This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khiến nhiều người Việt Nam phần đông là Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà phải trốn thoát khỏi Việt Nam và đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp di tản, sau đó họ được tái định cư tại Hoa Kỳ. Tiếp theo là những đợt thuyền nhân tị nạn vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính thức, nhưng ước đoán có thể có trên 10000 quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng.
Theo các tài liệu sưu lục được thì có khoảng 1000 phụ nữ gốc Việt phuc vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Tuần duyên Quân đội Hoa Kỳ. Họ mang cấp bậc từ Binh sĩ lên đến Đại tá, trong số nữ Quân nhân đó, có một số vị là Sĩ quan Phi công phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thuỷ Quân Lục Chiến.
Những nữ Sĩ quan Phi công Hải, Lục, Không quân và TQLC Hoa Kỳ:
Đại tá Elizabeth Pham (ảnh khi còn mang cấp Trung tá của của Mrs. K Tran).
Nữ Elizabeth Phạm sinh năm 1978, cô tốt nghiệp Đại học University of San Diego. Sau đó cô thụ huấn tại Trường sĩ quan Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC), và được tuyển chọn thụ huấn ngành phi công TQLC trở thành Phi công chiến đấu cơ F/A-18 Hornet. Cô đã phục vụ trong các Phi đoàn chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Không quân TQLC vùng Thái Bình Dương. Từ năm 2006 đến năm 2008, cô đã bay 130 phi vụ yểm trợ tiếp cận cho các đơn vị bộ chiến TQLC tại chiến trường Trung Đông, đặc biệt là tại Iraq. Sau đó cô được thuyên chuyển về phục vụ tại Bộ quốc phòng trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Các nhiệm sở tiếp theo, cô phục vụ trong một Phi đoàn chiến đấu cơ F/A-18 Horne TQLC tại Nhật Bản, và đơn vị Không quân TQLC tại căn cứ Camp Pendleton, San Diego. Từ năm 2022 đến năm 2023, cô tu nghiệp tại Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College). Sau đó cô được chỉ định phục vụ tại Bộ Tự Lệnh các Lực lượng Quốc Gia Đồng minh tại Châu Âu.
Đại Uý Kebdall Dang (ảnh của dvidshub.net).
Nữ Đại Uý Thuỷ quân lục chiến Kebdall Dang, Phi công trực thăng cánh quạt nghiêng MV-22 Osprey, hiện cô đang phục vụ tại Phi đoàn 162 (Marine Medium Tiltrotor Squadron (VMM). Kebdall đã bay loại trực thăng hạng nặng CH-53E Super Stallion của phi đoàn 366 trước khi cô gia nhập Phi đoàn 162 bay loại trực thăng MV-22 Osprey.
HQ Đại Uý Miahnna Nguyen (ảnh của VOA)
Nữ HQ Trung uý Miahnna Nguyen, Phi công chiến đấu cơ F/A-18 Hornet tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2020, sau đó cô được tuyển chọn thụ huấn tại trường huấn luyện Phi công Hải quân trở thành Phi công. Năm 2023, cô được Hội đồng thăng cấp Hải quân đề cử thăng cấp Đại uý.
———
Chưa có hình.
Nữ Thiếu tá Linh Dan H Trinh sinh ra tại St. Paul, Minnesota, cô gia nhập Không quân qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Không quân tại Đại học St. Thomas University in Minnesota. Ông Nội Linh Dan Trinh là một Sĩ quan Quân Lực VNCH. Cô nguyên là Đại uý Trưởng phi cơ (Fight Commander) E-3, báo đông sớm và kiểm soát trên không (AEW&C) thuộc Phi đoàn 960 năm 2018. Cô được thăng cấp Thiếu Tá năm 2022.
Phi cơ E-3, báo đông sớm và kiểm soát trên không (ảnh của Trung sĩ Stacy Fowle, Không quân Hoa Kỳ).
——–
Trung uý Jennifer Doan (ảnh của linkedin.com).
Nữ Trung uý Jennifer Doan, Chuyên viên phân tích thử nghiệm chiến đấu cơ F-16, Sĩ quan cơ khí phi hành thử nghiệm chiến đấu cơ F-16 tại căn cứ Không quân Nellis Air Force Base.
——
Trung uý Jaqueline Martin (ảnh của army.mil).
Nữ Trung úy Jacqueline Martin đến từ thành phố Renton, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington, D.C), cô tốt nghiệp Hoc viên Quân sự West Point vào năm 2019. cô là Phi công trực thăng tấn công AH-64 Apache, và là Trung đội trưởng trung đội Scout, Chi đội B, Phi đoàn 4 trinh sát tấn công thuộc Trung đoàn 6 thiết kỵ (4th Squadron (Air Cavalry), 6th Cavalry Regiment) Lục quân Hoa Kỳ.
——-
Trung uý Michelle vu (ảnh của 6th Squadron, 17th Cavalry Regiment).
Nữ Trung uý Michelle Vu. Phi công trực thăng OH-58D Kiowa Warriors thuộc Chi đội 6, Trung đoàn 17 Thiết kỵ (6th Squadron, 17th Cavalry Regiment) đã từng chiến đấu tại chiến trường Iraq năm 2008 (hồi hưu).
Bài những nữ Sĩ quan Phi công Hải, Lục, Không quân và Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gốc Việt được biên soạn để giới thiệu những nữ Phi công gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội Hoa Kỳ hiện đại và hùng mạnh nhất Thế giới, các cô bay các loại phi cơ tối tân như chiến đấu cơ F/A-18 Hornet; Phi cơ E-3, báo đông sớm và kiểm soát trên không (AEW&C), trực thăng tấn công AH-64E, trực thăng cánh quạt nghiêng MV-22 Osprey, trực thăng hạng nặng CH-53E Super Stallion và trực thăng OH-58D Kiowa Warriors. Chúng tôi biết còn một số nữ Phi công gốc Việt đang phục vụ trong Không Quân, Hải quân và lục quân, nhưng chưa sưu lục được!
Hầu hết cộng đồng người việt ở hải ngoại chỉ biết Tuấn Nguyễn – tác giả tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ được dựng nơi công viên Sid Goldstein, thuộc thành phố Westminster, California, nhưng trong giới nghệ thuật Hoa Kỳ, anh là một điêu khắc gia người Mỹ gốc Việt tài ba, với những tác phẩm mang dấu ấn đặc biệt.
Điêu khắc gia Tuấn Nguyễn. (Hình: Tuấn Nguyễn cung cấp)
Đường vượt biển đi tìm tự do
Tuấn Nguyễn được sinh ra trong một gia đình nghệ thuật, và mang dòng máu hoàng tộc: Ba anh là kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Nhâm, một trong những kiến trúc sư nổi tiếng, quân nhân quân lực VNCH: ông ngoại của anh là Bửu Hoàng – đời thứ tư thế tộc phả Nguyễn Phước, theo cách đặt tên của Vua Minh Mạng.
Vợ chồng ông bà kiến trúc sư Nhâm có bảy người con, Tuấn Nguyễn là người thứ hai. Gia đình sống tại khu Nai Vàng Ngơ Ngác ở Thủ Đức, Sài Gòn. Những năm đầu đời của Tuấn đầy niềm vui cùng với cha mẹ, anh chị em và bằng hữu. Nhưng, như cuộc sống của hàng triệu con người sống tại miền Nam, gia đình của cậu bé Tuấn Nguyễn bị đảo lộn hoàn toàn vào ngày Sài Gòn sụp đổ – 30 Tháng Tư 1975.
Cha bị bắt đi “học tập cải tạo”, gia đình chia cắt, một thân một mình mẹ nuôi đàn con lây lất. Cuộc sống khắc nghiệt, lúc đó niềm khao khát mãnh liệt nổi lên trong con người cậu bé 12 tuổi, muốn thoát nhanh khỏi sự kìm kẹp của chế độ cộng sản. Mãi 11 năm sau, anh mới tìm được cách để thực hiện điều mình mong muốn. Nhưng cuộc vượt biên bất thành, anh bị bắt.
“Đó là năm 1986, con thuyền chở tôi và những người cùng chí hướng bị bắn, có người trúng đạn, chết ngay trên thuyền,” anh kể. “Tôi và một số sống sót bị tù, phải lao động cưỡng bức, đắp đập, trồng tràm,…”
Từ nhỏ Tuấn đã theo học nghề của cha, trong lớp anh hay làm tượng chơi, cho vui và cho bạn bè, nên những ngày bị tù đày, anh cũng làm tượng cho qua ngày đoạn tháng. Trong phòng giam có nền là đất sét đỏ, anh tạc nên những bức chân dung của bạn tù. Những tác phẩm khiến bạn tù của anh rất vui, anh cũng cảm thấy dễ chịu hơn, và thời gian như được rút ngắn. Sau sáu tháng bị nhốt trong trại tù và thêm tám tháng lao động khổ sai, anh được trả tự do.
Trở về với gia đình, được sự động viên của gia đình, nhất là người cha khi đó cũng đã được ra trại tù, anh có thêm cảm hứng để sáng tác. Nhưng trong thâm tâm, anh chưa ngày nào ngừng nghĩ về con đường đi tìm tự do. Một năm sau, anh thực hiện được ý định đó. Lần này, Tuấn vượt biên bằng đường bộ, qua ngả Châu Đốc. Sau hai tháng băng qua rừng rậm, cuối cùng anh đặt chân đến biên giới Campuchia. Anh ở Phnom Penh được sáu tháng, sau đó theo ghe qua Thái Lan, lưu lại trong trại tị nạn được một năm thì tới Philippines.
Những tháng năm trong trại tị nạn, anh học Anh ngữ, và dành thời gian cho sáng tác. “Lúc ở trại tị nạn Philippines, chỉ học rồi ngủ, chứ có làm gì đâu, nên tôi làm tượng,” Tuấn kể. “Tôi còn tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình, là chân dung cô giáo dạy Anh ngữ, có bức bán được cả ngàn đôla, tôi đem tặng lại cho trại, để góp phần giúp người tị nạn.”
Kỷ niệm về những bức tượng đồng
Thủ phủ Sacramento của California là nơi đầu tiên Tuấn đặt chân đến. Thời gian đầu anh làm việc cho một xưởng đúc đồng, nhưng một năm sau thì chuyển xuống miền Nam California, vì được nhận một học bổng toàn phần trong vòng năm năm tại Học viện Nghệ thuật Nam California danh tiếng ở Laguna Beach.
Năm 1997 khi biết thành phố Westminster có cuộc thi về tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ, do ông Frank G. Fry, khi đó là nghị viên Thành phố Westminster, khởi xướng, anh dự thi. Theo yêu cầu của ban tổ chức, anh đúc bức tượng mẫu có hai người lính Việt-Mỹ đứng bắt tay nhau, nhưng đồng thời, anh tạc thêm một bức tượng khác. Khi bài của anh được chọn, anh thuyết phục ông Frank G. Fry làm mẫu tượng thứ hai. Bức tượng hai chiến sĩ Việt-Mỹ trong công trình Tưởng niệm Chiến tranh tại Westminster chính là tác phẩm mà điêu khắc gia Tuấn Nguyễn thuyết phục được ông Frank G. Fry và ban tổ chức cuộc thi.
Công trình khánh thành vào ngày 27 Tháng Tư 2003. Kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Nhâm, thân phụ của điêu khắc gia Tuấn Nguyễn, viết trên Việt Báo:
“Từ ngàn xưa, tổ tiên loài người, mỗi khi dừng chân định cư một nơi nào, luôn luôn dựng một “trụ mốc” (totem) bằng đá hay một thân cây chạm trổ, ở nơi trang trọng nhất giữa bộ lạc. Mọi sinh hoạt từ cúng tế thần linh, đến hội hè ăn chơi nhảy múa hay xử tội đều tập trung quanh “trụ mốc”. Trụ mốc tượng trưng cho sự tồn vong của bộ lạc.
Mô hình tượng chiến sĩ Việt Mỹ (đặt tại công viên Sid Goldstein, Westminster, California) tác giả tặng nhạc sĩ Nam Lộc (Hình: Đoan Trang chụp tại nhà nhạc sĩ Nam Lộc)
Trụ mốc còn, bộ lạc còn và còn làm chủ nơi họ sinh sống, không ai chiếm cứ hay xâm lấn. Dựng trụ mốc để đánh dấu sự hiện diện của mình là tánh tự nhiên của loài người. Phi hành gia Armstrong cắm lá cờ Hoa Kỳ lên Mặt trăng cũng không ngoài ý nghĩa trên.
Công hầu khanh tướng như một giấc mơ đã tan thành mây khói nơi quê hương khi chúng ta bỏ đi đến đất nước này. Và chúng ta sắp một lần nữa bỏ lại tất cả mọi sở hữu – tất cả, khi chúng ta nằm xuống. Không mang theo được gì, nhưng có thể để lại một cái gì cho con cháu chúng ta, một cái gì như niềm hãnh diện, tự hào về cha ông của chúng, những người tiên phong vượt biển tìm đến vùng đất tự do này. Niềm tự hào đó giúp chúng tồn tại và phát triển cộng đồng Việt Nam ngày một tốt đẹp lành mạnh hơn, giúp chúng ta trở về với cội nguồn dân tộc…
Năm 2002, Frank G. Fry, với tư cách Thị trưởng Westminster, gọi Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ đặt tại thành phố Westminster, giữa lòng Little Saigon, là “biểu tượng của sự chữa lành” (a symbol of healing).
NĂM 1994, TUẤN NGUYỄN ĐƯỢC TẶNG HUÂN CHƯƠNG GLORIA CỦA HIỆP HỘI ĐIÊU KHẮC QUỐC GIA Ở NEW YORK. NĂM 1995, ANH ĐƯỢC CÂU LẠC BỘ NGHỆ THUẬT CALIFORNIA TẶNG HUY CHƯƠNG VÀNG VỀ ĐIÊU KHẮC. NHƯNG VỚI ANH, NIỀM VINH HẠNH NHẤT LÀ TÁC GIẢ BỨC TƯỢNG ĐỒNG HAI CHIẾN SĨ VIỆT- MỸ ĐẶT TẠI THÀNH PHỐ WESTMINSTER MIỀN NAM CALIFORNIA, VÀ SẮP TỚI LÀ Ở MIỀN BẮC, THÀNH PHỐ SAN JOSÉ.
Ngay sau khi thành phố Westminster có được “biểu tượng chữa lành”, thành phố San José, Bắc California cũng muốn có một tượng đài như thế. “San José tổ chức thi để dựng tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ, nhưng không có tác phẩm nào vừa ý, nên khi họ liên lạc trong thời gian đại dịch COVID-19 và hỏi liệu tôi có làm tượng đài ‘Thank you America’ đánh dấu 50 năm mất Saigon được không, tôi nhận lời!” – Tuấn Nguyễn kể. Sau khi dự án được trình bày tại hội đồng nghệ thuật cộng đồng San José, Tháng Giêng 2023, bức tượng mẫu được duyệt. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào Tháng Ba 2024.
Một lần, khi nói về Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ, cựu nghị viên thành phố Westminster Tony Lâm nhắc đến tác giả và không ngớt lời ca ngợi: “Tôi rất quý cậu ấy, một điêu khắc gia tài ba, lại có tâm. Tôi còn nhớ, cậu ấy còn tạc bức tượng đồng chiến sĩ Việt-Mỹ cao 1 feet và tham gia triển lãm do Bộ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tổ chức. Hiện nay, nếu ai có dịp vào trong Ngũ Giác Đài, sẽ thấy bức tượng ấy.”
NĂM 1994, TUẤN NGUYỄN ĐƯỢC TẶNG HUÂN CHƯƠNG GLORIA CỦA HIỆP HỘI ĐIÊU KHẮC QUỐC GIA Ở NEW YORK. NĂM 1995, ANH ĐƯỢC CÂU LẠC BỘ NGHỆ THUẬT CALIFORNIA TẶNG HUY CHƯƠNG VÀNG VỀ ĐIÊU KHẮC. NHƯNG VỚI ANH, NIỀM VINH HẠNH NHẤT LÀ TÁC GIẢ BỨC TƯỢNG ĐỒNG HAI CHIẾN SĨ VIỆT- MỸ ĐẶT TẠI THÀNH PHỐ WESTMINSTER MIỀN NAM CALIFORNIA, VÀ SẮP TỚI LÀ Ở MIỀN BẮC, THÀNH PHỐ SAN JOSÉ.
Năm 2002, Frank G. Fry, với tư cách Thị trưởng Westminster, gọi Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ đặt tại thành phố Westminster, giữa lòng Little Saigon, là “biểu tượng của sự chữa lành” (a symbol of healing).
Ngay sau khi thành phố Westminster có được “biểu tượng chữa lành,” thành phố San José, Bắc California cũng muốn có một tượng đài như thế. “San José tổ chức thi để dựng tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ, nhưng không có tác phẩm nào vừa ý, nên khi họ liên lạc trong thời gian đại dịch COVID-19 và hỏi liệu tôi có làm tượng đài ‘Thank you America’ đánh dấu 50 năm mất Saigon được không, tôi nhận lời!” – Tuấn Nguyễn kể. Sau khi dự án được trình bày tại hội đồng nghệ thuật cộng đồng San José, Tháng Giêng 2023, bức tượng mẫu được duyệt. Hiện nay, anh đang gấp rút thực hiện công trình này.
Một lần, khi nói về Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ, cựu nghị viên thành phố Westminster Tony Lâm nhắc đến tác giả và không ngớt lời ca ngợi: “Tôi rất quý cậu ấy, một điêu khắc gia tài ba, lại có tâm. Tôi còn nhớ, cậu ấy còn tạc bức tượng đồng chiến sĩ Việt-Mỹ cao 1 feet và tham gia triển lãm do Bộ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tổ chức. Hiện nay, nếu ai có dịp vào trong Ngũ Giác Đài, sẽ thấy bức tượng ấy.”
Tiêu bản của tượng đài Việt Mỹ (Hình: Đoan Trang)
Thiền để sống và sáng tạo
Tuấn Nguyễn kể, 20 năm trước, khi tự mình tậu được một ngôi nhà khang trang ở Nam California, anh đã dành riêng một phòng thiền. “Thiền đối với tôi như là hơi thở. Không thở, không sống được. Thiền để sống, và để sáng tạo. Thiền để tìm sự cân bằng, để bình tâm, và khi tâm trí bình an, bạn sẽ ngộ ra được nhiều điều, rõ ràng hơn.” Tuấn tâm sự, bất cứ lúc nào cảm thấy cần sự bình tâm, cần nói chuyện với Thượng Đế, anh bước vô phòng thiền. Anh tin rằng khi nói chuyện với Đấng Tối Cao, anh sẽ nhận được những lời khuyên, và khi tâm trí được khai sáng, anh biết mình cần làm gì, ngày mai nên như thế nào.
Ngoài các tác phẩm với hình dáng người lính, các tác phẩm điêu khắc khác của anh rất đời thực, nhưng vô cùng lãng mạn, chẳng hạn “Heaven and Earth”, “Romantic Harmony”, “Reflection”, “Embrace”,… Gần 20 năm qua, bộ sưu tập của Tuấn Nguyễn đã lên đến hàng trăm, được anh đem trưng bày tại các triển lãm trên toàn quốc. Anh nói anh có thể sáng tác bất cứ lúc nào cảm xúc tràn về, với nội dung về tình yêu hoặc về triết học âm-dương.
Xem các tác phẩm nghệ thuật của Tuấn Nguyễn, ít người nghĩ rằng anh lại chọn cuộc sống độc thân. “Cho tới giờ, tôi vẫn sống một mình,” anh tâm sự. “Có người đến, họ ở lâu; có người tới, rồi đi, tôi chấp nhận hết. Với tôi, nghệ thuật cũng vậy, tôi không ngồi suy nghĩ là mình sẽ sáng tạo cái gì, điều gì đến với tôi. Tôi để nguồn cảm hứng của mình thật tự do, không ép buộc, không gò bó. Trong hôn nhân cũng vậy, nếu bạn muốn lập gia đình, mà cuộc sống không diễn ra như mong muốn, bạn sẽ đau khổ. Nếu bạn ao ước có một tình yêu, nhưng tình yêu không đến, bạn sẽ buồn. Tôi thì không, vì tôi không tìm kiếm, nên tôi vẫn bình thường, vẫn vui khi không có. Tôi sống một mình nhưng không cô đơn.”
Tượng mẫu của công trình “Thank you, America” sẽ được đặt tại thành phố San José (Hình: Tuấn Nguyễn)
Tuấn vẫn ấp ủ một dự án mang tên “Vietnamese Refugee Memorial” về cuộc di tản của người Việt. Anh nói: “Đây không chỉ là ao ước của tôi, mà tôi nghĩ đó là niềm ước ao của người tị nạn hải ngoại. Dự án này bao gồm hình ảnh người Việt vượt biên, những kỷ vật, câu chuyện của người tị nạn, để lớp con cháu sau này hiểu được cha ông họ đã hy sinh như thế nào, qua đó, người trẻ mới thấy được giá trị của tự do, hãnh diện mình là người Việt Nam, và chỉ như thế họ mới đóng góp để cộng đồng Việt lớn mạnh và phát triển hơn.”
Để dự án này trở thành hiện thực, theo anh Tuấn, không dễ mà cũng không khó. “Quy mô đồ án rộng khoảng 10 acre,” anh cho biết. “Một mình tôi chắc chắn không thể làm được, nhưng mọi người cùng chung tay góp sức thì mọi thứ đều là chuyện nhỏ. Cái khó ở đây là làm sao để cộng đồng hiểu được vấn đề, cho đây là chuyện phải làm và mọi người đồng lòng cùng ngồi lại với nhau…”
Quả thật, thế hệ thứ hai, thứ ba người Việt tị nạn đã bước sang tuổi trung niên, nếu không bắt tay thực hiện, ai sẽ dựng lại được các trang sử truyền thống cộng đồng người Việt tị nạn để những giá trị tinh thần, cội nguồn, văn hóa không bị mai một? Tuấn nói anh là người thích sống “bên cánh gà,” không thích “lộ diện,” có chăng, chỉ là một vài bài viết ngắn trên báo Mỹ, nhưng lần này, qua câu chuyện của mình trên Saigon Nhỏ, anh thật sự trải lòng, và muốn truyền đi thông điệp rằng dân tị nạn là những người dũng cảm, dám làm tất cả vì cuộc sống tươi sáng, hướng thiện, cho thế hệ mình lẫn thế hệ tương lai.
Nguyễn Thiện Tơ cùng với những Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương, Hoàng Trọng … đã góp phần làm nên cái thời rực rỡ của âm nhạc Việt Nam, mà sau này, chúng ta quen gọi là nhạc tiền chiến.
Ca khúc Nguyễn Thiện Tơ cho phổ biến chỉ gồm có vài bản như:
Nhắn Gió Chiều, Giáo Đường Im Bóng, Qua Bến Năm Xưa, Trên Đường Về, Khúc Nhạc Canh Tàn. Cũng có thể Nguyễn Thiện Tơ còn viết nhiều hơn nữa, nhưng ông chưa kịp cho phổ biến thì đã xẩy ra biến cố 1954, đất nước bị chia cắt, ông ở lại Hà Nội và không còn cơ hội. Nếu Hà Nội gần như là nguồn cảm hứng của hầu hết các nhạc sĩ của chúng ta một thời, thì phải nói, Hà Nội chính là linh hồn nhạc Nguyễn Thiện Tơ, cho dù ông chưa một lần gọi tên Hà Nội trong các ca khúc của mình. Vào thời ấy chúng ta có ba bài hát tiêu biểu nói về Hà Nội. Bài Hà Nội 49 của Trần Văn Nhơn như một cuộc tái ngộ với Hà Nội sau vài năm chiến tranh. Bài Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương là một cuộc chia tay sắp sửa với Hà Nội, tiếng gọi hồn Hà Nội.
Bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành là một lần biệt ly thật sự với Hà Nội chứ không còn là sắp sửa hay nỗi lo sợ phải lìa xa nữa.
Cả ba ca khúc của Trần Văn Nhơn, Hoàng Dương và Vũ Thành đều là những bài hát hay. Nhưng mỗi bài hình như đều hàm chứa trong nó cái không khí đặc biệt của một hoàn cảnh riêng.
Chính ở trong nhạc của Nguyễn Thiện Tơ người ta mới thấy được cái không khí thường ngày của Hà Nội. Nó giống như cái màu xám trong tranh Bùi Xuân Phái. Chỉ cái màu xám ấy mới nói lên được cái buồn ngấm trên thành phố Hà Nội, dù không phải Hà Nội không có những ngày vui, những ngày trong sáng.
Chiều nay sớm về với sắc thu đắm u buồn
Cùng gió vàng với sương thu mờ buông
Ai có về nẻo xa
Cho nhắn cùng người xưa
Nhớ khi hoàng hôn cùng ai
dưới màn sương
Bước lần trên đường
lòng réo rắt yêu đương …
Nhớ lại những buổi chiều u ám, những ngày cuối thu sang đông, Hà Nội đã lạnh lắm. Rạp hát Kim Phụng bên cạnh ngõ Sầm Công, trước giờ trình diễn, thường cho chạy những đĩa hát để hấp dẫn khán giả. Trong số những đĩa hát ấy có bài Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ do Mạnh Phát hát. Trong cái chập chọang của bóng đêm đang đổ xuống, người ta tưởng chừng như nghe thấy trong bài hát trong tiếng hát, tất cả nỗi u buồn của cuộc sống ở Hà Nội lúc bấy giờ. Một cuộc sống luôn có một vẻ gì đó tạm bợ, đầy rẫy những chia lìa, đe dọa. Chiến tranh và bom đạn vẫn đang diễn ra đâu đó, chung quanh. Tất cả tạo thành một nỗi buồn.
Và, cái buồn ấy thấm trong nhạc của Nguyễn Thiện Tơ:
Mây cùng với gió
Lòng ta muốn nhắn đôi câu
Tới phương trời vắng cho người nhớ nhau
Lòng sao vẫn còn mang mối sầu
mỗi thu về
Khi bóng ác tà khuất dưới làn
sương mờ buông
Còn đây núi kia đây dòng sông này
Nào ai biết chăng nỗi lòng nát tan
Lần theo những thanh âm của Nguyễn Thiện Tơ, những người từng sống ở Hà Nội, đôi lúc có cảm tưởng như mình đang đi trên một hè đường, một góc phố nào đó của Hà Nội, chạm mặt với những nỗi buồn dai dẳng, những ngày tháng mỏi mệt, một nỗi sợ hãi đè bẹp mọi hy vọng.
Có thể chỉ vì nhạc nhắc lại những kỷ niệm. Không gì khơi dậy kỷ niệm trong lòng ngươi bằng âm nhạc. Nói vậy không có nghĩa bảo rằng, những người không từng sống ở Hà Nội vào cái thời những ca khúc của Nguyễn Thiện Tơ được viết ra ấy, sẽ không cảm thông được hết những gì chất chứa trong các tác phẩm ấy. Nếu không cóchung một quá khứ người ta sẽ khó có chung một rung cảm, vậy thôi.
Có thể những người sống ở Hà Nội hiện nay lại nghe ra trong các ca khúc ấy những điều người trước không nghe thấy. Thi hào Nguyễn Du của chúng ta chả đã từng nói: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay, đó sao?
Cứ nghe Lê Dung hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương chúng ta sẽ thấy đó là một Hà Nội khác, chứ không phải cái Hà Nội chúng ta biết và mang theo trong trí nhớ. Lê Dung là người của Em Ơi Hà Nội Phố của Phú Quang, không phải Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương, cho dù trên thực tế vẫn chỉ có một Hà Nội.
Người ơi lòng vướng chi u sầu
Lạnh lùng theo chim âu gào sóng
Đừng tiếc có ngày xa cách nhau
Tình thế nhân đâu hiểu được lòng ta
Trên đường xa bóng ai dần khuất
Tim sắt se thẫn thờ rời bước
Bao đắng cay trên đời
Trong sương chiều xóa mờ
Giai điệu cũng như ca từ của Nguyễn Thiện Tơ không có gì mới lạ, nhưng thẩy đều trau chuốt và đẹp. Dù sáng tác ít nhưng những ca khúc của ông đều xứng đáng được xếp vào hàng những tác phẩm trong kho tàng âm nhạc của chúng ta. Một điều hơi lạ là hình như các ca sĩ hát nhạc Nguyễn Thiện Tơ, mỗi người chỉ để lại ấn tượng trong một bài.
Thái Thanh với: Giáo Đường Im Bóng.
Lệ Thu: Trên Đường Về.
Mai Hương: Qua Bến Năm Xưa.
Sĩ Phú: Nhắn Gió Chiều.
Từ Mạnh Phát đến Sĩ Phú có một khoảng cách độ 30 năm. Dĩ nhiên gây được ấn tượng đối với một bài hát đã có người hát thành công trước mình, Sĩ Phú phải có tài năng và một cá tính mạnh mẽ. Hiện nay thì cả Mạnh Phát và Sĩ Phú đều không còn nữa.
Sau Thái Thanh, Mai Hương, Lệ Thu, nhạc Nguyễn Thiện Tơ sẽ còn được những ai hát? Ông có vui lòng chăng?
Nguyễn Hiền thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ hai của chúng ta sau những Lê Thương, Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước … Ông đã đóng góp rất nhiều trong việc phổ biến và quảng bá cho âm nhạc Việt Nam ngay từ thời kỳ phôi thai, bằng cách trình diễn, mở các lớp dạy đàn [phong cầm], dạy nhạc. Cũng như hầu hết các nhạc sĩ được gọi chung là lớp tiền chiến, ông có một sự hiểu biết nghiêm chỉnh và một ý thức rõ ràng về công việc của mình. Ca khúc của ông không nhiều. Hay đúng hơn, những bài hát của ông chúng ta được nghe không nhiều, nhưng mỗi bài đều có thể coi là mẫu mực cho một tác phẩm, từ giai điệu cho đến lời ca. Nhạc của Nguyễn Hiền cho người nghe cảm tưởng, tác giả có một đời sống mực thước. Ông là người lãng mạn, yêu cái đẹp. Nhưng ông không bị hệ lụy về những điều này.
Có những người lấy nỗi đau khổ của mình trong tình ái làm một thứ hạnh phúc. Những người khác lại cho rằng mình hạnh phúc vì đã tránh được nỗi đau khổ này. Nguyễn Hiền hình như ở giữa hai loại người ấy. Cái buồn trong các tình ca của ông nhẹ nhàng chứ không cháy da, cháy thịt. Có vẻ như ông xẻ đôi cái tình của mình: một nửa cho người và một nửa cho chính vẻ đẹp của tình. Nên tình ca của Nguyễn Hiền nhuốm nhiều vẻ thơ mộng hơn đau đớn.
Ca khúc đầu tiên của Nguyễn Hiền được phổ biến rộng rãi ở Hà Nội trước năm 1954 [cũng là một bài thơ của Nguyễn Thiệu Giang do ông soạn thành ca khúc], có thể coi là điển hình cho cung cách viết nhạc của ông: một sự cân bằng giữa cái đẹp và cái buồn. Nguyễn Hiền đã giữ vững sự cân bằng này trong hầu hết các tác phẩm của ông về sau. Dù là phổ nhạc thơ năm chữ Người Em Nhỏ Nguyễn Thiệu Giang:
Tôi có người em nhỏ
Xanh xanh đôi hàng mi
Môi hồng vừa đương độ
Chưa biết sầu biệt ly
Thơ sáu chữ Lá Thư Gửi Mẹ thơ Thái Thủy:
Mẹ ơi! Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương
Hay thơ bảy chữ Mái Tóc Da Hương thơ Đinh Hùng:
Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút hương thầm xưa mới quen
Người ta cũng không thấy cái luật lệ của thơ gò bó nhạc Nguyễn Hiền. Trái lại, ông viết nhạc thoải mái, nếu không muốn nói chính bố cục của những bài thơ khiến ông khỏi mất công bố cục lại bài hát của mình. Ông yêu sự nghiêm túc, cổ điển. Ông nói thông thạo hai ngôn ngữ Anh/Pháp nhưng lời ca của ông [những ca khúc do chính ông viết lời] bao giờ cũng chững chạc, hoàn toàn Việt Nam, có ý nghĩa rõ ràng, chứ không có những chữ nghĩa nửa vời, nhiều khi nghe [đọc] người ta không hiểu nổi người nói [viết] muốn nói gì. Nguyễn Hiền cũng soạn ca khúc cho một vài cuốn phim Việt Nam trước 75, tại Sài Gòn. Một trong các ca khúc ấy của Nguyễn Hiền đã được nhiều ca sĩ chọn để hát trên các đài phát thanh, truyền hình hay thu vào băng, đĩa nhựa là các bài Ngàn Năm Mây Bay, Tiếng Hát Học Trò … Ngoài âm nhạc Nguyễn Hiền còn tích cực tham gia vào các công tác xã hội, nhất là từ khi ra hải ngoại, ông hoạt động cho các hội cao niên, văn hóa Việt Mỹ tại Cali.
Ông có một trí nhớ rất tốt, hiểu biết rộng. [Đến nỗi nhiều người coi ông như hậu thân của Nguyễn Hiền, vị tiến sĩ trẻ nhất trong lịch sử của chúng ta, đậu tiến sĩ năm mới 14 hay 15 tuổi]. Dù đã ở thềm của tuổi 80, nhưng những ai được dịp gặp và trò chuyện với ông, đều thấy, ông còn hoàn toàn minh
mẫn. Ông vui vẻ, hoạt bát và từa tựa như một cuốn tự điển sống về thời cuộc trong giai đoạn lịch sử hiện đại và nhất là những gì liên quan tới âm nhạc Việt Nam, các tác giả và ca sĩ tiền chiến, những chuyện thú vị riêng tư của các nhân vật này. Chẳng hạn nếu bạn tò mò muốn biết Ngọc Bích đã viết ca khúc nào, vào lúc nào, và cho ai, cứ hỏi Nguyễn Hiền, vì đó có thể là điều ông biết đấy. Chuyện của ông là những chuyện để vui với mọi người chung quanh ly cà phê buổi sáng chứ không có ý phê bình ai. Như tất cả mọi người có kiến thức lại thiên về văn chương, ông thích chơi chữ. Nếu đối diện lại là người biết thuởng thức thì gặp ông lúc nào người ta cũng có thể có vài điều gì đó để cười và nhớ mãi.
Nếu Nguyễn Hiền viết hồi ký chắc sẽ có nhiều cái hấp dẫn và có ích, không phải chỉ riêng về phương diện tài liệu. Cứ nhìn thấy ông ngồi bên ly cà phê, ngoài hàng hiên một cái quán, một buổi sáng nào đó, dù ông ngồi một mình, chỉ một lát sau, quanh ông sẽ có thêm những mái tóc xanh, tóc bạc, tóc hoa râm, đủ biết ông được rất nhiều người yêu mến. Gần tám chục tuổi, ông đã chơi đàn, dạy nhạc, sáng tác, có lúc làm Chánh Sở Chương Trình Đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn, một chức vụ cũng rất gần với âm nhạc, nên có thể nói, ông đã hiến trọn đời cho âm nhạc.
Thế nhưng, tác phẩm của ông [và của cả những người khác quanh ông nữa] có ý nghĩa thế nào, đối với cái đất nước đầy rẫy những chuyện tang thương, như đất nước chúng ta? Rồi liệu nó sẽ còn tồn tại bao lâu nữa? Và, nếu nghệ thuật cũng không tồn tại được với thời gian và những biến chuyển của cuộc đời, thì cái gì có thể tồn tại được đây?
Trong tháng sau, Vương hổ tướng đã vấp phải một việc quá đột ngột, bất ngờ mà theo lòng tự đắc, tin người của chàng, giá có ai tiên đoán nói cho chàng biết trước, chàng không thể nào nghe mà tin được. Các ông đại tướng tuyên chiến đánh nhau, trong nước đã rõ ràng phân hai: Nam Bắc phân tranh, tin đó như châm ngòi cho các cuộc bạo động, bừng bừng nổi dậy khắp nơi. Trong cơn cuồng nhiệt của chiến trận, những đám giặc cỏ nổi lên như ong: những hạng vô công rồi nghề, những hạng bất mãn, những hạng tình duyên trắc trở, những hạng bất hiếu bất mục, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ nhà ra đi, những hạng cờ bạc thua tháy, những hạng ưu thời mẫn thế … kéo bè, kết lũ giương oai, diễu võ.
Ngay trong vùng Vương hổ tướng có uy quyền, cai trị dân dưới nhãn hiệu của viên Tri phủ già, những bè lũ mọc lên như nấm, họ mệnh danh là bọn khăn vàng, vì mỗi người có một miếng vải vàng quấn ở trên đầu. Lúc đầu họ còn rụt rè, e lệ, họ áp bức mấy nông dân chất phác, cơm rượu hay vào ăn một quán cơm nào không trả tiền, kiếm cách gây gổ với chủ quán, anh chủ quán cũng cố nuốt giận chịu thiệt để khỏi lôi thôi, họ đập phá. Dần dà bè lũ họ đông thêm, bọn khăn vàng có chút thế lực, làm hăng, họ bắt đầu khao khát súng vì cả bọn chỉ có mấy khẩu của mấy anh lính đào ngũ nhập bọn. Họ cướp phá các làng hẻo lánh, táo bạo hơn nhưng chưa dám mon men bén mảng đến các đô thị lớn. Có mấy nông dân gan dạ lén lên trình với Vương hổ tướng bọn khan vàng mỗi ngày mỗi quá quắt, đêm đi cướp bóc, vào nhà nào không có gì tụi nó giết cả nhà.
Vương hổ tướng không tin những lời khai báo của nông dân, chàng cho thám tử đi dò xét xem hư thực ra sao. Có những nông dân nhút nhát, sợ hậu quả tai hại, bọn giặc thù oán không dám nói sự thật, chối hết. Vương hổ tướng được bọn thám tử tường trình bỏ qua việc đó, tất cả tâm trí chàng đang suy tính, chờ thời cơ thuận tiện để xông vào vòng chiến. Chàng đang ở tư phòng, trầm ngâm suy nghĩ, một thông tin viên đến đưa chàng lá thư của anh Hai, chàng vội vàng xé góc phong bì, rút thư ra đọc. Trong thư lời lẽ quanh co, bóng gió, đại ý súng tải đến ngày nào, ở chỗ nào, xếp ở trong các bao thóc, để địa chỉ cho mấy nhà xay lúa ở mạn Bắc.
Vương hổ tướng đọc thư xong, luống cuống không biết đi lấy súng bằng cách nào bây giờ, một số lớn lính tráng, đã đi rải rác khắp vùng để canh phòng trộm cướp. Chàng đứng lầu bầu nói một mình thì cô vợ quý ưỡn ẹo, uể oải bước vào, dáng điệu thướt tha mềm mại, đang giữa mùa hè, trời nóng bức, oi ả, nàng chỉ mặc chiếc áo mỏng với chiếc quần lụa trắng. Áo mặc phía trên không cài khuy, để hở chiếc cổ tròn trặn, nõn nà trắng nuốt. Thấy nàng chàng quên cả đang bực mình, chờ nàng đến gần để đặt mấy ngón tay trên chiếc cổ trắng nõn, mát lạnh. Nàng lại gần, đứng dựa người vào thành bàn, nom thấy ở tay chàng có lá thư, nàng nói:
– Chắc anh có cái gì không được như ý hở? Coi anh có vẻ không vui (nói xong nàng ngừng một lát, nhoẻn miệng cười, nói tiếp). Em mong không đến nỗi thế anh nhỉ, gớm sao hai con mắt anh trừng trừng nhìn em dữ thế, em phát sợ tưởng chừng anh giết chết em. Vương hổ tướng không nói gì, đưa lá thư cho nàng, mắt không rời chiếc cổ hở của nàng xuống đến gần ngực, nước da mịn màng trắng nuốt.
Như tỉnh, như mê, không nghĩ gần xa, bao nhiêu quân cơ bí mật trong chốc lát, thổ lộ hết cho nàng. Nàng giở thư đọc, chàng thấy thích thích, nàng cũng biết chữ, khi nàng khẽ cúi đầu xuống đọc thư, hai môi hơi mấp máy, hình ảnh đó chàng cảm thấy tuyệt đẹp, lúc đó tâm thần chàng như thác loạn, mái tóc dầu óng mượt, tết lại đằng sau gáy, buộc một sợi lụa đen, hai tai óng ánh hai chiếc hoa vàng. Đọc xong thơ, nàng gấp lại cho vào phong bì, đặt lên góc bàn, chàng không rời mắt ngắm những cử chỉ uyển chuyển duyên dáng đó, hai bàn tay búp măng của nàng, mềm mại, nhẹ nhàng, chàng nói:
– Anh chưa nghĩ ra cách nào để cho đem những bao thóc ấy về, không biết nên dùng mưu kế hay binh. Nàng rất bình tĩnh, thản nhiên nói:
– Khó gì, mưu kế cũng được, binh lực cũng được, có gì là khó khăn. Lúc em đọc thư em đã nghĩ rồi, em đã xếp đặt ở trong óc này rồi. Anh cho ngay một bọn lính ăn mặc hóa trang làm một bọn giặc cướp, hiện giờ cả vùng ai cũng biết có giặc cướp, họ làm như đi cướp những bao thóc, như thế liệu có ai hiểu thâm ý của anh, mà trong bao thóc của anh, ai biết còn có gì nữa.
Nghe nàng nói, chàng khoan khoái, cười thầm, mưu kế của nàng thật tuyệt diệu. Chàng lơi lả kéo nàng lại gần, ở trong phòng chỉ có hai người, bọn lính thấy nàng vào phòng biết ý đã lảng ra hết ngoài. Chàng sẽ sàng lấy hai bàn tay rắn chắc, cứng cỏi, sẽ mơn trớn, vuốt ve làn da mịn màng mềm mại, âu yếm nói:
– Thật, anh chưa từng thấy một người đàn bà nào, khôn ngoan, mưu trí như em. Trong vũ công của anh, quả đã có diễm phúc, run rủi giết được Tám Beo, nên mới có ngày nay, em nhỉ?
Chàng chuyện trò với cô vợ quý một lát, đứng dậy đi ra, kêu anh lính mũi diều hâu lại bảo:
– Cách đây lối chừng 50 cây số, chỗ hai đường xe lửa tránh nhau, anh đến đó đem súng về. Súng xếp vào những bao thóc, để ở cạnh đường xe lửa như để tiếp chuyển về mạn Bắc. Anh lấy 500 lính, nai nịt gọn gàng, đem theo võ khí, hóa trang làm một bọn giặc cỏ, đến cướp những bao thóc đó đem về sào huyệt. Nhớ sắp sẵn xe bò, lừa ngựa ở gần đấy, tải hết những bao thóc đó về đây. Anh mũi “diều hâu” này xưa nay vẫn tự đắc có mưu trí, còn anh “chọc tiết heo” tự đắc có hai bàn tay quả đấm to như hai cái bát sành, được cử đi công cán một việc như thế hợp ý lắm. Vương hổ tướng nói thêm:
– Đem được súng về đây, yên chí thế nào cũng có thưởng. Mỗi một người lính sẽ được tưởng thưởng tùy theo côngtrạng.
Cắt cử xong rồi, chàng trở về phòng. Nàng không có ở đó, chàng ngồi vào chiếc ghế bành trạm, nàng có một chiếc ghế ngồi mát bằng mây đan. Trời nóng bức, chàng cởi giây lưng, cởi khuy cổ áo, ngồi tần ngần suy nghĩ, hình dung chiếc cổ nàng, xung quanh vòng ngực nàng, chàng nghĩ cũng lạ, da thịt nàng khác hẳn da thịt chàng, da nàng nõn nà, mát rượi. Chàng quên bẳng không nghĩ lá thư anh Hai gửi đã biến mất, hồi nãy nhanh như cắt, nàng đã lén lấy lá thư đó giấu vào sau áo, giữa ngực.
Bọn lính đã đi được nửa ngày. Buổi chiều hôm ấy trời nóng bức oi ả, trước khi đi nằm, chàng một mình đi hóng mát ở ngoài sân, gần cửa ngang, vẫn bỏ ngỏ trông ra dãy phố nhỏ, ban ngày cũng ít người qua lại. Chàng đang đi bách bộ, thình lình nghe như có tiếng dế kêu. Lúc đầu chàng không để ý, vì trong óc đang nghĩ liên miên nhiều thứ, tiếng dế kêu mỗi lúc mỗi to, chàng nghĩ chắc đang mùa dế mèn, để ý tò mò nhìn xem quanh quẩn con dế đậu ở đâu. Tiếng dế ở ngoài cửa vọng vào … Nhìn ra ngoài, trong bóng tối thấy có hình một người nào đứng đó. Chàng đưa tay vào chuôi kiếm đeo bên mình, tiến lên một bước. Trong ánh sáng lờ mờ, tranh tối, tranh sáng, chàng nhận thấy cai mặt ro, xanh ngắt của thằng cháu.
– Đứng yên, chú đừng nói cho thím biết cháu ở đây, chú ra phố chờ cháu ở ngã ba đường, cháu cần nói để chú biết việc cần lắm, không thể trì hoãn được.
Thằng bé nói xong, thoăn thoắt đi như một cái bóng.
Vương hổ tướng nóng ruột theo chiếc bóng ra ngã ba đường.
– Ai bắt mất vía này, trông mày như bị ma làm?
– Suyt … thím ấy sai cháu lại mãi đàng kia, thím ấy ghê lắm, có khi cháu đứng đây thím ấy cũng biết, có lẽ vẫn rình mò, dọa cháu nếu nói cho chú biết, thím ấy giết chết, đã nhiều lần thím ấy dọa, không phải một lần này.
Vương hổ tướng nghe cháu nói, choáng váng cả người không mở được miệng. Hai tay chàng nhấc bổng thằng Rỗ, lôi nó vào trong hẻm tối, bảo nó nói.
Thằng nhỏ ghé sát mồm vào tai chàng thì thào:
– Thím ấy sai cháu đem lá thư này cho một người nào cháu cũng không biết, vì cháu cũng không giở ra xem. Hỏi cháu có biết đọc không, cháu bảo không biết, cháu bảo ở nhà quê có được đi học đâu, thím ấy mới giao cháu lá thư bảo đem cho một người nào, tối hôm nay tại trà thất ở ngoại ô cổng Bắc, thím ấy cho cháu một đồng.
Nói rồi nó thọc tay vào chiếc áo lót mình sát bụng lôi bức thư ra. Vương hổ tướng giựt lấy lá thư không nói năng gì. Chàng đi rảo bước qua ngõ hẻm tối ra ngoài phố, ở đấy có cửa hàng bán nước nóng, dưới ánh lửa mập mờ của chiếc đèn dầu lạc, chàng giở thư ra đọc. Xem thư chàng thấy rõ có một cuộc âm mưu phản nghịch. Chính nàng, vợ chàng đã đem chuyện súng đi nói với một người nào. Đúng rồi! Nàng đã tư thông với một bọn nào để phản chàng. Trong thư nàng có dặn câu này:
– Khi nào các anh lấy được súng, tập trung hết cả lại, tôi sẽ đến.
Vương hổ tướng đọc xong lá thư, tưởng như đất dưới chân đang sụt, trời trên đầu đang sập. Chàng thiết tha gắn bó, đem hết cả tâm hồn yêu quý người đó, vậy mà người đó lại có thể manh tâm bội phản. Trong lúc đang say mê, chàng quên hết lời anh lính sứt môi đã nói để chàng đề phòng, không cảm nhận thấy nét mặt băn khoăn, kinh sợ của người lính trung thành. Chàng chỉ trông thấy một đường, theo đuổi một ý tưởng độc nhất là nàng sẽ tạo cho chàng một đứa con trai, đúng thế, chàng hàng ngày thường nhắc đến chuyện đó, hỏi nàng đã thấy gì chưa? Trong vàng thau, ngọc đá, chàng đã hoàn toàn tin tưởng vào nàng, sao nàng lại có thể vô ơn ăn ở hai lòng. Ngay trong lúc này, chàng đã nghĩ và sắp sửa lại tìm người bạn chăn gối trong đêm nay. Chàng đã trông rõ nàng không thật tâm yêu chàng.
Nàng cả gan mưu đồ phản nghịch chàng trong lúc này, chàng đang chờ xem thế trận để tiến bước trên đường thế lộ, gian ngoan, quỉ quyệt. Khéo quá, có tư tưởng hắc ám mưu hại chàng mà vẫn thản nhiên nằm ngủ trên giường, lại còn làm điệu, làm dáng lo nghĩ mỗi khi chàng hỏi bao giờ có con.
Uất khí ngùn ngụt bốc, chàng như bị nghẹt thở, bị công phẫn đến cực độ, tim đập mạnh, tai ù, mắt hoa, cặp long mày đen rậm díu lại, hai mắt long lên tưởng chừng đến đứt kẽ mắt.
Thằng cháu theo chàng đứng nấp vào một bên, trong bóng tối trước cửa. Chàng không nói năng gì, đẩy mạnh thằng nhỏ sang một bên, đến nỗi thằng bé ngã chúi xuống đường có sỏi nhọn.
Chàng rảo bước đi thẳng vào trong nhà, mặt hầm hầm, vừa đi vừa rút thanh đoản kiếm khỏi vỏ của Tám Beo khi xưa và chùi lưỡi kiếm vào đùi. Chàng đi thẳng vào buồng nàng, nàng ngủ không kéo rèm vì trời nóng quá. Mặt trăng đã lên cao khỏi tường, chiếu ánh sáng vào chỗ giường nàng nằm.
Nàng ngủ, không mặc quần áo, một tay co, một tay duỗi bỏ thõng xuống thành giường. Dưới ánh trăng mát dịu, trông nàng tuyệt đẹp, như một pho tượng bằng ngọc thạch trắng. Vương hổ tướng không chút ngập ngừng, do dự, trong cơn uất hận, như điên như rồ, chàng giơ thẳng tay, chiếc kiếm sắc như nước đâm vào cổ nàng, đầu nàng bị hắt về một bên gối, chàng cầm chiếc kiếm ngoáy mạnh một vòng, rút lưỡi kiếm, chùi vào thành giường. Cặp môi hơi mấp máy, ú ớ được một tiếng, không rõ tiếng gì, nằm im không cựa quậy, chỉ khi chiếc kiếm đâm ngập vào cổ, chân tay nàng như bị giựt giơ cả lên, mắt mở trừng, tắt thở.
Vương hổ tướng không muốn đứng lại xem việc mình vừa làm. Chàng chạy ra ngoài sân, hô một tiếng, bao nhiêu lính tráng tập trung lại hết; trong cơn phẫn nộ, chàng hô hiệu lệnh, tiếng nói ầm ầm mãnh liệt. Không được chậm trễ phút nào phải đi tiếp viện ngay anh lính “mũi diều hâu” coi số súng có bị bọn vô lại chiếm đoạt mất không? Để lại 200 lính giữ doanh trại đặt dưới quyền chỉ huy của anh lính sứt môi, bây giờ đã là đại đội trưởng, còn bao nhiêu chàng tự dẫn đi tiếp ứng.
Ra đến cổng trại chàng thấy lão già gác cổng, lão nghe tiếng huyên náo vừa thức giấc, đang ngái ngủ, Vương hổ tướng ngồi trên mình ngựa, quay lại bảo:
– Vào trong phòng ngủ của tôi, thấy cái gì lôi ra, vứt xuống suối hay cái đầm nào. Để ý trông nom cẩn thận cho đến lúc tôi về nghe không?
Vương hổ tướng ngồi trên mình ngựa, dáng điệu hung dũng, hiên ngang, sát khí đằng đằng. Tuy vậy, trái tim chàng bị tan nát, ruột như đứt từng khúc, chàng suy nghĩ cố thổi tắt ngọn lửa căm hờn nó như hun như đốt tâm can chàng, ruột xé gan bào. Một lúc, thình lình chàng rên hừ hừ, tiếng vó ngựa trong đêm khuya, trênđường thiên lý làm át tiếng rên não ruột của chàng. Chính chàng cũng không biết mình đang rên. Đêm hôm đó và suốt ngày hôm sau, dưới ánh nắng gay gắt của một ngày mùa hạ, Vương hổ tướng và bọn lính, sục sạo khắp vùng đi tìm anh lính mũi diều hâu. Chàng nóng ruột, hồi hộp, lo sợ, không dám nghỉ dọc đường; mãi đến chiều hôm sau, trên đường quan lộ Bắc Nam, chàng đã gặp anh lính mũi diều hâu và đồng đội của hắn. Khi anh lính lại gần, chàng đang bị cơn phẫn nộ hun đốt máu sôi lên, chàng gầm gừ, hai con mắt bị bộ lông mày đen kịt che kín, giọng cáu kỉnh, chàng hỏi:
– Ê, tao chắc mày không lấy được súng ống gì phải không?
Anh lính này có tính bẻm mép, đang lúc vui tính, tự đắc, anh nói rất hăng quên cả lễ độ:
– Không biết sao tụi cướp lại biết có súng ở đây? Chắc tụi nó có trinh sát nên đã phỗng tay trên mất rồi. Cũng chịu không biết làm thế nào.
Nói xong hắn vứt khẩu súng xuống đất, hai tay khoanh trước ngực đứng yên, nhìn thẳng tận mặt chủ tướng, như có vẻ thách thức, giết hắn lúc này không thể được.
Tuy Vương hổ tướng đang trong cơn phẫn nộ, bực tức, song chàng có tính cương trực, thẳng thắn, không làm điều gì trái với lẽ phải. Đang ngồi ở bãi cỏ, chàng uể oải đứng dậy, ra đứng ở gốc cây chà là, tựa người ở thân cây sần sùi, vừa nói vừa cởi giây lưng thắt lại cho chặt, với giọng mệt mỏi,
buồn buồn, chàng nói:
– Ta chắc chắn bao nhiêu súng ống đã bị mất hết rồi. Ta cần phải đánh bại tụi cướp để lấy lại. Đúng vậy, nếu cần đánh ta không ngần ngại chơi nhau với bọn cướp một trận xem sao (chàng rùng mình, nhổ một bãi nước bọt, nói giọng hăng hái) chúng ta phải truy tầm bọn vô lại cho tụi nó một mẻ, nếu đổ máu, chết mất một nửa binh đội cũng được, không cần. Phải lấy lại hết số súng, chết mười người hay hơn đổi lấy một khẩu súng cũng được, ta không cần, ta sẽ có mười người khác. Song, bắt buộc phải truy tầm bằng ra.
Nói xong, chàng nhảy phắt lên mình ngựa, kìm chặt dây cương, con ngựa tức muốn lồng lên vì đang gặm cỏ non bị hất mõm. Anh lính mũi diều hâu thản nhiên đứng nhìn chàng, vẻ mặt đăm đăm, mãi mới nói:
– Con biết chỗ tụi nó, chẳng đâu xa lạ, chính ở trong sào huyệt Tám Beo khi trước, tụi nó đang sửa soạn đón chủ mới.
Vương hổ tướng cũng thừa hiểu ai định làm chủ, cầm đầu bọn thảo khấu này, chàng không nói năng gì, ra lệnh bọn thủ hạ tiến thẳng lên sào huyệt của Tám Beo, chàng nói:
– Khi đến nơi, bắn phủ đầu thị oai một loạt súng, hết loạt súng đầu ta sẽ ra đứng điều đình, bọn giặc đứa nào đem nạp súng được tự do sáp nhập vào hàng ngũ của ta. Các anh em binh đội, ai trông thấy, lượm được, đem lại cho ta một khẩu súng nhất luật được thưởng một đồng bạc.
Nói xong, một lần nữa chàng lại nhảy lên mình ngựa, một lần nữa chàng lại leo con đường dốc, ngoằn ngoèo, lên núi Lưỡng Đỉnh, một bọn người, quần áo lôi thôi, rách rưới, đi chẳng có hàng ngũ, theo sau. Nông dân đang lom khom làm đồng, thấy lao xao ngửng cổ lên nhìn, có vẻ ngạc nhiên.
Bọn lính nói:
– Chúng tôi đi dẹp cướp đây.
Có bọn nông dân, thấy vui vui, lạ mắt, hô to, chúc:
– Thắng lợi!
Nhưng có nhiều nông dân trông thấy không nói năng gì, như có vẻ bực tức, khó chịu, cáu kỉnh thấy bọn lính đi qua những ruộng lúa vườn dưa, vườn cải của họ, biết bọn lính không có gì là tử tế, vì đã từng trải, biết lính tráng là thế nào. Một phen nữa Vương hổ tướng phải leo lên con đường mòn xoáy trôn ốc lên ngọn núi Lưỡng Đỉnh, con đường độc nhất, hai bên vực thẳm, hang sâu. Chàng xuống ngựa, dắt dây cương, bọn lính tùy tùng cũng lần bước theo sau. Chàng không để ý bọn lính đi sau, mải miết đi như có một mình, người ngả về đàng trước. Hình ảnh người đàn bà lại hiện lên trong trí óc chàng, thật cũng kỳ lạ, không hiểu sao chàng lại để tâm tha thiết yêu người đó, ngay đến bây giờ chàng vẫn còn thấy lòng bồi hồi cảm nhớ, chàng đang khóc thầm, mắt hoa lên không trông thấy những bực đá trơn rêu mọc đầy. Nhưng chàng không hối hận đang tay giết người đó. Mặc dù, mối tình đối với người đó rất mặn nồng, tha thiết, song trong thâm tâm chàng cũng hiểu một người đàn bà như hạng đó tâm địa dáo dở khác thường: yêu đấy, cười đấy, mà bội phản cũng đấy, tốt hơn mụ chết đi còn giữ được trung tiết, chàng lẩm bẩm một mình:
– Đúng thật, loài chồn cáo mới có thứ tâm địa đó.
Hăng hái chàng dẫn bọn thuộc hạ lên tận ngọn núi, khi đến đầu đường độc đạo vào trong sào huyệt chúng, chàng sai anh lính “mũi diều hâu” đi trước, dò la, thám thính. Chàng đứng ngoài, chờ, dưới bóng mát cây thông, trời hôm ấy nắng gắt. Độ non một giờ anh lính trở ra, khai đã đi quanh một vòng sào huyệt tụi chúng, anh nhận xét:
– Bọn lâu la không đề phòng gì hết, không đứa nào chuẩn bị, tụi nó đang ung dung xây cất lại sào huyệt.
Vương hổ tướng vội hỏi:
– Mày có trông thấy chủ tướng tụi nó không?
– Không, con không thấy, con rón rén lại gần nghe rõ tụi nó nói với nhau: “Chúng nó thật ngu, đi ăn cướp, làm giặc mà chưa đủ kinh nghiệm, con đường độc đạo không có một tên nào gác, còn mải cãi cọ tranh giành nhau những căn nhà nào ít bị hư hỏng”.
Theo báo cáo của tên lính do thám, chàng có những điều kiện rất thuận tiện cho một cuộc tấn công bất thần. Ra hiệu lệnh cho lính tấn công, chàng cầm quân dẫn dầu, theo con đường độc đạo thẳng tiến vào tận sào huyệt bọn cướp, cả bọn ào ào kéo tới, vừa hô xung phong. Mỗi người lính được lệnh phải giết ít nhất một tên cướp rồi sẽ ngừng tay để điều đình. Khi chạy đến trung tâm ổ giặc, Vương hổ tướng đứng sang một bên, bọn lính xông thẳng bắn một loạt súng, bọn lâu la ngã gục chết như rạ, có đứa chết hẳn, có đứa bị trọng thương ngắc ngoải. Đúng thật, tụi này không có đề phòng, mải lo cất lại doanh trại. Trong sào huyệt chúng có độ 3 hay 5 ngàn tên, lúc nhúc như một ổ kiến, lao nhao, bọn xây tường, bọn khênh gỗ, bọn lợp nhà đang say sưa, xây mộng vinh quang sau này. Bị tấn công quá đột ngột, bất thần, bọn lâu la chạy tán loạn, Vương hổ tướng không biết điều đình, nói với ai.
Lần đầu tiên chàng thấy khoan khoái, dễ chịu, xua đuổi những tư tưởng hắc ám vẫn luẩn quẩn trong trí nhớ vì chàng biết ai sẽ làm chủ bọn cướp này. Nếu âm mưu của họ thành tựu, trước sau chàng phải cầm quân, giao phong với một mụ đàn bà, người đó chàng đã yêu thương, nghĩ giết được hắn trước lại hóa hay.
Nghĩ thế, chàng lại càng tin tưởng vào số phận con người. Với một giọng hùng dũng, chững chạc của một chủ tướng, chàng ra lệnh cho bọn lính ngừng chiến và nói to khuyến dụ bọn lâu la:
– Ta đây Vương hổ tướng, cai trị vùng này, bổn phận ta không thể để tồn tại bọn giặc cướp ở trong bản hạt. Nếu cần ta sẽ giết mà ta sẽ giết không sờn tay. Ta sẽ tận diệt các ngươi, nếu ý các ngươi muốn a tòng với ai để chống đối lại ta. Song ta cũng tỏ lượng khoan hồng, ta sẽ để cho một lối thoát cho những ai biết cải tà quy chính. Ta quay về bản trại ở ngay trong phủ đường. Ta hẹn cho ba hôm, ai đem đến nạp một khẩu súng ta sẽ cho lưu dụng và nếu nạp hai khẩu sẽ được trọng thưởng.
Huấn dụ bọn lâu la xong, chàng ra lệnh cho các thuộc hạ quay gót trở về bản trại, chàng cho bọn lính có súng đi tập hậu, đề phòng mọi sự bất trắc. Nhưng thực ra bọn lâu la này là quân ô hợp, dốt nát, được chiêu mộ kết đảng vào âm mưu do vợ Tám Beo cấu tạo. Họ được lệnh đi cướp súng, nhưng ít người trong bọn họ biết sử dụng thứ vũ khí đó, trừ ra có mấy anh lính đào ngũ. Mấy anh này không dám bắn vào Vương hổ tướng, vì làm như thế khác nào như vuốt râu cọp, chả bõ cọp sẽ vồ và tận diệt. Hôm sau bọn lâu la lục tục kéo xuống Phủ, họ đi rải rác hoặc một người, hoặc hai người, hoặc năm hoặc tám. Không có người nào đem nạp hai khẩu, vì nếu có hai khẩu họ sẽ nhường cho bạn hay anh em bà con đem nạp lấy cớ câu cơm.
Vương hổ tướng ra lệnh thâu nạp những hạng trai tráng khỏe mạnh, từ khước bọn già nua, ốm yếu, bọn này đem súng được ban thưởng ít nhiều. Bọn được kết nạp, chàng cho cơm ăn, quần áo. Hết hạn ba hôm, Vương hổ tướng gia hạn cho ba hôm nữa, rồi lại gia tăng thêm ba hôm nữa, bọn lâu la kéo đến mỗi ngày mỗi đông, đến nỗi những sân và các trại lính phủ đầy nhóc người. Vương hổ tướng cho bọn lính ra tạm đóng ở các nhà ngoài phố. Thỉnh thoảng có một gia trưởng nào đến kêu với chàng nhà chật chội quá, gia đình họ phải ở thu gọn trong một hai căn buồng. Người đến than phiền, mà còn ít tuổi có ý hợm hĩnh, chàng đe dọa:
– Mi liệu có cấm nổi không? Hãy cố chịu lấy, hay mi muốn có cướp nó đến bóp cổ.
Nhưng nếu là một người già cả nói năng ôn tồn, lễ phép, chàng đối xử lại lễ độ, cho tiền hay phẩm vật, chàng nói:
– Phiền các ông trong ít hôm thôi, tôi sắp cất quân đi chinh phạt. Tôi không có ý cố thủ ở cái phủ bé tí tẹo này.
Chàng hiện sống độc thân, tính hay cáu kỉnh, rất ghét một người đàn ông nào chớt nhả với một người đàn bà. Với tất cả dân chúng có nhà cho bọn lính đến đóng, chàng bảo:
– Nếu một người lính nào của tôi nhìn một cách bất chính một người đàn bà nào lương thiện, các ông lại báo ngay cho tôi biết, tôi sẽ chém liền.
Bọn lính mới, chàng cho ở những căn nhà gần chỗ chàng, chàng dọa nạt bắt phải đường hoàng, tụi này không dám ngước mắt nhìn một người đàn bà nào.
Thưởng phạt phân minh, chàng hứa sao làm vậy, bọn lính có công lấy được súng đều được thưởng. Vấn đề tiền tài, chàng bị thiếu hụt, vì mới mộ thêm 4000 tân binh mà số súng mới lấy lại được có 2000 trong số 3000 khẩu gửi mua. Tuy vấn đề tiền đang lúc eo hẹp, nhưng số tiền thưởng đã hứa được trả đầy đủ phân minh. Chàng nghĩ nền tài chính không thể để thiếu hụt kéo dài được, chàng cần đặt thêm một thứ thuế mới. Hiện nay chàng đang phải lấy ở mật quỹ ra, dùng phương sách đó tối nguy hiểm cho một ông lãnh chúa vì ngộ lỡ ra thất cơ phải ẩn náu trong ít lâu để chờ thời thì lấy gì mà nuôi quân lính. Vào hồi đó hết hạ sang thu, bọn trinh sát chàng cho đi dò la các mặt trận về báo cáo: các ông tướng Nam bị đẩy lui, các ông tướng Bắc lại toàn thắng. Chàng có ý tiếc, mấy tuần trước, ông tướng trên tỉnh hiệu triệu, chàng không đem quân dự chiến. Vương hổ tướng lật đật cho thằng cháu và anh sứt môi đem một lá thư lên tỉnh đệ trình vị đại tướng. Trong thư lời lẽ khiêm tốn, chàng tỏ ý hối tiếc vì mắc bận công vụ, dẹp bọn thảo khấu trong hạt không thể đến ứng chiến. Bây giờ công việc đã ổn định, xin đem quân tình nguyện trợ chiến. Chàng gửi lá thư kèm theo lễ vật. Hồng phúc chàng đã giúp chàng một cách khéo quá, vì chính hôm hai sứ giả của chàng đến tỉnh thì cuộc đình chiến đã ký kết, bọn phiến loạn phương Nam lùi về ranh giới để chỉnh đốn binh mã, đạo quân phương Bắc được vơ vét của cải những vùng chiếm đóng làm chiến lợi phẩm.
Viên đại tướng trên tỉnh khi nhận được chứng ngôn trung thành của Vương hổ tướng, ông nhã nhặn trả lời nay sang thu chiến tranh đã tạm hoãn, nhưng chắc chắn mùa xuân sang năm sẽ có nhiều trận khác, khuyên chàng nên
chuẩn bị sẵn sàng. Hai sứ giả được gửi đi công cán, đem tin về, chàng rất
sung sướng vì không thiệt một tên quân, mất một viên đạn, mà nghiễm nhiên tên chàng đứng ngang hàng với các tướng lĩnh đắc thắng.
“Three may keep a secret, if two of them are dead”, Benjamin Franklin.
1.
Hội Cao niên mở cửa sáu trên bảy. Cách chợ ba trăm mét, xa chùa gần hai cây số và thân cận láng giềng với trung tâm thẩm mỹ hớt tóc nhuộm sấy- chuyên trị làm nail. Giống như tên gọi, căn phòng rộng mười mét vuông ấy chứa đựng những vật dụng già tuổi. Bàn ghế không đồng dạng. Cái gỗ cái nhựa, cái đen đúa cái màu mè. Có tủ đựng sách với hàng chữ lớn dán trên vách: “Coi tại chỗ, cấm mang đi”.” Sách đa phần là truyện chưởng và tình cảm gay cấn của Quỳnh Dao. Có máy lọc cà phê, có bình thủy, có ấm trà. Có cỗ bài tây, có bàn cờ tướng và có thể, rất nhiều thứ khác nằm ẩn dấu đằng sau lối đi vào phòng vệ sinh.
Nếu tuổi bạn đã 65, hoặc già hơn? Bạn mua vé đi xe buýt với giá phân nửa. Cũng thế, buồn chân bạn vào cửa hàng The Salvation Army mua áo quần cũ, tha một đống đồ hiệu với giá bèo không tưởng được sau khi xuất trình giấy chứng thực tuổi đã về chiều. Hội cao niên thì bảnh hơn, họ hay dụ khị bạn đi chơi xa ngoạn cảnh mà chẳng cần phân biệt tuổi tác. Hai chục bạc mỗi đầu người, xe đò hạng sang, sáng đi chiều về bao luôn thức ăn nước uống. Nói chung, khi bạn đã già, đi đâu bạn cũng hưởng được sự đặc ân khác thường. Bạn mua thuốc trợ lực cũng dễ, tựa lấy đồ trong túi ra, đâu khó khăn như bọn trẻ khi muốn thử qua công hiệu của Viagra.
Ông Bảy đi theo người bạn già dẫn đường. Ông hít phải mùi nước đái qủi từ tiệm hớt tóc xông ra nồng nặc thì nghe người bạn la to: Tới rồi!
Nền vàng chữ đỏ. Chữ Hội cao niên kẻ sơn chẳng được thẳng thớm. Ông Bảy có một nhận xét: Vàng, đỏ. Riêng lãnh vực thẩm mỹ, hai màu ấy luôn thù nghịch nhau. Da vàng máu đỏ, đâu phải chỉ vì cái cớ ấy mà dân Việt nỡ lòng nhắm mắt vi phạm vào cái khoản “ngó cho được mắt”. Giả sử ai đó quét phông màu xanh đậm, bleu noir, rồi dùng sơn trắng mà “quất” ba chữ Hội cao niên lên trên coi có phải “Tây” hơn không? Chỉ cần mường tượng thôi, chín chín phần trăm đã thấy “thằng” xanh trắng đẹp ăn đứt “thằng” vàng đỏ.
Bước vào cửa, hai ngọn néon đón chào ông Bảy bằng thứ ánh sáng chiếu lệ. Ngọn thứ ba thì mãi nhấp nháy, hổng chịu năng nổ với chức năng. Gần đất xa trời, chữ ấy nghe thấm thiá, riêng với con người. Ngọn đèn đang hấp hối kia sao chẳng ai đành lòng đem quẳng thùng rác? Nó chiếu xuống hội phòng, lan toả một thứ gì buồn buồn, day dức trong câm nín. Có hai người đàn ông tóc bạc đang ngồi chơi cờ và người thứ ba là một madame mãi loay hoay với khay đựng trà. Tiếng ly tách va chạm nhau, tiếng những con cờ bằng gỗ gõ chan chát xuống bàn. Bận bịu. Không ai rảnh mà trông lên kẻ mới bước chân vào phòng. Ông Bảy lại nghĩ: Ở cuộc đời, tất cả chúng sinh đều mắc phải nhiều lầm lỗi. Và đáng phàn nàn là cái phận người bé nhỏ ấy đều bị cuộc chơi bắt phải tuân thủ một điều lệ: Hạ thủ bất hoàn. Thua, chỉ có hối tiếc ăn năn. Khắc vào da thịt một thứ tì vết mà ai đó dẫu có thứ tha cũng khó gội rửa cho sạch. Ông Bảy trước 75 là một nhân viên có chức phận trong ty Ngân khố. Một mình, ông nuôi bốn đứa con học hành tới nơi tới chốn. Nhưng mà lớn lên, đứa con đầu đụng trận, thây phơi ngoài chiến địa. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như câu thơ hào sảng của ai kia. Đứa hai, không oanh oanh liệt liệt như anh nó, chết trong tù cải tạo một vùng đất xa xăm đâu tận ngoài Bắc. Đứa ba, con gái, mình hạc xương mai, du học ở Pháp rồi để cho thằng thực dân lạ hoắc lạ huơ ẳm đi chẳng một lời cáo phó “au revoir” để lại. Thằng út vượt biển, qua Canada phấn đấu thi đỗ làm bác sĩ, lấy vợ cùng đẳng cấp, mở phòng mạch hốt bạc, bảo lãnh ông Bảy qua và… và mặt lạnh như tiền, thuê cho ông Bảy căn hộ hẹp bé “Bố ở riêng cho được tự do”. Chúng nó giáng một đòn quyết liệt, hạ thủ bất hoàn, ông Bảy nhìn tướng sĩ tượng tan tác, thành quách u sầu đành dong cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Đem con bỏ chợ, ông Bảy phải ngửa tay xin tiền trợ cấp xã hội. Gầm đầu xuống đất nhỏ ba giọt lệ, ngước mắt nhìn cao xanh mà cười lên ba tiếng. Bậc làm cha mẹ thường mang niềm vui tràn bờ khi con cái thành công ngoài trường đời. Đôi khi lỡ miệng dông dài về chúng thì người nghe chuyện chớ vội trách cứ là họ huênh hoang. Ông Bảy khác, ổng ngậm miệng hến, câm như thóc. Con mèo biết dấu cứt là ông Bảy. Ổng mồ côi trước cuộc đời. Người bạn già nói với ông bằng thứ triết lý mơ hồ của Tây: “Oh! C’est la vie!”. Và cụ thể bằng tiếng Việt, giọng Nam chơn chất: Anh Bảy theo tui, giỏi chân tới hội cao niên sinh hoạt dăm ba bữa. Biết đâu tìm gặp ở đẳng một niềm vui, dẫu bèo bọt.
Cuối cùng thì người đàn bà nhìn thấy khách. Tuy lớn tuổi nhưng lưng bà còn thẳng, dáng vẻ linh hoạt và cái đáng nói là son phấn tuồng như chưa hề bị phụ rẫy một lần trên gương mặt đang tươi cười kia. Bà mặc áo đen có đính những hạt cườm xanh đỏ trước ngực, quần tây màu mỡ gà là thẳng nếp. Trang phục tử tế như thể vị chủ tịch hội phụ nữ sắp sửa diễn thuyết về đề tài Hai Bà Trưng, giặc đến nhà sao bắt đàn bà phải gồng mình uýnh lộn? Đàn ông trốn đi đâu?
– Chào anh. Anh vẫn khỏe?
Bạn ông Bảy gật đầu:
– Dạ, nhờ trời. Chị cũng thường?
Người đàn bà ngó chăm vô mặt ông Bảy, ánh mắt đong đầy những nỗi niềm. Mày lá liễu nhíu, mắt lá răm sắc, sóng thu ba đo lường, lóng lánh tia nhìn tra vấn. Tội phạm mang tên Bảy cứng đờ người, tự hỏi thầm: Ta là ai? Và em là ai? Hy vọng giữa đôi ta chưa hề một lần sơ ngộ. Và như thế, mụ ấy không thể moi ra đống cứt ta từng cất dấu. Cái quá khứ đau thương ấy…
– Mấy anh ngồi chơi.
Bàn có rất nhiều ghế. Như thứ phô trương thanh thế, rằng cao niên rất đông hội viên. Tiếng kéo ghế không làm bận tâm hai tiên ông đang đắm mình vào bàn cờ gần tới hồi tàn cuộc.
– Thiệt đúng lúc, trà uống được rồi đây.
Người đàn bà bày chiếc khay ra giữa bàn. Mười ngón tay, ông Bảy đếm, có ba chiếc nhẫn tròng vào đó. Một vàng và hai kim cương. Vàng ảm đạm, kim cương thì lanh lợi chớp nháy hột nhỏ hột to. Đó là thứ chứng minh nhân dân, đóng mộc vào thân phận người đàn bà. Ông Bảy đón lấy tách trà từ tay người nhiều của. Đẳng cấp ấy quá cao xa. Tôi tên là Trần Trụi, ngoại hiệu Rớt Mồng Tơi. Ông Bảy cười:
– Cám ơn chị
– Xin lỗi anh tên chi?
– Dạ, tên Bảy.
– Anh Bảy qua lâu mau?
– Dạ, cũng chưa được lâu. Coi như mới, thảy đều còn lạ nước lạ cái.
– Trà uống được không?
– Ngon. Dạ, cũng thơm…
– Tui nói có trời chứng giám, anh Lắm như người quân tử, nhân nghĩa lễ trí tín, đức độ đến là thế mà trời sao nỡ sớm bắt đi?
Một quân cờ giáng xuống bàn. Thảng thốt như tiếng nổ của một hòn đạn vừa rời nòng súng. Chết điếng.
– Trà này của người quen từ Toronto mang về phúng điếu. Sẵn đây e mình cũng nên ngậm ngùi ngồi yên tưởng niệm đến anh Lắm đôi ba giây. Chức vị anh Lắm hiện bỏ trống, tuần sau có cuộc bầu bán hội trưởng, anh Bảy nhớ đến chung vui. Có tiệc trà thân mật do chính tay quí chị em chúng tôi đảm trách. Chao! Đời sống này buồn quá, còn gặp nhau ngày nào thì nên vui mừng ngày đó. Tui nói thế liệu anh Bảy nghe có hợp nhĩ không?
– Dạ, chị nói đúng. Ở đời nên lấy cái tình làm trọng. Giàu có chớ khinh khi kẻ nghèo túng, ai cũng là phận di dân!
– Sao giọng điệu anh nghe hệt như anh Lắm? Cái phương ngữ ấy người Cộng sản họ gọi là san bằng giai cấp, người chớ có bóc lột người. Chao! Mệt ngất ngư. Sang hèn chi rồi cũng châu về hiệp phố. Cát bụi cả! Bèo bọt ráo!
Ông Bảy bắt đầu thấy ê mình. Có thể lâu quá ông mới được dịp tiếp chuyện với người đồng hương. Như thiền giả ngồi diện bích trong thạch động đã lâu, nay bước chân xuống đời thuyết pháp dĩ nhiên phải trẹo quai hàm. Xe chạy đường dài, cháy bu-gi lột dên hư xú báp là chuyện thường hằng. Không lấy gì làm lạ! “Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi!”
Bạn ông Bảy ngồi nín khe chẳng góp lời. Tôn trọng ý kiến của đôi “trai gái” đang luận tới cái mong manh có trong cuộc sống. Đề tài ấy dẫu nói năm canh cũng chưa thể tàn cuộc. Và không cứ là già đầu, bọn trẻ cũng ưa phát ngôn linh tinh đến nó. Vì thế nghe hoài rất dễ ngấy. Chuyện tình yêu cũng xưa cũ không kém, vậy mà lạ lùng một điều, con này ăn nằm với thằng kia, gã nọ lén vợ đi chơi bời… dẫu nghe bất tận cũng còn nguyên dạng háo hức. Nó luôn rành rành hàng chữ sau đuôi: Xem sang hồi sau sẽ rõ. Hồi hộp khiếp!
Chuyện vãn đang nhạt dần, trà nước thảy đều nguội, ông Bảy chưa biết sắp xếp một câu kết luận phải phép để được rời đi thì lại có thêm một cụ ông hom hem bước vào. Nhân sinh thất thập cổ lai hy! Câu ấy láo. Hay lại nói trớ đi, nhờ bơ sữa của đế quốc nên mới thọ được thế? Cái ấy thậm ngụy biện!
– Anh Bùi.
Người đàn bà reo lên. – Chứ chị ấy đâu?
Kẻ thọ hiếm hoi kia nói mà không nhìn một ai:
– Bà ta đang ở trên chùa làm việc thiện nguyện công quả. Chốn ấy tôi không thể đứng xớ rớ được lâu, lội bộ tới đây ngồi chờ cho được việc.
Ông tên Bùi nhấc hỏng một chiếc ghế nhựa, tìm chỗ khuất lấp ngồi hút thuốc. Nơi đó có dấu sẵn cái gạt tàn bằng nhôm. Nơi đó màu vách có vẻ ám tối, tựa hồ khói thuốc đã làm bức tường bị ung thư.
– Một ngày anh hút mấy điếu?
Người đàn bà hỏi khi mang tới cho ông Bùi tách trà.
– Gần một bao. Tôi ghét đếm số.
– Chẳng một ai ngăn cản?
– Gia đình tôi phật tử thuần thành, đâu ai làm chuyện ác đức thế!
Khói thuốc che mờ một phần gương mặt ông Bùi. Giọng ông ta chẳng hề pha chút diễu cợt. Ông nhấp chút nước, ướt bờ môi:
– Bà chưa nghe vợ tôi phân trần?
– Dạo này lu bu ít khi gặp nhau.
– Cuộc đời này tôi chỉ còn duy nhất một niềm kỳ vọng. Vợ tôi nói. Đó là một ngày kia được trông thấy ông từ bỏ thuốc lá. Như vậy thì nhân danh một người chồng tốt tôi vẫn phải tiếp tục hút, bởi tôi chẳng đành lòng cướp đi niềm kỳ vọng của bà ta. Sống mà không nuôi hy vọng. Giời ơi! Cuộc sống ấy nhạt tựa hồ mồm chẳng ngậm được điếu thuốc thơm.
– Tuần sau có cuộc họp. Anh Bùi nhớ đến.
– Nhớ. Trước đây ông hội trưởng có hút thuốc không nhỉ?
– Không. Tuyệt đối. Anh Lắm là người đạo đức gương mẫu đủ mọi mặt.
– Vậy mà hắn đã chết. Buồn thay! Người đàng hoàng đạo đức sống lâu, xưa nay hiếm! Tôi nói với vợ tôi trên đường đến chùa trưa nay: Hút thuốc có cái lợi, kẻ quen biết cạy mặt chẳng dám mời mình tới nhà chúng. Đó là hạnh phúc số một. Số hai là mình suốt đời thong dong, chẳng ai bầu một đứa nghiện thuốc như tôi vào chức hội trưởng, kế toán, ngoại nội vụ hoặc thủ qũy. Vậy thì xin cứ thỏng tay vào chợ, lim dim khói thuốc ở bờ môi tịnh khẩu.
– Anh Bùi nói nửa đúng nửa sai.
Một tiên ông đứng lên. Bị chiếu bí, giận dỗi xoá hết dấu vết có trên bàn cờ. Ông tiến lại chỗ ngồi ông Bùi.
– Đâu, thuốc đâu? Làm một điếu cho thơm râu.
– Thuốc đây. Cứ thoải mái. Tôi trót nói sai chỗ nào xin cụ chỉ giáo cho.
– Cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ anh có ham chức hội trưởng hay không? Ngần ấy thôi. Chẳng cần lôi kéo xì ke ma túy vào cho rách việc. Sao, thích không? Bao bọn này một chầu phở thì tuần sau đổi đời làm hội trưởng một cách đường bệ.
– Không ngửi được. Qúi vị bỏ tiền ra đút lót dụ dỗ tôi thế chân me-xừ Lắm thì họa may.
– Ngược đời! Phàm muốn có vai vế chức phận người ta phải giở trò lòn cúi tranh thủ hối lộ mua quan bán chức chớ. Thôi, sinh hoạt với nhau đã lâu chúng ta biết rõ lòng dạ nhau quá, mượn cái vị mặt mũi mới toanh này làm trọng tài một phen.
Mọi con mắt đều chú mục quang tới ông Bảy. Những con mắt đục bụi trần, duy đôi mắt bà ấy là long lanh. Tinh tường sáng lạng một cách đáng ngạc nhiên. Chẳng biết bà ta xỏ chỉ qua lỗ đít cây kim có dễ không? Ông Bảy gãi đầu:
– Tui biết nói năng chi?
– Kệ, cứ phát ngôn. Mình đang ở xứ tự do dân chủ. Người ngoại cuộc bao giờ cũng sáng mắt hơn.
– Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép anh đây? Tên tuổi còn chưa tường nói chi tới ý kiến này nọ. Quí vị có ưa ăn phở thì chúng ta cùng kéo nhau đi. Tiền qũy của hội sau khi mua vòng hoa phúng điếu anh Lắm còn đúng ba mươi tám đồng, dư sức qua cầu để chào đón anh Bảy ngày đầu đến với hội ta.
Mọi người chộn rộn hẳn lên. Đàn bà họ giỏi hơn đàn ông ở chỗ, biết gỡ rối tơ lòng, biết tháo chướng ngại, tìm ra con lộ hanh thông trong khi hoàn cảnh lâm vào chỗ ngỡ là tắc tị, dễ gây hận thù. Phở. Nó là cái quái gì mà nghe đi kéo ghế thì ai nấy mặt mày linh hoạt, có thần khí ngay. Duy ông Bùi vẫn bình chân như vại, khói dâng mù mờ, khoảng cách đâm xa.
– Sao thế?
– Tôi ngấy phở. Vã, bả về đây tìm không thấy lại sinh chuyện. Lại Nam mô di Phật.
– Xeo phôn đâu? Trình với bả một tiếng.
– Cái gì?
– Không có điện thoại di động, điện thoại cầm tay sao?
– Thứ ấy để bọn trẻ con nó nghịch phá đú đởn chòng ghẹo nhau. Ngần này tuổi ai lại đi ôm của nợ đó? Không thấy chướng tai gai mắt sao?
– Ông này lạc hậu! Ở Việt nam người ta còn bán cả xeo phôn bằng giấy kia. Đời mới, mẫu mã đa dạng.
– Hiện đại nhỉ!
– Chứ sao. Đắt như tôm tươi. Để đốt xuống dưới cho thân bằng quyến thuộc có phương tiện mà réo gọi nhau.
– Khiếp. Địa ngục tối tăm không thấy đường, mày mò sao lại bấm đúng số phôn của ông thì bỏ mẹ.
Ông Bùi cười lớn, tự tán thưởng lấy mình. Người kia thoa đầu tóc lưa thưa:
– Thua. Đấu cờ thua, đấu khẩu cũng thua. Điệu này phải ra tiệm phở gọi đúng một tô xe lửa để gỡ sĩ diện mới được.
Trừ ông Bùi, mọi người đều tới lấy áo khoát, móc trên dãy đinh đóng ngập vào vách. Những chiếc áo thay phiên rời đi, lộ ra toàn phần bức tranh màu nước đã phai nhạt màu. Ông Bảy nghiêng đầu ngắm. Chẳng hiểu tay họa sĩ phóng bút ra thứ cây gì? Một cụm lá rối đâm ngang dọc, tua tủa. Và tại sao người ta lại cố tình máng nó ở đó, hà hiếp nó một cách không khoan nhượng. Bạn ông Bảy giải thích:
– Vách tường ở đó bị thủng một lỗ khá lớn, dùng tấm tranh để che đậy là hợp lý nhất.
– Nó chẳng mấy đẹp phải không anh Bảy? Người đàn bà góp lời. – Trúc có đâu mà kỳ cục thế?
Bạn ông Bảy hỏi:
– Sao chị biết đó là cây trúc?
– Cố hội trưởng bảo thế. Chính anh Lắm mang nó tới chứ ai? Trúc, biểu tượng cho người quân tử.
– Vớ vẩn! Ông Bùi bình phẩm. Ngày xưa tôi đi học, thầy giáo kể chuyện có ông gì đi sứ sang Tàu, táy máy đưa tay rờ rịt vào bức tranh vẽ thật sống động bị người quyền thế họ mắng cho. Cả thẹn, chàng kia đành bào chữa: Trúc là quân tử cớ sao để cho chim chóc, hạng tiểu nhân bám đậu vào? Kẻ hèn này chỉ muốn xua đuổi chim bay đi… Thiệt là quê một cục! Mất mặt bầu cua. Cho hay người Việt mình thì ngu ngơ chậm lụt mãi từ đời ông Bành tổ tới giờ. Mấy đứa cháu tôi bị bố mẹ chúng ép đi học tiếng nước nhà, ngày một ngày hai bèn cúp cua. Chớ cớ sự gì thế các cháu? Ông ơi, cô giáo dạy trước đây người Việt mình biết đẻ trứng. Một trăm cái lận. Chắc họ bắt chước trong phim Aliens. Stupid! Đi học mà nghe người lớn dối gạt, ông biểu chúng cháu phải làm sao? Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt, xuội lơ làm đồng minh với bọn nhóc tì.
– Bậy thật! Có ai lại như ông? Chim có tổ người có lông…
Người đàn bà che miệng cười:
– Sao lại mang lông lá vào? Có ai no hair đâu? Chim có tổ người có tông. Xin anh nhớ cho.
– Ừ thì tông. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tóm tắt là phải cố đừng quên nguồn cội. Ăn phở cũng là cách tôn trọng gìn giữ văn hoá xứ ta. Chẳng ke cholesterol.
– Văn với hoá! Anh về Việt nam lần nào chưa?
– Chưa. Tại sao?
– Anh sẽ cảm thấy lạc lõng bởi chốn ấy không còn ai nói cùng thứ ngôn ngữ với anh. Tiếp thị, công đoạn, khuyến mãi, cường độ, sự cố, cự ly… Đầu anh khi ấy sẽ mọc lên cái ý nghĩ: Mình đang lạc bước tới một tiểu bang của Trung quốc vĩ đại. Made in China, mua một món hàng sản xuất ở đó thì chả có gì phải phấn khởi hồ hỡi cả. Buồn, buồn lắm! Chưa kể bị ngộ độc hồi nào chẳng hay!
Không một ai tiếp lời. Yên lặng vì ngao ngán, hoặc làm thinh vì nhận xét ấy quá xác đáng? Đó là phút giây mà ông Bảy hay biết tên người đàn bà: Trúc. Ông có vẻ chịu đèn, ông luôn đi cạnh bà. Ông mở cửa cho mọi người thong dong cùng bước ra. Ngoài đường chẳng có nắng, gió thênh thang lùa ngang bãi đậu xe trống, mang hàn khí tới, xua đuổi mùi nồng của hoá chất từ tiệm hớt tóc thường trực bủa vây.
2.
Lên thiên đường hay xuống địa ngục. Điều ấy chẳng có nghĩa lý gì để mang ra hù dọa kẻ còn sống. Chết, trước tiên đó là một sự thiệt thòi. Khiếm diện, mất dấu và những người thân quen đón nhận sự bất thường khi ý thức rằng mỗi ngày họ hao hụt mãi những liên hệ quanh mình, thưa vắng dần mọi giây mơ rễ má. Ông Bảy đứng cúi đầu trước chân dung người bạn, ngoại cảnh ủ dột không cướp đi được cái ý nghĩ mà ông vừa suy tưởng. Ông như đứng dưới một cây phong vào cuối mùa Thu. Lá vàng vốn ít, giờ chỉ còn lưa thưa trên cành một hai chiếc đong đưa như tay vẫy gọi. Ông Bảy nhìn tấm ảnh chụp ăn gian, đóng khung gương mặt kẻ trung niên đầy khắc khổ. Gương mặt ấy như nói thầm, moa vốn không mấy vui từ hồi còn sung, giờ này moa đi và moa hài lòng được ngồi trên chuyến tàu suốt. Trong gia đình, con cháu tề tựu đông đủ. Họ chẳng lộ vẻ đau đớn. Nói hạnh phúc thì dường như hơi hàm oan, nhưng họ toại nguyện vì người nằm trong áo quan đã lên đường với tất cả sự êm thắm. Ông ăn cơm chiều xong, ông tháo răng giả ngâm vào ly nước, ông tắm táp, ông thay bộ đồ ngủ sạch sẽ, ông xem DVD cuốn phim “Xuân, Hạ, Thu, Đông… và Xuân” của Nam Hàn và trên chiếc ghế nệm ấm áp ông đã làm một giấc thiên thu. Nhiều người khi nghe kể lại đã ước ao, đến phiên mình, trời gọi cũng xin chắp tay đi hầu ngài với cái cách thức “yên hàn vô sự” ấy. Đừng vật vã đau đớn, đừng dây dưa lâu dài với cuộc đời mà mình luôn bất bình này. Rũ bỏ nợ nần hệ lụy, dứt khoát phủi tay tan biến vào chốn khôn cùng. Đó là niềm kỳ vọng sau rốt của một kiếp người.
Ông Bảy thắp hương, ông hơi buồn vì nhìn quanh không phát hiện ra một gương mặt nào từng sinh hoạt ở hội cao niên. Họ chẳng đến phúng điếu như thể họ sợ hãi vong linh người vừa khuất mặt sẽ nắm tay họ ra đi cho có bạn đường. Ông Bảy nói đôi ba lời khuôn sáo cho phải phép với những người chít khăn tang rồi lặng lẽ rời khỏi nhà quàn. Ông sẽ chết và ai là người đứng ra lo hậu sự? Cái dấu hỏi đó đè nặng vào lòng ông Bảy, để rồi không toan tính, ông đón xe buýt và giật chuông xuống trạm dừng gần nhà người đàn bà tên Trúc.
Cửa mở không lâu sau hồi chuông đầu. Người đàn bà hiện ra với tất cả sự rạng rỡ nơi trang phục, nơi cách trang điểm, nơi mặt hoa da phấn. Dường như bà ấy sẽ đi ra ngoài, đi tới phường hoa đô hội chứ không đi thăm người chết. Sắc màu diêm dúa đó dành cho một cuộc tiệc tùng có hát karaoke. Màu đen, trắng, xám tuyệt không hiện hữu trên người Trúc. Một chút nước hoa phảng phất, nồng đậm tựa bùa mê thuốc lú.
Cửa đóng. Căn hộ dâng tràn sự tịch mịch thân thuộc. Lặng lờ tới độ nghe được cả tiếng đập từ hai trái tim.
– Em đi đâu?
– Không. Em linh cảm là anh sẽ đến. Em có nấu nồi cháo gà nhưng để khuya mới thưởng thức. Giờ thì anh uống trà hay cà phê?
Ông Bảy cởi giày. Ông rất ghét chuyện ấy. Đi thăm nhau mà chẳng khác phải dâng tấu bẩm báo oan ức với quan to. Công đường đã có quy cũ, cũng được đi, nhưng hà cớ gì thuê ấp ở tạm mà cũng chộn rộn bắt chước chuyện cong lưng cúi mình gỡ giây tháo giày? Đời là bể khổ! Phải vậy chăng? Đã biết khổ, sao không giải tỏa bớt đi những rắc rối kiểu này, hở em yêu dấu!
– Cà phê đau tim, trà thì mất ngủ. Anh không uống.
– Hôm nay ai đã làm cho anh buồn bực để đâm dỗi hờn?
– Sao em không tới thắp cho lũy một cây hương?
– Em có nỗi khổ tâm.
Người đàn bà quay lưng. Khổ tâm của ông Bảy là phải đối mặt với những câu hỏi: Vợ anh đâu? Anh có mấy đứa con? Chúng làm gì? Chúng ở đâu? Sao anh một mình bơ vơ ở xứ lạ? Ngàn lẻ một thứ cắc cớ. Vì vậy chưa bao giờ ông Bảy đặt ra những câu hỏi tựa thế cho bất kỳ một ai. Ông chỉ quan tâm tới hiện tiền, quá khứ là cánh cửa vừa đóng sập sau lưng. Mở nó ra làm gì? Nó bày biện cả một trời bất hạnh. Ông Bảy đi theo sau lưng người đàn bà. Đôi vớ ông mang như chẳng bám được vào nền gỗ. Ông không thấy thăng bằng. Nếu té, ông sẽ bổ nhào tới ôm lấy tấm lưng tròn trịa kia. Cái nịt vú, cái lưng quần, chia đều những ngấn thịt. Tựa hồ ai kia đã gói cột đòn bánh tét một cách vụng về. Tết sắp đến, ông Bảy nhớ là đã quá lâu ông chưa hề ăn lại thứ bánh nếp nhân thịt mỡ và đậu xanh đãi vỏ kia. Ông thích cắt từng lát mỏng, chiên trong chảo dầu. Để lửa nhỏ, riu riu, thong thả trở mặt, dục tốc bất đạt. Vàng ươm, dòn rụm. Chấm chút nước mắm ớt… Ông nuốt nước miếng.
– Hay anh uống bia?
– Ừ. Trời trở, làm đại một chai cho ấm người.
Người đàn bà mở tủ lạnh. Trong đó có vẻ trống trải, ngọn đèn nhỏ ẩn mình ở góc kẹt vì thế mà dường như sáng quắc. Đầu chỗ ông Bảy cũng vậy. Không mấy khi đèn đuốc tối tăm vì bị lu hủ thịt thà rau quả che choáng. Nó sáng, vì chủ nó độc thân. Chủ nó già, chủ nó chẳng thiết tha miếng ăn. Lai rai ba sợi cũng phải có bạn hiền. Mình ên nuốt hổng trôi.
Ông Bảy ngồi xuống ghế. Chiếc bàn ăn nhỏ, bồn rửa chén, lò điện rồi tới tủ lạnh. Ông thấy cánh cửa phòng ngủ mở rộng. Tờ lịch lớn treo trên vách in hình tài tử Trung quốc (hay Hồng-kông?) Thập diện mai phục hay Vô gian đạo? Cầm gươm hay nắm súng? Chiếc giường trải ra phẳng phiu, gối vun đầy chẳng có dấu tích người nằm để hằn xuống vết trủng. Khuê phòng hay lãnh cung?
– Khi nào đói thì cứ cho em biết. Cháo gà dễ ăn, chẳng nặng bụng.
Ông Bảy đón lấy chai bia. Ông vặn nắp và thấy không khó như ông nghĩ.
– “Khuya nay em cắt cổ con gà vàng, để chi mai nó gáy hai đàng biệt ly!”.
– Trời! Xịn quá ta. Anh Bảy cũng biết sáng tác thi phú nữa sao? Nghe mà rụng rời!
– Thi phú gì? Tối tác gì? Cái đó gọi là văn chương truyền khẩu. Tại em nấu cháo gà. Tại mới đó mà người kia đã lặng lẽ biệt ly.
Người đàn bà lộ vẻ buồn. Ngồi xuống ghế đối diện ông Bảy, tay chống cằm, nhìn mông lung. Tia mắt xa vắng, không thu nhận vật thể. Ngó là ngó rứa thôi. Giây phút yên lặng như mặc niệm trôi qua. Người đàn bà nói ơ hờ:
– Con gà nằm trong nồi kia là gà thả.
– Em bảo sao?
– Không phải gà công nghiệp hằng hà sa số lúc nhúc đứng chen vai thích cách trong chuồng.
– Gà đi bộ thong thả? Chắc thịt ngon hơn? Xưa kia, mình cũng có một thời được thả, giờ thì thịt thà bở rệt, nhão nhẹt, ngó mất ham. Mình cũng đang nằm trong nồi, đúng không? Hiểu ở một nghĩa nào đó.
– Ý anh muốn nói: Sống đây mà như chết rồi?
– Ừ. Buồn vô hậu phải không Trúc?
– Em không nghĩ vậy. Chắc tại anh vừa đi gặp mặt người chết, trong đầu còn đọng lại hình ảnh thê lương.
Ông Bảy uống hết chai bia. Có thể bà ấy nói đúng. Như mũi ông, đã yên vị chốn này rồi mà sao vẫn còn ngửi ra mùi khói hương? Trầm uất và tử khí. Lý ra phải hít được thịt da nồng nàn của chị gà mái đang trầm mình trong những hạt gạo mềm nhừ. Lý ra phải say hương hoa nhẹ toả từ cơ thể người nấu cháo gà kia.
– Đó là cái tâm lý bình thường, như em từng gặp phải hôm đưa đám anh Lắm. Em đã rầu đời, hiu hắt cả tuần lễ sau đó.
– Lắm? Tay đó ra sao mà trong mọi câu chuyện em thường để gã chen vào?
– Đó là người có cảm tình sâu đậm với em. Những đứa con của ảnh cũng đồng tình xúi dục: Ba hãy đến với dì Trúc cho đời có chút màu hồng. Lắm, là người đàn ông từng mang lại cho em ít nhiều thi vị, dìu em bước ra khỏi niềm cô quạnh luôn vây bọc. Lắm, anh ấy từng ngồi trên cái ghế mà anh đang ngồi. Cái tên cũng lạ. Nhiều lắm, khổ lắm, sướng lắm, chán lắm, vui lắm. Anh thấy không? Đói lắm, no lắm, mệt lắm. Gì cũng lắm!
– Anh có điểm nào giống Lắm không?
– Lần đầu nhìn thấy anh ở hội cao niên em đã thót tim. Mái tóc, vầng trán, cái sống mũi… Em nhủ thầm, trời đất ơi, có phải hoàng thiên đã rộng lòng làm luật bù trừ cho em. Một kẻ ra đi không lâu liền có người khác hiện hữu, lò dò dẫn xác tới.
– Cho anh thêm chai bia.
– Không. Anh không có quyền uống nhiều như thế. Em ghét người say.
– Anh vốn đang say. Những người từng sinh hoạt đằng hội cao niên nói chùng vụng rằng chính em góp phần mang tới cái chết cho ông hội trưởng Lắm.
– Anh tin không?
– Chuyện ruồi bu. Hơi đâu anh phải để ý tới ba cái vớ vẩn nọ?
– Em có nốt ruồi mọc ở chỗ kín. Sách vở của thuật bói toán phán rằng, nếu qúy bà nào được vậy thì sanh con toàn cả qúy tử, gia đạo an vui, chồng mê mệt không cách gì ham của lạ, tơ tưởng chuyện mèo mỡ gà đồng. Kết quả là gì? Một con số không. Láo, đặt điều cả!
– Thấy chưa? Em chúa ghét người say. Bia đang nói, có phải không?
Ông Bảy nhìn vào phòng ngủ. Ông ngó tấm lịch.
– Chắc là em biết Lý Tiểu Long? Cái chết của Bruce Lee mờ ám tới độ có dạo báo chí Hồng kông ngờ rằng ổng bị thượng mã phong.
– Thượng mã phong là sao? Gió trên lưng ngựa? Hề hấn gì với kẻ từng tu luyện kung-fu?
– Nói gì thì nói, anh vẫn thấy đó là cái chết đẹp đẽ nhất. Người quân tử chê bai, đồ hạng phàm phu tục tử phơi thây trên bụng đàn bà. Nhạc sến thì hát hỏng, đi không trọn đường tình. Chết ở cái thời điểm không nên chết.
– Đúng quá chứ còn gì nữa. Xin anh hãy nghĩ tới kẻ bên dưới một chút. Họ sẽ đau đớn và sợ hãi biết dường nào khi mở mắt chứng kiến kẻ yêu mình đang tắt thở. Mới năng nổ lao động đó, mới loay hoay như gà mắc đẻ đó, vậy mà biến đổi ngay thành một tử thi, da thịt lạnh lẽo. Khiếp!
– Anh không hớt tóc húi cua. Anh nuôi tóc, dù đã bạc đầu.
– Chi vậy?
– Để cho em dễ nắm, em sẽ giật rụng hai bên mai và khi đó hồn anh không thể du địa phủ. Ba hồn chín viá sẽ lộn lui làm anh lai tỉnh. Người ơi, tui vẫn đi trọn đường tình.
– Dịch vật. Già không nên nết!
Người đàn bà phán. Và ông Bảy phải hiểu ra “không nên nết” là một đức tính đáng tưởng thưởng, cần tuyên dương. Người ta chẳng thể sống mãi được với những điều răn. Đạo đức sẽ làm họ biến dạng thành một con gà nuốt giây thun. Viện cớ nhức đầu vì bia, ông Bảy xin được ngã tấm lưng xuống tấm nệm gợi mời kia.
A. Ông sẽ thiếp một giấc ngon.
B. Ông sẽ thao láo con mắt nằm đợi một điều gì đó tới trong len lén, ngần ngại, rụt rè.
C. Ông sẽ vùng dậy đòi ăn cháo gà rồi mặc áo mão mang hia xăm xăm trở về chỗ thường trú trong đêm vắng.
Trong ba giả thiết, điều B có vẻ gần gũi với sự thật.
Không mấy lâu, ông nghe được bước chân đi lại gần. Ngọn đèn vàng ngoài bếp thu hẹp dần nguồn sáng bởi cánh cửa vừa nhẹ khép. Chẳng đóng kín, vì bóng tối sẽ làm người ta vấp ngã, sẽ làm khó đôi mắt. Nhờ nhợ, đủ để ông Bảy nhìn ra cốc nước óc ách, sóng sánh, xô động trong tay cầm của người đàn bà.
– Uống cái này đi.
– Anh đã nốc hết chai bia. Chưa giải thủy, sao lại bắt dộng thêm thứ này vào?
Hai tay đều bận bịu. Lòng bàn tay trái mở ra, chìa tới cho ông Bảy thấy một viên thuốc.
– Đừng nói nhiều. Ngồi dậy. Nghe lời em đi.
– Để anh nhớ lại, bao lâu rồi anh mới hưởng được phút giây sung sướng này. Săn sóc, thăm hỏi, ân cần, quan hoài tới cái mạng già này. Đó là những thứ đã li dị anh gần nửa đời người.
Không lấy thuốc vội, ông Bảy vuốt ve bàn tay người đàn bà. Da ở đó chưa nhăn nhàu, còn tươi mát; nhưng với kiến thức căn bản, người đàn ông tên Bảy hiểu Trúc đã qua thời kỳ mãn kinh. Có nghĩa là dẫu ở chỗ kín mọc lên hàng trăm nốt ruồi quý tướng Trúc cũng không thể đẻ đái ra hoàng tử công chúa. Cái giếng nước mát ngọt kia đã bốc hơi, đã khô ráo. Nhắm mắt ném xuống một đồng tiền với lời khẩn cầu trong thành tâm cũng hun hút chẳng nghe tiếng hồi âm vọng dội.
– Sao bảo là nhức đầu? Thực ra thì anh muốn uống thứ gì?
– Anh không biết gọi tên. Thứ mà anh Lắm uống mỗi khi gần em.
– Đồ dê chúa. Sức mọn đừng vác nặng. Đã nghe câu tục ngữ ấy chưa?
– Câu đó dài sao em nỡ cắt ra phân nửa. Phần sau là: Lời nhẹ chớ khuyên người! Anh là đầu con vịt, em chớ hoài công đổ nước lên, chẳng thấm đâu.
– Cầm ly nước đi, ông thánh. Để em đi lấy thuốc hầu ngài.
Ông Bảy đặt ly nước trên table de nuit. Rũ mền phủ đắp toàn thân, trăn trở vặn vẹo cho xương cốt được thư giãn. Tấm nệm dưới lưng reo vui nhún nhảy, có vẻ hớn hở. Đằng chỗ ông Bảy thì khác. Nệm cứng, mua garage sale và hầu như nó luôn thù tiếp ông bằng sự lạnh lẽo cố hữu. Tự thân nó, xông lên thứ mùi khó giải thích chứ chẳng được thơm tho tinh khiết như ở đây. Nói chung, những thứ có mặt trong ấp này đều đáng yêu cả. Sự cố này người Việt gọi là hàng độc, siêu xịn, đồ hiệu, khó đụng hàng, rất ấn tượng ở đời thường.
– Hên cho anh, chỉ sót lại đúng một viên.
….
– Sao không chiêu một ngụm nước. Ăn tươi nuốt sống vậy sao?
– Uống nước sẽ làm loãng thuốc đi.
– Kỳ cục!
– Nằm xuống đây bồ tèo, trong mền ấm lắm.
– Ai lại không biết điều đó. Trong chăn có rận không?
– Hình như có. Anh ngứa ngáy lắm.
– Để em đi kiểm tra cửa nẻo bếp núc điện nước lần cuối.
Ông Bảy nghe tiếng lục đục phát ra từ phòng vệ sinh. Tiếng nước chảy, tiếng dội cầu. Robinet mở, vòi nước khoá kẻo kẹt. Đèn đóm tắt ngúm. Cuối cùng là mùi thơm, như hoa dạ lý nở bông thật gần.
– Đã nghe rục rịch gì chưa?
– Mau vậy sao?
– Để em đốt một cây hương.
– Chi vậy? Tưởng niệm anh Lắm à?
– Đừng ăn mắm ăn muối nói quàng nói xiên. Để đo thời khắc. Sau này lỡ có truyền đạt kinh nghiệm cho ai thì anh có chứng cớ. Ừ, hương cháy đâu khoảng một phần ba thì tui biến thành cha già dịch ngay.
– Trúc à, sao anh thấy em nói câu nào ra cũng mặn mà đáng yêu hết á. Láo chết.
– Mà ít ra thì anh cũng nên vận động trí óc một phần, chớ có ỉ lại giao mạng cho thuốc thang.
– Phát huy sáng kiến nữa sao?
– Hãy nghĩ tới một cái gì đó. Cái mà anh thiếu thốn đã lâu, cái mà anh thèm khát.
– Lỡ anh là bợm nhậu, trí óc anh hiện ra một két bia thì hỏng việc.
– Lúc nào cũng cắc cớ. Không chừng về khoản này anh dám thua kém anh Lắm.
– Được lắm. Đàn ông rất dễ tự ái. Em cứ chọc giận thì anh sẽ sung ngay.
– Hy vọng thế. Sung chớ đừng nổi sùng. Em chúa ghét hạng đàn ông cộc cằn lỗ mãng.
– Mình biết tánh tình nhau quá mà. Nằm xuống đây đi Trúc, thứ cây biểu tượng cho người quân tử, để anh chỉ cho em xem cái vật tượng trưng hạng tiểu nhân.
Đêm đó, ông Bảy ăn hết hai bát cháo gà. Uống hết hai chai Bud ướp lạnh. Người ông nóng, và lạ lùng thay ông đủ sức dắt bà Trúc đi qua hai lần cửa, cảnh giới ở đó thật khác thường, lung linh rạng ngời, làm người ta phải nhắm mắt lại mà rên xiết trong sướng sung. Nửa đêm về sáng, ông Bảy đi đái với đôi chân run. Ông rảy cho khô vòi nước mềm oặc và ông nói với cái mặt già đọng trong gương soi: Ủa, mày chưa chết sao?
3.
Trung tâm thẩm-mỹ-hớt-sấy-gội-nhuộm-chuyên-trị-làm-nail ngày mỗi phát đạt. Láng giềng nó là tiệm bán bánh-mì-thịt-nguội-nem-giò-chả-đủ-loại-chè vì thế cũng đông bạn hàng, người vào kẻ ra ăn tại chỗ hoặc gói mang về. Khó kiểm tra lượng khách ở tiệm bán bánh mì, nhưng chỗ hớt tóc thì dễ nhìn thấy qua chứng tích để lại trên nền gạch hoa. Tóc vụn quét tém vào góc, cao một cách khó chịu, ngứa ngáy mắt nhìn. Khách vào tiệm đa phần là đàn bà con gái, dung nhan có điều gì tiềm ẩn làm bạn phải hoài nghi chuyện thật giả. Nếu bạn là phóng viên cho một tờ báo lá cải rẻ tiền, bạn chịu khó căng lỗ tai ngồi đấy khoảng một giờ, màng nhĩ bạn đầy ắp những lượng thông tin rùng rợn, chuyện dài của khúc ruột ngàn dặm. Trong tiệm có đặt mua hai tờ tuần báo, tiếng nói địa phương, cho khách khứa đọc lai rai khi ngồi chờ tới phiên. Tiếc thay, cả hai đều là báo chợ, quảng cáo chiếm hai phần ba số trang, cầm bẩn cả tay. Nếu bạn khó tính, bạn sẽ đánh giá thấp những kẻ mó tới món ăn tinh thần nọ. Nếu bạn dễ dãi, đợi hớt tóc ngoáy tai lấy ráy, buồn tay vớ nó lên xem thì mắt bạn sẽ vấp phải Kết bạn bốn phương, hỏi đáp chuyện trở ngại phòng the, tử vi trọn tuần, tin về tài tử điện ảnh, truyện ma và túi bụi lùng bùng chuyện dài hình sự ở quê nhà. Gái điếm, thôn nữ đăng ký lấy chồng ngoại bất kể tật nguyền bệnh tật. Ma túy, thuốc lắc. Con đâm cha, mẹ đổ cường toan vào mặt con. Bố ghen tuông đốt lửa người tình. Dâu ngủ với cha chồng, đồng sàng đồng mộng… Nhân danh Cha, thánh thần… Amen. Hết thuốc chữa! Nhức đầu choáng váng thì chỉ còn biết đọc các ô quảng cáo bán nhà bán xe cần người giữ trẻ sang gấp cửa tiệm… Có hàng chữ nhắn tin đăng ở góc khiêm nhường: “Tìm cô Nguyễn thị Hoa Lài, con ông Nguyễn văn Bảy. Trước 75 sang Pháp du học. Nay ở đâu xin liên lạc gấp để biết tin cha đang đau nặng. Quý vị đồng hương ai hay biết cô Lài xin viết thư hoặc điện thoại mách bảo cho bà Trúc. Số sau đây… Thành thật cám ơn.”
Bà Trúc nào vậy cà? Thắc mắc hả? Thử hỏi bà chủ tiệm một phen. Đấy, bà nhuộm tóc đỏ mặc quần bò ấy. Quần bò là quần gì? Cái ông này. Đồ dở hơi! Ba mươi giây sau, bà chủ xẹt tới. Jeans Versace bó lấy cái mông luôn khiêu khích vật vã mỗi khi uốn lượn đi kiểu mình xà: Bà Trúc trước đây thường đến sinh hoạt với hội cao niên. Thực sự thì bà còn trẻ, nhăm hai tuổi là cùng. Em biết bà ấy vì cùng gặp ở chỗ giải phẩu sắc đẹp. Nghe giang hồ đồn, ông nào ăn nằm chung đụng với bà ta đều chung số phận từ chết tới bị thương. Hội cao niên thì giải tán rồi, nhường chỗ cho tiệm bán bánh mì thịt nguội. Buôn bán phải hỗ tương cho nhau, trước đây kề cận toàn ông già bà cả chán bỏ mẹ, chẳng thu hoạch được gì! Thôi, giả tiền cho em đi chứ. Vừa hớt vừa sấy tổng cộng hai mươi nhăm đô. Khẩn trương lên!
Khách đi ra. Bất ngờ trời giáng cho trận mưa rầm rộ. Nghe ngói, dầm dề. Chưa chiều mà màu sắc u ám trông nẫu cả người. Ở Canada, thống kê rõ ràng là cứ đến mùa này số tử vong tăng lên rất cao. Cho hay đất trời và thời tiết ngoại cảnh ảnh hưởng lớn lao đến số phận một kiếp người.
Ông Bảy nhập viện đúng mười ngày. Ổng nằm hấp hối trên giường bệnh đã hai hôm. Trúc không vào thăm đã bốn tám tiếng đồng hồ, lâu thật lâu có bà y tá dáng dấp đẫy đà chậm chạp vén màn nghiêng đầu vào ngó chừng. Không nhìn mặt ông, chỉ trông lên những con số xanh đỏ hiện ra trên máy nhiều dây nhợ chằng chịt. Tấm màn vải rung động và bà y tá biến mất như một con ma. Yên ả tựa một nhà mồ. Nếu chết, ông Bảy chẳng có điều gì trối trăn, gửi lại nhân gian. Nếu Trúc vào, ông sẽ thì thầm bên tai Trúc: Ở đây vắng vẻ không ai, anh ước nguyện chỉ một điều, vạch quần xuống chỉ cho anh trông rõ hạt nốt ruồi quý báu của em. Anh sẽ cất giữ hình ảnh đó ở võng mô, mắt anh sẽ nhắm và trước khi qua cầu húp cháo lú anh sẽ hét thật to ở bến sông Mê: Anh yêu em.
Mưa mãi không tạnh. Khi taxi đổ bà Trúc xuống trước thềm bệnh viện trung ương Montréal, ngước mặt dòm trời, tuyết mỏng bay vần vũ lạnh căm. Trắng toát.
Khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, Philippines là thuộc địa của Mỹ và chịu sự kiểm soát của quân đội Mỹ. Ngày 8/12/1941, chỉ vài giờ sau trận Trân Châu Cảng, Nhật Bản tiến đánh Philippines. Năm 1942, sau các trận chiến khốc liệt như Bataan và Corregidor, quân Mỹ và Philippines buộc phải đầu hàng. Tuy nhiên, phong trào kháng chiến vẫn tiếp tục. Đến năm 1944, tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân Mỹ phản công, mở màn chiến dịch tái chiếm với các trận Leyte và Luzon. Đến năm 1945, quân Nhật bị đánh bại.
Đảo Lubang, cách Manila khoảng 120 km về phía Tây, có vị trí chiến lược quan trọng. Nhật Bản chiếm đóng hòn đảo từ năm 1942 và xây dựng các căn cứ quân sự tại đây.
Tháng 2/1945, trung úy Hiroo Onoda được điều đến Lubang với nhiệm vụ tổ chức chiến tranh du kích, phá hủy sân bay và cản trở quân Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó, quân Đồng minh chiếm đảo, phần lớn binh sĩ Nhật đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Riêng Onoda và 3 đồng đội vẫn bám trụ trong rừng, tin rằng chiến tranh chưa kết thúc. Suốt nhiều năm, họ khước từ tin rằng nước Nhật Bản đã đầu hàng quân Mỹ. Họ tin rằng các truyền đơn, tin tức phát thanh đều là đòn tâm lý chiến của kẻ thù chỉ để làm lung lạc tinh thần chiến đấu bất khuất của quân đội Thiên Hoàng. Khi những đồng đội khác lần lượt chết hoặc đầu hàng, Onoda vẫn ngoan cố tiếp tục cuộc chiến đơn độc.
Năm 1974, nhà thám hiểm Norio Suzuki tìm thấy Onoda và cố gắng thuyết phục ông quay trở về, nhưng Onoda kiên quyết chỉ nghe lệnh đầu hàng từ cấp trên. Suzuki sau đó tìm đến thiếu tá Yoshimi Taniguchi, người từng là chỉ huy của Onoda. Ngày 9/3/1974, Taniguchi đến Lubang và trực tiếp ra lệnh cho Onoda đầu hàng. Lúc này, Onoda mới chịu buông vũ khí.
Sau khi trở về Nhật Bản, Onoda cảm thấy xa lạ với đất nước Nhật Bản giờ đã thay đổi quá nhiều. Một năm sau, ông rời Nhật sang Brazil, sống như một người chăn nuôi gia súc và chỉ trở lại quê hương vào những năm cuối đời. Ông qua đời năm 2014.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Hiroo Onoda không đầu hàng? Hành động của Onoda phản ảnh tư tưởng của Nhật Bản trong Thế chiến II, đặc biệt là tinh thần võ sĩ đạo (Bushido) và thần phong (Kamikaze).
Hiroo Onoda – wikipedia.org
– Bushido (võ sĩ đạo): Các samurai phải trung thành tuyệt đối với chủ nhân, thà chết còn hơn đầu hàng. Tinh thần này được quân đội Nhật áp dụng triệt để, coi đầu hàng là nỗi ô nhục lớn nhất.
– Kamikaze (thần phong): Nhật Bản cổ vũ tinh thần hy sinh tuyệt đối, bằng chứng là những phi công cảm tử Kamikaze lao máy bay vào tàu địch.
Những tư tưởng này được tuyên truyền mạnh mẽ, khiến nhiều binh sĩ Nhật sẵn sàng chết trận thay vì đầu hàng.
Tâm lý học gọi đây là hiệu ứng “niềm tin cố định” (confirmation bias) – khi con người chỉ chấp nhận những thông tin phù hợp với niềm tin sẵn có, bác bỏ mọi thông tin trái ngược.
Onoda đã quá quen với tư tưởng “chiến tranh chưa kết thúc” đến mức khi nhận được bằng chứng ngược lại, ông từ chối chấp nhận.
Trong văn hóa phương Đông có quan niệm về “ngu trung” – trung thành tuyệt đối mà không suy xét đúng sai: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua xử tội thần, nếu thần không chết thì không trung thành*).
_ “Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (Cha mẹ bảo chết mà không chết thì không phải con hiếu thảo).
Những quan niệm này đề cao sự trung thành nhưng cũng tạo ra tư duy phục tùng mù quáng, khiến con người dễ bị quyền lực thao túng để sai khiến.
Hiroo Onoda đã trao thanh kiếm của mình cho Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos để đầu hàng tại Cung điện Malacanan ở Manila. ngày 11 tháng 3 năm 1974(Jiji Press / AFP/Getty Images)
Ngày nay, ‘ngu trung’ không chỉ tồn tại trong quân đội mà còn trong nhiều lĩnh vực khác: Những người cuồng tín, không chấp nhận phê phán lãnh đạo, bất chấp thực tế. Nhân viên sẵn sàng làm theo mọi mệnh lệnh của cấp trên dù biết nó sai trái, chỉ vì sợ mất việc. Những người tin vào tin giả, tin vào ‘fake news’, mà không kiểm chứng nguồn có khả tín hay không nên họ bị thao túng bởi mạng xã hội.
Chính vì sự mù quáng tin theo như vậy mà không cần suy nghĩ đã sản sinh ra vô số truyện cười ra nước mắt về các chế độ độc tài CS như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam… Và mệnh danh là Tổng thống chế, bầu cử dân chủ; nhưng Tổng thống Nga Xô Vladimir Putin là CS trá hình, cựu Trung tá Mật vụ KGB nắm quyền bằng hành động khủng bố để đòi hỏi sự trung thành.
Chuyện rằng: 3 người dân xứ CS – một người Nga, một người Bắc Triều Tiên, và một người Việt Nam – bị lãnh tụ của họ ra lệnh nhảy từ tầng 10 xuống để chứng minh lòng trung thành tuyệt đối. Người Bắc Triều Tiên hô to: “Lãnh tụ Kim Jong-un muôn năm!” Ông ta nhảy xuống và chết ngay lập tức. Người Nga hô vang: “Vì vinh quang của Gấu mẹ Nga vĩ đại” Ông ta nhảy xuống, gãy cổ, chết ngay. Người Việt Nam nhìn lên trời rồi nhìn xuống đất câu giờ xong chép miệng: “Dạ, em xin phép lãnh tụ ạ!” * Ông ta đẩy lãnh tụ xuống trước, nghe thấy tiếng xương gãy nát, rồi bỏ đi vì còn vợ con phải nuôi!
Và chuyện rằng lãnh tụ 3 nước CS: Trung Cộng, Bắc Hàn và Việt Nam tập hợp quần chúng nhân dân bên bờ sông và ra lệnh: “Ai trung thành với ta, hãy nhảy xuống bơi qua sông ngay lập tức!” Người Bắc Triều Tiên khóc nức nở hô to: “Kim Jong-un muôn năm!” Ông ta lao xuống sông, bị nước cuốn trôi đi mất tiêu. Người Trung Quốc hô vang: “Vì Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại!” * Ông nhảy xuống, bơi nửa đường trong nước ô nhiễm, nên chết ngắc. Người Việt Nam đứng trên bờ, hỏi: “Ủa, sao lãnh tụ không bơi trước để làm gương ạ?”
Kết luận: Tuân thủ các mệnh lệnh một cách mù quáng, Hiroo Onoda và đồng đội đã góp phần vào những hành động tàn bạo của quân đội Nhật Bản đối với dân thường trong các khu vực bị chúng chiếm đóng. Thời Đệ nhị Thế chiến, những chế độ độc tài khác, như Đức, Ý đều dựa vào sự tẩy não dân chúng và quân đội để bảo đảm lòng trung thành mù quáng với lãnh đạo và chế độ. Chớ một mình Hitler, Musolini thì làm được cái giống gì? Thế nên kẻ thù lớn nhất của chúng ta là sự mù quáng của chính cá nhân mình.
Sau năm 1975, bà con mình vượt biên, vượt biển tới các nước nói tiếng Anh như: Mỹ, Canada, Úc… Bà con mình nói hay viết chêm tiếng Anh vào là chuyện thường ngày ở huyện.
Nhiều chữ nửa Tây, nửa ta như: ‘Little Saigon’, ‘chạy show’… Hoặc ‘boat people’ (thuyền nhân); ‘lifeboat’ (xuồng cứu sinh xài trong phim như Titanic); email, shopping, selfie…
‘Selfie, tự chụp hình mình, được Oxford công nhận là “Từ của năm” vào 2013. Selfie thì có người dịch là ‘tự sướng’? Nghe rất là thô tục; không nên xài!
Tháng Tư, năm 1975, CSBV xâm lược chiếm được nước VNCH. Cùng với những thay đổi lớn về chính trị và xã hội, tiếng Việt cũng trải qua nhiều biến chuyển. Có chữ mới ra đời. Có hay; có dở. Hay sống dai. Dở chết yểu.
Như chữ ‘thả thính’? ‘Thính’ là gạo rang cho thơm rồi giã nhỏ thả xuống vó, dụ cá đến gần rồi kéo vó lên. ‘Thả thính’ của giới trẻ hiện nay, kiểu nhẹ nhàng, gây sự tò mò để ai kia chú ý đến mình, giống như cách thả thính xuống nước vậy.
Ca dao có câu: ‘Cô thương nhớ ai ngơ ngẩn đầu cầu, lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi.” Soi là coi đó mấy cha. Còn ‘Xoi’, động từ, là dùng vật hình que nhỏ chọc vào cho thông, cho hết tắc. Như: xoi cống, xoi vòi ấm, xoi thông ống điếu. Viết xoi ruột là viết trật lất!
Rồi tui có viết “FBI từ đó tới giờ chưa bắt được và không xác định chính xác nhân thân của tên không tặc này.”
Thì có một độc giả tình thương mến thương chụp cho tui cái mũ xài chữ CS như vầy: “Bây giờ tiến bộ xài ‘nhân thân’ thay cho ‘lý lịch’?” Nghe tới chữ lý lịch là cả một thời Miền Nam bị CS đày đọa bởi cái chữ nghĩa lý lịch 3 đời nó hiện về như cơn ác mộng. Tui bèn trả lời ổng như vầy:
“Câu này có hai mệnh đề phủ định (negative clause) nối với nhau bằng chữ ‘và’ liên từ đồng đẳng (coordinate conjunction). Mệnh đề nào quan trọng đứng trước. Có thể tách ra làm hai câu: ‘FBI từ đó tới giờ chưa bắt được (tên không tặc); nên chưa biết y là ai.’ FBI không xác định được một cách chính xác nhân thân của tên không tặc này.”
Nhân thân tức gốc gác, vợ con, cha, mẹ, anh em, họ hàng, FBI cũng không biết luôn. Như vậy, nhân thân không phải là lý lịch.
Trong từ điển Hán Việt không có chữ lý lịch (lý viết y dài). Chỉ có chữ ‘lí lịch’ (lí viết i ngắn). Lí lịch chỉ chung công việc đã làm và hoàn cảnh đã qua.
Mà CS biết lý lịch tới 3 đời kể cả bên vợ của mình để làm gì? Để trả thù; để đày đọa người dân Miền Nam.
Chế độ CS là một chế độ bị bệnh “Bách hại cuồng” – nhìn đâu cũng thấy kẻ thù muốn hại mình. Vì bị bệnh nặng như thế nên mới hành động tàn ác không giống ai. Chớ hồi xưa mình xài chữ ‘lai lịch’. Lai lịch, quá khứ, chỉ nguồn gốc, gốc gác của sự việc, của một người.
Chẻ cọng tóc ra làm 8, tui xin kết luận là: ‘Ông xúi tui xài chữ ‘lý lịch’ của CS để thay chữ ‘nhân thân’ là ông xúi tui viết bậy không hè!”
Nhớ hồi xưa 16 tuổi trở lên là mình làm giấy căn cước bọc nhựa để cho biết gia thế, xuất thân, lý lịch. CS vô thì bắt làm chứng minh nhân dân? Thiệt là chuyện ruồi bu! Người dân da vàng mũi tẹt húp nước mắm mà phải chứng minh mình là nhân dân?
Sau 50 năm, chắc nhận thấy dùng chữ như vậy là ngu lâu, ngu bền vững, nên CS lẳng lặng lấy chữ căn cước ra xài, nhưng vẫn còn ngoan cố, cố thòng thêm chữ công dân. Căn cước công dân? Thiệt là giành khùng hết ráo!
Tranh Bảo Huân
Trong quá trình đó, một số người đặt ra khái niệm ‘chữ CS’ – nhằm chỉ những từ ngữ mới được sản sinh là sản phẩm của chế độ cộng sản, và cho rằng ngôn ngữ đang bị làm hỏng.
Tui cho rằng tiếng Việt là một sinh ngữ, ngôn ngữ sống, phát triển tự nhiên và độc lập với chính trị. Việc ngôn ngữ thay đổi là tất yếu. Tiếng Anh và tiếng Pháp được trăm triệu người trên thế giới sử dụng hàng ngày cũng không đứng yên mà liên tục phát triển: từ vựng mới, cấu trúc mới, thậm chí cách phát âm cũng thay đổi theo thời gian.
Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian là chuyện tất nhiên phải xảy ra. Nếu so sánh tiếng Việt đầu thế kỷ 20 với giữa thế kỷ, rồi với hiện tại, chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt trong từ vựng, cách dùng từ, và cả cấu trúc câu.
Mần văn là đụng tới chữ nghĩa. Đụng riết rồi quen. Quen mà thấy chữ gì thiên hạ xài không trúng (nghĩa là trật) theo ý mình thì trong lòng bứt rứt lắm. Không chỉ ra thì ấm ức, mà chỉ ra thì mích lòng. Nhưng đời văn mà sợ mích lòng thì kiếm chuyện khác mà mần đi, đừng có mần văn. Không sửa lưng người khác hoặc bị người khác sửa lưng thì đâu có học được gì. Viết lâu mà không tiến bộ chút nào, như con rùa chậm tiến bò vào cõi văn chương. Chán lắm!
Phần ông bà mình nói đời hổng có ai cái gì cũng biết. Tàu nói: “Nhân vô thập toàn”. Tây (là Tây Phương) nói: “No one is perfect.” Chính vì vậy, biết tới đâu mình nói tới đó. Cứ nói, cứ cãi sùi bọt mép. Cãi tới cái trúng, nó văng ra cái đụi mình lượm về xài. Người được lượm, dỉnh mặt vênh râu, ra vẻ thế gian có ba bồ chữ về tao hết ráo. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Còn chính giữa, tức cái bụng đựng mồi và rượu. Nhớ đừng hung hăng mà lên cơn nhồi máu cơ tim bỏ mạng giữa sa trường cãi ‘nhe mấy cha!’
Trong thế giới văn chương, theo ý tui, nên cư xử như cục đá góc cạnh khác nhau, hay hơn là cư xử tròn vo như hòn sỏi. Một chuyện mà ông này nói ngược, bà kia nói xuôi đều đúng hết ráo thì chán lắm. Viết như vậy là người thừa trong cõi văn chương. Cãi để học. Cãi trong văn chương là cái cãi tao nhã của tao nhân mặc khách ở chỗ ‘tao đàn, mày đàn.’ Chớ không phải của dân chơi Cầu Ba Cẳng, cãi phải giống như quánh lộn.Kết luận CS không có khả năng làm ra chữ. Ông bà mình mới làm ra chữ và chữ nó hay! Mình phải ráng xài cho nó trúng.
Quê Em được phổ biến sau khi cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ ít lâu. Chiều Trên Bến Cảng thì mãi sau ngày 30 tháng 4/75, người ta mới được nghe, rõ hơn, ở miền Nam người ta mới được nghe.
Một chiều mùa hè gặp nhau trên bến cảng
Ta chia nhau
Trong lòng bao lưu luyến
Anh đi ra khơi theo mùa cá biển
Em đi lên rừng
Theo tiếng sáo nai
Trong nhạc của chúng ta nói chung, có hai ca khúc, khi nghe, người ta tưởng chừng có thể cảm nhận được cái không khí se buồn, hiu quạnh của các vùng trung du Bắc Việt. Đó là các bài Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy và Quê Em của Nguyễn Đức Toàn.
Cái không khí đặc biệt này, người ta cũng thường thấy trong tranh Thái Tuấn. Cho đến hiện tại người ta chỉ được biết Nguyễn Đức Toàn có hai ca khúc: Quê Em và Chiều Trên Bến Cảng.
Một chiều mùa hè gặp nhau trên bến cảng
Ta gần nhau hơn
Qua mỗi lần xa cách
Trong những chuyến đi xa
có biết bao điều mới lạ
Về đất nước về con người
về cuộc sống về tình yêu
Tuy giai điệu cũng như ca từ của Chiều Trên Bến Cảng cũng giản dị, ngọt ngào, nhưng người ta vẫn cứ nhớ đến Quê Em của ông nhiều hơn. Một phần có lẽ cũng vì, Quê Em đã ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt. Đó là những ngày tất cả đất nước rộn ràng trong một nhịp sống mới. Người ta nao nức lên đường. Gian lao, nguy hiểm chưa đe dọa mà còn là những gì hấp dẫn:
Từ chàng ra đi lưng khoác chiến y
Và hồn nương bóng quốc kỳ [Phạm Duy]
Những bài hát như thế khuyến khích người ta lên đường, thúc dục người ta lên đường. Quê Em của Nguyễn Đức Toàn và Tiếng Hát Quay Tơ của Tử Phác cho thấy rõ thêm cái không khí rộn rã của các làng quê Việt Nam thời đó:
Chàng ra đi giữ miếng vườn này
Giữ mái tranh này
Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay
[Tử Phác]
và còn nhiều nữa:
Người ta “buông tay gầu vui lại thuở bình Mông”
[Yên Thao]
Vì nước ruộng nương anh bỏ bạn thân cầy
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
[Chính Hữu & Võ Hòa Thanh]
Những người ra đi ấy có bao nhiêu người trở lại? Và những người chết đi có thật đã được chết vì Tổ Quốc?
Nguyễn Đức Quang là một trong những người có công gây dựng và làm lớn dậy phong trào du ca ở miền Nam trước 1975.
Du ca có nghĩa là đi đây, đi đó để hát. Các buổi trình diễn như thế, thường diễn ra tại các sân trường học, các giảng đường, sân vận động, trại hè hay một nơi nào đó có những sinh hoạt cộng đồng và đám đông tụ tập, vào thời ấy có thể là một trại tỵ nạn, mục đích chính chỉ là để ‘hát cho nhau nghe’ cho đỡ buồn, để nuôi lại hy vọng …
Chiến tranh vừa xua đuổi vừa bao vây, người ta không còn biết chạy đi đâu cho thoát. Cũng không ai biết đến bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Phong trào du ca được hình thành trong những ngày khốn khổ đó.
Xin chọn nơi này làm quê hương
dẫu cho khó thương
Ta cùng lo chạy từng lưng cơm áo che thân tàn
Khi mùa mưa về cùng lem nhem
bước trên ngõ trơn
Khi giặc lan tràn cùng lo âu trắng đôi mắt đen …
Xin chọn nơi này làm quê hương
dẫu đang chiến tranh
Xin chọn nơi này làm quê hương
dẫu chưa thanh bình
Xin chọn nơi này làm quê hương
dẫu đang khó khăn
Xin chọn nơi này làm quê hương
dẫu chưa ấm êm …
Một trong những đặc điểm của loại nhạc du ca này là nội dung thường phản ánh tâm sự của đám đông chứ không phải của cá nhân, giai điệu giản dị, một người xướng lên là những người khác có thể hát theo được ngay, và hầu hết bài nào cũng có một vẻ gì đó giống như những bài kinh cầu nguyện. Nghe lại nhạc của chúng ta người ta sẽ thấy ra điều này, các giai đoạn bộc phát thường xẩy ra vào những thời kỳ có những biến chuyển quan trọng của lịch sử. Mỗi thời kỳ nhạc của chúng ta thay đổi đôi chút. Lãng mạn, hùng ca, khắc khoải, lo âu, rồi nhuốm chút ít triết lý bi thảm. Nguyễn Đức Quang có đủ các điều kiện để thành công trong “thế giới du ca” của ông: đàn ngọt, hát hay, có duyên, nắm vững nghệ thuật nói trước đám đông, trình diễn nồng nhiệt.
Có những loại nhạc chỉ thích hợp để hát trên các đài phát thanh hay thâu thanh vào đĩa, loại khác để trình diễn trên sân khấu, trước những đám đông. Thể loại này, ngoài âm điệu và lời ca, còn phải có vài điều gì khác để cho ca sĩ biểu diễn, bằng động tác, bằng nét mặt, nếu không sẽ trở thành nhạt nhẽo đối với khán giả. Nhạc phát trên đài phát thanh, thâu đĩa, là nhạc để nghe một mình. Các ca sĩ cho rằng, hát trên đài phát thanh và thâu đĩa khó hơn: y phục, son phấn, nhan sắc, điệu bộ không giúp được gì. Chỉ còn có tiếng hát. Và kỹ thuật thâu thanh càng cao, khuyết và ưu điểm của giọng hát, thính giả càng dễ nhận ra. Có lẽ vì khởi nghiệp như một ca sĩ du ca nên nhạc của Nguyễn Đức Quang có nhiều yếu tố thích hợp để đem trình diễn trước đám đông. Cũng có thể vì sự thành công của ông khiến người ta có ấn tượng như vậy.
Ca khúc của Nguyễn Đức Quang được xuất bản trước 75, có các tập “Trầm Ca”, “Bài Ca Khai Phá”, “Ruồi Và Kên Kên”, “Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc” … Tất cả những tập này và một số ca khúc này của Nguyễn Đức Quang đã được gom lại in trong tập “Dưới Ánh Mặt Trời” Ngoài sáng tác, Nguyễn Đức Quang còn phổ nhạc nhiều thơ của bằng hữu. Một trong những bài thơ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc được coi là thành công và được rất nhiều người thích là bài Bên Kia Sông, thơ của Nguyễn Ngọc Thạch.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.