Lê Đại Lãng
Post by Sơn râu 8 May 2024

10. Phần 10
Bình xịt thuốc từ tay một gã coi trại xịt thẳng vào người Hải. Chất bột nhão trắng nhớt nhợt có mùi thuốc sát trùng bắn tung tóe lên tóc tai, cứ như đang xát xà phòng. Người tỵ nạn mới đến bị tẩy uế thật kỹ. Nhóm người Hải theo thứ tự đếm số: bảy mươi lăm người tính luôn cả trẻ con. Tên xịt thuốc đặt bình xịt thuốc xuống đất, móc chìa khóa ở thắt lưng đi mở cửa. Gã mặc đồng phục xanh dương đậm, không mang vũ khí, mặt lạnh lùng như con gà cắt hết tiết. Bốn dãy buồng cửa bằng song sắt tròn, tường bằng đá khối sù sì nằm thẳng góc với cửa chính ra vào xuất hiện. Từ sau song sắt, những khuôn mặt xanh úa túa ra, tò mò nhìn bọn người mới đến. Những đôi mắt lo ngại chia sẻ. Căn dãy buồng tối om dù trần nhà rất cao. Những chiếc giường sắt ba tầng kê sát hai bên tường đá đã chật những người đến trước. Chợt một gã quản trại ngoắc Hải khi anh vừa leo lên một tầng ba theo sự bố trí của một buồng trưởng.
– Anh ra đây chúng tôi nhờ.
Gã có khuôn mặt trắng nhão như cái bánh đa ngâm nước. Gã dẫn Hải vô một cái phòng nhỏ, bảo chàng ngồi trên cái ghế xoay trước cái bàn nhỏ. Hải nhún nhún thoải mái.
– Anh ngồi chép hộ tôi danh sách những người mới tới.
Gã nói tiếng Anh không tệ lắm. Gã kéo ghế, móc túi đưa Hải một gói Marlboro vừa mới bóc. Gã bảo: “Cứ hút”. Một tay vừa viết một tay mồi thuốc, Hải hút muốn ngất đi tại chỗ. Người chàng đê mê như sắp lịm dần. Gã quản trại ra vẻ thông cảm:
– Anh cứ giữ luôn gói thuốc.
Có vẻ chán nản với công việc, bắt chuyện Hải. Thì ra gã thuộc sở Phòng Vệ Nhân Dân (Civil Assistant Service), một tổ chức dân sự thành lập để hỗ trợ cho chính quyền trong trường hợp có tai biến lớn. Họ được chính phủ Hồng Kông trưng dụng để coi mấy trại tỵ nạn và không được trả lương. Qua gã, Hải biết trại này tên là Thanh Châu, một trại chuyển tiếp đón “thuyền nhân” – Hải lần đầu nghe người ta gọi mình là thuyền nhân, sau đó thuyền nhân sẽ được chuyển đi chỗ khác. Điều tuyệt vọng mà gã cho Hải biết là bọn chàng đến Hồng Kông quá chậm.
– Là sao? Hải hỏi.
– Là các anh sẽ không được coi là tỵ nạn nữa…
– Chúng tôi…
– Vì kể từ 16 tháng 6, tất cả những người đến trước đó đều được coi là người tỵ nạn. Các anh khác. Rồi các anh sẽ bị Cục Di Dân thẩm vấn thanh lọc, coi có phải tỵ nạn chính trị không, nếu không…tôi không biết…
Hải chỉ đến sau ngày ban hành “chính sách dứt điểm” hai tuần lễ định mệnh. Chàng cười tự tin:
– Tất cả chúng tôi đều là tỵ nạn.
Gã quản trại lại nói “Tôi không biết”. Quả thật, gã không biết thật. Chính sách này mới mẻ và lạ lùng ngay với chính gã. Cái gì mà đến sau ngày đó lại bị coi là boat people? Và chỉ trước một phút lại là refugees? Giữa cái giây khắc mong manh ấy, là cả một định mệnh à! Những người bị cầm chân trên đất Tàu đã bị đói khổ khắc lên đời mình một dấu ấn chối bỏ. Hải hỏi thăm gã danh sách những người đến trước đó. Chàng hy vọng có tên lão Mục và Sương.

Google images
– Họ có thể được đưa thẳng vào đất liền. Tuy nhiên, tôi có thể tìm hộ anh.
Bỗng có tiếng la hét từ một dãy nhà vọng ra. Tiếng chửi rủa tục tĩu, giọng đàn bà the thé, giọng đàn ông cộc cằn. Gã quản trại lật đật chạy đi, lẩm bẩm:
– Lại đánh nhau.
Hải đã chép xong danh sách bảy mươi lăm người cùng thuyền. Bốn chục đàn ông, mười bảy phụ nữ, còn lại là con nít. Mười tám đứa trẻ dưới mười lăm tuổi. Chúng nó cũng là tỵ nạn chứ. Hải bâng khuâng nghĩ. Người ta sẽ dựa vào định nghĩa nào, dựa vào…chàng mù tịt. Chàng mân mê điếu thuốc thơm, chàng nhớ những cữ thuốc lào chia nhau trong một căn nhà tối. Căn phòng chàng đang ngồi cũng mờ đục dưới ngọn đèn trắng. Hơi đá toát ra lạnh lẽo. Hải thèm được ăn, thèm được tắm… bột vôi khử trùng và thuốc tẩy chí rận xịt vào người chàng vẫn còn bám trên người. Gã quản trại đã trở về, vẻ bực dọc hiện lên mặt:
– Anh về buồng được rồi.
Gã đưa Hải đi theo hành lang hẹp, mở khóa cửa buồng lóc cóc, vỗ đầu một đứa bé tì mặt vào song cửa nhìn gã tò mò, rồi đóng cửa máy móc. Chỉ một giây ngắn ngủi, Hải đã ở bên trong cái buồng hôi hám phân người và nước tiểu. Hải leo lên tầng giường ba, nhìn dãy người xếp hàng vào nhà vệ sinh mà ngao ngán.
Những đứa bé nín không nổi, ỉa tòe loe ra nền nhà. Mấy đứa khác bắt chước, cứ vạch quần nhằm chỗ nào không có chân người là đái. Một chị đàn bà tát thằng con trai cởi truồng một cái nảy lửa, quát:
– Mồ tổ mày, cơm đâu mà cứ đòi ăn hử. Con mẹ mày cũng đói nẫu cả người ra đây.
Thằng bé bị tát oan, ré lên the thé. Lập tức, ông bố từ đâu ở giường bên kia phóng về. Ông bố nắm đầu thằng con đẩy chúi vô mấy cái hộp giấy trống để trên giường:
– Tao bảo mầy nín. Nín. Cứ lải nhải tao cho về Việt Nam đấy con ạ.
Thằng bé có vẻ sợ, chỉ còn thút thít nước mũi. Cái bụng lép kẹp đếm đủ hai hàng xương sườn của nó giựt giựt theo tiếng nấc. Phía cuối buồng bỗng một giọng đàn ông la toáng lên:
– Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
Giọng một bà trả đũa:
– Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
– ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
– Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.
Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la giẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địt mẹ, biết thế này ông thèm vào”.
Hải bàng hoàng trước cảnh trại giam mà chàng không hề hình dung trước đó. Những chấn song, hai đầu buồng kín đến cả ánh sáng còn thiếu. Ban sáng tàu cảnh sát chở vào, Hải nhìn thấy chỉ cách đảo non cây số thành phố cảng Hồng Kông cao nghều nghệu những cao ốc. Vậy mà chàng tưởng chừng xa xôi cách trở nghìn trùng. Chàng đang ở dưới chân núi, vách đá dựng cao sững mà nhìn qua song cửa, Hải chỉ thấy phẳng lì màu đá trơ xam xám với kẽm gai chất lớp lớp leo lên tới mút tầm mắt. Suốt đêm Hải nghe tiếng sóng rì rầm đâu đó. Chàng tưởng hòn đảo sắp sửa bị cuốn trôi.

Google images
Người đàn ông mặt mày phương phi trắng trẻo, trạc độ bốn mươi. Cái cần cổ béo ụt của hắn choàng sợi dây chuyền bằng vàng ta đính vào cái tượng Phật ngà voi bọc vàng. Hắn bận bộ vét trắng sang trọng, thắt cà vạt đỏ to bản. Cả bảy mươi lăm người trên thuyền Hải xếp thành hai hàng dọc trước mặt hắn. Đôi mắt một mí him híp của hắn lừ đừ nhìn bọn người quần áo bẩn thỉu. Nhắm chừng bảy mươi lăm mạng người sợ sệt đã thấm cái oai vệ toát ra từ mình, hắn quát, giọng như loa sắt ở Hà Nội:
– Độc thân đứng riêng qua bên này, gia đình đứng qua bên kia.
Mọi người líu ríu đổi vị trí. Một thanh niên ngập ngừng chưa biết đứng theo hàng nào liền bị gã đàn ông tát hai cái “bốp…bốp…”
– Đù mẹ mầy, đứng qua hàng độc thân.
Hai má người thanh niên xui xẻo lằn đỏ dấu tay. Anh sợ sệt nói:
– Bẩm, em có vợ.
Gã đàn ông lại giơ tay lên, tính tát:
– Mả mẹ mầy muốn qua mặt tao hử. Mầy cặp trên thuyền chứ vợ chồng gì. Hôn thú đâu?
Gã đẩy người thanh niên chúi qua hàng độc thân. Hải chụp người thanh niên cho khỏi ngã, nhìn qua dãy gia đình thấy mặt Phú kèn trắng bệch đứng sau lưng vợ. Vợ Phú kèn bồng đứa con gái ba tuổi, sợ muốn ngất liền tại chỗ. Gã đàn ông đi tới đi lui giữa hai hàng như chủ tịch nhà nước duyệt binh. Hắn đi ngang ai là người ấy nhìn xuống đất, chờ hắn qua khỏi mới len lén nhìn trộm. Hắn nói giọng Nam Bộ, tiếng thanh chan chát áp đảo. Thình lình hắn dừng trước một thanh niên khác đứng bên hàng gia đình trợn mắt:
– Qua bên kia.
– Em có vợ con mà. Người thanh niên mặc quần cụt, hai đầu gi run run muốn sụp xuống.
– Đù mẹ mầy lại muốn qua mặt tao hả. Hôn thú đâu?
– Dạ…em…không đem theo.
Gã đàn ông của cục di dân túm ngực áo kẻ xấu số:
– Qua bên kia.
Gã nhấc bổng người thanh niên như xách một con gà. “Toạc…”. cái áo người thanh niên rách toạc. Gã lật đật bỏ người thanh niên xuống, rút khăn mùi soa lau tay cẩn thận, rồi quát liền:
– Qua bên kia, chờ tát vỡ sọ à.
Trong thời gian gã lau tay, một anh có vợ đi theo thật sợ quá, lén nhảy qua phía hàng độc thân. Chị vợ đứng trân bên hàng này, ứa nước mắt. Hai hàng nước mắt lăn lăn làm thành dấu trên bộ mặt chị vợ dơ dáy đen đủi. Dấu nước mắt trên má người đàn bà như hai sợi dây móc từ hàng mi rung động loăng quăng chảy xuống cái cằm tóp nhọp. Gã cà vạt đỏ thình lình chiếu tướng ngay người đàn bà khốn nạn:
– Chị kia chồng đâu?
Người đàn bà không dám nhìn anh chồng vừa lẻn qua hàng nam độc thân, ấp úng nói:
– Dạ…em…độc thân.
– Dzậy qua hàng nữ, đứng làm gì đó hử.
Người đàn bà riu ríu qua hàng nữ. Có lẽ công an Việt cộng cũng chỉ dữ bằng gã béo này. Gã khuỳnh khuỳnh hai tay đi tới đi lui. Bảy lăm con người nín khe sợ sệt. Hải nghĩ thầm, hắn chắc là…an ninh? Chàng cảm thấy bẽ bàng tê tái cả cõi lòng, những hồ hởi phấn khởi khi thấy ánh đèn Hồng Kông tiêu tan như đốm than nhúng vào nước lạnh. Khí thế gã áp đảo quá, thậm chí mấy đứa con nít núp sau cửa sắt cũng co rúm lại, kinh hoàng. Gã béo lại quát lên:
– Đứng yên cả đây chờ tao cho đi mới được đi.
Gã vô văn phòng báo cáo với hai nhân viên Cục Di Dân bằng tiếng Quảng. Gã xoa tay, vẻ khúm núm trước cặp mắt sắc lạnh của sếp. Một chập, gã hùng hổ đi ra nói:
– Nữ đi lối này, nam đi lối kia, gia đình thì vào cả đấy.
Người đàn bà bị bắt làm gái độc thân khóc thút thít, vừa đi vừa ngoái lui. Anh chồng đôi mắt cũng đỏ hoe, cứ theo sức đẩy của người đi sau mà về buồng.

Google images
Sáng hôm sau, Hải được người quản trại thuộc sở Phòng Vệ Nhân Dân CAS cho biết gã béo chỉ là thông ngôn viên cho Cục Di Dân, mục đích đến Thanh Châu để tìm người Đại lục trốn theo thuyền vượt biển vì người Đại lục sẽ bị trả ngay về Trung Quốc. Gã béo trước kia ở Sài Gòn, về Hồng Kông năm 1972 và được tuyển làm thông ngôn khi số người vượt biển đến Hồng Kông càng lúc càng nhiều.
– Chỉ thế thôi ư? Hải hỏi, vừa tức vừa sợ.
– Thì cũng…đồng hương của anh đấy. Gã CAS cười khó hiểu.
– Ai lại…
– Rồi anh sẽ còn gặp nhiều phiền toái nữa. Gã CAS nói, gã không có ý dọa Hải.
Gần một tháng sau thì Hải được lệnh chuyển trại. Chàng lại nuôi hy vọng về cái đời sống bí mật bên ngoài cái vách đá lạnh của Thanh Châu. Hải sợ hãi cuộc sống ở đây. Như những con người nghệ sỹ khác, chàng bàng hoàng trước cảnh đời xôn xao nhiều mặt trái. Chàng co rút người sống trong vỏ ốc. Chàng giấu kín mọi tâm tư ước vọng trong những ngày dài sau tường đá. Dường như không còn gì để nói giữa chàng và Dũng, giữa chàng và người bạn văn nghệ Phú kèn, ngoại trừ chia nhau cái điếu cày khi xin đâu đó được nhúm thuốc lào. Hải chứng kiến những đoàn người rách rưới tả tơi như chàng thi nhau đến Thanh Châu. Mặt mày lơ láo còn nguyên nét kinh hoàng về cuộc hải trình, bộ trình khốn nhọc. Hải có cảm tưởng đôi mắt của đồng bào chàng như đôi mắt của loài thú hoang, vừa loang loáng vừa sợ sệt, vừa hy vọng vừa tuyệt vọng. Những cô gái chân đất, ống quần rách tả tơi, đôi mắt cụp xuống tưởng như cả thế giới này chỉ có mặt đất là đáng chú ý. Có thể đúng như vậy thật. Tiếng khóc ỷ ôi của bầy trẻ thiếu ăn. Đôi tai âm nhạc của chàng chỉ lắng nghe tiếng khóc của đời, của những lạc loài trên đất khách, của những phiền não câm lặng. Có thể nào chàng sinh nhầm thời và chọn lầm nghiệp chăng. Hải bao lần tự hỏi, những bài ca mà chàng ấp ủ ở quê nhà, rồi sẽ được hát to giữa những con người khốn khổ bị bao vây bằng nước mặn và núi xám trùng điệp này chăng?
Hải ra khỏi hành lang hẹp, chóa mắt khi chân đặt lên cầu tàu, lên tàu cảnh sát. Hai bên và trước mặt Hải tàu bè rộn rã, những cao ốc sáng chói dưới ánh mặt trời. Cả một bầu khí sinh động lần lượt diễn ra trước mắt. Những người đi cùng với Hải há hốc mồm, kinh ngạc.
Chỉ non mười lăm phút là chiếc tàu cảnh sát đưa bốn trăm mạng người đến ngay trung tâm Hồng Kông. Hải đi theo đoàn người như máy, leo lên một xe bọc lưới trước những cặp mắt tò mò của người qua đường. Đoàn xe dài hai mươi chiếc nối đuôi nhau chen lách giữa đường phố chật hẹp. So với những chiếc xe chở người chật cứng ở Việt Nam thì loại xe chở tù của Hồng Kông quả thật tử tế. Những đường phố tráng lệ và sự thịnh vượng của đất nước có thể thấy trên khuôn mặt no đủ của người dân. Thậm chí, con đường hầm xuyên dưới biển dẫn qua Cửu Long còn sáng hơn đất nước cực kỳ tối tăm của Hải.
Hơn một tiếng sau, chiếc xe đầu tiên ngừng trước một trại giam giữa lòng đảo Cửu Long. Hải hỏi một nhân viên Cục Cải Huấn:
– A Cố, trại nầy tên gì vậy?
– A Kai – Lẩu – Cái đấy. (trại giam argyle).
Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.
Hải được xếp chung “giường” với một cậu bé chừng mười tuổi. Cậu ta liến thoắng khi Hải vừa ngồi xuống tấm ván:
– Anh mới đến phải không? Em biết từ hôm qua kia đấy.
– Sao em biết?
– Họ báo trưởng buồng chuẩn bị nhận người hôm qua lận. Trước em ở với cặp vợ chồng…
Cậu bé ngập ngừng bỏ lửng. Một chập mới nói:
– Em tên Thơ đấy.
– Anh tên Hải.

Google images
Thơ cười. Khuôn mặt đen nắng, tóc dài chấm vai khiến Thơ có vẻ già trước tuổi. Thơ cởi trần, mặc quần cộc, gia tài của nó là cái ca nhựa màu vàng tươi, một cái muỗng đỏ cũng bằng nhựa, hai thùng mì gói trống, một tấm chăn xám. Nó bảo anh cũng được phát như thế. Hải ngã lưng trên tấm ván thiu thiu ngủ, nghe thằng bé dặn chút xíu để em đi lãnh cơm, anh cứ ngủ đi nhé. Nó có vẻ phấn khởi vì không phải ở chung với cặp vợ chồng nào đó nữa.
Thơ được mẹ đưa xuống thuyền vượt biển ra nước ngoài để “cho tương lai con sáng sủa, mai mốt bảo lãnh thầy mẹ. Thầy mẹ nghe đồn xứ ngoài trọng con nít nên yên tâm để thằng bé đi một mình”. Hai tháng từ ngày xa gia đình đã dạy cho Thơ đủ điều. Thằng bé trưởng thành và hội nhập mau chóng vào thế giới xung quanh. Nó biết cả chuyện chăn gối của người lớn nhờ cặp vợ chồng lục đục cạnh nó vào buổi tối. Nó biết tên những thằng A Xòe hay đánh người trong trại, mấy con “cú lường” ế chồng mặt mụn chỉ chực nhéo tai con nít. Nó còn bày trò đánh nhau với bọn trẻ khác gần một cú lường hắc ám nào đó để xô cho cô ả té ngã trên đường rãnh bẩn nước. Thơ kể mấy chuyện đó với Hải, hả hê và kết luận như một ông lão:
– Em bày trò thế cho đỡ nhớ nhà. Và ở đây chẳng học hành gì cả. Rồi anh coi!
Thằng bé chạy vụt đi. Một người trạc độ bảy mươi tuổi kế giường Hải cười khành khạch. Ông già nửa nằm nửa ngồi, thân hình co rút trong lớp da nhăn nhúm khô như đất. Những đường gân máu trên cổ, trên tay càng khiến ông trông như một người mắc bệnh lao thời kỳ cuối. Mà kìa, ông ho sặc sụa, chĩa mồm qua hỏi Hải khi cơn ho chưa ngớt.
– Ở đâu tới? khục…khục…
– Cháu ở Thanh Châu.
– Tôi cũng ở đấy. Thế chưa vợ con gì hết à?
Hải nói:
– Chưa đi được bác ạ.
– À thế, khủ khủ khủ…e…hèm! Ông chòm xóm ho một hồi, lại bắt chuyện:
– Cậu người Hà Nội à.
– Vâng.
Chợt nhớ ra:
– À, tôi là Thâu, mọi người cứ gọi là Sâu Róm.
Hải nhìn ông Thâu, trông giống một con sâu rọm già không còn cả vỏ để thay da.
– Cẩn thận đấy nhá.
– Sao cơ?
– Thằng bé ở chung với cậu đấy.
– Vâng.
Hải “vâng” nhỏ. Chàng thấy không có điều gì cần cẩn thận với đứa bé con. Chàng hỏi:
– Bác năm nay được bao nhiêu?
– Sáu mốt cậu, chết đến nơi rồi. E hừm.
“Vậy mà sợ đứa nhỏ”, Hải tính nói, lại thôi. Hay là cảnh cáo ông Sâu Róm chỉ là căn bệnh thích như thế của những tâm hồn già? Chợt có tiếng gọi:
– Này bác Sâu Róm ơi!
Người thanh niên đứng me mé trên tấm ván, nháy nháy mắt với ông Sâu Róm. Ông ta bảo khẽ:
– Thằng Thịnh đấy, nó có cái gì cho ăn rồi. Cùng làng tôi cả.
Vẻ mệt nhọc của Sâu Róm biến mất, ông ta nhỏm phắt dậy, kề tai Thịnh nói nhỏ, xong hất hàm ra dấu Hải đi theo. Ba người đi hàng một vì lối đi chỉ bằng dấu chân. Ra khỏi buồng, Thịnh nói:
– Về chỗ tôi chơi. Sát buồng anh đấy.

Google images
Thịnh được phân một mảnh vuông ngay góc buồng. Có lẽ mỗi buồng chỉ có bốn góc sát vách là riêng biệt “kín đáo” nhất. Vợ Thịnh chờ ba người ngồi xuống, kín đáo giở cái khăn đậy đĩa bánh tráng cuốn, Sâu Róm ầm ừ:
– Nhất vợ chồng nhà này đấy nhé. Cái Hà đâu?
– Nó về ngay đấy.
Thịnh đáp, bảo cái Hà là em tôi. Vợ Thịnh cầm một cuốn trao cho Hải, chén nước mắm có dầm cả ớt đỏ coi sâu sắc giàu mạnh như xã hội chủ nghĩa.
Sâu Róm móm mém nhai, hỏi:
– Vợ chồng mầy kiếm đâu ra của tiểu tư sản nầy?
– Ông lại trêu, bộ tiểu tư sản mới có đồ nầy sao?
Thịnh nhai nuốt nhồm nhoàm, vẻ tự tin và hưởng thụ. Thịnh du học ở Tiệp Khắc, đỗ kỹ sư công nghiệp. Về nước thấy đời sống càng tệ hại khi so sánh với Tiệp Khắc, anh chán nản lấy vợ, vẫn cứ chán, quyết định dắt theo cô em gái mười tám tuổi vượt biên. Thịnh hỏi gia cảnh Hải, cắn một miếng cuốn chia buồn, rồi bảo:
– Cái giá của tự do là thế. Cơ bản mà nói vinh quang nào không trả bằng xương máu.
– Mầy bảo thế này là vinh quang à? Sâu Róm há mồm cự, thức ăn còn mắc ở nướu răng.
– Cái gì cũng tương đối thôi. So với bác ngày xưa, cái nầy không vinh quang là gì.
– Ừ phải. Nhưng tao chỉ nông nỗi vì cái thời buổi chó chết này thôi. Ngày xưa tao đâu đến nỗi.
Thịnh đã ăn xong, rút cái khăn treo trên vách chùi mép, bảo vợ pha chè, nói:
– Nói như bác thì còn nói làm gì. Cháu hỏi: thế không có bọn người…như bác, xin lỗi bác nhé, cháu không có ý nói bác đâu, thì nước ta đâu đến nỗi…
– Mầy đổ lỗi…
-…điển hình là Tiệp Khắc ấy, cũng cộng sản như ai, mà nhân dân có khổ như ta đâu.
– Mầy chỉ nói xàm. Tao làm gì mà lôi kéo vô cái tội tày đình ấy. Nói có cậu Hải đây, tôi chỉ là thằng già vô dụng.
– Chính vì thế. Thịnh vỗ tay. Bác tự cho mình là vô dụng, chứ nào phải thế. Cộng sản nó thắng là bởi những người tự cho mình vô dụng.
Sâu Róm đỏ mặt, cười gằn:
– Mầy hay. Thế mầy làm gì được nào? Cũng chạy như tao thôi. Chống đối tiêu cực đấy.
– Đúng thế. Nhưng cháu biết mình sai ngay từ đầu, chứ như bác, mãi…mới biết mình sai. Thế cứ như cải cách ruộng đất đấy, sai rồi sửa sửa rồi sai. Khối người chết.
Sâu Róm tợp ngụm nước, không muốn cãi lý với Thịnh nữa. Trọn đời Sâu Róm chỉ có thần tượng Hồ Chí Minh. Sâu Róm đi theo con đường của Bác, tiến nhanh tiến mạnh xuống vực thẳm. Dù thế, Sâu Róm không bao giờ muốn chối bỏ thần tượng của mình. Bao nhiêu tội lỗi Sâu Róm đổ cả lên đầu hậu duệ của Bác. “Nếu bác còn sống, nhân dân ta đâu đến nỗi nầy”, Sâu Róm lý luận và cố gắng tin như thế để khỏi thấy uổng phí cả đời tin vào huyễn tượng của mình.
Thịnh bồi thêm:
– Cả đời bác, có bao lần ăn được một bữa như thế này nào. Cái đích của con người là cơm áo mặc trước đã, sau đó mới đến cái gọi là tinh thần. Bác cứ đi ngược.
Thịnh mò tay vào túi móc ra đúng ba điếu Marlboro. Anh học cái mốt hút Marlboro của thanh niên Hồng Kông mau chóng. Có lẽ nhờ cái màn ảnh nhỏ trong trại thường xuyên loại thuốc lá nầy. Hải ngạc nhiên:
– Làm sao anh có được?
– Cứ có tiền là có hết à. Nhờ mấy thằng A Cố đấy.

Google images
Vừa lúc đó một cô gái bước lên ván, tay xách đôi dép nhựa mới toanh. Cô khe khẽ đi men theo vách. Thịnh bảo:
– Chừa phần cho em đây. Đi đâu lâu thế.
Sâu Róm như thoát nợ bị Thịnh hạch tội, nói:
– Cái Hà diện đẹp nhỉ. Anh em nhà mầy lại tiểu tư sản.
Hà khép nép gật đầu chào Hải, ngồi xoay mặt vô vách ăn cuốn. Trái tim Hải thắt lại một khắc trước vẻ đẹp lộng lẫy của Hà. Vẻ đẹp của một bông hoa vừa nhú, mơn mởn như loại trái vừa ươm hồng. Bộ bà ba sạch sẽ của Hà nổi bật lên giữa những người còn mặc áo quần đem theo từ Việt Nam. Thịnh nói:
– Bác lại thành kiến. Của Cao ủy cho nó đấy.
Mái tóc Hà lắc lắc về phía Hải theo động tác lên xuống đang ăn. Khói thuốc phả trắng trước mặt Hải, lờn vờn cái lưng cong của cô gái. Cô gái đã ngốn hết mấy cái cuốn, kín đáo chùi mép rồi mới quay lại. Đôi mắt đen không lớn quá, nhìn phớt qua Hải, mỉm cười. Hải thấy lòng chao động thật sự. Chàng vờ nhìn tách chè nhưng lạ lùng thay trong màu nước sóng sánh ấy chỉ thấy chiếc mũi thon nhỏ, đôi môi hồng của cô gái. Hải tự mắng mình: “Rõ khéo, lại…tiếng sét ái tình à. Đâu có dễ thế được”. Hải châm trà từ cái ca nhựa, cố lấy vẻ tự nhiên bằng cách uống ngụm nước đắng. Chàng đặt cái tách xuống, đôi mắt chợt nhìn đúng vào chiếc nhẫn cưới còn đeo tay. Hải đã giữ nó suốt cuộc hải trình. Cái kỷ niệm giữa chàng và Thu. Nỗi ngậm ngùi về người vợ thủy chung xấu số. Những đêm giông bão. Những vì sao vỡ nước trên trời…
Thịnh thình lình hỏi em gái:
– Thế em có biết chừng nào khai trường không?
– Các anh ấy bảo chắc tuần tới. Anh là hiệu trưởng lại hỏi thế.
– Em có được học không?
Hà lắc đầu:
– Em nhớn thế này. Hai anh ấy bảo nhiều lắm chỉ đến lớp 9.
Sâu Róm hỏi:
– Thầy cô giáo sắp xếp như thế nào?
– Cháu nghe còn thiếu thầy phụ trách bộ môn nhạc thôi.
Thịnh reo lên:
– Thì thầy Hải đây này.
– Vậy cơ. Hà cũng reo lên.
– Tôi chẳng hiểu gì cả. Hải nói.
Thịnh giải thích:
– Có hai anh ở nước ngoài về làm thiện nguyện ở trại này. Họ phụ trách công tác giáo dục, kêu gọi bà con cho con em đi học, sắp đặt giáo viên. Coi cũng xôm trò lắm.
Sâu Róm bàn ngang:
– Học với hành gì, sống như thế này.
Hà cãi:
– Bác cứ bảo thế, các em nó bớt nghịch cũng hay chứ, phải không anh…Hải.
– Học được là một vận hội. Hải tiếp ứng.
Sâu Róm nhìn Hải:
– Tôi…đồng ý giá trị của học vấn. Nhưng trong hoàn cảnh thế này tôi chẳng thấy sẽ có vận hội gì…
Hải nói:
– Chỉ sợ người làm công tác giáo dục không được khích lệ và đánh giá đúng mức vai trò của mình.
– Ừ thế, làm công tác văn hóa mà lại.
– Bác nói sao?
– Thì giáo viên là người có văn hóa, đem văn hóa…
– Không…hẹp như thế đâu bác. Hải cắt lời Sâu Róm. Giáo dục chỉ là một trong nhiều khía cạnh của đời sống, văn hóa không phải chỉ có giáo dục.

Google images
– Cậu nói sao lạ. Tôi lấy thí dụ nhé: trong tờ khai sơ yếu lý lịch của mọi người, có câu “Trình độ văn hóa”, vậy chứ cậu ghi làm sao ở đấy?
– Cháu sổ toẹt. Trình độ văn hóa mà ghi lớp mấy, hay trình độ đại học, văn bằng vân vân thì hẹp hòi quá. Đi cày cũng là văn hóa vậy, thậm chí, xin lỗi bác, đi ỉa đồng cũng là văn hóa…
Thịnh cắt:
– Ông nói tôi nghe được đấy. Nhưng thôi, để khi khác. Tôi phải đi họp với anh em buồng trưởng.
Thịnh đứng dậy trong khi Hà cứ cười rúc rích khiến Hải bỗng dưng ngượng vì câu nói… “văn hóa” của mình. Chàng chào Hà với vợ Thịnh, đi qua buồng bên cạnh tìm Dũng. Đợt chuyển trại chỉ có Dũng là quen biết, Phú kèn còn ở lại, nghe nói sẽ chuyển về Chi Ma Wuan. Riêng Mân, có lẽ còn ở Thanh Châu. Hải không hiểu cùng chung thuyền mà bọn chàng bị cắt đi làm nhiều mảnh.
Tiếng loa sắt gắn đầu buồng đọc tên người dồn dập, rộn ràng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.