khí tượng” bảo ban, dạy dỗ. Trong chiến tranh cũng như thời bình. Khi được hỏi cảm tưởng về bộ phim “The Vietnam War”, bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay: “Đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước”.
42 năm trôi qua, lời nói kia “vũ như cẩn”, thứ bài bản đã soạn sẵn từ hồi “đại thắng mùa Xuân”. Chẳng mong tìm nhặt một thông điệp nào khả dĩ mới cho xứng tầm thời đại. Cũng nên thông cảm cho bà ta, không riêng bà, “tai to mặt lớn” Việt Cộng đều có cách phát ngôn na ná nhau cả. Họ không màng tới “một bộ phận không nhỏ” người Việt vì yêu chuộng tự do đã bị mang bản án “phản bội tổ quốc” sống rải rác ở năm châu bốn bể. Khúc ruột ngàn dặm ấy hẳn không thích săm soi lại vết thương ngày cũ, nhất là những cựu quân nhân, những đơn vị thiện chiến oai hùng ngày nọ, bởi họ nghĩ họ đã bị phản bội khi ngồi xuống chiếu bạc và được chi trả bằng bạc giả. Những lá bài được đánh dấu sẵn và hệ quả tất yếu diễn ra, họ đã cháy túi.
Tôi sẽ dọn lòng thanh thảnh để vào youtube xem phim 10 tập “đình đám” nọ. Có thông tin dạo đầu rằng: Đoàn làm phim đã bỏ ra 10 năm để cốt làm cho ra đầu ra đũa và “10 năm tình cũ” đã vấp phải nhiều thiếu sót, chưa đạt yêu cầu. Vô tình họ tô mới lại nước sơn: “Sự can thiệp của người Mỹ là bước đi sai lầm nghiêm trọng, dẫn tới bao hệ luỵ làm nên nỗi tủi nhục không tài nào gội rửa”.
Tôi yêu Canada. Nơi từng gửi quân tình nguyện qua giúp Việt Nam, và cũng là nơi trong thập niên 60 đã đón nhận những thanh niên Mỹ hèn nhát, trốn chạy khi sợ phải cầm súng qua chiến đấu ở “Đồi Thịt Băm”. Tôi yêu Canada, nơi quốc hội thông báo: Chúng tôi xem ngày 30 tháng 4 của cộng đồng Việt Nam là nỗi đau thương cần được sự chia sẻ. Cờ vàng ba sọc đỏ từng bay trên thủ đô Ottawa đầy gió an lành. Ai thắng ai thua? Ở một mặt nào đó, những người từng đánh đổi tất cả để làm cuộc bỏ phiếu bằng chân đã thắng. Hữu Thỉnh viết thư mời Phan Nhật Nam về Hà Nội cũng là một trong muôn ngàn lý giải về sự thắng thua vậy.
Chiếc máy bay nhỏ như không thể nhỏ hơn sật sừ trôi giữa trời tuyết đổ. Động cơ bán phản lực với hai cánh quạt gồng mình đi dưới mờ mịt thức mây. Vận tốc 360 kt tương đương 667 cây số giờ chỉ là niềm mong mỏi của người tạo dựng, và tựa như người, sức máy cũng có hạn. Máy đã già nua mà trời thì chả đẹp, trời cảm hàn và máy liên tục nhảy mũi hắt hơi. Là đà bên dưới là ngũ đại hồ đang tái tê đóng băng chợt ẩn chợt hiện, mông lung một vẻ đẹp kì dị, như tấm gương soi dành riêng cho hoàng hậu tử thần. “Kìa ai ngang qua bên ngoài cửa kính, kìa ai như từ khi em là nguyệt.” (Đinh Cường).
Chiếc máy bay Q 400 do hãng Bombardier chế tạo có thể dừng cuộc lữ để cắm đầu xuống mặt hồ lãnh cảm như đá tảng. Hậu quả là gì? Lửa bộc phát và liệu có làm tan chảy đá băng? “Đông qua óng ánh vàng rơi, vàng rơi chánh niệm vàng rơi, rơi vàng.” (Lữ Quỳnh). Hoạ sĩ Đinh Cường mất vào ngày 7 ở Vỉginia. Ca sĩ David Bowie mất vào ngày 10 ở New York. Và ngày 14 tôi sẽ lặng lẽ qua đời trên không phận Canada nếu có tiếng ai chợt gọi giữa chốn vô cùng. Nào có hề gì “bởi bây giờ tôi sống như hồn ma, cứ thấy bóng mình chập chờn trên vách.” (Trần Hoài Thư).
Tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng một có phải là hơi bị buồn. Qua dự buổi chia tay vĩnh viễn cùng anh Đinh Cường, bất ngờ tôi dự thêm buổi đoàn viên chân tình và đầy cảm động, được han hỏi được kề bên những khuôn mặt ngỡ như khó lòng tiếp cận. Muốn có niềm vui trước hết ta phải hứng lấy nỗi buồn. Câu này xem chừng chẳng mấy đổi thay. “Cám ơn giọt nắng vô thường, lung linh ở cuối con đường khổ đau.” (Phạm Cao Hoàng).
Khuôn mặt chúng tôi hầu như ai cũng đẫm lệ. Từ bài đọc của anh Nguyễn Mạnh Hùng trong tang lễ, của anh Nguyễn Trọng Khôi, của anh Trương Vũ, của anh Chân Phương… những kỷ niệm đã có và đã vụt mất với người vừa mang pháp danh Quảng Thái. Trong nhật ký của Anne Frank, cô viết: “Dead people receive more flowers than the living ones because regret is stronger than gratitude”. Trong căn phòng u sầu này có rất nhiều vòng hoa, được gửi tới từ muôn phương. Của cựu Giáo chức và học sinh Nữ trung học Thành Nội Huế, của gia đình Trịnh Công Sơn, của gia đình Thanh Tâm Tuyền, của gia đình Ngọc Dũng, của vô vàn những thân hữu bè bạn và kể cả những người ẩn mình dưới vỏn vẹn hai chữ: Thương tiếc. Nguyễn thị Đau Buồn. Trần thị Xúc Động. Phạm văn Thương Mến. Lê văn Lệ Chảy… Lòng ăn năn cũng như sự biết ơn có khi không nên sắp hạng ngôi thứ. Chúng tôi ngắm nhìn muôn loài hoa nối kết nhau để chỉ biết thổn thức. “…Kể cho nhau nghe những điều. chưa nói, lời nghẹn ngào. tiếng nói. hư hao”… (Duyên).
Đành vậy, chúng tôi mãi sắp hàng dưới bóng nặng của hối muộn. Rõ nghĩa hơn, Chân Phương giãi bày: “…Trong những đốm lửa âm ỉ kia, không còn chiếc Corolla của anh, và tất cả smartphone trần gian, chẳng liên lạc anh được nữa…”
Từ trái: Tùng, Trần Hoài Thư, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Thị Nguyệt Mai, Duyên
Anh Đinh Cường vừa là người thầy dạy tôi ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế, vừa là người anh rể thân tình từng chia sẻ những buồn vui suốt chặng đường tuổi trẻ dại khờ. Và tôi mãi khờ dại khi muốn tỏ bày lòng biết ơn sâu nặng đối với anh. Chữ viết thấp kém không đủ để trải bày và xin niệm tình khi tôi lỡ vay mượn tấc lòng của các anh chị đã chú thích bên trên. Cám ơn anh Nguyễn Mạnh Hùng, anh Nguyễn Tường Giang, anh Trương Vũ, anh Phạm Nhuận, anh Phạm Cao Hoàng, anh Nguyễn Đình Thuần, anh Trần Hoài Thư, anh Lữ Quỳnh, anh Chân Phương, anh Nguyễn Trọng Khôi, anh Nguyễn Quang, anh Tùng chị Duyên, chị Trần Thị Nguyệt Mai, chị Nguyễn Thị Thanh Bình, chị Đinh Từ Bích Thuý… đã cho tôi hiểu thêm, sâu sắc về chữ tình thân hôm chúng ta ngồi quây quần ở nhà anh Trương Vũ. Một gặp mặt khởi từ nguyên cớ buồn đau. Anh Trần Hoài Thư tỏ bày: “… Đó là Đinh Cường trong trái tim mình. Khi chúng tôi bắt tay nhau hay ôm choàng lấy nhau, có nghĩa là chúng tôi đang chia buồn với nhau. Bởi lẽ mỗi người chúng tôi đều mất đi một Đinh Cường, và trái tim mỗi người đều đẫm lệ…”
Và anh Phạm Cao Hoàng tâm sự: “Anh Đinh Cường như một thỏi nam châm thu hút chúng tôi về ngồi kề bên nhau. Anh đã ra đi, từ nay nhà cửa trang PCH đâm trống vắng…” Chao ôi nghe luống những ngậm ngùi.
Cào Lá Ngoài Sân Đêm, thi tập của hoạ sĩ Đinh Cường. Anh Nguyễn Đình Thuần, anh Nguyễn Quang, anh Phạm Cao Hoàng và tôi đã co ro đứng bên nhau để “thở khói ngoài sân đêm”. Bốn con đom đóm lẻ loi bất chấp những răn đe đã ngửa mặt vào cao xanh mà phả lên đó từng cụm mây mù. Bốn điếu thuốc đỏ lập loè như bốn chân nhang cụt ngắn dần giữa trời lộng gió. Trần gian đã lạnh tiếng than van. Anh Đinh Cường ơi, xin vĩnh biệt.
– Viết ngoài lề: nhà văn Phạm Thành Châu (người không thích được gọi là nhà văn) có viết bài tưởng niệm hoạ sĩ Đinh Cường: “…tất cả nhà thơ nhà văn trên thế giới kể cả Việt Nam xin tranh bìa (hàng trăm hàng nghìn) cho tác phẩm của họ, ông đều vui vẻ gửi cho, nhưng không ai trả cho ông một đồng. Họ tưởng văn, thơ của họ quá tuyệt vời, nên họ hạ cố cho hoạ sĩ Đinh Cường cái hân hạnh được có tranh bìa nơi “đại tác phẩm” của họ là đủ mừng rồi, tiền bạc gì!…” Chẳng rõ khi viết nên điều này, anh Phạm Thành Châu có ghé mắt đọc phải ô quảng cáo của Trịnh Cung gửi đăng trên trang Hợp Lưu: “Nhận thực hiện trình bày bìa sách. Giá: 200 US. Vẽ chân dung: 500 US”. Y sì thế. Rạch ròi trắng đen. Không khoan nhượng, chả lôi thôi gì cả.
Ma, thêm chữ măng thành ma-măng. Ma thêm dấu nặng, huyền thành Mạ, Má. Lễ Vu Lan qua rồi nhưng ma-măng, má với mạ thì luôn ở nán trong trí tưởng của những đứa làm phận con. Dấu trong đáy tim hình bóng của người-có-một-không-hai. Sống dương thế chẳng nói gì, chết âm thế mới nghe ra sự thiếu hụt trầm trọng, khủng khiếp. Nhớ thương mà ích gì, ngàn trùng sẽ lấp chừng nào tuổi tác bệnh tình sẽ ký cho nghịch tử tờ hộ chiếu đi diện đoàn tụ: Má ơi con dìa đây má ơi. Bạn mình tên U. Một ngày mùa đông bạc nhược màu trời, U-50 nghe khó ở nhác chơi nên buồn chân vào bệnh viện thăm thú. Bác sĩ này đá U qua bác sĩ kia, như quả bóng lăn, từ tiền đạo qua trung phong rồi U về chân (tay) hậu vệ. Trọng tài quyết định bằng tiếng còl lạnh lùng: Ung thư. Rút ra cái thẻ vàng: Cao tay thì U sống thêm được một tháng. Ba mươi ngày phù du trên cõi tạm, trên cõi đời ô trọc, chừng hết hạn mới đón nhận cái thẻ đỏ, thôi đi trên sân cỏ xanh nhàu nát mà xuống nằm dưới cỏ vàng quạnh hiu. U điếc không sợ súng nên tiếng còi lệnh thì nhằm nhò gì. Ba tháng, sáu tháng U vẫn vậy, tỉnh rụi nay bún mai cháo mốt rung đùi tiệm phở nhìn qua song thường hằng cảnh lá đổ muôn chiều với vần vụ mây bay. Hội đồng bác sĩ tái mặt máu, tự cổ chí kim bọn moa chưa hề thấy qua, toa ăn cái giống gì mà nhiệm mầu thế hở? U. thủng thẳng: Ăn thứ có nhiều cholesterol, uống Coke, nhâm ghi cà phê nhiều đường và tráng miệng bằng dăm điếu thuốc nhìn khói huyền bay lên cây. Nói xa nói gần không bằng nói thiệt, ấy là dạo này tui luôn nằm mộng thấy má tui. Má tui biểu, cứ nán lại đã, chừng nào má sửa sang nới rộng căn hộ dưới này cho được tươm tất rồi khi ấy hẳn về, gấp chi con!
Mình quen U. hồi chân ướt chân ráo tới Québec. Học chung ở lớp Pháp văn dành cho người tỵ nạn. Phải mở cái ngoặc đơn ở đây, rằng thì là bọn mình mới từ đảo sang, xem như thành phần “con ruột” của nhà nước Canada, được ưu tiên săn sóc, đủ đầy từ manh áo cho tới nồi niêu son chảo, dắt tới trường học và hàng tuần được dúi vào tay chút bổi ngang lợi tức của kẻ lao động với mức lương tối thiểu. Chính phủ mà biết câu “nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa” thì họ đã nói ra miệng. Mồm chúng tớ chỉ ấp úng: Tình xê la mua, tiền xê lạt răng, màu xê cu lơ, đời xê la vi, đau xê ma lát, thuê xê lu ê…
Như mọi con dân ngu ngơ đổ người xuống mọi ngả đường xa lạ, mình cũng xem báo tìm thuê một chốn thường trú với giá phải chăng. Nôm na là mềm, mượt, văn nghệ, bèo, rẻ như cho. Tìm chưa ra thì được U. giúp. Moa xem rồi, so với chỗ moa thuê nó thuộc dạng tám lạng nửa cân, bà xã moa nói lỡ đẻ thêm con thì e sẽ chật chội vì vậy mới tìm chỗ khác, có hơi tiếc. Toa không nhanh chân thì xôi hỏng bỏng không. Đón xe buýt, láo liên đội nắng xem hư thực, chủ nhà mở khoá và mình mở cờ trong bụng: Ui, mẹ ơi, hạp nhãn quá, đòi chi hơn so với tấm thân du mục chạy trời vừa khỏi nắng. Lưới trời lồng lộng đã vượt thoát. Lỗ đít nơi kim khâu vừa xâu ngon ơ sợi chỉ nhỏ.
Mình nhanh chân, mình dọn vô và cám ơn vợ chồng U. chẳng tiếc lời. Làm sao nói hết những xúc động dâng sóng lớn trong ngày đầu bơi lội thoả thích giữa xứ sở tự do. Sướng đến độ mất ngủ, cái giường nệm không treo mùng mênh mông, căn phòng mênh mang chẳng một tiếng muỗi vo ve, gió mát xào xạc lân la thăm hỏi ngoài khung cửa tối tuyệt đối yên lặng. Ngon miệng phục vụ thần khẩu những bơ thừa sữa cặn của bọn thực dân, hưởng thụ hết mình những phồn hoa giả tạo của bọn đế quốc. Ui chao, giờ này mà sống ở thiên đường xã hội chủ nghĩa e chết chắc, chắc chết.
Màu sơn trắng mới quét và ý nghĩ tinh khôi về sự mang ơn tha nhân khó diễn đạt thành lời. Trằn trọc giữa năm canh là điều dễ hiểu, ngủ không xuống với chập chững chân đi ngày đầu hỗn mang những huyễn mộng là chuyện ắt sẽ diễn. Trăn qua trở lại để giáp mặt câu thơ của cụ Trần Tế Xương: “Sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai, vẳng nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”.
U. mang vợ con dọn về thành phố Montréal sống, hắn nói ở đây tìm việc tới đỏ mắt mà không thấy, sông cứ trôi con nước lớn mà chẳng nhìn ra bóng dáng một con đò. Mình làm bữa tiệc nhỏ tiễn đưa, không buồn lòng vì ý thức rõ sự trôi giạt đầy phận kiếp của từng đám bèo. Gần tàn phút giây ngồi bên nhau hắn nói nhỏ: Toa thấy moa có xanh xao có xuống sắc không? Đằng chỗ moa thuê có ma toa ạ. Xuỵt, đừng để bà xã moa nghe, con ma da trắng tóc vàng mỗi khuya đều hiện ra sát bên giường, “em” leo lên người moa và làm những thứ mà bà xã moa rất kém. Thay vì sợ hãi moa lại nín khe ôm ấp “em”, yêu “em” cho tới gần sáng. Merde! Moa chưa thấy có con ma nào đáng yêu tới ngần ấy! Moa thắp nhang, moa cúng bái, moa ăn chay, moa niệm Phật mà “em” vẫn không nhăn mặt oán trách chuyện trừ tà.
Gặp ma thì ai cũng phải sợ, nhưng U. khác, hắn không ngán chút nào. Một con ma vú dài thì tình hình e sẽ phải thay đổi ngay, sớm bỏ Québec dọn đi Montréal, sớm giã từ ngoại ô không đèn mà chẳng cần vin vô lý do chính đáng là đi tìm việc. U. nói ma nó chọn đối tượng chứ không phải bạ đâu nhát nấy, bằng chứng là vợ moa đâu có “thằng Tây” nào hiện ra để “lấy ma đè người” đâu. Moa ăn dữ mà không lên cân, cứ ốm o xo bại, vợ moa kiêng cử “đai-ớt” mà vẫn mập thù lù. Chỗ toa ở thì sao? Mình thưa, nói chung thì yên hàn vô sự, có mua từ chợ trời cái ghế gỗ về đặt ngoài hàng hiên ngồi hóng gió chiều tà thì canh khuya nó tự đong đưa như thể có ai đặt mông, chắc bị gió quấy rầy. MÌnh nghe tiếng động, đứng sau cửa kính nhìn ra có thấy con ma nào đâu. Vậy chứ có đám trẻ mỗi bận đi ngang đều ghé mắt nhìn vào, ba phần kinh hoảng bảy phần bạt vía. Rõ là mình có duyên, vô tình rước từ chợ trời về một lá bùa linh, chả bị ăn trộm hỏi thăm.
Từ giã Québec Je me souviens, mình dọn về đây sau U. ba năm. Gặp lại hắn trong hội chợ Tết. Tay bắt mặt mừng rồi huyên thuyên bù khú cho bỏ những ngày gián đoạn một kỷ niệm chưa kể hết ra. Hắn vẫn vậy, ốm o gầy mòn dù bữa nay thôi bị ma nữ hiện ra hút hết dương khí tự người hắn. Hắn phân bua, bị giờ này moa có bốn mặt con và cày tới hai jobs. Không hư người cũng uổng, hắn chấm câu. Làm bậy chai bia sau khi ăn hết món ngon thức lạ bà con đồng hương bày bán trong hội chợ. U. chở mình về nhà tham quan cho biết cơ ngơi mới. Khiếp, hắn ăn cái giải gì mà sở hữu một căn hộ hơi bị hoành tráng. Chẳng to lớn gì nhưng bước chân vào nhà, khách buộc phải thầm công nhận về gu nghệ thuật có đẳng cấp của vợ chồng hắn. Vợ U. có bỏ công đóng tiền đi gym vận động nên thể hình trông ngon con mắt, thôi ba vòng tròn trịa bằng nhau như dạo nào, thật khó tin! Và tính tình xem chừng thông thoáng cởi mở hơn thời kỳ nghèo khổ đã sang trang. Bả cật lực nhào vào bếp với lời tuyên bố: Ở lại ăn uống với bọn này, không no say không về, nhớ? Chưa no say đã muốn “làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu”: Con em tui còn ở bển, đẹp người đẹp nết, anh nên về tham quan một chuyến để chính mắt nhìn thấy đó là cả một sự thật, nửa ổ bánh mì vẫn là nửa ổ bánh mì phương chi nó điện nước đầy đủ chờ trông một anh Việt kiều có duyên phận. U. tiếp lời vợ: Không nhanh chân thì có nước xôi hỏng bỏng không. Hắn nói lại lời cũ hôm giới thiệu mình căn apt. chốn xưa. Nhà thuê nọ không có ma nhưng lời đường mật mai mối này tuồng như vẽ ra cảnh “ma đưa lối quỷ dẫn đường”. Tam thập lục kế cứ ậm ừ là thượng sách. Vợ chồng U. nào hay mình chúa ghét trở lại chốn thiên đường kia. Hoãn binh rồi ký hiệp định ngưng bắn, rồi hoà đàm vì sợ chi viện, cứ thế cho tới hồi U. vô nhà thương. Xét nghiệm là chỉ một tháng thì đi bắt tay thần chết. Vợ con đã chuẩn bị tinh thần, dọn lòng chờ một hao hụt nhưng ba tháng rồi tới nửa năm vẫn dê kêu, U. vẫn kiên cường bám trụ trên từng cây số, hắn một mực ngoan cố không chịu đi gặp mặt Hồ chủ tiệm. Cháu ngoan thì từ thuở nào tới giờ vẫn mang tội bất hiếu. Không có gì quý hơn mù mắt điếc tai.
U. hỏi: Toa có tin chuyện ma không? Mình đáp chẳng lưỡng lự: Tin quá đi chứ và tin thêm chuyện ăn hiền ở lành khù khờ ông trời độ. Sẵn có bia xúi, hắn hứng chí đọc thơ:
“Những chiều Bến Ngự dâng mưa Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi Tôi ra mở cửa đón người Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hàng lang”.
U. hỏi: Biết thơ ai đấy không? Thơ của ôn Hoàng Phủ Ngọc Tường đấy. Ôn ấy đã tin rằng ngoài cuộc sống này còn hiện hữu một cảnh giới khác và chính điều đó mãi ám ảnh ôn. Mình góp ý, sao có vẻ nhái Tế Xương nhỉ: “Sông kia rày đã nên đồng… Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. U. cười, nếu nhà thơ lên xanh này mà gặp ma e đương sự sớm hồn lìa khỏi xác. Hoặc giả ma cũng có hai hạng, hiền hoặc dữ. Gặp ma hiền thì nó chỉ hù doạ cho ngồi xe lăn thay vì xuống tới một mồ chôn nào đó. Toa biết không, ở Huế thì có chán khối mồ chôn, âm khí chẳng vơi trên một cố đô lắm thương tích.
Cuộc sống của U. giờ này thôi còn cột mốc để định liệu, nay sống mai chết là việc chẳng lường, hắn muốn mình đi cùng hắn về thăm lại Québec lần cuối. Vợ con đã thuận lòng và mình không có lý do gì để từ chối một cuộc đi dã ngoại về nơi chôn nhiều kỷ niệm. Xe đò sẽ ngốn mất ba tiếng rưỡi và trời cuối hè vẫn chung tình trải nắng trên suốt những cánh đồng hoang dã một cách thơ mộng mãi chạy dạt lui. U. nói moa sẽ về thăm căn nhà cũ rồi tìm thuê một cái khách sạn bị đồn đãi là có ma để qua đêm. Moa mong biết bao sẽ nhìn thấy lại “em” tóc vàng thuở nọ. Hoặc không thì toa sẽ gặp phải trường hợp ma nữ hiện lên để hiếp dâm toa, kinh qua thứ cảm giác rợn cảm cực thống khoái.
Ma thêm dấu nặng là Mạ. Muôn đời mình tin Mạ mình sẽ là lá bùa quý báu, tuyệt đối ngăn chận giúp mình tránh hoạn nạn bởi tà khí bủa vây. Mạ mình mất đã hơn bốn mươi năm, mình chưa gặp ác mộng khi đêm về vẫn thấy mờ khuất dáng Mạ mình vào ra đâu đó giữa mỗi một giấc mơ, êm ả, bình lặng. Nếu biết làm thơ mình sẽ viết xuống giấy, không Bến Ngự với mưa rơi với hồn oan hiện về nhảm nhí. Thơ vụng dại như ri đây:
Chốn ấy Mạ ở có yên thân Bên đây con sống xa lọc lừa Là chốn ma hiền rất tử tế Mà người đất mẹ phải soi gương Đi với Phật sao lại mặc áo giấy Con hằng tin rồi quỷ sứ sẽ buông đao.
7. Phần 7 Tại sao anh nằm đây, trên chiếc thuyền con lắc lư sóng? Lạ quá! Cường nhớ đã bị hất tung vào bầu trời đen cùng tiếng hú oan khiên vẳng đi từ một nơi nào đấy, rồi như tất cả đều mất hút vào một cõi không thăm thẳm. Anh nhớ mình bị sóng giật tung lên, rơi xuống đúng vào một lốp xe cột ngang mạn thuyền. Cánh tay như con bạch tuộc cuốn mồi, cặp chặt lấy cái lốp xe vào nách. Nước sủi bọt tức giận, chẻ thành nhiều vết dao muốn cắt rời anh ra khỏi cái vật tròn đen xuất hiện như thiên thần giáng thế. Không, không đời nào anh chịu buông nó. Nó là mẹ anh, nó sẽ sinh thành ra một đời sống, tái tạo ra anh sau lần chết hụt này. Cường trôi trên biển mấy đêm mấy ngày, anh không làm sao nhớ hết. Lúc khỏe thì quơ tay quẩy quẩy, khi mệt thì phơi mình dưới nắng. Cứ thế, mây bay ngút ngàn miên miên vô tận. Biển không hành hung anh nữa. Biển lành tưởng ngay cả cái vỏ trứng mỏng manh cũng không bị nhận chìm. Cường đã mờ mắt, làn da móp méo như trái cam khô. Nhưng anh nhìn thấy một chỏm núi đen mọc lên từ mặt nước. Anh ngất đi trong cơn mơ kinh khiếp. Cường được một chiếc thuyền đánh cá cứu. Người anh như đụn giẻ khi được vớt. Anh được săn sóc mấy ngày liền trong khi chiếc thuyền vẫn đi lưới. Anh cũng được biết là người ta đã vớt xác mấy chục người gần Đồ Sơn mấy ngày trước đó. Như vậy là toàn bộ con thuyền đều chết, Cường đau đớn nghĩ thầm, những giấc mơ nặng nề tức ngực lại kéo đến. Anh nhớ cái cổ trắng ngần của Thu, anh nhớ làn môi cương quyết của Đặng mím lại khi dứt khoát cho thuyền ra khơi dù biết trời sắp làm cơn cố. Anh nhớ những đống nước xanh vàng ói mửa đầy thuyền của đàn bà trẻ con trên thuyền. Không lẽ tất cả đã về bên kia thế giới. Có lẽ nào anh là kẻ chứng nhân may mắn và đau khổ. Sao lại thế được! Cường không muốn trở về Đầm Hà. Anh đã bán căn nhà của Dũng trước khi đi, chẳng còn gì ở đó để mà về. Cường bán chiếc đồng hồ đeo tay, mua một bộ quần áo mới rồi lấy vé ô tô đi Hà Nội. Bố mẹ và em gái Cường ở gần chợ Đồng Xuân, có cửa hàng bán phụ tùng đồ xe đạp, lợi tức thu nhập hơn hẳn lương anh công chức ngày ngày đạp xe run cả đầu gối. Ông cụ ít khi có nhà, những đi về bất thường của cụ khiến Cường nghĩ cụ đang hoạt động gì đó. Nhớ hôm nào ông bảo Cường: – Con liệu đường xuống học nghề tài công của anh Dũng. Ông nói ngắn, gọn nhưng Cường hiểu. Hai bố con tâm sự đến sáng. Cường thấy đôi mắt bố thêm quầng, mái tóc dầy rẽ giữa của ông vẫn bềnh bồng nghệ sỹ. Ông thì thầm cho Cường biết là nhóm Bồ Câu Trắng của ông đã bị phát hiện, một vài người bị bắt, số còn lại mạnh ai nấy chạy hoặc ngưng hoạt động chờ thời. Có lẽ rồi bố sẽ bị bắt, ông nói, nhưng đến khi đó tình hình chung sẽ sáng sủa hơn. Trong số những người quen của ông, Cường có biết một vài văn nghệ sỹ tên tuổi. Nhưng với anh, đó là những tên tuổi của một thời đã qua. Cường đã tốt nghiệp phổ thông, nhưng không bao giờ đọc các tác phẩm của họ. Có vẻ như những tác phẩm mà nhiều người lầm lẫn cho là văn hóa quá khác xa với cái…văn hóa mà Cường đối mặt hàng ngày. Đó là những dòng xe đạp ngập tràn thủ đô với những bộ mặt khép kín u sầu. Đó là những cảnh chợ trời cướp bóc giành giật bán đủ các thứ có thể ráp được một chiếc ô tô chỉ thiếu mỗi cái khung. Cường không thể nào thấy “gần” được với những nhà văn tả nghệ thuật uống trà, hoặc có thể hùng hồn đòi khắc văn trên đá. Nghĩ đến họ là nghĩ đến một hoài niệm, xa rời quần chúng và thực tại. Cường không đòi họ đụng đến thực tại của ngày hôm nay, họ đã kinh cung chi điểu. Dẫu sao anh cũng tôn kính họ, như tôn kính lịch sử, mà không ai viết lịch sử của những gì đang xảy ra, nếu có, thì là một hiện thực lịch sử không cấu thành từ tim óc của một cá nhân nhưng là của một quần thể. Nhà văn là kẻ sáng tạo ư? Nghệ sĩ là kẻ sáng tạo ư? Có thể. Nhưng hắn sẽ “sáng tạo” được cái gì khi cảm thụ về chân thiện mỹ của hắn không được giãi bày, nghệ thuật được sáng tạo bằng cảm quan rất đáng phàn nàn của tập thể, một công trình tập thể đồng sắc áo. Chân lý nhân danh tập thể nên nỗi quằn quại của riêng cá nhân người nghệ sỹ đã bị tử hình.
Google images
Bố Cường không ngờ đứa con trai út có những tư tưởng gần ông như vậy. Có nghĩa là Cường vẫn khắc mẹ. Đúng, mẹ Cường là người đàn bà giống như bất kỳ người đàn bà nào khác, có nghĩa là rất thực tế. Bà vẫn cho “bố con ông là người viển vông, chết có ngày!”. Bà buôn tần bán tảo kính chồng yêu con nhưng không đếm xỉa đến việc ông làm. Cường không ngờ là trong nhóm của bố mình có Hải. Anh mến phục chàng trai ấy, tưởng Hải là biểu tượng của thế hệ sinh sau đẻ muộn của mình. Chính vì thế mà Cường đã dốc lòng dắt dìu vợ con Hải đi. Có ai ngờ lòng tốt của anh đã trở thành tai họa. Về lại nhà đầu óc Cường còn choáng váng. Anh gầy sọm đi tuy đầu óc còn tỉnh táo. Ông cụ biết thằng bé chưa hoàn hồn, nên cứ âm thầm tìm đường khác cho con. Một hôm ông bảo: – Cửa khẩu Đông Hưng đã mở lại rồi đấy. Con đi được. Cường đến Đông Hưng lúc trời gần trưa. Nắng dịu chứ không gắt. Hơi mát từ con suối biên giới lẫn trong cảnh buôn bán tấp nập làm anh ngây ngất. Cường mua một vé “xuất khẩu” giá ba ngàn đồng. Bộ đội đứng trong trạm canh thản nhiên nhìn người qua kẻ về, dễ dãi. Cường xuống đò đi qua con suối rộng chừng nửa cây số. Lên bờ, anh lại mua một vé nhập nội giá một nhân dân tệ. Vậy là anh đã ở trên đất Trung Quốc. Nhanh nhẹn, Cường nhập vào dòng người buôn bán. Anh đi vòng quanh các chỗ bán hàng. Thôi thì đủ hạng người tứ xứ từ lục địa đổ xô ra. Anh đứng trước một gánh hàng rong, ngắm lại bên bờ bên kia. Kìa, quê hương của anh. Gần nhưng xa lắm. Những dãy núi mờ sương, bầu trời xanh cũng như khác hẳn từ bên kia biên giới, như chính bầu trời cũng bị mốc cột chia hai không thương xót. Những con người áo quần lam lũ đầu đội vai mang tần tảo quá, biết bao giờ cái nón cối che ngang tầm mắt mới được giở ra để thiên thanh bầu trời khoáng đạt. Trong lòng Cường dâng lên một cảm giác lâng lâng lạ lùng như đang đặt chân đến một tinh cầu khác, dù cảnh sắc thật ra nào có khác bao nhiêu. Anh đến điểm hẹn là một ngôi nhà nhỏ cất sau những cây cổ thụ cao ngất. Người dẫn đường đã ở đó. Một gã bộ đội phục viên, mắt một mí, da mặt đen tràm và tròng mắt long lanh sắc sảo. Nghỉ ngơi ăn uống xong, Cường theo gã đi sâu vào lục địa. Cho đến khi trời đã chập choạng, Cường nhìn thấy một con sông nhỏ. Một chiếc thuyền dài chừng mười mét đang neo chờ. Cường xuống thuyền, đưa mảnh giấy có viết mật hiệu cho gã bộ đội để gã về nhà lấy phân nửa số tiền, phần còn lại sẽ đưa nốt khi có mật hiệu của anh gửi về từ Bắc Hải. Gã lái thuyền là một công an Trung Quốc mặc thường phục. Trước kia, gã từng sống ở Hà Nội nên tiếng Việt rất sõi. Gã làm công việc này thành thục cứ như nghề chính của gã là đưa nạn dân đi chứ không phải công an. Trên thuyền còn có non ba mươi người khác. Cường cảm thấy thanh thản hơn chuyến đi lần trước. Bề gì, từ đây đến Bắc Hải anh không phải lo nghĩ nhiều. Thuyền lặng lẽ đi trên dòng sông quanh co. Hai bên bờ nhà cửa thưa thớt, một vài ánh đèn dầu hờ hững hắt ra buồn ảm đạm. Tiếng chim gọi bầy ríu rít vang rân, rồi trả im lặng cho dòng sông khi đêm càng về khuya. Cường ngủ gà ngủ vịt, lòng dấy lên tâm cảm buồn mênh mông của người viễn xứ. Anh nhớ ánh đèn nhà day dứt, thót cả ruột non ruột già.
Google images
Gần sáng thì thuyền đến cửa sông. Nước chảy xiết khá mạnh nhưng gã công an tài công sành sỏi nương theo con nước đưa thuyền ra biển êm ả. Bỗng như Cường có cảm tưởng vừa thoát khỏi một chốn tù hãm tăm tối để đón nhận cả không gian bao la mở rộng. Gió lồng lộng thổi, bát ngát những đợt sóng lăn tăn. Anh tưởng như cả tuổi xanh bây giờ mới thực sự biết sống là gì. Cuộc đời đâu chỉ quanh quẩn xó tường, rồi anh sẽ đến Hồng Kông (Trời ơi, xứ sở của tự do) chỉ trong vòng vài ngày nữa. Ánh điện vàng rực rỡ trong thư của bạn gửi về bắt đầu nhảy múa tưng bừng trong cõi lòng phấn chấn của Cường. Nơi đó có những tòa nhà chọc trời, phố phường không bao giờ tắt ánh sáng kinh kỳ. Anh sẽ xin đi một nước thứ ba, anh sẽ viết thư báo tin cho cha già, anh sẽ cho ông biết sẽ đi theo ước muốn của ông, anh sẽ…anh sẽ… Đất liền chỉ còn là một vệt mờ mây khói. Sóng lắc lắc làm mấy bà bắt đầu nôn mửa. Nhằm nhò gì cái màu mật xanh để đổi cả cuộc đời ấy. Có mất đi một phần thân thể, có mất đi…Ừ, mà mất thật rồi đấy. Mất mẹ, mất cha, mất quê hương, mất bạn bè, mất tất cả. Ừ, thì cuộc đời là cuộc thương lượng mặc cả mà. Nếu không liên hiệp được với nó thì phải dứt nó đi, xây dựng một cuộc đời khác. Có một đêm trời gió khá mạnh. Gã tài công tìm ngay một hòn đảo cực kỳ nhỏ, tránh. Sáng gã bình tĩnh đưa thuyền đi tiếp. Nhưng lần này gã đi sát bờ hơn. Cường có thể nom thấy những mái nhà li ti trong bờ, toàn bộ quang cảnh dường như bị chế ngự bởi núi cao xanh thẳm hoặc đen tràm. Ánh nắng có khi vãi một vệt vàng hình chóp nón như có bàn tay nào như vãi thóc trước sân. Thế đấy, thiên nhiên đang đãi ngộ những ai biết ngắm nhìn. Rồi Bắc Hải. Cường đã tới cái điểm mà từ đây anh phải tự lo liệu lấy. Một thành phố cảng lớn quá sức tưởng tượng của Cường. Tàu bè đậu tấp nập. Cả bọn lớ ngớ sau khi chiếc thuyền đưa đã quay mũi. Họ dự định tới đây sẽ mua thuyền đi tiếp. Nhưng ngay phút đầu lóng ngóng không biết bắt đầu làm sao. Cường chú ý ngay một người con gái đi một mình. Người con gái trạc tuổi Cường, tóc kết đuôi sam, nước da đen khăm khẳm và khuôn mặt có vẻ lam lũ của một người lao động dầm mưa dãi nắng. Cô ta đứng chơ vơ một mình trên bãi, không trò chuyện với ai cả. Một giọng nói cất lên: – Ai biết tiếng Trung Quốc nhỉ? – Tôi biết chút ít thôi. Cường đáp. – Thế tính sao đây? Tính sao? cứ tiến tới những tòa nhà cao ngất ấy đã. Đúng lúc ấy công an Trung Quốc xuất hiện. Cường nói lắp: – Ngộ..chẩu hớn cỏn. Mấy viên công an có vẻ lịch sự. Một gã bảo biết rồi, các nị phải tới tập trung ở chỗ có đồng bào của nị đi Hồng Kông ấy. Một đám đông người địa phương tò mò đứng nhìn lũ người áo quần xốc xếch đi trên đường. Những biểu hiện có tiếng nước ngoài hấp dẫn và hứa hẹn quá. Mọi người chỉ trỏ, bàn tán. Thành phố đẹp gần bằng giấc mộng có đèn xanh đèn đỏ, đẹp nhất là con gài mặc váy ngắn củn, hai bắp chân thon thon khiêu khích. Bắc Hải quả khác xa những làng mạc nghèo nàn lạc hậu mà Cường mới đi qua, Cường như anh mán về thành, ngơ ngáo đi giữa cõi người xa lạ thích mắt. Cường đến bờ biển có đồng bào anh cư trú. Cái vẻ trù phú của cảng Bắc Hải chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.
Google images
Khi nhìn thấy đời sống nghèo nàn lạc hậu của người Việt gốc Hoa trên mép nước, Cường càng thêm khâm phục tài nghệ nói phét “đảng truyền” vô tiền khoáng hậu của Hoàng Văn Hoan những ngày chống gậy ăn xin trên đất Trung Hoa. Trong một số báo tin Việt Nam lọt về Hà Nội, Hoàng Văn Hoan huênh hoang là đã đi thăm khu nạn dân nạn Kiều đánh cá ở Bắc Hải. Theo tờ báo thì công việc làm ăn của nạn Kiều tấp nập và vui vẻ. “Chiều chiều, khi tàu thuyền cập bến, kẻ mua người bán, tiếng nói tiếng cười vang lên nhộn nhịp…Nhiều bà con nạn Kiều đã trở nên giàu có.” Vài ngày sau Cường gặp một chiếc thuyền đi từ núi dê Hải Phòng ghé Bắc Hải mua dầu Cường hùn một chỉ vàng xin quá giang đi Hồng Kông. Tài công biểu diễn tình đồng hương bằng cách nhận thêm vài người xin theo, trong đó có cô gái mà Cường nhác thấy hôm mới đến. Gã tài công cười mơn hỏi cô gái? – Em tên gì đấy? Cô gái dường như không nghe hỏi. Đôi mắt lần thần nhìn ra biển, nhìn vào những dãy phố. Gã tài công hỏi thêm một lần nữa. Cô đáp: – Mân. Rồi ngồi xuống góc thuyền, tay mân mê mép áo. Cường cố lục trí nhớ. Dường như Mân không phải là trong đoàn người đi từ cửa khẩu Đông Hưng. Dường như cô xuất hiện đâu đó lúc Cường đã đến Bắc Hải. Mân ăn mặc như một xẩm Tàu đã sinh sống nhiều năm trên đất Trung Quốc. Tóc kết đuôi sam, cúc áo cài một bên, cái quần đen khá sạch sẽ. Nhưng hề gì. Cường chặc lưỡi. Cũng là nạn nhân như mình. Vừa vượt qua eo biển Lôi Châu, thuyền bị sút “côn”. Số phận con thuyền đành để mặc cho sóng gió, muốn đẩy về đâu thì đẩy. Cường trông thấy nhiều tàu nước ngoài xuất hiện. Tất cả đều mừng rỡ reo hò, nhúng quần áo vào dầu đốt sáng rực cả đêm tối. Nhưng những chiếc tàu sắt nhanh chóng biến khuất trong màn đêm. Sáng hôm sau, cả thuyền lại nuôi hy vọng khi thấy một tàu đánh cá Trung Quốc xăm xăm tiến lại. Tất cả đàn ông con trai trèo cả lên mui, phất áo rối rít. Chiếc tàu đánh cá ngưng lại, đặt ống nhòm nhìn sang. Giây phút kéo dài hơn thế kỷ. Những con tim hồi hộp chờ đợi một sợi dây sẽ được quăng sang. Một phút…hai phút…năm phút…chiếc tàu đổi hướng chầm chậm hướng ra phía chân trời. Những tiếng thở dài nén trong lồng ngực. Cường chán nản bảo tài công: – Có cách nào kết buồm không? Gã lắc đầu: – Thuyền ta lớn quá, chịu. Ba ngày trôi trên biển. Đàn bà con nít say mê mệt, nằm bẹp dí trên sàn, có người thậm chí vật người trên chỗ vừa ói mửa, tóc tai bầy nhầy. Chỉ có Mân là trông đỡ thảm hơn cả. Nàng tựa người vào khoang đôi mắt lạc thần nhin lên bầu trời mây kín. Suốt từ khi đặt chân lên thuyền Mân chưa nói với ai một lời. Dường như những việc xảy ra quanh Mân không làm người con gái kỳ lạ ấy lo nghĩ. Gã tài công có khi trèo ngang qua chỗ Mân ngồi, lẩm bẩm: – Cái…lạ… Một chiều. Khi sức lực của mọi người trên thuyền đã cạn kiệt thì một chiếc thuyền Trung Quốc xuất hiện. Chỉ còn vài bàn tay đủ sức giơ vẫy, nhen nhúm hy vọng. Gã tài công ngồi trên nóc ra dấu là thuyền chết máy. Đột nhiên, Cường nghe gã rú lên mừng rỡ. Chiếc tàu đánh cá đã liệng dây sang. Gã tài công chụp lấy sợi dây, nhanh nhẹn cột vào mũi. Nhưng kia, chiếc tàu vẫn xáp lại, xáp lại gần. Cường bảo: – Anh xin đồ ăn thức uống đi, nó muốn cho đó. Gã tài công ngước lên, rồi cả thuyền đồng loạt há mồm, chỉ trỏ. Mấy gã Trung Quốc cười hằng hặc ra vẻ hiểu, quăng xuống một bao mì gói, rồi những tảng nước đá ào ạt bay sang. Một gã thủy thủ nhảy qua thuyền gặp nạn, nói chuyện với tài công. Cường thấy gã thủy thủ làm điệu bộ, có lẽ gã không hiểu ngôn ngữ phần lớn là bằng tay chân của tài công.
Google images
Cường thấy tài công lắc đầu, gã thủy thủ xịu mặt quay về, rồi tài công gọi giựt gã lại, bảo chờ. Tài công kêu đàn ông trên thuyền hội ý. Cường té ngửa người khi gã tài công cho biết là tàu Trung Quốc đòi “mượn” một phụ nữ trên thuyền rồi mới chịu kéo. Gã nói: – Đó…tôi đâu muốn! Những gã đàn ông im lặng. Đàn bà trên thuyền phần lớn là vợ con họ, là người yêu. Một thanh niên tức giận chửi: – Địt mẹ…quân đểu thế. Tớ đếch chịu, chết bỏ chớ sợ đếch gì. Mấy thanh niên khác ào ào hưởng ứng. Gã tài công nạt: – Im đi, anh em không có tinh thần làm chủ… – C…đi vượt biên mà còn nói giọng đó. Người thanh niên nổi nóng, hai lỗ tai anh ta đỏ bừng. Gã tài công cũng nổi nóng, nhưng gã đấu dịu khi thấy người thanh niên quyết ăn thua đủ: – Học, mầy biết tao mà. Đây là thế kẹt mới tính như thế chứ. Học mặt đổi từ đỏ qua tái, tính đáp trả thì gã thủy thủ Trung Quốc thấy lâu quá, hối: – Tụi ngộ đi đây. Gã tài công hốt hoảng: – Tẳng…tẳng…mà! Bỗng nhiên đôi mắt tài công sáng rực: – Tôi đồng ý tuyệt đại đa số phụ nữ trên thuyền đều là vợ con anh em mình, ai lại… nhưng có một người… Gã ngừng lại. Cường nghe tim mình thắt lại. Anh hồi hộp chờ đợi giọng nói phán quyết của gã tài công: – Con…Mân! Cường quát lên: – Không được! Gã tài công cười hề hề. Mọi con mắt đổ dồn về mặt Cường. – Đằng ấy bảo không được là không được cái gì? Theo tôi biết thì cái cô Mân đó đâu có liên hệ gì với đằng ấy. Hai tai Cường nóng bừng. Anh có tật nói lắp khi nóng giận: – đã đành…mà…mà..như vậy bất nhân…lắm! Cường nuốt nước bọt, cổ họng đắng chát, gã tài công trở mặt: – Này, tôi bảo. Tôi lãnh đạo thuyền này, nhớ kỹ như vậy. Hơn nữa, chính ông bạn cũng là người đi nhờ cơ mà. Cái cô Mân đó tôi cho đi hôi không tốn một cắc! – Tôi đóng một chỉ vàng. – Rồi sao chớ! Học xen vào: – Tôi thấy thất đức. – Đức! ơ cái anh này rõ vớ va vớ vẩn. Thế để cả thuyền chết chắc có đức hơn à. Chỉ tiểu tư sản. – Nhưng cô ta chỉ có một mình. Gã tài công vớ ngay câu nói của Học: – Chính thế. Các anh dẹp cái lòng đạo đức…giả của các anh đi. Phải nhìn nhận sự hợp tác của Trung Quốc chứ. Tôi hỏi: đồng bào Nam Bộ vượt biển, gặp hải tặc Thái Lan, chúng nó có tử tế thế không nào? Hay là chúng cứ tàn sát, bắt hết đàn bà con gái, thậm chí con nít lên mười cũng không tha, chúng hiếp tập thể, chặt đầu kéo từng chùm con gái theo sau tàu chúng, chặt dây, hoặc bán vào động điếm. có ai làm gì chúng đâu nào, hay chỉ nói phét…khơi khơi. Cả bọn im thin thít. Gã quả có lý. Tiếng kêu đau thương của đồng bào Nam Bộ gặp hải tặc Thái Lan đã đến tai hết thảy mọi người. Nhưng tiếng kêu ấy chỉ chìm sâu vào đáy vực, không có tiếng vọng nào hồi đáp. Sự đau khổ của họ là đại dương nhưng những hành động ngăn chặn chỉ là giọt nước trong biển cả.
Google images
Gã tài công xăm xăm tiến lại chỗ Mân đang ngồi. Cường hét: – Không được… Gã tài công quát: – Giữ nó lại. Lập tức nhiều bàn tay cứng như thép giữ chặt lấy Cường, ấn anh ngồi xuống. Gã tài công nắm cổ tay Mân. Nàng ngước nhìn gã, ngơ ngác. – Em chiều bọn họ chút đi. Mân rút tay về, sợ hãi. Nhưng gã tài công đã hạ quyết tâm, gã giựt phắt người nàng bắt đứng dậy, cặp hai bàn tay cô gái ra đằng sau, đẩy tới trước. Đám đàn bà con gái đã hiểu chuyện, họ co giò dạt ra hai bên lấy chỗ cho gã, đôi mắt họ nhìn Mân nửa thương hại, nửa long lanh giấu nỗi vui mừng nhen nhúm. Đằng nào, nếu không phải là Mân thì hẳn là một người trong bọn họ. Mân ré lên một tiếng nhỏ, rồi im bặt. Nhưng nước mắt nàng cứ lặng lẽ chảy ra, chảy ra âm thầm cứ như tiếng khóc trong người Mân đã đóng lại tự bao giờ rồi. Đôi mắt nàng nhìn xuống. Hai bàn chân trần chưa kịp cắt móng, cái áo cài cúc một bên phập phồng. Một giọt nước mắt rớt xuống ván thuyền ướt nhẹp. Một giọt nước mắt rơi xuống khi gã tài công lải nhải: – Chiều bọn họ chút thôi mà. Có sao đâu. Một giọt nước mắt khác rớt xuống khi bước ngang qua Cường. Anh thấy giọt nước mắt rơi xuống chân mình, vỡ tóe ra rồi thấm vào kẽ nứt. Chiếc thuyền chao đảo nhẹ nhàng. Tiếng sóng vỗ lách tách vô mạn, bốn bề mênh mông nước. Những người đàn bà Việt Nam là vật tế thần suốt chiều dài lịch sử. Phải chăng nàng công chúa khi xưa cũng bật khóc như thế khi bước chân xuống thuyền để về Ô Châu Ô Lý. Cái thân hình bé nhỏ của người đàn bà Việt Nam, với chân trần và rèm mi rũ xuống đã cưu mang bao lần thế hệ. Nạn nhân của lòng tham ích kỷ. Những giọt nước mắt rơi xuống, thấm vào kẽ nứt, góp vào biển cả, chan hòa trong đại dương mênh mông khổ ải. Nàng Mân, nàng Mân đau khổ và yếu đuối. Nàng đang bị bế thốc lên tàu lớn, những bàn tay thò xuống kéo xốc nàng, hai bàn chân móng dài của nàng cọ sát trên mạn thuyền cọt kẹt. Những trận mưa kéo xuyên qua bầu trời, đập xuống mái chùa dột nát. Mưa xuyên qua mái, chảy loang trên nền chùa nứt rạn. Ngọn đèn dầu hiu hắt chập chờn soi những bóng tối người chụm vào nhau dưới hiên chùa rét lạnh. Sóng cuốn ầm vang ngoài bãi vắng. Hai chiếc thuyền tỵ nạn gặp nhau nơi cồn cát, nằm chơ vơ trên bãi, chờ những cơn mưa bớt nặng để biển bớt ba đào sóng dữ. Nhưng trời như cố trêu người thất thế, cứ cho cơn mưa cầm chừng. Có đêm gần sáng, trăng lưỡi liềm hé qua mây đen nghiêng nghiêng dọi, rồi lặng lẽ biến đi dưới bầu trời mây dầy như lớp cơm cháy. Rồi nàng Mân đã được trả về thuyền, và đã theo Cường tới đụt mưa dưới mái chùa xiêu đổ. Mân ngồi bó gối dưới chân bệ thờ, từ chối mọi hỏi han chăm sóc. Sự im lặng của Mân dễ sợ hơn đêm tối, dễ sợ hơn mọi hình thái de dọa trên đời. Bên hiên, Hải cũng ngồi bó gối. Chàng cũng im lặng suốt một tuần nay. Có đêm chàng ra ngồi trên mép biển, mắt mở trừng nhìn những lớp sóng thi nhau xô đẩy, tung tóe. Cái cồn cát quá nhỏ không đủ để chàng xa lánh mọi người. Từ trong chùa nhìn ra, người ta có thể thấy cái lưng khòm của chàng in trên bọt sóng. Những bọt sóng đã nuốt trôi vợ con chàng, không ai tìm thấy xác hai kẻ bạc mệnh trong số tử thi tấp vào bãi Đồ Sơn. Rồi mai nầy, mưa tạnh, chàng sẽ đi. Có thể chàng sẽ đến. Có thể chàng sẽ không bao giờ đến. Nhưng điều đó có nghĩa gì khi lòng Hải đã băng giá trước hình ảnh mơ hồ của tự do. Có đêm người ta thấy Sương chập choạng lần ra bãi. Nàng không cần ai dắt. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng dắt nàng đi. Nàng ra tới bãi, lắng tai nghe. Chỉ có tiếng sóng, chỉ có tiếng mưa rơi lắc rắc trên vai. Nàng bắt đầu cất tiếng gọi. Hải ơi! Tiếng gọi mất hút vào tiếng sóng. Nàng cứ gọi, gọi mãi, đi dọc theo mép sóng. Hai chân nàng lạnh ngắt nhưng lòng mẫn cảm cứ bắt nàng đi. Nàng đi giáp một vòng cồn cát. Hư vô đã cách biệt nàng. Không ai thấy nàng khóc.
Google images
Rồi một buổi sáng nắng hồng rực rỡ. Nắng rực rỡ làm xao động những triền sóng vô tư. Nắng sưởi ấm những tim gan giá lạnh. Ra khơi, ra khơi thêm một lần nữa. Đã bao lần ra khơi, có thêm một hiểm nguy nữa thì định mệnh cũng đã an bài rồi. Cường đi theo chiếc thuyền chở Hải. Sương hân hoan nghe tiếng Hải nói, như thể sự tái sinh đã đập tan âm mưu phản động của sự im lặng dài, sự im lặng dài đêm thâu, kẻ thù truyền kiếp của mọi giai cấp. Dũng bảo Cường: – Mày bảo cô Mân đi theo thuyền tao. Mân bình thản theo Cường, bình thản leo lên thuyền ngồi bó gối. Hai chiếc thuyền được đẩy xuống nước, đi về một hướng nhưng khác lộ trình. Mặt trời soi rạng rỡ. Thuyền đi qua vạn sơn quần đảo. Những ốc đảo nhỏ có, to có, có cái trơ trụi đất cát đìu hiu trên sông trắng, có cái cây rừng tủa như lông nhím. Lương thực đã cạn hết, gạo không còn một hột, nước không còn một giọt. Cái đói làm người vàng cả mắt. Thuyền ghé vào bờ không biết bao nhiêu lần nhưng toàn là những khu đất hoang dã. Có khi gặp dân thì họ cũng nghèo quá, vật lộn với miếng ăn từng bữa nên cũng không có gì để giúp. Thanh niên đi đào trộm ngô khoai hoặc bất cứ loại củ gì có thể ăn được. Dường như cả trái đất lương thực đã cạn kiệt. Cánh phụ nữ còn thê thảm hơn nữa. Một lần Sương có kinh. Hải biết được điều đó khi thấy dòng nước đỏ chảy loang trên chân nàng. Hải căng vạt áo cứa cứa lên mạn thuyền để lấy vết cắt nhỏ, chàng xé toạc vạt áo xé thành miếng đưa cho Sương. Hải run rẩy dìu Sương lên bờ, những đốm nắng làm chàng hoa cả mắt. Chàng tưởng trái đất đã mất trọng trường nên khi Sương dựa vào người, Hải té chỏng cọng. Chàng vừa đỡ Sương, vừa nói đỡ: – Anh không thấy gì cả. Có lẽ rồi anh cũng như em. Sương gượng cười vịn vai Hải đứng dậy. Khuôn mặt nàng xanh như tàu lá chuối non. Nàng hỏi: – Có phải áo anh màu xanh không? Hải ngạc nhiên: – Em thấy đường à? – Không, nhưng em nghĩ như thế. Anh tên Hải mà. Sương bị mù sau một trận ốm nặng năm lên bốn. Nàng đã thấy màu sắc của quê hương nơi nàng sống chỉ thuần là màu tro xám xịt của kiếp người nghèo khổ. Nàng nhớ nhất là màu xanh của biển. Đó là hình ảnh rực rỡ nhất còn đọng trong trí nàng. Nàng ao ước một chiếc áo mang màu biển xanh nhưng ước mơ ấy chưa bao giờ thành sự thật. Hải nói: – Ừ, áo anh màu xanh nước biển đấy, nhưng bạc trắng cả rồi. Em có hình dung không? – Có, anh. Sương nhắm chặt mắt lại. Trước mắt nàng là trùng trùng sóng xanh biêng biếc. Chiếc thuyền con của bố đi đánh cá về. Hình ảnh bố cô độc quá. Nước mắt nàng ứa ra, tràn trề hai rèm mi. Nàng mở toang đôi mắt. Vẫn là bóng tối, và hơi ấm của chàng trai. Hải nói: – Đứng đây nhé, anh đi tìm cái gì nhai đỡ. Nàng đứng yên dưới tàn cây. Xung quanh tiếng lá xì xạc tâm sự. Nàng đã đặt chân lên đất liền mấy lần rồi? Hải đã đi kiếm ăn mấy lần rồi? Sương không nhớ hết. Nàng cảm động là Hải đã thay thế bố. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng cho biết chàng trai ấy còn đối với nàng bằng một tình cảm đặc biệt. Nhưng sao Hải đi lâu quá. Sương nghe tiếng sấm rền trên bầu trời, nàng thấy lạnh, sợ hãi. Tiếng gọi ơi ới của người trên thuyền. Tiếng lá rung động mạnh mẽ quanh nàng, rồi Hải: – Anh tìm được mấy củ khoai nè. Chàng lại cạp vỏ ngoài. Thốt nhiên Hải xúc động mãnh liệt cố kiềm một tiếng nấc. Chàng đã cạp vỏ khoai cho bé Ngọc lần cuối. Xác con chàng đã rã mục dưới cát bụi thời gian. Môi chàng run run muốn nói. Chợt bàn tay Sương quờ quạng nắm lấy tay Hải: – Anh nhớ con phải không?
Google images
Hải nấc lên thành tiếng. Sương ôm ghì lấy vai chàng. Một vài giọt mưa rơi xuống, lạnh lẽo trên cườm tay. Hải thấy cõi lòng hoang vu như ruộng lúa sau ngày gặt. Chàng cảm thấy hơi ấm từ tấm thân gầy guộc của Sương. Chàng để yên như thế, trong lòng dần dần yên tĩnh. Rồi thuyền lại đi. Len theo những ốc đảo tránh gió. Đêm xuống. Trăng lên. Trăng lặn. Con mắt đã mờ sức sống. Chiếc thuyền im lặng như mộ bia di chuyển trong đêm mờ. Một đêm, Hải ngồi sau chiếc thuyền chợt nghe tiếng biển réo dữ dội đằng mũi. Chàng len chân lên phía trước, bỗng sửng sốt thấy những làn sóng lửa sáng ngời cứ dâng lên, dâng lên, đập vào mũi thuyền từng chập. Hải kinh hoàng suýt bật thành tiếng kêu. Dũng nói, giọng bình tĩnh: – Trông kinh thật, lân tinh đấy ông. Những làn sóng lửa vây lấy thuyền, chập chờn ma quái như ma trơi đi ăn đêm. Hải nghĩ những oan hồn vượt biển đang hiện về trêu chọc. Chàng nhớ đã từng thấy ma trơi như thế trong một nghĩa địa. Bóng ma đỏ rực lượn vòng trong đêm, trong tiếng gió gọi hồn. Thốt nhiên, gai ốc Hải nổi cùng mình. Chàng nhắm mắt lại, tự đánh lừa cảm giác ghê sợ của mình bằng giấc ngủ. Hình như chàng đã ngủ một giấc ngủ dài chờn vờn đốm lửa vây quanh. Sáng hôm sau, Hải choàng dậy khi tiếng Dũng la thất thanh: – Sống rồi bà con ơi, thành phố! Từ xa, những ngôi nhà tầng xuất hiện dưới màu sáng hồng của bình minh.
6. Phần 6 Rừng phi lao xanh mướt oằn oại lượn trong gió dọc theo bờ biển xa mút tầm mắt. Từ điểm xa mút ấy lố nhố hiện những ngôi nhà trắng nhỏ cứ như những hộp vuông bé nhỏ ấy được cắm trên đọt xanh của lá, của màu xám núi. Ở một góc mắt khác, những tảng đá chồng lên nhau, xếp thành hàng lắt lẻo từ đất liền đổ ra biển trông như những đàn rùa nối đuôi nhau từ bỏ đất liền. Sóng tóe lên trắng xóa, hung dữ đập vào những….mu rùa nín lặng chịu đựng. Mây trời sà thấp, thấp đến mức chui vào những cánh cửa bé xíu của những ngôi nhà bé xíu. Họ phấn khởi khi càng tới gần màu đỏ chói của nhiều nóc nhà càng tỏ hiện một sự phú túc dư dả nào đấy. Mặt đất nghiêng dốc ra phía biển, nhưng cả ngôi làng được xây trên một mặt bằng khá phẳng. Kể từ khi thấy hình dáng của những ngôi nhà cho đến khi thấy được màu ngói, họ vẫn còn cách một quãng xa. Mặc dù khoảng cách càng lúc càng ngắn lại nhưng hoài không đến đích. Hải tựa vào gốc cây, hào hễn bảo: – Bao giờ…tới…Dũng…chắc chết quá ông ơi! Dũng tỉnh táo hơn, động viên cả bọn: – Thế nào mà chả có cái để ăn. Ráng lên, thiên đường cụ Mác kia rồi. Sương ngã chúi vào lòng lão Mục, đôi chân nàng tê dại không còn cảm giác. Lão Mục lựa thế ngồi xuống đất, ngửa mặt lên trời uống không khí. Một con chó từ đâu trong bụi chạy xẹt ra, lông nó vàng óng đến phát thèm. Dũng chặc lưỡi, tưởng tượng ra đĩa thịt chó thơm đến ngạt. Nhớ. Anh còn hình dung ra có cả chén rượu nốc vào nóng ran người. Bỗng như trí tưởng tượng khiến tinh thần Dũng phấn khởi, anh giục mọi người đi tiếp bảo: – Mình có cơ sống. Có chó là có đồ ăn mà. Bóng người xuất hiện lấp ló trong rừng phi lao khi bọn Hải tới gần. Chẳng còn gì để sợ, họ đang muốn gặp công an, hoặc bất kỳ một người nào may mắn hơn họ. Dũng hối thúc: – Ông ráng tí nữa ông ơi. Trông kìa, có cả lều giăng trên bãi tắm. Hẳn phải là xứ giàu. Dưới những cây phi lao mởn lá, quả nhiên Hải nom thấy những túp lều nhỏ che nghiêng ra hướng biển. Nhưng kỳ, những túp lều chỉ có một mảnh, làm bằng đủ thứ vải đã cũ, có cái còn rách bươm ra nữa. Bỗng nhiên có tiếng hô hoán: – Ê, Việt Nam hở, các đằng ấy Việt Nam phải không? Người vừa hỏi là một thanh niên gầy gò, da mặt anh ta bong ra từng mảng. Anh ta cầm một khúc cây vót nhọn, chắc đang nới thêm lều. – Đằng ấy là Việt Nam hả? Trời ơi… Dũng la lên mừng rỡ. Người thanh niên cười, hàm răng cửa cái còn cái mất: – Hải Phòng đấy à. Đồ Sơn đây. Anh ta nghe Dũng kể cuộc hành trình, mặt không đổi sắc: – Tụi tôi đắm thuyền ở đây. Chỗ kia kìa. Năm hôm rồi. Người thanh niên chỉ ra bờ biển. Có thấy gì đâu. Chỉ có mặt biển phẳng lì không vết tích. Anh ta bảo chỉ một đêm, con thuyền bị sóng nâng lên đập xuống vài lần là vỡ tan từng mảnh. Thuyền anh ta đi 47 người. Giờ tản mác đi ăn xin hết. Chỗ này tên là Ô Thạch. Anh ta kêu bọn Hải vào lều ngồi trên miếng vải lót nhăn nhúm.
Google images
– Làm sao đi tiếp? Hải băn khoăn hỏi. – Mọi người đang tìm cách hùn tiền mua thuyền đấy. Các đằng ấy có tiền bạc gì không đấy, cứ chung cả vào với tụi tôi. Dũng thầm đánh giá người thanh niên. Hàm răng sún khiến anh ta có vẻ bần hàn nhưng đôi mắt lại thẳng thắn. Gần tháng trời nay Dũng vẫn nhất quyết không chịu bán hai cái nhẫn chỉ đợi đến lúc này. Hải cũng có ý nghĩ tương tự. Một cái nhẫn cưới và hai mươi đô còn sót lại. Hải đã tiêu mất hai mươi đô la cho ngày ba mươi Tết hôm đến đảo Hải Nam. – Tôi còn một ít. Những phương án của các anh ra sao? Người thanh niên mắt sáng rỡ: – Tôi tên Tịnh. Cả thuyền chỉ có tôi biết lái thuyền buồm. Tụi tôi đã tìm được chỗ mua một chiếc thuyền cũ nhưng họ đòi đến hai ngàn nhân dân tệ cơ. Thành ra phương án tụi tôi thế này: Hiện đã có chừng một nghìn, 47 người sẽ đồng loạt tản đi ăn xin, mỗi người kể cả con nít thì hai đứa chia thành một suất, cơ bản chia thành 40 suất. Mỗi suất phải xin đủ 40 đồng. Khi mọi người xin đủ số rồi thì sẽ tiến hành việc mua thuyền. Tôi chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật. Tịnh nhìn lão Mục: – Thế ông đây chắc là dân trong nghề? Lão Mục gật đầu mệt nhọc: – Vâng, tôi phụ được. Tịnh có vẻ phấn khởi: – Các anh…à chị nầy nữa muốn nghỉ cứ nằm đây. Nếu muốn có gì ăn thì lên trên làng xin. Tịnh mở can nước rót ra ca nhựa: – Uống thì được. Tôi chẳng có gì đãi. Chờ vợ con xin ăn về mới “phụ” chúng nó cầm hơi. Lão Mục gượng đứng lên. Hàm râu của lão như rụng đi gần nửa, xoắn tít vào nhau bẩn thỉu. Hải bảo: – Thôi ông và cô Sương nằm nghỉ để tụi cháu đi xin ăn được rồi. Dũng dồn thêm: – Ông trông mệt lắm đấy, lại phải trông chừng cô Sương chứ. Lão Mục gật đầu. Lão cởi áo làm gối biểu Sương kê lên. Những bắp thịt cuồn cuộn của lão đã tan theo bọt sóng, chỉ còn những lóng xương sườn nhô cao và hai cánh tay cong queo đường gân máu. Hải và Dũng đi ngược lên hướng núi. Những ngôi nhà ngói đỏ có lối kiến trúc na ná như ở Việt Nam khiến cả hai đều có cảm giác gần gụi. Chỉ có khác là dường như đây là ngôi làng của người già. Những bà lão hom hem đội nón lá không chóp, tóc cắt ngắn ngang cằm nên trông có vẻ dịu dàng dễ mến của người đàn bà Việt Nam. Có người đang ngồi tựa cửa ngủ, miệng há hốc thở. Cả khu làng xây trên một khu đất cằn, đá lổm chổm che kín cả đất thịt, chằng chịt những rãnh nước hôi thối và bẩn thỉu. Hải đi ngang một ngôi trường tiểu học, ruột thắt lại khi thấy trẻ con nô đùa. Chàng rảo bước tránh xa ngôi trường nhưng như có điều gì giữ lại khiến Hải cứ ngoái lui. Dũng bảo: – Vào đây thử. Một người đàn bà trạc năm mươi tuổi đang phơi cá trước nhà. Hải trù trừ, nhớ sực bà lão xua đuổi bố con chàng hôm nào. – Sao vậy?
Google images
– Trông bà ta hiền. Người đàn bà trông hiền lành thật. Có lẽ nhờ mái tóc bới lên sau gáy, một vầng trán thẳng trên khuôn mặt đầy, và cái quần đen dài chấm gót khác hẳn đàn bà Trung Quốc lúc nào cũng mặc quần ngắn cũn cỡn. Người đàn bà quay phắt lên, nói. Ôi chao, bà ta nói tiếng Việt, mà nghe như giọng Hải Phòng mới chết chứ: – Này các cậu, vào cả đây. Hai người quýnh quáng mừng rỡ. Người đàn bà cười, hai hàm răng đều như hạt lựu: – Các cậu ở dưới kia đấy phải không? Bà ta chỉ ra hướng biển. Mấy hôm liền người mình đi qua đây nhiều lắm…Cơ khổ!.Bà ta mời hai ông khách bất đắc dĩ vào nhà. Dũng rụt rè bảo: – Bà giúp cho chúng em nhỡ đường… Người đàn bà xua tay: – Bày vẽ nào. Tôi hiểu. Chủ nhà rót chè ra tách, đon đả. Hải duỗi chân, lòng như nhẹ đi một gánh ưu phiền. Người đàn bà ngồi trên sập gụ, một chân thùng xuống đất, chân kia co lên. Ôi chao, sao mà Việt Nam thế. – Các cậu đi Hồng Kông đấy chứ gì. Rõ thời thế, tôi mà ở lại thì cũng đến nước này thôi. Thì ra người đàn bà trước kia ở Hải Phòng. Chính sách “bài Hoa” đã đẩy bà về nguyên quán năm 78. Bà ta về đây lập nghiệp với chồng cũng là người gốc Hoa. Chủ nhà rành rẽ giảng: – Cái làng này được tổ chức theo lối công xã, nó như hợp tác xã bên mình vậy. Có chế độ bao cấp… – Nhà nước ta hết bao cấp… – À thế… -…rồi cơ bác! -…nào tôi có biết. Tất cả nhà cửa đều được xây cất ở những nơi thật khô cằn sỏi đá, vì những vùng đất tốt thì phải để dành cho canh tác. Đấy hai cậu coi, đến cỏ cũng không mọc ở đây được nữa là. Ruộng nương thì ở xã kia, đàn ông con trai đều ra đấy cả. – Thế… – Nhà tôi cũng ngoài ấy. Hai cậu người Hải Phòng? – Vâng, em ở chợ Sắt. Bác còn nhớ không? Người đàn bà bỏ một chân xuống, khuôn mặt bỗng mơ màng. Một chốc, mắt bà ta rớm lệ. – Nào… Bà hỉ mũi, ngập ngừng nói lảng: – Để tôi thết hai cậu, nói mãi sao cho hết chuyện đời. Chủ nhà xuống bếp lục lạo. Cả Hải lẫn Dũng đói xanh mặt, ngồi tựa vào bàn chờ. Thời gian trôi qua chầm chậm. Ngoài sân nắng đã nghiêng hiên. Rồi chủ nhà bưng lên hai bát mì bốc khói, đặt xuống bàn: – Các cậu cứ tự nhiên. Dũng nói vài câu chiếu lệ. Chưa bao giờ anh cảm thấy sung sướng đến như vậy. Cuộc đời đẹp vì con người còn đối nhau tử tế thế kia. Tình đồng hương, ôi dào, sao mà đáng bát cơm tô mì đến vậy. Người đàn bà lại rót chè. Hai ông khách đã nuốt trọn tô mì trong nháy mắt, họ cáo từ. Chủ nhà đưa một gói nhỏ: – Hai cậu cầm ít bánh sắn ăn đường. Hải cảm ơn chủ nhà. Chàng thấy khỏe khoắn, sức lực hồi phục. Hải bảo Dũng: – Mình về kẻo lão Mục trông, tội nghiệp.
Google images
– Hượm đã nào. Hay tớ với cậu đi tham quan chút chơi. Vội gì. Biết đâu chừng lại được thêm gói bánh, cất ăn dần. Hải nghiệm thấy chí lí. Chàng lò dò theo Dũng đi ngược lên dốc. Chàng thấy từ xa một người đàn ông đang bồng con đi cạnh một người đàn bà. Áo quần họ rách bươm, mặt mày vơ váo. Họ đang bàn cãi gì nghe rất căng. Rõ ràng là họ đang nói tiếng Việt. Khi đi đến gần Hải, người đàn bà vụt im tiếng, đôi mắt e ngại nhìn hai người đàn ông lạ mặt. Người đàn ông dáng chừng đã mỏi, trao con cho vợ, khuôn mặt lườm lườm ra chiều bất ý. Đứa bé đâu chừng hai tuổi, hai mắt sáng long lanh nhìn Hải nhoẻn miệng cười. Hải nghe cả mùi hôi từ cặp vợ chồng khi họ đi ngang qua. Chàng nghe tiếng người chồng gắt: – Em nghĩ kỹ đi, đến nước này… Người vợ cương quyết: – Em thà chết… – Bộ em tưởng chết dễ à… Anh ta nhỏ giọng, Hải nghe tiếng còn tiếng mất: – Mất đứa nầy mình…đứa khác. Dường như chị vợ khóc thút thít. Hải không nghe tiếng chị ta trả lời. Anh chồng vẫn kiên quyết thuyết phục. Có lẽ chưa bao giờ trong đời anh ta thấy quyền làm chồng bị tổn thương đến thế. Một chốc anh ta bỏ bà vợ, hậm hực vượt lên phía trước. Người vợ chỉ chờ có thế, ngồi phịch xuống bên đường ôm con khóc rấm rức. Anh chồng chợt dừng chân, quát: – Có đi không nào, hôm nay người ta đi đấy! Rồi anh ta dỗ đứa bé: – Lạc ngoan của bố nào, nào đi theo bố! Người vợ hoảng hốt ôm rịt thằng bé. Anh chồng xấn lại, lôi vợ đi xềnh xệch. Dũng cau mày khi thấy cảnh đó: – Cái thằng cha… Hải bảo: – Nó muốn bán con đó. Chàng nghe lòng buồn dằng dặc, nhớ con da diết. Gói bánh cầm trên tay chừng nặng trĩu. Chàng chưa lần nào cho bé Ngọc ăn cái bánh như vậy suốt cuộc hành trình. Cả khi con chết, chàng chỉ có một củ khoai méo mó đã cạp vỏ để trên một cục đá dưới gốc thông già. Chàng lột sạch vỏ thông, khắc ngoằn ngoèo mấy chữ: nơi an nghỉ Lê Thị Mai Ngọc, 5 tuổi, chết ngày…tháng…năm… Rồi nếu có hôm nào trở lại, chàng có còn tìm gặp cây thông nguyên vẹn hay không? Chàng hy vọng, sợ hãi con đường sắp tới, mà ngoái lui chẳng một lối về. Dũng bỗng hít hà: – Nghe gì không? – Mùi rượu. Dũng hít hít như con chó đánh hơi. Rồi anh quả quyết lôi Hải đến trước một căn nhà ngói. Rõ ràng mùi rượu ai đang cất xuất phát từ đây. Một thanh niên đứng choán ngay cửa, quan sát hai người rồi lạnh lùng bảo: – Vào đây. – Thế ra nhà bác… – Cứ vào đây hẳn…
Google images
Căn nhà lót ván kêu ọp ẹp dưới sức nặng của ba người. Gã thanh niên bảo hai ông khách ngồi, tự tay rót…rượu ra chén. Dũng sướng tưởng ngất lên được. – Thế ra nhà bác… – Ừ, tôi là Cảng Quảng Ninh đây. Nhìn dạng hai ông biết ngay dân vượt biên. Uống đi. Nguyên Cảng từng là công an ở Quảng Ninh. Bị cho về hưu non vì bố là người gốc Hoa. Cảng trốn sang Trung Quốc thời nhà nước đánh “nạn kiều”, làm nghề nấu rượu lậu, vẫn ôm giấc mơ vượt biển đến Hồng Kông. Y đã vượt đến Hồng Kông một lần nhưng liền bị trả ngay về Hoa lục vì chính quyền Hồng Kông không nhận bất cứ một người nào đã định cư ở Lục địa. Sau lần thất bại đó, Cảng rút kinh nghiệm, nghĩ ngay một phương án mới. Y bàn tính với một số người trong làng hùn mua thuyền, chờ có “nạn dân” tức người tỵ nạn ở Việt Nam đến sẽ nhập bọn để cùng đi với họ đến Hồng Kông. Khi đó y sẽ khai là từ Việt Nam, và đương nhiên sẽ được chính quyền thuộc địa chấp nhận. Y chắc mẩm như vậy. Gặp Hải và Dũng, Cảng biết ngay là người Việt Nam. Y đã gặp nhiều người ăn xin do thuyền bị đắm ở rừng phi lao để gạ gẫm cho y đi theo những chưa ai chịu. Rốt cuộc Cảng dùng phương án cuối cùng: đi bằng chiếc thuyền y mua nhưng sẽ dùng người Việt làm chủ thuyền. Thế là thượng sách. Cảng nói: – Các đằng ấy cứ nhậu cho say một bữa. Vội gì. Thực sự thì Hải và Dũng chẳng vội gì. Hai người cứ uống liền tù tì, nghe Cảng nói tiếng còn tiếng mất. Đầu óc chếnh choáng, hơi men khiến họ hứng chí, Dũng khề khà: – Được, tôi là tài công. Có thêm ông thông thạo đường đi nước bước nữa lại càng hay. Cảng hớn hở nốc cạn chén rượu, mặt y đỏ khè: – Bọn tôi cả thảy trên 20 người. Thêm hai ông… – Bốn người. Hải nói, kể thêm cha con lão Mục: – …thì cũng chưa tới ba chục nhân mạng. Ta cùng nhất trí là đi từ Đồ Sơn. – Thuyền to bé thế nào? – Ối dào, đi cho hết thì phải năm mươi người có dư. Nào vô nào. Ừ, thì “vô”. Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu. Uống cho tiêu mối sầu kim cổ. Chàng còn gì nữa đâu mà sợ, cứ gặp chăng hay chớ, cứ đánh bè kết bạn ung dung, cùng nhau đi, cùng nhau tới, và chết! Hải say tít, say lử, say cúp bình thiếc, say cho đến gần nửa đêm. Chàng đã ngủ không biết bao lâu trên nền đất, ấy thế mà nóng ran mình mẩy. Đầu óc chếnh choáng nhưng Hải nhớ ngay là cả chàng lẫn Dũng đều quên đem thức ăn về cho lão Mục và Sương. Hải lay Dũng dậy: – Về thôi ông, khuya lắm rồi. Không thấy Cảng đâu, nhưng vừa ra tới cửa thì đụng ngay Cảng đang ngồi trên bậc thềm, hút thuốc phì phào: – Đi hả. Ừ, ta nhất trí nhé. Sáng mai ghé lại tôi. Hai người im lặng ra biển, lòng áy náy. Trăng đã mọc trên đầu, chiếu vằng vặc cả quả đồi hoang vắng và tĩnh mịch. Hải chỉ còn nghe tiếng chân mình trên đường dốc vắng, thỉnh thoảng tiếng chó sủa trăng vu vơ cô độc. Vừa đến rừng phi lao, đột nhiên có tiếng tù và nổi lên rợn gai ốc và cả tiếng chim kêu quang quác khua động cả màn đêm yên ngủ. Dưới ánh trăng, gần cả trăm bóng đen đang tụ tập trên bãi biển. Họ quây quần chung quanh hai chiếc thuyền độc mộc, rồi hè nhau đẩy thuyền xuống biển. Một chiếc lưới căng ra từ hai chiếc thuyền sóng sánh ánh trăng từ từ chìm xuống nước. Cả đoàn người, bây giờ Hải đã nhận ra toàn là những ông già trong làng, chèo thuyền ra khơi. Hải đoán họ lưới cá theo kiểu tập đoàn, nhúm gia sản là cái lưới và hai chiếc thuyền độc mộc nhỏ nhoi trên biển cả. Thốt nhiên Hải giật thót người. Cả bãi biển sao quạnh hiu không một bóng người. Dũng cũng phát hiện cái vắng lặng bất thường ấy. Anh lẩm bẩm:
Google images
– Không lẽ mình về lầm chỗ. Cả hai người xồng xộc khắp rừng phi lao. Không một dấu tích nào của người tỵ nạn để lại. Hải cấu tay Dũng thật mạnh: – Á… – Ông đau hả, đúng là không phải mơ rồi. Chiếc lều của Tịnh đã biến mất. Không còn gì hết, cả lão Mục, cả Sương. Họ đi rồi. Hải điếng người: – Họ đi rồi? – Vô lý! – Vô lý! Lẽ nào… Quả thực thì họ đã đi rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa. Hai người đều không muốn tin như thế. Trăng lưỡi liềm đang nghiêng cười trêu cợt. Tiếng xào xạc của đôi chân trên cát chỉ trả lại một âm thanh buồn hiu hắt. Hải nghe một tiếng xào xạc khác. Bước chân của Dũng. Không phải, vì Dũng đang đi bên trái. Phải là một bước chân khác. Đúng vậy, rồi có tiếng va chạm của hai vật chạm nhau, tiếng ngã. Hải bắt loa gọi lớn: – Ông ơi… Tiếng kêu của Hải rền rền trong cây, mất hút. Rồi một tiếng vọng, rõ ràng không phải tiếng vọng của Hải: – Ơi… Hải chạy như điên về hướng tiếng kêu. Trăng đuổi theo rần rật sát nút. Một bóng đen đang lảo đảo đi, bóng đen đụng vào một cây phi lao ngã xuống, lồm cồm ngồi dậy, hai tay quơ quào trong không khí. Mái tóc xõa che kín cả khuôn mặt. Hải rú lên: – Sương…! Phải, bóng đen đó chính là người con gái mù lòa. Nàng ngã ập vào lòng Hải, khóc nức nở, tiếng khóc khản đặc vỡ trong không gian trắng màu tã. Thuyền lướt nhẹ trong ráng chiều êm ả. Cảnh trí trên bờ đẹp như bức tranh thủy mặc. Có chỗ, từ trên cao một dòng thác bé như dải lụa vắt vẻo trên màu xanh của núi. Cạnh đó, một ngôi nhà nhỏ chìa ra trên mỏm đá chơ vơ giữa lưng trời. Hải nghĩ có lẽ ngày xưa Lưu Nguyễn lạc thiên thai chắc cũng chỉ chừng này sương khói. Chàng ước khi nào bước chân mình đã có chỗ quay về, chàng sẽ đứng trên mỏm đá lưng trời kia, sẽ đánh một tấu khúc làm rung động những đám mây đứng sững yên bình, và dưới chân chàng, sẽ có… Cảng trải tấm bản đồ giảng giải: – Chỗ xanh này là nước sâu, ta đi gần bờ được. Nếu ông…Cảng nhìn Dũng, cắt được đường xuyên qua đông hải đảo thì đến Hồng Kông chỉ mất vài hôm. Dũng hờ hững: – Cái đó còn tùy. Chiếc thuyền của Cảng dài 11 thước, từ đáy thuyền đo lên cao phỏng độ một thước rưỡi, nước cứ mấp mé mạn thuyền chực tràn cả vào khoang. Dũng nào vui được khi đoàn người cùng đi đã tản lạc hết, anh bực bội trong cái thế phải đi cùng với hàng chục người địa phương cải danh là người Việt Nam đến Hồng Kông. Đêm Dũng và Hải say sưa ở nhà Cảng cũng là đêm công an tập hợp đám người Tịnh dưới rừng phi lao, buộc họ phải nhổ neo ngay vì đã mua được thuyền buồm. Lúc đó Sương đang mò mẫm ra ngoài tìm chỗ đi ngoài. Đúng ra nàng đã thức lão Mục dậy dẫn đi như mọi lần, nhưng nghe tiếng bố ngáy đều, nàng nghĩ bụng cứ đi cho đến chừng nào không nghe tiếng người nói thì sẽ ngồi xuống. Dường như chỗ nào cũng vang lên tiếng ngáy ngủ khiến Sương đi càng lúc càng xa chỗ cũ. Đến lúc tìm được chỗ mà nàng cho là “an toàn” thì công an ồ ạt đến. Họ đánh thức tất cả dậy, khẩn trương tập hợp mọi người. Lão Mục quýnh quáng vừa đi vừa gọi tên con cho đến khi bị xô ngã xuống thuyền. Lão cứ nghĩ Sương chắc ở trong đám đông người nhốn nháo. Lão không biết là Sương không thể tự về lại căn lều cũ.
Google images
Dũng lái liên tục gần tám tiếng đồng hồ. Linh tính cho anh biết là Cảng chẳng biết gì về chuyện đi biển. Y nhiều lắm chỉ rành tên địa phương mà thuyền đi ngang qua. Dũng bắt y xác định tọa độ con thuyền, đo mực nước, rồi bẻ ngoặt 45 độ. Theo hướng nầy, anh sẽ đến thị trấn Trạm Giang trong vòng bốn giờ nữa. Nhưng càng lúc nước biển càng đen sì, bờ càng lúc càng xa. Dũng hoàn toàn không nghĩ là Cảng đã định trật chỗ đậu của con thuyền. Mà thật vậy, thay vì chỉ đúng chỗ thì y lại đánh dấu trật lên một cái mỏm cách chỗ xuất phát 150 cây số. Khi Dũng phát hiện ra thì đã quá trễ. Bốn bề chỉ là màu đen của biển, màu đen của mây của trời hú gọi. Chỉ trong một tích tắc của sự nhầm lẫn, bão ồ ập kéo đến. Con thuyền nằm gọn trong hai lượn sóng, cứ thế lượn đi như chiếc diều bị gió đùa. Mũi thuyền bị đánh vỡ, nước xối xả tràn vào. Tát, tát…tất cả cùng tát nước. Con thuyền ưỡn lên oằn xuống như có một bàn tay vô hình đẩy đưa. “Cạch”, từ đáy thuyền vang lên một âm thanh va chạm. – Đụng cồn cát rồi. Có tiếng hét. Rồi tất cả cùng sững sờ khi trước mặt họ hiện ra một ngôi chùa trơ trọi trên cồn cát. Ánh lửa leo lét từ bên trong chập chờn soi bốn cây cột những hình thù quái dị. họ ngừng trước một cái miếu! Tất cả rùng mình trước run rủi lạ lùng. Dũng bảo: – Ông dìu cô Sương vào trong chùa nghỉ, tôi phụ kéo thuyền lên bờ không lại vỡ nữa. Hải run cầm cập trước những ngọn gió cắt thịt. Chàng chỉ cảm thấy một chút hơi ấm khi thân hình sũng nước của Sương tựa vào người. Trong lòng chàng dấy lên một niềm tin mãnh liệt. Hẳn phải có đấng vô hình nào đã đưa bọn chàng đến đây, nếu không thì giữa biển mênh mông và đêm tối vô cùng chiếc thuyền đã không tấp vào một ngôi chùa cũ nát. Bóng người lao xao qua mặt Hải chui vào mái chùa. Chàng nghe họ nói: – Ngài thiêng lắm. – Ai cũng biết tiếng mà. Qua câu chuyện trao đổi giữa những người Trung Quốc đi trên thuyền, Hải lờ mờ đoán chùa thờ một vị võ tướng ngày xưa. Vị tướng này thắng một trận hải chiến lừng lẫy ở đây, được dân chúng lập đền. Mỗi năm, ngư phủ Trung Quốc dù hành nghề bất cứ ở đâu cũng về đây cúng tạ để xin đi biển được bình an. Bên hông chùa có một đống lửa nhỏ của ai đó đốt sẵn. Thấy Hải đến những người đang ngồi xung quanh đống lửa liền nhích ra chừa một chỗ. Bọn người này rõ ràng không phải đi chung thuyền với Hải vì người họ khô ráo. Một người hỏi: – Anh chị bị đắm thuyền mới tới phải không? – Vâng, còn các bác. Hải đáp. – Bọn này lên đây đã năm hôm. Hải “à” lên mừng rỡ. Thì ra thuyền họ từ Việt Nam đi hơn nửa tháng nay, nghĩa là sau ngày Hải xuất phát. Họ ghé nhiều nơi trên đất Trung Quốc nhưng may mắn là không gặp bão tố suốt cuộc hành trình. Lúc đi, thuyền họ chỉ có chín mươi người nhưng suốt dọc đường họ đã cho khá đông người bị thuyền đắm đi nhờ nên bây giờ con số đã hơn một trăm. Hải vừa phơi áo vừa hỏi chuyện. Chàng ở trần trùng trục nhưng đã hết lạnh vì ngọn lửa cháy đều ánh sáng rực rỡ. Một chốc, tiếng xèo xèo do nước nhỏ từ áo xuống than hồng đã bớt. Hải dắt Sương ra sau chùa, bóng đêm dày đặc. Chàng ngượng ngập bảo: – Sương thay cái áo này đi. Cởi áo đưa anh phơi kẻo rét đấy. Chàng nói thêm:
Mắt Hải mờ đi dù mới đi nửa cây số. Chàng run lẩy bẩy phải đặt bé Ngọc xuống, ngửa mặt hít một hơi dài. Chàng đói. Hai đầu gối không còn sức nâng thân hình phất phơ của chàng nổi nữa. Mặt đất gồ ghề đá bỗng nghiêng bên này, lệch bên kia, Hải hoa cả mắt. Hải muốn nằm thẳng cẳng, hai tay duỗi xuôi để mặc cho cơn đói bò rã cả tứ chi. Nhưng Hải biết mình phải đi tới. Đời sống không cho phép chàng làm theo ý muốn của mình nữa, nhất là khi con chàng đang nằm yên, da mặt choắt lại như cọng rơm héo rũ. Chàng phải đi tới, phải cướp lại mọi sự, dành lại sự sống đang lưng lửng tan như khói chiều nhàn nhạt trên không. Hải bứt một nhúm cỏ mọc nghiêng trong kẽ đá, cho vào mồm nhai sống. Chàng lượm một khúc cây làm gậy, xốc bé Ngọc lên vai, lật khật bước. Tiếng hoắc ghê rợn của con diều hâu trên đầu làm Hải rùng mình. Chàng đăm đăm ngó đôi mắt láo liên của con chim đen kịt đang nghiêng đầu chờ hai cha con chàng ngã xuống. Chàng quơ quơ cây gậy. Gã diều hâu vẫn nghiêng đầu khinh bỉ. Hải ước con diều hâu chợt…sẩy chân rớt xuống, chàng sẽ đập nát cái mặt mất dạy của nó ra, rồi hai cho con sẽ lột da, xé toạc thân hình của nó, chén một bữa. Bốn bề rờn rợn màu xanh, màu xanh của lá, màu xanh của cây, màu xanh của nẻo đường chập choạng. Tuyệt vọng không một bóng người. Những người sống sót đã mạnh ai nấy đi kiếm ăn, đến lão Mục và Dũng, sau khi khiêng một vài thứ còn dùng được trên thuyền đem lên bờ, che tạm một mái lều rồi cũng chia tay đi mà thôi. Nếu sống sót thì mái lều sẽ là điểm hẹn. Gã thủy thủ đã trở thành vô dụng khi không còn nơi để lèo lái. Người ngư phủ đã lên bờ, như con cá mắc cạn, mắt đứng tròng tuyệt vọng. Ánh dương tà tà lách qua hàng thông to lớn, hắt hiu một màu vàng bệnh hoạn. Hải vượt qua một con rạch khô quắt queo, chàng bám vào những tảng đá khô, vượt lên bờ dốc, hơi thở đứt từng quãng, khò khè. Kìa, những nóc nhà xuất hiện. Hải không thể lầm được nữa. Chàng bước nhanh hơn, tiếng gậy khua trên đường lọc cọc. Chàng dự tính sẽ xông thẳng vào bất kỳ nhà ai, ngã vật xuống thì thế nào cũng có cái để ăn. Vậy nhưng khi đứng trước mặt một bà lão đang cào đất trước căn nhà ván tối thăm thẳm, Hải chợt co lại, rụt rè. Chàng run run cất bước, bao nhiêu hy vọng dồn cả vào từng chữ: – Bà phò, cháu..đói…bà phò, cho…chúng cháu thìa cháo… Bà lão chừng nhận ra giọng nói không phải người địa phương của người đàn ông hốc hác, râu và tóc um tùm dữ tợn, vội co người thủ thế: – Nạn nhân à! Hải để bé Ngọc xuống đất, gật đầu: – Chúng cháu bị đắm thuyền…chúng cháu… Bà lão chợt đổi sắc mặt, giơ cái cào lên làm tư thế cầm súng, hô: – Pằm pằm! pằm pằm! Hải nghệch người ra, nhưng hiểu ngay. Bà lão hẳn có con tham gia đánh nhau với Việt Nam mấy năm trước. Hải làm điệu ra dáng mình không tham gia đánh nhau với bộ đội Trung Quốc, nhưng bà lão vẫn “pằm, pằm, pằm pằm” liên tục, rồi quơ cào đuổi Hải đi, mắt long lên giận dữ. Hải buồn rầu cúi xuống bồng con. Đột nhiên bà lão quăng cào, dằn bé Ngọc. Hải hoảng hốt giựt lại. Hai người một già một trẻ cứ giựt qua giựt về khiến bé Ngọc bừng mắt, khóc ri rỉ. Hải nổi giận nhưng không còn đủ sức để vụt cho bà già đáng ghét một cái. Chàng đành thua, dành phần thắng cho bà già hung dữ. Bà ta chạy te te vào nhà, xuống bếp giấu cái gì đó trong tay, rồi kéo tay Hải chỉ lên một trang thờ nhỏ.
Google images
Đằng sau lư hương, ảnh một thanh niên mang quân phục bộ đội Trung Quốc, đôi mắt buồn rầu đang ngắm Hải. Bà lão rơm rớm nói: – Con tao đó…pằm…hức…pằm! Bà nhìn Hải, hằn học. Mái tóc bạc lưa thưa chảy xệ trên gò má nhăn nheo đã rũ như cọng liễu khô phất phơ trên mặt hồ đứng lặng. Bà trao bé Ngọc cho Hải, ném mạnh một cái trứng luộc ra sân, hai tay vẫy vẫy đuổi. Chàng không còn tâm trí để thấy cử chỉ đó của bà lão, chàng mừng rỡ cúi xuống lượm cái trứng bể vỏ, hấp tấp thổi cát rồi cho cả vỏ lẫn ruột vào mồm. Hải trúm cái lòng đỏ ra, mớm cho con. Đằng sau, một tràng rủa lộc cộc như xe chở đá chạy trên đường. May thay, chàng chưa kịp học những từ ngữ đó ở quê nhà. Mùi khẳm từ đống rác bốc nồng nặc. Hải đặt bé Ngọc dựa vào hàng rào đủ cho mùi khai nhẹ đi. Chàng đậy một tờ báo cũ lên cái trán nóng hâm hâm của nó. Hải nhìn trước nhìn sau, rồi như một người lính xung trận, Hải xới tung cả đống rác lên, ruồi nhặng xông ra mù mịt. Một chốc, nhắm chừng đã quen mùi, Hải lại hất, lật, bao nhựa để qua một bên…à, đây rồi. Một manh áo mưa toạc chỉ nhưng còn tốt chán. Chàng rũ rũ manh áo, bỏ tất cả bao nhựa nhặt được vào gói lại, tìm chỗ rửa. Chàng thấy cái lu nước để trước nhà ai, có cả cái gáo dừa như ở quê nhà lật ngửa trên nắp đậy. Chàng múc nước, rửa sạch tấm áo mưa, súc mấy cái bao nhựa chưa thủng. Hải nhét tất cả vào túi quần, dùng tấm áo mưa cột bé Ngọc sau lưng. Như vậy là hai tay chàng rảnh rang. Hải rảo bước. Chàng đã biết đường ra phố nhờ hỏi thăm một đứa trẻ hôm trước. Đứa bé còn chỉ hướng ra chợ nữa, nơi ấy đồ ăn thừa thế nào chả có. Gió rét, rét hơn với hai cha con đói rách, xuyên qua ngực, qua lớp vải áo tả tơi, ngấm qua từng thớ thịt. Hai hôm rồi, cha con chàng cũng có bữa no. Hai đêm, chàng ôm con nằm co quắp trong hiên nhà của ai đó, thường thì không ai nỡ đuổi cha con người ăn mày. Sáng, thức dậy, chàng lê đi tìm nước trong khi con vẫn mê muội trên vai. Chỉ khi có gì nhét vào bụng, nó mới thì thào một hai tiếng vô nghĩa. Con chàng như hiểu hoàn cảnh nên nhiều khi bắt chước bố, cứ thấy người là chìa bàn tay nhỏ nhắn ra, mắt nhìn thẳng người đối diện. Đôi dép Hải đã sút quai. Biết không dùng được nữa, Hải đá tung cả hai chiếc xuống hố, bỗng như thấy vừa đánh mất một cái gì đã chắt chiu mang theo. Bàn chân chàng giẫm lên sỏi, vấp té tươm những vết máu rằn ri như con cuốn chiếu. Hải thấy nóng bỏng cả đôi chân, nóng bỏng cả tâm hồn. Chàng đã trở thành gã hành khất lưu lạc trên đất khách. Chàng nằm mơ thấy vợ con lướt trên những đợt sóng thần. Chàng nhìn hút con đường trước mắt, khép lại những thân cây chắn lối. Hải đứng rình bên ngoài một quán ăn nhỏ. Có cặp vợ chồng đang thì thụp ăn cơm, húp canh chùn chụt. Người vợ cỡ tuổi trung niên, nước da bánh mật khỏe mạnh. Thỉnh thoảng chị ta cười sằng sặc, ông chồng đang và cơm, cũng ngưng đũa cười theo. Họ ngưng ăn khi thấy Hải cứ lấp ló ngoài cửa. Người vợ nói gì đó với chồng, rồi họ lặng lẽ ăn, khó chịu. Hải cũng thấy khó chịu, nhưng cái đói cào ruột đã giữ chân chàng lại. Chàng cứ nhìn chòng chọc vào đĩa rau đã vơi gần hết, nước miếng ứa ra chát cả mồm. May thay, hai vợ chồng đã nhớm dậy. Hải xông thẳng vào trút hết canh cơm vào bao nhựa, rồi hấp tấp ngồi bệt xuống hiên, dùng tay bốc cơm, múc canh cho vào miệng. Bé Ngọc cũng thiện nghệ không kém. Nó ngồi xổm, hai bàn tay nhỏ chụm vào nhau giữ chất nước ngọt không cho vương một giọt ra ngoài. Ăn xong, hai cha con cảm thấy hả hê. Mặt trời đã nghiêng về phía tây, những tia nắng nhàn nhạt đỏ vương trên nóc quán. Ở tít xa, một đồng cỏ xuôi xuống lũng, một đám sương mờ đục dâng lên như đôi mắt mù nhìn cuộc đời vô vọng. Hải dắt con đi dọc theo thung lũng, được một chốc, ruột lại cồn cào kêu òng ọc. Rồi như có mùi thịt ở đâu xông vào mũi, đánh thức cái thính giác bỗng rất bén nhạy của người đói tìm tới. Chàng đến đúng một ngôi nhà mà chàng định chắc có mùi thịt hấp bay ra. Có tiếng vĩ cầm ken két của người mới tập kéo. Một làn khói nhỏ như sợi chỉ vương vấn từ nóc nhà lắc lư tan vào không gian. Hải đứng yên chờ đợi. Cửa nhà mở toang bày ra một bộ bàn ghế bằng gỗ nâu sậm. Trông nhà này có vẻ giàu có. Hải nghĩ thầm, mắt vừa trông thấy một người đàn ông đứng tuổi đang ngồi cạnh một đứa trẻ. Đứa trẻ đang chăm chú tập đàn.
Google images
Chân tay Hải bỗng như ngứa ngáy khó chịu. Chàng đã mất nửa cuộc đời để kéo vĩ cầm ngày còn ở trung học. Rồi mấy năm trường nhạc. Đi lưu diễn. Những đêm cô đơn thắp bạch lạp sáng tác cho đến khi chim chóc tưng bừng hót. Cuộc đời trong lòng Hải những khi đó, những khi chạy theo một độ rung, thẳng tắp như đường kẻ nhạc. Hải sẽ, và chàng đã, lấy vợ sinh con, nghiêng đầu dưới ánh đèn màu, đón nhận những tràng pháo tay tán thưởng. Người đàn ông ngẩng đầu nhìn ra cửa. Đôi mắt nhỏ nheo lại mơ màng chừng như có lớp sương mờ bay lảng vảng trong tròng mắt. Ông ta lượm một hào để lên bàn, chậm chạp tiến ra cửa, bỏ vào cái lon sữa rỉ sét trên tay Hải. Đôi mắt ông ta càng nheo lại hơn nữa khi gã ăn mày dường như không chú ý lắm đến cắc bạc đánh “keng” một tiếng khô khốc. Mái tóc khô cứng xõa trên vai cộng thêm hàm râu quai nón tua tủa của gã bất chợt khiến người đàn ông chú ý hơn. Đôi mắt gã bất động. Dường như gã đang chăm chú nhìn cây vĩ cầm không chớp, bàn tay gã chợt buông tay cầm đứa con nhỏ, phát một cử chỉ bâng quơ trong không khí, giống như cử chỉ của người diễn thuyết. Người đàn ông dịu dàng hỏi: – Anh cần gì nữa? Hải bừng tỉnh. Chàng chợt thấy đồng xu nằm trong lon. Hải nói: – Cám ơn ông. Tôi nghe chú bé tập đờn thích quá. Chủ nhà cười, nói: – Chắc anh biết đàn, phải không? – Có chút ít. – Ở đâu? Hải lẩm bẩm, đôi chân càng lúc càng nặng. -…chúng tôi tìm đường đến Hồng Kông, thuyền bị đắm… Người đàn ông bảo chú bé ngừng tay, trao đàn cho Hải: – Anh đánh thử một bản cho thằng con tôi nó mở mang kiến thức. Cây đàn nằm ngang tầm mắt Hải. Màu gỗ óng ánh kiêu ngạo và hiền từ như mặt mỹ nhân. Hải run run đỡ lấy cây đàn, cái lon tiền rơi lẻng kẻng xuống đất, vang lên một âm thanh trơ trẽn. Màu đen của biển… Màu xanh của cỏ… Những cánh đồng sương… Hải thấy những đường chiều thơ ấu… Tiếng đàn run bần bật, bần bật, như xác người run rẩy trước lần ngã xuống. Như tiếng gào của quỷ, của thủy thần, của đêm đen mờ mịt thẳm. Hải trả đàn cho chủ nhà. Tiếng đàn bây giờ của chàng là tiếng đàn của kẻ ăn xin, của cõi lòng tơi tả. Đứa con chủ nhà đã nhét vào tay hai cha con hai cái bánh bao còn nong nóng. Có phải là chút tình tri âm? Hải dắt con đi. Ngôi làng này quá lạc hậu chẳng giúp được gì để Hải có thể tiếp tục cuộc hành trình. Chàng quyết định đi trở lại nơi thuyền đắm dù nắng chiều đã tắt lịm cuối chân trời. Con đường gồ ghề như lúc đi nhưng Hải cảm thấy dễ chịu hơn vì một phần đã quen thuộc. Bé Ngọc ngủ vùi trên vai. Hải cảm nhận cái thân thể chỉ còn da bọc xương của con bé dán sát trên người mình. Một lúc, đứa bé mê ngủ quá khiến Hải lo sợ. Chàng cho tay vào ngực con bé thấy quả tim vẫn còn đập nhè nhẹ. Bàn chân chàng lại tươm máu nhức nhối. Chừng hai cây số, Hải biết không thể đi thêm được nữa, chàng tạt vào một cái miếu cất đằng sau thân cây si cao lớn lực lưỡng, rễ si xòe ra bám chặt xuống nền xi măng vững chãi. Chàng trải manh áo mưa trên nền miếu, gối đầu lên một rễ con, giấc ngủ nằng nặng kéo tới. Hải mơ thấy Thu trần truồng nằm ngửa trên nước, thân hình nàng dật dờ và hai tay đưa cao lên trời chới với.
Google images
Chàng bị đánh thức mấy lần vì tiếng quạ kêu trên đầu ghê rợn. Cái miếu dường như chẳng được ai hương khói, chỉ thấy lờ mờ một mặt người đỏ như máu trên bệ thờ, đôi mắt quắc sáng nhìn Hải dữ dội. Chàng thấy gai ốc nổi cùng mình nhắm nghiền mắt lại. Chàng nghĩ tới người chết rồi sao còn dữ. Rồi Hải thiếp đi, hơi lạnh từ nền đất, từ những sương rơi nặng trĩu buốt lên tận màng óc. Cho đến khi có tiếng chim ca tưng bừng đánh thức. Một góc trơi bừng lên màu sáng hồng cô độc, một cành thông vướng mắc xa xa. Ngay trên một nhánh si thấp nhất, bầy kên kên trừng mắt nhìn hai cha con thèm thuồng. Hải còn một cái bánh bao, hai đồng nhân dân tệ. Chàng đánh thức bé Ngọc dậy, ăn hết cái bánh bao rồi đi. Xế trưa, Hải nhìn thấy cái lều che hôm đến. Con thuyền đã bị sóng đập nhiều ngày, nay chỉ còn vài miếng gỗ nằm chơ vơ trên bãi cát. Hải ngạc nhiên thấy xung quanh hoàn toàn im ắng không một bóng người. Chàng chui vào lều nay đã có mấy miếng gỗ lấy từ thuyền lót làm giường tính nghỉ mệt. Đột nhiên, một tiếng nói cất lên: – Ê, cha nội, đi chỗ khác chơi mày! Thớt! Từ sau gốc cây, gã tiến lại. Dáng đi khuỳnh khuỳnh của gã ra vẻ muốn gây sự. Gã lừng lững chui vô lều, không nói thêm một tiếng, đè ngửa Hải ra lục túi. Bàn tay lạnh như nước đá của gã chèn cổ Hải, một tay dốc hết túi quần. Gã à lên mừng rỡ khi chạm mấy đồng nhân dân tệ: – À, có thế chứ. Có bao nhiêu đưa hết đây. Gã lườm lườm, bất ngờ co chân đạp Hải một cái: – Đi lên kia mà tìm bạn mầy. Gã cười hắc hắc khi bé Ngọc hoảng sợnhào theo ôm bố. Hải lồm cồm bò dậy chưa biết đi về hướng nào thì lại có tiếng kêu: -Lại đây, lại đây cậu Hải ơi. Lão Mục đang ngồi sau gốc cây với Sương. Bên cạnh, Dũng nằm ngửa, khuôn mặt chàng sưng vù lên, tím bầm. Lão Mục bảo Hải ngồi xuống, kể. Chòm râu bạc quắt queo mất đi cái phong trần ngày nào. Bây giờ là khuôn mặt của lão già tuyệt vọng, đôi mắt sâu thụt trong hố mắt. Thằng Thớt nổi máu đầu gấu từ khi biết hai tài công lành nghề là lão và Dũng bó tay vì thuyền đã đắm. Gã tập hợp vài đứa đàn em, chờ người nào đi ăn xin về là trấn lột… Hôm giành lều, Dũng bị gã đánh cho một trận vì dám chống cự. Gã tuyên bố: – Từ nay, tao là sếp. Đứa nào lộn xộn oánh bỏ mẹ nó ra. Lão Mục định bụng chờ Dũng hồi phục sẽ tìm đường rời khỏi nơi này. Lão lo sợ cho cô con gái khi đôi mắt hau háu của Thớt vẫn nhìn Sương khó hiểu. Lão biết tình thế đã đổi khác. Trên đất liền, người thủy thủ chỉ là con cá lòng tong đang giẫy chết. Ba người đàn ông, một cô gái và một đứa bé sống cầm hơi nhờ một ít đồ mà những người đi cùng thuyền giấu được, lén lút tiếp tế cho họ. Mặt Dũng đã bớt sưng nhờ ngâm nước biển. Anh bàn: – Tôi đã hỏi thăm đường đến một thị trấn tên là Trạm Giang. Từ đây đến đó nếu đi chậm cũng chỉ mất một ngày đường. Nghe nói nhiều thuyền tỵ nạn cập vào đó. Ta sẽ xin đi nhờ. Tờ mờ sáng hôm sau, cả năm người lên đường. Dũng đi trước, Hải cõng bé Ngọc, lão Mục dắt Sương. Họ lén lút y như lúc rời bỏ đất nước xuống thuyền. Sương đêm còn ướt đẫm trên những cành cây gẫy, mặt trời chỉ vừa lóe lên như ánh sáng một bếp lửa nhỏ nhoi trong đêm trường. Đi được một lúc, nhắm chừng đã thoát khỏi sự chú ý của bọn thằng Thớt, Hải trao bé Ngọc cho Dũng, hổn hển: – Ông cõng hộ tôi một khúc, mệt quá. Vừa chạm bé Ngọc, Dũng chau mày: – Nó lạnh thế. – Nó cứ sốt lâm râm hôm rày.
Google images
Bé Ngọc ho khèn khẹt. Một tia nắng nhỏ chiếu hớt qua soi khuôn mặt tái nhợt của nó. Dũng mở khuy áo, trùm đứa bé trong lòng, đôi mắt dò chừng xung quanh. Họ đi men theo bờ biển, lẩn lút trong những hàng thông cao. Lâu lâu mới thấy một căn nhà nhỏ mở cửa. Chốn thôn dã của Trung Quốc này hình như chưa được khai phá, dân cư sống rải rác khiến Hải rất ngạc nhiên vì chàng cứ nghĩ với dân số hơn một tỷ người, hẳn không còn một mảnh đất nào bị bỏ trống nữa. Sự thực cũng như các nước chậm phát triển, dân Tàu vẫn có khuynh hướng tập trung gần thành phố vì chỉ ở đó mới có những tiện nghi tối thiểu. Sự chênh lệch quá lớn giữa nông thôn và thành thị khiến nỗ lực giảm dân của nhà nước chỉ đưa đến những kết quả đau thương và trái ngược. Thỉnh thoảng Dũng lại ra hiệu núp vào một bụi cây khi thấy bóng người. Anh biết địa phương này không có cảm tình với người Việt Nam, người ta có thể đi báo công an và hậu quả không biết đâu mà lường. Họ nín thở khi thấy một gã đầu đội cát kết đạp xe lọc cọc trên đường. Họ lội qua một lạch nước cạn trơ đá, cong cong trườn ra biển như không mang theo một sự sống nào trong đó. Họ đi xuống một lũng thấp, rồi bò lên bò lên mãi. Đột nhiên, Hải nghe tiếng người lăn trên triền đá: – Ối! con ơi… Lão Mục kêu lên khi Sương sẩy tay ngã kềnh trên dốc, may thay một tảng đá lớn giữ thân hình nàng không cho rơi xuống nữa. Hai tay nàng quơ cào hoảng hốt. Hải túm được một tay nàng bảo: – Ấy, cô bám vào đây này, không phải thế. Hải đưa tay chỉ chỗ bám cho Sương nhưng dường như nàng cứ chụp chụp vào mặt đất trống trải. Lão Mục xốc Sương dậy, buồn rầu bảo khẽ: – Nó nào có thấy đường. Ruột Hải như có ai vừa siết lại, quặn lên. Đến bây giờ chàng mới để ý nhãn quan thiếu lưu động của Sương. Nàng có một cái “nhìn” như hút chặt lấy bất cứ ai nhìn vào đôi mắt ấy. Một thế giới xa xăm huyễn hoặc. Đêm tối đã giăng màn che khuất linh hồn tội nghiệp của nàng, Hải tự nhủ, nhưng tại sao một người con gái đẹp như nàng… Đi đến quá trưa vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì là sắp vào thành phố. Gió thổi mạnh khiến cái đói được bơm hơi, ra sức hoành hành cơ thể. Dũng bảo tìm chỗ nghỉ mệt, rồi nháy mắt anh biến sau những rặng cây. Trong thoáng chốc, những cụm mây đen lững thững nhú ra, đẩy lùi màu xanh lơ của trời xuống bên kia núi. Giữa cảnh hoang dã vắng ngắt, bỗng Hải nghe có tiếng cú rúc lên, rùng rợn. Hải rùng mình luôn mấy cái: – Ông ạ… Lão Mục ứng tiếng: – Tôi nghe rồi. Lão trầm ngâm. Tiếng cú rúc chẳng bao giờ là điềm lành. Mà chuyện gì xảy ra mới được chứ! Dũng? Kìa, hắn đã về. Người Dũng phồng to lên, mái tóc dài bay ngược trong gió. Anh trút hết mấy túi quần, túi áo. Khoai đủ cỡ, củ to củ nhỏ lăn trên cát, lổn ngổn. Dũng cười tươi bảo: – Nào, bác cháu ta chén một bữa. Đấy, cứ để nguyên vỏ mới tốt cơ. Hải chà chà củ khoai cho hết đất, bảo Dũng: – Ông thành đạo chích hồi nào thế. Tài thật! – Tôi học lỏm của bác đấy. Lão Mục cười húc húc trong miệng. Đột nhiên, bé Ngọc đẩy củ khoai cho bố bảo: – Bố ăn đi, con không đói mà. Hải đớ người ra. Cái con bé lạ, ăn hồi nào mà không đói. Trông nó tỉnh táo thế. – Bố ăn vỏ cho con nhé. Hải cạp quanh củ khoai. Chàng chìa cái ruột hồng hào cho con: – Nào, trông ngon thế nầy nầy. Nào… Bé Ngọc vẫn đẩy củ khoai ra, khuôn mặt hồng hào lạ lùng: – Con không ăn. Bố ăn giùm con đi.
Google images
Hải sờ trán con bé. Cũng chỉ nóng hâm hấp không đáng ngại. Chàng cất củ khoai trong túi: – Thế bố để dành cho con nhé. Khi nào đói bảo bố. Dũng quan sát hai cha con, bàn: – Hay là con bé khát? Bé Ngọc nói, ráo hoảnh: – Con không khát, chú Dũng. Dũng bảo: – Thôi mình đi, khéo lại mưa đấy. Quay qua lão Mục: – Ông đi tiếp được chứ? – Được. Một vài giọt mưa ướt mặt khi họ vừa ra khỏi chỗ núp. Dường như có cục đá đang rơi trên vai Hải: – Gì thế? Dũng bảo: – Khéo lại mưa đá đấy. Nhanh lên thôi. – Lấy gì che đầu đi, chắc không lớn lắm. Hải bảo, ôm bé Ngọc trước ngực. Chàng lầm. Những cục đá từ trời rơi xuống, có vẻ như càng lúc càng lớn hơn. Rồi chỉ một lúc cả người chàng rát bỏng. – Bốp…bốp… – Ối giời… Dũng la lên đau đớn. Một cục đá rớt ngay sau ót. Anh vừa hít hà, vừa hỏi: – Có ai sao không? Đằng kia có chỗ trú đấy. Nhanh lên…ấy, cô Sương, để tôi đỡ hộ một tay, thế…thế…cứ bước giữa tôi và bố là được…đấy… Hải chưa từng gặp một trận mưa đá lớn như vậy. Ở miền Bắc cũng có mưa đá, nhưng chàng nhớ là chỉ những hột li ti không đáng kể, vừa đụng người là nó chảy ra thành nước. Giống như một mối tình ấp ủ bỗng chan hòa thắm thiết nỗi cô đơn. Ở đây, những cục đá to cứ giữ hoài cái lạnh lẽo của nó, dội lên người làm cắt ra những đường màu rơm rớm lệ. Hải cứ lủi tới trước, không biết “đằng ấy” là chỗ nào. Chàng vừa bỏng vừa lạnh. Đột nhiên, hai tay bé Ngọc choàng qua cổ siết chặt hơn, chừng như con bé muốn lấy hơi ấm của cha. Nhưng không, bàn tay nó nới lỏng ra liền khi ấy, để hờ hững. Hải nhảy xốc một cái, hai tay bé Ngọc rời khỏi cổ chàng, đầu giật ra đằng trước. Hải hoảng hốt thò tay vào ngực con. Không một động đậy nào. Chàng kinh hoàng sờ soạng rối rít. Chắc người nó lạnh đấy thôi. Không, không phải mà. – Nhanh… Ủa, mà sao thế? Dũng vừa nhận ra nét mặt kinh hoàng của Hải. – Con bé…Hải nấc. Dũng lôi Hải sệt vô dưới tàn cây: – Để tôi xem. Dũng nhéo vào đùi bé Ngọc. Con bé vẫn nằm yên. Khuôn mặt còn ánh lên màu hồng phớt. Hải xoa tay, bóp chân, lật mí mắt, chà ngực…Chàng thấy mình vụng về lúng túng vô cùng…Không, không thể thế được. Nước mắt chàng ứa ra, thấm đẫm. Chàng giương mắt đỏ hoe, cả khuôn mặt ướt nhòa nước, nước mắt của trời và nước mắt của chàng. – Tôi xin ông…Dũng nói, ruột quặn lại. Cả thuyền 60 người đi, nay tản lạc khắp nơi, chỉ còn chừng này thôi. Vậy mà. Oan nghiệt lại lần lượt tỉa từng linh hồn. Bỗng có tiếng cú đâu trên đầu rúc lên từng hồi ghê rợn. – Con…
Google images
Hải úp mặt vào ngực con, người rung lên từng chập. Những hạt mưa rơi đều, giá lạnh. Rồi tất cả chìm trong câm nín, chỉ còn tiếng khóc nghẹn của Sương. Nàng biết tiếng nói trong trẻo của đứa bé vang vọng hôm nào đang xa hút, nhỏ dần, nhỏ dần, như hồi còi rời sân ga để lại một dư âm thê thiết. Nàng định hướng bằng linh hồn nhạy bén của mình, sờ soạng đến ngồi bên Hải. Bàn tay nàng vuốt tóc Hải, sờ lên mặt đứa bé buốt giá, sự chết, buốt giá những hạt mưa hiu hắt nức nở. Nàng nghe tiếng sấm rền chân trời, tiếng sấm xoáy vào lòng nàng những âm vang tơi tả. Nàng hứng dòng nước mắt lặng lẽ của người cha đau khổ đọng trong lòng bàn tay. Nàng không thấy đói, không thấy rét, chỉ có dòng nước ấm thấm gặm vào gân xanh, vào trái tim thổn thức của nàng. Lâu lắm…lâu lắm…bóng tối đã về chưa, ở ngoài kia thế giới ảm đạm của nàng? – Hải ơi… Lão Mục ngồi xuống, kêu lên nho nhỏ. Lão đã một lần ngồi bên xác vợ, kêu tên bà như thế. Lão không nhìn người mình kêu tên, lão không nhìn xác đứa bé, lão nhìn ra biển. Đêm tối đã về nhưng ánh sáng vẫn mông lung quái dị. Ánh sáng trăng. Trăng treo nghiêng một nửa, nghiêng xuống rọi linh hồn. Những đợt sóng trắng chồm lên, nô giỡn âm u trên bãi. Không gian trắng trơ, lạnh. – Hải ơi… Dũng gọi. Anh đặt môi lên trán đứa bé, lên tay Sương, lên tóc Hải rồi đứng dậy. Anh phải tìm một mộ huyệt cho đứa bé. Anh phải tìm một nơi thật yên bình để khắc cột số trên đường vạn dặm tê tái. Trăng sáng vô cùng. Rồi người chết chỉ còn xương trắng, trắng như trăng, trắng nhưng nhức. Hải bồng con theo Dũng. Trên nền đất loang lổ, bóng người cha nghiêng xuống, trên tay vắt ngang một thân hình bé bỏng. Cái thân hình bé bỏng vắt ngang một vệt dài làm thành hình thập giá. Thập giá di chuyển trên đất gồ ghề, xoải ngang trên cát trắng. Cái thập giá di chuyển, rung theo hơi thở, rung theo tiếng cầu kinh của sóng, tiếng u vọng của gió đêm ù ù thổi… U hoài.
Khi nhân viên cảnh sát hay tin bằng điện thoại ập tới thấy người con gái nẳm sóng soài, úp sấp, chết nơi sân sau ngôi biệt thự, máu chảy một dòng từ miệng, một dòng khác từ lỗ tai bên trái có những sợi tóc lòa xòa che khuất. Người con gái tóc dài tới lưng, bận quần đen và áo cánh trắng. Theo gương mặt, tuổi người chết độ ngoài hai mươi, chưa tới hai mươi lăm. Gương mặt hiền, dông bão phảng phất trên nước da tái xanh của người con gái không quen mà đã chịu sóng gió bên ngoài gia đình. Sự chết chưa biến đổi bao nhiêu cái thân xác còn tươi. Những người trong nhà cho biết cô gái từ sân thượng lao xuống không hiểu vì nguyên do nào; vào giờ đó cô gái có những công việc phải làm, không lý gì bỏ lên chơi trên sân thượng đến nỗi hụt cẳng té chết. Cô gái là người làm công trong nhà.
Trước đó không đầy nửa giờ, chiều tối, cô con gái bà chủ ngồi tiếp chuyện cậu bạn trai ngoài phòng khách. Chị bếp nghe chuông reng chạy ra mở cổng: ông chủ làm việc tại một thành phố miền Trung về chơi. Lát sau có tiếng chuông reng nữa, chị bếp lại chạy ra: cậu Hai tình cờ cũng được nghỉ phép về. Bà chủ đang đánh bài tại một nhà gần đó hay tin chồng con cùng về chơi một lượt, bỏ cả bài, tất tả, mừng rỡ chạy về.
Cả nhà tíu tít vui vẻ ngoài phòng khách. Cô gái, vì là người mới chưa hiểu công việc trong nhà, cứ yên lặng ủi nốt đống quần áo hằng ngày. Chị bếp ở nhà trên đi xuống bảo cô gái hãy dẹp chuyện ủi đồ lại, chạy lên lo lấy nước hơi, ly, đá, có mấy chai rượu trong tủ cứ đưa ra tuốt, ông chủ, cậu Hai đòi uống rượu vui, bà chủ và cô Ba không uống rượu, lấy nước ngọt vài thứ đưa ra sẵn. Cô gái theo lời chị bếp rút dây điện, thu xếp bàn ủi và các thứ trên mặt bàn cho gọn rồi chạy lên nhà trên. Tò mò cô gái hé cánh cửa ngó ra phòng khách… Ba lần cô gái khựng lại, thò đầu ra rồi khựng lại, gương mặt hốt hoảng, kinh dị. Trong khi tiếng nói cười vui vẻ từ phòng khách vọng vào cô gái tính chạy xuống sân lại thôi. Một giây sau cô gái chạy vút lên cầu thang. Tiếng ồn ào vui vẻ ngoài phòng khách chen lẫn với một vài tiếng thổn thức nấc lên do cô gái hối hả chạy trên những bực thang.
Chị bếp đang lúi húi lo bữa ăn đông người bất thường bỗng nghe thấy một tiếng rớt nặng, mềm ướt giữa sân sau, chị bếp ngoái cổ ngó ra sân, chưa nhìn thấy rõ, bước đúng hai bước về phía cửa chị bếp đã thấy rõ và bật một tiếng la bải hải. Nhà trên bặt tiếng chuyện trò vui vẻ, mọi người theo nhau chạy xuống. Ông chủ nhanh chân tới trước nhất, vội chạy lại, ghé ngồi xuống, nâng đầu cô gái nằm sóng soài dưới nền xi-măng, ông chủ chăm chú ngó tới hai lần gương mặt cô gái mới thốt lên: “Ủa ! Con nhỏ đó !” Như có một sức hút kéo lại, cậu trai bạn của cô con gái bà chủ cũng lao tới quỳ một chân ghé xuống bên gương mặt được ông chủ nâng bằng một bàn tay và cũng la lên: “Trời ơi! Chị Vân!” Cậu Hai chậm chân đi tới sau lưng bà mẹ, nghe tên Vân cũng vội chạy đến, chỉ một thoáng giây ngó qua gương mặt cô gái chết người con trai bổ nhoài xuống đất ôm lấy cái xác, nức nở khóc không ra tiếng.
Ông đại úy cảnh sát, trưởng phòng Hình cảnh, cùng với một toán nhân viên khác tới sau toán cấp cứu chừng mười phút, khi nhận được điện thoại cấp báo. Nghe lời khai của chị bếp và của những người khác trong nhà ông đại úy đưa con mắt suy nghĩ ngó quanh một vòng rồi nói:
“Tôi rất tiếc phải mời tất cả quý vị về Quận. Giờ này tôi còn đủ nhân viên làm việc, chúng tôi sẽ chia nhau lấy lời khai của quý vị một lượt. Có phải chịu đói tới khuya xin quý vị cảm phiền, tôi phải làm nhiệm vụ của tôi.”
Đây là lời khai riêng của từng người trong nhà ngay buổi tối hôm đó tại quận cảnh sát.
Tôi tên là Y.Y.Y., 50 tuổi, nghề nghiệp làm bếp. Tôi ở làm cho ông bà chủ tôi đã hơn mười năm, cùng với một con nhỏ tên Lài, Nguyễn Thị Lài, nó vô làm sau tôi nhưng cũng được hơn sáu năm, tháng trước nó xin thôi việc để về lấy chồng. Còn lại một mình tôi phải làm cực quá, tuy ở nhà chỉ có bà chủ với cô Ba. Bà chủ cũng lo kiếm người phụ cho tôi nhưng kiếm không ra. Hồi này kiếm người làm không dễ như hồi trước. Cách đây đúng năm bữa tôi đi chợ Sàigòn tình cờ gặp con nhỏ Vân. Nó không tính đi kiếm việc làm, trông nó hiền, dễ thương, xinh xẻo, coi bộ có thể hợp ý cô Ba, cô Ba khó tánh lắm, người làm xấu xí không sạch sẽ cô Ba không chịu, tôi hỏi nó có muốn đi làm không. Con nhỏ như vừa bị một chuyện gì khổ sở lắm cho nên hãi sợ hết mọi thứ, nó không tin tôi, cứ hỏi mãi có thật tôi rủ nó đi làm công ở trong nhà người ta hay làm công chuyện gì khác. Tôi bảo nó nếu cần kiếm việc, muốn làm thì theo tôi về nhà bà chủ, nếu bà chủ với cô Ba có ưng mới được chứ chưa chắc đã được làm, cứ vô nhà, coi nhà thì thấy là chỗ tử tế, không ưng bụng thì thôi tôi đâu có ép. Nó theo tôi về nhà, bà chủ với cô Ba cũng chấp thuận nó, lương năm ngàn một tháng, bà chủ cho ăn ở, công việc phụ giúp tôi, nhưng đặc biệt lo sạch sẽ nhà cửa đồ đạc, giặt ủi, thế thôi, thỉnh thoảng cô Ba sai vặt chạy đi mua cóc mua ổi. Con nhỏ có giấy tờ đàng hoàng, cha chết, còn mẹ, có một em trai đi học, quê ở Trảng Bàng, bà mẹ vẫn ở đó.
Vì nó là người mới, lại do tôi đưa vô, tôi có trách nhiệm, đêm tôi giữ nó ngủ chung với tôi, tuy con nhỏ Lài trước nó có chỗ ngủ riêng, tôi tính nếu xem chừng tin cậy được mới để nó ngủ riêng, vì nhà vắng chỉ có mấy người đàn bà, hồi này lôi thôi lắm, ban đêm nó mở cửa cho trộm cướp vô thì sao. Nằm chung với nó tôi có hỏi chuyện nhưng nó chỉ nói sơ qua. Mãi đêm hôm qua thấy tôi thương nó thật tình như con nó mới cho biết nhà mẹ sa sút vì phải lo cho thằng em ăn học mà thằng nhỏ ở Sàigòn tiêu xài quá, đua chúng bạn, lợi tức của nhà không đủ. Cách đây hai tháng thấy cảnh nhà quá thiếu mà đứa em lại hư, có người quen mướn ra Qui Nhơn coi sóc hai đứa nhỏ học tiểu học, được nuôi ăn ở, mỗi tháng mười lăm ngàn lương riêng. Con nhỏ nói với tôi có đi học tới đệ tam. Nhưng ra đó có xảy ra chuyện chi không vui nên phải bỏ về. Tôi cố gạn hỏi nhưng nó không nói, bảo rằng chuyện buồn chả nên nói. Tôi có hỏi tại sao không về Trảng Bàng với mẹ, nó nói vì mắc cở với mẹ, mẹ nó cứ ngăn không cho đi Qui Nhơn, nó không nghe, bây giờ lỡ việc trở về nó mắc cở quá, thà đi làm ở Sàigòn ít lâu có tiền gửi về cho mẹ còn hơn. Nó vẫn giấu chưa cho mẹ biết vụ thất bại ở Qui Nhơn.
Tội nghiệp không hiểu tại sao khi không nó té chết như vậy. Tôi không nghĩ là nó tự tử, vì suốt năm ngày nay có buồn, có vẻ hoảng hốt đôi lúc, nhất là ban đêm nằm cạnh tôi, nhưng nó không có vẻ gì muốn chết. Chính nó có nói phải ráng ăn uống cho khoẻ đặng làm việc được, có tiền gửi về cho mẹ. Ban chiều ông chủ với cậu Hai về, tôi ra mở cửa. Mắc lo bữa ăn thêm người, sợ không kịp, tôi mới bảo nó lên nhà trên lo rượu với nước uống. Nó vừa bỏ đồ ủi chạy lên không tới mười phút thì tôi nghe nó rớt cái bịch từ sân thượng xuống. Nó không có công chuyện chi phải lên tới sân thượng, lau cầu thang, lau sàn nhà ở phòng trên lầu hai thì có nhưng không phải lên tới sân thượng, phơi đồ cũng phơi ngay trên nóc nhà xe, giờ đó đâu có việc gì ở tận sân thượng. Từ năm bữa nay tôi dám chắc nó chưa hề bước ra chỗ sân thượng nữa.
Tên tôi là X.X.X., 49 tuổi, nội trợ. Nhà tôi đi làm việc ở tỉnh lâu lâu mới về, mọi việc ở nhà đều do tôi quyết định. Bao lâu tôi vẫn có hai người làm, một chị bếp và một nhỏ con gái lo công việc vặt. Chị bếp làm với tôi từ lâu. Tháng trước tôi cho con nhỏ kia thôi việc để về xứ vì lý do riêng trong gia đình của nó. Thiếu người làm tôi có kiếm người thế mà kiếm chưa được. Bữa thứ hai trước chị bếp đi chợ Sàigòn có đưa về con nhỏ này, tôi thấy nó có giấy tờ đàng hoàng cấp tại Trảng Bàng, coi bộ dễ thương, tôi cho ở lại làm thử, lương tháng năm ngàn. Hồi này kiếm người làm là một chuyện rất mệt tuy không thiếu người xin làm. Ra chợ Sàigòn kêu về cả chục người cũng có nhưng hiếm có người làm tốt, cho nên khi thấy chị bếp nói gặp con nhỏ ở chợ tôi đã ngại không muốn. Để cho nó làm thử ít bữa thì thấy cũng được, vì vậy tôi mới giữ nó cho tới hôm nay.
Con nhỏ ngoan ngoãn, siêng việc, nhưng nét mặt hay buồn. Tôi nhận thấy có những lúc nó bình thường và có những lúc như nó muốn sịu xuống vì buồn. Tôi có nói với chị bếp và con gái tôi rẳng con nhỏ có tâm sự gì buồn lắm, e rằng nó không làm được lâu. Hôm qua chị bếp có nói cho tôi hay con nhỏ buồn là vì muốn đi làm xa giúp đỡ má nó nhưng việc không xong phải trở về, nghe nói nó có được đi học tới hết đệ tam rồi vì nhà nghèo phải bỏ dở học. Gia đình chúng tôi rất quý những người có học, vợ chồng tôi có hai đứa con, mong mỏi chúng chăm chỉ học, đỗ đạt hơn ba chúng, không dè thằng Hai học hành dở dang tới tuổi động viên phải đi lính, con bé em có thừa khả năng, thừa phương tiện học hành, cũng ham chúng bạn ăn diện, dong chơi nhiều hơn là học. Tôi đang buồn vì con, nghe nói con nhỏ ham học mà nghèo không học tiếp được tôi thấy thương lắm, định bụng chờ cho nó làm ít lâu xem có thật là ngoan ngoãn ham học tôi sẽ giúp đỡ cho nó học lại, thấy nó có ăn học mà bắt làm việc cơ cực tôi không nỡ. Tôi có dặn chị bếp thử dò hỏi xem tâm sự của nó ra sao, tôi sẵn lòng giúp đỡ nếu nó cần.
Ngay từ trước khi hay biết con nhỏ như vậy tôi vẫn xử đối với nó như mọi người làm khác, hơn nữa tôi còn bảo chị bếp vì nó là người mới đừng bắt lo những công việc nó chưa quen. Trong năm ngày ở trong nhà tôi công việc gì đối với nó tôi cũng coi như đang lúc tập làm, tôi không hề rầy la một tiếng. Như tôi đã nói, công việc làm của con nhỏ khá chu đáo. Tôi có thể nói chắc ở nhà trên đối với tôi và con gái tôi cũng như dưới bếp đối với chị bếp, trong năm ngày nay không có một chuyện gì xảy ra đến nỗi con nhỏ buồn mà phải tự tử như vậy. Vâng, tôi tin rằng nó tự tử, vì không lẽ gì vào giờ đó đang bận công việc mà nó lên chơi trên sân thượng để lỡ té chết. Tôi nghĩ rằng nó có ý định tự tử từ trước, gặp bữa đó chồng tôi, con tôi ở xa về cả nhà đang mắc tíu tít nói chuyện, chị bếp mắc lo nấu ăn dưới bếp, nó nhân cơ hội cắt lẻn lên lầu, lên sân thượng mà lao mình xuống đất. Đó là ý nghĩ của tôi, nhưng tôi không thể giải thích tại sao con nhỏ lại chọn cách đó, muốn chết đâu có thiếu gì cách. Báo hại tôi, nó chết trong nhà tôi, ngay giữa sân, tôi sẽ phải lo cúng kiếng cách nào giải oan cho linh hồn nó. Tôi không biết mẹ con tôi có dám ở trong ngôi nhà đó nữa hay không, ngôi nhà vợ chồng tôi mua được đã hơn mười năm nay, đang sống yên ổn.
Tôi tên là V.V.V., 20 tuổi. Bữa chị bếp đưa chị ở mới về có tôi ở nhà, lúc đó khoảng hơn chín giờ, tôi mới ngủ dậy, đang ăn sáng ở bàn, tôi có nghe má tôi hỏi chuyện chị ta. Công việc ở trong nhà hoàn toàn do nơi má tôi định đoạt hết, tôi không bao giờ biết tới. Tôi chỉ đòi nơi má tôi một điều kiện là trong một gia đình đàng hoàng không thể có những người làm xấu xí quê kệch, chưng diện một chút càng tốt nhưng vẫn phải giữ đúng vai trò người làm. Tại tôi đòi hỏi như vậy cho nên cho chị ở trước nghỉ cả tháng nay không kiếm được người thay thế. Tôi coi chị ở mới này đã có thiện cảm ngay từ đầu, trông chị ta xinh xắn, nét mặt dễ thương, tiếng nói cũng dễ thương, tôi chịu không được mấy người có máu đàng Thổ, tiếng nói khó nghe lắm. Má tôi trước khi nhận cho chị ta vô làm có đưa mắt hỏi ý tôi, tôi gật đầu chịu. Vì chị ta coi được, thế thôi.
Tôi đi vắng nhà hoài, công việc ở trong nhà chẳng mấy khi tôi biết tới. Tôi có nghe má tôi hai ba lần khen chị ở mới với tôi, má tôi bảo chị ấy ngoan, siêng năng, biết giặt đồ rất sạch, ủi đồ thẳng nếp, chỉ có một tội là tại sao thỉnh thoảng nét mặt chị ấy buồn rười rượi, đôi khi có vẻ hốt hoảng sợ hãi nữa. Má tôi cho rằng chị ấy có tâm sự gì u ẩn. Còn lâu tôi mới quan tâm tới tâm sự của người khác, cho nên nghe má tôi nói tôi cũng biết vậy, không có ý kiến. Nuôi người làm trả lương cao cho người ta sốt sắng làm, mình là chủ chỉ cần công việc của người ta lo đầy đủ cho mình, còn tâm sự của người ta hơi đâu mình quan tâm. Với lại tâm sự của mình có ai biết tới đâu mà lo tâm sự của người khác.
Chiều hôm nay, anh bạn thân của tôi tới chơi từ lúc bốn giờ, má tôi mắc đánh bài bên nhà lối xóm, tôi ở phòng khách, cho chạy băng nhạc cùng ngồi nghe với bạn. Rồi ba tôi ở Qui Nhơn về, hai phút sau tới anh Hai tôi ở Huế cũng được nghỉ phép về tới. Tôi bảo chị bếp chạy qua mời má tôi về, cả nhà xum họp vui vẻ chưa được mười phút thì nghe tiếng chị bếp la dưới sân: “Chết ! Người chết !” Chúng tôi hoảng kinh ào xuống sân sau thì thấy chị ở mới nằm chết đó. Tôi chẳng hiểu chi hết. Tại sao có thể chết dễ dàng như vậy được ? Cuộc đời đáng sống lắm chứ, chuyện buồn nào mà chẳng qua đi, tại sao lại đi tìm cái chết, chết thê thảm như vậy mới lạ kỳ nữa.
Khi nãy tôi hoang mang chẳng suy nghĩ chi hết, chỉ tự hỏi tại sao chị ta lại chết như vậy. Tới đây ngồi suy nghĩ thêm tôi có thể cho rằng chị ta lén lên lầu, lên sân thượng chơi, rồi lỡ té chăng. Đứng trên cao quá có thể thấy choáng váng té được lăm chứ. Trên sân thượng có một lần tôi mở bum, chăng đèn kết hoa nhưng không succès bao nhiêu, với lại lối xóm thấy làm ồn có phàn nàn với má tôi, sau này lại cấm nhảy, thành ra tôi không tổ chức lần nào khác trên sân thượng. Hằng ngày chẳng ai lên đó, cả tháng chẳng ai đặt chân lên đó, trừ ra những khi ba tôi về, ông thấy không khí Sàigòn ngộp quá, buổi tối hay lên đó bắc ghế ngồi nói chuyện với má tôi.
Tôi tên là U.U.U., 26 tuổi, trung úy trừ bị trong quân đội VNCH. Cách đây chừng hai tháng, khi đó tôi làm việc tại một chi khu gần thành phố Qui Nhơn, nơi ba tôi là y sĩ trưởng một bịnh viện công. Thỉnh thoảng tôi về Qui Nhơn thăm ba tôi. Cách đây chừng hai tháng, tôi nhớ là một chiều chủ nhật, ba tôi mắc đánh bài mã tước với mấy ông bạn, không muốn ở nhà một mình, tôi thả bộ dạo chơi trong thành phố. Lát sau tôi ghé một quán nhỏ mang cái tên ngồ ngộ “Trăng Thu.” Trong một vùng ánh sáng nửa tối nửa sáng, có nhiều bàn nhỏ, ghế thấp, những người trẻ tuổi tụ họp từng bàn uống trà, cà-phê, bia chai hay bia hộp, hoặc những thứ giải khát khác, và nghe nhạc, những bản nhạc thời thượng, do những ca sĩ nổi tiếng hát và được thâu băng.
Không gặp ai quen, tôi ngồi một mình uống cà-phê trong góc quán, đối diện với chiếc quày nhỏ nơi thâu tiền. Một mình tôi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, thả nông nỗi chán phè của một chiều chủ nhật cô đơn qua khói thuốc, chờ sáng mai trở về đơn vị. Tôi không nhớ tại sao và từ một giây phút nào tôi chợt chú ý tới cô gái ngồi thâu tiền ở trước mặt. Tôi chú ý tới một nét buồn kỳ lạ trên gương mặt cô gái. Không buồn cô gái đã có một vẻ hiền, ngoan, dịu dàng hiếm có, thêm nét buồn cô gái trở nên một thỏi nam châm thu hút những người con trai như tôi ngồi một mình đếm những giây phút qua đi chẳng có việc gì làm, chẳng có ý nghĩ nào vương vấn lâu trong đầu. Bảo rằng đó là một thỏi nam châm rất đúng, vì lúc đó như có hẳn một từ trường giữa cô gái ngồi kia yên lặng và tôi cũng yên lặng ngồi đây. Mấy phút sau, biết rằng cô gái cũng để ý tới con mắt không dời của tôi, tôi đứng lên đi lại gần quày thâu tiền xin phép được nói chuyện với cô gái. Cô gái vui lòng. Câu chuyện lúc tối đó rất tầm thường, nhưng từ sau khi quán đóng cửa tôi đưa cô gái về chỗ trọ và chia tay về nhà tôi tin rằng đã có một chút gì ràng buộc giữa hai chúng tôi. Trên khúc đường vắng, cô gái cho biết đã bị lừa ra đây không phải để săn sóc hai đứa nhỏ mà để thâu tiền ở quán nước như tôi đã thấy. Bị lừa nhưng cô gái đành chấp nhận vì đã lỡ khăng khăng với mẹ đòi đi, với lại cô gái cũng cần mỗi tháng có một món tiền gởi về cho mẹ ở Trảng Bàng.
Sáng hôm sau tôi trở về chi khu nhưng chiều hôm đó tôi đã kiếm được cách xin phép quay lại Qui Nhơn. Chúng tôi lại gặp nhau. Bắt đầu yêu nhau, cô gái mà từ đó tôi thấy có quyền được gọi bằng tên riêng, Vân đã lần lần kể hết cảnh nhà cho tôi nghe. Vân mồ côi cha từ năm mười tuổi. Bà mẹ thừa khả năng nuôi dạy hai người con, Vân và Đức em trai Vân, vì ông chồng khi chết đi có để lại cho vợ con một vườn trái cây nhiều huê lợi tại Bình Dương. Trảng Bàng là quê bà mẹ, ông cha người gốc Bình Dương. Vì thuận tiện riêng, bà mẹ đưa hai con về quê ngoại ở Trảng Bàng, nơi đó bà mẹ được thừa hưởng một di sản ruộng đất cũng khá. Vườn trái cây ở Bình Dương là nguồn lợi tức chính cho ba mẹ con sinh sống thừa thãi. Lên trung học hai chị em Vân được mẹ gửi đi Sàigòn ở nhà bà dì để đi học. Vân học hành rất ngoan, Đức mê theo thằng con trai bà dì, hai đứa chơi nhiều hơn học và tập được đủ thứ tật xấu, trong số có tật đánh bạc. Trong vòng có năm sáu năm trời, nguồn lợi về vườn trái cây không đủ cho bà mẹ chi dụng và lần lần phải cắt từng khu vườn bán đi. Tai hại nhất là những năm về sau Đức lớn lên càng ăn chơi hơn, tốn kém hơn, và đến tuổi động viên phải lo lót trốn lính. Trọn vẹn di sản của người cha để lại đã từ cái túi của cậu con trai bay đi hết.
Tới năm nay thì cả một mảnh vườn còn lại ở Trảng Bàng cũng qua tay người khác vì những vụ lo lót trốn lính của Đức. Vân phải nhận lời ra Qui Nhơn vì biết mẹ đã tới đường cùng không có cách nào có tiền sinh sống hằng ngày chứ đừng nói tới cung ứng cho cậu con trai phá của. Theo lời Vân, dường như hồi sau này Đức có cặp bồ được với con gái một nhà giàu ở Sàigòn cho nên có thể tiếp tục ăn chơi không đòi hỏi quá nơi bà mẹ nữa.
Càng thấu hiểu hoàn cảnh của Vân tôi càng thấy yêu Vân hơn. Vân đã thuận một ngày nào đó sẽ để tôi đưa về nhà giới thiệu với ba má tôi và sau đó sẽ xin ba má tôi cho cưới Vân làm vợ. Sở dĩ tôi còn chần chờ là vì tôi biết rõ thành kiến trong gia đình tôi, nếu đưa Vân về nhà ngay lúc đó thì không giấu được ba tôi rằng Vân chỉ là một cô gái ngồi thâu tiền tại một quán nước, nhất định ba má tôi không khi nào ưng một đứa con dâu với địa vị như Vân. Vân trở về Trảng Bàng rồi mới tính tới chuyện giới thiệu Vân với ba má tôi. Có một lần đề cập tới vụ Vân trở về Trảng Bàng, Vân có nói với tôi để Vân tính, nhưng coi bộ không tin rằng có thể chiều ý tôi được ngay. Tôi ngu dại không lượng định được sự cần tiền nơi Vân như thế nào. Với lại nếu tôi có ngỏ lời muốn giúp, Vân chưa chắc đã chịu, tôi biết Vân nhiều tự ái lắm. Nhân một dịp lẻn về Qui Nhơn gặp Vân trong chốc lát tôi đụng đầu với một ông anh họ cũng ở trong quân đội như tôi nhưng có thế lực lắm tại bộ tư lệnh quân đoàn. Gặp nhau cả hai chúng tôi cùng ngạc nhiên không ngờ cùng ở một vùng mà không biết. Ông anh có hỏi chi tiết nhiệm vụ hiện thời của tôi. Tai hại cho tôi, một tuần sau tôi nhận được lệnh đổi về Huế, do sự can thiệp của ông anh họ, tưởng làm vậy là vui lòng tôi. Nhận được lệnh tôi đâm bổ về Qui Nhơn kiếm Vân. Bà chủ quán cho biết Vân đã thôi không làm tại đó nữa, đi đâu bà không biết.
Về nhà để báo tin cho ba tôi hay vụ thuyên chuyển, tôi thấy ở góc bàn giấy của ba tôi một phong thư đề tên tôi. Thư của Vân. Trong bao thư còn một bao thư khác mang con dấu ty bưu điện Trảng Bàng. Vân viết vắn tắt trong thư nói rằng đã đứt ruột phải quyết định nhận đi làm việc tại một nơi xa để có thể vay trước một món tiền lớn. Đi xa như vậy tức là không bao giờ còn gặp lại tôi nữa, nhưng Vân không có cách nào khác, tôi cứ đọc lá thư của má mới gửi ra thì biết. Bà mẹ viết trong thư cho Vân biết Đức mới về nhà cho hay lỡ đánh bạc thua cầm thế mất chiếc xe honda của một người quen, bây giờ cần có một trăm năm chục ngàn chuộc xe, nếu chậm người kia thưa gởi, lòi ra vụ trốn lính thì nguy. Bà mẹ tính bán nốt căn nhà đang ở lấy tiền trả nợ cho Đức, số còn lại sẽ dựng một căn nhà nhỏ trên đất của một người bà con vui lòng cho cư ngụ.
Ý hẳn Vân đã không muốn mẹ phải hi sinh phần gia sản cuối cùng cho nên đã quyết định như vậy. Tôi bỏ cả một ngày hỏi thăm khắp nơi mà không sao biết được Vân đã dời Qui Nhơn để đi đâu. Phải đi Huế gấp theo lệnh, ra tới Huế công việc mới buộc tôi không thể nhất đán xin nghỉ phép mà về Sàigòn để đi Trảng Bàng gặp bà mẹ Vân, thư của bà mẹ lại không ghi địa chỉ để tôi có thể theo đó mà viết thư. Mãi cho tới hôm qua, nhờ sự giúp đỡ của ông anh họ tôi mới xin được phép một tuần về đây với mục đích duy nhất là sáng mai đi Trảng Bàng. Không dè vừa về tới nhà đã gặp Vân, gặp trong trường hợp thê thảm như vậy.
Tôi tên là T.T.T., 23 tuổi, sinh quán tại Bình Dương, trú quán tại Trảng Bàng, hiện đi học tại Sàigòn. Chiều hôm nay tôi có mặt tại ngôi nhà xảy ra vụ tai nạn vì tôi quen với cô V.V.V. Trước kia có thể nói là hằng ngày tôi có mặt tại đó vì chúng tôi chơi thân với nhau. Trong khoảng hơn một tuần nay tôi không lại đó chơi vì có công chuyện riêng phải đi Trảng Bàng. Mới từ Trảng Bàng về lúc trưa, bốn giờ chiều tôi đã lại kiếm cô V., chúng tôi đang ngồi nghe nhạc tại phòng khách ba của V. về tới, sau lại tới anh Hai của V. cũng từ Huế vô. Chúng tôi đang nói chuyện nghe tiếng la dưới sân sau. Chúng tôi chạy xuống thì chuyện đã xảy ra. Tôi quen thân với gia đình của V. nhưng không bao giờ chú ý tới những chuyện trong nhà, tôi không có ý kiến nào về trường hợp đã xảy ra.Tôi nhìn nhận nạn nhân đúng là chị ruột tôi, tên Vân. Tôi bận đi học tại Sàigòn rất ít khi về thăm nhà. Mới đây tôi hay tin chị tôi đi Qui Nhơn nhận săn sóc việc học cho hai đứa nhỏ tại một gia đình quen. Tôi không hiểu vì lý do nào mà chị tôi lại bỏ công việc ở Qui Nhơn về đây và đi làm công. Gia đình tôi không đến nỗi quá nghèo để chị tôi phải đi làm công như vậy. Tôi không có ý kiến về cái chết của chị tôi, có thể là tai nạn, có thể là tự sát. Buổi chiều khi tới chơi tôi không biết có chị tôi làm công tại đó, khi tôi tới chị bếp ra mở cửa cho tôi.
Tôi tên là S.S.S., y khoa bác sĩ, y sĩ trưởng bịnh viện Qui Nhơn, gia đình tôi để lại Sàigòn vì có sẵn ngôi nhà và con gái tôi đang theo học tại Sàigòn. Chiều nay tôi về thăm nhà, vừa về tới được chừng không đến nửa giờ thì xảy ra vụ này. Khi tôi chạy xuống tới sân sau nạn nhân đã tắt thở, từ trên cao hơn mười thước lại dộng đầu mạnh xuống nền xi- măng có thể chết tức khắc. Nâng đầu nạn nhân lên tôi đã kinh ngạc nhận ra đó là một bịnh nhân tôi mới chữa trị cách đây có mấy tuần lễ ngoài Qui Nhơn.
Một buổi sáng nhân viên ty Cảnh sát dẫn giải tới bịnh viện một người con gái bị buộc tội hành nghề mại dâm đang mắc bịnh hoa liễu nặng. Ty Cảnh sát gởi bịnh viện chữa trị cho người con gái với tư cách một can nhân, chờ khỏi bịnh sẽ được đưa qua bên tòa án. Khi đó tôi hoàn toàn không lưu ý tới một khía cạnh nào khác nơi người con gái ngoài nhiệm vụ chẩn bệnh rồi chữa bệnh. Chẩn bệnh tôi thấy người con gái mới bị mất trinh không lâu, đang mắc bịnh lậu mủ rất nặng, tình trạng sửc khỏe tồi tệ vì xúc động thần kinh quá mạnh đồng thời trải qua một thời gian thân xác bị hành hạ quá sức chịu đựng của thể chất. Vì là một trường hợp bịnh trạng đặc biệt, có thể nói y sĩ tranh đấu từng giờ với tử thần, cho nên tôi đã bỏ rất nhiều công săn sóc cho người con gái đó. Sau mười ngày vừa lo chống vi trùng hoa liễu vừa lo gây lại sức khỏe cho bệnh nhân, hai công việc rất khó dung hòa, vì dùng một lượng trụ sinh rất mạnh cần thiết cho trường hợp bịnh thì hại tới tình trạng sức khỏe đã quá suy yếu, tôi đã cứu được người con gái. Từ ngày thứ mười trở đi, người con gái đã tỉnh táo hơn, tôi mới chú ý tới nét mặt, nhất là hai con mắt rất hiền từ, những lời nói lễ độ tự nhiên, những cử chỉ rõ ràng khép nép kín đáo, tôi lấy làm lạ tại sao một người con gái như vậy có thể là một con điếm sắp bị đưa ra tòa, tức là một thứ bị bắt nhiều lần không còn biện pháp ngăn cản nào khác.
Chú ý như vậy nhưng tôi là một y sĩ, y sĩ không có quyền tò mò nếu bịnh nhân không nói và thấy không cần thiết cho việc chữa trị. Người con gái nằm bịnh viện đúng hai chục ngày, bịnh lậu mủ đã trị có thể nói là tuyệt nọc, chỉ còn tình trạng sức khoẻ mới khả quan, nhưng khả năng của một bịnh viện công ở tỉnh không cho phép giữ bịnh nhân ở lại thêm. Đúng như lời yêu cầu khi đưa bịnh nhân tới tôi đã trả người con gái lành bịnh cho ty Cảnh sát. Khi xuất viện, người con gái chỉ tới ngỏ lời cám ơn tôi và cũng không yêu cầu tôi giúp đỡ một điều gì khác. Tôi yên ổn lương tâm một y sĩ, và vội quên ngay trường hợp đó.
Tới tối ngày hôm sau, ông biện lý vốn là bạn chơi mã tước tới gặp tôi tại nhà và hỏi thăm tôi về hồ sơ bịnh trạng của người con gái đó. Khi đó tôi mới tò mò hỏi thăm lại về trường hợp người con gái trên bình diện tòa án. Ông biện lý cho biết cứ như lời khai của người con gái mà ông biện lý lấy tâm tín của một thẩm phán cho rằng đúng sự thật thì y thị là nạn nhân của một vụ mua bán và bội tín, mua bán và bội tín trên thân xác khổ sở của người con gái đó. Từ Trảng Bàng ngưòi con gái bị lừa ra Qui Nhơn để trông nom việc học cho hai đứa nhỏ với số lương mười lăm ngàn đồng một tháng, được ăn ở không mất tiền, tiền chuyên chở từ Trảng Bàng ra Qui Nhơn và trở về do người mướn chịu. Tới Qui Nhơn không có học trò mà chỉ có công việc thâu tiền tại một quán nước. Người con gái cần tiền giúp mẹ cho nên cũng vui lòng nhận. Công việc tạm êm xuôi trong vòng một tháng. Ông biện lý dùng chữ “tạm” là vì chẳng bao lâu sau khi tới Qui Nhơn người con gái đã được mụ chủ quán dụ dỗ bán trinh cho người nhà giàu sẽ được một món tiền lớn, sau đó tiếp tục hành nghề mại dâm sẽ có thêm nhiều tiền nữa. Cô gái cương quyết không chịu, mụ chủ cũng để yên, thỉnh thoảng lại tấn công nhưng vô hiệu. Một tuần trước khi người con gái được đưa tới trị bịnh, y thị nhận được thư của mẹ từ Trảng Bàng cho biết phải bán nhà để lo trang trải công nợ. Vì thiết tha với ngôi nhà mẹ con sống từ lâu đầy kỷ niệm, người con gái đã trả lời bằng lòng đề nghị của mụ chủ quán. Mụ chủ quán đặt điều kiện cô gái chịu để cho một người có tiền phá trinh và sau đó phải sống với người đó liên tiếp trong hai tuần lễ sẽ được tròn món tiền một trăm năm chục ngàn. Số tiền kiếm được đủ để giúp mẹ khỏi bán nhà, cô gái ưng thuận. Ngay hôm sau cô gái được đưa tới một tỉnh ở Cao Nguyên và trao trong tay một người đàn ông có thế lực tại đó.
Ông biện lý cho biết người con gái đã tỉ mỉ kể lại chi tiết cuộc đày đọa thân xác với một người đàn ông to lớn và vũ phu như một con trâu. Trên nguyên tắc, về phương diện sinh lý khi một người nam và một người nữ đã thuận tình ráp lại sống với nhau sớm muộn người nữ sẽ tìm thấy khoái cảm, cho dù lúc ban đầu có sợ hãi sự chung đụng. Đằng này sau một đêm và một ngày trong tay người đàn ông đó cô gái chỉ thấy hoảng sợ đến độ kinh hãi la thét mỗi khi người đàn ông tới gần. Kết cuộc, người đàn ông có thế lực nổi giận đuổi cô gái ra khỏi nhà. Thảm thương cho người con gái là thoát khỏi vòng ông chủ lại rơi vào tay lũ gia nô, chúng thay phiên nhau hành hạ người con gái. Địa ngục kéo dài trong vòng năm ngày thì nội vụ đến tai một người cũng ở trong vòng thế lực của người đàn ông kia nhưng có tình thương và tư cách nghĩa hiệp. Người này đứng ra can thiệp để giải phóng cho cô gái.
Đã sa vào địa ngục lại chẳng được một đồng bạc nắm trong tay cho đỡ tủi, cô gái cũng đành, cố cứu lấy mạng sống. Nhưng người đàn ông nhiều thế lực không biết nghe lời lũ gia nô ra sao đã cho người đuổi theo tới Qui Nhơn và cô gái đã biến thành một gái điếm đáng đưa ra tòa lên án. Vì tình trạng sức khỏe thảm hại của cô gái cho nên mới có vụ đưa tới bịnh viện.
Ông biện lý có bàn với tôi nên giải quyết vụ ngưòi con gái đó cách nào. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Tất cả vấn đề thu gọn vào một điểm: người con gái có đứng ra tố cáo nội vụ hay không. Ông biện lý cho biết đã chỉ vẽ cho cô gái biết nên làm và phải làm như thế nào và ông biện lý hứa tận tình giúp đỡ, nhưng cô gái đã từ chối, chỉ xin ông biện lý giúp đỡ cách nào để có thể trở về Trảng Bàng với mẹ. Cả hai chúng tôi thật tình đều muốn vụ mua bán đen tối đó phải được làm cho ra lẽ, nhưng suy nghĩ chán chúng tôi đi tới kết luận cứ nên chiều theo ý mong của cô gái là hơn hết, lương tâm chúng tôi có không yên nhưng cô gái sẽ yên và đó cũng là điều cô gái mong ước, lương tâm chúng tôi ít nhất cũng được cái cớ đó che đậy. Hai chúng tôi đã dễ dàng giúp cho cô gái có được mấy cái quần, mấy cái áo thay đổi (khi trở về Qui Nhơn cô gái mất hết những gì đã có trừ bộ quần áo trên người), chút tiền dận túi và một giấy máy bay Qui Nhơn -Sàigòn.
Tôi xác nhận người con gái làm công trong nhà tôi mới chết và người con gái tôi đã gặp ở Qui Nhơn đích thị là một. Nhưng tôi không thể hiểu tại sao đã về tới Sàigòn người con gái đó không về Trảng Bàng với mẹ lại đi làm công và tại sao chiều hôm nay đã tình cờ té lầu mà chết hay nhảy lầu tự sát ngay trong nhà tôi. Đọc hết tờ biên bản và những lời khai, ông đại úy trưởng phòng Hình cảnh gấp tập hồ sơ lại, nói với cô thư ký ngồi ở bàn kế bên, cô thư ký ngơ ngác không hiểu, ông đại úy như nói một mình:
“Tất cả những người có liên quan tới cô gáỉ trong vụ này đều có biểu tỏ tình thương với cô gái. Nhưng bấy nhiêu tình thương đã không kéo được cô gái ra khỏi hoàn cảnh khốn khổ. Đặt bên thân phận cô gái, tình thương giống như một món trang sức đáng bày giữa hai ngoặc kép.
Xét hồ sơ này nhiều phần chắc là ông biện lý sẽ truyền xếp, điều tra bổ túc sẽ đụng phải những vách núi thế lực. Nếu ông biện lý là một người làm văn học nghệ thuật, với hồ sơ này ông ấy có thể soạn được một vở kịch, dựng lên một tuồng hát, hay quay thành một cuốn phim, cùng lắm cũng viết được một truyện ngắn, truyện của xã hội bây giờ.”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.