Đáy địa ngục

Chương 1: Bài học đầu tiên

Phần 3

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 9 May 2024

Thời gian lướt trôi, ngày rồi đêm, tôi chưa nhìn thấy tia hy vọng nào báo trước việc học tập cải tạo sớm được thực hiện. Mỗi ngày qua đi đều nhạt nhẽo vô vị. Tôi không muốn nhìn, muốn thấy những chiếc nón cối, những bộ đồ trận nhầu nát, những đôi dép lốp thô kệch, chậm tiến, cũng phải nghe những câu nói ngọng L thành N. 99% tụi Việt Cộng, đều nói ngọng và cách phát âm của họ nghe nặng nề, nhức nhối, mở miệng ra là Cách Mạng, Đảng và Nhà Nước!

Sau bữa cơm chiều, mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng, ngong ngóng chờ đến giờ đi coi ciné. Tôi nhìn ai cũng bảnh bao hơn ngày thường. Chắc họ cho vấn đề đi coi ciné tối nay là niềm ưu ái của kẻ thắng trận đối với người thua trận! Thế mới hay, con người có thể thích hợp với mọi hoàn cảnh, nếu hoàn cảnh buộc như vậy! Trước kia, Miền Nam có những rạp ciné sang trọng, hầu hết đều trang bị máy điều hòa không khí, mà còn chẳng mấy khi đi. Nay đi xem phim ngoài trời, ngồi đất, súng AK vây quanh, chẳng hiểu sao, có nhiều người náo nức? Có lẽ quá buồn, họ muốn tìm ít phút để lãng quên cuộc sống tủi nhục này chăng?

Tên cán bộ quản giáo từ phía bên kia đường băng qua. Chiếc nón cối đội sụp xuống gần mắt. Hai bàn tay hắn vung vẫy như hai chiếc bơi chèo. Từ ngày đi học tập cải tạo, tôi chưa nhìn thấy tên bộ đội nào đeo quân hàm, ngoại trừ tên Thiếu úy ở trường Don Bosco. Nhưng có thể phân biệt được giữa cấp sĩ quan và binh sĩ qua khẩu súng ngắn hay dài. Điều làm tôi ngạc nhiên nữa, không bao giờ họ chào nhau theo quân kỷ của một quân đội có tổ chúc. Tất cả đều ngang hàng. Một hôm đi lao động dọn cỏ, tôi chứng kiến vụ hai tên bộ đội cãi nhau vì chiếc ghế. Một muốn lấy đi, một giữ lại!

– Tôi nói cho đồng chí biết, tôi “nà” Cách Mạng, cái gì của Cách Mạng “nà” của tôi. Đồng chí không có quyền “nấy” đi.

– Này đồng chí, thế tôi không phải “nà” Cách Mạng sao? Cái gì của Cách Mạng “nà” của chung. Cái ghế này do tụi “Ngụy” để “nại” ai cần, nấy dùng!

Họ nói rất to, dù chúng tôi có mặt gần đấy! Tôi biết, khi họ đã dùng chữ “đồng chí” để xưng hô với nhau là “căng” lăm. Tôi liếc nhìn. Hai tên đều nắm chặt chiếc ghế trong tay. Một tên mặt đỏ gay, một tên tái mét. Họ có thể đi đến ấu đả, nếu không có tên thứ ba đến kịp thời can gián. Sau cùng, chiếc ghế vẫn ở lại chỗ cũ.

Chúng tôi xếp hàng hai ngay trước nhà. B. Trưởng điểm số rồi báo cáo cho quản giáo. Trước khi cho lệnh đi, hắn nói:

– Tối nay, Ban Chỉ Huy Trại, có tổ chức chiếu phim cho mấy anh xem. Các anh nên nhớ, đó “nà” sự “chiếu cố” đặc biệt của “Trên” đối với những người đi học tập cải tạo. Các anh phải giữ kỷ “nuật” trước, trong và sau khi xem. Không ai được tự ý đi ra ngoài khu vực ấn định. Các anh phải chú ý, để còn “nàm” thu hoạch!

Nghe thấy hai chữ “thu hoạch” (*), anh em có vẻ ngán.

(*) Viết cảm tưởng và ý nghĩ của mình sau khi xem. Cộng Sản dùng từ “Thu hoạch” với nghĩa rộng, sau mỗi bài học tập, kết quả của công tác trồng trọt, làm ruộng cũng thâu hoạch v.v.

Mậu đứng cạnh tôi, nói khẽ:

– Xem để giải trí, thu hoạch cái con mẹ gì, chán ghê, chán ghê!

Google images

Tên quản giáo cho lệnh đi. Đến cổng, chúng tôi phải dừng lại chờ vì quá đông. Những cánh tay giơ cao để chào nhau khi gặp bạn quen. Chúng tôi qua cổng. Tên lính gác dùng chân dẫm lên cây cản. Cây cản cất bổng một đầu như chiếc cần câu khổng lồ. Tên quản giáo báo cáo số người với tên lính gác. Tên này đếm lại trước khi cho đi.

Chúng tôi quẹo trái, đi theo con lộ đất đỏ khá rộng, đủ chỗ cho 2 xe lớn tránh nhau. Hai bên bờ cỏ gianh cao lút đầu. Dòng người đông đảo lấp kín một đoạn đường khá dài. Đi chừng trên 1 cây số, đến khu đất rộng, đã đông nghẹt anh em cải tạo. Phía cuối bãi, một khung vải trắng lớn căng thẳng thắn bằng những chiếc sào tre. Gần đấy, chiếc xe đặt máy chiếu phim. Xung quanh dầy đặc Việt Cộng, kẻ có súng, người không. Tên quản giáo chỉ cho chúng tôi nơi ngồi, rồi chuồn ra tán láo với mấy tên khác đứng gần đấy. Trời bắt đầu tối. Trên khung vải ánh đèn đã chiếu sáng để điều chỉnh máy. Tiếng truyền qua loa phóng thanh, nói về mục đích nội dung các cuốn phim sắp được chiếu. Chúng tôi được xem 3 cuốn: Ca Múa, Nguyễn Thái Bình và Một Ngày Của Hà-nội.

Ngoài cuốn phim Ca Múa (hoàn toàn thuộc loại nghệ thuật) nhằm mục đích giới thiệu các điệu vũ Dân Tộc, với sự tập luyện công phu, 2 cuốn kia đều thuộc loại tuyên truyền.

Cuốn phim Nguyễn Thái Bình, tên không tặc, đã cưỡng bức chiếc Boeing 747 đi Hà-nội, vào năm 1973, bị bắn chết tại phi trường Tân Sơn Nhất, được Việt Cộng đề cao là ”anh hùng Cách Mạng” cũng như tên Nguyễn Văn Trỗi đã ám sát hụt Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, Mac Namara ở cầu Công Lý. Dĩ nhiên, cuốn phim tài liệu do phóng viên ngoại quốc có mặt tại Miền Nam lúc đó, quay được.

Còn cuốn Một Ngày của Hà-nội, nội dung diễn tả một ngày sống động của nhân dân Hà-nội vừa làm việc vừa chống máy bay “cánh cụp, cánh xòe” của Mỹ. Nó là loại phim tuyên truyền có tác dụng tốt. Vô tư nhận xét, kỷ thuật quay khá cao, nhiều hình ảnh đẹp.

Toàn khu chiếu phim im phăng phắc trừ tiếng vỗ tay rào rào sau mỗi cuốn, từng đốm lửa hút thuốc lập loè đó đây. Những tên Việt Cộng chắc đã xem nhiều lần nên có vẻ chán. Chúng nói chuyện, ngó đâu đâu chứ không nhìn lên màn ảnh.

Đêm không trăng, trời tối như bưng. Chúng tôi ra về theo tiếng loa gọi số B tuần tự. Những vệt đèn pin quét vào bóng tối từng vệt sáng dài để soi đường. Tiếng nói chuyện rì rầm về nội dung các cuốn phim. Tên quản giáo đưa chúng tôi đến nhà. Trước khi cho lệnh giải tán, hắn nói:

– Theo “nệnh” trên, ngày mai các anh hội ý với nhau “nàm” bản thu hoạch, theo mục đích yêu cầu như sau: Các anh nghĩ gì về hình thức và nội dung mỗi cuốn? Chủ yếu “nà” nội dung. Ngày kia, anh B. Trưởng nộp cho tôi. Thôi, các anh nghỉ!

Chúng tôi tan hàng, đi vô nhà. Tiếng điếu cày rít rèn rẹc đó đây, khói tỏa mù mịt. Lời bàn tán về 3 cuốn phim cất lên sôi nổi. Chỉ thấy khen, chẳng ai chê. Có người khẳng định đó là bước đầu chính thức đi vào vấn đề học tập cải tạo. Cách Mạng họ giáo dục theo lối mới mà! Có thế mới là Cách Mạng! Câu chuyện đang sôi nổi, đèn tắt phụt. Đã đến giờ ngủ. Tiếng kẻng từ xa vọng lại não nề. Một vài người đi ra ngoài, chắc còn nhiều điều cần phải bàn cãi.

Hôm sau, B. Trưởng hội anh em để thảo luận về 3 cuốn phim tối qua và đề cử người viết thu hoạch theo lệnh quản giáo. Khi thảo luận, ai nói cũng hay lắm, nhưng đến lúc đi vào thực tế, viết thu hoạch, ai cũng né tránh.

– Vị nào xung phong? – B. Trưởng hỏi, rồi đưa mắt dò xét.

Tất cả ngồi im như phổng đá.

– Nếu không có, tôi xin đề cử anh Lâm, thay mặt anh em viết bản thu hoạch.

Bỗng nhiên, mặt Lâm đỏ au như vừa uống rượu, vội vàng từ chối, tự nhận chỉ biết viết toa thuốc và xin đề cử anh Mậu. Mậu đang ngồi trầm ngâm bỗng giật mình như bị kiến đốt.

– Ủa, sao lại tôi? Các anh bảo tôi “bóp cò” thì O.K, còn viết xin chịu!

Google images

Đùn qua, đẩy lại mãi, chẳng ai chịu nhận cái của nợ đó. Sau cùng, B. Trưởng năn nỉ tôi viết dùm, sẽ miễn lao động cho tôi một tuần. Tôi hết sức từ chối, nhưng B. Trưởng và anh em nài nỉ mãi, tôi đành nhận lời.

Lẽ dĩ nhiên, bản thu hoạch phải ca tụng các cuốn phim cả hình thức lẫn nội dung và kết tội đế quốc! Ở trong hoàn cảnh này, không làm khác được, nhưng cố sức sao cho ngòi bút đừng hèn hạ, để qua đấy kẻ thù đánh giá thấp những người đi học tập cải tạo. Sau 1 ngày cắm cúi viết, tôi đưa cho B. Trưởng.

Buổi tối sinh hoạt, B. Trưởng đọc lên cho tất cả anh em nghe xem ai có ý kiến gì thêm, bớt không? Chẳng ai phản đối. B. Trưởng đại diện ký tên để sớm mai nộp. Trong lúc viết bản thu hoạch 3 cuốn phim, tôi đã nhìn thấy tụi Việt Cộng mở chiếc bẫy thứ nhất nhằm đưa những người học tập cải tạo vô tròng. Chúng rất xảo quyệt khi bắt cả B làm một bản thu hoạch, chứ không bắt mỗi cá nhân. Đây là một tính toán rất tế nhị và khoa học, để mọi người không có mặc cảm, chính mình đã nói xấu, kết tội chế độ mình vừa phục vụ, ai cũng cảm thấy thoải mái vì tin đó là ý kiến chung của tập thể, mình không có trách nhiệm! Từ bước đi thứ nhất này, Việt Cộng sẽ mở lần lần những chiếc bẫy khác, bắt buộc mỗi cá nhân phải chui vô như đàn cá chui vô chiếc nôm, không cách nào thoát khỏi. Cộng Sản không dùng hình thức tra tấn, dọa nạt trực tiếp để khai thác đối tượng, chúng chỉ dùng mưu mô, thủ đoạn xảo quyệt bắt đối tượng phải làm theo những gì chúng muốn.

Quả thực, khi viết xong bản thu hoạch, lòng tôi không yên ổn nhưng nghĩ cho cùng, dù tôi viết, hoặc ai viết cũng không sao khác đượcc, vì hoàn cảnh đã đẩy tới như vậy, làm sao tránh?

Giữ đúng lời hứa, B. Trưởng để tôi nghỉ 1 tuần không đi lao động. Tôi cảm thấy, ngày nghỉ rất dài và buồn. Đi lao động có vất vả, bẩn thỉu, nắng nôi thật đấy, nhưng vui, chóng hết ngày, những ngày chờ đợi của một tội nhân trong ngục tối trước khi nghe tuyên án!

Vào lúc gần trưa ngày nghỉ thứ 3, tôi đứng nhìn một đoàn người mồ hồi nhễ nhại, gánh gồng lương thực đi qua căn nhà tôi ở, bỗng có tiếng nổ lớn tiếp theo những tiếng nổ nhỏ, một cuộn khói đen kịt tung cao ở phía xa, chiếu thẳng khu Đại Tá. Tiếng nổ dồn dập rền vang như tiếng súng giao tranh nơi trận địa, khói lửa bốc mù mịt. Những tên bộ đội từ bên kia đường xách súng băng qua, chạy về hướng phát ra tiếng nổ. Các toán lao động tới tấp trở về, ngơ ngác. Tôi hỏi một người trong bọn:

– Chuyện gì thế bồ?

– Nổ kho đạn khu F!

– Có ai chết hoặc bị thương không?

– Đâu biết!

Vừa lúc ấy, anh em thuộc B tôi về. Trên nét mặt mệt mỏi, áo quần đẫm mồ hôi, nhìn về hướng đám khói. Có vài khối lửa tung cao như những quả bóng đỏ rực, rất đẹp. Cuộn khói cao dần làm tối cả một khoảng trời. Có tiếng nói thì thào bên tai:

– Đù mẹ, mong cho nổ tung, chết cha hết tụi Việt Cộng.

Tôi quay lại, thấy Huy.

– A, ông nói sao? Nó chết, để tụi mình sống?

– Cho chết, chết hết! – Huy dằn giọng. Kho đạn tiếp tục nổ tới xế chiều mới dứt. Hôm sau, tôi nghe nói có vài anh em ở khu D lao động gần đó, bị thương nhẹ. Khu vực nổ, tụi Việt Cộng đã mang kẽm gai quây kín. Chính vì kho đạn khu F nổ, tuần sau, Việt Cộng mang 2 chiếc GMC của Quân Lực Cộng Hòa, đến kho đạn thuộc khu tôi ở mà bữa trước, tôi và Huy đã lấy thùng đựng nước. Chúng tôi được phân công bốc đạn từ dưới hầm chuyển lên GMC. Đứng giữa hầm đạn, tôi nhìn những viên đạn đã được vứt bừa bải khắp căn hầm, lòng se lại. Ôi, những viên đạn quý báu mang nhãn U.S, đã gần gủi với các chiến sĩ, đã đóng góp vào nổ lực bảo vệ Miền Nam và Tự Do, đã ngăn chặn từng bước chân quân thù suốt mấy chục năm chinh chiến, giờ này đang nằm dưới chân tôi như những vật vô giá trị, dư thừa. Các loại đạn được chuyền tay đưa từ dưới hầm lên để xếp vào 2 chiếc GMC đậu ngay cửa hầm.

Google images

Gần 30 con người chuyền cả buổi sáng, tay chân mỏi nhừ, kho mới chỉ vơi một nửa. Tên bộ đội cảnh vệ cho lệnh thôi, vì xe đã qua đầy. Chúng tôi phải làm việc cả ngày hôm sau nữa, hầm đạn mới trống trơn. Trước khi rời khỏi căn hầm, tôi nhìn nó lần chót. Con nhiều viên đạn đại liên rớt rải rác đó đây. Những băng vải đựng đạn M 16, giấy bồi, quăng bừa bải. Hầm đạn lúc này giống một hố rác. Mấy năm sau, tôi được biết, những viên đạn này được chi viện cho chế độ Hen Som Rin, để chống lại Pol Pot Ieng Sari tại Campuchia, cũng là Cộng Sản, không quy phục Liên Xô mà theo Trung Cộng!

Có những chiều, sau khi ăn xong, chả biết làm gì, tôi đi lang thang dọc theo con lộ đất đỏ để suy nghĩ những gì thuộc riêng mình. Đôi khi gặp Cung, nhà thơ, đã có mấy bài thơ hay được Phạm Duy phổ nhạc. Anh là Trung Tá Không Quân tuy ở cùng chung khu vực, nhưng không chung C với tôi. Mỗi lần gặp, chúng tôi lại đề cập tới vấn đề số phận của mình trong tương lai.

Những ngày đầu Việt Cộng chiếm Miền Nam, Cung vì quen thân với Hoàng Trọng Miên, em ruột của Thanh Nghị, tên trí thức “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản” chạy theo Việt Cộng từ Tết Mậu Thân, nay trở về với chức vụ Phó Tổng trưởng Thông Tin Văn Hóa của chính phủ Cách Mạng, thường tỏ ý chê bai và lên án những người di tản qua Mỹ trước ngày 30-4. Sau mấy chục ngày, sống trong Trại Tập Trung Cải Tạo, đụng chạm với thực tế, chắc Cung đã thấm phần nào, và cũng đã nhìn rõ sự gian xảo của Cộng Sản, nhưng có lẽ do tự ái, hay vì bảo thủ lập trường, Cung vẫn khẳng định:

– Theo moa, vấn đề học tập cải tạo phải có. Chính nhờ vào học tập chính trị, mình mới có thể ý thức một cách đúng đắn về đường lối Cách Mạng. Hiện tại, mình chả có cách nào hơn là tuyệt đối tin vào Cách Mạng.

– Thanh Nghị không bảo lãnh, cứu cậu à?

– Truớc khi “đi”, moa có gặp anh để trình bầy, anh bảo cứ đi, lo sau!

Tôi mỉm cười, tuy không nói ra những gì mình nghĩ, sợ bị ngộ nhận, mất tình anh em, nhưng vững tin Cộng Sản không bao giờ biết tha thứ cho ai hết, nhất là anh, ngoài cấp Trung Tá, lại giòng dõi quan liêu, phong kiến, có nhiều nợ máu với nhân dân, với Cộng Sản từ xưa!

Cung khác hẳn với Thục Vũ (nhạc sĩ, Trung Tá Thuộc ngành Chiến Tranh Chính Trị), quan niệm rõ ràng mình, người thua trận, đang bị đối xử đúng với tư thế của con người mất chỗ đứng. Thục Vũ làm nhạc cũng như làm thơ, những tiếng thơ buồn bã mang nhiều uất hận! Thục Vũ vốn có bệnh đau gan nặng, da mặt và mắt anh vàng màu lá úa! Anh ít nói, không thờ ơ cũng chẳng vồn vã. Chúng tôi cùng chung C nhưng không cùng B, ở sát nhà nhau. Tuy ở gần, nhưng ít khi gặp, mỗi lần gặp, tâm sự chẳng muốn rời!

Tự dưng đêm qua, tôi lên cơn sốt. Toàn thân đau nhừ như vừa qua cơn tra tấn nặng nề. Tôi nghĩ, có lẽ do nằm sát đất quá, hơi ẩm mỗi đêm bốc lên, thấm dần vào cơ thể nên dễ bị đau. Trong bóng tối, tôi lần tìm thuốc trong túi vải. Tôi bỏ luôn 2viên Aspirin vô miệng, chiêu ngụm nước. Vị thuốc chua chua đọng lại trong cuống họng. Tôi nằm, không sao ngủ được. Đó đây tiếng ngáy đều đều như bản hợp tấu tùy hứng. Bỗng có tiếng hét từ cuối nhà:

– Rắn, anh em ơi!

Mọi người chồm dậy. Ánh lửa được bật lên châm vào đóm.

– Đâu? Tiếng hỏi nhao nhao.

Ánh lửa bập bùng rồi cháy lớn vì nhiều que đóm chụm lại. Tôi cố đứng dậy nhìn qua ánh lửa. Một con rắn cạp nong khoanh trắng, khoanh đen đang trườn mình thật nhanh phía cuối vách tìm lối thoát. Trong khi mọi người loay hoay tìm gậy đánh rắn, nó đã biến mất.

Anh em mất ngủ, bàn tán lao xao về chuyện rắn. Các câu chuyện về rắn được kể lại qua miệng mọi người. Tôi nằm xuống, cơn sốt dịu đi trong chốc lát, xong nóng lại. Tôi thiếp đi, trong cơn sốt miên man!

Tiếng kẻng báo thức gõ từ lâu, nhưng tôi cứ nằm lì trong mùng vì quá mệt, tuy đầu đã bớt nhức! Tôi báo cáo với B. Trưởng, sẽ đi khai bệnh bữa nay.

Google images

Từ chỗ ở đến nơi khám bệnh không xa bao nhiêu. Tôi ghi tên vào sổ khám bệnh. Trong khi chờ đợi đến lượt, tôi nhìn quẩn quanh, đọc những khẩu hiệu ghi trên vách: Lương Y là Từ Mẫu, Phòng Bệnh hơn Chữa Bệnh, Sức Khỏe là Vàng v.v…. Tôi biết, đấy chỉ là những sáo ngữ. Người bệnh khá đông, có lẽ vì khí hậu và do sự nằm đất chưa quen.

Tôi được gọi vào. Người khám bệnh cho tôi, Bác sĩ Tín, cựu giám đốc viện Bài Lao Ngô Quyền. Tên bộ đội phụ trách phòng khám bệnh nghe nói hắn chỉ là tên Y tá, quân hàm Trung Sĩ. Tín, bận quần áo thường như mọi người cải tạo khác, không mũ, không blouse trắng, nên chỉ ai quen, mới nhận ra anh. Anh hỏi bệnh, rồi bắt mạch, áp tai vào ngực, vào lưng tôi nghe ngóng, thay ống nghe, xong báo cáo với tên cán bộ quân y về bệnh trạng của tôi.Với giọng nói lạnh lùng, nó ra lệnh cho Tín.

– Rỏ nước tỏi vô mũi! Tiêm một ống B1.

Tín bảo tôi ngữa mặt lên, thọc ống nhỏ giọt vào chai nước đục ngầu, rồi bóp vào lỗ mũi tôi 2 giọt. Mùi tỏi xông lên nồng nặc làm tôi hắt hơi. Trong khi đó, một bệnh nhân khác vô. Có lẽ, anh này thuộc loại khách hàng quen thuộc, mặt xanh như tàu lá. Anh luôn mồm kêu tên y tá Việt Cộng là Bác Sĩ. Tên cán bộ nhấc một ống tiêm trong chiếc khay nhôm, rồi thọc mũi kim xuyên qua lớp nylon bịt kín miệng chai soda trong có chứa đầy nước. Tôi nhìn Tín như hỏi. Anh nói khẽ: đó là chai nước ‘Sérum lô-canh’ để hòa tan Bi, tức Péniciline đó”. Tôi rùng mình. Tín rút thưốc vào ống chích. Anh bảo tôi vén tay áo. Mũi kim quá to và cùn đâm vào thịt làm tôi đau đớn! Tôi cũng chẳng hiểu vì lý do nào, tên cán bộ quân y lại cho tôi chích B1, trong khi tôi sốt? Tôi hỏi Tín, anh chỉ lắc đầu, tỏ ý không hiểu.

Tôi bước nhanh ra cửa. Ánh nắng làm chóa mắt. Tôi đi lảo đảo như người say. Qua sự kiện vừa xẩy ra, tôi suy nghĩ hoài về sư đảo lộn của từng giá trị, chăng cứ gì ở phạm vi Y tế, mà còn ở nhiều cơ cấu khác, kể từ sau ngày bại trận!

Về tới nhà, tôi nằm lăn ra ván. Anh em đi lao động hết nên căn nhà rộng rinh. B. Trưởng được miễn lao động, đang ngồi nhìn trời. Cơn mệt làm tôi không tha thiết đến việc gì nữa. Có tiếng ồn ào từ ngoài cửa vọng vào. Tôi hé mắt nhìn. Mậu và Huy đang xốc nách một người dìu vô. Tôi đoán, có tai nạn lao động. Lâm theo sau. Tôi hỏi:

– Sao, có chuyện gì thế?

– Ông Giác, đang làm tự nhiên quỵ xuống, đứng dậy không nổi.

– Sao không đưa đi Bệnh xá?

– Mới báo cáo; cán bộ y tế bảo cứ cho về nhà, tính sau!

Trung Tá Giác, thuộc đơn vị tác chiến, người khá to lớn. Trông bề ngoài, không ai ngờ anh có thể bệnh. Nhưng sự thực, Giác đang nằm phía bên kia, chênh chệch chỗ tôi đang nằm, hai chân không còn đủ sức mang nổi thân hình anh nữa.

Lát sau, tên y tá đi vô, mang theo chiếc túi vải nhà binh nhỏ. Hắn ngồi xuống ván, lấy đầu ngón tay ấn vào hai chân Giác. Trong khi đó, Lâm trình bầy với tên y tá về bệnh trạng của Giác.

– Rất tiếc, hiện nay chúng tôi cũng thiếu thốn và không có thuốc tốt. Nếu các anh muốn, có thể gửi tiền tôi đi “Nong Khánh”, hoặc Biên Hòa mua thuốc dùm các anh.

– Dạ, thưa cán bộ, tốt quá! Như vậy phải bao nhiêu tiền?

– Tôi không biết giá, các anh cần thuốc gì, đưa bao nhiêu tôi sẽ mua chừng nấy.

Lâm hỏi Giác muốn mua bao nhiêu thuốc, rồi nhân tiện bảo ai muốn mua góp tiền một thể. Số tiền được góp thật lẹ vì anh em nhìn thấy hình ảnh Giác nên sợ. Tên y tá cài tiền đi ra nhanh như hơi gió.

Sau hai ngày nằm bệnh, nhờ anh em cho thuốc tốt, tôi đã khỏi nhưng vẫn còn chóng mặt chưa đi lao động được. Lúc ấy vào khoảng 9 giờ sáng, tên cán bộ y tế sồng sộc đi vào phòng đến thẳng chỗ anh Giác nằm, mở túi vải trao cho Giác những vỉ thuốc với tờ giấy kê khai giá tiền mỗi thứ. Giác vẫn chưa đi lại được, mỗi lần đi tiêu hoặc tiểu, phải nhờ 2 người dìu, nếu di chuyển ngắn phải chống gậy lần từng bước khó nhọc.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply