Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

68. Nguyễn Văn Thương

Trong năm qua, các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, đã loan tin về cái chết của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và nhà thơ Tố Hữu.

Ông Tố Hữu từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy nhà nước, nhất là trong Đảng, nên có thể nói, ông là người nắm quyền sinh sát một thời đối với toàn thể văn nghệ sĩ miền Bắc. Và, toàn diện nền văn học nghệ thuật miền Bắc hiện nay có bàn tay uốn nắn của ông mà hình thành.

Riêng về phương diện thơ, ông Tố Hữu nổi tiếng là một nhà thơ cách mạng. Nhưng tư cách thi sĩ của ông thì ngay tại miền Bắc cũng còn nhiều tranh cãi. Người ta cho rằng, người khen cũng như người chê ông, đều có vẻ thiên vị, chưa đúng sự thật.

Những câu thơ ông khóc Staline làm nhiều người sợ:

Thương biết mấy khi con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Sít-ta-lin

Hoặc:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một,

Thương ông thương mười

Người ta sợ vì không hiểu nổi tinh thần của ông, không hiểu được vì sao, ông có thể làm ra những câu thơ như thế. Ông Nguyễn Văn Thương tuy cũng từng được đề cử giữ những chức vụ khá quan trọng, hình như chức vụ sau cùng của ông là Giám Đốc Nhạc Viện Huế, nhưng ông đã nổi tiếng từ trước khi có cách mạng tháng Tám.

Ba ca khúc Đêm Đông, Trên Sông Hương và Bướm Hoa của Nguyễn Văn Thương đều là những tác phẩm có giá trị cao. Đây là những tác phẩm hoàn toàn có tính nghệ thuật, vì nghệ thuật, vì nhạc mà được viết ra. Người ta đã nói nhiều đến thời trai trẻ của Nguyễn Văn Thương khi ông từ Huế ra Hà Nội học, đêm cuối năm lang thang qua xóm yên hoa chạnh lòng nhớ nhà, thương người, sáng tác ra ca khúc này.

Quả thật, nghe lại Đêm Đông người ta cảm nhận một nỗi buồn, một nỗi u uất, một quãng đời nào đó trong quá khứ dai dẳng, bám chặt lấy trí nhớ, không thể rũ bỏ. Bài Bướm Hoa của Nguyễn Văn Thương có lẽ là bài hát hay nhất trong toàn bộ nhạc và cả thơ Việt Nam viết về dề tài này:

Bướm là những lá thư

Nàng xuân gửi đi

Chào mừng non sông

Hoa hổ ngươi trên cành

Tình trong ngẩn ngơ

Nhưng vờ làm duyên …

Hãy tưởng tượng cả đất nước rực rỡ trong hoa lá mùa xuân, những cánh bướm được ví như những cánh thư nàng xuân gửi đi để chào mừng non sông. Thật là một ví von tuyệt vời!

Trên Sông Hương có tất cả cái êm đềm, thơ mộng của con sông, “như dòng nước mắt cuốn chân kinh thành”.

Trên sông Hương

Bến nước mơ chan chứa bao tình

Hằng nga vừa lên

Nhìn qua khóm cây

Dưới ánh mơ

Khách du thuyền lòng đang đắm say

Nghe Trên Sông Hương của Nguyễn Văn Thương người ta có cảm tưởng được trôi theo cái êm ả của dòng sông xinh đẹp này.

Tác phẩm của Nguyễn Văn Thương được miền Bắc nhắc nhở đến nhiều sau các ca khúc nêu trên là Bình Trị Thiên Khói Lửa. Người ta cho rằng đây là tác phẩm lớn của Nguyễn Văn Thương. Nhưng nhiều người lại cho rằng, ngoài kỹ thuật làm cho ca khúc có một vẻ gì đó đồ sộ, không thấy ca khúc để lại ấn tượng gì rõ rệt trong lòng người nghe.

Vài cán bộ, vào tiếp thu Huế sau ngày 30 tháng 4/75, kể lại một chuyện liên quan tới Nguyễn Văn Thương như sau:

Trong số những đồ họ tịch thu có một ít băng nhạc. Đêm đêm họ thường đóng cửa phòng chùm chăn nghe với nhau. Một hôm đang nghe như thế, họ bỗng nghe tiếng gõ cửa, tất cả hoảng hốt, lo cất dấu máy casette, băng nhạc …

Người gọi cửa chính là Nguyễn Văn Thương. Mọi người tưởng sẽ lôi thôi to. Nhưng Nguyễn Văn Thương vào chỉ hỏi:

“Các cậu nghe cái gì thế cho tớ nghe với”. Trong những cuốn băng ấy có cả các bài Đêm Đông và Trên Sông Hương của Nguyễn Văn Thương.

Ông đã nghe đi nghe lại nhiều lần những bài hát của mình. Không biết có bao nhiêu phần sự thật trong câu chuyện. Nhưng có điều chắc chắn, các tác giả có tên tuổi, khi từ miền Bắc vào, đều tìm kiếm bằng hết những gì liên quan tới mình, những bài thơ, những bài hát được thu thanh tại miền Nam, để nghe, mặc dầu không ai nói với ai điều ấy.

Cũng nên nhắc lại ở đây, vào những ngày đầu, khi miền Nam mới mất, tất cả các tác giả từ miền Bắc vào, không ai nhận những tác phẩm trước kia của mình cả. Nguyễn Văn Thương có vẻ một người kín đáo, ít nói. Trước khi mất ông đã lại được công khai nghe người ta trình bầy những tác phẩm của mình. Không biết ông nghĩ gì khi nhớ lại những ngày đã phải nghe lén những tác phẩm ấy?

Bướm Hoa

Trời bình minh lướt theo chiều gió

Bướm bay bướm bay

Chàng đi tìm yêu

Đầu cành muôn đóa hoa hàm tiếu

Lả lơi mỹ miều trêu bướm đa tình

Vườn hồng hoa ẩn sau màu lá

Cánh phong kín hương

Nàng chưa hề yêu

Thường nàng trông những con bướm tơ

Lòng những ước mơ

Đời hoa thơ trinh

Bướm tình tứ ngắm hoa

Hồn say sóng xuân

Lòng tràn yêu mơ

Hoa hổ ngươi trên cành

Tình trong ngẩn ngơ

Nhưng vờ làm duyên

Bướm liền khoác cánh nhung

Cùng hoa sánh đôi

Thề nguyền lưu luyến

Đóa hoa hé môi đào tươi cười

Thầm nghe mấy lời đầy thơ

Nghiêng mình chàng bướm

ấp yêu đóa hoa bàng hoàng

Bên lòng hoa thắm ái ân

hồn bướm mơ màng

Bướm là những lá thư nàng xuân gửi đi

Chào mừng non sông

Hoa dấu chân muôn màu

Nàng xuân gửi đi khi nàng vừa sang

Bướm là những thiếu niên

Lòng khao khát yêu đời còn tươi sáng

Đóa hoa khách yêu kiều

Tình thơ chớm gây

Đời xuân trắng trong

Quỳnh Giao

Bạch Yến

Trần Thái Hòa

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

Chương 19.

Muốn tránh những con mắt tò mò, thiên hạ để ý, thắc mắc, anh lính sứt môi này thì thọt đi lại luôn, từ phủ lên tỉnh, từ tỉnh về quê chàng, đến ngôi nhà anh em họ Vương, người thủ hạ tâm phúc không đi đường cái quan mà đi toàn đường tắt, đường vòng.

Khi đến quê lúc đó mặt trời gần ngọ, anh hỏi thăm biết anh Hai (Vương thương gia) còn ở cửa hàng, anh vội đến trình bày công tác. Anh Hai ngồi ở bàn giấy trong một căn phòng tối om trông ra chợ, anh đang lách tách gảy bàn tính gỗ, xem lỗ lãi chuyến tàu chở thóc vừa rồi. Thấy người lính  đến, Vương thương gia ngước mắt lên nhìn, lắng tai ngheanh ta nói. Nghe xong câu chuyện anh trợn tròn cặp mắt ti hí, chúm hai cái môi mỏng quẹt bủn xỉn, nói:

– Hiện giờ bảo tôi đi xoay tiền có lẽ còn dễ, chứ bảo tôi đi kiếm vợ cho ông ấy thật khó quá. Tôi biết hỏi ai kiếm ngay một người vợ cho ông ấy bây giờ? Bực thật, vợ hắn mới lấy đây, đã chết rồi thật rắc rối.

Anh lính ngồi cái ghế thấp, chếch sang một bên, để chứng tỏ anh cũng biết lễ phép, địa vị của mình, khún núm nói:

– Con xin đại ca để tâm tìm hộ cho chủ tướng con một người đàn bà, hạng nào vừa phải, cần nhất đừng có nhõng nhẽo, quấy rầy và đừng để chủ tướng con say mê. Chủ con đa cảm đa sầu, quyến luyến khăng khít với một người gần như tâm trí bị rối loạn. Bà thiếp của chủ con quá cố, cách đây đã mấy tháng rồi mà chủ con vẫn không sao nguôi được, lúc nào cũng tơ tưởng nhớ thương, con thiết nghĩ như thế thật hại cho sức khỏe.

– Thế bà ta chết làm sao?

Anh lính này là người trung thành tuyệt đối và rất kín đáo. Anh sắp sửa nói hết, nhưng sau một thoáng suy nghĩ, anh hiểu những người ngoại cuộc, không hiểu gì về chiến trận, nói chẳng bõ họ ghét, nghề binh lính đi giết người, nếu mình sơ hở sẽ bị người ta giết, những sự chết chóc chém giết,

họ rất ghê sợ nên anh trả lời qua loa cho xong việc:

– À bà thiếp của chủ con mất về bệnh rực huyết.

Vương thương gia nghe thế cũng biết vậy, anh cho một người làm công trong tiệm đưa anh lính này đi ăn cơm ở một quán gần đó. Khi anh lính đi ra, anh ngồi một mình suy nghĩ: Vấn đề đàn bà con gái, anh Cả là tay chuyên môn, chắc thạo lắm. Còn như mình, ngoài mẹ mấy đứa trẻ, còn biết người nào mà tìm kiếm. Nghĩ thế anh vội vàng chạy lại sòng bài, vì anh biết giờ này thế nào cũng có Vương điền chủ ở đấy. Đến nơi, hỏi thăm một người làm công, anh tới đúng gian phòng có anh Cả đang đánh bài với mấy ông bạn ở đó. Khi Vương điền chủ ngó thấy đầu ông em lấp ló ở ngoài cửa, anh thấy khoan khoái mừng lắm, vì đang thua chả lẽ chạy làng, may có người gọi để có cớ chuồn ra. Bài anh đánh còn non lắm vì anh mới học đánh. Khi Vương Long còn sống rất ghét cờ bạc, cấm không cho con cái lai vãng ở sòng bài. Trái lại bây giờ con anh Cả, tuy còn ít tuổi, đánh bạc đã sành lắm, cả thằng con thứ hai, đánh bạc cũng láu lắm, được bạc ky cóp được một số tiền. Mới thoáng thấy ông em ở ngoài cửa, anh vội vàng đứng dậy xin lỗi với bạn bè:

– Tôi xin kiếu, tạm ngừng một chút, chú nó đến chắc có chuyện gì muốn hỏi.

Vừa nói vừa với chiếc áo lông, anh vội vàng chân trước chân sau, chạy ra ngoài cửa. Anh không nói anh Hai đến kiếm anh lúc này là may cho anh quá, mà còn khoe đang thua và cho việc thua bạc là một hãnh diện. Anh hất hàm bảo anh Hai:

– Chắc chú có chuyện gì muốn nói.

Anh Hai trả lời sơ qua:

– Ở đây có chỗ nào tiện nói chuyện không nhỉ?

Anh Cả dắt ông em lại một căn phòng trà thất, ở đấy có mấy cái bàn uống nước, anh chọn một bàn ở góc phòng hai anh em cùng ngồi. Anh Hai chờ anh Cả gọi tửu bảo pha ấm nước trà, đem rượu, lúc đó lại vừa đúng bữa, anh cho làm thêm mấy món đồ xào nấu. Khi tửu bảo dọn bàn xong, đi vào, anh Hai mới nhập đề câu chuyện:

– Chú Ba nó muốn kiếm một người vợ, thím ấy đau ốm thế nào, chết rồi, bây giờ chú nhờ tụi mình kiếm cho một cô vợ. Tôi chắc vấn đề này anh còn biết hơn tôi, vậy anh liệu thu xếp giùm cho.

Anh Hai nói xong cắn môi dưới, không dám cười. Anh Cả không để ý nét mặt anh Hai, nghe xong híp mắt lại cười, rung rinh cả hai má bánh đúc, nói:

– Được, chú nói đúng, việc gì tôi không biết chứ việc này tôi cũng biết tí chút … à này … Đừng nói cho mẹ lũ trẻ tôi biết nhé …

Anh nói xong lại cười, nheo một bên mắt (bọn đàn ông háu gái có tật cười nheo một bên mắt khi nào nói đến gái).

Anh Hai cũng không muốn pha trò, anh ngồi yên, xem anh Cả cho ý kiến làm sao. Anh Cả đằng hắng, dọn giọng nói, nét mặt có vẻ nghiêm nghị:

– Ừ, cũng vừa may, tôi vừa khảo sát qua các cô đến tuổi cập kê ở tỉnh này để dạm cho thằng cháu lớn. Tôi đã chấm được một cô mới có 19 tuổi cho thằng lớn, cô này là con em trai ông Phủ gọi ông này bằng bác ruột. Cô ta ngoan đáo để, chín chắn, mẹ tụi trẻ nhà tôi cũng biết, cô thêu thùa, may vá, bánh trái cỗ bàn khéo lắm. Kể ra cũng không đẹp, nhưng tính nết dễ thương. Bực quá, thằng bé nhà tôi lại đòi kén vợ lấy, nó nghe đâu ở mạn Nam mới nẩy nòi cái lối kén vợ lấy. Tôi đã bảo nó cái tục lệ đâu thì không biết chứ ở đây không nghe được, song tôi cũng chiều ý nó, cho nó tự kén chọn.

Anh Hai không muốn nghe những chuyện rườm rà về gia đình nhà anh Cả, ai chẳng biết con trai lớn, trước sau cũng lấy vợ cho nó, nhưng anh không có thì giờ nghĩ về việc đó, lấy vợ gả chồng cho con cái là tùy vợ anh lo liệu, anh chỉ cần nhắc cho vợ biết dâu cưới về là phải nết na tốt nái biết làm ăn xốc vác. Những chuyện nhà anh Cả rườm rà quá ngoài đề, anh nghe sốt cả ruột vội cắt lời:

– Thế những người như anh biết liệu có ai hợp với ông Ba nhà này không? Liệu cha mẹ họ có ưng gả con cho một người góa vợ không?

Trước một vấn đề “quan trọng và tết nhị” này anh không dám hấp tấp ấn định ngay, anh để thì giờ suy nghĩ, anh điểm qua trong óc các cô gái anh đã biết mặt biết tên, cân nhắc lựa chọn từng người một. Anh tổng kết cố nhớ lại anh đã được nghe những gì thiên hạ phê bình như thế nào, điểm danh từng cô một. Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu anh trả lời:

– Chà … Nghĩ ra rồi, có món này tuyệt quá, có một cô khá lắm, tuổi cũng không còn trẻ lắm, bố là một nhà nho, ông này không có con trai, cô ta cũng được theo đòi bút nghiên. Cô này có thể gọi là gái mới, có học, chân lại không bị bó, ấy chỉ khác người có thế mà muộn chồng, thiên hạ kiềng không ai dám hỏi chỉ sợ rước về không hợp, khó chịu, bực mình. Những gái như cô này, mạn Nam nhiều lắm, có lẽ ở cái tỉnh cổ lỗ này họ chưa hiểu thế nào là mới cũ. Có một lần tôi gặp cô ta đi ngoài phố, cô đi đứng nghiêm trang không có dòm ngó mắt trước mắt sau. Kể ra cũng coi được, không xấu, gọi là nhiều tuổi nhưng chỉ độ 25, 26 tuổi là cùng. Chú thử nghĩ xem liệu ông Ba nhà này có “mộ” không?

Anh Hai trả lời có ý dè dặt:

– Nhưng bác để ý xem liệu có đảm không? Có giúp chú ấy trông nom quán xuyến cửa nhà không? Chú ấy cũng biết chữ nghĩa, mà nói cho cùng nếu không biết chữ, mượn một ông đồ biên chép hộ cũng không khó khăn gì. Một người vợ văn tự, biết chữ nghĩa, theo ý tôi cũng chẳng cần thiết lắm.

– Tuy mồm nói chuyện, nhưng anh vẫn không ngừng ăn, anh nhanh tay gắp món ăn đầy bát, tửu bảo đem lên hết món này đến món khác đã nhiều. Anh múc một thìa canh sắp đưa lên miệng húp, như vừa sực nghĩ ra được một ý gì mới mẻ, anh vẫn cầm thìa canh trong tay, vội vàng nói:

– À quên, chú Ba nó kể cũng khá, không phải hạng nghèo túng, tôi thiết nghĩ hay anh em mình kiếm luôn cho chú hai cô vợ. Bác xem có món nào khá, kiếm cho chú trước, thủng thẳng vợ chồng tôi xem có món nào hay sẽ gửi cho chú sau. Chú sẽ lựa chọn món nào hợp, tùy ý. Nhưng tôi nghĩ một người như chú có hai vợ cũng phải, không có gì là quá đáng.

Hai anh em tán đồng ý kiến đó, anh Cả lấy làm vinh dự vì cái món anh lựa chọn sẽ ở ngôi chính thất, anh nghĩ như  anh là huynh trưởng, cái vinh dự về phần anh là đúng, vả lạithế nào cũng phải một người trước, một người sau, chứ có lý nào cưới cả hai người một lúc mà đêm tân hôn ở với cả hai người thì không có thể nào thế được. Hai anh em thỏa thuận, hoàn toàn đồng ý, đứng dậy Anh Cả có vẻ bận rộn lo lắng, thu xếp sao cho công việc được viên thành. Anh Hai trở về nhà đem vấn đề ra thảo luận với vợ.

Khi anh Hai về đến nhà, chị Hai đứng ngoài cổng cái trông ra một phố tuyết phủ trắng xóa, có một người dạm bán mấy con gà, chị đứng xem để mua, hai tay thu bọc cho đỡ rét, thỉnh thoảng chị lại thò một tay ra nắm phao câu xem gà có béo không. Trời có tuyết, giá gà rẻ hơn mọi khi, chị muốn mua một hai con để dự trữ. Khi anh đến gần nhà chị không  ngước mắt nhìn còn mải miết xem gà. Khi đi ngang mặt chịđể vào trong nhà, anh khẽ nói:

– Liệu mua bán chong chóng, vào đây tôi bảo.

Chị lật đật chọn lấy hai con gà mái béo, buộc chân gà bắc lên cân, cò kè giá cả, đồng cân, đồng lạng mãi mới ngã giá. Vội xách hai con gà vào nhà, quẳng xuống gầm ghế, chị ngồi chênh chếch lên trên để nghe xem chồng bảo gì. Anh nói phác qua câu chuyện, vắn tắt vài câu:

– Chú Ba nó muốn kiếm một người vợ, chị vợ trước bệnh não làm sao, chết rồi. Vấn đề đàn bà con gái tôi không biết một tí nào, nghe như đã hai năm nay, mẹ nó có ý dòm ngó những món nào cho lũ trẻ nhà này, bây giờ để ý xem có chỗ nào khá mách giùm để gửi cho chú nó.

Những chuyện sinh đẻ, ma chay, cưới xin, chị tự đắc là sành sỏi nhất, nó là đầu đề, nội dung những câu chuyện hàng ngày của chị, nên khi chồng vừa nói dứt lời chị không phải tìm tòi, suy nghĩ, vội vàng nói ngay:

– Có một cô khá lắm, nhà ở ngay giáp vách với nhà tôi ở trong làng, tôi lắm lúc vẫn tiếc, giá cô này xấp xỉ tuổi, tôi dạm cho thằng lớn nhà này thì tốt đôi quá. Cô ta tính nết thùy mị biết nhường nhịn, hoàn toàn, chỉ phải bộ răng bị

đen, người ta nói lúc bé sâu nó đục, bây giờ lâu lâu lại bị rụng mất một chiếc. Cô ta xấu hổ vì bộ răng cả ngày phải ngậm miệng, ít người nom thấy răng cô ta, cô ít nói mà có nói chỉ nói nhi nhí, hai môi hơi mấp máy. Ông bố cũng khá, có ruộng đất vẫn mong có ai thương yêu thì gả, vì cô này cũng

hơi luống tuổi.

Anh Hai nghe vợ nói xong, trả lời cụt lủn:

– Nếu được tính ít nói, tốt lắm. Mẹ nó liệu thu xếp đi.

Xong tiệc cưới cô lớn ít lâu gửi lên cho chú. Anh mới nói rõ cho vợ nghe đã đồng ý thỏa thuận với anh Cả, lấy cho chú Ba hai người vợ, anh Cả lo liệu một, còn vợ chồng anh thu xếp một. Nghe nói thế, chị Hai mồm oang oang:

– Thật tôi cũng tiếc cho chú Ba, nếu lấy vợ mà nhờ anh Cả kén cho, thì ngoài mấy con đĩ ở hồng lâu, thanh lâu, anh còn biết ai mà kén chọn. Tôi cam đoan chắc nếu mụ vợ anh mà dính vào việc này thế nào chị ta cũng chọn cho một mụ vãi già, ý chị ta muốn cả nhà chỉ suốt ngày tụng niệm đồng cốt nhảy múa. Theo ý tôi, đi đến đền chùa là khi nào trong nhà có người đau ốm, nóng sốt hay đàn bà không sinh đẻ đến cầu tự. Theo như tôi nghĩ, Thần, Phật cũng như mình, chắc không ưa những hạng ngày nào cũng đến quấy rầy xin xỏ việc này việc khác. Nói xong chị nhổ đánh toẹt một bãi nước bọt xuống nền nhà, lấy chân xoa đi, chị quên ở dưới gầm ghế chị ngồi có hai con gà, vô ý đá chân phải, mấy con gà kêu quang quác ầm nhà. Anh Hai bực mình đứng dậy quát to:

– Tôi chưa thấy nhà ai thế này bao giờ, khắp nhà chỗ nào cũng có gà.

Chị vội quàng tay xuống gầm ghế lôi mấy con gà ra, giơ lên, chị nói tại sao gà bây giờ lại rẻ hơn lúc thường, chị còn định nói gì nhiều nữa, anh Hai vội vàng chặn lại, nói:

– Được rồi .. Được rồi … tôi còn vội lại cửa hàng. Thôi liệu mà thu xếp, độ hai tháng thì gửi xuống cho chú ấy. À quên, tiêu pha gì về việc đó, nhớ biên vào chứ không có luật phép nào bắt tôi chịu tiền cưới vợ cho em!

*

Công việc được thu xếp theo như ý định, cả hai cô được lập hôn thú, giao kèo được ký kết. Anh Hai ghi chép cẩn thận vào trong sổ kế toán những món tiền chi phí về việc cưới xin.

Lễ nạp thái, vu qui được ấn định vào tháng tới, hôn lễ sẽ cử hành ngày cuối năm. Vương hổ tướng được báo tin cho biết để lên đường về nhà các anh cưới vợ. Thực ra chàng cũng không thích những chuyện lễ nghi rườm rà thế này, nhưng chàng đã nhất quyết nên không trù trừ do dự, giao phó công việc trông nom binh đội ở nhà cho ba anh lính tâm phúc, dặn thằng cháu trong khi vắng mặt chàng nếu có gì khác lạ, lập tức báo tin cho biết.

Mọi việc trong ngoài thu xếp xong xuôi, chàng đến xin phép lão phủ về thăm quê nhà năm hôm và sáu hôm đi đường vừa đi vừa về. Lão phủ vội vàng phê chuẩn ngay, chàng cẩn thận nói cho ông phủ rõ chàng để hết cả binh đội lại, cả bọn thủ hạ tâm phúc, để đề phòng giặc cướp trong hạt.

Thu xếp xong xuôi chàng mặc bộ đồ binh phục số 2, bộ binh phục số 1 cho gập xếp ở bên cạnh yên ngựa, dẫn một tiểu đội 50 tên lính võ trang tùy tùng hộ vệ. Chàng là một người gan dạ, không như các ông tướng khác mỗi lần đi đâu đem theo hàng trăm binh lính hộ vệ trong ngoài.

Ngồi trên mình ngựa đi tắt qua cánh đồng giữa mùa đông tháng giá, đêm trọ ở quán cơm dọc đường, sáng lại ra đi trên đường sương tuyết. Chưa có dấu hiệu gì về xuân tiết, trời gió rét, con đường đất xám xịt, những túp nhà rải rác dọc đường, tường trát bằng đất xám lợp tranh như hòa đồng cùng cảnh vật một màu. Cơn rét như bào da xé thịt, dân thôn xóm nước da xám ngoét như hòa hợp với thiên nhiên, cảnh sắc. Tuy đi về nhà, nơi quê cha đất tổ, trong ba hôm đi đường lòng buồn rười rượi, chàng không cảm thấy gì là vui

Thích. Khi đến quê, chàng lại thẳng nhà anh Cả, vì lễ nghi cưới xin ở cả đó. Chào qua anh em họ mạc, chàng ngỏ ý trước khi cưới vợ muốn ra thăm mộ cha cho phải đạo. Tất cả nhà anh Cả, ai cũng công nhận thế là rất phải, nhất là chị Cả nhiệt liệt tán thành. Chú Ba đi vắng đã lâu, những ngày giỗ tết

thanh minh vắng chú. Vương hổ tướng ra mộ phải đi con đường ruộng ngang qua túp nhà đất, con đường nằm sát ngay cái sân phơi của cái nhà đó. Tiếng giày dép rậm rịch của bọn lính đi ngang qua cửa đánh thức thằng Bướu dậy (thằng này vẫn ở với Hoa Lê) nó vội vàng tập tễnh đi nhanh ra cửa xem, lấy làm lạ quá. Nó không biết Vương hổ tướng là chú ruột nó nên cứ đứng ở bờ đường xem bọn lính đi ngang. Thằng Bướu bây giờ xấp xỉ 16 tuổi, nhưng thân hình nó cần cỗi chỉ bằng thằng bé 6, 7 tuổi. Cái lưng nó nhô lên khỏi đầu, khum xuống trông như cái mai rùa. Vương hổ tướng thấy nó lạ quá ghìm ngựa lại hỏi:

– Mày là ai ở trong túp nhà đất này?

Thằng Bướu như sực nhớ ra, vì nó nghe nói có một ông chú làm tướng, nó vẫn nghĩ vẩn vơ không biết ông chú này giống ai. Nó reo lên:

– Có phải chú không?

Chàng như sực nhớ ra, vừa nhìn thằng bé thủng thẳng nói:

– À, tao nghe phong thanh như anh tao có một thằng nhỏ hình thù giống mày. Lạ quá, tất cả nhà, cả họ người nào cũng ngay ngắn, khỏe mạnh, cả đến ông cụ khi xưa đến lúc già người cũng thẳng thắn ngay ngắn.

Thằng nhỏ thản nhiên trả lời, như câu chuyện đó từ đời  nào, nó quen quá, nó nói mắt vẫn mải nhìn bọn lính với conngựa hồng:

– Người ta đánh ngã cháu lúc bé chú ạ.

Nó giơ bàn tay chỉ khẩu súng của chàng và nói:

– Cháu chưa được mó khẩu súng ngoại quốc này bao giờ, chú cho cháu cầm xem một tý.

Khi thằng nhỏ giơ tay chỉ khẩu súng, Vương hổ tướng để ý nhìn thấy bàn tay nó bé quá, khô đét, da nhăn nheo như da tay ông già, động lòng trắc cẩn, đưa cho khẩu súng để nó xem. Trong khi thằng nhỏ mân mê khẩu súng xem cho chán mắt, thình lình chàng thấy có người ra đứng ở cửa: người đó là Hoa Lê. Vương hổ tướng nhác trông thấy nhận ra ngay vì  nàng không đổi mấy, chỉ hơi khác là gầy hơn trước, khuônmặt trái xoan vẫn xanh như trước, có nhìn kỹ mới thấy đường nhăn, tóc vẫn mượt và đen như xưa. Vương hổ tướng ngồi trên ngựa nghiêng mình chào. Hoa Lê khẽ nghiêng đầu đáp lễ, toan vội chạy vào, Vương hổ tướng gọi giật lại:

– Con nhỏ vẫn khỏe mạnh chứ cô?

Hoa Lê với một giọng êm dịu trả lời:

– Vâng, vẫn được mạnh.

Vương hổ tướng lại hỏi:

– Tiền nong tháng nào cô cũng nhận đủ chứ?

Vẫn giọng nhẹ nhàng ủy mị, nàng trả lời:

– Vâng, cám ơn, tôi nhận đủ.

Nàng nói, đầu cuối xuống, mắt nhìn nền đất ở sân. Lần này vừa trả lời xong nàng quay ngoắt người lẩn vào trong nhà. Vương hổ tướng ngồi trên mình ngựa thẫn thờ nhìn cái khuôn cửa không. Đột nhiên chàng hỏi thằng Bướu:

– Sao cô ấy ăn mặc như nhà chùa hở?

Chàng hỏi thế vì thấy Hoa Lê mặc áo dài màu xám cổ áo khuy gài chếch sang một bên như kiểu nhà chùa. Thằng nhỏ trả lời không nghĩ ngợi gì, vì nó đang ngắm nghía cây súng, mân mê cái báng súng bằng gỗ.

– Bao giờ con bé con nó chết, cô ấy vào tu một ngôi chùa gần đây. Cô ấy ăn trường trai, kinh kệ thuộc nhiều, đã quy y Phật pháp. Con bé còn sống cô ấy chưa làm lễ thí phát, ông ngày xưa giao con bé cho cô ấy nuôi.

Vương hổ tướng nghe chuyện thấy lòng nao nao bùi ngùi, chàng ngồi lặng yên một lát. Chàng lại hỏi thằng nhỏ có vẻ ái ngại:

– Sau này cô ấy vào ở chùa tu thì mày định làm gì?

Thằng nhỏ trả lời:

– Bao giờ cô ấy đi tu, cháu xin vào làm tiểu ở một ngôi chùa nào. Cháu còn ít tuổi, cháu còn sống nhiều, nếu lại chờ cả đến khi cháu chết, cô ấy mới đi tu thì lâu quá. Nếu cháu làm tiểu, cháu cũng có cơm ăn, mà lúc đau ốm, cháu bị đau luôn vì cái bướu này chú ạ, cô ấy lại trông nom cho cháu vì cũng là họ hàng cả.

Thằng bé nói một cách vô tư lự. Tự nhiên giọng nó đổi hẳn, nói như muốn khóc, ngước mắt nhìn chàng:

– Vâng cháu đi ở chùa làm tiểu … Nhưng nếu cháu cầu xin Trời Phật, người được ngay ngắn, chú có nhận cho cháu làm lính không?

Hai con mắt buồn thảm của nó như có một tia lửa hy vọng đốt sáng rực lên. Vương hổ tướng nghe nó nói lòng cảm động; thâm tâm chàng là một người nhân từ phúc hậu, chàng trả lời với một giọng buồn thảm:

– Chú rất vui lòng nhận cháu làm lính nhưng hiện giờ cháu bị tật nguyền thế này chỉ có thể làm tiểu ở chùa chứ còn làm được gì hở cháu.

Thằng nhỏ nhô cái đầu lên như đầu rùa chui ở trong mai ra, nó khẽ nói:

– Cháu cũng biết thế.

Không nói một câu gì nữa, nó giao trả súng, tập tễnh lách vào trong nhà.

*

Vương hổ tướng theo đuổi công việc lấy vợ của chàng.  Chàng cho việc lấy vợ lần này thật cũng lạ kỳ. Thản nhiên, không thấy hào hứng, nóng nảy vội vàng, muốn cưới lúc nào,ngày hay đêm cũng được, như một cái máy, chàng theo các nghi lễ không một lời than phiền hay bình phẩm. Lòng chàng như đám tro tàn, vấn đề tình ái đối với chàng như tắt  hẳn, nên khi nom thấy cô dâu mặc chiếc áo cưới đỏ hồng, dưới mắt chàng như một hình ảnh xa xăm lờ mờ, cả những khách khứa, họ hàng, anh chị em, cô ả Liên người to béo đồ sộ, đi phải vịn vai con ở, chàng không để ý đến ai. Chàng có nhìn qua Liên vì thân hình nàng quá đồ sộ đi lại nặng nhọc, thở hổn hển khó khăn. Chàng có chào các anh, các chị, họ mạc nhà gái, tất cả những ai dự tiệc cưới hôm đó. Khi vào bàn tiệc, chàng ngồi làm vì, nhấm nháp chút ít. Khi anh Cả pha trò cười, ý anh nghĩ dù lấy vợ lần thứ hai,  tiệc cưới cũng phải cho vui vẻ, có một người khách dự tiệcthấy anh Cả pha trò cười cũng cười theo, cái cười vấp ngay phải nét mặt nghiêm nghị, lạnh nhạt của Vương hổ tướng

làm người đó bị cụt hứng. Chàng là chủ, là then chốt bữa tiệc cưới mà chàng không hề chuyện trò với ai một lời. Khi rót rượu, chàng vội vàng cầm chén lên uống làm như khát lắm nhưng khi đưa lên miệng nhấm một chút, chàng đặt chén xuống bàn nói với một giọng cứng nhắc:

– Nếu tôi biết rượu ở đây xoàng thế này, tôi cho đem về một hũ vùng tôi ở.

Cưới xin, lễ nghi xong, mấy hôm sau chàng lên con ngựa hồng, về nơi chàng ở, không ngoảnh cổ lại săn sóc trông nom cô vợ mới cưới ngồi trong xe với con ở. Cái xe đó có hai con la kéo, rèm phủ kín mít. Đó, cách thức chàng đón vợ về nơi chàng ở là thế. Một hai tháng sau, cô vợ hai, ông bố nàng dẫn xuống, chàng cũng nhận, chàng không để ý, một hay hai vợ cũng được.

Chàng là một người tính khí cương trực, không tỏ ý yêu cô vợ này hơn cô vợ kia, dù hai người khác nhau xa hẳn. Một người chữ nghĩa giỏi, sạch sẽ, dễ thương, dản dị, thùy mị; một người tính xềnh xoàng, có đức hạnh, bụng dạ ăn ở tốt, cô vợ này vì bộ răng đen hỏng, đến gần khó chịu vì mồm hôi

lắm. Chàng đối với hai cô vợ như nhau, chàng đến với mỗi cô một lần như nhau, không ai hơn kém, đối với con mắt chàng hai cộ cũng thế cả. Khi nào chàng muốn tĩnh mịch, không ai dám đến quấy rầy. Trong hai người vợ, chàng không quyến luyến với một ai, khi nào chàng lại với vợ, vẻ mặt kiêu hãnh, với một ý định rõ rệt, chàng không chuyện trò vồn vã, chàng không thố lộ tâm tư, như đối với mụ đã chết rồi, chàng nói gì, làm gì cũng dè dặt. Chàng có một hy vọng là trong hai cô vợ thế nào chàng cũng có một đứa con trai. Nghĩ thế chàng phấn khởi tinh thần để thực hiện mộng cao chí lớn. Chàng nguyện trong năm nay hay xuân sang năm, chàng sẽ dự  phần vào đại chính để mở mang cương giới, chàng như đãtrông thấy tương lai vinh quang chói lọi.

Xin cáo lỗi cùng quý bạn đọc

Sơn râu 1 Jul 2025

” I am busy”

Vì có một ít công việc riêng nên tạm thời râu tôi không có post bài lên trang blog từ hôm nay cho đến 20 Jul 2025. Bạn đọc có ý kiến gì có thể post vào phần comment của mình khi có chút thì giờ rãnh tôi sẽ đọc và trả lời (nếu có thể). Xin thành thật cáo lỗi, chịu khó đọc và xem lại các bài đã post có sẳn trên blog từ trước đến nay.

Sơn râu

Chuyện Phở Xe Lửa và Tuổi Già

vvnm.vietbao.com

23/08/2016

Phạm Thành Châu
Post by Sơn râu 30 Jun 2025

Người viết, Chủ nhân Nguyễn Thế Toàn, Họa sĩ Đinh Cường.

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế. Ngoài truyện, tác giả còn viết nhiều tự sự mà ông gọi là “tạp lục”. Sau đây là tự sự về bạn già Virginia của tác giả, nhiều người nay đã không còn nữa.

1. Phở Xe Lửa, Chợ Eden…

Tiểu bang Virginia và các vùng phụ cận (Washington DC, Maryland) có độ bốn, năm chục nghìn người Việt, có thương xá Eden (gọi là chợ Eden) với hàng trăm cửa tiệm. Mỗi cuối tuần hoặc ngày lễ, người Việt các nơi tụ về chợ Eden để ăn uống, mua sắm và lang thang trên các hành lang chợ…cho vui.

Trước năm 1980, người Việt chưa có bao nhiêu, chợ Eden gần như hoang phế, cỏ mọc tùm lum, vài cửa hàng lèo tèo. Khi người Việt đến mướn chỗ để buôn bán, chợ trở nên sầm uất. Chủ chợ là người Do Thái, bắt đầu lên giá mướn, cứ lên giá liên tục, hiện nay hình như 50 đô la cho mỗi square foot (một năm) và có thể sẽ lên giá nữa. Tôi không biết giá đó mắc hay rẻ, nhưng đã có nhiều bà “tưng bừng khai trương” và ít lâu sau bán nhà để trả tiền mướn chỗ trước khi “âm thầm dẹp tiệm”. Bà nầy rút lui thì bà kia nhào ra làm con thiêu thân. Tôi nói “bà” vì đa số các bà mở tiệm ăn. Ở nhà, nấu dở, nhưng chồng con “phải” khen ngon, các bà tưởng thật, bèn mở tiệm ăn. Để rồi mất ăn, mất ngủ và mất nhà.

Chợ Eden là chợ duy nhất ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ không có “người ngoại quốc”, nghĩa là người bán, người mua và người đi chơi toàn người Việt. Hiếm hoi lắm mới thấy một bà dẫn ông chồng Mỹ đi ăn tiệm.

Chợ Eden có nhiều tiệm ăn, trong đó có tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là nhiều người lui tới, vì đó thường được làm điểm hẹn của bạn bè phương xa đến Virginia. Ông từ Florida lên, bà từ California qua, cứ hẹn gặp nhau ở tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là ai cũng biết, cũng đến đúng chỗ. Ông chủ tiệm phở tên Nguyễn Thế Toàn nhưng mọi người gọi ông là Toàn Bò, mặc dù ông ta vẫn đi trên hai chân như người bình thường.

Trong tiệm, ông dành sẵn một bàn riêng cho bạn bè. Họa sĩ, nhà báo, nhà thơ, nhà văn…hoặc không “nhà” gì cả cũng có thể đến ngồi tán phét bao lâu cũng được. Lại có sẵn một bàn cờ tướng cho thiên hạ chơi, giống như quán cắt tóc bên đường ở Việt Nam vậy. Có điều lạ là ngồi vào bàn đó, không ông nhà báo nào nói về báo chí, không ông văn, thi sĩ nào nói chuyện văn chương, thi phú mà toàn những chuyện tào lao thiên địa, mỉa mai, chọc ghẹo nhau để cười với nhau. Riêng ông chủ Toàn Bò, vốn là luật sư trước 75, nên khi nói chuyện, ông ta lý luận rất vững chắc, “tam đoạn luận” đàng hoàng, cho nên dù bạn là nhà hùng biện, khi tranh luận với ông ta, bao giờ bạn cũng đuối lý. Sau khi đã chiếm thượng phong, ông ta bồi thêm một câu mỉa mai để quí vị ngồi quanh bàn cười khà khà. Nhiều ông không biết đó là giỡn chơi nên tự ái, không thèm ghé tiệm nữa.

Ông Toàn Bò không bao giờ bước ra khỏi tiệm phở. Sáng đến mở cửa tiệm, tối đóng cửa tiệm, về nhà. Quan, hôn, tang, tế… không có ông ta. Bạn là bạn thân của ông ta, lăn ra chết, chưa chắc ông ta đến vĩnh biệt bạn. Lời chia buồn trên báo thì có. Nhưng đừng tưởng ông ta không ra khỏi tiệm mà kiến thức của ông ta không được cập nhật hóa. Cứ thấy ông ta ngồi lim dim mắt mà tưởng ông ta tham thiền nhập định, chuyện thế gian gác bỏ ngoài tai. Không phải vậy. “Thiên lý nhĩ” đấy! Ngồi trong “tiệm phở” mà biết chuyện ngàn dặm. Bạn thử đến và khơi mào “Hôm qua, ông X. bị sao đó, nghe nói đã đưa vô bịnh viện rồi. Tôi định rủ vài ông nữa cùng đến thăm…” Tức khắc bạn sẽ được điều chỉnh “Trễ rồi ông ơi! Vừa tắt thở lúc một giờ sáng, đã đưa sang nhà quàng rồi. Ông có muốn chia buồn thì ghi tên vào tờ giấy đằng kia, để đưa lên báo”… Nhiều lúc thấy một ông, bà nào đó thì thầm với ông Toàn Bò. Rất có thể (có thể thôi), tình báo nước ngoài đến mua tin tối mật của nước Mỹ đấy.

Phở Xe Lửa của ông Toàn Bò là tiệm duy nhất trên nước Mỹ có một tủ sách đồ sộ và trên tường treo đầy tranh. Không phải tranh trang trí như vẽ tô phở, con cá chiên, chùm nho, chai rượu hoặc tranh tào lao, rẻ tiền… mà là tranh nghệ thuật của các họa sĩ danh tiếng. Tranh chính gốc chứ không phải bản sao. Người ta hỏi mua, ông không bán.

Hầu như họa sĩ nào đến tiệm phở của ông Toàn Bò đều phác họa cho ông ta một tấm chân dung. Bức nào cũng vẽ ông ta cười toét miệng đến mang tai. Vì dung nhan mùa hạ ông ta không khá lắm, nên gặp họa sĩ trườu tượng, ấn tượng, biểu tượng, siêu thực hoặc hậu hiện đại… thì dung nhan đó được vẽ thành của người khác. Không giống ai!

“Ủy Ban Thường Trực” (ngồi nhiều nhất) ở phở Xe Lửa cũng khá đông. Ông Cò Ly, nhà (bán) báo, có sạp báo trước cửa phở Xe Lửa, chỉ “mở cửa tiệm” sáng thứ bảy và chủ nhật, ngày thường ông bận nhổ lông mày, đấm lưng cho người đẹp. Họa sĩ Tấn Đức có tiệm khung hình giảm giá 75%. Ông Bình Gió Mới đã đóng cửa tờ Gió Mới. Ông Bạch Thái Hồ, gặp ai cũng mở máy ảnh ra, đòi chụp hình “Ngồi yên… Xong rồi! Hình sẽ đẹp lắm đấy!” Ông Ngô Đình Châu, “vũ sư điệu cha cha cha” vì bị strock, đi lạng quạng như nhảy cha cha cha. Ông nầy vừa ngồi xuống lại lò mò ra ngoài tiệm “ba mươi giây khói lửa” (hút thuốc). Ông “cựu” dược sĩ Thịnh, vô tiệm, ngồi xuống là mở máy nói. Thấy tôi thì kêu lên “Vua phịu!” (phịa?) Coi bộ ông ta giỏi như bác sĩ, bịnh gì cũng biết, thuốc gì cũng biết. Bịnh hoạn, cứ hỏi ông ta, miễn phí.

Ngày xưa, ở Việt Nam, đau đầu, nhức răng, trẻ khóc đêm…bất cứ bịnh gì, cứ ra tiệm thuốc tây khai bịnh với dược sĩ, mua thuốc về uống, công hiệu như thần. Ông bác sĩ Dương Quan Hớn, chuyên về mắt, nhưng bịnh nhân đến chữa trị phải chuẩn bị đôi tai để nghe ông ta nói liên tục những chuyện ít liên quan đến mắt. Trước đây còn có ông Giang Hữu Tuyên, chủ báo Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, nổi tiếng với bài thơ “Trời Mưa Đi Phát Báo”, chưa vào tiệm đã nghe oang oang giọng ông ta. Năm kia, ông ta bị đứt gân máu và biến mất trên thế gian (quá cố).

Riêng họa sĩ Đinh Cường, tôi xin dài dòng một chút. Ông Đinh Cường rất nổi tiếng, được nhiều người viết và đọc về ông ta trên “net”, trên báo vì những chuyện không ăn nhậu gì đến hội họa cả. Ông nầy ít nói nhưng vẽ thì đẹp. Ở Sài Gòn, đã có tranh giả của Đinh Cường. Người nào ra sách, thơ mà có cái tranh bìa của Đinh Cường thì tác phẩm trở nên sang trọng và giá trị ngay. Ông ta rất thiện chí, ai xin tranh bìa cũng cho, có khi đưa ra nhiều bức để người xin lựa chọn. Tôi hỏi “Phải chụp hình, sang hình tranh mình rồi đưa cho người ta. Có cà phê cà pháo gì không?” “Chỉ có tờ Đặc San Cựu Sinh Viên Hành Chánh Miền Đông có tặng chút chút để uống cà phê thôi. Nhưng tờ đó mỗi năm chỉ ra một lần!” Có thể xếp quí vị xin tranh bìa kiểu “chùa” nầy (trong đó có tôi) thuộc giai cấp bóc lột và trơ trẽn. Trơ trẽn mà tưởng như mình ban ơn cho ông ta, chỉ thiếu điều chưa nói “Ông hân hạnh lắm mới được tôi dùng tranh ông làm bìa “đại tác phẩm” của tôi đấy nhé!”.

Nói thế nhưng không phải ai cũng vô ơn cả. Có nhà thơ Thái Thụy Vi, khi xin tranh bìa đều có cà phê, cũng chút chút, để tỏ lòng trân trọng và biết ơn. Ông nhà thơ nầy yêu màu tím vô cùng. Thi phẩm nào cũng tràn trề màu tím. Cái tranh bìa cũng màu tím. Một lần, đã xin được tranh bìa màu tím cho tác phẩm của mình, mấy hôm sau, nhà thơ lại xin được gặp họa sĩ ở tiệm cà phê. Trò chuyện một lúc, ông Thái Thụy Vi dúi vào tay ông Đinh Cường một tờ bạc “Cái tranh bìa đẹp lắm, nhưng nhờ anh cho thêm màu tím vào cho tím hơn nữa”. Màu sắc, đậm nhạt được đánh giá bằng tiền?

Trở lại tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò. Chủ nhật nào tôi cũng rủ họa sĩ Đinh Cường ra đó uống cà phê. Tôi có viết linh tinh chút đỉnh, được quí vị ngồi ở bàn thường trực đó vinh danh là “nhà văn”. Tôi khoái lắm. Sau lại được thăng cấp thành “nhà tiểu thuyết”, tôi càng khoái, mặt vênh lên. Không ngờ cái mỹ danh “nhà tiểu thuyết” bị rút gọn thành “nhà tiểu”. Họa sĩ Đinh Cường cũng được vinh danh là “đại họa sĩ”. Cũng xứng thôi. Nhưng rồi được rút lại thành “đại họa”.

Thế là mỗi khi chúng tôi bước vào tiệm phở Xe Lửa, quí vị đó nhao nhao lên “Chào nhà tiểu. Chào đại họa gia!”

2. Tuổi Già

Lần trước, tôi có kể chuyện bọn già chúng tôi, mỗi sáng chủ nhật, tụ tập trong tiệm phở Xe Lửa của ông Toàn Bò, chợ Eden, Virginia, cà phê cà pháo, nói chuyện tào lao với nhau. Cứ thế, đã gần chục năm nay rồi.

Cái bàn mà ông chủ tiệm dành riêng cho bạn bè tụ tập, đặt ở góc tiệm. Ông ta ngồi đầu bàn, coi như chủ tọa. Hai bên là hai dãy những ông nhà báo, nhà văn, nhà thơ, “nhà họa”, và chẳng “nhà” gì cả, ít nhất cũng trên mười người. Đôi khi đông quá, phải ngồi bàn bên cạnh, nghếch mặt qua “đối thoại”. Nói nhiều nhất là mấy ông nhà báo. Các ông “nhà” khác ít nói chỉ ngồi nghe và cười. Đó là nói thời “hoàng kim”, cách nay đã lâu chứ bây giờ thì chỉ còn loe hoe mấy mạng. Những chiếc ghế cứ trống dần.

Những người vắng mặt đi đâu? Thì đi đâu ngoài con đường ra nghĩa trang!

Quí ông kéo nhau ra họp mặt ngoài đó. Thực ra, cũng còn rất nhiều ông còn sống, nhưng nằm nhà, đi không nỗi. Đôi lúc nhớ bạn, nhớ tiếng cười, nhớ những câu nói móc nghéo, chọc ghẹo nhau, quí ông nầy lại mò ra, nhe răng cười tuy dung nhan đã “xuống cấp” thê thảm rồi. Điển hình như ông N. V. T. mỗi khi đi chữa trị gì đó ở bịnh viện, thường ghé tiệm phở Xe Lửa, nhưng khổ nỗi, ông ta đi ngày thường (không phải ngày chủ nhật) nên cái bàn đó trống trơn, chỉ mình ông ta chóc ngóc với ông chủ tiệm, chẳng biết nói gì, nói với ai! Ông chủ tiệm vốn nói nhiều, cũng yểu xìu vì “lân thiếu pháo”! Ông T. không được khỏe, có nhếch mép cười cũng đã là một cố gắng quá sức rồi. Thế nên cả hai ông, chẳng phải nhìn nhau mà cùng nhìn ra cửa tiệm, hi vọng có ông bạn nào bước vô chăng?

Mỗi sáng chủ nhật tôi gọi ông Đinh Cường “Châu đây. Tính sao?” Bên kia đầu dây, giọng lè nhè “Làm sớm nghỉ sớm. Tôi vừa ở Starbucks về đây” “Lên đường chưa? Độ chín rưỡi có mặt nghe!” “Rồi!” Tôi cũng gọi ông Bình Gió Mới “Mươi phút nữa có mặt ở Phở Xe Lửa nghe!” “O.K!” Thế là trên cái bàn rộng đó chỉ có ba ông già. Lâu lâu, tấp vào, có ông Cò Ly, dược sĩ Thịnh, bác sĩ Dương Quang Hớn, giáo sư Như Hạnh, ông Bạch Thái Hồ… Vừa ăn vừa chuyện trò cười nói, độ một giờ sau, trả tiền, đứng lên. Có ông móc trong túi ra tờ giấy nhỏ, có ghi mấy món vợ sai đi chợ, vài ông khác bày bàn cờ tướng “lên xe xuống ngựa”. Có ông còn nán lại làm thầy dùi. Rồi thì tiếng la hét, cổ võ tưng bừng, có những câu không được thanh nhã như “Coi chừng bị nước thượng mã…phong” Ông khác trấn an “Không sao. Tướng xuất…tinh”. Chiến đấu gay cấn nhưng không ai nổi xùng, tự ái mà chỉ cười. Đến trưa thì tan hàng, ai về nhà nấy, vợ chờ cơm ở nhà, còn lại ông chủ Toàn Bò tiếp tục nhiệm vụ, mời khách ngồi, ghi thực đơn, thu tiền.

Về ông chủ tiệm phở Xe Lửa. Trước 1975, ở Sài Gòn, không ai dám gọi xách mé là “Ông Toàn Bò” mà phải gọi là “Ngài luật sư Nguyễn Thế Toàn”. Luật sư lợi hại vô cùng. Tôi đọc đâu đó câu “Luật sư, chỉ với cái cặp mà lấy của thiên hạ bằng một trăm tên cướp có võ khí”. Bây giờ, nơi xứ người, không thể hành nghề hùng biện, nhưng “cựu” luật sư Toàn mà mở miệng là có người tức chết được. Đấu súng có thể thắng ông ta nhưng đấu võ mồm thì thua là cái chắc.

Xin trở lại chuyện mấy ông vắng mặt ở tiệm phở Xe Lửa. Tôi xin kể vài ông tiêu biểu, vắng mặt nằm nhà vì bịnh. Chưa chết. Mấy ông già bịnh gì? Mỗi ông ngoài bịnh cao mỡ (cholesteron), cao áp huyết còn “thủ đắc” cho riêng mình vài loại bịnh. Kể từ trên đầu xuống chân thì có, trước hết “bịnh” đứt gân máu trên đầu, tiếng Mỹ là Stroke. Bịnh nầy chết nhanh lắm. Không chết thì liệt nửa người, như ông Ngô Đình Châu, (gọi là Châu Già). Lần trước tôi có kể rằng ông ta chống gậy đi cà nhắc (theo điệu cha cha cha), vô tiệm phở, vừa ngồi xuống là đã đứng lên, lò dò ra cửa “ba mươi giây khói lửa” (hút thuốc). Trước đây, ông còn sống, nay đã “quá cố” rồi.

Xuống chút nữa, ngang ngực thì có bịnh nghẽn tim (heart attack) và ung thư phổi. Nếu phát hiện kịp thì vẫn không sao, như ông B. G. M., cũng ung thư phổi nhưng chỉ “chiếu đèn, chiếu điện” gì đó mấy lần, chẳng mổ xẻ gì, bây giờ vẫn phây phây, sáng chủ nhật nào cũng có mặt ở tiệm phở. Ông nầy chịu nghe tán phét lắm. Ai nói gì cũng cười một cách hạnh phúc. Xuống chút nữa có bịnh ung thư bao tử, ung thư ruột, nếu cắt bỏ kịp thời cũng không sao, như ông “cựu” nhà báo U. Th. Mấy năm nay vẫn sống hùng, sống mạnh.

Một bịnh khác nằm cạnh bao tử là bịnh ung thư gan. Tôi chưa nghe ai bị ung thư gan mà sống nên không (có ai) được nêu tên ra đây. Viêm gan siêu vi thì chữa được. Còn một bịnh nữa, nó mà xuất hiện thì tất cả “các cơ quan đoàn thể” của người bịnh bị vạ lây. Đó là bịnh ung thư máu. Bịnh nầy, ở Mỹ chữa được, nhưng phải thường xuyên thay máu. Ông “cựu” nhà báo N. V. T. bị bịnh nầy, thỉnh thoảng có ghé tiệm phở Xe Lửa góp vài nụ cười.

Xuống chút nữa, ở điểm chiến lược, có bịnh tuyến tiền liệt. Mười ông hết năm ông bị bịnh nầy nhưng giữ bí mật, vì bịnh đó làm mất khả năng của đệ tam khoái, nói ra thì mặc cảm mình thua thiên hạ. Có một bịnh cũng chẳng làm ăn gì được, đó là bịnh tiểu đường nhưng cũng chẳng chết chóc gì. Xuống nữa, ngang đầu gối có bịnh sưng khớp, nghe nói ăn thịt bò hay ăn chao thì nó hành cho rên rỉ suốt ngày đêm, uống thuốc thì bớt.

Tôi không phải bác sĩ, phét lác mấy giòng về bịnh hoạn của mấy ông già, đọc cho vui, xin quí vị bỏ qua. Bây giờ xin kể đến vài ông vắng mặt vĩnh viễn. Người chết không nói được nên tôi nêu tên rõ ràng mà không sợ bị phản đối. Trước hết là nhà thơ Hoàng Trùng Dương. Làm thơ không có tiền nên ông ta làm thêm nghề xây dựng nhà cửa. Ông ta có mấy tác phẩm thi ca, khi sắp cho ra đời đứa con tinh thần (thi phẩm) thứ ba thì thình lình vướng bịnh ung thư gan cấp tính. Tôi theo ông Dũng nhà in chở mấy thùng thơ đến giao vừa để thăm ông ta, thì thấy mặt mũi vàng khè, nằm bẹp trên giường nhưng vẫn cười và thều thào “Tôi xuống trước, xây nhà chờ mấy ông…”. Quả nhiên, “mấy hôm sau là đi”.

Tiếp theo là nhà thơ kiêm nhà báo Giang Hữu Tuyên. Thời sinh tiền, ông thuộc hàng “ăn to, nói lớn”. Chân chưa bước vô tiệm phở đã nghe giọng ông Giang Hữu Tuyên ồn ào, náo nhiệt khiến không khí trong tiệm vui vẻ, sôi động hẳn lên. Chuyện ông Giang Hữu Tuyên qua đời như sau: Một buổi sáng, ông võ sư Vương Đình Thanh cùng với nhà thơ Giang Hữu Tuyên lái xe lên phi trường Dulles nhận báo từ Cali. gửi qua theo đường hàng không. Chờ một lúc thì ông Giang Hữu Tuyên bỗng kêu lên “Đau đầu quá!” rồi gục xuống. Ông Vương Đình Thanh cũng kêu lên “Help! Help!” Xe cứu thương đưa vô bịnh viện, không tỉnh dậy nữa. Cả tiệm phở Xe Lửa xôn xao, kinh ngạc “Giang Hữu Tuyên chỉ trên năm mươi, còn quá trẻ, sao đi sớm quá vậy?” Có ông phán “Tu mấy kiếp mới được chết như vậy. Chỉ đau đầu mấy phút là xong ngay, khỏi phiền đến ai. Bịnh hoạn nằm một đống, thà chết sướng hơn”.

Giang Hữu Tuyên có một bài thơ nổi tiếng “Trời Mưa Đi Phát Báo”. Nguyên nhân như sau. Sau 1975, ông Giang Hữu Tuyên nhanh chân chạy thoát. Qua Mỹ, ông cùng với bạn bè ra một tờ báo. Thời đó, những người Việt qua Mỹ thèm hai thứ: nước mắm và chữ Việt. Mấy ông cùng nhau bỏ tiền, bỏ công ra làm một tờ báo rồi đi phát không cho đồng bào đọc. Bấy giờ làm gì có computer, máy chữ thì không có dấu, phải thêm dấu vào, tiêu đề, chữ lớn thì cắt trong báo Mỹ, dán lên rồi đem in. Hoàn thành tờ báo xong còn đi đến những nơi có người Việt tị nạn phát không. Không phải chỉ những ngày đầu đến Mỹ mà cả chục năm sau, ông ta vẫn làm báo và đi phát không cho thiên hạ đọc (sau nầy, chi phí nhờ quảng cáo bù vào). Sau đây là bài thơ “Trời Mưa Đi Phát Báo” của Giang Hữu Tuyên mà tôi tin là có vị đã đọc rồi

“Chiều ngã năm đường năm bảy ngã. Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi. Bao mùa mưa đã im giông bão. Sao nước trường giang vẫn khứ hồi.

Mười mấy năm làm tên phát báo. Lòng buồn theo thành quách xa xưa. Những trang tin dội từ quá khứ. Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa.

Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi. Sáng chưa đi chiều lại mưa về. Mưa ngã năm từ năm bảy ngã. Ngã nào cũng mưa và mưa thôi.

Xấp báo trên tay vừa ướt hết. Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay. Hình như những mùa mưa thuở trước. Đang về làm ướt trái tim ai.”

Phần cuối bài nầy xin kể về cố thi sĩ Vương Đức Lệ. Trước 1975, tôi tưởng là “cô”, sau mới biết là “ông” Lê Đức Vượng. Ông nầy bị ung thư phổi “Từ lúc trẻ, tôi đã hút thuốc rồi” Ý nói là “Tôi làm tôi chịu”. Quí vị bị nhức đầu, đau bụng hoặc đang bực mình điều gì xin thử viết một bài văn ngắn hoặc làm một bài thơ, có được không? Có thể được nhưng không hay. Ông Vương Đức Lệ bị ung thư phổi, bác sĩ lắc đầu, cho đưa về nhà “săn sóc” và “chờ”, vậy mà vẫn làm thơ. Thơ ông rất hay. Tôi thường cùng ông Đinh Cường đến thăm, thấy đeo cái ống dưỡng khí trên lỗ mũi “Không có nó, thiếu ôc xi, mệt lắm” nhà thơ giải thích.

Điều kỳ lạ là Vương Đức Lệ đang ở thời kỳ cuối của bịnh mà vẫn làm thơ được. Bịnh trở nặng, ngất xỉu, tỉnh dậy, làm thơ. “Mong con, cha mẹ đợi? Nhớ em, ba chị chờ?” Và chú em út cũng còn trông anh sao? Mong manh chỉ một đường sinh tử. Hai ngả âm dương một lối vào…” “Bàn tay nào đây. Ai lay tôi tỉnh dậy?”

Một lần khác, ông lại ngất xỉu, tưởng đi luôn, gia đình gọi xe cứu thương đưa vô bịnh viện cấp cứu. Ông tỉnh dậy, thấy mình còn sống, reo lên “Tử thần bắt hụt ta lần nữa. Bạn mới mừng chung khóa nỗi vui. Bạn cũ buồn riêng ly rượu phạt. Ôm vai bá cổ ngẩn ngơ cười! Đã mấy lần rồi tai giả điếc. Tử thần lay gọi mãi, không nghe! Bởi còn lưu luyến duyên phàm tục. Mãi đợi người xưa lạc lối về…”

Ông còn viết những bài văn ngắn, ghi lại những đau đớn của thể xác, những cảm nghĩ, những lưu luyến với thân quyến, bạn bè trong những giây phút cuối của cuộc đời. Và rồi, ông bình tĩnh chờ đợi con tàu vô hình đưa ông vào cõi mịt mù “Bàn tay nào vuốt mắt tôi. Ngón nào bấm nút châm mồi hỏa thiêu? Trăm năm mộng ước còn nhiều. Trần gian nào dễ đủ điều nỉ non. Tử sinh nẻo thuộc đường mòn. Âm dương đôi ngả vuông tròn đó thôi!” Vương Đức Lệ “lên đường” đầu năm 2008.

Sau đây là vài cảm nghĩ của tôi trước cái chết. Ai cũng chết. Mặt trời sẽ nguội dần, quả đất sẽ biến mất. Sẽ không còn thời gian. Có một ông bạn, bị ung thư phổi. Mổ xong, có vẻ khá hơn trước, gọi điện thoại nói chuyện với tôi. Tôi hỏi ông bạn nghĩ gì về cái chết? Ông ta bảo, chỉ sợ giờ phán xét, sợ vào hỏa ngục. Ông ta theo đạo Chúa nên mới tin có linh hồn, có thiên đường, hỏa ngục. Tôi chẳng theo đạo nào, không tin có linh hồn nên chẳng hề bận tâm. Khoa học thực nghiệm không chứng minh có linh hồn. Tôi chỉ mong ngủ một giấc rồi không thức dậy nữa, Đời chẳng có gì để mà lưu luyến. Giá như có ông thần nào cho tôi sống lùi lại bất cứ giai đoạn nào của đời tôi. Mười năm. Hai mươi năm. Ba, bốn mươi năm? Tùy ý. “No. Thank you!”

Trên sân khấu cuộc đời, tôi là tên hề giễu dở. Bị lừa gạt liên tục. Thất bại liên tục. Chỉ mong rằng, chết bình yên, đừng đau đớn, vật vã ngày này qua tháng khác. Ông triết gia, giáo chủ nào cũng giải thích theo tưởng tượng của mình về những gì xảy ra sau khi chết. Mỗi vị một cách! Rồi vị nào cũng chết! Cũng chẳng biết đi đâu?

Bọn già chúng tôi đôi khi phân vân, không biết chết rồi linh hồn (nếu có) đi đâu? Rồi “nhất trí” là nên tìm tôn giáo nào cho mình đi đến chỗ sướng nhất mà theo. Nơi dành sẵn cho mấy nàng trinh nữ? Xin cám ơn. Già quá. Hom hem quá rồi. Hay là thiên đường, nát bàn? Hoan hô! Nhưng trên đó có đàn bà không? Chắc là không. Đã là thiên đường, nát bàn thì làm gì có đàn bà! Mấy ông già tào lao với nhau, xin các tôn giáo (và các bà) bỏ qua cho.

Có lẽ, chết là hết, như ngủ mà không thức dậy. “Lai như lưu thủy hề, thệ như phong. Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung” (Kim Dung trong Cô Gái Đồ Long: Đến như nước chảy, đi như gió thoảng. Không biết đến từ đâu, về đâu?)

Phạm Thành Châu

Nữ Hải Quân Đại Uý Phung Duong (gốc Việt), Sĩ quan tiếp liệu Hải Đội 32 tiếp vận tàu ngầm (SRS-32) Hải Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on December 26, 2024

Post by Sơn râu 30 Jun 2025

HQ Đại Uý Phung Duong (ảnh của dvidshub.net)

Nữ Hải Quân Đại Uý Phung Duong, sinh ra tại Sài Gòn, Việt Nam và lớn lên tại San Jose, California. Cô tốt nghiệp Đại học Bách khoa California năm 2012 với Văn bằng Cử nhân Nghệ thuật (BA), Khoa học Chính trị và Chính quyền. Phung Duong gia nhập Hải quân năm 2015, cô trở thành một Thuỷ thủ sau khoá huấn luyện và được điều động đến phục vụ Phi đoàn chiến đấu cơ tấn công (VFA-81) trên Hàng không mẫu hạm USS Harry S. Truman (CVN 75).

Năm 2018, cô được tuyển chọn thụ huấn khoá Sĩ quan tại trường Sĩ quan Hải quan OCS (Navy’s Officer Candidate School). Sau khi tốt nghiệp, HQ Thiếu uý Phung Duong thụ huấn tại Trường Tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School) năm 2019 và trở thành Sĩ quan tiếp liệu Hải quân. Năm 2020, cô được điều động phục vụ trên Tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS Wyoming (SSBN-742).

Năm 2022, HQ Đại Uý Phung Duong được Liên đoàn Hải quân Hoa Kỳ (NLUS) lựa chọn trao tặng giải thưởng Vice Admiral Robert F. Batchelder Award do những nỗ lực của cô trong thời gian phục vụ trên Tiềm thuỷ đĩnh USS Wyoming (SSBN-742). Giải thưởng Batchelder được trao tặng để ghi nhận “những nỗ lực xuất sắc” theo tiêu chuẩn tuyển chọn của Hội đồng NLUS, Cô là một trong năm Sĩ quan tiếp liệu Hải quân được chọn trao tặng giải thưởng cao quý trên. HQ Đại Uý Phung Duong nguyên là một Thuỷ thủ và trở thành một Sĩ quan tiếp liệu Hải quân, sự cố gắng trong công việc mà cô lựa chọn đã đáp ứng được các yêu cầu trên Tiềm thuỷ đĩnh USS Wyoming (SSBN-742) Wyoming, với tư cách là một sĩ quan vừa tốt nghiệp phục vụ trên tàu ngầm hoạt động trong thời gian 335 ngày, những đóng góp của cô “đã vượt xa nhiệm vụ được giao”.

HQ Thiếu uý Phung Duong và các bạn cùng khoá Trường Tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School) năm 2019 (ảnh của facebook.com/NavySupplyCorpsSchool).

Cần biết thêm về ngành Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (Supply Corps Officer, Qualified in Submarines) Hải Quân Hoa Kỳ, xin tóm lượt: Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm phải thụ huấn và tốt nghiệp Trường Tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School), có kiến thức về hoạt động của tàu ngầm, và phải phục vụ trên tàu ngầm đang hoạt động ít nhất 1 năm; hoàn thành trình độ Sĩ quan của tàu ngầm trực đi ca; là Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm hiệu quả; vượt qua thẩm định thành công về quản lý tiếp liệu (LMA); Cho thấy có kiến ​​thức căn bản về hệ thống thiết bị và khả năng hoạt động trong tàu ngầm; phục vụ như một thành viên của đội kiểm soát hỏa lực; có kiến ​​thức và khả năng thực hiện các biện pháp kiểm soát thương vong, thiệt hại, tổ chức và chỉ huy các quy trình thoát hiểm tàu ​​ngầm; phẩm chất chỉ huy phù hợp với nhiệm vụ của Sĩ quan tàu ngầm và vượt qua trình độ bằng ngôn ngữ do Hội đồng cấp trên chỉ huy thẩm định. Sĩ quan ngành tiếp liệu tàu ngầm thường phải hoàn thành nhiệm vụ trong vòng hai năm.

Vai trò nhiệm vụ của Hải Đội 32 tiếp vận tàu ngầm (SRS-32) là tập trung các chức năng hành chánh và yểm trợ, tiết kiệm nguồn nhân lực và cung cấp những quân nhân chuyên ngành hỗ trợ chức năng toàn diện cho ba vị Chỉ huy trưởng của ba Hải đội tàu ngầm 2, Hải đội 4 và Hải đội 12. Hải Đội 32 tiếp vận tàu ngầm yểm trợ trong các lãnh vực hành chánh, Y tế, Pháp lý, Tuyên úy, cung cấp, hệ thống chiến đấu, kỹ thuật, thông tin liên lạc để cải thiện khả năng sẵn sàng tiếp tế cho các Hải đội tàu ngầm trú đóng tại căn cứ tàu ngầm tại New London, Connecticut. Là một Sĩ quan tiếp liệu của Hải Đội 32 tiếp vận tàu ngầm, HQ Đại Uý Phung Duong luôn sẳn sàng thi hành nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ.

Nữ Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc từ Thiếu uý lên đến Đại tá đang phục vụ các ngành của trong Quân chủng Hải quân có thể lên đến trên 300. Một số vị đang phục vụ các ngành được ghi nhận sau đây: HQ Đại uý Lillian Ngo Usad, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm (Submarine Warfare Officer); HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến hạm hạm đội (Surface Warfare Officers); HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Sĩ quan truyền tin tác chiến Hải quân; HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã Hải quân; HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van, Bác sĩ Quân y Hải quân; HQ Trung tá Pham Nancy Do, Luật sư quân pháp Hải quân; HQ Trung tá Diane Vo, Bác sĩ nha khoa quân y Hải quân; HQ Đại tá Thu Luu. Bác sĩ nha khoa Hải quân và còn rất nhiều nữ Sĩ quan Hải quan Hoa Kỳ gốc Việt khác chưa tiện cập nhật.

Chúc HQ Đại uý Phung Dương thăng tiến hải nghiệp.

Nguồn: sublant.usff.navy.mil; dvidshub.net; linkedin.com.

Nữ Đại Uý Vy Nguyen (gốc Việt), Luật sư Quân pháp Lục quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on March 20, 2025

Post by Sơn râu 30 Jun 2025

Chuẩn tướng Alison Martin trao tặng Đại uý Vy T. Nguyen giải thưởng Luật sư quân sự trẻ xuất sắc năm 2022 của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ảnh của instagram.com).

Đại úy Vy T. Nguyen hiện nay là Luật sư biện hộ của Lục quân Hoa Kỳ, đại diện cho Hoa Kỳ trước Tòa phúc thẩm hình sự Lục quân (ACCA) và Tòa phúc thẩm Lực lượng quân sự Hoa Kỳ (CAAF) với tư cách là Luật sư phúc thẩm Chính phủ tại Toà phúc thẩm chính phủ Lục quân Hoa Kỳ (GAD), Fort Belvoir, VA. Năm 2020, cô được điều đến Afghanistan với tư cách là Luật sư biện hộ cho Chuẩn tướng Michael R. Eastman, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy yểm trợ cương quyết huấn luyện, cố vấn phía Nam tại phi trường Kandahar, nơi cô cố vấn luật pháp cho Bộ tư lệnh Đồng minh về luật xung đột vũ trang, luật nhân quyền và các vấn đề quốc tế và hoạt động khác. Đại úy Vy T. Nguyen nhận Giải thưởng Luật sư quân sự trẻ xuất sắc của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA) năm 2022.

Các nhiệm kỳ phục vụ ngành Quân pháp Lục quân Hoa Kỳ trước đây của Đại úy Vy T. Nguyen được ghi nhận: Luật sư bào chữa đại diện cho các quân nhân tại Văn phòng Rose Barracks, Vilseck, Đức quốc từ năm 2021 đến năm 2023; Cố vấn (RS) đào tạo, tư vấn, yểm trợ Bộ Tư lệnh Phía Nam (TAAC-S) tại phi trường Kandahar, Afghanistan với nhiệm vụ là Luật sư tư vấn từ năm 2020 đến năm 2021; Cố vấn cho Sư đoàn 10 bộ binh và nhân viên khu bảo tồn quân sự Lục quân Fort Drum với tư cách là Trưởng phòng, luật An ninh Quốc gia từ năm 2019 đến năm 2020; Cố vấn cho Lữ đoàn 10 hàng không quân Lục quân và Lữ đoàn yểm trợ Sư đoàn 10 bộ binh hạng nhẹ với chức vụ Cố vấn Tư pháp Quân sự năm 2021; Phục vụ tại Tòa án quận với tư cách là Thẩm phán quân sự năm từ năm 2019 đến năm 2020; Tư vấn cho các Quân nhân, cựu quân nhân và gia đình về các vấn đề liên quan đến luật gia đình, lập kế hoạch bất động sản, bảo vệ người tiêu dùng, nhập cư và các vấn đề hành chính quân sự với tư cách là Luật sư hỗ trợ Pháp lý tại bảo tồn quân sự Lục quân Fort Drum từ năm 2018 đến năm 2019.

Đại úy Vy T. Nguyen và các Sĩ quan Luật sư quân pháp Hải, Lục, Không quân,Thuỷ quân lục chiến và Tuần duyên Hoa Kỳ (ảnh của linkedin.com).

Tháng 12 năm 2024, Đại uý Vy Nguyen được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Lục quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá, và đã được Uỷ ban quân vụ thượng viện xác nhận bầu chọn ngày 19 tháng 12 năm 2024*. Cô phục vụ Lục quân Hoa Kỳ được hơn 7 năm.

Đại úy Vy T. Nguyen tốt nghiệp các văn bằng Cử nhân, Cao học và Tiến sĩ: Cô Tốt nghiệp Đại học University of Toronto – University of St. Michael’s College năm 2008 – 2012 với Văn bằng Cử nhân danh dự, Chuyên gia về quan hệ Quốc tế, chuyên ngành lịch sử và nghiên cứu Đông Á; Tốt nghiệp Đại học American University Washington College of Law năm 2012 – 2015 với Văn bằng Tiến sĩ Luật (J.D.), luật hình sự quốc tế, luật công pháp quốc tế, luật nhân quyền quốc tế; Tốt nghiệp Đại học University, School of International Service năm 2013 – 2015 với Văn bằng Cao học Quan hệ Quốc tế.

Thiếu tá* Vy Nguyen là 1 trong 140 Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục trong các binh chủng và các ngành của Quân chủng Lục quân, không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Trung tá. Một số nữ Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt được ghi nhận sau đây: Nữ Thiếu tá Annie Phan, Điều dưỡng Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Chuyên viên y tế Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Luật sư quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Lục quân Amy Vu; Nữ Thiếu tá Lục quân Elizabeth N, Pham**; Nữ Thiếu tá Lục quân Tamata K Tran và còn một số Nữ Thiếu tá gốc Việt khác chưa tiện cập nhật.

Chúc Tân Thiếu tá Vy Nguyen thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo nguồn tài liệu; *Sau khi được Uỷ ban quân vụ thượng viện xác nhận bầu chọn, Đại uý Vy Nguyen sẽ được thăng cấp Thiếu tá trong năm 2025; **Trùng họ và tên với nữ Đại tá Elizabeth Pham, Thuỷ quân lục chiến.

Nguồn: american.edu; instagram.com, linkedin.com; bienxua – Nữ Thiếu tá Nhu Tran (gốc Việt), Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân Hoa Kỳ.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Jun 2025

67. Nguyễn Văn Quỳ

Nguyễn Văn Quỳ thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ hai của Việt Nam, sau những Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát …

Nguyễn Văn Quỳ viết không nhiều lắm, hay nói chính xác hơn, những ca khúc đã được phổ biến của ông không nhiều lắm, nhưng ông vẫn được coi là một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của chúng ta.

Hiện ông đã khá cao tuổi. Không biết ông còn tiếp tục sáng tác không. Nhưng vào năm 1954, khi xẩy ra hiệp định Genève chia cắt đất nước, Nguyễn Văn Quỳ ở lại Hà Nội, khi ấy có thể coi là đang thời kỳ sung sức của ông. Song cũng từ đó người ta không còn được nghe một ca khúc nào mới của ông nữa. Rất lâu, sau biến cố 1975, thính giả mới được nghe bài Mây Thu của ông, do Mai Hương hát. Không rõ ca khúc này được ông sáng tác vào lúc nào, nhưng có thể coi là sáng tác mới của Nguyễn Văn Quỳ kể từ sau 1954.

Điểm đặc biệt đầu tiên người ta có thể nhận thấy ngay khi nghe nhạc Nguyễn Văn Quỳ là, hình như, ông bị cảnh chiều và đêm huyễn hoặc.

Bóng Chiều, Chiều Cô Thôn, Dạ Khúc, Nhớ Trăng Huyền Xưa …

Đó là tên những nhạc phẩm của ông. Và dù trong các bài khác, chiều và đêm không hiện diện ngay ở tên các bản nhạc, nó vẫn bàng bạc đâu đó trong từng mỗi âm thanh của ông.

Lòng ngát muôn hương trầm ý thơ

Nhạc trong lời gió

Hồn thắm chơi vơi

Men trời nồng say

Nhịp bước gây mơ

Gió vương tình ngàn phương

Về trong bóng đêm u huyền

Nhè nhẹ hôn tóc mềm

Ngàn lá rung rinh tìm duyên

Mỗi ca khúc của Nguyễn Văn Quỳ dường như là một mảnh tâm hồn ông, một cảnh đời ông sống qua, một giấc mơ, một ước mơ, một hình ảnh ông lựa chọn nâng niu. Lời ca của ông đều là những bài thơ tình tuyệt đẹp.

Nhạc Nguyễn Văn Quỳ không có bài nào vui, nhưng cũng không quá buồn. Nếu có buồn thì cũng là cái buồn thơ mộng. Và những gì được gọi là thơ mộng thì tự nó có sức sống riêng.

Có thể gọi Nguyễn Văn Quỳ là một người lãng mạn. Và, có phải kẻ lãng mạn nào cũng mang sẵn trong người một nửa số mệnh của kẻ thất tình? Những hình bóng Nguyễn Văn Quỳ gặp gỡ để lại dấu vết trong đời ông. Và dấu vết ông để lại là nhạc của ông vậy.

Đêm về trong bước phong sương

Lùa gió phũ phàng

Ai cười kiếp sống mong manh

Lệ thấm cung đàn

Ai cất chén mong say sưa quên hận sầu

Mơ bóng dáng xưa

Trong tiếng tơ ngập ngừng ai oán …

Nguyễn Văn Quỳ có vẻ là một người sống kín đáo. Vì  ngoài bằng hữu của ông, ít người biết mặt ông. Nhưng nhạc của ông chính là sự hiện diện của ông đối với những người yêu nhạc. Và, dù đất nước trải qua bao nhiêu biến cố, sự hiện diện ấy vẫn chưa có lúc nào ngừng. Những gì Nguyễn Văn Quỳ nói đến trong nhạc của ông không quá cao xa, chỉ là những gì mỗi người đều có thể gặp trong đời.

Nhưng chiều thu nay tàn rồi bao ước mong

Trăng sáng nơi đây nhưng không thắm

cho lòng

Nhưng chiều thu nay tàn rồi bao ý thơ

Dáng xưa đâu còn cho hương vương

trong gió

Nhớ trăng huyền xưa …

Tuy bóng bẩy hơn Nguyễn Văn Khánh nhưng lời ca của Nguyễn Văn Quỳ vẫn giữ được cái đẹp của sự chân thật. Đúng hơn, cả hai người, bằng các ca khúc của mình, đã làm cho những điều bình thường trong đời sống trở nên đẹp hơn. Đáng tiếc là những biến cố chính trị liên tiếp xẩy ra trên đất nước, đã dồn những người như thế đến chỗ không còn sáng tác gì được nữa. Chắc chắn chúng ta đã mất đi rất nhiều tác phẩm. Nhưng biết làm sao đây?

Bóng Chiều

Nhịp tiếng xênh ca lòa ánh son

Bừng hương nồng phấn

Từng dáng kiêu sa quay cuồng mê quên

ngàn kiếp truân chuyên

Có ai cười ngả nghiêng

Đùa vui với duyên tình hờ

Đời tàn bên ánh đèn

Mờ khói ám ngang đường tơ

Nhạt phút say sưa

Niềm đắng cay đọng vơi đầy chén

Lệ thắm hoen khăn

Canh trường thương thân

Lạnh giấc cô miên

Chiều nào ngợp sóng kinh kỳ

Máu xương pha hòa sắc thắm

lạc bước chinh yên mờ trong

khói tên quên đời êm ấm

Chiều nào ngập sóng kinh kỳ

Vàng son phai tan nát hoa

Ai lắng nghe xa gió về

Tiếng than não nề

Nhắc duyên tình xưa

Lòng ngát muôn hương trầm ý thơ nhạc

trong lời gió

Hồn thắm chơi vơi men trời nồng say nhịp

bước gây mơ

Gió vương tình ngàn phương về trong

bóng đêm u huyền

Nhè nhẹ hôn tóc mềm

Ngàn lá rung rinh tìm duyên

Thầm ước bên nhau hòa tiếng tơ cùng quên

ngày tháng

Kề sát đôi vai say nhạc tình thơ

ngàn ý mang mang

Quỳnh Dao

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 Jun 2025

66. Nguyễn Văn Khánh

Nguyễn Văn Khánh cùng với những Hoàng Dương, Hoàng Trọng, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Quỳ, Nguyễn Hiền, Tu My, Trịnh. Kính, Hùng Lân, Chung Quân … góp phần làm nên cái thời cực thịnh của tân nhạc Việt Nam thập niên 44/54.

Khi xảy ra hiệp định Genève, Nguyễn Văn Khánh ở lại Hà Nội. Và từ đó tên tuổi của ông không được nhắc tới tại miền Bắc nữa. Nhưng ở miền Nam, nhạc của ông vẫn được hát và được yêu mến. Nguyễn Văn Khánh mất vào năm nào ít người biết.

Trong nhạc của mình ông hay nhắc tới những đám mây. Có phải cái chết của ông cũng tựa một đám mây lặng lẽ trôi và tan biến?

Chiều thu lướt thướt bao đám mây thu vàng

Lờ lững trôi về rừng núi xa xăm … [Thu]

Nguyễn Văn Khánh sáng tác không nhiều. Nhạc của ông luôn có một vẻ thủ thỉ, tâm sự. Dường như đó là những điều ông tự nói với mình nhiều hơn với người khác. Nhạc  của chúng ta một thời có cái vẻ chung này: ngay cả khi yêu người ta đã tả tình nhiều hơn tỏ tình. Rồi, trong cái vòng quay của tình ái, những lời tả tình ấy mới trở thành những lời tỏ tình.

Yêu ai, yêu cả một đời

Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta

Đau tủi cả lòng

Vì yêu ai mà lòng hằng nhớ

Có lẽ trong các nhạc sĩ của chúng ta Nguyễn Văn Khánh là người viết lời ca gần gụi với tiếng nói hơn cả. Ông ít dùng những từ ngữ bóng bẩy. Cái đẹp trong các ca từ của ông lại toát ra từ cái vẻ mộc mạc.

Đường về lòng người tha phương nhớ

Chiều dần dần mờ cô thôn vắng

Người yêu dấu ngàn đời thấu chăng

Anh bước ra đi luyến tiếc hoài

Đời chỉ có riêng em mà thôi

Nhạc Nguyễn Văn Khánh đã được hầu hết các ca sĩ danh tiếng của chúng ta trình bầy, dĩ nhiên mỗi người một vẻ. Nhưng những ai đã có dịp nghe Nguyễn Văn Khánh hát [thời gian trước 1954, khi viết xong một ca khúc Nguyễn Văn Khánh thường mang lên đài phát thanh Hà Nội tự hát] mới thấy rõ, muốn hát nhạc Nguyễn Văn Khánh người ta phải có cái giọng như thế, cái giọng của một người hát cho một người nghe, hoặc thả vào hư không.

Nghe nhạc, có những lúc chúng ta cũng thắc mắc tự hỏi, không biết nhạc sĩ đã dùng nhạc cụ nào để sáng tác? Nghe nhạc Nguyễn Văn Khánh người ta có thể biết ông đã dùng Hạ-uy-cầm để viết. Cái chất Hạ-uy-di ấy thấp thoáng trong mỗi nốt nhạc của ông. Nó cũng hình như có sẵn trong giọng hát của ông. Có lẽ vì thế, các ca sĩ có thể có giọng tốt hơn ông, nhưng tiếng hát của ông khi trình bầy nhạc của mình vẫn có một vẻ gì đó đặc biệt, khó quên. Có một giai thoại về Nguyễn Văn Khánh vài người bị nhốt chung phòng với Hoàng Văn Đức ở Chí Hòa sau 75 đã được nghe ông kể lại. [Hoàng Văn Đức hiện cũng đang có mặt tại quận Cam – Không phải giáo sư, bác sĩ Hoàng Văn Đức]. Khi ấy Hoàng Văn Đức làm chủ sự cho một ngân hàng Pháp ở Hà Nội. Nguyễn Văn Khánh làm thư ký tại ngân hàng này. Giám đốc ngân hàng hình như nhiều lần bắt gặp Nguyễn Văn Khánh không làm việc sở mà lại hí hoáy viết lách gì đó, hễ thấy có người biết thì vội vàng dấu đi. Ông ta bèn kêu cả Nguyễn Văn Khánh và Hoàng Văn Đức vào văn phòng hỏi.

Khi biết Nguyễn Văn Khánh là nhạc sĩ, đang sửa chữa bản thảo, ông ta bảo Nguyễn Văn Khánh dịch lời ca ra tiếng Pháp xem viết gì và hát thử cho ông ta nghe. Hoàng Văn Đức cho biết, sau đó, không những Văn Khánh không bị đuổi mà còn được giám đốc Tây tăng cho một bực lương nữa.

Nguyễn Văn Khánh có mở một lớp dạy đàn Hạ-uy-cầm và Tây-ban-cầm ở gần ga Hàng Cỏ, lối đi xuống Khâm Thiên. Ông có ngón Hạ-uy-cầm rất ngọt. Đặc biệt Nguyễn Văn Khánh chơi đàn bằng tay trái. [Sau này chúng ta có thêm Hồ Đăng Tín nữa].

Nhà ông có một cái ao. Bên kia ao là một nhà trọ của các nữ sinh. Nghe nói, có những đêm trăng, Nguyễn Văn Khánh đàn, bên kia bờ ao, người ngồi nghe như một đàn cò trắng. Những người quen biết ông kể lại như vậy.

Không ai biết rõ Nguyễn Văn Khánh có bao nhiêu tác phẩm. Ở Hà Nội, người ta đã xóa bỏ ông. Và có thể, ông cũng tự xóa bỏ mình nữa.

Sau biến cố 75, chúng ta hiểu vì sao ông làm như vậy. Có những bài hát của ông được xuất bản rồi, nhưng cũng ít được hát, ít người biết.

Bản Nhạc Chiều chẳng hạn. Đây cũng là một trong những ca khúc đầu tiên của chúng ta thuộc thể loại thơ phổ nhạc.

Cành tre nương theo gió

Gió vít nghiêng cành tre

Không gian im lặng ai nghe tiếng chiều …

Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì tác giả bài thơ là Nguyễn Văn Quang và ca khúc này đã được nhà xuất bản An Phú [?] ấn hành trước 1954.

Nguyễn Văn Khánh còn một ca khúc nữa, chưa được xuất bản, cũng chưa từng được trình bầy tại nơi công cộng hay các đài phát thanh, đó là bài Thương Binh Ca, chỉ những ai được nghe chính ông hát mới biết:

Trông những vết thương

hằn trên con người hiên ngang

Là những huy chương đầy kính mến

Là những di tích của một thời

tranh đấu vì non sông

Kể từ sau 1954 Nguyễn Văn Khánh có viết thêm gì nữa không? Không ai biết. Nhưng những gì ông đã hoàn tất, chúng ta cũng không biết tìm đâu ra. Và càng ngày hy vọng tìm lại được càng ít đi. Với thời gian những gì người ta cố tình quên hay ngược lại cũng giống như nhau sao?

Thu

Chiều thu lướt thướt bao đám mây thu vàng

Lờ lững trôi về rừng núi xa xăm

Chiều thu lớt phớt trên cô thôn êm đềm

Cùng bầy trâu đoàn mục tử trở về

Đây đàn chim loáng thoáng bay

Trên ngành cây gió phất lay

Trong tiếng gió đưa hắt hiu

Mang theo trầm ngân tiếng tiêu

Hồ biếc lắng nhìn đàn cò trắng trắng ngà

Cùng nhau tung cánh trong sương khói

Tơ liễu hững hờ nhìn nước ngắm dịu dàng

Đêm êm êm xuống xóa muôn mầu

Ngày đi bóng dáng đêm thu rơi trên cành

Dừng chân đây người nghệ sĩ xa nhà

II

Dừng đây đứng ngắm riêng ta trong chiều tà

Chiều lâng lâng lòng nghệ sĩ bâng khuâng

Thuyền ai lướt lướt trôi êm trên mặt hồ

Chiều thu sao nặng nề chiếm tâm hồn

Chuông chùa xa văng vẳng đưa

Ru lòng bao kẻ gió mưa

Thân chiếc én bay bốn phương

Sao nay dừng đây với thu

Canh cánh nỗi lòng

Người nghệ sĩ với chiều

Lòng chim kia bỗng thấy man mác

Xuân sẽ trở về ngày nắng ấm dịu dàng

Trên muôn cây thắm chim hót mừng

Chiều thu đứng ngắm xa núi sông mơ màng

Chiều tha hương lòng nghệ sĩ bẽ bàng

Lệ Thu

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 30 Jun 2025

Chương 18.

Gió bấc bắt đầu thổi, mùa đông đã tới, một chuỗi ngày tẻ ảm đạm, gió rét làm tê liệt mọi hoạt động, công tác … Trời gió  buốt, Vương hổ tướng không thể ra khỏi nhà mà cũng khôngbắt được bọn lính ra ngoài tập tành hay đi công vụ. Chàng ngồi trong nhà hoạch định những công tác phải thực hiện mà nay vì thời tiết phải tạm đình hoãn. Chàng ở không nhàn rỗi, sống độc thân, cô đơn.

Chàng nghĩ giá mình cũng như bọn lính, cờ bạc rượu chè ăn uống, trai gái để giết thời giờ, tiêu khiển, chàng lại không thể thế được. Quen ăn uống thanh đạm, không thích rượu thịt, mà nghĩ đến đàn bà chàng thấy kinh tởm ghê sợ. Đã có một hai lần chàng thử đánh bạc chơi, nhưng vốn không ham thích cờ bạc, không biết suy tính nước bài, lại vào lúc đen, càng thua càng cáu, bọn lính cùng chơi bài thấy khác ý, hai lông mày chàng nhíu lại, bàn tay chuối mắn thò vào chuôi kiếm, phát hoảng, vội vàng nhường nước bài để chàng được. Tuy thế chàng vẫn hậm hực, đứng phắt dậy nói:

– Tôi vẫn thường nói, đánh bạc, lối chơi này ngu dại hết  sức.

Chàng đánh bạc tiêu khiển cho đỡ buồn song đánh bạc cũng không giúp cho chàng được vui. Ban ngày còn khá, đến đêm chàng bực tức, buồn bã bội phần, chàng thấy lòng trống trải, hiu quạnh cô đơn, lúc đi ngủ chàng thui thủi có một mình. Ngày, đêm cô đơn, một mình một bóng, cái cảnh đó không thích hợp với chàng, một người như Vương hổ tướng, chưa nếm cảnh áo le ở đời, giá vào người khác có thể cố gắng chịu đựng. Vả chăng, chàng đương lúc cường tráng, ngủ một mình thấy trống trải, khó chịu. Không có ai chàng có thể giao du kết bạn, chuyện trò cho vui.

Ông Phủ ở gian nhà trong với bà vợ già, bà này bị ốm sài mòn. Ông không thích những người như Vương hổ tướng, tính nết hung hăng, khó chịu. Mỗi lần chàng có việc gì gọi đến, ông rất kinh hoảng, hai tay khoanh trước ngực, Vương hổ tướng chưa kịp hỏi đến, ông đã vội vàng lắp bắp:

– Thưa quý ông, dạ … Thưa tướng quân, vâng.

Vương hổ tướng ngó ông đồ nho một cách kinh khủng, ông này chết khiếp, mặt tái xanh, vội vàng lẩn tránh cho nhanh, thất thểu cái áo bạc màu treo trên thân hình gầy đét trơ xương. Song chàng là một người cương trực thẳng thắn, cũng biết ông Phủ cố sức làm việc, dù có sai lầm, chàng cũng cố nén giận, có khi chàng cho ông già này đi ngay ra chỗ khác  khi nào chàng biết sắp nổi cơn nóng, ngộ có lỡ tay đụng chạm đến ông chăng. Còn có ba anh thủ hạ tâm phúc, tuyệt đối trung thành và những tay thiện chiến, nhưng toàn những tay thô lỗ, ngu dốt, ngoài chuyện lính tráng, võ biền không còn biết chuyện gì mà nói. Chàng cũng không thể tự hạ, chuyện trò với thằng cháu vì nó là bề dưới. La cà ăn uống rượu chè say sưa với bọn lính, chàng nghĩ không thể thế được, bọn này sẽ sinh nhờn, chàng sẽ mất uy tín, quân lệnh sẽ không được nghiêm. Ban ngày còn có người ra vào, ban đêm chàng chỉ có một mình, một đèn, một bóng, đêm nằm trằn trọc, chập chờn không sao ngủ được. Trong những đêm đông lạnh lẽo, ngoài trời tối om chàng đốt nến đem mấy quyển cổ văn ra đọc cho đỡ buồn. Những cuốn truyện lúc thiếu thời chàng ham đọc, có ảnh hưởng vào tâm chí chàng, hun đúc chàng có một khuynh hướng về nghiệp kiếm cung, những truyện như Tam Quốc hay kiếm hiệp; chàng đã đọc rất nhiều truyện tả các anh hùng liệt nữ. Nhưng chẳng lẽ thức suốt đêm đọc sách ư, nến đã cháy gần hết, đêm càng khuya trời càng lạnh, chàng phải lên giường đi ngủ.

Đêm nào chàng cũng thức khuya, bâng khuâng, trằn trọc, hình ảnh người đàn bà chàng đã say mê một độ lại hiện về. Tuy lòng chàng buồn bã thương tiếc nhưng chàng cũng không cầu mong, dù có thể được, người đó sống lại. Chàng đã biết và tự nhắc nhở không nên quá tin người, nhưng sắc đẹp đã làm chàng quên, thổ lộ hết tâm tư bí mật. Giờ đây nàng đã chết, chàng có thể tin cậy được, giá nàng còn sống dù chàng có đề phòng để nàng không có thể phản bội được mà dù chàng có thể tha thứ bỏ qua tội lỗi, nhưng lúc nào chàng cũng thấy nơm nớp lo sợ bụng dạ phản trắc của nàng. Lòng nghi ky đó chia rẽ hai tâm hồn, sự dè dặt không dám thổ lộ tâm tư bàn soạn quân cơ, như thế không bao giờ chàng có thể toại nguyện lập được đại cục.

Không có nàng chàng cảm thấy lòng trống trải, vắng vẻ, cuộc đời kéo dài vô vị. Chàng không tin tưởng sau này hiển đạt, mặc dù có đạt được mục đích tối cao, có tạo thành sự nghiệp, vinh quang phỏng có ích gì, con cái không có, bất quá lại vào tay người khác. Chàng không có thiện cảm với các anh và lũ cháu. Chàng không phải lao tâm khổ trí gây nên sự nghiệp sau này vì anh, vì cháu.

Trong đêm khuya tĩnh mịch, chàng thở dài rên rỉ một mình. Khi ta giết nàng, ta đã giết một thành hai, người thứ hai là con ta, là máu mủ của ta hun đúc. Nghĩ thế chàng hồi tưởng lại tấn thảm kịch, nàng nằm sóng sượt chết, cái cổ tròn trịa xinh xắn đã bị lưỡi kiếm xuyên ngang, máu tươi phun đỏ cả góc giường. Chàng thấy hiện lại trong trí nhớ hình ảnh đó, chàng không sao nằm được ở trên giường, tuy chăn đệm đã được giặt giũ, giường tủ đã sơn quét lại như mới, những vết máu đã cọ rửa, cái gối đã đổi gối khác mới nguyên, mà từ đó không ai nhắc nhở, gợi lại chuyện cũ, chàng cũng không biết xác nàng đã chôn vùi ở đâu. Chàng đứng dậy, lấy chiếc chăn quấn quanh người, ra ngồi ở ghế cho đến khi trời sáng.

Suốt cả mùa đông, đêm này qua đêm khác, hình ảnh đó ám ảnh tâm não chàng, tinh thần bị thác loạn, chàng nghĩ như thế rất hại, tự cảm thấy đáng sợ, chàng không thấy ham thích cái gì, tính nóng nảy, bồn chồn, bất cứ ai lại gần chàng cũng cáu kỉnh phẫn nộ. Chàng hay giận dữ, cáu kỉnh nhất với thằng cháu, nghĩ đến nó chàng thấy mỉa mai, chua xót.

– Thằng nửa người nửa ngợm này lại vào hạng khá nhất trong bọn các cháu chàng, mặt thì rỗ chằng rỗ chịt, lúc nào cũng hềnh hệch cười con một anh lái buôn. Ở đây đất khách quê người, chỉ có nó là thân thích ruột thịt.

Đêm nào chàng cũng thao thức trằn trọc suy nghĩ, tâm thần cũng như thể xác mệt mỏi, có lần chàng như hóa điên. Một đêm kia, để lòng khỏi thổn thức nhớ thương, chàng suy luận, người này đã chết rồi chứ nếu còn sống mà thi hành nổi thủ đoạn thì cơ đồ chàng có lẽ nguy. Nghĩ thế chàng trở

nên mạnh bạo cứng rắn, chàng nói như thách thức với vong hồn người quá vãng:

– Ta muốn có một đứa con, ta dùng người đàn bà nào chẳng được cứ gì phải ai. Ý ta muốn có đứa con trai, ta sẽ lấy hai ba vợ, chừng nào có con thì thôi.

Sáng hôm sau, chàng cho gọi anh lính sứt môi vào trong buồng riêng, bảo:

– Ý ta cần một người đàn bà, một người nào cũng được, miễn là tử tế, đứng đắn. Mi về nói với các anh ta, người vợ của ta đã chết rồi và bảo các anh ta kiếm hộ một người đàn bà. Ta không thể về được vì mắc bận nhiều việc quân cơ chiến trận.

Anh lính sứt môi vội vã lên đường về quê chàng, anh sốt sắng thi hành công tác vì anh nhận thấy tinh thần và sắc thái chủ tướng thay đổi rất nhiều, biết đâu việc này chả là một linh dược.

Anh lính đi rồi, Vương hổ tướng nghĩ xem thời gian, số phận chàng rồi sẽ xoay vần ra sao, hai anh chàng về vấn đề này sẽ định liệu ra sao. Trong khi chờ đợi, chàng hoạch định chiến lược mở mang bờ cõi. Để bồi bổ tinh thần cũng như thể chất chàng cố ngủ để lấy lại sức.