Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 8 Sep 2025

9. Dùng dằng.

Đợi đám bạn bè kéo xuống hết khỏi cầu thang, Phước kéo Diễm:

“Đi em!”

Diễm ngạc nhiên:

“Gì mà vội thế. Anh xem, phòng ốc còn tùm lum thế này.”

Phước nhìn Liên đang nằm thiêm thiếp trên sàn nhà, chiếc áo sơ mi sút hạt nút dưới để lộ cả rốn:

“Cô ta dậy, cô ta sẽ dọn.”

“Đâu được. Tỉnh dậy, thấy tụi mình bỏ đi, đã giận rồi, phải nhìn nhà cửa ngổn ngang thế này, chịu sao được. Đợi em một tí đi.”

Phước cương quyết:

“Không được. Em loay hoay, Liên dậy, lỡ việc hết.”

Diễm nhìn Liên, rồi nhìn sàn nhà đầy vỏ bia chai, bia lon, thịt, chả, ruốc, rau … lòng ngần ngừ, không quyết. Phước ôm lưng Diễm, bồng nổi nàng đến cầu thang:

“Cái cảnh này ở đây xảy ra dài dài. Không chừng mai trở về vẫn còn đó cho em dọn.”

Hai người bước xuống thang gác. Phước dắt xe Honda ra. Diễm kéo tấm cửa sắt lại, cười:

“Tội Liên, nằm say một mình.”

“Thôi, đừng có tình cảm vẩn vơ nữa. Leo lên xe đi.

Anh phải đi đổi chiếc Dream II nơi thằng bạn. Loại cúp 81 này chạy đường xa yếu lắm.”

Chiếc xe gắn máy một trăm phân khối của Nhật vọt nhanh, đưa hai người ra xa lộ, đến Ngã Ba Vũng Tàu, quẹo phải. Diễm mặc quần Jean, áo cánh cụt, hở ngực, tóc cột cao kiểu đuôi ngựa, tay ôm chiếc sắc. Phước rú ga chạy bảy, tám mươi cây số một giờ. Đường về Vũng Tàu độ này tương đối tốt, vì thường xuyên được tu sửa để đón khách du lịch. Trời chiều. Gió lồng lộng. Diễm ôm chặt Phước, mặt úp vào vai anh, hít thở mùi gió lẫn mùi đàn ông nóng hổi. Thỉnh thoảng nàng ngửi thấy cả mùi bia. Nàng hỏi:

“Bia trong người nhiều lắm đó nhé. Coi chừng cả hai đứa đi đong luôn.”

Phước nghiêng mặt:

“Nhằm nhò gì. Có bia vào chạy xe đã lắm.”

“Tội lắm, ông nội. Để tôi qua Mỹ rồi chết.”

Như để trêu thêm Diễm, Phước lại nhấn ga. Tám mươi. Tám lăm. Chín mươi. Nàng la:

“Đừng giỡn với tử thần nhé. Em giận, em đòi về, đừng trách.”

Phước giảm ga, đưa tay véo vào đùi Diễm. Nàng kêu đau. Phước cười:

“Để mai sang bên đó cho nhớ. Tưởng tượng cảnh cái thằng kỹ sư đó nó ôm em, rồi nó rờ rẫm, rồi nó ngọ nguậy, rồi nó … tùm lum, mà tức.”

Diễm vuốt má Phước:

“Ai tức. Ai ăn hớt trước. Anh ấy mà biết em lăng loàn như thế này chắc uống thuốc tự tử quá.”

Phước cười trong gió:

“Lăng loàn? Nghe đâu như thế kỷ trước. Em nhớ là sắp sang thế kỷ hai mươi mốt rồi nhé. Mà lại, ai chả lăng loàn. Bộ anh chàng kỹ sư bên Mỹ trung trinh lắm nhỉ.”

“Em nói giỡn chơi. Có điều, nghĩ lại, thấy nhột trong người.”

Phước nghĩ Diễm nhột với Nữa, chồng nàng. Còn Diễm thì khác. Nàng cảm thấy nhột với Liên. Tỉnh dậy, thấy vắng nàng, cô ả dám giận cá chém thớt, đá luôn đồ đạc trong phòng. Đã có một lần như vậy, trước đây. Nghĩ đến cái cảnh sáng nay, Liên cù chầy cù mài năn nỉ mẹ chồng nàng để nàng đi chơi và ở lại đêm, mà thấy tội. Nhưng dù sao, đi với Phước cũng thú hơn. Dù sao, Phước là đàn ông. Vững, chắc, dứt khoát. Từ nụ hôn cho tới cái bíu tay, hơi thở. Liên vụng về, ham hố và bất lực. Lại nữa, Liên là đàn bà. Tội nghiệp, chỉ có Diễm chìu. Nàng đi rồi, còn lâu Liên mới có bạn. Cô ta sẽ sống như thế, như thế, cô đơn, vụng trộm, bất an.

Phước nói:

“Nghe nói con đường này sẽ được tụi Nhật đầu tư, hiện đại hóa.”

“Ù.”

“Ù.’

“Xe gắn máy có quyền chạy trên trăm cây số giờ.”

Gió thổi những câu nói của Phước tan loãng ra, rơi rớt đâu đó phía sau hoặc hai bên đường. Nhưng chàng ta vẫn cứ nói. Thỉnh thoảng, nàng cảm thấy nước bọt từ miệng Phước bắn vào mặt nàng. Nàng không chú ý xem thực sự Phước đang nói gì. Nàng trông chóng đến. Biển. Vài lon bia, lâng lâng. Và căn phòng. Gối. Nệm. Lăn lộn. Và những lời dối trá cứ như thật. Phước dối. Diễm dối. Thương em lắm. Thương anh lắm. Nhưng mỗi người đã có một cõi riêng, hoàn toàn chẳng dính dấp gì nhau. Em đi. Anh ở. Rồi thôi.

Diễm còn nhớ lần đầu tiên quen Phước ở một tiệc sinh nhật, Phước đùa “Như Diễm với mình mà yêu nhau được thì vui biết mấy. Diễm thì phải đi. Mình thì phải ở. Mình chẳng nợ gì nhau. Mình yêu nhau ngăn ngắn. Yêu dài thấy mệt lắm!”

Ý tưởng trông cũng ngồ ngộ. Vả lại, mai mốt đi Mỹ rồi, sợ gì. Và Diễm chấp nhận thứ tình yêu ngăn ngắn đó. Vũng Tàu. Bãi Trước. Những hàng dừa. Cát. Diễm thấy bâng khuâng. Có phải là lần cuối cùng mình đến đây? Đột nhiên, Diễm nhớ Toán, thằng bạn học cùng lớp. Hồi đó, còn đang học lớp chín. Nhân lớp học về du ngoạn ở đây, hắn tỏ tình. Cái thằng chi lạ! Đang ngồi vọc cát, hắn sà tới ngồi một bên, nói vẩn vơ rồi bỗng nắm tay nàng thì thầm “tau yêu mi lắm, Diễm ơi,” rồi bỏ chạy một mạch. Và sau đó,

tránh nàng luôn. Nghe nói sau này, hắn theo gia đình vượt biên, chết trên biển. Phước đi gửi xe. Diễm nhìn biển. Biển vắng. Người tắm thưa thớt. Vỏ ốc vỏ sò nằm giăng đầy bãi. Một cặp vợ chồng, Diễm đoán thế, người nước ngoài vừa đi vừa nói chuyện dọc theo bờ cát, trong bộ đồ tắm mỏng mảnh. Diễm rùng mình. Phước trở về, hỏi:

“Tụi mình bơi một lát nhé.”

Diễm lắc đầu:

“Em thấy ơn ớn sau lưng. Mà lại, biển vắng quá.”

“Mai mốt xa biển rồi, không nhớ sao?”

Diễm bâng khuâng:

“Nhiều thứ để nhớ quá. Biển nhằm nhò gì.”

Nàng ngồi xuống chiếc ghế xếp, nhìn tấm bảng đề hai chữ “Thùy Dương” lay động trước gió biển. Ở ngoài xa, xanh mù mù. Mai đây nàng sẽ ở bên ngoài cái màu xanh đó. Đối với nàng, mọi thứ ở đó còn mông lung, bất định quá. Cái rõ nét nhất là Nữa, chồng nàng, nàng lại vẫn thấy mù mờ. Kỷ niệm còn quá nghèo nàn cho một cuộc tình. Những lá thư làm quen nhạt nhẽo, những tấm hình bên phương trời có tuyết, có xe hơi … , rồi một đám cưới xa hoa, vội vã, vài chục ngày gọi là vợ chồng, rồi thư đi tin lại, những thủ tục, giấy tờ, phỏng vấn. Nàng không kịp nghĩ, không kịp nhớ, không kịp băn khoăn. Với những đồng đô la Nữa gửi về, nàng sống một đời sống mới. Xa xỉ. Gấp. Vội.

Phước kéo ghế sát một bên:

“Lại nhớ người tình ở phương trời rồi nhé. Giờ này hắn đang làm gì nào? Ngủ, ăn, làm hay đi chơi với một con nhóc nào đó chứ gì?”

Diễm cười:

“Anh ta hiền lắm.”

“Hiền? Hiền thế nào?”

“Thì đại loại: lo ăn học, lo đi làm, lo cưới vợ … ”

“Em tin thế?”

“Tin chứ. Anh ấy còn dưới mức hiền nữa kìa. Lù đù lắm. Đâu có như anh, ẩu tả, lang chạ.”

“Em yêu?”

“Ừ … chắc có.”

“Anh không tin thế. Em không hề yêu, anh biết.”

Diễm gỡ tay Phước đang ôm eo nàng:

“Thôi. Chuyện đó chẳng dính dáng gì đến anh.”

Phước cầm tay nàng:

“Sao không dính. Giả sử … Anh giả sử thôi nhé. Giả sử bây giờ em đừng đi nữa. Em ở lại … ở lại với anh.”

Diễm nhìn lên:

“Em ở lại cho con Diệu Ái nó giết em à?”

Phước cười:

“Thì em ở lại, còn anh séparer Diệu Ái.”

Diễm định nói gì, nhưng rồi im lặng. Phước nói đùa, nhưng lạ cái là, đột nhiên, mấy ngày hôm nay nàng lại bị ám ảnh bởi cái ý tưởng đó. Từ khi chấp nhận lời đề nghị của Phước, nàng lại bị Phước cuốn đi như một cơn lốc. Phước khỏe, tếu, sống động. Những ý tưởng của anh tuy ngộ nghĩnh, nhưng lại mở ra cho nàng nhiều cánh cửa vào đời sống. Mỗi lần đi chơi với Phước, nàng vẫn tự trấn an bằng cách nghĩ đến một người tình ngắn ngày, một người tình qua đường, một chiếc cầu bắc qua khoảng trống giữa cuộc đời cũ và cuộc đời mới. Nàng vui chơi, trước khi nhập cuộc. Có điều càng lúc nàng càng cảm thấy hình ảnh Phước như nặng lên trong tâm tưởng. Anh đi vào giấc mơ, đi vào ý tưởng của nàng.

Diễm nói vu vơ:

“Kể ra thì Diệu Ái cũng tội.”

“Cô ta nào dính líu gì đến em.”

Diễm chu miệng, nhìn anh, ngón tay trỏ dí vào trán:

“À, thì không dính. Không dính gì mà em lại ngồi đây với anh. Cô ta mà biết há? Em tưởng tượng cái mặt cô ta sưng bằng cái thúng. Nghĩ sơ sơ thế là đã thấy ghét.”

Phước cười:

“Hơi có vẻ ghen rồi đấy nhé.”

“Chả thèm đâu, ông bạn ạ. Ông tưởng ông lôi tôi đi được như thế này là ông thắng lợi trăm phần trăm. Chưa đâu.”

“Thì đúng là chưa. Nhưng anh ngửi thấy mùi gì khang khác.”

“Mùi gì?”

“Mùi tình. Anh dụ em một tình yêu ngắn ngày. Nhưng giờ anh cảm thấy khác. Trông bộ tình nó dài ra.”

“Anh đùa hay thật!”

Phước nâng cằm Diễm:

“Thật.”

Nàng rúc đầu vào ngực anh:

“Em thì ngửi thấy … mùi … “

“Mùi gì?”

“Mùi mồ hôi của cái áo mấy ngày chưa giặt.”

Cả hai cười lớn. Diễm tiếp:

“Nhưng … nhưng, em thích cái mùi này.”

Nói xong, nàng lại tiếp tục rúc đầu vào ngực anh, khúc khích. Phước nâng đầu nàng lên:

“Em cảm thấy hối hận chưa?”

Diễm nhìn thẳng vào mắt anh:

“Sợ anh đấy chứ. Em thì em đi xa. Mọi chuyện sẽ lùi vào dĩ vãng. Như một vết mờ. Còn anh, anh sẽ về lại với Diệu Ái, rồi … ”

Phước bịt miệng nàng lại:

“Thôi, đủ rồi. Đừng lôi kéo người này người nọ vào. Bây giờ chỉ có em và anh. Cái ngày mai nào cũng bất định hết.”

Phước định nói thêm một điều gì nữa, nhưng tự dưng, anh cảm thấy bùi ngùi. Anh im lặng, nhìn ra xa. Biển mênh mông, vô định. Diễm trong tay anh, có mà như không. Rồi nàng sẽ đi, sẽ biệt mù âm tín. Nàng sẽ khác. Nàng sẽ quên. Như một kỷ niệm hờ. Còn anh, người ở lại. Dù gì thì cũng là người ở lại. Biển này, đất này, quê hương này, thành phố này, Diệu Ái này … Anh không thiếu thứ gì. Chỉ có điều, ấy là anh không được ra đi như Diễm, với Diễm. Ôi, nỗi kiêu hãnh của kẻ ra đi! Sá gì đôi ba kỷ niệm vu vơ, sá gì anh. Diễm nhỉ. Phước nhìn Diễm, thở dài:

“Phải thế không Diễm?”

Diễm buông tay ngơ ngác:

“Phải gì vậy anh?”

Phước cười buồn:

“Anh nghĩ đến hôm em đi.”

Nàng cảm thấy đau nhói. Gió ngoài biển thổi vào bắt đầu lành lạnh. Nàng ngồi khuất sau anh, tránh gió. Chiều xuống thật nhanh. Phước ôm vai Diễm:

“Anh thấy lạnh. Thôi, vào em!”

Diễm lẳng lặng bước theo anh.

*

Hai người trở về Sài Gòn lúc mười giờ sáng. Phước thả nàng xuống, rồ ga vọt đi. Anh đã trễ giờ giao hàng. Nàng nhìn theo, ngơ ngẩn một lát, rồi mới xoay người lại gõ cửa. E cũng khá lâu, mới thấy Liên xuống mở cửa. Thấy Diễm, Liên hỏi, giọng khàn đục:

“Về rồi à?”

“Ừ, về.”

Liên đóng cửa, lẳng lặng lên gác. Diễm bối rối bước theo. Nhìn quanh, Diễm thấy mọi vật vẫn như cũ. Chai, chén, ly, đồ ăn … vẫn còn nằm nguyên trên sàn nhà. Ruồi nhặn bu đầy. Nàng vứt cái xách xuống, mở cánh cửa sổ để nắng và gió lùa vào. Nàng xắn tay áo, thu dọn mọi thứ trà dư tửu hậu trên sàn nhà, rửa ráy, lau chùi sạch sẽ. Chà, cả bọn nhậu cũng khá. Ba nam ba nữ ngốn hết gần hai két bia. BGT, 33, Sài Gòn. Thuốc ba số 5, Jet, Craven A. Vịt quay, gà bóp, trứng lộn. Đám con trai uống như hủ chìm. Nhất là Phước. Trong số ba cô, Liên uống nhiều nhất. Hát hò, kể chuyện tếu. Nhưng đề tài chủ yếu vẫn là chuyện Diễm ra đi cùng mối tình “ghép” của nàng, như cách trêu chọc của Tuân, bạn Phước. Chùi rửa xong xuôi, thấy Liên nằm yên trên giường, Diễm đến ngồi một bên, lay vai Liên:

“Sao, giận rồi phải không?” Liên vùng dậy, giận dỗi:

“Đến bây giờ cô mới ngó ngàng đến tôi à? Cô cư xử với tôi tệ đến thế thì thôi!”

Khuôn mặt Liên khô, phờ phạc. Tóc tai lòa xòa. Giọng khan. Liên leo xuống giường, bước lui bước tới, dáng bộ mệt mỏi. Liên đến bên cửa sổ, nhìn ra. Diễm nhẹ nhàng bước đến sau lưng, đặt tay lên vai Liên, im lặng. Xe cộ rộn ràng bên dưới. Bụi cuốn từng đợt, đổ vào cái hành lang nhỏ bên ngoài với nhiều chậu hoa đặt khít nhau. Diễm bóp vai Liên, kéo Liên xoay người lại:

“Xin lỗi. Làm gì mà mặt mày dữ dằn thế.”

Liên chợt cười:

“Đáng lẽ phải xé xác mi ra. Mi bắt tau thức đợi suốt đêm. Bọn bây đi hú hí ở đâu?”

Diễm chống chế:

“Không. Mi hiểu lầm … “

Liên chỉ vào mặt Diễm:

“Không thể giấu tau được. Mi tàn nhẫn, mi bỏ tau. Mi bắt tau phải năn nỉ ỉ ôi cái bà nhạc quê mùa của mi để mi tự do. Mi lợi dụng để đi chơi với trai.”

“Lại kể công.”

Liên ôm mặt Diễm:

“Tau đâu cần kể công. Tau cần mi. Mi hiểu chưa, Diễm.”

Giọng Diễm đầy ân hận:

“Thôi, tao xin lỗi. Vả lại, mi biết, Phước cũng tội.”

Liên đẩy Diễm ra, nhìn thẳng vào mặt nàng:

“Mi đang chơi một trò chơi nguy hiểm. Nó dính líu đến số phận của nhiều người: Diệu Ái, Nữa, Phước, mi và cả tau. Mi biết không, mi sẽ mất hết. Mất hết … “

Liên gục mặt vào vai Diễm:

“Phước không tốt gì với mi đâu. Hắn đểu giả. Hắn điêu ngoa.”

“Tao thấy không đến nỗi thế.”

“Hắn chẳng bao giờ yêu mi cả.”

Diễm cười:

“Đây chỉ là một hợp đồng ngắn ngày.”

“Lầm. Tình cảm không bao giờ là một hợp đồng.”

Liên buông Diễm ra, bước lui bước tới, hai thay thọc trong túi quần. Diễm nhìn lên, hơi xốn xang. Càng giận, khuôn mặt của Liên càng thẫn thờ khó hiểu. Ở trường bọn nam sinh viên vẫn gọi đùa Liên là triết gia. Còn đám nữ thì không thích chơi với Liên vì cái vẻ khô và cô độc của Liên. Chỉ có Diễm. Nàng hiểu Liên và chia sẻ những nỗi phiền muộn và cuộc sống bất an của Liên.

Liên đến bên Diễm:

“Thà mi ra đi, mi bỏ tau. Mi không thể bỏ tau khi mi đang ở đây.”

Diễm cười:

“Tau bỏ mi hồi nào?”

Liên tiếp tục nói, không để ý đến câu hỏi của Diễm:

“Bọn đàn ông, chúng nó sành sõi, chúng nó có hơi hám, chúng nó có … đủ thứ. Còn tau, hà, mi xem thường tau, mi chê tau thiếu hụt, kém cỏi, bất thường.”

Liên nhìn sát mặt Diễm:

“Tau yêu mi, mi biết không.”

Liên nắm tay lại, đấm xuống chiếc bàn nhỏ kê ti vi. Diễm ôm lưng Liên, sờ nắn bụng Liên, cười bả lả:

“Tau biết. Tau cũng thương mi chớ bộ.”

“Mi luôn luôn phản trắc, mi biết chưa?”

Liên úp mặt vào hai bàn tay, run rẩy. Diễm nghĩ là Liên khóc. Nàng ôm hai vai Liên, kéo xuống. Nàng hôn lên tóc Liên, thì thầm ::

“Tao biết. Tao xin lỗi.”

Liên đột ngột xoay người lại, ôm Diễm, kéo nàng xuống. Nàng buông tay, để mặc. Hai người ngả xuống giường. Diễm cảm thấy ngộp dưới bộ ngực nặng nề của Liên. Nàng cố nhoi mặt ra, tìm chỗ để thở. Liên hôn lên tóc, lên gáy Diễm, cắn nhẹ dái tai Diễm. Rồi hôn lên mặt lên ngực nàng. Nàng nhột nhạt, đưa đôi bàn tay yếu ớt, cố đẩy thân hình Liên sang một bên. Nhưng không được. Liên phủ lên người nàng, hai tay gỡ nút, đầu chui rúc khắp người, thở hào hển, miệng luôn rên rỉ. Nữa đã vụng về, mà Liên lại càng vụng về hơn. Liên loay hoay, sục sạo thân thể của Diễm, cố tìm một hơi hám, một phản ứng, một sự đồng tình.

Diễm chìu bạn, ôm lấy lưng Liên, áp mặt vào khoảng ngực Liên, đặt lên đó một nụ hôn. Nàng muốn hôn thật dài, thật đắm đuối, nhưng hai đầu vú của Liên cọ xát vào da thịt khiến nàng nhột nhạt, nên lại thôi. Nàng ngoi mặt ra, nhìn lên trần nhà. Liên nhỏm dậy, ngồi lên bụng nàng, đầu cúi xuống. Tóc tai lòa xòa rủ xuống che gần như khuất khuôn mặt Liên. Diễm nghe hơi thở Liên có mùi thuốc lá, mùi bia.

Nàng hỏi:

“Sáng mà đã uống bia?”

“Uống để ngủ mà không được. Tức mi quá.”

Diễm xô Liên xuống:

“Mi nặng quá. Dẹp người tau mất.”

Liên vừa trườn người xuống, vừa càu nhàu:

“Phước nặng hơn tau, sao mi chịu nổi.”

Liên xoay mặt Diễm lại. Cái nhìn Liên chợt trở nên đắm đuối. Liên luồn tay vào ngực Diễm, tiếp tục sờ nắn. Diễm nhột, nẩy người lên. Nàng cố tránh, nhưng khuôn mặt Liên cứ áp sát. Hơi thở cô nóng hổi. Liên hôn lên tóc, lên

mắt Diễm. Đôi môi Liên tìm đôi môi Diễm. Nàng hơi lợm. Mùi nước miếng Liên nhạt nhẽo. Liên hôn nồng nàn mà Diễm cứ có cảm giác như Liên đóng kịch. Đầu lưỡi Liên tìm kiếm, chờ đợi. Nhưng Diễm nản chí. Liên thả nàng ra, cần nhằn:

“Mi như cục đá, cục đất. Mi bị thằng Phước nó hớp hồn.”

Diễm chùi miệng. Nàng ôm Liên:

“Mi đừng buồn.”

Liên hất tay Diễm ra, đứng dậy, đi vào phòng. Liên trở ra, điếu thuốc trên môi. Liên ngửa mặt lên trần nhà, nhả khói vù vù. Nhìn bộ điệu của Liên, Diễm nghĩ đến Phước, đến Nữa. Mỗi người có một thói quen riêng sau khi ôm ấp nàng. Phước cũng hút một điếu thuốc như Liên. Còn Nữa lại chạy đi tìm một ly nước đá. Còn nàng thì nằm lim dim. Liên vứt tàn thuốc qua cửa sổ, đến đứng trước mặt Diễm:

“Tau chợt có một ý nghĩ mới: hay là mi ở lại, đừng đi nữa.”

Diễm ngạc nhiên:

“Ở lại?”

“Ừ, ở lại Việt Nam. Với bạn bè, với tau, với Phước.”

“Không đi Mỹ nữa?”

“Chứ sao!”

Một cái gì đó nhói lên trong tim, khiến Diễm có cảm giác thảng thốt. Liên tiếp:

“Tau đoan chắc cái mối tình ghép này sẽ không bao giờ làm cho mi hạnh phúc. Tao không nghi ngờ gì anh chàng Nữa hết. Nhưng tau nghi ngờ mi. Nếu mi chỉ cần đi Mỹ thôi, thì tùy mi. Còn nói theo chồng, thì … e trật.”

Diễm chới với, nhưng gượng cười:

“Đừng nói bậy. Mọi chuyện xem như xong.”

Liên ôm vai Diễm:

“Tau biết mi yêu Phước rồi. Mi ở lại, cho Phước giành lấy chín phần. Còn tau một phần. Mi đi rồi, thì … ”

Diễm bịt miệng Liên:

“Thôi, thôi. Đừng nói nữa. Để cho tau yên.”

Liên vẫn nói tiếp:

“Không yên đâu. Mi làm như thể mi theo chồng, đoàn tụ với chồng. Mi dối trá với Nữa, với chính mi. Không chừng mi trù liệu sẽ bỏ Nữa. Mi chỉ xem Nữa như chiếc cầu. Suốt đời mi sẽ dối trá, phản bội. Không bao giờ mi có thể yêu. Mi đến được nước Mỹ, nhưng mi sẽ không bao giờ có tình yêu … “

*

Dù cố gắng quên, cố gắng xua đuổi, nhưng những lời nói của Liên như những nhát dao sắc cứa vào lòng Diễm. Nó cấu xé, dằn vặt, ép chế nàng. Nàng cuống cuồng, hớt hải. Tất cả chỉ vì những gì Liên nói không xa lạ gì với những gì nàng tưởng nghĩ. Liên chỉ vén lên một tấm màn mỏng, để

phơi trần ra những gì mà nàng cố dấu giếm chính nàng. Một đám cưới xa hoa, một tháng chung đụng và những đồng đô la thần thánh không làm nẩy nở một tí gì tình cảm của nàng đối với Nữa. Trước sau, nàng chỉ đóng kịch. Nàng chỉ muốn đi Mỹ. Nàng muốn thực hiện một giấc mơ mà hầu như cả

thế hệ của nàng ôm ấp: rời khỏi đất nước. Cũng như nhiều bạn bè nàng, nàng đã nhịn yêu như người ta nhịn ăn cho bớt mập. Nàng hạn chế quan hệ với bạn trai, đè nén những rung động, trốn tránh những cơ hội. Đi cái đã, rồi yêu sau. Vượt biên, bảo lãnh, con lai, lấy chồng Việt kiều … , gì cũng được,

miễn là đi. Và lúc này đây, chính trong lúc muốn sống xả láng, trong lúc muốn yêu thử, thì nàng lại bắt đầu cảm thấy yêu.

Rời khỏi nhà Liên, lang thang một mình trên các đường phố suốt buổi chiều, cuối cùng, nàng quyết định ở lại Việt Nam. Về căn nhà mà gia đình chồng ở tạm để đợi tiễn nàng đi, nàng âm thầm bỏ một ít áo quần vào trong xách, lột hết nữ trang nàng có trong người gói vào một mảnh giấy báo cùng với mấy trăm đô la Nữa gửi tháng rồi tiêu chưa hết. Nàng viết vội vài chữ để lại, báo cho biết là nàng không đi, đồng thời cám ơn và xin lỗi gia đình chồng. Sau đó, nói dối là đi có chút việc, nàng ôm cái xách nhỏ, gọi xích lô lên Bưu Điện. Nàng muốn thông báo ngay cho Nữa biết quyết định của mình.

Từ một nơi nào đó bên kia đại dương, giọng Nữa khan đục:

“Ai đó.”

“Em đây. Diễm đây.”

Nữa la lên trong máy, dòn tan:

“Trời ơi, em Diễm, vợ anh đó há. Trời ơi, nhớ em muốn phát điên lên được. Anh đang mong em từng giờ từng phút. Còn có mười ngày nữa mà sao lâu quá chừng chừng. Cả tuần nay lu bu với công việc, không gọi em được, lại nữa, phải chuẩn bị mọi thứ để đón em. Làm gì mà gọi anh giờ này. Nhớ anh lắm hả?”

“Bên đó mấy giờ?”

“Bốn giờ sáng.”

“Em xin lỗi. À … mà anh này … “

“Sao, mẹ có khỏe không. Anh Phú, con Hiền và mấy cô, mấy dì vào Sài Gòn cả chưa? Em đi thăm bạn bè hết chưa? Nè, anh dặn em nè. Còn bao nhiêu tiền em cứ tiêu thoải mái, đừng lo lắng gì hết. Bên này anh đã mở cho em một trương mục trong ngân hàng rồi đó. Em sang rồi, thích sắm gì cứ sắm, thích đi đâu cứ đi. Em có thích đi Cali không? Có mấy cô bạn của em bên đó thỉnh thoảng gọi anh, hỏi em đã sang chưa? Thiên Trang ở San Jose này, Hồng Phước ở Santa Ana này … Bữa nay sắp đến hè rồi, đi du lịch tùy thích.”

Diễm ngập ngừng:

“Anh gọi cho bọn nó, nói em gửi lời thăm nhé.”

“Thì đợi em sang, em gọi thẳng điện thoại cho họ chứ cần gì mà phải nhắn gửi. Ở đây, bạn bè gọi cho nhau hàng ngày. Đôi khi nói chuyện hàng giờ.”

“Em định nói với anh là … là … “

“Về chuyện học Anh văn hay sao? Hay chuyện đi làm?

Đừng lo mà ốm người. Anh sẽ dạy Anh văn cho em. Còn đi làm thì khoan đã. Anh đủ sức nuôi em mà. Cái job của anh chắc chắn lắm. Anh sắp được lên lương đấy.”

“Không, em muốn nói chuyện khác, chuyện anh và em … “

“Chuyện anh và em sao? À, chuyện khoan có con há, OK. Anh đâu có muốn có con liền. Bọn mình còn trẻ mà. Vài ba năm sau rồi đẻ cũng được. Một hai đứa là đủ rồi em há.”

“Em quyết định … quyết định … “

“Chẳng nên quyết định gì sớm. Cứ sang đây, để một thời gian cho em quen với nếp sống ở Mỹ, rồi sau đó tùy em chọn lựa. Anh định down tiền mua một cái single house, tức là một biệt thự đấy, nhưng thôi, đợi em sang rồi tùy em. Biết đâu chừng em lại thích move đi bang khác. Georgia này cũng ấm, cũng đông người Việt, nhưng nếu em thích thì tụi mình bàn tính sau.”

“Em muốn nói chuyện gia đình … “

“Chuyện bảo lãnh gia đình em há? Dễ thôi. Gia đình anh không ai muốn đi. Còn em thích đưa ba má sang ở cho vui thì đâu có khó gì. Đi du lịch hay bảo lãnh cũng dễ thôi.”

Diễm cố nói một câu cho xong:

“Em đã quyết định ở lại … “

“Tùy em, tùy em hết. Vợ muốn là trời muốn. Ở Georgia hay Cali hay đâu cũng được. Điều quan trọng là việc làm ăn và khí hậu. Ở Mỹ dễ lắm, không phải như ở Việt Nam. Thích đi là đi. Em sang đây vài tháng rồi có muốn về thăm Việt Nam cũng được thôi. Nhớ nhà há? OK. Mua vé về thăm ngay. Đừng lo. Anh chỉ mong sao em thương anh là đủ rồi. Thời gian ở với nhau ngắn quá, chưa hiểu nhau nhiều. Nhưng anh biết gia đình em, biết em … “

“Không phải, em muốn nói … “

Diễm như muốn nghẹt thở:

“Em … em muốn ở lại Việt Nam … “

“Ở lại Việt Nam? Anh không hiểu.”

Nàng buột miệng nói một câu khác dự tính:

“Ở lại thêm … thêm vài tháng nữa.”

“Cái gì? Mọi chuyện sắp xếp cả rồi. Ở lại làm gì cho thêm rắc rối. Em biết không, tình hình càng lúc càng khó. Đã có chuyến bay rồi thì đi. Hoãn lui, hoãn tới, lỡ tụi nó làm rắc rối thì phiền. Hai nước sắp bang giao. Ai biết chuyện đi ở thế nào? Đừng dùng dằng nữa. Anh biết em thương ba mẹ,

thương mấy đứa em. Nhưng anh hứa, cứ sang cái đã. Về thăm sau. Thôi nhé. Đừng nũng nịu nữa. Nhớ em quá trời. Cách xa thế này mà anh còn ngửi thấy mùi của em. Thôi nhé, anh dậy chuẩn bị đi làm. Chiều anh gọi lại. Bye, bye

Diễm.”

Diễm gác điện thoại, lòng ngẩn ngơ. Nàng bước ra khỏi phòng điện thoại, nhìn mọi người vào ra tấp nập mà không có cảm giác gì cả. Đầu óc nàng rỗng không. Chợt nhớ ra một điều, nàng chạy vội xuống tầng cấp sở Bưu Điện, gọi xích lô trở về nhà. Gặp mẹ Nữa tại cửa, nàng chẳng kịp chào hỏi, lao vào phòng, mở gói giấy báo. Thấy tấm giấy nhỏ có ghi vội mấy giòng của nàng vẫn còn nằm yên, nàng thở phào. Nàng cầm tấm giấy xé vụn, vứt cái xách xuống sàn, ném mình trên giường, nhắm mắt. Nàng có cảm giác

vừa tiếc vừa mừng.

Không Bỏ Bạn Lại

diendantheky.net

Nguyễn Ngọc Hoa

Post December 30, 2022

Google images

Tháng Tám năm 1985.  Thành phố Los Angeles với nhà cửa san sát và xe cộ đông như kiến hiện rõ dần dưới ánh nắng chiều, tiếng cô tiếp viên hàng không loan báo phi cơ chuẩn bị hạ cánh khiến tôi háo hức.  Nhân đi công tác ở Palo Alto ở bắc California, tôi bay xuống Los Angeles chơi cuối tuần với vợ chồng Canh; Canh là bạn đồng nghiệp dạy ở Đại học Khoa học Kỹ thuật Minh Đức.  Cuối tháng Sáu năm 1975, tôi đã gặp Canh trong trại tỵ nạn Pendleton, nhưng từ đó đến nay mặc dù thư từ và điện thoại thường xuyên, chúng tôi chưa gặp lại nhau.  Canh mừng rỡ khoát tay lia lịa khi thấy tôi ở cuối jetway (hành lang dẫn từ phi cơ vào phòng đợi phi trạm).  Hai đứa ôm chầm lấy nhau; tôi nhìn bạn từ đầu đến chân và cố dấu vẻ xúc động,

            “Mày không chịu bơ sữa đế quốc hay sao mà người ngợm tang thương thế kia?”

            “Còn mày trông như thằng cha thiếu thuốc, có khác gì tao?  Chúng mình già rồi Ba Hoa ạ,” Canh đỡ lấy chiếc cặp da trên tay tôi.

            “Cô Lòng Heo. . . à Long Huê có khỏe không?  Chiều nay cô ấy đi làm hả?”

Ngày còn là sinh viên ban Điện tử của Đại học Khoa học Sài gòn, Canh bị bạn bè gọi đùa là “Tiết Canh.”  Khi Canh cặp bồ với cô sinh viên lớp Lý Hóa Nhiên (hay “chứng chỉ” SPCN) Long Huê người Việt gốc Hoa quê ở Rạch Giá, lũ bạn bèn tức cảnh sinh tình phang ngay cho nàng cái tên “Lòng Heo” để đi đôi với Tiết Canh cho . . . hợp duyên.  Canh mỉm cười trách nhẹ,

            “Mày chứng nào vẫn tật ấy!  Hôm nay bà ấy nghỉ làm ở nhà nấu nướng đãi mày.”

            “Tụi mày nhiễu sự, bày vẽ làm chi cho mất công.”

            “Mười năm mới có dịp đón tiếp gã nhà quê từ nơi đồng nội North Dakota đến thăm viếng chốn thị thành ấy mà!  Hôm nay có thằng Tiễn và vài người bạn ở quanh đây.”

Dễ đến mười tám, mười chín năm nay tôi mới gặp lại Tiễn.  Ngày đó, lớp đệ nhất niên ban kỹ sư của ba trường Công chánh, Công nghệ, và Điện học chung và học các môn khoa học cơ bản; Tiễn thuộc ngành Công chánh và tôi là dân Điện.  Mặt rỗ chằng rỗ chịt, người bé loắt choắt, giọng nói oang oang, và tính ưa nghịch phá, Tiễn lân la làm quen rồi chơi thân với tôi.  Tôi nghe từ vườn sau Tiễn cười vang kể chuyện xưa,

            “Trong giảng đường gần tám chục mạng mà chỉ có hai thằng đứng thẳng lưng là tao và thằng Chích Chòe.  Bọn cù lần kia sợ thầy như đĩ thấy cha, tối ngày đứng khom lưng một điều ‘Thưa giáo sư,’ hai điều ‘Dạ vâng, giáo sư.’”

            “Còn mày, phét lác cho lắm mà sao bị xoọc-ti lát thành dở ông dở thằng?” có tiếng hỏi vặn lại; “xoọc-ti lát” là “sortie latérale” tiếng Pháp nghĩa là ra trường ngang hay bị đuổi học.

            “Hà hà, ‘anh mày’ là dân chơi số dzách!  Tình cờ thấy ông Thế Trưởng ban Khoa học Cơ bản vào cầu tiêu sau giảng đường có ổ khóa treo lủng lẳng bên ngoài, tao bèn tiện tay lật bản lề, móc khóa vào bấm lại, và bỏ chạy một nước.  Sau đó ông ta biết tao là thủ phạm và ra tay trù tới nơi tới chốn.  Làm sao tao thọ sang năm thứ hai?”

Tiễn bắt tay tôi với nụ cười mở rộng đến mang tai; tôi hỏi,

            “Hai mươi năm rồi mà sao bạn ta không lớn thêm được tí ti nào?  Đã vợ con gì chưa hay vẫn phòng không chiếc bóng?”

            “Thứ nửa người nửa ngợm nửa đười ươi như nó, con Chín dưới đò cũng chê, đàn bà con gái ai mà thèm?” Canh cười khà khà khiêu chiến; “chín dưới đò” nói lái thành “chó dưới đình.”

            “Hôm nay có thằng Chích Chòe phương xa lại, tao tạm tha cho thằng Tiết Canh.  Vả lại, cô Lòng Heo hứa cho ăn ngon nên ‘anh nó’ nhường nhịn một tí cho phải đạo,” Tiễn vênh váo trả lời và giới thiệu người bạn đứng bên cạnh với tôi, “Thằng Hoàn ở chung nhà với tao.  Xưa kia nó có vợ đình huỳnh, nhưng khi dzọt khỏi Sài gòn, gặp ‘hên’ vợ ngủm củ lèo nên thành ra độc thân vui tính như tao.”

Hoàn trông tương phản với Tiễn một trời một vực:  thân hình cao lớn, hùng tráng khôi ngô, nhưng vẻ mặt u sầu với đôi mắt buồn thăm thẳm.  Hoàn bước lại gần tôi nói nhỏ nhẹ,

            “Tôi là dân trung học Võ Tánh Nha Trang, hồi đi thi tú tài đã nghe danh ‘ông.’  Trong lúc ‘ông’ làm bá chủ hội đồng Võ Tánh cả hai năm, tôi chật vật lắm mới qua được cửa ải Tú tài I, nhưng năm sau trượt vỏ chuối trong hai kỳ thi Tú tài II.”

            “Sau đó ‘ông’ làm gì?”

            “Tôi tình nguyện đi sĩ quan Không quân.  Sau thời gian thụ huấn tại trường Sĩ quan Không quân Nha Trang, tôi đi Mỹ học lái phi cơ vận tải.  Đầu năm 1975, tôi là đại úy lái C-130 ở Không đoàn Chiến thuật XX trong căn cứ Tân Sơn Nhứt.”

C-130 Hercules (Dũng sĩ Hercules) là máy bay vận tải có bốn động cơ tua-bin cánh quạt có thể cất cánh và hạ cánh trên phi đạo ngắn không dự bị trước.  Gần cuối bữa tiệc thịnh soạn do Long Huê khổ công nấu nướng, và khi màn đấu láo của đám bạn dịu lại, tôi gợi chuyện với Hoàn,

            “Năm 1975, ‘ông’ ra đi bằng gì?  Chắc hẳn không phải là tàu Hải quân như tôi rồi.”

            “Tôi lái C-130 chở gia đình quân nhân Không quân trốn thoát qua căn cứ U-Tapao bên Thái Lan.”  Căn cứ Không quân U-Tapao được Hoa kỳ dùng làm căn cứ cho phi cơ oanh tạc B-52 đi giội bom thời chiến tranh Việt nam.

            “’Bà’ ấy mất vào lúc nào?” tôi ái ngại hỏi.

            “Quế Hương cũng là dân Nha Trang; nàng ra đi trong chuyến bay định mệnh đó.  Ở Sài gòn chỉ có hai đứa tôi, gia đình hai bên ở hết và kẹt lại ngoài Nha Trang,” với giọng nói buồn tênh, Hoàn chậm rãi thuật lại quãng đời đau thương mười năm trước.

***

Trong mấy tuần lễ cuối cùng của Việt nam Cộng hòa (VNCH), quân nhân Không quân, nhất là các phi công như Hoàn, công khai thảo luận và chuẩn bị di tản gia đình bằng máy bay của mình.  Ba giờ rưỡi sáng ngày 29 tháng Tư, đợt pháo kích đầu tiên của Việt Cộng vào căn cứ Tân Sơn Nhứt khiến Hoàn và Quế Hương thức dậy và sửa soạn ra đi.  Khoảng chín giờ, Hoàn trông thấy ông Phó Kiền lên trực thăng bay theo hướng đông về phía Đệ thất Hạm đội Hoa kỳ ngoài hải phận quốc tế.  Chín giờ 45 phút, ban Tình báo căn cứ loan báo đợt pháo kích sắp tới sẽ gây thiệt hại rất nặng nề; đó là hiệu lệnh giờ G đã điểm.  Giờ thì mạnh ai nấy bay.

Hoàn và Quế Hương chạy như bay và leo lên chiếc C-130 chàng bay thường ngày, phi cơ đã đầy ắp người.  Chàng vội kiếm chỗ cho Quế Hương ngồi rồi bước ngay vào phòng lái mở máy cho phi cơ chạy từ từ ra phi đạo; nhiều người loi nhoi chạy theo và cố nhảy lên cửa trước còn để mở.  Ra tới phi đạo, chàng ra lệnh đóng cửa, gia tăng tốc độ, và cất cánh bay về hướng tây giữa lằn đạn pháo kích.  Đáp phi cơ xuống U-Tapao an toàn, chàng thở phào một tiếng nhẹ nhõm và đợi hành khách xuống hết mới ra khỏi phi cơ.  Trong khi mọi người được đưa tới khu tạm trú trong các nhà để máy bay, ba-rắc lính, và lều vải nhà binh, chàng kinh hoảng nhảy bổ đi tìm Quế Hương; không ai thấy nàng đâu cả.  Cuối cùng, chàng gặp anh hạ sĩ quan cơ khí quen, anh ta mếu máo,

            “Đại úy ơi, ở Tân Sơn Nhứt, khi cửa còn mở, bà đứng nghiêng mình ra ngoài giúp kéo những người dưới đất lên.  Họ níu kéo chen lấn và đẩy bà rớt xuống, bà bị máy bay cán lên người.”

Trời đất sụp đổ trước mắt Hoàn.  Người vợ yêu quý chết tức tưởi.  Đi ra ngoại quốc làm gì khi lẽ sống duy nhất trong đời không còn nữa?  Chàng phải trở về Việt nam tìm xác nàng mai táng cho trọn tình trọn nghĩa.  Dù chết cũng về, nhất định thế.

Căn cứ U-Tapao trở thành trại tiếp cư cho 3,900 người di tản.  Vị chỉ huy trưởng là Đại tá Harold R. Dallas, một sĩ quan có ba mươi năm quân vụ, phải chạy đôn chạy đáo lo ăn ở cho đám người này.  Nhưng khẩn thiết hơn là ông phải di chuyển họ ra khỏi Thái Lan ngay lập tức.  Chính phủ Thái sợ Việt Cộng kiếm cớ gây hấn và xâm chiếm, nhất định đòi trục xuất họ ra khỏi nước, và đe dọa sẽ tống giam và hành hình nếu họ không tuân lệnh.  Bộ chỉ huy Không quân Hoa kỳ vùng Thái bình dương đóng tại Hạ Uy Di cấp tốc gửi 21 phi cơ vận tải hạng nặng C-141 sang để chở tất cả qua đảo Guam.

Khi những chiếc C-141 đầu tiên đáp xuống U-Tapao, Đại tá Dallas lại đương đầu với khó khăn mới:  Kể cả người phi công vừa mất vợ, có 65 quân nhân VNCH trẻ nói đã ra đi lầm và muốn trở về Việt nam.  Tất cả đều đi trên chiếc C-130 do Hoàn lái sang và do một thiếu úy tên Lý cầm đầu; Lý cùng tuổi với Hoàn và phục vụ ở phòng Kỹ thuật Không quân.  Đại tá Dallas cậy một đại tá Không quân là vị sĩ quan VNCH cấp bậc cao nhất thuyết phục 65 người đó đi sang Guam tỵ nạn; ông này vạch rõ ra rằng nếu họ trở về, Việt Cộng sẽ không dung tha và đem ra xử bắn như không.  Rốt cuộc, 52 người đồng ý đi Guam, nhưng 13 người còn lại (gồm cả Hoàn) kiên quyết, “Về hay chết tại đây!”

Mười ba người cực kỳ bướng bỉnh đó đặt Đại tá Dallas vào một hoàn cảnh vô cùng khó xử, giao họ cho chính phủ Thái là điều sau chót một chiến binh yêu thương đồng đội như ông muốn làm.  Giữa lúc đó, y sĩ của căn cứ đưa ra đề nghị:  Truyền thống của quân đội Hoa kỳ là không bỏ bạn lại (“no one left behind”) và nếu vì một lý do nào đó quân nhân bị thương thà chết chứ không chịu rời chiến trường, quân luật Hoa kỳ cho phép toán quân y dùng thuốc an thần để cưỡng bách tản thương.  Trong khi chiếc C-141 cuối cùng để máy nổ nằm chờ trên đường ra phi đạo, vị chỉ huy trưởng buộc lòng chấp thuận giải pháp này.

Người đầu tiên bị tiêm thuốc an thần là Lý, Lý vùng vẫy kịch liệt khi bị khiêng vào trạm quân y.  Mười hai người kia ngập ngừng, nhưng không kháng cự.  Theo đúng thủ tục, đại tá Dallas phái bốn quân cảnh và một y tá đi theo hộ tống họ.  Đến Guam, 13 người phản đối dữ dội, biểu tình tố cáo lính Mỹ “dùng thuốc mê để bắt cóc” họ và khiếu nại với văn phòng đặc trách thỉnh nguyện hồi hương của Hoa kỳ.  Báo chí đăng tin và làm lớn chuyện khiến Đại tá Dallas bị cách chức và bắt buộc phải giải ngũ.

Kể đến đây, Hoàn mím môi cố nén nỗi bực tức,

            “Phải công nhận thằng Lý có tài xúi giục và huy động đám đông.  Ở Guam, nó cầm đầu những vụ biểu tình, cạo đầu, tuyệt thực, và có lần bạo động đốt doanh trại và đánh lính Mỹ bị thương.  Nhưng khi chính phủ Hoa kỳ đồng ý cho đi về bằng tàu Việt nam Thương tín thì trước ngày lên tàu nó xin ở lại.”

            “Mẹ nó, đúng là thằng Việt Cộng nằm vùng!  Xong công tác đó, nó ở lại Mỹ để tiếp tục đánh phá cộng đồng tỵ nạn,” tôi buột miệng la lớn.

            “Ai cũng thấy vậy; tôi còn nghi nó là thủ phạm gây ra cái chết của Quế Hương.  Tôi bèn đổi ý xin ở lại, đó là quyết định sáng suốt duy nhất của tôi trong gần sáu tháng trời.”

Thấy tên “Lý” nghe quen quen, tôi hỏi,

            “Bây giờ thằng Lý đó ở đâu, ‘ông’ biết không?”

            “Nó lấy vợ, và hai vợ chồng sống ở San Francisco và kết nạp bọn thân Cộng, gây quỹ và ra báo tuyên truyền cho Cộng sản trên đất Mỹ tự do.  ‘Ông’ biết trong giới người Việt tỵ nạn mình có một nhóm võ trang bí mật tên là Việt nam Diệt Cộng Hưng quốc chứ?  Khoảng ba năm trước, họ gửi thư ngỏ cảnh cáo vợ chồng nó, nhưng cặp Cộng con không những không ngưng hoạt động mà còn lên mặt thách đố.  Nhóm Hưng quốc ra tay, vợ chồng nó bị bắn chết trước nhà và cảnh sát địa phương và FBI (Văn phòng Điều tra Liên bang) điều tra mà không tìm ra manh mối.”

            “Đáng đời hai đứa gian ác!  Tôi có đọc vụ này trên cả hai tờ Time và Newsweek,” tôi gật đầu; Time và Newsweek là hai tuần san nổi tiếng phát hành tại Hoa kỳ và lưu hành khắp thế giới.

            “Mười năm qua, tôi rất ân hận về việc mình làm:  Với tư cách một quân nhân đồng minh, Đại tá Dallas đã áp dụng nguyên tắc ‘không bỏ bạn lại’ để cứu giúp 13 quân nhân Việt nam Cộng hòa.  Vậy mà tôi nghe theo lời kẻ gian và góp phần vào việc chấm dứt đời binh nghiệp của một sĩ quan đáng kính.”

Tôi thấy có đến hai người đáng kính:  Một người là Đại tá Dallas – đã đành, người kia chính là Hoàn.  Dù trải qua bao nhiêu khổ đau mất mát, chàng can đảm nhận lỗi lầm của mình.  Tôi đâm ra phục người bạn mới quen.

Nguyễn Ngọc Hoa

Ngày 9 tháng Mười, 2019

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 8 Sep 2025

Phần 3.

Ngày 2 tháng 5 năm 1984, tám anh em chúng tôi bị bắt cùng trong một đêm. Trong số có hai người lần đầu nếm mùi tù ngục Xã hội Chủ nghĩa: Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và cô Nguyễn Thị Nhạn. Sáu anh em chúng tôi đều đã qua một lần tù tội. Tôi gọi việc tôi trở vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu là “tái đáo Thiên Thai.” Lưu Thần, Nguyễn Triệu ngày xưa trở lại Thiên Thai buồn như thế nào lòng tôi cũng não nùng như thế. Năm 1977 tôi đã bị còng tay đưa vào đứng ngơ ngáo trong những hành lang nhà tù này. Năm 1980 tôi xách cái túi du hành rách từ đấy đi trở ra. Bốn năm sau tôi trở vào. Nhà tù nghèo nàn, u ám hơn, những đoạn đường xi măng sụp, rạn nứt, những vách tường dơ bẩn.

Công An Thành Hồ không loan tin chúng tôi bị bắt trên báo, nhưng chỉ một năm sau – năm 1985 – bọn văn công Việt cộng đã viết về cái gọi là “cuộc đời ái tình và sự nghiệp” của anh em chúng tôi để đăng linh tinh, lang tang trên nhiều báo tháng, báo tuần ở Hà Nội, Thành Hồ. Tuần báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh là tờ viết về đời tư chúng tôi hung hãn nhất. Bọn Cớm Cộng thành Hồ có hồ sơ tài liệu về chúng tôi, chúng khám xét nhà chúng tôi, chúng được bọn “ăng ten” cung cấp nhiều sự kiện về chúng tôi nên chúng có tài liệu để viết về chúng tôi nhiều hơn cả.

Năm 1988, “Quái Phẩm” NTBKCB được xuất bản thành sách. Ở Nhà Tù Chí Hòa chúng tôi được đọc một số trang NTBKCB đăng trên các báo, một số trang khác được người nhà chúng tôi lén gửi vào tù cho chúng tôi. Trí Siêu Lê Mạnh Thát cùng sống với tôi trong phòng 10, lầu Ba, Khu ED Chí Hòa, sau khi đọc một số trang BKCB, nói với tôi:

– Sao chúng nó thù các bác quá?

Tôi không coi việc Công An VC kết tội chúng tôi trong một quyển sách là một vinh hạnh. Tôi chỉ ghi nhận một sự kiện: cùng thời gian chúng tôi bị tù có rất nhiều nhóm hoạt động chính trị bị Việt Cộng đàn áp tàn bạo hơn bọn văn nghệ sĩ chúng tôi rất nhiều. Tôi chỉ kể hai vụ tôi biết rõ, những người trong hai vụ này cùng tù với tôi, nhiều người nằm chung phòng với tôi: Vụ Luật sư Phạm Quang Cảnh bị VC xử tử hình, hai người cùng nhóm với ông là Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh chung thân, nhiều người tù 18, 15 năm. Vụ thứ hai là Vụ Già Lam: Tuệ Sĩ Phạm văn Thương, Trí Siêu Lê mạnh Thát mỗi người tù 20 năm, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận tù 10 năm. Nhưng các ông không bị CAVC viết truyện vu cáo, mạ lỵ, mạt sát, chửi rủa, bôi bẩn, bới móc đời tư đến cả đời ông, đời cha như chúng tôi.

Tôi gọi NTBKCB là “Quái phẩm” vì không thể xếp nó vào loại “dzăng phẩm” nào cả. Hai anh Nam Thi – Minh Kiên gọi nó là “truyện”. Tôi thấy nó không phải là “truyện” vì nhân vật trong nó là người thật, đang ở tù thật. Những sự kiện trong nó phần lớn do người viết bịa đặt, tưởng tượng – ngôn từ VC học mót Tàu Cộng, gọi việc tưởng tượng bịa đặt này là “hư cấu”. Nó không phải là phóng sự điều tra vì những sự kiện trong nó không có thật, không có những thông số, thống kê, không có bằng chứng độc lập. Nó lại càng không thể là phóng sự tiểu thuyết vì người ta không thể tiểu thuyết hóa cuộc sống, chuyện đời của những nhân vật có thật đang bị tù tội đến chết – và nhiều người đã chết – trong ngục thất.

Việc viết, ấn hành những “Quái phẩm” như NTBKCB không phải là việc làm mới mẻ do bọn CAVC nghĩ ra. Bọn Nga Cộng đã làm chuyện ruồi bâu, kiến đậu này từ những năm 1922.

NTBKCB do hai anh Nam Thi – Minh Kiên, Tổng và Phó Tổng Biên Tập báo Công An Thành Hồ viết, được xuất bản thành sách, chỉ là một trong số năm bẩy loạt bài viết về nhóm văn nghệ sĩ chúng tôi. Cái gọi là “truyện” đã được in thành sách một lần vào năm 1987. Những trang in tôi trích đăng ở đây lấy ở bản in năm 1994 do nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố HCM tái bản. Ấn bản NTBKCB năm 1994, ngắn hơn, chỉ còn 200 trang. Có nhiều đoạn bịa đặt, dựng đứng trắng trợn, làm chính những người cộng sản cũng cảm thấy lố bịch, ruồi bâu, kiến đậu, có tác dụng phản tuyên truyền trong ấn bản 1987 được bỏ đi trong ấn bản 1994. Chẳng hạn như đoạn tả ông Biệt Kích Doãn Quốc “thả lời ong bướm” với em Lý Thụy Ý, đoạn bịa chuyện anh bạn Không quân Trần Ngọc chở em Nguyễn Thị Nhạn đi chơi quán Cây Dừa Xa lộ làm bà xã anh bạn chúng tôi có cái gọi là “cơ sở” để nghi ngờ và mất cảm tình với anh em chúng tôi. Như đoạn viết về ông Ngoại tôi với câu kết mà bất cứ người viết nào có chút thông minh nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng cũng không hạ bút. Đó là câu: “…Ngày xưa… tri phủ, tri huyện nào mà không nghiện thuốc phiện…”

Người viết cộng sản phấn khởi, hồ hởi vu cáo mạ lỵ, bịa đặt những chuyện xấu gán cho đời ông, đời cha những người bị chúng bắt giam. Đó không phải là chuyện mới lạ. Bọn Nga Xô đã làm cái việc tệ mạt ấy từ năm 1922, tiếp đó là bọn Đức Cộng, bọn văn nô các nước chư hầu Đông Âu, rồi Tầu Cộng. Bọn Việt Cộng chỉ làm cái việc học mót đàn anh.

Trước khi nổ ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm đòi văn nghệ phải được tự do năm 1956-1957 ở Hà Nội, Phùng Quán, với bài thơ Lời Mẹ Dặn, được coi là thi sĩ cách mạng vô sản điển hình, là hình ảnh người đảng viên cộng sản kiên cường, bất khuất. Phùng Quán có viết trong tập hồi ký Vượt Đảo. Chế Lan Viên ca tụng Phùng Quán trong bài tựa quyển này là: “… người đảng viên trung kiên, đứa con ưu tú của tổ quốc…” Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm những bài viết chửi bới tàn tệ Phùng Quán có chi tiết “Ông bố hắn làm Mật thám cho Pháp. Bố như thế thì con không thể khá được v.v…”

Sau Tháng Tư 1975, người Việt Nam đói sách báo, không có sách báo để đọc “từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mâu” như lời những ông rao bán thuốc ho bà Lang Trọc trong những tác phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết hoàn toàn không có mặt trong xã hội gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Cái gọi là “truyện” được ấn hành ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ là những bản ca tụng Đảng, ca tụng Bác Hồ và bọn đảng viên, diễn tả những cuộc sống giả tạo, những tâm trạng và những mẫu người không có trong đời sống thật. Anh Công An Huỳnh Bá Thành tung ra quyển “Vụ án Hồ Con Rùa”. Vì nhu cầu đọc của nhân dân quyển sách này bán khá chạy. Từ đó một lô những “Vụ Án…” đủ thứ được in ra. “Bọn xấu” trong những vụ án này là nhân dân. “Bọn tốt” là những chiến sĩ công an phẩm chất đạo đức sáng như gương Tầu, trình độ nghiệp vụ đạt đến đỉnh cao của loài người tiến bộ, tác phong mẫu mực, trong sạch, chí công, vô tư, xả thân vì nước, vì nhân dân, hành động không chỗ nào chê. “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, do Nam Thi – Minh Kiên viết, nằm trong loại sách “Vụ Án” này.

Nhưng không mấy lâu, dù cần đọc, nhân dân cũng rất mau chán ngấy loại sách “Vụ Án”. Vậy thì đã xuất bản năm 1987, nếu không có người mua, tại sao năm 1994 quyển NTBKCB lại được tái bản? Nguyên nhân vì Công An Việt Cộng là lực lượng mạnh nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay. Hàng năm họ có khoản tiền lớn chi vào việc cung cấp tài liệu, văn hóa phẩm bồi dưỡng chính trị cho cán bộ Công an. Hai anh Đại tá Nam Thi – Minh Kiên đã về hưu. Quỹ công an mua sách của hai anh để hai anh có khoản tiền.

Tôi trích đăng vài trang hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về chúng tôi để bạn đọc thấy họ đã vu cáo, đã chửi rủa chúng tôi như thế nào. Bị CAVC “chửi rủa” không phải là chuyện nhục nhã mà cũng chẳng phải là một vinh hạnh. Tôi chẳng cần “trả lời” họ. Tôi đăng vài trang họ viết để quý bạn thấy việc làm đê tiện của bọn họ và để tôi viết lên, ghi lại những cảm nghĩ của tôi về những năm tháng u ám tôi sống ở Thành Hồ Ngục Tù.

Khi viết bài này, tôi không hỏi ý kiến các bạn tôi, những người có tên trong quyển “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút.” Chúng tôi tám người bị bắt năm 1984 – hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Dương Hùng Cường đã chết trong tù ngục cộng sản – năm 1996 chúng tôi còn sống sáu người. Hai người hiện ở Thành Hồ. Cô Nguyễn thị Nhạn hiện ở đâu tôi không được biết. Ba người: anh Doãn Quốc Sĩ, Khuất Duy Trác và tôi ở Hoa Kỳ. Tôi một mình chịu trách nhiệm về những chuyện tôi viết ở đây.

Mời bạn đọc Lời Giới Thiệu truyện “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do Cán Cộng Phan Hiền viết.

Lời Giới Thiệu

Trong cuộc chiến tranh trường kỳ bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh hoạt động quân sự mà mọi người đều biết, có những chiến công thầm lặng của các chiến sĩ an ninh, trên một mặt trận không có tiếng súng nhưng rất gay go quyết liệt.

Đặc biệt từ khi cuộc kháng chiến cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, một cuộc đấu tranh mới lại tiếp diễn vì các lực lượng thù địch vẫn mưu toan phá hoại nền độc lập, xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân ta trong một cuộc chiến tranh mới. Cuộc chiến tranh trên mặt trận văn hóa – tư tưởng lúc đầu được kẻ thù hoạch định trong “kế hoạch hậu chiến”,  sau trở thành một chiến lược diễn biến hòa bình.

Nhận biết rõ bộ mặt thật của các thế lực thù địch, trong khi nhân dân ta tập trung sức xây dựng lại đất nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế, nhân dân Việt Nam không lúc nào xao lãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững thành quả mà ông bà ta và các thế hệ tiếp nối đã xây đắp nên bằng bao nhiêu máu xương, mồ hôi, nước mắt suốt mấy ngàn năm lịch sử oai hùng.

Cùng với các lực lượng yêu nước trên mọi lĩnh vực xây dựng và bảo vể Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa, các chiến sĩ an ninh nhân dân lại bước vào cuộc chiến đấu mới đầy cạm bẫy và đòi hỏi nhiều trí thông minh, tinh thần sáng tạo trên mặt trận chính trị, văn hóa và tư tưởng. Những chiến công thầm lặng trên mặt trận này cần được phản ảnh, ghi lại một cách đầy đủ với nội dung phong phú, hình thức đa dạng để nêu cao những tấm gương cao đẹp của chiến sĩ và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” của Minh Kiên – Nam Thi là một trong những tác phẩm văn học góp phần làm phong phú thêm truyền thống đấu tranh bất khuất và ý chí quyết thắng của dân tộc, bảo vệ và phát huy hồn thiêng sông núi Việt Nam.

Phan Hiền

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 8 Sep 2025

Thay lời cuối

Thiện tâm của nhân dân Hoa kỳ

Guam là nơi mà buổi sáng của nước Mỹ bắt đầu sớm nhất, rồi mới đến những địa điểm khác như đảo Wake, Honolulu, và San Francisco. Đó cũng là mảnh đất mà đối với đa số đoàn di tản đợt đầu, ánh bình minh đã hé rạng sau cơn bão tố. Vừa tới đảo đã có nhiều hội từ thiện và cá nhân tình nguyện giúp đo. Họ mang cơm tới trại, thông dịch, nấu ăn, săn sóc trẻ em, thay tã cho con nít. Tuần báo TIME (5 tháng 5, 1975) kể lại là hãng Mcdonald còn muốn tặng mỗi người một bánh hamburger và một chai coke khi họ vừa đặt chân lên đất Mỹ để “giới thiệu lối sống Mỹ”. Nhưng ban quản lý trại đã từ chối vì cho là Mcdonald chỉ có dụng ý quảng cáo.

Hai địa điểm trên đảo Guam là nơi được chọn: “Thành phố Thiếc” (Tin City) ở phi cảng quân sự Anderson, và trại Hải quân San, một khu nhà cũ kỹ đã bỏ trống từ lâu. Hải quân đã chớp nhoáng mắc điện, làm nhà vệ sinh, phòng tắm, nhà bếp. Ngày đầu, họ đã làm việc liên tục 24 giờ, rồi chuyển xuống 12 giờ một ngày. Một trại mới đã được dựng thêm, gọi là “Trại Bất ngờ” (Camp Fortuitous). Thái độ những chú lính thuỷ đùa vui với trẻ con, diễu cợt với các cô gái, làm cho mọi người cảm thấy bớt căng thẳng đôi chút.

Từ Guam, một số đông được chở tới Camp Pendleton ở Nam Cali. Nơi đây, các lều vải rộng rãi đã được chớp nhoáng dựng lên. Từng đợt rồi lại từng đợt, khi xe buýt chở đoàn người tới, các quân nhân TQLC mau mắn phát chăn, quần áo ngủ, gói đồ vệ sinh, dép, và mỗi người một thỏi kẹo. Trước cảnh đó, nhiều người đã quá cảm động, không cầm nổi nước mắt. Khi thấy thực sự cơn bão tố đã đi qua, họ đã ôm chầm lấy nhau, bao nhiêu tình cảm, bao nhiêu niềm vui.

Nhưng Camp Pendleton chẳng mấy lúc đã đầy nghẹt. Phải chọn thêm trại. Tại Bộ Quốc phòng, chúng tôi được ông Von Marbod yêu cầu tham gia ý kiến về địa điểm trại và về nhu cầu của người tỵ nạn. Đoàn chúng tôi dùng một máy bay nhỏ do Bộ thuê của hãng tư để đi xem xét một số trại. Trại Fort Chattèe (Arkansas) và Eglin Air Force Base (Florida) được chọn ngay vì khá rộng và có phương tiện tương đối lốt so với hai trại khác là Camp Roberts ở California và Camp Pickett ở Virginia.

Khi tới trại Indiantown Gap ở Pennsylvania thì chúng tôi thích quá vì trông nó hoang vu, thơ mộng lại có cái “lỗ hổng” (khoảng trũng) nằm giữa hai bên núi đồi, vì thế gọi là “gap”. Vì nghĩ rằng cái “lỗ hổng” đó nó phản ảnh được phần nào cuộc đời của chúng ta lúc đó, nên tôi một mực đề nghị nên chọn trại này.

Tổng kết đợt người đầu

Theo thống kê chính thức: tổng cộng đoàn người được di tản lớp đầu là 130.000; trong số này, chỉ có khoảng 30.000, tức là 23% là thuộc thành phần “có nguy hiểm cao độ” mà Mỹ thực sự định cứu; trong đó, 22.294 người là nhân viên và gia đình nhưng người làm việc cho các cơ quan Mỹ; số còn lại, 100 000 người thì chỉ là vì may mắn [1].

Về phương tiện chuyên chở, số người được Toà đại sứ di tản bằng máy bay lớn, trực thăng, và xuồng là 65.000 người; số người đi ghe thuyền ra biển và may mắn được làu Mỹ cứu cũng là 65.000 người, đúng một nửa.

Hoa kỳ cũng cố gắng “quốc tế hoá” việc di tản và kêu gọi nhiều quốc gia. Ngày mồng 5 tháng 9, Đại sứ Dan Brown người được uỷ thác trách nhiệm điều khiển Chương trình định cư gửi một công điện cho các Đại sứ Mỹ tại khắp các nước, khẩn khoản yêu cầu họ tranh thủ với các quốc gia thân hữu dung nạp một số di dân [2].

Đầu tiên có nước Úc rồi tới một số quốc gia khác bày tỏ thiện chí như, Argentina, Brazil, Chile. Tới ngày 10 tháng 5, kết quả là 25.000 người được nhập cảnh ở các quốc gia khác [3].

Cánh tay rộng mở

Sau khi vượt qua được hàng rào của mấy chính trị gia, và sau giai đoạn khó khăn ban đầu, đoàn người di tản đã sớm tiếp xúc được với nhân dân Hoa kỳ.

Việc quan trọng nhất là vấn đề định cư. Vào lúc đó, gần 9% lao động Mỹ, tức 8 triệu người đang thất nghiệp. Đối với lao động các sắc tộc thiểu số, mức thất nghiệp còn cao hơn gấp hai, gấp ba lần. Người Mỹ rất lo ngại về việc người tị nạn sẽ vào cạnh tranh công ăn việc làm với họ. Tuy nhiên, sau khi Đại sứ Dan Brown tuyên bố là toàn bộ người Đông Dương sẽ được phân bố ra khắp nước Mỹ, và “Không có địa phương nào sẽ bị tràn ngập với số người tị nạn”, nỗi lo âu lúc ban đầu của nhiều nơi cũng bắt đầu giảm. Và sự công bình, thiện tâm, những giá trị căn bản được đề cao của nhân dân Hoa kỳ đã thắng thế.

Báo chí đăng tải câu chuyện nhà thờ Los Gatos Christian ở California đón tiếp 154 người tị nạn hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ. Sau khi ca đoàn nhà thờ hát những bài cầu chúc thánh nhạc, các bà người Mỹ, người Việt xúm nhau nấu cơm cho cả nhà thờ ăn: “Có bao nhiêu nước mắm thì chúng tôi đã mang ra hết”, mục sư Marvin Rickard nói với báo chí 4 . Thống đốc Guam, ông Ricardo Bordallo ký nghị định chấp nhận 25.000 người. Rồi từ đó, thái độ của chính quyền cũng như nhân dân các tiểu bang như California, Arkansas, Miami cũng thay đổi. Nhiều người như Chủ tịch Nghiệp Đoàn lao động AFL-CIO, ông George Meany cũng như các Thống Đốc Reubin Askew (Florida), James Longley (Maine), Dan Evans (tiểu bang Washington) đều ủng hộ đề nghị của Tổng thống Ford tài trợ cho đoàn di cư . Và sau phản ứng chống đối ban đầu, Quốc hội đã chuẩn chi 405 triệu cho mục tiêu này. Các hội thiện nguyện. Hồng Thập Tự, các đoàn thể, tổ chức, cũng như cá nhân bắt đầu xung phong cộng tác.

Làm sao cho công cuộc định cư được thành công và hữu hiệu? Phương thức di tản và định cư Hungary được coi là thành công và đã được chọn làm mô hình để định cư đoàn người Việt tỵ nạn. Năm 1956, sau cuộc nổi dậy của nhân dân Hung bị đè bẹp, ngày 12 tháng 12, Tổng thống Eisenhower cho thành lập Uỷ ban Định Cư để điều hợp các hoạt động công cũng như tư nhằm cứu trợ đoàn người Hung 5 . Các Cơ Quan Thiện Nguyện (VOLAG) được kêu gọi tham gia. Trong hai năm 1956-1957, có 30.701 người Hung được định cư tốt đẹp. So sánh với mô hình định cư 675.000 người Cuba di tản năm 1959-60, mô hình Hungary có ưu thế hơn nhiều vì đã rải được người di cư ra nhiều tiểu bang. Khuyết điểm của mô hình Cuba là tập trung quá nhiều vào tiểu bang Florida.

Tất cả có chín Cơ quan Thiện Nguyện tham gia định cư người Việt. Những tổ chức này đã cố gắng hoạt động và phải chi tiêu trung bình là từ 2.500 tới 3.000 đô la để định cư mỗi gia đình. Trong khoản này, phần của Chính phủ tài trợ chỉ là 500 đô la.

Sau khi chọn được mô hình, tới việc kiểm tra an ninh. Thủ tục kiểm tra an ninh lúc đầu hết sức phức tạp, đòi hỏi phải thông qua tới năm cơ quan, gồm cả FBI và CIA? Quá trình định cư bị khứng lại. Có ngày ở trại Eglin (Florida), chỉ có ba, bốn người xuất trại. Trong khi đó, số người tới đảo Guam lên tới 50.000, gây ra khó khăn về tiếp tế, nước uống, vệ sinh. Tôi “hy vọng là đáo này không bị chìm” một nhân viên coi trại đã phải phàn nàn. Tại Fort Chattèe có lúc cũng đã lên tới 25.000 người.

Xuất trại

Ban quản lý các trại đánh điện về trung ương kêu ca về tình trạng xuất trại chậm trễ. Để giải quyết vấn đề, sở Di trú bắt đầu miễn thủ tục kiểm tra cho tất cả các trẻ em dưới 17 tuổi, những người làm cho các cơ quan Hoa kỳ lúc trước, cùng với gia đình và họ hàng của họ. Sau đó, từng bước một, đã nới lỏng thủ tục cho tất cả những người khác.

Để giúp việc xuất trại cho sớm, tôi có đề nghị một kế hoạch cho xuất trại mau lẹ, qua ông Von Marbod, lên Uỷ ban Đặc Trách Liên Bộ Đông Dương do bà Julia Vadala Taft làm chủ tịch. Vào ngày 23 tháng 6, còn tất cả là 88.392 người trong các trại của Bộ Quốc phòng. Dự phóng đặt ra hai khả năng: nếu giúp xuất trại được 700 người một ngày thì khoảng cuối tháng 10 là ra hết. Nếu làm chậm hơn, là 400 người một ngày thì phải tới tháng 1 năm 1976. Sau cùng, mức xuất trại trung bình là khoảng 600 người một ngày (xem đồ thị về Dự Phóng Xuất Trại).

Sở Di trú quy định là mỗi người đều cần có bảo lãnh, nếu không có thì không được xuất trại. Nhưng tìm việc làm là vấn đề khó khăn nhất vì tình trạng thất nghiệp đang lan tràn. Quốc hội yêu cầu Bà Julia Taft, Giám đốc Uỷ ban định cư Đông Dương (Indochina Task Force) lên điều trần ngày 24 tháng 7 về vấn đề này. Quốc hội sợ rằng vì không có việc làm, đoàn người tỵ nạn sẽ gây nên gánh nặng cho Chính phủ phải trợ cấp. Bà Taft đã hùng hồn biện hộ rằng: “Những lo ngại ban đầu của chúng ta về vấn đề công ăn việc làm cho số người di cư đã là không có cơ sở…”.

Muốn giúp cho bà Taft có thêm dữ kiện tranh đấu cho vấn đề này, tôi đã cùng một số anh em bạn làm một khảo sát nhắm vào nhóm người tị nạn vùng thủ đô Washington và lân cận. Khi hoàn thành, nghiên cứu được chuyển cho bà: (xem Phụ Lục E):

Ngày 2 tháng 9, 1975

“Thưa Bà Taft,

“Khởi đầu, tôi vui mừng thông báo là kết quả cuộc điều tra của chúng tôi có chiều hướng chứng minh những điểm bà đã trình bày trước Uỷ ban Di trú Thượng Viện ngày 24 tháng 7 là xác đáng. Thí dụ như về điểm bà nói tới “mối lo ngại ban đầu về vấn đề công ăn việc làm (như là thất học hay khó khăn về hoà nhập) đã là không có cơ sở”. Điều tra của chúng tôi cũng chứng minh là đoàn người di tản đang thiệt tha để có thể “được hưởng tất cả những phúc lợi cũng như đóng góp vào sự thịnh vượng của xã hội Hoa kỳ”.

Trong thời gian phỏng vấn (người ty nạn), chúng tôi đã đi tới những nhận xét và những biện pháp sau đây, trân trọng chuyển đến để bà xem xét:

1 Yêu cầu các Cơ quan Thiện Nguyện cung cấp nhiều thông tin hơn cho người tỵ nạn, cả trước và sau khi xuất trại;

2. Vì mức thất nghiệp đang cao cũng như vì chi phí tốn kém cho việc đỡ đầu, ta nên khích lệ các cộng đồng đỡ đầu cho người tỵ nạn hơn là các tư nhân;

3. Nghiên cứu và thiết lập một chương trình huấn nghệ tổng hợp càng sớm càng tốt;

4. Cung cấp một ngân khoản tối thiểu cho các trường gia đình đang khi họ tham gia vào những chương trình huấn nghệ này (thí dụ như là cho họ vay tiền để chi phí), và

5. Cho vay nhẹ lãi giúp chính các doanh nhân (trong số người tỵ nạn) tạo ra công ăn việc làm cho người tỵ nạn…

Kính chúc bà luôn thành ông trong việc hỗ trợ đoàn người tỵ nạn Đông Dương.

Trân trọng,

Nguyễn Tiến Hưng, Ph. D.

Nhận được tài liệu này, bà Taft phúc đáp:

Uỷ ban Liên Bộ (Định Cư) Đông Dương

Bộ Ngoại giao

Ngày 6 tháng 10, 1975

“Thưa Giáo sư Hưng,

Với sự quan tâm, tôi đã đọc tài liệu nghiên cứu của Giáo sư và đã yêu cầu các thành viên Uỷ ban của tôi xem xét nó cho kỹ trong công tác đánh giá về chất lượng và hiệu quả những cố gắng của chúng tôi trong công cuộc định cư.

Ngoài ra, tôi cũng đã chuyển một bản sao nghiên cứu của Giáo sư sang bên bộ Giáo dục và An Sinh (HEW) là nơi một Uỷ ban đặc nhiệm về di tản cũng đã được thành lập…”.

Trân trọng

(kí) Julia Vadala Taft     

Giám đốc        

Để cho bớt phần nào sự lo ngại của nhiều địa phương Mỹ về vấn đề công ăn việc làm, nhiều người cũng đã nghĩ đến thành lập một số khu hay làng Việt nam độc lập. Tại trại Indiantown Gap, có hai đề nghị tiên khởi. Chỉ huy phó, Đại tá Robert Travis đề nghị:

Ngày 14 tháng 7, 1975

“Thưa Tiến sĩ Hưng,

Kèm theo đây là bản sao về một quan niệm đối với vấn đề bảo lãnh người di tản trong một cộng đồng. Như chúng ta đã bàn trong chuyên viếng thăm mới đây của tiến sĩ, tôi thấy có hai điều khả thi: một là theo tài liệu đính kèm, và hai là một đề nghị của Đại Học Bucknell. Tuy cả hai đều giống nhau về bản chất, đề nghị Bucknell thiên về nông nghiệp và đề nghị đảo Walllops hướng về kỹ nghệ;

“Tôi yêu cầu giáo sư giúp theo đuổi những ý kiến này…”.

Trân trọng

(kĩ) Robert L. Travis

Chỉ huy Phó

Đề nghị của Đại học Bucknell là giúp định cư 2.000 người Việt nam trên 10.000 mẫu đất trang trại ở tiểu bang Pennsylvania. Cộng đồng này sẽ sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, và sẽ có thể tự thiết lập cơ cấu xã hội, hành chánh riêng, theo như luật pháp Hoa kỳ. Đề nghị thứ hai là định cư từ 500 tới 1 000 người tại một khu đã có sẵn nhà ở (các căn hộ từ 1 tới 3 phòng ngủ), thuộc Bộ Y tế, Giáo dục và An sinh (HEW), ở sát cạnh đảo Wallops, tiểu bang Virginia. Kỹ nghệ hải sản ở đây phát triển mạnh và rất cần nhân lực. Tôi có chuyển những đề nghị này về các cơ quan thẩm quyền để cứu xét.

Đoàn người vươn lên

Với lòng hăng say và ý chí quả cảm, chính đoàn người tị nạn đã giúp cho các trại di tản được đóng cửa gần như theo kế hoạch. Vào cuối năm 1975, hầu hết số 130.000 người thuộc đợt đầu đã xuất trại, để hoặc định cư, hoặc sống tạm thời với các gia đình bảo lãnh tại Mỹ và một số quốc gia. Hầu hết họ đã thấy chân trời hé rạng và bắt đầu xây lại cuộc đời mới. Về sự thành công của lớp người đầu, không những đại đa số đã không phải nhờ đến trợ cấp của Chính phủ sau một thời gian ngắn, họ lại đã phát triển và tiến bộ rất mạnh.

Theo Điều tra dân số chính thức của Chính phủ Hoa kỳ năm 2000 (U.S. Census 2000) thì vào năm đó, lợi tức mức giữa (median income) của một gia đình Việt nam (4 người) đã lên tới 47.000 đô la, tương đương bằng 75% lợi lức của một gia đình Mỹ nói chung (lợi tức mức giữa là mức mà 50% số gia đình có lợi tức cao hơn, và 50%, thấp hơn, chứ không phải lợi tức “trung bình”). So sánh với năm 1990, nó đã tăng lên được 36%. Số người còn nhận trợ cấp xã hội cũng chỉ còn 10% (so với 25%, năm 1990). Gần 60% của tổng số người Mỹ gốc Việt (1.13 triệu người) đã mua được nhà, so sánh với 43% năm 1990.

Sự thành công tốt đẹp này đã là một yếu tố quan trọng giúp cho Chính phủ Hoa kỳ quyết định tiếp tục các chương trình tỵ nạn nối tiếp. Họ đã không phải quá lo ngại về vấn đề trợ cấp và đặt thêm gánh nặng cho ngân sách. Ngược lại, họ lại nhận thấy rõ ràng sự đóng góp tích cực về nhiều phương diện, đặc biệt là việc đóng thuế cho cả ngân sách từ địa phương đến trung ương.

Cũng chính đoàn người lớp đầu, dù vất vả với công ăn việc làm nhưng đã tiếp tục hoạt động trên mọi lãnh vực: luật pháp, nhân đạo, và có những cố gắng vận động “hành lang”, để kéo dài chương trình tị nạn được trên hai thập niên. Ngoại trừ một số những hành động bất chính của phần tử nhỏ, phần đông đã nêu gương sáng, cố gắng, lương thiện làm ăn, sinh sống, học hành. Họ đã đóng góp cho xã hội và nền kinh tế của những quốc gia chấp nhận họ.

Mặt khác, sự thành công đó cũng đã giúp vào việc khích lệ Liên Hiệp Quốc thúc đảy nhiều quốc gia giúp các cuộc di tản tiếp theo. Hai nỗ lực lớn được khởi sự:

Hội nghị Quốc tế thứ nhất: được tổ chức tại Genève vào hai ngày 20 và 21 tháng 7, 1979. Tại Hội nghị này, “Chương trình ra đi có trật tự” ODP (Orderly Departre Program) đã ra đời. Tất cả được 20 quốc gia cam kết sẽ tiếp nhận hoặc nhận thêm số người di tản được nhận vào quốc gia họ, giúp giảm bớt gánh nặng cho các nước Á châu; và

Hội nghị thứ hai: “Hội nghị Quốc tế về Những Người Tị Nạn Đông Dương” tổ chức từ ngày 13 đến 4 tháng 6, 1989, được 70 nước tham dự. Kết quả là một “Kế hoạch hoạt động tổng quát” CPA được thiết kế giúp giải quyết vấn đề thuyền nhân, đặc biệt là giúp định cư số 100 000 thuyền nhân còn kẹt lại ở các trại tại Đông Nam A và Hồng Kông.

Sau đó, trong khoảng thời gian từ 1990 tới 1999: 507.500 người Đông Dương đã đến được Miền đất mới.

Cuộc di cư vĩ đại đã kéo dài được 25 năm, một trong những cuộc di tản lâu nhất trong lịch sử cận đại [6].

Hiện nay, số người Việt tại Mỹ, dù đã nhập quốc tịch hay chưa, đều đã chứng tỏ khả năng và tư cách của mình trong mọi địa hạt. Từ xã hội, kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự, luật pháp, y học, khoa học, môi trường nào cũng có những thành quả tốt đẹp, đóng góp cho nước sở tại.

Vào những ngày tháng đầu lúc cuộc di tản mới bắt đầu (tháng 5, 1975), khi dư luận chung tại Mỹ còn coi thường dân tị nạn, chính Tổng Giám đốc di trú, ông Leonard Chapman đã có quan niệm khác. Ông cho rằng đoàn người Việt nam tỵ nạn có nhiều đặc tính tốt, và vì vậy chắc chắn sẽ đóng góp. Nhìn vào đám người tay xách nách mang, bồng bế nhau nhập Cam Pendleton, ông Chapman tuyên bố:

“Người Việt nam làm việc rất chăm chỉ, ngay thẳng, rất sùng đạo, có óc nghệ thuật, và nặng tình gia đình” [7].

Giáo sư Tom Pettigrew, một nhà xã hội học trường Đại Học Harvard bình luận thêm:

Trong một cuộc chiến tàn khốc như vậy, mà hầu hết những người khác đã không thể cứng rắn và kiên trì được như thế, tôi nghĩ rằng những đặc tính này sẽ được tìm thấy trong đoàn người di tản ấy”. [8].

Giáo sư Pettigrew đã tiên đoán rất là chính xác. Tinh thần cương quyết và lòng kiên trì đã giúp cho lớp người Mỹ gốc Việt vượt qua bao nhiêu rủi ro, bất trắc, bao nhiêu khó khăn trong cuộc hành trình vào Miền Đất Mới. Họ đã không “chết phứt đi” như đã bị nguyền rủa, nhưng trái lại, còn vươn lên và lớn mạnh, đóng góp đáng kể cho những quốc gia đã rộng mở tiếp nhận họ. Nước Mỹ đã không phải rước của nợ mà đã nhận được của có.

Ngày nay, chắc chắn Nữ thần Tự do đã hài lòng về đoàn di dân mới nhất. Và họ đã đến từ Thái Bình Dương, phía sau lưng Bà.

——————————–

1          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 588, 590; U.S. Government, interagency task force, The Prerident’s Advisory Committee on Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 6-7.

2          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 588, 590;

3          U.S. Government, interagency task force, The President’s Advisory Committee On Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 35-37.

4          TIME (Magazine), 5 tháng 5, 1975, trang 26; xem thêm: U.S. Government, interagency task force. Background Matenal, May 12, 1975, B. Attachment A-E. 19 tháng 5, 1975, trang 22-29.

5          Gerald Ford, A time to heal, trang 257.

6          U.S. Government, interagency task force, Background Paper, May 19, 1975, trang 51-60. Về lịch sử tỵ nạn 1975 tới đầu thập niên 1990, xem Lê Xuân Khoa, Việt nam, 1945-1995, Tập II (sẽ xuất bản trong tương lai).

7          TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.

8          TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Sep 2025

49. Nguyễn Thị Vinh

Nguyễn Thị Vinh đã được đọc rất nhiều, từ trước 1954, với hai cuốn Thương Yêu [truyện dài] và Hai Chị Em [Tập truyện ngắn]. Cùng với những Mộng Sơn, Thụy An, Linh Bảo … bà được coi là một trong những nhà văn nữ tiêu biểu của nước ta một thời.

Nguyễn Thị Vinh có một văn phong nhẹ nhàng nhưng đằm thắm. Hai chữ “thương yêu” bà lấy làm tựa cho một cuốn sách của bà, cũng là cái tình người đọc có thể nhận thấy dàn trải trong từng mỗi câu văn, trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Thị Vinh.

Dù, càng về sau này, nghĩa là sau 54 là một giai đoạn, sau 75 lại là một giai đoạn khác nữa, cách viết của bà có ít nhiều thay đổi, bà có dùng đến luận lý, phê bình, triết lý, chính trị, đôi khi cả chỉ trích, khôi hài nữa, nhưng cái dịu

dàng, tinh vi, ngọt ngào đầy nữ tính vẫn là nét chính, cái hồn của văn chương Nguyễn Thị Vinh.

Nhớ, trước 75, kịch tác gia Trần Lê Nguyễn có giữ một mục trong chương trình của Đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn lấy tên là “Trên Những Nẻo Đường Văn Nghệ”, phát thanh hàng tuần, cuốn truyện dài “Thương Yêu” của Nguyễn Thị Vinh đã được mang đọc [từng kỳ] trong mục này và qua

giọng của: Ngọc Nga, Thu Hoài, Thanh Trúc, Duy Trác, Minh Đăng Khánh. Những buổi đọc truyện đó [khi ấy còn khá mới lạ đối với các thính giả] đã được rất nhiều người tán thưởng và đón nghe.

Sau biến cố 1975, Nguyễn Thị Vinh đã ở lại trong nuớc một thời gian, rồi được bảo lãnh đi định cư tại Na Uy. Hiện bà cùng với chồng là nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật và gia đình sinh sống tại Na Uy.

Hai tác phẩm Nguyễn Thị Vinh viết và cho xuất bản tại hải ngoại kể từ khi ra khỏi nước là: “Na Uy và Tôi” [Tuyển Tập Truyện Ngắn/ và “Cỏ Bồng Lìa Gốc” [Tùy Bút]. Cả hai cuốn sách này đều do nhà xuất bản “Anh Em”

của chính Nguyễn Thị Vinh và Nguyễn Hữu Nhật ấn hành. Để giải tỏa thắc mắc của các độc giả về hai chữ “cỏ bồng”, Nguyễn Thị Vinh cho biết đại khái: bồng là thứ cỏ lá nhẹ, có hoa trắng, một loại cỏ nhà nghèo dùng để lợp nhà thay rơm, giá rẻ hơn rơm vì không bền, nên sách vở có chữ “tất môn bồng hộ”, cửa bằng tre gai nhà lợp bằng cỏ bồng. Và: “Những đám cỏ bồng, mùa khô, chết chùm quấn chặt lấy nhau. Gió thổi từng bó cỏ, bay trên cánh đồng, đồi bãi”. Trong cuốn Cỏ Bồng Lìa Gốc Nguyễn Thi Vinh viết về nhiều thứ: thân phận người “đàn bà nước Nam”, thư gửi cho hai nhân vật tiểu thuyết của Khái Hưng và Nhất Linh [Mai Nửa Chừng Xuân & Loan / Đôi Bạn], thư gửi cho một người có thật ở ngoài đời Shirin Ebadi [Giải Hòa Bình Nobel 2003] bàn về nỗi “Vì Sao Dân Mình Khổ Mãi”, rồi lòng tư hương của một người Việt rời xa xứ sở [1975] muốn về nhìn lại đất nước nhưng lại tự thấy chưa thể làm cái việc ấy được vì:

“khi phải ‘xin phép’ ai có nghĩa là tôi chấp nhận người ấy có quyền, ít nhất đối với tôi. Nếu đất nước ta có một chính quyền thật sự do dân bầu, vì dân, đàng hoàng, tất nhiên như mọi người dân khác, tôi cũng phải tôn trọng luật pháp cùng các thủ tục hành chính của nó. Chỉ khó … [vì] tại tôi, tôi không ưa cái thứ chính quyền hiện có ở quê nhà”.

Đoản văn thú vị nhất có lẽ là đoạn Nguyễn Thị Vinh kể lại những kỷ niệm của bà với một số các nhân vật trong Tự Lực Văn Đoàn, nhất là với nhà văn Nhất Linh, ở Hương Cảng, khi ấy ông đang viết bộ trường thiên Xóm Cầu Mới.

Nguyễn Thị Vinh cho biết:

“Các nhà phê bình văn học viết về nội dung, bố cục và bút pháp của Xóm Cầu Mới. Còn riêng tôi, lại nhớ những tháng được nhìn thấy nét ‘chữ con kiến bò’ của anh Tam. Nhỏ nhưng không tới nỗi quá khó đọc, chạy trên mấy trăm trang giấy bản thảo. Bản thảo đầu tiên của Xóm Cầu Mới, anh Tam đã thai nghén từ năm 1940 ở Hà Nội đã mất hết  trong chiến tranh, và tới năm 1948 mới được anh viết lại ở Hương Cảng”.

Theo lời kể lại của Nguyễn Thị Vinh thì 1948 cũng là năm bà tới Hương Cảng, cư ngụ trong một căn nhà [bà cẩn thận nhắc rằng phải gọi là túp lều mới đúng] trên một vùng núi, vách ghép bằng các mảnh ván thùng, mái lợp cao su dầy màu đen.

Chính tại túp lều ấy, Nguyễn Thị Vinh đã được gặp một số nhân vật trong Tự Lực Văn Đoàn, như Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí.

Sau đây là đoạn Nguyễn Thị Vinh viết về Nhất Linh [các tr, 63-64, CBLG]

“ … tôi được gặp anh Tam lần đầu. Tôi không biết anh là nhà văn Nhất Linh. khoảng một tuần sau, trong bữa cơm cả nhà ngồi quanh cái bàn dài bằng gỗ ván thùng, do các anh đóng lấy. Nhân một câu chuyện tình cờ, khi biết anh là nhà văn Nhất Linh, tôi đặt bát cơm ăn dở xuống bàn, vội vàng, đến gần như vô lễ, tôi nhìn anh, lắp bắp hỏi: Ông, anh là ông … Nhất Linh đấy hả? Anh mỉm cười gật đầu, còn các anh cùng bàn thì bật cười thành tiếng. Tôi lại hỏi tiếp: Thế anh … Chính anh viết cái cuốn Đoạn Tuyệt đấy hả? Lần này thì anh khẽ cười thành tiếng và trả lời: Vâng”. Hàng ngày, tôi ít dám nói chuyện với anh, bởi vì trên gương mặt anh toát ra một vẻ nghiêm khắc, trầm lắng, rất buồn bã. Ánh mắt luôn luôn như nhìn về một cõi xa xăm mọng lên nỗi chứa chất u sầu.

“Tới nỗi tôi có cảm tưởng, nếu có một tiếng động dù nhỏ vang lên, cũng đủ làm cho những màng nước trong mắt anh òa vỡ. Cặp môi anh có lúc rung rung, như đang nói chuyện với ai đó, vô hình, đôi khi lại thoáng nét nhẹ, thật nhẹ, như mỉm cười”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Sep 2025

48. Nguyễn Thị Hồng Diệp

Được biết tác giả, bà Nguyễn Thị Hồng Diệp trước đây là giáo sư Anh văn dạy tại trường Gia Long, Sài Gòn. Tuyển tập “Sỏi Đá Bên Đường” gồm những bài bà đã viết rải rác trong nhiều năm và cho đăng trên một vài tờ báo, tạp chí, ký dưới bút hiệu Bà Ba Phải, nay gom lại in thành sách.

Bà không xác định đó là những truyện ngắn, tùy bút hay tạp văn. Có lẽ chính bà cũng không biết gọi chúng bằng cái tên nào cho chính xác.

Vậy, chúng ta cũng cứ tạm gọi chung đó là những đoản văn, vì, dù dài ngắn khác nhau, nhưng không có bài nào thực sự dài lắm và cũng không chuyện gì để kể lại.

Nội dung cuốn sách gồm những kinh nghiệm của người viết rút ra từ cuộc sống, những suy ngẫm, ý nghĩa mình đi ìm và tìm thấy để góp phần làm cho cuộc đời đẹp hơn, tương tự như cuốn “Nghệ Thuật Sống” hay “Sống Đẹp” của Lâm Ngữ Đường.

Đề tựa cho cuốn sách, Linh mục Đào Quang Chính viết:

“Đây không phải là cuốn sách đọc để thêm kiến thức. Tác giả nói rằng, đó chỉ là những hòn sỏi bên đường thôi mà. Hòn sỏi mang lại gì cho kiến thức chúng ta? Cũng không phải để giải trí, giải khuây lúc nhọc nhằn. Tôi đọc cuốn sách này, có khi cả bài, có khi từng đoạn, có khi chỉ vài câu. Tôi đọc và áp dụng vào chính đời sống của mình. Tôi trông thấy những bông hoa dại, hòn đá nhỏ bên đường, bây giờ không còn là của tác giả nữa, mà là của tôi. Dầu vậy, cùng với tác giả, tôi mơ ước ‘muốn sống không tiếc nuối, nên đối xử với nhau như hôm nay là ngày cuối cùng. Nếu có thể làm gì để cho người xung quanh sung sướng chúng ta nên làm ngay, kẻo sẽ có lúc ân hận. Nếu có thể cho được, xin hãy cho đi, như vậy bước đường lữ thứ trần gian của con người sẽ thoải mái, bình an, lúc ra đi sẽ nhẹ nhàng thanh thản. Sống làm sao để không bao giờ cần phải xử dụng tới những từ ngữ giá mà, biết thế, phải chỉ … ‘

Trong cuốn sách của mình, bà Nguyễn Thị Hồng Diệp bàn về đủ thứ trên đời, từ tình yêu đến khẩu nghiệp, dại khôn, sống chết, con cái, mẹ cha, giò nem ninh mọc … Bà có lối viết thẳng tuột, không màu mè, có bản lãnh khi xử dụng ngôn ngữ, có thể hái lấy nụ cười của người đọc khi nào bà muốn.

“Nuôi Cháu” là một đoản văn rất cảm động của bà. Đây là cái bà gọi là cái giốp đến gõ cửa tận nhà giao cho, khi về già, ở không thì buồn, đi làm không ai mượn. Con trai lấy vợ cả chục năm năn nỉ, giục nó cũng không chịu có con. Đùng một cái nó đẻ con, con trai đàng hoàng thế là bà nội có giốp trông cháu.

Ở trang 103 cuốn sách, bà Nguyễn Thị Hồng Diệp viết:

“Cái cảm tưởng lúc nhìn thấy đứa con lần đầu tiên thế nào tôi đã quên mất, nhưng khi nhìn thấy đứa cháu mới lọt lòng, sao mà cảm động thế. Đứa bé tí hon này có một sức mạnh liên kết vô biên. Trước khi nó sinh ra, tôi vẫn yêu quý con dâu, nhưng trong tình yêu ấy vẫn có phần nào xa cách, khách sáo. Nhưng khi bế đứa cháu nội trên tay, tôi cảm thấy biết ơn con dâu, yêu thương rất mực, vì nó đã banh da, xé thịt sinh ra đứa cháu này. Máu huyết của tôi đã hòa chung với máu huyết của nó. Từ đây, nó với tôi không còn là hai người xa lạ, mà là những người cùng huyết thống. Tuy đứa bé này là con của nó, nhưng lại mang tên họ của tôi, là tiếp nối dòng dõi tôi. Những ngày sau đó, giữa tôi và con dâu nẩy nở một thân tình gắn bó. Thằng bé càng ngày càng giống bố như hai giọt nước. Tôi nghĩ đó là cái mầu nhiệm kết hợp hai người đàn bà xa lạ thành mẹ con”.

Google images

Lâu lắm không nuôi trẻ bà nội lúng túng một thời gian, rồi cũng đâu vào đấy. Bà Nguyễn Thị Hồng Diệp viết tiếp:

“Cái sung sướng nhất là bế cháu, ru cháu ngủ. Tôi lục lọi trí nhớ, ôn lại những bài ru con để đem ra ru cháu. Hồi cháu ngoại tôi còn nhỏ, con gái tôi không cho tôi bế, không cho tôi ru vì sợ làm hư trẻ. Bây giờ, trái lại, con trai và con dâu tôi muốn tôi ru cháu bằng những bài hát ru ngày xưa để cho nó thấm nhuần tình tự dân tộc. Tôi ru cháu bằng những bài Trên trời có đám mây xanh, Công cha như núi Thái Sơn, Con gà cục tác lá chanh, Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa v.v … cho tới truyện Kiều. Trong khi ru cháu tôi như chìm vào quá khứ. Cả một thời thanh bình ở quê hương. Những bài hát này đã ru biết bao nhiêu thế hệ người Việt. Khi mới sinh tôi cũng chìm vào giấc ngủ trong tiếng ru của mẹ. Các con tôi cũng ngủ trong những điệu ru này. Bây giờ, không biết tại không gian, thời gian này, những lời ru này có còn ảnh hưởng gì tới cháu tôi không?”.

Nhìn bà ru cháu con trai có dịp hỏi lại những ngày thơ ấu của mình. Bà nói, ngày xưa con còn bé, mẹ hay cho con mặc bộ đồ bà ba, trông dễ thương lắm. Con trai đã yêu cầu mẹ may bà ba cho em bé.

“Tôi may đồ bà ba. Cháu tôi, ban ngày mặc đồ Mỹ, đến tối đi ngủ mặc đồ bà ba bà nội may. Tôi mong rằng, khi lớn lên, ra ngoài nó sẽ là người Mỹ, nhưng ở trong nhà nó vẫn là người Việt, vì nó được bao bọc trong tiếng ru, điệu hát đầy ắp tình tự quê hương và mặc đồ bà ba như những người Việt cần lao.

… Giốp mới của tôi là một giốp tốt nhất mà tôi có, từ trước tới nay. Không phải ai cũng có cái may mắn tìm được cái giốp này và cũng không phải ai cũng có khả năng làm được giốp này. Cám ơn các con đã cho mẹ niềm vui to lớn. Cám ơn con dâu đã sinh cho mẹ đứa cháu này và đã cho mẹ cái vinh hạnh dự phần vào việc giáo dục nó”.

Chuyện Vợ “Ông Nhà Thơ”

vvnm.vietbao.com

21/12/2012

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 7 Sep 2025

Google images

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế. Nhân vật trong truyện mới của ông Châu sau đây còn “trên cả tuyệt vời”, nói theo kiểu các trang mạng phổ biến từ trong nước.

Ở hải ngoại, mười ông Việt Nam sồn sồn, cỡ trên dưới sáu mươi tuổi thì có đến chín ông là nhà thơ. (Xin bạn đồng ý với tôi, vì chính bạn cũng từng làm thơ, từ thời còn đi học ở quê nhà, nhưng không gửi đăng báo vì khiêm tốn đấy thôi). Ở hải ngoại, cuộc mưu sinh tuy bận rộn nhưng một lúc nào đó, những “rung động bất chợt của những nỗi nhớ, những kỷ niệm…”, khiến tâm hồn lãng mạn cảm hứng thành những vần thơ, phải ghi xuống để khi rãnh rỗi, đem ra ngâm nga, tự thưởng thức. Và “chủ đề” của các ông, bà hiện nay là “quê cũ và người xưa”.

Sự thực, với các ông, trong chín nhà thơ đó, hết tám ông, thời còn đi học không hề có người yêu, yêu thầm thì họa may. Lý do đơn giản là thuở học trò, cứ vác quả tim cô đơn đi cà lơ thất thểu ngoài đường chứ chẳng cậu nào dám tán tỉnh hay tỏ tình với người đẹp. Nhưng trong “thơ văn hoài niệm” ông nào cũng sắm cho mình một lô các cô nữ sinh, xinh đẹp, ngây thơ… và nhất là cũng yêu “chàng” (nhà thơ) say đắm. Nhưng đau khổ thay! Người yêu lên xe hoa với người khác khiến chàng thành “thi sĩ”.

Người làm thơ, trước hết là để cho mình ngâm nga, sau đó (tự thấy hay) mới quyết định mời thiên hạ cùng thưởng thức. Thời đại khoa học tân tiến, chỉ cần mở computer tung thơ mình lên “net” là có hàng trăm, hàng nghìn người đọc. Rồi thì những hồn thơ đồng cảm tìm đến nhau. Trước còn sơ giao, sau thành thân thiết. Khoảng năm 1994, ở hải ngoại, có Hội Thơ Tài Tử, qui tụ hàng nghìn nhà thơ trên khắp thế giới. Họ góp thơ để phát hành những tập thơ “Cụm Hoa Tình Yêu” dày năm, bảy trăm trang của mấy trăm nhà thơ, lại còn hẹn nhau cứ mỗi hai năm, cùng họp mặt để đem thơ mình ra ngâm nga, cùng thưởng thức, sau đó rủ nhau đi thăm thắng cảnh, đi ăn uống, vui chơi… Nơi họp mặt thường là các thành phố đẹp ở Mỹ, Châu Âu… Mới đây nhất là cuộc họp mặt của Hội Thơ Tài Tử ngày 14 tháng 9 năm 2012 tại Dalas, Texas kỷ niệm 18 năm thành lập, qui tụ nhiều nhà thơ khắp thế giới, có cả những nhà thơ từ Việt Nam sang. Trên thế giới, xưa nay, chưa có hội thơ nào qui tụ nhiều nhà thơ đến như vậy. Tuy vậy còn có hàng trăm thi sĩ người Việt hải ngoại không vô hội, họ làm thơ chỉ phổ biến trong bạn bè, thậm chí để riêng mình ngâm nga.

Tôi biết có một ông nhà thơ thuộc loại đó. Nhà thơ Xuân Tình với tập “Thơ Xuân Tình”. Tình yêu trong thơ ông ta mênh mông, lai láng như muốn tràn ra ngoài những giòng chữ.

Chuyện đó có gì lạ đâu?

Điều lạ mà tôi sắp kể ra đây lại là bà vợ ông nhà thơ đó.

Bà vợ ông nhà thơ làm chủ hai tiệm nail (làm móng tay), khá lắm, nên ông chồng ở nhà, đi vô đi ra và làm thơ chơi để giết thì giờ. Vợ ông ta rất yêu chồng, yêu luôn thơ của chồng. Làm chủ tiệm nail lại phải lo chuyện gia đình, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ áo quần, rửa chén bát… bận túi bụi, vậy mà về đến nhà là ôm chồng hôn và âu yếm hỏi “Bữa nay ông xã em làm được mấy bài thơ? Đọc cho em nghe với!” Trong khi ông chồng đi lấy mấy bài thơ vừa sáng tác thì bà vợ nấu nước pha trà. Hai người ngồi ở phòng khách, vợ tựa đầu trên vai chồng, lắng nghe chồng ngâm thơ. Và dù là những câu thơ bí hiểm cách mấy, bà vợ cũng suýt soa khen hay. Chuyện ngắn là chuyện dài “cô đọng”, bài thơ là chuyên ngắn “cô đọng” Bà ta không cần biết điều đó. Bà chỉ cảm nhận được chồng mình có gì đó cao quí hơn người khác. Chồng bà là “nhà thơ”. Bà yêu chồng, yêu hồn thơ của chồng. Sau khi cùng chồng uống chén trà thơm, bà ta hôn chồng lần nữa rồi mới đứng lên lo chuyện cơm nước. Bà ta nấu vài món thôi, nhưng nấu nhiều. Lũ con, nhà gần đấy, đã nên vợ nên chồng, nhưng vẫn giữ thói ăn bám mẹ. Buổi chiều chúng chỉ chờ mẹ gọi là cả gia đình kéo đến ăn, đã khỏi nấu nướng mà được mẹ cho ăn ngon còn bới đem về để sáng mai đem đi làm.

Chuyện hai ông bà yêu thơ hơi quá đáng, có thể làm bạn nghi ngờ tôi “sáng tác”. Làm gì có bà vợ yêu chồng kiểu đóng kịch như vậy? Xin bạn kiên nhẫn đọc những chuyện vô lý tiếp theo. Vợ chồng tôi có quen với vợ chồng nhà thơ nên mới biết mà kể cho bạn nghe.

Ông nhà thơ nầy là một ông cù lần. Suốt ngày ở trong nhà, cứ lừ nhừ, khật khừ như con gà rù, chẳng bạn bè, chẳng hội đoàn, ngay cả hội “Thơ Tài Tử” ông ta cũng không tham gia. Một lần gặp vợ tôi, bà chủ tiệm nail khoe thơ chồng mình hay lắm, tôi hỏi sao không gửi đăng báo để thiên hạ cùng thưởng thức? Bà ta nói rằng, có gửi nhưng không thấy báo nào đăng! Tôi mới tiết lộ cho bà ta cái “mánh” giống như của tôi (mỗi khi gửi truyện đến các báo) “Chị gửi khoảng chục bài thơ của ông xã chị, kèm theo một chi phiếu mua một năm báo, họ sẽ coi như “bài cậy đăng”. Nhất định thơ của ông xã chị sẽ xuất hiện trên báo đó”. Bà ta bảo rằng không biết làm cách nào? Tôi bảo cứ ký cho tôi năm ba cái chi phiếu, tôi sẽ lo giùm cho.

Vậy là cả năm tờ báo, thuộc loại “văn học nghệ thuật” ở Cali., Texas đều đăng thơ của ông chồng bà chủ tiệm nail. Bà ta đem mấy tờ báo ra tiệm khoe với khách hàng người Việt rồi cám ơn tôi rối rít “Ông xã em vui lắm. Không ngờ thơ mình được các báo giá trị đăng. Cám ơn anh nhiều lắm” Như vậy là bà ta không cho chồng biết đó là “những bài thơ cậy đăng”. Tôi bảo “Có một cách làm cho ông xã chị khoái hơn nữa là ra mắt thơ” Chuyện móng tay, móng chân thì bà ra rành, nhưng về văn học nghệ thuật thì bà ta lại phải nhờ tôi “Em có nghe chuyện ra mắt thơ, nhưng không biết làm cách nào? Anh có thể giúp em được không? Miễn ông xã em vui thì tốn kém bao nhiêu em cũng không ngại” “Ra mắt thơ nhiêu khê hơn đăng thơ trên báo, nhất là ông xã chị không quen biết nhiều với báo chí, ít giao thiệp với đồng hương địa phương ở đây. Tôi lên chương trình như thế nầy để chị về bàn với ông xã chị trước khi quyết định vì tốn tiền lắm. Trước hết là in những bài thơ của ông xã chị thành tập, gọi là “thi phẩm”. Muốn chơi sang thì nhờ một ông nhạc sĩ phổ nhạc khoảng mươi bài thơ, thuê ca sĩ hát và thu vào CD, sau đó tổ chức một buổi ra mắt thơ, có ca sĩ hát “thơ phổ nhạc”. Hôm ra mắt thơ, ông xã chị ngồi sẵn chỗ ra vào, ký tặng thơ và CD. Nhớ đừng ép mua, kiểu bắt chẹt đó khiến người ta bực mình. Người ta đến là may lắm rồi. Muốn buổi ra mắt thơ được đông vui, chị phải quảng cáo trên đài phát thanh, trên TV, trên báo chí thật rầm rộ. Nhưng tôi báo trước là chục nghìn không đủ đâu” Bà ta sáng mắt lên “Bao nhiêu cũng được miễn sao chồng em được mọi người biết tên, báo chí, truyền hình, phát thanh đưa tin, gọi chồng em là “thi sĩ” là chồng em vui rồi. Anh cố giúp giùm em. Anh đừng ngại chuyện tiền bạc” “Tôi chỉ giới thiệu những người lo chuyện ra mắt thơ với chị, họ sẽ sắp xếp mọi việc. Chị yên tâm”.

Vài tháng sau, việc in ấn, phổ nhạc, thu CD đã xong, tôi gọi cho một ông trưởng ban nhạc kiêm MC (người điều khiển chương trình), chuyên phục vụ đám ma, đám cưới, hội xuân, ra mắt sách… nhờ ông ta lo giùm, rồi gọi một ông bạn, nhà “phê bình văn học nghệ thuật” ở Cali. nhờ giới thiệu tập thơ. Ông ta bảo, đây là dịp qua Virginia thăm bạn bè mà không tốn tiền nhưng phải gửi cho ông ta tập thơ rồi lo cho ông ta vé máy bay, khách sạn và vài chai rượu là đủ, và muốn ông ta nói trong bao lâu (nửa giờ, một giờ?), ông ta cam đoan sẽ làm phổng mũi tác giả và khán giả sẽ vỗ tay liên tục. Ông bạn “nhà phê bình” nầy tính hơi khùng khùng, nhưng cũng rất khôn. Ông ta góp nhặt những đoạn văn từ những bài phê bình, nhận định văn học trên các báo, xào nấu lại thành những bài thuyết trình hoa mỹ, thánh thót của riêng mình. Ông ta có khoảng năm, bảy bài thuyết trình tiền chế như thế, thủ sẵn, khi có người nhờ, giới thiệu một tác phẩm, thì chỉ việc lựa bài nào thích hợp với tác phẩm, nhét vào đó tên tác giả là thành một bài giới thiệu nghe rất mê ly. Một tập thơ, tập truyện, dở cách mấy mà qua tay ông ta với bài thuyết trình cũng trở thành “kiệt tác”. Đương nhiên, tác giả sướng mê, khán giả cũng khoái lỗ tai.

Thật ra, tôi vốn tính lười. Vợ sai còn không chịu làm, hơi sức đâu làm chuyện tào lao! Nhưng vì tôi không ưa ông nhà thơ nầy nên muốn phá chơi, vì trước đây vài năm, ông ta gặp ai cũng chào hỏi vui vẻ, còn rủ đi uống cà phê để tán phét, về sau, bỗng nhiên, ông ta rút vô nhà, gặp bạn bè, chào hỏi, ông ta chỉ gật đầu mà không thèm mở miệng, có lẽ ông ta thành nhà thơ, thuộc “cõi trên”, không thèm giao tiếp với bọn tầm thường. Bây giờ, tôi xúi ra mắt thơ mà không ai đến để ông ta “quê”, cho bỏ ghét. Hơn nữa, tôi tò mò muốn biết về bà chủ tiệm nail nầy. Yêu thương chồng, chiều chồng theo kiểu kỳ quái đó thì xưa nay hiếm thấy. Bà nào nghe chồng in thơ, ra mắt thơ là nhăn mặt rồi. Đã tốn kém còn phải mang về cả nghìn tập thơ, để chật nhà. Muốn gửi tặng bạn bè, phải moi óc, có được vài chục địa chỉ là quá nhiều, lại phải ký tên, ra bưu điện gửi, tốn kém, phiền phức vô cùng! Nhiều ông còn đi các tiểu bang khác, ra mắt thơ, các bà vợ rầu lắm mà không dám nói. Riêng bà vợ ông nhà thơ nầy thì lại hối hả, chạy ngược, chạy xuôi, gọi người nầy, người kia nhờ vả, năn nỉ, đốc thúc… Tôi được bà ta coi như quân sư, gì cũng hỏi ý kiến, tôi thấy tội nghiệp nên cố giúp. Vì biết kết quả sẽ không ra gì nên tôi giao hẹn trước “Tôi giúp ông bà hết mình rồi nhưng người ta có đến hay không, tôi không chịu trách nhiệm”.

Hôm ra mắt thơ, vợ chồng tôi có đến phụ giúp việc chào đón quan khách, sắp xếp chỗ ngồi. Thật không ngờ, khách đến chật nhà hàng! Không biết ai xúi mà bà ta mời một cô ca sĩ nổi tiếng từ Cali. qua. Thế là cứ nghe báo chí, đài phát thanh quảng cáo có cô ca sĩ Ngọc Hạ hát là người ta ùn ùn kéo đến. Hơn nữa đã nghe hát “chùa” (miễn phí) lại được tác giả tặng không tập thơ với CD ca nhạc, lại có nước ngọt, bánh kẹo để nhâm nhi, được gặp bạn bè trò chuyện rôm rả (chả cần biết diễn giả đang nói gì!) Vợ chồng nhà thơ mặt mũi sáng rỡ, nhất là ông chồng, không còn là con gà rù nữa, lúc nào cũng tươi cười, ký tên tặng thơ không ngơi tay. Có điều lạ là, không biết từ đâu kéo đến một lô người đẹp. Tôi thật sự kinh ngạc, không ngờ thơ ông ta làm rung động quả tim của những cô trẻ đẹp đến như vậy! Các cô rất hấp dẫn, thơm tho, ngon lành. “Nói chung” là cô nào cũng nõn nà. Cô có cánh tay trắng nuốt thì mặc áo hở cả nách, cô có đùi thon dài thì mặc quần trên đầu gối hai gang tay, cô có ngực tròn, trắng, mịn như trứng gà bóc thì chỉ che ngực một phần tư thôi. Có cô, diện giống như nữ tài tử xi nê đến dự đại hội điện ảnh Oscar, phía sau, từ cổ đến dưới eo (lưng) để trống trải, thoáng mát, nên cô đi đâu thì đầu các ông quẹo theo hướng đó. Đã vậy các cô lại đi lung tung, gặp ông nào cũng chào, chào theo kiểu Nhật, nghĩa là cúi gập người xuống. Các ông thấy hết, mặt thộn ra, như bị bắt mất vía. Có lẽ xong buổi ra mắt thơ mà các cô chưa về, các ông cũng không chịu về. Tôi đâm ra ước được như ông nhà thơ, để trong mấy chục cô “hâm mộ thơ” đó làm gì cũng có vài cô sa vào vòng tay của tôi. Có điều lạ là bà vợ ông ta không tỏ ý khó chịu trước những lời ca tụng, tán tỉnh gần như tỏ tình của các cô (nõn nà) nầy với ông chồng (nhà thơ), mà còn về hùa theo rồi cười đùa vui vẻ nữa. Vì sao bà ta lại quá tử tế với chồng đến như vậy?

Buổi ra mắt thơ thành công ngoài mơ ước. Người điều khiển chương trình quả là chuyên nghiệp. Anh ta mở miệng là khán giả cười vui như xem hài kịch. Nhà phê bình văn học nghệ thuật thì đúng là danh bất hư truyền. Vì tôi mãi chiêm ngưỡng vẻ đẹp giai nhân nên đôi mắt và hồn vía tôi cứ bám sát theo các cô đang ỏng ẹo đi lòng vòng khắp nơi, nên không biết ông ta nói gì nhưng thỉnh thoảng nghe tiếng vỗ tay rào rào.

Sau hôm ra mắt thơ đó, tò mò, tôi đem thi phẩm “Thơ Xuân Tình” ra đọc. Không hiểu ông bà nào đánh máy, trình bày tập thơ cho ông ta, đã ghi một câu đáng kinh ngạc, ngay bìa trước tập thơ, dưới tấm hình tác giả rằng “Thi sĩ lãng mạn được mến mộ nhất hiện nay tại hải ngoại, người đã hi sinh cả đời mình để viết nên những trang sử thi đau thương…”

Tôi cũng mượn bài diễn văn của nhà phê bình văn học để nghiên cứu, hi vọng sẽ biết được giá trị của thi phẩm. Đọc suốt tập thơ và bài “phê bình văn học” tôi chỉ rút ra được một kết luận là nhà phê bình quả là đại tài. Tôi xin trích vài đoạn văn tiêu biểu sau đây: “Lãng mạn và đầy cá tính là yếu tố hấp dẫn trong thơ Xuân Tình. Đó là một thông điệp, chuyên chở bằng chữ nghĩa, gần như lạnh lùng, không cảm xúc về những vấn nạn của hiện thực đầy cảm tính, nhưng lóng lánh trong đó là những mảnh suy tưởng sắc sảo, những rung động ẩn mật của tình yêu. Tuyệt vời hơn nữa là với sự thông minh, dí dỏm, nhà thơ Xuân Tình đã lôi cuốn người thưởng ngoạn vào những tình huống bất ngờ, đầy hình ảnh và âm thanh của đam mê, buông thả và cộng hưởng” (?!). Trong một đoạn khác, ông ta viết “Từ vị trí một người thưởng ngoạn bình thường, tôi nghĩ, nhà thơ Xuân Tình có trong tay một cách thế thi ca để thể hiện sự hiện hữu của mình. Một nhà thơ phá cách, nhiều tìm tòi thử nghiệm, cách tân ở kỹ thuật, đậm tính thời cuộc ở nội dung. Thơ ông được giải thoát, được tự do, vượt trên mọi câu thúc xã hội, vượt qua cả hàng rào tín ngưỡng, đạo lý, vượt khỏi tâm lý rụt rè, khép kín để bay bổng về một thế giới mới, một linh hồn mới, một hơi thở mới. Từ đó, người ta thấy được cái phong phú của cuộc sống, cái sâu thẵm của tâm hồn và cái trớ trêu của định mệnh”

Tôi chịu thua, không hiểu gì về bài nhận định thơ theo lối tiền chế đó! Chỉ duy nhất một câu (không biết ông ta thuổng của ai) lộ rõ ý mỉa mai mà ít người để ý “Thơ rất lạ, một ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm vì sẽ kén người thưởng thức” Tôi hỏi “nhà phê bình văn học” nghĩ thế nào mà viết toàn những câu ca tụng nghe rổn rảng như chuông mà chẳng thực tế, rõ ràng gì cả? Ông ta hỏi tôi “Ông có đi dự đám ma lần nào chưa? Có nghe người ta đọc điếu văn chưa? Tôi nhận định văn học trong những buổi ra mắt sách, ra mắt thơ cũng giống như người ta đọc điếu văn trong các đám ma vậy thôi. Chỉ ca tụng, suy tôn tác giả, tác phẩm chứ không phê bình, góp ý. Tác giả khoái chí, người nghe vui tai. Có hại cho ai đâu? Anh chê văn, thơ người ta vì văn, thơ của anh dở hơn của người ta. Nhà văn, nhà thơ thất bại thành nhà phê bình là vậy”

Còn về thi sĩ Xuân Tình, cá nhân tôi nhận xét thì, quả thực ông nhà thơ của chúng ta đã “bước lùi về quá khứ một bước và tiến tới hậu hiện đại ba bước”. Nhiều bài thơ, tôi đoán, ông ta nhắm mắt viết bừa những câu bí hiểm điên khùng rồi ngắt ra từng đoạn, xuống giòng, thế là thành một bài thơ tự do, trừu tượng, siêu hình gì đó? Có những câu rất công thức như “Từ em về với người ta. Anh rời phố thị khóc tà huy xưa…” hoặc rất khó hiểu như “Em cổ tích ta vong thân mục tử, ôm mặt trời độc tấu khúc cuồng phong”…

Tôi biết, bạn nghĩ rằng tôi (nhà văn thất bại thành nhà phê bình) đang phịa ra một chuyện vừa dở vừa vô lý. Tôi còn điên đầu hơn nữa. Thế nên, nhân một hôm bà ta đến nhà để cám ơn sự giúp đỡ của vợ chồng tôi về buổi ra mắt thơ, tôi hỏi bà ta “Tôi có vài thắc mắc, nếu không tiện thì chị đừng trả lời. Như thế nầy. Tôi chưa thấy bà vợ nào hăng hái ủng hộ chồng in thơ, ra mắt thơ một cách tốn kém như chị. Ông xã chị ham vui thì chấp nhận được, nhưng chị lại sốt sắng hơn chồng nữa. Vậy là sao?” Bà ta ngồi yên một lúc rồi bỗng khóc òa. Vợ tôi hoảng kinh, ôm lấy bà ta, vỗ về “Có chuyện gì vậy? Chị không muốn nói thì thôi, đừng kể ra đây” Rồi làm bộ trách tôi “Anh sao tò mò chuyện người ta? Xin lỗi chị. Ông xã em vô ý quá!”. Bà ta vừa khóc vừa lắc đầu, một lúc sau mới mếu máo nói “Chồng em bị ung thư sắp chết. Mổ rồi, chữa đủ cách rồi, nhưng bác sĩ bảo riêng với em là ảnh chịu đựng giỏi lắm là hai năm. Bởi vậy em phải làm sao cho ảnh vui trong những ngày cuối cùng khi vợ chồng còn bên nhau. Bán nhà em cũng làm. Cứ nghĩ đến mỗi ngày vợ chồng mỗi cách biệt, đêm nào em cũng khóc” Vợ chồng tôi vội xin lỗi “Ảnh bị bịnh mà tụi tôi không hề biết. Thật có lỗi quá!” Bà ta lại lắc đầu “Chồng em dặn trong nhà là không được nói cho người ngoài biết chuyện bịnh hoạn của ảnh. Ảnh không muốn ai hỏi han, thăm viếng, an ủi, thương hại” Trước đó, tôi nghĩ rằng bà ta là người điên, giờ đây, tôi lại thấy thật đáng kính phục, thương chồng quá sức! Bà ta nói tiếp “Em phải làm gấp, trước ngày đưa chồng em tái khám, vì sợ, bác sĩ mà tìm thấy di căn thì chẳng khác gì bị kêu án tử hình. Lúc đó vui thú gì mà ra mắt, ra mũi. Em sợ mất ăn mất ngủ mà ảnh thì vẫn bình thản làm thơ còn đồng ý cho em tổ chức ra mắt thơ nữa” Vừa thán phục bà vợ, bây giờ tôi lại kính nể ông chồng. Hiếm người thấy thần chết vác lưỡi hái đứng trước cửa mà vẫn làm thơ tỉnh bơ.

Sau ngày ông thi sĩ Xuân Tình tái khám, vợ chồng tôi không dám hỏi thăm sợ ông chồng giận vợ, đã dặn là không cho ai biết, sao có người gọi hỏi? Vậy mà một hôm, bà vợ điện thoại, mời chúng tôi đi nhà hàng, ăn mừng buổi ra mắt thơ thành công mỹ mãn.

Chiều thứ bảy, những người đã góp công, phụ giúp trong buổi ra mắt thơ, có cả mấy cô hấp dẫn đi nhởn nhơ bữa trước nữa, tổng cộng trên vài chục người, đến nhà hàng đông đủ. Bà vợ ông nhà thơ đứng lên nói mấy lời cám ơn, chờ mọi người vỗ tay xong, bà ta mới long trọng báo một tin vui “Hôm thứ hai, ông xã tôi đi tái khám, mấy ngày sau có kết quả từ bịnh viện cho biết, tình trạng rất khả quan, nghĩa là không thấy di căn hay bịnh lan qua các bộ phận khác” Mọi người nâng ly chúc mừng nhà thơ khỏi bịnh. Ông ta đứng lên tươi cười nói “Tôi bị ung thư bao tử đã lâu nhưng không cho ai biết. Bữa nay thì coi như khá hơn trước. Bác sĩ nói vậy thì biết vậy, dù sao đi nữa, tôi vui sống được đến ngày nay là nhờ vợ tôi”. Đang ăn uống chuyện trò thì bà vợ ông nhà thơ có điện thoại. Bà ta nói lớn như muốn mọi người chú ý “Alô! Dạ đúng rồi ạ! Dạ, em có biết nhà sách Văn Chương của anh. Anh cần mang đến ngay hai mươi tập Thơ Xuân Tình? Thế hả? Một bà bên Pháp qua Mỹ thăm bà con, người ta nhờ mua đem về Pháp? Ôi. Thật hân hạnh cho vợ chồng em quá! Cám ơn anh nhiều lắm. Dạ, chủ nhật nầy em đem thơ đến, được không ạ? Dạ, cám ơn anh” Bà ta bỏ điện thoại vào xách tay, giọng bình thản “Sáng hôm qua, nhà sách Bình Minh cũng gọi bảo đem đến hai chục tập Thơ Xuân Tình. Một bà từ bên Úc qua Mỹ chơi mua một mớ. Thằng con chúng tôi đưa tập Thơ Xuân Tình của ba nó lên “nét” (internet), báo chí đem xuống in ra nên người ta biết và hỏi mua” Mọi người ngớ ra rồi lại vỗ tay chúc mừng. Ông chồng ngồi cười cười, nói mấy lời khiêm tốn, nhưng mặt cứ vếch lên trời, coi bộ thú vị lắm. Thật đáng kinh ngạc. Một nhà thơ vô danh, chỉ sau mấy bài thơ đưa lên “net”, đăng báo và một buổi ra mắt thơ bỗng trở thành nhà thơ “kiệt xuất”! Hay là bà ta làm bộ như có người mua thơ để chúng tôi lác mắt chơi, và cũng để cho chồng vui chứ chẳng ai khùng điên đi mua loại thơ đó về Úc, về Pháp tặng bạn bè!

Mấy hôm sau, tôi đến nhà sách Văn Chương. Ông bà chủ nhà sách là chỗ quen biết. Tôi mua vài cuốn sách rồi làm như vô tình, hỏi chuyện về thơ, về phát hành, mua bán thơ. Ông chủ nhà sách dẫn tôi đến một góc kẹt, chỉ một dãy các tập thơ “Những nhà thơ nổi tiếng thì bán chạy lắm, còn những người khác gửi bán, tôi nể tình nhận, nhưng chẳng bao giờ bán được thơ. Thế nên, tôi dồn hết những “thi phẩm” của họ vào góc đó, gọi là Nghĩa Địa Thơ”. Rồi ông ta tiếp “Có một chuyện lạ. Anh có biết nhà thơ Xuân Tình là ai không?” Tôi lắc đầu, vờ không biết “Tôi chỉ đọc báo và biết ông ta vừa ra mắt thơ tuần trước ở thành phố mình” “Tôi có đọc thử, thơ ông ta cũng nhì nhằng, tàm tạm, vậy mà có người mua cả chục tập, đem về Pháp, Úc tặng bạn bè. Sáng nay tôi vừa giao hai chục tập thơ cho một bà, bà ta còn đòi mua thêm mấy chục tập nữa” “Có thể mình không đủ trình độ thưởng thức thơ ông ta. Kiểu nầy ông ta dám lãnh một giải thưởng thơ quốc tế nào đó thì cũng không nên ngạc nhiên” “Đúng vậy. Ở đời có những bất ngờ mà chẳng ai lường trước được!”

Đọc đến đây, quí vị sẽ nghĩ “Đúng là một chuyện phịa có hậu nhưng vụng về và vô lý. Nhà thơ ra mắt thơ thành công, bịnh ung thư lành hẳn, vợ chồng hạnh phúc!”

Nhưng xin thưa quí vị, chuyện đời đâu có đơn giản quá như vậy? Phần sau đây mới làm người đọc bàng hoàng.

Nguyên nhân thế nầy. Bà vợ ông nhà thơ đang khỏe mạnh bỗng thấy đau đầu khủng khiếp. Đi bác sĩ rồi khẩn cấp đưa vô bịnh viện mổ ngay. Bà ta có khối u trong đầu. Bịnh viện thử máu, chụp hình rồi chụp thuốc mê để mổ. Mổ xong, bà ta đi luôn, không tỉnh dậy nữa. Mới tuần trước còn thấy bà ta chào hỏi, cười nói với mọi người, tuần sau, bà ta biến mất trên thế gian!

Sau khi chôn cất vợ, ông nhà thơ đem những tấm hình vợ rọi lớn lên, treo kín các vách tường trong nhà. Trong phòng ngủ thì một bức chân dung vợ lớn hơn nữa, che lấp cái màn hình TV, để khi vào giường, thay vì xem TV, ông ta nằm ngắm vợ. Suốt ngày ông nhà thơ chỉ quanh quẩn giữa bốn bức tường, để nhìn đâu cũng thấy vợ. Có thể nói ông ta điên vì thương nhớ vợ chứ không phải thất tình.

Một năm sau, nhân giỗ đầu của bà chủ tiệm nails, chúng tôi được mời đến dự. Ông chồng có vẻ tỉnh táo, bớt nhớ vợ. Khi về, tôi nói với vợ tôi những thắc mắc về buổi ra mắt thơ, về những tập thơ bán qua Châu Âu, châu Úc. Vợ tôi giải thích “Chị ấy bắt mấy cô thợ nail (thợ móng tay) trong tiệm diện vô, sao cho sexy, đi nhởn nhơ cho mấy ông vui, để khỏi chán, bỏ về sớm” Tôi kinh ngạc “Không ngờ bà ta khôn lanh quá cỡ. Bả làm cách nào mà bên Pháp, Úc cũng nghe danh ông ta mà tìm mua thơ?” Vợ tôi lại cười, chấp hai tay vái vái vào khoảng không như vái vong linh bà vợ ông nhà thơ rồi thì thầm, như sợ bà ta nghe được “Chị ấy dặn tụi em phải giữ thật bí mật. Chỉ nhờ tụi em, giả bộ như người từ Pháp, Úc, qua Mỹ tìm mua Thơ Xuân Tình. Cứ hỏi mua tối đa, mấy chục tập cũng được, chỉ trả lại tiền”

Bạn thấy, chuyện tôi kể chẳng hay ho gì, phải không? Không hay nhưng rất đẹp. Đó là tình yêu thương chồng của bà chủ tiệm Nails. Hiếm ông nào có được người vợ như thế.

Phạm Thành Châu

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 7 Sep 2025

Phần 2.

Nhân đây, xin viết vài hàng về nhân vật Triệu Quốc Mạnh. Anh có chứng chỉ Cử nhân Luật, gia nhập Cảnh sát Quốc Gia, mang lon đại úy Cảnh Sát. Anh được bổ nhiệm làm Giám đốc Cảnh Sát Đô Thành Sài Gòn trong chính phủ hư thai Dương Văn Minh. Sau Đại Hội Đảng kỳ 6, Tổng bí thư Chăn Trâu Nguyễn Văn Linh tuyên bố: “đổi mới tư duy”, Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng Trừng được phép mở một cái gọi là Phòng Dịch Vụ Pháp Lý. Tiếp đó, để cho có vẻ có pháp luật đôi chút Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng Trừng trở thành “luật sư” biện hộ những vụ án chính trị được mang ra tòa xử. Triệu Quốc Mạnh biện hộ cho đám “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút,” Nguyễn Đăng Trừng biện hộ cho nhóm Tu Sĩ Già Lam Chống Đối trong có Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni Cô Thích Trí Hải, v.v… Năm 1992, trường Đại Học Luật Khoa được Võ Văn Kiệt cho mở ở thành phố Hồ Chí Minh, Triệu Quốc Mạnh là khoa trưởng.

Nghe nói cái gọi là trường Đại Học Luật Khoa Thành Phố HCM bị bọn lãnh đạo ở Hà nội coi là không được danh chính, ngôn thuận. Thủ đô Hà Nội không có Đại Học Luật. Bộ Nội Vụ Việt Cộng có cái trường gọi là Đại Học Pháp Lý chuyên đào tạo các anh chị cán ngố làm nhân viên Bộ Nội Vụ. Những cán đực, cán cái không cần có trình độ học vấn vẫn vào được Đại Học Pháp Lý. Vì vậy người ta thấy có những chị chuối chiên, vịt lộn viết cái biên lai giặt ủi cũng mướt mồ hôi nách trở thành những vị “thẩm phán”. Thời cộng sản mở toang mọi cửa lớn, cửa nhỏ, cửa trước, cửa sau để khều ngoại nhân vào đầu tư cho chúng ăn bám có nhu cầu phải có những chuyên viên về luật thương mại – chuyên viên cán sự thôi, đừng nói đến danh từ “luật sư” đao to búa lớn. Võ Văn Kiệt cho Thành Hồ mở Đại Học Luật Khoa, thu nhận sinh viên dân sự vào học, bọn cộng sản Hà Nội không bằng lòng. Thành Hồ hiện có một số anh được phong đại là “Luật gia” thường xuất hiện trên Tivi nói lăng nhăng về các vấn đề luật pháp. Không ai biết những anh “luật gia” này ở trường Luật nào ra. Lại thêm Đại Học Luật mà Giáo sư Khoa trưởng là ông Cựu Đại úy Cảnh sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới có chứng chỉ cử nhân thì trình độ giảng huấn của trường tất nhiên là khá quá rồi.

Triệu Quốc Mạnh – giống như những anh Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Vũ Hạnh – là một thứ “phi cầm, phi thú”. Mấy anh không phải là đảng viên cộng sản. Cộng sản không nhận mấy anh là đồng đảng. Mấy anh phản bội những người quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từng nuôi dưỡng mấy ảnh. Hai mươi mùa lá rụng qua rồi, thân phận những anh “phi cầm, phi thú” không có gì đáng để nói.

Trở lại chuyện “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” tôi nói rõ: Tôi không “trả lời” hai anh Nam Thi – Minh Kiên. Hai anh ở trong hàng ngũ bọn Công An Cộng sản đã bắt giam chúng tôi, hai anh viết vung xích chó về đời tư, vợ con, cha mẹ, việc làm của chúng tôi. Khi ở trong vòng kìm kẹp của các anh, tôi không có điều kiện để viết về việc chúng tôi làm. Hôm nay có điều kiện viết, tôi viết. Tôi đăng một số trang hai anh viết về chúng tôi để bạn đọc của tôi biết các anh đã – học mót bọn Nga cộng, Tàu cộng – “chửi bới” những người phơi bầy những tội ác của Đảng các anh như thế nào.

Mặt trận không tiếng súng… Đó là lời huê mỹ anh Phan Hiền viết trong Lời Tựa “Quái Phẩm” NTBKCB. Trong cái gọi là “Mặt trận không tiếng súng” ấy một bên là phe công an Việt Cộng có súng, có nhà tù, có quyền bắt người, giết người, giam người gần như hoàn toàn tự do tùy ý. Phe bên kia, phe nạn nhân, không phải phe đối nghịch, là nhân dân, chân tay không, những người dân khốn khổ không có qua một chút bảo đảm nào về an ninh, những nạn nhân bị đàn áp suốt đời chỉ chịu trận mà không có qua một cách nhỏ nhất nào để có thể tự vệ, đỡ đòn, đừng nói đến chống trả.

Tôi – người viết loạt bài này – không cho việc Công An Thành Hồ bắt giam chúng tôi là việc xẩy ra trên một “Mặt Trận”. Không phải tôi nhát đến độ sang được Xê Kỳ rồi vẫn còn sợ không dám nhận mình có thời từng “chiến đấu” với Công an Việt cộng trên “mặt trận”, dù đó là “Mặt Trận Văn Hóa.” Theo tôi, gọi việc Công An Việt cộng bắt giam chúng tôi là việc xẩy ra trên một “Mặt Trận” là danh không chính và ngôn không thuận. Anh em chúng tôi chỉ có những cây bút Bic. Và chúng tôi cũng không được sử dụng cây bút để thể hiện một nửa khả năng của chúng tôi. Chúng tôi lén lút viết, lén lút gửi đi. Viết rồi gửi đi thấy lòng ngẩn ngơ như thả con mình đi vượt biên mà không biết nó sống chết ra sao. Người viết có cái lạc thú đọc bài mình in trên trang báo, trang sách, chữ in sáng sủa, gọn gàng. Những mùa thu lá bay vàng võ ở Thành Hồ chúng tôi hoàn toàn không có cái lạc thú đó.

Những ngày, những đêm dài u ám nằm ngâm Thơ Gãi Háng đến chán ngấy ở những phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Ô ten Chí Hòa, Trại Cải Tạo Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai, đôi khi tôi nghĩ vẩn vương: “Nó có cả một bộ máy tuyên truyền cực mạnh; các báo, các nhà xuất bản, truyền thanh, truyền hình… của nó hết. Tại sao nó không dùng những phương tiện đó để tranh luận với mình? Mình viết về những cái xấu của nó, nó có thể phản bác, trưng bằng cớ nó không có những cái xấu ấy, nhân dân sẽ quyết định thằng nào đúng, thằng nào sai? Tại sao nó không làm thế? Tại sao nó lại phải bắt mình, phải bỏ tù mình?”

Sau những lần nghĩ như vậy tôi vẫn bùi ngùi thương thân. Trong tuyệt vọng tôi đã mong ước những người cộng sản làm với tôi cái việc họ không bao giờ làm. Đó là việc tranh luận để nhân dân làm Ngự sử. Mong cộng sản tranh luận thì thật là ngu đến cỡ phi-ní lô đia, tức ngu hết nước nói. Người cộng sản không đối thoại với bất cứ ai. Cách đối xử duy nhất họ áp dụng với những người không ca tụng họ là bắt, giết, bỏ tù đến chết. “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi.” Lời Cố Hồng, Số Đỏ – Vũ Trọng Phụng.

Nón cối, dép râu, A-ka, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn. Cuộc biển dâu khủng khiếp bắt đầu.

Trải qua một cuộc biển dâu.

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Hai trăm năm trước người thơ xưa phải chứng kiến cuộc biển dâu Lê-Trịnh-Nguyễn- Nguyễn phân tranh, ông chỉ thấy đau lòng thôi. Con cháu ông không được cái may mắn chỉ chứng kiến biển dâu và chỉ thấy đau lòng như ông. Chúng tôi bị nhận chìm trong biển dâu, chúng tôi chết trong cái dâu biển ghê rợn, thê thảm ấy.

…. Ngươi đi bốn biển vui hò hẹn

Ta ở đây chìm dưới biển dâu

Mưa nắng xứ người ngươi gắng chịu

Sắt son dạ ấy chớ phai màu

Thôi ngươi đi nhé. Đừng quay lại

Ta khóc đây ngươi có biết đâu!

Thơ Mặc Thu tiễn Nhã Ca-Trần dạ Từ đi ODP ra nước ngoài. “Ta ở đây chìm dưới biển dâu” là cái ý tôi mượn để tả tình cảnh chúng tôi ở Thành Hồ sau ngày oan nghiệt Ba Mươi Tháng Tư 75.

Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 7 Sep 2025

5. Cuộc đời ở một phía khác.

Linh gửi xe honda ở một khu vực giữ xe  riêng của quán Phở Quyên, rồi ghé vào quán, làm như vào ăn phở. Nàng đi một lượt quanh các bàn, ghé quầy mua mấy lon bia, gói thuốc rồi bỏ vào ví xách, rồi đi cửa bên hông ra ngoài. Quán đông khách, khách đứng, khách ngồi. Nàng cố liếc nhìn từng người, để chắc chắn là không có một ai quen ở đây. Sài Gòn đông đúc là thế, mà chuyện gặp người quen ở một nơi rất lạ lại vẫn là sự thường. Như một cơ duyên. Như một định mệnh. Ai mà biết được! Nhất là khi càng muốn tránh người quen, người ta lại có cảm giác rất khó tránh.

Nàng đi nhanh vào con hẻm nhỏ. Nhà san sát, cái nhô ra, cái thụt vào. Những cái gác gỗ chìa ra, choáng khoảng không phía trên, vì ở dưới đất không còn chỗ. Càng đi sâu vào, hẻm tỏa ra nhiều nhánh, như một bát quái trận đồ. Nó làm người ta nghĩ đến những con đường ngầm dưới đất mà Victor Hugo tả trong “Những kẻ khốn nạn”. Sài Gòn đường hẻm chật chội, bẩn thỉu, tối tăm và chứa chấp đủ thứ tệ nạn. Sống ở Sài Gòn khá lâu nhưng cũng ít khi Linh đi vào những con hẻm sâu như thế này. Lần đầu đi vào, dù có Dân dẫn đi, nàng vẫn cảm thấy rờn rợn. Đường đi trông không khác như lối đi trong nhà là mấy. Trẻ con, người lớn ngồi ở hai bên hoặc bắt ghế ngồi nhậu, hay đánh cờ trên lối đi. Những mái nhà và gác xép phía trên gần như đụng hẳn vào nhau. Người ta có thể leo qua leo về từ nhà này sang nhà khác. Đời sống trông có vẻ uể oải, lười biếng và đầy phí phạm. Người ta đánh bài, chơi số đề, nhậu, uống nước trà và chửi bới nhau. Linh len lỏi giữa đám người, nhân buổi chiều túa ra đông hơn. Mặc dù cố ăn mặc thật giản dị, bình dân, nhưng những cặp mắt tò mò, dò hỏi vẫn cứ ném thẳng vào mặt nàng. Dân đã chỉ cho nàng nhiều lối vào, nhưng sợ lạc, nên nàng vẫn dùng lối đi cũ. Ngang ngôi nhà có cánh cửa sổ màu xanh, tạt qua trái, bỏ ba hẻm, quẹo phải. Cứ đi thẳng, đến khi thấy cái nóc nhà thờ nhô lên khỏi các mái nhà, lại quẹo trái. Đến đây, con đường bỗng đột ngột bị chận đứng bởi một bức tường cao. Phía bên kia có lẽ là một nhà máy hay một cơ sở sản xuất gì đó, vì nghe có tiếng động cơ ì ầm, ì ầm liên tục. Linh cảm thấy yên tâm, vì nàng đã đến đúng chỗ. Vả lại, ở đoạn hẻm cụt này, ít người qua lại, chỉ phải băng qua một lối đi nhỏ lát đá nữa là nàng đến chỗ ấy.

Chỗ ấy, vâng. Chỗ ấy, rất riêng. Nàng gật đầu, cười chào bà cụ ngồi lặt rau trước mái hiên, rồi bước vội lên thang gác. Nắng chiều rát. Gác gỗ hẹp, một bên hứng đầy nắng. Bốn giờ năm phút. Đúng lúc Linh bước đến thì cánh

cửa nhẹ nhàng mở. Linh lách vào, khép cửa, chốt lại. Nóng như hâm. Mùi nắng và mùi gác xép trộn vào thành một mùi riêng biệt. Nàng bắt đầu cảm thấy quen thuộc với cái mùi này, lần bước. Lúc đầu, nàng khiếp. Nàng chịu đựng. Nàng kiên nhẫn. Dần dà, nàng thấy thích và nhớ. Nàng lên tiếng:

– Nóng quá, xem có thể mở cánh cửa phía kia được không?

Dân lẳng lặng đến cửa sổ, cố kéo ra một cánh cửa vốn vẫn thường đóng. Sau đó, anh lẳng lặng trở vào, ngồi xuống ghế, nhìn Linh, khuôn mặt bần thần. Anh nuốt nước bọt, im lặng chờ đợi. Linh loay hoay cởi xách tay, xoay quạt máy để hứng gió, vuốt lại mái tóc. Nàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Đột nhiên, nàng cảm thấy hồi hộp. Nàng hỏi, không nhìn thẳng vào người thanh niên ngồi trước mặt:

– Dân vẫn khỏe.

Dân liếc nhẹ nàng, trả lời nhỏ nhẹ:

– Dạ.

Nàng xóc xóc cổ áo cho gió luồn vào cổ:

– Nóng quá.

– Dạ.

Im lặng. Tiếng quạt máy rè rè. Một lát, Linh nhìn vào mặt Dân, dịu dàng:

– Dân vẫn còn bốc vác ở dưới bến.

– Dạ.

– Bữa nay có đỡ không?

– Dạ, cũng tàm tạm,

– Bác ở nhà độ này có buôn bán gì thêm không?

– Dạ, cảm ho, ở nhà hơn tuần rồi.

Im lặng không ai nhìn ai. Dân cúi mặt xuống, bần thần run rẩy. Người anh nóng bừng. Thỉnh thoảng, anh liếc nhìn Linh. Hai bàn tay anh bóp chặt thành ghế. Cổ khô. Anh liếm môi, nuốt nước miếng. Đầu óc anh như chơi vơi, bay bổng ở đâu. Những ý nghĩ đứt đoạn nhảy vọt. Anh hỏi, giọng run run:

– Chị cũng thường?

Linh gật đầu. Nàng lấy từ trong túi xách ra một xấp vải, đưa cho Dân:

– Xấp vải này biếu bác gái.

Dân lí nhí cám ơn. Bàn tay anh đụng vào bàn tay Linh run rẩy. Linh soạn ra lon bia, gói thuốc ngoại, trứng gà. Nàng lấy ly, rót bia, đập trứng gà, lấy lòng đỏ bỏ vào ly bia khuấy đều:

– Bổ lắm. Tiếc là không có đá.

Linh đẩy ly bia sang cho Dân. Dân nâng ly, ngập ngừng:

– Chị không uống?

– Cứ uống đi. Tôi uống bia không được. Đỏ mặt nữa, đi giữa đường người ta nhìn.

Nàng khui lon cô-ca, lần túi áo lấy viên thuốc ngừa thai màu hồng uống. Bỏ lon xuống, nàng ngắm nhìn Dân. Anh chàng đang uống một cách khó khăn ly bia khuấy trứng gà.

Anh nhăn mặt:

– Tanh quá …

Linh cười, khuyến khích:

– Núc một hơi như uống thuốc vậy. Có chết chóc gì mà sợ. Uống cho khỏe. Có người còn uống đến hai cái trứng gà đấy.

Dân để ly xuống, sau khi cố uống cạn:

– Em, … à … tôi … tui mạnh khỏe lắm!

Linh nói:

– Ai không biết Dân khỏe. Dân còn trẻ, sức trai mà. Nhưng phải bồi bổ, không thì cũng mệt.

Linh nhìn Dân, cười ý nhị. Tự nhiên, nàng cảm thấy chộn rộn trong lòng, cơ thể chợt nóng ran. Một cảm giác hừng hực bắt đầu từ một nơi nào đó trên cơ thể, đột nhiên lan tỏa ra. Nàng đỏ bừng mặt khi nhìn ngắm đôi tay rắn chắc

của Dân. Đôi cánh tay cục mịch, thô tháp hàng ngày vác những bao gạo, bao xi măng nặng trịch trên bến tàu. Đôi tay ấy siết lấy nàng, cuồng bạo. Nàng nhìn thấp xuống. Bộ ngực, khoảng bụng, đôi chân. Cứng, chắc, mạnh. Tất cả. Toàn bộ cái thân thể này đều như thế. Và không có gì khác. Không có gì khác. Linh ít chú ý đến khuôn mặt. Vô tình hay cố ý, nàng hầu như quên đi mỗi khi từ giã Dân về nhà.

Thỉnh thoảng, nàng vận dụng trí tưởng tượng để hình dung, thì chỉ loáng thoáng thấy hiện ra trong trí nhớ một khuôn mặt đen sạm, hơi đần độn, thèm khát và bần tiện. Thậm chí, nàng nghĩ, giả sử gặp Dân ở một nơi khác, chợ Tân Bình chẳng hạn, không có gì chắc là nàng nhớ ra. Nàng chỉ nhớ đến những bắp thịt, những ngón tay thô tháp, sần sùi, đầy cảm giác. Nàng hỏi:

– Tắm chưa?

– Rồi.

Linh nhìn lên, thấy tóc tai Dân gọn gàng, mướt mướt, đường rẽ rạch ròi, không chổng thẳng lên, lởm chởm như nàng gặp ở bến tàu. Lưỡng quyền nhô cao, khuôn mặt đầy tàn nhang và những nốt mụn đỏ. Không đẹp trai, nhưng đầy chất đàn ông. Nói chung, khuôn mặt toát ra một vẻ chân thật, có thể tin cậy được. Trong những lần gặp nàng, anh ta không mấy khi nhìn thẳng. Lúc nào, anh ta cũng lộ vẻ bối rối.

Linh đứng dậy, nói:

– Tôi đi sửa soạn một chút. Còn bia ở trong xách, lấy uống đi. Còn cả trứng gà nữa, liệu uống được, cứ uống.

– Không có đá khó uống quá. Để xuống nhà dưới kiếm tí đá.

Linh dừng lại:

– Đừng. Chịu khó uống không đá cũng được. Thích, chiều tối uống tiếp.

Dân đứng lên định bước đi, nghe Linh nói thế, líu ríu ngồi xuống. Linh vào phòng tắm. Nàng trở ra với bộ quần áo ngủ màu hồng nhạt, tóc bới ngược, cột lại gọn gàng, để lộ cái cổ cao, trắng muốt. Đôi vai trần, tròn lẳng. Dân nhìn mê muội. Anh đứng dậy, bồi hồi bước đến, đôi mắt say đắm nhìn Linh, thất thần. Anh chới với giang hai cánh tay ra, nhưng Linh giữ một bàn tay Dân lại, né người. Nàng nói:

– Tôi hơi mệt, vào nằm một lát. Chốc nữa vào. À, đánh răng chưa?

Dân gật đầu, tay vịn cái xà ngang của trần nhà, bước lùi lại. Anh nuốt nước bọt, liếm môi, cơ thể như muốn sốt. Các bắp thịt trong người động đậy, như muốn bứt ra khỏi anh. Anh nhắm mắt, đứng im, cúi đầu, nghe ngóng. Anh

nghe tiếng chân Linh bước nhẹ lên sàn gỗ, mở cửa phòng, thả dép, leo lên giường. Tiếng kêu nhè nhẹ của giàn lò xo, tiếng lạo xạo của tấm nệm cũ. Im lặng. Mồ hôi vã ra, nhơm nhớp phía sau lưng. Khá lâu. Dân có cảm giác như rất lâu.

Tiếng người đàn bà gọi như vọng lại từ đâu rất xa:

– Dân.

Anh nín thở, xô cửa bước vào, thận trọng, thành khẩn. Trần thấp, anh hơi cúi đầu, ghé người lên chiếc giường nhỏ. Linh nằm yên, nhắm mắt, bộ đồ ngủ mỏng như dính sát vào người. Anh dằn mình, cố gắng từ tốn cởi bỏ áo quần vứt xuống sàn nhà. Linh mở mắt, nhìn anh, hơi mỉm cười. Anh yên tâm nằm xuống. Linh né người vào trong tường. Nệm hẹp không đủ chỗ, một phần thân thể hơi tràn ra phía ngoài. Anh phải níu tay lên thành giường phía trên đầu. Hương phấn đàn bà đắm đuối. Anh hít thật sâu, nghe có mùi gỗ mục. Anh trở mình nằm nghiên. Chợt Linh thì thào:

– Cái quạt.

Anh cuống quít vươn dậy, suýt té, vội vã đi lấy cái quạt máy. Anh vặn quạt. Gió thổi tốc chiếc váy ngủ của Linh. Linh để yên. Dân đứng sững nhìn, tâm thần mê mẩn. Rồi như con hổ đói đứng trước con mồi, anh lao xuống. Anh cào, cắn, trườn lên, trườn xuống. Linh nhắm mắt, hay tay soải ngang bấu lấy thân giường, cố gắng không ôm lấy cái thân mình thô tháp của Dân, tránh để đôi môi khỏi đụng vào khuôn mặt gồ ghề của anh, trong lúc thân hình nàng run bần bật. Đôi chân của Dân thỉnh thoảng tống vào vách gỗ. Hơi thở của anh nóng hổi phả vào má, vào tóc Linh. Cả thân hình anh như đổ xuống. Chợt Linh buông hai tay, ngửa mặt ra. Nàng nghe mùi mồ hôi, mùi bến tàu, mùi khét nắng. Nàng có cảm giác những nốt tàn nhang và hàm răng lộn xộn, cái chĩa ra, cái lõm sâu vào của Dân như rụng đầy làn da mặt mịn màng của nàng. Cái lưỡi của Dân lè ra, liếm một bên má nàng. Nàng rùng mình. Chợt nàng đẩy nhanh Dân ra:

– Chết cha, ca-pốt!

Dân cụt hứng, chưng hửng nhìn nàng:

– Ca-pốt?

Linh hơi hoảng hốt:

– Sao không dùng ca-pốt?

– Ca-pốt?

Linh sực nhớ ra là Dân không hiểu hai từ “ca-pốt”.

Nàng nói:

– Áo mưa, áo mưa đâu?

Dân chợt hiểu. Anh vươn dậy, ra khỏi phòng. Linh nhìn theo. Thân hình đen đủi với cái lưng bóng lượn, cặp mông to, chắc, nhón nhén bước đi. Nàng lại rùng mình, nuốt nước miếng. Dân hơi giống một con vượn hay một con thú gì đó đi hai chân. Dân vào. Linh tránh nhìn anh ta, cố đánh bật ra những ý tưởng ghê tởm mọc lên trong trí óc. Nàng nói:

– Chuyện quan trọng thế mà quên.

Dân lí nhí.

– Lúc đầu thì nhớ, nhưng nhìn thấy chị lại quên mất.

– Chưa có gì sơ suất chứ?

– Chưa.

Dân nằm xuống. Những háo bức lúc ban đầu như dịu đi. Linh xoay người lại, khuyến khích anh bằng một nụ hôn trên mái tóc, và đôi vòng tay níu lấy cổ. Dân phấn khởi xoay người qua phía Linh, ôm siết nàng, hôn tới tấp. Cảm thấy đã đủ, Linh buông tay, giang ra níu lấy thành giường để mặc Dân tùy tiện. Nàng có cảm giác mình chỉ giữ lại cái đầu và đôi tay cho nàng, chính nàng và Thanh. Còn lại, mặc Dân. Cứ xem như cái phần thân thể này không thuộc về nàng, cũng không còn dính dấp gì đến Thanh. Nó thuộc về bản năng, nhu cầu. Nó không phải của nàng. Nàng cắn chặt môi,

bíu chặt thành giường, cố chống chọi với những cảm giác từ phần dưới cơ thể tràn lên. Dân sục sạo, hùng hục, háo hức, nhưng vụng về, vội vã. Thỉnh thoảng, trong lúc vô tình, Dân làm một cái gì đó khiến nàng giật bắn lên như phát sốt.

Nàng muốn bật một tiếng la, hay đưa vòng tay khép lại quanh chiếc đầu khét nắng của Dân. Nhưng rồi Dân lướt qua. Anh như con thú đói, bỗng một lúc gặp quá nhiều đồ ăn, tham lam nếm thứ này một ít, thứ kia một ít. Còn Linh thì bàng hoàng, vừa tiếc vừa mừng. Nàng nằm yên, đón nhận một cách thụ động mọi cảm giác. Xong. Nàng khoát tay đẩy cái váy ngủ xuống, phủ phần dưới cơ thể, nằm yên, cố nghĩ đến việc bốc hụi đầu tháng. Dân lăn kềnh ra dưới sàn, đầu gối lên đống áo quần, thở.

Một lát, xem chừng như cơ thể đã dịu đi, nàng nhỏm dậy. Dân vẫn nằm, thân thể trần truồng trông thật thô lỗ, kỳ cục. Đột nhiên, nàng cảm thấy lờm lợm trong cổ, pha lẫn một chút cảm giác tội nghiệp. Trước khi ra khỏi phòng, nàng cúi xuống, nhắm mắt, nín thở hôn vào vầng trán thô ráp của

Dân. Nàng nói khẽ:

– Thôi, dậy mặc áo quần đi.

Dân quay người nhỏm dậy, giọng hơi hốt hoảng:

– Sao, chị đi à?

– Ừ, chiều nay bận.

Dân van vỉ:

– Một lát nữa đi, tui … à … em chưa mệt mà.

– Không phải, chiều nay bận thiệt tình.

Linh cúi xuống, xoa tay vào ngực Dân, an ủi:

– Khi khác.

Dân bíu tay vào đôi vai trần của Linh kéo xuống, nhưng nàng gỡ nhẹ ra. Khuôn mặt Dân tiu nghỉu. Anh úp mặt xuống sàn. Linh thay áo quần, ra đợi ở bàn. Nàng nghe tiếng Dân lục đục trong phòng. Nàng định giục, thì Dân bước ra. Anh lặng lẽ đến ngồi ở bàn, thẫn thờ nhìn Linh. Nàng đang soi gương, sửa soạn lại khuôn mặt. Xong, nàng rút từ trong ví xách một xấp tiền gồm toàn tờ năm ngàn đưa cho Dân:

– Dân cầm lấy tiêu.

Dân lắc đầu:

– Không, không lấy đâu.

Linh đẩy xấp tiền vào túi áo Dân:

– Đừng nhiều chuyện. Cất đi. Không, tôi giận.

Dân định rút ra trả lại, nhưng nhìn thấy Linh cương quyết quá, anh lại để yên. Anh nhìn xuống bàn, nói:

– Lần sau, tui không nhận nữa đâu.

Linh cười:

– Lần sau hãy tính lần sau. Lần sau, chắc hơi lâu, vì tôi phải về quê.

Dân ngước mắt nhìn lên:

– Lâu là bao lâu?

– Không rõ. Có gì tôi nhắn.

Khuôn mặt Dân u ám thêm. Nhưng anh không nói gì. Anh bưng ly uống nốt phần bia còn lại. Thấy Linh đứng dậy, anh cũng đứng dậy, nhìn Linh, đưa tay muốn cầm tay Linh níu lại:

– Chị … chị … đi rồi à?

Linh khoát tay:

– Cứ gọi là … là … Phượng.

– Tìm chị, à tìm … tìm … Phượng ở đâu?

Linh nghiêm mặt:

– Đã nói rồi. Cứ xem như không hề biết tôi. Rầy rà, là cắt đứt luôn.

Dân khựng lại. Mắt ươn ướt. Anh quì xuống, ôm đôi chân Linh hôn say đắm. Linh chợt bần thần. Nàng cúi xuống hôn nhẹ mái tóc Dân, gỡ tay Dân ra, bước đi. Dân nhìn theo thiểu não. Người đàn bà lướt ra, cánh cửa khép lại, tàn nhẫn. Anh gục mặt xuống sàn nhà, khóc.

*

Rời khỏi chỗ đó, Linh bước nhanh, đầu óc cố hướng về một chuyện khác. Hụi hè. Hai đứa con. Bộ pi-ja-ma mới may cho Thanh. Nàng quên chỗ đó, quên Dân, như quên một hình ảnh thoáng gặp trên đường phố đông người. Mọi cảm giác vẫn còn thấp thoáng trong nàng. Như vị mặn của hột ô mai trên đầu lưỡi. Như chút mồ hôi rịn ướt đầy sau lưng. Lấn cấn, vướng víu. Nàng vội vã đến, vội vã sống, vội vã bỏ đi. Và vội vã xóa bỏ y như thể chuyện đó chẳng ăn nhập gì đến đời sống của nàng. Y như thể nàng xem một cuốn phim, đọc một cuốn truyện. Bồi hồi một lát sau khi chấm dứt, rồi thôi. Nàng quanh quẹo qua những con hẻm, không nhìn ai, không thấy ai. Ra đến đường, nàng thở phào, nhẹ nhõm. Xong. Nàng lấy xe đi. Phố phơi phới người đông. Sài Gòn chiều hấp tấp. Sài Gòn không ai quen ai. Đường thì thân thuộc, nhưng người thì luôn luôn mới, luôn luôn lạ. Mỗi số phận chìm đi trong vô danh. Như nàng, chiều nay. Con hẻm với những con người xa lạ, vô tình đón nàng đến, tiễn nàng đi. Thế thôi.

Nàng ghé tiệm mua ít bánh cho con và cà phê cho Thanh. Ghé con bạn làm chủ hụi, hỏi kết quả bốc hụi, hỏi giá vàng, giá đô la, giá thuốc lá rồi trở về nhà. Hai đứa con nàng reo lên. Đứa lớn hờn dỗi:

– Sao mẹ lại đi một mình?

Nàng hôn:

– Mẹ đi bốc hụi. Ba đâu? Có hỏi gì mẹ không?

– Ba hỏi mẹ đi đâu mà không cho ba hay.

Nàng nói cho xong chuyện:

– Khi mẹ đi, ba còn ngủ mà.

Nàng trao quà cho con:

– Bánh hai đứa đây. Mẹ nói bà Năm dẫn hai đứa đi ăn kem dừa nghe. Linh gọi bà ở, đưa tiền cho bà, dẫn con đi. Còn một mình, nàng vào phòng tắm, cởi áo quần, mở nước tắm. Nàng kỳ cọ cẩn thận, như muốn xóa hết mọi dấu tích, mọi cảm giác. Tắm xong, nàng soi gương, tự ngắm mình, mỉm cười. Em vẫn là Linh của anh, Thanh à. Đâu có khác gì. Đâu có mất gì. Nàng bới lại tóc, thoa tí phấn, rảy chút nước hoa. Quấn tấm khăn tắm quanh người, nàng chạy lên lầu, đến trước phòng ngủ, rón rén đi vào. Thanh ngồi ở bàn viết cạnh cửa sổ, xoay lưng lại phía nàng. Chàng im lặng. Hình như chàng đang suy ngẫm một chuyện gì. Linh bước thật nhẹ đến sau lưng chàng. Định bất ngờ ôm choàng lấy Thanh, nhưng chàng xoay lại, mỉm cười:

– Em đã về.

Linh lùi lại, nhìn Thanh:

– Anh của em tài thế!

Rồi nàng bước đến, tháo khăn tắm choàng lên chàng, quấn thân thể chàng lại. Chàng lùng bùng trong khăn, la lên:

– Linh, em đùa gì vậy.

Chàng chui ra khỏi khăn, nhìn nàng:

– Trời, gì kỳ vậy. Con cái, người ăn kẻ làm tùm lum mà em tồng ngồng như thế.

Linh lấy khăn choàng thân thể lại, vuốt tóc chàng:

– Đi hết rồi. Em mới tắm xong, định khoe với anh đấy.

Nàng hôn lên má chồng. Thanh ngồi xuống ghế:

– Chiều nay em đi đâu?

– Hôm nay đầu tháng, khui hụi.

– Chị Bảo điện hỏi em mà.

– Chị có nói. Nghe nói giá đô lên, em ghé chợ Bến Thành nắm giá. Còn anh, bản tài liệu anh dịch xong chưa?

– Gần, chữ nghĩa kỹ thuật rắc rối quá. Anh phải rán, sáng mai phải trình bày trước Ủy Ban Khoa Học Thành Phố.

Nàng nũng nịu:

– Chồng em giỏi quá! À, anh ăn chè hột sen chưa, em để trong tủ lạnh.

Chàng hững hờ:

– Chưa.

— Đã nói rồi, chẳng khi nào nghe em hết. Chè hột sen bổ lắm. Anh chẳng chăm lo sức khỏe cho anh tí gì cả. Nói không nghe, em buồn.

Thanh nâng cằm vợ:

– Anh bận quá thành ra quên. Anh đi ăn giờ.

Linh hôn má chàng:

– Thế chứ.

Nàng quay đi, đến tủ đựng quần áo. Chợt nhớ ra một điều, nàng dừng lại nhìn Thanh:

– Trời, em lại quên nữa. Thang thuốc Minh Mạng em tự tay sắc cho anh để dưới tủ đồ ăn. Anh mang lên uống giùm em luôn.

Nàng mở tủ áo quần, chọn cái “rốp” ngủ màu thiên thanh mới may. Anh ấy vẫn thích màu này, nàng nghĩ. Còn quần lót. Màu đỏ. “Tông xuyệt tông”, như con bạn nói. Không được, gay gắt quá. Cũng “tông xuyệt tông”, nhưng dịu một chút. À, màu hồng nhạt. Nàng đứng trước gương soi. Tuyệt. Trông hấp dẫn như một cô người mẫu. Nàng xịt thêm một tí “Nuit de Paris” trên tóc. Sách nói rằng đàn ông luôn luôn như một đứa bé, thích vòi vĩnh, thích màu mè và nước hoa, và cái gì mới. Lạ miệng thì cái gì cũng ngon. Vợ có đẹp, nhưng cũ. Bồ có xấu, nhưng mới, “lạ miệng”. Linh giật mình. Dân vụt xuất hiện trong trí tưởng tượng nàng như một tia chớp. Khuôn mặt sần sùi của anh ta nhìn nàng cười, vừa lạ lẫm vừa thân quen. Tiếng Thanh bước vào phòng. Linh quay lại, thấy chàng tay bưng chè, tay xách bình thuốc.

Nàng chạy đến. Thanh dừng lại, nhìn sững nàng:

– Trời, em đẹp quá vậy. Hôm nay có gì vui mà em diện dữ thần vậy.

Chàng bỏ đồ xuống sàn nhà, ôm vợ:

– Trời, thơn phức.

Linh để chồng ôm, vói tay chốt cửa lại. Nàng hôn vai chồng:

– Anh cũng thơm.

– Anh mà thơm gì.

– Thơm thuốc Bắc. Nào, đưa thuốc em xem. Có hơi đắng. Nhưng đại bổ. Vua Minh Mạng nhờ uống thuốc mà có đến một trăm bốn chục con đó anh.

Thanh buông vợ ra:

— Em nên nhớ ông ta chỉ sống có năm mươi bốn tuổi thôi nhé. Anh không ham kiểu đó.

Linh cười:

– Ông chết sớm vì ông nhiều vợ quá chứ anh có một mình em thôi, sao mà chết sớm được. Có một bà vợ mà chẳng thương gì hết.

Thanh nhìn nàng:

– Em lạ chưa, chẳng lẽ anh thương ai.

Linh dí ngón tay vào ngực chồng, nói dỗi:

– Thương gì mà cứ lừng khừng, lửng lơ như người mất hồn vậy há.

Thanh nâng cằm vợ:

– Không lẽ …

Linh quay mặt đi, vùng vằng:

– Cái gì mà không lẽ với có lẽ. Khi nào cũng chữ với nghĩa.

– Vậy thì ai nói: “Em chỉ thích ông chồng có chữ nghĩa, học thức, đói nghèo cũng được”?

Linh xoay người lại:

– Em nói đói nghèo em chịu, còn lửng lửng lơ lơ là em không chịu …

Thanh từ tốn hôn tóc, má vợ. Linh đẩy chàng ra:

– Xí, hôn vợ mà cũng tiết kiệm.

Nàng chạy đến giường ngủ, buông mình xuống một cách giận dỗi, lấy gối che mặt, nằm yên. Thỉnh thoảng, người nàng rung lên như khóc. Thanh nhìn thân hình nõn nà của vợ, thở dài. Chàng để bình thuốc xuống bàn, rồi bước đến với vợ. Chàng nhẹ nhàng nằm xuống một bên, gỡ tay vợ ra. Linh vùng vằng dưới gối. Chàng cố gỡ, nàng cố níu. Cuối cùng, chàng chịu thua, buông tay, nằm một bên. Im lặng. Một lát, chừng như không kiên nhẫn được nữa, Linh cất gối, quay sang. Thấy chồng nằm im, chờ đợi, nàng bỗng thấy tội nghiệp. Nàng ôm chồng hôn lấy hôn để. Nàng vùi đầu vào ngực chàng, hai tay sờ nắn vai chàng. Chợt nàng nhỏm dậy:

– À, anh chưa uống thuốc mà?

– Ờ, để anh dậy uống.

Thanh lật đật ngồi dậy, đến bàn bưng bình thuốc uống.

Chàng định ngồi xuống ghế một chút, thì Linh gọi:

– Bộ ngồi luôn đó sao?

Thanh nhăn nhó:

– Thuốc đắng, khó uống quá.

Linh cười:

– Anh làm như còn bé không bằng. Thôi, lại đây em vuốt ngực cho.

Thanh lững thững bước lại. Linh nhỏm dậy, ôm cổ chồng kéo xuống, đặt đầu chồng trên cánh tay. Thanh nhắm mắt, nghe mùi nước hoa, mùi da thịt vợ tỏa khắp. Như một chú bé con nằm trong lòng mẹ, tự dưng chàng cảm thấy hạnh phúc. Chàng xoay người, ôm lấy vợ. Chàng hôn, Linh ngửa mặt, nhắm mắt, chờ đợi. Chợt Thanh thấy người mình nóng ra. Chàng hăng hái hôn lên tóc, hôn môi nàng. Linh bấu chặt vai chàng. Nhưng, như ngọn lửa rơm, bùng lên đó rồi tắt đó. Thanh buông vợ ra. Chàng hỏi:

– Giá đô có lên không em?

Linh chưng hửng, nhìn chồng:

– Anh lạ thật, tự nhiên lại hỏi giá đô?

Thanh cười:

– Thì em nói chiều nay em đi hỏi giá đô mà.

Linh quay mặt đi không trả lời. Thanh ôm vai vợ:

– Không nói thì thôi, anh không hỏi nữa.

Chàng nằm yên, chân gát trên bụng vợ, nhìn trần nhà, nghĩ vẩn vơ về cuộc hội nghị khoa học ngày mai. Một số thuật ngữ về sinh học chàng còn lúng túng, dịch chưa suông sẻ. Linh cựa mình, bứt rứt. Nàng cảm thấy ấm ức. Một lát, thấy chồng vẫn im lặng, nàng đẩy chân chàng ra khỏi người

nàng, xoay người lại nhìn. Khuôn mặt Thanh thanh tú, đầy vẻ trí thức. Chàng vẫn đẹp trai như ngày nào, độ nào. Chàng vẫn đáng yêu. Tự dưng, Linh cảm thấy xót xa. Không phải lỗi ở chàng. Hoàn toàn không phải lỗi ở chàng. Phải kiên nhẫn, nàng tự nhủ. Nàng vòng tay ôm đầu chàng, nũng nịu:

– Anh nghĩ gì vậy?

Thanh chặc lưỡi:

– Chẳng rõ bản dịch như thế đã hoàn chỉnh chưa?

Nàng cắn nhẹ vai chàng:

– Anh dịch thì thua ai nữa mà lo. Mà thôi, bỏ cái hội nghị của anh đi. Nằm với vợ mà cứ nghĩ chuyện gì đâu không à.

Thanh cười:

– Em đã chẳng khuyến khích anh là gì?

Nàng rúc đầu vào ngực chàng, tay vuốt ve thân thể chàng:

– Thì khuyến khích chứ sao không. Nhưng thiếu gì lúc.

Thanh rùng mình. Bàn tay Linh mơn trớn trên những ngóc ngách của cơ thể chàng, khiến chàng cảm thấy hứng thú. Cơ thể như đang ngủ yên bỗng tỉnh giấc. Linh thì thào:

– Có thương em không?

– Thương.

Thanh chợt nhổm dậy, chồn lên người nàng. Linh hào hứng đón nhận những nụ hôn nóng bỏng từ chàng, vốn từ lâu gần như mất hẳn. Chàng vồ vập, cuồng nhiệt như xưa. Chàng chủ động trên thân thể nàng. Nó là của chàng. Chàng chiếm đoạt nó. Nàng cảm thấy như Thanh trở lại ngày nào. Lần đầu tiên từ rất lâu, nàng ngửi thấy mùi đàn ông ngào ngạt toát ra từ chàng. Những sợi râu chích vào cơ thể nàng, vừa nhột, vừa đau, vừa thú. Nàng bỗng loáng thoáng thấy hình ảnh của Dân đâu đó. Trong cơn mê man, nàng nhập nhòa giữa mùi khét nắng của Dân và mùi thơm của chồng.

Cảm giác với Dân mấy tiếng đồng hồ trước đây vẫn còn đọng trong nàng, tươi rói. Nàng bỗng nhận ra Dân cũng có một mùi thơm riêng biệt, mùi con trai mới lớn. Ờ, mùi con trai. Nồng nồng, khét khét, hăng hăng. Khác với mùi của Thanh. Chàng thơm loáng thoáng, phảng phất. Mùi thơm của một đời sống vệ sinh, ngăn nắp. Nàng nhớ đến mùi mốc, mùi gỗ mục và căn gác nóng ngột ngạt buổi chiều.

Sau một hồi hì hục, Thanh lơi tay. Chàng nằm vật ra, chép miệng:

– Tệ thật. Chẳng được gì.

Linh cảm thấy như mình vừa hụt chân. Nàng nhìn qua Thanh, thấy khuôn mặt chàng hơi tái, vài giọt mồ hôi lấm tấm trên trán. Tóc rối. Thân thể chàng trắng, đẹp, hơi gầy.

Chàng nằm yên, tay chân duỗi thẳng, chiếc quần ngủ vắt ngang bụng. Linh cảm thấy xót xa. Chàng vẫn thế. Chưa có gì khá hơn. Nàng hôn nhẹ trán chồng, nói nhỏ như nói với chính mình:

– Cũng chẳng sao.

Nàng xích lại gần Thanh, gối đầu lên cánh tay chàng, nhìn lên trần nhà, nghĩ ngợi vẩn vơ. Thanh mở mắt nhìn nàng:

– Em mệt không?

Giọng Linh buồn:

– Không.

Thanh ngồi dậy, mặc quần áo, đến bàn. Chàng giở chồng tài liệu ra đọc lại. Dáng chàng in trên khuôn cửa sổ, buồn bã. Trời sẫm tối ở bên ngoài. Linh uể oải ngồi dậy. Nàng nhìn xuống thân thể mình và bỗng cảm thấy nó thừa

thải, vô duyên hơn lúc nào hết.

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 7 Sep 2025

Phần 5

Chương 20.

Những bài học từ cuộc chiến Việt Nam

Bài học cho Mỹ

Về những bài học của cuộc chiến, có nhiều tác giả đã đưa ra những bài học cho Mỹ, cả về quân sự, chính trị, lẫn ngoại giao. Vắn tắt, một số bài học quan trọng được tóm gọn như sau:

Về quân sự:

– không thể chỉ dùng sức mạnh của vũ khí để theo đuổi một mục tiêu chính trị;

– quân đội Mỹ không được tổ chức thích hợp cho chiến tranh du kích;

– khi có quyết định bước vào cuộc chiến, lãnh đạo không nên trói tay quân đội và phải ủng hộ hết mình; vừa đánh vừa rụt rè là chỉ có thất bại;

– những bài học về chiến thuật và khí giới thì đã quá nhiều và ngày nay đang được áp dụng. Thí dụ như từ sau chiến tranh Việt nam, chưa có máy bay B-52 nào bị bắn rơi. Và những bài học về du kích chiến thì đang được sử dụng vào chiến tranh chống quân khủng bố (terrorister).

Về chính trị:

– Dân chúng Mỹ không chịu đựng được một cuộc chiến kéo dài; khi thương vong lên tới trên 1,000 một tháng là tâm lý nhân dân lên cơn sốt;

– đừng can thiệp quá nhiều vào nội bộ chính trị của đồng minh;

– đừng Mỹ hoá chiến tranh;

– đừng đặt quá cao mục đích của Mỹ khi bước vào cuộc chiến;

– đừng thổi phồng lên những thắng lợi ở chiến trường, nó có tác động nâng cao triển vọng của nhân dân, để rồi họ vỡ mộng khi được phanh phui là không đúng; vì báo chí, truyền thông Mỹ thường hay đưa tin tức, bình luận chứng minh ngược lại với những tuyên bố hay lập trường của Chính phủ; và

Về ngoại giao:

– Phải quốc tế hoá chiến tranh qua Liên Hiệp Quốc, hoặc kéo theo nhiều đồng minh;

– Phải giữ tính nhất quán của Hoa Kỳtrong việc biện hộ cho mục tiêu của cuộc chiến, đừng có thay đổi mục tiêu liên tục;

– Trong một xã hội dân chủ, mở rộng như Mỹ, nếu Tổng thống chỉ dựa vào một hai viên chức để làm chính sách về ngoại giao là rất nguy hiểm; và

– Đừng bội tín; phải giữ được niềm tin của các nhà lãnh đạo những quốc gia khác; đừng dối trá, nay thế này mai thế khác.

Điểm cuối cùng hết sức quan trọng. Nhiều khi nó còn là yếu tố quyết định giữa chiến tranh và hoà bình. Về điểm này, các cấp lãnh đạo tối cao của Hoa Kỳnhư Tổng thống Nixon, Tổng thống Ford, đã phải công nhận rằng sự thất bại ở Việt Nam làm tổn hại rất nhiều tới uy tín của Hoa kỳ. Vì vậy, cho dù việc giải kết, tháo chạy khỏi Miền Nam là điều có lợi cho nước Mỹ đi nữa, nó cũng chỉ là ích lợi ngắn hạn, vào thời điểm đó. Về lâu về dài, nó đã làm tổn hại tới độ tin cậy (credibility) của chính sách ngoại giao cũng như uy tín Hoa Kỳkhông ít. Chính Henry Kissinger cũng phải nhận định rằng chỉ sáu tháng sau chiến tranh Việt nam, phía Cộng sản đã dùng chiến tranh du kích bung ra tại Phi Châu, Afghanistan; và ba năm sau, Chính phủ của quốc vương Iran là đồng minh của Mỹ đã sụp đổ, làm mất hẳn thế quân bình ở Trung Đông. Ảnh hưởng của biến cố này còn kéo dài cho tới ngày nay. Khi quốc vương Shah còn ngồi đó thì đâu có chuyện Saddam Hussein xưng hùng xưng bá và đâu có thù địch nước ngoài nào dám tấn công thẳng vào ngay Ngũ Giác Đài và Trung Tâm Thương Mại Quốc tế ở New York? Suýt nữa còn phá hoại cả vào Quốc hội hay Toà Bạch Cung. Cũng chính Kissinger đã đặt câu hỏi có phải sự sụp đổ của quốc vương Iran là do chính ông ta mất tin tưởng vào Mỹ hay không?

Và phe chống đối ông Shah đã bắt đầu coi thường Mỹ đến độ còn bắt ngay cả 52 nhân viên Toà đại sứ Mỹ ở Teheran làm con tin vào tháng 10, 1979. Tổng thống Carter cho trực thăng bí mật vào cứu, nhưng đã hoàn toàn vô ích; và ông đã thất bại trong kỳ tuyển cử nhiệm kỳ hai vào năm 1980. Khủng hoảng này kéo dài tới hơn một năm. Sau khi ông Reagan lên Tổng thống (tháng 1, 1981), những con tin mới được thả.

Về việc các chính khách khối A rập nghi ngờ về mức độ tín nhiệm của Hoa kỳ, tôi chỉ nhắc lại một câu chuyện xảy ra vài tháng trước khi Miền Nam sụp đổ. Khi viện trợ Mỹ bị cắt gần hết, Chính phủ VNCH gấp rút xúc tiến việc vay tiền xứ Saudi Arabia như Quốc vương Faisal đã hứa (trước khi ông bị người cháu hạ sát). Ngoại trưởng Bắc đi thương thuyết để sớm giải ngân. Ông Bắc nói với Tổng trưởng dầu lửa Sheik Yamani rằng: “Mỹ đã không viện trợ cho chúng tôi như đã cam kết trong văn bản”. Ngỡ ngàng, ông Yamani lắc đầu, hỏi: “Làm sao khi chủ tịch của một công ty đã ký kết một tài liệu, rồi người kế vị ông ta lại nói: Tôi không biệt gì về chuyện đó hết”.

Bởi vậy, thực ra, cái giá Mỹ phải trả cho việc tháo chạy khói Miền Nam là quá lớn.

Nơi đây, ta có thể rút tỉa một bài học về độ tin cậy quan trọng Hoa kỳ: đó là khả năng duy trì, hay khả năng bền (sustainabitity) của những cam kết do Tổng thống đối với đồng minh. Các nhà chính trị học cần nghiên cứu cho kỹ điểm này: khi Tổng thống Hoa Kỳhứa hẹn bằng lời nói miệng hay trên văn bản, liệu những cam kết đó có khả năng bền vững có kéo dài được lâu hay không? Liệu nó có còn hiệu lực khi hoàn cảnh chính trị thay đổi, thí dụ như có một Tổng thống mới hay một Đảng cầm quyền khác? Hay hoàn cảnh kinh tế thay đổi, thí dụ như lạm phát cao, thất nghiệp nhiều, khủng hoảng kinh tế? Nếu không, thì giá trị của những cam kết đó như thể nào? Khi hứa hẹn như vậy, Tổng thống Mỹ có nên hay không nên thêm một câu: “Những cam kết này chỉ có giá trị bao lâu tôi còn ngồi trong Toà Bạch Ốc”, hoặc những cam kết này sẽ không còn giá trị khi hoàn cảnh kinh tế xã hội, chính trị của Hoa Kỳthay đổi?”

Bài học cho các đồng minh

Nếu những bài học cho Mỹ đã được nhiều tác giả bình luận thì những bài học cho các đồng minh của Mỹ lại chỉ được các nhà lãnh đạo quốc tế rỉ tai nhau và truyền miệng về những nhận xét của họ.

Bài học thứ nhất cho một đồng minh của Hoa Kỳlà nên nhận định rõ ràng vấn đề quyền lợi. Lý do quan trọng nhất mà Hoa Kỳnhảy vào một cuộc chiến là quyền lợi của Hoa kỳ. Những mục tiêu khác như bảo vệ nhân dân, tranh thủ nền độc lập, hay xây dựng dân chủ (cho VNCH hay Iraq, hay Afghanitan) thì chỉ là thứ yếu. Năm 1965, trước khi cho TQLC đổ bộ vào Đà Nẵng (ngày 6 tháng 3), trong một cuộc họp mật và cao cấp tại Washington, D.C. vào tháng 1, 1965, Bộ trưởng quốc phòng Robert Mcnamara và thứ trưởng Mcnaughton đã nói toạc ra là mục liêu của Mỹ “không phải là để giúp một nước bạn thắng là để ngăn chặn Trung Cộng”. [1]

Về việc đưa quân vào Việt nam, trong buổi họp ngày 24 tháng 3, 1965, Mcnaughton còn tính toán rõ ràng về mục đích của Mỹ theo phần trăm như sau:

– 70% là để tránh một sự thất bại làm bẽ mặt cho Mỹ;

– 20% để giữ Miền Nam khỏi rơi vào tay Trung Cộng; và

– 10% để cho nhân dân Miền Nam được tự do, hạnh phúc [2].

Thứ hai, quyền lợi về kinh tế là bền vững, lâu dài; quyền lợi về chính trị hay ngoại giao chỉ là giai đoạn. Nó chỉ tồn tại vào thời gian nào đó mà thôi. Hoa Kỳcan thiệp vào chiến trường Việt Namtrong thời điểm lúc cường độ chiến tranh lạnh còn đang lên cao. Tới lúc bắt đầu “détente”, giảm căng thẳng được với Liên Xô thì quyền lợi đó cũng bắt đầu giảm. Tới khi Tổng thống Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông (tháng 2, 1972) thì quyền lợi đó coi như đã chấm dứt.

Ngày nay, trong chiến tranh vùng Vịnh chẳng hạn, mục đích là dẹp được Saddam Hussein vì nhiều lý do, đầu tiên là vì Saddam sản xuất vũ khí huỷ diệt hàng loạt (WMD), không tìm được khí giới này thì viện lý do là vì Saddam dính líu với bọn phá hoại Al Qaeda. Khi bằng chứng dính líu cũng không rõ, thì tới nhu cầu xây dựng dân chủ bên Trung Đông. Nhưng còn mục đích khác, rất quan trọng và liên hệ trực tiếp tới quyền lợi của Mỹ là phải làm giảm đi mối đe doạ của Iraq đối với Do Thái. Do Thái là tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông. Dẹp xong Saddam rồi, và khi đe doạ về dầu lửa đã giảm bớt, sớm muộn thì quân đội Mỹ cũng sẽ phải rút về. Và muốn rút, trước hết phải có tổng tuyển cử để xây dựng dân chủ. Vì có dân chủ thì nhân dân Iraq mới “thi hành quyền tự quyết của mình” được. Bầu cử xong, Chính phủ Iraq phải sớm “phát triển những sức mạnh sẵn có của mình”. Bởi vậy, quân đội và cảnh sát Iraq phải trưởng thành sớm để tự đối diện với quân phản loạn.

Khi chúng tôi đọc đoạn này lấn cuối cùng trước khi in sách (tháng 2, 2005) đã nghe Tổng thống Bush tuyên bố là “Iraq phải tự hảo vệ lấy chính mình” (“Iraq must defend itself”); và có tin là Mỹ cũng sắp sửa rút 15.000 quân về).

Thứ ba, về lâu về dài, thực quyền là ở Quốc hội Hoa kỳ. Theo quy định của Hiến Pháp, Quốc hội có quyền “khuyến nghị và ưng thuận” (advise and consent). Như vậy, khi nào Tổng thống Mỹ có đảm bảo điều gì thì lãnh đạo đồng minh phái yêu cầu ông thông báo cho Quốc hội để yêu cầu họ đồng ý, chớ có hứa hẹn trong bí mật. Về điểm này, Đài Loan đã học được kinh nghiệm từ Việt nam, nên dù phía hành pháp có hứa hẹn là sẽ không để cho Trung Cộng thôn tính bằng võ lực, Đài Loan đã cố gắng vận động để Quốc hội Mỹ ra một đạo luật vào năm 1979 là sẽ trợ giúp Đài Loan để tự vệ; Tuy nhiên, dù Quốc hội có ưng thuận, và Quốc hội thường hay chấp thuận những yêu cầu của Tổng thống nào lúc ban đầu cuộc chiến, nhưng rồi dần dần sẽ giãn ra khi bắt đầu có nhiều thương vong và tốn kém lên cao. Họ sẽ đặt vấn đề “được gì, mất gì?” Quốc hội nắm cái túi tiền, đó là quyền biểu quyết về ngân sách, đặc biệt là ngân sách quốc phòng. Dĩ nhiên, khi có một Tổng thống mạnh và cương quyết, ông sẽ có khả năng thuyết phục Quốc hội tiếp tục chi tiền như trường hợp Tổng thống George W. Bush hiện nay (2004-2005) trong kế hoạch tài trợ cho chiến tranh Iraq. Nhưng nếu ông không sớm giải quyết vấn đề thì sự ủng hộ sẽ kéo dài được bao lâu?

Phản ứng của Quốc hội Mỹ về chiến tranh Việt Namlà một thí dụ điển hình. Tôi còn nhớ rất rõ ràng: ngày 2 tháng 8, 1964, khi xem TV thì thấy phát ngôn viên Bạch Ốc thông báo cho dân chúng Mỹ: tầu tuần tiễu (PT boats) của Bắc Việt phóng ngư lôi vào tầu USS Maddox của Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ”; hai ngày sau, 4 tháng 8, lại thấy nói: có cuộc tấn công lần thứ hai, lần này vào cả hai tầu USS Maddox và USS Tumerjoy. Dù rằng sự việc này không hoàn toàn chắc chắn, và về sau đã có nhiều chứng cớ cho thấy việc phóng ngư lôi lần thứ hai là không đúng, Tổng thống Johnson cũng đã được Quốc hội lập tức thông qua một quyết định cho phép Tổng thống làm tất cả mọi biện pháp để đẩy lui bất cứ tấn công nào vào quân lực Hoa Kỳvà đảy lui mọi gây hấn”. Nhà báo nổi tiếng James Reslon của tờ New York Times đã bình luận ngay rằng “quyền hạn trao cho Tổng thống như vậy là quá rộng, vì nó có nghĩa là Quốc hội đã chấp thuận bất cứ biện pháp quân sự nào, ở bất cứ chỗ nào tại Đông Nam Á, gồm cả những biện pháp quân sự để yểm trợ bất cứ quốc gia nào trong Liên minh Đông Nam Á (SEATO)”. Và việc chấp thuận lại đồng nhất: số phiếu ở Hạ Viện là 466-0; và Thượng Viện: 88-2 (chỉ có hai nghị sĩ: Gruening và Morse bỏ phiếu chống).

Từ lập trường ủng hộ mạnh mẽ như vậy, Quốc hội đã dần dần đi tới quyết định chống đối hoàn toàn. Liên hệ tới điểm này:

Thứ tư những tuyên bố về quyết tâm của Tổng thống Mỹ thì cũng chỉ có tính cách giai đoạn. Thí dụ như những tuyên bố rằng “Chúng tôi sẽ theo đuổi tới cùng” (We will stay the course) hay “Chúng tôi sẽ ở lại bao lâu còn phải ở lại” (We will stay as long as we have to”). Dù Tổng thống Mỹ có tuyên bố như vậy về chiến tranh Việt Namhay chiến tranh Iraq, thì cũng phải hiểu đây là rất tương đối. Dù thực sự có muốn làm như vậy, Tổng thống Mỹ cũng khó mà thi hành được. Nhân dân Hoa Kỳthường không nhẫn nại đủ để tiếp tục ủng hộ Chính phủ trong những cuộc xung đột kéo dài. Ngoài ra còn tình hình kinh tế, xã hội trong nước. Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa do chiến tranh Do-thái A Rập vào mùa Thu 1973, kinh tế Mỹ chịu cảnh thất nghiệp, lạm phát cao, nhân dân lại càng chống đối việc viện trợ cho nước ngoài;

Thứ năm, phía đồng minh nên nhớ rằng trong một hệ thống dân chủ cao như Hoa kỳ, quyền hành tất nhiên là phân tán. Ngay trong nhiệm kỳ của một Tổng thống, vẫn có nhiều phe phái. Nói chung là được phân ra làm hai: phe bồ câu và phe diều hâu. Do đó, thường có những bất đồng ý kiến giữa các lãnh đạo dân sự ở Bộ Quốc phòng và Ngoại giao. Rồi còn phía tướng lãnh quân đội, phía CIA. Nhiều lúc đồng minh phải nhận những tín hiệu đối nghịch từ các phe phái khác nhau. Nhớ lại lúc Miền Nam đi vào giai đoạn hạ màn chẳng hạn, giới Quốc phòng thì thông báo không thể gửi thêm quân viện, trong khi toà Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao thì trấn an là đừng quá lo còn chúng tôi ở đây cơ mà. Bởi vậy, về chính sách, khi ta nói “Mỹ thế này, Mỹ thế khác” là thiếu phần chính xác. Phải đặt câu hỏi “Mỹ thuộc phía nào? “Mỹ” là những ai? và như vậy, đồng minh không nên ỷ y, tưởng là nếu đã nhận được những hứa hẹn của Tổng thống, hay của Tổng trưởng quốc phòng hay Ngoại giao là tốt rồi. Khi lãnh đạo của đồng minh được mời tới thăm viếng Quốc hội Mỹ chẳng hạn, và đọc diễn văn này nọ (như Tổng thống Diệm -1956, hay Tổng thống Afghanistan Kazai – năm 2002, hay Thủ tướng lâm thời Iraq Allawi – tháng 9, 2004) thì chỉ nên nghĩ rằng đây là tượng trưng một sự ủng hộ tương đối. Nhiều khi nó chỉ là một hành động ngoại giao, không có nhiều trọng lượng về thực chất. Tôi cũng còn nhớ hồi 1956, sau khi Tổng thống Diệm được mời sang Mỹ, và đọc diễn văn trước Quốc hội (bác Trịnh Văn Chẩn, đài VOA đi theo, có kể lại là ông Diệm đọc bài diễn văn bằng tiếng Anh nhưng với giọng Huế, Quốc hội hiểu rất ít, nhưng cứ đứng lên vỗ tay vui vẻ). Khi trở về Sài gòn, uy tín ông Diệm lên rất cao; mỗi khi tôi đi xem xi nê là thấy phần tin tức (trước phim chính) cứ chiếu đi chiếu lại cảnh ông Diệm được đón rước long trọng tại New York, và đặc biệt là ông diễn thuyết được Quốc hội Mỹ hoan hô. Không những ông Diệm mà đa số nhân dân, trong đó có tác giả, đều nghĩ rằng: Mỹ ủng hộ như thế này thì chắc ăn quá rồi.

Bởi vậy, điều cần thiết là phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ, giới truyền thông, và thành phần trí thức (tại các đại học và những viện nghiên cứu). Họ là những người vận dụng quần chúng bén nhậy. “Vận động hành lang” (lobby) tại Quốc hội Mỹ là nỗ lực không thể thiếu được (nên ghi nhận thành công của Do Thái, Đại Hàn, Đài Loan trong công tác này);

Thứ sáu, phía đồng minh nên đề cao cảnh giác về cá nhân, tư tưởng và quá trình của một vài viên chức nào có quyền hành tại Washington, vào từng thời điểm. Nếu có một quan chức được Tổng thống tin cậy, thì người này sẽ khuynh loát để đánh bạt đi những lập trường khác và áp đặt giải pháp của mình. Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Ngoại trưởng Foster Dulles được Tổng thống Eisenhower tín cẩn, đã gạt đi những chống đối, hết sức ủng hộ Tổng thống Diệm. Tới Tổng thống Kennedy, rồi Tổng thống Johnson, Ngoại trưởng Dan Rusk và Bộ trưởng quốc phòng Mcnamara rất mạnh, mang quân ồ ạt vào Việt Namdù có nhiều quan chức bất đồng ý. Thời Đệ nhị cộng hoà, một mình Cố Vấn An Ninh (sau này kiêm luôn cả chức Ngoại trưởng) Henry Kissinger được Tổng thống Nixon và Ford hoàn toàn tin cậy, đã thao túng chính sách ngoại giao của cả một cường quốc; và nắm quyết định then chốt về Việt Nam như đã được tổng kết trong cuốn sách này.

Thứ bẩy, là sự xoay chiều của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ mỗi khi có bầu cử Tổng thống. Vào thời điểm đó, Hoa Kỳsẽ có tác động mạnh vào phía đồng minh đang dính líu với mình, để đi theo chiều hướng những thay đổi về chính sách. Sớm là vào năm trước năm tuyển cử. Muộn là vào cuối hè chính năm tuyển cử, lúc hai Đảng họp chọn ứng cử viên Tổng thống. Vào thời điểm đó, áp lực từ nhân dân, báo chí chống đối sẽ lên rất mạnh, ứng cử viên nào muốn được bầu thì phải đưa lập trường hoà bình, thịnh vượng ra cho rõ. Vị Tổng thống đương nhiệm thì phải hứa chắc chắn sẽ giải quyết những khó khăn mà vẫn giữ được danh dự, quyền lợi cho Mỹ. ứng cử viên đối lập thì đả kích, nói là Tổng thống đương nhiệm đã lầm lỡ và mình sẽ giải quyết tốt hơn. Phải chăng bài học Việt Namlà Mỹ nên có nhiều đồng minh ủng hộ, cũng đang được áp dụng vào chiến tranh Vùng Vịnh hiện nay? Trong kỳ tranh cử 2004, cả hai ông Bush và Kerry đều có lập trường quốc tế hoá chiến tranh Iraq.

Gần đến ngày bầu cử, vị Tổng thống đương nhiệm còn phải làm cho viễn tượng hoà bình được sáng tỏ lên. Cũng trong kỳ tranh cử năm 2004, vào mùa thu năm 2003, Chính phủ Bush đã tuyên bố là sẽ trao trả quyền hành cho Iraq vào cuối tháng 6, 2004, làm cho những người lãnh đạo mới của Iraq (được Mỹ ủng hộ) rất lo ngại, nhưng cũng phải đồng ý. Ảnh hưởng của bước đi này là làm giảm sự lo sợ của nhân dân Hoa Kỳ về chuyện sa lầy. Rồi việc chuyển giao quyền hành lại cũng đã được thực hiện vào lúc bất ngờ: hai ngày trước ngày đã ấn định. Báo chí đăng tin rầm rộ. Gần đến ngày bầu cử, Toà Bạch Ốc lại tuyên bố sẽ rút mấy chục ngàn quân từ các địa điểm ngoại quốc về Mỹ. Washington còn công bố lịch trình bầu cử tại Iraq (cuối tháng 1, 2005). Phải có bầu cử thì mới có dân chủ. Như ở lên đã nhận xét, có dân chủ rồi thì việc trao trả lại trách nhiệm cho người bản xứ là việc dĩ nhiên. Bầu cử xong thì chẳng mấy lúc nữa, báo chí, chính khách Mỹ sẽ biện luận rằng: nước là của họ, Chính phủ là của họ, nhân dân là của họ, và an ninh là việc họ phải tự lo: phải “Iraq hoá” (như “Việt Nam hoá”);

Thứ tám, khi Hoa Kỳrút đi, nếu lực lượng đối nghịch chiến thắng thì rất có ít hy vọng là một số đông nhân dân của nước đồng minh sẽ được giúp di tản, và đó là bài học vào lúc sụp đổ của Miền Nam Việt nam. Tại sao như vậy?

Thứ nhất, khi rút đi tức là đã có quyết định dứt điểm, và như vậy ít ai muốn sự có mặt của người tỵ nạn vì nó sẽ nhắc nhở mãi về quá khứ; thứ hai, ít nhà lãnh đạo nào muốn đưa thêm nhân lực vào Mỹ để cạnh tranh thêm về công ăn việc làm; và thứ ba, là ảnh hưởng về ngân sách. Phải chăng sự tốn kém vì chiến tranh Việt Namđã làm cho chương trình “Một xã hội vĩ đại” (The Great Society) của Tổng thống Johnson bị thất bại? Phải chăng những chi tiêu tại Iraq (vào thời điểm này tức là đầu 2005, cũng sắp sửa bằng tổng số chi ở Việt Namlà 150 tỷ) đã làm cho ngân sách thêm khiếm hụt, và ảnh hưởng tới tất cả những chính sách đối nội như y tế, an sinh xã hội (health care, social security), giáo dục và giảm nghèo?

Mệnh nước nổi trôi

Sau cùng, là một suy gẫm hơn là một bài học, vì nó có tính cách siêu hình. Đó là, cũng như một con người, mỗi một quốc gia đều có một vận mệnh. Và mệnh nước thường hay nổi trôi!

Suy như vậy vì tôi luôn có những câu hỏi không thể nào trả lời được, chỉ còn có cách nghĩ đến chữ “mệnh”. Tại sao ở một cường quốc vĩ đại như Hoa kỳ, biết bao nhiêu người vừa tài, vừa đức, vừa có tâm, vừa có tầm mà lại không lên được tới địa vị quyền hành như ông Henry Kissinger? Tại sao Miền Nam lại gặp ngay một người quay quắt, thiếu lương tâm như ông này làm đạo diễn chính sách của Hoa Kỳvề Việt Namtrong gần sáu năm rưỡi, tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của VNCH, và trên hai phần ba thời gian của Đệ Nhị Cộng hoà? Tại sao tới lúc Miền Nam lâm nguy, lại có một ông Tổng thống Mỹ quá yếu, ít kinh nghiệm ngoại giao như ông Gerald Ford? Và ông không bao giờ được nhân dân bầu lên. Ông vừa xin thêm quân viện, vừa tuyên bố là chiến tranh Việt Namđối với Hoa Kỳcoi như đã xong rồi (ngày 23 tháng 4), ôn lại những bất hạnh, tôi thấy câu “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí” là đúng, nhưng tại sao tai hoạ nó lại đến với Miền Nam một cách quá dồn dập vào lúc hoàng hôn:

Vừa bị ép ký một hiệp định bất lợi thì bị cắt xén viện trợ;

Còn được chút ít viện trợ kinh tế và quân sự, lại bị cú “sốc” siêu lạm phát (do chiến tranh vùng Vịnh) năm 1973 làm tiêu hao mãi lực của viện trợ;

Tới khi viện trợ bị cắt hết, Miền Nam xoay đi vay tiền Quốc Vương xứ Saudi để mua tiếp liệu. Ông vua vừa đồng ý thì lại bị ngay người cháu mình hạ sát; ông nằm xuống vào đúng ngày cố đô Huế bị bỏ ngỏ. Thế rồi, vài ngày sau, một lãnh tụ ủng hộ VNCH tích cực, ông Tưởng Giới Thạch, Tổng thống Đài Loan cũng ra đi về thế giới bên kia;

Trên chiến trường, lúc bị tấn công, Ban Mê Thuộc gọi không quân đến yểm trợ. Phi vụ vừa tới thả bom thì một trái rơi trúng ngay Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23; Mất Ban Mê Thuộc, có lệnh rút Pleiku. Ngày 18 tháng 3, quân dân hoảng hốt rút trên con đường 7B đẫm máu. Vừa về tới Phú Bổn, lại bị kẹt ngay vì công binh chưa làm xong cây cầu nổi như đã dự tính: đoàn người di tản chịu thêm một trận pháo kích bên bờ sông Ea Pha 3 . Sau này Tổng thống Thiệu kể lại cho tôi rằng ông vẫn còn thắc mắc về chuyện tại sao công binh không làm xong cái cầu nổi; Đại tướng Viên cũng cho rằng “Sư đoàn 320 của cộng sản sẽ không bao giờ truy kích kịp đoàn quân nếu chúng ta có được cầu qua sông thiết lập đúng lúc, và giữ được trật tự trong đoàn dân quân di tản” 4 ; vì cầu không xong, nên hai ngày sau mới rời được Hậu Bổn. Đoàn dân quân vừa tiến được chừng 20 cây số là khứng ngay, vì “trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đã bị dịch chiếm”. Khi không quân tới cứu,”một trái bom rơi vào đoàn quân đi đầu, gây thương vong cho gần một tiểu đoàn Biệt Động Quân” [5].

Tôi đang dự một buổi họp đầy căng thẳng tại Dinh Độc Lập sau cuộc rút lui thảm hại này thì Đại tá Cầm (Chánh Văn phòng Tổng thống) bước vào đưa một tin bất hạnh. Ông Paul Léandri, trưởng phòng thông tấn xã Agence Francce Presse ở Sài gòn bị cảnh sát bắn chết! Léandri loan tin “có số lính người Thượng (Monltagnards) đã nổi loạn ở Hậu Bổn, chống lại quân đội VNCH”. Nha cảnh sát mời ông đến để thẩm vấn. Sau vài tiếng đồng hồ bị giữ lại, Leandri bỗng nhiên bước ra khỏi phòng, nhảy lên xe và lái vút đi. Khi cảnh sát huýt còi ngừng, ông cứ tiếp tục phóng. Cảnh sát rút súng bắn vài phát vào bánh xe để giữ lại. Chẳng may một viên đạn lạc trúng ngay người. Leandri gục chết tại chỗ! Phóng viên ngoại quốc vô cùng phẫn uất, phản kháng kịch liệt. Trong một tình hình vô cùng bất lợi cho Miền Nam về tất cả mọi phương diện quân sự, chính trị, kinh tế, và bộ mặt Miền Nam đã bị bôi nhọ bởi những hình ảnh dã man, độc tài, tham nhũng, bây giờ hình ảnh Leandri bị bắn gục chết lại được phóng đi khắp thế giới! Tổng thống Thiệu nghe tin này đã tái mặt. Ông liền chấm dứt buổi họp.

Mấy ngày hôm sau, trong một phiên họp khác ở Văn Phòng Thủ tướng, lại có tin chiếc máy bay vận chuyển C-5A chở đám trẻ em mồ côi vừa cất cánh ở Tân Sơn Nhất đã bị nổ tan? Chết trên 200 trăm em bé? Vào chính lúc đó lại đang có những chống đối ngay tại Washington về việc di tản người Việt Nam.

Ôi sao tin tức nó dồn dập, bi đát đến thế vào lúc con huyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm. Suy gẫm như vậy, nhiều người trong chúng ta, trong đó có ác giả, vẫn còn tiếp tục đặt câu hỏi “Âu có phái là mệnh nước đến lúc suy tàn rồi chăng?”.

——————————–

1          New York Times, The Pentagon Papers, trang 309.

2          New York Times, The Pentagon Papers, trang 432.

3          William E. Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang 150.

4          Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 152.

5          Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 149.