This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Hóa Ra Lần Cuối Em Buồn Nghỉ Chơi” là tập thơ thứ 5 của Nguyễn Nam An được xuất bản. Ông cũng vừa cho phát hành tập truyện ngắn “Tiểu Triệu Minh” ký tên An Phú Vang. Đôi khi ông ký liền hai cái tên làm một: Nguyễn Nam An Phú Vang. Có một vẻ gì đó nửa đùa nửa thật trong cái cách đặt tựa cho những cuốn sách của Nguyễn Nam An. Nhưng những gì người ta ngỡ là ông đùa cợt, nhất là trong thơ ông, đều là những gì ông nói một cách nghiêm chỉnh. Chỉ có cái cái cách nói của ông, ngôn ngữ ông dùng để nói những điều nghiêm chỉnh, thường lại nhuốm vẻ cười cợt.
Ngày mới lớn anh cũng hơi cà chớn
Thương mà không chịu nói để về buồn
Giờ anh lớn cà chớn thêm một chút
Thương cũng buồn không thương
lại buồn hơn
Vài năm đó em lớn hơn đó nhỏ
Lòng bao dung chắc thêm lượng đất trời
Anh mơ ước em cười lên khi ngó
Nhớ thương thời anh lẽo đẽo theo chân
Anh cà chớn nhưng thương em, em ạ
Đấy là những điều Nguyễn Nam An nói về tình. Những gì ông kể về chuỗi ngày ‘lính tráng’ xa xưa thì những cái ‘ngang phè’, ‘cà chớn trọng thơ ông lại có thể làm người ta bàng hoàng:
Trở lại Quế Sơn nằm đây núi
Bùi ngùi đêm thức ngó Bình Lâm
Rừng đậm sao xa soi không tới
Đất giấu mìn bẫy rét bàn chân
Một năm mấy tháng rừng xanh gió
Đỏ chạch mắt lên thuở thương nhà
Trăng em cứ đến rồi đi lạ
Ta đời bước ngặt tiếng súng xa
Núi cao mấy ngã phương nào phố
Hương lộ vàng heo chốn nao nhà
Buồn vác súng đi mua rượu uống
Tập tành say xỉn ngã thời thương
Mà chinh chiến chặn đường em phố
Lửa đốt thanh xuân chốn đây rừng
Trên hố cá nhân nơi đây hứng
Súng đạn xuân nằm rét căm căm
Đã có một thời trên đất nước chúng ta, người lính đóng quân ở đâu đó, buồn, muốn có một chút rượu uống, phải vác súng theo mới dám đi mua. Như thế là ‘rỡn mặt với cái chết. Còn nằm trong hố chờ ‘hứng’ pháo thì hẳn không thể gọi là rỡn mặt với tử thần được, vậy phải gọi là cái gì đây?
Trải qua một quãng đời như vậy, nên người ta không lạ khi thấy Nguyễn Nam An bị quá khứ ám ảnh. Cứ vài trang thơ nói chuyện nắng mưa, tình ái, người ta lại thấy ông, gần như hốt hoảng, nhắc lại mình cái quá khứ đen tối ấy, với “tổ quốc trên đầu”, “hai mắt trên vai” như cách nói của ông:
Sáng đi tổ quốc trên đầu
Chiều về tổ quốc chìm sâu trong hồn
Năm từng năm những mùa đơm
Năm từng năm những mùa hương quê nhà
Năm từng năm nỗi sầu già
Hình như tổ quốc giờ oà tiếng kêu
Sáng đi tổ quốc buồn thiu
Chiều về tổ quốc bao điều xốn xang
Trong hồn nguyên quán Việt Nam
Theo tờ giấy cũ đã vàng xác xơ
Trong lòng ví ngủ bao giờ
Con dấu đất nước một tờ kiểm tra
Hình như một chỗ hôm qua
Là bao năm đó là đà kiếm quanh
Những mùa đơm, đường em phố, chốn nao nhà, làm quen với lối xử dụng chữ nghĩa ấy của nguyễn Nam An, người ta sẽ nhận ra thơ ông có những vẻ đẹp riêng dù có đôi khi ông hơi cẩu thả.
Sau đây là hai bài lục bát ngắn của Nguyễn Nam An:
Tin giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đau, phải đưa vào bệnh viện, đã được một số các môn sinh của ông, hiện đều là những nhà văn, nhà báo danh tiếng,
nói lại với nhau trong ít ngày gần đây và trở thành một tin tức khiến nhiều
người dù không ở trong giới cũng thắc mắc theo dõi. Hỏi những người đã tới tận bệnh viện thăm ông thì được biết, giáo sư chắc không đến nỗi nào, ông hoàn toàn tỉnh táo, trò chuyện cùng mọi người và nhất là ông vẫn nói tới những công việc lâu dài, tựa hồ ngày mai ông sẽ trở về nhà, tiếp tục lại.
Thế nhưng, sáng hôm 9 tháng 12-2003, đọc báo, người ta thấy một cáo phó của gia đình báo tin giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đã qua đời.
Mặc dầu ai cũng biết tuổi giáo sư đã khá cao, nhưng sự ra đi của ông vẫn làm người ta bàng hoàng. Chúng ta đã mất đi một nhà khoa bảng, một ông thầy tận tâm, một nghệ sĩ, một người thiết tha với văn hóa đất nước, một người yêu nước.
Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đậu Tiến Sĩ Văn Chương tại Đại Học Sorbonne, một trường Đại Học danh tiếng tại Pháp. Trở về nước ông dạy học và tới năm tại 1965 ông được cử làm Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Và ở cương vị này, ông đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc
tạo dựng một nền một nền đại học có tính riêng biệt của Việt Nam.
Ngoài sự nghiệp giáo dục, giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch còn sáng tác thơ, văn, viết nhiều sách, báo, bàn luận về các vấn đề triết học, văn chương, ký tên Trần Hồng Châu. Thơ văn của ông, ngoài chất kinh điển, trí thức, còn cho thấy ông là một thi sĩ đa tình và, hình như ông không già trong suốt những tác phẩm được viết cách nhau nhiều năm. Kể từ ngày ra khỏi nước sau biến cố 75, tới Mỹ, ông đã cho xuất bản 4 tác phẩm gồm ba tập thơ Nửa Khuya Giấy Trắng, Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây, Nhớ Đất Thương Trời và một tập tùy bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng.
Thơ và văn Trần Hồng Châu không có ranh giới. Tập tùy bút của ông thực ra chỉ là những bài thơ xuôi. Cái hay nhất, cái làm người ta vừa ngạc nhiên vừa xúc động khi đọc thơ Trần Hồng Châu là hình như mỗi câu văn, câu thơ của ông đều hàm chứa một lời tỏ tình. Tỏ tình với người, tỏ tình với cảnh. Khi ông nói về các sinh viên của mình, rõ hơn các nữ sinh viên của mình, người đọc không khỏi lo sợ, ông có ‘lạc cảm xúc’ chăng?
mắt đầy sao và áo đầy hương
em đem trời đẹp vào trong lớp
ta thấy đang hè bỗng đã xuân …
chiều rơi trên hành lang
nắng loang vệt nhỏ dưới sân trường
em ơi, chiều bỗng vàng trên mái
tà áo bâng khuâng lá ngập đường …
Cái thói quen cũ kỹ trong chúng ta là sợ thầy nói điều gì đó lệch lạc về trò.
Nhưng đọc những câu thơ như thế của Trần Hồng Châu người ta có thể yên tâm đọc tiếp, ông chỉ yêu cái đẹp, cái đẹp như thế nếu [ai] không biết yêu thì quá dở! Khi ông làm thơ tình, thật sự là thơ tình, thơ ông nồng nàn lắm:
anh vẫn yêu
như năm tháng thủy triều dâng
như heo may không bao giờ lỡ hẹn
mùa thu
anh vẫn làm thơ
như đêm đêm Bắc đẩu sáng rực trời sao
như bình minh hằng gõ cửa
khi bóng đêm lủi thủi ra về
anh không thể không yêu
vì lửa xích đạo vẫn nấu nung
mùa gió chướng
vì tuyết không thể không mang trắng trinh
hồn xử nữ
anh không thể không làm thơ
vì trái đất không ngừng quay
sông nước không ngừng chẩy
vì tóc em vẫn dệt võng
cho lưới trời đắm say
vì chân em vẫn nở anh hoa đào
trên sa mạc trần gian
anh vẫn yêu
anh vẫn làm thơ …
Nhận định về tập tùy bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng của Trần Hồng Châu, Bùi Bảo Trúc viết:
“Cảm động nhất là những đoạn ông viết về Sài Gòn, lòng yêu thương ông dành cho Đại Học Văn Khoa trên miếng đất của khám lớn xưa, rồi ở trường mới nằm trên đường Thống Nhất và Cường Để. Người đọc không cần phải
đi qua những nơi ông viết mà vẫn có thể yêu Trần Hồng Châu, cũng như người ta không cần phải học Văn Chương Quốc Âm mà vẫn có thể yêu giáo sư phụ trách những giảng khóa của chứng chỉ này” [Nguyễn Khắc Hoạch].
Và cũng vẫn theo Bùi Bảo Trúc, đoản văn hay nhất trong tập tùy bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng là Buổi Chiều Hằng Cửu:
“Chưa ai có thể viết về Sài Gòn một cách thân mến và đẹp như thế. Ông viết về Sài Gòn cho cả những người chưa bao giờ đến thành phố này mà vẫn có thể yêu nó, như Hàn Mặc Tử từng làm cho biết bao nhiêu người trong chúng ta phải chạy ra Huế, đi tìm thôn Vỹ Dạ để xem một chút nắng như ngọc giọi trên những tầu lá cau, để xem gió và mây đi hai lối khác nhau và đáp chuyến đò chở trăng về cho kịp buổi tối.
Người ta viết nhiều về Sài Gòn, nhưng phải đợi cho đến Trần Hồng Châu viết, buổi chiều mới hằng cửu, Sài Gòn mới thơ đến như vậy.
Chữ nghĩa Việt Nam được tắm gội bằng thi ca và triết học như chưa bao giờ thấy”. Còn nhà văn Nguyễn Mộng Giác thì viết rằng: “Đọc thơ và văn xuôi Trần Hồng Châu, tôi nghĩ tới hai điều trái ngược. Về một thời đã mất. Và về một sự thể không bao giờ mất, bởi nó chẳng hề bao giờ bị giam cầm trong giới hạn của một thời nào. Sự thể ấy là văn chương, nơi thơ văn
Trần Hồng Châu”.
Đọc báo, nghe đài chỉ trong vài tuần qua, người ta được biết có tới ba cái giỗ các nhà văn nhà thơ: Mai Thảo, Trần Hồng Châu và Xuân Vũ, giữa hai tháng cuối năm cũ và đầu năm mới.
Một nhà văn cao tuổi ở Cali đã cười cười bảo rằng: “đã đến lúc người chết được nhắc tới nhiều hơn người sống rồi, người mất nhiều hơn người còn rồi”.
Câu nói đùa ấy, có một phần sự thật. Lớp nhà văn thứ hai của chúng ta, sau lớp thứ nhất thường được gọi chung là tiền chiến, cho đến hiện tại, cũng đã trên dưới bảy tám mươi rồi, cũng đã “tới cõi” rồi. Mặc dầu vậy, nỗi vắng vẻ họ để lại vẫn làm chúng ta bàng hoàng khi nghe nhắc đến.
Posted on June 4, 2025, by dongsongcu Post by Sơn râu 6 Sep 2025
Nếu lửa là phát minh vĩ đại nhất giúp con người thoát khỏi thời mông muội, thì sách chính là phát minh vĩ đại giúp nhân loại bước vào kỷ nguyên của tri thức và văn minh.
Trước khi Internet “qua mặt không bóp kèn” mọi thứ, trước khi Facebook “dạy đời” mỗi ngày, và trước cả khi những cuốn sách biến thành đồ trang trí bàn cà phê, ông Nguyễn Hùng Trương – tức ông Khai Trí – đã tiên phong đi trước thời hiện đại. Ông mở nhà sách để người ta “khai trí” bằng cách đọc: đọc ké, đọc kín, đọc chùa, đọc không trả tiền. Cái bất tiện hơn so với chui vô thư viện là ngồi đọc, thì ở đây… phải đứng đọc!
Ở Sài Gòn những năm 60, khi xã hội còn đang mải mê với những bộ phim “nghệ thuật” Hollywood, dân mình lại dịch theo kiểu Tàu là “Hồ Ly Vọng”. Nghe “Hồ Ly” là tôi lại tưởng đến Liêu trai chí dị của chú ba Bồ Tùng Linh chớ?!
Khờ câm từ đêm buồn tỉnh lẻ Mỹ Tho tui lên Sài Thành hoa lệ dùi mài kinh sử lại không lo, vì bận ngơ ngẩn trông vời áo tiểu thư. Tiểu thư đây là những em mặc jupe soirée (váy dạ hội), từ trong quán cà phê Givral bước ra, miệng parler français – nói tiếng Pháp – như ca sĩ Thanh Lan học trường Đầm Marie Curie.
(Viết tới đây tui lại nhớ giáo sư Nguyễn Anh Bổn dạy môn Pháp văn sinh ngữ hai lớp đệ nhứt trường Trung học Công lập Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, tỉnh Định Tường. Thầy chạy xe đạp đòn dông, tóc bạc nên đám học trò tụi tui gọi thầy là: “ông ngoại”. Một hôm, ông ngoại biểu tui chia động từ avoir. Chia xong, thầy nói: “Đoàn quân (chàng họ Đoàn, tức là tui): Parlez français same same Vietnamien!” He he!)
Trong khi đó, ông Khai Trí bán sách không dễ tiêu hóa đâu, rất khó gặm: triết học cổ điển, văn học nước ngoài, công trình khoa học… Đọc để khai trí, chứ đâu phải đọc giải trí!
Ông Khai Trí
Ở Footscray, ngoại ô cách Melbourne CBD về hướng Tây – nơi tôi,30 năm trước, từ sông nước miền Tây trôi dạt đến – có tiệm tên Khai Trí ở đường Droop. Khai Trí này không bán sách mà bán băng Paris by Night của ông Tô Văn Lai, hoặc Asia của ông Trúc Hồ. Sau băng, đĩa lậu tràn lan, tiệm nghỉ luôn, không thèm “khai trí” nữa. Cho tụi bây ngu… ráng chịu!
Nhà sách Khai Trí ở thủ đô Sài Gòn yêu dấu xưa là một kho tàng tri thức mà thư viện quốc gia chưa chắc có. Ngay cả nhà biên khảo Sơn Nam muốn tìm tài liệu cũng phải chịu khó lội bộ mấy cây số đến đó mà chép.
Rồi đến năm 1975, CSBV vào, “giải phóng” – không bị ‘phỏng…’ vì đó là trận bão tuyết lạnh giá văn hoá của Lenin từ Siberia thổi tới. Sách của ông bị tịch thu đem đốt, ông Khai Trí bị nhốt vì “tội bán quá nhiều sách đồi trụy của bọn Mỹ Ngụy”.
Ra tù, nhà sách của ông thì họ quên trả. Nhà lầu mặt tiền đường Lê Lợi, trung tâm Quận Nhứt Sài Gòn, trả sao được? Ông Khai Trí sống lưu vong ở Mỹ. Sách ông thì chẳng ai còn nhớ đến nữa.
Nguyễn Hiến Lê.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ có những tiếng hô vang “giải phóng miền Nam” của Huỳnh Minh Siêng (tức Lưu Hữu Phước). Giải phóng bằng cách… đốt sách!
Những cuốn sách, dù là kỹ thuật, văn học của Nguyễn Du, của Lê Quý Đôn, hay các tác phẩm cổ điển phương Tây – tất cả đều trở thành “kẻ thù”, chỉ vì in ở Sài Gòn, mang “mầm mống phản động”.
Không cần lý lẽ, chỉ cần “tổ trưởng tổ dân phố” ra phán quyết là đốt sạch sành sanh.
Muốn đọc? Phải xin phép. Muốn viết? Phải được duyệt. Mà viết không được đăng thì chỉ có nước… đi học lại những đề cương về văn hoá cách mạng của Trường Chinh – tay đao phủ cải cách ruộng đất, từng bắt nông dân tố cha, tố mẹ, chỉ vì có vài mẫu đất trồng khoai nuôi heo ở miền Bắc năm 1956. Người ta vẫn nói: “Con người là những gì họ đọc.” Vậy sau bao nhiêu chiến dịch đốt sách, kiểm duyệt, cấm đoán, thì người dân trong chế độ Cộng sản còn đọc gì? Một dân tộc không còn thói quen đọc, không chỉ vì lười biếng, mà vì không còn sách để đọc – ấy mới là bi kịch.
Nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê chỉ cần liệt kê tên sách ông viết và dịch đã đủ làm một chồng sách cao hơn đầu. Nhưng sách ông cũng bị đốt sạch.
Nếu sách là con tinh thần của ông, thì bọn vệ binh đỏ của trùm CS Lê Duẩn đã giết hàng trăm đứa con ông ngay trước mặt ông. Lòng đau như dao cắt, như muối xát kim châm, mà ông Nguyễn Hiến Lê chỉ dám nhẹ nhàng còm len (complain): “Người ta đốt sách như thời Tần Thủy Hoàng. Tôi buồn, nhưng không ngạc nhiên.”
Ông dùng chữ “người ta”? Người ta gì mà mọi rợ vậy chớ?! Hay là ông Nguyễn cũng sợ bị nhốt như ông Khai Trí?
Đối với tất cả các chế độ độc tài: sách là kẻ thù của họ. Không phải vì sách có thể bắn ra đạn, mà vì sách chứa đựng một thứ không ai cấm được: tư tưởng.
Lịch sử từng chứng kiến những vụ đốt sách “vĩ đại”: Tần Thủy Hoàng đốt sách để độc quyền tư tưởng. Stalin đốt sách để xóa “tư tưởng lệch lạc”. Hitler đốt sách Do Thái. Mao Trạch Đông đốt luôn cả văn hóa, cả lịch sử – để tái tạo Trung Hoa XHCN từ đầu. Pol Pot xé sách dạy chữ, quay về thời đồ đá.
Và ở Việt Nam, sau 1975, sách bị thiêu rụi trong những cuộc “giải phóng tư tưởng”. Cái mất không chỉ là sách – mà là cả một nền văn hoá, cả một dân tộc biết suy nghĩ.
o O o
Nhưng ngọn lửa đốt sách của lịch sử vẫn lởn vởn, sẵn sàng bùng lên mỗi khi quyền lực cảm thấy tri thức là mối đe dọa. Ngày nay, có ai còn đọc? Có ai còn viết mà không bị mạng xã hội “ném đá” hoặc “báo cáo vi phạm cộng đồng”?
Trong các chế độ độc tài, trong đó có độc tài Cộng sản, nếu muốn sống: cấm khai trí, cấm đọc, cấm phản biện. Hãy ngu đi! Animal Farm (Trại súc vật) của George Orwell thì phẻ re như con bò kéo xe, hay con ngựa thồ ngoại ô xa vắng, bị che hai bên mắt – chỉ được nhìn về một hướng như Trịnh Công Sơn. Hướng đó là: Thiên đường mù của Dương Thu Hương! Khè khè!
Vào một ngày Tháng Tám cách đây đã 58 năm, trên bầu trời miền Trung Việt Nam, một biến cố đã khắc ghi tên tuổi một quân nhân Mỹ vào sử sách Hoa Kỳ và cả trang bi hùng của chiến tranh Việt Nam. Đó là Đại Úy Stephen W. Pless.
Câu chuyện xảy ra bên bãi biển Quảng Ngãi, nơi một nhóm nhỏ binh sĩ Mỹ tưởng chừng sắp bị tiêu diệt dưới lưỡi lê quân Việt Cộng, nhưng đã được cứu thoát trong một trận không vận táo bạo đến ngỡ ngàng.
Hôm ấy, ngày 19 Tháng Tám năm 1967, Pless đang lái chiếc trực thăng chiến đấu UH-1E Huey thuộc phi đội quan sát Thủy Quân Lục Chiến số 6, Liên Đoàn Không Quân Thủy Quân Lục Chiến số 36, Phi Đoàn Không Quân Thủy Quân Lục Chiến số 1. Nhiệm vụ ban đầu của ông chỉ là hộ tống và yểm trợ hỏa lực. Thế nhưng, chiến tranh vốn không bao giờ diễn ra theo kịch bản có sẵn.
Một tín hiệu khẩn cấp vang lên trong tai nghe: bốn lính Mỹ bị kẹt trên bãi biển, đang bị một lực lượng Việt Cộng đông gấp mười lần bao vây. Tình hình vô cùng nguy kịch – nếu chậm trễ vài phút, có lẽ chỉ còn lại những cái xác đẫm máu. Pless lập tức tách khỏi đội hình, điều khiển chiếc Huey lao thẳng về hướng biển.
Khi đến nơi, trước mắt anh là cảnh tượng khủng khiếp. Trên bãi cát trắng, 30 đến 50 du kích Việt Cộng đang vây lấy bốn người lính Mỹ bị thương. Một số tên dùng lưỡi lê đâm xối xả, kẻ khác thì dùng báng súng đánh đập. Binh sĩ nằm quằn quại, bất lực, máu nhuộm đỏ bờ cát. Đó không còn là một trận đánh – mà là một cuộc hành quyết.
Không do dự, Pless cho trực thăng lao xuống thấp, bắn rockets và súng máy ở cự ly đến mức mảnh vỡ từ vụ nổ văng trúng cả thân chiếc Huey. Hỏa lực bất ngờ khiến đối phương phải rút lui, lẩn vào rặng dừa ven biển.
Nhưng trận chiến chưa chấm dứt. Một trong bốn người lính Mỹ chỉ còn đủ sức giơ tay cầu cứu. Thấy thế, Pless hạ Huey ngay giữa lằn ranh tử thần, lấy thân trực thăng làm tấm chắn cho binh sĩ. Phi hành đoàn nhảy xuống, chạy trong làn đạn để kéo những người bị thương lê lết lên khoang máy bay.
Khi việc tản thương chưa xong, Việt Cộng quay trở lại, bắn xối xả, có tên chỉ còn cách vài mét. Phi công và đồng đội vừa nổ súng, vừa kéo người lính bị thương lên. Bốn người lính được đưa vào trực thăng, nhưng khi cửa vừa khép, một khó khăn mới lại đến: chiếc Huey quá tải, Pless cố kéo cần điều khiển nhưng chiếc máy bay ì ạch, trĩu nặng. Ông quyết định bay hướng ra biển, dùng mặt nước làm đường trượt lấy đà. Mỗi khi Huey chạm sóng, Pless lại cho phi hành đoàn vứt bỏ thêm đạn dược, ống phóng tên lửa, thậm chí cả tấm giáp bảo vệ. Cuối cùng, chiếc Huey nhấc khỏi mặt nước, chao đảo nhưng vẫn giữ được đủ độ cao để đưa tất cả đến bệnh viện dã chiến. Ba trong bốn binh sĩ sống sót.
Chuyến bay ấy đã ngăn chặn một vụ tàn sát mà chắc chắn sẽ gây chấn động dư luận nếu xảy ra. Với chiến công đó, Đại Úy Stephen W. Pless được trao the Medal of Honor (Huân chương Danh dự) – phần thưởng cao quý nhất của Hoa Kỳ, cũng là phi công Thủy quân Lục chiến duy nhất trong toàn bộ cuộc chiến Việt Nam được nhận vinh dự này.
Trong suốt thời gian phục vụ, ông thực hiện hơn 780 phi vụ, từ yểm trợ hỏa lực, tiếp tế, đến cấp cứu chiến trường. Đồng đội nhớ đến Pless không chỉ vì kỹ năng lái trực thăng tuyệt vời mà còn bởi sự quả cảm, coi trọng sinh mạng người lính dưới đất hơn chính an nguy của chính bản thân mình.
Sử sách Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã ghi lại: “Nếu không có hành động dũng cảm và chính xác của Đại úy Pless, chắc chắn hôm ấy bãi biển Quảng Ngãi sẽ biến thành mồ chôn tập thể của những người lính Mỹ.”
Thế nhưng, số phận lại trớ trêu. Sau khi rời Việt Nam, Pless trở thành huấn luyện viên phi công, mang trên ngực đầy huân chương. Tưởng rằng cuộc đời phía trước sẽ trải dài trong bình yên, nào ngờ chỉ hai năm sau, ngày 20 Tháng Bảy năm 1969, ông thiệt mạng trong một tai nạn xe gắn máy ở Pensacola, Florida. Khi ấy, ông mới 29 tuổi.
Bi kịch hơn nữa, cái chết của ông gần như bị lãng quên trong dòng tin tức quốc tế. Bởi cùng ngày, cả thế giới dồn mắt vào một sự kiện khác: phi thuyền Apollo 11 đáp xuống Mặt Trăng. Báo chí Mỹ rợp trời hình ảnh Neil Armstrong và câu nói “một bước nhỏ của con người, một bước tiến khổng lồ của nhân loại,” còn tin Đại Úy Pless tử nạn chỉ là mẩu tin ngắn gọn trên vài trang báo địa phương.
Ngày nay, nhắc đến chiến tranh Việt Nam, nhiều người thường nhớ đến những cuộc hành quân khốc liệt, những trận bom B-52 hay những đêm Sài Gòn giới nghiêm. Nhưng trong kho tàng ký ức ấy, vẫn còn những câu chuyện bi tráng như hành động của Đại úy Pless.
Trên bãi biển Quảng Ngãi hôm ấy, ông đã biến trực thăng thành tấm khiên, biến kỹ năng phi công thành chiếc cầu nối giữa sự sống và cái chết. Hình ảnh ấy gợi nhớ đến tinh thần “không bỏ ai lại phía sau” – một lời thề không chỉ của riêng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, mà của bất kỳ người lính nào trên thế giới.
Vinh quang tuy ngắn ngủi, nhưng sự hy sinh và can đảm của ông vẫn sống mãi trong tâm khảm những người từng đặt chân xuống chiến trường Việt Nam. Ở một góc nhỏ của lịch sử, bên kia bờ đại dương, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe về một phi công trẻ tuổi, người đã chọn đối diện với họng súng thay vì quay lưng rời bỏ rơi đồng đội.
Bãi biển Quảng Ngãi năm 1967 là nơi Đại Úy Stephen W. Pless viết nên bản anh hùng ca giữa khói lửa chiến tranh. Dù cái chết của ông bị che khuất bởi bước chân lên Mặt Trăng, lịch sử vẫn không quên. Trong bóng mát của tự do hôm nay, chúng ta có thể chậm rãi đọc lại trang sử ấy và nhận ra: chiến tranh, ngoài bi thương, còn có những ánh sáng le lói từ lòng quả cảm của những con người như Pless – ngọn đèn không bao giờ tắt trong ký ức nhân loại.
Tác giả dưới ngọn cờ đỏ quang vinh. Ảnh chụp tháng 12, 1975.
Phần 1.
Khi báo với bạn đọc loạt bài “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” sẽ được đăng trên tờ Bán nguyệt san Ngày Nay, ấn hành ở Houston, tôi viết: “Mời bạn đọc trên Ngày Nay “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, bản kết tội của Minh Kiên – Nam Thi, nguyên Đại tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng Biên Tập Tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần trả lời của Hoàng Hải Thủy, một trong những người bị Cộng sản Việt Nam gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút.”
Đọc lại, tôi thấy tôi thật ngớ ngẩn, vô duyên, không giống ai, Công An Thành Hồ cho tôi nằm ngâm thơ của Cố Thi sĩ Trần Văn Hương hai lần, trước sau là Tám Mùa Thu Lá Bay. Họ đã bỏ tù tôi, và tôi đã ở tù. Tôi còn có gì để “trả lời” họ và tôi cần gì, tôi việc gì phải “trả lời” họ. Bỏ nước chạy lấy người không kịp, kẹt lại, ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ, không ra đầu ngõ cũng bị bật ngửa vì nón cối, giép râu, nhìn đâu cũng thấy ảnh Bác Hồ “Muôn Kính, Ngàn Yêu” với những hàng chữ “Không có gì….” đỏ lòm, tôi không thể tự làm tôi mắt mù, tai điếc, tay cùi, miệng câm, tôi can tội mần một số thơ Con Cóc bắt chước Ca Dao mà tôi gọi là Phóng Dao, ngồi gù lưng trên căn gác tối om viết một số bài kiểu Tạp Ghi Tiền Tuyến để than thân, trách phận, thương nhớ kẻ ở người đi, não nùng tâm sự, đời tàn ngõ hẹp, đói không những chỉ đói cơm mà còn đói cả cà phê, thuốc lá, đói đủ mọi thứ. Tôi viết những bài gọi văn huê là “tác phẩm chứng nhân Thành Hồ Trần Ai Khoai Củ” và viết xong tôi không cất chúng dưới đáy tủ, gầm giường, tôi gửi chúng ra nước ngoài để anh em ta ở hải ngoại đăng báo. Và thế là tôi bị Công An Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước đi cất kỹ trong sáu niên. Sống giữa gọng kìm công an cộng sản mà lén lút làm thơ phú vẩn vương diễn tả đời sống đen hơn mõm chó mực của nhân dân để gửi ra nước ngoài thì bị Công An Cộng sản bắt, bị Cộng sản cất đi năm bẩy niên trong tù là chuyện tất nhiên.. Cũng là sòng phẳng. Có gì gọi là “trả lời, trả vốn”.
Cộng sản thù ghét nhất những anh Con Trai Bà Cả, Bà Hai Đọi sống trong chế độ của họ mà bới móc, phơi bày những cái xấu của họ qua văn thơ, châm biếm họ bằng thi ca. Họ thù nhất là những anh viết và gửi những bài tố cáo chế độ họ ác ôn côn đồ ra phổ biến ở nước ngoài. Chẳng cần phải tố cáo, chỉ cần than khổ thôi là đã bị coi là phản động và được công an ưu ái hỏi thăm sức khỏe. Mối hận thù truyền kiếp bọn văn nghệ sĩ được đàn anh công an Nga Xô trích vào máu thằng đàn em công an Việt Cộng “… thẳng tay trấn áp bọn văn nghệ sĩ phản động, không cho chúng than khóc…” Công an Việt cộng đã, đang và vẫn làm đúng lời dậy ấy.
Năm 1988, khi bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, sau bốn năm tù ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu và Khám Lớn Chí Hòa, sắp “được” đưa ra xét xử lần thứ hai ở cái gọi là Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM, “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh vào nhà tù Chí Hòa gặp chúng tôi, anh là người sẽ “biện hộ” cho nhóm bị gọi là Biệt Kích Văn Nghệ trước tòa. Anh nói:
– Các anh viết bài gửi ra nước ngoài làm cho họ đau lắm. Họ thù các anh và các anh đã bị khổ sở mấy năm rồi. Bây giờ đưa các anh ra tòa tôi thấy họ có vẻ muốn làm cho xong đi. Các anh làm họ đau, họ bỏ tù các anh. Như vậy là huề. Lần này ra tòa, tôi nghĩ các anh không nên găng với họ. Mềm dịu cho xong đi. Các anh ở tù mấy năm như vậy cũng là đủ …
Ai tù hào hùng, khí phách thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết tôi tù thôi. Tất nhiên là tôi thấy tôi ở tù mấy mùa lá rụng ngoài song sắt như vậy là – không phải đủ – mà là quá đủ. Năm 1986, trước ngày Đại Hội Đảng Kỳ 6, Công An Thành Hồ đã dàn dựng đưa bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” ra tòa với cái tội “gián điệp”. Năm ấy họ muốn dựng một vụ Xử Án Điển Hình kiểu “Sát Nhất, Nhị, Tam, Tứ Nhân, vạn vạn nhân cụ, ” một vụ án làm cho tất cả những anh Con Trai, Con Rể, Con Nuôi, Con Hoang, Con Rơi, Con Rớt Nhà Bà Cả trên cõi đời này sợ teo luôn. Nói rõ hơn năm 1986 họ muốn xử chúng tôi với mức án đại khái như vầy:
Doãn Quốc Sĩ: Tử hình hay chung thân.
Hoàng Hải Thủy: Chung thân – 20 niên.
Dương Hùng Cường: 18 niên.
Lý Thụy Ý: 15 niên.
Nguyễn Thị Nhạn: 12 niên.
Hiếu Chân Nguyễn Hoạt: 10 niên.
Khuất Duy Trác: 8 niên.
Trần Ngọc Tự: 8 niên.
Xin quý vị thương cho mà đừng nghĩ là tôi tự đề cao anh em chúng tôi. Việt Cộng sài Luật Rừng, nhưng Luật Rừng cũng vẫn là Luật. Trong cái gọi là Bộ Luật Hình Sự CHXHCNVN có điều quy định tội danh và án phạt bọn “gián điệp” như sau.
Tôi đọc điều luật này trong Ô Ten 10 Sao Chí Hòa năm 1986 và tôi thuộc nằm lòng từ ngày đó:
– Bị coi là gián điệp những kẻ cung cấp tin tức, tài liệu an ninh, quốc phòng cho những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài.
Cũng bị coi là gián điệp những người tuy không cung cấp tin tức cho Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài nhưng bằng cách nào đó vô tình tiết lộ những tin tức an ninh, quốc phòng để những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài có thể khai thác.
Án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.
– Những tên gián điệp đầu sỏ bị tử hình.
– Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.
Theo điều luật về xử trị gián điệp trên đây thì nếu năm 1986 Công An Thành Hồ đưa bọn “gián điệp 8 tên” chúng tôi ra tòa xử thì chuyện xẩy ra đã có thể là:
– Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: tử hình.
– Tay sai nguy hiểm Hoàng Hải Thủy: chung thân hoặc có thể cho đi cùng chuyến xe bít bùng với Đầu Sỏ Doãn Quốc Sĩ lên bãi bắn Thủ Đức trong buổi sáng mù sương lạnh. Hai gián điệp cùng đi một chuyến xe không có bông cho đỡ tốn xăng dầu và công sức của anh em công an chuyên giết nhân dân.
Năm 1986, Công An Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, cho quảng cáo tùm lum trên hai tờ Tuổi Trẻ-Công An: “… Ngày.. . tháng… năm… bọn gián điệp sẽ phải ra trước Tòa Án Nhân Dân trả lời về những tội trạng của chúng…” Nhưng rồi họ tẽn tò, không kèn, không trống, không lời xin khán giả cảm phiền vì phiên tòa bị bãi bỏ, họ im luôn. Phiên tòa năm 1986 hoãn dài ngày.
Năm anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, và tôi, được Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà rước vào Số 4 Phan Đăng Lưu cùng trong đêm Mùng 2 tháng 5 năm 1984. Chịu thẩm vấn ở Phan Đăng Lưu một năm, tháng 5 năm 1985 xe bông đưa chúng tôi sang Thánh thất Chí Hòa. Anh em chúng tôi được đoàn tụ trong lòng xe tù khoảng 20 phút đồng hồ. Trên xe có thêm hai em Trợ tá “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút Nữ”: Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn.
Tù xa từ Bà Chiểu sang Đa Kao, qua rạp xi-nê Casino Đa Kao, vào đường Hiền Vương một chiều, chạy qua bên hông Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Thánh Tây trước 1956 – nay đã thành công viên mang tên một anh cà chớn mà tất cả nhân dân Sàigòn đều không ai từng biết: Công viên Lê văn Tám. Chàng Công Tử Hà Đông ghé mắt nhìn qua song sắt tù xa bỗng thấy trái tim chàng đi một đường cảm khái. Đoạn đường Mayer – Hiền Vương từ Đa Kao đến ngã tư Hai Bà Trưng là đoạn đường những năm từ 1954 đến 1958 anh qua lại mỗi ngày vài lần. Anh gặp tình yêu và từng sống tình ái, yêu đương với nàng Alice trong căn nhà 78/5 của con đường Mayer-Hiền Vương này mấy mùa thu vàng. Ngày ấy môi anh còn thắm, tóc anh còn đen, có bao giờ anh ngờ rằng sẽ có ngày anh te tua trên tù xa đi qua con đường thơ mộng này.
Tháng 5 năm 1986, từ Nhà Tù Chí Hòa bọn cai tù đưa Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn trở về nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu. Bọn Công An Thành Hồ chia bọn “gián điệp” ra làm hai trước khi đưa ra tòa. Lần đầu trong đời gặp cảnh tay còng, áo dấu ngơ ngáo ra tòa, choáng váng nhận ra vợ con trong đám thân nhân láo nháo chạy theo, tôi hồi hộp nghe tin con tôi báo: “Hoãn xử…” Trên tiền sảnh chính của Pháp Đình Sàigòn, nơi 50, 70 hay 80, 90 năm trước, các quan Đại Pháp xây lên và cho đặt hai bức tượng Bà Đầm Pháp Luật Phú Lang Sa to tổ bố đứng đưa … bàn cân công lý vào mặt con dân A-na-mít – Anh Mít nào cao lớn lắm cũng chỉ đứng vừa đến đầu gối Hai Bà chớ chưa với được đến bàn cân – Tòa Cộng Thành Hồ có đặt tấm bảng đen ghi những hàng chữ phấn đại khái như:
– Vụ Gián điệp Doãn Quốc Sĩ,
Phòng A …
Dưới hàng chữ có viết thêm hai chữ “Đình Xử”, tức là hôm nay tòa không xử Vụ Gián Điệp. Tòa đình xử, nhưng bọn tòa án không báo cho bọn cai tù Chí Hòa biết. Cai tù Chí Hòa, được lệnh cả tuần trước, cứ đúng lệnh áp giải bọn tội nhân ra tòa. Xe chở tù đổ hàng xuống Tòa xong là đi ngay, chiều mới đến đón tù trở về. Cai tù áp giải phải gọi điện về Chí Hòa, phải chờ xe đến chở hàng về Chí Hòa. Nhờ vậy, bọn “gián điệp 1986″ được ngồi ở tòa án từ sáng cho tới trưa thơ thới hân hoan.
Thơ thới, hân hoan vì mấy anh được ngồi trò chuyện thân mật với vợ con. Vợ con mấy ảnh hối lộ cai tù nên được cai tù cho phép vào phòng cách ly ngồi với chồng, với bố. Hai năm trời đằng đẵng mới được nhìn mặt nhau, ngồi gần nhau, cầm tay nhau… Thương cảm, bùi ngùi đứt đuôi con nòng nọc. Tình cảnh ấy khỏi cần diễn tả. Alice nói với tôi:
– Đừng sợ. Anh em mình bên ngoài mạnh lắm. Can thiệp dữ dội. Nó phải hoãn xử, tối qua đài VOA đọc một bài dài lắm, kêu gọi Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc bảo vệ văn nghệ sĩ Việt Nam… Có người nghe thâu băng được cả bài… Lại có tin triệu tập đến hai ngàn ký giả, văn nghệ sĩ khắp thế giới về họp ở New York để lên tiếng về vụ mình…
Tôi hỏi ai triệu tập, Alice nói:
– Em không biết rõ. Nghe nói người đọc bài tố cáo đàn áp văn nghệ sĩ trên đài VOA là Nguyễn Ngọc Linh…
Nguyễn Ngọc Linh hay Nguyễn Ngọc Bích…? Ngọc Linh, Ngọc Bích đều là Ngọc cả. Hôm nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, nhân danh tám anh em chúng tôi tù tội ở Thành Hồ – hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường đã chết thảm trong tù – tôi trân trọng nói lên lời cám ơn của chúng tôi đến anh em bầu bạn khắp năm châu.
Năm 1986, chúng tôi bị kết tội “gián điệp”, án tù tối thiểu 12 niên đến tối đa tử hình. Nhờ anh em bầu bạn khắp năm châu la ó, phản đối dữ dội nên dù muốn, dù đã treo bảng quảng cáo, đã cho bọn văn nô reo hò, nhẩy múa, Công An thành Hồ cũng không xử được chúng tôi. Trở về Chí Hòa nằm ngâm thơ Ngồi Rù thêm hơn một niên nữa đến đầu năm 1988, chúng tôi mới lại “được” trở ra tòa án thành phố HCM chuyên xử tội nhân dân lần thứ hai.
Lần này án “gián điệp” ác ôn đã được bỏ, thay vào đó là tội “Tuyên truyền phản cách mạng”. Tội này có thể gọi là “tội nhẹ nhất trong các tội phản động dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.” So với tội gián điệp, mức án xử bọn phạm tội tuyên truyền phản cách mạng quá đỗi nhẹ hều: Tù từ 2 niên đến 12 niên tối đa. Không có bị tử hình, tử ảnh, chung thân, chung sơ gì ráo trọi. Đang từ tối thiểu 12 đổi sang tối đa 12 niên, chàng Công Tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu, chàng còn cay cú hay hung hăng con bọ xít gì nữa. Chàng đã bóc được bốn cuốn lịch rồi.
Anh em tù gọi như thế là “đã có vốn.” Tất nhiên khi ra tòa chàng sẽ không nói năng gì để bọn Chánh án tay sai phạng chàng 10 hay 12 mùa Tết Trung Thu Em Không Rước Đèn Đi Chơi – Nàng Alice trẻ lâu thật nhưng nàng cũng không có thể như nàng Hạ Cơ Đông Châu Liệt Quốc trẻ mãi không già – Chàng đã trả cái nợ Hai Mươi Niên, từ 1954 đến 1975 chàng sống và để người khác chết, để vợ con người khác khóc như vậy cũng tạm gọi là đủ, chàng phải lo thân để trở về Ngã Ba Ông Tạ thôi.
Nhưng khi nghe “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh khuyên nên “mềm dẻo đừng nói gì gay cấn” để tòa xử cho xong đi, tôi cũng nói:
– Nếu người ta không chửi bới chúng tôi thì chúng tôi sẽ không nói gì đâu. Còn nếu người ta mạt sát chúng tôi thì chúng tôi không thể nói trước được phản ứng của chúng tôi sẽ ra sao.
Ông Hy đứng dậy, rời khỏi ghế, tiến đến chiếc bàn kê cao dùng làm bục để đọc diễn văn. Hơi mất bình tĩnh, ông vướng cái áo vào góc bàn. Loay hoay một lát, ông mới ổn định ở vị trí. Ông rút từ túi áo trên cặp kính cận và bài diễn văn viết sẵn. Nói diễn văn, chứ thực ra đó là một trang giấy ghi vội ít dòng cảm tưởng của ông nhân ngày Thương binh liệt sĩ. Ông im lặng nhìn quanh để lấy bình tĩnh. Cái hội trường nhỏ của Ủy ban nhân dân phường chỉ đủ chứa vài chục người. Đa phần tham dự viên là các nhân viên làm việc tại phường, các công an khu vực, một số thương binh và vợ con các liệt sĩ. Ông Hy vừa nhìn giấy … lại vừa ứng khẩu. Ông nói, giọng cảm động: “Thưa các đồng chí, bầy tôi … tôi rất vui mừng đến …. đến dự lễ hôm nay. Nhân dân ta luôn luôn biết ơn những người … đã hy sinh. Thương binh, liệt sĩ có công to đối … đối với Tổ quốc. Họ hy sinh thân mạng, gia đình. Tổ quốc ta vẻ vang hôm nay … là … là nhờ họ. Đảng và
nhân dân rất quan tâm chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ. Nhưng đất nước ta còn khó khăn, Đảng còn trăm công ngàn việc phải giải quyết. Các đồng chí thương binh, các gia đình liệt sĩ phải phấn đấu hơn nữa, khắc phục khó khăn, tin tưởng ở chính sách của Đảng và Nhà nước … Bầy tôi … à … Chúng tôi tổ hưu trí phường, cố vấn Đảng ủy Phường chúc các đồng chí sức khỏe, thắng lợi. Dạ … xin hết …” Hội trường vỗ tay. Ông Hy bước xuống dãy ghế đầu, ngồi xuống, lấy khăn ra chậm mồ hôi. Xướng ngôn viên tiếp tục giới thiệu một đại biểu khác lên bục phát biểu. Ông vừa lắng tai nghe, vừa ngẩm nghĩ đến số tiền mà Tỉnh ủy cho nhân ngày lễ Thương binh Liệt sĩ. Ba mươi ngàn. Không đủ. Ông nhìn lá cờ đỏ sao vàng lớn giăng ngang hội trường, tượng bán than bác Hồ bằng thạch cao đặt trên bàn. Ở nhà, cái “bùng binh” đập ra cũng chỉ có hai chục ngàn. Ông vỗ tay khi đại biểu phụ nữ kết thúc bài phát biểu. Chết cha, bốn giờ rồi. Ông Hy giật mình. Ông dáo dác nhìn quanh, rồi e dè đứng dậy.
Ông đến bên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Phường nói nhỏ:
– Cho tui lui trước. Bốn giờ mười lăm là phải mở rạp quét dọn để chiếu xuất chiều.
– Trời, gần xong rồi, đồng chí rán ở lại chút nữa.
– Không được. Phải sắp xếp bàn ghế, quét dọn. Năm giờ chiếu xuất chiều rồi.
– Thế ai nhận bằng với lá cờ thi đua của Tỉnh?
– Ờ … thì nhờ tạm đồng chí nào đó cũng được. Tôi giữ chìa khóa rạp, phải đến sớm.
– Đồng chí sợ bọn con buôn đó à?
– Không phải, mình không làm họ thuê người khác.
Ông nhìn Chủ tịch Ủy ban với đôi mắt van lơn tha thiết.
Cuối cùng, Chủ tịch Ủy ban nói:
– Thôi được, tùy anh. Còn số tiền …
– À … đồng chí … à anh gởi nơi thằng Khiêm, con tôi.
Ông Hy vội vàng bước ra khỏi hội trường, lấy xe đạp đạp vội đi. Lúng túng làm sao đó, ông để quai dép cao su móc vào “pê đan” khiến ông suýt té, dây “sên” trật ra ngoài. Ông bỏ sên vào, đạp đi, lại trật nữa. Thấy không xong, ông dắt bộ, bụng hồi hộp, sợ trễ giờ không ai mở cửa cho cô bán vé. Vừa đi vừa chạy, rút cuộc ông cũng đến được rạp. Ông vứt đại chiếc xe đạp nằm ngã xuống vệ đường, hấp tấp lấy xâu chìa khóa mở cửa. Cô Bê-con ông chủ video-đang đứng đợi.
– Sao trễ vậy chú? Bê hỏi.
Ông Hy thở hổn hển:
– Phải dự lễ Thương binh Liệt sĩ ở Phường.
Cô gái không nói gì, đứng yên nhìn. Ông Hy loay hoay mở khóa, loay hoay quét dọn, sắp sửa lại ghế ngồi cho khán giả. Ông làm việc cần cù, cẩn thận. Như người lão bộc coi sóc khu vườn cho ông chủ nhỏ. Xong việc, ông ra ngồi trước cổng, xé vé. Khán giả vào rạp hết, ông ngồi canh cửa. Một
buổi tối ba xuất. Công việc đơn giản, không có gì nhọc nhằn, và hoàn toàn thích hợp với người có tuổi như ông Hy.
Có điều, lương hướng chẳng là bao. Độ này rạp vidéo tư nhân mọc lên khắp nơi. Khán giả phân tán, nên số người xem thưa thớt. Vả lại, phim chưởng Hồng Kông xem mãi cũng nhàm. Hàng tháng, người chủ trả cho ông ba chục ngàn. Chẳng nghĩa lý gì, nhưng việc sao, tiền vậy, ông Hy đâu có thể đòi hơn được. Có một việc, đã là may lắm rồi. Khi xuất hai vô rạp, chị bán hàng thịt ở phía trước bắt đầu dọn dẹp ra về. Chị kêu:
– Chú lấy mấy miếng xương này về hầm cháo ăn, chú.
Ông Hy cám ơn rối rít. Ông lấy mấy bịch ni-lông để cho chị bán hàng trút vào đống xương thừa đã róc hết thịt. Ông buộc cẩn thận, lòng vui mừng vì có chút thịt cho bữa ăn. Thỉnh thoảng, mấy chị bán hàng tốt bụng vẫn giúp ông như thế. Ông nhận, không hề thắc mắc, tủi hổ. Vì thực sự, ông quá cần.
Tan xuất cuối, đã mười giờ rưỡi đêm. Ông khóa cửa cẩn thận, rồi dắt chiếc xe đạp “cà tàng” đi bộ về. Bịch xương khá nặng, gác lên ghi đông xe, thỉnh thoảng rớt xuống đường nhựa, ông phải mất công lượm lên mấy lần. Đến nhà, Khiêm vẫn chưa về. Chắc có mối, ông thầm nghĩ. Đẩy cánh cửa khép hờ, ông luồn vào trong, nhẹ nhàng bật hộp quẹt châm ngọn đèn dầu nhỏ ở góc nhà. Có ngọn điện, nhưng ông không bật vì sợ tốn, hơn nữa, ông không muốn quấy phá giấc ngủ của hai đứa cháu. Ông rón rén đến giường hai đứa cháu, sờ đầu và bụng đứa bé lớn. Hâm hấp nóng. Cả hai đứa đều ngủ ngon lành. Mẹ chúng nằm vắt vẻo ở một tấm ván kê sát tường, chân cẳng thò ra ngoài chiếc mùng đã rách toe tua. Muỗi vo ve như hát. May mà có một cái mùng lành lặn cho hai đứa nhỏ, không thì, chắc muỗi ăn thịt chúng luôn.
Ông Hy lấy bịch xương bò ra, rửa ráy sạch sẽ, nhóm lửa bắc soong hầm. Ông nhìn kỹ thấy cũng còn khá nhiều thịt bám vào xương. Ông lẩm bẩm:
– Cũng có vài chén cháo cúng mẹ nó.
Ông loay hoay xếp đặt lại ảnh của vợ ông trên cái bàn thờ nhỏ, thì nghe có tiếng Khiêm về. Ông nhìn ra, thấy Khiêm đang dựng xe đạp. Ông hỏi khẽ:
– Thế nào, có mối hả Khiêm? Kiếm được khá không?
Khiêm gỡ cái mũ vải, vày vò lại chùi mồ hôi trên mặt, thở dài:
– Có mối mà rồi cũng như không. Đã thế, “lốp” sau còn lủng nữa.
Giọng ông Hy băn khoăn:
– Có chuyện gì vậy con?
Khiêm nhổ nước bọt:
– Tổ mẹ, chở một con điếm đi lên tận Linh Mụ. Hắn nói đứng đợi đó, hắn vô nhà người quen rồi trở ra. Tui đợi hoài mãi không thấy. Té ra hắn phỉnh tui, hắn trốn đâu mất. Mất công đợi cả mấy tiếng đồng hồ. Đạp về, đói bụng, lại bị đinh đâm lủng ruột. Cái ngày quỷ quái gì đâu, xui tận mạng.
Chú mới về à? Lễ lạc họ cho được mấy?
– Tỉnh cho ba chục ngàn. Mà con chở chi cái bọn gái đứng đường đó.
– Ai mà biết. Chừ mới biết. Nói thế, chứ biết cũng chở. Ai có tiền là chở.
Ông Hy nghe mùi rượu toát ra từ Khiêm.
– Say chưa?
– Chưa. Tiền đâu uống cho nhiều mà say. Uống một cốc về ngủ thôi. Hôm nay có ai cho chi không, chú?
– Có, xương bò.
– Tui đói bụng quá.
– Đợi một hồi nữa. Tau nấu cháo, múc ít chén cúng mạ mi đã.
– Sao chú không nấu miếng cơm?
– Cơm thì ăn với nước mắm hoặc muối ớt thôi. Mấy cái xương bò chỉ có hầm, thịt dính vào xương không róc ra được.
Khiêm nhìn ông Hy:
– Có ba chục ngàn tiền liệt sĩ của mạ tui, sao chú không mua một miếng gì mà cúng?
Ông Hy nhìn đứa con gái lớn của Khiêm:
– Thế vụ mỗ túi mật con bé lớn thì sao?
Khiêm gật đầu, im lặng. Một lát, anh lại hỏi:
– Mà ba chục ngàn mô có đủ?
– Tau có bỏ bùng binh hai chục nữa.
– Phải mất một trăm hai, cả tiền phòng, tiền bác sĩ, tiền thuốc. Theo tui, kệ xác nó.
Ông Hy nhìn Khiêm khó chịu:
– Con mi mà cứ như con ai không bằng.
– Thì tui mô có muốn đẻ.
Ông Hy tức tối:
– Mi không muốn đẻ thì ai muốn?
Khiêm liếc nhìn chị vợ đang ngáy:
– Chú với cái con chết bằm nớ chứ ai.
Ông Hy đun củi vào soong cháo:
– Say rồi cứ nói tầm bậy tầm bạ.
– Tui đâu có nói sai. Chú thì nói tui lấy vợ đi. Chú xin cho vô làm trong Thương nghiệp. Còn con vợ tui thì nói cứ đẻ để hắn có con hắn bồng, cực mấy hắn cũng nuôi.
Ông Hy dịu giọng:
– Cứ nói hoài cái chuyện đó. Thì tau cũng chạy đôn chạy đáo gặp đứa này đứa nọ để xin. Bọn chúng cứ hứa mãi. Bọn chúng nói mi Trung sĩ ngụy, nhiều khi cũng hơi khó.
Khiêm gằn giọng:
– Ngụy với không ngụy. Bày đặt ra cả! Tiền với không tiền thì có.
– Mi nói oan tụi nó tội. Bọn nó đứa nào cũng từng nằm hầm nằm hố với tao. Hạt muối cắn hai …
Khiêm gạt:
– Thôi được rồi! Chú có xin chưa chắc tui đã đi làm. Chú coi, cháo chín chưa?
Ông Hy lẳng lặng chăm lo nồi cháo. Khiêm rửa ráy xong, vào lấy chân hích hích vào người chị vợ:
– Dậy ăn cháo. Ngủ gì mà như chết.
Chị vợ ú ớ nhỏm người dậy, rồi lại nằm xuống ngủ tiếp.
Khiêm lót giấy ngồi giữa nền nhà, nhìn ông Hy múc cháo. Ông lấy đũa rĩa chút ít thịt còn bám vào xương, dồn vào hai tô, sắp lên bàn thờ cúng bà Mẹo, vợ ông. Ông thắp nhang, khấn khứa. Mùi thịt phảng phất. Khiêm chảy nước bọt. Anh rút trong túi quần ra hai mẩu sắn, múc cháo chấm ăn. Anh lấy miếng sắn vớt lên những rẽo thịt hiếm hoi lẩn quất đâu đó trong soong cháo. Anh chíp miệng, cố thưởng thức cho hết hương vị của thịt. Anh nhìn ông Hy:
– Bữa nay, bụng tui toàn sắn với muối ớt. Tưởng trúng mối, mua ít con cá nục, té ra bị lừa.
Ông Hy bưng tô cháo, nhìn ảnh vợ ông, nhìn Khiêm, rồi nhìn hai đứa cháu, và cảm thấy lòng hơi ấm lại. Nghèo đói, rách rưới, nhưng sum họp. Chả bù với những ngày hẩm hiu, một mình một bóng ngoài miền Bắc, lòng cứ ngong ngóng vô Nam. Khiêm chợt nhìn ông, thở dài:
– Con vợ tui, hắn lại có mang nữa.
Ông Hy giật nẩy mình. Tô cháo suýt rớt xuống đất. Nhưng ông chợt trấn tĩnh. Sợ Khiêm để ý cử chỉ của mình, ông nói lãng:
– Mạ mi chết e cũng đã mười sáu, mười bảy năm rồi hé?
– Tui cũng không nhớ rõ. Tui đi lính, ở nhà xã nó gọi lên, gọi xuống rồi bắt đi mất tăm. Chết năm nào, ngày nào, tui chẳng biết.
– Bởi vậy tao lấy ngày Thương binh Liệt sĩ làm ngày giỗ.
Ông im lặng một lát, rồi chợt xuống giọng ngậm ngùi:
– Có ba chục ngàn tiền liệt sĩ lại chẳng có gì cúng cho mụ.
Khiêm định nói gì, nhưng im lặng. Anh nhìn hai đứa con, nhìn cái bụng vợ, thở dài. Ông Hy nói:
– Tao nghĩ hết cách rồi, chẳng biết kiếm đâu cho đủ tiền.
Khiêm đứng dậy, vỗ tay vào trán:
– Khổ ơi là khổ. Con đau, vợ đẻ, xe đạp thì hư.
Không để ý đến lời than vản của Khiêm, ông Hy nghĩ đến việc phải xoay chạy gấp số tiền để mỗ cho đứa cháu nội. Vì sau đó ông còn phải lo thêm một việc nữa: sự ra đời của đứa cháu thứ ba. Mọi việc, ông luôn luôn cảm thấy là của ông. Từ việc chiếc xe đạp thằng Khiêm hư đến dâu đẻ, cháu đau, nhà xiêu mái dột … Rồi việc Đảng, việc phường, việc giữ gìn phẩm chất của một đảng viên … Ông âm thầm lo lắng, xoay xở, thu vén. Bằng sự cần cù, chịu đựng. Không than van, trách cứ.
Ông bưng hai tô cháo trên bàn thờ xuống, đưa cho Khiêm:
– Mi ăn một nửa, để dành cho vợ mi một nửa. Còn một tô để cho hai đứa nhỏ.
Khiêm không chịu:
– Chú ăn một tô đi. Bốn bà con tui một tô cũng được.
– Không, tau có liên hoan chút chút ở phường rồi. Ông nói láo.
Khiêm yên tâm ăn phần cháo của mình và cất phần còn lại cho vợ con. Anh chùi miệng, chui vô mùng, hối ông Hy tắt đèn.
Ông Hy ngồi nghĩ xa nghĩ gần một lát rồi trải chiếu xuống nền, quấn tấm mùng rách quanh người, cố ngủ. Nghe tiếng cọt kẹt, tiếng thở hổn hển, tiếng hun hít ở giường bên của vợ chồng thằng Khiêm, ông lẩm bẩm:
– Tổ cha cái thằng, miệng thì cứ nói tui không ham cái thứ đó, mà đêm nào có chút rượu vào là hùng hà hùng hục, không ai ngủ được.
*
Ông Hy trằn trọc cả đêm, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ xa nghĩ gần mãi đến gần sáng mới chợp mắt được. Nhưng Khiêm kêu ông sớm:
– Tui lấy bánh xe của chú bỏ vô xe tui. Tui tranh thủ “thồ” sớm kiếm chút đỉnh. Chú liệu đi vá xe giùm tui.
Thế là ông đành thức dậy. Ông rút điếu Đà lạt hút. Con vợ Khiêm cũng đã dậy, ngồi trên tấm phản ngáp vắn ngáp dài. Nút áo đứt để lộ cái bụng trắng, tròn trịa. Ông Hy liếc nhìn. Đúng rồi, cô con dâu lại có mang. Thực là đã nghèo lại gặp eo. Nuôi hai đứa con lớn gần đứt hơi, chưa kịp lại sức, thì đứa lớn đau, túi mật bị sạn. Chưa xoay đủ tiền để mỗ, giờ lại phải lo chuyện sinh đẻ cho con dâu. Rốt cuộc, chỉ một mình ông. Vì ông muốn có một gia đình, một hơi ấm. Ông muốn bù đắp lại những ngày lăn xả ngoài chiến trường, những ngày cô độc khi đi tập kết ở miền Bắc.
Ông hỏi con dâu:
– Con sinh năm nay hay sang năm?
– Chắc năm nay. Mà anh Khiêm không cho sinh, anh nói tui đi phá thai, chẳng có tiền đâu để sinh, để nuôi con.
Giọng ông cương quyết:
– Bọn bây không nuôi, tao nuôi. Đừng nói bậy.
Cô con dâu bĩu môi:
– Nuôi cực, nuôi khổ như Chú tui hông ham. Tui phải phá thôi.
– Tổn đức con à. Giòng thằng Khiêm hiếm con.
– Cộng sản như Chú mà cũng mê tín à? Tui nhất định phá …
Ngẫm nghĩ một lát, cô dâu thở dài:
– … Mà phá cũng phải có tiền!
Ông Hy an ủi:
– Chịu khó đi con. Con cái là lộc …
Cô dâu cười:
– Chú cùng Đảng ủy phường đi vận động sinh đẻ có kế hoạch, mà sao lại hối tui đẻ cho nhiều … Nói thế, chứ tùy chú. Chú có đảng, có đồng chí, Chú rán nuôi cháu. Tui chỉ biết ngủ với đẻ.
Ông Hy im lặng. Cái kiểu nói của hai vợ chồng Khiêm ông nghe đã quen tai rồi. Chúng nó vô trách nhiệm. Chúng nó có quyền vô trách nhiệm. Như ông đã từng vô trách nhiệm. Bỏ nhà ra đi kháng chiến năm 16, 17 tuổi, cưới vợ
được có vài tháng, lại ra đi tập kết. Ở miền Bắc được vài năm lại “ra đi” chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Vợ ở nhà bị kêu lên, gọi xuống, rốt cuộc bị chết ở trong tù. Con đẻ ra lại đi lính Ngụy. Ông nghĩ mình không làm gì sai trái, nhưng vẫn cảm thấy có lỗi. Được việc cho Đảng, nhưng mất việc nhà. Bởi thế, đến cái tuổi sáu mươi, ông đưa cái vai gầy mòn, nhỏ bé của mình ra gánh.
Cô con dâu vươn người đứng dậy, ngáp rồi nói:
– Chú nghe chi chưa?
– Chưa.
– Phường sẽ dời trụ sở đi chỗ khác.
Ông Hy lại giựt mình.
– Sao tao lại chẳng nghe nói gì cả vậy?
– Hồi hôm ông chủ tịch ủy ban vào đây đưa tiền liệt sĩ cho Chú, luôn tiện báo việc đó để Chú sửa soạn.
Ông Hy cắn môi. Lại thêm chuyện nữa. Lâu nay ở tạm yên trong phòng sau của Trụ sở Ủy ban, nay lại phải dời đi. Đi đâu? Trụ sở mới có thừa chỗ để xin một góc không? Bây giờ ông Hy mới thấy bối rối. Ông nhìn hai đứa cháu còn say sưa nằm ngủ và cảm thấy xốn xang. Áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc, ăn uống bữa đói bữa no. Hồi xưa, khi đi làm cách mạng, ông mơ ước biết bao nhiêu! Ông sẵn sàng hy sinh với viễn tượng con cháu ông sẽ sung sướng, hạnh phúc. Bây giờ, con đó, cháu đó, không hơn bao nhiêu so với thời ông còn nhỏ. Thành tích ông có thừa, nhưng thành tích không đẻ ra tiền. Vả lại, ông không có đầu óc công thần.
Ông muốn sống lương thiện, không dựa dẫm, không van nài, đòi hỏi. Ông chúa ghét đám người chuyên môn lấy thành tích ra để tranh giành địa vị, tiền bạc. Giờ này, ông đang cần tiền để lo cho đứa cháu thân yêu của ông lên bàn mỗ. Với gia đình thuộc diện “chính sách”, bệnh viện có chiếu cố, xét giảm cho ông một số tiền, nhưng không đáng kể. Đắn đo suy nghĩ, rốt cuộc, ông chỉ còn một con đường: nhờ đám bạn cũ giúp đỡ. Bà con thì chịu rồi. Từ ngày ông về, bà con đã giúp đỡ ông nhiều. Lẽ ra, “miền Bắc nhận hàng, miền Nam nhận họ”, bà con giúp ông cái áo, cái quần, thì ông dùng cái thế “cách mạng” của ông để chạy việc làm, xin tha thuế, hay giảm năm cải tạo … Nhưng ông chẳng giúp được ai. Điều đó làm ông vẫn còn áy náy.
Thôi, vuốt mặt một lần, tìm tới với bạn bè vậy, đám bạn vẫn thường khen ông liêm khiết, nhưng chê ông nhát gan, sợ tay nhúng chàm.
Ông Hy đưa cô con dâu hai đồng, bảo đi vá xe cho thằng Khiêm, ôm hôn hai đứa cháu, rồi lấy mũ ra đi. Đến tìm ai chừ? Thằng Thản, Phó chủ tịch ủy ban phường, thằng Minh đồn trưởng đồn công an, thằng Hinh trưởng phòng
Hình sự, thằng Vương, giám đốc Thương nghiệp quận, hay thằng Nhuận, chủ nhiệm hợp tác xã Mây-Tre xuất khẩu?
Vừa đi, miệng rít những hơi thuốc dài, ông lần lượt vận dụng ký ức, kiểm điểm lại những khuôn mặt bạn bè, những người, lúc này lúc khác, vào sinh ra tử cùng ông trên chiến trường hay trong công tác. Có thằng đã xanh cỏ, có thằng tàn phế, có thằng phản bội, có thằng giàu sang, nhà cao cửa lớn …
Cuộc đời như một giấc mơ!
Ông Hy bước đi, đắm đuối trong hồi ức, kỷ niệm lớn, kỷ niệm nhỏ ào ào tràn về như nước lũ. Lục soát lại, bỗng dưng ông nhận ra, ông quá tốt, quá tình nghĩa với bạn bè, với đồng chí. Biết bao lần, ông trụ chốt để thằng Thản, thằng Minh rút lui khi bị địch truy kích. Thằng Nhuận thì ông cõng chạy xuống hầm. Thằng Hinh thì ông bênh vực hết mình trong cuộc họp đảng ủy để hắn khỏi bị hạ tầng. Thằng Vương thì đúng là hạt muối cắn hai, khi ở chung hầm cũng như khi về cứ. Còn, còn nhiều nữa. Thế mà tụi nó tệ, tệ thật. Kể từ ngày ông xin nghỉ hưu vì bệnh, chẳng thằng nào ghé lại. Chúng nó chê ông nghèo mà không thông thời vụ. Chợt nhớ ra một điều, ông lẩm bẩm:
– À, thằng Vương còn có tình. Hắn lo cái vụ liệt sĩ cho mụ vợ. Hay mình ghé thằng Vương … À mà giờ này hắn đâu có nhà, về huyện thì xa quá. Hay đợi tối vậy. Tính tới, tính lui, ông Hy quyết định quay về nhà, đợi tối.
*
Dắt xe đạp ra khỏi rạp vidéo, ông Hy còn ngoái đầu lại dặn thằng Khiêm:
– Nhớ là luôn luôn ngồi ở cửa rạp. Đừng uống rượu. Lớ xớ là mất việc như chơi. Đây là việc tư nhân, chứ không phải việc nhà nước. Làm ăn ấm ớ, họ đuổi tau liền.
Vương làm việc ở huyện, nhưng lại có cái nhà ở thành phố. E cũng cả mấy năm nay, ông không ghé. Ông tự ái. Đáng lẽ ra hắn phải ghé thăm mình mới phải. Đời hắn đi lên, trong lúc đời mình đi xuống. Vả lại, cái chỗ thương
nghiệp của hắn bây giờ là ông nhường cho, mà cũng chẳng phải vậy. Hồi đó, mấy anh trên giao cho mình nắm cái thương nghiệp, mình sợ trách nhiệm mình đùn cho nó. Làm thương nghiệp trước đây vốn có tiếng mà không có miếng, rất dễ bị ở tù, lại bị bà con bạn bè hay lui tới quấy rầy. Ông muốn yên thân, xin làm y tế cho khỏe. Ai ngờ, thời thế đổi thay. Cái thằng thương nghiệp đâm ra ngon. Tự nhiên, ông nuốt nước bọt. Chẳng biết nhờ hắn giúp đỡ, hắn có khinh mình không.
Nhà ông Vương ở tận Tây Linh, gần sát bờ thành. Tay này cũng lanh, giải phóng xong chụp ngay cái nhà của một gia đình bỏ đi, nhờ phường hóa giá. Hồi chiến tranh, anh ta lù đù là thế, đến khi hòa bình, lại trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn và xoay xở rất giỏi. Chỉ có ông, vâng, chỉ có ông quá kém. Cũng không phải ông kém. Trước sau như một, chỉ vì ông tin, tin ở chủ nghĩa, ở đảng, ở mấy anh trên. Ông tin rằng đảng đã đánh thắng được giặc thì đảng cũng thực hiện được sự công bằng, bình đẳng trong xã hội. Nghĩ ngợi lang bang điều nọ, điều kia, ông Hy đến nhà ông Vương hồi nào không hay. Ông dụi mắt nhìn lại số nhà và cây nhãn lớn trước ngõ. Thì đúng là nhà Vương, bạn ông. Nhưng sao lạ thế này. Dựa vào chiếc xe đạp, ông đứng ngẩn người ra nhìn quanh. Nhà hai tầng kiểu hiện đại, tường cao vây quanh vườn, mái hiên rộng, cửa kính cửa cổng tân kỳ.
Chẳng khác gì ngôi nhà của một tay trưởng ty hay tư sản nào đó thời trước. Trong đầu óc ông, ông cho rằng tất nhiên là Vương phải khá hơn hồi trước, nhưng không thể nghĩ là Vương lại có thể giàu có như thế này. Hắn được vàng hay hắn trúng số? Ông tự hỏi.
Tiếng chó chợt sủa ầm lên khiến ông giật mình. Một con chó to cao dềnh dàng ào ra. Ông luống cuống để rơi chiếc xe đạp xuống đất. Ông định thoát ra ngoài, thì một người đàn bà chạy ra la chó. Vừa nhìn thấy ông, người đàn
bà la lên:
– Trời, anh Hy. Anh vào hồi nào mà không lên tiếng gì cả vậy?
Ông Hy lắp bắp:
– Chị Vương đó à. Ai mà biết chị nuôi con chó Tây to vậy. Hồi trước muốn vào thì tôi cứ vào đại, chứ có lên tiếng gì đâu.
Người đàn bà cười:
– Xin lỗi, tôi quên. Anh Vương tôi mới mua con chó bẹc dê mấy tháng nay. Ối giời, chó Tây mắc lắm, mà anh Vương tôi lại thích chó mới phiền. Chỉ rưỡi lận, đó anh Hy.
Con chó ngừng sủa, chồm chồm lên cánh tay chị Vương.
– Trời, chỉ rưỡi!
Như được trớn, chị tiếp:
– Ăn nhằm gì anh. Con chó của ông Nghị, thương nghiệp Tỉnh đến hơn hai chỉ cà. Anh Vương tui mua thế là rẻ đấy. Chả là, mình có giúp họ đôi ba việc lăng nhăng gì đó, họ vừa bán vừa biếu. À mà mời anh vô nhà. Có anh tôi trong … À, mãi nói bậy bạ quên hỏi chị và mấy cháu độ này thế nào, làm ăn khấm khá không?
– Dạ cũng thường, chị. Mà chị quên rồi … Nhà tôi mất từ lâu.
Chị Vương xuề xòa:
– Ấy chết, xin lỗi anh, già rồi lẩn thẩn, quên trước quên sau, chị nhà được cái liệt sĩ mà … Anh Vương ơi, có khách quý đấy nhé. Nhớ giữ anh ấy lại lai rai chơi. Anh Vương ơi … Anh Hy, anh đi lối này, có cái thảm chùi chân phía trước. Cái cửa lớn kia ít khi mở lắm, chỉ khi nào tiếp mấy anh trên tỉnh hay trung ương về mới mở. Mình như trong nhà, anh Hy há. Trông anh độ này ốm dữ hén!
Ông Hy im lặng nghe chị Vương nói. Chị nói giọng Bắc, pha chút Huế, chút Sài Gòn trông ngồ ngộ. Bộ quần áo lụa trơn, khá mỏng, đồ lót bên trong nổi bật lên khiến ông Hy không dám nhìn. Ông theo lời chỉ dẫn, bước vào trong
nhà. Nền nhà láng bóng, vách mới tinh tươm, tranh ảnh dán đầy. Tây có, Tàu có. Giữa phòng khách, có bộ xa lông khảm xa cừ, tủ búp phê với đủ thứ rượu. Tượng bán thân Hồ Chí Minh bằng thạch cao kê trên một chiếc ghế riêng bằng đá. Ba bốn tấm huân chương kháng chiến lồng kính, cái treo trên tường, cái dựng trên tủ. Tự dưng ông Hy cảm thấy lạc lõng như đi vào một xứ lạ. Người bạn chiến đấu xưa như xa hẳn tận nơi nào. Ông đứng lặng giữa gian phòng, người chợt lạnh ngắt.
Giọng nói quen thuộc của ông Vương kéo ông ra khỏi trạng thái xúc động kỳ quặc đó:
– Hy đâu, ông lặn nơi nào mà dữ vậy ông?
Ông Vương xuất hiện giữa phòng khách, tươm tất trong bộ pi-ja-ma thẳng nếp, mặt mày hồng hào, tươi tắn:
– Làm gì mà đứng sững vậy. Vào đây, ông bạn. Trời, lâu quá không gặp nhau. Ông tệ thì thôi. Rảnh rỗi chẳng thèm ghé. Tôi thì ông biết đó, chẳng có chút thì giờ. Hồi đánh giặc nguy hiểm là thế, gian truân là thế mà chẳng
thiếu thì giờ hàn huyên. Giờ hòa bình lập lại, công tác lu bu, hết họp hành lại đi công tác. Riết, vợ con cũng đâm chán. Nói thật với ông, nhiều khi không phải nói dại chứ, tôi thấy hồi đánh giặc thế mà thoải mái hơn nhiều, tình nghĩa hơn nhiều.
Ông Vương vừa nói vừa cười hể hả. Ông vít vai ông Hy kéo đi vào phòng trong:
– Vào đây, vào đây, đêm nay ta nhậu một bữa cho đã. À, mà này, thằng con ông độ này ra sao? Có việc làm chưa? Nhà cửa thế nào?
Ông Hy buồn rầu lắc đầu:
– Tôi không có được may mắn như ông. Không nhà, không cửa, không việc.
Ông Vương ôm hai vai ông Hy xoay lại, nhìn thẳng vào mặt ông Hy:
– Ông thì khi nào cũng nói giọng tiêu cực. Ông không có vì ông không thích thôi. Ông trong sạch, liêm khiết.
Ông Hy gỡ tay ông Vương ra, cười:
– Thôi, đừng móc họng tôi nữa. Tôi có hề nói tôi liêm khiết, trong sạch gì đâu. Tánh tôi, có gì nói nấy. Ông Vương cười theo:
– Tôi cũng thế, nghĩ sao nói vậy. Ôi, mà thôi, sá gì ba cái lăng nhăng trẻ con đó. Vào đây, vào đây. Đời người không mấy chốc! Có mấy người bạn đang nhậu.
Hai người đi vào phòng ăn. Phòng ăn khá rộng. Một cái bàn có phủ khăn, đồ ăn, bia bọt ngổn ngang. Hai người đàn ông đang nhậu. Thấy ông Hy vào, họ đứng lên bắt tay.
Ông Vương giới thiệu:
– Đây là anh Hy, người bạn thân nhất của tôi. Còn đây, anh Hà, hiện đang hợp đồng kinh doanh với Thương nghiệp Huyện, chú Toán, trưởng ban Tài vụ. Ngồi, ngồi xuống đi ông Hy. Cũng người quen biết cả.
Ông Vương mở lon Heineken, rót vào ly cho ông Hy và đề nghị:
– Nào, ta cụng ly một cái cho khí thế.
Ông Hy nâng ly lên, uống cầm chừng. Vừa uống, ông vừa quan sát những món ăn: sò huyết ăn với muối tiêu có vắt chanh, nồi trường kẹp rau sống chấm mắm nêm, lươn xào lăn, à, có cả lòng heo, món ông rất thích. Góc bàn bên kia có một đĩa gì là lạ, ông chưa hề thấy, chắc là gân. Không biết món này thế nào. Ông bỗng thèm ăn dễ sợ. Ông đói bụng. Vả lại, toàn món ngon vật lạ. Ông cũng có dự tiệc tùng, liên hoan nhiều, nhưng ông có cảm giác bàn ăn hôm nay trông đã quá.
Toán, còn trẻ, chắc cỡ hai mươi mấy, đứng dậy:
– Chú Hy uống chưa hết. Mời chú “vào ba ra bảy”. Chú vào sau, phải ba ly tiếp, gọi là “chào bàn”.
Ông Hy lắc đầu:
– Tôi không quen chú à.
Toán lắc đầu quầy quậy:
– Không được đâu, chú phải ba ly chào bàn. Nếu cần, cháu xin phép tiếp chú.
Người đàn ông tên Hà cũng tán đồng, nâng ly mời:
– Chú Toán nói phải đó. Nào, mời anh, ta cụng nhau làm quen.
Ông Hy năn nỉ:
– Xin lỗi mấy anh, tôi chịu, để cho tôi từ từ.
Ông rán núc hết ly bia. Hà ngồi gần bên, nói tiếp:
– Cứ uống đại đi anh ơi. Say đâu có chết ai. Có uống mới vui, uống mới thật.
Hà trông nhỏ tuổi hơn ông Hy và ông Vương. Anh mở gói thuốc “ba số năm” mời ông Hy hút. Ông hút thử thấy nhẹ hẫng, không đã bằng thuốc rê. Ông Vương gắp cho ông miếng nồi trường:
– Ăn đi, ông bạn, món đặc biệt đó, phải đặt trước mới có.
Ông Hy chấm miếng nồi trường kẹp rau sống ăn. Nhai thấy dòn dòn, đã miệng, nhưng không được ngon, có lẽ vì loại này trơn, chấm nước không thấm. Ông nhìn đĩa lòng. Gan có, tim có, cật có. Lòng ăn khoái khẩu, nhất là chấm nước mắm chanh tỏi. À có, chén nước mắm nằm khuất dưới đĩa rau sống.
Ông Vương vỗ vai ông Hy và nhìn hai người kia:
– Có thể nói anh Hy là bạn nối khố của tôi. Bọn tôi chơi thân nhau từ hồi còn giữ trâu dưới làng. Cùng đi kháng chiến, lại cùng ở đơn vị. Anh huyện ủy viên vừa chiến đấu vừa làm công tác y tế. Tính anh hay giúp đỡ bạn bè lắm. Anh giúp tôi nhiều phen. Hạt muối cắn hai. Đúng là hai đứa tôi hạt muối cắn hai.
Toán cười:
– Giờ thì lon bia chia hai.
Hà vỗ tay hoan hô. Ông Vương mở một lon bia, chia hai:
– Vô, ông Hy. Đời không mấy chốc ông giữ gìn làm chi cho lắm.
Ông Hy rán uống hết. Ông cảm thấy trong người bừng bừng. Ông gắp mấy miếng lươn ăn. Ông rùng mình. Ngon quá. Thấy hứng khởi, lợi dụng lúc mấy người kia trao đổi gì đó, ông gắp thêm mấy miếng nữa, kẹp xà lách, và nhanh vào miệng. Trông bộ mấy tay nhậu này cũng chẳng quan tâm gì đến việc ăn. Họ hút thuốc liên tục. Thuốc ba số năm để cả “tút” trên bàn. Ông lấy một điếu nữa, đốt hút. Không cảm thấy ngon. Nhưng dù sao cũng đắt tiền. Một điếu có cả sáu, bảy trăm đồng trong lúc một ngày ông hút thuốc rê chưa tới đồng bạc. Hút cả uổng, ông nghĩ. À, sao mình không cất vài điếu. Thế là, chốc chốc, ông lại giả vờ rút một điếu làm như hút, nhưng lại bỏ vào túi quần. Ba người đang bàn bạc chuyện làm ăn. Ông lắng nghe, nhưng không hiểu mô tê gì hết. Ông tự nhiên ăn và rót bia uống. Lúc này ông cảm thấy khoái mùi bia. Ông mở lon, rót từ từ vào ly, nhìn bọt bia ùn lên miệng, và những hạt lăn tăn liên tục từ dưới đáy ly trồi lên, trông thực vui mắt.
Hà chợt xoay sang ông Hy:
– Kìa, ăn đi anh. À, anh thử món này chưa. Toán, đẩy đĩa “ngầu pín” qua đây.
Toán đẩy sang. Hà gắp bỏ vào chén ông Hy:
– Anh biết món này là món gì không?
Ông Hy lắc đầu. Hà ghé tai ông Hy nói nhỏ:
– Là c. bò đó.
Ông Vương cười:
– Ông thử ít thôi, chứ nhiều vô thì phiền vì không có “bãi đáp”. Thứ này là đại bổ dương, ông biết không?
Toán thắc mắc:
– Sao lại không có “bãi đáp”, chú Vương?
– À, tôi cũng quên nói cho mấy ông rõ. Chị Hy chết trước giải phóng. Chị là liệt sĩ. Nhiều khi nghĩ thấy tội bà thật. Lấy chồng có mấy tháng, chồng lên chiến khu rồi đi tập kết biệt tăm. Ở nhà bị bắt lên bắt xuống … ờ mà thôi, xin lỗi anh Hy, nhắc chi mấy chuyện cũ, buồn chết. Thôi uống!
Ông Vương mở bia lốp bốp, rót vào bốn ly:
– Nào, “dô”.
Ông Hy cũng hăng hái nâng ly. Bây giờ, ông uống thấy hăng hái dễ dàng và cảm thấy sảng khoái. Ực ực, ực ực, cuống cổ ông trồi lên trụt xuống đưa những hớp bia mát lạnh, kỳ thú đi vào cơ thể. Đặt ly xuống, ông cầm đũa ngắm nghía các món ăn. Thêm vài miếng ngầu pín nữa đi. Lạ miệng, nghe cũng ngon. Rút thêm một điếu ba số năm nữa. Rít vào một hơi, thấy lâng lâng. Ông đưa tay bóp bóp túi quần, đếm thử. Xem chừng cũng được bảy, tám điếu rồi. Về đổi thuốc rê hút. Hay bán lấy tiền cũng được. Tụi nó thừa tiền, xài phí như thế, không lấy cũng uổng. Ông Vương quay sang bàn tính chuyện cơ quan với Toán: nào tỷ suất đô la, thuế quốc doanh, thuế xuất khẩu, thuế nuôi trồng rừng … Ông Hy uống một hớp bia, quay sang Hà ngồi kế bên:
– Anh hợp đồng làm ăn với Thương nghiệp huyện?
– Vâng, tôi hợp đồng trầm và gỗ. Anh bây giờ làm gì, ở đâu?
– Tôi về hưu bốn năm rồi.
– Về hưu sớm thế.
– Tôi ưa nghỉ ngơi cho khỏe. Anh trước công tác ở cơ quan nào?
Ông Vương nghe hỏi thế, xen vào:
– Trưởng ban hai quận đấy!
Ông Hy ngạc nhiên:
– Trưởng ban hai quận. Vậy anh là ngụy?
Ông Vương cười:
– Thì không ngụy chẳng lẽ Việt cộng. Ngụy thứ thiệt đấy, anh có ngán không?
Ông Hy núc tiếp một hơi bia, chùi miệng, nhìn vào mặt Нà:
– Anh sĩ quan chế độ cũ mà có đi học tập cải tạo không?
Hà cười:
– Sơ sơ bảy năm thôi. Tôi được xếp vào loại ác ôn.
Ông Hy lẩm bẩm:
– Bảy năm … bảy năm thôi à. Ban Hai là cơ quan bắt giam người.
Ông hỏi Hà:
– Anh ở quận nào?
– P.N. Sao, quê anh ở đó hay anh hoạt động ở đó?
– Anh có biết bà Đặng thị Mẹo không?
– Không anh à. Mà ở làng nào?
– Làng N.
– Tôi biết làng N, nhưng chẳng nhớ ai tên là Mẹo cả. Lại nữa, lâu quá, mười mấy năm giải phóng rồi, tôi cũng quên hết.
Ông Hy chợt nghiêm mặt, nhìn thẳng vào mắt Hà:
– Tôi thì tôi không quên. Anh là Trung Úy Hà. Trưởng ban Hai quận P.N. Anh bắt vợ tôi và tra tấn vợ tôi đến chết. Đặng thị Mẹo là vợ tôi.
Hà đặt ly bia xuống bàn, ngạc nhiên nhìn ông Hy.
– Tôi không hề biết ai là Đặng thị Mẹo và tôi cũng chẳng tra tấn ai đến chết.
Ông Hy gằn giọng:
– Có. Tau … à … à … tôi có bằng chứng.
Hà xô ghế đứng dậy:
– Anh … ông không phải quản giáo, không phải chấp pháp, ông làm gì ông thẩm vấn tôi … Tôi có tội, tôi đã đi cải tạo.
Ông Hy cũng xô ghế đứng dậy. Đột nhiên ông thấy một nỗi giận dỗi tràn lên, hòa với một sự hưng phấn kỳ lạ, y như thể ông vừa chụp được một kẻ thù từ lâu vuột mất. Ông cầm ly bia lên tay, mắt trừng trừng nhìn Hà. Thấy không khí đột nhiên căng thẳng, Toán chạy qua đứng giữa hai người. Còn ông Vương vẫn bình tĩnh ngồi, vừa nhấp bia, vừa nhìn hai người. Toán năn nỉ:
Ông Hy bỗng đột ngột nguôi ngoai, y như lúc nãy đột ngột giận dỗi. Ông ngồi xuống, lấy gói thuốc rút một điếu nữa, châm hút. Hà cũng từ từ ngồi xuống. Anh nuốt nước bọt, mở một lon bia khác. Ông Hy gắp một miếng lòng heo, không chấm nước mắm, bỏ vào miệng nhai. Bàn nhậu lắng xuống một lát. Ông Vương bưng thêm một thùng bia để lên bàn, đẩy đến khoảng giữa Hà và ông Hy, cười:
– Tôi cũng trông hai anh đụng độ nhau một trận cho vui, hóa ra không có gì. Tôi phạt hai anh một thùng, rán uống cho hết, vì cái tội gây rối bàn tiệc.
Ông Vương khui thùng, mở hai lon đưa cho hai người.
– Trăm phần trăm đi, rồi tôi nói chuyện này cho nghe, vui lắm.
Hà ngữa cổ, núc một hơi. Còn ông Hy rót vào ly, uống mấy lần mới hết. Ông gắp tiếp một miếng lươn, kẹp rau sống và lá giấp cá, bỏ vào miệng nhai ngồm ngoàm. Ông Vương vỗ vai ông Hy:
– Đời có nhiều chuyện thực đáng buồn cười. Anh có nhớ cái vụ liệt sĩ của chị, tôi làm cho anh trước đây không?
– Sao không nhớ. Hôm qua, tôi mới lãnh tiền của Tỉnh.
– Chính ông bạn Hà giúp ông đấy.
– Giúp tôi? Ông này là ngụy, mắc chi giúp tôi?
Hà cũng nhìn ông Vương thắc mắc:
– Tôi giúp?
– Anh còn nhớ, tôi với thằng Điềm, Trưởng Công an Huyện nhờ anh ký xác nhận vụ huyện bắt giữ bà Đặng thị Mẹo không?
Hà sực nhớ, gật đầu:
– Ừ, có. Hồi đó tôi ngán gần chết, nhưng nể mấy anh tôi cũng ký đại.
Ông Vương nhìn ông Hy:
– Chuyện thế này: Vụ chị chết không rõ ràng, thiếu bằng chứng, tụi xã không chịu lập hồ sơ liệt sĩ. Vả lại, tụi nó nói con anh đi lính ngụy, nhân chứng lại chết hết. Cuối cùng, thằng trưởng Công an Huyện tìm được một cách: nhờ anh Hà đây, vốn Trưởng ban Hai quận, ký xác nhận có bắt giữ và có biết bà Đặng thị Mẹo chết trong tù. À mà chuyện này anh biết rồi mà.
Ông Hy nhìn Hà, ấp úng:
– À, hóa ra, cái giấy là anh … à … ông Hà này ký à.
Ông Vương cười:
– Chẳng lẽ có hai Hà, Trưởng Ban Hai quận P.N. À, mà thôi, chuyện cũ xí xóa. Uống cái đã! Đời mấy chốc.
Ông Hy nhìn Hà bối rối:
– Tôi … tôi hơi bậy.
Hà cười:
– Không sao. Tôi đi ở tù bảy tám năm, chứng kiến nhiều cảnh cười ra nước mắt. Hồi đầu, tôi bị biệt giam sáu tháng, chỉ để khai báo. Nhớ trước quên sau, tôi khai lung tung, chặp loạn trí luôn, chẳng còn nhớ gì ra gì nữa. Bây giờ, cải tạo về rồi, lâu lâu huyện còn kêu lên hỏi tiếp.
Anh cụng với ông Hy một ly bia, nói tiếp:
– Việt cộng với ngụy đôi khi cũng là cái số. Năm 1954, hồi đó tôi còn nhỏ, thấy chú tôi dẫn thằng em đi tập kết, tôi đòi đi theo. Chú đã đồng ý cho đi, ông nội tôi chạy ra giành lại. Rốt cuộc, thằng em con chú tôi Đại úy bộ đội, còn tôi là Trung úy Cộng hòa.
Ông Vương vặn cát xét băng nhạc hải ngoại. Giọng Tuấn Vũ rền rĩ. Ông quay sang Toán:
– Mai cậu nhớ điều xe chuyển lô hàng vô Cảng. Tối nay uống vừa thôi. À, anh Hà ơi, tôi nghĩ anh nên trực tiếp gặp ông Vĩnh thứ trưởng để lo vụ thuế xuất khẩu. Chịu “chi” một ít cho yên. Còn tôi, tôi lo vụ thuế nuôi trồng rừng
cho ông. Gần tổng kết rồi, phải lo kiếm chác một ít để hỗ trợ cho các cụ trên tỉnh với huyện. Ôi, cứ gần đến tổng kết là tôi nhức đầu. Xoay như cái vụ.
Ba người lại tiếp tục trao đổi nhau về việc làm ăn. Ông Hy lắng nghe, nhưng hơi bia đã thấm, ông chỉ nghe lảng vảng. Thỉnh thoảng ông lại gắp một miếng lòng hay lươn, kẹp rau, nhai. Giờ, mãi bàn chuyện, nên cả ba người chẳng ai thúc ông uống bia nữa. Ông chỉ nâng ly hớp cầm chừng.
Ông nhìn gói thuốc, đĩa rau, chén nước mắm. Thỉnh thoảng đi tiểu rồi ra ngồi. Mấy đĩa thịt, lon bia đã thấy xoay xoay trên bàn. Chúng mờ dần, mờ dần trước mắt ông. Ông có cảm giác như mình đang bay, đang bay. Đột nhiên, ông có ý nghĩ phải lấy một gói thuốc nguyên. Ông với tay lấy một gói bỏ vào bọc, rồi gục xuống bàn. Tiếng hát Tuấn Vũ nghe như từ một thế giới nào vọng lại.
*
Tỉnh dậy, ông Hy thấy mình đang nằm trên ghế xa long ở phòng khách. Ông dụi mắt, nhìn quanh không có ai. Ông đứng dậy, rờ rẫm quanh người, gói thuốc ba số năm còn nằm trong túi. Ông rút ra nhìn. Gói thuốc đẹp, sang, giấy dầu bọc còn nguyên. Ông lục túi quần. Mấy điếu thuốc ông cất đã bị
dẹp, có điếu nhàu nát, đứt hai. Ông lấy một điếu, vuốt thẳng, châm hút. Hơi thuốc đi qua cổ họng khô, rát. Ông bước đi chân không trên nền nhà, mát, lạnh, tìm đôi dép. Đôi dép Bình Trị Thiên bao năm của ông nằm ở một góc
nhà lẻ loi, riêng biệt, cạnh một đống giày, dép Thái Lan, Sài Gòn đủ kiểu. Ông xỏ dép, đi ra, tìm cái nón cối. Có tiếng chó sủa oang oang ở nhà dưới. Một cô gái chạy ra. Ông hỏi:
– Ba cháu mô?
– Dạ, ba cháu đi công tác Hà Nội sáng nay. Vì có lệnh đi gấp, không đợi được để chào bác. Ba cháu nói khi nào rảnh, bác ghé chơi.
Ông Hy chậc lưỡi, lẩm bẩm:
– Chết cha, định hỏi hắn kiếm ít tiền, mà hắn lại đi mất.
Ông dắt xe đạp ra cửa, đầu óc váng vất, lâng lâng. Ông có cảm giác như đi trong mơ.
Năm 1954, khi Điện Biên Phủ lâm nguy, ngày 25 tháng 3, Chính phủ Pháp cử Tổng Tham Mưu Quân Đội, tướng Paul Ely đi Washington cầu cứu Hoa Kỳ can thiệp và gấp rút tiếp viện cho đoàn quân viễn chinh Pháp, Tổng thống Eisenhower đã từ chối. Điện Biên Phủ thất thủ, dẫn tới sự chia đôi đất nước Việt Nam.
Thật là một sự trùng hợp: đúng 21 năm sau, cũng cùng một ngày (25 tháng 3, 1975), trong khi quân, dân Miền Nam rút từ Huế về Đà Nẵng, Chính phủ VNCH cầu cứu Hoa Kỳ, Tổng thống Ford làm ngơ, Đà Nẵng thất thủ và trên thực tế, coi như miền Nam đã sụp đổ.
Trong hai cuộc chiến đã có nhiều điểm tương đồng. Nhưng điểm trùng hợp quan trọng nhất đã là vai trò chủ yếu của Hoa Kỳ tại chiến trường Đông Dương…
Có nhiều lý do đã đưa Miền Nam tới chỗ sụp đổ như đã được đề cập bởi nhiều nhà bình luận Việt, Mỹ trong 30 năm qua. Những lý do đó gồm các yếu tố khách quan cũng như chủ quan, ở trong cũng như ở ngoài nước. Về đối nội, thí dụ như sự bất quân bình của cán cân lực lượng Miền Nam và Miền Bắc, sự thuần nhất của một xã hội trong chế độ cộng sản và tính đa dạng cùng khuynh hướng phân tán trong một xã hội tự do. Tôi cũng đồng ý với câu phương châm “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” của người xưa. Trước những thất bại, ta phải tự trách mình trước “mea culpa” (lỗi tại tôi). Về chính trị, các bình luận gia thường nêu lên những yếu kém, khuyết điểm của lãnh đạo và nhân dân Miền Nam. Lãnh đạo thì độc tài, thiếu khả năng, quá tin vào Mỹ, tham nhũng, có khi còn xa hoa quá mức. Nhân dân thì chia rẽ, một phần thì thờ ơ, chống đối, chán chường một cuộc chiến dài lê thê.
Tất cả những nhận xét trên, không ít thì nhiều đều có phần xác đáng. Tuy nhiên, sau khi theo rõi cuộc chiến nhiều năm, trước hết là từ ngay trên đất Mỹ (vào những năm 1958-1972), cũng như đã được chứng kiến những sự việc ở hậu trường trong ba năm cuối cùng của Miền Nam (1973-1975), rồi nghiên cứu thêm từ đó, tôi vẫn khẳng định rằng sự lệ thuộc vào Hoa Kỳ gần như hoàn toàn, cả về vật chất lẫn tâm lý đã là yếu tố quyết định.
Hãy nhìn lại cuộc chiến 1945-1954, chính nước Pháp cũng đã phải lệ thuộc vào Mỹ như vậy. Mức độ chiến tranh càng lên cao, Pháp càng phải dựa vào tiền bạc của Mỹ. Tới khoảng thời gian 1950-1954, trên 75% ngân sách chiến tranh Đông Dương là do Mỹ đài thọ. Đến thời VNCH, cũng trên 75% ngân sách Quốc phòng (trả lương cho quân đội) là do viện trợ Mỹ. Rồi toàn bộ quân trang, quân dụng, từ khẩu súng, viên đạn, lít xăng, tới xe tăng, đại bác, máy bay, cái gì cũng có nhãn hiệu MDAP (Military Detense Assitance Program) của Mỹ.
Về mặt kinh tế, khi chiến tranh leo thang, sản xuất trong nước không phát triển được, lại còn tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân phải dựa vào đô la của Mỹ để nhập cảng. Những sản phẩm cho nhu cầu từ ăn, ở, mặc, tới vận chuyển, một tỷ lệ rất quan trọng được đáp ứng từ “viện trợ Mỹ”.
Về ăn chẳng hạn, nông dân cần đô la để nhập phân bón và thuốc sát trùng mới sản xuất được thực phẩm. Vẫn không đủ, còn phải nhập thêm hàng mấy trăm ngàn tấn gạo mỗi năm.
Chỗ ở? Ta cần nhập vật liệu như xi măng, sắt thép, tôn, thì mới xây cất được.
Nhu cầu mặc? Miền Nam vẫn phải nhập cảng máy móc, bông gòn để sản xuất ra vải; cũng không đủ, còn phải nhập thêm vải.
Về vận chuyển, giao thông: ta cần nhập xe buýt, xe vận tải, xe Honda, xăng nhớt; nhập rồi mỗi năm lại còn đòi hỏi phụ tùng thay thế.
Đó là chưa nói tới những nhu cầu khác như y tê, giáo dục, giải trí. Cũng chưa kể là từng khối lượng lớn hàng hoá (như đồ hộp, radiô, TV, tủ lạnh, rượu mạnh, thuốc lá, quần áo) đã được chuyển ra bằng cách này hay cách khác, từ hệ thống tiếp liệu “PX” của Mỹ, đặc biệt là từ căn cứ Long Bình. Như vậy, về vật chất, sự lệ thuộc đã hầu như là toàn diện. Tình trạng này lại còn dẫn tới sự lệ thuộc về tinh thần và tâm lý. Nếu Mỹ còn giúp, thì các nhà lãnh đạo và dân, quân Miền Nam còn chịu đựng, chiến đấu. Nếu có dấu hiệu là họ bắt đầu bỏ, thì tinh thần bắt đầu sa sút. Tới lúc bỏ thật là sụp đổ.
Ngoài những lý do về kinh tế, lịch sử, và bản chất của cuộc chiến, sự lệ thuộc về cả vật chất lẫn tinh thần, một phần cũng là hiệu quả của phương pháp làm việc, nếu không nói là chính sách của Mỹ ở Miền Nam. Nó đã không cho những cơ hội để Miền Nam tự lập, tự quyết, tự cường.
Về mặt chính trị chẳng hạn, khi Tổng thống Diệm muốn thương thuyết với Hà Nội để hiệp thương, tiến tới thống nhất trong hoà bình, ông đã bị lật đổ. Ta hãy khách quan mà suy nghĩ nếu như Nam-Bắc đã dàn hoà được với nhau từ 1963, không có 12 năm chiến tranh khốc liệt, thì ngày nay nước Việt Nam sẽ như thế nào? Ngay từ thời tiền chiến, Sài gòn đã là “Viên ngọc của Á Đông”, lúc Đài Loan còn là đảo Formosa và Singapore chưa thành một nước.
Đến đầu năm 1971, khi ông thầy tôi là Warren Nutter, Phụ tá Bộ trưởng quốc phòng nghi ngờ có khả năng Kissinger đang bỏ rơi Miền Nam, dù lúc đó chưa biết là đang có mật đàm tại Paris, ông cũng khuyên tôi là nên tìm cách nào thúc đẩy phía VNCH phải chủ động hơn. Vì là một viên chức cao cấp trong Chính phủ Mỹ, ông không thể có ý kiến riêng cho VNCH.
Một sáng kiến hoà bình
Khi gặp Tổng thống Thiệu hồi tháng 9, 1971, tôi đã cố thuyết phục ông phải tự mình có sáng kiến hoà bình chứ đừng để phía Mỹ lôi cuốn. Tôi đề nghị phía VNCH mang tới Hoà Đàm Paris một đề nghị về hiệp thương với miền Bắc. Đây là giải pháp mà tôi đã nghiên cứu từ đầu năm 1969, sau khi vì tình cờ trong một chuyến viếng thăm nước Đức, đã tìm hiểu được mô hình thương mại giữa Đông Đức và Tây Đức rất hợp lý. Nước Đức cũng chia đôi ra làm hai miền với hai chính thể đối nghịch, thế mà vẫn cứ buôn bán với nhau liên tục, nên sự xung đột đã có thể bớt căng thẳng. Sau này khi họ thống nhất vào năm 1990 không cần tới một viên đạn, tôi đã hết sức cảm kích!
Dù rằng vào thời điểm 1971, Tổng thống Thiệu rất cứng rắn về chính sách “bốn không”, nhưng ông cũng đồng ý chấp nhận đề nghị mà tôi gọi là “hai miền trong một đơn vị kinh tế”. Tuy nhiên, ông lại dặn tôi là thử thăm dò ý kiến Mỹ xem sao? Tôi nghĩ thầm rằng mình muốn phía VNCH đưa ra sáng kiến, ông lại bảo mình hỏi Mỹ.
Tôi gặp quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và dò hỏi, họ bình luận: “mang ra thì cứ mang, nhưng chắc đã muộn rồi”. Sau cùng ông Thiệu đã đem đề nghị này vào một bài diễn văn khi ông ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 1971.
Để yểm trợ cho đề nghị xây dựng hoà bình, vào năm 1969, khi có dấu hiệu là Mỹ bắt đầu bỏ rơi Miền Nam, tôi có viết một bài dài về vấn đề hiệp thương giữa hai Miền Nam-Bắc cho tờ báo uy tín Washington Post, nhưng tờ này nhất định không đăng. Đến khi Tổng thống Thiệu đưa đề nghị này vào bài diễn văn của ông thì tờ này mới in bài với tựa đề “Hai miền Việt Nam là bạn hàng thương mại” (The Vietnams as Partners in trade) vào mục “Quan điểm” (Outlook) dành riêng cho số báo mỗi ngày chủ nhật. Ngày 24 tháng 9, 1972, tờ Washington Post đã dành cả một trang cho bài này.
Tuy đã gây được một tiếng vang ở trong chính giới tại Washington, nhưng không lấy gì làm mạnh mẽ lắm. Mấy nghị sĩ có tham khảo ý kiến tôi, nhưng rồi không thấy có phản ứng gì. Về sau này tôi mới biết là vào thời điểm đó thì, trong màn bí mật, ông Kissinger đã sắp xếp gần xong mọi chuyện cho miền Nam rồi.
Vì sắp xếp như vậy không bao giờ ông ta hỏi ý kiến của Chính phủ Miền Nam một cách thực lòng về những điểm quan trọng. Kissinger nhất định làm một mình, và làm ở Paris. Cho đến thời điểm cuối cùng trước khi Miền Nam sụp đổ, ngày 26 tháng 4, 1975 Kissinger còn đánh điện cho Đại sứ Martin nói là “Bất cứ điều đình nào cũng phải là giữa Hoa Kỳ và phía Bắc Việt chứ không phải giữa Sài gòn và Hà Nội”. Ông còn thêm rằng “bất cứ cuộc thảo luận nào cũng phải được diễn ra tại Paris” [1].
Hậu quả của lệ thuộc.
Về chính trị, phía Mỹ luôn chủ động như vậy, còn về quân sự? Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào Miền Nam cũng đã có sự bất đồng ý về chiến thuật giữa cố vấn Mỹ và tướng lãnh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền Nam, tướng O’Daniel đã nói toạc ra là “ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (who pays, commands). Rồi tới khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh của quân đội Hoa Kỳ được xác định là chiến đấu, sứ mệnh quân đội Miền Nam là gìn giữ an ninh. Vì thế quân đội Mỹ đã theo một chiến thuật gọi là “tìm và diệt địch” (search and destroy). Báo chí Mỹ đã riễu cợt quân đội Miền Nam là họ chỉ theo chiến thuật “tìm và né địch” (search and avoid).
Có nhiều lý thuyết cắt nghĩa việc quân đội Mỹ muốn tự tung tự tác ngoài chiến trường. Một trong đó là lý thuyết chiến công trong trận mạc. Chỉ có trong những trận đánh thì mới có nhiều thành tích, mới chóng lên lon. Từ sau cuộc chiến ta thấy rằng: cấp chỉ huy quân đội Mỹ trong các cuộc xung đột về quân sự, hầu hết đều ra lò từ chiến tranh Việt Nam. Các chính trị gia từ hành pháp tới lập pháp, cũng thường hay đem chiến công ở Miền Nam ra phô diễn, tuy có khi lại bị đả kích, như trường hợp ông John Kerry trong kỳ tuyển cử 2004.
Vì quân đội Mỹ đã chủ động nên quân đội Miền Nam không được huấn luyện tối đa cho tới 1969. Đến khi Mỹ bắt đầu rút đi thì mới có chương trình Việt Nam Hoá, giúp tân trang và huấn luyện quân đội VNCH. Ta nên nhớ chỉ sau Tết Mậu Thân quân đội VNCH mới được trang bị súng M-16 tối tân, còn trước đó chỉ là những khẩu súng Garrant M-l và Carbin của thời đệ nhị thế chiến. Như ông Van Marbod, Đệ nhất Phó Phụ Tá Bộ trưởng quốc phòng đã nhận định, chương trình Việt Nam Hoá đã thi hành vội vàng, giống như làm cho “chín người đàn bà có thai để đẻ một đứa con trong một tháng”. Và cái tên “Việt Nam Hoá” còn hàm ý là trước đó thì cuộc chiến tranh đã Mỹ hoá, chiến tranh là của Mỹ.
Trở lại vấn đề lệ thuộc về vật chất, như chính Tổng thống Ford đã viết trong Hồi ký của ông: chỉ tới đầu 1975, khi Quốc hội Mỹ cắt hầu hết quân viện, Miền Nam mới mất một tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến, đó là Phước Long. Rồi từ Phước Long tới Ban Mê Thuộc, tới Pleiku, Đà Nẵng và sau hết là Sài gòn. Có điều là trong năm 1974, tuy quân đội VNCH đã tiếp tục chiến đấu, nhưng kho đạn dự trữ đã được sử dụng gần hết. Vào thời điểm cuối cùng, số đạn tồn kho chỉ còn đủ cung ứng từ 30 tới 45 ngày. Thay vì được tiếp liệu đầy đú như đã được cam kết, Hoa Kỳ từng bước một, đi đến quyết định cắt đứt luôn.
Ấy là chưa kể số tiền viện trợ cần thiết để yểm trợ cho nền kinh tế. Nó đã vừa bị cắt xén, vừa bị mất giá (vì khủng hoảng dầu lửa), nên đã giảm xuống tới mức bi đát. Vì vậy, từ mùa hè 1974, không những khả năng chiến đấu đã kiệt quệ mà cả tinh thần của giới lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã bắt đầu lung lay rồi. Càng ngày càng suy yếu đi nhanh, khi các đài phát thanh VOA, BBC liên tục đưa tin cắt viện trợ.
Nguyên nhân chính Mỹ bỏ rơi Miền Nam
Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền Nam? Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam đã không còn nữa. Sau Thế chiến thứ 2, Hoa Kỳ giúp thành lập hai quốc gia: Do Thái và Việt Nam cộng hoà. Ngày 14 tháng 5, 1947, Do Thái trở thành một nước độc lập. Ngay sau đó, quân đội của năm nước A Rập (Ai cập, Syria, Jordan, Lebanon và Iraq) tấn công Do Thái. Hoa Kỳ vội vàng yểm trợ, chính thức công nhận Quốc Gia Do Thái. Ngày 26 tháng 10, 1955, nước Việt Nam cộng hoà được thành lập. Hà nội nhất quyết đòi hỏi phải tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc (vào tháng 7, 1956) để đi tới thống nhất, theo như quy định của Hiệp định Genève. Tổng thống Diệm, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ, tiếp tục bác bỏ. Tổng thống Eisenhower tuyên bố ông có thể “trỏ tay vào quốc gia Việt Nam Tự do với niềm hãnh diện “; Nghị sĩ John F. Kennedy (sau này kế vị Eisenhower) còn bình thêm: “Tự do chính trị ở Miền Nam là một nguồn cảm hứng” cho ông.
Ngày nay, VNCH đã mai một 30 năm rồi, nhưng Do Thái vẫn còn trường tồn, lại còn mạnh mẽ hơn. Lý do chính là vì Mỹ vẫn còn cần đến Do Thái làm tiền đồn để trấn giữ túi dầu ở Trung Đông. Vì nhu cầu đó, ngày nay dù đang phải gánh chịu biết bao nhiêu hậu quả của chính sách đối với Do Thái, Mỹ vẫn kiên cường. Đã rõ ràng là những khủng hoảng hiện tại như chiến tranh Iraq, biến cố 9/11, Ai Qaeda, căng thẳng với Iran, nó đã không ít thì nhiều, có dính líu tới chính sách này. Thực ra, nếu Do Thái không có Mỹ yểm trợ thì với chỉ vỏn vẹn chưa tới 6 triệu dân, quân đội Do Thái dù có tài giỏi, lãnh đạo dù có sáng suốt, trong sạch, dân chủ, gấp mấy lần Miền Nam đi nữa thì chắc cũng đã bị toàn khối A Rập áp đảo rồi. Chả cứ chờ đến khi nào thế giới không còn cần nhiều đến dầu lửa nữa vì có được những nguồn năng lượng quan trọng khác như ánh sáng mặt trời hay kỹ nghệ nguyên tử lực, thì lúc đó mới biết Do phái có còn trường tồn được hay không?
Nếu tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông còn cần thiết thì tiền đồn của “thế giới tự do” bên Á châu lại không còn cần thiết nữa. Kể từ ngày Tổng thống Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để “ngăn chặn làn sóng đỏ” đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn-thiệt (cost-benefít). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của “thế giới tự do”. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi.
Sụp đổ mau lẹ.
Đối nội, về những lý do đã đưa tới sụp đổ mau lẹ, Đại Tướng Cao Văn Viên nhận định rằng quyết định “tái phối trí” của Tổng thống Thiệu đã thay đổi toàn diện chiến lược từ “bảo vệ lãnh thổ bằng mọi giá” sang “bảo vệ lãnh thổ theo khả năng?” Tuy dù nó có hợp lý trong tình thế đang xảy ra, nhưng nó “đã quá trễ sau khi mất Ban Mê Thuộc”. Tuy nhiên, ông cũng nhận định rằng “Đó là cái nhìn về phương diện quân sự trong giai đoạn ngắn hạn”. Còn về khả năng tồn tại, ông cho là “vẫn còn tùy thuộc vào số quân viện Hoa Kỳ cung cấp cho VNCVH”. Đại tướng Viên đã kết luận: “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6-1975 nếu không nhận được quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu” (xem chương 8).
Đó là về đạn được, nguyên liệu cần thiết để chiến đấu. Còn về thực phẩm, quần áo, thuốc men, băng cứu thương cho quân đội, cũng như nhu cầu sinh sống của gia đình họ thì sao? Một điều mà cho tới nay cũng ít ai hay biết, đó là việc Quốc hội Hoa Kỳ còn đi tới chỗ cạn tàu ráo máng. Ngoài việc cắt viện trợ quân sự, cắt xén viện trợ kinh tế, lại còn xiết chặt cách sử dụng viện trợ kinh tế.
Năm 1974, VNCH sắp đi tới chỗ phải ngừng, không được dùng tiền do Quỹ đối giá (phát xuất từ viện trợ kinh tế đổi sang tiền Việt) để tài trợ cho ngân sách quốc phòng, tức là để trả lương cho 1 triệu 200 ngàn quân nhân. Thế rồi Quốc hội còn đi thêm bước nữa, cấm luôn cả trả lương cho cảnh sát. Lực lượng cảnh sát lúc đó là 120.000 người. Lúc đó, nếu biết được đến nông nỗi này, thì liệu quân, dân Miền Nam đã nghĩ sao? Vì vậy, tin này không được phổ biến. Ngày nay ta có thể đặt lại câu hỏi: thế thì, bắt đầu từ năm 1976 chính phú VNCH lấy tiền đâu mà trả lương cho quân đội, cảnh sát?
Điều mà cuốn sách này muốn nhấn mạnh là cái cung cách mà một số chính khách Hoa Kỳ, đặc biệt là Cố vấn Tổng thống kiêm Ngoại trưởng Henry Kissinger đã sử dụng để bỏ rơi Miền Nam. Trước hết là dùng thủ đoạn dối trá trong bóng tối. Sau đó, là áp lực, đe doạ, và cam kết, bảo đảm. Nhưng hứa hẹn xong rồi thì quay mặt đi, lại dấu giếm cả Chính phủ, Quốc hội lẫn nhân dân Hoa Kỳ. Hành động như vậy là trái với nền tảng “công bình”, một giá trị mà nhân dân Mỹ đề cao, phản lại sự “minh bạch” (transparency), một nguyên tắc quan trọng vào bực nhất của thể chế dân chủ, và hạ xuống thật thấp uy tín của nền ngoại giao Hoa Kỳ.
Hoá ra, những cam kết chỉ là một công cụ để che dấu một kế hoạch gọi là “khoảng thời gian coi được”. Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho Miền Nam một thời gian ngắn ngủi, một khoảng cách coi cho được, từ lúc Mỹ rút cho tới khi sụp đổ.
Tới ngày nay, những người lãnh đạo Mỹ có trách nhiệm đối với Miền Nam đều nhất thiết đổ cho Watergate. Vụ này đã làm suy yếu quyền hạn của Tổng thống, nên Mỹ không làm gì được để giúp Miền Nam. Một phần nào luận điệu đó đã bị bác đi trong cuốn sách này.
Ngắn gọn, ta có thể khẳng định rằng, ngay trước cả Watergate, vào thời điểm mà quyền hạn của Tổng thống Mỹ còn rất mạnh mẽ, đó là sau khi ông Nixon đã đại thắng nhiệm kỳ hai, Kissinger đã có ý định bỏ rơi Miền Nam rồi. Như đã thuật lại trong Chương 13, Tổng thống Nixon vừa tái đăng quang thì vài ngày sau, Kissinger ký tắt vào bản Hiệp định Paris. Ký xong, Phụ Tá Tổng thống Nixon là John Ehrlichman có hỏi: “Ông nghĩ rằng Hiệp định này sẽ cho Miền Nam tồn tại được bao lâu nữa?” Tưởng Kissinger sẽ nói vài câu có tính cách đảm bảo. Nhưng không, ông ta trả lời thẳng thừng: “Nêu họ may mắn thì có thể cầm cự được một năm rưỡi” [2].
Chắc chắn rằng việc dân chúng Hoa Kỳ chán ghét chiến tranh cũng đã là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc sụp đổ mau lẹ, nhưng ta nên nhớ rằng, từ khi Mỹ đã rút đi hết, không còn bị thương vong nữa, và 519 tù nhân được thả về, thì sự chống đối đã giảm hẳn, và thành phố Washington không còn có những cuộc biểu tình vĩ đại như lúc trước nữa.
Điều tệ hại nhất là vào lúc Quốc hội giơ thanh gươm đao phủ để chặt đứt cái ống dưỡng khí đang nuôi sống Miền Nam, họ đã hoàn toàn không được thông báo gì về những cam kết của phía Hành pháp đối với Miền Nam. Tới khi Tổng thống và Quốc hội VNCH viết thư cầu cứu vào giờ hấp hối, nhân dân Hoa Kỳ cũng không được hay biết.
Như đã trình bày trong chương 10, nhìn lại lịch sử, tôi cũng không khỏi suy tư, và đặt một câu hỏi khác: tại sao phía VNCH lại cứ âm thầm từ hè 1973 khi Quốc hội Mỹ bắt đầu cắt xén viện trợ? Tại sao lãnh đạo hành pháp và lập pháp không họp lại để bàn luận về hồ sơ mật xem phải nên đối xử làm sao với Hoa Kỳ trong hoàn cảnh chính trị của Watergate, và dưới triều một Tổng thống Mỹ mới? Việc này chỉ được làm sau khi rút khỏi Pleiku. Lúc đó thì đã quá muộn. Ta có thể cho rằng: vì những chống đối chiến tranh từ phía nhân dân, dù Quốc hội Mỹ được biết mọi chuyện, có thể là họ cũng vẫn cứ cắt hết viện trợ. Tuy nhiên, trên căn bản công bình, Quốc hội khó mà cắt đi một cách quá đột ngột và dứt khoát như đã xảy ra. Quốc hội sẽ phải nhận thức rằng, với những đảm bảo vững chắc của Tổng thống Mỹ, mà Tổng thống là người đại diện nước Mỹ, nếu vẫn cắt hết viện trợ cho Miền Nam thì uy tín nền ngoại giao Hoa Kỳ sẽ bị tổn thương lớn. Những cam kết bằng văn bản hay nói miệng của Tổng thống Nixon, ông Kissiger, Tổng thống Ford với Tổng thống Thiệu, Ngoại trưởng Lắm đều là những trao đổi giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và VNCH chứ không phải giữa cá nhân các ông này.
Đã không bao giờ phía Hoa Kỳ thông báo cho Chính phủ Miền Nam là họ muốn rút hết lại những cam kết đó, hay là chúng còn cần được sự đồng ý của Quốc hội. Ngược lại, chính Tổng thống Ford khi lên kế vị Tổng thống Nixon vào tháng 8, 1974 lại còn vội vàng gửi thư cho Tổng thống Thiệu để tái xác nhận những cam kết của vị tiền nhiệm. Chỉ trong hai bức thư cuối cùng trước khi sụp đổ, ông Ford mới nói tới việc quân viện còn cần được Quốc hội chấp thuận.
Ông Kissinger, người kiêm nhiệm cả hai chức Cố Vấn An Ninh và Ngoại trưởng, lại là người điều khiển chính sách ngoại giao của cả hai Chính phủ Nixon và Ford, đã che dấu cả chính đồng liêu mình là Tổng trưởng quốc phòng. Khi ông Schlesinger được đọc vài bức thư (do chính tác giả cung cấp) ông đã tìm cách thông báo cho nghị sĩ Henry Jackson biết, và ông này bắt đầu đặt vấn đề. Nhân viên Toà Bạch Ốc vội vàng lục soát hồ sơ, nhưng cũng chỉ tìm được có 7 bức thư của Tổng thống Nixon mà thôi. Vậy còn 20 lá thư kia do ai dấu đi?
Sau những tiết lộ của chúng tôi để chứng minh về sự thất hứa và yêu cầu Chính phủ Mỹ cứu vớt đoàn người tỵ nạn (trong cuộc họp báo tại Washington ngày 30-4-1975), Kissinger chống chế, cho như là việc đã rồi, và đâu có gì là quan trọng về mặt pháp lý! Ông còn cãi lại là nếu chắp nối tất cả những lời tuyên bố chỗ này chỗ nọ của chính ông và của các quan chức trong chính quyền Hoa Kỳ trong quá khứ, thì trước sau, nó cũng đã nói lên những điều giống như cam kết trong các thư tín rồi. Có gì đâu mà phải thắc mắc? Hành động lắt léo và dối trá trong bí mật như vậy, chắc chắn đã không xứng đáng với tư cách của kẻ cả, của lãnh đạo một cường quốc.
Về sự phản bội, trong một buổi làm việc giữa các tướng lãnh VNCH tại Mỹ sau ngày sụp đổ để biên soạn 13 cuốn sách chuyên đề nhận định về cuộc chiến tranh VN theo quan điểm của VNCH (trong đó có Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Ngô Quang Trưởng), trong khuôn khổ một chương trình do “Trung Tâm Quân Sử Lục quân Hoa Kỳ” khởi xướng (Indochinese Refugee Authored Monograph Program) tướng William Westmoreland, cựu Tư lệnh quân lực Mỹ tại Việt Nam có tới thăm. Sau khi truyện trò, ông Westmoreland đã tóm gọn: “Chúng tôi đã phản bội các anh!”(We betrayed you”)
Tại sao chỉ cứu vớt số tối thiểu
Câu hỏi sau cùng là: tới lúc sụp đổ, sao Mỹ lại chỉ muốn cứu vớt quá ít người Việt Nam? Lúc đầu chỉ định giúp di tản 50.000 người, phút chót mới tăng lên, tổng số là dưới 130.000 người.
Có thể là vì ba lý do:
– thứ nhất, là lý do kinh tế. Nền kinh tế của Mỹ vào năm 1975 đang trong tình trạng khó khăn sau khủng hoảng dầu lửa bắt đầu từ mùa Thu 1973. Khi thất nghiệp lên tới 9%, khó mà nhân dân Mỹ chấp nhận cho mang thêm nhân công vào nước Mỹ;
– thứ hai, về phương diện tố chức, nếu cứu nhiều người thì sẽ lộn xộn, mất nhiều thời gian tổ chức, chuyên chở, và sẽ có thể đem tới nguỵ hiểm cho 6,000 người Mỹ còn kẹt lại; và
– thứ ba, đâu có nhiều chính trị gia Mỹ muốn cho số đông người Việt kéo nhau vào nước Mỹ? Nếu họ vào quá đông thì hình ảnh của chiến tranh Việt Nam sẽ cứ lởn vởn mãi. Cũng như sự kiện là có ít người muốn luôn nhìn thấy nhân chứng về sự thất bại của mình. bao giờ Miền Nam hấp hối, Kissinger còn nguyền rủa “Sao chúng không chết phứt cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài”.
——————————–
1 Xem mật điện của Đại sứ Martin ngày 26 tháng 4, 1975 nói về điểm này: N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 341.
Nguyễn Hữu Trí là tên thật. Trước 75, ông là giáo sư Anh Văn dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Hiện ông vẫn còn tiếp tục dạy Anh ngữ tại một vài trường Đại Học ở Hoa Kỳ.
Thằng Ngọ là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Hữu Trí. Người ta cho rằng, làm thơ, có thể bắt đầu lúc còn trẻ, nhưng viết văn thì nên chờ đứng tuổi một chút. Nếu điều đó đúng thì Nguyễn Hữu Trí có nhiều ưu điểm. Ông vừa có kiến thức vừa có kinh nghiệm sống, cần thiết cho việc viết lách.
Theo nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, người viết tựa cho cuốn sách thì: “Truyện của Nguyễn Hữu Trí là những câu chuyện được kể bằng một giọng nói thật thà, trầm tĩnh. Ông biết mình đang kể chuyện gì và ông biết cho ngòi bút mình dừng lại ở đâu.
Vẻ đẹp trong chữ nghĩa của ông chính là do sự giản dị và thô nhám của nó. Mặc dù ở vài chỗ văn chương ông còn phải vận dụng nhiều tĩnh từ và trạng từ để tạo hiệu năng”.
Sách của những người viết mới của chúng ta gần đây, nội dung, thường có hai khuynh hướng. Hoặc quá cá biệt, quá riêng tư [điển hình là các truyện
tình], hoặc không khác nhau mấy khi đề cập tới các vấn đề có tính thời sự hay xã hội. Đọc Nguyễn Hữu Trí, người đọc có sự yên tâm là không sợ bị tác giả đưa đi xa quá vì những kiến thức của mình. Truyện của ông giản dị, cho dù nó có đặt ra những vấn đề tâm lý hay hoàn cảnh phức tạp.
Chẳng hạn như truyện Duyên Hội Ngộ. Truyện kể về cuộc tình của Hải và Liên. Hai người quen nhau từ thuở còn là học sinh. Dạo đó phong trào học sinh chống Pháp dành độc lập bộc phát dữ dội tại Sài Gòn. Tham gia vào một cuộc biểu tình, Hải và Liên cùng bị bắt. Chính ở trong nhà giam mối tình của họ khởi sự. Đúng ra thì phải nói, Hải bị tiếng sét ái tình.
Ở trang 67, Nguyễn Hữu Trí viết:
“Lúc ấy Hải không nói gì với người bạn gái mới quen và mãi về sau cuộc đời đưa đẩy, chàng cũng chẳng có dịp nào nói thẳng cho Liên biết về cú đánh bầm rập đó. Cũng mãi về sau, khi Hải đã đi xa, Liên mới biết chuyện này”. Cũng như mọi cuộc tình rắc rối khác, ra khỏi tù, không vì một lý do chính đáng nào, họ đã mỗi người đi một ngả. Cũng chưa thể gọi là một cuộc chia tay được.
Vì, họ đã nói gì với nhau đâu. Trong thời gian Hải qua Pháp du học, Liên ở nhà lấy chồng. Không phải người đàn ông Hải tưởng Liên sẽ lấy mà là một người khác. Hải học y khoa, ra trường, chưa muốn về nước vội, ở lại Pháp, mở phòng mạch và lấy vợ, người Đà Lạt. Nhưng cho đến phút cuối cùng, Hải đã từ chối không nhận, trước sự ngỡ ngàng của Liên. Sự việc đã được Hải giải thích như không vì một lý do đặc biệt nào cả. Điều ấy cũng như việc Liên không lấy Quí, cũng như vợ Hải đã bỏ anh. Nguyễn Hữu Trí có cách giải quyết hầu hết các truyện của mình một cách giản dị như vậy. Giản dị đến không ngờ. Cảm tưởng chung của người đọc là Nguyễn Hữu Trí ngưng viết ở đấy chứ hình như truyện chưa hết.
Cái mà người đọc nhận được một cách rõ ràng và đáng kể nhất, sau những dòng chữ của Nguyễn Hữu Trí có lẽ là điều này: đây là sản phẩm của một người có tâm hồn trong sáng, yêu cái thiện, cái mỹ, muốn cống hiến một chút gì đó tốt đẹp, cho cuộc đời, như một cách góp mặt và tạ ơn vậy.
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam Post by Sơn râu 6 Sep 2025
44. Nguyễn Hữu Nhật.
Tháng 8/2005, nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật đã từ Na Uy bay qua Cali, để giới thiệu mấy tác phẩm của ông và của nhà văn Nguyễn Thị Vinh, do nhà xuất bản Anh Em ấn hành, gồm các cuốn: Cỏ Bồng, Cuộc Chiến [Thơ Nguyễn Hữu Nhật], Les Chants Divins [Diệu ca & Ai Ca, do Nguyễn Hữu Nhật chuyển sang Việt ngữ], Cỏ Bồng Lìa Gốc [Tạp văn Nguyễn Thị Vinh].
Buổi ra mắt sách được tổ chức tại trụ sở Nhật Báo Người Việt [khu Tiểu Sài Gòn]. Khách tới dự các buổi ra mắt sách như thế, tùy thuộc hai yếu tố: uy tín của tác giả và sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông.
Thường, những buổi ra mắt sách, nhất là các thi phẩm, không thể có được sức hấp dẫn của những cuộc trình diễn nhạc. Thơ, tự nó, hình như đã chứa sẵn sự bơ vơ. Thi sĩ cũng vậy.
Nguyễn Hữu Nhật, đội chiếc mũ casquette, không biết có phải đó là một cách trang điểm, hay thật sự để chỉ để che mái tóc đã bạc, không những bạc còn rụng mất khá nhiều nữa.
Ông ngồi ký tên trên sách cho người mua sách, cho bằng hữu. Vốn gốc là người thích vẽ tranh [Động Đình Hồ] trước khi làm thơ, nên có thể nói, Nguyễn Hữu Nhật đã “vẽ những lời đề tặng và cả chữ ký”. Ông nhận những đồng tiền của người mua sách để trên bàn, bỏ vào túi, cử chỉ vụng về, hai mắt lim dim, nói năng nhỏ nhẹ, một nửa ngây thơ, một nửa tinh quái.
Một vài người bạn trẻ, chắc là những người ông làm quen từ khi ra khỏi nước, nhắc lại với ông, để ai lên giới thiệu ông nói gì thì nói, nhưng người nói cuối cùng trong buổi họp mặt này, phải là Nguyễn Hữu Nhật. Những người này có vẻ gì đó thật tình, khi yêu cầu như vậy. Họ đã được nghe Nguyễn Hữu Nhật nói chuyện ở đâu đó đôi ba lần rồi, chắc thế.
Có bao nhiêu người yêu thơ Nguyễn Hữu Nhật?
Không biết.
Nhưng rõ ràng số người thích nghe Nguyễn Hữu Nhật nói về thơ, rất nhiều.
Cứ thấy mấy bạn trẻ quanh quẩn bên Nguyễn Hữu Nhật tại Hội trường Báo Người Việt hôm ấy “thúc” ông ra nói chuyện đủ biết.
Nhớ lại những ngày “cùng một lứa” ở tù ra, gặp lại nhau ở Sài Gòn, tình cờ được nghe Nguyễn Hữu Nhật đọc thơ sáng tác trong tù và nghe Trần Quang Lộc hát những ca khúc viết truớc và sau biến cố 1975, hát những bài thơ
Nguyễn Hữu Nhật vừa đọc cho nghe hôm trước, hôm sau Trần Quang Lộc đã phổ thành nhạc, trong đó, những bài như “Đàn Trong Tay Người” hay “Ngày Nào Mới Mặc Áo Dài” chẳng hạn, phải được xếp vào hàng những “tác phẩm” quý của âm nhạc Việt Nam.
Dạo ấy, đám ngụy, người làm thơ, viết nhạc, người hát, người nghe, nhớ được gì của nhau thì nhớ, không ai dám viết ra giấy, vì bị công an khám nhà thường xuyên. Bất cứ cái gì “viết ra trên giấy đều là những chứng cớ, nếu nó lại dây dưa ít nhiều đến những gì gọi là sáng tác thì mười phần hết chín
đi tù rồi, bỏ vào tù điều tra cho tiện”.
Xin chép lại theo trí nhớ ít câu trong bài “Đàn Trong Tay Người”, vì cũng vào cái dạo ấy, người ta gặp được nhau lúc nào biết lúc bấy giờ, ngày mai có thể kẻ vượt biên, người bị bắt, lưu lạc, chết … không gặp lại nhau nữa.
Trong tay người hành khất mù
Tiếng đàn nung lửa ngục tù tối tăm
Đàn buồn đàn réo đầy vơi
Búng giây nhỏ lệ dâng đời thanh tân
Tiếng đàn trong tay ai
Mà tiếng đàn bật máu
Tiếng đàn thương bơ vơ
Thúc giục nỗi mong chờ
Tiếng đàn nuôi hương xưa
Làm nhớ mùi gỗ quý
Tiếng đàn thương đêm đen
Sao nghe lạnh đời thêm
Trong tay người hành khất mù
Tiếng đàn thôi ngủ mùa thu quên về
Cung đàn dạo khúc tử sinh
Búng dây oan nghiệt lặng thinh tiếng cười
Trong ngần ấy câu thơ, bao nhiêu câu thật sự là của Nguyễn Hữu Nhật, bao nhiêu câu/chữ, do Trần Quang Lộc thêm/bớt, cho hợp với nhạc, bao nhiêu câu sai lạc do bị nhớ bậy bạ, bây giờ đã có Nguyễn Hữu Nhật hiệu đính, chắc chắn sẽ có được một bản đúng.
Bài hát này, nghe nói Bùi Giáng có được nghe và ông tỏ ra rất thích, nhất là câu: “Tiếng đàn thôi ngủ, mùa thu quên về”.
Cũng như “Đàn Trong Tay Người”, bài “Ngày Nào Mới Áo Dài” đến với mọi người như một ca khúc chứ không phải bài thơ. Ai nhớ sai, nhớ đúng cũng qua bài hát đó, dù cùng biết nó được phổ từ một bài thơ của Nguyễn Hữu Nhật. Có lẽ cũng nên nói thêm một chi tiết có liên quan tới ca khúc này. Đó là một bài viết của nhà văn Hoàng Hải Thủy kể rằng, sau 30 tháng 4/75, hai vợ chồng đã phải mang chiếc áo cưới của bà ra chợ trời bán, lấy tiền tiêu. Mấy câu cuối của bài hát, có lẽ Trần Quang Lộc đã lấy ý từ cảnh bán áo đó thêm vào, chứ không có trong bài thơ của Nguyễn Hữu Nhật.
Ngày nào mới mặc áo dài
Tay em run quá chẳng cài nổi khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Tay run anh cởi hết khuy em cài
Ngày nào anh cũng làm thơ
Dù em là tấm gương mờ đã lâu
Trước khi đi ngủ chải đầu
Để trong giấc mộng gặp nhau “cho đàng goàng”
Ngày nào mới mặc áo dài
Soi gương trông bóng tự cài lấy khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Không đem bán áo lấy gì nuôi nhau
Kể từ sau 30 tháng 4/75, bị bắt, được tha ra, bị bắt trở lại, lại được tha ra, chúng tôi đã trải qua những ngày thực sự đen tối, “không biết sống làm gì và làm gì để sống”. Những buổi lén lút gặp nhau, nghe nhau như thế, là một niềm an ủi lớn. Nó chứng tỏ một điều, sự sống không dễ gì bị hủy diệt,
dù người ta có cố tình làm việc đó. Cây cành có bị chặt gẫy, những mầm nhánh vẫn cứ đâm ra.
Nguyễn Hữu Nhật có một câu thơ, không biết ở trong bài nào, đôi ba lần ông đã đọc cho chúng tôi nghe, nói về nhân cách của một người tù, những người chung quanh chỉ cần “ngẩng nhìn anh” “để thấy mình đỡ thấp”
Thơ Nguyễn Hữu Nhật, nhạc Trần Quang Lộc, đã cho tôi cảm tưởng ấy.
Không biết từ ngày ra được nước ngoài này, ông đã baolần đọc thơ của ông cho mọi người nghe, đọc trong trường hợp nào, hay cho in trong những truyển tập nào.
Nhất là bài thơ “Người Tù Già Kể Chuyện Mình”. Hai lần được gặp lại ông không thấy ông nhắc tới bài thơ này. Hai tập thơ ông ký tặng sự thật chỉ là một, tập kia bị xếp lộn bìa. Đọc không thấy có bài “Người Tù Già … ” Thành thử không biết Nguyễn Hữu Nhật có cho in vào tập nào khác không? Hỏi, không ai biết.
Nói đến thơ Nguyễn Hữu Nhật mà không nhắc tới “Người Tù Già … ” thật vô lý. Vì, có thể coi như đây là một trong những bài thơ hay nhất của chúng ta, kể từ sau 30 tháng 4/1975.
Xin ghi lại dưới đây, vì chỉ được nghe Nguyễn Hữu Nhật đọc vài lần, không có bản in hay chữ viết, chắp nối theo trí nhớ, không thể không có chỗ sai, thiếu sót, [cũng không hiểu vì sao nhớ được, trong khi chính những gì mình viết ra cũng quên]. Âu đây cũng là một cách nhắc Nguyễn Hữu Nhật sửa chữa lại, phổ biến lại. Tôi mang ơn bài thơ [hay mắc nợ bài thơ] nên phải viết lại ra đây để đền ơn, [trả nợ].
Từ Vũng Tầu và các địa điểm khác, bao nhiêu ngàn người đang cố trèo lên những con thuyền đánh cá mỏng manh, liều mạng để tìm lối thoát mà cũng chẳng biết mình sẽ đi đâu. Một số may mắn được tầu Mỹ vớt, một số khác hẩm hiu đã bị chìm đắm, trôi dạt trên đại dương. Được vớt rồi, như Đại sứ Martin đã điều trần trước Quốc hội, “vẫn không có chỗ nào cho phép họ tới một cách hợp pháp”, vì ông chỉ được quyền tạm dung (parole Authority) cho nhập vào Mỹ là 50.000 người. Và dù quyền này, ông cũng chỉ nhận được bốn ngày trước chuyến ra đi cuối cùng [1]. Đã không có chỗ nào cho họ đi vì ngoài việc Mỹ chấp nhận một số nhỏ này, các quốc gia láng giềng đã tránh né!
Mang họ đi đâu bây giờ?
Điều đáng buồn là trong số các nước đã thu được nhiều lợi nhuận vì cuộc chiến Việt nam, tới giờ phút chót lại tỏ ra thờ ở với tỵ nạn (trừ Singapore). Trên 150 tỷ đô la Mỹ tài trợ chiến tranh phần lớn đã được tiêu ngay ở Mỹ cho các hãng sản xuất quốc phòng; số còn lại được tiêu cho phần dịch vụ cung ứng tại các quốc gia Á Châu. Indonesia bán dầu lửa, nhiên liệu; Singapore bán súng M-16; Đài Loan bán quần áo quân đội, đồ hộp. Phillippines lắp ráp thiết bị, máy bay. Ngoài ra lại còn những chi tiêu cá nhân của quân đội Mỹ khi nghỉ phép tại các nước này.
Ông Martin đã kể lại rằng từ đầu tháng 4, khi có những chuyến máy bay quân sự từ sân bay Clark ở Phillippines bay vào Tân Sơn Nhất, Toà đại sứ đã tranh thủ những chuyến bay trở ngược về Clark để cho di tản một số người Việt. Thế nhưng, Phillippines đã chống đối việc này:
“Thoạt đầu, chúng tôi được bảo là phải mang họ trở về Việt nam ngay, vì Chính phủ Phillippines đang la lối om xòm…
Đầu tháng 4, Bộ Ngoại giao còn chỉ thị cho tôi là phải chấm dứt việc sử dụng những chuyến bay trở về (căn cứ Clark) như thế” [2].
Tới lúc di tản, khi cuộc “Hành quân gió nhanh” khởi sự, lúc đầu là gần 10.000 người đã được chở vội tới “Thành phố Lều, (Tent City) ở căn cứ Clark. Tổng thống Marcos lại lên tiếng phản đối. Mỹ phải dùng các máy bay vận tải quân sự C-141 và một số phi cơ 747 thuê của hãng American Airlines để chở họ gấp tới đảo Guam.
Sát cạnh Việt nam là Thái Lan cũng chống đối, và khi toán phi công Miền Nam cùng với gia đình và một số người khác tổng cộng là 2.000 tới căn cứ Utapao cùng với 130 chiếc máy bay đủ loại, Chính phủ Thái tuyên bố là đoàn người này phải rời lãnh thổ Thái nội rạng 30 ngày [3].
Chống đối: từ Pendleton đến trại Eglin
Nền kinh tế Hoa kỳ năm đó rất khó khăn. Thất nghiệp lên tới 9%, tức 8 triệu người, lạm phát cũng 9%. Vật giá đắt đỏ, khan hiếm. Người ta xếp hàng trước những trạm xăng và có lúc mỗi xe chỉ mua được 5 đô la xăng. Hãng Gallup cho làm một cuộc thăm dò dân ý, kết quả là 54% chống việc nhận người di tản Việt nam vào Mỹ, và 36% đồng ý [4].
“Hãy gửi đến cho ta những kẻ mệt nhọc, co cụm, những tướng lãnh của các người, những kẻ giàu có và được ưu đãi, những ké lưu manh, ma cô, và những cô gái bán bar, đang khao khát được thở không khí tự do…”.
(“Send me your tired and huddled masses, your generals, your wealthy and privileged classes, your crooks and pimps and bar girls, yearning to breathe free…) [5].
Một lần nữa, “Nữ thần Tự do” lại bị mang ra để phỉ báng đoàn người tị nạn một cách rộng rãi hơn. Trên đây là một câu nhại châm biếm (bắt chước câu thơ của bà Em ma Lauzarus) ghi dưới một hình hí hoạ do Pat Oliphant, nhà hí hoạ nổi tiếng, vẽ một đoàn di tản Việt nam đang xếp hàng đi qua pho tượng đứng bao dung ngoài cảng Manhattan. Hình này được in vào một số báo lưu hành trên toàn quốc.
Kể cả ngay sau khi chiếc máy bay khổng lồ C-5A chở đoàn cô nhi 300 người bị rớt và 206 bé em bị tử thương, vấn đề vận chuyển 2.000 trẻ em, “operation Babylift” cũng vẫn còn là một đầu đề tranh luận tại Mỹ. Tuy là một vấn đề nhân đạo và nhiều em là bé lai, vẫn có sự chống đối. Sau đây là mấy thí dụ do báo chí Mỹ ghi lại: [6]
Nghị sĩ Mcgovern, người đã ra tranh cử với Tổng thống Nixon năm 1972, đã đổ dầu vào lửa: “Tôi cho rằng người Việt nam sẽ được sung sướng hơn nếu ở lại Việt nam, kể cả lũ trẻ mồ côi kia”.
Khi thấy đoàn người nghèo khó được ùn ùn chở từ Guam tới Camp Pendleton, các nhà lãnh đạo California- gồm cả Thống Đốc và hai Thượng Nghị sĩ – đều lên tiếng báo động! Bộ trưởng Y Tế và Xã Hội, ông Mario Obledo gửi ngay công điện cho ông Kissinger cảnh cáo rằng tiểu bang của ông khó có khả năng chấp nhận “những người tị nạn không nhà”. Lý do là vì: “Cali đã có tới “952.000 người thất nghiệp, 2,4 triệu lãnh trợ cấp an sinh xã hội; 4 triệu sống gần mức nghèo khó, và 20 triệu người đã phải đóng thuế ở mức cao nhất mà một nền kinh tế tự do có thể chấp nhận”.
Rồi tới bức thứ hai: “Cali còn có kế hoạch để cô lập hoá số 64.000 người ở hai trại cũ kỹ tại sa mạc Mojave tức Camp Pendleton) và thung lũng San Joaquin (Fort Travis)”. Thấy Cali lo lắng, thị trưởng Chicago bàn thêm: “Đức bác ái phải được bắt đầu tại gia”.
Một anh chàng quản lý một tiệm sách của tổ chức quá khích John Birch Society gần trại Eglin (Florida) còn lo ngại là bệnh tật nhiệt đới sẽ trôi nổi lên mặt biển”. Phụ tá Báo chí Ron Nessen cũng kể lại mấy thí dụ về việc chống đối người tỵ nạn: [7]
Bên ngoài Fort Chattee (Arkansas), những người biểu tình còn mang bảng với khẩu hiệu “Hãy về đi!” (Go home!); “Thành phố da vàng” (Gooksville).
Câu chuyện khác: một người biểu tình ngoài Fort Chattee còn nói với anh nhà báo: “Người ta nói là ở đây lạnh lẽo hơn ở Việt nam nhiều. Với chút ít may mắn, có thể họ sẽ bị sưng phổi và chết đi”.
Một ông thị trưởng ở thành phố gần căn cứ không quân Eglin, Florida đã nói với người quay phim hãng ABC: “Chúng tôi lo ngại chẳng những đối với những gì đang xảy ra chung chung, nhưng còn cả với những gì sẽ xảy ra cho cái bãi biển sạch sẽ của chúng tôi nữa”.
Một may mắn: di sản của Mẹ
Cái khó khăn thực tế nhất vào những ngày đầu của là chuyện tiền bạc. Ngày 1 tháng 5, Hạ Viện đã bác đi số tiền 327 triệu đô la do Tổng thống Ford yêu cầu chuẩn chi cho dân tị nạn. Toà Bạch Ốc tuyên bố về việc này:
“Tổng thống đã rất buồn và bất mãn về hành động của Hạ Viện ngày hôm nay… Nó không xứng đáng với một dân tộc đã sống theo triết lý được tượng trưng bởi Nữ thần Tự do”. [8]
Trung Tâm Định Cư ước tính là chỉ riêng nhu cầu ăn uống, tiện nghi, sức khoẻ cho một người trong trại cũng đã cần tới 15 đô la cho một người một ngày. Ngoài ra còn tiền chuyên chở (530) và tiền chi phí cho Cơ quan Thiện Nguyện (500). Thế nhưng Quốc hội đã không chấp thuận thì làm sao mà chi được?
Thật là may mắn: số tiền viện trợ của Mỹ cho VNCH còn lại chút ít. Bộ Ngoại giao, Quốc phòng có thể dùng để tài trợ vận chuyển, và lo an sinh cho đoàn người tị nạn lúc ban đầu. Để bạn đọc nắm được những dữ kiện tài chánh chung quanh việc di tản, và cũng là để tổng kết cho lịch sử về viện trợ của Hoa kỳ cho VNCH, tôi ghi lại kết toán trong bảng sau đây:
Số tiền viện trợ kinh tế còn lại (triệu USD)
Trong sổ sách Hoa Kỳ vào ngày 30-4-1975
182
1. Chuyển cho Bộ Ngoại giao tài trợ di tản
58
2. Chuyển cho Bộ Tư Lệnh Hải vận quân sự (Military Sealift Command) và các cơ quan “Thiện nguyện di tản biển”
13
Còn lại vào ngày 31-5-1975
111
Quyết toán nguồn của số 111 triệu:
Ngân khoản tài khoá 1974 còn lại
(nghìn đô la)
1. Chương trình nhập cảng
21.150
2.Viện trợ nhân đạo
3.922
3.Viện trợ dự án
7.811
Cộng
32.883
Ngân khoản tài khoá 1975 còn lại (nghìn đô la)
1. Chương trình nhập cảng
40.260
2. Viện trợ nhân đạo
28.855
3. Viện trợ dự án
8.130
4. Chưa phân bổ
985
Cộng
78.230
Tổng cộng 111 triệu
Tất cả số tiền viện trợ kinh tế cho tài khoá 1975 còn lại vào ngày 30 tháng 4, 1975 là 182 triệu. Nếu lấy tổng số này mà chia cho 130.000 người thì: mỗi người đã nhận được 1.400 đô la, và đó là di sản của Mẹ. Khoản này đã giúp các cơ quan trung ương sử dụng được ngay để đáp ứng nhu cầu cấp thời. Tuy nó khiêm nhượng, nhưng đã giúp giải quyết những khó khăn lúc ban đầu. Vì nếu không có số này thì chắc chắn là cuộc di tản còn kẹt lớn, chưa chắc đã thực hiện được. Nó cũng đã mua được thời gian quý giá cho người tỵ nạn lúc bước vào miền đất mới.
Để khoá sổ, ta cũng nên biết tới số liệu của vấn đề gay go nhất lúc hạ màn, đó là viện trợ quân sự cho VNCH. Số tiền 700 triệu quân viện cho tài khoá 1975 còn lại vào ngày 30 nháng 4, 1975 là 12 triệu. Tất cả sòng phẳng là như vậy.
Nhìn vào số này ta mới hiểu rõ hơn về hoàn cảnh chính trị, quân sự, và nhất là tâm lý của VNCH khi thấy Ban Lãnh Đạo đảng Dân Chủ cả Thượng và Hạ Viện (lúc đó hợp vào trở thành đa số tại Quốc hội), trong buổi họp kín ngày 12 tháng 3 1975 đã phán quyết: không cấp thêm viện trợ quân sự cho VNCH nữa.
Số tiền 12 triệu còn lại cũng như 130 chiếc máy bay do phi công Việt nam bay sang Thái lan và các thiết bị, súng ống, đạn dược chưa chuyển tới Sài gòn hay đã mang ra khỏi hải phận, như một số chiến hạm, đều được thu về chủ quyền của Bộ Quốc phòng Mỹ:
“Hãy trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar”, đó là lời Chúa.
——————————–
1 Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 544, 562.
2 Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 563.
3 TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 24.
4 TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 24.
5 Nessen, It sure looks different from the inside, trang 115-116.
6 TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 26; 5 tháng 5, 1975, trang 26.
7 Nessen, it sure looks different from the inside, trang 115.
8 Nessen, it sure looks different from the inside.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.