Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessnger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 9 May 2024

Tiểu sử

Tên thật là Nguyễn Thụy Long sinh ngày 9/8/1938 tại Hà Nội (Bắc Việt). Sống qua thời thơ ấu ở núi rừng Việt Bắc cùng lúc với cuộc kháng chiến của toàn dân Việt Nam chống ách đô hộ của Pháp. Khi chế độ Cộng Sản manh nha thành hình, Nguyễn Thụy long theo gia đình hồi cư về Hà Nội, sau đó vào miền Nam trước hiệp định Geneve hai năm (1952).

Theo học trường Thiếu Sinh Quân nhưng rồi lại bỏ binh nghiệp sau khi thân phụ mất. Theo học tiếp tục những năm trung học tại Sài Gòn, Cao Đẵng Mỹ Thuật rồi lại bỏ học đi lính khi gia đình gặp chuyện khổ, ly tán. Sau năm năm quân đội, đào ngũ tù tội ra khỏi tù sống những ngày lang thang ở nơi hạ lưu của xã hội. Vì vậy bối cảnh trong những tác phẩm của Nguyễn Thụy Long sau này hầu hết hình thành qua những đ0ời sống mà tác giả đã sống qua. Tác phẩm đầu tiên của tác giả được ấn hành là tập truyện Vác Ngà Voi. Sau đó ra tiếp theo hàng loạt tác phẩm. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả là Loan Mắt Nhung hiện vẫn tiếp tục sáng tác.

Quan niệm về truyện ngắn

Tôi khởi sự viết văn bằng truyện ngắn. Nhưng không phải vì vậy mà tôi đồng ý với một số người cho là viết truyện ngắn dễ hơn viết truyện dài. Trái lại nửa là khác, cho đến bây giờ tôi đã có hơn ba chục cuốn truyện dài đã được xuất bản, vậy mà tôi vẫn còn nao nức sung sướng khi hoàn tất được một truyện ngắn khá ưng ý. Tôi cũng không đồng ý một số người cho rằng truyện ngắn là một số đoạn của truyện dài cắt ra hoặc nói một cách khác là truyện dài do nhiều truyện ngắn góp nhặt lại. Theo tôi, truyện dài và truyện ngắn thuộc hai lãnh vực khác hẳn nhau. Mỗi loại có nghệ thuật riêng của nó.

Mỗi một truyện ngắn theo đúng nghĩa của nó là một truyện khác biệt, không thể một truyện ngắn này giống truyện ngắn khác. Truyện ngắn còn là bước khởi đầu của một nhà văn và một nhà văn suốt một đời viết văn vẫn còn cái thèm muốn khi viết được một truyện ngắn ưng ý.

Về truyện ngắn “Ngày Tháng Buồn Hơn”

Chiến tranh Việt Nam mỗi một nhà văn nhìn theo một khía cạnh khác nhau. Dĩ nhiên chiến tranh phải có súng nổ, bom rơi, tàn phá và người chết. Có những nhà văn viết thuần túy về những tiếng động ồn ào ấy.  Nhưng không phải chỉ những nhà văn ấy mới đủ thẩm quyền viết về chiến tranh. Tất cả mọi nhà văn đều có quyền viết về chiến tranh Việt Nam. Mỗi nhà văn nhìn chiến tranh qua khía cạnh riêng của mình. Ngày khởi đầu lại cuộc chiến tại Việt Nam sau hiệp định Geneve tôi đã để ý đến chiến tranh tái phát. Nhưng tôi để ý và qaun sát theo lối riêng của tôi. Không có một tiếng nổ nào, nhưng tôi nhìn thấy chiến tranh ở đó. Ngay cổng xe lửa ở giữa thành phố này. Nỗi buồn của ông xếp ga, của đám trẻ nhỏ nghịch ngợm. Ở quán cà phê đầu đường. Chiến tranh rồi đó và ngay thời gian đó người ta đã mơ tưởng đến ngày ngưng tiếng súng. Ngày mà những chuyến xe lửa khởi hành vào lúc năm giờ sáng.

Google images

18. Ngày tháng buồn hơn

Ông xếp ga Hai Thợ thức giấc vào khoảng năm giờ sáng. Ông quơ tay sang bên cạnh, chị vợ mập ú của ông đã ra khỏi giường từ bao giờ. Ánh lửa từ dưới bếp hắt lên, có lẽ chị đang nấu nước dưới đó. Hai Thợ nhìn ra cửa sổ chấn song, trời còn tối.  Ngọn đèn đường vàng vọt chiếu hắt qua tàn cây trứng cá rọi vào vuông cửa thú ánh sáng nhấp nhá lay động trên tấm màn ngã mầu nước dưa. Phía ngoài đường tiếng xe cộ chạy rầm rầm sinh hoạt bắt đầu nhộn nhịp sau giờ giới nghiêm. Hai Thợ nằm ngữa nhìn lên đỉnh mùng, người lão ta hơi mền mệt nhưng hai mắt lại mở toang. Thói quen từ bao nhiêu năm nay đã làm Hai Thợ dậy rất đúng giờ. Bốn giờ ba mươi mỗi sáng. Cách đây không lâu khi đường chưa bị nghẹn khoảng giờ này lại có một chuyến xe lửa dài thậm thượt chạy qua. Hai Thợ vụt dậy khi hồi chuông báo ở trạm trước rung lên. Lão chạy ra cây chắn ngang đường cầm chiếc đèn có mặt kiếng đỏ quơ qua quơ lại chắn xe. Trong khi Hai Thợ vít cần chắn bên này. Chị vợ cũng giúp chồng hạ cây chắn bên kia. Chiếc xe lửa từ phía xa lù lù tiến lại hú lên một hồi còi dài. Sức nặng của chuyến tàu làm rung chuyển cả một vùng đất. Khói đen lẩn lộn bụi than đỏ thổi bạt về phía sau trong bầu trời nhờ nhờ sáng. Mùi khói than khét lẹt tỏa rộng trong không khí tươi mát. Chuyến xe lửa hú còi lên rồi lao xao, xầm xập trên đường sắt, ánh đèn pha gắn phía đầu tàu sáng chói soi rõ từng viên sỏi trên đường đang rung lên bần bật, những căn nhà lá làm tun hút theo đường tàu sáng tỏa rộng như nhát chổi khổng lồ cản bóng tối phía trước mặt hắt khỏi con đường sắt dài vô tận dưới hầm đầu máy lò than cháy đỏ rực, bụi than tia ra tạt về phía sau. Từ những cửa sổ toa tàu đèn còn sáng, những khuôn mặt thò ra nhìn xuống thành phố, những bàn tay vảy lia gửi xuống đám người không quen biết đứng sau cây chắn. Chuyến tàu dài thậm thượt trôi qua. Hai cây chắn đường được thả cho đứng thẳng lên trời. Những chiếc xe rú ga ngược chiều nhau lao trên đường nhựa như nguồn nước lớn vừa bị vỡ ra ở một bờ đê.

Hai Thợ không quên tháo cây đèn có bốn mặt kính màu ra khỏi cây chắn. Sau khi tắt đèn cất vào nhà lão thủng thẳng ra khỏi quán cà phê phía góc đường như một người nhàn hạ. Trời dần dần sáng rõ. Hai Thợ điểm tâm một dĩa cơm tấm, nhâm nhi một ly cà phê đen nhỏ với điếu thuốc Bastos đỏ. Lúc đó Chín Vè, một người bạn già cùng xóm với Hai Thọ cũng ra ngồi quán. Hai người ngồi chung một bàn và nói chuyện trời đất với nhau cho tới khi trời sáng bạch mới chia tay nhau ai về nhà nấy. Hai Thợ về nhà nằm ngửa trên giường vổ bụng ê a ca vọng vổ, lúc đó chị vợ đã xách giỏ đi chợ. Cuộc sống đời vợ chồng Hai Thợ bình thản trôi qua. Cả hai tóc đã ngã màu tiêu mà vẫn chưa có nổi một móng con nào. Hai Thợ nghĩ rằng ông Trời phạt mình vì cái tội ghét con nít. Thật thế Hai Thợ không thể nào hình dung ra nào đứa con của mình lại giuống bọn nhãi ranh ở khu này. Chúng nó như những đúa con hoang bị cha mẹ ném ra đường một cách vô tội vạ. Chúng ăn nói hỗn hào, chửi thề văng tục. Mỗi khi chuyến tàu chạy ngang qua, Hai Thợ lại rát cổ hò hét. Hai Thợ chịu khổ với bọn chúng. Lão thầm nghĩ nếu ta có con đứa bé không thể nào giống được bất cứ đứa nào  trong bọn con nít này. Ta phải giáo dục nó. Rồi cho đi học. Bắt buộc nó phải nên người.

Nhưng điều ao ước đó chỉ là ảo tưởng. Nhiều khi Hai Thợ cảm thấy cô đơn, lão chép miệng thở dài, ta bạc phước. Nằm mãi trên giường cũng chán, Hai Thợ trở dậy cuộn mùng mền rồi trở xuống nhà dưới. Chị vợ ngồi bên bếp lửa, cời những cục than đỏ rực trong lò cho thêm hồng. Nghe tiếng động chị hỏi:

_Ba nó dậy làm chi sớm quá vậy?

Google images

Không có con, vợ chồng Hai Thợ vẫn kêu nhau bằng “Ba nó” hoặc “Má nó” choi thêm ấm cúng.

Hai Thợ dơ tay lên che miệng ngáp:

_Không ngủ được thì dậy chớ nằm hoài sao?

Chị vợ nói dấm dẳng:

_Không có việc thì ngủ cho khỏe xác, hơi sức đâu sáng nào cũng mò mẫm.

_Ở đấy mà khỏe, thất nghiệp đến nơi rồi. Sở Hỏa Xa đâu có phải như mình nằm ăn không hoài. Còn Má nó dậy sớm làm chi vậy?

Chị vớ ú ớ một hồi rồi thấp giọng trả lời:

_Bởi tôi quen rồi

Hai Thợ hứ một tiếng rồi bỏ ra ngoài.

Quán cà phê Thọ sứt mỗi buổi sáng vào giờ này đều đông khách. Đèn đã tắt cho đỡ hao điện nên ánh sáng trở nên nhá nhem, nhưng ấm cúng.  Những khách hang có cảm tưởng gần gũi nhau hơn trong câu chuyện, bên ly cà phê, hơi thuốc. Khói thuốc nhòa nhòa bay trong một chu vi hẹp làm chiếc quán nhỏ trở nên mờ ảo như được bao phủ một lớp sương mỏng. Hai Thợ bước vào quán vừa dịp Chín Vè bàn đến chuyện chiến tranh đang bùng nổ tại Trung Đông giữa Do Thái với Ả Rập. Nhìn thấy Hai Thợ, Chín Vè vui vẽ dơ tay vẫy:

_Vô đây nhập cuộc với bọn này anh Hai

Hai Thợ cà rà tới kéo ghế ngồi. Chín Vè chìa tay giới thiệu thanh niên với Hai Thợ:

_Xin giới thiệu với anh đây là thằng Ngọn, con rễ tương lai của tôi, nó mới được phép về chơi hồi hôm.

Chín Vè quay sang Hai Thợ:

_Còn đây là anh Hai xếp ga, ở căn nhà ngoài đường tàu.

Hai Thợ đưa tay ra bắt tay gã thanh niên. Ngọn nắm lấy tay lão cúi đầu một cách lễ phép. Bàn tay hắn to chai nhưng ấm áp. Hai Thợ bỗng có thiện cảm với hắn, lão bèn hỏi một câu:

_Chú em được dìa phép bao lâu?

_Dạ, một nửa phép thường niên bảy ngày.

_Về lo cưới vợ hả?

Ngọn cười, chiếc răng vàng bóng loáng lộ cuối môi trái:

_Dạ đâu có, cháu tính để cuối năm, bởi cháu cứ phải đi hoài nên chưa tính đâu ra đâu hết.

Chín Vè cướp lời con rễ tương lai:

_Ấy tui biểu nó hoài, thời buổi này, trường hợp nó biết lúc nào rãnh được. Cưới thì cưới cái rụp cho xong rồi nó đi đâu thì đi. Vợ chồng già này bộ nuôi không nổi con vợ nó sao?

Hai Thợ kêu ly “xây chừng”. Khi cà phê được bưng ra lão quậy đường và hớp một hớp nhỏ. Đặt ly xuống, lão chép miệng, đưa điếu thuốc, rít nốt điếu thuốc đã cháy gần đến ngón tay và dụi tắt vào cạnh bàn gỗ:

_Anh Chín bàn vậy phải đó chú em, thời buổi này làm gì cũng phải lè lẹ cho ăn chắc.

Ngọn nhìn tàn thuốc chưa tắt hẳn ở góc bàn, một sợi khói ngún lên ở đó, uốn éo rồi mất hút, hắn thấp giọng:

_Dạ, dạ, cháu cũng mong lắm, trước sau gì cũng phải lấy nhau, cháu thương con Lan, cháu cũng muốn cho.. xong đi, nhưng..cháu..mắc kẹt.

_Ủa, mắc kẹt gì?

_Dạ..mắc kẹt tiền cưới.

Hai Thợ buột miệng:

_A…

Chín Vè sợ ông bạn già hiểu lầm mình cậy có con gái đẹp nên làm khói dễ thằng rễ tương lai chi đó, nên phân bua một cách gay gắt:

_Tao cho không mày con lam chớ có bày đặt tiền cưới xin gì với mày đâu mà mày “gài” tao câu ác nhơn thất đức đó quá mạng vậy?

Biết mình lỡ lời với ông bố vợ tương lai, Ngọn bối rối cắt nghĩa:

_Ba hiểu lầm lời con nói rồi. Con biết ba má thương không đòi hỏi gì con. Nhưng dẫu sao con cũng phải lo được năm mười ngàn đồng để làm bữa nhậu sơ sài mời bà con lối xóm. Chớ khi không…

Hai Thợ cướp lời:

_Cháu tính vậy cũng phải nhưng thời buổi này làm sao xong thì thôi. Câu chuyện xoay quanh việc vợ con của Ngọn một hồi cả ba vô tình xoay sang một đề tài khác. Hai Thợ khề khà hỏi:

_Vậy chớ lon cánh gà vàng vàng trắng trắng cháu mang ở cánh tay là cái cấp bực gì vậy?

_Dạ hạ sĩ nhất.

Chín Vè nhanh nhẩu cắt nghĩa cho Hai Thợ.

_Hạ sĩ nhất tiếng Tây kêu là cặp bò rằng đó anh không biết sao?

Hai Thợ không hiểu cặp bò rằng là cái gì nhưng cũng cứ gật đầu lia lịa:

_Xếp hả,cha,coi bộ thằng rễ của anh còn ít tuổi mà đã được chức tước cao vậy đó sao. Chu cha, chắc chiến công nhiều lắm hả?

Google images

_Ngọn cười khiêm nhượng. Chín Vè thì đầy lòng hãnh diện, mũi hỉnh lên:

_Bô anh không thấy huy chương đầy ngực nó sao?

Hai Thợ trố mắt nhìn:

_Mề đay ấy hả, đâu, y cái đỏ đỏ xanh xanh..

Chín Vè cao hứng:

_Ừa, chớ còn cái gì, mỗi cái khuôn vàng nho nhỏ là chiến công máu lửa đó, lu bù thần tượng chiến công mà.

Hai Thợ nhìn Ngọn đầy vẽ khâm phục. Chín Vè tiếp:

_Bắc Đẩu bội tinh, Anh Dũng bội tinh, Chiến Công bội tinh, ối lu bù, trai thời loạn mà anh Hai.

Hai Thợ lại bắt đầu để ý đến sợi dây bện như xoay chảo bỏ long thòng bên vai Ngọn hình đầu con cọp màu vàng. Chín Vè cắt nghĩa luôn:

_Dây chiến thắng đó

_Còn con cọp?

_À, cái đó là “nhãn hiệu” lính Biệt Động Quân. Hạ sĩ nhất Ngọn phì cười, hắn vui lây cái vui của ông bố vợ tương lai. Hắn cắt nghĩa lại lời của ông già vợ cho đúng:

_Dạ phù hiệu Biệt Động Quân, tiểu đoàn Cọp Ba Đầu Rằn.

_Cha nghe tên đã thấy ớn xương sống rồi.

Google images

Hai Thợ càng trở nên khâm phục thằng rễ tương lai của Chín Vè. Chín Vè cao hứng khoe luôn:

_Ngày xưa tôi cũng là lính đó chứ bộ. Lính hồi đó khó lắm, học về súng ống rặt bằng tiếng Tây thôi hà. Cha 10 năm lính mà tôi chỉ bò lên được chức bếp thôi. Nếu tôi ở lính đến giờ thì hạng bét ra cũng phải được chúc úy, chức tá, chớ đâu có nghèo mạt rệp như ngày nay, cũng chỉ bởi tại má bầy trẻ bắt tôi cắt đứt binh nghiệp, lâu lâu nghĩ lại tôi tiếc hùi hụi.

_Ở lính anh có đi trận không?

_Hồi đó thái bình mà, tôi giữ chức huấn luyện vũ khí cho bọn lính mới. Bọn lính mới ngu như con bò, có mấy câu tiếng Tây mà cũng không thuộc. Nè, bác coi có mấy câu học về khẩu súng trường Đông Dương chỉ có mấy câu thôi: Lơ phú dình anh dó thiên hoa, sỡ dĩ vĩ dằng ăng xít bạc ti bằng thi bành  mà cũng không thuộc nữa.

Hai Thợ và hạ sĩ nhất Ngọn phát cười ngất. Dứt hồi cười, Hai Thợ nói:

_Tôi nghe cũng đến chịu luôn.

Chín Vè nhìn hai người lơ láo:

_Khó gì đâu bác. Tôi cắt nghĩa ra tiếng Việt cái một, cây súng trường Đông Dương chia ra làm sáu bộ phận chính. Vậy thôi.

Nói xong Chín Vè lật ngữa bàn tay nhịp nhịp trước mặt. Từ nãy hạ sĩ nhất Ngọn chỉ ngồi cười mãi tới bây giờ hắn mới lên tiếng:

_Mỗi người có một nghề, như nghề bác Hai đây con với ba đâu biết được các “bí quyết”.

Hai Thợ khiêm nhượng:

_Nghề tôi có chi khó đâu, nâng cần chắn lên, hạ xuống là xong hà. Đứa con nít cũng làm được.

Chiều sắp Tết, Hai Thợ đi theo đường xe lửa, lão thấy buồn bã vô cùng. Lão bổng thấy cuộc đời lão trở nên vô vị. Ánh nắng thật mong manh dãi trên những mái nhà tôn dọc theo đường tàu xe lửa con đường uốn vòng xa ngút mắt. Lão đứng tần ngần ở trước cây chắn, lão cuối xuống nói nhỏ:

_Mới hôm nào còn đây mà nay đã ngủm rồi, cuộc đời chẳng biết ra sao!

Hai Thợ vừa ở nhà ông bạn già Chín Vè ra, đứa con gái của Chín Vè ngồi khóc ở một góc nhà. Chín Vè nói với Hai Thợ:

_Tôi không biết làm sao, con nhỏ này khóc suốt ngày hôm nay. Từ lúc bạn thằng Ngọn về báo tin nó đã tử trận.

Nói xong lão thở dài sườn sượt quay mặt nhìn ra ngoài đường tàu. Hai Thợ cũng ngồi thở dài bâng quơ. Lão biết lão có an ủi gì thêm cũng bằng thừa. Tốt hơn cứ để cho đứa con gái khóc, có thể nó sẽ nguôi ngoai đi phần nào nổi khổ tâm. Hãy nhìn vào cái bụng nó, cái bụng nây nẩy của người đàn bà mang thai. Hai Thợ hiểu nỗi khổ tâm của người bạn già hơn ai hết. Sẽ chẳng có một sự bồi thường nào vì hai đứa chưa chính thức làm vợ chồng. Một đời con gái..

Nắng nhạt màu dần Hai Thợ ngồi xướng đường tàu, lão sớ tay lên con đường sắt song song chạy dài gần sét rỉ. Trước kia nó nhẳn bóng ông từng mỏi miệng hò hét bọn nhãi con trong xóm nghịch ngợm mang những nút chai bia xếp dọc theo đường sắt ngồi chờ chuyến xe dài thậm thượt chạy qua cán dẹp mỏng dính, sắc lem lẻm. Vậy mà thời gian này, lũ trẻ không còn gì để nghịch ngợm, chơi đùa ở đường sắt nửa. cách đây nít lâu, một đứa trẻ ôm đến một đống nút chai bai đến bày trên đường sắt vào trước giờ xe chạy, nó chờ hoài hủy đôi mắt dõi về cuối đường sắt xa tít tắp. Chuyến xe không tới, trời nhọ mặt người, thằng nhỏ uể oải đứng dậy tính thu xếp đống nút chai bia để ra về. Ông xếp ga bỗng thấy mình buồn lây với nỗi buồn của đứa nhỏ. Ông xách hai chiếc búa ra đứng sau lưng nó:

_Khoan về cháu!

Đứa nó ngước lên, nó ngạc nhiên vì lần đầu tiên ông xếp ga già nói được một câu dịu dàng với nó. Ông cầm lên một cái nút bia, bóc cái lõi bằng li-e ở bên trong ném đi, ông trao cho thằng nhỏ một cái búa.

_Cháu ngồi đây đập nút phéng với tao, đường sắt cứng thay cho chiếc đe tốt chán.

Thằng nhỏ bạo dạn thủ thỉ:

_Hồi trước có xe lửa chạy ngang tụi cháu đâu phải bóc cái lõi. Một chuyến xe chạy qua là cái lõi nát nghiến. Nút phén phẵng lì. Đập bằng búa chưa chắc đẹp bằng, ông có tin vậy?

Hai Thợ gật đầu:

_Ông tin chứ:

_Dầu sao thì máy móc “ngon lành” hơn.

Những tiếng đập chan chat đều đều trên đường sắt. Đứa nhỏ vừa đập vừa nhìn ra cuối đường sắt:

_Bao giờ xe lửa mới lại chạy qua đây hả ông?

Hai Thợ lắc đầu:

_Ai biết được

Đứa nhỏ hỏi tới:

_Bộ “lịnh” cấm sao ông?

Ông già nhìn đứa bé trong bóng tối nhờ nhờ khuôn mặt ông nổi những nếp nhăn hầu như bị xóa nhòa vầng trán hẹp. Ông lắc đầu:

_Không phải, tại Việt Cộng phá hoại.

Đứa nhỏ ngây thơ hỏi:

_Việt Cộng là ai mà lại dữ vậy ông?

Hai Thợ ngẫm nghĩ một hồi, lão cố moi óc tìm một giải thích thật giản dị:

_À..à.. cái tụi mà đặt lát-tích nổ chết bao nhiêu người đó.

Đứa nhỏ vừa nói vừa reo lên:

_Vậy hả? Cha, hôm tụi nó còn liệng lự đạn ở Sài Gòn đó ông. Phải bọn đó không?

Hai Thợ gục gặt cái đầu:

_Thì bọn đó chớ còn ai vô đây nữa, tụi nó không phải chỉ có lựu đạn không đâu, tụi nó còn đặt mìn ở đường tàu cho lật xe hỏa kia. Chết biết bao nhiêu người. Sợ nguy hiểm cho người vô tội nên hồi này xe lửa mới ít chạy. Lâu lâu có một chuyến.

_Hôm qua bằng giờ này cháu thấy có chuyến xe chạy qua, cháu nghi hôm nay nó lại chạy nữa nên cháu mang hết nút phéng ra đây, đâu có dè.

_Mà tụi cháu lấy nút phéng làm chi vậy?

_Để chơi để bán lấy tiền mua cà-lem ăn.

Hai Thợ liệng cái nút phéng xuống đường sắt kêu đến beng:

_Điên à! ai mà mua đồ quỷ này.

_Trời! Ông đâu có biết. Mắc lắm đó ông, một đồng trước kia mười cái nút phéng; bây giờ một đồng có năm cái thôi. Nhưng phải là cái thứ xe lửa cán kia. Còn đập bằng búa thì rẽ mạt hà ông. Một đồng hai chục cái dách còn ai thèm mua.

Hai Thợ hỏi tới:

_Mà tụi bây bán cho ai vậy cà?

_Mấy thằng nhỏ con nhà giàu. Tụi cháu chơi thảy đáo.

Hai Thợ đập một nhát búa chót lên nút chai đã phẳng ho lên một tiếng:

_Ờ tao đâu có dè.

Thằng bé thủ thỉ tâm sự:

_Ở nhà cháu có cả thùng nút phéng mà chưa cán, cháu chờ cho lúc có chuyến xe. Khi nào có ông cho cháu biết nhe, đừng nói với bọn bạn cháu nghe.

_Ai?

_Mấy thằng đi chơi với cháu đó

_Nói thì đã sao?

Đứa nhỏ nhoẻn miệng cười, nó có một chiếc răng cửa sún, nên trong miệng tối om nó nói như thì thầm:

_Chỉ mình cháu có mới bán mắc được, đồ “quí” mà ông.

Hai Thợ  nhìn vào khuôn mặt sớm ranh mãnh của đứa trẻ. Lão thầm nói: Mày ranh thật, mới nứt mắt ra đã biết đầu cơ rồi. Nhưng ông cũng gật đầu:

_Được, khi nào có xe tao sẽ kêu mày

Đứa bé thu dọn những đồng phéng nhét đầy hai túi quần, đứng dậy, nó không quên dặn:

_Cháu là Tót nghe ông, Tót sún!

_Ờ! Ờ

_Nhà cháu ở bên kia đường tàu. Đó là cái nhà có cáo sáo xanh trước cửa. Ông chạy qua nhấp nháy mà. Chịu hôn?

Đứa nhỏ chỉ tay, Hai Thợ nhìn theo.

_Được nhưng ngộ lỡ khi có chuyến xe tao kiếm mày không có nhà thì sao?

Đúa nhỏ đứng ngẩn mặt ra.

_Ờ! Ờ! Quên mất, lại còn cái vụ đó nửa, kẹt rồi.

Đôi mắt nó bỗng sáng lên:

_Hay thế này cháu mang thùng nút phéng sang gởi ông, khi nào có chuyến xe ông cán dùm cháu?

Hai Thợ trả lời ngay:

_Không được đâu mày ơi! Con mụ vợ tao dữ như bà chằng, thấy đống đó nó liệng vô thùng rác tao mất công đền mày

Đứa nhỏ ngẩn ngơ nó suy nghĩ một hồi rồi hỏi:

_Ông biết ở đâu có xe lửa còn chạy không?

_Trên ga Sài Gòn còn ít chuyến.

_Xa quá!

_Nhưng cháu cũng không vô được đâu, vì vào ga là phải mua giấy rồi. Vã lại cháu không thể tới gần đường tàu.

_Sao vậy, cháu canh đúng lắm mà ông?

_Lính nghi cháu tới đường đặt lát-tích thì sao?

Đứa nhỏ le lưỡi:

_Thôi ngán rồi, người ta tưởng Việt Cộng thì thấy mẹ luôn!

_Pum! Pum!

Hai Thợ dí một ngón tay vào be sườn thằng nhỏ. Lão giúp nó một tay thu dọn nút phéng:

_Thôi tối rồi cháu về nghe.

_Dạ, cháu dìa..

Đứa nhỏ bước qua đường tàu ngoắc một tay lại vẫy Bai! Bai! Hai Thợ cũng giơ tay vẫy lại.

Buổi chiều chầm chậm xuống con đường nhòe nhoẹt bóng tối. Hai Thợ thở dài, lão sờ tay lên cằm. Những sợi râu mọc ra tua tủa.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply