This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tháng Tám năm 1985. Thành phố Los Angeles với nhà cửa san sát và xe cộ đông như kiến hiện rõ dần dưới ánh nắng chiều, tiếng cô tiếp viên hàng không loan báo phi cơ chuẩn bị hạ cánh khiến tôi háo hức. Nhân đi công tác ở Palo Alto ở bắc California, tôi bay xuống Los Angeles chơi cuối tuần với vợ chồng Canh; Canh là bạn đồng nghiệp dạy ở Đại học Khoa học Kỹ thuật Minh Đức. Cuối tháng Sáu năm 1975, tôi đã gặp Canh trong trại tỵ nạn Pendleton, nhưng từ đó đến nay mặc dù thư từ và điện thoại thường xuyên, chúng tôi chưa gặp lại nhau. Canh mừng rỡ khoát tay lia lịa khi thấy tôi ở cuối jetway (hành lang dẫn từ phi cơ vào phòng đợi phi trạm). Hai đứa ôm chầm lấy nhau; tôi nhìn bạn từ đầu đến chân và cố dấu vẻ xúc động,
“Mày không chịu bơ sữa đế quốc hay sao mà người ngợm tang thương thế kia?”
“Còn mày trông như thằng cha thiếu thuốc, có khác gì tao? Chúng mình già rồi Ba Hoa ạ,” Canh đỡ lấy chiếc cặp da trên tay tôi.
“Cô Lòng Heo. . . à Long Huê có khỏe không? Chiều nay cô ấy đi làm hả?”
Ngày còn là sinh viên ban Điện tử của Đại học Khoa học Sài gòn, Canh bị bạn bè gọi đùa là “Tiết Canh.” Khi Canh cặp bồ với cô sinh viên lớp Lý Hóa Nhiên (hay “chứng chỉ” SPCN) Long Huê người Việt gốc Hoa quê ở Rạch Giá, lũ bạn bèn tức cảnh sinh tình phang ngay cho nàng cái tên “Lòng Heo” để đi đôi với Tiết Canh cho . . . hợp duyên. Canh mỉm cười trách nhẹ,
“Mày chứng nào vẫn tật ấy! Hôm nay bà ấy nghỉ làm ở nhà nấu nướng đãi mày.”
“Tụi mày nhiễu sự, bày vẽ làm chi cho mất công.”
“Mười năm mới có dịp đón tiếp gã nhà quê từ nơi đồng nội North Dakota đến thăm viếng chốn thị thành ấy mà! Hôm nay có thằng Tiễn và vài người bạn ở quanh đây.”
Dễ đến mười tám, mười chín năm nay tôi mới gặp lại Tiễn. Ngày đó, lớp đệ nhất niên ban kỹ sư của ba trường Công chánh, Công nghệ, và Điện học chung và học các môn khoa học cơ bản; Tiễn thuộc ngành Công chánh và tôi là dân Điện. Mặt rỗ chằng rỗ chịt, người bé loắt choắt, giọng nói oang oang, và tính ưa nghịch phá, Tiễn lân la làm quen rồi chơi thân với tôi. Tôi nghe từ vườn sau Tiễn cười vang kể chuyện xưa,
“Trong giảng đường gần tám chục mạng mà chỉ có hai thằng đứng thẳng lưng là tao và thằng Chích Chòe. Bọn cù lần kia sợ thầy như đĩ thấy cha, tối ngày đứng khom lưng một điều ‘Thưa giáo sư,’ hai điều ‘Dạ vâng, giáo sư.’”
“Còn mày, phét lác cho lắm mà sao bị xoọc-ti lát thành dở ông dở thằng?” có tiếng hỏi vặn lại; “xoọc-ti lát” là “sortie latérale” tiếng Pháp nghĩa là ra trường ngang hay bị đuổi học.
“Hà hà, ‘anh mày’ là dân chơi số dzách! Tình cờ thấy ông Thế Trưởng ban Khoa học Cơ bản vào cầu tiêu sau giảng đường có ổ khóa treo lủng lẳng bên ngoài, tao bèn tiện tay lật bản lề, móc khóa vào bấm lại, và bỏ chạy một nước. Sau đó ông ta biết tao là thủ phạm và ra tay trù tới nơi tới chốn. Làm sao tao thọ sang năm thứ hai?”
Tiễn bắt tay tôi với nụ cười mở rộng đến mang tai; tôi hỏi,
“Hai mươi năm rồi mà sao bạn ta không lớn thêm được tí ti nào? Đã vợ con gì chưa hay vẫn phòng không chiếc bóng?”
“Thứ nửa người nửa ngợm nửa đười ươi như nó, con Chín dưới đò cũng chê, đàn bà con gái ai mà thèm?” Canh cười khà khà khiêu chiến; “chín dưới đò” nói lái thành “chó dưới đình.”
“Hôm nay có thằng Chích Chòe phương xa lại, tao tạm tha cho thằng Tiết Canh. Vả lại, cô Lòng Heo hứa cho ăn ngon nên ‘anh nó’ nhường nhịn một tí cho phải đạo,” Tiễn vênh váo trả lời và giới thiệu người bạn đứng bên cạnh với tôi, “Thằng Hoàn ở chung nhà với tao. Xưa kia nó có vợ đình huỳnh, nhưng khi dzọt khỏi Sài gòn, gặp ‘hên’ vợ ngủm củ lèo nên thành ra độc thân vui tính như tao.”
Hoàn trông tương phản với Tiễn một trời một vực: thân hình cao lớn, hùng tráng khôi ngô, nhưng vẻ mặt u sầu với đôi mắt buồn thăm thẳm. Hoàn bước lại gần tôi nói nhỏ nhẹ,
“Tôi là dân trung học Võ Tánh Nha Trang, hồi đi thi tú tài đã nghe danh ‘ông.’ Trong lúc ‘ông’ làm bá chủ hội đồng Võ Tánh cả hai năm, tôi chật vật lắm mới qua được cửa ải Tú tài I, nhưng năm sau trượt vỏ chuối trong hai kỳ thi Tú tài II.”
“Sau đó ‘ông’ làm gì?”
“Tôi tình nguyện đi sĩ quan Không quân. Sau thời gian thụ huấn tại trường Sĩ quan Không quân Nha Trang, tôi đi Mỹ học lái phi cơ vận tải. Đầu năm 1975, tôi là đại úy lái C-130 ở Không đoàn Chiến thuật XX trong căn cứ Tân Sơn Nhứt.”
C-130 Hercules (Dũng sĩ Hercules) là máy bay vận tải có bốn động cơ tua-bin cánh quạt có thể cất cánh và hạ cánh trên phi đạo ngắn không dự bị trước. Gần cuối bữa tiệc thịnh soạn do Long Huê khổ công nấu nướng, và khi màn đấu láo của đám bạn dịu lại, tôi gợi chuyện với Hoàn,
“Năm 1975, ‘ông’ ra đi bằng gì? Chắc hẳn không phải là tàu Hải quân như tôi rồi.”
“Tôi lái C-130 chở gia đình quân nhân Không quân trốn thoát qua căn cứ U-Tapao bên Thái Lan.” Căn cứ Không quân U-Tapao được Hoa kỳ dùng làm căn cứ cho phi cơ oanh tạc B-52 đi giội bom thời chiến tranh Việt nam.
“’Bà’ ấy mất vào lúc nào?” tôi ái ngại hỏi.
“Quế Hương cũng là dân Nha Trang; nàng ra đi trong chuyến bay định mệnh đó. Ở Sài gòn chỉ có hai đứa tôi, gia đình hai bên ở hết và kẹt lại ngoài Nha Trang,” với giọng nói buồn tênh, Hoàn chậm rãi thuật lại quãng đời đau thương mười năm trước.
***
Trong mấy tuần lễ cuối cùng của Việt nam Cộng hòa (VNCH), quân nhân Không quân, nhất là các phi công như Hoàn, công khai thảo luận và chuẩn bị di tản gia đình bằng máy bay của mình. Ba giờ rưỡi sáng ngày 29 tháng Tư, đợt pháo kích đầu tiên của Việt Cộng vào căn cứ Tân Sơn Nhứt khiến Hoàn và Quế Hương thức dậy và sửa soạn ra đi. Khoảng chín giờ, Hoàn trông thấy ông Phó Kiền lên trực thăng bay theo hướng đông về phía Đệ thất Hạm đội Hoa kỳ ngoài hải phận quốc tế. Chín giờ 45 phút, ban Tình báo căn cứ loan báo đợt pháo kích sắp tới sẽ gây thiệt hại rất nặng nề; đó là hiệu lệnh giờ G đã điểm. Giờ thì mạnh ai nấy bay.
Hoàn và Quế Hương chạy như bay và leo lên chiếc C-130 chàng bay thường ngày, phi cơ đã đầy ắp người. Chàng vội kiếm chỗ cho Quế Hương ngồi rồi bước ngay vào phòng lái mở máy cho phi cơ chạy từ từ ra phi đạo; nhiều người loi nhoi chạy theo và cố nhảy lên cửa trước còn để mở. Ra tới phi đạo, chàng ra lệnh đóng cửa, gia tăng tốc độ, và cất cánh bay về hướng tây giữa lằn đạn pháo kích. Đáp phi cơ xuống U-Tapao an toàn, chàng thở phào một tiếng nhẹ nhõm và đợi hành khách xuống hết mới ra khỏi phi cơ. Trong khi mọi người được đưa tới khu tạm trú trong các nhà để máy bay, ba-rắc lính, và lều vải nhà binh, chàng kinh hoảng nhảy bổ đi tìm Quế Hương; không ai thấy nàng đâu cả. Cuối cùng, chàng gặp anh hạ sĩ quan cơ khí quen, anh ta mếu máo,
“Đại úy ơi, ở Tân Sơn Nhứt, khi cửa còn mở, bà đứng nghiêng mình ra ngoài giúp kéo những người dưới đất lên. Họ níu kéo chen lấn và đẩy bà rớt xuống, bà bị máy bay cán lên người.”
Trời đất sụp đổ trước mắt Hoàn. Người vợ yêu quý chết tức tưởi. Đi ra ngoại quốc làm gì khi lẽ sống duy nhất trong đời không còn nữa? Chàng phải trở về Việt nam tìm xác nàng mai táng cho trọn tình trọn nghĩa. Dù chết cũng về, nhất định thế.
Căn cứ U-Tapao trở thành trại tiếp cư cho 3,900 người di tản. Vị chỉ huy trưởng là Đại tá Harold R. Dallas, một sĩ quan có ba mươi năm quân vụ, phải chạy đôn chạy đáo lo ăn ở cho đám người này. Nhưng khẩn thiết hơn là ông phải di chuyển họ ra khỏi Thái Lan ngay lập tức. Chính phủ Thái sợ Việt Cộng kiếm cớ gây hấn và xâm chiếm, nhất định đòi trục xuất họ ra khỏi nước, và đe dọa sẽ tống giam và hành hình nếu họ không tuân lệnh. Bộ chỉ huy Không quân Hoa kỳ vùng Thái bình dương đóng tại Hạ Uy Di cấp tốc gửi 21 phi cơ vận tải hạng nặng C-141 sang để chở tất cả qua đảo Guam.
Khi những chiếc C-141 đầu tiên đáp xuống U-Tapao, Đại tá Dallas lại đương đầu với khó khăn mới: Kể cả người phi công vừa mất vợ, có 65 quân nhân VNCH trẻ nói đã ra đi lầm và muốn trở về Việt nam. Tất cả đều đi trên chiếc C-130 do Hoàn lái sang và do một thiếu úy tên Lý cầm đầu; Lý cùng tuổi với Hoàn và phục vụ ở phòng Kỹ thuật Không quân. Đại tá Dallas cậy một đại tá Không quân là vị sĩ quan VNCH cấp bậc cao nhất thuyết phục 65 người đó đi sang Guam tỵ nạn; ông này vạch rõ ra rằng nếu họ trở về, Việt Cộng sẽ không dung tha và đem ra xử bắn như không. Rốt cuộc, 52 người đồng ý đi Guam, nhưng 13 người còn lại (gồm cả Hoàn) kiên quyết, “Về hay chết tại đây!”
Mười ba người cực kỳ bướng bỉnh đó đặt Đại tá Dallas vào một hoàn cảnh vô cùng khó xử, giao họ cho chính phủ Thái là điều sau chót một chiến binh yêu thương đồng đội như ông muốn làm. Giữa lúc đó, y sĩ của căn cứ đưa ra đề nghị: Truyền thống của quân đội Hoa kỳ là không bỏ bạn lại (“no one left behind”) và nếu vì một lý do nào đó quân nhân bị thương thà chết chứ không chịu rời chiến trường, quân luật Hoa kỳ cho phép toán quân y dùng thuốc an thần để cưỡng bách tản thương. Trong khi chiếc C-141 cuối cùng để máy nổ nằm chờ trên đường ra phi đạo, vị chỉ huy trưởng buộc lòng chấp thuận giải pháp này.
Người đầu tiên bị tiêm thuốc an thần là Lý, Lý vùng vẫy kịch liệt khi bị khiêng vào trạm quân y. Mười hai người kia ngập ngừng, nhưng không kháng cự. Theo đúng thủ tục, đại tá Dallas phái bốn quân cảnh và một y tá đi theo hộ tống họ. Đến Guam, 13 người phản đối dữ dội, biểu tình tố cáo lính Mỹ “dùng thuốc mê để bắt cóc” họ và khiếu nại với văn phòng đặc trách thỉnh nguyện hồi hương của Hoa kỳ. Báo chí đăng tin và làm lớn chuyện khiến Đại tá Dallas bị cách chức và bắt buộc phải giải ngũ.
Kể đến đây, Hoàn mím môi cố nén nỗi bực tức,
“Phải công nhận thằng Lý có tài xúi giục và huy động đám đông. Ở Guam, nó cầm đầu những vụ biểu tình, cạo đầu, tuyệt thực, và có lần bạo động đốt doanh trại và đánh lính Mỹ bị thương. Nhưng khi chính phủ Hoa kỳ đồng ý cho đi về bằng tàu Việt nam Thương tín thì trước ngày lên tàu nó xin ở lại.”
“Mẹ nó, đúng là thằng Việt Cộng nằm vùng! Xong công tác đó, nó ở lại Mỹ để tiếp tục đánh phá cộng đồng tỵ nạn,” tôi buột miệng la lớn.
“Ai cũng thấy vậy; tôi còn nghi nó là thủ phạm gây ra cái chết của Quế Hương. Tôi bèn đổi ý xin ở lại, đó là quyết định sáng suốt duy nhất của tôi trong gần sáu tháng trời.”
Thấy tên “Lý” nghe quen quen, tôi hỏi,
“Bây giờ thằng Lý đó ở đâu, ‘ông’ biết không?”
“Nó lấy vợ, và hai vợ chồng sống ở San Francisco và kết nạp bọn thân Cộng, gây quỹ và ra báo tuyên truyền cho Cộng sản trên đất Mỹ tự do. ‘Ông’ biết trong giới người Việt tỵ nạn mình có một nhóm võ trang bí mật tên là Việt nam Diệt Cộng Hưng quốc chứ? Khoảng ba năm trước, họ gửi thư ngỏ cảnh cáo vợ chồng nó, nhưng cặp Cộng con không những không ngưng hoạt động mà còn lên mặt thách đố. Nhóm Hưng quốc ra tay, vợ chồng nó bị bắn chết trước nhà và cảnh sát địa phương và FBI (Văn phòng Điều tra Liên bang) điều tra mà không tìm ra manh mối.”
“Đáng đời hai đứa gian ác! Tôi có đọc vụ này trên cả hai tờ Time và Newsweek,” tôi gật đầu; Time và Newsweek là hai tuần san nổi tiếng phát hành tại Hoa kỳ và lưu hành khắp thế giới.
“Mười năm qua, tôi rất ân hận về việc mình làm: Với tư cách một quân nhân đồng minh, Đại tá Dallas đã áp dụng nguyên tắc ‘không bỏ bạn lại’ để cứu giúp 13 quân nhân Việt nam Cộng hòa. Vậy mà tôi nghe theo lời kẻ gian và góp phần vào việc chấm dứt đời binh nghiệp của một sĩ quan đáng kính.”
Tôi thấy có đến hai người đáng kính: Một người là Đại tá Dallas – đã đành, người kia chính là Hoàn. Dù trải qua bao nhiêu khổ đau mất mát, chàng can đảm nhận lỗi lầm của mình. Tôi đâm ra phục người bạn mới quen.
Đươc tin nhà văn, nhà báo Nguyễn Quí Đức vừa qua đời ở Hà Nội hôm Thứ Tư, 22 Tháng Mười Một, DĐTK xin giới thiệu một truyện ngắn của tác giả Nguyễn Ngọc Hoa, trong đó nhân vật Quý chính là Nguyễn Quí Đức.
Ông Nguyễn Quí Đức là nhà sản xuất và nhà văn đài phát thanh từ năm 1979, làm việc cho British Broadcasting Corporation ở London và KALW-FM ở San Francisco và là bình luận viên cho National Public Radio. Ông là người dẫn chương trình Pacific Time, chương trình quốc gia của Đài phát thanh công cộng KQED-FM về các vấn đề châu Á và người Mỹ gốc Á, từ năm 2000 đến năm 2006. Các bài tiểu luận của ông đã được đăng trên The Asian Wall Street Journal Weekly, The New York Times Magazine, The San Francisco Examiner, The San Jose Mercury News và các tờ báo khác. Các tiểu luận, thơ và truyện ngắn khác đã xuất hiện trên City Lights Review, Salamander, Zyzzyva, Manoa Journal, Vân, Văn Học và Hợp Lưu, cũng như trong một số tuyển tập như Under Western Eyes, Watermark, và Veterans of War.
Tổ chức Overseas Press Club từng trao giải thưởng “Citation of Excellence” cho ông vì những bài tường thuật về Việt Nam cho NPR năm 1989. Phim tài liệu của ông về giới trẻ Trung Quốc, Đêm Thượng Hải (Shanghai Nights), là một phần của loạt phim PBS Frontline/World đã được trao Giải thưởng Edward R. Murrow về Phim tài liệu truyền hình xuất sắc năm 2004 từ Câu lạc bộ Báo chí Hải ngoại của Mỹ. Ngoài ra ông còn nhận được nhiều giải thưởng khác.
Nguyễn Quí Đức là tác giả cuốn Where the Ashes: The Odyssey of a Vietnamese Family, trong khi đó, Cha ông từng xuất bản một cuốn hồi ký về lao tù Cộng sản có tên “Ánh sáng và bóng tối”, với bút danh Hoàng Liên, NXB Văn nghệ, 1990.
Hai năm sau ngày được chấp thuận thành ngoại kiều thường trú, tôi và Quỳnh Châu gửi đơn xin nhập tịch tới sở Di trú và Nhập tịch (INS) và trong khi chờ đợi INS xét đơn, ra thư viện mượn sách chỉ dẫn và sửa soạn “thi quốc tịch.” Ba tháng sau, INS gửi thư báo tin sẽ gửi nhân viên kiểm tra đến Bismarck phỏng vấn. Vào ngày giờ hẹn, vợ chồng tôi cùng hai công dân Hoa kỳ làm người giới thiệu đến gặp nhân viên INS. Ông ta phỏng vấn riêng rẽ từng người và đến lượt tôi, điều tra kỹ về lý lịch và nghề nghiệp, nhưng trong phần sát hạch về hiến pháp Hoa kỳ chỉ hỏi đúng hai câu: “Phó tổng thống Hoa kỳ hiện tại tên gì?” và “Dân biểu Hạ viện đơn vị North Dakota là ai?” Cuối cùng, trong phần ký tên tại chỗ, ông đọc và biểu tôi viết, “The grass is green” (Đám cỏ thì xanh), có lẽ để tôi chứng tỏ khả năng nói, đọc, và viết tiếng Anh.
Một sáng đầu mùa xuân, vợ chồng tôi đến tòa án liên bang tuyên thệ, nhận chứng chỉ nhập tịch, và nghe ông thẩm phán đọc diễn văn chào mừng công dân mới. Ngoài mấy người tỵ nạn Đông dương quen biết và một số người Ấn Độ, Thái Lan, và Phi Luật Tân, danh sách tuyên thệ có thêm một cặp vợ chồng người Việt ở Minot, một thành phố nhỏ hơn và cách xa Bismarck chừng 100 dặm Anh về phía bắc. Tôi nhận ra người chồng là thằng Khuôn học cùng lớp với tôi từ đệ thất (lớp 6) đến đệ tứ (lớp 9) trường Hàm Nghi Huế, nó cũng nhận ra tôi. Hai mươi năm rồi không gặp nhau, nhưng hai thằng phải đợi buổi lễ chấm dứt mới nhảy cẫng lên nhào tới chỉ mặt nhau cười ha hả và hát:
Ta là học sinh Hàm Nghi tươi như hoa . . .
Đó là câu đầu tiên của “Hành khúc Học sinh Hàm Nghi” của Văn Giảng mà mỗi sáng thứ Hai chúng tôi nghiêm trang đứng hát dưới sân cờ. Văn Giảng là thầy Ngô văn Giảng dạy nhạc hiền từ đôn hậu và dáng người hơi quá khổ so với chiếc xe gắn máy Zündapp của Đức mỗi sáng thầy cỡi đến trường. Tôi mời vợ chồng thằng Khuôn đi ăn trưa; hai thằng miên man kể lại chuyện năm 1975 di tản và tấp lên North Dakota, để mặc Quỳnh Châu và vợ nó tâm sự với nhau. Nhắc lại thời học trò, bạn tôi giải thích tại sao sau bốn năm Hàm Nghi, hai thằng không gặp nhau:
“Đậu Trung học Đệ nhất cấp, tau băng (nhảy lớp) đệ tam (lớp 10), qua trường Bán Công học đệ nhị (lớp 11), và thi đậu Tú tài I mới vô trường Quốc Học học đệ nhất (lớp 12). Đậu Tú tài II, tau thi đậu vô Đại học Sư phạm Huế, học ba năm ra trường, và năm 1967 được bổ về dạy sử địa tại trường nữ trung học Đà Nẵng mới thành lập.”
“Mày giỏi thiệt! Học xong ra trường trước tao đến ba năm, và lại được về trường nữ trung học – tha hồ làm le với bọn học trò con gái ngây thơ . . . vô số tội,” tôi cười khì.
“Trường mới mở thiếu giáo sư nên tau mới được về đó. Tau được bà hiệu trưởng Diệu Lễ tận tình hướng dẫn vượt qua khó khăn của năm dạy học đầu tiên mà học trò tuổi xuýt xoát với ông thầy,” nó gượng cười và kể về vị hiệu trưởng khả kính.
Bà Diệu Lễ người Huế thuộc dòng họ Nguyễn Khoa danh giá của đất thần kinh và là phu nhân của ông Mãi đại biểu chính phủ Việt nam Cộng hòa (“VNCH”) tại Vùng I, văn phòng đặt tại Đà Nẵng. Giữ chức vụ hành chánh cao nhất Vùng I, ông có quyền hành ngang hàng với tướng tư lệnh vùng bên phía quân sự. Trước khi về Đà Nẵng, bà Mãi (bà thường được gọi như thế) là hiệu trưởng trường Bùi thị Xuân Đà Lạt, và ông là phó thị trưởng hành chánh Đà Lạt rồi đi du học Hoa kỳ một thời gian. Người Quảng Trị, ông thuộc dòng họ quan Phụ chính Đại thần Nguyễn văn Tường (1824 – 1886) đời nhà Nguyễn. Ông bà sống trong ngôi biệt thự trên đường Hoàng Hoa Thám và có bốn người con: Viễn con trai đầu đã đi du học ở tiểu bang Ohio bên Hoa kỳ từ ngày ông bà còn ở Đà Lạt, hai cô con gái kế Diệu Minh và Diệu Hạnh, và Quý con trai út. Diệu Minh tâm thần suy nhược cần được chăm sóc thường trực, và Diệu Hạnh học rất giỏi.
Cuối năm âm lịch trước Tết Mậu Thân (1968), ông bà Mãi đưa con về Huế ăn tết với gia đình nội ngoại và ở trong nhà vãng lai của chính phủ là một biệt thự đồ sộ trên đường Lê Lợi chạy dọc theo hữu ngạn sông Hương. Đêm trừ tịch, trong tiếng pháo và tiếng súng đón giao thừa, Việt Cộng đột nhập vào thành phố, mở cuộc tấn công, chiếm giữ nhà vãng lai, và bắt giữ ông Mãi giam riêng trên lầu. Bà và các con bị lùa xuống dưới tầng hầm. Cậu bé Quý chín tuổi khép nép đứng nhìn bộ tịch lúng ta lúng túng của toán lính Việt Cộng trên rừng mới về mà không dám cười.
Thí dụ, một tên Việt Cộng cầm lon bia loay hoay lắc qua lắc lại cả buổi mà không biết làm sao mở ra, cuối cùng tìm thấy cái khoen kim loại dùng để mở, và đánh liều kéo ra khiến bọt bia xịt lên tung tóe. Hắn ta hết hồn liệng lon bia ra xa, nằm rạp xuống đất, và hô to, “Lựu đạn! Lựu đạn!” Có lần Quý nghe tên chỉ huy chỉ thị cho đồng bọn: “Các đồng chí cần tích cực cảnh giác, ta đã nhận thấy đít phụ nữ Ngụy có lằn. Ta chưa nắm vững tình hình, nhưng ‘có khả năng’ chúng nó mang ‘đài’ để dọ thám cho gián điệp Mỹ.”
Cái “đài” mà tên Việt Cộng sợ bóng sợ gió thực ra là chiếc quần lót đàn bà mặc bó sát khiến bên ngoài thấy dấu hằn của đường viền. Khi rút lui, toán Việt Cộng bắt ông Mãi đi theo. Ban đầu, ông bị điệu tới mật khu trong rừng núi tỉnh Thừa Thiên. Sau đó bị áp giải theo đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc và hứng chịu các cuộc tập kích kinh hoàng của oanh tạc cơ B-52 của Hoa Kỳ. Khi di chuyển, ông Mãi và các bạn tù đi bộ chân đất, tay bị trói đưa ra đằng trước, và một sợi dây thừng buộc chung người này với người kia. Họ đi theo hàng dọc, một người trượt chân té thì cả toán tù té theo. Đêm nằm ngủ không bị trói thì chân bị cùm.
Ra Bắc, ban đầu ông Mãi bị giam ở trại Thanh Liệt tỉnh Hà Đông và sau đó bị biệt giam trong xà lim các trại Phú Sơn tỉnh Thái Nguyên, Phú Thủy tỉnh Hoàng Liên Sơn, Hà Tây tỉnh Nam Hà, và Vĩnh Phú tỉnh Thanh Hóa. Ở đâu cũng giống nhau – đói khát lạnh lẽo cơ cực và lúc nào cũng bị cai tù đe dọa. Sống biệt giam trong xà lim, ông cô đơn khát khao nhìn thấy ánh sáng và người hay sinh vật bên ngoài. Trong năm cuối cùng, ông được giam chung với những người tù khác và lại chịu các khổ sở khác như lao động vất vả, ăng-ten báo cáo, và cai tù dằn vặt xỉ vả.
* * *
Sau Tết Mậu Thân, bà Mãi đưa con trở về Đà Nẵng, dọn sang căn nhà nhỏ hơn trên đường Lê Lợi, và cố nén đau đớn để lo cho gia đình. Sau khi đậu Tú tài II với thứ hạng cao, Diệu Hạnh đi du học Hoa kỳ và ở Ohio với Viễn.
Trường nữ trung học Đà Nẵng xây trên một nghĩa trang cũ của người Pháp, trưởng thành nhờ nghị lực và cố gắng của bà Mãi, và sau này đổi tên thành Hồng Đức. Mùa xuân Ất Mão (1975) trường tổ chức “tuần lễ sinh hoạt Hồng Đức” tưng bừng với hội chợ, triển lãm, và sinh hoạt văn nghệ, báo chí, và thể thao, từ húy nhật vua Lê Thánh Tông (bút hiệu Hồng Đức) đến ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Nhưng chỉ một tuần sau, đồng bào di tản từ Quảng Trị và Thừa Thiên ùa về, và trường biến thành trại tỵ nạn. Bà đứng đầu ủy ban cứu trợ, phụ trách phân phối thực phẩm và thuốc men cho đồng bào chiến nạn. Bà không muốn và không thể rời bỏ nhiệm sở nên xoay xở gửi Diệu Minh và Quý vào Sài gòn bằng máy bay và căn dặn Quý phải chăm lo cho chị. Diệu Minh ở nhà một người chị bà, và Quý ở nhà một người em trai bà nhưng hàng ngày đạp xe đến giặt giũ cho Diệu Minh. Cuối tháng Tư, Quý đi theo gia đình cậu di tản, Diệu Minh ở lại Sài gòn với dì.
Ngày 29 tháng Ba, Đà Nẵng thất thủ, Việt Cộng vào “tiếp quản” trường, và bà Mãi vẫn còn chân “giáo viên” dạy Pháp văn. Sau ngày 30 tháng Tư, bà vào Sài gòn đón Diệu Minh về và khi trở lại, bị Việt Cộng đuổi việc bằng cách ra lệnh cho bà “làm đơn xin nghỉ.” Bà không còn lý do để ở lại Đà Nẵng và mất hơn nửa năm mới xin được giấy phép di chuyển vào Sài gòn với lý do chữa bệnh cho Diệu Minh. Bà xoay xở làm đủ thứ nghề như nấu bún bò Huế bán dạo ngoài đường, mở tiệm cho thuê bàn đánh bóng bàn, và làm việc trong hãng phấn. Cốt để có nghề nghiệp và không bị Việt Cộng cưỡng ép “đi kinh tế mới” mà khổ sở đói khát cùng cực chờ đợi.
Mười một năm sau ngày ông Mãi bị bắt đi, bà nhận được tin ông. Lúc này, ông bị xếp vào một thứ công nhân chùa của nhà nước, được báo đã ra khỏi tù, nhưng bị chỉ định sống ở trại tù Vĩnh Phú tỉnh Thanh Hóa, gọi là “tù được tha mà không được thả.” Tình cờ ông tìm được địa chỉ bà cô vợ đang làm chủ tịch hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam ở Hà nội và viết thư nhờ liên lạc với gia đình. Theo Cộng sản từ thập niên 1930, bà ta vốn thù ghét ông nên không thèm mở thư. Nhưng thay vì liệng bỏ, bà gửi sang Pháp cho một người bà con họ Nguyễn Khoa, và thư được chuyển về Sài gòn cho bà Mãi. Bà cậy cục đút lót nửa năm trời mới xin được giấy phép đi thăm ông. Gặp lại nhau lần đầu, ông bà hầu như không nhận ra nhau.
Bà Mãi đi thăm ông trở về, Diệu Minh trở bệnh nặng, đưa vào nhà thương thì bác sĩ bó tay vì không có thuốc men hay dụng cụ chữa trị, và qua đời. Xác cô được hỏa thiêu, và tĩn cốt được giữ thờ trong chùa. Một năm sau, cai tù gọi ông Mãi lên và cho biết ông được phóng thích:
Đáng lẽ ra anh không được thả. Người như anh không bao giờ cải tạo được.
Ông Mãi vào Sài gòn với bà. Lúc này, Hoa kỳ bắt đầu chương trình Ra đi Có Trật tự (ODP) cho phép người Việt nam tỵ nạn nhập cảnh Hoa Kỳ. Vì là viên chức Việt Nam Cộng Hòa cao cấp nhất bị bắt với thời gian bị giam tù dài lâu, ông được ưu tiên cứu xét. Tuy vậy, ông bà phải mất bốn năm để đi qua hàng chục cửa ải đòi tiền hối lộ mới có giấy tờ xuất cảnh sang Hoa kỳ đoàn tụ với con.
* * *
Cuối tháng Tư năm 1975, Quý theo gia đình cậu lên máy bay quân sự ra đảo Phú Quốc. Vài ngày sau, chàng thanh niên 17 tuổi và hơn 16,700 đồng bào di tản khác chen chúc trên chiến hạm USS Pioneer Contender của Đệ thất Hạm đội Hoa kỳ. Chiến hạm đưa họ đến trại tạm cư Orote Point trên đảo Guam. Rồi Quý và gia đình cậu được đưa sang trại tỵ nạn Đồn Chaffee ở Arkansas bằng máy bay. Sau khi được Viễn đồng ý bảo trợ, Quý chia tay cậu mợ bay về Ohio ở với anh và chị Diệu Hạnh. Viễn đã tốt nghiệp về ngành sinh vật học, đi làm và lập gia đình với một người Mỹ, và có đứa con trai ba tuổi. Diệu Hạnh là sinh viên dược khoa.
Quý di chuyển về California học ngành báo chí tại California State University ở San Diego. Sau đó, Quý lên San Jose làm cán sự xã hội giúp đỡ người tỵ nạn Đông dương, sản xuất một chương trình truyền thanh, và cuối cùng dọn về San Francisco. Tiếp theo là một năm làm việc trong phái đoàn Hoa kỳ giúp đỡ người Việt tại trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương trước khi trở về San Francisco thuê nhà sửa soạn đón ông bà Mãi từ Sài gòn sang,
Ở tuổi 26, sau chín năm sống riêng một mình, tôi lại có cha mẹ.
Gần gũi cha mẹ một thời gian, Quý sang Luân Đôn làm việc cho đài BBC, nhưng sáu tháng sau trở lại San Francisco làm việc cho KALW-FM là một đài public radio hội viên của National Public Radio (NPR). NPR là công ty truyền thông tư nhân, bất vụ lợi, và được cả chính phủ lẫn công chúng tài trợ; hầu hết các đài public radio lại do những đại học công lập của tiểu bang làm chủ. Năm 1989, Quý trở về Việt nam thực hiện một phóng sự cho NPR để “khám phá lại đất nước và tìm hiểu cuộc sống đương thời.” Đồng thời thực hiện ước nguyện đối với Diệu Minh, người chị vắn số: Đem tro chị về với cha mẹ anh em.
Điều đó Quý đã làm. Lần đầu tiên trong một thời gian rất dài, gia đình bà Mãi lại có nhau.
Khi ông Phạm bước ra khỏi phòng họp, bí thư đảng ủy đi theo, vỗ vai, giọng thân mật:
– Thằng con anh độ này ra sao? Hắn đã chịu đem vợ con về ở với ông chưa?
Ông Phạm quay lại:
– Về được vài tháng rồi, nhưng ngó bộ cũng tính nào tật đó, con vợ vẫn hỗn, còn hắn thì vẫn bênh vợ.
Bí thư cười:
– Thôi làm lơ đi anh ơi, mình cần bọn chúng, chứ bọn chúng đâu có cần mình nữa.
Sánh vai nhau bước xuống tầng cấp sở công an, bí thư đảng ủy trở lại vấn đề của buổi họp vừa xong:
– Thôi rán nghe anh Phạm. Tôi biết anh cũng cắn đắng với vụ này lâu lắm. Chỉ còn một hôm nay nữa thôi. Các anh trên cũng như tôi hoàn toàn tin ở anh. Sự nghiệp chiến đấu bao nhiêu năm chẳng lẽ vì một chút tình cảm nhỏ mọn để ảnh hưởng.
Ông Phạm đứng lại, nhìn thẳng vào mặt bí thư đảng ủy:
– Anh khỏi động viên tôi. Anh cứ yên tâm. Mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Anh lên phòng đi. Tôi lên nhà lao sắp xếp mọi việc.
Ông Phạm bước vội ra chiếc xe con đang chờ sẵn ngoài sân. Xe về nhà lao, nơi ông làm việc. Vừa xuống xe, ông bước vội qua hai cánh cửa cổng, quên cả đáp lại hai người lính đứng nghiêm chào. Vứt chiếc cặp xuống bàn, ông mở ra, lấy bức điện khẩn có đề hai chữ tối mật bằng mực đỏ, đọc lại một lần nữa, rồi đặt vào tủ khóa lại. Như sợ còn chưa kỹ, ông lấy băng keo dán thêm một lớp phía ngoài, ký tên vào. Ông ngồi phịch xuống ghế, rút điếu thuốc Jet châm hút, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà. Ông cố hướng ý nghĩ ông vào một việc khác, nhưng không được. Cuộc họp đảng ủy sáng nay về bức điện khẩn cứ như dính chặt trong đầu ông, không cách gì dứt bỏ ra được, dù chỉ một chốc. Ông xoay xoay trên ghế, trằn lui trằn tới, trở qua trở về, nhưng vẫn không có vị trí nào thoải mái. Cuối cùng, ông phải đứng dậy. Điếu thuốc mới hút được một nửa, ông vứt đi, rút thêm một điếu khác châm lửa hút. Lòng ông bứt rứt, bồn chồn như có con gì bò lui bò tới trong bụng.
Một hồi lâu, ông lên tiếng gọi:
– Thuấn đâu?
Một anh công an chạy vào:
– Dạ thưa thủ trưởng, có em ạ.
– Sáng nay, tổ chức thăm nuôi chu đáo chứ?
– Dạ, báo cáo thủ trưởng, chu đáo lắm.
– Bao nhiêu phạm nhân được thăm nuôi?
– Dạ, báo cáo, mười một.
– Thường phạm cả?
– Dạ chín thường phạm, hai cải tạo.
– Có ai ở biệt giam không?
– Dạ có, một, tên Hoàng Đình Cung.
Ông Phạm giật thót người:
– Cung tử hình hả? Ai thăm vậy?
– Mẹ và đứa em gái.
– Có khóc lóc, van vỉ gì không?
– Dạ không.
– Gửi đồ ăn gì?
– Dạ, một bịch cơm, thịt kho, hai gói thuốc, và một bình thuốc bổ.
– Khám kỹ chưa?
– Báo cáo, rồi ạ.
– Đem đồ ăn vào cho hắn, còn lại để gửi đó. À, đưa tôi gói thuốc.
Ông Phạm đưa tay lấy gói thuốc Jet bỏ túi, rồi đi vào bên trong. Qua khỏi hai lần cửa có lính canh, mới đến sân. Sân lát xi măng, khá rộng. Đứng ở đây nhìn lên ta thấy được một khoảng trời rộng mở. Còn chung quanh là những bức tường đá kiên cố, trên tường đầy lởm chởm những đinh, mảnh vỡ thủy tinh, thép gai, cọc sắt nhọn. Không gian như chật lại, đông cứng với những chấn song im lặng nặng nề. Một vài tù nhân đang quét sân; ở một góc nhà bếp, hai người ngồi gọt vỏ sắn. Một người công an ôm súng đi quanh. Trên đầu tường ở góc sân, một người công an khác ôm súng chĩa ra phía ngoài. Mấy cành phượng với một vài chùm bông đỏ ối rũ xuống, thỉnh thoảng gió đẩy vướng vào các khoanh thép gai.
– Chào cán bộ!
– Chào cán bộ!
Ông Phạm gật đầu đáp lại lời chào của hai tù nhân.
Ông đi thẳng đến một tù nhân đang quét:
– Anh Huy, khỏe chứ?
– Dạ thưa cán bộ, khỏe.
– Năm nay tôi có đề nghị giảm án cho anh.
Tù nhân hỏi:
– Hy vọng giảm được bao nhiêu cán bộ?
– Thì một, vài năm.
Tù nhân cười:
– Tôi từng này tuổi thì giảm vài năm e cũng đâu có sống đến đó. Chung thân cũng là chung thân.
– Năm nay anh bảy mốt hay bảy hai?
– Dạ, bảy hai.
– Ráng cải tạo tốt đi rồi đề nghị giảm án, hy vọng cũng có ngày về sống với vợ con.
– Cám ơn cán bộ.
Ông Phạm lại rảo bước quanh sân, đi ngang hội trường, nhà bếp. Lặng lẽ. Thỉnh thoảng có tiếng chim hót đâu đó trên bờ tường hay tiếng một chiếc xe gắn máy chạy ngang qua xa xa phía ngoài đường cái. Tự dưng, ông nhớ đến
những ngày tháng xa xưa, hồi ông bị giam cũng tại nhà lao này ba mươi mấy năm về trước. Kể ra thì bây giờ cũng chẳng khác lắm với hồi đó. Chỉ có cái sân được lát gạch đàng hoàng hơn và khu hội trường lớn hơn. Nghe nói nhà lao được tu sửa lại thời Ngô Đình Diệm. Ông chợt bật cười khi nghĩ rằng mình đã từng là tù lâu lắm rồi, có cả vài chục năm, nhưng chỉ khi về đây, ông mới chợt nhớ đến những tháng ngày tù tội cũ. Cũng dễ hiểu thôi, vì ông bị bắt đâu chỉ có gần hai tháng vì bị tình nghi tiếp tế cho Việt Minh, sau được một người bà con làm mật thám bảo lãnh cho ra sớm. Thực ra, ông cũng chẳng ưa gì cái nghề này, ông định xin đổi đi một ngành khác nhiều lần, nhưng nghĩ lại ở đâu quen đó, nên thôi. Vả lại, làm cái chức trưởng lao cũng nhàn hạ, nhất là những nhà lao kiên cố như thế này. Có điều, lần này chính cái chức trưởng lao lại làm ông bối rối.
Trở lại vào hành lang, ông Phạm gọi:
– Bảo đâu?
Một anh công an từ phòng trong chạy ra, khẩu súng ngắn bên hông lủng lẳng:
– Báo cáo thủ trưởng, em đây.
– Cho tôi vào khu biệt giam.
Anh công an tuân lệnh, đi trước, tay đút túi quần, lấy ra chùm chìa khóa, lần lượt mở hết lớp cửa này đến lớp cửa khác. Ông Phạm đi sau, đưa mắt quan sát các phòng. Phòng y tế, phòng mộc, khu tù hình sự, khu tù có án, khu tù cải tạo. Càng đi sâu vào, không khí càng lạnh lùng, vắng lặng. Qua khỏi phòng kỷ luật là đến khu biệt giam. Đây là khu dành để nhốt những tù nhân nguy hiểm và những tù nhân có án tử hình đang đợi lệnh ân xá hay đang chờ ra pháp trường. Khu chia ra nhiều phòng. Nói phòng, chứ thực ra là những cái hộp đá kiên cố, phẳng phiu, một nửa chiều cao nằm sâu dưới đất. Bên trên có một cái ô nhỏ có chấn song để đưa đồ ăn vào. Ở đây hầu như không có ánh sáng. Một bóng điện với thứ ánh sáng mờ đục treo ở cuối hành lang chỉ đủ để soi lối đi. Tới trước một cái “hộp”, ông Phạm dừng lại:
– Mở khóa, đưa cái đèn pin cho tao.
Anh công an mở khóa, ông đẩy cánh cửa sắt nặng nề. Ông đưa tay bịt mũi để tránh hít phải cái mùi hôi đặc biệt từ trong “hộp” tỏa ra. Trong ánh sáng nhờ nhờ, ông nhìn thấy một tù nhân ngồi dựa vào tường, bất động. Ông bấm đèn pin rọi khắp trên dưới, rồi chiếu vào tù nhân. Tù nhân cựa mình, ngẩng đầu nhìn lên, rồi như bị chói mắt, anh ta cúi xuống dụi đầu vào vai. Ông Phạm dọi đèn đi chỗ khác. Tù nhân ngước mắt, giọng yếu ớt:
– Chào … cán … bộ.
Ông hỏi lớn:
– Tao đây, Cung, à … chú đây.
Đôi mắt tù nhân như sáng lên:
– Trời, chú …
– Ừ, trong người có khỏe không?
– Dạ, cũng vậy. Chú ơi, đã có lệnh giảm án chưa chú?
Ông nhanh nhẩu:
– Chưa, nhưng cũng sắp.
– Có … có … hy vọng nhiều không chú?
– Sao lại không hy vọng. Tội như trời mà chủ tịch nước còn giảm án, huống hồ trường hợp mày, à … trường hợp cháu. À, này Bảo, mở cái cùm tay phải cho hắn đi.
Anh công an tra chìa khóa mở cái cùm sắt tay phải, rồi lùi ra, tay để lên khẩu súng.
– Mở cùm chân một tí đi.
Anh công an lại đến mở cùm chân, rồi lùi ra, rút súng hẳn ra khỏi bao, cầm tay đề phòng bất trắc. Cung co duỗi chân thoải mái. Ông Phạm rút gói thuốc Jet, lấy một điếu châm lửa.
– Hút đi cháu.
Cung đặt điếu thuốc trên môi, hít một hơi dài, sảng khoái.
– Trời, đã quá chú ơi!
– Mạ cháu với con Liên có tới thăm nuôi sáng nay.
Chốc nữa, tụi hắn đem đồ ăn vào. Chiều nay, hớt tóc, đi tắm. Không có gì phải lo lắng. Năm nay, án tử hình khá nhiều, nên chủ tịch nước xét dần. Cháu còn đến hai tháng nữa mới hết hạn. Tao nghĩ là lệnh giảm án cháu sẽ ký trước lễ quốc khánh.
Cung hút hết điếu thuốc, xin thêm một điếu nữa.
– Còn mấy đứa khác? Con Bé em đã đi học chưa?
– Thường cả. Bé em đi mẫu giáo. Mà thôi, cháu lo gì chuyện bên ngoài. Ráng giữ gìn sức khỏe, cải tạo tốt để được giảm án lần lần.
Cung cười đau đớn:
– Cháu bị cùm đêm, cùm ngày thế này thì giữ gìn sức khỏe với cải tạo tốt thế nào được chú.
Ông Phạm cười:
– Thì tao nói tương lai cà. Bầy giờ theo chính sách, cháu phải tạm chịu như thế này cho đến khi có lệnh giảm án xuống chung thân. Lúc đó, cháu cũng được chuyển về các phòng khác hoặc ra lao động bên ngoài.
Giọng Cung chán nản:
– Cứ thế này, cháu muốn họ đem cháu ra bắn quách cho được việc.
– Có cách gì chú cho cháu gặp ba mạ cháu một lần nữa được không? Cháu lạy chú, giúp cháu với.
– Thì mai mốt được giảm án, rồi muốn gặp mấy chẳng được.
– Tự nhiên … cháu có linh tính … cháu cảm thấy như chẳng bao giờ gặp lại ba mạ cháu nữa.
Ông Phạm nạt yêu:
– Cứ nói tầm bậy không hà.
Giọng Cung tha thiết:
– Thiệt chú à, chú giúp cháu đi.
– Thôi được, để chú hỏi lại trên ty xem sao.
Cung im lặng, buồn bã đưa tay, chân cho anh công an cùm lại. Ông Phạm bước ra ngoài, không quay nhìn lại. Ông đi một mạch thẳng ra văn phòng như muốn thoát cho mau khỏi cái nặng nề, u ám của khu biệt giam. Đúng hơn, ông muốn trốn khỏi đứa cháu. Đã hơn một năm nay, ông mất ăn mất ngủ vì nó. Trong suốt cuộc đời phục vụ của ông trong ngành công an, chưa bao giờ ông phải đối phó với một hoàn cảnh éo le như thế này. Cung gọi ông bằng chú ruột, bị kết án tử hình vì tội cướp giựt và bắn trả lại công an khi bị truy đuổi. Khi Cung mới bị bắt, ông cho rằng cùng lắm hắn chỉ bị kết án mươi, mười lăm năm tù. Cho nên, mặc cho anh ruột ông lui tới năn nỉ, ỉ ôi, bà con dòng họ dùng tình cảm làm áp lực, ông vẫn làm ngơ vì sợ ảnh hưởng đến sự nghiệp. Ngày tòa xử, ông xin đi Hà Nội công tác để tránh mặt. Chẳng ngờ, do tình hình trật tự trị an tại địa phương thời gian gần đây xấu đi do quá nhiều vụ việc phản động, cướp giựt, nên tỉnh ủy chỉ thị cho tòa án kết án tử hình một vài người để làm gương và trấn áp, trong đó có Cung. Bản án bất ngờ làm ông choáng váng. Thế rồi, do bà con đến làm dữ, ông miễn cưỡng chạy quanh thăm dò. Đảng ủy cơ quan động viên ông không nên hốt hoảng, giải thích rằng đây là một bản án “làm gương” thôi, sau này, chủ tịch nước và quốc hội sẽ giảm án. Có người bắn tiếng là muốn mọi chuyện êm xuôi tại địa phương thì “lo” bốn cây vàng. Ông làm lơ, vì chuyện chạy chọt, đút lót ông không rành, hơn nữa, ông sợ ảnh hưởng. Vả lại, số tiền quá lớn, anh chị ông không cách gì lo nổi. Bán hết cả nhà đất, tài sản cũng chưa được một cây. Bởi vậy, ông động viên anh chị ông và bà con yên tâm chờ đợi lệnh giảm án của trung ương. Thế nhưng, sáng nay, đảng ủy triệu ông về họp, cho hay đơn xin ân xá của Hoàng Đình Cung, cháu ông, đã bị trung ương bác và tội nhân phải ra pháp trường ngay sáng sớm ngày mai!
Đến phòng làm việc, ông đóng cửa lại, ngồi thừ người ra. Ông cố xua đuổi hình ảnh thê thảm của đứa cháu trong phòng biệt giam ra khỏi đầu óc. Nhưng hình như càng xua đuổi, khuôn mặt nhợt nhạt của nó như hiện rõ mồn một trước mắt ông. Ông không thương nó lắm, mà cũng chẳng giận nó nhiều. “Hắn làm hắn chịu”, ông nghĩ. Sự nghiệp ông cũng chẳng ảnh hưởng nhiều lắm vì tội lỗi của nó. Nhưng điều phiền hà, là ăn làm sao nói làm sao với anh ông, với bà con tông tộc đây. Một người làm quan, cả họ được nhờ. Huống chi, ông lại là một thiếu tá công an. Ở một thời buổi mà việc gì cũng phải có chữ ký của công an, làm sao bà con họ hàng ông không tới nhờ vả, kêu réo.
Nhưng rồi, ông Phạm cũng bình tĩnh trở lại. Chức năng nghề nghiệp không cho phép ông bối rối. Không thể để cho thứ tình cảm tiểu tư sản đó ảnh hưởng vào công việc. Trong cái nghề của ông, luôn luôn giữ một trái tim lạnh lùng là yếu tố hàng đầu. Kinh nghiệm của mấy chục năm làm công an cho thấy, mọi sơ hở thường bắt nguồn từ sự thương xót, cảm thông không đúng chỗ. Ông còn nhớ như in cái lần ông thi hành công tác đầu tiên, hai ngày sau khi ông được tuyển vào ban ám sát bí mật của công an xã. Hồi đó, các anh trên giao cho ông đi ám sát một người đàn bà tình nghi làm tề điệp cho Pháp. Dù chị này là bà cô trong họ của ông, nhưng ông vẫn hăng hái nhận lời, vì cách mạng đã dạy lợi ích của cách mạng là trên hết. Nhưng khi tiếp cận được với đối tượng, tự dưng ông thấy tội nghiệp và chợt nghĩ đến tình máu mủ. Vì thế, ông có phần lơi tay khi phang chiếc rựa ngang đầu người đàn bà, khiến chị ta còn kịp la một tiếng. Chiếc đầu cũng chưa đứt hẳn. Ông hốt hoảng chạy trối chết. Về sau, trong những lần công tác khác, khi thì bắn, khi thì đâm, khi thì đập cuốc trên đầu … , ông chuẩn bị tinh thần bình tĩnh, và gạt bỏ mọi tình cảm cá nhân ra ngoài. Có lệnh là làm, lạnh lùng, không thương không xót, không thắc mắc, không do dự, trù trừ. Cái chết của bản thân phải xem thường. Cái chết của người khác còn phải xem thường hơn. Nhất là sau này, khi được biên chế về quản lý tù nhân, có vô số trường hợp gợi cho ông biết bao vấn đề về tình cảm. Vì quản lý cho tốt những kẻ bị bắt, ông phải biết thật rõ hoàn cảnh, tâm tình của từng cá nhân và phản ứng quen thuộc của mỗi người. Đặc biệt là đối với những kẻ bị án tử hình. Hồi còn ở trong rừng thì đơn giản, vì tội nhân chẳng phải bị tuyên án. Thấy cần, thì dẫn ra một nơi vắng vẻ nào đó bắn bỏ, không báo trước. Còn khi về thành rồi, phần nào cũng phải có luật, có lệ, nên tù nhân biết được bản án dành cho mình. Thường thường thì khi bị kết án tử hình, tù nhân trở nên một người khác. Tâm lý hoàn toàn không ổn định.
Biện pháp duy nhất là hứa hẹn, hứa hẹn cho đến phút cuối cùng, trước khi dẫn ra pháp trường. Điều đó, ông Phạm cũng áp dụng đối với cháu ông.
Bao lâu nay. Và chiều nay. Một buổi chiều nữa thôi. Đứa cháu ấy, ông đã từng ẩm bồng hồi còn nhỏ. Dù gì đi nữa, nó cũng là cháu ông. Và dù gì đi nữa, ông cũng không thể làm gì được khác hơn. Ông mở tủ, lấy hồ sơ Hoàng Đình Cung và cẩn thận kẹp thêm cái lệnh khẩn vào, rồi cất kỹ. Ông gọi nhân viên, phân phối công việc như thường lệ. Đồng thời kín đáo chuẩn bị mọi việc cho buổi hành hình sáng mai. Vì lẽ, việc hành hình là tối mật, phải được giữ kín cho đến giờ phút cuối. Ông gọi điện xuống ty, xem thử có gì thay đổi nữa không. Và trước khi ra về, ông lặng lẽ vào phòng biệt giam, rọi đèn nhìn cháu ông một lần nữa.
Ông bước lên xe về nhà, dặn vói với anh bảo vệ:
– Nhớ nhắc đồng chí phó chủ nhiệm là có gì, điện cho tôi ngay. Tối này tôi ở nhà một bữa. Sáng mai tôi đến sớm.
Vừa bước vào nhà, ông Phạm giựt mình vì thấy người anh và người chị dâu đang ngồi đợi.
– Chào anh chị.
– Chú đi làm về.
Ông ngồi xuống cạnh giường, vào đề ngay:
– Có chuyện gì không anh chị?
Bà chị dâu lên tiếng:
– Thì chú thay áo quần đi đã, làm gì mà vội thế.
Ông nói dối:
– Thú thật, em kiếm vài ba miếng gì rồi tranh thủ đi công tác ngay.
Người anh hỏi:
– Thế nào chú? Đã có tin. chi về lệnh giảm án cho cháu chưa?
– Chưa, anh à.
– Có hy vọng gì không chú? Chú có cách gì vận động giùm cho cháu. Anh chị chỉ có một mình nó là con trai. Không lẽ như chú mà …
– Thì em đã thưa với anh chị rồi, trước sau gì cũng có lệnh giảm án thôi. Anh chị cứ lo vớ vẩn. Không để ý gì đến lời trấn an đó, người anh vẫn than van:
– Tức thiệt là tức! Có giết người gì cho cam. Đằng này chỉ có cầm súng bắn bừa. Một vết xước cũng không có. Thế mà chết mới oan. Sao mà dễ tử hình thế.
Ông Phạm im lặng. Những lời than van như vậy, ông nghe tràn tai. Ông đã giải thích nhiều lần, hứa hẹn nhiều lần rồi, nhưng anh chị ông đâu chịu nghe. Anh chị ông vẫn cho rằng, mọi chuyện xảy ra là vì ông không thương đứa cháu. Nhiều lúc, quá bực mình ông định nói thẳng với người anh là một con người như thằng Cung là không đáng sống vì chẳng có ích gì cho xã hội hết. Hắn đã bị bắt vào tù từ hồi còn chế độ cũ, đến khi cách mạng lên, lại bị bắt thêm vài lần nữa, nhưng chứng nào vẫn tật đó, không hề thay đổi. Đó là một loại người “không thể cải tạo” được, theo ông. Nhưng ông không dám nói. Ông sợ há miệng mắc quai. Lâu nay, bà con dòng họ ông vẫn bêu riếu ông là đi theo cách mạng bao nhiêu năm chẳng lo gì đến mồ mả tổ tiên, giỗ chạp, cúng ky. Lúc đầu ông phản ứng giận dữ. Nhưng rồi, thấy bà con dần dần im lặng xa lánh ông, ông mới chợt nhận ra rằng mình sẽ bị cô lập hoàn toàn, nếu cứ tiếp tục thái độ cứng rắn như vậy. Ông bị khuất phục, vì càng lớn tuổi, người ta càng cảm thấy mình cần đến bà con tông tộc, đến mồ mả, giỗ chạp, làng nước.
Người chị dâu thổn thức:
– Chú nỡ lòng nào nhìn đứa cháu chết thảm. Chú có còn nhớ, chú đã từng bồng ẩm hắn trên tay. Hồi chú bị vây bắt, tui cũng đã từng bồng cháu lên thăm chú, chú nhớ không? Vợ chồng tui có đòi hỏi gì chú nhiều đâu. Tội của nó đâu có đến nỗi phải tử hình. Tui không hiểu cái tội gì gọi là tội “không thể cải tạo” được. Cách mạng nói “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, mà cái thằng Cung tui, cách mạng lại thua đến nỗi chỉ có cách là giết nó đi. Sao lạ lùng thế!
Ông Phạm vẫn im lặng. Ông lặng lẽ châm hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, chịu trận ngồi nghe. Than van một hồi, cuối cùng, người chị dâu lấy khăn chặm nước mắt, nói:
– Sáng nay tui có vô thăm nuôi. Chú có ghé thăm hắn không?
– Có, em mới ghé chiều nay. Cháu vẫn khỏe.
– Cháu có ốm lắm không?
– Thường thường vậy thôi. Em vẫn dặn tụi nó lo cho cháu đầy đủ.
Người anh nói:
– Đầy đủ thì cũng cơm tù.
Người chị dâu cười:
– Không cơm tù thì ông nói ăn cơm gì bây giờ. Nói cho vui, chứ có chú lo vẫn đỡ hơn.
Nhích lại gần ông Phạm, người chị dâu hạ giọng:
– Vợ chồng tui định nhờ chú một việc. Việc này theo tui, nếu chú thực tình thương cháu, thương vợ chồng tui thì không có gì khó. Liệu chú có giúp không?
– Việc gì anh chị cứ nói.
Người chị dâu đưa mắt nhìn người chồng. Ngần ngừ một lát, người anh nói:
– Không giấu gì chú, mấy tháng trước đây, thằng Cung có nhắn về với vợ chồng tôi là tìm cách gửi cho nó một sợi dây đàn hoặc ít viên thuốc độc. Vợ chồng tôi cho là nó quẫn trí nghĩ bậy. Nhưng gần đây, nó lại nhắn là nếu
thương nó thì tìm mọi cách gửi vô. Vợ chồng tôi cắn đắn nhau mãi về chuyện này, vì dù sao vẫn còn hy vọng là cháu sẽ được giảm án thành chung thân. Hơn nữa, ai lại gửi thuốc độc vô cho con bao giờ. Nhưng nghiệm đi nghiệm lại, thấy cháu cũng có lý. Vì tôi chẳng thấy mấy ai bị tử hình mà được giảm án bao giờ. Nên, thà để cho cháu tự xử lấy còn đỡ khổ hơn là đợi người ta đem đi bắn. Thế là mấy lần thăm nuôi rồi, tôi tìm cách giấu đút gửi vô, nhưng mấy người bảo vệ lục giữ quá, nên đành chịu …
Ông Phạm giựt nẩy mình trước những điều hoàn toàn lạ ông mới nghe lần đầu, nhưng vội vàng trấn tĩnh. Người anh nhìn thẳng mắt ông, nói tiếp:
– Tôi biết trách nhiệm chú lớn, chú không muốn có việc gì ảnh hưởng đến sự nghiệp của chú. Nhưng theo tôi, nếu chú thương cháu, chú vẫn tìm cách này hay cách khác gửi giúp vào. Giả dụ như ngày thăm nuôi, chú nói mấy đứa bảo vệ dễ dãi, rồi chú lánh mặt đi, giả đò đi công tác chẳng hạn …
Ông Phạm ngắt ngang:
– Sao anh chị lại nghĩ quẩn theo nó vậy. Nó còn đến hai tháng nữa mới hết hạn lệnh giảm án. Mà em chắc chắn là nó sẽ được giảm án.
– Nhà nước cách mạng làm nhiều cái bất ngờ lắm, không ai hiểu nổi đâu. Nói có mà không, rồi nói không mà có. Chắc chú hiểu quá rõ, vì chú từ trong lò cách mạng ra. Tôi chỉ mong chú thương cháu, thương vợ chồng tôi.
Ông Phạm cười:
– Ai lại thương con, thương cháu mà đưa thuốc độc để nó tự tử bao giờ.
Ngừng một lát, ông tiếp:
– Còn nói chuyện đưa thuốc vào. Cái này, đối với em không có gì khó. Có điều, em giả sử, sau khi thằng Cung tự tử và chết đi, pháp lý lên khám nghiệm, họ sẽ tìm ngay ra nguyên nhân. Lúc đó thì, em là người đầu tiên lãnh đủ. Và kế đó là anh chị. Luật pháp không dung thứ chuyện để cho
một người bị tử hình lại chết trước khi ra pháp trường. Chưa chừng, người tiếp tay sẽ lãnh án thế tử tội nữa đó. Em nói đây chẳng phải chỉ riêng cho luật pháp cách mạng mà thôi đâu. Luật pháp nước nào cũng vậy hết. Anh chị cứ suy nghĩ kỹ mà xem.
Người anh định nói thêm, nhưng cảm thấy sao đó, lại im lặng, ngồi nhìn xuống đất. Người chị dâu tức tưởi:
– Cái gì nói với chú cũng đâm ra thành khó khăn. Khổ ơi là khổ, muốn con sống không được, giờ muốn con chết cũng không xong.
Nhìn sang chồng, bà đay nghiến:
– Tui đã nói rồi, mắc mớ chi mà phải nói với chú. Đã không giúp, lại còn dọa nữa. Chú ấy là công an, chú ấy chỉ biết có đảng, làm gì biết đến bà con, dòng họ.
Ông Phạm cố trấn tĩnh, ôn tồn nói:
– Chị đừng nói vậy. Cái gì em làm được là em làm liền. Anh chị đừng đẩy em vào chỗ khó xử.
Người chị dâu đứng dậy:
– Tụi tui làm gì mà dám “đẩy” chú. Tụi tui đến xin, đến năn nỉ chú, chứ có dám làm gì đâu.
– Chị đừng chua chát với em mà tội. Anh chị cứ yên tâm, em chắc là chỉ trong tháng này là có lệnh giảm án cho cháu thôi. Anh chị biết là sắp đến lễ quốc khánh rồi mà. Khi án giảm thành chung thân, em sẽ tìm cách gỡ dần cho nó.
Người anh cũng đứng dậy, thở dài:
– Lúc nào cũng nghe chú nói sẽ, sẽ, sẽ … thà chú nói thẳng chú không giúp, chú không làm, chú sợ mất chức. Từ ngày cách mạng về, tôi cứ nghe mãi chú sẽ, chú sẽ, sẽ …Thôi, tụi tôi về.
Hai vợ chồng đi ra. Ông Phạm im lặng tiễn anh chị ông ra cửa. Ông nói:
– Anh chị không hiểu nỗi khổ tâm của em, anh chị nói thế. Mà thôi, phận làm em, anh chị nói sao, em chịu vậy.
Ngừng một lát, ông nhắc lại một câu động viên thường lệ:
– Anh chị cứ yên tâm. Cháu sẽ có lệnh giảm án nay mai thôi.
Hai vợ chồng người anh ra rồi, ông vào nhà rửa ráy mặt mày sơ sài, gọi điện bảo tài xế chở ông trở lại nhà lao. Ông giở sổ thăm nuôi ra, rà soát lại mấy chục lần thăm nuôi trước của gia đình cháu ông, các loại thức ăn, thuốc men, áo quần mang vào mang ra, tên các nhân viên dưới quyền ông phụ trách kiểm tra thăm nuôi … Ông viết lệnh triệu tập buổi họp khẩn cấp toàn thể cán bộ phục vụ tại nhà lao vào chiều mai. Lời tiết lộ của vợ chồng người anh khiến ông toát mồ hôi hột. Ông muốn tìm xem ông đã sơ suất trong khâu nào khiến cho cháu ông có thể thông tin ra ngoài được với anh chị ông. Ông ra lệnh bố trí an ninh đêm nay chặt chẽ, cử một người trực gác thường xuyên trước phòng cháu ông, giữ lại toàn bộ đồ thăm nuôi buổi sáng. Xong đâu vào đó, ông vào phòng, đóng cửa lại, rút điếu Jet châm hút, lẩm bẩm:
– Tổ mẹ, ưng ngủ một đêm mà không được.
Dù chẳng có gì phải lo lắng, nhưng ông Phạm cũng ngủ không yên giấc. Ông trằn trọc mãi. Đến khi chợp mắt được một lúc, ông lại mơ thấy mình về làng ăn giỗ. Có lúc ông mơ thấy ông bồng Cung, dẫn Cung đi chơi.
Ba giờ sáng, ông thức dậy, chế trà uống. Ông xuống phòng biệt giam, vừa kiểm tra, vừa thăm lại đứa cháu lần cuối. Cung còn ngủ, đầu ngả sang một bên. Ông cảm thấy loáng thoáng trong lòng đôi chút xót xa khi nghĩ rằng chỉ còn vài tiếng nữa là đứa cháu ông không còn trên cõi đời này nữa.
Bốn giờ sáng, xe ở ty lên. Nhận lệnh, ký xong, cắt đặt mọi việc cho đồng chí trợ lý và các cán bộ phụ trách, ông trở vào phòng, đóng cửa lại, châm thuốc hút, đi lui đi tới, nghe ngóng. Một lát, từ trong phòng biệt giam vang lên tiếng bước chân rầm rập, tiếng lách cách của ổ khóa, tiếng lên đạn. Rồi sau đó là tiếng gào mỗi lúc mỗi lớn của Cung:
– Chú ơi là chú, họ đem cháu đi bắn rồi chú ơi. Chú ơi, cứu cháu với. Chú hứa với cháu là sắp có lệnh ân xá, sao giờ họ dẫn cháu đi bắn, chú ơi. Ba ơi, mạ ơi, con sắp chết rồi. Chú ơi là chú ơi, Liên ơi, trời đất ơi, cách mạng ơi.
Tiếng gào yếu dần đi, vì vừa như có bàn tay ai bịt miệng lại, vừa như không còn hơi sức. Khi dẫn đi ngang phòng ông, ông chỉ nghe tiếng ú ớ, tiếng rên rỉ nho nhỏ, rồi lịm dần đi. Ông bịt tai lại, cắn môi. Tự dưng, ông rơm rớm
nước mắt. Kể ra thì ông đã quá quen thuộc với cái cảnh này, với tiếng gào của người tử tội. Thông thường thì tội nhân chỉ đủ sức gào lên một câu ngắn rồi ngất đi khi nhận rõ rằng mình sắp chết. Thằng cháu ông lại gào được lâu hơn, khiến ông thấy lòng xốn xang.
– Cái thằng cũng mạnh thiệt! – ông lẩm bẩm.
Đợi chiếc xe chở tử tội và những người áp tải đi, ông mới lên xe. Khác với những lần trước, lần này ông cố tình đi chậm lại. Ông chỉ đến để chứng kiến, còn mọi thủ tục khác ông đã giao cho người phụ tá của ông lo.
Pháp trường là một triền núi vắng vẻ, ở khá xa thành phố. Nói là pháp trường, chứ thực ra chỉ là một bãi đất trống, với một cái cọc để trói tử tội, và một cái hố vừa đào chiều hôm trước. Chỗ bắn thay đổi luôn, mỗi nơi thường chỉ dung cho một vụ xử. Trừ những vụ phạm tội lớn, đặc biệt là những vụ án phản động hoặc cướp của giết người làm chấn động dư luận, thì pháp trường mới được bố trí ở thành phố, thị trấn để cho nhân dân tự do tới xem; còn thì đều tổ chức bí mật, đơn giản và nhanh chóng.
Đến nơi, ông Phạm xuống xe, đứng chung với đội hành quyết. Trời chưa sáng. Cây cỏ như còn ngái ngủ. Sương sớm lờ mờ. Lặng lẽ. Ngoài bãi bắn, cháu ông đã xuống xe, được mở trói và có lẽ đang được phép viết ít dòng từ giã cha mẹ, anh em. Bên cạnh đó là người trợ lý của ông, đội trưởng đội
hành quyết, đại diện tòa án và hai người công an bảo vệ.
Ông hỏi một người trẻ nhất trong đội hành quyết:
– Chú thi hành công tác này lần đầu?
– Báo cáo thủ trưởng, đúng ạ.
– Cảm giác thế nào?
– Dạ, thấy rờn rợn.
Ông cười:
– À, thì lúc đầu ai chẳng vậy. Sau này, mấy chú còn sướng hơn tao hồi trước. Bắn, đỡ run tay. Để tiết kiệm đạn cũng như để giữ bí mật, bọn tao chỉ có chặt, đâm, hay đập bể sọ. Lúc đầu, ngán ngán, rồi lâu dần cũng quen. Mình cứ tưởng tượng như đập một con gà, con chó gì đó thôi. Người có tội thì chết cũng như con vật, có gì mà phải băn khoăn. À, mà chú thấy tội nhân vùng vẫy, la hét gì trên xe không?
Có ăn hết phần ăn không?
Một người khác trong đội hành quyết trả lời:
– Thằng này cũng lì. Lúc từ nhà lao ra, hắn còn la. Chặp sau, hắn ngồi dậy, ăn uống tỉnh bơ, còn nói đùa nữa chứ. Em nhìn thấy hắn tỉnh quá, mà rờn rợn. Thủ trưởng biết không, hắn còn hỏi em “Anh thích bắn chỗ nào, đầu hay tim. Ờ, mà lạ, sao hắn lại tỉnh queo thế, thủ trưởng?
Ông Phạm gật đầu:
– Đúng là lạ thật! Đứa nào khi mới nghe dẫn đi bắn, cũng gào lên. Nhưng khi biết chắc không thể thoát chết được, đứa nào cũng bình tĩnh. Đại đa số lại còn không chịu cho bịt mắt nữa. Tao nghĩ chắc cái chết cũng nhẹ nhàng
thôi, phải không mấy chú?
Ông cố gượng vui, chứ thực tình, lòng ông cũng có phần xao xuyến. Ông định ở đây luôn cho đến khi vụ xử bắn kết thúc, nhưng một anh bảo vệ chạy vội ra:
– Báo cáo thủ trưởng, tội nhân xin được gặp chú.
Ông miễn cưỡng bước đi. Trời mờ mờ sáng. Cung đã được trói chặt vào cột, đầu gối quỳ xuống đất, hai tay quặt ngược ra phía sau. Mặt mày tái nhợt, nhưng trông Cung rất bình tĩnh. Thấy ông, Cung nhếch mép:
– Vĩnh biệt chú. Cháu không có gì trách chú hết. Cho cháu điếu thuốc.
Ông Phạm lấy điếu Jet, mồi lửa, nhét vào môi đứa cháu. Đôi môi run rẩy, lặp bặp ngậm điếu thuốc. Cung hít một hơi dài, nhắm mắt lại. Điếu thuốc động đậy, rớt xuống đất. Ông lấy một điếu khác, châm, rồi gắn vào môi Cung.
– Thuốc của mạ cháu bới vào hôm qua đó, – ông nói, mắt tránh đi chỗ khác.
Cung cố hít lấy hít để khói thuốc trước khi điếu thuốc lại rớt xuống đất. Anh ta ngẩng đầu nhìn người chú, giọng có hơi lạc đi:
– Nói họ đừng bịt mắt cháu nữa. Cháu không sợ.
Ông Phạm gật đầu, nhưng không làm gì cả. Ông bước vội lui, đi thẳng, không ngoái đầu lại. Ông nhìn mông lung về phía chân trời đang hửng sáng. Một lát sau, đợi cho phát súng ân huệ cuối cùng vang lên, ông mới quay lui. Từ xa, ông nhìn thấy đầu đứa cháu ngoẹo sang một bên. Ông cúi đầu, cắn môi, vội vã bước ra xe, bảo tài xế lái về nhà.
– Về thắp cho hắn mấy nén nhang, – ông Phạm lẩm bẩm.
Có thể nói, Nguyễn Hiến Lê là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất của chúng ta. Ông vừa dịch vừa viết hàng trăm tác phẩm. Ngoài những tác phẩm văn chương,ông còn chuyển dịch nhiều loại sách khác, giúp các độc giả không rành ngoại ngữ hoặc thiếu những kiến thức chuyên môn, mở rộng sự hiểu biết của mình. Vì thế, độc giả cũng như các nhà xuất bản, xếp tác phẩm của ông vào Tủ Sách Học Làm Người.
Nhớ lại, khi cuộc chiến tranh VN chấm dứt năm 1975, toàn bộ sách của các tác giả miền Nam đã bị nhà cầm quyền CS cấm lưu hành, nhưng sách của Nguyễn Hiến Lê vẫn được các độc giả mới từ miền Bắc vào và ngay cả cán
bộ, tìm đọc. Người ta vừa cố rao giảng một nếp sống văn minh mới, vừa đọc sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê.
Bộ Hồi Ký gồm 3 tập, dầy gần một ngàn trang của Nguyễn Hiến Lê, được xuất bản tại ngoại quốc mấy năm gần đây đã được người đọc đón nhận một cách nồng nhiệt. Nó vừa cho độc giả hiểu rõ hơn công việc trước tác của
Nguyễn Hiến Lê trong suốt đời ông, vừa như một cuốn sử để người ta có thể nhìn lại những biến cố xẩy ra trên đất nước gần một thế kỷ, qua thân phận của một người, nhất là sau biến cố 1975.
Theo lời nhà xuất bản, in trong cuốn III tập hồi ký thì: “Truyện dài Cộng Sản bịp bợp tiếp diễn đã bảy mươi năm, và sẽ còn tiếp diễn mãi không biết đến bao giờ mới dứt. Vô số người từng bị lừa, trong đó khối kẻ thuộc hạng đại trí thức: khoa học gia, nghệ sĩ, triết gia, học giả. Học giả Nguyễn Hiến Lê là một”.
Ông Nguyễn viết, ông trải qua nhiều chế độ, công khai nhận rằng ông có cảm tình với kháng chiến, với cộng sản. Nhưng sau khi cộng sản chiếm xong miền Nam, ở với cộng sản ít lâu, ông sững sờ cho rằng chưa từng có thời nào tệ đến thế.
Ở trang bản thảo số 486 Nguyễn Hiến Lê viết:
“Muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ dăm năm. Đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi và có lẽ 90% người miền Nam rút được từ 1975 đến nay. Muốn nghe ai phê bình, khen chê gì thì nghe, cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi”.
Có thể nói, cuốn III tập hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê đã ghi lại những gì ông đã thấy về cộng sản. Ông đã phân tích tổng quát về chế độ và các tổ chức xã hội từ hành chánh, kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, ngoại giao, tư pháp, tôn giáo … tới tinh thần của các cán bộ, công nhân viên dưới chế độ cộng sản.
Trang 31, cuốn III, tập hồi ký, Nguyễn Hiến Lê viết:
“Một cán bộ cao cấp chủ nhiệm hay phó chủ nhiệm một tờ báo nọ có lần bảo tôi, tờ báo của ông ta có non một trăm nhân viên [trước ngày 30-4-75 một tờ báo như vậy chỉ có vài chục nhân viên mà lại nhiều trang, nhiều bài hơn], dư người rồi, vậy mà sáu tháng sau khi ông ta giao lại tòa soạn chomột cán bộ khác, thì số nhân viên đã tăng lên tới 170; có những ‘ký-giả tới tòa soạn mà chẳng có việc gì làm, nói chuyện láo một lúc, sửa một cột ấn cảo rồi đi dạo phố hoặc về nhà, tự thẹn vì mang tiếng ký giả mà cả năm không hề viết một hàng chữ cho tờ báo.
Công sở nào cũng có tình trạng như vậy, nhân viên đông gấp 5 số cần thiết và ngân sách chỉ đủ trả lương nhân viên, không còn làm được việc gì khác”.
Có thể nói một cách ngắn gọn, từ sau 75 đến nay, bất cứ một cuốn sách nào nói về đất nước chúng ta, dù là của ngay những người sống ở miền Bắc, cũng đều có thể làm cho chúng ta phải chẩy nước mắt xót thương và lo lắng.
Ở trang 104 Nguyễn Hiến Lê viết:
“Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả. Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện ‘cách mạng’ bà con trong này tặng gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con nào ở Bắc vào nữa. Gởi họ mang ra dùm một cuốn sách tặng một người ở Hà Nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm, mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn.
Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ, nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng ký tên của họ, rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn độc giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn”.
Hồi ký ông Nguyễn Hiến Lê viết năm 1980. Ông đã qua đời khi hoàn tất cuốn sách không bao lâu. Từ đó đến nay đã có những gì thay đổi và tương lai đất nước rồi sẽ ra sao?
Riêng về Nguyễn Hiến Lê thì có thể nói như lời nhà xuất bản:
“Sách của ông viết giúp ích nhiều thế hệ thanh niên trong nước, sách ông viết lại đuổi theo chúng ta trên bước đường lưu vong, thân xác ông đã vùi xuống quê hương miền Nam, nhưng tác phẩm của ông, tâm hồn ông, vẫn hướng về chúng ta, sự lầm lẫn trong đời ông, ông cũng hướng về chúng ta mà bộc bạch”.
Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương [Virginia USA] do Uyên Thao và một số bạn hữu của ông chủ trương, vừa cho ấn hành một tuyển tập gồm: tranh, nhạc, thơ, văn của Nguyễn Hải Chí, thường được biết đến nhiều hơn qua bút hiệu Chóe, ký dưới những bức hí họa đăng trên các báo tại Sài Gòn trước 1975.
Hí họa của Chóe không phải chỉ được các độc giả Việt Nam đánh giá cao. Qua những bức hí họa của mình, Chóe còn được giới báo chí thế giới coi như một trong những nhà bình luận chính trị sâu sắc nhất thế giới. Nhật báo Sóng Thần của Uyên Thao ngày ấy đã điêu đứng vì đăng tranh Chóe và bị chính quyền tịch thu vì các tội mạ ly Tổng Thống, gây hoang mang dư luận, cố tình hạ thấp uy tín quân đội, khiêu dâm vi phạm điều 35 luật báo chí.
Nhà báo Mỹ, Barry Hilton, đã sưu tầm một số tranh của Chóe, xuất bản thành tập dưới nhan đề “The World of Chóe” mà ông coi như “Vietnam’s Number-one Editorial Cartoonist”.
Cuốn sách, cuối cùng, cũng bị chính phủ Hoa Kỳ lúc bấy giờ cấm không cho lưu hành rộng rãi [chỉ có 1000 bản in thử] vì nội dung đả kích nặng nề Ngoại Trưởng Kissinger và Tổng Thống Nixon. Barry Hilton đã viết trong lời mở đầu ấn bản cuốn sách của Chóe như sau:
“Lịch sử luôn bị áp chế của Việt Nam đã hình thành truyền thống đối kháng quyết liệt coi rẻ mọi kẻ nắm giữ quyền uy với lối nhạo báng đặc thù khởi từ quan điểm của lớp người bị dầy xéo. Và, có thể coi những kiểu đầy điên loạn đầy sáng tạo của Chóe là cách biểu hiện truyền thống đó cao nhất trong thế kỷ 20″.
Barry Hilton nhìn thấy ở tranh Chóe: “… gần như một chương trình trao đổi văn hóa toàn diện để nói cho người dân xứ sở này biết những thứ mà người dân xứ sở kia ưa thích – họ sống như thế nào, suy nghĩ về điều gì, cười vui về điều gì? Tác phẩm của Chóe là bức thư ngỏ bán chính thứctuyệt vời của dân tộc Việt Nam gửi cho toàn thế giới, khởi sự giải đáp thắc mắc thứ ba vừa nêu. Tác phẩm này của Chóe với trọn vẹn sự kỳ quái, cũng là phần đóng góp của Việt Nam vào sự hiểu biết và hòa bình quốc tế”.
Đấy là cái nhìn của một người ngoại quốc đối với tranh Chóe. Thế còn người trong nước, người trong nghề, trong ngành báo chí, nghĩ gì về tranh Chóe? Viết lời giới thiệu cho cuốn “Tử Tội, Tuyển Tập Nguyễn Hải Chí” Uyên Thao, [có thể coi như người đã khám phá ra tài năng Chóe] kể lại trường hợp sau:
“Khi linh mục Đinh Xuân Hải cùng vài linh mục xuất hiện, trên Truyền Hình Sài Gòn bênh vực Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đả kích những người chống tham nhũng, Chóe ghi lại sự việc bằng bức họa một linh mục từ trong máy truyền hình vươn tay nắm cây giáo nhọn thọc vào tim mộtngười đang phơi thây trên thập tự giá. Sau khi tờ báo in bức họa, linh mục Thiên Hộ, Chủ Nhiệm Nhật Báo Xây Dựng, xuất hiện tại tòa soạn với ánh mắt buồn thảm tôi chưa bao giờ thấy. Ông tới trước bàn tôi, lắc đầu nói thật chậm:
– Mày làm tao mất ngủ suốt đêm qua. Tao khóc vì bức tranh của thằng Chóe.
Trưởng ban trị sự [Sóng Thần] Sáu Cao với thói quen cáu kỉnh từ thuở sống tại chiến khu Bà Đen hai mươi năm trước, gần như thường xuyên cau có gắt gỏng, cũng cho biết không ngăn nổi nước mắt trước bức họa đó và về bức họa vẽ tình trạng báo chí bị bóp nghẹt qua vụ án Sóng Thần 31-10- 1974 với hình ảnh cô gái chít khăn tang, thân xác gầy guộc, quần áo tả tơi, bị trói chặt chân tay, cột vào một cây gai dưới trời nắng lửa”.
Uyên Thao cho biết:
“Mỗi lần nhận những bức họa từ tay Chóe, tôi luôn có cảm tưởng anh không vẽ mà vừa hòa nhập và nhận chung gánh nặng oan khiên để cất lên tiếng gào xé ruột của những con người yếu đuối đang quặn mình dưới đủ mọi roi vọt”.
Về phần Chóe, ông tự nói về tranh mình như sau:
– Tôi vẽ để chọc cười thôi, ai muốn hiểu sao thì hiểu.
Xin trích một đoạn, coi như “Văn” của Chóe, có thể gắn liền với câu nói trên của ông, bầy tỏ những suy nghĩ củaông về chính những công việc của mình:
“Có người hỏi tôi lấy đề tài ở đâu mà vẽ liên tu bất tận?
Đề tài thì rất dễ lấy: ở báo, ở đài, đường phố, láng giềng …cái khó là chọn lọc, vẽ cái gì cho ngày mai hay tuần tới, hay tháng tới. Vẽ nhật báo thì cho nó sống một ngày, vẽ nguyệt san thì cố cho nó sống một tháng, còn vẽ báo xuân thì không dám cho nó sống một năm đâu [?] chỉ mong nó được tới tết là mừng lắm rồi – vì tất cả báo xuân đều tập trung trả tiền nhuận bút trước tết. Chính vì vẽ để lãnh nhuận bút, vẽ để bán tranh và thỉnh thoảng có vẽ để tặng, nên mỗi khi nghe ai nói tôi ‘cống hiến cho đời một số lượng tác phẩm đáng kể làm tôi ngượng đỏ mặt. Tôi không cống hiến gì đâu. Tôi làm chưa bằng người làm vườn, người trồng rau. Lớn lên có một nghề và nghề ấy nuôi sống được là quá tốt rồi”.
Chóe bị chính quyền Sài Gòn cũ bắt nhốt và đã “tự tha ra khỏi nhà giam” trưa ngày 30/4/75. Chính quyền mới, chính quyền cộng sản sau đó bắt Chóe đi cải tạo hơn 10 năm. Được tha khỏi trại cải tạo, Chóe đã hai lần tìm cách vượt biên, nhưng kết quả là phải trở lại nhà tù thêm một lần nữa [một lần may mắn không bị bắt]. Chóe cũng đã nạp đơn xin ra đi theo chương trình HO nhưng bị từ chối vì không đủ tiêu chuẩn [không phải sĩ quan, công chức cao cấp].
Trong những bước chân dung tự họa, sau này, dưới chế độ mới, khi được “nhà nước cho phép làm việc trở lại”, Chóe đã ghi lại hình ảnh mình bằng cây cọ chọc vào mắt với dòng mực tuôn ra như máu và nước mắt, bằng hình ảnh miệng bị dán kín với hai mảnh băng keo, hoặc cảnh cầm búa chặt một thân cây lớn với hướng đổ đè lên chính mình.
Một bức tranh khác của Chóe được chọn đưa đi dự triển lãm tại Nhật Bản với chủ đề Phụ Nữ Nước Tôi, Chóe đã vẽ một mỹ nhân ngư, ngồi bên bàn tiệc với đĩa thức ăn là nửa dưới thân xác của mình. Bức tranh đã gây một xúc động lớn khắp thế giới. Về nhạc của ông, có lẽ cần đến một buổi trình diễn, để mọi người có thể thưởng thức một cách chính xác.
Dưới đây là ít câu thơ của Nguyễn Hải Chí, tức Chóe, làm trong những ngày sống dưới chế độ cộng sản tại Sài Gòn, được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh:
Trong chúng ta, đến tuổi xế chiều, nhiều người đang sống với con, còn vợ, còn chồng bên cạnh còn thấy buồn, nhưng nghĩ đến những vị cao niên, cô độc trong những căn nhà già thiếu sinh khí, nhiều khi không nghe một tiếng nhạc, không nghe một tiếng nói, một tiếng cười trẻ thơ, nỗi buồn ấy càng lớn biết bao!
Ông già cô độc: 27 năm tù, 25 năm xa xứ.
Toà nhà màu hồng 11 tầng mang số 901 nằm ở góc đường First-Flower, thành phố Santa Ana, như những bao diêm xếp đều đặn, trông có vẻ thiếu sinh khí, buồn nản. Cũng như những chung cư dành cho người cao niên khác, trong những toà nhà này, vì sống đơn lẻ một mình, nhiều người đã qua đời mà không ai hay biết. Hầu hết chủ nhân những căn phòng trong cư xá là người Việt Nam, một ông hay bà đơn độc hơn là có đũa có đôi.
Đây là loại “nhà già” cho những người cao niên còn đủ sức khoẻ, không cần người hỗ trợ hay chăm sóc về y tế hằng ngày. Qua phòng khách, tôi thấy có 4 bà đều là dân Nam Mỹ, đang ngồi móc hoặc đan len với nhau. Chúng ta ít thấy người Việt tụ tập trò chuyện hay ngồi với nhau trong phòng khách, hình như người mình thích sống một mình và có những sinh hoạt riêng tư, thường đi ra ngoài hay ở trong phòng một mình. Trên đường lên thang máy, tôi gặp một bà cụ đi walker chậm rãi, yên lặng trên dẫy hành lang đèn sáng. Hành lang dẫn đến những căn phòng trải thảm sạch sẽ, không kém gì những khách sạn hạng sang ở Las Vegas, đèn đuốc sáng trưng, nhưng im lìm, vắng lặng.
Ở chung cư Flower Park Plaza này có một ông già người Việt đơn độc, sống ở đây đã hơn 5 năm ở tầng lầu thứ 10. Ông không có gia đình, con cái hay thân thích ở quanh đây, tuổi già đau yếu, lại sống một mình trên đất khách, ông mang nỗi buồn tha hương, dù là sống giữa một cộng đồng người Việt đông đúc nhất nước Mỹ.
Tôi muốn nhắc tên một người mà độc giả có lẽ ai cũng biết hay đã từng gặp ông, đó là ông Nguyễn Chí Thiện, một người làm thơ và đã trải qua một đoạn đường cay đắng, chông gai, không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu và ngay cả những ngày cuối cuộc đời khi ông được đến Mỹ, xứ sở của tự do, Nguyễn Chí Thiện cũng phải chịu nhiều cơn sóng gió, vùi dập ông như một cánh bèo trôi giạt trên sông những ngày mưa bão.
Ông chưa bao giờ lập gia đình như những người bình thường khác, vì năm 22 tuổi đã vào tù lần đầu 2 năm rưỡi, lần thứ hai 11 năm rưỡi, lần thứ ba khi Trung Cộng đánh vào biên giới Việt Bắc, chính sách tập trung những người nguy hiểm đã đưa ông vào lại nhà tù thêm 14 năm nữa, tổng cộng 27 năm. Thuộc thành phần phản động, chống chế độ, lại bệnh tật thường xuyên, cuộc đời của ông không hề có chỗ cho một cuộc hôn nhân, có quyền được một mái gia đình riêng êm ấm. Ông Nguyễn Chí Thiện thổ lộ, ông chẳng còn thời gian để yêu ai, mà trên đời này cũng chẳng có ai đem lòng yêu ông. Tấm thân ông, cuối đời lại lang bạt quê người, liệu còn ai cô đơn hơn ông nữa.
Trong những thời gian cách khoảng khi ông không ở trong nhà tù là những ngày đói khổ phải lo miếng ăn, mơ ước chuyện vượt biên vào Nam, nhưng phương tiện không có, nghìn người ra đi thì may ra chỉ có một người bơi được qua sông trót lọt. Ý nghĩ của ông Nguyễn Chí Thiện ngày đó là một người đang sống mất tự do không khác gì hơn là một người đang bị chôn sống.
Ra tù năm 1991, bốn năm sau ông được người anh ruột là cựu trung tá ngành tình báo Nguyễn Công Giân, bị tù “cải tạo” 13 năm, đi Mỹ theo chương trình H.O. bảo lãnh cho ông đến Virginia. Năm 1998, cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên, ông được cơ quan Nghị Viện Quốc Tế Các Nhà Văn (International Parliamentary Writers) đài thọ sang “bồi dưỡng” để lấy lại sức khoẻ ba năm tại Paris. Cuốn hồi ký Hoả Lò được viết trong thời gian này. Năm 2001, ông Nguyễn Chí Thiện trở về Virginia với gia đình ông Giân, nhưng khí hậu ở đây không thích hợp với bệnh tật kinh niên của ông là bệnh phổi, nên ông quyết định về sinh sống tại Nam Cali, nói rõ hơn la tại vùng Little Saigon. Ông trôi nổi đời ở trọ từ căn nhà nhỏ của nhạc sĩ Hồ Văn Sinh, rồi tới căn Mobilhome với nhà văn Phan Nhật Nam, rồi trở lại với Hồ Văn Sinh, ở đâu cũng có một chiếc giường nhỏ, cái TV và cái bàn viết. Ông tự giặt giũ và thổi cơm lấy cho hai bữa ăn của mình, lẽ cố nhiên là đơn giản đến mức như một người chay tịnh. Cuối năm 2009, ông Nguyễn Chí Thiện được về trú ngụ trong căn chung cư này trên đường First, một căn studio, sở hữu một cái tủ lạnh và tiện nghi bếp núc, phòng tắm riêng cho mình.
Một ngày của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện
06 giờ sáng đã thức giấc, nhưng đến 09 giờ mới ra khỏi giường, vì đêm nào cũng phải phải ba giờ sáng ông mới ngủ được. Làm vệ sinh cá nhân xong, pha cho mình một bình trà, ông ngồi vào máy computer đọc báo và nhận gởi thư tín cho đến trưa. Khoảng 1300 ông mới vo gạo nấu nồi cơm điện rồi hâm thức ăn đã làm sẵn để trong tủ lạnh. Tí bắp cải, tí cà chua, chút cá, chút trứng cho qua bữa, nhiều khi mệt mỏi, buồn bã ông không muốn gượng dậy vào bếp để nấu và ăn cho xong bữa cơm. Tôi đến thăm ông lúc 1500 giờ, vào căn bếp để quan sát ông ăn uống ra sao, cho bài phóng sự, chứ không phải tò mò nhìn vào nếp sống riêng tư của ông. Bên bếp chỉ có một nồi cơm nhão khoảng một « cup », chưa có dấu cơm được bới ra, trên bếp là một chiếc « xoong » nhôm để không, còn sạch sẽ. Như vậy là hôm nay, từ sáng ông chưa ăn gì, chỉ mới gượng gạo vò cúp gạo, nấu nồi cơm, rồi … để đó. Nhà báo chưa đám mở tủ lạnh ra để xem chiều nay ông có gì để ăn không.
Ông cho rằng bây giờ ăn chỉ còn là “nghĩa vụ”, không còn thấy thích, vì vậy mỗi ngày phải thường uống thêm nhiều thứ thuốc bổ và ăn bột protein. Ăn trưa xong thì ông đọc sách hay mặc áo quần thật ấm, xuống đường đi bộ loanh quanh vài vòng cho giãn gân cốt. Ông có nhiều bạn bè trong giới văn chương còn nhớ đến ông, thinh thoảng ghé qua chở ông đi dự một hai sinh hoạt cộng đồng cần thiết hay ra ngoài ăn bát phở để thay đổi không khí tù túng của một căn phòng chật hẹp.
Những lúc cần đi mua ít thức ăn, ông xuống đường, lấy chuyến xe bus trên đường First đi về hướng West xuống chợ ABC mua ít thức ăn rồi trở về. Ông cũng chọn bác sĩ gia đình và nhà thuốc ngay trên tuyến đường này.
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Từ xưa đến nay, ông chưa bao giờ lái hay sở hữu một chiếc xe hơi vì mắt ông rất kém. Mười lăm năm nay, ông chỉ đi nhờ xe bạn bè, dùng xe bus hay cuốc bộ.
Tôi hỏi ông, là một nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người hâm mộ, có ai ưu ái, thấy ông sống một mình, không vợ không con, đem thức ăn đến nuôi ông không. Ông Thiện cho biết có vài vợ chồng đến thăm, cũng như một cô cháu xa, thấy ông vụng chuyện nấu nướng nên thỉnh thoảng mang lại cho một món ăn, chứ không có “bà già” nào thuộc “diện tình cảm” cả. Buổi chiều, mệt mỏi, ông Nguyễn Chí Thiện lên giường khoảng 10, 11 giờ nhưng không ngủ được trước ba giờ đêm. Trong câu chuyện không lúc nào tôi không thấy ông cười. Ông có vẻ mệt mỏi, gầy yếu, da xanh mướt và hình như ông đang có một nỗi buồn lớn lao nào đó chế ngự tâm hồn ông.
Tuổi già đất khách: “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn!”
Ông Nguyễn Chí Thiện không có bệnh tật gì trầm trọng, cũng cao máu, cao mỡ như những vị cao niên khác, nhưng cuộc đời ông đã phải 27 năm nằm trong nhà tù, mà lại nhà tù Cộng Sản, 15 năm ra hải ngoại sống một mình, ăn uống thất thường, tình cảm lại cô đơn, lúc nào ông cũng cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Về Mùa Đông, ông lại hay bị cảm, chóng mặt, nhưng có lẽ tinh thần làm ông xuống sức. Đó là nỗi buồn dai đẳng theo ông.
Không những thấy buồn, ông Nguyễn Chí Thiện tâm sự lúc nào lòng cũng thấy bồn chồn lo lắng, phải chăng đó là dấu hiệu của bệnh trầm uất, nhất là của một người sống một mình, không có ai bên cạnh để chia sẻ nỗi vui buồn, và càng ngày càng đắm chìm trong nỗi buồn riêng tư ấy. Có khi người ta buồn những cái buồn vô cớ, nhưng cũng có những nỗi buồn có tên đeo đẳng chúng ta suốt cuộc đời. Đối với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông canh cánh bên lòng nỗi buồn về quê hương.
Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết tan rã, ông Thiện tiên đoán “chậm lắm là năm 2001, nghĩa là 10 năm sau, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đi vào bóng tối và Việt Nam sẽ được dân chủ hoá”. Bây giờ đã năm 2011, chưa có dấu hiệu gì đất nước thoát khỏi sự cai trị của đảng Cộng Sản, mà thân nhân, bà con, bạn bè lần lượt ra đi. Việc hy vọng có một ngày nào được trở lại để thăm làng quê, mồ mả, thân quyến họ hàng càng ngày càng xa, trong lúc đó, tuổi càng ngày càng cao, sức khoẻ mỗi ngày một yếu. Cả một thời tù đày, vất vả, ngay cả miền Bắc ông cũng không biết nhiều, cả cố đô Huế cũng chưa được đến.
Nhưng lẽ cố nhiên, nhà thơ chống Cộng này sẽ trở lại Việt Nam khi đất nước có được dân chủ tự do, nhưng với tuổi đời và bệnh tật của ông, hy vọng này càng ngày càng mong manh, vì vậy mà nỗi buồn lớn vẫn còn. Nhận định về tình hình tranh đấu dân chủ trong nước, ông Nguyễn Chí Thiện cho rằng, cá nhân thì có, nhưng tạo được một phong trào quần chúng thì chưa. Nói về những công việc trước mắt và những chuyện chưa làm được, cá nhân nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mong sẽ hoàn thành cuốn hồi ký, nhưng chỉ cô đọng trong vòng 300 trang. Trở ngại là khi ông ngồi trước máy computer lâu để đọc hay viết, mắt đau nhức và ông có cảm tưởng như mắt bị lồi ra.
Đời sống của một người già ở Mỹ được săn sóc thuốc men, trợ cấp, nhà cửa, thực phẩm đầy đủ, nói chung là không còn phải lo đến cái ăn, cái mặc, nhưng về mặt tinh thần, một người già sống xa quê hương, không gia đình, bà con, thân thích như ông, phải nói là đơn độc, buồn nản. Đêm nào khó ngủ, ông cũng buồn như nỗi buồn thế sự của nhà thơ Trần Tế Xương: “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn!”.
Cũng chịu cảnh tù đầy 27 năm, Nelson Mandela của Nam Phi ra tù, ông có đủ gia đình, vợ con và danh vọng của một tổng thống. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng ở tù vì tranh đấu chống cường quyền, ra tù, ông chịu cảnh lưu vong, ốm đau và cô đơn trên xứ người.
Cuối hè, nhưng ngọn nắng còn nồng. Những cây phượng đã trở lại màu xanh, chỉ còn dăm ba cánh lẻ loi như những điểm đỏ chấm phá, chẳng níu kéo nổi hơi hướm của mùa hè. Con đường lặng lẽ dưới bóng cây và vạt nắng. Đám cỏ ngu ngơ bò ra khỏi lề đường.
Việt vịn vai Điểm Nhi hỏi:
– Em đã thấy mỏi tay chưa?
Điểm Nhi cười:
– Sao mà mỏi được, nghề của em mà.
Nàng quay vòng tay nhanh hơn. Chiếc xe lăn vụt lên khỏi xe đạp của Việt, Việt níu lại.
– Thôi, anh biết rồi. Nhưng lẽ ra để anh đẩy mới phải.
– Anh nói vậy, chứ ngó sao cho được. Không có anh thì em vẫn đi đây, đi đó chứ. Có cả chục năm tới trường nữa thì sao.
– Nhưng anh thích được đẩy em đi chơi.
Việt phanh xe đạp lại, nhảy xuống. Tay trái anh cầm ghi đông xe đạp, tay phải anh đẩy chiếc xe lăn. Điểm Nhi ngừng tay, nhìn anh cười âu yếm:
– Anh không sợ người ta cười?
Việt nghiêm mặt:
– Sao lại cười? Sợ họ cười, anh đã không đi với em.
Điểm Nhi nhượng bộ. Nàng ngồi yên, hai tay để lên cần lái, không cử động, để mặc Việt đẩy.
– Có thế chứ, cô bé. – Việt cười thỏa mãn.
Đường thưa thớt người. Đây là một trong những con đường yên tĩnh nhất của khu nội thành. Màu xanh của cây lá chen lẫn với màu rêu, màu gạch đá của những bức thành loang lổ đầy dấu vết của một cuộc chiến xa xưa nào đó được kể lại nhiều lần. Mỗi lần nghe một người lớn nào đó nhắc lại kỷ niệm hãi hùng về một trận chiến trên đường phố, anh nghe mênh mang những hoài vọng nhuốm màu cổ tích. Nó vừa xa xưa, vừa gần gũi. Anh lớn lên, chỉ nghe nói về chiến tranh, chứ không hề thấy. Đôi khi anh có cảm giác tiếc rẻ, sao mình không được ra đời sớm hơn. Đám người lớn đó sao họ phong phú quá. Họ có vô vàn điều mới lạ để nói, để hãnh diện và để ngậm ngùi. Còn thế hệ Việt nghèo nàn, đơn điệu quá.
Qua khỏi cửa Hiển Nhơn, Điểm Nhi nói:
– Chỗ này sao trông hoang vu thế. Hồi trước khác.
Việt nhìn vào bãi đất rộng của Viện Bảo Tàng. Chiếc máy bay, mấy chiếc xe bọc sắt, giàn phóng hỏa tiễn. Tất cả đều rỉ sét, cỏ dại phủ quanh. Anh nhớ hồi còn học cấp I, nhiều lần cô giáo đã dẫn tới tham quan ở đây. Lúc đó, chỗ này được gọi là nơi trưng bày tội ác của Mỹ Ngụy. Anh cùng đám bạn cùng lớp trèo lên máy bay, xe tăng, hỏa tiễn rờ mó, ngắm nghía và ao ước lớn lên được ngồi lên đó để ngắm bắn quân thù.
Việt hỏi:
– Hồi nhỏ, em có đến tham quan ở đây không?
– Có chứ, hồi còn đeo khăn quàng đỏ.
– Em thích đi bộ đội không?
– Không đâu, em sợ người chết lắm.
Việt cười:
– Còn anh, hồi trước thích. Còn giờ thì sợ. Nay mai, anh là bộ đội rồi.
– Cái gì? Anh đi bộ đội à? – Điểm Nhi ngạc nhiên.
– Anh có giấy của phường đội gọi trình diện đợt tuyển quân mùa thu. Sao, em không thích à?
Điểm Nhi hạ giọng:
– Cũng chẳng sao.
Việt nhìn chiếc hỏa tiễn chổng cao hướng mũi lên trời và nghĩ đến cái ngày mình cầm súng. Anh thấy lòng mình như chùng xuống. Anh sẽ được thấy chiến tranh như từng thầm ao ước!
Hai người quẹo sang đường Ngọ Môn. Mặt trời lên cao trên khu hoàng thành. Màu nắng và màu hoang phế như trộn vào nhau tạo nên một cái vẻ hoang đường khó hiểu. Những tàn cây cao vượt lên bức tường thành như bày tỏ một ước muốn không rõ nét. Tiếng vài con chim đùa bỡn trên cây
xoài, cây mù u nghe lạc lõng. Hằng ngày Việt vẫn đi ngang con đường này, vẫn nhìn bức tường, ngọn cây, mà rồi lần nào, cái cảm giác u hoài vẫn trở lại với anh. Khu hoàng thành lặng lẽ, nhẫn nhục, bao giờ cũng như muốn nói một điều gì đó, nhưng không nói được. Việt hỏi:
– Em vào Đại Nội nhiều lần không?
– Không nhiều đâu. Một hai lần gì thôi. Còn anh chắc vào chơi nhiều. Đi với bồ chẳng hạn.
– Nhiều, nhưng đi một mình. Anh không có bồ, chỉ có em. Anh thích lang thang một mình với các phế tích.
– Giờ thì đèo bòng thêm con nhỏ tàn phế này nữa, e phiền.
– Đừng nói thế. Có em anh vui lắm.
Giọng Việt nghe cụt ngủn. Hình như Điểm Nhi muốn anh nói một câu gì đó dài hơn. Cô nhìn anh chờ đợi, nhưng Việt lặng lẽ đẩy xe. Khuôn mặt anh bần thần như thể có điều gì không ổn.
– Vui gì mà khuôn mặt như đưa đám vậy.
Việt không trả lời. Anh mải chăm chú nhìn bàn chân nhỏ nhắn của Điểm Nhi. Điểm Nhi khẽ xê dịch đôi chân, cố thu cái chân tật nguyền của mình dưới ống quần. Cô hỏi:
– Anh buồn vì em?
– Không.
Thực ra, Việt đang nghĩ đến lúc xa Điểm Nhi. Ai sẽ đưa nàng đi chơi? Anh nói:
– Anh đang lo là anh đi rồi, ai sẽ đưa em đi chơi.
– Anh lo gì. Em có thể đi một mình cũng được.
Giọng nàng chợt thấp xuống:
– Nhưng chẳng có gì quan trọng lắm. Em cũng chẳng muốn đi chơi nữa. Cứ xem như lần này nữa là thôi.
Việt nhìn nàng:
– Anh đã đi đâu. Tháng Chín trình diện, tháng Mười mới lên đường. Tụi mình còn đến hơn ba tháng nữa.
Đã đến cửa Ngọ Môn. Lác đác đây đó có nhiều khách tham quan. Một chiếc xe khách Hà Nội đổ xuống khá nhiều người bên kia đường. Nhìn cái nón cối trên đầu các ông, chiếc quần đen của các bà, Việt biết ngay là dân từ Bắc vào. Họ bước xuống xe, chỉ trỏ, cười nói, hút thuốc, uống nước mía. Vài người tò mò nhìn Việt và Điểm Nhi. Việt gửi xe đạp ở một quán nước mía. Bây giờ, anh rảnh tay, thoải mái đẩy chiếc xe lăn băng qua khoảng sân
lát gạch phía trước cửa Ngọ Môn.
Điểm Nhi nói:
– Đến đây là nghe cái mùi Vua Chúa.
Việt cười:
– Em khác anh. Anh thì nghe cái mùi buồn buồn.
– Mắc chi mà buồn buồn.
– Chẳng thà đã mất thì mất hẳn luôn. Mất rồi mà cứ còn sừng sựng thế này khó chịu lắm.
– Thì di tích lịch sử mà.
– Đã hẳn. Anh học Sử, nói triều Nguyễn bán nước …
– Thì họ thích họ nói, họ có quyền mà. Còn mình có tin hay không thì quyền mình.
– Anh nói chưa hết. Không phải chuyện bán nước hay yêu nước. Anh chỉ muốn nói mọi sự rồi cũng qua đi. Không có gì vĩnh cửu hết.
– Độ này anh vẩn vơ quá nhé.
Việt vẫn tiếp tục:
– Lăng Bác ở Hà Nội trông bộ vững chắc hơn Đại Nội này.
Anh chỉ những cột gỗ nghiêng ngả trên lầu Ngọ Môn:
– Không sửa thì e vài năm nữa mình hết cái lầu này.
– Anh mới nói “thà mất thì mất luôn” mà.
– Ừ, thì nói vậy, nhưng mà …
Anh định nói tiếp, nhưng thấy Điểm Nhi không thích, lại thôi. Anh mua vé, rồi đẩy xe qua cửa kính vào bên trong.
Điểm Nhi cười:
– Cửa này ngày xưa ma đi đó.
Việt đọc:
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Điểm Nhi thắc mắc:
– Anh làm thơ à?
– Đâu có. Thơ của bà Huyện gì đó thời nhà Nguyễn.
– Sao anh thuộc.
– Anh đọc trong sách Văn cũ thời trước 75.
– Ừ, loại thơ phong kiến, phản động không học. Trước giải phóng, họ cho học đủ thứ. Giờ ở với cách mạng chỉ học thơ văn cách mạng.
– Thơ văn cách mạng gì học mãi chán phèo. Em cứ thấy bắn, giết rồi anh hùng, kẻ thù, chiến đấu …
Việt đẩy xe thẳng lối vào điện Thái Hòa. Màu gạch vàng trên lối đi trông vàng hơn dưới nắng. Sen trong hồ đã tàn, còn sót lại lơ thơ dăm búp màu hồng lạc lõng.
Việt hỏi:
– Sao, em muốn đi đâu. Lang thang các nơi hay ngồi.
Điểm Nhi nhìn anh:
– Em đi đủ rồi, chỉ có một chỗ chưa đi. Anh giúp em nhé.
– Sao lại giúp. Anh chìu em hết.
Điểm Nhi ngập ngừng:
– Em thích lên lầu Ngọ Môn.
Việt nhanh nhẩu:
– Tưởng gì. Chúng mình đi.
Anh đẩy xe đến bậc thềm. Nhìn bậc thềm đi lên cao quá, Điểm Nhi nói:
– Hay là thôi anh à. Cao quá làm sao lên được.
Việt cười:
– Anh bồng em.
Má Điểm Nhi chợt hồng lên. Giọng cô nghe nũng nịu:
– Mà có bồng em nổi không. Té, em đền anh cho coi. À mà hái cho em cái bông sứ kia kìa.
Việt hái bông sứ cho cô. Lòng anh chợt hồi hộp, tay run rẩy. Anh nói:
– Em vin cây sứ, nhón chân lên.
Điểm Nhi làm theo. Việt luồn tay dưới đôi chân và lưng Điểm Nhi bồng cô lên. Hai tay cô níu chặt cổ anh. Mùi hương con gái tỏa vào mặt anh khiến anh cảm thấy ngây ngất. Lần đầu tiên trong đời, anh nghe cái mùi hương lạ lùng này. Quen Điểm Nhi lâu, nhưng chưa có khi nào anh đụng chạm da thịt cô. Anh quay mặt đi chỗ khác để tránh cái cảm giác rạo rực khó chịu.
Bồng Điểm Nhi xong, Việt lại xuống vác xe lăn lên.
Anh hớn hở như vừa làm xong một công trình. Anh cười:
– Thế nào? Em vừa ý chứ!
Điểm Nhi tỏ vẻ biết ơn:
– Chỉ có anh, em mới được lên tận đây. Trời, ở đây mát và thú quá hả anh.
Hai người ngồi trước bậc thềm nhìn ra phía cột cờ. Gió thổi từ phía sông Hương vào mát rượi. Điểm Nhi nhìn quanh:
– Trông hoang tàn quá anh há!
– Ừ, hoang phế quá!
Việt thích chữ hoang phế hơn. Cột kèo xiêu vẹo, mái ngói lổn nhổn, mối mọt, mạng nhện tùm lum. Người ta phải dùng rất nhiều cột để chống đỡ. Như thế này thì mùa mưa, nước giọt lung tung.
Điểm Nhi chỉ cái cầu thang:
– Mình có lên được trên kia nữa không?
– Không được, cầu thang này lâu năm mối mọt ăn hư hết rồi.
– Còn cái trống?
– Cũng thế, không dùng được.
– Đúng rồi, cả hơn trăm mấy chục năm.
– Em biết rõ thế.
– Anh tính xem. Nhà Nguyễn bắt đầu với vua Gia Long. Vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chọn đây làm kinh đô. Thành Nội được xây vào giai đoạn đó, đến giờ cũng cả trăm bảy, trăm tám chục năm rồi còn gì.
– Em trông bộ lưu ý đến triều Nguyễn nhỉ?
Điểm Nhi cười:
– Em “hoàng phái” mà.
Việt hơi ngạc nhiên:
– Hoàng phái? Em họ Lê mà.
– Em lấy họ mẹ. Mẹ em giận ba em bạc tình nên không cho em lấy họ cha.
– Vậy em là Tôn Nữ.
– Ừ, Huyền Tôn Nữ Điểm Nhi.
– Nghe hay hơn Lê Thị Điểm Nhi. Vậy ba em đâu?
Điểm Nhi thở dài:
– Em không rõ. Hình như ông cũng chẳng biết có em trên đời nữa. Nhiều khi em muốn đi tìm, nhưng tật nguyền thế này làm sao đi đâu được.
– Còn mẹ em?
Điểm Nhi yên lặng. Cô nhìn thẳng phía trước như nhìn vào một khoảng xa xăm nào đó. Việt bóp ngón tay, cố tránh không nhìn mặt cô. Anh nhìn ngọn cờ đỏ sao vàng to thật to treo trên cột cờ, gió thổi vướng vào dây, không tung bay được. Nắng chan hòa cả bãi cỏ phía trước.
– Mẹ em cũng không muốn nhìn em. Em là kết quả của một cuộc tình chẳng tình chút nào. Ba em thì đùa bỡn mà mẹ em thì yêu. Ba em thì trốn, mẹ em thì tìm. Rốt cuộc em bị bỏ quên.
Việt chưng hửng. Điểm Nhi tội như thế kia à? Từ lâu, quan hệ với Điểm Nhi, anh chẳng lưu ý gì đến hoàn cảnh của cô. Anh gặp cô và yêu, đơn giản thế thôi. Bạn bè chế giễu, anh lại càng cảm thấy yêu thêm. Có lần, Điểm Nhi hỏi “Anh mà thương em là khác thường đấy.” Việt cười “Anh khác thường nên anh làm việc khác thường, có sao đâu”.
Điểm Nhi lại nói “Em lại chỉ thích bình thường thôi”, Việt lại cười “Anh cũng vậy”. Điểm Nhi không chịu “Bình thường sao lại thương em”, Việt nghiêm nghị “Anh nghiêm chỉnh thương em, còn khác thường hay bình thường thì mặc kệ người ta”. Anh nhấn mạnh hai chữ nghiêm chỉnh anh bắt
chước thằng bí thư đoàn.
Việt yên lặng nhìn Điểm Nhi. Lúc này anh chẳng muốn nói một câu gì hết, vì sợ cô cho là thương hại. Cô rất hay tự ái. Anh nói qua chuyện khác:
– Em nghe tiếng ve kêu trên hàng phượng đằng kia không?
– Ừ, cuối mùa phượng cũng là cuối mùa ve. Cái gì cũng có đoạn cuối. Chưa tới đoạn cuối thì mình trông, mà tới đoạn cuối rồi thì mình buồn, phải không anh?
Việt gật gù:
– Anh cũng sắp đến đoạn cuối, đoạn cuối của tuổi đi học.
Điểm Nhi hỏi, vẻ lơ đãng:
– Mà anh đi bộ đội thật à?
– Trốn cũng được, nhưng sợ công an kêu ông già lên hạch xách mất công. Họ cứ dọa đưa ông đi cải tạo thêm, vì chưa đủ năm. Hơn nữa, đi về còn có thể đi học được, vì lúc đó anh sẽ có thêm điểm bộ đội.
– Thế năm này họ lấy lý do gì họ gạt anh ra?
– Điểm lý lịch. Lý lịch anh loại 12, đủ điểm đậu vào Y nhưng phải chuyển xuống trung cấp y tế. Anh chẳng thích. Thà anh đi bộ đội.
– Mà học Y làm gì anh. Học kế toán, ngoại thương có tiền hơn. Ba cái bằng đại học có ra gì mà anh ham. Việt im lặng. Từ lâu anh vẫn phân vân giữa chuyện đi bộ đội hay trốn, học lên đại học hay kiếm một việc làm.
Đằng nào cũng chẳng thấy có tương lai. Đi bộ đội thì giải tỏa được phần nào cái lý lịch quái ác, nhưng tham dự vào cuộc chiến tranh, Việt không ham. Bạn bè anh đi bộ đội đều lên chiến đấu ở biên giới phía Bắc hay qua Kampuchea. Mà trốn thì không còn hộ khẩu, không còn hộ khẩu thì xem như nằm ngoài lề xã hội.
Việt hỏi:
– Còn em, em thích anh trốn hay đi?
– Cũng thế thôi Việt à. Cái gì rồi cũng có đoạn cuối.
Giọng Điểm Nhi chợt mơ hồ, xa vắng. Việt ngắm cô. Khuôn mặt thanh tú đến kỳ lạ. Mọi đường nét đều đáng yêu. Từ cái nốt ruồi ẩn dưới chân tóc trên thái dương đến cái cằm nhọn, mấy cái ngấn cổ, đôi con mắt hơi xếch, hàng lông mày đứt khoảng và cái mím môi bướng bỉnh. Anh vẫn thích ngắm cô ngồi gọn trong chiếc xe lăn với bộ đồ lụa hồng, đôi tay thoăn thoắt thêu những con rồng, con phụng trên vải xuất khẩu.
– Anh nhìn chi dữ vậy? – Điểm Nhi hỏi.
– Anh ngắm em.
– Thôi đi ông ơi. Giúp em cái này tí đi.
Điểm Nhi mở túi xách, lấy từ trong đó ra đủ thứ: bánh bột lọc, bánh ngọt, nước cam, thuốc, chả, nem … Việt ngạc nhiên:
– Em định làm gì vậy.
Điểm Nhi nhìn anh cười:
– Hôm nay là ngày sinh nhật của em, sinh nhật lần thứ 20.
– A, sinh nhật em? Sao chẳng báo cho anh biết trước.
– Thì trước sau cũng vậy thôi.
– Sinh nhật. Anh chẳng nhớ ngày sinh nhật của mình bao giờ.
– Em cũng vậy chứ sao. Mình con nhà nghèo, bày đặt sinh nhật gì cho người ta cười. Nhưng bữa nay khác. Em mời anh ăn sinh nhật với em. Việt cảm thấy chưng hửng. Cô bé này cũng ngộ thật, bỗng nhiên cái, rủ lên đây ăn sinh nhật! Anh tò mò nhìn cô và tự dưng thấy cô có thêm nhiều nét mới.
– Không giúp em sao nhìn sững thế?
– Em lạ thật lạ.
Điểm Nhi lấy khăn trải ra trên nền đá, sắp các thứ đồ ăn lên. Ở giữa khăn là một bình hoa nhỏ với một đóa hồng nhung và bông sứ. Điểm Nhi mời:
– Hãy mừng em tròn hai mươi tuổi đi.
Việt nhìn Điểm Nhi, giọng bối rối:
– Em à, sinh nhật em, anh không có quà gì cả. Bây giờ, bây giờ anh muốn tặng em một món quà. Nhưng mà … khó quá.
– Gì mà khó lắm thế?
Việt thu hết can đảm:
– Anh muốn hôn em một cái.
Vừa nói, anh vừa cầm tay Điểm Nhi, kéo cô lại gần, hôn lên mái tóc cô, rồi buông tay ra. Nét mặt anh chợt thẫn thờ như vừa trải qua một cơn mê. Anh lắp bắp:
– Xin lỗi em. Đừng giận.
Điểm Nhi cúi mặt. Hình như cô khóc, vì Việt thấy đôi mắt cô ươn ướt. Anh im lặng, bối rối. Một lát, như sực tỉnh, Điểm Nhi ngẩng lên nhìn anh:
– Anh ăn đi. Em cám ơn anh.
Việt ăn ngon lành. Thỉnh thoảng anh nhìn quanh như sợ ai bắt gặp. Điểm Nhi tâm sự:
– Thực ra, em mới biết gốc gác của em gần đây. Mẹ em nhục vì nỗi có con mà không có chồng nên đẻ em xong, gửi cho dì rồi bỏ đi biệt. Bà đi tìm ba em, gặp rồi lại sinh con, rồi ba em lại bỏ đi, rồi gặp, rồi sinh con, rồi ba em lại bỏ đi. Ba em trốn, mẹ em tìm. Ba em thì song tàng mà mẹ em thì chung thủy. Giận thì giận, mà thương thì thương. Anh xem, như thế có khổ không?
Việt không nói, chỉ chia sẻ nỗi da diết của Điểm Nhi bằng một cái nhìn sâu, thật sâu. Điểm Nhi tiếp:
– Năm bảy tuổi, em sốt, bị y tá chích lầm thuốc, nên tê liệt một chân. Mẹ em biết, vẫn không về. Em không giận bà đâu. Bà quá sợ thứ dư luận khắc nghiệt của xứ mình. Đời em chỉ mong được gặp hai ông bà một lần, nhưng chắc khó quá. E cũng có cái số thôi, anh há.
Anh gật đầu. Anh cảm thấy mình không đủ chữ để nói một cái gì hết về nỗi bất hạnh của Điểm Nhi. Rốt cuộc, chỉ có sự im lặng là đầy đủ ý nghĩa nhất. Điểm Nhi vịn cột đứng dậy, dịch về phía trước, tay dựa vào lan can, nhìn vu vơ xuống phía dưới. Nắng chênh chếch xuyên qua mấy ô trống chiếu xuống nền. Đám khách tham quan leo lên lầu, tỏa ra các phía, trò chuyện, bàn tán ồn ào. Việt đứng bên cạnh Điểm Nhi. Từ nãy giờ, anh vẫn không nói gì. Anh nắm bàn tay nhỏ nhắn của Điểm Nhi, đan ngón tay cô vào ngón tay
anh, lòng bồi hồi rạo rực. Anh thì thầm:
– Ngày xưa, hẳn vua và hoàng hậu cũng thường đứng nơi đây để ngắm cảnh.
– Đâu có, triều Nguyễn không có lập hoàng hậu. Chỉ có vua Bảo Đại phá lệ, lập bà Nam Phương làm hoàng hậu mà thôi.
Việt cười:
– Thì có hay không có hoàng hậu, đâu có sao. Anh chỉ giả sử ấy mà. Giả sử em là hoàng hậu, còn anh thì là vua. Giả sử bây giờ là hai trăm năm trước.
– Ờ mà hai trăm năm trước thì có khác gì bây giờ?
– Cảnh thì khác nhiều, nhưng lòng người e vẫn vậy. Cũng thương, cũng ghét, cũng thù, cũng hận, cũng chia ly …mặt trời cũng lên, hoa cũng nở, trai gái cũng yêu nhau.
Việt định nói tiếp, thì bỗng nghe có tiếng người hỏi.
Anh quay lại nhìn. Hóa ra hai người đàn ông nước ngoài. Họ vừa nói vừa chỉ trỏ, nhưng anh chẳng hiểu mô tê gì cả. Anh hỏi Điểm Nhi:
– Họ nói tiếng gì em có hiểu không?
– Em chịu. Lẽ ra anh phải biết hơn em chứ.
– Bọn anh có học tiếng nước ngoài đâu. Mới đây có học tiếng Liên Xô, nhưng khó quá, anh chẳng nói được gì.
– Ừ, mà thôi, biết tiếng nước ngoài thêm phiền. Nói chuyện, lỡ công an gọi lên gọi xuống mất công.
Việt ra dấu cho hai người nước ngoài biết là anh không hiểu gì hết. Họ bỏ đi. Việt nói:
– Năm anh lên lớp sáu thì giải phóng, chương trình học bỏ môn tiếng nước ngoài. Năm ngoái anh có ghi đi học lớp Anh văn, nhưng chưa đến đâu cả.
Điểm Nhi lấy mấy bông hoa ở bình, tách từng cánh, ném xuống, ném xuống.
– Cái gì cũng có đoạn cuối mà. Anh đã chẳng dồng ý với em sao.
– Em muốn nói đoạn cuối của ngày sinh nhật?
– Chưa đâu. Đoạn cuối của một ngày đi chơi. Ngày sinh nhật chưa chấm dứt. Thôi mình về. Hôm nay được đi với anh như thế này, em chẳng còn mơ ước gì hơn.
Việt chợt buồn. Anh lẳng lặng vác xe lăn xuống lầu, rồi trở lên bồng Điểm Nhi xuống. Anh cúi mặt sát mái tóc Điểm Nhi để tận hưởng cái mùi thơm con gái toát ra từ chân tóc, từ da thịt cô. Nắng xế. Cả vùng phế tích như lặng đi, buồn bã. Khách tham quan đã vắng. Tiếng chim xa. Vài bông sứ rụng trên lối đi. Cỏ dại và tranh phủ kín góc hoàng thành.
Việt đẩy xe Điểm Nhi ra phía cửa Hiển Nhơn. Điểm Nhi thích vậy. Đi ngang trước cửa trường Mỹ Thuật, cô nói:
– Anh biết không, hồi xưa, vua Kiến Phước lúc đó, ngài mới mười mấy tuổi, bị Tôn Thất Thuyết bức tử, chạy trốn ra phía cửa này, nhưng bị lính đuổi theo bắt lại, ép phải uống thuốc độc chết.
– Chắc là giai đoạn “tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”.
– Anh còn nhớ à?
– Đoạn sử này cũng đặc biệt, nên anh nhớ, vua Dục Đức, Hiệp Hòa rồi Kiến Phước, cả ba vua đều nhỏ tuổi và đều bị bức tử.
Ra khỏi cửa Hiển Nhơn, Điểm Nhi nói:
– Bây giờ anh để em về một mình. Em thích thế. Anh lấy xe đạp về đi. Đêm nay, em để cửa mở, anh đến với em, khoảng 11 giờ. Nhớ đừng để dì em biết, thêm phiền. Thế nào, anh có đến không?
Cố nhiên, Việt gật đầu. Anh đứng lặng nhìn chiếc xe lăn chầm chậm di động trên đường, lòng vô cùng bối rối.
Càng về khuya, trăng càng vằng vặc. Đêm yên tĩnh, dịu dàng. Những mái nhà và những chọm cây như cố chen nhauđể hứng lấy thứ ánh sáng bàng bạc từ trên trời tỏa xuống. Đêm thanh thoát ru dỗ những giấc ngủ đầy. Đêm nuôi lớn những giấc mộng vàng. Đêm chứa chấp những hẹn hò tinh khôi, mới lớn. Đêm bồi hồi, thao thức.
Việt vừa đi vừa nhìn lên những khoảng trời loang loáng sợi vàng. Một tiếng con gì kêu nhẹ trong đêm. Còn hình như tất cả đều chìm trong mộng mị. Việt đi bộ qua nhiều con đường ngập ánh trăng. Anh vào một con hẻm nhỏ, cây cối um tùm. Nhà Điểm Nhi nằm sâu trong khu vườn cây. Anh lách qua hàng chìa tàu đi về phía sau nhà, nơi có căn phòng Điểm Nhi ở. Anh đứng yên dưới cây khế, nhìn vào, hồi hộp đợi chờ. Vắng lặng, tịch mịch. Anh nghe rõ từng tiếng đập của trái tim. Anh nhìn quanh. Cái võng, bờ giếng, bụi mía, thùng nước … Tất cả như đồng lõa với anh, kể cả ánh trăng bát ngát vườn khuya. Anh nhìn thấy những giọt sương lấp lánh, và tưởng như nghe cả tiếng thì thầm của lá.
Anh bước nhẹ, thật nhẹ đến chỗ hẹn hò. Cửa khép hờ. Anh đẩy nhẹ và nhìn thấy trong bóng tối, Điểm Nhi ngồi bất động trên chiếc xe lăn. Một mảnh ánh trăng từ ô cửa lọt vào. Điểm Nhi ra dấu anh ngồi xuống. Cô với tay vặn nhẹ ngọn đèn dầu nhỏ, rất nhỏ, đủ để có một vạt sáng trên chiếc bàn kê sát cửa sổ. Cô cẩn thận che chắn khắp nơi để ánh sáng không lọt ra bất cứ một góc nào. Trên bàn, một tờ giấy trắng, một cây bút chì. Việt đọc:
– Em cám ơn anh đã đến với em cho trọn ngày sinh nhật. Xin yên lặng như bóng trăng.
Anh viết tiếp:
– Anh cũng cảm ơn em đã cho anh đến đây với em, trong đêm nay.
Anh rút túi ra một đóa hồng nhung đặt lên bàn.
– Anh đến đây với một đóa hoa và một trái tim.
– Thế là quá đủ. Em chẳng mong gì hơn.
Anh nhìn Điểm Nhi. Điểm Nhi nhìn anh. Căn phòng như sáng dần lên cùng với ánh trăng lan dần vào. Anh thấy đôi mắt Điểm Nhi nhấp nháy. Cô cười lặng lẽ, rồi cúi xuống vân vê tà áo.
Anh viết:
– Dì và mấy đứa ngủ cả rồi à?
– Có lẽ thế.
– Em không sợ? Lỡ dì biết thì sao?
– Cũng đành vậy.
– Anh lo lắm.
– Em không lo, anh lo làm gì.
Lại nhìn nhau. Ánh trăng phủ đầy cái bàn nhỏ. Điểm Nhi vặn đèn lu bớt.
– Em … Anh muốn …
– Gì?
– Muốn cầm tay em, được không?
– Được.
Việt nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Điểm Nhi, bóp chặt trong tay anh, đặt trên trái tim mình, rồi đưa lên môi hôn. Bàn tay anh run rẩy. Bàn tay Điểm Nhi run rẩy. Anh ngồi dịch lại sát Điểm Nhi. Mùi hương con gái thơm phức tỏa ra.
Anh lại viết, ngập ngừng:
– Cho anh … Cho anh … Cho anh … hôn một cái.
Anh chờ. Nhưng Điểm Nhi bất động.
– Thế nào? – Anh lại viết.
Điểm Nhi ngồi yên. Đột nhiên, cô ngả đầu vào vai anh. Anh đặt viết xuống, ôm lấy vai cô, hôn nhẹ lên mái tóc, trên vai, trên má. Vụng về, nhưng thận trọng, anh hôn, rồi hôn. Nụ hôn đầu đời lạ lùng quá thể. Người anh như lịm đi trong đủ thứ cảm giác. Điểm Nhi bé bỏng, yếu đuối, tội nghiệp. Một lát, anh chợt tỉnh, buông cô ra, nhìn quanh, nghe ngóng.
Anh viết:
– Muỗi cắn quá.
– Em có cái quạt để ở góc bàn, lấy mà quạt.
Việt lấy quạt, quạt dưới bàn để xua đám muỗi háu đói. Nhưng chúng vẫn vo ve, dạt ra rồi lại lao vào tiếp tục cắn. Để mặc chúng, hai người lại hôn nhau. Anh ôm cô, ngồi bất động như để tận hưởng hết những cảm giác rạo rực, hân hoan. Ánh trăng dần dà lan vào căn phòng bé nhỏ. Vườn khuya vẫn im vắng, mơ màng. Anh lắng nghe tiếng rơi của một giọt sương hay một chiếc lá. Anh viết dưới ánh trăng:
– Mai anh đưa em đi chơi tiếp.
– Thôi, đủ rồi.
– Sao lại đủ rồi.
– Em … Em …
Điểm Nhi ngừng viết, nhìn Việt.
– Sao em?
– Một dịp khác đi anh. Đêm nay mình cứ nói chuyện đêm nay đã.
Ngừng một lát, Điểm Nhi viết:
– Anh có thương em nhiều không?
– Nhiều, nhiều lắm.
— Anh không chê em tàn tật.
– Không.
– Em cô đơn quá, bất hạnh quá.
– Có anh ở bên em mà.
– Nhưng sao em vẫn thấy cô đơn quá!
Điểm Nhi nhìn anh, buồn bã:
– Đừng buồn, em.
Lại im lặng. Điểm Nhi viết nguệch ngoạc:
– Em lạnh quá!
Việt ôm nàng khỏi xe lăn, đặt lên chân anh. Điểm Nhi run rẩy. Việt viết:
– Em nằm nghỉ một lát nhé.
Điểm Nhi gật đầu. Anh ẳm cô đặt lên chiếc giường nhỏ, thấp gần sát đất. Cô thì thầm:
– Khép cửa lại đi anh.
Việt làm theo lời cô như cái máy. Anh đến ngồi bên cô, bồn chồn, xao xuyến. Điểm Nhi kéo anh xuống.
Đêm đã sâu, thật sâu. Trăng nghiêng hẳn, chiếu ánh sáng gần như ngập cả gian phòng. Việt đứng dậy, bang hoàng. Anh nói thật khẽ vào tai Điểm Nhi:
– Anh xin lỗi em, xin lỗi em.
Điểm Nhi nấc lên, nước mắt giàn giụa.
– Cám ơn anh. Anh không có lỗi gì.
Im lặng. Một lát, Điểm Nhi đẩy anh ra:
– Thôi, khuya rồi. Anh về đi.
– Ừ, chúc em ngủ ngon. Mai anh ghé lại thăm em.
– Mai lại thăm em … Mai lại thăm em. Ừ, mai lại thăm em nhé!
Việt đẩy nhẹ cửa, băng qua khu vườn khuya, bước về như kẻ mộng du.
Sáng hôm sau, Điểm Nhi chết. Cô để lại mấy dòng viết nắn nót “Tôi chết hoàn toàn tự ý. Xin miễn mọi thông báo và điều tra. Xin được mai táng như một kẻ vô thừa nhận”.
Việt đứng sững trong gian phòng, nhìn cái bàn, ô cửa sổ và một góc vườn. Không còn trăng khuya. Không còn sự im lặng. Không còn mùi hương ngây ngất. Không còn gì cả. Chỉ còn anh.
“Hãy gửi đến cho ta những kẻ mệt nhọc, những người nghèo khó; những đám nhân quần co cụm, đang khao khát thở bầu không khí tự do…
Hãy gửi họ đến cho ta: những người vô gia cư, những người bị bão tố dập vùi tơi tả; Ta đang nâng cao ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng”.
(Trích đoạn thơ The New Colossus của Emma Lazarus)
Tay Bà giơ bó đuốc cao ngất như ánh đèn hải đăng. Từ năm 1885, Bà đứng phía ngoài hải cảng New York để đón nhận biết bao nhiêu đoàn người di dân. Nghèo khó, nhem nhuốc, họ đã tới với Bà sau những cuộc hành trình vượt đại dương khó khăn, nguy hiểm. Nhà điêu khắc Auguste Bartholai lấy cảm hứng từ tượng Hy Lạp “Người khổng lồ đảo Rhodes” (Colossus of Rhodes) đã cùng với kỹ sư Gustave Eiffel (người thiết kế tháp Eiffel) mất gần chín năm trời để hoàn thành kỷ vật nước Pháp tặng cho Hoa kỳ vào dịp lễ độc lập năm 1884. Pháp đặt tên cho kỳ công này là “Tự do chiếu sáng thế giới”. Con tàu Isère đã phải chở 350 bộ phận cồng kềnh tới để lắp ráp thành tượng đặt trên đảo Liberly ngoài bờ Manhattan. Người Mỹ gọi kỳ công này là “Tượng Tự do”. Việt Nam ta gọi là “Nữ thần Tự do”, có lẽ là vì trông bà đẹp như thần Hy Lạp, nhưng lại từ bi, bao dung [1].
Nữ thi sĩ Em ma Lazarus (1849-1887) đã làm một bài thơ ca ngợi “Pho tượng vĩ đại mới” (The New Colossus). Mới, vì tượng ở Hy Lạp cũ, dựng lên để kính thần Apollo (304 trước Công Nguyên) là một người khổng lồ, vạm vỡ, cầm bó đuốc đứng gác cửa vào cảng Mandraki, mỗi chân đứng trên một hòn đảo. Tàu bè ra vào đều phải chui qua dưới hai chân pho tượng. Nhưng Nữ thần Tự do thì khác hẳn. Ngoài cửa biển lúc hoàng hôn, Bà cầm bó đuốc đứng chiếu sáng. Là “Mẹ của những người bị đày ải” (Mother of Exiles), con mắt Bà hiền từ như đang mời gọi.
Theo tiếng gọi của Bà, bao nhiêu di dân từ các quốc gia khác đã sang Tân Thế Giới, thay đổi hẳn thành phần dân số Mỹ. Năm 1790, khi có cuộc kiểm tra đầu liên, đa số (75%) dân Mỹ là người gốc Anh Quốc. Từ đầu thế kỷ 19, các sắc tộc khác tới ngày một đông. Từ 1820 khi Chính phủ bắt đầu ghi chép sổ sách di trú cho đến 1975 đã có lới 50 triệu người nhập tịch. Trong thập niên 1840 và 1850, từng trăm ngàn người Đức đã tới để chạy trốn cảnh nghèo đói và bị truy nã. Gần một triệu người Irish di tản sau “nạn đói khoai tây”. Cuộc di cư lớn nhất là giữa năm 1901 và 1910: tám triệu người đã tới từ Hungary, Ý, và Nga.
Rồi bà cứ tiếp lục mời gọi, chào đón. Sau khi kết thúc bao cuộc chiến, bà còn tiếp nhận cả những đoàn người di tản, như từ Hungary (1956), Cuba (1959-1960), hay mới đây, từ một số nước Đông Âu.
Cuộc chiến Việt Nam kết thúc ngày 23 tháng 4, 1975
Ngày 22 tháng 4, tôi nghe tin Tổng thống Thiệu từ chức. Ngay hôm sau, ngày 23 tháng 4 (24/4 giờ Sài gòn), Tổng thống Ford lên chiếc máy bay Air Force One để đi New Orleans diễn thuyết tại đại học Tulane. Mọi người chờ đợi xem ông sẽ nói gì. Chiều hôm đó, như để lấy thêm can đảm, ông Ford đã uống một ly rượu cocktail, trong một tiệc chiêu đãi. Thế rồi dõng dạc, ông bước vào nơi tụ hợp. Đây là một sân chơi banh trong nhà rất rộng rãi, đã chật ních với hàng ngàn sinh viên. Cử toạ vỗ tay chào đón, cũng bình thường như đã diễn ra ở các đại học khác mỗi khi có Tổng thống tới thăm.
Thế nhưng, bầu không khí bỗng nhiên đổi hẳn khi Tổng thống Ford chậm rãi nghiêm nghị, dằn từng tiếng:
“Đối với Hoa kỳ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc rồi”.
Giảng đường như muốn vỡ ra vì tiếng vỗ tay, huýt sáo, la hò vui mừng. Câu tuyên bố lịch sử này đã được đánh máy thêm vào bài diễn văn lúc chiếc Air Force One còn đang bay trên vòm trời cao [2]:
“Nước Mỹ có thể lấy lại được niềm hãnh diện đã có trước (chiến tranh) Việt Nam. Nhưng niềm hãnh diện ấy sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách tham dự trở lại một cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ nó đã chấm dứt rồi”.
Phụ tá Ron Nessen nhận xét là chỉ mới hai tuần trước đó, ông còn ra Quốc hội đọc diễn văn xin thêm quân viện cho VNCH, mà tại Tulane, “chẳng thấy ông nói một lời nào nữa về viện trợ thêm cho Miền Nam”. Tổng thống Ford chỉ nói tới tương lai:
“Theo tôi, bây giờ đã tới lúc chúng ta phải nhìn tới một nghị trình cho tương lai. Tôi yêu cầu là ta hãy ngừng hẳn chiến trận, cũng như những lời buộc tội, tố cáo lẫn nhau của quá khứ. Tôi yêu cầu chúng ta hãy chấp nhận trách nhiệm của lãnh đạo, chúng ta sẽ là hàng xóm tốt đối với mọi người và những là thù địch của bất cứ ai”.
Và như vậy, ông Ford đã làm một việc mà trong 30 năm, chưa Tổng thống Mỹ nào làm nổi”. Mọi người trong đoàn tuỳ tùng của Tổng thống tại Đại học Tulane đều hết sức vui vẻ, kích động về lời tuyên bố này [3].
Thế là xong. Ông Hương vừa mới lên chức Tổng thống được vài ngày, Tổng thống Mỹ đã nói “toạc móng heo” ra là đối với Hoa kỳ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc rồi”. Ở Sài gòn. khi được các thuộc cấp cho hay về bài diễn văn, ông Von Marbod xúc động: “Ông Ford đã giơ cao tấm vải giường trắng. Tôi đã vô cùng bàng hoàng và hổ thẹn”.
Miền Nam đã đi vào dĩ vãng. Nhưng còn tàn dư của cuộc chiến, và đối với những người bại trận thì sao đây? Chẳng thấy ông Ford bình luận gì, hay là muốn lờ đi chăng? Chỉ thấy báo chí nói tới Chính phủ đang cho di tản gấp rút số người Mỹ và một số người làm cho Mỹ. Nghe tin tức từ hành lang Quốc hội là tất cả cũng chỉ 50,000 người Việt thôi, tôi nhất định hoạt động tối đa để cứu vớt đám người đang tuôn ra Biển Đông [4].
Về việc Mỹ chỉ định cứu một số người quá giới hạn như vậy, sau này đã được Đại sứ Martin xác nhận trong một buổi điều trần tại Quốc hội như đã trích dẫn trong chương 14. Vì tính cách lịch sử của tài liệu này (nó chứng minh rõ ràng về số người và ngày giờ mà Washington định cứu), tôi đã trích nốt phần của văn bản ông Martin điều trần trước Quốc hội ngày 27 tháng 1, 1976 (ngày kỷ niệm năm thứ ba của Hiệp định Paris) và in vào Phụ Lục. Để nhấn mạnh về thời điểm của ngày 25 tháng 4, 1975, ông còn nói tiếp:
“Vào ngày 25 tháng 4 (1975), sau cùng, Toà đại sứ mới nhận được quyền cho phép tạm dung thêm số người thân nhân (người Mỹ) và một giới hạn là 50.000 người Việt vào thành phần chịu rủi ro cao độ. Đó là chỉ còn có 4 ngày trước lúc cuối cùng rời khỏi Việt Nam” [5].
Nhìn vào Nữ thần Tự do
Làm gì được bây giờ đây? Tôi tự hỏi. Hồi năm 1954, sau hiệp định Genève, cũng có cuộc di tản. Gần một triệu người được tàu Mỹ chở vào Nam. Sau đó Mỹ còn giúp tiền bạc cho ngân sách định cư. Thời gian di tản lại được kéo dài tới 300 ngày. Và lúc đó chấm dứt chiến tranh căn bản là giữa quân dội Việt Minh và Pháp. Bây giờ, sau mười năm trời trực tiếp can thiệp với trên nửa triệu quân, chiến đấu bên cạnh một triệu quân đội VNCH, thiệt hại bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của, chẳng lẽ lại chỉ di tản có 50,000 người thôi? Đã 30 năm rồi mà mỗi khi tới ngày 30 tháng 4 (1 tháng 5 giờ Việt Nam), hình ảnh pho tượng Nữ thần Tự do lại hiện ra rõ ràng trong trí óc tôi. Hè 1958, khi lên New York lần đầu tiên, tôi được ra đảo Liberty để du ngoạn. Rất là thích thú. “Pho tượng đẹp và hùng vĩ quá sức”, tôi nói với anh bạn hướng dẫn. Thế thôi, không có ấn tượng gì sâu xa cho lắm sau chuyến đi. Nhưng ngày 30 tháng 4, 1975 (tại Washington) thì khác. Buổi sáng hôm ấy, tôi hết sức mệt mỏi, rã rời, vì những biến cố, trăn trở từ mấy tuần trước. Và phải sửa soạn để sắp sẵn một công việc mà đối với tôi nó là lịch sử trong cuộc đời. Tâm trí tôi lúc đó rối bời. Không biết phải làm gì để cứu vớt thêm đoàn người đang bồng bế nhau túa ra Biển Đông.
Nhưng rồi, như một tia sáng chiếu rọi, tôi nghĩ đến Nữ thần Tự do, và tới đoàn người Cuba di tản hồi năm 1960, sau khi Fidel Castro lên nắm chính quyền. Bạn bè và thân nhân của họ là người Mỹ gốc Cuba lúc đó đã tranh đấu thành công. Tôi còn nhớ là hồi đó họ đã đăng tải rất nhiều lời kêu gọi lòng từ tâm của nhân dân Hoa kỳ trên các báo chí với hình pho tượng Nữ thần Tự do. Tôi lại nảy ra ý nghĩ là mình cũng có thể làm như vậy.
Hiện trong tay, tôi đã mang đi được toàn bộ hồ sơ mật về những trao đổi giữa hai Tổng thống Nixon, Ford và Tổng thống Thiệu. Như những lá thư tình, nếu chỉ là một vài thư lẻ tẻ thì người ta có thể cho là nó đã được viết trong lúc tình nhân bốc đồng. Nhưng gộp chung lại, và đặt nó trên căn bản thương thuyết là bốn năm trời, thì tất phải có ý nghĩa sâu xa. Tôi suy luận: người Mỹ đặt cao những giá trị xây trên căn bản công bình sòng phẳng. Do vậy, họ luôn đặt nặng cái quyền hạn chính mình. Chẳng vậy mà cứ 1.000 người thì đã có tới 3.1 luật sư, quá nhiều so với các nước khác như Pháp (0.4), Đức (0.8), Nhật (0.1). Như thế, tôi nghĩ nếu mình dựa trên căn bản công bình (Chính phủ Mỹ đã bội ước với nhân dân Miền Nam) và kêu gọi tới tinh thần bao dung, mà biểu tượng là Nữ thần Tự do, thì may ra có hy vọng phần nào sẽ cứu được một số người đông hơn.
Tôi muốn in ngay cả một trang cầu cứu “SOS” trên tờ washington Post và một trên tờ New York Times. Nhưng lấy tiền đâu mà in bây giở? Trường hợp cầu cứu di dân Cuba là công việc của cả một tập đoàn, và với đầy đủ phương tiện tài chánh. Bây giờ đơn thương độc mã, trong túi tôi chỉ vỏn vẹn có 300 đô la lúc rời Sài gòn. Mà mỗi trang báo cũng phải trả 6.000 đô la.
Ngày 14 tháng 4, khi Tổng thống Thiệu bảo tôi đi Washington công tác, tôi cũng đã nghĩ đến việc đăng hai tờ báo này nhưng mục đích lúc đó là để cầu cứu Quốc hội chấp thuận cho VNCH vay tiền, thay vì bỏ phiếu chống viện trợ. Một lần duy nhất nói tới tiền bạc, tôi đề nghị Tổng thống Thiệu cấp cho tôi một ngân khoản là 20.000. Số này sẽ dùng đăng hai thông báo (12.000). Số còn lại 8.000 để tôi chi tiêu cho chuyến di và ngoại giao hành lang như hội họp, chiêu đãi. Ông Thiệu chấp thuận ngay, nhưng ông lại không đưa tiền và nói tôi sang Thủ tướng yêu cầu cho trích từ Quỹ VINOPO. VINOPO (Vietnam Procurement Office) là một Cơ quan Tiếp vận đặt tại Đại sứ VNCH, Washington, D.C. Cơ quan này đấu thầu và mua gạo về Sài gòn qua chương trình viện trợ Mỹ. Mỗi một tấn gạo phải đóng vào quỹ VINOPO là 1 đô la. Đó là cơ quan đã được lập ra năm 1973 vừa để giúp tiếp vận vừa để có ngân quỹ lo việc hoạt động ngoại giao. Hè năm 1973, có lần tôi hỏi Tổng thống Thiệu xem công việc ngoại giao hành lang, “public relation” của VNCH ra sao? Ông cho biết căn bản không có gì hết, chỉ có cơ quan chính thức là Toà đại sứ mà thôi! Làm sao lại có thể như vậy được? Những quốc gia đồng minh có quan hệ quan trọng với Mỹ như Đài Loan, Do Thái, Đại Hàn, đều có vận động hành lang rất rộng rãi. Sau đó VINOPO được thành lập, nhưng VNCH cũng chưa tổ chức được những vận thông hành lang.
Vừa tới Washington, tôi gọi cho Giám đốc VINOPO, cũng là một anh bạn tôi, nhưng anh ấy lại không có mặt ở sở vì đang trên đường đi công tác mua gạo. Nhìn vào ngân khoản tiết kiệm của gia đình, thấy còn gần ba ngàn đô, tôi bèn tạm mượn mang ra tiêu vào công tác vận động. Muốn gặp được bà thơ ký hay anh phụ tá cho một nghị sĩ hay dân biểu, dù là chỗ quen biết, chỉ có cách là mời dùng cơm trưa hay cơm chiều để khỏi mất thời giờ của họ thì may ra mới mời được. Sáng ngày 15 tháng 4, anh bạn Giám đốc VINOPO trở về Washington. Anh ấy điện thoại ngay cho tôi và cho biết là ngân quỹ trong sở đã bị nhân viên biển thủ hết rồi! Và anh đã khai báo đầy đủ cho cơ quan FBI. Thế là kế hoạch đăng báo lại phải bỏ đi. Sau này, vì không hoàn lại được số tiền vay của gia đình, tôi cũng đã gặp phải vấn đề khó khăn.
Hãy cứu vớt đoàn người lênh đênh trên biển cả.
Bây giờ, tôi muốn đăng hai tờ báo để xin cứu vớt người tỵ nạn. Không có tiền và chẳng biết làm gì khác, tôi tìm đến ông Warren Nutter, ông thày cũ, trước làm Phụ Tá Bộ trưởng quốc phòng phụ trách về khía cạnh kinh tế của chương trình “Việt Nam hoá” thời Nixon. Ông đã tận tình ủng hộ VNCH trong thời gian qua và đã sang Sài gòn gặp riêng ông Thiệu để cố vấn. Mời ông về nhà dùng cơm trưa, tôi muốn ông cố vấn để cứu giúp người di tản. Giữa lúc đó thì máy điện thoại reo, và ở đầu giây bên kia là Von Marbod, gọi từ Tân Sơn Nhất: “Tôi đang trông thấy Rick bế mẹ già anh lên chiếc C-141, và gia đình anh đang bước lên tiếp theo”. Rick Armitage (Thứ trưởng ngoại giao dưới thời Tổng thống George Bush, nhiệm kỳ đầu) đã lái xe tới nhà chị tôi ở đường Phan Đình Phùng và chở bà cụ cùng gia đình ra phi trường để bay sang phi cảng Clark ở Phillippines. Hoá ra thay vì đợi tôi về, vừa vừa có quyền cho tạm dung vào Mỹ, Đại sứ Martin đã cấp giấy phép để Von Marbod cùng Rếch Armitage di tản gia đình tôi. Hôm ấy là ngày 25 tháng 4.
Yên tâm cho mẹ già rồi, nhưng còn bạn bè, đồng bào thì sao đây? Tôi hỏi ông Nutter xem có nên gặp ông Kissinger hoặc Schlesinger để kêu nài họ giúp tăng số di tản hay không? “Ít nhất Mỹ cũng phải cho tỵ nạn một triệu người, bằng số di tản từ Bắc vào Nam năm 1954”, tôi muốn đề nghị. “Họ đã phủi sạch tay về Việt Nam rồi”, – ông Nutter nói. “Để tôi nghĩ xem có cách nào khác không”. Hôm sau, ông gọi lại và cố vấn cho tôi: “Có lẽ tranh đấu bằng một cuộc họp báo là có hiệu quả nhất”. Vì các hãng thông tấn sẽ phổ biến rộng rãi, toàn cầu. Ông nói rồi ông sẽ xem lúc nào là thời điểm tốt nhất để làm việc này. Tôi vội vàng ngồi xuống làm việc liên tục nhờ mấy ly cà phê thật đậm để phác thảo một bài diễn văn sẽ dọc khai mạc cuộc họp báo. Nhưng bây giờ xong cuộc rồi, tôi có tư cách gì mà lại đòi họp báo như các quan chức lớn? “Nếu anh nhất định tiết lộ mấy cái thư mật thì tôi chắc các hãng thông tấn sẽ tới”, ông Nutter góp ý. Không còn đắn đo gì nữa, tôi trả lời: “Vâng tôi đã quyết định rồi”.
Quẩn trí, tôi tiếp tục liên lạc với mọi người quen biết trên Quốc hội, cả trong lẫn ngoài chính quyền. Không nhẽ đối với nhân dân Cuba, dù Mỹ chưa có đổ máu chiến đấu, mà còn tiếp cứu tới 650.000 người khi Fidel Castro lên nắm quyền, mà lúc này lại chỉ nghĩ đến con số có 50.000 người Việt thôi, tôi tự hỏi.
Việc thấy phải làm ngay là đối với anh em trong Bộ Kế hoạch và Phát Triển của tôi. Tôi liền đến nhà bà Anna Chennault (ở ngay trong toà nhà Watergate), chủ tịch hãng máy bay Flying Tigers để yêu cầu bà cố giúp cho một máy bay vào Sài gòn di tản ban lãnh đạo và nhân viên tại Bộ. Là người có nhiều cảm tình với Việt Nam và cũng đã thu được nhiều lợi lộc vận chuyển hàng hoá vào Sài gòn trong các năm trước, bà đã đồng ý. Thế nhưng, khi máy bay đáp xuống Phillippines thì phải ngưng lại vì Tân Sơn Nhất đã bị ném bom, pháo kích!
Về những liên lạc riêng tư, chúng tôi cũng đã liên lạc với nhiều nghị sĩ và dân biểu để yêu cầu họ viện trợ, và nếu không được thì cứu giúp đoàn người di tản. Chúng tôi có nhận được tất cả là 31 thư trả lời (xem danh sách). Hầu hết là họ đã duỗi ra. Có ông nghị tên là Bennett Johnston, tiểu bang Mouisiana còn viết mỉa mai về việc xin cứu trợ cho công cuộc di tản:
“Đạo luật (về giúp di cư) đang được Quốc hội xem xét đã có điều khoản rõ ràng cấm chỉ không được giúp một nước cộng sản hoặc trực tiếp hay gián tiếp qua một cơ quan như Liên Hiệp Quốc. Theo tôi, Miền Nam Việt Nam giờ đây đã nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản rồi, bởi vậy viện trợ hay cứu trợ phải được cung cấp từ các nước đã viện trợ quân sự cho Bắc Việt – Nga Xô và Trung Cộng”.
Tôi lại lìm đến vị Tuyên Uý Thượng Viện, Mục sư Edward Elson. Nói tới hình ảnh người xứ Samaritan đầy lòng nhân ái trong Kinh Thánh, tôi nhờ ông tác động những phần tử tương đối còn chút hảo tâm: “Hãy cứu vớt đoàn người chúng tôi đang trốn chạy ra biển cả,” tôi cầu cứu. Mục sư Elson đã hợp tác chặt chẽ. Ông liền gọi cho một số nghị sĩ để đánh động lương tâm của họ đừng chống đối việc tỵ nạn của người Việt Nam nữa.
Sáng ngày 29 tháng 4, radio vẫn nói tới con số di tản giới hạn. Nhưng vào khoảng trưa, tôi nghe loáng thoáng là người ta đã bắt đầu nói tới con số kế hoạch 120.000 người Việt bây giờ được liệt vào thành phần có “nguy hiểm cao độ”. Lại thêm chút hy vọng. Biết đâu, biết đâu đấy, Chính phủ Hoa kỳ đã thay lòng đổi dạ được đôi phần. Dù chỉ là một tia hy vọng nhỏ nhoi, nó cũng đã giúp nâng đỡ tinh thần sa sút của tôi lúc đó tiếp tục hoạt động và theo rõi tin tức từng giờ từng phút, tôi gọi ông Nutter vào buổi chiều, khi ông còn đang ở văn phòng tại Viện Kinh Doanh Mỹ (American Enterprise Institute) trên phố 117th, Washington D.C. để hỏi ý ông xem đã tới lúc họp báo chưa? Viện này được gọi là Bộ óc (Think Tank) của Đảng Cộng Hoà. Tuy nhiên, ở đó cũng có nhiều người không đồng ý với Chính phủ Ford lúc đó. “Giờ chót sắp tới rồi; bất cứ lúc nào. Người ta đang ùa ra biển để chờ được cứu vớt”, ông bảo tôi đến gặp ông ngay. Tôi đưa ông xem bài diễn văn tôi vừa soạn xong. Ông góp thêm ý cho tôi là phải nói việc cứu vớt việc người di tản không những là một bổn phận mà về lâu về dài, còn có lợi cho Mỹ. Ông có ý kiến là tôi sẽ chỉ tiết lộ ra độ hai, ba bức thư thôi, còn giữ lại làm đòn bẩy (lever). Ý ông muốn nói là cứ thử để xem kết quả ra sao. Nếu họ cứ nhất định chỉ cho di tản có 50.000 thì mình sẽ tính bước tới”.
Chúng tôi ra đường đi bộ tới khách sạn May Flower nằm gần ngay bên cạnh, trên đường Connecticut Avenue, để thuê một phòng làm địa điểm họp báo. Giá phòng họp là 250 đô la. Trương mục tiết kiệm của gia đình thì tôi đã tiêu hết. Tôi lại không muốn hỏi ông Đại sứ VNCH tại Washingon vì e ngại là ông sẽ cản cuộc họp báo lại. Chỉ còn đúng 200? Ông Nutter mủi lòng bèn xuất tiền riêng giúp thêm 50 đô la, đủ để thuê phòng lớn họp báo.
Buổi trưa ngày 30 tháng 4, (mồng 1 tháng 5 giờ Sài gòn), ông Nutter dùng phương tiện của Viện gửi một bản thông cáo cho các phóng viên và ký giả qua hãng thông tấn Associated
“Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Cựu phụ tá đặc biệt của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sẽ tổ chức một buổi họp báo lúc 4 giờ chiều hôm nay tại Khách sạn May Flower, Phòng Pan America, để nói về bản chất những thoả thuận bí mật giữa cựu Tổng thống Nixon và Tổng thống Thiệu. Sẽ tiết lộ hai lá thư của ông Nixon gửi ông Thiệu”.
Đúng giờ, các ký giả báo chí và truyền hình ào ào kéo đến. Mọi người ai cũng nhao nhao, nóng ruột. Không muốn mất thì giờ, họ chỉ muốn đến để lấy mấy bức thư chứ không muốn nghe trình bày dài dòng văn tự. Thái độ quá khích của báo chí khiến tôi thêm phần bực tức. Vì đã nghe họ bình luận quá nhiều về miền Nam trong bao nhiêu năm qua, tôi lên giọng, nói oang oang vào micro:
“Thưa quý vị, đây là chỗ của tôi. Quý vị phải cho tôi cơ hội giải thích cái bối cảnh của các lá thư đó trước khi tôi trao cho quý vị. Nếu vị nào không muốn nghe tôi giải thích thì xin mời ra”.
Có tiếng lao xao càu nhàu, la ó. Nhưng tôi cứ tiếp tục:
“Thưa Quý vị,
“Cảm ơn quý vị đã tới đây khi mới chỉ vừa được thông báo;
“Mục đích cuộc họp mặt hôm nay là để tôi mang ra ánh sáng cho công luận biết đến một số sự việc liên hệ tới trách nhiệm của Hoa kỳ đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Cụ thể hơn, tôi muốn nói tới những cam kết mật của Hoa kỳ đối với Việt Nam vào thời điểm thương thuyết hiệp định Paris…”
Đề cập qua tới việc ông Thiệu và Chính phủ ông đã từ chức, tôi nói tiếp:
“Giờ đây, tôi đang nói chuyện với quý vị với tư cách cá nhân. Tôi làm công việc này nhất mực theo lương tâm của tôi, và Tổng thống Thiệu hoàn toàn không biết trước”.
“Tôi chắc chắn rằng việc tôi nói với quý vị hôm nay không những nó có liên quan tới quyền lợi của người Việt Nam, nhưng về lâu dài, nó còn liên quan trực tiếp tới quyền lợi của nhân dân Hoa kỳ”.
Bằng một cách nhắc khéo tới lời tuyên bố cạn tầu ráo máng của Tổng thống Ford mấy hôm trước đó là “hãy quên đi quá khứ và nhìn tới một nghị trình tương lai”, tôi tiếp:
“Không thể có tương lai, nếu không có dĩ vãng và hiện tại. Làm sao mà có được một nghị trình tốt cho tương lai nếu không hiểu biết thấu đáo và làm kết toán đày đủ về hiệu quả của những gì mình đã làm trong quá khứ? Chữ tín của nước Mỹ, một yếu tố nhiều khi là quyết định giữa hoà bình hay chiến tranh, cần phải được các quốc gia coi trọng nếu chính sách ngoại giao Hoa kỳ muốn được thành công”.
Sau đó tôi tóm tắt diễn tiến của cuộc hoà đàm Paris, nhấn mạnh việc Mỹ đã bội ước. Tổng thống Nixon và Cố vấn Kissinger đã ép ông Thiệu phải ký kết, trên căn bản là củ cà rốt và cái gậy. Củ cà rốt là Hoa kỳ đã cam kết rất rõ ràng là sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ cho VNCH và bảo đảm thực thi hiệp định đình chiến. Tôi chỉ trưng vài đoạn quan trọng trong hai bức thư của Tổng thống Nixon (thư ngày 14 tháng 11, 1972, và ngày 5 tháng 1, 1973). Để kích thích sự tò mò, tôi nói thêm là tôi chỉ cho họ xem hai lá thư này, nhưng còn giữ nhiều thư khác. Rồi trưng một vài đoạn từ một bức thư đề ngày 17-1-1973 trong đó, Nixon còn nói rõ hơn về những mật ước đối với Miền Nam.
Nhấn mạnh là với những cam kết vững vàng đó, VNCH đã chấp nhận ký vào bản Hiệp định ngày 27 tháng 3, 1973 giúp Hoa kỳ thu lượm được bốn kết quả rõ ràng:
– thứ nhất, rút được hết quân đội Mỹ về;
– thứ hai, toàn bộ 519 tù binh Mỹ được thả,
– thứ ba, được tuyên bố là đã mang lại “Hoà bình và danh dự” và giữ được uy tín cho nước Mỹ; và
– thứ tư, tiết kiệm được 20 tỷ một năm.
Còn Miền Nam đã được gì? Kéo dài được hai năm. Bây giờ thì phải gánh chịu bao nhiêu hậu quả, và gánh chịu một mình!”
Trong hài diễn văn, vì nghe theo lời cố vấn của Warren Nutter, tôi đã hoàn toàn tránh né, không đả động gì tới những mật thư của chính Tổng thống Ford gửi. Như vậy để xem ông Ford đối xử ra sao với việc di tản.
Tôi chỉ dùng vài lá thư của Tổng thống Nixon để lập luận xin cứu vớt đoàn người đang đổ xô ra Biển Đông:
Kính thưa quý vị,
Tôi xin kết thúc buổi trình bày ngày hôm nay với chỉ một lời cầu khẩn tới nhân dân Hoa kỳ. Chắc chắn rằng nhân dân tôi đang muốn cùng tôi khiếu nại là CÔNG BÌNH và SÒNG PHẲNG phải được đưa ra để đối xử với họ, dù là điều kiện chính trị nội bộ Hoa kỳ ra sao đi nữa;
“Tôi tin tưởng rằng với quyền lực lớn mạnh về kinh tế và ngoại giao, trong giờ phút này đây, nước Mỹ vẫn còn có thể làm được một công việc hoàn toàn nhân đạo, đó là cứu với mạng sống đoàn người đang di tản”.
“Nếu những cam kết này đã không được tôn trọng, thì Hoa kỳ có thể đền bù vào đó bằng cách dàn xếp và cứu vớt ít nhất là một triệu người dân Việt Nam;”
“Năm 1954, Hoa kỳ đã giúp di chuyển gần một triệu người từ miền Bấc vào Nam. Giờ đây, sau khi trực tiếp tham gia vào một cuộc chiến kéo dài, giúp tị nạn một số người ít nhất cũng hằng như vậy thì không phải là một việc quá đáng. Tối thiểu, vào giờ phút này, Hoa kỳ cũng vẫn còn có thể sắp xếp để có được một khoảng thời gian ra đi tự do, hầu giúp cho một số đông hơn được di tản.
Nhân danh lương tri của nhân dân Hoa kỳ, quí vị hãy nghĩ tới những người đã trông cậy và tin tưởng vào bao nhiêu hứa hẹn của đồng minh trong hai mươi năm trời”.
Trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng nếu như năm 1954, thời gian ra đi tự do được quy định là 10 tháng, thì ít nhất bây giờ cũng phải được một tháng!
Bà quay mặt về đâu? Khi nói xong, tôi có phát bản sao hai lá thư trên. Một số ký giả và người quay phim vây chung quanh, đi theo tôi ra hành lang khách sạn. Murray Marder, ký giả tờ Washington Post ngó lời an ủi là nghe xong, ông có nhiều thiện cảm với dân tộc Việt Nam hơn. Ông nói “tôi sẽ cố giúp”. Nhiều nhà báo tiếp tục đặt thêm những câu hỏi này nọ, như về tham nhũng, độc tài, quân đội bỏ chạy, tại sao di tản, v.v. Tôi lờ đi.
Một nhà báo có bộ râu hàm đen rậm cứ nằng nặc xin bản sao lá thư thứ ba mà tôi có trích dẫn nhưng đã không phổ biến. Sau khi tham khảo ý kiến với ông Nutter, tôi đã từ chối. Anh ta tỏ ra rất bực tức
Đến khi khi có phóng viên hỏi thêm:
“Thưa ông, cứ cho là Hoa kỳ đã bội ước, nhưng còn lý do gì khác khiến chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ không?”
Tôi nói ngay tới cái lý do mạnh mẽ nhất:
“Tượng Nữ thần Tự do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng nước Mỹ là đất của những kẻ bị truy nã, của di dân”.
Đến khi nghe thấy nói tới “Nữ thần Tự do” để yêu cầu cứu vớt tỵ nạn, anh chàng ta vội xen vào một câu xỏ xiên: “Tôi xin nhắc nhở cho ông là Nữ thần Tự do quay mặt về phía Đại Tây Dương”.
Ý nói là Bà quay lưng về phía Thái Bình Dương, phía Việt Nam chúng ta?
Vô cùng đau đớn, tôi đã không cầm được nước mắt. Ông Nutter sửng sốt và phẫn nộ. Kéo tôi sang một bên, ông an ủi: “Anh đã làm một việc ích lợi cho xứ sở anh. Rồi đây nó sẽ tạo được nhiều thiện cảm, và tôi hy vọng rằng số người Việt được cứu sẽ tăng lên nhiều”.
Niềm yên ủi vô biên
Sau đây là những sự việc liên hệ tới cuộc họp báo và việc tiết lộ một số những bức thư mật:
Cùng ngày đó, ông Von Marbod mời tôi ăn tối tại một quán nhỏ ở Mclean. Tuy là một bữa ăn đạm bạc theo tiêu chuẩn Mỹ, nhưng đôi với tôi nó là bữa ăn nhớ đời. Cho đến bây giờ nó vẫn ghi dấu ấn đậm vào trí óc tôi bởi câu nói của ông Marbod: “Tốt, tốt. Nhưng tôi nghĩ bấy nhiêu là đủ rồi, anh khỏi cần tiết lộ thêm nữa. Tôi được biết là trong vòng mấy ngày tới, tàu Mỹ sẽ vớt hết tất cả những ai ra được ngoài biển”.
Ăn cơm tối xong, tôi bắt đầu lo về chuyện mình đã tiết lộ là còn giữ nhiều mật thư khác (dĩ nhiên là trong đó có cả thư của Tổng thống Ford), tôi vội tới nhà một người bạn ở vùng Maryland để ẩn trốn gần một tuần lễ.
Ngày mồng 2 tháng 5, nhiều báo chí Mỹ và quốc tế, đặc biệt là hai tờ uy tín nhất, Washington Post và New York Times đã đăng tải cuộc họp báo và đặt rất nhiều câu hỏi chung quanh vấn đề mật thư. Tờ Washington Post đăng một hình hí hoạ của đại tài Herblock với đầy ý nghĩa thích hợp. Hình vẽ Quốc hội Mỹ đang cho hai ông Ford, Kissinger xem và hỏi về những thư cam kết trong các lá thư của Nixon (xem hình). Báo chí còn tìm xem có phải thư thật hay thư giả, và có phải chữ ký của Nixon hay không? Rất nhanh, Toà Bạch Ốc đã phải chứng nhận về tính cách xác thực của nó.
Đối với Tổng thống Ford, lúc đó thì ông đã biết thực sự là có những mật thư này vì ngày 5 tháng 4 (như đã thuật lại trong Chương 10) tôi đã nhờ được tướng Weyand (qua Von Marbod) đưa tận lay cho ông vài bức thư. Và theo lời Von Marbod, ông đã xúc động. Sau đó ông ra phi trường đón tiếp lớp trẻ mồ côi Việt Nam vừa được chở tới San Francisco. Tay bồng một em bé, ông bước xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây phút này, có thể là ông đã thay đổi thái độ đối với vấn đề tị nạn. Trước đó, dù sau cuộc rút lui đầy trắc trở của Quân Đoàn 11 và cuộc di tản kinh hoàng từ Đà Nẵng, ông Ford vẫn bình chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Và Ngoại trưởng Kissinger còn mời ông bà Tổng thống tới nhà dùng cơm với Frank Sinatra. “Chúng ta không thể để Tổng thống đi như vậy được”, Robert Hartmann, một nhân viên của ông Ford phải than lên. “Nếu lại đi ăn với Sinatra vào cuối của tuần lễ mà Tổng thống đã bị chỉ trích hằng ngày là chỉ vui chơi trong khuôn viên những nhà triệu phú đang khi Việt Nam bốc cháy, thì hình ảnh của ông Ford sẽ còn bị ê chề hơn nữa”, Phụ tá Ron Nessen kể lại 6 . Năm 1985 khi chúng tôi phỏng vấn Tổng thống Ford và đưa cho ông đọc lại mấy bức thư của Tổng thống Nixon, ông vẫn còn tỏ vẻ ngậm ngùi: “Không còn một nghi ngờ nào hết, đây là những lời cam kết vô cùng quyết liệt” (“Well, there is no doubt these were very categorical commitments”).
Như đã thuật lại, Tổng trưởng quốc phòng Schlesinger, người đã rất thờ ở lúc con thuyền Miền Nam sắp chìm đắm, cũng đã phàn nàn rằng:
“Tôi tin rằng Tổng thống Ford đã bị lừa bịp về những lá thư này”;
“Quốc hội không hề hay biết chút gì về mấy lá thư đó khi họ bắt đầu chạy làng khỏi Việt Nam vào mùa hè 1973”;
“Tôi còn nhớ tôi đã vô cùng sửng sốt khi đọc một số lá thư ấy, vì chúng có nghĩa là Hoa kỳ đã chạy làng những nghĩa vụ mà chính Tổng thống đã cam kết. Tuy nhiên, nếu ta không biết được là có những nghĩa vụ được cam kết thì ta đâu biết được là Hoa kỳ đã chạy làng”.
(I believe Ford as being bamboozled on the letters;
Congress knows nothing of these letters, when it started bugging out of Vietnam in the summer of 1973,
“I remember how surprised I was when the letters surfaced, because I felt that the meant a welching by the United States on commitments that had been entered into by the President. However, if you don’t know the commitments have been entered into, you don’t know the country has welched”)
Đúng ba ngày sau cuộc họp báo, mồng 3 tháng 5, Kissinger thay đổi thái độ. Như Uỷ ban liên bộ định cư Đông Dương (Indochina Interagency Task Force) đã báo cáo: “Ngoại trưởng Kissinger đã yêu cầu Tổng thống Ford cho phép cấp quyền “tạm dung” cho 150.000 người Việt và Kampuchia tỵ nạn, với điều kiện là Chính phủ phải cố gắng tái định cư 20.000 người tại các quốc gia khác. Tổng thống Ford đã chấp thuận và thông báo cho Tổng trưởng Tư Pháp”.
Còn về phía lập pháp của Mỹ?
Sau đây là những lời tuyên bố của một số những bàn tay đao phủ đã đưa dao lên cắt đứt viện trợ cho Miền Nam:
Phản ứng tức thời tại Quốc hội là có nhiều nghị sĩ, dân biểu đã rất ngạc nhiên về những tiết lộ trong cuộc họp báo. Tờ New York Times (2 tháng 5, 1975) đăng tin nghị sĩ Henry Jackson tuyên bố:
“Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng) để mới biết được những văn kiện tối quan trọng”; ông còn thêm rằng: “Khi không chịu tiết lộ rõ ràng bản chất và văn bản của những thoả thuận sơ bộ với Miền Nam, phía Hành pháp đã lừa dối một Chính phủ ngoại quốc cũng như Quốc hội Mỹ về bản chất và quy mô những điều do Hoa kỳ cam kết với quốc gia đó” [7]
Nghị sĩ Mike Mansfield tiếp theo: “Thật là chuyện bất ngờ (“It looks like the jacks are coming out of the box… “), tôi nghĩ rằng sự việc này càng được sớm làm sáng tỏ ra thì càng tốt cho tất cả mọi người chúng ta”. [8]
Cùng một ngày, Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện, một Uỷ ban lãnh đạo việc cắt viện trợ, đã yêu cầu Tổng thống Ford cho xem bản sao những trao đổi mật giữa hai Tổng thống Nixon – Thiệu. Nhưng ông Ford đã từ chối phắt đi. Trong một bức thư gửi nghị sĩ John Sparkman, chủ tịch của Uỷ ban, ông đã nại tới “quyền hành đặc biệt của Hành pháp” để làm căn bản cho việc từ chối, và khuyên rằng “chúng ta nên xếp lại vào quá khứ những cuộc tranh luận có tính cách chia rẽ về vấn đề Việt Nam”. [9]
Nghị sĩ Henry Jackson, Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện:
“Những tiết lộ mới đây đã cho hay rằng ngành hành pháp đã lừa dôi một Chính phủ nước ngoài và Quốc hội về những cam kết của Hoa kỳ đối với Miền Nam Việt Nam từ 1972 tới 1973″; Chính phủ Ford đã tố cáo Quốc hội là đã vi phạm những cam kết và những ràng buộc đối với Miền Nam, những điều mà Quốc hội chưa bao giờ được nghe tới, chứ đừng nói đến là đã chấp thuận”;
“Thật là một trạng thái kỳ cục và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ phải dựa vào quan chức ngoại quốc mới biết được những trao đổi quan trọng, nó được tung ra bất cứ lúc nào, do một Chính phủ ngoại quốc, giống như mấy con thỏ nhẩy ra khỏi cái mũ của nhà ảo thuật”; [10]
Nghị sĩ Frank Church, người chống đối cả viện trợ, cả việc giúp di tản.
“Hồi đó chẳng ai nói gì với chúng tôi về những cam đoan mà Hoa kỳ sẽ phải gánh vác. Tôi không nhớ là đã có người nào thông báo cho Uỷ ban tôi biết là đã có một cam đoan nào, dù được viết xuống, hay minh thị, hoặc bằng cách nào khác. Cảm tưởng rõ rệt lúc này của chúng tôi là không có điều gì dấu diếm chúng tôi cả;” [11]
Nghị sĩ Jacob Javits, Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Thượng Viện, người khởi xướng cắt quân viện hè 1974 (đã tuyên bố sau khi phía hành pháp cãi là những bức thư này chỉ là cam kết về tinh thần, không có giá trị pháp lý): “Muốn gọi mấy tài liệu đó là gì đi chăng nữa đáng lý chúng đã phải được đưa ra cho Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện cùng với những tài liệu khác liên quan đến Hiệp định Paris”.
Ngày 4 tháng 5, tôi gọi điện thoại cho vị Tuyên Uý Thượng Viện, Mục sư Elson. Ông vui mừng cho hay là phản ứng tại Quốc hội có chiều hướng tốt. Sau khi hay biết những chuyện này, nhiều nghị sĩ nhận thấy là Hoa kỳ đã bất công với nhân dân Miền Nam, và bắt đầu có thiện cảm hơn đối với vấn đề lỵ nạn. Mục sư Elson nói: “Chắc chắn Quốc hội sẽ thay đổi thái độ”.
Vì Quốc hội đã thay đổi thái độ: chỉ trên ba tuần sau khi bỏ phiếu bác đi số tiền 327 triệu để tài trợ cho di tản, ngày 23 tháng 5, 1975 Quốc hội đã biểu quyết “Đạo luật về di trú và tỵ nạn Đông Dương” “Indochina Migration and Refugee Act” – IRAP; 89 stat. 87), trợ cấp 455 triệu cho tỵ nạn từ Việt Nam và Kampuchia).
Tôi cảm thấy một niềm an ủi vô biên, vì nghĩ rằng ít ra Hoa kỳ cũng đồng ý chấp nhận một số nhiều người Việt chứ không phải chỉ vỏn vẹn có 50.000 người như Toà Bạch Ốc đã cho phép Đại sứ Martin di tản vào ngày 25 tháng 4, tức là năm ngày trước giờ hấp hối của VNCH. Câu nói của Von Marbod đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử tỵ nạn, vì nó khởi đầu cho một cuộc di cư vĩ đại kéo dài tới 25 năm. Ngày nay, sau 30 năm từ lúc bắt đầu, số người Việt di tản được tiếp nhận và đang sinh sống tại Hoa kỳ cũng đã lên trên một triệu người, xấp xỉ bằng con số tôi mang ra để cầu cứu trong cuộc họp báo ngày 30 tháng 4, 1975.
1 Về lịch sử tượng “Người khổng lồ đảo Rhodes” và “Nữ thần Tự do,” độc giả có thể vào internet/google tìm đọc về Colossus of Rhodes và Statue of liberty.
2 Nessen, It sure looks different from the inside, trang 108
3 Nessen, It sure looks different from the inside, trang 108
4 Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 544.
5 Như trên
6 U.S. Government, interagency task force, The President’s Advisory Committee On Refugees, Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 15.
7 New York Times, 2 tháng 5, 1975
8 New York Times, 2 tháng 5, 1975
9 New York Times, 2 tháng 5, 1975
10 New York Times, 2 tháng 5, 1975; TIME (Magazine), 21 tháng 4 1975; N.T. Hưng và J. Schecter, The Palace File, trang 355-356.
11 196th congress, Review of U.S. Rẹfùgee Resettlement Program and Policies, A Report, Congressional Research Service, Library of Congress, 1980, p. 29.
Nguyễn Đức Sơn đã đến với độc giả với dáng dấp một người xa lạ. Rất nhiều người đọc đã sững sốt khi đọc Những Bài Tình Đầu của ông. Trên bìa truớc và bìa sau của tập thơ, ông đã cho in đầy những lời ‘tuyên bố huênh hoang’, ‘quát tháo hung dữ’, ‘khoa trương về những tác phẩm ngợp mắt của mình [chữ của Võ Phiến], xỉ vả tất cả những ai, bất luận ‘già trẻ, đực, cái’, muốn lợi dụng tài năng của ông.
Như cái tựa của nó, tập Những Bài Tình Đầu gồm những bài thơ Nguyễn Đức Sơn đã viết khi còn rất trẻ.
Thơ tình.
Ông đã tiếp tục dòng thơ ấy đến khi không còn trẻ nữa. Cho đến trước ngày 30 tháng 4/75 Nguyễn Đức Sơn đã cho xuất bản đến 4 tập thơ mang cùng một tên Những Bài Tình Đầu.
Nhưng thơ tình của ông làm người ta kinh ngạc. Thay vì “làm học trò không có sách cầm tay, có tâm sự đi nói cùng cây cỏ” [Đinh Hùng], chẳng hạn, chàng trai mới lớn trong thơ Nguyễn Đức Sơn dấu trong cặp “chiếc băng vệ
sinh” nhặt được ở đâu đó ngoài đường. Người đàn bà, người nữ, xuất hiện trong thơ Nguyễn Đức Sơn, không mặt mũi nhan sắc, trước tầm nhìn [cứ coi là tình cờ] của chàng trai mới lớn, ngồi xuống và “em chưa đái mà hồn anh đã ướt”.
Như thế, có vẻ như Nguyễn Đức Sơn đã trút bỏ tất cả những lớp vỏ ảo, thơ mộng, từ bao đời kiếp người ta đã tạo ra, bằng hằng hà sa số ngôn từ hoa mỹ, phủ quanh người đàn bà, người nữ, biến nàng thành nàng thơ, bắt nàng hiện nguyên hình đúng như nàng trong cuộc đời.
Tục quá chăng?
Hình như Gustave Flaubert có định nghĩa đại khái thế này: “Những cuốn sách tục tĩu chỉ thực sự vô luân khi thiếu vắng sự thực”.
Sư thực nào ư? Sự thực của cái đẹp và cái không đẹp lẫn lộn trong đời sống.
Đọc Nguyễn Đức Sơn, người ta có cảm tưởng trong ông có hai con người một bình thường và một tinh quái:
tôi về lắng cả buổi chiều
nghe chim ăn trái rụng đều như kinh
còn một mình hỏi một mình
có chăng hồn với dáng hình là hai
từng trưa nằm nghỉ đất dài
phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên
[Mang Mang]
Cái con người buổi trưa nằm nghỉ trên đất đó, khi nằm thở trên bờ biển, chỉ thở thôi, lại không còn vẻ hiền lành trước đó nữa:
đầu tiên tôi thở cái phào
bao nhiêu phiền não như trào ra theo
nín hơi tôi thở cái phèo
bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không Chàng trai mới lớn trong thơ Nguyễn Đức Sơn cảm nghĩ không khác bao nhiêu với những người cùng lứa tuổi.
tôi rất thèm và rất xốn xang
ước mơ một phút cũng thiên đàng
trời hỡi từng đêm ôm gối lạnh
đã xốn xang càng thêm xốn xang
dù rất thèm và muốn biết qua
nhưng sẽ muôn đời tôi trốn xa
tôi nguyện làm một người độc nhất
hoàn toàn trong sạch cho đến già
[Cảm Thuơng]
Người ta tự hỏi, không biết cái khoảng cách thời gian từ khi Nguyễn Đức Sơn viết những câu thơ ấy tới những câu sau này là bao xa?
cái lỗ
nghĩ cho cùng
rất ngộ
Có vẻ như Nguyễn Đức Sơn muốn nói với mọi người rằng, đừng tin ông, đừng tin ở cái bề ngoài của ai cả, đừng tin ngay cả chính mình, điều này thì ai cũng biết vậy, ai cũng muốn thành thật, nhưng rất ít người thành thật, không phải người ta muốn dối trá, nhưng vì sống như thế tiện hơn, như áo quần che đậy làm cho người ta trở nên dễ coi hơn, tự nhiên hơn, thói quen khiến người ta nghĩ như vậy, sự thực
chưa chắc đã như vậy:
Nếu không có quỷ ma
Khó bề thấy được Phật
Đó là sự thật của trái đất
Nhưng nghĩ cho cùng tất cả đều trật lất
Không có gì chắc cả. Chỉ là những ngộ nhận. Nhớ lại những ngày sau 30 tháng 4, 1975, cả miền Nam chìm ngập trong một nỗi hoang mang lo sợ. Ai cũng muốn lẫn vào đám đông. Ngay cả chiếc áo còn mới người ta cũng ngại không muốn mặc. Nguyễn Đức Sơn vốn là người ăn vận luộm thuộm, gần như ông chưa bao giờ để ý đến cách phục sức của mình. Vậy mà, trong những ngày ấy, người ta bỗng thấy ông khoác lên người cả một bộ đồ lớn, com-lê cà- vạt hẳn hoi.
Hỏi: Chuyện gì vậy?
Ông đáp gọn lỏn: Cho khỏi lộn.
Dễ thương hay dễ ghét?
Đôi khi Nguyễn Đức Sơn cho thấy, ông cũng là một người hết sức dịu dàng chứ không phải chỉ biết “quát tháo hung dữ”:
một đêm trăng mờ ảo
anh tìm về thăm em
phố buồn như hoang đảo
gió ngừng ru bên thềm
ánh đèn sao le lói
căn phòng sao đìu hiu
anh lặng người thầm hỏi
kiếp người sao tiêu điều
Không phải sau này Nguyễn Đức Sơn mới vào sống trong rừng. Ông đã lên rừng sống từ lâu rồi. Ông là Sao Trên Rừng mà. Đó không phải chỉ là bút hiệu của ông mà còn là đời sống của ông. Lẻ loi. Cô độc. Xa tít. Như nỗi uớc mơ. Như giọt nuớc mắt. Nước mắt là để khóc. Ai khóc và khóc ai đây?
Đối với một số lớn độc giả, cái tên Nguyễn Chí Thiện không còn xa lạ gì. Ông sinh năm 1939 tại Hà Nội và cũng là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục, tập thơ ông đã lén mang đến Tòa Đại Sứ Anh tại Hà Nội năm 1979 để nhờ chuyển ra khỏi nước. Như cái tên của nó, Hoa Địa Ngục gồm khoảng 400 bài thơ, Nguyễn Chí Thiện đã viết trong 27 năm ròng rã bị nhốt trong các nhà tù cộng sản.
Hỏa Lò có thể coi là tập Hoa Địa Ngục thứ hai của Nguyễn Chí Thiện. Chỉ có điều, thay vì thơ, Hỏa Lò là một tập truyện ngắn. Nhưng cả hai tác phẩm, đều là kết quả tim óc của người viết, ngoài giá trị văn chương, nghệ thuật, còn là những bản cáo trạng trước nhân loại, về một nơi, một quốc gia, mà ở trong đó, nhóm người cầm quyền, đã tổ chức đời sống theo một cái cách, không ai còn có thể sống ở trong đó được nữa, trừ những người cầm quyền.
Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò là kinh nghiệm của những người phải sống ở cái nơi không còn chỗ cho mình sống đó. Nói cách khác, nếu người ta cảm thấy không thể chấp nhận cách tổ chức đời sống như thế, thì người ta chỉ còn một chỗ khác để sống, đó là các nhà tù.
Hỏa Lò là tên một nhà tù ở ngay giữa thành phố Hà Nội mà ông cựu đại sứ Hoa Kỳ Peterson đã nếm mùi. Như thế, Hỏa Lò chỉ có thể là chuyện trong tù. Và, trong hoàn cảnh như thế lại còn phải nói tới văn chương, nói tới kỹ thuật viết văn nữa.
Nguyễn Chí Thiện cho biết:
“Viết hồi ký có cái dễ mà cũng có cái rất khó. Bây giờ mình muốn viết hồi ký thì tiêu chuẩn đầu tiên là phải trung thực về mình cũng như về người.
Trong cuộc sống không cái gì hay một cá nhân nào là hoàn hảo, có mặt yếu, mặt mạnh, mặt tốt, mặt xấu. Con người cũng có lúc anh hùng, có lúc hèn và cũng có lúc lừng khừng. Bây giờ mình viết hồi ký người thực, việc thực, thìbạn bè mình còn sống sờ sờ cả đấy, nêu lên những mặt xấu hay mặt yếu của họ, thì tất nhiên sẽ làm họ phật lòng. Nhưng cái đó chỉ là một phần, ngoài ra, nói về mình là điều khó: có những chuyện rất thực mà người khác cho là mình huênh hoang. Tôi không chọn thể hồi ký vì thấy mình nên dùng phương tiện tiểu thuyết hoặc truyện ngắn thì nhân vật trong truyện không đụng chạm tới ai cả. Chung chung mà nói, thì người thực việc thực, những cảnh đã mắt thấy tai nghe trong cuộc sống, tôi đưa vào truyện. Truyện Hỏa Lò này là kết quả sáu năm tôi sống lăn lộn trong Hỏa Lò, từ xà lim ra tới ở lẫn lộn với lưu manh, các loại người tham ô, buôn gian bán lận. Tất cả toàn là người thực, việc thực. Thậm chí ngôn ngữ hay đối thoại tôi nghe trong tù, bây giờ tôi sắp xếp lại cho thành truyện để tường thuật lại với độc giả cảnh sống thực ở Hỏa Lò. Tôi sống rất lâu trong Hỏa Lò nên phải viết như vậy.
Cuốn Hỏa Lò là hư cấu nhưng không phải hư cấu. Thí dụ những nhân vật trong Hỏa Lò của tôi. Ai đã từng bị tù ở Hỏa Lò vào những năm 82, 83 đều biết nhân vật Nghiêu Ma Vương, tên do tù nhân đặt cho, nhưng tên thật là Thuận, một thượng úy già, có con bị tù. Cũng như nhân vật ‘giặc lái’ bịán tử hình, anh ta tên thật là Tâm và đánh cắp đúng 28 tấn thóc, rồi bị xử tử thật”.
Người ta đã nói đến tâm lý nhàm chán đối với những cuốn sách nói về kinh nghiệm lao tù cộng sản. Đó là một điều có thật. Nhưng còn một sự thật thứ hai nữa đó là chưa ai có quyền nghĩ như thế. Cộng sản đối với chúng ta vẫn còn đang là một thảm họa. Nhà tù là nơi cộng sản khai thác triệt để cái đói khổ, sợ hãi của con người, hủy hoại nhân tính, biến con người thành một thứ súc vật. Để làm gì ư? Để không còn sự chống đối.
Trăng Nước Sông Hồng và Sương Buồn Che Kín Non Sông là những truyện tiêu biểu cho nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Chí Thiện. Ông đã chứng minh rằng, dù ở trong chốn địa ngục như thế, cộng sản cũng không thể nào tiêu diệt hết được từ tâm của con người, hủy diệt được tình yêu giữa con người với nhau.
Sách vở của chúng ta cũng đã nói rất nhiều về lòng vị tha, tình yêu thương tương tự như một hy vọng. Nhưng hy vọng, nói như C. V. G. một nhà văn Lỗ, cũng giống như cỏ, đó là thứ có thể mọc ngay trên cả những nấm mồ.
Hỏa Lò là một tập truyện hay. Nhưng người đọc cảm thấy buồn, thương cho người và thương cho đất nước.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.