Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 8 May 2024

8. Phần 8
Những ngôi nhà tầng san sát thấp thoáng sau hàng cây xanh một màu ướt mịn. Đoàn người trên thuyền ào xuống nước, bì bõm lội vô bờ. Dấu chân in trên cát, đè lên nhau, hồ hởi tiến vào thị trấn. Bao tử được nuôi bằng hy vọng, đôi mắt đã bớt mờ soi chòng chọc vào lớp nhà hiện ra, to dần, to dần. Cả một thành phố thế kia, sống là cái chắc.
Ô kìa! Thành phố vắng ngắt không một bóng người. Có phải là thành phố không? Những con đường ngang dọc phẳng lì mở ngay trước mắt, im lặng chờ người đến. Khi không, những bàn chân chưa khô nước mặn đồng loạt ngừng lại trước con đường đầu tiên dẫn vào phố. Đôi mắt căng rách mí, nhìn nhau, nhìn con đường rộng, dè dặt:
– Quái!
Cường nóng nảy:
– Ta đông thế này, sợ gì.
Cường dợm bước nhưng Dũng ngăn lại, quay qua hỏi Cảng:
– Hượm đã. Này, ông ở đây lâu hẳn phải biết đây là đâu chớ, sao vắng thế này?
Cảng lắc đầu, mặt bí xị:
– Quả thật tôi chịu thôi. Có bao giờ ra khỏi làng đâu.
Cảng nói thật. Đời sống quá nghèo nàn và lạc hậu ở những vùng ven biển đâu có cho những người như gã có dịp ra khỏi làng xóm. Những người ở xa đến có khi còn rành phong thổ địa phương hơn chính gã nữa. Dân nghèo như con ngựa bị che mắt, chỉ thấy một con đường áo cơm trước mặt.
– Thế có ai biết…
– Tôi còn không biết…
-…không? Dũng hỏi.
-…huống hồ là họ. Cảng nói.
Dũng nói:
– Thôi cứ vào cả, không có gì thì mình đi tiếp.
Lòng hiếu kỳ, sợ hãi cộng thêm cái đói cái khát khiến tất cả đồng loạt tiến vào, rất cẩn thận. Hải men theo một dãy phố, mắt nhìn ngang dọc cứ như một anh cao bồi đang đề phòng kẻ địch xuất hiện thình lình từ một cánh cửa nào đó, nã đạn vào mình. Quả thật, dường như chẳng có ai ở trong thành phố câm này. Những dãy nhà mái bằng, cao đúng bốn tầng, nằm khít bên nhau dễ có cả nghìn cái…mái nhà đã dột nát, nước thấm qua chỗ dột mà màu vôi trắng đã đổi thành màu đen. Hải chui vào một ngôi nhà, lông tóc không dưng dựng cùng mình. Vách tường rêu phong che kín phát ra một hơi lạnh như đá. Nền nhà cáu đen, xi măng tróc từng miếng vì bị nước nhỏ từ nóc ngâm lâu ngày, bốc lên mùi rêu phong nghẹt thở. Cái đói hành hạ ruột gan, tay run, mắt mờ, bước chân giở lên nặng tựa núi. Cường độ đói tăng dần cùng với cảnh phố càng đi càng thấy tiêu điều xám lạnh. Có tiếng la:
– Bắt con chó. Bắt con chó!
Một con chó mực xẹt qua trước mắt Hải. Tiếng chân người chạy rầm rập từ ngã tư đường.
– Chận đầu đó, Hải.

Google images

Hải nhận ra tiếng Cường. Chàng xoạc chân đứng giữa đường, quơ tay loạn cả lên. Con mực thấy bị chận, quay đầu chui tọt vào một cánh cửa hé. Cả Cường lẫn Hải la lên:
– Vậy là con cùng đường.
Cường cẩn thận cầm một khúc cây cẩn thận bước. Hải đứng rình ngay cửa. Chàng nghe cái “chảng” từ bên trong. Tiếng Cường chửi:
– Chết mẹ con, nhanh quá!
Bỗng nhiên một vật đen từ trong nhà tống vào đùi Hải khiến chàng ngã sóng soài. Con mực thoát ra ngoài, cong đuôi biến mất ở một ngã rẽ. Cường hít hà:
– Tiếc quá, tiếc quá!
Cường để mặc Hải lầm bầm nhăn nhó, anh cầm khúc cây chạy theo hướng con chó ngây dại. Hải vừa tức, vừa tiếc “của” bảo Sương:
– Xém chút nữa là ta có dồi chó rồi, tiếc thật.
Hai người đi qua mấy con đường vắng vẻ nữa. Thỉnh thoảng vài người cùng thuyền đi ngược về phía họ, giơ tay lên trời thất vọng. Một đàn quạ bay về hướng núi. Hải rùng mình. Sương bấm vào tay Hải:
– Có ai gọi?
Chẳng có ai cả, chỉ có tiếng quạ kêu từ hướng núi. Một khắc đi qua, Hải nghe có tiếng người nói chuyện rì rào đâu đây. Chàng định hướng đi tới. Tiếng nói chuyện càng lúc càng rõ dần. Tiếng người, trời, rõ là tiếng động có ý nghĩa nhất trong thành phố hoang liêu này. Qua cánh cửa mở hé, Hải thấy Dũng đang ngồi đối diện với bốn hình nhân kỳ dị. Bốn hình nhân tất nhiên là mang vóc dáng người, một giống người đã …tuyệt chủng. Tóc họ bạc như vôi (những ông vôi xấu xí) lơ thơ trên da mặt xám xịt. Làn môi đen động đậy, phì phèo lòi hai nướu răng thâm sì. Bốn hình nhân che chỗ kín bằng loại vải không còn màu. Toàn bộ bức tranh trong căn phòng là màu đen sạm, đen tro, làm nổi lên những cọng tóc trắng. Hải thấy Dũng bình tĩnh ngồi, khuôn mặt có vẻ đang kiên nhẫn chịu đựng điều gì đó. Hướng ra cửa, Dũng gọi:
– Vào đây ông, thú lắm!
Hải dắt Sương bước qua mép cửa. Mùi mốc bốc lên khiến cái bụng trống của hai người sắp dâng lên chất nước gì nhờn nhợt, đắng cả miệng. Một cái màn chia đôi căn phòng. Một lão già (ông hay bà?) đi qua bên kia tấm màn mỏng hơn tờ giấy quyến. Dũng nói:
– Họ nấu cháo đãi mình đó.
Lão già bên kia tấm màn lui cui, Hải có thể nom thấy cái lưng cong vòng như lưng tôm của lão. Chợt một luồng gió từ cửa thổi vào, cái màn rách toạc một đường dài. Một lão lật đật chạy ra khép cửa. Dũng giới thiệu lão đóng cửa:
– Đây là Hồng Tiên sinh.
Hải mỉm cười. Dũng tiếp bằng tiếng Quảng:
– Chỉ có Hồng Tiên sinh là còn nhớ họ của mình, bà cụ kia không còn nhớ gì hết.
Hồng Tiên sinh đã trở vào. Lão ngồi xuống một khúc cây tròn, gật đầu chào Hải và Sương, đôi mắt tiên sinh kèm nhèm hấp háy. Hồng Tiên sinh tiếp tục câu chuyện với Dũng, thỉnh thoảng anh ngắt lời, ráp những câu nói rời rạc của tiên sinh lại cho ăn khớp. Lâu lắm, những câu nói lúng nhúng của Hồng lão bối mới kết thành một câu chuyện có đầu có đuôi.
Hồng lão là cháu nội của thi sĩ Hoàng Tuân Hiến, rất nổi tiếng với bài “Ai Lữ Thuận” hùng hồn và bi đát, từng được người đời gọi là “thi sử”. Ảnh hưởng nếp sống hào phóng dù cảnh nhà đang suy tàn, Hồng lão thuở nhỏ thích đi đây đi đó, mê tuồng cổ, từ bé đã lập chí theo tuồng. Rồi theo học ở đại học Thanh Hoa, mê đọc tác phẩm cổ điển, tác giả tiêu biểu của thời đại như Quách Mạt Nhược, Lỗ Tấn. Từ đó tập làm văn, tập kịch suốt thời hàn vi.

Google images

Nhưng Hồng lão đã không trở thành thi sĩ nổi tiếng như ông nội. Đỉnh cao nhất của Hồng tiên sinh là dạy học ở trường Thanh Hoa, cuộc sống đó đóng khung trong khuôn viên đại học êm đềm.
Cho đến khi cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản bùng nổ vào mùa xuân năm 1966. Hồng lão sống trong lo âu thấp thỏm đợi chờ tai họa giáng xuống đầu mình, một điều chắc chắn sẽ xảy ra. Hằng ngày, báo đảng liên tiếp công kích các nhà văn, nhà báo dám bôi nhọ chương trình “nhảy vọt”, chính sách công xã mà đảng đề ra trước đó và đã thất bại. Học trò của Hồng tiên sinh lúc đó được phát cho một băng đỏ đeo tay và trở thành Vệ binh Đỏ, được giao nhiệm vụ đi khắp nơi truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông qua cuốn sách đỏ. Vệ binh Đỏ – kỳ thực là học trò của Hồng Tiên sinh đập phá đền miếu, chùa chiền, triệt hạ mọi dấu tích văn hóa có liên quan đến tàn tích phong kiến, suy tôn Mao thành bậc thánh nhân, là đại thi hào sánh ngang Lý Bạch. Thậm chí, Vệ binh Đỏ ở mỗi địa phương tự phát huy sáng kiến, tấn công các thành phần có tư tưởng hay quan hệ với phương Tây, hạ nhục họ trước công chúng. Trí thức bị Vệ binh Đỏ đánh đập không chết thì cũng thương tích trầm trọng, hàng vạn người bị tù đày, hàng trăm vạn người phải tự tử để khỏi trông thấy sách vở của mình bị thiêu hủy, hàng triệu người bị tập trung đi cải tạo.
Biết không chóng thì chầy cũng không thoát được…đảng mệnh, Hồng treo cổ tự tử nhưng nợ đảng chưa trả xong nên người nhà cứu sống. Hồng lão bị Vệ binh Đỏ bắt làm “tự phê”, đầu bịt một tấm giấy trắng dài ngoẵng chĩa lên trời, trên viết một hàng chữ kể tội ác, rồi bị điệu đi diễu hành ngoài đường phố. Đó là mùa xuân năm 1967, Hồng lão còn nhớ. Sau đó, Hồng lão bị đưa đi tập trung lao động, qua rất nhiều trại không nhớ xuể, cuối cùng về đây, một công trường cải tạo được xây dựng trong cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản.
Hồng lão chiêu một ngụm nước lạnh, “khà” một tiếng, chuyền cái chén bể miệng cho lão nhân bên cạnh. Lão nhân này bị một dị tật ở hai chân. Hai bắp chân lão cụp ra đằng sau một góc nhọn khiến lão không khi nào đứng thẳng được. Lúc đi, người lão khùm xuống, thân mình gần như song song với mặt đất. Hồng lão nói:
– Y tiên sinh đây là bác sĩ.
Kiến thức chuyên môn của tôi đã giúp tôi giết cha tôi. Ai cũng biết điều đó. Phải, tôi đã giết cha tôi bằng chính đôi tay hành nghề của mình, đôi tay đã giành giật mạng sống của nhiều người từ tay thần chết. Linh hồn tôi là một linh hồn tội lỗi, lở loét và đầy sâu bọ, không bao giờ hàn gắn. Dù có biện luận gì, dù có thể nói hai cộng hai thành năm theo kiểu biện chứng pháp duy vật, tôi cũng không thể tha thứ cho mình được. Tôi bị tuyên án chung thân, rồi tôi lại được bè lũ bốn tiên sinh tha bổng, chỉ phải đi tập trung cải tạo. Tôi đã tự ải như hàng triệu người khác đã tự kết liễu đời mình, như nhà văn lão xá, tác giả của miêu thành ký, lạc đà tường tử, vì không muốn thấy tim óc của mình bị phá hủy trong cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản. Nếu tôi không giết cha tôi thì cha tôi hẳn ông còn sống đến bây giờ. Ông khỏe mạnh, không bệnh tật gì hết.
Cha mẹ tôi sống trong một căn nhà khang trang, có gác thượng, cùng với em trai tôi và tôi. Tôi đang làm việc ở bệnh viện tân sinh, thành viên tích cực của đoàn thanh niên cộng sản, là bác sĩ kiểu mẫu, thậm chí còn được giấy khen của đoàn.
Buổi sáng ngày mười ba tháng tám năm 1966. Phải không? Không, ngày mùng chín thì phải. Cả thành phố náo động vì Vệ binh Đỏ đánh đập các thành phần bị quy là hữu khuynh, trí thức phản động, thì chính trong “quyết nghị mười sáu điểm”, Mao chủ tịch đã minh định đối tượng của cuộc cách mạng vô sản trong điểm thứ nhất là “các phần tử đã xâm nhập đảng, đứng vị trí lãnh đạo nhờ đi theo con đường tư bản và các phần tử trí thức nổi danh đã quảng bá ý thức hệ tư bản”. Chỉ một cái điểm thứ nhất thôi mà thành phố đã náo loạn, bị đập phá. Tôi ngồi trong nhà mà run sợ. Vì tôi là trí thức hành nghề theo học thuật phương Tây thì ắt là hữu khuynh tư bản rồi. Thình lình, cánh cửa nhà cha mẹ tôi bị đạp tung, một đội Vệ binh Đỏ tay cầm gậy gộc xông vào. Chúng dõng dạc tuyên bố gia đình tôi thuộc thành phần trí thức tư sản, rồi xông vào đập phá đồ đạc. Chúng giựt tranh treo tường, đập tủ chén, xô ngã bàn thờ, không còn một thứ gì còn gọi là nguyên vẹn. Thậm chí chiếc áo có thêu kim tuyến của mẹ tôi cũng bị kết là tư sản, chúng lấy kéo cắt nát. Cha mẹ tôi, em trai tôi và tôi nữa bị chúng bắt quì gối ngay giữa phòng trước.

Google images

Sau đó, chúng xởn hết tóc chúng tôi, còng tay và dẫn đi diễu phố. Hết ngày, chúng dẫn về, lấy roi da đánh đập chúng tôi ngất đi rồi mới bỏ đi, không quên khóa trái cửa căn nhà. Gia đình tôi là kẻ thù của nhân dân. Cả thành phố là kẻ thù của nhân dân. Sự căng thẳng khiến đầu tôi căng trướng, không còn tri giác của một vật bình thường nữa.
Trong suốt bốn ngày, chúng tôi không có gì để ăn. Chén bát đã bể hết. Chỉ còn ít mì gói nhai sống. Chúng tôi sợ hãi và đói khát. Sáng sớm hôm sau chúng nó lại tới, lại hành hạ, lại đi diễu phố, lại bị đánh bằng roi da. Trời ơi, đảng ơi…!
Điện đã bị cúp hết. Căn nhà tối mù. Bên ngoài mưa rơi nức nở. Chúng tôi ngồi nghĩ đến cái chết. Phải rồi, sao không chết đi để hết nhục, để bớt đau khổ thấy mình thua cả chó. Chắc là đã quá nửa đêm. Tiếng mưa rơi tê tái quá! Làm sao để tự ải đây? Cha tôi suy nghĩ, mẹ tôi suy nghĩ, còn tôi thì nát óc. Đứa em trai trên gác thượng chắc cũng đang suy nghĩ. Thình lình tôi nhìn thấy con dao rọc giấy ở chân bàn. Bọn Vệ binh Đỏ hẳn đã làm rơi nó. Trời đã gửi thiên sứ xuống. Tạ ơn trời. Tôi là bác sĩ. Tôi biết là nếu động mạch cổ bị cắt thì các mạch máu sẽ ngưng hoạt động và người ta chết tức khắc, chết tức khắc, chắc chắn như thế. Đây là cách chết nhanh nhất và vô phương cứu chữa. Cha mẹ tôi chưa tin hẳn vào lời giải thích của tôi. Người hỏi có đúng là chết dễ như thế không? Tôi phải lấy bằng bác sĩ ra để đảm bảo với người là chắc chắn như thế. Cuối cùng mẹ tôi bảo: “Tạ ơn trời, sao lại dễ thế được. Tạ ơn trời đã ban cho tôi đứa con học ngành y”. Người nói hoài như thế, mắt long lanh sung sướng. Cha tôi bảo: “Con là người duy nhất biết việc, vậy hãy cắt cổ cha mẹ trước rồi hãy tự cắt cổ con”.
Chúng tôi nắm tay nhau ngồi yên lặng trong bóng tối không biết bao lâu nữa. Chúng tôi sắp sửa xa nhau trên cõi đời này chỉ còn đứa em trai tôi sống. Nó chỉ mới mười bốn tuổi chắc không đến nỗi nào. Tôi nhắm chặt mắt, hồi tưởng từng mảnh vụn kỷ niệm giữa tôi và cha mẹ. Cha tôi là họa sĩ suốt đời lao nhọc để nuôi tôi ăn học. Mẹ tôi là người đàn bà đảm đang nuôi tôi khôn lớn. Chỉ vì tôi là bác sĩ nên nhà tôi trở thành kẻ thù của nhân dân, hai người nuôi tôi nên người để tôi đủ kiến thức kết liễu mạng sống. Tôi ngồi như vậy lâu lắm, cha mẹ tôi phải giục giã tôi phải ra tay ngay đi thôi. Trời sắp sáng rồi. Cha tôi bảo: “Con sắp giải phóng sự đau khổ của cha mẹ. Mẹ và cha không chịu được nữa rồi, vệ binh đỏ sắp đến, con ngoan của cha, nào!”
Tôi đứng dậy, lục lọi trong đám đồ đạc ngổn ngang tìm một mẩu giấy và một cây bút. Trong ánh sáng he hé vừa rựng, tôi viết lời cuối cho em trai tôi, giải thích cho nó hiểu, và cũng để cho nó có chỗ dựa vào đó mà không bị ngược đãi vì cái chết của ba chúng tôi.
Chúng tôi là kẻ thù của nhân dân, là rắn độc của cả nước, để tránh cho nhân dân bị nhiễm độc, chúng tôi hạ quyết tâm xa lìa cuộc sống.
Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản muôn năm.
Em thân yêu, xin em hãy dứt khoát đi trên con đường của Đảng, của cách mạng, cha mẹ và anh chỉ là chướng ngại trên đường đi của em mà thôi.
Mao chủ tịch vĩ đại muôn năm.
Chờ tôi viết xong, cha tôi giục tôi hãy ra tay tế độ mẹ tôi trước. Mẹ tôi lại khăng khăng bảo hãy cắt cổ cha tôi trước rồi cắt cổ mẹ sau. Ai cũng muốn nhường phần sung sướng cho người khác vì chết trước thì sớm khỏi phải thấy thêm một cảnh hãi hùng. Sau cùng, cha tôi đầu hàng mẹ tôi, ông đồng ý để tôi cắt cổ trước.
Tôi sờ soạng cổ ông và nắm được mạch máu mạnh mẽ của ông, ngón tay tôi cầm được dòng máu cuồn cuộn của ông như từ thác cao đổ xuống. Tôi đâm đầu nhọn của con dao vào. Một dòng máu nóng hổi phun ra xối xả. vậy mà cha tôi không chết ngay, ông còn hỏi coi thử các mạch máu đã ngưng đập chưa. Tôi đáp với kiến thức của tôi thì không đầy một phút mạch sẽ ngừng. Ông nói phải gì mau hơn nữa. Mẹ tôi hỏi tôi có chắc là sẽ tự cắt cổ mình mà chết không. Tôi trấn an là khi mẹ tôi “đi” rồi, tôi chắc chắn sẽ chết theo. Bà không nói gì nữa, kiên nhẫn ngồi chờ cứ như là tôi sắp sửa chữa bệnh cho bà. Chúng tôi ngồi im lặng cho đến khi đầu cha tôi gục xuống.

Google images

Tôi lại sờ cổ mẹ tôi, nắn nắn, cả sở học của tôi đều bỏ ra trong phút này. Thình lình tiếng đứa em tôi trên gác thượng gào lên khủng khiếp như ma đuổi. Vệ binh Đỏ đã tới. Nó nhảy ba bậc xuống ôm chặt lấy tôi. Tôi biết tôi không thể làm tiếp việc “giải phẫu” được nữa, nên vùng chạy lên lầu, mẹ tôi chạy theo. Tôi ra đến ban công thì Vệ binh Đỏ đã xông vô tới bên dưới. Tôi rú lên một tiếng, nhảy xuống đất. Tôi cố ý cho đầu xuống trước. Xung quanh tôi tiếng la hét hỗn loạn như tiếng quỷ cười.
Câu chuyện như vậy đó. Tôi chỉ còn nhớ là mẹ tôi nhảy theo tôi. Rồi tôi nhắm mắt lại. Thế là hết.
Tôi nhớ đã mở mắt lần đầu, thấy ai đứng quanh như là Vệ binh Đỏ. Rồi mở mắt lần thứ hai thấy nằm giữa cha mẹ tôi. Thì ra chúng tôi đã cùng tới địa ngục. Nhưng không phải may như thế, tôi chỉ bị ảo giác đó thôi. Tôi đang nằm một mình trong bệnh viện. Đầu băng kín, hai chân gãy.
Một tuần sau tôi ra tòa án nhân dân. Tôi bị kết tội giết người và nặng nhất là tội tự ải để tránh bị nhân dân trừng phạt. Tôi bị kết án chung thân và bị đưa vào nhà tù. Hai xương chân gãy lìa, thằng cha bác sĩ bó lại không thẳng, nó để chồng hai khúc xương lên nhau khiến chân tôi bị ngắn đi, rồi băng bột. Thật ra đầu tiên nó dùng một bao cát nặng mười ký để kéo đầu xương gãy dãn ra cho ăn khớp, nhưng khi tôi vô tù, bệnh viện lấy lại bao cát nên hai khớp xương lại thu lại như cũ. Tên bác sĩ cũng không chống đối việc thu hồi bao cát. Tôi chỉ mong là nó không hành nghề bác sĩ nữa. Tôi vẫn chịu đựng được đời tù vì được bảo rằng mẹ tôi vẫn còn sống. Niềm hy vọng được gặp lại mẹ tôi đã giữ cho tôi ráng thở trong suốt mười một năm tù. Nhưng hóa ra người ta đã lừa tôi, thậm chí đứa em tôi còn dối như thế mỗi lần nó đi thăm. Mẹ tôi đã chết, mẹ tôi đã…
Hồng lão kể xong chuyện y tiên sinh, lại chiêu thêm ngụm nước lã. Y tiên sinh cũng như hai lão nhân kia đã mất trí sau khi bị đưa về đây một thời gian ngắn. Hồng lão là người duy nhất còn khỏe mạnh. Hằng buổi tự chèo cái thuyền độc mộc đi câu cá. Cả bốn người sống trong câm lặng, cũng như cái tử thành câm lặng này. Khoảng năm năm trước đây, thành phố bắt đầu vắng bóng người, lớp thì chết vì già, vì bệnh tật, lớp bỏ trốn đi đâu mất biệt. Rốt cuộc chỉ còn Hồng lão và ba “đồng chí” cũng già nua, lọm khọm quên lối về và cũng không biết về đâu, đành ở lại trong cái công trường đã bị nhà nước và thậm chí cả nhân dân cũng không còn nhớ sự hiện diện của nó trên một phần đất hẻo lánh hoang vu ở ngọn Đài sơn.
Bốn kẻ sống sót từ cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản và ba người mới đến chia nhau một nồi cháo loãng hơn nước vo gạo. Hồng tiên sinh chưa bỏ được thói quen hiếu khách tàn dư của giai cấp phong kiến phản động, kẻ thù của giai cấp vô sản bần cố nông bằng cách mang thêm một nồi đất lèo tèo mấy con cá kho nhỏ bằng hai ngón tay chụm lại, trắng nhợt và tanh như còn sống. Hồng tiên sinh lèm nhèm kể:
– Trước cũng có mấy thuyền đến đây…(cắn cái đầu cá nhai bỏm bẻm). Có mấy cô còn xin…ngủ với già nữa để xin tiền…(trái cổ chạy lên chạy xuống), cho dù lão có tiền đi nữa cũng sức đâu…
Hồng tiên sinh chuyển đề tài:
– Có con đường đất, độc nhất, đi chừng năm mươi cây số thì tới làng phố, đông lắm, lão nhớ in như vậy.
Đột nhiên phía cửa có tiếng chân chạy thình thịch, tiếng người la hét “chận lại, chận lại”, tiếng chân chạy ngang qua trước nhà, rồi mất hút. Hải bảo:
– Cường nó chưa bắt được con mực.
Dũng nói:
– Vô phương kiếm ăn ở đây. Thành phố như thế này này..
Hải nói:
– Vào rừng kiếm thử cái gì.
Dũng vái từ biệt Hồng lão, rồi bảo Hải:
– Ừ, đi gần gần thôi. Tôi về thuyền dặn dò rồi về lại với ông.

Google images

Hồng tiên sinh dẫn ra sau núi, ở đó có cái bể xi măng chứa nước ngọt. Nước từ trên núi chảy qua những ống tre bắt từ lưng chừng núi xuống, thật khoái vô cùng khi vừa chiêu ngụm đầu tiên từ cái gáo làm bằng vỏ dừa khô. Chàng bắt chước Dũng, vái Hồng tiên sinh rồi dắt Sương đi theo con đường đất dẫn ra rừng.
Bỗng tiếng Dũng kêu lớn đằng sau:
– Hải ơi, Hải ơi, khoan đã.
Dũng thở hồng hộc, mặt đỏ gay, hấp tấp vẫy. Linh tính báo chuyện chẳng lành, Hải hỏi:
– Gì thế?
– Chiếc thuyền biến mất rồi.
– Cái gì!
Hải lôi Sương chạy theo Dũng ra bờ biển, bãi biển vắng ngắt, chiếc thuyền neo gần bờ đã không còn ở đó nữa. Dũng vò đầu bứt tai, ngửa cổ kêu trời, chửi thề loạn xạ. Rõ ràng là mọi người đều lên bờ hết, sau đó mạnh ai nấy túa đi kiếm ăn. Trước khi Dũng vào nhà Hồng lão, mọi người vẫn còn đó. Dũng nghiến răng bảo Hải:
– Ông nhéo thử coi tôi có nằm mơ không?
Hải cũng nghĩ thế. Chàng nhéo mạnh vào cánh tay Dũng, anh la “ối” một tiếng. Không có thuyền! Trời, và ở lại thành phố ma với bốn lão già. Hải nổi gai ốc. Chiều đang buông dần trên bãi vắng, tiếng chim gọi bầy trong rừng ai oán. Hải đưa ra hai giả thuyết: hoặc là Cảng thấy cuộc hành trình khổ ngoài dự tính; hoặc gã bị áp lực của đồng bọn không muốn đi nữa nên lén lấy thuyền trở về khi không có bọn Dũng. Nhưng còn Cường đâu? Cả ba người bắt tay làm loa, gọi lớn. Tiếng vọng rền cả thành phố nhưng vẫn tuyệt nhiên im lặng. Chắc chắn là Cường còn đâu đây vì anh đuổi con mực chỉ mới vài giờ trước.
– Bây giờ tính sao?
– Bây giờ tình sao?
Hai người cùng hỏi nhau trong khi Sương ngồi thụp xuống, sợ hãi. Hải bảo:
– Ông đi hướng nầy, tôi đi hướng nầy coi chúng nó có núp đâu không? Sương chờ đây nhé.
Sương sợ hãi nhổm dậy quơ tay tìm Hải:
– Không, em đi tìm…
Nàng sực nhớ ra là nàng đã thành người vô dụng. Hải nắm tay Sương đi dọc bãi biển. Gió thổi ù ù, bãi biển hoang lạnh và những tảng đá vô tri. Hy vọng nhìn thấy con thuyền đâu đó tan biến như nắng chiều đang dần sẫm. Hải đi ngược lại con đường cũ, chàng rối trí không biết phải xử trí ra sao nếu phải chờ mãi nơi đây. Bóng đêm đã trùm lên cây, lên cát, lên biển. Không biết bao lâu, Dũng nói, tuyệt vọng:
– Chịu thôi!
Hải đề nghị vào trong phố ngủ qua đêm. Những nóc nhà chìm trong bóng tối như sắp thành những hình thù ma quái. Không gian lạnh lùng ghê rợn. Hải tưởng như tim mình ngừng đập khi từ vũng tối đang dần dà dầy thêm, xẹt ngang những đốm lân tinh ma quái. Thành phố này đã chứa bao nhiêu người chết, hẳn linh hồn oan tử đang trở về rủ rê. Hải muốn trở lại chỗ của Hồng lão nhưng bóng tối càng lúc dầy đặc quá, tựa hồ như bầu trời đang đổ thêm mực, chàng không thể nào nhớ ra mình đã đi đường nào đến. Sương nhắc khẽ:
– Vào nhà này đi.
Hải nhớ sực là bóng tối đã trở thành thế giới của Sương. Nàng đã “ngửi” được một căn nhà trong khi chàng và Dũng còn quờ quạng giữa đường. Họ lần theo bức tường rêu phong ẩm thấp. Tay họ đụng mép giường sắt, chất thép chạm tay như một luồng điện lạnh chạy thốc vào người xuyên lên tận óc. Bỗng từ đâu, tiếng chó tru từng hồi đe dọa. Tiếng u..u..u theo gió xuyên qua những đường vắng vọng lên như tiếng than về từ địa ngục, một địa ngục có thật nơi cõi người.







Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply