Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 21 Jul 2025

Chương 21.

Vương hổ tướng lật đật trở về, chàng nhủ thầm chuyến này có mục đích xem quân lính ở nhà có được tử tế, yên ổn như lúc chàng ra đi không? Chàng cũng tự cho đó là một lý do chính, song thâm tâm chàng còn một lý do thầm kín, chàng nóng lòng muốn biết có cô vợ nào sinh hạ được một đứa con trai không? Chàng đi vắng thấm thoắt đã được mười tháng, một năm rồi; trong thời gian đó, có hai lần chàng nhận được thơ của cô vợ sáng chữ. Suốt cả một trang giấy đen sì những chữ, toàn thị lời lẽ văn hoa khiêm tốn, lễ độ, ý nghĩa rỗng tuếch, tựu trung đại ý nói ở nhà bình yên vô sự.

Khi chàng vênh vang, thắng trận trở về gian phòng cũ, chàng nghĩ Trời còn tựa chàng, đang lúc hồng vận. Trong  chiếc sân, trước gian phòng kín gió, dưới ánh nắng êm dịu,hai cô vợ ngồi chơi, mỗi cô ôm một đứa trẻ sơ sinh, đứa nào cũng quấn từ đầu đến chân lụa đỏ tươi, trên đầu đội chiếc mũ thóp bằng nhiễu đỏ. Cô vợ “mù chữ” đã gắn trên mũ chop của con cô một hàng tượng Phật nhỏ bằng vàng, còn cô “sáng chữ” không tin dị đoan, thêu một cành hoa trên mũ con. Chàng thấy hai đứa hài nhi giống nhau, chàng hết sức lạ vì không ngờ lại có một lúc hai đứa con, chàng lẩm bẩm: … chà !… chà!…

Cô vợ “sáng chữ” đứng dậy, cô này tính nết nhanh nhẹn, ăn nói ngọt ngào, văn vẻ, trong câu chuyện cô nói thỉnh thoảng lại thêm một câu chữ hay một vần cổ thi, cô nói chuyện lại còn ngụ ý khoe bộ răng trắng nõn.

– Trong khi lang quân ở biên địa, tiện thiếp chúng em đã sinh hạ được những hài nhi này, xin lang quân duyệt lãm, đứa hài nhi được khang cường từ đầu đến chân. – Vừa nói, nàng vừa đưa con cho chồng coi.

Cô vợ kia nóng ruột muốn khoe với chồng cô sinh được con trai. Còn đứa nhỏ của cô “sáng chữ” là một đứa con gái. Cô đứng dậy vội vàng nói, vì hàm răng bị sún đen, rụng mất mấy chiếc, cô mím môi cố nói:

– Thưa quan, con của thiếp đây là trai, đứa kia là gái ạ.  Chàng lặng yên không nói gì. Chàng sung sướng quá,không còn biết nói gì. Chàng không ngờ đã có một đứa trẻ do chính khí huyết chàng tạo nên, và đứng yên ngắm nhìn hai đứa hài nhi. Hai cô vợ thản nhiên đứng nhìn chồng như nhìn một thân cây hay một mảnh tường. Ánh nắng chiếu vào mặt, hai cô nheo mắt, thốt nhiên đứa con trai hắt hơi, chàng ngạc nhiên thấy một đứa bé tí tẹo cũng biết hắt hơi. Đứa con gái nhỏ há mồm như con mèo con ngáp. Đứng nhìn hai đứa trẻ cho là lạ quá, chàng chưa åm bế một đứa trẻ nhỏ nào bao giờ, nên không dám mó vào hai đứa con.

Cũng không biết nói chuyện gì với hai cô vợ vì chàng chỉ quen thường nói, thường bàn những chuyện về chiến sự. Chàng chỉ mỉm cười, bọn lính đi theo hầu, đứng đó, reo mừng. Chàng nghĩ:

– Có vợ đẻ con nghĩ cũng hay.

Cuộc vui mừng đã qua, chàng vội vã vào trong phòng  riêng. Tắm rửa, ăn uống, thay bộ đồ nhà binh cứng nhắc chàng mặc một chiếc áo lụa màu lam sẫm, thì trời vừa tối. Đêm đông gió lạnh, ngồi một mình trước một lò than hồng, chàng suy nghĩ những việc đã làm, kết quả đã lượm được. Chàng nghĩ số chàng cũng tốt, việc gì cũng may mắn trót lọt, bây giờ chàng đã toại nguyện, bao nhiêu hoài bão từ trước đã dần dần thực hiện được hết. Bây giờ đã có con trai, tham vọng của chàng có một mục tiêu chính đáng, những

hành động của chàng cũng hướng vào mục đích đó. Nghĩ  thế, lòng ruột nở nang, tâm hồn sung sướng, chàng quênnhững nỗi ưu phiền đã từng có khi phải ở cô độc trong gian phòng tĩnh mịch. Thốt nhiên chàng nói một mình:

– Con ta, nhất định ta phải rèn luyện làm một chiến  tướng.

Chàng đứng dậy, lòng vui mừng quá, lấy tay vỗ đùi.Đi đi lại lại trong gian phòng, chàng không nhận ra chàng vừa đi vừa mỉm cười, chàng nghĩ có một đứa con trai, một việc đáng mừng lắm, từ nay không phải cần con của các

anh, nó sẽ nối dõi sự nghiệp của chàng sau này để mở mang  thêm cương giới mỗi ngày mỗi lớn mỗi mạnh. Chàng lại nghĩcòn đứa con gái, không biết sau này chàng định cho nó làm gì. Ra đứng tựa cửa sổ, vuốt mấy sợi râu cằm, nghĩ đến đứa con gái lớn lên sau này, chàng lẩm bẩm nói một mình:

– Đứa con gái sau này ta kiếm gả cho một chiến sĩ anh hùng. Đối với con gái ta chỉ lo cho nó đến thế là cùng.

Kể từ ngày hôm đó, đối với hai cô vợ, Vương hổ tướng có  một quan niệm mới lạ, hai cô sẽ sản xuất cho chàng nhiều đứa con trai nữa, những đứa trẻ sau này là những người tuyệt đối trung thành, không bao giờ bội phản chàng, những người do giòng máu chàng tạo nên. Chàng không cần phải nhờ hai cô vợ làm thú tiêu khiển, giải khuây chàng, tinh thần cũng như thể chất. Chàng hy vọng sẽ tạo thành những đứa hài nhi, những tên lính tương lai dũng cảm, luôn luôn ỏ bên cạnh chàng giúp đỡ sau khi mình đã về già. Chàng lại đều đặn với hai cô không thiên vị cô nào, tuy cô nào cũng hết

sức chiều chuộng để được phần ưu đãi. Chàng cũng được vừa ý cả hai cô mỗi cô một vẻ song đối với hai cô chàng đã có một quan niệm rõ rệt. Cách cư xử đối đãi như thế, lòng chàng  được thư thái, chàng không bận tâm tha thiết yêu đương,say mê một người đàn bà nào, chàng đã được mãn nguyện có một đứa con trai.

Mùa đông năm đó đã trôi qua, êm đềm vui vẻ. Tết Nguyên Đán đến cũng rất náo nhiệt, hân hoan, chàng vui vẻ hơn mọi năm vì năm qua là một năm thắng lợi. Chàng phát cho binh lính rượu và thức ăn, thưởng cho mỗi người một số tiền. Chàng còn cho lính nhiều thứ mà xưa nay họ vẫn ước ao thèm muốn: thuốc hút, khăn mặt, bít tất và các đồ lặt vặt. Hai cô vợ, cô nào cũng có tặng phẩm, suốt cả nhà lớn bé ai cũng hân hoan đón mừng năm mới.

Có một việc đáng tiếc nhưng cũng may việc đó sau mấy ngày Tết mới xảy ra nên Tết vẫn được êm đềm vui vẻ. Sau Tết được mấy hôm, ông phủ chặp tối đi ngủ, sáng hôm sau đã thấy ông chết hồi nào ban đêm. Hoặc giả ông bị say thuốc phiện, hay đêm đông sương gió ông bị cảm không ai biết chăng.

Vương hổ tướng được tin đó, cho thửa một cỗ áo quan tốt, lo liệu việc tống táng, đưa về nguyên quán. Ông cụ là người ở tỉnh bên. Công việc chưa xong lại có tin cấp báo bà cụ phủ đã nuốt hết số thuốc phiện và đã theo chân ông cụ về miền cực lạc. Tin này không ai sửng sốt vì bà cụ này già lắm, không bao giờ ra khỏi phòng. Vương hổ tướng cũng chưa hề biết mặt bà bao giờ. Chàng lại cho làm một cỗ áo quan nữa, cho ba người gia đinh hộ tống hai chiếc quan tài về tỉnh bên mai táng.

Chàng thảo tờ trình, báo tin lên thượng cấp, chàng sai anh sứt môi, tên thủ hạ tâm phúc, đi cùng với vài người lính đem tờ trình đệ lên tỉnh. Chàng ghé bảo nhỏ anh này:

– Có những việc không thể nói được mà nếu có nói chỉ có thể nói nhỏ lọt vào tai thôi nên ta không có viết giấy. Mày đệ trình giấy, chờ lúc nào thuận tiện mày sẽ bẩm nhỏ tao sẽ có thơ đệ trình riêng chỉ định ai sẽ ngồi ở hạt này. Anh lính lĩnh ý, chàng vui lòng vì anh này có thể tin cậy được. Trong tình thế nhiễu nhương hiện tại chắc chắn ở tỉnh chưa gửi ngay người về thay thế cai trị, chàng hãy tạm đảm nhiệm xử lý thường vụ công việc dân sự trong hạt. Chàng để hai cô vợ ở gian nhà trong chỗ vợ ông phủ ở trước, rồi chàng cũng quên không có ai ở đó nữa, ngoài vợ con chàng.

Người Con Gái Phú Hòa

dongsongcu.wordpress.com

Phạm tín an Ninh

Posted on July 8, 2024

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

Cố Tr. úy Phùng…khi còn SVSQ

Ôi những con đường đến tự đâu Một lần gặp gỡ ngã tư nào Rồi trong vô hạn chia lìa miết Có cuốn theo mình bụi của nhau? (Tô Thùy Yên) – Khi ra khỏi quân trường, cầm tờ sự vụ lệnh lên trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi cứ ngỡ là suốt đời binh nghiệp của mình sẽ gắn liền với rừng núi cao nguyên. Nhưng không ngờ tiểu đoàn của tôi được chọn làm đơn vị trừ bị cho quân đoàn, nên nhiều khi buổi sáng còn ở trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều lại có mặt ở bờ biển Bình Tuy, Cam Ranh, Phan Thiết.

Một ngày cuối năm 1966, sau 2 tháng đánh đấm ở Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi cùng 1 chi đoàn thiết quân vận tăng phái, được tàu hải quân bỏ xuống bờ biển Nha Trang. Trong đám lính phong trần, có lẽ tôi là thằng mừng vui nhất, không phải đang từ một vùng lửa đạn được đổi đến thành phố biển an bình, nhưng vì bất ngờ được trở lại quê hương, nơi còn rất nhiều dấu vết tuổi thơ. Cuộc hành quân mang tên “Hải Âu” này, với tôi nó còn là một “định mệnh”, khi cả đơn vị tôi đổ quân xuống thị trấn Ninh Hòa lúc 2 giờ sáng. Bởi chính lần này cuộc đời tôi cột chặt với vùng đất có “con sông Dinh chảy qua Cầu Sắt” này.

Hơn 3 tuần trong mật khu Đá Bàn, chúng tôi xuống Phú Gia nhận lương thực rồi kéo qua Tân Hưng, Trường Lộc và cuối cùng về nghỉ dưỡng quân 2 tuần tại Phú Hòa, một làng quê an bình và trù phú như cái tên gọi.

Tôi tìm địa hình thích hợp để bố trí quân, và chọn khu vườn sau một ngôi nhà lớn nằm trên vị trí khá cao bên con hương lộ, để xin được đặt ban chỉ huy đại đội.

Bà chủ nhà đón tôi bằng một nụ cười phúc hậu của một bà mẹ thương con. Bà vui vẻ cho phép chúng tôi được xử dụng cái hiên nhà rộng rãi và thoáng mát làm “bản doanh”. Cần bất cứ thứ gì bà sẵn lòng giúp. Ông chủ cũng là một người nặng tấm lòng, hỏi han từng người lính. Ông Bà xem chúng tôi như con cháu trong nhà, hơn nữa thấy lính tráng khổ cực, Ông Bà thương. Bọn tôi ai nấy cũng cảm động trước tấm lòng nhân hậu của Ông Bà, nhưng theo lệnh trên, không cho phép ở trong nhà dân mà chỉ xin được ở ngoài vườn.

2 ngày sau, thứ bảy, tôi mới phát hiện nhiều đìều thú vị. Đúng là ở hiền gặp lành, Ông Bà có đến 5, 6 cô con gái, mà cô nào cũng xinh đẹp, hiền thục và học hành giỏi. Nghe nói 3 cô chị thì đã đi làm hay đi học ở Nha Trang, chỉ về thăm nhà vào cuối tuần, còn mấy cô em thì đang học ở trường trung học quận lỵ. Hỏi ra thì hầu hết các cô nương này tôi chưa gặp nhưng đã nghe danh từ lúc tôi còn đi học ở Nha Trang…

Là 1 tiểu đoàn lưu động, nên hầu hết lính tráng đều rất trẻ. 3 thằng đại đội trưởng cũng là 3 thằng thiếu úy sữa. Thằng nào cũng vừa rời ghế nhà trường mới vài ba năm. Trong số này có Trần Công Lâm, cùng khóa với tôi và Đặng Trung Đức, khóa 19 VBĐL.

Dù sao tôi cũng là dân Khánh Hòa, nên lúc nào cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Hơn nữa tôi cũng vừa mới làm quen với một cô trước Sân Vận Động, nên phải nằm lòng lời dạy của người xưa “ăn cây nào rào cây nấy”. Trong 3 thằng, Đặng Trung Đức là hào hoa nhất. Đại đội của Đức đóng trên Gò Quít, nhưng lúc nào chàng ta cũng có mặt trong ban chỉ huy đại đội… của tôi. Đức có tài nói chuyện, hơn nữa anh thường tâm sự về hoàn cảnh con một của bà mẹ già sống góa bụa trên xứ sương mù Đà Lạt, từ lúc Đức mới lên 5 nên càng được bà chủ nhà động lòng thương. Không biết là trong mấy cô con gái lớn, Đức đã trồng cây si cô nào (và cũng chẳng biết có cô nào dành một ngăn nhỏ trong trái tim cho anh không), nhưng mà thấy chàng ta yêu đời lắm, miệng lúc nào cũnghát líu lo những bản tình ca.

Chưa được 2 tuần thì đơn vị nhận lệnh di chuyển khẩn cấp vào phi trưòng Nha Trang để được bốc lên tiếp viện cho chiến trường Quảng Đức. Chia tay, chúng tôi ai cũng mang theo lưu luyến trong lòng. Nhưng chắc chắn Đức là thằng buồn nhất, vì chưa kịp nói một lời tỏ tình, và cũng kể từ hôm nay, ngoài vóc dáng bà mẹ già cô độc ở quê nhà, chàng ta còn mang theo bóng hình một người con gái Phú Hòa vào nơi gió cát.

Tình hình chiến sự ngày càng sôi động, đơn vị tôi lại tiếp tục nay đây mai đó. Chiến cuộc làm cho thời gian ngắn lại và mộng mơ của những thằng lính cũng sớm nở tối tàn. Rời khỏi Ninh Hòa, đơn vị của tôi chưa có lần trở lại. Mãi đến đầu năm 1970, khi toàn bộ trung đoàn trên đường di chuyển từ Sông Mao (Phan Thiết) lên An Khê, thương tình tôi, ông trung đoàn trưởng cho đoàn quân dừng lại nghỉ chân dọc theo cải lộ tuyến Đại Hàn 2 tiếng đồng hồ, để tôi ghé lại thăm bà vợ vừa mới sinh đứa con gái thứ ba. Đặng Trung Đức chạy theo tôi, rồi hỏi đường lên Phú Hòa, nhưng chỉ gặp được bà mẹ chủ nhà phúc hậu năm nào. Các cô con gái, hầu hết đã theo chồng hoặc đang có người yêu ở đâu đó.

Mùa hè năm sau, (lúc này tôi đã được điều về làm ở bộ chỉ huy Chiến đoàn, bản doanh tại Sông Mao), sau khi hoàn tất chuyến bay đổ quân cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào một mật khu nằm giữa ranh giới Bình Thuận – Lâm Đồng, tôi trở về nhà trong khu cư xá. Bà vợ Ninh Hòa vừa dắt con vào thăm. Bước vào nhà, thấy vợ tôi đang nói chuyện với 2 người khách. Một sĩ quan trẻ, bô trai và một cô gái đẹp dịu hiền có nụ cười rất xinh, mà tôi có cảm giác quen quen. Bà xã giới thiệu bạn đồng hương, tôi mới biết hai người là một đôi uyên ương tuyệt vời, họ vừa mới đính hôn. Điều làm tôi ngạc nhiên, cô gái chính là cô em, một trong mấy người đẹp Phú Hòa mà tôi đã được bà mẹ phúc hậu cho phép đóng quân trong vườn nhà 6 năm về trước. Một trùng hợp lý thú: hôn phu của cô, người sĩ quan vừa mới tốt nghiệp khóa 24 từ trường Võ Bị Đà Lạt lại đuợc bổ nhiệm về tiểu đoàn Thần Ưng, mà tiểu đoàn trưởng chính là anh bạn của tôi đã cùng đóng quân ở làng Phú Hòa thuở trước: Đặng Trung Đức.

Gặp nhau, chưa kịp tâm tình, thì vội vã chia tay. Một đơn vị chạm địch, tôi lại phải bay lên bao vùng.

Hôm sau, tôi xách xe chạy lên gặp Đặng Trung Đức. Tiểu Đoàn Thần Ưng của Đức là 1 đơn vị đánh đấm có tiếng, đang ứng chiến tại bản doanh, làm lực lượng trừ bị cho cuộc hành quân. Tôi hỏi Đức về Phùng, người sĩ quan Võ Bị mới bổ sung về đơn vị Đức và bảo Đức mời anh đến Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn uống nước. Hai người cùng xuất thân từ mái trường Đà Lạt, nên họ rất trân trọng cái tình huynh đệ. Tôi hỏi Phùng về vị hôn thê, Phùng cho biết là cô đã về lại Cam Ranh, nơi cô làm việc, từ sáng sớm. Đức ngồi nghe nói chuyện, quay sang hỏi tôi:

– Toa bà con với Phùng à?

Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại Đức:

– Bạn có biết bà xã tương lai của Phùng là ai không?

Chàng ta tròn mắt, đứng phắt lên đập vào vai Phùng, khi nghe tôi bảo người con gái ấy là một trong mấy cô em của người đẹp Phú Hòa mà chàng ta đã từng mang trong tim bóng hình một dạo.

Điều duy nhất mà Đức và tôi có thể giúp Phùng, là hết lòng trong tình huynh đệ, chỉ vẽ những kinh nghiệm máu xương của 1 người lính chiến trường. Một sĩ quan Võ Bị như Phùng, chắc chắn anh cũng không yêu cầu chúng tôi điều gì. Hơn nữa, qui chế của Sư Đoàn từ lúc vị Tư Lệnh danh tiếng Trương Quang Ân, dành cho một sĩ quan Võ Bị mới tốt nghiệp là phải giữ một chức vụ tác chiến tối thiểu là 4 năm.

Đầu mùa hè 1972, chiến truờng cao nguyên sôi động, BTL Sư Đoàn 22 BB bị tràn ngập tại Tân Cảnh, vị Tư Lệnh hy sinh sau khi từ chối rời căn cứ bằng trực thăng của Mỹ. Trung đoàn tôi có lệnh di chuyển khẩn cấp toàn bộ lên Kontum. Đến Pleiku thì được tin thành phố Kontum đang trong nguy khốn. Đường bộ lên Kontum bị chốt dày đặt ở cao điểm Chư Pao, phi trường bị pháo kích nặng nề, phi cơ không đáp được. Cuối cùng đơn vị tôi được lệnh không vận liên tục bằng C130 vào ban đêm. Khi vào không phận Kontum, phi cơ tắt hết đèn, đảo mấy vòng, đáp thật nhanh, trút chúng tôi xuống cuối phi đạo rồi vội vàng bay lên trong bóng đêm mịt mùng.

Đơn vị tôi đã giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa. Chiến thắng ngày ấy dù vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả 1 cái giá không nhỏ. 3 thằng thiếu úy nhóc con, đóng quân ở Phú Hòa lúc trước, 2 thằng đã nằm xuống: Trần Công Lâm và Đặng Trung Đức, còn tôi thì bị thương nặng phải tản thương về quân y viện Pleiku. (Có lẽ cô gái Phú Hòa năm xưa không ngờ rằng, có một người lính vừa mang theo vào lòng đất bóng dáng của mình, mà có một thời chàng ta đã yêu trộm nhớ thầm trong một lần dừng quân ngắn ngủi).

Mất 2 người bạn chí thân, 2 chiến hữu can trường, tôi cảm thấy thật buồn và ngao ngán chiến tranh. Vết thương chưa kịp lành, tôi trở lại đơn vị. Một cái tin làm tôi xúc động đến lặng người. Thiếu úy Phùng, người sĩ quan Võ Bị hiền hậu, đẹp trai vừa mới hào hùng ngã xuống, để dang dở một cuộc tình tưởng chừng đẹp nhất Phú Hòa. Nghe đồng đội của anh kể lại, trước khi nhắm mắt anh lấy hết tàn hơi thì thào gọi tên người vợ sắp cưới của mình. Tôi mơ hồ nghe tiếng gió mưa, dông bão trên ngôi nhà có khu vườn tôi đã đóng quân ngày trước.

Chiến tranh bao giờ cũng mang theo tai họa và để lại phía sau bao nhiêu điều bi thảm. Nhưng rồi khi cuộc chiến kết thúc lại càng bi thảm hơn: sau tháng 4/75, bao nhiêu người tù đày, chia ly, khốn cùng, bỏ quê lưu lạc.

Dường như sau một lần mất mát lớn lao quá người ta dễ quên đi những nỗi buồn, những đau đớn cũ. Nhưng nếu trong bất chợt, có điều gì gợi lên nỗi nhớ, ký ức sẽ mang mọi thứ trở về thật nhanh, làm lòng người ta bâng khuâng ghê lắm.

Đầu năm 2003, như những con chim di xứ gọi bầy, một nhóm bạn Ninh Hòa của bà xã tôi, có cùng tấm lòng tha thiết với quê nhà, với bạn cũ trường xưa, ngồi lại thành lập trang web Đồng Hương Ninh Hòa. Trong số những cánh chim “hải âu” đáng quý này, có 1 người là chàng rể út Phú Hòa. Dù chưa một lần gặp nhau, nhưng anh đã cho tôi thật nhiều cảm kích. Qua mỗi lần tâm tình, anh đã gợi lại trong tôi lãng đãng một hình ảnh Phú Hòa dễ thương thuở trước.

Bây giờ Phú Hòa ngàn trùng xa cách. Những người đẹp Phú Hòa xưa giờ đã lưu lạc bốn phương trời. Chỉ có bà mẹ từ tâm, phúc hậu, vừa vĩnh viễn nằm lại trên quê nhà, bên cạnh chồng, trong gió nội hương đồng, pha lẫn dư âm tiếng vui đùa của mấy cô con gái dễ thương trong những ngày mới lớn, cùng biết bao hình ảnh đẹp đẽ của một thời Phú Hòa hưng thịnh.

Tôi miên man nhớ lại một thời xưa, cúi đầu tưởng nhớ người quá cố, và cầu mong những người Phú Hòa xưa được tròn hạnh phúc, cho dù có giây phút nào đó hồi tưởng về một chút quá khứ thật mờ mịt xa xưa.

Phạm Tín An Ninh

Nữ Trung tá Loan L. Vo (gốc Việt), Công binh Lục quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 26, 2025

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

Trung tá Loan L. Vo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1-108 Công binh Lục quân (ảnh của 1st Brigade (EN), 102nd Division (MS)).

Nữ Trung tá Loan L. Vo* được Hội đồng thăng cấp Lục quân chọn đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá năm 2026. Trong bản danh sách đề cử thăng cấp năm nay, còn có 2 Trung tá gốc Việt khác, đó là Trung tá Hung Minh Diep và Trung tá Darrell G. Tran, hồ sơ thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viện, Quốc hội ngày 22 tháng 5 năm 2025 Sau khi được Uỷ ban quân vụ xác nhận bầu chọn, Trung tá Loan L. Vo, Trung tá Hung Minh Diep và Trung tá Darrell G. Tran sẽ được chính thức thăng cấp Đại tá.

Trung tá Loan L. Vo là Sĩ quan Công binh Lục quân được bổ nhiệm chức Sĩ quan kế hoạch chiến lược tại Bộ Tư lệnh hành quân đặc biệt Trung ương Hoa Kỳ (SOCCENT), trực thuộc Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ** (CENTCOM) từ tháng 8 năm 2024 đến nay. Nhiệm kỳ trước, Trung tá Loan L. Vo nguyên là Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1-108 Công binh, Lữ đoàn 1, Sư đoàn 102 huán luyện Công binh Lục quân trừ bị. Cô đã hoàn thành xuất sắc chỉ huy Tiểu đoàn 1-108 Công binh, chịu trách nhiệm đào tạo và huấn luyện cho tất cả Quân nhân Công binh Lục quân hiện dịch (toàn thời) và Lục quân trừ bị, Vệ binh Quốc gia tại Fort Leonard Wood, Fort Dix và Fort Hunter-Liggett. Trung tá Loan L. Vo chỉ huy các khóa học phân loại cho các Quân nhân chuyên ngành Công binh Lục quân đào tạo hơn 400 Quân nhân mỗi năm.

Trung tá Loan Vo và các Quân nhân trong đơn vị (ảnh của 1-108th Engineer Battalion).

Trung tá Loan L. Vo thụ huấn Chương trình huấn luyện Sĩ quan Lục quân trừ bị (ROTC) cùa Trường Đại học Arkansas (University of Arkansas) và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Kỹ thuật công nghiệp năm 2006 mang cấp bậc Thiếu uý. Sau đó cô được chỉ định phục vụ qua nhiều đơn vị Công binh Lục quân được ghi nhận: Đại đội phó, Tiểu đoàn 864 Công binh; Trung đội trưởng tại Fort Lewis, WA và A Phú Hãn; Sĩ quan phụ tá tiếp vận tại Fort Lewis, WA; Sĩ quan Tiểu đoàn 854 Công binh; Sĩ quan điều hành tại Fort Lewis, WA; Sĩ quan quản lý dự án tại A Phú Hãn; Đại đội trưởng tại Kandahar, A Phú Hãn và Fort Drum, New York; Sĩ quan hành quân đơn vị 416 tại Washington, D.C; Sĩ quan Trưởng phòng Chương trình đào tạo và Cố vấn cơ sở hạ tầng tại A Phú Hãn; Sĩ quan hành quân, Bộ chỉ huy Công binh Lục quân tại Washington, D.C; Sĩ quan kề hoạch yểm trợ Bộ Tư lệnh hành quân đặc biệt trung ương Hoa Kỳ (SOCCENT); Sĩ quan Lực lượng đặc nhiệm 5.1 tại Beirut, Li Băng; Sĩ quan kế hoạch chiến lược tại Bộ Tư lệnh hành quân đặc biệt trung ương Hoa Kỳ (SOCCENT); Sĩ quan phân tích quân sự cao cấp tại Tampa, Florida; Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1-108 Công binh và hiện nay là Sĩ quan phục vụ tại Bộ Tư lệnh hành quân đặc biệt trung ương Hoa Kỳ (SOCCENT).

Trong suốt thời gian phục vụ Lục quân trừ bị Hoa kỳ, Trung tá Loan L. Vo đã hoàn tất các Văn Bằng: Văn bằng Cao học triết học lãnh đạo và thay đổi tổ chức-Trường Đại học Walden, năm 2021; Văn bằng Cao học quản lý Kỹ thuât-Trường Khoa học và công nghệ Missouri, năm 2010; và Văn bằng Cử nhân kỹ thuật công nghiệp-Trường Đại học Arkansas, năm 2006.

Trung tá Loan Vo được trao tặng huy chương Army Commandation Medal (ảnh của 1-108th Engineer Battalion).

Sau khi được chính thức thăng cấp Đại tá, Tân Đại tá Loan L. Vo sẽ là 1 trong 39 Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục trong các binh chủng và các ngành của quân chủng Lục quân (không tính 25 vị đã về hưu). Một số nữ Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt được ghi nhận sau đây: Nữ Đại tá Diep T Khanh, Tham mưu trưởng Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point); Nữ Đại tá Nguyen Kim Chi, Giáo sư Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point); Nữ Đại tá Dana R. Nguyen. Bác sĩ Quân y Lục quân; Nữ Đại tá Jennifer D. Nguyen, Lục quân trừ bị; Đại tá Phuong T. Pierson, Lục quân (hồi hưu) và Nữ Đại tá Danielle Jaque Ngo, Công binh Lục quân (hồi hưu) nay là Phó Chủ tịch Hiệp hội cựu Chiến binh Hoa Kỳ gốc Nhật (Japanese American Veterans Association).

Chúc Tân Đại tá Trung tá Loan Vo thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu; **Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ (CENTCOM).

Nguổn: https://www.congress.gov/nomination/119th-congress/188?s=1&r=56; linkedin.com; facebook.com/1.108EngineerBattalion.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

71. Phạm Duy Nhượng

Ông là bào đệ của Thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Tuy sáng tác không nhiều, nhưng ông vẫn được coi là một trong những tác giả quan trọng của nền tân nhạc Việt Nam. Ông cũng là người chuyển một số các ca từ của Phạm Duy sang tiếng Pháp để những người ngoại quốc quan tâm tới âm nhạc Việt Nam hiểu rõ Phạm Duy hơn, đồng thời biết thêm về nhạc Việt Nam. Gia đình, bằng hữu của Phạm Duy Nhượng cho biết, ông có một đời sống nghiêm túc, kín đáo. Ông dạy học và có thời gian làm việc cho các hãng thông tấn. Dù công việc của ông liên quan tới các cơ quan thông tin, báo chí và nhạc của ông được hầu hết các ca sĩ danh tiếng trình bày trên các đài phát thanh, truyền hình, sân khấu, nhưng ít người biết mặt ông.

Căn cứ vào những gì được nghe, người ta cho rằng, sáng tác đầu tay của Phạm Duy Nhượng là bài Say Thuốc Lào. Đây là một ca khúc vui và được lưu truyền vào những ngày đầu “kháng chiến”, tựa một nụ cười cho những người “từ phố phường rời ra thôn quê” (Phạm Duy) làm quen với những gian lao, vất vả:

Người đẹp tôi yêu

có đôi bàn tay diễm kiều

Và một làn môi tươi thắm

Người đẹp tôi yêu

Lấy chồng để phụ tình tôi

Đời tôi tan nát rồi

Xóm làng biết không

Vì đâu nên nông nỗi ấy

Chỉ vì đêm nao

Đôi ta kề má bên song

Em tôi mới hỏi rằng:

“Anh có yêu em không?”

Cô em sao mà thơ ngây

Còn ngờ chi mối tình say

Nói sao cho cô em hay

Rằng anh yêu em nhất đời

Yêu em như một chiếc ngai vàng

Yêu em như ngàn tiếng tơ đàn

Yêu em như một bài thơ duyên

Yêu em như một viên thuốc lào

Người đẹp tôi yêu

Có đôi bàn tay diễm kiều

Và một làn môi tươi thắm

Người đẹp tôi yêu

Lấy chồng để phụ tình tôi

Vì tôi say thuốc lào

Hình như bài Say Thuốc Lào chưa bao giờ được in ra. Người ta chỉ thuộc bằng cách nghe hát truyền khẩu. Có một ca khúc rất hay khác, đã được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành khoảng đầu thập niên 50 là bài Nhạc Đường Xa. Theo ấn bản tác giả là Phạm Duy Nghĩa. Nhưng theo ca sĩ Mai Hương tác giả chính là Phạm Duy Nhượng. Không biết sự thực thế nào. Chắc nhạc sĩ Phạm Duy có thể làm rõ việc này. Chỉ bằng vào giai điệu, ca từ, tài hoa, tinh tế, thì có nhiều phần đây là một sản phẩm của Phạm Duy Nhượng.

Kìa lóc cóc vó ngựa rung rinh

Bên nhịp cầu cong bên suối

Hòa với tiếng gió nhịp xe xa đưa

Ta cười đón gió phiêu lưu Dù tác giả là ai Nhạc Đường Xa vẫn là một trong những ca khúc hay nhất của nhạc Việt Nam. Cũng là tình ca nhưng Tà Áo Văn Quân có một vẻ gì đó, đôi khi nghe như tiếng xé lụa, thích hợp với cái không khí nửa thần tiên nửa trần tục trong các truyện tình [sử] Trung Hoa.

Trong nhạc Việt, có hai người dùng điển cố trong tiểu thuyết Trung Quốc để viết nhạc mà vẫn nghe ra nhạc Việt Nam là Văn Cao với Tiếng Địch Sông Ô và Phạm Duy Nhượng với Tà Áo Văn Quân.

Về đi thôi

Hán quân kia rồi

Ngu Cơ! Ngu Cơ! Hiền thê ơi!

Bởi vì đâu Quân Vương chàng ơi

Chàng cho thiếp đi theo cùng

Dù có chết ngay chốn sa trường

Thiếp cũng cam lòng

[Tiếng Địch Sông Ô]

Tư Mã người ơi đừng đàn bên Văn quân

Nâng phím hào hoa kê làn môi giai nhân

Về nhà bên suối cung đàn ấp má đào

Mộng chưa tàn khúc

Phượng Cầu lưu luyến nhau

Phượng ơi đàn vắng

Tìm chim Hoàng nơi nao

[Tà Áo Văn Quân]

Chiều Đô Thị của Phạm Duy Nhượng vừa là một bức tranh vừa là một hoạt cảnh về thành phố. Hà Nội chăng? Sài Gòn chăng?

Chúng ta có nhiều nhạc sĩ nói về các thành phố, nói về vẻ đẹp, nét buồn của các thành phố, nhưng Chiều Đô Thị cho người thấy cả cái tương phản của cuộc sống ở các đô thị, vẻ quyến rũ và cả chất độc ngấm trong đó, người ta vừa bị nó hắt hủi, vừa bị nó mê hoặc, cuốn theo.

Chiều Đô Thị còn có một cái tên khác là Cười Đổ Kinh Thành. Trong nhạc Phạm Duy Nhượng luôn có một nụ cười ẩn giấu đâu đó. Chỉ những người nhìn thấu suốt cuộc đời mới giữ được nụ cười như thế trên môi. Cái cười của Phạm Duy Nhượng, trong loạt bài ông viết cho ban AVT trình diễn sau này, hơi “nặng” hơn. Có người cho rằng, hình như ông muốn “văng tục” vào cuộc đời trước khi ra khỏi. Cũng có thể nó chỉ nhắm một mục đích duy nhất: cười cho đỡ buồn. Hình như các trí thức Việt Nam ai cũng có một chút máu tiếu lâm trong người.

Chiều Đô Thị

Chiều lắng hồn kinh kỳ

Cây dài trong bơ vơ

Nghe mái buồn thương mưa

Nghe bụi trút hương xưa

Nghe lá tàn duyên mơ

Nghe dư âm ngày qua

Ôi thành phố thân yêu

Bao mái nhà chìm trong sương chiều

Ôi lửa ấm cơ ngơi

Sau bức mành là cuộc đời vui

Ôi đường xá đêm khuya

Đôi mái đầu dìu nhau trên hè

Ôi trẻ khó lê la

Trong khói mờ gầm cầu trời mưa

Một hồi còi xa xé trời nôn nao

Một đoàn tàu đi biết về phương đâu

Tiếng giầy lê vang góc hè đông

Hàng quà rao inh qua khuê phòng

Tiếng ngựa xe quanh miếng vườn hoa

Người về mau chân nơi nhà lá

A ha! Kinh thành bừng sáng

A ha! Kinh thành ẩm vang

A ha! Kinh thành người đen lầu vàng

A ha! Kinh thành mạch máu

A ha! Kinh thành cần lao

A ha! Kinh thành mộng bền đêm sao

Dòng đời cuôn cuốn trôi mau

Người lặng nghe tiếng xôn xao

Đêm xuống trút gió bến tàu

Chiếc lá rơi chảy về đâu?

Thái Thanh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

70. Phạm Duy

Tôi yêu tiếng nước tôi

Từ khi mới ra đời người ơi

*

Tôi yêu bác nông phu

Gội sương nắng bên bờ biển sâu

Tôi yêu đất nước tôi

Nằm phơi phới bên bờ biển xanh

(Tình Ca)

Tình Ca là một trong những ca khúc ái quốc hay nhất của chúng ta. Phạm Duy đã gói gọn lòng yêu thương tổ quốc trong tình yêu tiếng nói, người và đất. Nếu cho đến hôm nay chúng ta mới hẹn nhau gửi tới Phạm Duy Bông Hồng Tạ Ơn có lẽ vẫn còn hơi sớm. Bởi vì, Phạm Duy cho chúng ta cảm tưởng, ông còn sống thì dòng nhạc của ông vẫn tiếp tục tuôn chảy, không

biết sẽ đưa chúng ta về tới những ngõ ngách, bến bờ nào nữa.

Gần đây ở Việt Nam, người ta có làm một cuộc trình diễn lớn, lấy tên là Nửa Thế Kỷ Âm Nhạc Việt Nam. Sau khi tính toán sao đó, người ta đã loại tên Phạm Duy ra khỏi chương trình.

Và chính vì người ta cố tình gạt bỏ ông, sự thiếu vắng ấy bỗng trở nên to lớn, nặng nề. Hình như Nửa Thế Kỷ Âm Nhạc Việt Nam của họ chỉ có một nửa sức nặng. Nửa kia là Phạm Duy.

Bởi vì cuộc đời / còn nhiều khi là mơ

Bởi vì cuộc đời / còn nhiêù khi là thơ

Có khi vui lửng lơ

Có khi tuôn sầu u

Bởi vì chiều buồn chiều về trên dòng sông

Bời vì tình đời nào chỉ thù oán

Hãy cất tiếng ca cho lòng thêm buồn

Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo

[Chiều Về Trên Sông]

Nói về nhạc Phạm Duy mà chỉ có trong tay một bài viết nhỏ như thế này, không thể tránh được thiếu sót. Những biến động của lịch sử, tình người, cái sống, cái chết, thiên nhiên, hoa cỏ, cái thật, cái giả, cái tục, cái thanh, đều đã được ông nói đến trong nhạc của ông. Khi người ta cố giữ giọt nước mắt trong lòng hay để nó lăn dài trên má, khi người ta cười nụ nhỏ hay cất tiếng hát to, khi người ta gục ngã hay hăng hái dấn bước trên đường đời, người ta đều có cho mình một câu hát của Phạm Duy.

Tôi sẽ hát

Nhưng hát nhỏ hơn lời nguyện cầu

Lời tôi ca xin lúa đừng lo

Lời tôi vang như tiếng trùng kêu

Lời tôi cao như tiếng con diều

Lời tôi ngân như tiếng chuông chiều

Lời tôi sâu như tiếng tình yêu

[Tâm Ca]

Trong suốt nửa thế kỷ, bằng đủ mọi thể loại, Phạm Duy đã để lại cho chúng ta một bức tranh âm nhạc hoành tráng.  Ông đã vẽ lại, kể lại, tất cả những khía cạnh hào hùng cũng như tang thương nhất của dân tộc. Những nỗi thảm sầu và những phút giây hạnh phúc.

Ánh sáng và bóng tối.

Hân hoan và thất vọng.

Có chỗ mở vào những khoảng không bao la, phảng phất  hơi thở của Đạo. Có chỗ soi chiếu vào lòng người thăm thẳmvọng lên tiếng nói của Đời. Những nét vẽ nguệch ngoạc, những nhăng cuội thiết tha, phản ánh nhịp đập của trái tim đời sống.

Cũng gần đây thôi, có lẽ chỉ do sự tình cờ, ở trong nước người ta có làm một cuốn video về Văn Cao, và ở hải ngoại, chúng ta có được một cuốn tương tự về Phạm Duy. Cảm tưởng đầu tiên khi xem những cuốn băng này là Phạm Duy muốn nói gì thì nói. Văn Cao, ngược lại, gần như không nói gì cả. Ông giống như cái bóng đè lên tác phẩm của mình. Thậm chí ông không có nổi một nụ cười nữa! Tất cả những gì người ta nghe được về ông, đều do xướng ngôn viên nói.

Còn Phạm Duy nói gì?

Cũng như nhạc của ông, ông nói đủ điều, hỏi gì cũng nói. Đời sống của ông tràn đầy, có một bề dày không phải ai cũng có được. Ông đi hát, soạn nhạc, viết hồi ký, tán dóc … Người ta có cảm tưởng những gì ông nói được thì ông

làm được. Kể cả vài điều có thể làm cho một số người phải nhăn mặt. Ông sống hết mình, làm việc hết mình và chơi cũng hết mình.

Trong đời sống ai muốn trở thành gì cũng được, Phạm  Duy là một trong những nhạc sĩ có ý thức cao nhất của chúng ta.

Chiều rơi trên đường tối

Có ta như rã rời

Hồn ta như gò mối

Im chờ phút đầu thai

[Đường Chiều Lá Rụng]

Phạm Duy viết đủ loại nhạc: dân ca, tình ca, trường ca, hùng ca, tâm ca, đạo ca, tục ca và cả nhục ca nữa …Ông sống tới đâu viết tới đó. Từ những trường ca lớn công phu nhiều năm soạn thảo, đến những ca khúc chỉ có vài ba nhịp, cái tài hoa của ông vẫn bộc lộ một cách rõ rệt. Ngôn ngữ ông giầu có đến độ, bên cạnh những chữ ông đã dùng, người ta tưởng chừng như còn dăm bẩy chữ nữa ông chưa xài tới.

Nếu như người ta nhớ lại số lượng đồ sộ toàn bộ tác  phẩm của ông, người ta mới thấy sự phong phú của tâm hồn ông tới ngần nào! Nếu có điều gì đáng tiếc liên quan tới nhạc Phạm Duy thì chính là vì ông đã viết cả những gì không đáng viết. Nhưng thế nào là một đề tài đáng viết và không đáng

viết? Theo một khuôn mẫu nào đó thì có lẽ Phạm Duy không còn là Phạm Duy nữa. Hẳn thế. Tác phẩm của ông như hoa cỏ bám chặt lấy đời sống,

chỗ nào mọc được thì mọc, và, hễ mọc được thì trổ bông là việc tự nhiên.

Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt

Với bao tiếng tơ sót thương đời

Vì cuộc tình đã chết một đêm nao

Lúc trăng hãy còn thơ ấu …

[Tiếng Đàn Tôi]

Nhạc Phạm Duy nói chung là một thứ thực phẩm cho tình yêu và tuổi trẻ. Nghe nhạc ông, người ta cảm thấy như  mình được chia sẻ sự giầu có của tâm hồn ông, được lớn thêm cùng với ông. Phạm Duy không chỉ là niềm hãnh diện của âm nhạc Việt Nam. Ông còn là niềm hãnh diện của ngôn ngữ Việt Nam nữa. Qua tay ông, chữ nghĩa trở nên đẹp và hình như có

khả năng vô tận.

Và, nói đến nhạc Phạm Duy không thể không nói tới  dân ca của ông. Ông đã chinh phục người nghe trước hếtbằng nhưng bản dân ca rồi mới đến những loại nhạc khác. Viết dân ca, Phạm Duy không chỉ dựa hoàn toàn trên những cổ điệu, rồi khai triển. Ông đã rút ra từ đó cái sức mạnh và vẻ đẹp, để viết thành những ca khúc của riêng ông, rồi tự nó trở thành dân ca.

Nhạc Phạm Duy có cái vẻ nồng nàn, thiết tha như muốn ôm xiết lấy cuộc đời. Vì thế, có thể coi ông là tình nhân của cuộc đời vậy.

Đường Chiều Lá Rụng

Chiều rơi trên đường vắng

Có ta rơi giữa chiều

Hồn ta theo vạt nắng

Theo làn gió đìu hiu

Lá vàng rơi lá vàng rơi

Như dĩ vãng gầy tóc buông dài

Bước ra khỏi tình phai

Lá vàng rơi lá vàng rơi

Như chút hơi người giã ơn đời

trên nẻo đừơng hấp hối

Hoàng hôn mở lối

Rừng khô thở khói

Trời như biển chói

Từng chiếc thuyền hồn lướt trôi

Neo đứt một lần cuối thôi

Cho cánh buồm lộng gió vơi gió đầy

Chiều ôm vòng tay

Một bó thuyền say

Thuyền lơ lửng mãi

Từng tiếng xạc xào lắt lay

Là tiếng cội già khóc cây

Hay tiếng lòng mình khóc ai giờ đây

Chiều chưa thôi trìu mến

Lá chưa buông chết chìm

Hồn ta như vụt biến

Bay vờn trong đời tiên

Lá vàng êm lá vàng êm

Như mũi kim mềm đã khâu liền

Kín khung cửa tình duyên

Lá vàng khô lá vàng khô

Như nét môi già đã nhăn chờ

trên nẻo đường băng giá

Chiều không chiều nữa

Và đêm lần lữa

Chẳng thương chẳng nhớ

Để những cọng buồn cánh khô

Rơi rớt từ một cõi mơ

Nghe đất gọi về tiếng ru hững hờ

Còn rơi rụng nữa

Cành khô và lá

Thành ngôi mộ úa

Chờ đến một trận gió mưa

Cho rữa tình già xác xơ

Cho biến thành nhựa sống nuôi tình thơ

Chiều tan trên đường tối

Có ta như rã rời

Lòng ta như gò mối

Im chờ phút đầu thai

Thái Thanh

Quỳnh Giao

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

Chương 20.

Ngày tháng thoi đưa, đông qua xuân tới, các cây anh đào hoa đã nở trắng xóa, điểm màu hồng nhạt của hoa đào, những chùm hoa rung rinh trước gió xuân hây hẩy như những đám mây nhẹ nhàng lướt trên nền đất cây cỏ xanh

tươi. Vương hổ tướng họp các thủ hạ tâm phúc nghị bàn về chiến sự, hội nghị thắc mắc hai điểm sau đây, đem ra nghiên cứu thảo luận:

Điểm thứ nhất:

Chiến cuộc Bắc Nam sẽ tái phát xét vì cuộc đình chiến năm ngoái chỉ mỏng manh, không có gì bảo đảm chắc chắn, nó chỉ là một sự ngừng hoạt động do thời tiết, vì không thể tiếp tục chiến sự trong gió rét, mưa tuyết, bùn lầy.

Điểm thứ hai:

Xét vì các ông tướng Bắc Nam khác nhau xa hẳn cả tinh thần lẫn thể chất, một bên thân hình to lớn, vạm vỡ, chậm chạp hung bạo, một bên người tầm vóc bé nhỏ, giảo huyệt hay dùng sảo trá, gian mưu, hai bên tính tình khác nhau, ngôn ngữ cũng khác nhau, như thế cuộc đình chiến chỉ có tính cách tạm bợ. Một lý do Vương hổ tướng chưa động tĩnh là còn chờ bọn thám tử đi do thám về tường trình công tác. Trong khi chờ đợi thời cơ, chàng họp các thủ hạ thảo luận nên đem quân chinh phục phương nào để mở mang cương giới. Hội nghị họp ở trong một căn phòng riêng của Vương hổ tướng, tất cả ngồi quanh một chiếc bàn dài tùy theo thứ tự, cấp bực. Anh “Mũi Diều Hâu” phát biểu ý kiến:

– Chúng ta không thể tiến lên mạn Bắc được vì chúng ta thuộc phạm vi quản trị ở miền đó. Tiếp đến anh “chọc tiết heo” oang oang cất giọng nói, anh này có tính nói theo đuôi. Anh muốn tỏ ra cũng có ý kiến không phải ngu tối quá, nhưng thực ra anh không có ý kiến gì mới lạ cả:

– Đúng, vả lại chẳng những thế miền ấy xui lắm đến cả  heo cũng ốm nhom, không thể giết thịt được. Tôi đã biết heovùng đó, tôi thề thật quả gò lưng nó sắc như lưỡi liềm, một con lợn nái trước khi nó đẻ, có thể đếm ở trong bụng nó có mấy con. Cái vùng đó không đáng để ý, đem quân đến xâm chiếm thật phí công vô ích.

Vương hổ tướng thủng thẳng nói:

– Mà phía Nam cũng không được, vì nếu mình gây chiến họa ở miền Nam, mình làm hại họ hàng, làng mạc, nơi quê cha đất tổ nhà mình, mà sau này có đặt thuế mình lại đi thâu thuế trong họ nhà mình hay sao?

Anh Sứt Môi phát biểu ý kiến, anh này ít nói, bao giờ cũng để mọi người nói trước, anh mới nói sau:

– Có một miền xưa kia là quê tôi, bây giờ hết rồi, tôi không nhận là quê nữa, miền đó ở phía Đông Nam vùng này, một phía giáp ranh với hạt này, một phía trông ra biển, một vùng trù mật, phong phú, có đường ăn thông ra biển. Có một quận nằm theo dọc duyên hà, con sông chảy thông ra biển. Một vùng đất cát phì nhiêu, có nhiều đồi thấp, sông ngòi rất nhiều cá. Quận ở đó là một đô thị lớn có nhiều làng xã, dân cư tằn tiện, người nào xem cũng khá giả.

Vương hổ tướng nghe nói, liền hỏi:

– Một miếng béo bở ngon thế, chắc thế nào cũng có một ông tướng cai quản rồi. Ở đó bây giờ là ai nhỉ? Anh lính mới nói tên vị tướng đó xưa kia xuất thân là một tên trùm lâu la, năm ngoái có dự chiến đem quân đánh miền Nam. Vương hổ tướng nghe nói tên người ấy, chàng quyết nghị ngay đem quân chinh phạt. Chàng sực nghĩ những năm chàng còn nhỏ, ở miền đó, gạo ăn nhạt cơm, các món ăn hay bỏ nhiều hạt tiêu.

Chàng nói:

– Rất hợp ý ta. Người đó, miền đó, ta cần phải thanh toán ngay, như thế cương giới ta cũng mở rộng và việc chinh phạt này cũng ở trong chương trình chiến sự toàn diện, việc xuất quân chinh phục miền đó được quyết nghị và toàn thể hội nghị tán thành. Vương hổ tướng gọi gia nhân đem rượu vào, cả hội nghị cùng uống. Chàng ra lệnh báo cho toàn thể quân đội phải chuẩn gọi sẵn sàng để chờ ngày xuất quân. Chỉ còn chờ bọn thám tử trở về báo cáo tình hình chiến cuộc năm nay sẽ tiến triển ra sao. Cuộc hội họp bế mạc, bọn thủ hạ đứng dậy rút lui về trại để thi hành quân lệnh. Anh lính “mũi diều hâu” ở lại, đến ghé sát vào tai Vương hổ tướng nói nhỏ, giọng nói ồ ề, hơi thở nóng thổi vào má chàng:

– Tụi lính họ than phiền, phục vụ cho tướng quân họ không được hưởng những đặc ân như ở nơi khác, tướng quân nên nghĩ lại sau một trận đắc thắng nào, cho phép họ phè phỡn, tự do trong ba hôm. Nếu họ bị bó buộc, khe khắt quá, họ không chịu tận tâm chiến đấu.

Vương hổ tướng nghe nói sẽ cắn mấy cái ria đen cứng chàng để mọc ở trên môi trên, chàng biết anh này nói cũng có lý, bất đắc dĩ bảo:

– Ừ, anh bảo tụi họ, mỗi lần thắng trận ta ra ân cho tự do trong ba hôm, chỉ được ba hôm thôi, không hơn.

Anh lính lui ra, thích chí lắm, còn chàng ngồi trầm ngâm suy nghĩ, vì sự thật, thâm tâm chàng rất ghét cướp bóc, tàn phá của cải dân chúng, chàng thật bắt buộc phóng túng bọn lính của chàng là làm một việc trái với lương tâm chàng, vì nếu cứ khăng khăng không cho họ tự do, họ không chịu hy sinh để chiến đấu. Tuy bất đắc dĩ phải hứa như thế, trong lòng chàng rất băn khoăn khó chịu, chàng hình dung cảnh tượng đau khổ của lương dân bị bọn lính quấy nhiễu, cướp bóc, tàn phá. Chàng tự cho là tính chàng quá nhu

nhược đối với nghề binh nhung của chàng. Chàng cố làm cho có can đảm, có nghị lực, chàng nghĩ bọn lính có cướp phá thì chỉ bọn giàu có là thiệt, chứ hạng nghèo còn có gì mà sợ. Chàng nghĩ thấy tự thẹn, tính đa cảm nhu nhược của chàng, chàng không muốn tụi lính biết chàng rất ghét trông thấy sự thương tâm, đau khổ, vì tụi lính mà biết tính chàng như thế họ sẽ coi thường chàng.

Các thám tử lần lượt trở về phúc trình kết quả công tác lên chủ tướng, các báo cáo đều nói hiện nay chưa có trận nào tái khởi. Tuy nhiên cả Nam lẫn Bắc, các ông tướng vẫn cho nhập nội ở ngoại quốc súng ống đạn dược. Chiến tranh thể nào sớm muộn cũng tái phát vì cả hai bên ráo riết chuẩn bị, chiêu binh mãi mã. Khi được tin đích xác như vậy Vương hổ tướng hạ lệnh cất quân. Ngày hôm đó, chàng cho tập hợp hết quân lính ở ngoài cổng tỉnh, vì số lính đông quá không thể tụ tập trong sân Phủ được. Chàng cưỡi con ngựa hồng, bên tả có các vệ sĩ đứng hộ vệ, bên hữu có thằng Rỗ cưỡi ngựa (thằng này bây giờ cưỡi ngựa không cưỡi lừa như trước).

Ngồi trên mình ngựa, tướng mạo uy phong lẫm liệt, các thủ hạ ngắm chàng tấm tắc khen ít có một võ tướng dung mạo như chàng, với bộ lông mày rậm, với bộ ria đen trên mép, tuy tuổi chưa đến nhưng trông chàng có lẽ quá tứ tuần. Chàng đứng yên một lúc để tất cả quân lính chiêm ngưỡng dung nhan, rồi cất giọng lanh lảnh hiệu triệu binh sĩ:

Hỡi các chiến hữu,

Ngày mai mùng tám, chúng ta tiến về mạn Đông – Nam để chinh phục miền đó. Đấy là một vùng đất cát phì nhiêu dân cư trù phú, có một con sông chảy ra biển. Khi nào chúng ta chiếm cứ được vùng đó tôi và anh em cùng nhau cộng hưởng. Anh em quân lính chia làm hai đạo quân đặt dưới quyền chỉ huy của các thủ hạ tâm phúc của tôi. Anh mũi diều hâu kéo quân về phía Đông, anh “chọc tiết heo” về phía Tây. Tôi dẫn 5.000 quân tinh nhuệ, sẽ chờ hai cánh quân đó ở mạn Bắc. Khi hai cánh quân tả hữu đã công hãm được vùng đó, tôi sẽ tiếp ứng để triệt hạ tận gốc đối phương. Ở đấy, có một

ông Lãnh chúa nhưng thực ra chỉ là một tên trùm lâu la. Anh em đã hiểu và thường vẫn nói anh em đối xử với bọn trộm cắp thế nào. Chàng lại bất đắc dĩ phải thêm vào mấy câu nữa mà chàng rất buồn vì trái với lương tâm, bản tính của chàng:

– Nếu anh em thành công, tôi để cho anh em hoàn toàn tự do trong ba hôm. Nhưng chỉ được ba hôm thôi, qua sáng ngày thứ tư là phải chấm dứt. Ai trái lệnh không theo hiệu kèn, tôi cho thổi sáng hôm thứ tư, tôi sẽ thẳng tay giết liền. Đó là nhật lệnh của tôi xin anh em nhớ cho kỹ.

Chàng vừa dứt lời, bọn lính nhảy lên hoan hô. Khi Vương hổ tướng vừa quay ngựa đi, binh sĩ xem lại võ khí, lau chùi, mài cho sắc, đếm xem còn bao nhiêu viên đạn. Hồi đó bọn lính trao đổi với nhau, dùng những viên đạn thay liền. Anh nào máu mê rượu chè, hay thích gái, lấy đạn ra mua bán, trao đổi.  Tang tảng sáng mùng 8, Vương hổ tướng dẫn đạo hung binh ra khỏi trại, chàng để một số binh sĩ ở lại. Chàng tới tìm ông Phủ (ông này bây giờ yếu mệt quá, nằm liệt giường), cho hay chàng có để lại một số quân phòng ngự trong Phủ. Giọng nói yếu ớt, ông Phủ cám ơn chàng, ông cũng biết chàng sắp xếp như vậy để bảo vệ cho ông, cho hạt ông. Đạo quân để lại đặt dưới quyền điều khiển của anh sứt môi. Trông coi bọn lính ở lại thật là khó khăn, họ bực tức vì không được theo đi đánh giặc; Vương hổ tướng phải hứa nếu mọi việc trong hạt được êm đạp, khi chàng về, sẽ có thưởng và lần sau có trận mạc nào, bọn này sẽ được trưng dụng. Được ve vãn và hứa có thưởng, bọn lính ở lại cũng hơi bằng lòng. Chàng dẫn quân đi, cho phao đồn trong dân chúng là chàng xuất sư để dẹp quân thù ở miền Nam kéo lên định xâm lăng vùng này. Dân chúng sợ quá; để lấy lòng chàng, bọn con buôn trong hạt hom góp nhau đem biếu chàng một số tiền lớn, nhiều thân hào đi tiễn chàng để nhân tiện xem làm lễ tế cờ. Chàng cho mổ heo, lập bàn tế cờ cầu cho cuộc  xuất chinh nầy được thành công mỹ mãn.Lễ xong, đoàn quân lên đường. Chiến sự đối với chàng không phải chỉ dùng binh lính, võ khí, chàng còn đem theo cả một số tiền lớn. Là một tướng tài có mưu cơ, chàng đem tiền vì có khi phải dùng đến. Lúc đầu, tiền đem theo cũng không ích gì, nhưng biết đâu sau này chàng phải dùng thế lực kim tiền để mua chuộc lòng người, mua chuộc một nhân vật trọng yếu nào để làm nội công. Hồi đó đang độ tiết xuân, hai bên đường lúa mạch đã lên cao, sắp trổ bông. Ngồi trên mình ngựa, chàng ngắm những cánh đồng bao la, xanh dờn, cảnh vật tốt tươi, ruộng đất phì nhiêu, vùng này dưới quyền chàng cai trị, chàng dương dương tự đắc, cảm thấy tâm hồn phấn khởi, sung sướng, như một ông vua đi kinh lý trong nước. Thấy cảnh vật tốt tươi, huy hoàng, chàng nghĩ cần phải tìm thêm một vùng mới để cai trị, đặt thuế khóa, lấy tiền duy trì một đạo hùng binh và bổ sung vào quỹ dự trữ. Đạo quân tiến sâu, ra khỏi hạt chàng đến đầu địa phận một hạt mới ở miền Nam, phong cảnh đã thay đổi, những cây lựu, bông hoa lập lòe đỏ như lửa, cây cối tốt tươi đâm chồi nảy lộc, chàng biết đạo binh của chàng đã đặt chân lên một vùng mới lạ. Ruộng nương xanh tốt, trâu bò con nào cũng béo mập, con trẻ đứa nào cũng mũm mĩm phục phịch, hàng ngắm cảnh sung sướng, tinh thần như thêm phấn khởi.

Khi đạo quân chàng đi qua một cánh đồng, nông phu đang làm dưới ruộng, ngửng đầu, cau mày nhìn, đàn bà đang nói chuyện cười đùa vui vẻ, thấy lính đi ngang im bặt tiếng, nhiều người mẹ ăm con, lấy tay che mắt con không

cho nhìn thấy binh sĩ. Bọn lính vừa đi vừa nghêu ngao hát, càng làm khích nộ bọn nông phu chửi rủa cả đến những đàn chó trong làng, nghe tiếng động xồ ra sủa, nhưng thấy lính, chó lùi ngay lại, cúp đuôi chạy. Trâu đang ăn cỏ, nghe tiếng ấm ầm, cũng co chân chạy; con nào đang kéo cày, lôi cả người và cày chạy theo. Bọn lính thấy thế rộ lên cười, nhưng nếu Vương hổ tướng có nom thấy, chàng ngừng lại, nhã nhặn, tử tế, chờ cho người nông phu điều khiển được con vật khỏi lồng lên.

Các thôn xóm, dân chúng bực mình, khó chịu thấy lính xô đẩy nhau vào, bô bô xin nước, xin rượu, xin cơm, xin thịt. Các cửa hàng, chủ nhăn nhó, khó chịu, lo sợ lính cướp phá hàng hóa của họ, nhiều nhà giữa ngày, ầm ầm đóng cửa như trời đã tối. Lúc ra đi, Vương hổ tướng đã phát tiền cho lính, ra nghiêm lệnh không được cướp bóc, cần thứ gì phải mua bán đàng hoàng, tiền nong trả phân minh. Nhưng chàng cũng biết một ông tướng dù tài giỏi đến mấy, điều khiển hàng bao nhiêu ngàn người, cũng không phải là dễ nếu

không có phương pháp, nên chàng ra lệnh cho các đội trưởng phải chịu trách nhiệm các cơ đoàn của mình, chàng chỉ biết  kêu lên “Nếu ta nghe thấy, ta sẽ giết chết!” nhưng xemchừng nếu khắt khe quá, quân sĩ sẽ nản lòng, chàng đành làm ngơ, không muốn nghe ai nói.

Vương hổ tướng nghĩ ra được một diệu kế về kinh tài là khi đến một đô thị nào, chàng để quân đội ở cả ngoại ô, chàng dắt mấy trăm thủ hạ vào trong thành đến một nhà buôn nào giàu có nhất vùng, cho triệu tập các nhà buôn lớn nhỏ hội lại nhà đại phú thương đó. Khi bọn này tề tựu đông đủ, họ sợ lắm, khúm núm kính cẩn. Với một giọng lịch sự ôn tồn, chàng nói:

– Xin các ông yên tâm, đừng tưởng tôi đến đây để sách nhiễu các ông quá mức đâu. Tôi hiện có mấy ngàn binh đội ở ngoại châu thành, nếu các ông vui lòng gom góp nạp cho tôi một số tiền phải chăng, tôi đưa binh đội đi xa, chúng tôi chỉ ghé qua chặng này một đêm thôi.

Các nhà buôn sợ xanh mặt, cử một đại diện nói xin nạp một số tiền, Vương hổ tướng thấy số bạc họ hứa quá ít ỏi, cười nhạt, tuy cười, chàng nhíu đôi lông mày lại, nói:

– Tôi biết các ông ở đây buôn bán khá lắm, có những cửa hàng lớn bán dầu, ngũ cốc, tơ lụa vải vóc; các ông ăn mặc sang trọng, phố xá khang trang, các ông làm giảm giá trị đô thị này, các ông đưa nộp một số tiền quá nhỏ mọn, ít ỏi. Với một số tiền như thế có hại đến danh dự, phẩm giá các ông. Chàng yêu sách rất mềm mỏng nhã nhặn được một số tiền quan trọng. Không như các ông tướng khác, dùng dọa nạt, nếu không được như ý, thả lính đi cướp bóc, tàn phá. Dùng chính sách hợp lý, nhân đạo, chàng nghĩ họ buôn bán còn vợ con, gia đình, không nên sách nhiễu quá đáng. Sự nhã nhặn của chàng đã đem lại kết quả như ý mà các con buôn cũng thấy dễ chịu tống khứ được bọn lính và chàng ra khỏi đô thị.

Từng chặng một, Vương hổ tướng đã lần lần đưa bọn lính về phía Đông Nam, một vùng ăn thông ra biển. Mỗi chặng, mỗi đô thị, chàng lại nhận được một số tiền thù lao, đến nơi nào chiều hôm trước, sáng hôm sau chàng lại nhổ trại kéo quân đi. Đến xã nào dân cư nghèo, chàng chỉ xin ủng hộ ít thực phẩm còn không lấy gì hết. Suốt bảy đêm ngày kéo quân đi ròng rã như thế, chàng đã thu nhận được một số tiền rất lớn, binh sĩ ăn uống no đủ, tinh thần hăng hái, chứa chan hy vọng. Đến ngày thứ bảy, còn độ nửa ngày đường nữa tới một đô thị, trung tâm vùng đó là nơi mà chàng định chinh phục. Chàng cưỡi ngựa đi trước, trèo lên một ngọn đồi để quan sát địa thế. Xa xa đằng kia, đô thị như một viên ngọc, xung quanh có thành trì bao bọc, trong một cánh đồng bát ngát, ruộng nương xanh tốt. Trước phong cảnh tuyệt đẹp, chàng cảm thấy sung sướng quá, tim chàng đập mạnh, như muốn

nhảy ra khỏi lồng ngực. Kìa xa xa con sông lượn vòng, khúc sông giáp ngay với cửa Nam, đô thị khác nào như hạt châu gắn ở đầu sợi dây chuyền bằng bạc. Chàng vội vàng cho một sứ giả đến đô thị đó. Binh đội nơi đây khoảng một ngàn người canh phòng, báo cho chủ tướng biết có Vương hổ tướng ở phương Bắc kéo đại đội hung binh xuống giải phóng cho dân vùng thoát khỏi áp bức của một tên trùm lâu la. Nếu tên đó không chịu rút lui và nạp một số tiền, Vương hổ tướng sẽ kéo độ mươi ngàn binh san bằng tỉnh thành.

Vị tướng cai quản vùng này là một tên trùm già trộm cướp, hình thù rất xấu xí, dân trong hạt mệnh danh là Thủ môn Thiên tướng vì họ thấy ở các đình chùa có đắp tượng mộng vị hắc thần gác cổng hình thù cổ quái.

Tiếp viên sứ giả của Vương hổ tướng đến yêu sách sống sượng, ngạo mạn, lão tướng nổi cơn lôi đình như sấm sét. Uất khí xung thiên, tưởng chừng đến tắt thở, mãi hắn mới mở miệng nói được:

– Về bảo chủ tướng mi, muốn đánh nhau thì đánh, ta không sợ. Ta chưa nghe thằng chó nào có tên là Vương hổ tướng.

Sứ gia trở về trình Vương hổ tướng thuật hết lời tên kia đã xúc phạm đến uy danh chàng. Đến lượt chàng nổi cơn thịnh nộ, lòng tự ái bị kích thích quá mạnh, hắn dám bảo không biết có ai tên là Vương hổ tướng! Song chàng thầm nghĩ thiên hạ cũng có khi không biết ta chăng? Chàng nghiến răng ra lệnh ngay ngày hôm đó kéo đại đội hung binh thẳng tiến đến trước mặt thành đóng quân hạ trại. Đến nơi, các cửa thành đều đóng kín mít, chàng hạ lệnh cắm trại rải rác quanh hào để xem đối phương động tĩnh ra sao, có gì

khác lạ phải cấp báo cho chàng biết. Sáng hôm sau, chàng dậy thật sớm cho gọi thủ hạ, thổi kèn đánh trống tập trung hết binh đội lại. Khi tất cả tụ tập

đông đủ, chàng hạ lệnh phải chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu, có khi phải chờ một hai tháng nữa. Đem theo độ một trăm vệ binh, chàng lên một ngọn đồi cao ở phía Bắc, trên có một ngôi chùa cổ. Để vệ binh ở ngoài thị uy chư tăng ni, chàng lên trên cao, nhận xét, địa thế trong thành không rộng mấy, có độ năm vạn dân cư, nhà cửa cũng thường, mái lợp bằng ngói đen, hòn nọ chồng lên hòn kia như vẩy cá.

Chàng quay xuống cùng với thủ hạ sang bên kia hào, thình lình một loạt súng nổ, ở trên mặt thành bắn xuống, chàng vội vàng lùi, né mình. Vương hổ tướng xét hiện tình, bắt buộc phải chờ cơ hội thuận tiện, chàng họp các đội trưởng lại bàn kế hoạch ứng phó. Tất cả khuyên chàng dùng kế hãm thành là hay hơn cả, về vấn đề sinh hoạt dân trong thành, triệt lương thực ở ngoài vào. Chàng nghe cũng có lý, vì như thế tránh được sự đổ máu, tiết kiệm được sinh mạng, vả lại cửa thành chắc chắn lắm, cánh cửa có đai sắt, khó lòng phá vỡ. Hãm độ một hai tháng, dân trong thành hết lương thực tức sinh biến, phải đầu hàng, đánh ngay bây giờ bất lợi, họ sung sức, lương thực đầy đủ, vị tất thắng sẽ về bên nào. Vương hổ tướng chấp thuận kế hãm thành là thượng sách, chờ ngày nào thuận lợi đánh một trận là xong. Chàng hạ lệnh cho quân sĩ đồn binh, cắm trại quanh thành, xa ngoài tầm đạn, dù ở trong có bắn ra, đạn chỉ rơi xuống hào. Bốn mặt thành được vây kín, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Binh sĩ của Vương hổ tướng được ăn uống đầy đủ do các sản phẩm, gà vịt, rau cỏ, thóc gạo của các miền phụ cận tiếp tế. Chàng mua bán đường hoàng, tiền nong trả song phẳng, dân quê các vùng quanh đó không có ác cảm, chống đối với chàng.

Thấm thoát đã sang hạ, lúa rất tốt, ở đây mưa gió thuận hòa, không mưa nhiều, không nắng lắm. Có tin đồn ở vùng bên núi hạn hán mất mùa, dân cư bị đói. Vương hổ tướng thấy thế lòng khấp khởi mừng thầm, số chàng kể cũng tốt, chiếm cứ được vùng này thật là mãn nguyện.  Ngày tháng thoi đưa đã được một tháng rồi, Vương hổtướng vẫn ngồi chờ trong lều vải, không thấy một người nào trong thành ló mặt ra ngoài. Hai mươi hôm sau nữa vẫn

lặng ngắt, không bóng dáng một người nào ở trong thành đi ra; chàng cáu lắm, bọn lính nóng ruột, bực bội khó chịu. Nếu sang phía bên kia hào, thế nào cũng có một loạt súng ở trên thành bắn xuống. Vương hổ tướng hết sức lạ, trong cơn phẫn nộ chàng nói:

– Không biết chúng nó còn gì ăn, mà vẫn còn sức bắn súng.

Anh “Mui Diều Hau” đứng đó, nhổ một bãi nước bọt, tỏ ý thán phục đối phương giỏi, gan dạ, lấy tay quệt mồm, nói:

– Nó ăn cả chó, cả mèo, thứ gì ăn được là ăn, bắt cả chuột thịt là đằng khác.

Ngày này qua ngày khác, tình trạng vẫn thế, sắp sang tháng thứ ba, cuộc hãm thành đến nay tính đã gần hai tháng. Một buổi sáng cũng như mọi ngày, chàng đi tuần một vòng quanh trại, thình lình ở trên cổng Bắc thấy phấp phới có lá cờ trắng. Chàng vội vàng truyền cũng giương lên một lá cờ trắng, mừng thầm chắc chiếc cuộc đã đến ngày kết liễu. Cửa Bắc hé mở vừa đúng một người lách ra, cửa lại đóng chặt, nghe tiếng thanh sắt kéo lên kéo xuống ầm ầm bên trong. Phía bên kia hào, Vương hổ tướng ngồi ở trong lều vải nhìn ra, hồi hộp chờ. Một người trẻ tuổi tiến lại phía chàng, tay cầm một lá cờ trắng cắm trên đầu ngọn tre. Chàng thét tả hữu đứng dàn ra cả ở phía trước, chàng ngồi đằng sau hàng rào lính, chờ người của đối phương lại  điều đình. Khi gần đến nơi, người kia nói lớn:

– Tôi được cử đến đây để xin nghị hòa, chúng tôi bằnglòng nạp một số tiền, bao nhiêu cũng được, yêu cầu quý ông cho triệt thoái binh đội.

Vương hổ tướng nghe nói cười khẩy:

– Anh tưởng tôi kéo binh mã tới đây để yêu sách một số tiền hở? Ở trong địa giới tôi, tôi muốn có bao nhiêu mà chẳng được. Chủ tướng anh phải đến đây xin đầu hàng, triệt thoái, ta cần đô thị này, vùng này để sáp nhập vào miền của ta.

Người trẻ tuổi đứng vịn cành tre cắm dưới đất nhìn Vương hổ tướng có vẻ van lơn, cầu khẩn, anh van nài:

– Xin quý ông làm phúc triệt thoái binh đội đi nơi khác.

Nói xong, người đó sụp xuống lạy Vương hổ tướng; chàng đùng đùng nổi cơn thịnh nộ, như mọi lần có việc gì trái ý, chàng hét:

– Ta không khi nào chịu rút lui trước khi miền này ở trong tay ta.

Người trẻ tuổi đứng dậy, hất đầu về đằng sau, vẻ thách thức, anh ta nói:

Các ông cứ ở, suốt đời ở đây cũng được, chúng tôi không ngại.

Nói xong hắn quay người trở về thành. Vương hổ tướng bừng bừng nổi giận, chàng nghĩ thấy lạ quá, tụi nó đã đến bước cùng đồ mà còn dám sai một thằng quá ư vô lễ đến xin điều đình. Chàng chưa thấy một người nào xấc láo đến thế, nghĩ căm tức, thét lính:

– Lấy súng bắn chết thằng đó cho tao!

Lính tuân lời, ngắm đúng, nổ cò, người kia trúng đạn ngã gục nằm úp mặt xuống đất trên chiếc cầu hẹp ở hào, lá cờ trên tay rơi xuống lơ lửng trên mặt nước. Vương hổ tướng  truyền cho lính lôi xác người đó về, và phải chạy thật nhanhsợ súng trên thành bắn xuống. Vương hổ tướng xét có hai  điều làm chàng ngạc nhiên: trên thành thấy im không bắnxuống, khám nghiệm xác chết không thấy gầy ốm, đói ăn; có da có thịt béo tốt, tất phải được ăn uống điều hòa, vẫn có  sức cầm cự được với chàng. Chàng cáu lắm, nói lớn:

– Được rồi, ta đóng quân ở đây suốt đời liệu chúng mày có sức cầm cự được mãi không?

Vì đang căm hờn, từ hôm đó chàng như nới lỏng cho bọn lính được tự do hơn, không khắt khe như trước. Lính có đi cướp bóc thực phẩm ở ngoại ô hay những trại nào quanh đó, chàng cũng làm ngơ không phạt giam như trước. Khi có người dân nào đến trình với chàng nhà họ bị lính đến quấy nhiễu, làm điều phạm pháp, chàng trả lời:

– Các ngươi cũng là một tuồng vô lại cả. Ta chắc các ngươi lén lút tiếp tế lương thực vào trong thành, nếu  khônghọ lấy gì ăn, mà có đủ sức chống đối.

Các dân quê thề không bao giờ làm thế, một người trong bọn nói với chàng:

– Ông nào đến cai trị đây cũng thế, vấn đề đó chúng con không quản ngại. Sự thật chúng con không ưa gì tên cướp già đó, thuế má đánh nặng quá, chúng con chết đói dở. Nếu tướng quân ra nghiêm lệnh cho bộ đội đừng xâm phạm tài sản quấy nhiễu dân, chúng con cầu mong tướng quân đến quản nhậm hạt này.

Hồi đó, đang giữa mùa hè nóng bức, ruồi nhặng kéo lên hàng đàn ở những đống rác, đống phân lính phóng uế. Chàng bị kích thích đến cực độ, nghĩ đến mấy gian phòng ở phủ chỗ chàng ở, nghĩ đến hai cô vợ đang mong chờ ở nhà, chàng bực bội, tính nết cáu kỉnh, không thuần tính như xưa kia. Bọn lính trở nên ngỗ nghịch, khó bảo, nhiều cái chàng không cấm đoán nổi.

Một đêm trăng sáng vằng vặc, không gió, tiết trời oi ả, chàng không sao ngủ được, đi ra ngoài hóng mát. Một vệ sĩ theo sau, vừa đi vừa ngáp, nửa thức nửa ngủ, chàng đi đi lại lại ngắm bức tường thành dưới ánh trăng vừa cao vừa đen như ngạo nghễ thách thức, bất khả xâm phạm. Lòng càng thêm bực tức, mối căm thù không thể khuây được, chàng thề nếu vào thành sẽ làm cỏ hết dân trong đó, đàn ông, đàn bà, trẻ con. Chợt chàng ngó thấy ở tường thành hình như có một bóng đen từ trên cao tụt xuống. Chàng đứng yên, để ý nhìn, lúc đầu chàng tưởng chừng hoa mắt, sau định thần nhìn kỹ, có cái gì nhỏ nhỏ, bò như con cua lách qua cây cỏ ở khe tường thành. Dưới ánh trăng, chàng nhận ra một người tay phất một miếng vải trắng. Vương hổ tướng truyền cho lính đem theo một lá cờ trắng lại giáp người đó đưa về bản doanh. Khi tới trước chàng, người đó phủ phục, rập trán xuống đất lạy; chàng thét:

– Người kia đứng dậy để ta xem mặt.

Hai người lính xốc người ấy đứng dậy, Vương hổ tướng nhìn người đó, cơn tức lại nổi lên, chàng như nghẹn họng không nói được. Người này coi còn sức lực, khỏe mạnh, không có vẻ đói khát. Tuy người có gầy, mảnh khảnh nhưng không có dáng gì phải nhịn đói thiếu ăn. Chàng gầm lên:

– Tên kia, đến xin đầu hàng phải không?

Người đó trả lời:

– Không phải thế, chủ tướng tôi chưa chịu đầu hàng, ở trong thành hãy còn lương thực, bọn thủ hạ chúng tôi ngày nào cũng được phát lương ăn đầy đủ. Dân trong thành cũng có đói nhưng cái đó không đáng quản ngại, chúng tôi còn có thể chịu đựng được một thời gian lâu nữa và đang chờ viện binh ở Nam đến ứng cứu. Chúng tôi đã lén lút cho một sứ giả ra ngoài cầu viện.

Vương hổ tướng bán tín bán nghi, chàng cố nén giận, dịu giọng hỏi:

– Nếu mi không đến xin hàng, mi lại đây có việc gì, nói mau.

Người kia vẻ mặt rầu rầu trả lời:

– Tôi đến đây do việc riêng của tôi, tôi bị chủ tướng ngược đãi. Thằng cha đó cục súc, đê tiện, vô giáo dục, tôi là một người có huyết thống, dòng dõi danh gia lệnh tộc, ông cụ thân sinh ra tôi là một văn nhân. Tôi quen sống trong lễ nghi, giáo lý. Lão tặc đó đã nhục mạ tôi trước mặt quân lính thuộc bản đội tôi. Vẫn hay ở đời nhiều cái cũng có thể tha thứ, nhưng sỉ nhục lăng mạ đến tổ tiên tôi là một điều không thể bỏ qua được. Thực ra tổ tiên hắn chỉ đáng làm nô bộc cho tiên tổ nhà tôi.

Vương hổ tướng nghe câu chuyện lạ lùng, gạn hỏi:

– Hắn sỉ nhục lăng mạ thế nào?

Người kia trả lời:

– Hắn sỉ nhục tôi, bắt bẻ tôi về cách cầm súng, tôi là một thiện xạ, nếu tôi ngắm cái gì là tôi bắn trúng đích.

Nghe xong, Vương hổ tướng thấy nảy một tia hy vọng,  chàng hiểu châm biếm và lăng mạ là hai yếu tố gieo rắc vào lòng người một mối căm thù ghê gớm, cả đến với bạn bè than mật, nhất là với một hạng tự phụ, tự đắc như anh chàng này, cứ trông nét mặt cũng đoán được tính nết.

Chàng thật lòng hỏi:

– Anh giúp tôi định lấy bao nhiêu tiền công hay thế nào?

Người đó thấy xung quanh bọn vệ sĩ của Vương hổ tướng đứng, há hốc mồm nghe, anh ta đến gần Vương thì thào nói:

– Ông cho tôi vào trong lều, dễ nói chuyện hơn.

Vương hổ tướng quay vào lều và cho lính dẫn anh này theo sau. Chàng để năm sáu vệ sĩ bảo vệ chàng phòng sự rủi ro bất trắc. Vương hổ tướng xét người này có ý thật tình, không có ý gì man trá, mưu phản. Khi vào trong lều, người kia nói:

– Con rất căm thù tên đó nên con liều lại trèo vào thành làm nội công mở cửa thành cho tướng quân, con chỉ xin tướng quân một việc là con được thâu nạp phục vụ dưới trướng với vài ba người biết nghe theo con. Nếu tên lão tặc đó chưa bị giết, con xin được bảo vệ, thế nào hắn cũng cố tìm hại con, hắn đối với con là một tử thù.

Vương hổ tướng không muốn nhận một việc trợ giúp không phải trả công, chàng nhìn thẳng mặt người đó, có hai tên lính kèm theo hai bên. Chàng nói:

– Nhà ngươi là một người tự trọng, có nhân cách, không chịu khuất phục, không chịu lăng mạ, một người có khí tiết. Ta rất hài lòng gặp một người có khí phách nhà ngươi. Nhà ngươi quay về thành bảo với đồng đội: ta sẽ thu nạp hết những ai tới đem vũ khí, súng ống quân trang, ta tỏ lượng khoan hồng thu nạp vào hàng ngũ binh đội của ta. Còn nhà ngươi, ta sẽ phong cho chức Đại đội trưởng và ân thưởng một trăm đồng và cứ mỗi người đến đem đủ súng ống, ta thưởng cho nhà ngươi năm đồng.

Người kia, mặt tươi hẳn lên,hớn hở nói:

– Bình sinh con vẫn mong ước được phò giúp một người như tướng quân. Con sẽ tận tâm báo ơn tri ngộ. Con sẽ làm nội ứng, mở cửa thành đón tướng quân ngay ngày hôm nay khi mặt trời đúng ngọ.

Nói rồi hắn vái chào từ biệt. Vương hổ tướng đứng dậy đi ra theo dõi bóng người đó. Thoăn thoắt, nhanh nhẹn như một con khỉ, hắn leo lên tường thành vịn vào rễ, cành cây mọc ở khe tường rồi biến mất.

Mặt trời từ từ nhô lên, một góc trời đỏ ửng tỏa ánh hào quang chiếu sáng. Vương hổ tướng truyền mật lệnh cho thủ hạ đừng làm náo động sợ đối phương có do thám làm hỏng kếhoạch. Một số đông binh đội đã biết đêm qua có người trong thành leo tường trèo ra điều đình. Đêm qua trời sáng trăng vằng vặc, trông rõ, có thể xâu kim được, bọn lính thấy rõ hết, họ nằm im xem, đã hiểu một phần nào cuộc hội kiến giữa chủ tướng và người trong thành lẻn ra. Khi mặt trời lên cao, tất cả binh sĩ được chuẩn bị sẵn sàng. Vương hổ tướng truyền phát cho bộ đội rượu thịt ăn cho ấm bụng. Khi ăn uống no nê họ chờ hiệu trống để tiến quân.

Mặt trời lên cao, nắng chang chang, nóng bức, không một chút gió. Vương hổ tướng hô lên một tiếng, quân sĩ xếp thành sáu hàng dài. Theo tiếng hô quân của chủ tướng, tất  cả binh đội đều hô theo, vừa hô, vừa giơ cao vũ khí, mỗingười một khẩu súng, một thanh đoản kiếm, chạy thẳng lên phía trước mặt.

Họ đi lên trước cầu con, qua hào, một số lớn phải lội, đến tập trung ở cửa Bắc. Các đội trưởng không muốn Vương hổ tướng đứng hàng đầu vì chưa hiểu bụng dạ người kia, sợ có mưu phản, gian trá gì chăng. Tất cả quân đội chờ, không một tiếng động nào ở trong vọng ra, binh đội đứng yên không bắn một phát súng nào vào trong thành. Mặt trời lên cao đến đỉnh đầu, Vương hổ tướng vẫn đứng nguyên chờ, thình lình thấy cánh cửa sắt từ từ hé mở, một người thò đầu ra ngoài: Vương hổ tướng thét quân, bao nhiêu binh đội kéo ùa vào, cửa thành mở rộng họ chạy như nước vỡ bờ tràn ngập cả trong thành. Không bỏ phí một chút, chàng truyền kéo ngay tới chỗ ở lão tặc, thét bọn lính không được hoành hành tự do vì chưa bắt được tên chủ tướng. Tất cả binh đội theo chàng lục soát tìm kiếm. Khi tìm thấy chỗ ở của tên này, gian phòng bỏ trống, hắn đã cùng bọn thủ hạ tẩu thoát theo cửa Nam. Chàng nhìn ra ngoài phía cửa Nam, xa xa thấy bụi bay mù mịt. Chàng đứng một lúc, không đuổi theo nữa. Đã chiếm được thành trì, cả vùng này ở trong tay chàng, cần gì một tên tướng cướp già với thủ hạ lâu la của hắn.

Chàng trở lại trong tòa nhà bỏ không của tên trùm, những binh lính của tên này lục tục kéo lại chào và xin được bảo trợ. Chàng ngồi ở gian chính giữa, bọn lính kéo lại, lũ năm lũ mười, người nào cũng gầy còm ốm yếu trông còn

thảm tệ hơn những năm mất mùa đói kém. Đến trước mặt Vương hổ tướng, họ quỳ cả xuống chắp tay vái xin được dung nạp. Chàng chấp thuận kết nạp, đãi ăn uống và phát cho mỗi người năm đồng. Anh chàng đêm qua đến dẫn đầu bản đội của hắn. Vương hổ tướng trao tận tay tên này số tiền 200 đồng đã hứa, truyền đem cho hắn một bộ quân trang cấp bậc đại đội trưởng. Chàng cho ghi công hắn kết nạp vào trong binh đoàn.

Sau khi thu nạp xong bọn tàn binh của viên tướng cũ, thưởng phạt phân minh, Vương hổ tướng nghĩ đã đến lúc chàng phải thực hiện lời chàng đã hứa trước mặt ba quân. Bọn lính nhấp nhổm chờ chàng cho phép tự do. Có một điều lạ là bây giờ chàng đạt được chí nguyện, lòng căm thù đối với dân trong thành đã tiêu tán, chàng nghĩ xót xa, ái ngại nếu làm cho dân chúng phải cực khổ, điêu linh. Tuy nhiên, chàng phải giữ chữ tín đối với thuộc hạ, bắt buộc chàng phải cho họ ba hôm được tung hoành phóng túng. Trong ba hôm đó, lòng chàng se thắt, không muốn nghe, không muốn trông thấy những cảnh thương tâm, đồi bại, chàng đóng kín cửa ở trong phòng với các vệ sĩ. Có hai, ba trăm vệ sĩ túc trực bảo vệ, bọn này nóng lòng sốt ruột cũng muốn được hưởng thú tự do, chàng đành phải chiều lòng cho đi gọi bọn khác về thay thế. Thấy bọn lính gọi về, mắt người nào cũng đỏ ngầu, mặt mũi hung dữ, chàng ngoảnh mặt không muốn nhìn, không muốn nghĩ những cảnh đau khổ thương tâm của dân chúng trong thành đang bị lính phá phách vơ vét, hiếp tróc.

Thằng Rỗ vẫn quanh quẩn bên chàng, ngỏ ý muốn tò mò xem cảnh tượng ra sao, chàng được thể như trút nỗi bực tức lên đầu thằng nhỏ:

– Cả mày cũng muốn đi làm những việc tồi bại như tụi khốn nạn đó hử?

Chàng muốn thằng nhỏ luôn luôn ở bên mình chàng, sai nó lấy cái này cái kia. Khi tiếng rên siết lọt thấu đến tận phòng, chàng càng bực bội khó chịu, càng tức, càng rầy la thằng cháu. Thấy chú không vui, tính nết cáu kỉnh, thằng nhỏ sợ toát mồ hôi, không dám hé răng một lời.

Sự thật trong lúc phẫn nộ, chàng không thể hung bạo, tàn nhẫn, chém giết, cái đó có lẽ cũng là nhược điểm của một  người làm tướng, sự vinh quang thành công phần nhiều vẫn xây bằng xác chết kẻ khác. Chàng cũng biết một nhược điểm là chàng không đủ can đảm làm việc gì trái với lương tâm, chàng cũng hiểu không thể gữ được mối căm thù, phẫn nộ đối với dân trong thành, chàng nghĩ bọn người này ngu xuẩn đáng ghét đã không biết tìm cách gì để mở cửa thành cho chàng.

Khi bọn lính ủ rũ, trở về xin lương thực, chàng vừa buồn vừa giận hét to:

– Đi cướp phá chưa đủ ư lại còn về xin ăn?

Bọn lính trả lời:

– Cả tỉnh không còn được một nắm thóc. Chúng con chỉ thấy có vàng bạc vóc lụa, những thứ đó không ăn được. Dân quê các vùng lân cận, cũng sợ không gánh thực phẩm lên. Ở tỉnh không còn có gì ăn được.

Nghe nói thế, Vương hổ tướng nghĩ đến dân tình lòng xót xa đau đớn, tuy phát lương cho bọn lính nhưng chàng nhiếc móc. Có lần chàng nghe một tên lính bô bô nói năng thô lỗ:

– Bọn đàn bà, con gái ốm nhom, như gà trụi lông, trông không có gì hứng thú là khoái cả.

Vương hổ tướng nghĩ đến dân chúng lầm than, cơ cực, tâm hồn chàng tê tái, lòng buồn rười rượi. Chàng vào phòng riêng một mình để che giấu nỗi buồn, nỗi bực tức, căm hờn đối với bọn lính vô nhân đạo, vô ý thức.

Chàng nghĩ hiện nay đã chinh phục được một vùng mới, đất cát phì nhiêu giang sơn cẩm tú, mở rộng được cương giới, đạt được chí nguyện, nghĩ như thế, chàng như cất được nỗi buồn, tinh thần phấn khởi hăng hái. Chàng lại nghĩ đến hai cô vợ ở nhà, thế nào một trong hai người chẳng sinh hạ cho

chàng một đứa con trai, chàng tự nhủ thầm:

– Ta vì đứa con trai đã chịu gian nan, vất vả, những kẻ  khác cũng cố chịu cực khổ trong ba ngày. Chàng đã giữ lờihứa, đã cố gắng chờ cho hết ba ngày.

Sang ngày thứ tư chàng dậy thật sớm, cho lệnh thổi kèn loan báo cho tất cả binh lính được biết cuộc cướp phá chấm dứt, nhất luật phải trở lại quân kỷ. Khác với mọi hôm, sáng hôm đó nét mặt chàng hầm hầm, cương quyết, đôi lông mày đen rậm luôn luôn nhíu xuống cặp mắt, trông thấy, không một ai dám trái lệnh.

Chàng dạo quanh một vùng ở trong tỉnh, hết sức ngạc nhiên thấy vài ba người dân thân hình quá tiều tụy, ngồi ở bực thềm nhà trước cửa. Khi Vương hổ tướng đi ngang, dưới ánh nắng nhạt mùa thu, có vệ sĩ đi dàn hầu, gươm dáo sáng loáng đám dân ngồi trước cửa, vẻ mặt hốc hác, buồn thiu, không đủ sức nhấc nổi đầu nhìn chàng. Họ ngồi yên lặng, không nhúc nhích, như những xác không hồn. Trước một cảnh tượng thương tâm, bi đát đó, Vương hổ tướng tự thẹn với mình và quá nỗi kinh ngạc, chàng không thể dừng bước hỏi han được một ai, chàng như không ngó thấy bọn người đó, chăm chú ngắm nhìn các cửa tiệm ở hai bên phố, cửa tiệm nào cũng đầy nhóc những hàng hóa. Đô thị này nằm trên bờ sông, con sông chảy thông ra biển, một giang hải để  tải hàng ngoại hóa nhập nội, Vương hổ tướng thấy nhiều thứhàng ngoại quốc lạ mắt, chàng chưa từng thấy bao giờ.

Những gian hàng để lỏng chỏng, bụi bặm, như đã lâu ngày không ai hỏi đến. Chàng nhận ra ở đô thị có hai thứ khác lạ không như mọi nơi, không có một hàng thực phẩm nào, gian  chợ bỏ vắng ngắt không một người mua một người bán. Phốxá vắng ngắt, không một tiếng động, chàng ngạc nhiên tự hỏi vì lẽ gì không nghe tiếng cười đùa của trẻ nhỏ, vì thường  ra nhà nào cũng đầy trẻ nhỏ, tung tăng chạy chơi, khắp phố cùng đường. Đột nhiên, chàng cảm thấy khó chịu phải nhìnnhững bộ mặt hốc hác, buồn thiu của mấy người đàn ông, đàn bà còn sót lại. Kể ra cũng không thể buộc tội chàng đã gây cảnh điêu linh trong dân chúng, vì chàng đã không làm gì quá đáng, có một đường lối duy nhất để đạt tới đích mà  bất cứ ông tướng nào cũng phải làm như thế. Thật tình vớinghề làm tướng cần phải sát phạt, Vương hổ tướng quả là một người có lòng trắc ẩn từ tâm.

Chàng quay gót trở về phòng, không muốn nhìn đô thị này từ nay thuộc quyền cai trị, sở hữu của chàng, hiện đang ở trong tình cảnh bi đát, tang thương. Chàng mắng chưởi bọn lính , chàng hét bọn này phải dãn ra xa, chàng không muốn nhìn bộ mặt ngu xuẩn, những tiếng cười ghê rợn, thô

lỗ. Chàng rất bực tức nhìn thấy những chiếc nhẫn vàng bọn lính đeo ở tay, những chiếc đồng hồ quả quít ngoại quốc họ đeo ở người và những thứ khác họ cướp được của dân chúng.

Hai người thủ hạ, thân tín nhất cũng vậy, ở ngón tay anh “mũi diều hâu” đeo một chiếc nhẫn vàng, anh “chọc tiết heo” một chiếc nhẫn cẩm thạch ở ngón tay cái, ngón tay thô lỗ, cục mịch, to quá chiếc nhẫn không vào lọt, đeo lơ lửng ở đốt ngón tay. Thấy thế, chàng muốn xa bọn người ghê tởm, chàng cho là một loài sài lang. Ngồi một mình trong phòng, lòng hết sức buồn rầu, ai lại gần chàng, hơi có chút gì, chàng la hét om sòm. Chàng ở trong phòng hai ba ngày, bọn lính thấy chàng bực tức, cáu kỉnh, sợ quá, không dám làm gì thất ý chủ tướng. Ngồi trầm ngâm suy nghĩ, cho là thói thường của chiến sự, chàng đã chọn nghề này, số trời đã định, đã theo đuổi nghiệp võ, chàng phải theo đuổi đến cùng. Nghĩ vậy chàng như trút được nỗi ưu sầu phiền muộn, lòng thư thái, tinh thần phấn khởi. Chàng đứng dậy ra tắm rửa, đã ba hôm nay, buồn rầu chàng không tắm rửa cạo râu. Thay quần áo xong chàng cho mời ông Phủ lại trình diện. Vương hổ tướng ra ngoài nhà khách ngồi chờ ông Phủ lại. Độ một hai giờ sau ông phủ tất tưởi đến, vịn vào hai người, nước da xanh ngắt, mặt mũi hốc hác bơ phờ. Thấy chàng, ông cúi đầu chào, dáng điệu nho phong, chàng hiểu ông là một văn nhân dòng dõi trâm anh, bèn đứng dậy nghiêng đầu đáp lễ và mời ông ngồi. Đối diện, chàng hết sức kinh ngạc thấy ông khách da mặt và tay đen sạm như miếng gan để khô hai ba ngày, người gầy đét như chỉ còn da bọc xương, chàng thốt nhiên hỏi:

– Úi chà! Dễ thường cụ cũng bị nhịn đói hử?

Ông phủ thản nhiên trả lời:

– Vâng, tôi cùng đồng bào cam khổ dữ đồng, mà không phải lần này là lần thứ nhất.

– Thế sao người bữa trước trèo thành ra xin hoãn chiến, tôi thấy khỏe mạnh béo tốt?

– Phải, họ đã nuôi nấng cho ăn uống đầy đủ, vì nếu ngài từ khước, ngài coi người đó tất sẽ dự đoán là trong thành còn đủ lương thực có thể cầm cự được lâu.

Vương hổ tướng không khỏi khâm phục mưu mô xảo trá, mánh khóe đó, chàng lại hỏi:

– Thế lão đội trưởng trèo ra ngoài thành người cũng béo tốt?

Ông Phủ thản nhiên trả lời:

– Họ chăm cho bọn lính được ăn uống đầy đủ, còn dân sự  không có gì ăn, chết đói như rạ. Những người ốm yếu khôngđủ sức, người già trẻ con chết vô kể.

Vương hổ tướng thở dài nói:

– Ừ, kể cũng lạ thật, tôi không thấy một đứa nhỏ nào.

Ngồi ngó ông phủ một lát, vì công vụ bắt buộc, chàng phải nói nội dung chủ yếu của cuộc hội kiến:

– Theo nguyên tắc bây giờ cụ phải đến xin phục tòng quy thuận tôi. Lão tướng trước đây cai quản hạt này tôi đánh bại đã lưu vong, hiện giờ đây tôi là thủ lãnh, vùng này từ đây sáp nhập vào cương giới của tôi ở phương Bắc. Từ giờ trở đi bao nhiêu thuế má lợi tức ở hạt này thuộc về tay tôi. Ngoài số thuế má, tôi yêu cầu cụ nạp cho hàng tháng một số tiền nhất định là bao nhiêu.

Vốn người lịch sự, chàng đã lựa lời nói năng mềm mỏng nhũn nhặn.

Với một giọng mệt nhọc, hai môi khô đét thâm sì hơi mấp máy để hé lộ bộ răng to và trắng, ông phủ nói:

– Chúng tôi bây giờ thuộc quyền của quý ngài. Xin khất ngài rộng lượng cho một hai tháng để được hồi phục.

Ông nói xong, ngừng lại suy nghĩ một lúc, nét mặt rầu rầu nói tiếp:

– Vấn đề ai cai trị ở đây chúng tôi không quan tâm lắm, miễn sao chúng tôi được yên ổn làm ăn nuôi lũ con dại. Tôi xin thề, tôi và đồng bảo tôi ở đây xin vui lòng nạp thuế má, cung phụng tùy theo khả năng của chúng tôi, miễn sao ngài đủ uy lực cản bọn các ông tướng khác đừng bén mảng đến

đây, ngài giữ được an ninh trong hạt.

Vương hổ tướng cũng chỉ cần biết có thế. Nghe tiếng nói yếu ớt, mệt nhọc, hơi thở hồn hển, chàng động lòng trắc ẩn, kêu lính, truyền:

– Dọn cơm rượu mời cụ phủ và các người này ăn.

Sau khi cơm rượu dọn rồi, chàng gọi bọn thủ hạ tâm phúc lại bảo:

– Các anh đem theo ít lính đi khắp các làng mạc, thôn xóm, bắt các nông dân phải gánh gạo cùng các thứ thực phẩm lên tỉnh bán, chiến tranh đã chấm dứt, ta muốn chợ búa lại họp buôn bán như trước.

Đối với toàn dân trong hạt chàng tỏ ra một người có độ lượng, chính trực. Ông phủ hết lời cảm ơn lòng tốt của chàng, chàng cũng cảm động được sự ghi ân đó. Chàng nhận xét ông Phủ thật là một người nho phong, gia giáo, đói gần lả, đồ ăn bày la liệt trước mặt, hai tay ông vẫn xum xoe, vẫn giữ phép xã giao, mời chào đưa đẩy. Theo xã giao, Vượng hổ tướng ngồi tiếp, ông phủ tuy đói vẫn làm khách, ăn cầm chừng. Chàng biết ý, nghĩ thương hại, giả vờ có việc xin kiếu đứng dậy, để ông ăn một mình. Ông phủ ngồi

riêng một mâm, các thủ hạ ông ngồi một mâm, chàng được  nghe đầy tớ dọn mâm kháo nhau các mâm hết sạch, bát đĩa nhăn bóng như chùi.

Chàng sung sướng thấy chợ họp đã đông, thực phẩm đã thấy bày bán ở các hè phố, dân chúng, đàn ông đàn bà dần dần có da có thịt, nước da xưa kia xanh sạm bây giờ đã hồng hào.

Suốt cả mùa đông chàng ở trong tỉnh, lợi tức thu nhập  được, công việc trong ngoài thu xếp ổn định, chàng rất vuimừng đã thấy trẻ con ra chào đời, đàn bà ẵm con cho bú.  Trước cảnh tượng đó, tâm hồn chàng rung động, nghĩ đã đếnlúc trở về quê cũ. Lần đầu tiên chàng thắc mắc tự hỏi không biết hai cô vợ ở nhà hiện nay ra sao? Chàng xếp đặt công việc để cuối năm trở lại nhà.

Khi công việc hãm thành vừa chấm dứt, các thám tử đi do thám trở về báo cáo một trận đại chiến Nam Bắc vừa phát khởi, quân Bắc toàn thắng. Chàng vội vàng gửi một phái bộ lên ông Đại tướng trên tỉnh, đem theo lễ vật vàng bạc vóc lụa và một phong thơ. Lá thơ đó chính tay chàng viết, chàng tự hào một người có văn tự; các ông Lãnh chúa phần đông mù chữ. Dưới lá thơ chàng đóng một triện son to, bây giờ chàng là một nhân vật quan trọng. Trong thơ, chàng tường trình đã đánh bại một tên tướng miền Nam, chinh phục được một vùng lớn ở miền duyên hải.

Ông tướng trên tỉnh gửi một phong thơ trả lời hết sức ca ngợi sự thành công của chàng, phong cho chàng một chức tước rất hoa mỹ, cuối thơ yêu cầu chàng hàng năm gửi lên tỉnh một số tiền để đài thọ quân phí.

Vương hổ tướng cũng tự biết chàng chưa đủ sức để khước từ, hứa xin y lời hàng năm cống hiến. Chàng đã  nghiễm nhiên trở thành một yếu nhân của chính quyền trong nước.

Ngày tháng thoi đưa, đã gần hết năm. Vương hổ tướnglàm bản thống kê công việc trong năm đã làm, kết quả thu  lượm được. Cương giới đã mở rộng gấp đôi, trừ những miền núi non, cằn cỗi, những ruộng đất phì nhiêu vừa trồng lúagạo và lúa mạch, ngoài ra lại còn những nguyên liệu thiên nhiên, hay sản phẩm như: muối, dầu, vừng, đỗ … Có một  điểm rất quan trọng là có đường thông ra biển, chàng có thểdễ dàng nhập càng nhiều thứ hàng ngoại quốc; cần dung súng ống đạn dược, chàng có thể điều đình mua ở ngoại quốc không cần nhờ đến anh Hai.

Ngoài những chiến lợi phẩm thu được của viên tướng cũ, có hai khẩu đại bác lớn. Vương hồ tướng lạ quá, chưa trông thấy bao giờ, chàng nảy ra ý muốn mua của ngoại quốc những cỗ đại bác có hỏa lực rất mạnh. Hai khẩu đại bác này đúc bằng một thứ sắt rất tốt, không có bọt, nhẫn thín, cỗ  súng này chắc một người thợ rèn nào khéo tay lắm mới làm được. Hai khẩu này nặng lắm, phải hai mươi người lực  lưỡng, cố hết sức mới nhấc lên nổi. Mấy khẩu súng này gợitính tò mò của Vương hổ tướng, chàng muốn biết cách bắn ra sao. Không một ai biết sử dụng thứ vũ khí lạ lùng này, mà cũng không có đạn để bắn thử. Họ cố lục soát tìm tòi thấy ở trong kho có hai cục sắt tròn to, chàng chắc đúng là đạn đại bác.

Tìm thấy đạn, chàng mừng quá, cho khênh một khẩu đại bác ra ngoài trời, đặt chĩa sang ngôi chùa cổ, mặt trước chùa có một khoảng đất bỏ trống. Lúc đầu không ai chịu ra sử dụng đại bác, Vương hổ tướng treo giải ai biết bắn đại bác sẽ được một số tiền thưởng. Viên đội trưởng làm nội ứng cho chàng lúc trước, nghe nói có thưởng và ý muốn lập công, tình nguyện ra thử súng. Trước kia hắn có xem bắn đại bác, còn nhớ cách thức sử dụng. Hắn lấy một thanh tre dài đầu buộc giẻ tẩm dầu, đốt lửa, hắn cầm một đầu thanh tre đứng xa đốt vào nòng súng; khi thấy khói bốc lên, những người đứng xem chạy thật xa, chờ đạn nổ. Một lúc nòng súng đẩy viên  đạn bắn ra xa tiếng nổ vang động như sấm sét, rung chuyển cả đất, khói lửa mù mịt, hỏa lực mãnh liệt, đến cả Vương hồ  tướng một lúc thấy người run lên, trái tim ngừng đập vì sợquá. Khi bắn xong mọi người chạy ra chỗ cổ tự, thấy có một

chỗ bị phá, bụi cát mù mịt. Vương hổ tướng sung sướng quá, được biết một thứ vũ khí lạ lùng, chàng nói lớn:

– Nếu trước ta có những khẩu đại bác này, ta không cần  phải hãm thành, một vài viên đạn cũng đủ phá tan các cửathành.

Chàng suy nghĩ một lúc quay lại hỏi viên đội trưởng:

– Thế sao ông chủ tướng cũ của anh không sử dụng thứ võ khí này để đánh ta.

Viên đội trưởng trả lời:

– Lúc đó không ai nghĩ đến thứ vũ khí này. Hai khẩu này ông tướng cũ chiếm được của một ông khác, họ cho khênh lại đây vứt xó, có ai biết bắn đâu. Chúng tôi cũng không biết có hai viên đạn đó, hai khẩu vẫn để nằm trơ ở góc sân ngoài.

Vương hổ tướng được hai khẩu đại bác đó như được gói vàng, chàng định sẽ mua ở ngoại quốc đạn đại bác, chàng cho khênh hai khẩu súng đó để vào một nơi chàng nom thấy luôn để dễ bề kiểm soát. Khi làm xong tổng kê những chiến lợi phẩm, kết quả thu hoạch trong một năm, lòng chàng sung sướng khoan khoái sửa soạn để trở về thăm nhà. Chàng để lại một đạo

quân hùng mạnh, toàn binh lính cũ, bảo an trong tỉnh.  Chàng đem theo về toàn tân binh và viên đội trưởng vừa kếtnạp. Chàng suy tính cân nhắc đặt quyền chỉ huy, thống lĩnh, vào hai người mà chàng có thể tin cậy được. Chàng để anh mũi diều hâu và thằng cháu; thằng này bây giờ đã lớn, một

thanh niên vạn vỡ, khỏe mạnh, thấp lùn, phải bộ mặt rỗ thì đến lúc già lúc chết cũng vậy. Chàng đã nghĩ kỹ phải để hai người. Thằng Rỗ hãy còn trẻ quá, chưa thể đảm nhiệm được hết, còn anh mũi diều hâu chàng không dám quá tin giao phó cho hết, nghĩa là hai người phải tương trợ lẫn nhau.

Chàng bảo riêng thằng Rỗ:

– Mày phải để ý coi nó, nếu có gì khác, mưu đồ phản nghịch, phải mật sai người đi suốt ngày đêm về cấp báo ngay cho tao biết.

Thằng Rỗ hứa xin triệt để thi hành mệnh lệnh, hai mắt nó sáng ngời lên, hớn hở sung sướng được chú đặt vào một địa vị quan trọng. Phần chàng cũng yên chí, đã có người thân tín huyết mạch ở lại trông coi.

Ổn định trong ngoài, đề phòng an ninh, Vương hổ tướng ca khúc khải hoàn trở lại thăm nhà. Dân cư trong đô thị, lo kiến thiết lại nhà cửa bị tàn phá vì chiến cuộc. Các cửa hàng lại mở cửa buôn bán, các khung cửi lại nhộn nhịp hoạt động sản xuất vải lụa, dân chúng lại hoạt động, buôn bán như trước, chuyện cũ đã lui vào dĩ vãng. Chẳng qua muôn việc ở đời cũng do Hoàng Thiên xếp đặt.

Thục Anh

vvnm.vietbao.com

20/01/2017

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, “phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.” Sau đây, thêm một truyện ngắn của tác giả.

* * *

Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể khoe có hơn chục đứa không chừng. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù vào đó là cái thú được hi sinh cho con cái. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi. Vợ tôi đi làm về còn phải lo phục vụ chúng. Giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp… Bà la hét đứa nầy, nạt nộ đứa kia rồi lại lầu bầu với tôi đủ chuyện, nhưng tôi chẳng hề bận tâm, tôi biết bà rất thú vị khi làm như vậy, đó là hạnh phúc của bà.

Vợ tôi thương con đến độ thương luôn các vật dụng của chúng nữa, từ đồ chơi lúc nhỏ đến quần áo cũ, giấy bút không dùng…bà đều coi như của quí, đem cất vào kho. Bà thương luôn cả đến bạn bè của chúng, đứa nào đến bà cũng mừng rỡ, săn sóc. Con ăn gì chưa? Ngồi xuống đây, bác lấy gì cho con ăn nghe! Bà giới thiệu tất cả sản phẩm bà có trên bếp, trong tủ lạnh, đứa nào chịu ăn bà thích lắm, nếu khen mấy tiếng Ngon quá! là bà phổng mũi cứ bổn cũ soạn lại, lần sau lại bắt chúng ăn như thế, chúng cũng khen nhưng có vẻ đau khổ, tôi lại phải nhắc chừng để bà đổi món khác, rồi bà lại mời, lại hồi hộp chờ được khen.

Sở dĩ không đứa bạn nào của con tôi dám chê vì có mục đích, chúng nhắm vào đứa con gái lớn trong nhà. Nó tên Thục Anh. Khi sinh ra nó, tôi đặt tên mà không hiểu ý nghĩa gì cả. Chỉ vì lúc còn dưới trung học tôi mê một cô bé học lớp đệ ngũ tên Thục Anh. Tuổi mới lớn, yêu chỉ để mơ mộng nên tên gọi là phần quan trọng nhất, vì không lẽ buổi tối đang học bài, bỏ vài phút ra mơ mộng mà lại viết tên người đẹp là Ổi, Ốc hay Cơm, Canh… lồng vào tên mình giữa hình một quả tim?!…

Sau nầy, dung nhan cô bé đó, tôi không nhớ rõ, chỉ còn ấn tượng đó là một cô bé ngây thơ, vui tươi, nhí nhảnh, đôi mắt thông minh, trong sáng. Nhiều cô đẹp hay làm kiêu. Cô Thục Anh đẹp nhưng rất tử tế với bạn bè. Tôi thường tìm dịp ngắm cô và yêu thầm. Và tên Thục Anh đã thành một âm vang dịu dàng trong mối tình học trò thuở nào. Tôi lấy tên cô ta để đặt tên cho con gái tôi. Dĩ nhiên vợ tôi đâu biết điều bí mật đó, nên cũng đồng tình. Tên Thục Anh, nghe hay đó chứ!”

Thường con cái trong nhà, mỗi đứa tôi thương một cách. Tôi không khó tính như mẹ chúng. Với con trai tôi nhìn thấy tôi của thời đi học. Cũng mê gái, cũng cãi lời cha mẹ một cách vô ý thức. Với con gái tôi thấy giống mẹ chúng, đúng hơn, giống bất cứ cô gái mới lớn nào khác, thế thôi. Trong nhà thì lười biếng, chỉ siêng soi gương chải đầu, ra đường làm bộ trang nghiêm, áo quần đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ.

Riêng con bé Thục Anh thì đúng là yểu điệu thục nữ. Bình thường trông nó thật thảm hại. Người ốm, hơi cao, mặt trái xoan dài, trông hơi xanh xao như thiếu dinh dưỡng, hai mắt to vẻ ngái ngủ. Tóc tai lượt bượt, vướng víu, khi làm bếp, thỉnh thoảng phải dùng cánh tay gạt ra phía sau, nhưng khi ra đường, mái tóc dài đen mượt của nó là một giòng suối chảy xuống bờ vai thon nhỏ, dịu dàng. Còn đôi mắt ngái ngủ, không hiểu nó tô điểm cách nào mà trông vừa buồn buồn vừa ngơ ngác một cách dễ thương. Trang phục của nó cũng đơn giản, những hàng vải mềm, màu trang nhã hòa hợp với khuôn mặt và dáng người, trông thước tha và quí phái khiến các cậu vừa thấy đã xao xuyến nhưng cũng ngậm ngùi vì có vẻ cao sang quá, mình chẳng đáng hi vọng chút nào.

Nghệ thuật làm xiêu lòng lũ con trai không phải ngẫu nhiên, nó phải luyện tập gian khổ như một nghệ sĩ tập tuồng vậy. Từ cách ăn mặc, đi đứng cho đến cách chuyện trò. Chẳng biết nó nghiên cứu đâu ra những phương pháp kỳ cục. Trong nhà, nó thường đặt trên đầu một quyển sách, cần gì sai nó, nó cứ lững thững đi trông như người máy. Tôi tưởng nó bị bịnh tâm thần, nó cãi Ba không biết gì hết, khi nào con đi nhanh mà quyển sách không rớt xuống đất, con sẽ đi đẹp lắm đó”.

Thục Anh che giấu khuyết điểm của nó một cách tài tình. Nó gây lộn với các em nó không bao giờ thua. Với các anh, nó chỉ cần thút thít là các anh nó bối rối ngay. Tuy nhiên Thục Anh biết giữ khoảng cách vừa phải đối với bạn bè của anh nó. Với đứa nào nó cũng lễ phép và không thân mật quá khiến các cậu mê mệt mà không dám tỏ tình.

Đúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính. Em nó, con bé Đỗ Quyên lại khác, tuy dáng dấp và khuôn mạt tương tự nhưng bản tánh mạnh mẽ như con trai. Nó không lượt là như Thục Anh mà lúc nào cũng quần jean, áo pull, tóc thì cột túm phía sau bằng một sợi giây thun, trong nhà ra đường đều thế, chẳng hề thấy điểm phấn tô son bao giờ. Nói chuyện với con trai, nó đốp chát thẳng thừng, bọn con trai tiếp xúc với nó cũng tự nhiên như với em gái thực sự. Có điều lạ là đứa nào muốn tặng quà cho Thục Anh đều phải qua Đỗ Quyên, nếu không Thục Anh sẽ không thèm nhận.

Các cậu đã tốn tiền còn phải quị lụy chỉ để được người đẹp thưởng cho nụ cười và hai tiếng cám ơn. Nhưng có nhìn thấy Thục Anh nhận quà mới hiểu được sự sung sướng của người tặng. Nó mở quà một cách chậm rải nhưng đầy vẻ hồi hộp, tò mò, rồi nó kêu lên Ôi, đẹp quá!” mắt mở lớn, ngước nhìn nạn nhân Cám ơn anh nhiều lắm, sao anh biết em đang cần món quà nầy? Em thích quá, cám ơn anh!”Cách suýt soa, trân trọng món quà của nó khiến khối chàng si tình muốn bê luôn ngôi nhà của cha mẹ đem dâng người đẹp. Đâu biết rằng, khi khách đã ra về, chỉ còn lại người nhà, nó vất cho mấy đứa em Cho tụi bây, có thích thì lấy đi.

Trong số các ứng viên có mấy anh chàng mà vợ tôi chấm là có đủ điểm để lọt vào vòng chung kết, đó là các cậu đang học y khoa Không nghề nào tự do lại nhiều tiền bằng”. Ngoài ra còn có một cậu coi bộ cũng si Thục Anh ghê lắm nhưng cũng rụt rè không kém. Cậu vượt biên qua Mỹ một mình, vừa đi học vừa đi làm, quần quật cho bản thân còn tiếp tế cho gia đình ở Việt Nam nữa. Chẳng bao giờ thấy quà cáp cho Thục Anh, chỉ thỉnh thoảng mang đến vài tờ nguyệt san, báo chí gì đó để ở phòng khách, có ai buồn tình thì giở ra đọc giết thì giờ. Thục Anh như thấy được thế kém của anh chàng nên thỉnh thoảng có săn sóc, hỏi han rất thân tình, có lẽ vì lòng trắc ẩn muốn cân bằng tương quan giữa các cậu, để cậu ta khỏi nản mà bỏ cuộc, vì các bà, các cô tuy không yêu nhưng lại muốn càng nhiều người say mê mình, càng thích. Mỗi lần ăn uống trong gia đình, cậu chỉ được ngồi tít xa người đẹp, lo cắm cúi ăn. Vợ tôi tuy cho cậu ra ngoài danh sách ứng viên khách đông sàng, nhưng lại thương nhiều vì cậu côi cút, thật thà, nhất là khen bà nấu ngon. Con ăn McDonald, hot dog riết ngán quá, thèm cơm, bác lại cho ăn ngon nên lần nào con cũng muốn bể bụng…”

Cậu ta, dĩ nhiên bị các đối thủ loại ra vì không có ưu điểm nào đáng ngại cả. Ăn mặc xuề xòa, thường là bộ đồng phục của tiệm ăn vì cậu là bồi bàn. Chiếc xe cũ xì, trong bỏ đầy báo chí sách vở. Người cao, mặt mũi cũng tạm nhưng tóc tai hớt ngắn như lính. Chỉ chừng đó cũng biết cậu chắc chắn đã thất bại trước khi tham gia cuộc đua chạy đến trái tim người đẹp rồi, đúng hơn cậu cũng chạy, nhưng lẽo đẽo theo sau để xem thử các bạn mình ai sẽ đến đích chứ riêng cậu chẳng thấy quyết tâm gì. Thế nên vợ tôi gọi cậu là anh chàng Cá Kèo, ý nói đứng hạng chót trong danh sách các ứng viên.

Có lẽ người Mỹ bị bịnh tâm thần, đau tim nhiều cũng vì những con số. Cái gì cũng tính bằng số, chết rồi cũng đem linh hồn ra cân! Lũ trẻ Á Châu ở Mỹ bây giờ cũng bị qui luật đó chi phối. Tình yêu vốn vô hình, vậy mà chúng biểu lộ được bằng những con số. Chúng nghĩ đơn giản, tình cảm cũng như một món hàng, hễ yêu ai cứ cho thật nhiều quà đắt tiền tức là yêu nhiều. Tôi muốn nói về những quà cáp của các chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh tân thời đem dâng người đẹp nhân ngày sinh nhật của nàng. Ngày sinh nhật của Thục Anh cũng khoảng vào ngày nó tốt nghiệp trung học. Vợ chồng tôi muốn làm một lễ sinh nhật tươm tất để mừng nó tốt nghiệp luôn một thể. Chúng tôi định cho Thục Anh vào đại học ở một tiểu bang khác nhưng vợ tôi lại sợ con gái xa nhà sẽ gặp nhiều khó khăn. Bà mẹ Việt Nam nào cũng muốn các con dù khôn lớn đều phải nằm trong đôi cánh của mình hay ít ra cũng lẩn quẩn đâu đó trong tầm mắt, bà mới yên tâm, hoặc khi đi xa phải có bạn đồng hành giúp đỡ nhau để tránh lỗi lầm, sa ngã. Vợ tôi nói với Thục Anh “Con lớn rồi, phải quyết định lấy cuộc đời mình. Trong số các bạn trai của anh con, con có thể chọn được một anh mà con có cảm tình, ba mẹ không có quyền chen vào nhưng cần biết quyết định của con để yên lòng. Mẹ thấy đứa nào cũng đàng hoàng, xứng đáng cả. Đừng để chúng nản, chúng đi hết Thục Anh chỉ dạ, cười cười mà không nói. Vợ chồng tôi chẳng hiểu nó nghĩ gì, Tuy chưa hề thấy nó biểu lộ tình cảm đặc biệt cho riêng một cậu nào, nhưng lối cười của nó, tôi biết nó đã có đối tượng, có chủ đích.

Hôm tiệc sinh nhật, mới sáng, các bạn bè đã lục tục mang quà đến để đầy phòng khách. Không hiểu có phải qua Đỗ Quyên không, hình như cậu nào cũng biết rằng Thục Anh sẽ lộ ý cho biết ai là ý trung nhân của cô trước khi lên đường đi học xa, và cậu nào cũng tin rằng mình đã nằm trong mắt xanh người đẹp rồi. Một cái TV ngạo nghễ chiếm một góc phòng, bên cạnh là một cái máy CD, DVD gì đó, có mấy gói quà nho nhỏ tuy khiêm nhường nhưng nổi bật nhờ giấy gói rực rỡ…

Trong lúc chờ đợi chúng tụ tập ở phòng khách chuyện trò rôm rả. Vợ tôi tuy chuẩn bị trước, nhưng nấu nướng các món không phải đơn giản, các cô con gái và cả tôi nữa đều phải xuống bếp phụ một tay. Một lần, trong khi Thục Anh đang ở trong bếp thì anh chàng cá kèo xuất hiện, cậu ta đi có vẻ mạnh dạn lắm nhưng không che dấu được sự rụt rè, thiếu tự tin. Cậu đến bên Thục Anh đưa ra một gói nho nhỏ, hình như một quyển sách trong một phong bì màu xám “Anh tặng Thục Anh… để mừng sinh nhật. Anh cho gì đây? Quyển sách hả, anh để trên phòng khách, lát nữa em sẽ mở quà, bây giờ tay em dơ lắm. Anh không thích để trên đó, không thích ai biết trừ Thục Anh. Được rồi, em mở ngay bây giờ, quyển sách phải không?” “Một tập thơ. Thơ của ai? Thơ của anh. Thục Anh không lộ vẻ gì ngạc nhiên, nó giở từng trang, nhìn thoáng qua. Em có đọc mấy bài nầy rồi, trong các tờ báo… Đúng rồi, anh làm thơ tặng Thục Anh đó. Hèn gì, bài thơ nào cũng thấy đề. Tặng Thục Anh em biết ngay là anh” Con bé chỉ hững hờ nói cám ơn rồi bảo Đỗ Quyên đem tập thơ vào phòng.

Có lẽ cậu cá kèo đang chờ đợi một tiếng kêu ngạc nhiên của Thục Anh kèm một cái ngước mắt nhiều cảm động và biết ơn, giống như lúc nhận quà của mấy cậu kia. Không ngờ vẻ lạnh lùng của Thục Anh khiến cậu ta như bị một cú đấm bất ngờ. Phải rồi, tập thơ chẳng có giá trị gì cả, cũng chẳng biết dùng vào việc gì! Mặt cậu tái nhợt, cậu nói vội vã như hụt hơi. Anh về nghe! rồi cậu lễ phép với chúng tôi. Xin phép hai bác con về, con bận có chút việc. Vợ tôi vội chận lại. Có chuyện gì gấp vậy? Con ở lại với bạn bè cho vui, hay để bác dọn riêng, con ăn trước rồi hãy về. Thấy vẻ bẽ bàng lúc nãy, tôi đoán cậu thất vọng nhiều lắm nên cần rời nơi nầy, tìm một chỗ yên tĩnh để gặm nhấm nỗi buồn nên tôi không chen vào. Vừa lúc Thục Anh đến. Anh về em giận lắm đó. Ở lại, nghe chưa! Lối ra lịnh như thế khiến tôi cũng bất bình, cậu cá kèo đành nghe theo.

Có lẽ lúc sượng sùng nhất của cậu là khi mở quà vì cậu chẳng có tặng vật gì ở đó cả. Tôi ngồi ngắm những nhân vật của vở kịch đời, thấy rõ tâm lý hiện lên trên từng nét mặt. Với món quà nào Thục Anh cũng có một lối mừng riêng, nó khéo léo đến độ anh chàng có món quà ít giá trị coi bộ còn sung sướng hơn người khác nữa.

Thục Anh quì giữa đống quà và những giấy gói đủ màu sặc sỡ trông nó dễ thương và ngây thơ như một đứa bé. Tôi nhìn nó lòng vui sướng và ngạc nhiên, mới năm nào sinh ra, nó chỉ có chút xíu, ngọ ngoạy chân tay một cách vụng về, miệng cười thơ dại, thơm nức mùi sữa mẹ, bây giờ thành một cô thiếu nữ xinh đẹp.

Điều làm tôi phân vân, trông gương mặt nó sáng sủa, thông minh nhưng sao tâm hồn nó không giống vợ chồng tôi, nó không biết giá trị cao quí của tình cảm. Những bài thơ của anh chàng sinh viên nghèo kia dù không hay chăng nữa cũng nói lên những rung động chân thành đối với nó. Cậu sinh viên kia, trong góc phòng, lặng lẽ, núp kín sau bạn bè như muốn biến mình thành mây khói để thoát ra khỏi nơi ồn ào nầy. Tôi không hiểu cậu đang nghĩ gì? Có xót xa cho hoàn cảnh mình không đủ tiền mua một món quà đắt giá dâng người đẹp, hay ân hận mình đã yêu lầm một người không có tâm hồn?! Anh chàng Trương Chi tân thời nầy tuy không xấu trai nhưng chỉ có tiếng hát của hồn thơ và cô Mỵ Nương đời nay tuy có đọc thơ chàng từ trước trong những tờ báo đặt ở phòng khách chứ không phải lần đầu nhìn thấy, nhưng rõ ràng cô không quan tâm.

Trong lúc dự tiệc, anh chàng cá kèo vẫn giữ vị trí xa người đẹp nhất. Những lần trước cậu thường lặng lẽ ngắm Thục Anh, thỉnh thoảng góp chuyện với bạn bè, lần nầy cậu im như thóc, mặt buồn thiu, cầm đôi đũa vầm vầm món gì đó trong chén chứ không ăn, có điều cậu uống bia hơi nhiều, mặt bắt đầu đỏ, trông lầm lì, dữ tợn.

Cũng như mọi khi, bọn trẻ tha hồ nói thánh nói tướng về mình, về mọi chuyện, nhất là chuyện người đẹp, cậu nào cũng ra vẻ ta đây có số đào hoa, con gái chạy theo thiếu khối mà không thèm (Ý muốn nói chỉ để ý một người thôi) Rồi chúng xoay qua anh chàng cá kèo để chọc phá. Còn mầy thì sao? Kể ra xem, trước giờ có được mấy em theo mầy? Có mấy con cháu bà Só! Cả bọn ngớ ra, nhưng vợ tôi cười rộ lên giải thích. Cháu bà Só là chó bà Sáu đấy.”

Thấy có người hiểu được mình lại thêm chút rượu trong người, cậu bắt đầu triết lý. Con trai là nam châm, con gái là sắt, thép; có cứng bao nhiêu cũng chạy theo nam châm. Mầy ngon, vậy chứ có mấy cục sắt chạy theo mầy rồi? Chưa có, nhưng muốn lúc nào là có ngay. Cả bọn nhao nhao. Thằng nầy xạo, biểu diễn coi, bữa nào đưa một em đến đây cho tụi tao xem, hay dẫn một em xấu hoắc thì đúng là sắt rỉ, nói làm gì. Đâu đến nổi, tụi bây chấm được mới kể, nhưng phải thong thả, ít ra cũng vài ba ngày, hẹn hò đàng hoàng chứ thình lình như đâu trên trời rớt xuống được. Chúng tôi bắt đầu ái ngại cho cậu ta, có lẽ vì bị Thục Anh lạnh nhạt trước món quà vô duyên đó nên cậu tự ái, một phần vì ngấm rượu cậu đã bị các bạn đưa vào bẫy thách đố, nhưng trông còn vẻ bình tĩnh tôi đoán cậu có cách thoát ra. Thứ bảy nầy đi, mầy đưa người đẹp đến đây, dám không? Có ngay, nhưng em vô nhà hay không tùy quyền em. Tụi bây đông quá, em khớp, đâu dám. OK, đứng trước sân đủ rồi, chín giờ sáng thứ bảy, được chưa?”

Vợ tôi và mấy đứa con gái cũng bị kích động theo, anh chàng cù lần nầy làm sao kiếm được một cô bạn nhanh như thế, hắn không có bà con quen biết để nhờ đóng vai người bạn tạm bợ “Sáng thứ bảy mấy đứa ghé đây ăn sáng, bác sẽ nấu phở cho mà ăn” Lát sau cậu ta xin kiếu từ về trước, thấy lối đi ngất ngưỡng, vợ tôi bảo Con ra phòng khách ngồi nghỉ một lát, tỉnh rượu hãy về, cảnh sát gặp thì nguy” “Dạ, không sao đâu bác, con đi trong xóm chứ không ra ngoài lộ đâu.”

Sáng thứ bảy, bọn trẻ đã tụ tập tại nhà tôi chờ xem anh chàng cá kèo đem người đẹp đến trình diện. Tôi không quan tâm đến chuyện trẻ con đó, nhưng tò mò xem cậu ta giải quyết sự thách đố ra sao. Trước chín giờ cậu ta đã đến, cả bọn nhao nhao “Người đẹp đâu?” “Mười phút nữa em sẽ đến” “Mầy không đón em đến đây à?” “Em đến đón tao chứ xe tao em nào thèm ngồi” “Thằng nầy ngon, chà bữa nay áo quần coi bộ láng quá há!”

Tôi cũng nhận thấy cậu ta ăn mặc lịch sự, tóc tai gọn gàng, áo quần mới thẳng nếp lại thêm chiếc cà vạt hoa lá cành trông rất bảnh bao, coi bộ còn đẹp trai hơn các bạn nữa. Vợ tôi bảo “Mỗi đứa vào bếp lãnh tô phở rồi ra phòng ăn mà ngồi” “Thưa bác, lát nữa con đi ăn điểm tâm với cô ta.”

Bỗng có tiếng còi xe, cả bọn ùa ra cửa. Cậu cá kèo chửng chạc đi ra. Chiếc xe đời mới, cũng rực rỡ như cô gái trong xe. Cậu ta nói gì đó, cô gái ra khỏi xe, cười thật tươi, vẫy tay chào trong nhà. Tuy cô không đẹp lắm nhưng cách ăn diện ra người đứng đắn, quí phái. Dự đoán một cô tào lao nào đó không đứng vững. Cô gái nhường tay lái cho cậu cá kèo và xe vụt chạy đi.

Hơn một giờ sau xe quay lại, cô gái lại ra khỏi xe vẫy tay chào trong nhà, cậu cá kèo nói gì đấy cô ta cười gật đầu từ biệt. Bây giờ thì cậu ta chẳng còn chút buồn nào nữa, vợ tôi cũng vui lây, có lẽ bà cảm thấy như có lỗi vì cách đối xử của Thục Anh hôm trước, nay đã có một cô gái thay thế con gái bà trong quả tim anh chàng tội nghiệp nầy rồi. Rồi đây, khi Thục Anh chọn được một đối tượng, các cậu kia cũng sẽ buồn như vậy, có khi buồn hơn vì ấp ủ nhiều hi vọng hơn. Vợ chồng tôi cứ áy náy về cách xử sự vụng về của Thục Anh, cho nên chúng tôi dự định một dịp nào đó sẽ bắt Thục Anh xin lỗi cậu ta và chúng tôi sẽ nói mấy lời an ủi để cậu khỏi buồn.

Một buổi tối, chúng tôi gọi Thục Anh ra phòng khách, tôi nói “Ba mẹ thấy con đã lớn mà không tế nhị chút nào. Các bạn của anh con, đứa nào cũng đứng đắn, học hành chăm chỉ, ăn nói lễ độ. Dĩ nhiên ba mẹ không ép con thương người nầy hay ghét người kia, nhưng dù gì con cũng phải chứng tỏ mình tế nhị, lịch sự. Riêng tập thơ bạn con tặng, coi bộ con dửng dưng quá. Con có biết, khi người ta yêu, chỉ với tâm hồn say đắm mới làm được những bài thơ. Thơ dở không phải vì yêu ít. Nhưng ba đoán thơ đã được đăng trên báo ít ra nó cũng có giá trị về một khía cạnh nào đó chứ không phải hoàn toàn không đọc nổi. Ba mẹ rất vui khi thấy con bày tỏ lòng biết ơn với các anh tặng quà, biết cách làm cho mọi người vui vẻ dù giá trị món quà ra sao đi nữa, tại sao con không làm như thế với tập thơ? Lẽ ra lúc đó, sau khi mở quà, con phải đem ra một bài thơ để ngâm hay đọc lên cho mọi người cùng thưởng thức, con có thể không nói tên tác giả, nhưng để chứng tỏ rằng con hiểu được tình cảm của anh ta, chứng tỏ con có những nét đẹp cao quí đã làm rung động tâm hồn người khác. Ai cũng có thể cho bao nhiêu quà tùy thích, nhưng thơ thì chịu. Đó là ân sủng của Thượng Đế, người ta đã đem tặng con với tất cả tấm lòng, với bao tình yêu thương…

Ba nói hơi nhiều, bây giờ ba đề nghị thế nầy, sáng mai chủ nhật con mời anh ta đến và nói lời xin lỗi cũng như cám ơn tấm lòng của anh ta, ba tin con biết cách nói cho anh ta hiểu rằng con rất hãnh diện và cảm động được anh ta quan tâm thương yêu, nhưng thời gian sẽ giúp con trả lời và những bài thơ đó con sẽ giữ gìn như một kỷ niệm quí nhất, đẹp nhất trong đời”

Thục Anh đứng yên lặng nghe, nó có vẻ buồn buồn, tôi không hiểu nó đang nghĩ gì, nhưng lòng tôi rung động một tình phụ tử. Tôi tưởng nó đã lớn, đã thay đổi rồi, nhưng giờ đây trước mắt tôi, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc miệng đó vẫn y nguyên như thời thơ ấu, nhất là khi nó sắp khóc, khiến tôi nhớ lại lúc nó còn nhỏ mỗi khi tôi giận dữ, la mắng điều gì, hễ mắt nó rơm rớm là lòng tôi chùng xuống, giận dữ tiêu tan, chỉ còn tình thương đứa con bé bỏng. Tôi ân hận, có lẽ đã nặng lời với nó chăng? Hay nó có tâm sự gì buồn? Vợ tôi cảm thấy điều đó, bà ôm Thục Anh vào lòng, nó bỗng khóc nấc trên vai bà. Tôi hôn lên đầu nó và thì thầm” Ba xin lỗi con!”.

Sáng chủ nhật hôm sau, anh chàng cá kèo đến, Thục Anh tiếp ở phòng khách. Chúng tôi không muốn xen vào, chỉ ngồi ở phòng ăn. Tôi uống cà phê, vợ tôi loay hoay trong bếp nhưng đôi tai vẫn hướng về phòng khách. Phòng ăn sát với phòng khách, chúng tôi loáng thoáng nghe được cuộc đối thoại. “Hôm trước thấy anh uống rượu mà ghê, tưởng bị cảnh sát bắt nhốt rồi chứ” “Đâu có say, uống cho vui”

Im lặng…

“Mấy bữa nay đi với người đẹp vui không? Em thấy chị ấy đẹp lắm đó, em cũng phải mê, lại có xe mới tinh. Chúc mừng anh hạnh phúc” “Mới quen thôi. Buồn quá… Chứ có gì vui đâu!” Lại im lặng, tôi nhìn vợ tôi lắc đầu, cuộc hòa đàm coi bộ đi lạc đề rồi. Có tiếng giấy sột soạt “Cho em gửi lại anh tập thơ, em không xứng đáng để anh ca tụng, bây giờ có người đẹp hơn, thơ anh phải hay hơn rồi. Lúc tối, đọc tập thơ nầy em mắc cỡ quá, em xấu xí vụng về, nhà quê quá nên anh chọn người khác cũng phải, chắc anh hối hận ghê lắm khi đã lỡ làm thơ về em.” “Không có đâu, không ai làm thơ ca tụng hoa hậu cả. Nhưng anh đã thề sẽ không bao giờ làm thơ nữa.” “Sao vậy?” “Vì em không hiểu anh” “Sao anh biết em không hiểu? Mấy năm nay… Em đọc thơ anh đến thuộc lòng” “Hiểu mà không thèm để ý” “Sao anh biết? Không lẽ em phải la to lên là em để ý anh sao? Anh phải biết chứ. Em tức quá!” “Để ý sao thấy lạnh lùng!” “Em tưởng anh đã biết những gì em nghĩ về anh rồi. Tại anh không nhìn em. Anh chỉ giỏi nhìn trộm, khi em nhìn lại thì ngó lơ chỗ khác… Em không muốn ai biết gì hết, không muốn ai xen vào.” “Thật hả? Anh buồn quá, cứ ân hận, thà đừng tặng tập thơ. Coi như yêu thầm phải sung sướng hơn không. Em biết anh làm thơ về em mà khi tặng tập thơ, em vẫn hững hờ… Anh nghĩ rằng em không có chút cảm tình nào với anh cả.” “Em tức quá! Thôi được rồi, vì em không có cảm tình với anh nên anh tìm người khác. Bây giờ xin anh đừng nghĩ gì đến em nữa. Cho em gửi lại tập thơ, anh về chỉ cần xóa tên em, viết tên người đẹp vào đem tặng người ta, anh sẽ được người ta vồn vã, ân cần chứ không giống em, xấu xí, lạnh lùng.” “Người đẹp nào?” “Cô nhỏ hôm rồi chứ người nào nữa! Chuyện trò, cười nói thân mật quá, lại còn đem xe đến rước đi ăn điểm tâm nữa.” “Anh thề với em, anh mới gặp lần đầu và hôm đó là lần duy nhất.” “Anh đừng xạo nghe! Không lẽ anh thuê nó đến đón anh? Em không phải con nít đâu mà nói láo, không ai tin đâu.” Có tiếng giấy sột soạt “Đây, hình cô ta trên báo đây, có phải cô đó không? Chữ realtor (trung gian mua bán nhà) rành rành. Cô nầy còn đẹp hơn nữa. Anh muốn cho mấy đứa ngán thôi chứ đâu có gì.” “Anh lợi dụng người ta để chọc tức em chứ gì? Anh không mua nhà mà giả bộ tìm nhà để người ta đưa đón, anh có thấy xấu hổ không?” “Anh đi coi nhà thực mà, tìm giùm nhà cho người bạn” “Đừng chối quanh. Bạn anh làm gì có tiền. Đi học thì tiền đâu mua nhà?” “Gọi là bạn chứ anh ta cũng lớn tuổi rồi. Lúc vượt biên ở đảo, bọn anh sống với nhau, qua đây anh ta làm hai jobs, để dành tiền mua nhà đón vợ con qua.”

Lại yên lặng… “Em mà không đi học xa đừng hòng em nói cho mà biết. Người ta thương!.. Chưa gì đã lăng nhăng. Lúc tối em tức phát khóc.…” Rồi nó lớn tiếng “Bây giờ về đi, chứ ngồi đó làm gì nữa? Đưa lại em tập thơ. Đứng lên!.. Cúi xuống! Cúi xuống nữa! Sao cao quá vậy?! Vẫn giọng lạnh lùng đó, như đang đốp chát với mấy đứa em nó! Vợ tôi lầu bầu. Con nhỏ nầy… Sau nầy ăn hiếp chồng dữ lắm! Và bà nhỏm dậy, định ra giữ thằng bé lại ăn điểm tâm, nhưng mới đến cửa, bà khựng lại, ngoắc tôi đến.

Tôi biết rõ Thục Anh, bao nhiêu con trai đến nhà tôi thường xuyên, đố đứa nào đụng được chéo áo nó. Nó giữ ý, nghiêm trang lắm. Vậy mà giờ đây nó đang hôn lên trán anh chàng thi sĩ si tình mấy cái. Rồi vừa cười nho nhỏ, nó vừa vò vò đầu cậu ta như đang đùa với một em bé.

Phạm Thành Châu

Nữ Thiếu tá Nhu Tran (gốc Việt), Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on December 20, 2024

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

Thiếu tá Như Tran (ảnh của inkedin.com).

Nữ Thiếu tá Như Tran* được bổ nhiệm chức Sĩ quan phụ tá điều hành Cơ quan phục vụ quân pháp Lục quân Hoa Kỳ tại Fort Belvoir, Virginia từ tháng 7 năm 2024. Nhiệm sở vùa qua, cô là Sĩ quan Luật sư của Cơ quan phục vụ quân pháp Lục quân từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 7 năm 2024.

Thiếu tá Như Tran là Luật sư quân pháp với hơn 13 năm kinh nghiệm trong ngành luật hành chánh, tư pháp quân sự, luật hợp đồng và tài chánh, cô nổi tiếng với thành tích đã được chứng minh về việc mang lại kết quả phục vụ. Thiếu tá Như Tran có năng lự lãnh đạo chỉ huy, thúc đẩy các nhóm Sĩ quan Luật sư để đạt được mục tiêu nhiệm vụ, cô được công nhận về kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân và thuyết phục đặc biệt, chuyên môn trong khu vực của Bộ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Hoa Kỳ (INDOPACOM).

Thiếu tá Như Tran tốt nghiệp vằn bằng Tiến sĩ Luật Trường Đại học Northern Illinois University năm 2010 và Văn bằng Cao học Luat – LLM, Luật Quân sự chuyên ngành hợp đồng Chính phủ và Luật Tài chính củaT rường Luật The Judge Advocate năm 2020.

Thiếu tá Như Tran phục vụ qua một số đơn vị và nhiệm sở được ghi nhận:

Sĩ quan Luật sư Lữ đoàn 8 yểm trợ Bộ chỉ huy liên quân từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018;

Luật sư biện hộ cho Thẩm phán Lữ đoàn 130 Công binh Lục quân tại Schofield Barracks, từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019. Sĩ quan Luật sư Bộ chỉ huy quân pháp Lục quân Hoa Kỳ (JAG) tại Charlottesville, Virginia từ tháng 8 năm 2019 đến Tháng 5 năm 2020.

Sĩ quan Luật sư Quân pháp cho Lữ đoàn yểm trợ 410 tại San Antonio, Texas từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 6 năm 2022.

Và hiện nay, Sĩ quan phụ tá điều hành Cơ quan phục vụ quân pháp Lục quân Hoa Kỳ tại Fort Belvoir, Virginia.

Thiếu tá Như Tran (ảnh của Asian American & Pacific Islander in the Military).

23 năm trước, Thiếu tá Nhu Tran quyết định nhập ngũ để được Quân đội trang trải học phí Đại học. Vào thời điểm đó, cô không thể tưởng tượng được quyết định này sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của cô như thế nào. Ngày nay, với tư cách là Sĩ quan Luật sư biện hộ của ngành Quân pháp lục quân Hoa Kỳ, cô là luật sư đại diện cho Lục quân Hoa Kỳ trong các cuộc điều ta đấu thầu và tranh chấp hợp đồng, một vai trò kết hợp nhuần nhuyễn giữa niềm đam mê luật pháp của cô với mong muốn phục vụ Quân đội Hoa Kỳ.

Đối với bất kỳ ai đang cân nhắc gia nhập quân đội, Thiếu tá Nhu Tran sẽ khuyến khích họ hãy mạnh dạn thực hiện, đó là quyết định sáng suốt nhất. Trong suốt hành trình của mình, cô đã vinh dự được làm việc cùng những cá nhân phi thường, những người thể hiện các giá trị về danh dự, liêm chính và vị tha. Trải nghiệm của cô đầy thử thách, trọn vẹn và vô cùng hữu ích.

Thiếu tá Nhu Trần là 1 trong 140 Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục trong các binh chủng và các ngành của Quân chủng Lục quân, không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Trung tá. Một số nữ Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt được ghi nhận sau đây: Nữ Thiếu tá Annie Phan, Điều dưỡng Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Chuyên viên y tế Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy T. Nguyen, Luật sư quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Lục quân Amy Vu; Nữ Thiếu tá Lục quân Elizabeth N, Pham**; Nữ Thiếu tá Lục quân Tamata K Tran và còn một số Nữ Thiếu tá gốc Việt khác chưa tiện cập nhật.

Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu (họ và tên Việt Trần Như); **Trùng họ và tên với nữ Đại tá Elizabeth Pham, Thuỷ quân lục chiến.

Nguồn: Asian American & Pacific Islander in the Militaryl; inkedin.com.

Nữ Thiếu tá Anh Ison (gốc Việt), Dược sĩ Trưởng Liên đoàn 28 Quân y, Không đoàn 28 Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on December 25, 2024

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

Thiếu tá Anh Ison – media.defense.gov

Thiếu tá Anh Ison là Dược sĩ Trưởng Liên đoàn 28 Quân y Không quân, Không đoàn 28 phi cơ oanh tạc (8th Bomb Wing) trú đóng tại căn cứ Không quân Ellsworth Air Force Base, S.D. Không đoàn 28 là một trong 2 Không đoàn oanh tạc cơ chiến lược B-1 Lancer của Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Anh Ison và gia đình cư ngụ tại Oklahoma, cô học trường dược Oklahoma, sđã có được cơ hội này khi cô nhận được email từ một nhà tuyển dụng địa phương tại trường đại học, mở ra cho cô một sự nghiệp thành công trong quân đội và cho phép cô sử dụng các kỹ năng quan trọng ở nước ngoài.

Sau đó cô gia nhập Không quân, nơi làm việc đầu tiên của cô là Căn cứ Không quân Vance, cũng ở Oklahoma.

Did You Always Want to Join the Air Force?

It wasn’t something I considered until after I got to the U.S., as I don’t have any family in the military. I worked at a local pharmacy outside Tinker Air Force Base, where we served many retirees and active-duty service members. It made me more curious about the military. Then, during my second year in pharmacy school, a medical officer recruiter emailed students about joining. I contacted her, and the rest is history. Air Force Maj. Anh Ison, 28th Medical Group pharmacy element chief, was presented with her opportunity when she received an email from a local recruiter in college, leading to a flourishing career in the military and allowing her to use key skills outside the country.

People join the Air Force for many reasons, from the potential to travel abroad to the educational benefits it affords. For some, the opportunity presents itself in a way that can only be described as the right place at the right time, and the story that blossoms from there can be filled with more opportunities than planned.

An airman smiles in front of shelves filled with medicine and prescription durgs.

Air Force Maj. Anh Ison

Job Title: Pharmacy Element Chief

Hometown: Saigon, Vietnam

Stationed: Ellsworth Air Force Base, S.D.

Unit: 28th Medical Group

An airman holds prescription drugs while operating equipment indoors.

How Did You Get Involved with the Defense POW/MIA Accounting Agency?

Before I joined the Air Force, I would hear people talking about how you can get paid for speaking a second language, but I didn’t know how to do that. Then when I got to my first duty station, I took a language test, but still wasn’t sure what to do with it. A lieutenant there told me about the Language Enabled Airman Program or LEAP, so I retook the test and applied it to my package. I was accepted into that program around this time last year, and that’s how my name was put on the roster with the Defense POW/MIA Accounting Agency or DPAA. Then in April of this year, they sent out a request for volunteers for a mission in Vietnam, so I went after the opportunity.

Digging for answers: Ellsworth officer contributes to DPAA efforts

What Was a Typical Day Like While on the Mission?

Every day, the Vietnamese government would drive us up a mountain near the location of a previous helicopter crash, and we would hike in the jungle for about 30 minutes down into a ravine. We had an archeologist on the team who would determine where we needed to dig, then once we started digging, we would put the dirt into buckets and those would get passed along a line of 100 local workers down to a washing station, as the area was very steep. At the washing station, high-pressure water was used to rinse the dirt to search for bones. This happened for about six weeks straight.

Everyone would have to dig as part of the team. On top of that, as the linguist I was responsible for the communication between the team leader, the archeologist and Vietnamese government officials. This also included communicating with the local workers, as they would need to know what to do and where to go.

Were There Any Challenges You Encountered While There?

The area we were in was very remote, so most people there didn’t speak Vietnamese as a first language. They could understand me perfectly because I was speaking standard Vietnamese, but it was really hard to understand them. Also, there was a lot that could get lost in translation, and after working days on end in the jungle, there was a lot of tension as well. Part of my job was to sense when it was happening and try to alleviate it as I was translating.

More on the physical side, there were leeches that would climb on us as we worked. They were about the size of a hair, and so after we were done for the day, we would have to check ourselves and each other to make sure we didn’t bring any back to the hotel with us. I learned on my first day not to lean on any trees!

What Did You Enjoy Most During the Mission?

I enjoyed just being back in Vietnam. Where we were wasn’t the environment, I grew up in, as I grew up in the city, but I enjoyed doing something different. This was a meaningful mission to me. It gave me the perspective of how hard the Vietnam War was on those who served there during that time. It was a tough environment!

I also enjoyed being an ambassador in a way; letting people know tidbits about Vietnamese culture. For a lot of the members on the American team, it was an eye-opening experience. I was happy that I had the chance to introduce them to things, to help them take it all in. 

Would You Volunteer with the DPAA Again?

I’m so thankful for everyone’s support so I could go for the first time. It wasn’t easy, as it put a lot of strain on my family since I’m married and have two little kiddos. And as a pharmacist, it puts a lot of strain on the workflow in the pharmacy. But I would love to go back and do it all again. Knowing what I know now, I think it would be a lot smoother.

Outside of Work, what do You Like to Do for Fun?

Last year my hobby was painting. I watched Bob Ross videos and learned to paint from them. This year’s hobby is crocheting. While in Vietnam for the mission, I would often stay in my room and crochet, as I learned how to do it about a month before I left. Other than that, I enjoy hiking with my family. I have two girls, one and four years old. So, we like to go to the park or the lake, and we go to the arcade a lot; things little kids like!

Nguồn: ellsworth.af.mil; dpaa.mil/News-Stories; Defense POW / MIA Accounting Agency’s Post.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Jul 2025

69. Nhật Bằng

Cũng như Phạm Đình Chương, Nhật Bằng xuất hiện cùng một lúc với ban hợp ca do chính ông thành lập và điều khiển gồm bốn anh em: Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần, Hồng Hảo và sau, thêm Tường Vi, hiền thê của Nhật Bằng, đó là ban hợp ca Hạc Thành. Nói về ban hợp ca Hạc Thành mà không có được một bài hát nào do họ trình bầy, thật là một điều đáng tiếc. Nhưng e rằng, hiện không còn ai giữ được cái tài liệu quý báu đó, kể cả chính Nhật Bằng. Bởi vì nghệ thuật hợp ca của chúng ta khi ấy còn được coi là mới.

Và ban hợp ca Hạc Thành không có được tầm vóc của ban hợp ca Thăng Long, nên chưa có đĩa nhạc thương mãi nào lưu giữ tiếng hát của họ. Băng ghi âm thì chỉ vài đài phát thanh như Sài Gòn và Quân Đội là có. Nhưng qua hai biến cố Mậu Thân và 75 đã mất hết. Những gì ban hợp ca Hạc Thành hát trước đó, từ cái thời họ còn ở Hà Nội thì lại càng không hy vọng gì tìm thấy.

Tuy không có được tầm vóc của ban hợp ca Thăng Long, nhưng ban hợp ca Hạc Thành vẫn gây được nhiều ấn tượng tốt đối với thính giả ở Hà Nội và sau đó ở Sài Gòn nữa. Thể Tần và Hồng Hảo đã để lại một kỷ niệm rất đẹp đối với các học sinh, sinh viên cùng lứa tuổi. Tiếng Sáo Thiên Thai của Phạm Duy và Dưới Nắng Hồng do Thể Tần và Hồng Hảo hát, đến nay, nhiều người nghe đã bạc đầu còn nhớ.

Hiện ban hợp ca Hạc Thành cũng có mặt trên đất Mỹ, nhưng đã thiếu đi một người: ca sĩ Thể Tần đã mất. Nhật Bằng sáng tác không nhiều lắm. Nhưng ngay từ những ca khúc đầu tiên cho phổ biến như Một Chiều Thu, Khúc Nhạc Ngày Xuân v.v … ông đã được yêu mến ngay. Những bài hát ấy có thể coi như khuôn mẫu cung cách viết nhạc của Nhật Bằng. Không có tiếng la hét, ồn ào trong nhạc Nhật Bằng. Tất cả đều được thu nhỏ, dịu dàng, nỗi vui cũng như nỗi buồn. Không có cái rạt rào, mênh mông của sóng biển. Chỉ có nắng chiếu lấp lánh như những vì sao trên mặt hồ.

Nhạc Nhật Bằng không có cái vẻ thủ thỉ của nhạc Nguyễn Văn Khánh. Ông chỉ muốn nói nhỏ, nói vừa đủ nghe những gì ông muốn nói. Nhạc của ông cũng không có những nốt quá cao hay quá thấp. Ông rất có tài khi sử dụng những nốt thăng hay nốt giáng giữa nhịp bài hát. Những nốt nhạc ấy tạo một sắc thái riêng biệt cho các ca khúc của Nhật Bằng. Ông cho người nghe nhạc của ông cái cảm giác mong manh của một cái gì dễ tan, dễ vỡ. Cái còn là một bóng chiều, cái mất là đêm tối xóa đi.

Dạ Tương Sầu là một trong những ca khúc hay nhất của Nhật Bằng. Ông không nói gì đến quê hương, nhưng hình như toàn thể ca khúc chất nặng một nỗi hoài hương. Người nghe thấy mình đột ngột được đặt trước một cảnh tối sẫm nào đó mình đã nhìn thấy trong đời, một nơi chốn đã đi qua, một cõi mơ ước đã có, nhưng cũng đã đánh mất.

Đường về xa xa tắp

Bóng người thôn nữ khăn hồng yếm tơ

Bước chân đi

Vẫn còn quay gót

Hé mỉm cười thơ

Nhật Bằng chỉ phác thảo như thế, còn khuôn mặt, người nghe có thể vẽ lấy bằng tưởng tượng của mình. Nếu người ta không vẽ nổi thì cũng chỉ cần ngần ấy thôi, cảnh đã đẹp lắm, người đã đẹp lắm. Đã đủ cho một nỗi nhớ nhung. Đã vừa cho một niềm thương tiếc. Nhưng nhớ tiếc gì đây? Nhật Bằng không bao giờ nói rõ điều đó. Ông chỉ hé ra một chút cảnh, bầy tỏ một chút tình. Rồi khi các âm thanh khép lại, các hình ảnh trôi xa hơn một tí nữa trong trí tưởng tượng, tất cả sẽ kết hợp, sẽ để lại trong lòng người, cái dư vị của một chén đời uống dở, một cuộc tình, một niềm vui hay một nỗi tương tư, chúng ta còn theo đuổi, tưởng rằng đã quên.

Nhật Bằng hoạt động rất tích cực trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta mấy chục năm vừa qua. Khi ban Hạc Thành không hát nữa, Nhật Bằng đã cùng

Anh Ngọc, Văn Phụng lập ra ban tam ca Do Si La, cũng được rất nhiều thính giả yêu mến. Ông soạn hòa âm cho các ban nhạc, chơi đàn trong các vũ trường. Ông được coi là một trong những người soạn hòa âm đạt nhất đối với các ca khúc được gọi chung là nhạc tiền chiến. Thật vậy, với những phương tiện dồi dào và kỹ thuật tân kỳ như hiện nay, hòa âm của các nhạc sĩ trẻ, hình như đã khoác cho các ca khúc cũ ấy một bộ áo mới. Hòa âm của Nhật Bằng cho người nghe nhận ra cả da thịt lẫn linh hồn những ca khúc ấy một cách gần gũi hơn, trực tiếp hơn. Và, còn có thể nói, đằng sau những hòa âm của Nhật Bằng, người nghe dường còn cảm nhận ra cả cái không khí của thành phố Hà Nội nữa. Ca khúc Đợi Chờ Nhật Bằng viết chung với Phạm Đình Chương vào cái thời cả hai còn nắm trong tay các ban Thăng Long và Hạc Thành, có thể coi là tác phẩm đánh dấu cho tình bạn của hai người. Trong ca khúc này, cái buồn khác xa với cái buồn trong các ca khúc họ viết trước đó.

Ngoài phần nhạc, chúng ta còn được một bài thơ là phần lời ca của bài hát. Một bài thơ tình dành cho những ai phải xa nhau biết yêu lúc xa, nếu còn được gần, hãy sống sao cho hết lúc gần.

Ước mơ của Nhật Bằng cũng hiền hòa. Bài Nàng Tiên Trắng của ông là một thí dụ. Cánh Hoa Trắng của Phạm Duy có thể làm cho người nghe chảy nước mắt. Nàng Tiên Trắng của Nhật Bằng cho người cảm tưởng nhẹ nhàng, thanh thoát, mình có thể bay được.

Nhật Bằng xử dụng được nhiều nhạc khí. Nhưng bằng hữu và các thính giả vẫn thích coi và nghe ông đàn đại hồ cầm hơn hết. Cây đàn chỉ đóng vai phụ, đệm cho các nhạc cụ khác. Nhưng một ban nhạc không thể thiếu nó. Tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng bao giờ cũng chắc nịch và nghe kỹ, người ta cảm thấy như là, trong tay ông, nó đã nói được cái tiếng âm thầm của nó, đóng đúng vai trò của nó. Trở lại với nhạc Nhật Bằng. Cái buồn trong nhạc của ông không chết cây gẫy cành. Cái vui trong nhạc của ông không dập hoa, vỡ trái. Nhiều khi cái vui, cái buồn lẫn lộn trong một ca khúc của ông nữa. Cái phơi phới của nhạc Nhật Bằng chỉ là trận gió trên sông trăng, dù ông có nói tới Trương Chi chăng nữa.

Một Chiều Thu

Chiều nay sương rơi ướt vai

người khách giang hồ

Trời thu hiu hắt lá rơi nhẹ cuốn theo dòng

Rồi còn tìm đâu những năm xưa ngày ấy

Bên nhau tiếng đàn êm đềm nhẹ lá vàng rơi

Đàn còn vang nhịp theo tiếng xưa

Dưới trăng êm đềm vai kề ta xây ước mơ

Chiều về lòng nhớ tới những phút ấy

Ngày nào đầy vui thơ nay khuất xa rồi

Chiều thu đem tới với ta bao nỗi u sầu

Còn tìm đâu thấy những khi nhịp bước trên cầu

Mộng đẹp đầy thơ ước xây bên nhà ấm

Nay thu đã về như nhủ lòng nhớ tình xưa

II

Chiều thu năm ấy đến nay đã mấy thu rồi

Cảnh xưa vẫn đó gió đưa rụng lá tơi bời

Ngược dòng thuyền trôi mái êm đưa chèo sóng

Sương rơi xóa mờ

nhưng nàng vẫn đứng chờ mong

Nàng chờ ai tựa cây đứng trông

Ánh trăng mơ màng như dìu hồn ta tới đâu

Thuyền chàng gần ghé tới chốn bến cũ

Nghẹn ngào nhìn nhau đây phút êm đềm

Chiều thu như nhắc với ta lại giấc mơ ngàn

Đường về còn xa tiếng chuông chùa

vang bên làng

Mộng đẹp đầy thơ ước xây bên nhà ấm

Nay thu đã về như nhủ lòng nhớ tình thơ

Duy Trác

Lệ Thu