Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 28 Jun 2025

Chương 16.

Thằng nhỏ đi tắt qua cánh đồng, về quê, về nhà nó. Nó trút bỏ bộ quần áo lính, mặc quần áo nhuộm chàm, nước da bánh mật, mặt rỗ chằng rỗ chịt, trông đúng một thằng bé nhà quê, đúng cháu nội của Vương Long. Nó cưỡi con lừa trắng, gập một chiếc áo rách lót ngồi thay yên, thỉnh thoảng lấy hai chân thúc bụng lừa cho nó đi mau. Ai trông thấy thằng bé, có khi ngủ gà ngủ gật trên mình lừa dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời mùa hạ, có thể nào tưởng được thằng bé ấy đi công cán để tải về 3000 khẩu súng cho một vùng yên tĩnh như vùng này không? Khi nào không ngủ, nó hát một bài quân ca hành khúc, thằng này mồm lúc nào cũng lắp bắp thích hát. Một nông phu đang lom khom, làm đồng nghe tiếng hát, bực mình khó chịu, ngửng đầu nhìn thằng nhỏ nói lớn:

– Ma hôn quỷ ám vào mày hay sao, mày hát bài của tụi lính hở? Ý mày muốn lũ quạ đen bay về bâu ở đây hở?

Thằng nhỏ vô tư lự, vui vẻ, thản nhiên, lúc nào hứng chí lại véo von hát bài quân hành ca, thỉnh thoảng nhổ một bãi nước bọt tỏ ý không cần ai khen chê. Thực ra ngoài bài quân hành ca, nó học lỏm được của tụi lính, nó cũng không còn biết bài gì mà hát. Tụi lính cũng chỉ biết có một bài này mà nghêu ngao, còn những bài phong tình, hay làm đồng áng, họ không biết.

Ba hôm sau, buổi trưa, về đến quê, nó tụt xuống lưng lừa ở ngã ba đường làng, ở đấy có một phố nhỏ nằm song song với một phố lớn. Thằng anh em thúc bá với nó (con anh Cả) đứng chơi ở đó, thốt nhiên thấy thằng Rỗ, mở tròn xoe hai mắt, đang định ngáp, ngậm miệng thôi không ngáp, hỏi móc máy:

– Ê mày! chưa làm tướng à?

Thằng Rỗ nhanh nhảu trả lời, có vẻ láu lỉnh:

– Chưa làm tướng, nhưng phải biết tao đã lên lon rồi nghe không?

Nó nói thế ngụ ý chế nhạo, bới móc thằng anh em họ nó vì ai cũng biết vợ chồng ông đại điền chủ họ Vương đi khoe khắp xóm làng định cho cậu quý tử này làm một văn nhân, sang mùa tới tấp tểnh lều chõng đi thi để đỗ đạt thành tài nên danh nên phận. Nhưng qua mùa này sang mùa khác, năm qua, năm tới cậu ấm vẫn không thấy đi thi. Thằng Rỗ biết cu cậu không học hành gì chỉ lai vãng các cao lâu, tửu quán, mà có lẽ cu cậu vừa mới ngủ dậy, đêm qua chắc mò mẫm suốt đêm. Cậu ấm con ông đại điền chủ họ Vương trông ra dáng lắm, có vẻ khinh khỉnh, nhìn thằng Rỗ từ đầu đến chân rồi nói:

– Ừ thì mày lên lon, làm ông tướng đệ nhất cấp, sao một mảnh lụa phủ lưng không có, hở mày?

Nói xong không cần thằng Rỗ trả lời quay lưng khệnh khạng đi, xúng xính trong chiếc áo lụa màu lá liễu non, hai tà áo tung tăng, có vẻ ta đây lắm.

Thằng Rỗ nhăn mặt, thè lưỡi nhìn theo, thủng thẳng dắt lừa về nhà.

Khi bước chân vào nhà, nó thấy vẫn y nguyên như ngày nó ra đi, không có gì thay đổi, khác lạ. Lúc đó đang bữa cơm trưa, cửa trong nhà mở rộng, cha nó ngồi ăn ở bàn, lũ em nó vừa ăn vừa chạy tung tăng khắp nhà, mẹ nó đứng ở bực cửa, tay cầm bát cơm, tay cầm đôi đũa, vừa nhai, vừa và, vừa nói chuyện với bà hàng xóm, chắc bà này đến xin tí chanh hay tí  ớt, hai người đang tíu tít nói chuyện về con cá khô hôm qua mèo tha mất, con cá đã buộc cẩn thận lên xà nhà mà mèo cũng vồ được.

Sực thấy con, mụ nói:

– Chà, mày về may quá, đúng bữa, vào ăn cơm đi, con.

Nói xong lại tiếp chuyện bà hàng xóm. Thằng nhỏ nhìn, chào mẹ, cười, đi vào trong nhà. Thấy nó, cha nó hơi ngạc nhiên, đầu gật gù. Thằng nhỏ chào cha xong, lấy một cái bát, một đôi đũa, xới đầy cơm, gắp  thức ăn, kéo chiếc ghế, ngồi nghiêng về một bên (theo tục lệlễ nghi, khi ngồi ăn có bậc huynh trưởng, thúc phụ phải ngồi xế về một bên).

Khi cha nó ăn xong, rót luôn nước trà vào bát vừa ăn cơm, tính không muốn rườm rà, làm cái gì tiện việc thì thôi, uống xong bát nước quay lại hỏi con:

– Mày về có việc gì?

– Có, nhưng nói ở đây không tiện, ba ạ.

Nó nói thế vì các em xúm quanh nó, mắt hau háu nhìn nó như người nào xa lạ, nó nói gì cố vểnh tai nghe. Mẹ nó vào xới cơm, ăn khỏe và ăn lâu lắm, chồng ăn xong đã đứng dậy chị ta còn ngồi khề khà, nhìn con vừa nhai vừa nói:

– Ừ, tao trông mày nhớn bổng lên, làm sao mày ăn mặclôi thôi, rách rưới thế hở, muốn chừng chú mày không may mặc cho phải không? Thế nào, họ cho mày ăn uống gì mà nhớn như thổi, chắc hẳn rượu thịt, cậu chén đẫy hử?

Thằng nhỏ nhoẻn miệng cười, bảo mẹ nó:

– Quần áo đẹp con có nhiều, nhưng đi chuyến này con không mặc, còn thịt thà bữa cơm nào cũng có.

Nghe thấy con nói ngày nào cũng được ăn thịt, cha nó lấy làm lạ, uể oải hỏi:

– Thế nào Rỗ, ngày nào chú ấy cũng mua thịt cho lính ăn à?

Thằng Rỗ vội vàng trả lời:

– Không phải đâu, bây giờ lính họ phải tập luyện để đi đánh nhau, chú ấy cho họ ăn uống tử tế để lấy sức chiến đấu. Con không ăn chung với lính, mâm cơm chú thím ấy ăn còn thừa dọn lại cho con và đám lính thân tín.

Mẹ nó chụp được câu “thím ấy” hỏi dồn thằng nhỏ:

– Thế nào … thế nào … mày nói thím ấy là thế nào? Lạ quá, nó cưới vợ bao giờ mà không thấy mời mọc gì.

Anh chồng trả lời ngay để chấm dứt, chứ không mụ vợ còn kéo câu chuyện này dài bất tận:

– Có, có, nó có mời, tôi trả lời bận không đi được. Nếu vẽ ra, để mẹ nó đi ăn cưới, phải may mặc tốn lắm.

Nghe chồng nói thế, mụ vợ gân cổ, gào lên:

– Được rồi, ông chỉ tính chuyện keo bẩn, từ rày tôi thề không bao giờ đi đâu.

Anh chồng đằng hắng, bảo con:

– Đi lại đằng này với tao, ở nhà thêm rắc rối.

Nói xong anh ta đứng dậy nhẹ nhàng mở cửa đi ra, thằng con theo sau.

Hai cha con đi ra phố đến một phòng trà, chỗ này ít khi  hắn lui tới, tìm một bàn khuất ở trong một góc phòng. Giờnày trong phòng trà vắng khách, các nông dân bán thóc xong trở về nhà, khách ở tỉnh không có ai, vì hãy còn sớm, quá trưa về chiều phòng trà mới đông khách. Khi hai cha con ngồi yên, thằng Rỗ đem câu chuyện công cán của nó kể cho cha nó nghe.

Anh chăm chú để hết tâm trí nghe con nói không bỏ sót một lời, nét mặt điềm tĩnh. Nếu phải anh Cả đại điền chủ, có nghe câu chuyện này thì trợn tròn hai mắt, chối bai bải không thể nào, không có cách gì, làm được. Anh Hai bây giờ giàu lắm mà giàu ngầm, không có việc gì có lợi mà anh kêu là khó, nếu anh còn ngập ngừng là anh còn tính toán xem việc đó làm có lợi hay không? Anh có tiền đặt lời khắp nơi, dân làng vay mượn anh nhiều lắm, anh cho cả nhà sư ở chùa vay tiền, anh bắt viết giấy, bắt thế ruộng hậu nhà chùa.

Hồi đó thiên hạ ít người mộ đạo, ít khi lên chùa lễ bái, chỉ có mấy bà già còn năng lên chùa, vì thế nhiều chùa nghèo lắm, am thanh cảnh vắng ít khách thập phương. Anh  lại còn có tiền hùn vốn ở các tàu chạy sông, chạy biển, có cả cổ phần ở đường thiết lộ, lại còn chung vốn mở nhà hồng lâu trên tỉnh, anh không bao giờ bước chân vào xóm yêu hoa, anh Cả đến chơi nơi đó cũng không ngờ của chú hai khuếch trương.

Nhà hồng lâu đã đem lại mối lợi lớn cho anh, anh biết tính toán, gãi đúng nhu cầu của con người. Tiền anh cho lưu  thông, khác nào nước chảy vào hàng trăm ống nước đặtngầm, nếu nhất đán anh hãm mạch, hàng ngàn  người sẽ phải đói khổ, cơ cực.

Tuy giàu có súc tích như thế, ăn anh cũng không ăn hơn, mặc anh cũng không mặc hơn, anh không chơi bời phóng túng, con cái cũng không gấm vóc lượt là, cứ xét bề  ngoài cách ăn không ai có thể tưởng tượng được anh cónhiều của đến thế. Nên khi nghe nói 3000 khẩu súng hàng ngoại hóa, anh thản nhiên, nếu vào anh Cả thì hốt hoảng, la ó.

Nếu ai gặp anh Cả, anh Hai ở ngoài phố thì ai cũng bảoanh Cả, nhà đại điền chủ giàu, anh tiêu tiền như cỏ rác,  người mỗi ngày một béo ụ, áo vóc, áo lụa, xúng xính, con cáingười nào cũng gấm vóc lượt là, chỉ trừ có thằng Bướu năm nay đã lớn vẫn ở với Hoa Lê, với thời gian, ai cũng lãng quên còn có nó.

Anh ngồi suy nghĩ một lúc, hỏi:

– Thế chú mày có nói cách thức bảo đảm thế nào không? Tao không phải xuất một số tiền rất lớn để mua 3000 khẩu  súng mà mày cũng biết thứ đó là đồ quốc cấm.

Thằng Rỗ trả lời:

– Chú ấy bảo: Nói với ba, ruộng nương đất cát chú ấy gửi  ba, lấy cái đó làm đảm bảo nếu ba không tin chú ấy. Khi nào chú ấy đủ tiền gửi về chuộc lại hết. Chú ấy còn bảo, thuế má, lợi tức cả vùng đó ở cả trong tay chú, nếu bây giờ xuất ra món tiền lớn mua súng, chú không có gì nuôi lính.

Anh Hai suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Tao không cần ruộng nương gì cả, năm ngoái ở đây mất mùa, dân suýt chết đói, ruộng bây giờ rẻ như bèo, mà ruộng của chú ấy tính theo thời giá chưa đủ. Chú ấy cưới vợ độ nọ đã sạt hết bao nhiêu ruộng rồi.

Thằng Rỗ nét mặt nghiêm trang, hai con mắt tí hin long lanh trên khuôn mặt, nói như van lơn, cầu khẩn:

– Ba ạ, con nói đúng, bây giờ chú con khá lắm, rồi ba xem cả vùng ấy, ai trông thấy chú con cũng phải e sợ. Tuy thế tính chú con cũng tốt, không có giết bậy ai bao giờ cả ông Tổng đốc trên tỉnh cũng vì nể. Chú con gan dạ ghê lắm, ba xem có ai dám lấy một người vợ mà ai cũng cho là chồn cáo không? Nếu ba mua cho chú con số súng ấy, thanh thế chú con còn to hơn nữa. Kể ra mấy lời của thằng nhỏ cũng không thể làm xúc cảm được lòng người cha, như anh Hai, một con buôn biết  tính toán kỹ lắm, song anh cũng nhận có một phần sự thực ở trong. Anh nghĩ nếu em là một ông tướng có thế lực cũng có lợi, có khi phải nhờ đến hắn. Mấy năm nay vẫn có một tin đồn có một thế trận to lắm, nếu mà chiến cuộc lan tràn đến đây, mà nói cho cùng ai mà có thể biết trước được nó sẽ lan tràn đến đâu, thì của cải của hắn nếu không bị lính tráng thì bọn cùng đinh, khố rách áo ôm nó hủy diệt, vơ vét bằng hết. Hắn bây giờ của chìm ít mà của nổi nhiều, ruộng đất không có mấy, chỉ có nhà, cửa hàng, tiền cho vay, đặt lời, một cái gia tài như thế dễ bị phá lắm, một người đang giàu có rất có  thể chiều hôm sớm mai còn hai bàn tay trắng, nếu không có một lực lương nào hùng mạnh làm hậu thuẫn, bảo trợ antoàn tính mệnh, tài sản.

Thời buổi bất trắc, biết ngày nào, giờ nào, nó sẽ đến. Dự đoán xa gần như thế, anh nghĩ những súng đó biết đâu một ngày kia chả là bùa hộ mệnh cho chính anh, gia đình anh. Suy đi xét lại, anh thấy cũng có lý, bây giờ anh còn lo cách thức mua bán, vận tải thứ vũ khí quốc cấm này. Anh nghĩ cũng có thể vì hiện nay anh có hai chiếc tàu thủy chạy biển vẫn chở gạo ra bán ở ngoại quốc.

Xuất cảng gạo ra ngoại quốc hồi đó bị cấm thế mà anh cũng lén lút làm được, đã thu được mối lợi không nhỏ. Tuy luật cấm song anh đút lót các viên chức, họ cũng nhắm mắt làm ngơ về hai chiếc tàu nhỏ của anh. Họ thi hành gắt gao luật lệ đối với thương thuyền ngoại quốc hay các tàu bè khác vì không có xơ múi gì, anh nghĩ đến hai chiếc tàu của anh chở gạo ra ngoại quốc, lúc trở về tàu không, hay có ít bông, vải hay hàng lặt vặt ngoại hóa, rất có thể xếp súng ống lẫn vào hàng, anh cho mại bản ít tiền họ sẽ câm miệng, mà dù nhà chức trách có khám phá ra được, anh đút lót rồi cũng êm ru. Nghĩ như thế chắc chắn có thể làm được, anh nhìn xung quanh không có ai, tửu bảo hay khách hàng, anh nói sẽ với con, anh nói không thấy môi mấp máy:

– Tao có thể tải súng về đến bến hay một chỗ nào có đường xe lửa đi ngang, gần nhất chỗ chú mày ở, nhưng từ đấy về đến trại chú mày ít nhất cũng mất một ngày đường. Việc chuyên chở chỉ có đường bộ, xếp lên lưng lừa, ngựa hay thế nào?

Về điểm này Vương hổ tướng không nói gì với thằng nhỏ, nên khi nghe cha nó hỏi thế, nó luống cuống không biết trả lời thế nào, gãi đầu, gãi tai nói:

– Thế con phải về ngay hỏi chú con xem sao?

– Mày bảo với chú mày tao xếp súng giấu trong các bọc hàng, tao biên nhiều địa chỉ, chú mày chỉ đúng chỗ nào tao cho đem đến, rồi chú mày định liệu lấy, khuân vác về.

Sáng sớm hôm sau, thằng nhỏ trở về, đem lời cha dặn nói với chú. Đêm hôm đó nó ngủ nhà, mẹ nó đã làm cho một món ăn nó thích nhất, những chiếc bánh nhỏ nhân thịt với tỏi. Nó ăn cho thật thích còn bao nhiêu gói đem đi đường. Leo lên mình lừa, thằng Rỗ thẳng đường về với Vương hổ tướng.

Phải chi ngày ấy

hung-viet.org

14 Tháng Mười Hai 2011

Huy Phương
Post by Sơn râu 27 Jun 2025

Chưa lúc nào ở trong nước lại rộ lên phong trào truy tầm, cải táng những nấm mộ tập thể của Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vị vùi dập trong những ngày đầu khi miền Nam bị thất thủ như hiện nay, tất cả đều do thân nhân nóng lòng đi tìm hoặc dân chúng vì lòng trắc ẩn hướng dẫn. Tháng 5, 1994 tại Bình Dương, một ngôi mộ tập thể chôn 37 người đã được bà quả phụ Nguyễn Viết Thông vì theo dấu vết chồng mà tìm ra, cuối cùng chỉ tìm được 17 người nhờ số thẻ bài, căn cước nhựa còn lại. Tháng 12, 2010 dân làng An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên đã cải táng và xây lăng mộ cho 128 tử sĩ VNCH gồm TQLC và quân nhân các binh chủng khác cũng như dân chúng chết trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975. Tại bãi biển Tư Hiền, dân chúng cũng đã chôn cất nhiều anh em binh sĩ TQLC, nhưng hiện nay rất khó tìm ra dấu vết đã trên 35 năm.

Nhân nghe nguồn tin này anh Dương Công-An, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, hiện sống tại Đức Quốc, đã cho biết tại Quân Y Viện Qui Nhơn, có một hầm chôn tập thể của 47 thi hài tử sĩ vào cuối tháng 3, 1975, trong số này có Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42, SĐ 22BB. Dù nóng lòng biết có thân nhân trong hầm chôn, nhưng không ai có khả năng gõ cửa chính quyền để xin khai quật nấm mộ này.

Tại Chu Lai, Quảng Nam trong khi người ta dùng xe ủi đất để xây cảng Kỳ Hà, người lái máy cày đã gom được một số xương và vật dụng của các binh sĩ thuộc Trung Đoàn 4, SĐ2BB. Tại chùa Dương Lâm, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, người ta cũng tìm ra trên 100 hài cốt của các chiến sĩ trong đó chỉ tìm được 6 người còn có thẻ bài vì dân chúng cho biết khi vùi lấp các chiến sĩ này, Việt Cộng đã giựt hết thẻ bài, một số thẻ bài còn lại nhờ các binh sĩ đã giấu trong giầy trận của họ.

Nghĩa trang của các quân nhân Sư Đoàn 18BB tại An Lộc bị san bằng, trồng cây cao su lên xác lính, bia lấy về lót chuồng nuôi heo, dân chúng dò tìm theo mương suối đào tìm được 25 tấm bia đem về chùa hương khói. Cũng tại An Lộc, nghĩa trang của các quân nhân Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù đã bị san bằng, hiện nay không biết xương cốt của các binh sĩ này ở đâu.

Tại xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Đảng, tiết lộ với chương trình Huynh Đệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị cộng sản chôn sống vào tháng 4, 1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển.

Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5, 1975, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.

Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền cộng sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thế! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!

36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Đông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”

Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30 tháng 4, 2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.

Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giãi bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi.

Đã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.

Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của Đông phương “nghĩa tử là nghĩa tận,” “không có ai thắng ai thua.”

Nhưng không!

Được như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa!

Huy Phương

Ô nhục này dành cho ai?

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 10 Tháng Mười Một 2014

Post by Sơn râu 27 Jun 2025

Ngày 9 Tháng Mười Một mỗi năm, kể từ năm 1989, cả thế giới chào mừng ngày Bức Tường Berlin sụp đổ. Không phải chỉ là những phiên bản, mà bức tường này được cắt từng mảnh, vận chuyển đến nhiều nơi trên thế giới, lắp đặt lại xem như một di tích cần ghi nhớ, bài học của một giai đoạn ô nhục của chế độ Cộng Sản. Một đoạn của bức tường này được để tại Thư Viện Tổng Thống Ronald Reagan ở Simi Valley, California.

Tác giả đứng bên một đoạn Bức Tường Berlin hồi năm 2000.

(Hình: Huy Phương cung cấp)

Sau khi Thế Chiến 2 kết thúc, Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) được thành lập tại vùng quản lý của quân đội Liên Xô tại Đức ngày 7 Tháng Mười, 1949, sau khi Cộng Hòa Liên Bang Đức (Tây Đức) ra đời tại phần phía Tây trong khu vực Pháp, Anh và Hoa Kỳ quản lý. Vì lý do còn sự chiếm đóng của quân đội Liên Xô, mặc dù thành lập từ 1949, mãi đến năm 1955, Đông Đức mới tuyên bố đầy đủ quyền tự trị của một quốc gia. Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi một nền kinh tế lạc hậu, với một không khí chính trị nô lệ, áp bức, khi nước Đức thống nhất, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức so với 93% của Tây Đức dù dân Tây Đức chỉ chiếm 1/3 dân số cả nước. Suốt một thời gian dài sau khi thống nhất, Tây Đức đã hy sinh, chia sẻ để cả hai miền đều no ấm, thịnh vượng bằng nhau.

Tại sao phía Cộng Sản phải dựng lên Bức Tường Berlin? Ông Mikhail Pervukhin, Đại Sứ Liên Xô tại Đông Đức, đã trả lời câu hỏi này, “Nếu không có bức tường người dân sẽ thấy được sự yếu kém của phía Đông so với phía Tây.” Bức tường Berlin phải được dựng lên, nếu không một ngày kia, không còn một người dân nào ở lại với chế độ Cộng Sản, kể cả binh lính. Chỉ trong vòng sáu năm, từ năm 1945 đến 1961, sau khi rơi vào tay Cộng Sản, 20% dân số Đông Đức (3 triệu rưỡi người) đã vượt thoát sang Tây Đức.

Bức tường Berlin còn được gọi là “Bức Tường Ô Nhục” do chính phủ Đông Đức dựng nên từ ngày 13 Tháng Tám, 1961 được gọi là “tường thành bảo vệ chống Phát Xít,” nhưng rõ ràng không thấy một người Phát Xít nào leo ngược bức tường đi tìm hạnh phúc trong thế giới Cộng Sản. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Chiến Tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức.

Mặc dù với hàng rào bê tông, cốt sắt có hệ thống báo động tự động, chó săn, 12,000 công an lùng sục ngày đêm, tháp canh, roi điện, hố sâu cản xe tăng và cơ giới, cho đến ngày bức tường sụp đổ đã có hơn 5,000 người dân Đông Đức bất chấp hiểm nguy vượt qua bức tường này thành công đến Tây Đức. Ngoài ra, cũng có 200 người dân Đông Đức bị bắn hạ khi tìm cách vượt qua vùng tự do.

Bài học của Bức Tường Berlin chưa đủ để thức tỉnh lương tri của những chế độ Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Việt Nam. Sau Hiệp Định Geneva 1954, sông Bến Hải được làm ranh giới chia cắt hai miền Việt Nam, một triệu người miền Bắc không chờ “bộ đội cụ Hồ” vào tiếp thu Hà Nội đã khăn gói di cư vào Nam. Sau đó hơn 20 năm, cũng chưa thấy ai ở miền Nam bơi qua sông để ra Bắc tìm tự do, no ấm mà chỉ thấy những người bến Bắc, dưới mạng lưới công an dày đặc, tìm đường vào Nam.

Sau Tháng Tư, 1975, khi Bắc Việt lấp được sông Bến Hải thì hơn một triệu người không muốn “được giải phóng” đã bồng bế nhau ra đi, và sau đó, hơn nửa triệu người lại tìm đường vượt biên, vượt biển và cứ hai người tìm cách ra đi thì có một người thiệt mạng. Giá như có một cây cầu có thể nối liền Việt Nam với các nước tự do, hay có tàu bè đến cảng Sài Gòn hay Hải Phòng rước người ra đi vô thời hạn, thì Việt Nam không còn lại được một cái cột đèn để soi sáng “lăng Bác âm u.”

Cho đến 39 năm sau ngày “giải phóng,” vì sao còn cảnh người Việt đóng tàu vượt biển sang Úc, và chuyện đi lấy chồng ngoại, chuyện cầm cố nhà đất để được đi lao động nước ngoài, chuyện cho con du học mà mong con đừng nghĩ chuyện về, chuyện chuyển vốn ra ngoại quốc để lập “đầu cầu” cho mai hậu, phải chăng tất cả điều đó đã nói lên sự “ưu việt” của chế độ Cộng Sản, một chế độ bị chán ghét, đã xô đẩy mọi người phải rời bỏ quê hương, đất nước ra đi.

Nếu Cuba, Bắc Hàn mở cổng biên giới, việc gì sẽ xảy ra.

Nếu biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico bỏ ngỏ thì nước Mỹ sẽ tràn ngập di dân Nam Mỹ bất hợp pháp.

Chính phủ Mỹ đã bỏ ra hàng tỷ đô la để xây vài nghìn cây số tường cao tại biên giới hai nước không phải để ngăn người Mỹ chạy sang lập nghiệp bên đất Mexico. Trước đây, Hoa Kỳ đã không tiên liệu được chuyện hằng năm có khoảng 600,000 dân gốc Hispanic vượt biên vào Hoa Kỳ.

Đông Đức xây bức tường để ngăn dân của họ chạy ra, Hoa Kỳ xây hàng rào biên giới để ngăn dân ở ngoài nước chạy vào. Tị nạn chính trị hay kinh tế thì cũng là do sự lỗi lầm, ngu dốt của một chế độ.

Lúc 11 giờ 30 phút đêm 9 Tháng Mười Một, 1989, một trung tá công an biên phòng Đông Đức, ông Harald Jager, đã khóc sau khi ra lệnh mở cửa Tường Berlin, trong đêm hàng nghìn người đã ồ ạt chạy sang phía Tây. Một năm sau, nước Đức thống nhất trong tự do mà không đổ một giọt máu. Việt Nam “thống nhất” trong một hoàn cảnh khốn nạn nhất, tù đày, kỳ thị, chia lìa, đói nghèo, oan khuất, thù hận ngút trời, mà “đống xương vô định đã cao bằng đầu!”

Bây giờ có một bức tường, không phải xây bằng xi măng cốt sắt nhưng 40 năm nay vẫn còn tồn tại giữa những con người Việt Nam, mà phần ô nhục dành cho phía Cộng Sản.

Huy Phương

Nửa đời lưu lạc

hung-viet.org

3 Tháng Hai 2012

Thơ Huy Phương
Post by Sơn râu 27 Jun 2025

Image from the Net collected by Sơn râu

Nửa kiếp người – hai mươi lăm năm

Hình như chưa kịp ấm chỗ nằm

Mà nghe núi lở, sông nguồn cạn

Sau – trước, ngoài – trong, nỗi xa – gần.

Đất cũ mẹ cha vùi xương trắng

Trời xa máu thịt nỗi ly tan.

Quê hương thì vẫn quê hương đó

Sông rộng trời xa thấy ngút ngàn

Thương ai lận đận phương trời ấy

Vò võ nơi này, ta mấy xuân

Nhìn nhau cúi mặt bầy lưu xứ

Khản một giọng chim thuở lạc đàn.

Ngựa xe dấu kín niềm đau tủi

Cơm áo sao che giọt lệ thầm

Nhìn đám mây xa thương nguồn cội

Nghĩ đời lưu lạc xót cho thân

Thẹn cho trí hẹp, gươm cùn rỉ

Ước mộng bao năm chỉ ấy ngần

Chinh chiến bao năm giờ đã hết

Nỗi đau còn lại vết dao đâm

Đêm mộng quê nhà, ngày đất khách

Nhìn gương tóc bạc nếp da nhăn

Giấc mơ một ngày về cố quận

Đông qua xuân lại đã phai dần

Ta muốn nhờ em khơi ngọn lửa

Thổi bùng lên cho tuyết băng tan

Cho cánh chim xa về rợp cánh

Riêng ta, theo gởi nắm tro tàn.

Huy Phương (2000)

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Jun 2025

61. Nguyễn Đình Phúc

Ca khúc đầu tiên của Nguyễn Đình Phúc là một bài thơ của Nguyễn Bính do ông phổ nhạc, bài Cô Lái Đò.

Bài hát được phổ biến mau chóng có lẽ một phần vì bài thơ đã được nhiều người biết rồi. Lỡ Bước Sang Ngang đang là tập thơ gối đầu giường của nhiều người. Cô Lái Đò nằm trong tập thơ này. Mặc dầu vậy, khi trở thành ca khúc, Cô Lái Đò đã được hát như một ca khúc với lời ca của nó. Điều ấy chứng tỏ Nguyễn Đình Phúc đã kiếm ra cho bài thơ một giai điệu thích hợp.

Đã có một thời, ở Hà Nội, người ta có thể nghe thấy bài Cô Lái Đò ở khắp mọi nơi. Tại Nhà Hát Lớn. Tại các sân khấu Cải Lương. Tại các quán cà phê, phòng trà [dù lúc ấy còn rất hiếm trong thành phố]. Bài hát còn được những người hát rong, hát sẩm, đem đi hát tại các bến xe, chợ, nhà ga …

Như thế, có thể coi là nó được nhiều giới thính giả chấp nhận. Người ta nghe bài hát với những đôi tai khác nhau. Đừng đánh giá thấp những người hát rong, hát sẩm. Ở miền Bắc mà chưa một lần được nghe hát xẩm là một

điều thiếu sót, đáng tiếc. Một đêm hè hóng mát trước thềm nhà, một buổi tối tại một bến đò hay một sân ga vắng vẻ nào đó, thấy hai vợ chồng người hát xẩm dắt nhau đi qua, người chồng thường mù, kêu lại, mọi người xúm quanh nghe hát là một cái thú.

Tiếng nhị, tiếng đàn, [đàn nguyệt, đàn gáo, đàn ghi-ta], tiếng phách, tiếng hát, qua tay, qua giọng người hát xẩm, khác hẳn khi nghe cùng những bài hát ấy trên đài phát thanh chẳng hạn. Buồn Tàn Thu của Văn Cao, Chinh Phụ Ca của Phạm Duy, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, có thể họ hát không chính xác nhưng đường như lại có cái hay, cái buồn riêng, những gì người ta quen gọi là “hàn lâm” không lấy đi hết được.

Sau 75, người ta có được nghe nhiều ca sĩ tốt nghiệp các trường nhạc, hát những điệu hát xẩm, hiển nhiên các âm điệu đã được nghiên cứu, phân tích, bổ khuyết, giảng dạy, tập dượt. Rất hay. Nhưng những người hát vẫn phải hóa trang làm các cặp hát xẩm để hát. Vì hình như chỉ như thế  người ta mới giữ được những cái hay, cái đẹp của hình thái nghệ thuật này.

Bài Cô Lái Đò được nhiều ca sĩ cho thâu thanh. Nhưng những bài thâu thanh không giống nhau. Tam sao thất bản chăng? Ngoài Cô Lái Đò, Nguyễn Đình Phúc còn một sáng tác nữa là bài Lời Du Tử. Ca khúc có thể coi như “tiền thân” của phong trào nhạc du ca sau này. Những người cao tuổi nói rằng, người trình bày Lời Du Tử điệu nghệ nhất là Bùi Công Kỳ. Bùi Công Kỳ cũng là người viết lời ca cho bài “Giọt Mưa Thu” của Đặng Thế Phong. Khi ấy, cả Hà Nội mới chỉ có một quán cà phê nhạc ở phố Hàng Da. Hình ảnh Bùi Công Kỳ ăn mặc xốc xếch, dùng gót đôi giầy bốt hất chiếc đàn ghi ta thùng dựa trên tường lên, ôm lấy, khẩy vài tiếng trước khi hát, đã trở thành huyền thoại đối với một số thanh niên thiếu nữ Hà Nội một thời.

Các nhà phê bình âm nhạc thường nói đến “âm điệu rất iệt Nam” của người này người khác. Về phương diện này thể coi là ưu điểm của Nguyễn Đình Phúc. Nghe nhạc ông người ta có thể nhận ra ngay, chỉ một người Việt Nam

mới viết ra được những âm điệu như thế, lời ca như thế. Trong thời chiến tranh sau đó, lưu lạc tại các vùng “hậu  phương” không biết Nguyễn Đình Phúc có viết được thêm gì không?

Image from the Net collected by Sơn râu

Riêng hài bài Cô Lái Đò và Lời Du Tử của ông cho đến bây giờ vẫn còn được nhiều người hát. Nhớ lại giữa thập niên 90, dân miền Nam lần đầu tiên

nhìn thấy Ngọc Bảo xuất hiện trên màn ảnh truyền hình trong một chương trình ca nhạc. Những người biết ông trước 54, nhận lại ra ông một cách khó khăn. Tóc ông đã trắng hết. Hơn 40 năm rồi còn gì. Hôm ấy Ngọc Bảo cũng đã chọn để hát bài

Lời Du Tử

Chiều nay biết về nơi đâu

Dừng chân ta ngắm cảnh bao la sầu

Ai đi trong lớp sương sa

Người về đâu ta tới nơi quê nhà

Dừng nơi đây, dừng nơi đây

Đường dài chí lớn ta dừng nơi đây

Trông mây bay

Trông mây bay về nơi quê nhà

Ta buồn chỉ có mình ta

Sáo vi vu uù u

Khúc nhạc ru

Đàn ai xa vắng khóc than mùa thu

Trông hoa lá rụng tơi bời

Trong lòng người nghệ sĩ lệ rơi rơi

Từ ra đi bước lưu ly

Đường chông gai không sờn chí nam nhi

Mà nay lòng nhớ quê hương

Sao để lệ sầu vương

Không không ta quyết đi xa

Có đâu ngồi nhớ tới nơi quê nhà.

Thái Thanh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Jun 2025

60. Nguyễn Đình Nghĩa

Nguyễn Đình Nghĩa đã ngã quỵ ngay trên sân  khấu trong một buổi trình diễn tại Nữu Ước và ở trong tình trạng mê man cho đến khi chết. Lúc Nguyễn Đình Nghĩa còn trong cơn hôn mê kéo dài, các bằng hữu của ông ở Quận Cam đã chạy ngược chạy xuôi, để lo tổ chức một đêm nhạc Nguyễn Đình Nghĩa.

Có lẽ không có một đêm nhạc nào mang tên một người lại có đầy đủ ý nghĩa hơn nữa: sáng tác, hòa âm, các nhạc sĩ trình diễn đều là ‘sản phẩm’ của Nguyễn Đình Nghĩa: Đoan Trang, Phương Nam, Nguyễn Đình Nghị, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Đình Hòa đều là con của Nguyễn Đình Nghĩa và Trịnh Diệu Tân, và tất cả đều do Nguyễn Đình Nghĩa chỉ dạy cho chơi đàn: tam thập lục, thập lục, đàn tranh, đàn bầu, đàn T’rưng, đàn ống, Tây ban cầm, sáo, tiêu, trống … từ lúc khởi đầu cho đến lúc đủ sức cùng với bố đứng trên sân khấu. Không biết các nhạc sĩ của chúng ta, khi còn nhỏ, học nhạc, chơi nhạc, có bao nhiêu người mê nhạc, mê cái thứ nhạc cụ mình học, mình chơi và mê tới mức nào?

Nhưng mê sáo tới như Nguyễn Đình Nghĩa có lẽ chỉ có một. Hình như không lúc nào người ta nhìn thấy Nguyễn Đình Nghĩa mà lại không thấy cái túi đựng mấy cây sáo ở bên mình.

Có thể nói, Nguyễn Đình Nghĩa chơi sáo như một khả năng thiên bẩm. Cứ như lời Nguyễn Đình Nghĩa kể lại, khi còn rất nhỏ, còn đang học tiểu học, một lần Nghĩa đi qua nhà một ông Tàu già, thấy ông thổi sáo đã đứng lại nghe và ngay lập tức mê sáo. Nghĩa hỏi ông già về cách thức bấm nốt, chụm hơi thổi thế nào, ông già chỉ cho Nghĩa một lần là Nghĩa thổi được ngay. Ông già lấy làm lạ cho luôn Nghĩa cây sáo của mình. Thế là Nghĩa có sáo để tập “chứ lúc đó làm gì có tiền mua, mà giá có tiền cũng không biết mua ở đâu”, như lời anh kể.

Chơi sáo một thời gian Nguyễn Đình Nghĩa thấy cái ống sáo cổ truyền bị giới hạn, không đủ cho các âm vực. Nghĩa đọc sách, nghiên cứu về âm học, tự mò mẫm khoét thêm nhiều lỗ cho các ống sáo của mình, các ống sáo với độ dài, ngắn, lớn, nhỏ khác nhau, cải biến cây sáo trúc của mình thành một nhạc cụ có thể trình diễn được cả nhạc cổ điển Tây phương.

Khi cây đàn T’rưng đến tay thì gần như Nguyễn Đình Nghĩa không phải học, chỉ cần được hướng dẫn sơ sơ cách xử dụng là Nghĩa cũng chơi được ngay. Và, từ cây đàn nguyên thủy có 5 ống tre, Nguyễn Đình Nghĩa lại tìm cách biến chế, ghép thêm cho nó tới 24 ống nữa, đủ để có thể chơi nhạc

Beethoven, Mozart, Brahms. Schubert … và không phải chỉ là cách trình tấu bình thường, mà là các buổi trình diễn tại các viện âm nhạc, các trường đại học chuyên ngành, các đại hí viện Carnegie Hall chẳng hạn, nơi mà bất cứ một nhạc sĩ trình diễn nào cũng mơ ước có lần được xuất hiện ở đây, vì là nơi tập trung những tay danh cầm, tuyệt kỹ. Trình bày nhạc cổ truyền bằng những nhạc cụ đặc thù của các dân tộc không nói làm gì. Nhưng động tới nhạc cổ điển Tây phương thì không ai được mời trình diễn ở đây lại không xuất thân từ một nhạc viện danh tiếng nào đó trên thế giới. Cha con Nguyễn Đình Nghĩa chỉ là những người tự học, được mời trình diễn ở những nơi như thế phải được coi là một vinh dự lớn, nhất là ông lại dùng đàn T’rưng, đàn thập lục, đàn bầu và sáo trúc để trình bày nhạc cổ điển Tây phương.

Đàn T’rưng thuộc bộ gõ. Âm sắc của nó là tiếng mộc phát ra được là nhờ phần rỗng của lòng ống. Âm thanh cao thấp [trầm/bổng] là do các ống lớn /nhỏ. Giản dị thì như vậy. Nhưng độ dày mỏng của các ống tre, và đất trồng cũng có thể tạo ra độ rắn /mềm khác nhau của các ống tre. Ống nhỏ thường non, ống lớn thường già. Làm thế nào có thể tìm ra một bộ gồm gần ba chục ống tre có phẩm chất như nhau để ghép lại thành một cây đàn? Cây đàn ấy lại phải có khả năng chịu đựng được sự thay đổi thời tiết để không bị ảnh hưởng tới âm thanh nữa.

Căn nhà ở đường Phan Văn Trị Sài Gòn xưa, mà Phan Nhật Nam, một người bạn thời thơ ấu của Nguyễn Đình Nghĩa thường nhắc tới, Nguyễn Đình Nghĩa đã chất cả ‘rừng’ ống tre, ‘đến không còn chỗ đi, chỗ thở’ – như lời Trịnh Diệu Tân. Nguyễn Đình Nghĩa đã ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, cưa, đục, khoét từng ống tre đã được lựa chọn, chỉ cần lỡ tay để một đường dao lẹm vào một thớ tre là cái ống tre đã mất bao công phu lựa chọn và cả tiền bạc để mua nữa, kể như bỏ.

Cái khó khăn nhất của đàn Trưng theo Nguyễn Đình Nghĩa là tiếng vang của nó rất hạn chế, nên độ truyền cảm mất đi rất nhiều. Nguyễn Đình nghĩa đã giải quyết vấn đề này bằng cách chế ra những bộ phận điện tử nhỏ, đặt trong lòng ống để tạo sự cộng hưởng. Vì thế, không một cây đàn T’rưng nào khác có được tiếng ngân “vang” và “dài” như cây đàn Trưng của Nguyễn Đình Nghĩa.

Người ta không thể hình dung buổi trình diễn của các con Nguyễn Đình Nghĩa ra sao khi không có Nguyễn Đình Nghĩa. Ông vừa là bố, vừa là thầy, vừa là nhạc trưởng. Tất nhiên, trong nhiều năm đi trình diễn như thế, hẳn Nguyễn Đình Nghĩa cũng phải có những sự chuẩn bị phòng khi ‘trái nắng trở trời’ có người thay thế chứ?

Trang, Phương, Nghị, Hòa, Chiến, ai sẽ thay thế bố? Một người bạn cũ biết Nguyễn Đình Nghĩa từ khi chưa ai biết nguyễn Đình Nghĩa là ai, kể lại rằng, có những hôm trời mưa, nhất là vào lúc xẩm tối, nghe Nghĩa thổi tiêu, tưởng như có ai khóc ở trong cái ống nhỏ đó. Sợ lắm!

Tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 27 Jun 2025

Chương 15.

Nếu Vương hổ tướng là một người thô lỗ, tầm thường,  không có một chút quan niệm về tiết tháo và liêm sỉ, khôngcần lễ nghĩa, cưới xin, chàng đã dùng ngay nàng làm vợ. Nàng, một người không cha, không mẹ, không anh em họ hàng thân thuộc, nàng sẽ tuyệt đối phục tòng, chàng muốn sử dụng tùy theo ý. Nhưng hồi tưởng lại quãng đời niên thiếu xa xăm đã qua, chàng cảm thấy như cơn gió lạnh làm nhạt ngọn lửa lòng, chàng biết kìm chế dục vọng, không nên hấp tấp, vội vàng. Ngoài ý muốn được nàng làm vợ vì lòng luyến ái đối với nàng, mỗi giờ mỗi phút càng thâm nhập lòng chàng, chàng mơ ước được một đứa con trai với nàng mà chỉ một người đàn bà quả cảm, tuyệt đối trung thành như nàng mới tạo nên cho chàng được. Thâm ý, thầm kín, chàng tưởng tượng, hình dung đứa con trai do chàng với nàng tạo nên:

chàng khí huyết phương cương, tầm vóc to lớn, nàng, với một vẻ đẹp diệu huyền, chàng nghĩ tưởng như đứa con hun đúc, có rồi.

Vào hồi đó, có một tin đồn, truyền khẩu, lan đi khắp vùng, vị tổng đốc trên tỉnh được tin hết sức công phẫn: có một dân cày, nửa trộm cướp, nửa lính đào ngũ của một võ quan phương Nam, đã cướp chính quyền ở một địa hạt trong tỉnh. Viên Tổng đốc đã cho xuất quân để quét sạch bọn giặc cỏ, viên quan đầu tỉnh phải chịu trách nhiệm đối với thượng cấp nếu không tảo thanh được sẽ bị khiển trách nặng nề.

Vương hổ tướng được tin này ở giữa tiệc cưới. Suốt ba hôm ở trong Phủ rộn rịp, cỗ bàn linh đình, chàng cho mổ bò, mổ lợn, gà vịt, cho trả tiền phân minh những gia súc của dân đem ra giết thịt. Thế lực, uy danh chàng vang dậy khắp vùng, có thể cho lấy không trâu bò, lợn gà, không phải trả tiền, không ai dám hé răng nói, nhưng chàng là người cương trực, tiền nong trả đủ, phân minh, chính trực đã thấm nhuần dân chúng trong vùng, ai ai cũng tấm tắc khen ngợi, ngàn người như một đều nói:

– Nếu phải “ông tướng” khác có quyền có thế như ông này dân phải điêu linh khốn khổ. Ông này không những đã giữ được an ninh không có nạn giặc cướp mà ông ta không có bóp nặn, xâm phạm của dân, ngoài thuế phải đóng là lẽ dĩ nhiên. Ơn trời dân được thế còn mong gì hơn nữa. Tuy vậy dân cũng không dám công khai tỏ thiện cảm với chàng, vì họ nghe đồn trên tỉnh viên Tổng đốc xuất quân để khu trừ chàng, họ chờ xem thắng, bại ra sao. Nếu chẳng may chàng bại, dân sẽ bị can cữu vì a tòng với giặc. Nếu chàng thắng, dân sẽ tán thành theo chàng, ủng hộ chàng. Về tiệc cưới, dân chúng để chàng tùy ý, muốn cần dùng thứ gì cứ việc lấy, vẫn hay là một gánh nặng cho dân trong hạt phải nuôi một lúc hàng bao nhiêu người. Chàng muốn cỗ bàn to tát linh đình, thứ gì quí nhất, tốt nhất để riêng cho chàng, cho cô vợ mới cưới, đám thuộc hạ tâm phúc và các đàn bà trông nom săn sóc cho tân giai nhân của chàng. Có độ mươi người đàn bà toàn người ở trong Phủ, vợ anh giám thị đề lao và vợ mấy người chức việc. Bọn này không quan tâm lắm về ai làm chủ họ, tỷ dụ hôm nay ông chủ này bị lật đổ, mai có thể sang với ông chủ khác, sẵn sàng tuyên thệ trung thành miễn là ông chủ mới có đủ sức cấp dưỡng. Theo lễ nghi, chàng giữ các đàn bà này quanh quẩn bên cô vợ sắp cưới của chàng vì bọn này đối với nàng có phép tắc lễ độ vả lại  chàng không muốn lại gần nàng mấy hôm trước lễ cưới.

Có đêm, nghĩ đến nàng, chàng không sao ngủ được, chàng thắc mắc suy nghĩ không biết tông tích nàng là ai, chàng cảm thấy lòng rạo rực, lửa lòng như ngùn ngụt bốc cháy. Nhưng chàng nhận thức ngoài tình ái, chàng còn quan niệm vấn đề tình cảm, nàng sau này là mẹ một lũ con của chàng, nên đối với nàng, chàng phải cư xử đường hoàng lễ độ trên tất cả mọi hành vi.

Tính tình cũng như hình thể, nàng khác hẳn Hoa Lê. Trước kia chàng vẫn quan niệm những người đàn bà dịu dàng, mềm mỏng nước da tai tái mới hợp ý chàng, vì hình ảnh một người đàn bà đầu tiên chàng thấy, Hoa Lê, đã ăn sâu trong tiềm thức chàng. Bây giờ chí lự chàng đổi thay khác hẳn, chàng tự nghĩ không cần biết nàng là ai, chỉ biết hiện nàng thuộc quyền sở hữu của chàng, sau này sinh con đẻ cái, những mối dây thiêng liêng sẽ ràng buộc chàng với nàng. Suốt mấy hôm đó, không ai đến hỏi han quấy nhiễu chàng, bọn thuộc hạ, tâm phúc, biết chủ tướng họ đang ở trong hoan lạc, không muốn chàng bị mất nguồn cảm hứng. Nhưng họ xì xào, bàn tán về cái tin đồn, họ mong sao việc hôn lễ của chàng chóng xong, chủ tướng họ được mãn nguyện như ý, trở lại lo việc quân cơ, xuất quân ra trận nếu tình thế khẩn trương.

Lễ cưới đã cử hành sớm hơn ý chàng định, cỗ bàn đã sửa soạn xong, vợ anh giám thị đề lao đứng làm chủ hôn về phía nàng, cửa Phủ rộng mở để đón khách khứa đến sự lễ cưới. Ở trong tỉnh rất ít người đến, nhất là phía đàn bà, ai cũng có ý sợ hãi, rụt rè, chỉ có bọn du thủ du thực, bọn vô gia cư, ùn ùn

kéo nhau lại ăn uống, vì theo tục lệ trong một lễ cưới ai muốn đến dự cũng được. Theo ý Vương hổ tướng, họ đi tìm lão Phủ, mời đến chủ tọa tiệc cưới. Lão Phủ cho người đến xin kiếu, vì đang lên cơn bệnh không thể dậy được.

Suốt cả ngày hôm đó, chàng như trong cơn mê sảng, chàng không hiểu chàng làm gì, hôm ấy sao chàng thấy dài quá, thời gian đi lâu quá, mặt trời lê thê mãi không lên đến đỉnh đầu, khi tới lại như đứng sững không thấy nhúc nhích, như người khác, hôm lấy vợ thì sung sướng vui vẻ, chàng bản tính khô khan, khắc khổ, lúc vui cũng không lộ vẻ vui thích. Hôm đó, chàng nóng ruột, bồn chồn, uống rất nhiều rượu, không ăn gì, lúc nào cũng thấy no. Trong mấy gian nhà ở Phủ, cỗ bàn bày la liệt, họ kéo lại đông lắm, đàn ông, đàn bà quần áo lôi thôi, rách rưới, cả những đàn chó ngoài phố cũng kéo ùa vào. Thoáng một lát bao nhiêu mâm cỗ hết sạch trơn, cả đến xương, chó cũng tha đi hết. Vương hổ tướng ở trong tư phòng, như người trong mộng, thỉnh thoảng mỉm cười một mình, cái ngày dài dằng dặc đã hết, đêm đã bắt đầu.

Khi bọn đàn bà sửa soạn xong phòng tân hôn, chàng thủng thẳng bước vào, nàng đã ở đó. Nàng là một người chàng chưa hề quen biết bao giờ. Thật cũng lạ lùng, chàng một người tuổi ngoại tam tuần, theo nghề cung kiếm, một người bỏ nhà ra đi từ năm mười tám tuổi, mà chưa gần một người đàn bà nào bao giờ, một người như thế kể cũng hiếm có, tinh thần chí lự rắn như sắt đá. Giờ đây, như ống nước bị kìm hãm lâu ngày, nay đã tháo vòi sức nước chảy mạnh không có gì kìm hãm được. Thấy người vợ mới cưới ngồi ở trên giường, chàng thở mạnh, nghe tiếng chàng vào, nàng ngửng đầu nhìn thẳng chàng.

Chàng lại gần nàng, nàng lộ vẻ hân hoan ngồi yên giường, gần nàng chàng cảm thấy lòng luyến ái rạt rào, chưa biết một người đàn bà nào bao giờ, chàng tưởng chừng như nàng thật là hoàn toàn, tinh thần cũng như thể chất.

Nửa đêm, chàng quay lại, thì thào ghé vào tai nàng hỏi:

– Anh vẫn chưa biết em là ai?

Nàng thủng thẳng trả lời:

– Là ai cũng được, chỉ biết hiện nay em nằm cạnh anh. Để hôm nào rỗi em sẽ nói chuyện anh nghe.

Chàng cũng không hỏi thêm nữa, trong lòng thấy thư thái, dễ chịu. Chàng và nàng cả hai đều có chí lự hơn người, cuộc sống chung cũng khác bọn dân tầm thường, quê kệch. Chờ hết đêm tân hôn, hôm sau mới tang tảng sáng, bọn  thủ hạ tâm phúc đã chực sẵn chờ chàng ở cửa phòng. Họthấy chủ tướng hôm nay có vẻ bình tĩnh, thư thái, anh lính sứt môi, nghiêng đầu chào và nói:

– Bẩm tướng quân, hôm qua ngày khánh lễ chúng con không dám lại làm phiền tướng quân. Hôm nay chúng con đến bẩm về tin đồn từ phương Bắc đưa đến, viên Tổng đốc trên tỉnh nghe tin tướng quân chiếm đoạt chính quyền, có  kéo quân về đây hạch vấn.

Anh lính mũi diều hâu nói tiếp:

– Con cũng nghe thấy lão ăn mày ở mạn trên xuống, hắn nói có gặp một đạo quân đông lắm, có đến một vạn người, kéo về phía chúng mình.

Anh “chọc tiết heo” nối lời, hai chiếc môi dày lắp bắp, nói như ăn cướp:

– Con … con cũng nghe thấy nói, con ra chợ ở đây xem họ trói heo ra làm sao, anh hàng thịt cũng nói chuyện với con như thế.

Nghe lính nói, Vương hổ tướng nét mặt thản nhiên, lần đầu tiên, không thấy chàng có phản ứng, không nghĩ gì đến quân cơ, đại sự, chàng cười nhạt nói:

– Được rồi, ta đã có đạo binh của ta, họ đến đây sẽ hay.

Nói xong chàng thản nhiên lại chiếc bàn kê gần cửa sổ, uống nước trà trước khi ăn bữa sáng. Ngồi uống nước trà, thốt nhiên chàng có một ý nghĩ vụt đến, chàng nghĩ: hết ngày lại đêm, đêm hết lại ngày, thiên địa tuần hoàn cứ thế mãi mãi những đêm về trước trong đời chàng thật vô vị, vô nghĩa, đêm qua thật độc nhất, một đêm đáng ghi nhớ, đêm đó mới thật là đêm.

Nàng đứng nấp sau rèm, nghe rõ hết câu chuyện trao đổi giữa chàng với lính, nàng nhìn qua khe màn, đã thấy bọn lính chưng hửng về thái độ thờ ơ của chàng trước một tin quan trọng. Chàng như chưa hết cơn mê, hãy còn như du dương trong hoan lạc. Khi chàng đứng dậy sang phòng ăn, nàng với một giọng lanh lảnh, gọi tên lính “sứt môi” lại bảo:

– Mi kể cho ta biết mi đã nghe được những gì?

Anh lính này rất ghét nói chuyện với đàn bà, những việc quân cơ không can dự đến họ. Anh đứng tần ngần, lẩm bẩm làm như không biết gì, không có gì kể lại: Nàng uy nghiêm dõng dạc nói:

– Mi đừng làm mặt ngớ ngẩn với ta, nghe không? Ta đây từ khi lớn lên, đã năm năm liền, đã ngửi mùi súng, đạn, máu, lửa, đã vào sinh ra tử, có gì nói mau.

Không như bọn nhi nữ thường tình, hay các cô mới lấy chồng, còn e lệ, rụt rè, đưa mắt nhìn xuống, nàng giương to cặp mắt, mạnh bạo, hùng dũng nhìn thẳng anh lính. Anh lính như bị thôi miên, nói hết, tưởng chừng đứng trước mặt chủ tướng. Anh tỏ nỗi lo sợ trước một tin quan trọng, nghe nói lính tỉnh kéo về đông lắm, có lẽ đông gấp bội ở đây, thế nào cũng có giao tranh, lưu huyết, bọn lính ở nhà phần đông mới mộ chưa hiểu bụng dạ họ thế nào. Nghe tên lính nói xong, nàng cho hắn ra mời Vương hổ tướng đến. Nghe thấy nàng gọi, chàng vội vã lại ngay, từ trước đến giờ đối với ai chàng chưa nhanh nhẹn như thế bao giờ, dáng điệu mềm mỏng, nhã nhặn, miệng tủm tỉm cười. Nàng ngồi ở giường, chàng đến ngồi cạnh, tay mân mê  ống tay áo nàng. Chàng như bị cảm hóa hẳn, ngồi thẫn thờ,đưa mắt nhìn xuống, mỉm cười.

Nàng nói nhanh, giọng rất trong trẻo sắc sảo:

– Em không phải một hạng đàn bà mà anh phải bận bịu nếu anh phải cầm quân ra trận. Người ta đồn có một đạo quân ở trên tỉnh về đây gây chiến với tụi mình.

– Ai nói với em thế? Anh muốn để ba hôm nghỉ ngơi, trong ba hôm anh không muốn nghĩ ngợi, tác động gì.

– Thế ngộ trong ba hôm họ ập đến thì làm sao?

– Trong ba hôm, không thể nào đi nổi được hai trăm dặm.

– Thế anh biết họ xuất quân từ hôm nào?

– Cứ xét tin đồn không thể nào trong chốc lát bay ngay đến tỉnh được.

Nàng nói với giọng quả quyết:

– Em nói rất có thể lắm.

Có một điều lạ lùng là hai người, chàng và nàng, ngồi sát bên nhau bàn tán một chuyện ngoài chuyện tình ái, mối tình chàng cảm nhận đêm qua thật là tha thiết mặn nồng. Chàng rất đỗi ngạc nhiên thấy nàng, một người đàn bà,

rất giảo hoạt, dự bàn những việc quân cơ, đại sự, xưa kia chàng vẫn quan niệm đàn bà chí lự kém hèn, một lý do chàng không am hiểu họ, nên muốn xa lánh và không biết có thể nói năng chuyện trò gì được với họ. Với quan niệm đó, trước kia chàng không thể nào gần một người đàn bà như bọn lính tráng, dù người đó là gái mại dâm, chàng tỏ vẻ nghi ky, sợ phải giao du, trò chuyện. Nhưng giờ đây chàng nói chuyện với nàng nhẹ nhàng dễ hiểu như nói với một người đàn ông, chàng để ý lời nàng nói:

– Chúng ta cũng nên biết quân số ta ít hơn bọn họ, theo binh pháp khi binh lực mình yếu hơn đối phương, phải dung mưu kế. Nghe nàng nói chàng cười thầm trả lời một cách soi bói:

– Sao anh không biết? Không biết binh pháp mà có em bây giờ ở đây u?

Nghe nói thế, nàng chớp nhanh mắt nhìn xuống để giấu một tư tưởng thầm kín có thể bộc lộ ra ngoài, nàng cắn môi dưới nói:

– Kế giản dị nhất là phải giết một người, nhưng làm thế nào bắt được người đó. Cái kế của anh bây giờ lại đem áp dụng là đúng lúc lắm.

Vương hổ tướng trả lời một cách kiêu hãnh tự đắc:

– Binh lực của ta, ta dám thách ba lần quân số đối phương. Suốt cả mùa đông ta đã ra sức rèn luyện tập tành binh đội đủ các môn về chiến thuật, họ sẵn sàng hy sinh, không một ai sợ chết. Ai cũng biết lính của Chính phủ, bên nào mạnh là họ theo mà chắc chắn lính tráng ở tỉnh, tiền nong lương lậu không được đầy đủ sòng phẳng …

Nàng thấy bực mình, vừa nói vừa rút ống tay áo chàng đang mân mê.

– Anh không thảo kế hoạch. Hãy nghe em, em đã lập được kế hoạch rất giản dị, mà thành công, không khó nhọc gì. Hiện nay ở đây có lão Phủ, dùng ngay cha này làm con tin.

Nàng nói rất lưu loát, mạnh bạo, chàng chăm chú vừa nghe vừa ngạc nhiên trước lý luận của nàng. Chàng, xưa nay, rất tự đắc, ít khi để tai nghe ai bày mưu lập kế, tự cho mình có đủ tài trí đối phó với bất cứ trường hợp nào. Lần này chàng lại để cả tâm trí vào lời nàng nói:

– Anh xuất hết quân bản bộ ra dàn thế trận, cho dắt cả lão Phủ đi, nhưng phải coi chừng hắn, canh gác cẩn thận. Anh giảng giải cho hắn hiểu, bắt buộc hắn phải triệt để tuân theo như lời anh chỉ thị. Cho hắn ra tiếp kiến vị tướng ở tỉnh, cho hai tên lính tâm phúc kèm hắn hai bên, để kiểm soát xem hắn có nói đúng như lời anh bảo không, nếu hắn nói khác, hai tên lính sẽ cho hắn mấy nhát kiếm, tức là ám hiệu cho cuộc giao phong. Em chắc cái mật hắn không to hơn mật con gà mái, thế nào hắn cũng phải nghe theo. Đại ý hắn sẽ nói với vị tướng trên tỉnh là tất cả mọi việc ở trong hạt là do hắn xếp đặt, ưng chuẩn, cái tin đồn có cuộc bạo động là nguyên do lão tướng già ở đây trước, âm mưu nổi loạn, nếu không có anh đến cứu nguy cho hắn, thì bao nhiêu ấn kiếm của chính phủ đã bị cướp hết mà mạng hắn cũng chẳng còn. Vương hổ tướng thấy kế đó là tuyệt diệu, chàng nghe nàng nói, không rời mắt nhìn thẳng tận mặt. Chàng hình dung, thấy rõ mưu kế, chàng đứng dậy cười thầm, nghĩ nàng cũng giỏi, khôn ngoan, lanh lợi. Chàng đem kế hoạch thi hành, nàng theo dõi chàng tác động ra sao. Chàng cho gọi tên lính tâm phúc đi triệu lão Phủ đến gấp công đường có việc khẩn. Nàng có ý nghĩ tinh quái cũng muốn theo ra công đường, chàng ưng thuận và nghĩ cả hai vợ chồng chàng sẽ làm lão già bạt vía. Hai vợ chồng trèo lên bục cao, chàng chễm chệ ngồi trong chiếc ghế bành trạm, nàng bắc một chiếc ghế bành ngồi bên cạnh.

Một lát sau, lão Phủ đến, thất tha thất thểu, quần áo tơi tả, người run lẩy bẩy, hai anh lính đi sát nách hai bên. Lão đưa mắt ngơ ngác nhìn gian phòng không có mặt nào quen. Bọn gia đinh, đầy tớ của lão, thấy lão vào công đường, kiếm cớ lẩn tránh, lảng đi chỗ khác. Lão chỉ thấy xung quanh tường lố nhố toàn lính, súng ống nghiêm chỉnh. Hai môi thâm sì lắp bắp, mồm há hốc, lão ngó thấy Vương hổ tướng cặp lông mày đen rậm ríu xuống, uy phong lẫm liệt. Ngồi cạnh bên chàng, có một mụ đàn bà, trông cũng đanh thép lắm, mụ này lão chưa biết bao giờ, lão không hiểu ở đâu lại hiện về cả đây. Lão đứng yên, người run bắn, có lẽ đến chết ngất. Lão, một nhà nho, tính nhút nhát, một môn đồ của Khổng giáo. Với một giọng rắn rỏi, nghiêm khắc, kém phần lễ độ, Vương hổ tướng nói:

– Tính mạng ông hiện nay ở trong tay tôi, ông phải triệt để tuân theo mệnh lệnh của tôi, nếu ý ông còn muốn sinh sống ở trong hạt này. Mai tôi cất quân đi nghênh chiến đạo quân ở trên tỉnh kéo xuống, ông phải đi theo chúng tôi. Khi giáp đạo quân đó, ông sẽ lên trước với hai người thủ hạ tâm phúc của tôi, tiếp xúc với viên tướng trên tỉnh. Ông sẽ nói với hắn đại ý ông đã lưu dụng tôi để bảo vệ an ninh trong hạt, tôi đã cứu tử ông trong một cuộc âm mưu bạo động của tên tướng già, tôi ở hạt này là hoàn toàn do ở ý ông lựa chọn tuyển dụng. Hai người thủ hạ tâm phúc của tôi, đi kèm ông, sẽ thị chứng lời ông khai, nếu ông nói sai một câu, ông sẽ bỏ mạng. Nếu ông làm đúng như lời tôi chỉ thị, ông sẽ trở về đây, với chức vụ cũ, tôi sẽ bảo toàn danh dự cho ông. Ông không cần thắc mắc biết ai cầm quyền, cai quản ở đây, tôi nói thật ông rõ ý tôi không muốn tranh giành hay đã mãn nguyện làm một tên Tri phủ quèn hay kiếm người khác hất cẳng ông, ông sẽ ngồi yên ở hạt này.

Ông già không còn cách gì hơn là cam đoan xin tuân theo đúng, ông rên rỉ nói:

– Mạng tôi như treo trên mũi dáo tướng quân. Vâng, tôi xin nói đúng như lời tướng quân bảo. Tôi già nua, ốm yếu, con cái không có, đời tôi thế nào cũng được.

Lão Phủ nói xong đi ra, kéo lê gót giày, lẩy bẩy trở về gian phòng với bà vợ già. Bà vợ như người cấm cung không bao giờ thấy ra khỏi phòng. Sự thực đôi vợ chồng già này không có con cái gì, trước kia có sinh được hai đứa con nhưng chưa bập bẹ nói được đã lăn ra chết cả. Theo kế hoạch dự tính, việc đó có tựu thành hay không chưa ai biết, nhưng vận mạng Vương hổ tướng một lần nữa lại được thoát hiểm.

Hồi đó vào giữa tiết xuân ấm áp, vạn vật khoe tươi, câycối đâm chồi nảy lộc, mùa hoa đào sớm nở đã đỏ ối các cây. Nông dân trút bỏ bộ quần áo nặng trịch của mùa đông tháng giá, khoan khoái mình trần làm việc đồng áng, gió xuân hây hẩy, ánh nắng dịu dàng của tiết xuân êm dịu. Các ông lãnh chúa như vừa bừng thức dậy, muôn vật như đầy thêm sinh lực. Lòng hiếu chiến của các ông tướng cũng như thức tỉnh, những nỗi bất hòa, những điểm dị đồng xưa kia, các ông muốn đem nhau ra thanh toán, ông nào cũng có kỳ vọng thôn chiếm thêm đất đai trong mùa xuân mới.

Hồi đó chủ quyền trong nước tập trung trong tay một người yếu đuối, ươn hèn, nhiều ông Tướng vẫn dòm ngó chức tối cao đó với con mắt thèm thuồng, kỳ vọng đạt được chí nguyện. Trên con đường phiêu lưu, mạo hiểm, họ đã gặp nhau, đã kết liên cùng nhau, bàn soạn, mưu tính lật đổ con người ngu dốt yếu hèn của kẻ khác đặt lên. Họ sẽ tôn người  khác lên thay thế, người này là người của họ lựa chọn để làm hậu thuẫn cho họ.

Trong bọn các ông lãnh chúa, Vương hổ tướng đứng vào hạng chót, ít người biết đến tiếng tăm chàng, chỉ trong các cuộc hội họp ăn uống, chơi bời bọn quân nhân chuyện phiếm với nhau, anh nọ hỏi anh kia. Bác có nghe nói có một anh đội trưởng trước kia phục vụ cho một lão tướng, hắn trốn bỏ lão này, đi lập vị trí ở một tỉnh nào. Thấy họ đồn thằng cha ấy cũng vào tay hảo hán, có khí phách, họ gọi là hổ tướng, vì tướng mạo dữ tợn, bộ long mày đen rậm, tính nết hung hăng nóng nảy. Ông lãnh chúa có thế lực nhất ở cùng một tỉnh mà hiện nay Vương hổ tướng đang đóng quân. Ông ta có nghe nói đến chàng, nghe đồn chàng đã hạ được Tám Beo, ông ta rất khâm phục tán thưởng tác động của chàng.

Tướng đó là một trong những đại tướng có uy danh, thế lực nhất trong nước, có tư tưởng lật đổ chính thể hiện tại, phế bỏ vị quốc trưởng yếu hèn, muốn lên thay thế nắm chính quyền hay đặt người của hắn lên, nghĩa là muốn nắm trong  tay tất cả quyền hành, thu thập hết tài nguyên trong nước.

Suốt mùa xuân năm đó, những tư tưởng quá khích đột khởi khắp nơi, những kỳ vọng cũng được kết bông nẩy nở. Vị tướng đó cho dán khắp nơi, ở cổng tỉnh, trên các bức tường nhà, tất cả các nơi có đông người qua lại, một bản tuyên cáo với quốc dân. Trong bản tuyên cáo vạch rõ sự yếu hèn của vị quốc trưởng, chính sách hà khắc, đè nén, dân chúng phẫn uất. Thuận theo lẽ trời, những tội ác đó không thể để kéo dài mãi được. Tuy tài hèn, sức yếu, ông cũng cố đảm nhận trọng trách ra cứu dân, cứu nước. Bản tuyên cáo đã thảo xong, dán khắp nơi, bây giờ ông lo sửa soạn việc chiến tranh.

Còn đám dân đen, một phần lớn mù chữ, không biết họ có một vị cứu tinh, họ chỉ rền rĩ than vãn những thuế mới đặt thêm về ruộng nương, nhà cửa, thóc lúa, hàng hóa …

Những tiếng than phiền, rên la, đến tai các thám tử của viên tướng đó, bọn này sấn sổ bảo họ:

– Các ngươi thật vô ơn, bạc nghĩa, không còn hiểu gì,  người ta đánh thuế cũng vì các ngươi, để có tiền lo công việccho các ngươi.

Tuy than vãn, dân vẫn ngoan ngoãn nai lưng, đóng góp vì họ sợ hoặc ông tướng bất mãn nổi xung lên hay ông tướng mới, biết đâu chẳng bóp nặn đến xương tủy. Chương trình đã hoạch định, chí đã cương quyết, ông tướng này kết liên với các ông tướng nhỏ, nên khi nghe nói đến tin đồn về cuộc âm mưu phản nghịch của Vương hồ tướng ông có nói với viên Tổng đốc:

– Ông không nên quá khắc nghiệt với viên tướng mới này, nghe đâu tên hắn là Vương hổ tướng, tính nóng như lửa, hung hăng dữ tợn. Hiện nay tôi cần những hạng này để phục vụ dưới trướng. Có lẽ mùa xuân năm nay hay sang năm, quốc gia sẽ bị nạn Nam Bắc phân tranh, các ông tướng trên đánh xuống, các ông tướng dưới đánh lên. Đối với viên tướng mới này cũng nên dè dặt, châm chước.

Thói thường ai cũng nói ở trong nước các võ quan phải trực thuộc quyền sử dụng của văn quan, những nhà trực tiếp cai trị dân, nhưng thực tế đã rõ ràng chứng tỏ quyền bính ở cả trong tay người quân nhân có vũ khí. Thử hỏi một

người không có một tấc sắt trong tay, dù có quyền hành có dám chống đối với một người có vũ khí, có binh lực trong tay không?

Nên chăng mùa xuân năm đó Vương hổ tướng đã may mắn thoát hiểm một lần nữa, tránh được can qua. Khi đạo quân của chính phủ rầm rộ kéo xuống, Vương hổ tướng cũng lục tục đem quân bản bộ ra dàn thế trận, để lão Phủ ngồi võng cho tụi lính khênh đi trước. Khi bọn này đến chỗ giáp ranh giới, lão Phủ xuống võng, hai anh lính tâm phúc của chàng sát nách kèm hai bên, lão mặc triều phục, cấp bậc tri phủ, loạng choạng đi trong gió bụi trên con đường làng. Ông tướng trên tỉnh, tiến lên gặp lão. Sau thủ tục nghi lễ, xã giao, với một giọng run run ngập ngừng lão Phủ nói:

– Có lẽ tướng quân lầm chăng, Vương hổ tướng không phải là một tên côn đồ đạo tặc, hắn là một quân nhân, một tướng lãnh, trẻ trung, trực thuộc của thiểm chức. Hắn có bổn phận bảo vệ an ninh thiểm hạt và đã có công giúp thiểm chức thoát hiểm trong một cuộc bạo động vừa mới xảy ra ở thiểm đường.

Tuy viên tướng ở tỉnh không tin những lời khai của lão Phủ, vì đã có mật báo của thám tử, song lúc cất quân đã có chỉ thị của thượng cấp không nên gây chiến, không nên phí phạm sinh mệnh, lúc này rất cần nhiều súng ống cho thế trận đại qui mô sau này. Nên khi nghe lão Phủ nói, hắn chỉ khiển trách nhẹ nhàng:

– Đáng lẽ quý Phủ phải tường trình ngay cho tiện tướng biết, đỡ tốn cho công nho, tốn phí rất nhiều, đem bao nhiêu binh mã tưởng để nghiêm trị một loạn tặc. Nay tiện tướng đề nghị quý Phủ phải trả một số bạc là mười ngàn nén để đài thọ tổn phí cho cuộc xuất quân vô ích này.

Khi Vương hổ tướng biết cuộc chinh phạt trên kết thúc chỉ có thế, chàng rất mừng rỡ, kéo quân bản bộ về bản trại, ca khúc khải hoàn. Để có tiền mười ngàn nén bạc nộp phạt, chàng ra lệnh phụ thu thuế đánh vào muối sản xuất trong hạt. Trong vòng chưa đầy hai tháng chàng đã có dư số tiền  nộp phạt. Ở hạt chàng đóng quân, sản xuất ra nhiều muối,đem bán khắp nơi, có người nói còn xuất cảng ra ngoại quốc. Mọi việc được thu xếp, ổn định, không hao tốn một viên đạn, một tên quân, quyền hành Vương hổ tướng mỗi ngày mỗi mạnh. Chàng nghĩ cũng là nhờ được xảo kế, khôn ngoan của cô vợ, chàng lại càng thêm kính phục, quí trọng nàng hơn trước. Tuy nhiên chàng vẫn thắc mắc không hiểu nàng là ai, vẫn hay tình chăn gối rất mặn nồng, tha thiết, chàng vẫn luẩn quẩn trong óc muốn biết lai lịch, dĩ vãng nàng. Mỗi lần chàng ướm hỏi, nàng lại tìm cách lảng, lúc nào cũng một câu:

– Lai lịch em dài lắm, để khi nào rỗi rãi, mùa rét sang năm em sẽ kể anh nghe. Bây giờ anh nên để ý chăm lo việc quân cơ, binh đao nổi dậy bốn phương. Giờ đây tiết xuân ấm áp, anh nên lo gây thanh thế, không nên nghĩ chuyện vẩn vơ không ích gì.

Vương hổ tướng cũng công nhận lời nàng nói có lý. Mùa xuân năm đó, khắp nước chỗ nào cũng xôn xao bàn tán có cuộc sát phạt rất lớn giữa các ông lãnh chúa, một thế trận to lắm, mười năm nay chưa từng thấy có. Dân chúng ngơ ngác, lo sợ, không biết tai họa ở đâu sẽ đến, ở phía này hay phía kia. Nhưng có ruộng đất vẫn phải làm, nông dân vẫn lo cày bừa chăm nom đồng áng, trên tỉnh các hiệu buôn vẫn mở cửa buôn bán, vì dù sao chăng nữa họ vẫn phải sống, vẫn phải nuôi nấng con cái. Dân chúng vẫn phải làm để kiếm cơm ăn, tuy nhiên vẫn nơm nớp không biết tai họa rồi đây sẽ ra sao.

Trong hạt này dân chúng đều quay cả theo Vương hổ  tướng, chàng công khai cầm quyền cai trị dân, thuế má, dânđóng góp chính tay chàng thâu. Tuy lão Phủ vẫn còn đó, đại  diện cho chính quyền, nhưng thực ra mọi quyền hành, côngviệc trong ngoài đều do chàng định đoạt. Khi xử kiện Vương hổ tướng bắc ghế ngồi bên tay mặt lão Phủ, khi nào nghị án, lão Phủ hỏi ý kiến chàng, những tiền phải trả bọn đề lại, bây giờ qua tay chàng và bọn thủ túc của chàng. Tính cương trực của chàng lúc nào cũng thế, chỉ lấy tiền của hạng giàu có, còn ai nghèo túng chàng cho tự do bào chữa. Bọn nghèo khó rất hâm mộ, cảm mến chính sách của chàng. Mùa xuân năm đó dân chúng trong hạt ai cũng nóng lòng xem thái độ chàng ra sao, họ biết nếu chàng dự vào cuộc đại chiến, chàng phải tăng quân số trang bị súng ống cho binh đội. Vương hổ tướng tính toán kỹ lắm, có khi ngồi một mình trầm ngâm suy nghĩ, có khi bàn với cô vợ, có khi thảo luận với bọn thủ túc nhưng vẫn chưa quyết định được nên vào bè, vào phe với bên nào mà chắc chắn có lợi. Ông Tướng trên tỉnh đã gửi những bản hiệu triệu cho tất cả các tướng lãnh lớn nhỏ ở rải rác khắp nơi, trong tờ hiệu triệu có câu này:

“… Hỡi các tướng lãnh, giờ khởi sự đã điểm, các tướng nên đem hết quân bản bộ, vũ khí, đến tập hợp ở thiểm doanh để cùng nhau định ngày xuất phát …”

Vương hổ tướng lưỡng lự không biết có nên hưởng ứng lời hiệu triệu đó không? Chàng nghĩ vừa mới lập được chút cơ sở, có chút địa vị, nếu hưởng ứng lời kêu gọi, lỡ ra thua thì sẽ mất hết. Chưa hiểu mạnh, yếu thế nào nên cho thám tử đi dò la tin tức xem hư thực ra sao. Trong khi tung thám tử dò xét, chàng giữ thái độ trung lập, chờ hai bên đánh nhau chán, khi biết chắc chắn phần thắng về ai, chàng sẽ nhảy vào vòng chiến, như thế dính máu ăn phần, chàng không mất một tên quân, thiệt một viên đạn. Nghĩ thế, chàng đem thi hành ý định và hãy tạm chờ trong ít lâu rồi sẽ nghiêng ngả về phe nào.

Đến đêm, chàng dốc bầu tâm sự với cô vợ. Ái tình và khát vọng, hai thứ đó của chàng như mật thiết, khăng khít cùng nhau. Chàng nằm tỉ tê chuyện trò với vợ, thổ lộ hết những kế hoạch, những kỳ vọng của chàng, cuối cùng có câu này:

– Anh yêu em mãi, khi nào em có con trai, đứa hài nhi đó là kết tinh cuộc luyến ái của chúng ta.

Không bao giờ nàng hưởng ứng, nối lời câu chàng nói đó, nếu chàng cứ lải nhải nói mãi, nàng phát cáu, nói lảng sang chuyện vụn vặt hàng ngày; để đánh trống lấp nàng nói:

– Anh đã thảo xong kế hoạch cho thế trận sau này chưa?

Thường thường nàng hay nói mưu cơ là lợi khí nhất của chiến thuật, mà chiến trận có lợi nhất là trận kết thúc, nó vừa chóng vừa chắc ăn. Về vấn đề tình ái, chàng cũng nhận nàng cũng không lãnh đạm lắm, còn chàng, lòng dục vọng, lửa tình ái như ngùn ngụt bốc cháy. Suốt mùa xuân năm đó chàng ở trong tình trạng chờ thời, giá vào lúc khác, không có cô vợ mới cưới, phải chờ lâu chàng chịu không nổi.

Mùa hạ đã đến, lúa mạch ngoài đồng chín, đã được gặt, trong các thung lũng tiếng đòn va chạm, tiếng gánh lúa kĩu kịt vang động dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè. Trong ruộng lúa, những cây lúa miến cao lêu nghêu, bông lúa nặng trĩu.

Trong khi Vương hổ tướng ở trong tình trạng chờ thời chiến tranh phát khởi khắp nơi, chàng được tin ở Nam cũng như ở Bắc các ông lãnh chúa kết liên với nhau, chàng cầutrời cho bọn quân phiệt miền Nam đừng có thắng. Chàng nghĩ, nếu phải hợp tác với bọn này chàng ghê tởm nhất những hạng bé loắt choắt nước da ngăm ngăm, người khẳng khiu, nếu Nam mà thắng có lẽ chàng phải lên núi ẩn náu để chờ một thời cơ khác. Chưa biết sẽ ngả theo phe nào, chàng  cũng hoạt động, đem binh đội ra rèn luyện, tăng cường quânsố, thu nạp những thanh niên trai tráng, tuyển mộ tân binh, thải bọn già nua, ốm yếu, quân số lên đến mười ngàn người. Để đài thọ tổn phí một binh đoàn lớn, chàng đánh thêm thuế vào rượu, muối và những phường buôn qua lại trong hạt. Hồi đó, chàng có một điều rất băn khoăn là vấn đề súng, chàng không đủ thứ vũ khí đó cho binh đội, suy đi nghĩ lại chỉ có hai cách: một là phải dùng quỷ kế, hai là gây chiến đánh bại một tên trùm lâu la nào quanh đó để chiếm đoạt vũ khí và đạn dược. Sự khan hiếm thứ vũ khí đó là nguyên do thứ hàng này chế tạo ở ngoại quốc, rất khó nhập được. Vương hổ tướng trước kia không lo xa đến vấn đề này đã chọn trong nội địa đặt căn cứ, doanh trại. Trong địa giới thuộc phạm vi chàng cai trị không có hải khẩu, mà những miền về duyên hải sự canh phòng rất nghiêm ngặt, khó tải lậu được súng ống, đạn dược. Vả chăng chàng không biết ngoại ngữ, trong bọn thủ hạ cũng không ai biết một thứ tiếng ngoại quốc nào, như thế không thể nào giao dịch, buôn bán, đổi chác với nhà buôn ngoại quốc. Vấn đề thật nan giải, sau này thế nào cũng có trận mạc, giao phong mà số lớn binh sĩ thiếu hẳn thứ vũ khí này.

Một đêm chàng đem vấn đề đó ra nói chuyện với vợ, nàng chăm chú để ý nghe chàng nói. Thường thường nàng thờ ơ công việc của chàng, những chuyện vẩn vơ nhiều khi nàng không buồn nghe. Nàng suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Em nghe như anh có một người anh ruột đi buôn thì phải?

Vương hổ tướng sửng sốt trả lời:

– Có, anh ấy buôn thóc.

– Được lắm, thế anh vẫn chưa hiểu à (nàng cất giọng to, nói)? Nếu hắn là nhà buôn, thì buôn gì chẳng được, cứ gì thóc với lúa. Hắn sẽ mua súng cho anh, hắn sẽ tìm cách tải lậu cho anh, nhà buôn họ có nhiều mánh khóe, mình sao hiểu được.

Vương hổ tướng nghe vợ bày mưu tính kế, chàng tự nghĩ mình còn khờ khạo lắm, thấp mưu thua trí đàn bà, nàng này thật khôn ngoan, tinh quái, chàng theo y kế thi hành. Sáng hôm sau chàng cho gọi thằng Rỗ lại, thằng này bây giờ coi đã lớn hẳn, chàng vẫn dùng nó để sai vặt. Chàng  bảo cháu:

– Tao có một việc, mày về quê bảo ba mày, nghe không?

Nhưng làm như về chơi nhà, khi nào không có ai, mày sẽ bảo ba mày tao cần dùng 3000 khẩu súng, tao đây đang lúng túng về vấn đề đó, nghe không? Người thì sẵn, súng ống không có cũng vô ích. Mày nhớ bảo ba mày rằng là nhà buôn ba mày có thể giao dịch với tàu bè ngoại quốc, ba mày liệu kiếm cách gì tải lậu cho tao, nghe không? Tao sai mày đi là vì việc này tối mật, mày là người máu mủ, ruột thịt tao mới dám giao phó, nghe chưa?

Thằng bé nghe nói được về nhà sướng quá, nó cam đoan xin giữ hoàn toàn bí mật, có ý dương dương tự đắc vì được chú sai đi công cán.  Thằng cháu ra đi, chú ở nhà chờ xem kết quả ra sao,trong khi đó có nhiều người đến xin tình nguyện phục vụ dưới trướng, chàng tuyển lựa rất kỹ càng, cần nhất chọn lọc những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Mô Phật

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

Photo of Sơn râu

Lên năm thứ hai, lớp tôi có được một người mẫu mới. Một người con gái. Án chừng hai mươi bốn hai mươi lăm, và như thế chị ấy lớn tuổi hơn bọn tôi. Chị còn trẻ, rất trẻ, nhưng nhìn chị, không là thầy bói, tôi vẫn biết người ấy có một cuộc sống chẳng mấy vui. Điều gì đó hiển hiện quanh người chị, bao phủ lên, tác động rõ trên gương mặt làm kẻ ngắm nhìn phải bật ra một nhận xét ban đầu: Buồn.

Tôi chưa là họa sĩ, tôi còn là sinh viên trường Mỹ thuật. Phải thêm ba năm nữa mới thi tốt nghiệp. Và từ gĩa ngôi trường cổ kính ấy, không chắc tất cả học viên đều trở thành họa sĩ. Khi ngó sâu vào đôi mắt chị, ngắm trọn vẹn khuôn mặt có hơi gầy kia, tôi biết sẽ khó mà lột tả, vẽ lên mặt giấy cái hư hao phiền muộn luôn ám trên dung nhan kia. Nhưng giờ hình họa của bọn tôi chỉ đặt nặng ở phần tổng thể. Chị sẽ ngồi trên bục, giữa căn phòng luôn đóng kín cửa. Tùy góc cạnh khi dựng giá vẽ, bạn sẽ tóm gọn cái nhân dáng kia, cân đối, hoàn chỉnh, đặt giữa khung giấy hình chữ nhật. Khi đo đạc, bạn sẽ dùng cái đầu người mẫu làm đơn vị chuẩn. Chị ấy không cao, khoảng một thước sáu hai, từ đỉnh đầu tới gót chân sẽ cho ra một kết qủa: dài 6 đầu rưỡi nếu đứng thẳng.

Giống như một lề luật chẳng cần soạn thảo, người mẫu mới sẽ không khỏa thân toàn phần thời gian đầu. Chị ấy tần ngần cởi áo, rụt rè cởi quần, ái ngại ngồi xuống chiếc ghế đã được định vị đánh dấu bằng phấn trắng. Đồ lót chị dùng có vẻ như hàng nội địa, thô, dày, rẻ tiền; nói chung là xấu. Tựa như ta dùng kéo để cắt cụt cái quần đùi, xẻo bớt cái áo thun. Mặc nó chắc không có cảm giác thoải mái dễ chịu. Nhưng cởi nó ra, trước mười lăm cặp mắt luôn nheo luôn ngó luôn tọc mạch luôn muốn lột truồng sự vật, e sẽ mang cái cảm tưởng mình đang bị tra tấn. Yêu cầu đặt ra: Ngồi yên càng lâu càng tốt, tối thiểu thì mười lăm phút. Ngạc nhiên thay, chị ngồi không cục cựa gần cả nửa giờ. Ngồi chẳng vọng động, hơn cả thiền giả. Bởi vì ngồi im re và phơi bày ở dáng vẻ một sự cam chịu, nhẫn nại trong câm lặng.

Mùa đông ở Huế, không nói bạn cũng mường tượng ra được cái tái tê kì lạ của nó. Không gian luôn ẩm thấp, gió luôn xao động trên hàng lá cây mù u cây nhãn cây bàng cây phượng cây sầu đông mọc suốt chiều dài con đường bên ngoài cổng trường. Tất cả chúng đều loáng ướt, sụt sùi, run rẩy. Màu trời thì âm u, ẩm đục, ám tối. Nó xuống thấp để nuốt chửng hình dáng lá cờ treo rủ trên đỉnh cột. Tôi luôn để ý đến cái xô sắt dùng đựng than. Tôi sẽ quạt, thổi, để nó cháy lên những ngọn lửa nhỏ bé hầu giúp chị ấy chống đỡ cái lạnh chút nào hay chút đó. Cái “máy sưởi” kì quái ấy đặt cạnh chỗ chị và nó có vẻ yếu đuối luôn để cho heo may hàn khí trấn áp. Da chị tái xanh, vú chị có lẽ sẽ đang thu nhỏ lại với da nổi hột. Mắt chị đặt để vào khoảng không, đâu đó ở góc phòng. Thỉnh thoảng tia nhìn quét vội ngang tôi. Chẳng lâu, nhưng tôi cũng cảm nhận được nó ngầm nhắn gửi một lời cám ơn.

Một hôm, khi lên văn phòng để ký nhận tiền học bổng, tôi thấy chị cũng đứng đợi lãnh tiền. Người thư ký phụ trách gọi tên và đó là lần đầu tôi biết cô người mẫu luôn rụt rè kia mang tên Hoa. Không dọ hỏi, nhưng tôi hình dung được số tiền khiêm nhường mà chị sẽ nhận cho công việc làm người mẫu. Tôi lấy xe đạp rón rén bên chị và mạnh dạn đưa ra lời đề nghị:

– Chị đi mô, tôi sẽ chở. Về nhà hay ghé chợ?

– Đừng… Không đi chợ. Mà nhà thì ở chỗ xa lắm.

Trời thương, trời tạnh, trời không mưa. Nếu mưa tôi sẽ bỏ mặc chị. Trời chẳng nắng, nhưng khô ráo. Thứ thời tiết khiến người ta thèm ngồi cùng nhau bên cốc cà phê, nhất là người ta đang có rủng rỉnh chút tiền trong túi.

– Không chợ mà chẳng nhà, như rứa là chị rảnh. Cứ leo lên đi, tụi mình tìm quán cà phê. Chị Hoa tính sao?

Hoa không biết tính làm răng. Tôi nghĩ vậy. Dùng dằng nửa muốn nửa không. Tôi đoán thế.

– Một người đi bộ, một đứa đạp xe quờ quạng bên hông. Có phí cả một buổi chiều không?

– Uống cà phê để làm gì?

Từ nhỏ tới lớn, tôi chưa bao giờ đón nghe một câu hỏi kì cục như vậy. Ở lớp mẫu giáo, có thể nghe hỏi: Ăn cơm để làm gì? Dạ thưa cô, ăn cơm để sống.

– Không cứ là cà phê, uống thứ khác cũng được. Người ta vào quán vì khung cảnh ở đó có vẻ hợp cho những tâm sự.

– Nếu chẳng có tâm sự thì vào đó có phí không?

– Không phí. Tuyệt đối không.

Mái tóc làm che gương mặt. Một cái đầu luôn cúi gầm khi bước, làm như con đường nhiều chông gai, sợ chân dẫm phải. Và sau cùng cái đầu ấy gật nhẹ. Tôi để Hoa toàn quyền lựa chọn địa điểm. Hoa chẳng nặng, tôi chẳng nhọc khi thồ cái nhân dáng tôi vẽ cả mấy chục lần. Nhắm mắt, tôi có thể mường tượng ra vị trí những nốt ruồi ẩn hiện thầm kín trên da thịt Hoa. Tôi đã dời đổi giá vẽ ở đủ mọi góc cạnh. Tôi đã “ăn tươi nuốt sống” cơ thể Hoa từ trước ra sau. Tôi ngủ, vắng những mộng mơ. Thảng hoặc, chiêm bao rất đỗi ngắn ngủi sật sừ: Tôi ôm Hoa ghì môi hôn đứng trên ngọn đồi trọc, cỏ cây cằn cỗi và ở đường chân trời thì sắc sảo một nhát cọ đỏ bệt ngang, chảy máu.

2. Tựa vết dầu đang chảy loang, người ta đồng loạt bỏ chạy, tôi cũng chạy. Người ta hốt hoảng, tôi cũng mặt cắt chẳng còn giọt máu. Người ta bồng bế nhau chất chồng lên xe đò, tôi vác mạng không bám đu như thằng lơ xe chính hiệu: Tới luôn bác tài! Người ta khản tiếng ơi ới gọi nhau xa bầy lẻ bạn, tôi ngậm câm lòng rất chật những hoang mang. Người ta ngó lui, như ngó những cột mốc kỉ niệm đang gắn xuống Quốc lộ 1. Huế ơi, tạm biệt hay vĩnh biệt? Tôi cũng ngó lui, “tha hồ mây trắng bay”!

Vào Đà-nẵng tôi ở đậu nhà bà con, đường Hùng Vương, gần chợ Cồn. Tôi hay ra ngồi quán cóc ở lề đường ngó sự hỗn loạn luôn thay đổi bộ mặt quanh chỗ ngồi thường trực những tiếng động điếc con ráy. Tôi ngồi như một kẻ bị chứng bệnh mộng du. Trầm kha, nhợt nhạt. Tôi ngồi, tôi uống cà phê bít tất, uống nước trà nguội, uống câu giờ tựa kẻ dọn lòng chờ đợi một biến cố. Tôi ngồi, như bức phù điêu đang hồi ẩn hiện rêu xanh. Ba hồn chín viá lộn lui khi tai vọng dội tiếng ai vừa gọi tên tôi, mơ hồ. Đã ba ngày vất vưởng, giờ mới có người nhận diện. Giọng vỡ ra, ôi êm ả biết dường nào!

– Nghiêm, vô đây khi mô?

Tôi hoàn hồn và tôi chết điếng. Đứng rất sát, rất gần, rất kề cận bên tôi là Hoa. Hoa của một áo quần lụa là có phần tươm tất. Hoa của một che đậy kín đáo giữa chốn ta bà. Gần quá, tôi rất muốn ôm Hoa, đưa tay ra là đụng phải, để hiểu, hoàn toàn nó không là ảo ảnh.

– Vô đã ba ngày. Đã ba ngày, cứ ngồi như ri đây!

– Nói nghe thảm. Uống thêm ly cà phê nữa hí? Hoa đãi.

Tôi đùa: Uống cà phê để làm gì? Hoa mắng: Con khỉ. Hoa ngồi xuống ghế đẩu, sát tôi. Lưng dựa vào tường một công sở đã di tản nhân viên, cửa đóng then cài chờ người đến cạy, hôi của. Tôi ngửi được mùi một hương hoa. Có thể Hoa vừa gội đầu xong, hoặc thứ mùi đó từ cơ thể, từ nách Hoa phát tiết ra. Tôi không biết. Tôi u mê ám chướng. Tôi vẫn luôn là đứa con trai lạc loài. Hoa vuốt tóc tôi, ngó tôi lâu, rồi bình phẩm: Hốc hác quá!

Hoa dắt tôi về chỗ Hoa ở, đâu đó gần cầu Vồng. Lối đi quanh co, con nít mình trần đứng đầy đường với bụi vàng đất cát. Nhà nhỏ, những phòng không gắn cửa, lay động ở đó là tấm vải buông rủ làm màn. Hoa vén màn, phòng kê chiếc giường, thêm cái tủ nhỏ, sít sao, vừa đủ diện tích. Muốn ngồi, chỉ có giường là nơi đặt đít. Giường trải chiếu, một chữ Phúc in lem nhem nằm chật chội trong vòng tròn. Chữ Phúc bốc mùi, không là mùi của ẩm mục thiếu nắng mốc meo. Một đứa bé chạy ào vào, hộc tốc. Môi khô, hơi thở gấp: “Chị Lệ, chị Lệ… có khách đợi”. Hoa ngó tôi, Hoa dùng tay đẩy thằng nhỏ ra khỏi phòng: “Em nói lại với họ là bữa ni chị không đi. Chị bị cảm, nhức đầu chóng mặt, buồn nôn. Hiểu không? Mai mốt hẳn tính”. Hoa trút bỏ áo quần. Tôi quen thuộc với cơ thể ấy, nhưng vùng kín đáo của Hoa là nơi chưa một thằng sinh viên mỹ thuật nào được ngắm nhìn, ngoại trừ tôi, hôm nay.

– Để Hoa chỉ cho xem cái ni.

Hoa kéo tấm màn. Phiá sau, dán trên ô kính cửa sổ là tấm giấy cứng vẽ hình một thiếu nữ mặc đồ lót ngồi trên ghế. Bản vẽ vụng, chẳng mấy đẹp kia có viết tên tôi bên dưới. Đó là bài làm cách đây đã hai tháng và bài tập ấy mang điểm B. Tôi ngây mặt ra. Hoa kéo tôi đi từ ngờ vực này đến ngạc nhiên khác. Khi chạy trốn, tôi chỉ mang theo cái mong manh của một phận người. Đã di tản, sao Hoa còn nhọc lòng toan tính, ôm đồm mang theo đồ đoàn những thứ vô bổ?

– Không biết nữa. Hoa nói với người trưởng lớp, xin bức này để làm kỉ niệm. Mỗi tối, trước khi ngủ, Hoa đều ngắm nó khoảng năm phút. Hoa tự hỏi: Bao lâu nữa thì mình sẽ tàn tạ, chẳng còn được như trong tranh?

Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buối chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.

3. Có thể, tôi chấm dứt chuyện kể ngang đây. Nhưng còn điều này tôi muốn thưa thêm: Cách đây hai tuần, người bạn cũ, một họa sĩ tự do đang sống ở Huế, có viết trong email: “… mày còn nhớ cô người mẫu 6 đầu rưỡi năm xưa không? Người đẹp đang là ni cô, mặc nâu sòng lam lũ, mùa lụt bão vừa rồi, em làm việc thiện phân phát thực phẩm giúp đỡ những kẻ bất hạnh…” Lúc đó, tôi đã ngồi nhắm mắt lại trước màn hình rất lâu. Tai tôi như nghe được giọng nói nhỏ nhẹ của Hoa hôm nào, một ngày của quá vãng: Tên hai đứa mình ghép lại sẽ tựa như tên một cuốn kinh: Hoa Nghiêm.

Phải, tôi nhắm mắt ngồi rất lâu. Lâu gần bằng một mộng mị khi thiếp ngủ. Tôi tắt computer. Tôi đi đốt thắp một cây hương. Tôi cúi đầu: Mô Phật!

Hồ Đình Nghiêm

Tháng Chín mưa trên ngọn hải đào

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on September 8th, 2022

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

Image from the Net collected by Sơn râu

Những cơn mưa đầu mùa đã rơi xuống thành phố, rừng cây, nội cỏ của xứ Texas. Ở đây, mưa thường đi liền với sấm sét và gió lớn. Chỉ tội những hàng hải đào (crepe myrtle) phải vật vã, để rụng đi những chùm bông đỏ ối.

Mưa tháng Chín. Những cơn mưa đầu thu dễ làm tâm hồn chùng xuống. Cũng như bầu trời nhiều mây xám xui lòng tôi tưởng tới bầu trời của tuổi mới lớn ở nơi kia. Ðó là một xóm ven sông ở Vỹ Dạ Huế, tôi gọi là Vương Phủ, có những cây bàng, vườn nhãn, bãi ngô và khoai sắn. Có nắng hạ, có mưa thu. Có những người bạn hiền lâu rồi chưa gặp lại. Tất cả đã về đâu…

Bây giờ là tháng Chín. Mùa tựu trường. Thuở ấy những chàng trai những cô gái mới lớn lòng rộn rã biết bao khi ngày đầu niên học đến. Quần áo thẳng nếp, sách vở mới, nón mới. Tâm hồn cũng mới tinh, rộng mở. Thuở ấy, chưa biết tới thất vọng hoặc nỗi buồn. Dù là đi dưới nắng hè hoặc mưa thu lòng cũng phơi phới. Rồi những mo cơm mẹ bới cho đem theo đến trường. Rồi những đêm học bài dưới ngọn đèn dầu trong khi mưa thu rơi lộp bộp trên tàu chuối, giàn dưa, giàn đậu. Trong giấc mơ, đôi khi đôi mắt “cô hàng xóm nhỏ chớm si mê”* hiện về. Và rồi người ta bắt đầu làm thơ.

Tranh Đinh Cường

Nhớ ơi là nhớ. Mưa thu tháng Chín gợi nhớ đã đành nhưng còn những thứ khác nữa cũng khiến dạ bồi hồi. Chẳng hạn vừa đọc lại bài thơ Vương Phủ của Dao Ca: Thời gian / Những ngọn đèn mở mắt / Tôi qua Vương Phủ / Mười năm / Hồn còn soi đầu ngọn liễu / Với gốc bàng / Gió trên cao lay đỏ / Lựu bên tường sẫm ngói âm dương /… Cô gái Vương Phủ / Da thịt ánh trăng / Nửa đêm tắm trần dưới cây mận… Với Dạ Khê… một hôm, qua điện thoại đường dài, Dạ Khê -trang tú nữ một thời ấy- hỏi có phải hồi xưa anh cũng thường xuống tắm ở bến nhà mình không. Ôi chao… Cái thuở còn mặc quần xà lỏn đầu cạo trọc ấy, những trưa ui ui những chiều nắng đỏ, cùng với mấy gã cousins đồng trang lứa, vẫn thường tắm ở những bến sông Vương Phủ và thỉnh thoảng còn lội qua bên kia Cồn Hến bẻ trộm bắp. Xa lắm rồi, đâu có ai được tắm lại lần thứ hai cùng trong dòng nước ở một bến sông. Phải không các bạn?

Những giọt mưa rơi trên ngọn hải đào gợi nhớ đến nhiều bạn bè đã ra đi. Lê Uyên Phương. Anh đi như vậy là đã ngoài hai mươi năm. Còn nhớ, lúc bấy giờ hải đào nở đỏ khắp những con đường của thành phố Garland, Texas. Không hiểu sao nhìn những chùm bông hải đào rụng bay trong gió lại nghĩ tới tiếng đàn của anh, tiếng đàn từ cây guitar thùng quen thuộc. Người nghe nhạc trong suốt mấy chục năm, từ quê nhà ra tới hải ngoại, đã tìm thấy ở tiếng đàn thùng và giọng hát của anh cùng Lê Uyên những âm vang quen thuộc gắn liền với kỷ niệm và những con đường đã đi qua. Anh là một trong những người viết ca khúc hay nhất của Miền Nam mà chúng ta có được. Ca khúc của anh -tình ca của đôi lứa ở những quán cà phê, những sân ga, phi cảng, những thành phố của người, và mây… -mãi mãi còn được hát lên đâu đó khi những người trẻ tuổi (cả những người không còn trẻ nữa) có dịp ngồi lại với nhau bên một bếp lửa trên đồi gió hay trong một căn phòng có hoa hồng và rượu đỏ. Như đêm nào cùng hát Giờ này còn gần nhau / Gần thắm thiết trong mối sầu… Ngày mai ta không còn thấy nhau… Phải không các bạn, ở đâu đó còn nghe tiếng đàn thùng trong những giọt mưa rơi trên ngọn hải đào.

Một nhà văn nữa, bạn của Nguyễn, cũng ra đi vào mùa hoa hải đào nở đỏ. Nguyễn Mộng Giác. Anh chia tay bạn bè vào một ngày của tháng 7 năm 2012. Riêng người giữ mục này, trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ cũng được Nguyễn Mộng Giác giới thiệu trên Văn Học. Bài thơ Thảo Nguyên được mọi người biết đến cũng là từ đó. Tiếp theo, vào đầu năm 1998, Văn học đã đứng tên xuất bản thi tập Tôi Cùng Gió Mùa của Nguyễn này. Và cũng chính Nguyễn Mộng Giác đã tổ chức giới thiệu tác phẩm với rất đông văn nghệ sĩ tại nhà riêng. Từ đó, Ðặng Tiến biết đến thơ Nguyễn Xuân Thiệp và đã viết một bài tiểu luận đặc sắc về Tôi Cùng Gió Mùa. Thời gian trôi qua, thỉnh thoảng Nguyễn vẫn gặp và chuyện trò thân ái với Giác và Diệu Chi. Thế rồi, sức khỏe Nguyễn Mộng Giác ngày một suy yếu. Giác lâm trọng bệnh và Nguyễn cùng Ðinh Cường tới thăm mấy lần. Nguyễn Mộng Giác ra đi vào đầu tháng 7 khi mùa crepe myrtle nở rộ ở Dallas này. Ðã mười năm trôi qua, mỗi lần nhìn màu hoa đỏ rực lại nhớ tới Giác và những năm tháng đẹp đẽ không còn nữa. Nhớ ngày nào Nguyễn đã có thơ:

nguyễn mộng giác

anh ra đi rồi sao

ở đây hoa hải đào nở đỏ

tiễn đưa anh

như tiễn đưa lê uyên phương ngày nào

và mưa

như mưa trên biển

trong văn anh

và trong thơ tôi 

ôi. những giọt mưa màu đỏ

còn trong trí nhớ mù sương

TN

Tạ ơn mùa Thu

Tim Nguyễn

November 23rd, 2021

baotreonline.com

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

Image from the Net collected by Sơn râu

Nhớ một lần nọ đã lâu lắm mình có viết cho cô người yêu mơ màng.

Em,

Anh muốn viết đôi lời tạ ơn trong mùa Thanksgiving này, nhưng rồi cứ mải loay hoay. Viết, viết cái gì đây cho khỏi sáo mòn. Thôi thì cứ phóng bút vậy. Tạ ơn con sông và cánh đồng đã đem đến cho tôi và những người thân yêu nguồn sống nhân hậu. Tạ ơn chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ của cha đã sớm chiều rong ruổi mang cơm áo về cho gia đình, và tạ ơn đôi bàn tay gầy tần tảo sớm hôm của mẹ. Tạ ơn ngôi trường nơi đã dạy tôi “Chữ đầu tiên là chữ A / Và mẹ thì không bao giờ được quên”, rồi tới những phép tính đầu tiên. Tạ ơn những cây bàng trước Vương Phủ đã dạy tôi sự mơ mộng và lòng thương yêu những người nghèo khổ. Tạ ơn… Thôi thì cũng tạ ơn khung cửa sổ nhà em đêm đêm đèn sáng để anh còn được nhìn mái tóc dạ hương (?) thấp thoáng qua lại. Từ thuở tóc còn xanh, nghề nghiệp Tim này được ghi là dạy học, cho nên tạ ơn viên phấn trắng và tấm bảng đen đã dạy cho Tim những điều cao quý và mối thâm tình với học trò. Còn người bạn đời của mình, làm sao không nghĩ đến, cho nên trước đèn hôm nay xin tạ ơn hiền nội đã đi bên anh từ lúc còn tay trắng cho tới bây giờ vẫn là người không một mái nhà. Tạ ơn, tạ ơn bộ quân phục đã che cho thân này trong suốt mười mấy năm. Thế rồi, cát lở đá bay, xe tăng với dép râu nón cối Cộng Sản tiến vào thành phố, rồi trại tù cải tạo dựng lên từ Nam ra Bắc để nhốt và đày đọa những người thua trận. Cảm ơn cái lán tre và những hạt bo bo đã giúp ta qua con đường đau khổ. Ðể có một ngày nhìn ra được mặt người, ai là bạn ai là thù. Cảm ơn những cây cầu treo và xa lộ thênh thang nước Mỹ với chiếc xe bus Greyhound đã đưa ta đi qua trăm thành phố và qua thiên niên kỷ. Cảm ơn Nàng Thơ đã đến với nhau từ thuở ấy và để lại trong hồn này một vết thương êm ái. Cảm ơn những chiếc lá phong màu đỏ trước ngôi nhà đường Redwood để cho kẻ này yêu mùa Thu ở đây hơn.

Cảm ơn và cảm ơn… Cùng một giọng như Tim, một người tên là Lê Ngọc Anh cũng viết trên Việt Báo của Trần Dạ Từ và Nhã Ca:

“Xin đa tạ đất trời cho tôi thấy rõ rệt bốn mùa trong năm, cây xanh, mưa mát, nắng chói, lá vàng, lá đỏ, và tuyết trắng. Cảm ơn mưa cho xanh lá. Cảm ơn nắng lên sau nhiều ngày mưa ướt át. Cảm ơn gió thổi lá thu bay cho thi sĩ làm thơ và nhạc sĩ viết những bài hát hay cho đời thưởng thức. Cảm ơn trăng huyền ảo trải xuống hàng cây khô ven đường. Cảm ơn mùa Xuân cho cỏ cây hoa lá đơm bông, làm vui đất trời và làm vui con người. Cảm ơn những khắc nghiệt của cuộc đời, cảm ơn những đổi thay đau lòng nhưng đã giúp tôi được trưởng thành hơn. Xin cảm ơn những người bạn đã cho tôi hiểu thế nào là tình bạn, một tình bạn chân thành. Bạn đã cho tôi những tình cảm ấm áp, cùng dìu dắt nhau qua những ngõ hẹp của cuộc đời. Những người thiếu phụ đôi mươi thay chồng săn sóc và dạy dỗ con, vừa làm mẹ và vừa làm cha, sống mòn mỏi trong những năm tháng dai dẳng đợi chờ… “Ngày về xa quá! Người ơi…!”.Nhưng nói gì thì nói, với Tim này cũng như với những bạn đồng hội đồng thuyền khác, những ngày đầu tiên đến nước Mỹ này vẫn là những ngày đáng nhớ nhất. Qua đó Tim không thể nào không nhắc lại những lời tạ ơn đã một lần viết xuống. Vâng, như có lần đã nói. Cũng như những người hành hương Pilgrims, chúng ta đến từ một vùng đất bị ruồng đuổi và đầy bóng tối đe dọa. Nhiều người đã chết giữa biển, không bao giờ được nhìn thấy đất liền ấm áp. Những người sống sót cặp được bến bờ và trải qua những ngày nương thân ở một trại tị nạn nào đó trên đất Mã Lai, Nam Dương hay xứ Thái. Buồn, bơ vơ và nhớ và xót xa. Những ngày đầu tiên trên đất Mỹ cũng là những ngày khó khăn, đầy thách thức. Ðến đây lạ đất lạ người, không đến nỗi “con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng kinh”, nhưng cuộc sống và ngôn ngữ, mọi thứ nơi đây hoàn toàn khác ở quê nhà.

Image from the Net collected by Sơn râu

Phải phấn đấu từng giây phút, chịu đựng sự khắc nghiệt của thời tiết, làm việc ngày đêm mới tạo dựng được cuộc sống cho mình và gia đình.

Ở trên có nói, khi ta đến nơi này, cái gì cũng lạ. Kể từ con gà Tây. Thế nhưng như một nhà báo đã viết rất hay -xin lỗi, Nguyễn đãng trí quên tên (có phải nhà báo Giao Chỉ?): “Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây đầu tiên cùng với các gia đình bảo trợ (Kathleen còn nhớ không), và với các họ Ðạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Thế rồi những bức hình và những lá thơ  liên tiếp gửi về quê nhà trong suốt 10 năm khốn khổ sau 75.  Cho đến khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh. Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải.  Những tờ giấy đô la nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt. Nào là “thuốc đánh răng này tốt lắm. Cố giữ lại mà dùng, đừng bán đi.” Có thư viết “chỉ bán vải, bán xà phòng, bút bi các thứ, nhưng phải giữ lấy cái thùng giấy mà dùng”.  Hiểu được ý nghĩa lá thư người Sàigòn liền tháo hết vỏ thùng để tìm một hai tờ giấy đô la giữa hai lớp bìa cứng.  Và cứ như thế, dưới nhiều hình thức, những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam.”

Vâng, từ những con gà Tây như biểu tượng nói trên, người Việt di dân tị nạn đã đứng lên và thời gian thử thách khốc liệt cũng trôi qua. Nhiều người, rất nhiều người trong chúng ta, từ hai bàn tay trắng mà xây dựng nên. Nhọc nhằn khuya sớm với những công việc tầm thường -rửa bát, giặt giũ quần áo, lau dọn vệ sinh, sắp xếp kho hàng, đứng bán cây xăng, đi bỏ báo phát flyers, làm tài xế xe tải, lái xe lunch…- trải qua trăm cay ngàn đắng mới dần dần sắm xe, mua nhà, xây dựng cơ ngơi, cho con cái đi học, dựng vợ gả chồng cho con, tạo lập một gia đình ổn định và sung túc.

Ba bốn mươi năm qua, cuộc sống đã đơm hoa kết trái, chúng ta không thể nào quên ơn người Mỹ, nước Mỹ đã bao bọc chúng ta, cho ta cơ hội sống và xây dựng lại. Phải nói không nước nào trên thế giới có thể dành cho di dân những cơ hội dễ dàng như ở Hoa Kỳ. Và với thời gian trôi qua, người Việt chúng ta đã xây dựng được một cộng đồng vững mạnh và phát triển về nhiều mặt. Những khu phố, những trung tâm thương mại, cơ sở văn hóa, nhà thờ và thiền viện của người Việt đã mọc lên ở nhiều tiểu bang của nước Mỹ đã đóng góp vào những màu sắc và sinh hoạt đa dạng của xứ sở này.

Cho nên trong ngày lễ đầy ý nghĩa hôm nay, chúng ta chia sẻ với người Mỹ khi hướng về những người Pilgrims của thời xa xưa. Trong không khí đoàn viên ấm áp, xin dành ra một phút để tưởng niệm những bạn bè, người thân đã chết trên đường vượt biển hay trong nắng mưa của xứ này. Và trong những bữa ăn đoàn tụ hiện tại, chúng ta cùng nhau tạ ơn đất, tạ ơn trời và tạ ơn người nơi ta đến. Tạ ơn mùa Thu.

TN