Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Phần 7

Nhà Tù 7708
Lại bị thẩm vấn, cũng chừng đó chuyện, tôi đã dự trù sẵn những câu trả lời nên vẫn chưa bị lộ tung tích. Lại tiếp tục chuyển đi nơi khác. Dọc đường, tôi chờ đợi một cơ hội tốt để nhảy xe bỏ chạy, nhưng ý định không thực hiện được. Chúng tôi được đưa đến phòng thẩm vấn Nhà tù 7708. Trong thời gian chờ đợi, tôi nằm dài thoải mái dưới đất nhai lương khô, như nhũng kẻ bụi đời. Nhiều Bộ đội được dẫn vào và cuối cùng, cuộc thẩm tra bắt đầu. Bộ đội VC bị bắt thuộc nhiều thành phần: đào ngũ, ăn cướp, ăn trộm hoặc những thành tích bất hảo khác. Tôi đã từng xem nhiều đoạn phim thẩm vấn trong trại tù Cộng Sản, những chuyện phim dựng nên những khuôn mặt gian ác, thâm độc của Công an Cảnh sát ngụy, mà các tay đạo diễn và tài tử đã cường điệu quá đáng nhưng chưa từng thây cuộn phim nào, tay tài tử nào diễn xuất đặc sắc như tên Cớm VC hiện tại. Cái bản măt vênh váo, cái đôi tay khuỳnh khuỳnh và những màn đấm đá đồng chí đồng rận tận lực.
— Đù mẹ, mầy muôn chết hả? Láo! Có phải mầy cùng băng thằng Bình không? Đù mẹ, tao mà bắt được thằng khốn nạn đó, tao sẽ phanh thây, tao sẽ bắn ngay tại chỗ.

Tên điều tra quát tháo luôn mồm. Thì ra Cộng Sản không chỉ tàn ác với kẻ thù, họ đối xử đồng chí và kẻ thù bình đẳng trong những lúc cần phải khát máu. Có phải đó là bản chất hay truyền thống cố hữu của họ? Bắt đầu đến lượt tôi, không biết vì mệt, đau tay chân, vì đấm đá quá nhiều, hay vì sắp hết giờ, họ chỉ làm lấy lệ. Thật phí, tôi đã chuẩn bị sẵn cho một trận đòn, cuối cùng vô sự.

Chúng tôi sắp hàng một dãy dài đi ra cửa, đường tối đen như mực, kẻ trước người sau không thấy rõ nhau. Đoạn đường ngắn nhưng có nhiều tên áp giải, tên Công an điều tra cầm súng chạy tới chạy lui quát tháo:
— Đứa nào ra khỏi hàng, ông bắn bỏ!

Tôi chẳng thấy được địa hình địa vật chung quanh nên chưa nắm vững tình thế, định bỏ chạy mà không thấy hướng để chạy. Hai bên có hàng rào kẽm gai không? (Sau nầy khi đã biết rõ địa thế, tôi cứ tiếc mãi.) Dịp may một lần tôi đã bỏ qua, vì đó là tối duy nhất bị cúp điện. Tôi và Sang bị phân tán qua hai phòng riêng rẽ. Vừa vào phòng, tôi đã được đón tiếp nồng hậu, những tay tù cũ bu quanh hỏi chuyện và xin gói lương khô nhỏ của tôi để liên hoan, và “Bọn bốn người” xếp sòng ra lệnh dồn chỗ lại để nhường cho tôi một chỗ thật tốt để nằm. Sau nầy khi quen với thông lệ chào phòng, tù nào mới vào phòng cũng bị đám tù cũ hù dữ lắm, tôi bèn hỏi lý do tại sao các chú tù cũ lại tương đốỉ nể nang tôi lúc đầu, họ bèn trả lời:
— Trông tướng đại ca ngầu lắm, đứa nào mà dám hù!

Nhà tù 7708 gồm ba phòng giam và một phòng kỷ luật, xây bằng bê tông, cửa sắt có gắn kính. Những thanh sắt uốn theo hình trang trí thay vì song song như những nhà tù thông thường. Thì ra đây là một căn nhà thuộc Khu Dinh thự cũ của ông Hoàng Sihanouk, chung quanh có tường bao bọc, tăng cường bằng kẽm gai và tôn. Mỗi phòng ngăn làm hai buồng, chung một cầu tiêu và một ngọn đèn.

Theo lời các tù cũ, 7708 là nhà giam kiên cố nhất so với các nhà tù khác trên lãnh thổ Kampuchia. Ở đây có nhiều cách đi trốn, trừ cách phá nhà giam vượt ngục. Chưa ai nghĩ đến và dám vượt ngục bằng cách phá nhà giam.

Hàng ngày tôi chăm chỉ học tiếng Miên, Bộ đội VC đa số đều nói được tiếng Miên, có người còn lấy vợ Miên. Những lúc nghỉ mệt, tôi lân la nói chuyện để dò đường, tìm cách trốn. Chưa có nhà tù nào gấu như 7708, Bộ đội Cộng Sản hát nhạc vàng inh ỏi suốt ngày, họ chửi Cộng Sản ngang nhiên thoải mái.

Tôi bắt đầu quen với các khuôn mặt mới. Có người đào ngũ, chuyên dùng giấy tờ giả, lận súng từ Việt Nam qua Miên ăn cướp rồi về Sàigòn ăn chơi, có người chuyên đi ăn trộm.

Ăn trộm bên này thật dễ. Người Miên họ nhát gan và quí mạng sống hơn vàng, chỉ cần đột nhập vào nhà, chĩa súng hăm dọa là biết chỗ dấu vàng. (Họ hay dấu trong bao gối, dấu dưới giường hay trong các vật dạng lỉnh kỉnh.) Đi vào chẳng ai dám la, dám chống cự, đi ra cũng yên tĩnh, an toàn. Đó là kinh nghiệm của một số Bộ đội VC.

Có Bộ đội đã từng bỏ hàng ngũ theo Kháng chiến Khmer, bị phục kích bắt lại; có người từng theo đạo quân đánh sâu vào Thái, qua những câu chuyện và những lời dọ hỏi, tôi nắm được ý niệm căn bản về con đường đi Thái. Nhà tù 7708 cũng như các cơ quan, bộ phận khác của Việt Cộng trên lãnh thổ Kampuchia đều ăn gạo của Liên Hiệp Quốc viện trợ cho dân Khmer. Và còn biết bao nhiêu thứ được chuyển đến đây vì mục đích nhân đạo lại được dùng để nuôi dưỡng một chế độ chủ trương làm những điều vô nhân đạo. Tù 7708 người nào cũng có âm mưu bỏ trốn, trừ vài người đã chạy chọt sắp sửa được thả và một chú bé 13 tuổi. Chú bé một mình lang thang từ Sàigòn qua Nam Vang, sinh sống bằng nghề đấm bóp, giác hơi quanh nhà ga. Kiếm ăn ngoài xã hội quá khó khăn, chú bé cảm thấy yên tâm khi bị bắt và được làm phụ nhà bếp. Sướng nhà kho, no nhà bếp, chưa kể các dịch vụ mua dùm đồ để kiếm lời.
Năm bảy hôm lại có một tù đi trốn, người đầu tiên ở cùng phòng tôi, bị sốt nặng, sau khi y sĩ chẩn bệnh, anh ta được chuyển xuống bệnh viện thành phố và tối hôm đó, bệnh nhân biến mất. Kế đến là hai người làm tạp dịch và gánh nước, trong vài phút lơ đễnh của tên gác, hai người tháo chạy làm lính gác báo động và tổ chức cuộc bố ráp. Kết quả một người chạy thoát và một người bị bắn chết.

Ở nhà tù 7708, tôi không được phép làm những công tác lặt vặt bên ngoài vì là tù mới. Mỗi ngày tôi tình nguyện đi đổ thùng phân vào buổi chiều. Mấy chục con người cả ngày đêm đái, ỉa trong một cái vại bằng sành (dung tích 30 lít). Mỗi lần khiêng thùng, phân đầy tràn, nước phân chảy nhểu khắp sàn nhà, văng tung tóe vào người. Chỗ đổ phân ở ngoài hàng rào hai mươi thước, đổ phân xong được tắm rửa năm, mười phút.
Trên đoạn đường ngắn có ba chỗ có thể bỏ chạy nếu gặp thời cơ: Hầm phân, giếng tắm và dãy hàng rào bên hông nhà giam. Bên kia hầm phân là khoảnh vườn cây, sau bức tường thấp là khu nhà dân chúng. Giếng tắm chung quanh có nhiều bờ bụi nhưng bị rào kín bằng kẽm gai, bên hông nhà phải leo qua một bức tường giăng giây thép gai. Tên gác luôn luôn kè súng đi sát sau lưng hoặc đứng cách năm, mười thước. Chỉ cần một dịp thuận tiện với hai phút vô ý của tên gác là phóng chạy liều, một ăn chín thua, nếu chấp nhận.
Tôi tính một cách khác, bất ngờ nhất, nguy hiểm nhất, nhưng lại bảo đảm nhất. Có đêm nằm ngủ, tôi chợt giật mình thức giấc bởi nhũng tiếng động lạ, có tiếng giống như sắt thép bị bẻ, có tiếng giống như tiếng sấm ầm ì trong cơn chuyển giông, có tiếng không giống tiếng gì. Chẳng biết những tiếng động từ đâu, bởi nguyên nhân nào, nhưng hình như ai cũng quen và xem thường những tiếng động lạ. Ngay cái tiếng đập và quạt muỗi cũng có nhiều âm thanh. Có người quạt bằng giấy kêu lạch phạch, có người đập muỗi bằng miếng cạt tông kêu bì bùng, tôi lại dùng “con rùa đựng nước” có nắp bằng sắt, tiếng kêu chát chúa như tiếng đập búa lò rèn, có tiếng khua leng keng của những kẻ bị koòng. Đêm hỗn loạn và huyên náo bởi đủ thứ tiếng động và tôi chợt khám phá một điểm yếu bất ngờ của chiếc cửa sổ sắt.
Tôi vừa trốn khỏi Trại tù A30, bao nhiêu huyền thoại được dựng lên để làm phấn khởi và khích động tinh thần tù bỉnh cùng Trại. Tưởng tượng bộ mặt vênh váo, hớn hở của bọn cai tù A30 khi nghe tin tôi bị bắt lại, và sự hoang mang tuyệt vọng của những tù binh đang hăm hở chuẩn bị vượt ngục. Tôi sẽ nói thế nào với Khảo, Đại úy Nhảy Dù, người đã có lần bày tỏ:
— Không biết hồi này bạn nghĩ gì và tính gì mà âm thầm quá. Bạn có thể cho tôi biết chút ít về dự định của bạn được không? Bạn biết rằng, đám tù binh chúng ta giờ nầy hầu như phân hóa làm hai khối, khối những người già từ tôi trở lên, vì tuổi tác, vì gia đình nên tinh thần sa sút, tiêu cực, chỉ còn hy vọng vào khối trẻ, những thanh niên vẫn còn đầy nhiệt huyết và tinh thần vững mạnh. Và trong giới trẻ, bạn là người được anh em yêu mến, trông cậy nhất…
Tôi sẽ nói thế nào với Ngọc, Đại úy Trưởng phòng Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã ghé lại Nha Trang nhân đi công tác trại tù, đã chuyển lại lời của những thanh niên Nha Trang đến tôi:
— Anh cho chúng tôi gửi lời thăm Lý Tống, nói với Lý Tống là chúng tôi luôn luôn theo dõi tin tức của Lý Tống. Đối với tất cả chúng tôi, Lý Tống xứng đáng là thần tượng của tuổi trẻ Nha Trang.
Tôi xúc động đến chảy nước mắt. Tình cảm của anh em thanh niên, của những người bạn tù thật quí, chính họ đã giúp tôi giữ vững tinh thần và cũng vì họ, vì niềm tin yêu cao quí đó, tôi sẵn sàng hy sinh để luôn luôn giữ được hình ảnh trong sáng trong tâm hồn và tình cảm anh em.
Không. Tôi thà chết tại đây, dưới một tên tuổi khác, tôi không thể nào để bị áp giải về những trại tù cũ ở Việt Nam. Hình ảnh cuộc vượt ngục A30 vẫn còn rờn rợn trong từng cảm giác và hình ảnh những ngày bi đát cuối cùng.

Chuẩn Bị Vượt Ngục Trại Tù 7708
Tôi tìm được điểm yếu khác của cánh cửa sắt do sự tò mò bất ngờ, ngoài mảnh kính vỡ được thay thế bằng ba thanh gỗ đóng chéo ngang. Hàng ngày các loại canh, cháo và nước thường được chuyền qua cửa sổ bằng một máng xối, trừ cơm được đưa vào bằng đường cửa chính. Tại cánh cửa sổ đã xảy ra bao cuộc giành giựt, cãi vã, kẻ cò kè xin thêm vá cháo, người nài nỉ thêm chút nước canh, đặc biệt, những tù cựu trào lại chuyền bi đông sắt qua đó xin nước sôi.
Có một điểm mà kẻ thường chú ý những điều đặc biệt như tôi bắt buộc phải quan tâm. Ô số I và số II hoàn toàn giống nhau vì cùng xuất thân từ một lò đúc, nhưng ô số I là ô duy nhất bi đông sắt có thể đút lọt. Tôi giả vờ đứng hít thở như kẻ đang ngộp hơi cần không khí, nhưng thật ra để quan sát nguyên nhân, thật bất ngờ khi thấy hai múi hàn A3 và A4 đã bị hở. Tôi vờ cầm thanh sắt số 1 kéo mạnh vào người như đang tập thể dục thử xem có đủ sức lay chuyển không thì thanh sắt rung nhẹ. Tôi trở về chỗ ngồi, mừng rỡ vì từng học nghề thợ hàn trong hai tháng, tôi có thể lường được sức chịu đựng bền bĩ của mỗi múi hàn. Tôi tính khoảng trống của hình thang M1 M2 M3 M4 bằng cách đến cánh cửa chính ra vào (cũng làm cùng một kiểu mẫu) để đo đạc. Từ vòng sắt ở trung tâm đến điểm A, chiều cao khá rộng rãi so với đầu và bề dày của lồng ngực.
Bề ngang Ml—M2 hẹp hơn bề ngang của vai tôi nhưng cạnh chéo M2—M4 lại rộng hơn. Để xác định chắc chăn hơn, tôi đối chiếu M1—M2 với đường kẻ gạch ca rô sàn nhà, xong tôi dùng một que gỗ nhỏ đánh dấu bề rộng vai mình. Tôi ngồi tại chỗ của mình giả vờ nghịch ngợm với que gỗ để so sánh, đối chiếu thật chính xác để cuối cùng nhận ra rằng, muốn chui lọt qua khoảng trống M1 M2 M3 M4, tôi phải lách nghiêng vai và sẽ phải nén ép người lại mới hy vọng chui qua lọt sau khi đã bẻ toàn bộ những thanh sắt nằm trong diện tích của hình thang Ml M2 M3 M4. Một người thanh niên nằm bên cạnh vừa bị bắt vào mấy hôm trước về tội chở sắt thép và máy móc lậu về Việt Nam bán. Anh tên Tại, dân đánh cá, lực lưỡng khỏe mạnh. Theo lời Tại, ở Kampuchia kiếm việc làm rất dễ và nhiều tiền, hoặc làm bồi trong các tiệm ăn của người Tàu, hoặc xin giúp việc tại vựa cá phía tây bắc Nam Vang 10 cây số. Tốt nhất là xin làm nghề đánh cá tại Kampong Chanang cách Nam Vang 90 cây số về hướng Thái Lan. Tại không muốn trốn theo tôi bởi vì anh có một ông chú làm lớn ở Battambang đang can thiệp dùm hơn nữa dự định của tôi qụá táo bạo và nguy hiểm ngoài khả năng của Tại. Vốn liếng còn một gói thuốc Samit, Tại biếu tôi để làm lộ phí dọc đường. Dù Tại có muốn trốn theo tôi cũng không thể được, bởi vì khổ người lực lưỡng của Tại không thể chui lọt qua ô cửa sổ. Nếu tôi cũng vạm vỡ như Tại, chắc tôi không thoát được 7708 bằng con đường nầy.
Thiên Mệnh! Thượng Đế quả đã tính toán cẩn thận từng điều kiện sinh hoạt của mỗi con người trên trái đất. Xin đừng ngạc nhiên vì một kẻ đã từng khai trong lý lịch mình là vô tôn giáo và sau đó pensée libre, mặc dù chữ ký của tôi từ mười mấy năm qua có nghĩa là “Lạy Thượng Đế,” thay vì Lý Tống như kiểu ký tên bình thường, giờ nầy lại cứ lập đi lập lại: Số phận — Thiên mệnh — Thượng Đế. Bởi vì phải trải qua bảy, tám năm đầy hiểm nguy, sự sống và chết như chỉ mành treo chuông, cái vị trí đầu sóng ngọn gió đã liên hệ đến những sự kiện huyền nhiệm, như một đấng linh thiêng nào đó đã xếp đặt, dàn dụng. Giờ nầy, cũng không thiếu gì nhân viên lập hồ sơ phải bối rối khi hạ bút viết chữ God trong phần tôn giáo của hồ sơ lý lịch tôi. Thượng Đế, một tôn giáo riêng của tôi, với những thủ tục, nghi lễ hoàn toàn riêng biệt và đặc biệt.

Ngoài yếu tố cửa sổ, còn một yếu tố quan trọng khác: Đèn điện. Những âm mưu đen tối thường phù hợp với bóng tối. Tối ngày 6 tháng 10 năm 1981, tôi chuẩn bị phá hỏng đèn điện trong phòng. Một phòng hai buồng có một bóng điện tròn gắn ở khoảng giữa và một bức tường ngăn phòng ngủ và cầu tiêu. Tường cao hai thước, đứng trên tường đủ tầm cao để gỡ bóng đèn và phải tắt đèn mới bắt đầu bẻ cửa sắt được. Thêm một điều may mắn là bóng đèn hành lang gần cửa sổ tối nay lại bị đứt bóng. Đã 12 giờ đêm, các tù nhân buồng ngoài đã yên ngủ, tôi giả vờ đi tiểu. Buồng trong có hai người bị sốt không ngủ được, họ rên rỉ, trăn trở suốt đêm. Hai người tù nầy thuộc loại thân tín của bọn gác nên tôi cần phải cẩn thận. Một tên nằm quạt, một tên mở mắt thao láo, đờ đẫn. Thời gian cứ trôi qua, tôi cứ đi tiểu, đi dón dén sợ họ trông thấy và nghi ngờ cái bệnh đi tiểu của mình.

Gần 4 giờ sáng, hai người bệnh mới chịu ngủ, giờ này không đủ thì giờ để bẻ cửa sắt, nhưng còn đủ thì giờ để phá hỏng điện. Chỉ cần gỡ bóng điện là phòng tối ngay nhưng để gỡ một bóng điện, như tối hôm nay, tôi phải đợi gần năm tiếng đồng hồ. Nếu bây giờ gỡ bóng điện để tối mai đi trốn, thì sáng mai chuyện gì sẽ xảy ra khi bỗng nhiên mất bóng điện? Tôi bước lên tường thấp số 1 cao hơn nửa thước làm chỗ ngồi để đi vệ sinh, leo lên tường số 2, đi dọc theo tường đến chỗ bóng điện và dùng khăn tay tôi nắm bóng điện gỡ ra. Gian phòng tối sầm lại.

Tôi lấy miếng ni lông nhỏ chuẩn bị sẵn chèn vào giữa đít bóng và đui đèn, gắn vào lại. Vừa ấn vào, đèn chớp sáng, tôi lại gỡ ra. Quái lạ. Ni lông là vật cách điện, tại sao đèn vẫn cháy? Tôi đổi ý, cầm bóng đèn lắc mạnh liên tục cho đến khi nghe tiếng lạt xạt của những sợi dây tungstene bị đứt va chạm nhau trong bóng đèn. Chưa chắc bụng, tôi còn vặn cho phần đui bằng đồng và phần thủy tinh của bóng lỏng ra, lỏng đến nỗi phần thủy tinh bóng đèn suýt rời ra, rơi xuống đất khi tôi cầm đuôi đèn, miếng giấy ni lông vẫn chèn thêm vào giữa cho bảo đảm.

Tôi ấn bóng vào, đèn lại chớp sáng. Cái chớp lóe vụt tắt nhờ tôi nhanh tay, nếu không đã bị lộ, vì tôi vừa nghe tiếng hộp quẹt Zippo bật tách và một người nằm buồng ngoài vừa mồi thuốc hút và người nầy hôm sau đã khẳng định chính y thấy bóng đèn xẹt cháy! Bực mình, tôi bỏ bóng đèn vào túi áo, dùng hai tay mò mẫm tìm dây điện để bứt đứt. Sợi dây nhỏ nhưng dai, tôi bẻ qua, bẻ lại, dây nhùng nhằn một hồi lâu mới gãy. Tôi sửa lại sợi dây đứt ngay ngắn để nếu có ai có chú ý, cũng không thể nào nhận ra. Trước khi gắn vào, tôi còn nhét một cục mạng nhện dính mồ hóng đen cho yên tâm, cái tay dính mồ hóng đen vô tình làm đen một khoảng bóng đèn, cũng là một trong những yếu tố để các người tù trong phòng hôm sau giải thích và suy luận:
— Bóng đèn bị nám đen chắc là bị cháy rồi. Chán thật, sớm nhất cũng phải ba ngày mới được thay bóng.

Một người tù cũ có nhiều kinh nghiệm càm ràm.

Ngày 7 tháng 10, tôi và Sang được gọi lên thẩm vấn. Trong thời gian ở khác phòng, theo lời các người chuyển phòng, Sang cứ đổ tội là tôi đã rủ rê em đi, vì tôi mà giờ nầy em phải bị tù. Tôi hơi bực mình nhưng tội nghiệp cho em, khi gặp lại Sang tôi hỏi:
— Sinh hoạt trong phòng em thế nào? Có dễ trốn không?

Sang cho biết người trong phòng mình được tin tưởng nên được cho đi làm ngoài lai rai, nếu muốn, có thể hy vọng trốn được. Tôi khuyên Sang, nếu có dip tốt nên trốn đi, rồi kiếm phương tiện trở về Việt Nam với gia đình. Ở đây khoảng vài ba tháng lại có chuyến chuyển tù về Việt Nam. Tù Dân sự bị đưa về khám Chí Hòa, tù Bộ đội chuyển về Bùi Gia Mập, tội vượt biên hiện giờ bị kết án nặng. Tôi nói:
— Anh tiếc là chúng ta ở khác phòng nên không thể giúp gì cho em được, từ nay em ráng tự lo cho mình. Vài hôm nữa, có thể anh sẽ không còn ở đây. Sang bị kêu vào thẩm vấn trước. Tôi lại nghe tiếng khóc lóc, cầu khẩn của Sang và tiếng quát:

— Mầy đã dám đi vượt biên lại không dám chịu nhận tội còn khóc lóc van lạy gì nữa?

Trong khi ngồi đợi, tên gác vớt được một con cá phi lớn hơn bàn tay, lờ đờ sắp chết vì trời nắng gắt và trao cho tôi. Tôi nhờ người nấu bếp nướng dùm, chờ khi Sang ra, tôi trao cho Sang nguyên con cá nướng. Gần nửa tháng nay chỉ ăn muối với một chút cá bằng đót điếu thưốc mỗi bữa cơm Sang lính quýnh mừng rỡ, hai tay vồ lấy con cá như sợ tôi đổi ý. Mặt Sang cúi gầm xuống tránh những cặp mắt của những người tù ngồi cạnh đang thèm thuồng vì sợ họ xin và sợ phải bị chia phần. Em há to miệng, ngoạm lấy ngoạm để, trái táo Adam ở cần cổ hối hả lên xuống cho kịp theo nhịp nhai, nuốt ngấu nghiến cuống quýt của em. Tôi nhịn thèm, ngồi nhìn Sang ăn, tự nhiên cần cổ mình cũng nhấp nhô, bởi vì phải nuốt những dòng nước miếng cứ ứa ra vì thèm khát. Sau khi đã thanh toán hết phần thịt, Sang bắt đầu từ từ gặm mút phần đầu và xương cá. Giờ nầy chắc chắn chẳng còn sợ ai xin, mặc dù nếu Sang chìa ra cho, cũng sẽ có một đám bàn tay phóng ra tranh nhau giành giựt xương và đầu cá. Sang nhai kỹ, nhai nát ngứu từng cái xương và tận hưởng hạnh phúc quá lớn và bất ngờ đó.
Tôi vào phòng thẩm vấn, vẫn một lời khai như cũ. Chuyên viên thẩm vấn thuộc A50 được mệnh danh nhóm chuyên gia kỹ thuật hỏi tôi câu cuối:
— Nếu cách mạng khoan hồng thả anh ra, anh sẽ làm gì?
— Tôi sẽ tiếp tục đi vượt biên.

Tôi trả lời ngắn gọn, và yêu cầu trả lại gần 5 kg lương khô như lời chỉ dẫn của bạn tù.
— Chờ giải quyết.

Cán bộ thẩm tra hẹn. Nếu được nhận lại, tôi sẽ chia cho Sang một nửa, một ít cho bạn cùng phòng và một phần tôi sẽ đem theo làm lương thực. Trong hoàn cảnh thiếu thôn của nhà tù, lương khô là một món ăn quí báu, thịnh soạn và trở thành đề tài hấp dẫn nhất của mỗi ngày. Trên đường về phòng, trong khi chờ đợi tên gác mở cửa phòng cho các người khác, tôi lân la đến ô cửa nhỏ vuông vức bằng hai bàn tay nhìn vào phòng kỷ luật

Kinh khủng! Phòng kỷ luật mù mịt như một phòng tắm hơi vì hơi người và hơi nóng, các tù nhân đứng ngồi lổn ngổn, mồ hôi đầm đìa khắp người. Tiếng cửa sắt nặng nề mở ra, một loạt người đứng dậy cầm chiếu, áo quần vội vã quạt hơi khói mù mịt ra ngoài, luồng hơi bốc ra cuồn cuộn như từ một đám cháy. Tôi bước thối lui bởi sức chuyển động của không khí và bởi mùi hôi hám nồng nặc khó chịu với cảm tưởng tù nhân ở phòng kỷ luật quá một tháng, phổi phèo tim gan có thể bị hấp chín. Làm sao phá được phòng xà lim kiên cố nầy để trốn thoát?!

Vừa bước vào phòng, tôi đã nghe một tin sốt dẻo: Một người trong bọn bốn người, băng Bộ đội Bắc Kỳ xếp sòng phòng số 1, đi công tác vào rừng đốn củi đã trốn thoát. Công tác đốn củi nửa tháng mới có một lần, xe GMC chở mười người tù và năm Bộ đội nhà giam đi theo kiểm soát.

Tình hình trại giam trở nên căng thẳng. Có một điểm trùng hợp đặc biệt là mỗi lần đúng ngày tôi vượt ngục hoặc trốn trại, bao giờ cũng có một biến cố quan trọng xảy ra: Tôi rời Nong Samet ra đi cùng ngày Việt Cộng tấn công trại tị nạn Nông Chan; rời nhà tù A30 cùng hôm hai người bạn tù vượt ngục trốn đi được hai tháng bị bắt trở lại… Những biến cố khách quan đó cũng có tác dụng tương đối tiêu cực hoặc tích cực về phương diện tinh thần.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply