Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 6 Sep 2025

4. Bạn cũ.

Ông Hy đứng dậy, rời khỏi ghế, tiến đến chiếc bàn kê cao dùng làm bục để đọc diễn văn. Hơi mất bình tĩnh, ông vướng cái áo vào góc bàn. Loay hoay một lát, ông mới ổn định ở vị trí. Ông rút từ túi áo trên cặp kính cận và bài diễn văn viết sẵn. Nói diễn văn, chứ thực ra đó là một trang giấy ghi vội ít dòng cảm tưởng của ông nhân ngày Thương binh liệt sĩ. Ông im lặng nhìn quanh để lấy bình tĩnh. Cái hội trường nhỏ của Ủy ban nhân dân phường chỉ đủ chứa vài chục người. Đa phần tham dự viên là các nhân viên làm việc tại phường, các công an khu vực, một số thương binh và vợ con các liệt sĩ. Ông Hy vừa nhìn giấy … lại vừa ứng khẩu. Ông nói, giọng cảm động: “Thưa các đồng chí, bầy tôi … tôi rất vui mừng đến …. đến dự lễ hôm nay. Nhân dân ta luôn luôn biết ơn những người … đã hy sinh. Thương binh, liệt sĩ có công to đối … đối với Tổ quốc. Họ hy sinh thân mạng, gia đình. Tổ quốc ta vẻ vang hôm nay … là … là nhờ họ. Đảng và

nhân dân rất quan tâm chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ. Nhưng đất nước ta còn khó khăn, Đảng còn trăm công ngàn việc phải giải quyết. Các đồng chí thương binh, các gia đình liệt sĩ phải phấn đấu hơn nữa, khắc phục khó khăn, tin tưởng ở chính sách của Đảng và Nhà nước … Bầy tôi … à … Chúng tôi tổ hưu trí phường, cố vấn Đảng ủy Phường chúc các đồng chí sức khỏe, thắng lợi. Dạ … xin hết …” Hội trường vỗ tay. Ông Hy bước xuống dãy ghế đầu, ngồi xuống, lấy khăn ra chậm mồ hôi. Xướng ngôn viên tiếp tục giới thiệu một đại biểu khác lên bục phát biểu. Ông vừa lắng tai nghe, vừa ngẩm nghĩ đến số tiền mà Tỉnh ủy cho nhân ngày lễ Thương binh Liệt sĩ. Ba mươi ngàn. Không đủ. Ông nhìn lá cờ đỏ sao vàng lớn giăng ngang hội trường, tượng bán than bác Hồ bằng thạch cao đặt trên bàn. Ở nhà, cái “bùng binh” đập ra cũng chỉ có hai chục ngàn. Ông vỗ tay khi đại biểu phụ nữ kết thúc bài phát biểu. Chết cha, bốn giờ rồi. Ông Hy giật mình. Ông dáo dác nhìn quanh, rồi e dè đứng dậy.

Ông đến bên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Phường nói nhỏ:

– Cho tui lui trước. Bốn giờ mười lăm là phải mở rạp quét dọn để chiếu xuất chiều.

– Trời, gần xong rồi, đồng chí rán ở lại chút nữa.

– Không được. Phải sắp xếp bàn ghế, quét dọn. Năm giờ chiếu xuất chiều rồi.

– Thế ai nhận bằng với lá cờ thi đua của Tỉnh?

– Ờ … thì nhờ tạm đồng chí nào đó cũng được. Tôi giữ chìa khóa rạp, phải đến sớm.

– Đồng chí sợ bọn con buôn đó à?

– Không phải, mình không làm họ thuê người khác.

Ông nhìn Chủ tịch Ủy ban với đôi mắt van lơn tha thiết.

Cuối cùng, Chủ tịch Ủy ban nói:

– Thôi được, tùy anh. Còn số tiền …

– À … đồng chí … à anh gởi nơi thằng Khiêm, con tôi.

Ông Hy vội vàng bước ra khỏi hội trường, lấy xe đạp đạp vội đi. Lúng túng làm sao đó, ông để quai dép cao su móc vào “pê đan” khiến ông suýt té, dây “sên” trật ra ngoài. Ông bỏ sên vào, đạp đi, lại trật nữa. Thấy không xong, ông dắt bộ, bụng hồi hộp, sợ trễ giờ không ai mở cửa cho cô bán vé. Vừa đi vừa chạy, rút cuộc ông cũng đến được rạp. Ông vứt đại chiếc xe đạp nằm ngã xuống vệ đường, hấp tấp lấy xâu chìa khóa mở cửa. Cô Bê-con ông chủ video-đang đứng đợi.

– Sao trễ vậy chú? Bê hỏi.

Ông Hy thở hổn hển:

– Phải dự lễ Thương binh Liệt sĩ ở Phường.

Cô gái không nói gì, đứng yên nhìn. Ông Hy loay hoay mở khóa, loay hoay quét dọn, sắp sửa lại ghế ngồi cho khán giả. Ông làm việc cần cù, cẩn thận. Như người lão bộc coi sóc khu vườn cho ông chủ nhỏ. Xong việc, ông ra ngồi trước cổng, xé vé. Khán giả vào rạp hết, ông ngồi canh cửa. Một

buổi tối ba xuất. Công việc đơn giản, không có gì nhọc nhằn, và hoàn toàn thích hợp với người có tuổi như ông Hy.

Có điều, lương hướng chẳng là bao. Độ này rạp vidéo tư nhân mọc lên khắp nơi. Khán giả phân tán, nên số người xem thưa thớt. Vả lại, phim chưởng Hồng Kông xem mãi cũng nhàm. Hàng tháng, người chủ trả cho ông ba chục ngàn. Chẳng nghĩa lý gì, nhưng việc sao, tiền vậy, ông Hy đâu có thể đòi hơn được. Có một việc, đã là may lắm rồi. Khi xuất hai vô rạp, chị bán hàng thịt ở phía trước bắt đầu dọn dẹp ra về. Chị kêu:

– Chú lấy mấy miếng xương này về hầm cháo ăn, chú.

Ông Hy cám ơn rối rít. Ông lấy mấy bịch ni-lông để cho chị bán hàng trút vào đống xương thừa đã róc hết thịt. Ông buộc cẩn thận, lòng vui mừng vì có chút thịt cho bữa ăn. Thỉnh thoảng, mấy chị bán hàng tốt bụng vẫn giúp ông như thế. Ông nhận, không hề thắc mắc, tủi hổ. Vì thực sự, ông quá cần.

Tan xuất cuối, đã mười giờ rưỡi đêm. Ông khóa cửa cẩn thận, rồi dắt chiếc xe đạp “cà tàng” đi bộ về. Bịch xương khá nặng, gác lên ghi đông xe, thỉnh thoảng rớt xuống đường nhựa, ông phải mất công lượm lên mấy lần. Đến nhà, Khiêm vẫn chưa về. Chắc có mối, ông thầm nghĩ. Đẩy cánh cửa khép hờ, ông luồn vào trong, nhẹ nhàng bật hộp quẹt châm ngọn đèn dầu nhỏ ở góc nhà. Có ngọn điện, nhưng ông không bật vì sợ tốn, hơn nữa, ông không muốn quấy phá giấc ngủ của hai đứa cháu. Ông rón rén đến giường hai đứa cháu, sờ đầu và bụng đứa bé lớn. Hâm hấp nóng. Cả hai đứa đều ngủ ngon lành. Mẹ chúng nằm vắt vẻo ở một tấm ván kê sát tường, chân cẳng thò ra ngoài chiếc mùng đã rách toe tua. Muỗi vo ve như hát. May mà có một cái mùng lành lặn cho hai đứa nhỏ, không thì, chắc muỗi ăn thịt chúng luôn.

Ông Hy lấy bịch xương bò ra, rửa ráy sạch sẽ, nhóm lửa bắc soong hầm. Ông nhìn kỹ thấy cũng còn khá nhiều thịt bám vào xương. Ông lẩm bẩm:

– Cũng có vài chén cháo cúng mẹ nó.

Ông loay hoay xếp đặt lại ảnh của vợ ông trên cái bàn thờ nhỏ, thì nghe có tiếng Khiêm về. Ông nhìn ra, thấy Khiêm đang dựng xe đạp. Ông hỏi khẽ:

– Thế nào, có mối hả Khiêm? Kiếm được khá không?

Khiêm gỡ cái mũ vải, vày vò lại chùi mồ hôi trên mặt, thở dài:

– Có mối mà rồi cũng như không. Đã thế, “lốp” sau còn lủng nữa.

Giọng ông Hy băn khoăn:

– Có chuyện gì vậy con?

Khiêm nhổ nước bọt:

– Tổ mẹ, chở một con điếm đi lên tận Linh Mụ. Hắn nói đứng đợi đó, hắn vô nhà người quen rồi trở ra. Tui đợi hoài mãi không thấy. Té ra hắn phỉnh tui, hắn trốn đâu mất. Mất công đợi cả mấy tiếng đồng hồ. Đạp về, đói bụng, lại bị đinh đâm lủng ruột. Cái ngày quỷ quái gì đâu, xui tận mạng.

Chú mới về à? Lễ lạc họ cho được mấy?

– Tỉnh cho ba chục ngàn. Mà con chở chi cái bọn gái đứng đường đó.

– Ai mà biết. Chừ mới biết. Nói thế, chứ biết cũng chở. Ai có tiền là chở.

Ông Hy nghe mùi rượu toát ra từ Khiêm.

– Say chưa?

– Chưa. Tiền đâu uống cho nhiều mà say. Uống một cốc về ngủ thôi. Hôm nay có ai cho chi không, chú?

– Có, xương bò.

– Tui đói bụng quá.

– Đợi một hồi nữa. Tau nấu cháo, múc ít chén cúng mạ mi đã.

– Sao chú không nấu miếng cơm?

– Cơm thì ăn với nước mắm hoặc muối ớt thôi. Mấy cái xương bò chỉ có hầm, thịt dính vào xương không róc ra được.

Khiêm nhìn ông Hy:

– Có ba chục ngàn tiền liệt sĩ của mạ tui, sao chú không mua một miếng gì mà cúng?

Ông Hy nhìn đứa con gái lớn của Khiêm:

– Thế vụ mỗ túi mật con bé lớn thì sao?

Khiêm gật đầu, im lặng. Một lát, anh lại hỏi:

– Mà ba chục ngàn mô có đủ?

– Tau có bỏ bùng binh hai chục nữa.

– Phải mất một trăm hai, cả tiền phòng, tiền bác sĩ, tiền thuốc. Theo tui, kệ xác nó.

Ông Hy nhìn Khiêm khó chịu:

– Con mi mà cứ như con ai không bằng.

– Thì tui mô có muốn đẻ.

Ông Hy tức tối:

– Mi không muốn đẻ thì ai muốn?

Khiêm liếc nhìn chị vợ đang ngáy:

– Chú với cái con chết bằm nớ chứ ai.

Ông Hy đun củi vào soong cháo:

– Say rồi cứ nói tầm bậy tầm bạ.

– Tui đâu có nói sai. Chú thì nói tui lấy vợ đi. Chú xin cho vô làm trong Thương nghiệp. Còn con vợ tui thì nói cứ đẻ để hắn có con hắn bồng, cực mấy hắn cũng nuôi.

Ông Hy dịu giọng:

– Cứ nói hoài cái chuyện đó. Thì tau cũng chạy đôn chạy đáo gặp đứa này đứa nọ để xin. Bọn chúng cứ hứa mãi. Bọn chúng nói mi Trung sĩ ngụy, nhiều khi cũng hơi khó.

Khiêm gằn giọng:

– Ngụy với không ngụy. Bày đặt ra cả! Tiền với không tiền thì có.

– Mi nói oan tụi nó tội. Bọn nó đứa nào cũng từng nằm hầm nằm hố với tao. Hạt muối cắn hai …

Khiêm gạt:

– Thôi được rồi! Chú có xin chưa chắc tui đã đi làm. Chú coi, cháo chín chưa?

Ông Hy lẳng lặng chăm lo nồi cháo. Khiêm rửa ráy xong, vào lấy chân hích hích vào người chị vợ:

– Dậy ăn cháo. Ngủ gì mà như chết.

Chị vợ ú ớ nhỏm người dậy, rồi lại nằm xuống ngủ tiếp.

Khiêm xua muỗi rồi đẩy chị vợ vào, chèn mùng lại, lẩm bẩm:

– Không dậy mà ăn miếng cháo thịt.

Khiêm lót giấy ngồi giữa nền nhà, nhìn ông Hy múc cháo. Ông lấy đũa rĩa chút ít thịt còn bám vào xương, dồn vào hai tô, sắp lên bàn thờ cúng bà Mẹo, vợ ông. Ông thắp nhang, khấn khứa. Mùi thịt phảng phất. Khiêm chảy nước bọt. Anh rút trong túi quần ra hai mẩu sắn, múc cháo chấm ăn. Anh lấy miếng sắn vớt lên những rẽo thịt hiếm hoi lẩn quất đâu đó trong soong cháo. Anh chíp miệng, cố thưởng thức cho hết hương vị của thịt. Anh nhìn ông Hy:

– Bữa nay, bụng tui toàn sắn với muối ớt. Tưởng trúng mối, mua ít con cá nục, té ra bị lừa.

Ông Hy bưng tô cháo, nhìn ảnh vợ ông, nhìn Khiêm, rồi nhìn hai đứa cháu, và cảm thấy lòng hơi ấm lại. Nghèo đói, rách rưới, nhưng sum họp. Chả bù với những ngày hẩm hiu, một mình một bóng ngoài miền Bắc, lòng cứ ngong ngóng vô Nam. Khiêm chợt nhìn ông, thở dài:

– Con vợ tui, hắn lại có mang nữa.

Ông Hy giật nẩy mình. Tô cháo suýt rớt xuống đất. Nhưng ông chợt trấn tĩnh. Sợ Khiêm để ý cử chỉ của mình, ông nói lãng:

– Mạ mi chết e cũng đã mười sáu, mười bảy năm rồi hé?

– Tui cũng không nhớ rõ. Tui đi lính, ở nhà xã nó gọi lên, gọi xuống rồi bắt đi mất tăm. Chết năm nào, ngày nào, tui chẳng biết.

– Bởi vậy tao lấy ngày Thương binh Liệt sĩ làm ngày giỗ.

Ông im lặng một lát, rồi chợt xuống giọng ngậm ngùi:

– Có ba chục ngàn tiền liệt sĩ lại chẳng có gì cúng cho mụ.

Khiêm định nói gì, nhưng im lặng. Anh nhìn hai đứa con, nhìn cái bụng vợ, thở dài. Ông Hy nói:

– Tao nghĩ hết cách rồi, chẳng biết kiếm đâu cho đủ tiền.

Khiêm đứng dậy, vỗ tay vào trán:

– Khổ ơi là khổ. Con đau, vợ đẻ, xe đạp thì hư.

Không để ý đến lời than vản của Khiêm, ông Hy nghĩ đến việc phải xoay chạy gấp số tiền để mỗ cho đứa cháu nội. Vì sau đó ông còn phải lo thêm một việc nữa: sự ra đời của đứa cháu thứ ba. Mọi việc, ông luôn luôn cảm thấy là của ông. Từ việc chiếc xe đạp thằng Khiêm hư đến dâu đẻ, cháu đau, nhà xiêu mái dột … Rồi việc Đảng, việc phường, việc giữ gìn phẩm chất của một đảng viên … Ông âm thầm lo lắng, xoay xở, thu vén. Bằng sự cần cù, chịu đựng. Không than van, trách cứ.

Ông bưng hai tô cháo trên bàn thờ xuống, đưa cho Khiêm:

– Mi ăn một nửa, để dành cho vợ mi một nửa. Còn một tô để cho hai đứa nhỏ.

Khiêm không chịu:

– Chú ăn một tô đi. Bốn bà con tui một tô cũng được.

– Không, tau có liên hoan chút chút ở phường rồi. Ông nói láo.

Khiêm yên tâm ăn phần cháo của mình và cất phần còn lại cho vợ con. Anh chùi miệng, chui vô mùng, hối ông Hy tắt đèn.

Ông Hy ngồi nghĩ xa nghĩ gần một lát rồi trải chiếu xuống nền, quấn tấm mùng rách quanh người, cố ngủ. Nghe tiếng cọt kẹt, tiếng thở hổn hển, tiếng hun hít ở giường bên của vợ chồng thằng Khiêm, ông lẩm bẩm:

– Tổ cha cái thằng, miệng thì cứ nói tui không ham cái thứ đó, mà đêm nào có chút rượu vào là hùng hà hùng hục, không ai ngủ được.

*

Ông Hy trằn trọc cả đêm, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ xa nghĩ gần mãi đến gần sáng mới chợp mắt được. Nhưng Khiêm kêu ông sớm:

– Tui lấy bánh xe của chú bỏ vô xe tui. Tui tranh thủ “thồ” sớm kiếm chút đỉnh. Chú liệu đi vá xe giùm tui.

Thế là ông đành thức dậy. Ông rút điếu Đà lạt hút. Con vợ Khiêm cũng đã dậy, ngồi trên tấm phản ngáp vắn ngáp dài. Nút áo đứt để lộ cái bụng trắng, tròn trịa. Ông Hy liếc nhìn. Đúng rồi, cô con dâu lại có mang. Thực là đã nghèo lại gặp eo. Nuôi hai đứa con lớn gần đứt hơi, chưa kịp lại sức, thì đứa lớn đau, túi mật bị sạn. Chưa xoay đủ tiền để mỗ, giờ lại phải lo chuyện sinh đẻ cho con dâu. Rốt cuộc, chỉ một mình ông. Vì ông muốn có một gia đình, một hơi ấm. Ông muốn bù đắp lại những ngày lăn xả ngoài chiến trường, những ngày cô độc khi đi tập kết ở miền Bắc.

Ông hỏi con dâu:

– Con sinh năm nay hay sang năm?

– Chắc năm nay. Mà anh Khiêm không cho sinh, anh nói tui đi phá thai, chẳng có tiền đâu để sinh, để nuôi con.

Giọng ông cương quyết:

– Bọn bây không nuôi, tao nuôi. Đừng nói bậy.

Cô con dâu bĩu môi:

– Nuôi cực, nuôi khổ như Chú tui hông ham. Tui phải phá thôi.

– Tổn đức con à. Giòng thằng Khiêm hiếm con.

– Cộng sản như Chú mà cũng mê tín à? Tui nhất định phá …

Ngẫm nghĩ một lát, cô dâu thở dài:

– … Mà phá cũng phải có tiền!

Ông Hy an ủi:

– Chịu khó đi con. Con cái là lộc …

Cô dâu cười:

– Chú cùng Đảng ủy phường đi vận động sinh đẻ có kế hoạch, mà sao lại hối tui đẻ cho nhiều … Nói thế, chứ tùy chú. Chú có đảng, có đồng chí, Chú rán nuôi cháu. Tui chỉ biết ngủ với đẻ.

Ông Hy im lặng. Cái kiểu nói của hai vợ chồng Khiêm ông nghe đã quen tai rồi. Chúng nó vô trách nhiệm. Chúng nó có quyền vô trách nhiệm. Như ông đã từng vô trách nhiệm. Bỏ nhà ra đi kháng chiến năm 16, 17 tuổi, cưới vợ

được có vài tháng, lại ra đi tập kết. Ở miền Bắc được vài năm lại “ra đi” chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Vợ ở nhà bị kêu lên, gọi xuống, rốt cuộc bị chết ở trong tù. Con đẻ ra lại đi lính Ngụy. Ông nghĩ mình không làm gì sai trái, nhưng vẫn cảm thấy có lỗi. Được việc cho Đảng, nhưng mất việc nhà. Bởi thế, đến cái tuổi sáu mươi, ông đưa cái vai gầy mòn, nhỏ bé của mình ra gánh.

Cô con dâu vươn người đứng dậy, ngáp rồi nói:

– Chú nghe chi chưa?

– Chưa.

– Phường sẽ dời trụ sở đi chỗ khác.

Ông Hy lại giựt mình.

– Sao tao lại chẳng nghe nói gì cả vậy?

– Hồi hôm ông chủ tịch ủy ban vào đây đưa tiền liệt sĩ cho Chú, luôn tiện báo việc đó để Chú sửa soạn.

Ông Hy cắn môi. Lại thêm chuyện nữa. Lâu nay ở tạm yên trong phòng sau của Trụ sở Ủy ban, nay lại phải dời đi. Đi đâu? Trụ sở mới có thừa chỗ để xin một góc không? Bây giờ ông Hy mới thấy bối rối. Ông nhìn hai đứa cháu còn say sưa nằm ngủ và cảm thấy xốn xang. Áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc, ăn uống bữa đói bữa no. Hồi xưa, khi đi làm cách mạng, ông mơ ước biết bao nhiêu! Ông sẵn sàng hy sinh với viễn tượng con cháu ông sẽ sung sướng, hạnh phúc. Bây giờ, con đó, cháu đó, không hơn bao nhiêu so với thời ông còn nhỏ. Thành tích ông có thừa, nhưng thành tích không đẻ ra tiền. Vả lại, ông không có đầu óc công thần.

Ông muốn sống lương thiện, không dựa dẫm, không van nài, đòi hỏi. Ông chúa ghét đám người chuyên môn lấy thành tích ra để tranh giành địa vị, tiền bạc. Giờ này, ông đang cần tiền để lo cho đứa cháu thân yêu của ông lên bàn mỗ. Với gia đình thuộc diện “chính sách”, bệnh viện có chiếu cố, xét giảm cho ông một số tiền, nhưng không đáng kể. Đắn đo suy nghĩ, rốt cuộc, ông chỉ còn một con đường: nhờ đám bạn cũ giúp đỡ. Bà con thì chịu rồi. Từ ngày ông về, bà con đã giúp đỡ ông nhiều. Lẽ ra, “miền Bắc nhận hàng, miền Nam nhận họ”, bà con giúp ông cái áo, cái quần, thì ông dùng cái thế “cách mạng” của ông để chạy việc làm, xin tha thuế, hay giảm năm cải tạo … Nhưng ông chẳng giúp được ai. Điều đó làm ông vẫn còn áy náy.

Thôi, vuốt mặt một lần, tìm tới với bạn bè vậy, đám bạn vẫn thường khen ông liêm khiết, nhưng chê ông nhát gan, sợ tay nhúng chàm.

Ông Hy đưa cô con dâu hai đồng, bảo đi vá xe cho thằng Khiêm, ôm hôn hai đứa cháu, rồi lấy mũ ra đi. Đến tìm ai chừ? Thằng Thản, Phó chủ tịch ủy ban phường, thằng Minh đồn trưởng đồn công an, thằng Hinh trưởng phòng

Hình sự, thằng Vương, giám đốc Thương nghiệp quận, hay thằng Nhuận, chủ nhiệm hợp tác xã Mây-Tre xuất khẩu?

Vừa đi, miệng rít những hơi thuốc dài, ông lần lượt vận dụng ký ức, kiểm điểm lại những khuôn mặt bạn bè, những người, lúc này lúc khác, vào sinh ra tử cùng ông trên chiến trường hay trong công tác. Có thằng đã xanh cỏ, có thằng tàn phế, có thằng phản bội, có thằng giàu sang, nhà cao cửa lớn …

Cuộc đời như một giấc mơ!

Ông Hy bước đi, đắm đuối trong hồi ức, kỷ niệm lớn, kỷ niệm nhỏ ào ào tràn về như nước lũ. Lục soát lại, bỗng dưng ông nhận ra, ông quá tốt, quá tình nghĩa với bạn bè, với đồng chí. Biết bao lần, ông trụ chốt để thằng Thản, thằng Minh rút lui khi bị địch truy kích. Thằng Nhuận thì ông cõng chạy xuống hầm. Thằng Hinh thì ông bênh vực hết mình trong cuộc họp đảng ủy để hắn khỏi bị hạ tầng. Thằng Vương thì đúng là hạt muối cắn hai, khi ở chung hầm cũng như khi về cứ. Còn, còn nhiều nữa. Thế mà tụi nó tệ, tệ thật. Kể từ ngày ông xin nghỉ hưu vì bệnh, chẳng thằng nào ghé lại. Chúng nó chê ông nghèo mà không thông thời vụ. Chợt nhớ ra một điều, ông lẩm bẩm:

– À, thằng Vương còn có tình. Hắn lo cái vụ liệt sĩ cho mụ vợ. Hay mình ghé thằng Vương … À mà giờ này hắn đâu có nhà, về huyện thì xa quá. Hay đợi tối vậy. Tính tới, tính lui, ông Hy quyết định quay về nhà, đợi tối.

*

Dắt xe đạp ra khỏi rạp vidéo, ông Hy còn ngoái đầu lại dặn thằng Khiêm:

– Nhớ là luôn luôn ngồi ở cửa rạp. Đừng uống rượu. Lớ xớ là mất việc như chơi. Đây là việc tư nhân, chứ không phải việc nhà nước. Làm ăn ấm ớ, họ đuổi tau liền.

Vương làm việc ở huyện, nhưng lại có cái nhà ở thành phố. E cũng cả mấy năm nay, ông không ghé. Ông tự ái. Đáng lẽ ra hắn phải ghé thăm mình mới phải. Đời hắn đi lên, trong lúc đời mình đi xuống. Vả lại, cái chỗ thương

nghiệp của hắn bây giờ là ông nhường cho, mà cũng chẳng phải vậy. Hồi đó, mấy anh trên giao cho mình nắm cái thương nghiệp, mình sợ trách nhiệm mình đùn cho nó. Làm thương nghiệp trước đây vốn có tiếng mà không có miếng, rất dễ bị ở tù, lại bị bà con bạn bè hay lui tới quấy rầy. Ông muốn yên thân, xin làm y tế cho khỏe. Ai ngờ, thời thế đổi thay. Cái thằng thương nghiệp đâm ra ngon. Tự nhiên, ông nuốt nước bọt. Chẳng biết nhờ hắn giúp đỡ, hắn có khinh mình không.

Nhà ông Vương ở tận Tây Linh, gần sát bờ thành. Tay này cũng lanh, giải phóng xong chụp ngay cái nhà của một gia đình bỏ đi, nhờ phường hóa giá. Hồi chiến tranh, anh ta lù đù là thế, đến khi hòa bình, lại trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn và xoay xở rất giỏi. Chỉ có ông, vâng, chỉ có ông quá kém. Cũng không phải ông kém. Trước sau như một, chỉ vì ông tin, tin ở chủ nghĩa, ở đảng, ở mấy anh trên. Ông tin rằng đảng đã đánh thắng được giặc thì đảng cũng thực hiện được sự công bằng, bình đẳng trong xã hội. Nghĩ ngợi lang bang điều nọ, điều kia, ông Hy đến nhà ông Vương hồi nào không hay. Ông dụi mắt nhìn lại số nhà và cây nhãn lớn trước ngõ. Thì đúng là nhà Vương, bạn ông. Nhưng sao lạ thế này. Dựa vào chiếc xe đạp, ông đứng ngẩn người ra nhìn quanh. Nhà hai tầng kiểu hiện đại, tường cao vây quanh vườn, mái hiên rộng, cửa kính cửa cổng tân kỳ.

Chẳng khác gì ngôi nhà của một tay trưởng ty hay tư sản nào đó thời trước. Trong đầu óc ông, ông cho rằng tất nhiên là Vương phải khá hơn hồi trước, nhưng không thể nghĩ là Vương lại có thể giàu có như thế này. Hắn được vàng hay hắn trúng số? Ông tự hỏi.

Tiếng chó chợt sủa ầm lên khiến ông giật mình. Một con chó to cao dềnh dàng ào ra. Ông luống cuống để rơi chiếc xe đạp xuống đất. Ông định thoát ra ngoài, thì một người đàn bà chạy ra la chó. Vừa nhìn thấy ông, người đàn

bà la lên:

– Trời, anh Hy. Anh vào hồi nào mà không lên tiếng gì cả vậy?

Ông Hy lắp bắp:

– Chị Vương đó à. Ai mà biết chị nuôi con chó Tây to vậy. Hồi trước muốn vào thì tôi cứ vào đại, chứ có lên tiếng gì đâu.

Người đàn bà cười:

– Xin lỗi, tôi quên. Anh Vương tôi mới mua con chó bẹc dê mấy tháng nay. Ối giời, chó Tây mắc lắm, mà anh Vương tôi lại thích chó mới phiền. Chỉ rưỡi lận, đó anh Hy.

Con chó ngừng sủa, chồm chồm lên cánh tay chị Vương.

– Trời, chỉ rưỡi!

Như được trớn, chị tiếp:

– Ăn nhằm gì anh. Con chó của ông Nghị, thương nghiệp Tỉnh đến hơn hai chỉ cà. Anh Vương tui mua thế là rẻ đấy. Chả là, mình có giúp họ đôi ba việc lăng nhăng gì đó, họ vừa bán vừa biếu. À mà mời anh vô nhà. Có anh tôi trong … À, mãi nói bậy bạ quên hỏi chị và mấy cháu độ này thế nào, làm ăn khấm khá không?

– Dạ cũng thường, chị. Mà chị quên rồi … Nhà tôi mất từ lâu.

Chị Vương xuề xòa:

– Ấy chết, xin lỗi anh, già rồi lẩn thẩn, quên trước quên sau, chị nhà được cái liệt sĩ mà … Anh Vương ơi, có khách quý đấy nhé. Nhớ giữ anh ấy lại lai rai chơi. Anh Vương ơi … Anh Hy, anh đi lối này, có cái thảm chùi chân phía trước. Cái cửa lớn kia ít khi mở lắm, chỉ khi nào tiếp mấy anh trên tỉnh hay trung ương về mới mở. Mình như trong nhà, anh Hy há. Trông anh độ này ốm dữ hén!

Ông Hy im lặng nghe chị Vương nói. Chị nói giọng Bắc, pha chút Huế, chút Sài Gòn trông ngồ ngộ. Bộ quần áo lụa trơn, khá mỏng, đồ lót bên trong nổi bật lên khiến ông Hy không dám nhìn. Ông theo lời chỉ dẫn, bước vào trong

nhà. Nền nhà láng bóng, vách mới tinh tươm, tranh ảnh dán đầy. Tây có, Tàu có. Giữa phòng khách, có bộ xa lông khảm xa cừ, tủ búp phê với đủ thứ rượu. Tượng bán thân Hồ Chí Minh bằng thạch cao kê trên một chiếc ghế riêng bằng đá. Ba bốn tấm huân chương kháng chiến lồng kính, cái treo trên tường, cái dựng trên tủ. Tự dưng ông Hy cảm thấy lạc lõng như đi vào một xứ lạ. Người bạn chiến đấu xưa như xa hẳn tận nơi nào. Ông đứng lặng giữa gian phòng, người chợt lạnh ngắt.

Giọng nói quen thuộc của ông Vương kéo ông ra khỏi trạng thái xúc động kỳ quặc đó:

– Hy đâu, ông lặn nơi nào mà dữ vậy ông?

Ông Vương xuất hiện giữa phòng khách, tươm tất trong bộ pi-ja-ma thẳng nếp, mặt mày hồng hào, tươi tắn:

– Làm gì mà đứng sững vậy. Vào đây, ông bạn. Trời, lâu quá không gặp nhau. Ông tệ thì thôi. Rảnh rỗi chẳng thèm ghé. Tôi thì ông biết đó, chẳng có chút thì giờ. Hồi đánh giặc nguy hiểm là thế, gian truân là thế mà chẳng

thiếu thì giờ hàn huyên. Giờ hòa bình lập lại, công tác lu bu, hết họp hành lại đi công tác. Riết, vợ con cũng đâm chán. Nói thật với ông, nhiều khi không phải nói dại chứ, tôi thấy hồi đánh giặc thế mà thoải mái hơn nhiều, tình nghĩa hơn nhiều.

Ông Vương vừa nói vừa cười hể hả. Ông vít vai ông Hy kéo đi vào phòng trong:

– Vào đây, vào đây, đêm nay ta nhậu một bữa cho đã. À, mà này, thằng con ông độ này ra sao? Có việc làm chưa? Nhà cửa thế nào?

Ông Hy buồn rầu lắc đầu:

– Tôi không có được may mắn như ông. Không nhà, không cửa, không việc.

Ông Vương ôm hai vai ông Hy xoay lại, nhìn thẳng vào mặt ông Hy:

– Ông thì khi nào cũng nói giọng tiêu cực. Ông không có vì ông không thích thôi. Ông trong sạch, liêm khiết.

Ông Hy gỡ tay ông Vương ra, cười:

– Thôi, đừng móc họng tôi nữa. Tôi có hề nói tôi liêm khiết, trong sạch gì đâu. Tánh tôi, có gì nói nấy. Ông Vương cười theo:

– Tôi cũng thế, nghĩ sao nói vậy. Ôi, mà thôi, sá gì ba cái lăng nhăng trẻ con đó. Vào đây, vào đây. Đời người không mấy chốc! Có mấy người bạn đang nhậu.

Hai người đi vào phòng ăn. Phòng ăn khá rộng. Một cái bàn có phủ khăn, đồ ăn, bia bọt ngổn ngang. Hai người đàn ông đang nhậu. Thấy ông Hy vào, họ đứng lên bắt tay.

Ông Vương giới thiệu:

– Đây là anh Hy, người bạn thân nhất của tôi. Còn đây, anh Hà, hiện đang hợp đồng kinh doanh với Thương nghiệp Huyện, chú Toán, trưởng ban Tài vụ. Ngồi, ngồi xuống đi ông Hy. Cũng người quen biết cả.

Ông Vương mở lon Heineken, rót vào ly cho ông Hy và đề nghị:

– Nào, ta cụng ly một cái cho khí thế.

Ông Hy nâng ly lên, uống cầm chừng. Vừa uống, ông vừa quan sát những món ăn: sò huyết ăn với muối tiêu có vắt chanh, nồi trường kẹp rau sống chấm mắm nêm, lươn xào lăn, à, có cả lòng heo, món ông rất thích. Góc bàn bên kia có một đĩa gì là lạ, ông chưa hề thấy, chắc là gân. Không biết món này thế nào. Ông bỗng thèm ăn dễ sợ. Ông đói bụng. Vả lại, toàn món ngon vật lạ. Ông cũng có dự tiệc tùng, liên hoan nhiều, nhưng ông có cảm giác bàn ăn hôm nay trông đã quá.

Toán, còn trẻ, chắc cỡ hai mươi mấy, đứng dậy:

– Chú Hy uống chưa hết. Mời chú “vào ba ra bảy”. Chú vào sau, phải ba ly tiếp, gọi là “chào bàn”.

Ông Hy lắc đầu:

– Tôi không quen chú à.

Toán lắc đầu quầy quậy:

– Không được đâu, chú phải ba ly chào bàn. Nếu cần, cháu xin phép tiếp chú.

Người đàn ông tên Hà cũng tán đồng, nâng ly mời:

– Chú Toán nói phải đó. Nào, mời anh, ta cụng nhau làm quen.

Ông Hy năn nỉ:

– Xin lỗi mấy anh, tôi chịu, để cho tôi từ từ.

Ông rán núc hết ly bia. Hà ngồi gần bên, nói tiếp:

– Cứ uống đại đi anh ơi. Say đâu có chết ai. Có uống mới vui, uống mới thật.

Hà trông nhỏ tuổi hơn ông Hy và ông Vương. Anh mở gói thuốc “ba số năm” mời ông Hy hút. Ông hút thử thấy nhẹ hẫng, không đã bằng thuốc rê. Ông Vương gắp cho ông miếng nồi trường:

– Ăn đi, ông bạn, món đặc biệt đó, phải đặt trước mới có.

Ông Hy chấm miếng nồi trường kẹp rau sống ăn. Nhai thấy dòn dòn, đã miệng, nhưng không được ngon, có lẽ vì loại này trơn, chấm nước không thấm. Ông nhìn đĩa lòng. Gan có, tim có, cật có. Lòng ăn khoái khẩu, nhất là chấm nước mắm chanh tỏi. À có, chén nước mắm nằm khuất dưới đĩa rau sống.

Ông Vương vỗ vai ông Hy và nhìn hai người kia:

– Có thể nói anh Hy là bạn nối khố của tôi. Bọn tôi chơi thân nhau từ hồi còn giữ trâu dưới làng. Cùng đi kháng chiến, lại cùng ở đơn vị. Anh huyện ủy viên vừa chiến đấu vừa làm công tác y tế. Tính anh hay giúp đỡ bạn bè lắm. Anh giúp tôi nhiều phen. Hạt muối cắn hai. Đúng là hai đứa tôi hạt muối cắn hai.

Toán cười:

– Giờ thì lon bia chia hai.

Hà vỗ tay hoan hô. Ông Vương mở một lon bia, chia hai:

– Vô, ông Hy. Đời không mấy chốc ông giữ gìn làm chi cho lắm.

Ông Hy rán uống hết. Ông cảm thấy trong người bừng bừng. Ông gắp mấy miếng lươn ăn. Ông rùng mình. Ngon quá. Thấy hứng khởi, lợi dụng lúc mấy người kia trao đổi gì đó, ông gắp thêm mấy miếng nữa, kẹp xà lách, và nhanh vào miệng. Trông bộ mấy tay nhậu này cũng chẳng quan tâm gì đến việc ăn. Họ hút thuốc liên tục. Thuốc ba số năm để cả “tút” trên bàn. Ông lấy một điếu nữa, đốt hút. Không cảm thấy ngon. Nhưng dù sao cũng đắt tiền. Một điếu có cả sáu, bảy trăm đồng trong lúc một ngày ông hút thuốc rê chưa tới đồng bạc. Hút cả uổng, ông nghĩ. À, sao mình không cất vài điếu. Thế là, chốc chốc, ông lại giả vờ rút một điếu làm như hút, nhưng lại bỏ vào túi quần. Ba người đang bàn bạc chuyện làm ăn. Ông lắng nghe, nhưng không hiểu mô tê gì hết. Ông tự nhiên ăn và rót bia uống. Lúc này ông cảm thấy khoái mùi bia. Ông mở lon, rót từ từ vào ly, nhìn bọt bia ùn lên miệng, và những hạt lăn tăn liên tục từ dưới đáy ly trồi lên, trông thực vui mắt.

Hà chợt xoay sang ông Hy:

– Kìa, ăn đi anh. À, anh thử món này chưa. Toán, đẩy đĩa “ngầu pín” qua đây.

Toán đẩy sang. Hà gắp bỏ vào chén ông Hy:

– Anh biết món này là món gì không?

Ông Hy lắc đầu. Hà ghé tai ông Hy nói nhỏ:

– Là c. bò đó.

Ông Vương cười:

– Ông thử ít thôi, chứ nhiều vô thì phiền vì không có “bãi đáp”. Thứ này là đại bổ dương, ông biết không?

Toán thắc mắc:

– Sao lại không có “bãi đáp”, chú Vương?

– À, tôi cũng quên nói cho mấy ông rõ. Chị Hy chết trước giải phóng. Chị là liệt sĩ. Nhiều khi nghĩ thấy tội bà thật. Lấy chồng có mấy tháng, chồng lên chiến khu rồi đi tập kết biệt tăm. Ở nhà bị bắt lên bắt xuống … ờ mà thôi, xin lỗi anh Hy, nhắc chi mấy chuyện cũ, buồn chết. Thôi uống!

Ông Vương mở bia lốp bốp, rót vào bốn ly:

– Nào, “dô”.

Ông Hy cũng hăng hái nâng ly. Bây giờ, ông uống thấy hăng hái dễ dàng và cảm thấy sảng khoái. Ực ực, ực ực, cuống cổ ông trồi lên trụt xuống đưa những hớp bia mát lạnh, kỳ thú đi vào cơ thể. Đặt ly xuống, ông cầm đũa ngắm nghía các món ăn. Thêm vài miếng ngầu pín nữa đi. Lạ miệng, nghe cũng ngon. Rút thêm một điếu ba số năm nữa. Rít vào một hơi, thấy lâng lâng. Ông đưa tay bóp bóp túi quần, đếm thử. Xem chừng cũng được bảy, tám điếu rồi. Về đổi thuốc rê hút. Hay bán lấy tiền cũng được. Tụi nó thừa tiền, xài phí như thế, không lấy cũng uổng. Ông Vương quay sang bàn tính chuyện cơ quan với Toán: nào tỷ suất đô la, thuế quốc doanh, thuế xuất khẩu, thuế nuôi trồng rừng … Ông Hy uống một hớp bia, quay sang Hà ngồi kế bên:

– Anh hợp đồng làm ăn với Thương nghiệp huyện?

– Vâng, tôi hợp đồng trầm và gỗ. Anh bây giờ làm gì, ở đâu?

– Tôi về hưu bốn năm rồi.

– Về hưu sớm thế.

– Tôi ưa nghỉ ngơi cho khỏe. Anh trước công tác ở cơ quan nào?

Ông Vương nghe hỏi thế, xen vào:

– Trưởng ban hai quận đấy!

Ông Hy ngạc nhiên:

– Trưởng ban hai quận. Vậy anh là ngụy?

Ông Vương cười:

– Thì không ngụy chẳng lẽ Việt cộng. Ngụy thứ thiệt đấy, anh có ngán không?

Ông Hy núc tiếp một hơi bia, chùi miệng, nhìn vào mặt Нà:

– Anh sĩ quan chế độ cũ mà có đi học tập cải tạo không?

Hà cười:

– Sơ sơ bảy năm thôi. Tôi được xếp vào loại ác ôn.

Ông Hy lẩm bẩm:

– Bảy năm … bảy năm thôi à. Ban Hai là cơ quan bắt giam người.

Ông hỏi Hà:

– Anh ở quận nào?

– P.N. Sao, quê anh ở đó hay anh hoạt động ở đó?

– Anh có biết bà Đặng thị Mẹo không?

– Không anh à. Mà ở làng nào?

– Làng N.

– Tôi biết làng N, nhưng chẳng nhớ ai tên là Mẹo cả. Lại nữa, lâu quá, mười mấy năm giải phóng rồi, tôi cũng quên hết.

Ông Hy chợt nghiêm mặt, nhìn thẳng vào mắt Hà:

– Tôi thì tôi không quên. Anh là Trung Úy Hà. Trưởng ban Hai quận P.N. Anh bắt vợ tôi và tra tấn vợ tôi đến chết. Đặng thị Mẹo là vợ tôi.

Hà đặt ly bia xuống bàn, ngạc nhiên nhìn ông Hy.

– Tôi không hề biết ai là Đặng thị Mẹo và tôi cũng chẳng tra tấn ai đến chết.

Ông Hy gằn giọng:

– Có. Tau … à … à … tôi có bằng chứng.

Hà xô ghế đứng dậy:

– Anh … ông không phải quản giáo, không phải chấp pháp, ông làm gì ông thẩm vấn tôi … Tôi có tội, tôi đã đi cải tạo.

Ông Hy cũng xô ghế đứng dậy. Đột nhiên ông thấy một nỗi giận dỗi tràn lên, hòa với một sự hưng phấn kỳ lạ, y như thể ông vừa chụp được một kẻ thù từ lâu vuột mất. Ông cầm ly bia lên tay, mắt trừng trừng nhìn Hà. Thấy không khí đột nhiên căng thẳng, Toán chạy qua đứng giữa hai người. Còn ông Vương vẫn bình tĩnh ngồi, vừa nhấp bia, vừa nhìn hai người. Toán năn nỉ:

– Xin chú, xin anh. Chuyện gì có đó. Gây gỗ nhau mất vui. Chú Vương chú buồn.

Ông Hy bỗng đột ngột nguôi ngoai, y như lúc nãy đột ngột giận dỗi. Ông ngồi xuống, lấy gói thuốc rút một điếu nữa, châm hút. Hà cũng từ từ ngồi xuống. Anh nuốt nước bọt, mở một lon bia khác. Ông Hy gắp một miếng lòng heo, không chấm nước mắm, bỏ vào miệng nhai. Bàn nhậu lắng xuống một lát. Ông Vương bưng thêm một thùng bia để lên bàn, đẩy đến khoảng giữa Hà và ông Hy, cười:

– Tôi cũng trông hai anh đụng độ nhau một trận cho vui, hóa ra không có gì. Tôi phạt hai anh một thùng, rán uống cho hết, vì cái tội gây rối bàn tiệc.

Ông Vương khui thùng, mở hai lon đưa cho hai người.

– Trăm phần trăm đi, rồi tôi nói chuyện này cho nghe, vui lắm.

Hà ngữa cổ, núc một hơi. Còn ông Hy rót vào ly, uống mấy lần mới hết. Ông gắp tiếp một miếng lươn, kẹp rau sống và lá giấp cá, bỏ vào miệng nhai ngồm ngoàm. Ông Vương vỗ vai ông Hy:

– Đời có nhiều chuyện thực đáng buồn cười. Anh có nhớ cái vụ liệt sĩ của chị, tôi làm cho anh trước đây không?

– Sao không nhớ. Hôm qua, tôi mới lãnh tiền của Tỉnh.

– Chính ông bạn Hà giúp ông đấy.

– Giúp tôi? Ông này là ngụy, mắc chi giúp tôi?

Hà cũng nhìn ông Vương thắc mắc:

– Tôi giúp?

– Anh còn nhớ, tôi với thằng Điềm, Trưởng Công an Huyện nhờ anh ký xác nhận vụ huyện bắt giữ bà Đặng thị Mẹo không?

Hà sực nhớ, gật đầu:

– Ừ, có. Hồi đó tôi ngán gần chết, nhưng nể mấy anh tôi cũng ký đại.

Ông Vương nhìn ông Hy:

– Chuyện thế này: Vụ chị chết không rõ ràng, thiếu bằng chứng, tụi xã không chịu lập hồ sơ liệt sĩ. Vả lại, tụi nó nói con anh đi lính ngụy, nhân chứng lại chết hết. Cuối cùng, thằng trưởng Công an Huyện tìm được một cách: nhờ anh Hà đây, vốn Trưởng ban Hai quận, ký xác nhận có bắt giữ và có biết bà Đặng thị Mẹo chết trong tù. À mà chuyện này anh biết rồi mà.

Ông Hy nhìn Hà, ấp úng:

– À, hóa ra, cái giấy là anh … à … ông Hà này ký à.

Ông Vương cười:

– Chẳng lẽ có hai Hà, Trưởng Ban Hai quận P.N. À, mà thôi, chuyện cũ xí xóa. Uống cái đã! Đời mấy chốc.

Ông Hy nhìn Hà bối rối:

– Tôi … tôi hơi bậy.

Hà cười:

– Không sao. Tôi đi ở tù bảy tám năm, chứng kiến nhiều cảnh cười ra nước mắt. Hồi đầu, tôi bị biệt giam sáu tháng, chỉ để khai báo. Nhớ trước quên sau, tôi khai lung tung, chặp loạn trí luôn, chẳng còn nhớ gì ra gì nữa. Bây giờ, cải tạo về rồi, lâu lâu huyện còn kêu lên hỏi tiếp.

Anh cụng với ông Hy một ly bia, nói tiếp:

– Việt cộng với ngụy đôi khi cũng là cái số. Năm 1954, hồi đó tôi còn nhỏ, thấy chú tôi dẫn thằng em đi tập kết, tôi đòi đi theo. Chú đã đồng ý cho đi, ông nội tôi chạy ra giành lại. Rốt cuộc, thằng em con chú tôi Đại úy bộ đội, còn tôi là Trung úy Cộng hòa.

Ông Vương vặn cát xét băng nhạc hải ngoại. Giọng Tuấn Vũ rền rĩ. Ông quay sang Toán:

– Mai cậu nhớ điều xe chuyển lô hàng vô Cảng. Tối nay uống vừa thôi. À, anh Hà ơi, tôi nghĩ anh nên trực tiếp gặp ông Vĩnh thứ trưởng để lo vụ thuế xuất khẩu. Chịu “chi” một ít cho yên. Còn tôi, tôi lo vụ thuế nuôi trồng rừng

cho ông. Gần tổng kết rồi, phải lo kiếm chác một ít để hỗ trợ cho các cụ trên tỉnh với huyện. Ôi, cứ gần đến tổng kết là tôi nhức đầu. Xoay như cái vụ.

Ba người lại tiếp tục trao đổi nhau về việc làm ăn. Ông Hy lắng nghe, nhưng hơi bia đã thấm, ông chỉ nghe lảng vảng. Thỉnh thoảng ông lại gắp một miếng lòng hay lươn, kẹp rau, nhai. Giờ, mãi bàn chuyện, nên cả ba người chẳng ai thúc ông uống bia nữa. Ông chỉ nâng ly hớp cầm chừng.

Ông nhìn gói thuốc, đĩa rau, chén nước mắm. Thỉnh thoảng đi tiểu rồi ra ngồi. Mấy đĩa thịt, lon bia đã thấy xoay xoay trên bàn. Chúng mờ dần, mờ dần trước mắt ông. Ông có cảm giác như mình đang bay, đang bay. Đột nhiên, ông có ý nghĩ phải lấy một gói thuốc nguyên. Ông với tay lấy một gói bỏ vào bọc, rồi gục xuống bàn. Tiếng hát Tuấn Vũ nghe như từ một thế giới nào vọng lại.

*

Tỉnh dậy, ông Hy thấy mình đang nằm trên ghế xa long ở phòng khách. Ông dụi mắt, nhìn quanh không có ai. Ông đứng dậy, rờ rẫm quanh người, gói thuốc ba số năm còn nằm trong túi. Ông rút ra nhìn. Gói thuốc đẹp, sang, giấy dầu bọc còn nguyên. Ông lục túi quần. Mấy điếu thuốc ông cất đã bị

dẹp, có điếu nhàu nát, đứt hai. Ông lấy một điếu, vuốt thẳng, châm hút. Hơi thuốc đi qua cổ họng khô, rát. Ông bước đi chân không trên nền nhà, mát, lạnh, tìm đôi dép. Đôi dép Bình Trị Thiên bao năm của ông nằm ở một góc

nhà lẻ loi, riêng biệt, cạnh một đống giày, dép Thái Lan, Sài Gòn đủ kiểu. Ông xỏ dép, đi ra, tìm cái nón cối. Có tiếng chó sủa oang oang ở nhà dưới. Một cô gái chạy ra. Ông hỏi:

– Ba cháu mô?

– Dạ, ba cháu đi công tác Hà Nội sáng nay. Vì có lệnh đi gấp, không đợi được để chào bác. Ba cháu nói khi nào rảnh, bác ghé chơi.

Ông Hy chậc lưỡi, lẩm bẩm:

– Chết cha, định hỏi hắn kiếm ít tiền, mà hắn lại đi mất.

Ông dắt xe đạp ra cửa, đầu óc váng vất, lâng lâng. Ông có cảm giác như đi trong mơ.

Tháng 8/1994


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply