Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

22. Cạn Láng!

HAI anh nghĩa quân đầu tiên chui ra khỏi đường hầm ở đây là hai chiếc ghế bành trong phòng khách nhà Castelnau. Người cầm súng tiểu liên không ai khác hơn là Jacques Laurent Bost và bạn của anh, Serge Lasaurie, trong tay có khẩu súng trường bắn xa.

Mục giới thiệu. Tôi vừa đủ thì giờ đặt chiếc va-li xuống ở cửa vào rồi chúng tôi đi lại bàn, ăn qua loa. Trong lúc ăn, tôi được biết hai ông bạn dễ mến và cởi mở này là hai đặc phái viên của báo Nouvel Observateur mà Castelnau đã nói với tôi.

Một mặc cảm nhỏ đầu tiên tôi không để lộ là trước đây tôi không biết có tờ Nouvel Observateur, chỉ nghe Jean Pierre giải thích trên xe đó là một tạp chí rất quan trọng.

Hai anh nghĩa quân vồ lấy tôi lúc vừa đến, sau một chuyến đi mười bốn giờ không ngủ, sau một sự thay đổi hoàn toàn về giờ giấc, về khí hậu, về tất cả, phải chăng họ cố ý nhân tôi mệt nhọc mà chơi trội tôi? Có thể lắm, vì thằng cha Bost thẳng cánh rót đầy ly rượu tôi, miệng nói tôi cần lấy lại sức sau một cuộc hành trình quá dài. Nuốt xong miếng bánh sau cùng, mọi người qua phòng khách. Cà phê, whisky. Cuộc tấn công diễn ra rất nhanh.

Họ đã dùng cảm tình chinh phục tôi. Bởi vì nói đến tráo trở, nguy hiểm, giả nhân giả nghĩa, hoài nghi, không ai hơn tôi nổi. Cuộc tấn công tới tấp kéo dài bảy tiếng đồng hồ. Ba chai Whisky chỉ đem lại kết quả là làm cho Bost và Lasaurie tấn công mạnh thêm: “Chuyện này có thật hả? Có thật vậy không? Một ít hả? Rất ít hả? Nhiều lắm hả? Không bao nhiêu hả?” Hai nhân vật ấy đã quay tôi chẳng khác nào cơ quan cảnh sát Liên Bang, họ lật ngược vấn đề một cách quỉ quyệt để cho cũng cùng những câu hỏi ấy, nhưng người ta tưởng khác đi. Xin phục! Thật là những tay thủ thuật đại tài trong công việc mổ xẻ một người.

Cuối cuộc phỏng vấn, người tôi ướt đẫm mồ hôi, cởi sơ mi ra; từ lúc thức dậy đến bây giờ là hai mươi ba giờ, mà đã để ra bảy giờ trả lời các câu hỏi.

Trời, bắt đầu như vậy nhất rồi! Đúng là cảnh ở 36 đường Orfèvres, bốn mươi năm trước, nhưng thiếu đánh đập, lại có thêm tình cảm và rượu Whisky.

Tôi sung sướng đưa họ ra xe, với cảm tưởng họ mệt hơn tôi. Phải chăng tửu lượng họ kém hơn tôi.

Mọi người chia tay nhau vui vẻ. Jean Pierre nói với tôi.

– Chúng ta đi ngủ, chắc anh đừ người.

Hắn bật cười hiền hòa khi tôi nói:

– Không cần. Để lấy lại sức, chúng ta đi uống một ly tại mỗi quán trong khu phố.

Trong tiếng nhạc ồn ào hắn nghiêng sang tôi nói:

– Papi, hình như chúng ta thắng, tôi cảm thấy vậy.

Đến ba giờ sáng, sau một lần thay đổi quán rượu chúng tôi về nhà. Tôi sẽ ngủ trong phòng của cháu Jean. Hắn bồng thằng bé đang ngủ say đem để trên ghế dài phòng khách cùng với một cái gối và một cái mền.

Tôi ngả lưng nằm dài trên vải nệm còn hơi ấm của thằng bé mười một tuổi. Và tôi ngủ một giấc trong cơn lốc vần vũ, quanh tôi, thằng cha mang súng tiểu liên và thằng cha mang súng trường có kính nhắm bắn xa, đang nhảy múa một vũ điệu dân da đỏ, tiếng thét là những câu phỏng vấn nổ dòn như các tràng súng liên thanh.

– Papi, dậy!

Vừa ra lệnh dịu dàng, tay vừa lay nhẹ vai tôi, Castelnau đang đứng đó, quần áo chỉnh tề.

– Mấy giờ rồi?

– Chín giờ.

– Tối?

– Không, chín giờ sáng.

– Bạn điên rồi. Vô trách nhiệm nữa là khác. Bạn thản nhiên đi vào nguy hiểm bằng cách đánh thức tôi dậy lúc chín giờ sáng, bạn không biết sao? Cút đi, và nhanh lên!

Rồi tôi vùi đầu trong gối, túm vành gối đậy tai lại. Thằng cha vô ý thức lại thúc tôi, lần này vào ba sườn của tôi. Như một con quỉ nhảy ra khỏi hang, tôi ngồi dậy, sẵn sàng nhảy tới để tống thằng điên này ra khỏi phòng. Hắn vẫn mỉm cười:

– Thật là quá khổ, nhưng chúng ta muốn vậy. Lỗi cả tôi và cả anh. Bây giờ thì không thụt lùi được nữa, cả đống người đang chờ anh.

Trời ơi? Thế là bị lôi cuốn vào một trận bão vùng nhiệt đới. Ba Lê, một thiên đàng? Không, một con quái vật vừa tìm được con người của thời cuộc, muốn ăn tươi nuốt sống ngay. Cùng với Françoise Lebert và Castelnau, chúng tôi chạy tới chạy lui, trả lời điện thoại, chấp nhận, từ chối. Tại sao chấp nhận, tại sao từ chối? Nhưng để cho tôi thở với chứ!

– Bọn nhà báo chúng tôi nào có thở khi chạy theo anh?

– Nào phải lỗi tại tôi.

– Có, lỗi tại anh! Chúng tôi đang thung dung với cái bài báo viết về các ứng cử viên Tổng Thống, chúng tôi đang có thì giờ ăn trưa với một nhà văn tên tuổi, điềm đạm, đột nhiên anh đến. Phải tìm biết anh từ đâu đến? Đồng ý, biết rồi, anh đến từ nơi tù đày, sau khi nghỉ chân ở Venezuela. Và không những anh đến, anh còn đem lời thách thức các cơ chế bất khả xâm phạm nhất. Tóm lại, anh đến quấy rầy chúng tôi, anh còn cả gan đòi người ta để anh yên hả? Đúng là vô ý thức. Bạn ơi, từ thủ đô thanh bình của xứ Venezuela đến, bạn không biết mô tê gì ráo!

“Ở đây là một thế giới khác. Anh thuộc về chúng tôi cả đêm lẫn ngày, anh là thời cuộc lúc này, món ăn chính trong bữa tiệc, ai cũng phải ăn món này để còn có thể nói lại cho quần chúng đang chờ món ăn hằng ngày. Anh là thời sự trong thời sự, danh từ này hiểu dưới mọi khía cạnh, mọi phương diện, mọi kết luận, sự chấp nhận hay từ chối của những người hỏi anh. Không lẽ anh tưởng rằng một phóng viên, khi túm được áo anh ở cầu thang, không cho anh mở máy xe, chờ anh ở cổng nhà xuất bản, trước cửa cầu tiêu, tìm thấy nơi anh ăn bít tết, đuổi theo anh trong thang máy, chặn đầu anh như một người đi săn đối với thú rừng, theo anh ngoài đường phố, mơ ước anh vào một tiệm hớt tóc, lợi dụng hai mươi phút anh ngồi yên để đặt câu hỏi, làm như thế anh tưởng họ chơi sao? Không lẽ anh nghĩ rằng bọn tôi, những người làm nghề thông tin, chúng tôi làm tất cả chuyện ấy để cho vui hay vì yêu anh sao?

– Thế thì để làm gì?

– Vì yêu nghề nghiệp. Để làm một bài dài hơn người khác về những vấn đề người ta chưa biết. Để chứng tỏ rằng mình không ngu hơn những thằng ranh con gặp anh lúc trời vừa sáng, vì lương tâm nghề nghiệp, để ông chủ khỏi xài xễ, để khỏi phải nghe ông nói bằng một giọng chua như dấm: “Tất cả các bạn đồng nghiệp đều có một bài phỏng vấn, còn anh, anh không đem gì về cả sao? Anh có phải là một thằng ngốc không? Hay anh bất lực?”.

– Xin lỗi ông chủ. Tôi muốn để cho ông ta nghỉ một chút vì thấy ông ta quá mệt.

– Quá mệt, đứt xương sống, chân cẳng khẳng khiu, anh tôn trọng đời tư của thằng cha ấy à? Anh điên rồi, hoàn toàn điên! Nó không có quyền ngủ, không có quyền ăn theo ý nó, lâu mấy cũng được, nơi nào cũng được. Trước hết nó thuộc về chúng ta những người thông tin, để sau đó chúng ta nuôi dưỡng tính hiếu kỳ của công chúng. Vì nó là thời sự, nên chính nó phải đến với chúng ta để trình bày thời sự dưới mọi khía cạnh tùy theo sở thích của chúng ta.

Không một bữa ăn nào không có nhà báo, một hoặc nhiều người, không một bữa tiệc nào không có một nhân vật quan trọng. Có những bữa ăn rất mê ly. Ví dụ một cô Paule Neuvéglise (báo France Soir) đổ bộ từ Nouméa 1, đi thẳng đến với một chiếc máy ghi âm mà không cần tạt qua nhà mình. Chúng tôi ngồi tại quán rượu La Cafétière, đường Magatine. Nhân cách, thái độ tế nhị, trí thông minh, giọng nói êm ái, chiếc máy ghi âm không chạy, ánh mắt trong sáng ngay thẳng chứa chan tình cảm đối với tôi, tất cả đã đánh thức tôi hoàn toàn và tăng thêm hùng khí cho tôi. Và tôi nói, tôi nói, vui vẻ, thành khẩn. Trút hết tâm hồn vào một người tinh tế như vậy thật là thoải mái và say mê.

Trong một bữa ăn khác, một anh chàng sạch sẽ, gầy yếu, thẳng thắn, cởi mở, đến với tôi, tay chìa ra: “Auguste Lebreton”. Chúng tôi nói, nói, rồi tôi chạy đến nhà xuất bản ký ba trăm cuốn Papillon, để anh ta gởi cho cơ quan báo chí, rồi tôi nghe đọc danh sách những người xin gặp tôi, và tôi cần gặp, rồi tôi chào tất cả những nhân viên khả ái trong nhà xuất bản Latfont đã làm việc hơn nửa tháng để cho quyển sách tôi kịp ra.

Tôi hút thuốc, tôi ký tên, tôi nói, tôi nghe các câu hỏi, tôi trả lời, trả lời nữa, không cần nhìn người hỏi là ai, và như thế ngày này qua ngày khác, đêm này sang đêm khác, tại các văn phòng, trên đường phố, trong tiệm cà phê, trong quán ăn, trên một ghế dài xóm Pigalle, trên ghế dài ở Champs Elysées, rồi những nhiếp ảnh viên im lặng đi theo mỗi ký giả, rồi rượu Whisky uống đúng ngay tại quầy, giữa hai ngụm rượu, một ngụm uống quá gấp nên bị sặc, tôi đáp:

– Đúng vậy, người ta đã bắt tôi chịu một cực hình không khác thời Trung Cổ!

– Vô lý! Dù sao chúng ta cũng đang ở tại nước Pháp.

– Chính vì sự việc đã xảy ra tại nước Pháp, một dân tộc khai sinh bản Nhân quyền và Dân quyền nên càng kinh tởm hơn nơi khác!

Mềm người? Quá mệt? Tắt tiếng? Không, bị nghiền nát, đúng rồi, nghiền nát về tinh thần lẫn thể chất. Bất cứ giờ nào trong đêm, tôi cũng lăn ra trên giường của bé Jean, con của Castelnau, được bố nó cõng trên vai đem đặt ngủ trong phòng khách, tôi chỉ còn đủ sức tháo cà vạt và đôi giày để rồi chìm vào một giấc ngủ mê man.

Và trong trận bão, trận cuồng phong lôi cuốn như một cọng rơm, trong lúc tôi nhìn và trả lời bên trái, bên mặt, phía trên, phía dưới cho những người đàn ông, đàn bà, cho các báo, các tạp chí, tôi lại phải nói ở đài phát thanh, ghi âm những chương trình dài mười phút để phát thanh hằng ngày trong vòng từ mười đến mười lăm hôm, mắt tôi lạc thần, miệng tôi thè lưỡi, tiếng nói tôi gần tắt và tôi chạy đến các dược phòng để mua thuốc dành cho ca sĩ giọng nam kim, trong lúc tôi tìm hiểu tôi đang ở đâu, tôi tự hỏi có nên luôn luôn trả lời có tôi trong bất cứ trường hợp nào hay nên bỏ trốn, chính trong ngọn lửa hỏa diệm sơn, đẩy tôi cùng với giòng nước lửa và khói mù lên trên luồng sóng thông tin quốc tế, người ta đưa cho tôi một bức điện báo tin Nénette, nàng Nénette của tôi lúc tôi hai mươi tuổi vẫn còn sống. Tôi liền ra đi như một thằng điên trên chiếc xe cũ của Julien Sarrazin, chồng Albertine để đến thăm nàng đang nằm bệnh viện ở Limeil Brévannes.

Tôi khóc vì xúc động khi gặp lại người đàn bà tôi đã giã biệt cách nay bốn mươi năm, từ đó đến nay không hề có liên lạc gì với nàng, nàng đã già, bệnh hoạn, đau yếu vì một tai nạn, nhưng trong đôi mắt vẫn còn ánh lên ngọn lửa của người thiếu nữ can đảm, đứng đắn thời xưa. Nàng cũng khóc. Tôi dốc túi đổ hết một ít tiền còn lại và ra đi để chạy đến đám người đang chờ tôi, sau khi hẹn với nàng sẽ trở lại và không khi nào bỏ nàng, một lời hứa tôi đã giữ đúng.

Và như thường lệ, một chuyện bực bao giờ cũng đi theo một tin vui, người ta mời tôi đến cảnh sát, đường Horloge, để thông báo lệnh cấm lưu trú ở Ba Lê, để người ta khỏi phiền nhiễu quá lâu.

Trong cuộc săn đuổi mà tôi là con nai, đã có nhiều lúc trời thanh biển lặng. Một bữa ăn đáng ghi nhớ với Claude Lanzman, một nụ hôn của kỳ nữ Judith Magre. Nhưng đài phát thanh Radio Luxembourg cướp tôi cùng với Pierre Dumayer. Sau đó là với một người khác, rồi buổi tối, là một cuộc hợp tại nhà Daniel Mermet, Giám Đốc thương mại của nhà xuất bản Latfont muốn giới thiệu tôi với đoàn đại lý rất tích cực hoạt động khắp các nơi trên đất Pháp. Họ vô cùng phấn khởi: “Tiến lên, Papillon, chúng tôi đứng sau lưng anh”. Với một đoàn người như vậy, nếu không bán được quyển sách nào, thật là đáng thất vọng.

Tôi đến Combs la Ville, tại nhà cháu tôi. Hôm nay là 18 tháng 5. Mọi việc xảy ra chỉ mới tám ngày. Ngày nào cũng có những đoạn trích trong sách đăng trên báo France Soir kèm theo hình tôi. Thế là chỉ trong mấy ngày, cả nước Pháp đều đã biết, không những cuộc đời gian khổ của Papillon, mà cả cái mặt của hắn nữa. Hôm nay chúa nhật, mọi việc diễn tiến quá mau lẹ, quá huy hoàng, quá bất ngờ nên tôi ngủ mười giờ để lấy lại sức. Tôi nghỉ xả hơi một ngày kỳ diệu tại nhà vợ chồng cháu tôi cùng hai bé cháu gái; mấy đứa bé tò mò nhìn ông cậu đã được các báo nói đến nhiều, và đã có tiếng nói trên đài phát thanh.

– Cậu uống rượu hồi?

– Ừ. Rượu rất bổ ích cho cậu trong hai mươi bốn giờ sống tại thanh đảo này. Ngày mai rồi sẽ tái diễn cái trò ấy. Chán quá mất.

– Còn nhiều gian khổ nữa cậu à!

– Cháu điên rồi! Không thể gian khổ hơn được.

– Cậu sẽ thấy, không chỉ gian khổ, mà không còn chịu nổi.

Tiếng chuông điện thoại không làm tôi giựt mình, có lẽ không phải gọi tôi. Ít hôm nữa tôi sẽ gọi Rita ở Caracas để cho nàng biết trái bom đã nổ mạnh hơn là mình mơ ước.

– Vâng, ông ấy ở đây, giọng Jacques nói. Tôi chuyển máy cho ông ấy. Cậu ơi, Castelnau gọi cậu để cậu nói chuyện với Latfont.

– Cảm ơn anh đã gọi tôi. Vâng, khỏe lắm, tôi đã lấy lại sức một phần nào. Một ngày chúa nhật mùa xuân khá đẹp phải không? Anh đang nghỉ cuối tuần hả?

– Anh nên sửa soạn lên vô tuyến truyền hình trong vòng ba giờ nữa. Anh được Gaston Bonheur mời trong chương trình “Người khách ngày chúa nhật”. Khách là anh ấy, nhưng anh ta mời anh cùng với nhiều nhân vật khác. Đó là vinh dự lớn cho anh và rất quan trọng đối với cuốn sách của anh. Người ta đến tìm anh hay là anh tự đến?

– Tôi đến.

Tôi gác máy.

– Việc gì vậy, Jacques hỏi.

– Cậu được Gaston Bonheur mời vào chương trình: “Người khách ngày chúa nhật”. Các cháu thấy thế nào?

– Cậu ơi, thật là phi thường; may không thể tưởng tượng!

– Thế cậu nên đi không?

– Chạy chứ lị, cậu ơi, chạy gấp.

– Ông lên vô tuyến truyền hình phải không ông? Mấy chú bé la lên.

– Ừ, các cháu sẽ thấy mặt ông trong vài giờ nữa trên màn ảnh nhỏ của các cháu.

Vô tuyến truyền hình Pháp, Vô tuyến truyền hình của Nhà nước. Tôi, một tên tù khổ sai vượt ngục, tôi sẽ được tự do nói trên đài truyền hình chính thức ấy như bất cứ người công dân nào. Thật khó tin, nhưng có thật! Đó là nước Pháp hiện nay. Cũng nước Pháp ấy, năm 1931 đã quăng tôi xuống một cái giếng không đáy để tôi chết rục, nay cũng nước Pháp ấy muốn biết sự thật, chấp nhận trực diện với tôi. Xin bái phục.

Một chương trình phi thường đối với tôi. Người mời tôi là một nhà trí thức Pháp nổi tiếng, tác giả có sách bán rất chạy, người rất tế nhị và rất có lòng, con giáo chức như tôi. Với một độ lượng chưa từng thấy, anh ta giới thiệu tôi với nước Pháp như thế này: “Hai chúng tôi đều con giáo chức tỉnh lẻ đến Ba Lê. Hai cuộc đời khác nhau. Tôi Gaston Bonheur, tôi đi vào giới trí thức và báo chí và lập nghiệp ở đó. Anh ta, Henri Charrière, biệt danh Papillon, dừng chân ngắn ngủi cũng ở Ba Lê này rồi lên đường tù đày, vì bị kết án chung thân. Người cựu tù nhân khổ sai nay trở thành một con người như tất cả mọi người sẽ kể lại một ít về cuộc đời kỳ lạ của anh?”.

Sau cuộc phỏng vấn được Jacques Ertaud hướng dẫn hết sức tài tình, tôi ứa nước mắt khi bắt tay Gaston Bonheur và ra khỏi sân quay.

Trong quán nước, trước ly Whisky, tất cả những người cùng đi với tôi đều thú nhận đã run khi tôi bước lên sân quay: anh ta chưa quen, dám bị cứng miệng lắm, vân vân. Thế mà không, thành thật mà nói, tôi vẫn cảm thấy thoải mái. Lúc bấy giờ tôi tin chắc, họ cũng vậy, rằng tôi sẽ thành đạt trong cuộc thi khó khăn để cho cuộc phiêu lưu này được tiếp tục và thành công.

Người ta đã cho tôi biết trước, nhưng tôi không tin sẽ có những hậu quả quá mãnh liệt của chương trình truyền hình ấy. Ngày hôm sau, thứ hai, trận bão lại cuốn hút tôi một lần nữa, dữ dội gấp bội. Và các đài phát thanh, các báo, không trừ một tờ nào, yêu cầu đăng tải các cuộc phỏng vấn, rồi đòi hỏi nữa, các tạp chí cũng tham gia phong trào, vô tuyến truyền hình, báo Paris Match, tất cả đã làm tôi chạy tứ tung, ban ngày, ban đêm, ở xóm Pigalle, ở khu Bastille, tôi đến cả một trường tiểu học, để dạy cho bọn con nít mười một tuổi về tự do, màn này gây nhiều rắc rối tại Ban Giám đốc Vô tuyến truyền hình nên chương trình ấy phải cắt đi. Thế nào? Thằng cha này tưởng mình ngon lành lắm đó! Một thằng tù khổ sai vượt ngục dạy về tự do cho con em của chúng ta à? Điên hết rồi sao?

Trong cuộc sống quay cuồng ấy, tôi ngủ nhiều lắm bốn giờ mỗi đêm, đã có những giờ phút đặc biệt. Một buổi uống trà vào giấc gần trưa với Simone de Beauvoir. Tôi vô cùng cảm động khi được ngồi bên nàng. Tôi cảm thấy bản chất thượng thặng trí thức của nhà văn nữ này. Và trong khuê phòng bày biện hết sức trang nhã, mỗi tiểu tiết, là một bài thơ, ngồi cạnh người đàn bà dịu dàng, nói với tôi những lời kiều diễm, hỏi tôi một cách ân cần và hiền hòa, bỗng nhiên tôi nhận thức mà không cần suy nghĩ tôi đang ở đâu, với ai, và tôi từ đầu đến, trước kia tôi đã sống với ai. Rời phòng tối bẩn thỉu của nhà cấm cố Saint Joseph do bọn bạo dâm canh giữ thình lình hiện ra rõ ràng trong ảo giác trên chiếc dương cầm, sau pho tượng một vũ nữ mảnh mai bằng sứ, rồi mờ dần chỉ còn lại hiện tại, giờ phút đặc biệt có chiếc tượng duyên dáng tươi cười đón tiếp tôi trong ngôi nhà này y như Simone de Beauvoir đang mỉm cười nói với tôi: “Con đường anh đã đi thật quá dài và nhiều chông gai, phải vậy không? Nhưng điều quan trọng là anh đã đến bến yên lành. Xin anh hãy yên lòng nghỉ chân ở đây như tại nhà một người bạn gái.” Cổ tôi nghẹn lại vì cảm động, nên thay vì trả lời cảm ơn, tôi hít một hơi thuốc và nuốt khói một cách khó khăn. Claude Lanzman và cả ba chúng tôi đi ăn tại một nhà hàng sang trọng của đô thành Ba Lê.

Rồi tất cả lại nói đến nữa, các báo L′Express, Minute, Canard Enchainé, Elle và Figaro Littéraire. Đài Pháp thanh Europe số 1 nữa, đài phát thanh Luxembourg nữa, và nhiều người bây giờ tôi không nhớ, vì lúc bấy giờ tôi không gặp họ, không thể gặp họ. Trận bão lớn dần, lớn dần, tôi bị lôi cuốn theo, tôi là của trận bão, của người khác, tôi đến nơi nào người ta gọi, tôi ngồi nơi nào người ta bảo; mặc sức tôi nổi tức và nói ra tất cả nỗi ấm ức của tôi, tôi vẫn bị mất tự do một lần nữa, nhưng lần này tôi bị mất tự do vì quyển sách hi hữu của tôi.

Tôi đã có thể điện cho Rita: “Tất cả tiến triển tuyệt hảo, thành công lớn, hôn em?”. Ngày hôm sau tôi nhận bức điện tín: “Báo chí Caracas đã cho tin về thành công của anh. Hoan hô”. Và tôi vui vẻ nghĩ đến anh người Ý ở phi cảng, anh Mario. Người ngạc nhiên hơn hết chắc là thằng cha ấy.

Mỗi ngày tôi xem các báo, các tạp chí. Tờ Nouvel Observateur đã viết bảy trang nảy lửa với cuộc phỏng vấn của hai anh nghĩa quân. Trong tạp chí Elle, có đăng một bài tuyệt kỹ của Lanzman. Ngay François Mauriac, trong Hàn Lâm Viện Pháp, cũng có viết trong tờ Figaro Littéraire: “Bạn đồng nghiệp mới này là một bậc thầy”.

Vừa cười tôi nói với Castelnau:

– Cũng có thể một ngày nào đó, chúng nó đẩy tôi vào Hàn Lâm Viện đấy nhé.

– Nào có gì lạ đâu, hắn nói nghiêm trang như một vị giáo hoàng.

Hai mươi sáu ngày như điên, một thằng vô danh tiểu tốt như tôi bỗng nhiên trở thành nổi tiếng, được chấp nhận, được nuông chiều, trở thành một minh tinh ngay trong lòng xứ sở, trong lòng dân tộc, trong lòng đô thành Ba Lê trước kia đã đưa tôi vào cõi chết như hàng ngàn người khác ở Guyane. Làm minh tinh không phải chuyện đùa.

Sách bán mỗi ngày ba, bốn, năm ngàn quyển.

Vâng, tôi đã quen biết nhiều minh tinh kịch nghệ nhiều minh tinh màn bạc. Vâng, một nhân vật như cỡ Peter Towsend, nằm điều trị tại bệnh viện Hoa Kỳ ở Ba Lê, đã đến chào tôi. Vâng, tại nhà các bạn Armel và Sophie Issartel, tôi đã dự tiệc với những khuôn mặt danh tiếng nhất thế giới. Vâng, một họa sĩ triệu phú, Vincent Roux, bạn của Luật sư tài hoa Paul Lombard, đã dành cho tôi ngôi nhà riêng, một trong những ngôi nhà thanh lịch nhất Ba Lê. Vâng, tất cả những người quyền cao chức trọng ấy đã dành nhau để mời tôi ăn cơm.

Tuy nhiên tất cả những vinh dự ấy không làm tôi cảm kích sâu xa. Trong đời tôi đã biết quá nhiều, từ việc hay nhất đến việc tệ nhất, nên tôi nghĩ thế giới hào nhoáng này bây giờ tử tế với tôi, vì tôi là nhân vật đương thời. Nhưng sau, khi dòng đời đều đều đưa đến một vấn đề thời cuộc khác thì sao?

Điều có nghĩa lý, làm tôi cảm động là khi một cô thợ may bé nhỏ, một chú hippi dễ thương, một công nhân áo thấm ướt mồ hôi đến bắt tay tôi, nói một tiếng hoan hô và xin chữ ký trên một quyển sách hay một mảnh giấy.

Ngày 6 tháng 6, tôi về gấp Caracas, mệt nhưng sung sướng, để lại một Castelnau và một Françoise Lebert sắp kiệt lực. Lúc tôi đến phi cảng, có vô tuyến truyền hình đang đợi.

Tôi đã qua một đoạn đường dài từ những bước chân tự do đầu tiên trên mảnh đất này sau ngày được phóng thích khỏi ngục thất El Dorado!

Về đến Venezuela, Tổng Thống Rafael Caldera đã tiếp riêng tôi, cũng như đức Giám Mục Caracas, tất cả các báo, trừ một vài tờ dĩ nhiên, đều có bài chúc mừng tôi, nhất là Osera Silva, một nhà văn nổi danh, chủ nhiệm một trong những nhật báo lớn nhất Nam Mỹ, vợ chồng Osera Silva, đích thực là những người đỡ đầu cho cuốn sách, đi gởi sách tặng Pablo Neruda, và tôi hân hạnh được ông này ngợi khen trực tiếp. Chưa kể trên đài phát thanh và vô tuyến truyền hình, một người điều khiển chương trình tài tình như Renny Ottolina đã giới thiệu tôi bằng những lời lẽ hết sức nồng nhiệt.

Ở Caracas, tôi nào được yên, đâu có nghỉ. Này nhá! Tôi về chưa được mười ngày thì các phóng viên tạp chí Paris Match đặc biệt từ Ba Lê sang đã lôi tôi đi một vòng đến Guyane, đến Hải Đảo, và đến những nơi tôi vượt ngục. Tại Trinidad tôi gặp lại Master Bowen, anh luật sư đã tiếp tôi trong kỳ vượt ngục lần đầu, tại Georgetown tôi đã gặp lại Pierrot Điên cùng anh thợ sửa đồng hồ tóc bạc, và khi đến ngục thất El Dorado tôi gặp lại những bạn tù cũ đã ra rồi trở vào lại, và người ta đã chụp hình tên tôi, ngày tôi đến, ngày tôi ra trên quyển sổ của ngục thất.

Về lại Pháp đầu tháng tám, và mọi việc vẫn cứ tiếp tục.

Công chuyện kéo dài tám tháng, không ngưng nghỉ.

Trong thời gian tám tháng, tôi đã từ một hiện tượng của thời cuộc chuyển sang hàng ngũ nhà văn một mình một cõi, rồi sang hàng ngũ rất nguy hiểm của hạng minh tinh.

Trong tám tháng, hơn tám trăm ngàn cuốn sách được bán ra.

Rồi là bắt đầu những cuộc du hành đến các quốc gia đã dịch sách tôi: Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Đức, Anh, Bỉ, Hoa Kỳ, Hy Lạp. Nơi nào cũng vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình; báo chí, và tôi nói, tôi nói. Khắp nơi đều tiếp đón hết sức nồng hậu. Những ngày sáng như kim cương.

Làm thế nào tôi quên được Genève, tại đây đài truyền hình dành cho tôi một sự bất ngờ bằng cách đưa lên sân quay, trong một chương trình truyền hình trực tiếp, người đã đưa Chúa Kitô vào nơi tù đày, Trung tá Péan; ông này đã trung thực nói rằng những gì tôi kể lại về nơi tù đày không những đúng sự thật mà còn dưới sự thật. Làm thế nào quên được cuộc viếng thăm nhiều giờ tại nhà Charlie Chaplin, ở Vevey, cùng buổi tiếp tân tại nhà con gái của ông? Và cuốn phim của vô tuyến truyền hình Bỉ tôi xuất hiện chung với Georges Simenon? Làm thế nào quên được tình bạn vững chắc, không bao giờ thay đổi của một nhà thơ như Jacques Prévert đã tặng tôi tất cả sách do anh ta viết, trên mỗi cuốn anh có vẽ những bức hình kỳ lạ, tuyệt kỹ?

Tại Hy Lạp, tôi được biết người ta cho ra hai quyển “chống Papillon” để hại tôi. Bỗng nhiên có những kẻ thù vô thường, mình không làm gì họ, ngay cả không biết họ là ai, quả là một điều vô cùng khích động.

Tôi đã thành thật kinh khủng trong nhiều lần trả lời các cuộc phỏng vấn về nền công lý hiện tại của nước Pháp. Đặc biệt là trong một chương trình “Tờ báo bất ngờ” của đài Vô Tuyến truyền thanh truyền hình Luxembourg ngày thứ bảy buổi trưa, người điều khiển chương trình là một nhân vật được mời đến, một nhân vật của thời cuộc do một lý do này hay một lý do khác. Thứ bảy hôm ấy, chủ bút “Tờ báo bất ngờ” là Papillon. Bên mặt là Jean Pierre Farkas, bên trái là Jean Carlier. Về phần thời sự trong ngày thì khá dồi dào. Một đằng là vụ một nữ Giáo sư bị người ta đưa đẩy đến chỗ tự tử, Gabrielle Russier, đằng khác là vụ một người thư ký bị cáo về tội mưu sát, Devaux.

– Papillon, anh có ý kiến như thế nào về các vụ án này?

Tôi thấy ngay nguy cơ. Nếu không trả lời, nếu trả lời quanh co, người ta sẽ bảo: “Papillon đã say men chiến thắng, đã trở thành tự phụ, đã quên nó từ đâu đến. Nó không còn muốn cộng tác với những người thông tin đã giúp rất nhiều cho nó được nổi tiếng. Quả là một đứa ích kỷ, vô ơn bạc nghĩa”. Còn nếu tôi vâng, nếu tôi trả lời đúng ý nghĩ của tôi cho tất cả các câu hỏi, người ta sẽ bảo: “Papillon bây giờ là “Người biết tất cả”, giải đáp tất cả mọi vấn đề, khuyến cáo về bất cứ việc gì, kể cả cách nấu ăn và hơn thế nữa, một anh cựu phạm tù đày, lại tự cho có quyền dạy chúng ta về những điều nên làm, những điều không nên làm. Thật hết chịu nổi”.

Vậy thì đằng nào cũng kẹt, thà cứ xông tới, nói trắng ra những điều tôi nghĩ, phương chi tôi không có cách gì làm khác một khi tôi say mê một vấn đề.

Dĩ nhiên là có những nhà báo sẽ nghĩ: “Không thể kéo dài tình trạng này. Mình đã đẻ ra nó, đã biến nó thành một người hùng, thế thì bây giờ mình đập nó. Sẽ vui lắm, lại có tiền nữa. Chúng ta đã bán nó về trước, chúng ta hiện đang bán nó, thế thì chúng ta sẽ bán nó về sau”.

Chương trình của Vô tuyến Truyền thanh Truyền hình Luxembourg về vụ án Russier và vụ án Devaux, mà về sau Edgar Schneider có viết: “Papillon đã làm rung chuyển đài Luxembourg, hiện đang còn rung chuyển vì phẫn nộ” chương trình ấy là một trong hai giọt nước đã làm cho nước trong chậu tràn ra.

Giọt nước kia là tôi đã đích thân được mời với tư cách “người hưởng dụng công lý” bởi những người làm luật, say mê công lý và chiếu cố đến những người chịu đựng công lý. Công việc diễn ra trong tòa nhà cổ kính của Luật khoa Đại học đường Ba Lê. Một tên cựu tù khổ sai ngồi cạnh luật sư Jean Lemaire, Chủ tịch Luật Sư Đoàn Ba Lê, được các nhân vật danh vọng như giáo sư Baruk, Chủ tịch Luật sư Stancier, Tổng Thư ký Hiệp hội quốc tế phòng ngừa tội phạm, mời đến để phát biểu ý kiến, đó là một chuyện không thể chịu được, phải bịt miệng thằng Papillon, ít ra là hạ uy tín của nó.

Rồi một thằng cảnh sát, đích thực là một loại “văn sĩ cảnh sát”, như lời báo La Suisse viết sau này, đã nhờ sự che chở của một quận trưởng cảnh sát, cho ra một cuốn sách như tôi.

Trong đời có những cảnh ngộ hoàn toàn trái ngược nhau, mỗi bên ở một thái cực.

Anh đã biết thiên đàng chưa?

Anh đã lên thiên đàng, ở đó mọi người đều khả ái, đều chào hỏi anh, ca ngợi đức độ của anh chưa?

Anh đã lên thiên đàng, ở đó không khí bàng bạc tiếng nhạc được sáng tác cho anh, điệu nhạc thánh thót dịu dàng quyện lấy anh chưa?

Anh đã lên thiên đàng, ở đó các thiên thần mỹ miều đến với anh tay cầm mảnh giấy nhỏ để xin chữ ký quí hóa của anh chưa?

Anh đã lên thiên đàng ở đó tất cả những điều anh nói, anh làm đều được khen ngợi chưa?

Anh đã lên thiên đàng ở đó người ta nhờ anh giải đáp mọi vấn đề và đều được chấp thuận chưa?

Anh đã lên thiên đàng ở đó con cháu những người đã ngược đãi anh nay xin anh tha thứ cho họ và lên án những việc làm của cha ông họ chưa?

Anh đã lên thiên đàng ở đó các giáo sư nghe anh nói chứ không nói chưa?

Anh đã lên thiên đàng ở đó những tay cao thủ giới văn chương nhận anh và hoan nghênh anh chưa?

Nhưng anh đã giã từ thiên đàng cùng các cặn bã lưu lại sau các cuộc vui kỳ ảo được vứt vào lỗ cống chưa?

Anh đã đến các lỗ cống, ở đó bọn chuột đồng dành nhau từng mảnh nhỏ bánh mì anh vứt ra?

Anh đã bị một đám người ganh tị, đố kỵ, tham lam, một đám dòi bọ sống trong các lỗ cống, vứt anh vào đó, tuy rằng trong vũng nước thối tha ấy chúng cũng vẫn sinh sôi nẩy nở chưa?

Anh đã đến các lỗ cống, ở đó những người bị đời đánh ngã, những mảnh vây cũ do con bướm bỏ lại sau khi tung cánh bay lên, đang lê cuộc sống gãy đổ trong chua xót và hận thù, từ bao năm chìm đắm trong bóng tối của vô danh chưa?

Anh đã rơi vào trong các lỗ cống, bị kéo, bị đày, bị lôi đến bọn người điên dại chỉ biết một điều, có thể cắn anh để đưa vào thịt anh chứng bệnh ghê tởm của họ. Vì họ không thể nào tha thứ sự thành công của anh chưa?

Có hay không, anh đã biết thiên đàng ấy, lỗ cống ấy?

Có hay không, anh đã biết hai mặt ấy của Ba Lê?

Có lẽ anh không biết mặt nào hết.

Tôi đây, tôi đã biết cả hai.

Giờ đây chỉ còn lại hàng ngàn bức thư, hàng ngàn chứng tích từ nhiều nước gởi đến, trong đó bạn đọc la lớn:

– Papillon, chín nút! Ít ra trong đời khốn khổ của mày, cũng có một lần mày ăn trọn! Lùa tiền đi! Mừng cho mày.

Về đến Caracas, cũng có thiên đàng với lỗ cống.

Trong căn nhà chúng tôi, cũng vẫn căn nhà cũ, của thời địa chấn, trong khu phố nửa bình dân ở Chacaito, trên bàn giấy trước đây tôi ngồi để viết cuốn Papillon, tôi mơn trớn xác bảo vật đã lượm lặt trong cuộc phiêu lưu kỳ ảo này.

Tôi đã dở lại các bức thư, hằng trăm, hằng ngàn bức thư đòi tôi viết quyển sách này, những bức thư từ khắp nơi trên thế giới; trong các bức thư những tâm hồn đã mở rộng, đã kể ra những gì sâu kín nhất: “Nhờ anh, nhờ cuốn sách của anh, tôi đã không tự tử, tôi đã để trôi qua giờ tìm về cõi chết, tôi đã tìm lại niềm tin tưởng vào cuộc đời, tôi đã thay đổi nếp sống, tôi đã khống chế được một cảnh ngộ mà tôi tưởng không thể nào thắng nổi”, những bức thư trong đó già, trẻ, trai, gái khắp thế giới giải thích rằng cuốn sách của tôi đã đem đến cho họ tính vừa cương vừa nhu cần thiết để yêu đời và vui sống.

Tôi say mê cuộc sống phiêu lưu, chơi cạn láng, thua rồi chơi lại, một cuộc sống phong phú luôn luôn mới đối với ai thích hiểm nguy; một cuộc sống khiến con người rung cảm đến tận cùng cơ thể, một cuộc sống hồi hộp mỗi khi con người chuyển động, mỗi khi con người nhảy qua cửa sổ lao mình vào cuộc phiêu lưu ngang tầm tay của mọi người, ở ngay trước ngõ nếu người ta hết lòng mong ước, một cuộc sống trong đó không bao giờ anh thất bại bởi vì chính ngay lúc anh thua một trận, anh lại chuẩn bị một trận mới với hy vọng lần này sẽ thắng, một khát vọng được sống dồi dào không bao giờ nên đè nén, ở bất cứ tuổi nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, con người phải cảm thấy trẻ mãi để sống, sống hoàn toàn tự do, không một ngăn cách nào có thể giam hãm mình trong bất cứ một nơi nào hay một tập thể nào.

Vì thế mà sau vụ chơi cạn láng với cuốn sách của tôi, thay vì rên siết rồi mua một mái nhà an hưởng tuổi già, tôi đã thực hiện một cuốn phim trong đó tôi chơi nhiều, tôi thua nhiều, cuốn phim mang tên Popoy Pop.

Vừa là tác giả, đạo diễn, diễn viên, đây cũng lại là một dịp để hưởng thú được thua, để có những cảm giác mạnh. Về phương diện cảm giác, thì vẫn có, nhưng lần này tôi đã thất bại. Tôi đã thua trong canh bạc này.

May mà còn nhiều canh bạc để chơi. Chắc chắn tôi sẽ chơi cạn láng một lần nữa. Khi nào? Cần gì biết, đời còn đẹp biết bao!

Hẹn gặp lại.

PAPILLON

Fuengirola, tháng 8 năm 1971

Caracas, tháng 2 năm 1972.

——————————–

1          Cayenne: Thủ đô xứ Guyane thuộc Pháp, nơi đày ải các người bị xử án khổ sai biệt xứ.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 29 June, 2023

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Kỳ 9

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi ước đoán vùng địch tập trung các cỗ pháo là khu ngã ba Plei Xôm nên vội ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Như dùng 105 ly cơ hữu của Pleime bắn cầm canh trên vùng này để cản bước địch. Ðúng 4 giờ sáng, tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo có 3 chiếc tank của Việt-Cộng bị vướng mìn đang nằm im dưới chân đồi. Hai bên đường Tỉnh Lộ 6C đoạn từ Ðồi Tử Chiến về Nam có một bãi mìn chống chiến xa dài nửa cây số do Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu thiết lập.

Như vậy Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu là đơn vị có công đầu trong việc tiêu diệt ba chiếc xe tank của Việt-Cộng sáng 14 tháng 4 năm 1974 tại vùng 20 cây số Tây Nam Pleiku. Tôi cho lệnh tiền đồn Ðồi Tử Chiến cho người xuống dùng M72 bắn bồi thêm cho mấy chiếc T54 cháy luôn, nhưng không còn nghe tiếng tiểu đội này nữa. Tôi nhớ lại chuyện xe tank địch công khai xuất hiện giữa ban ngày trong trận Lệ Minh và Bu Prang nên vội vàng gọi cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn 22 ở Hàm Rồng để xin máy bay can thiệp gấp. Nào ngờ, cấp trên đã trả lời rằng hiện thời không quân đang bận bao vùng cho một đơn vị bộ binh chạm địch nặng vùng Tây Pleiku.

Túng quá, tôi bèn vẽ một ô vuông mỗi chiều 200 mét kéo dài từ Ðồi Tử Chiến về hướng Bắc, rồi xin pháo binh bắn liên tục hy vọng cản được đường tiến của cơ giới địch. Tới 5 giờ sáng, địch âm thầm dàn hàng ngang trên bờ con thông thủy nằm giữa Cứ Ðiểm 711 và Plei Ngol Ho rồi đồng loạt hò reo, xung phong lên bờ tường Ðông của 711. Có lẽ đơn vị này xuất phát từ làng Siêu 1 (Plei T’Seo 1) rồi di chuyển theo lòng con suối cạn để tới tuyến xung phong. Con suối này là nơi các ông lính pháo binh đã xuống lấy nước và phát giác ra đường dây điện thoại nhưng không báo cáo.

Hình như địch không biết bên Plei Ngol Ho có người, nên vô tình chúng đã đưa lưng làm bia cho Biệt Ðộng Quân và M113 nằm trong bìa rừng nhắm bắn thả giàn. Sáu khẩu đại liên 50 đặt trên M113 đồng loạt bóp cò tập trung về một hướng khiến cho cả một vùng bụi đất tung bay, mịt mù. Ðơn vị địch hiện diện có thể là một tiểu đoàn. Tất cả bốn đợt xung phong của địch đều bị bẻ gãy. Trung úy Nguyễn Trọng Thọ báo cáo rằng qua bốn đợt xung phong, đã có năm hay sáu cán binh lọt được vào trong vòng rào 711, nhưng quân ta đã bắn hạ hết những tên này.

6 giờ sáng thì tiếng súng im, không còn bóng dáng địch, tôi cho một trung đội ra thu lượm chiến lợi phẩm đem về sân trực thăng. Mấy anh lính kỵ binh của Chi Ðoàn 3/19 cũng hí hửng xuống xe, chạy theo phụ giúp Biệt Ðộng Quân. Ðánh nhau mới có vài tiếng đồng hồ mà vũ khí của địch đã bị ta tịch thu chất thành đống lớn. Trung úy Trần Dân Chủ tíu tít quanh khu đất chứa chiến lợi phẩm mà chụp hình lia lịa. Chủ tới bên tôi,

– Kỳ này đi buôn lời to! Mình lấy được gần ba trăm khẩu súng rồi đó ông ơi!

Tài liệu thu được từ xác những tên địch trên bãi cỏ hướng Ðông 711 cho ta hay đơn vị của chúng là Tiểu Ðoàn K2, Trung Ðoàn E48 của Sư Ðoàn 320A. Tôi lần bước theo bờ thành của 711 để quan sát trận địa thì thấy hàng chục tên địch nằm phơi thây bên bờ cỏ Tỉnh Lộ 6C. Tôi tò mò ngồi xuống quan sát một cái xác cán binh bị bắn vỡ đầu; chiếc nón cối mất một miếng to bằng bàn tay; bên ngoài cái nón có hàng chữ bằng mực xanh ghi tên đơn vị của người đã chết; tôi chỉ đọc được chữ “D” và số “0”; còn con số ở giữa không rõ là “1” hay “2”; kế số “0” là hai chữ “TS”. Do đó tôi chỉ đoán mò có thể đơn vị của tên Việt-Cộng này là Tiểu Ðoàn D10 hay D20 Trinh Sát. Từ đó tôi đưa ra kết luận cho rằng sáng nay địch đã sử dụng một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trinh sát để đánh tôi. Tôi gọi đài tiếp vận Hàm Rồng báo cáo tên các đơn vị địch tham chiến mà tôi vừa phát giác cho Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thì họ trả lời rằng họ đã biết hết rồi! Họ còn nói rõ rằng, ngoài Tiểu Ðoàn K2 của E48 và D20 Trinh Sát địch còn tung vào trận một đại đội xe tank của D16, nhưng xe tank bị vướng mìn hư hại, không tham chiến được. Tôi nhớ lại lời nhắn cách nay hai ngày của anh bạn Ðồng Ðăng Khoa:

“Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!”

Sau đình chiến, ta và địch đánh nhau cứ như đánh bài lật ngửa, lực lượng địch gồm những đơn vị nào ta đều biết, ta như thế nào địch cũng biết. Có điều cấp trên cứ giấu giếm thực lực địch, không cho cấp dưới biết chỉ vì sợ cấp dưới thấy địch mạnh quá hoảng hồn, không dám đánh! Tôi chợt chạnh lòng nghĩ lại, hiện giờ tôi cũng ở vào tình trạng không khác gì anh Quang Con và chú Hoàng Nghĩa Hội trong trận Lệ Minh tháng 9 năm 1973.

Rồi đài tiếp vận Hàm Rồng lại chuyển lệnh cho tôi cố duy trì đương cự được một ngày thì tôi sẽ có người vào tiếp viện. Trung úy Chủ, Sĩ quan Ban 3 cho tôi hay tổng kết thiệt hại của ta tính tới giờ phút đó đã có 12 Biệt Ðộng Quân và 10 Kỵ Binh tử trận. Số người bị thương là 28 người. Tất cả thương binh và xác người chết đều được tập trung ở bãi trực thăng hướng Bắc Plei Ngol Ho chờ phương tiện di chuyển. Ðại úy Xá cũng báo cáo rằng có 6 chiến xa bị cháy, hai sĩ quan và tám binh sĩ tử trận. Hiện thời trong 711 chỉ còn 6 chiếc M113, nên ông Chi đoàn trưởng đã tái phối trí những chiếc xe này thành những pháo đài vững chắc sau tường đất. Riêng chiếc M113 có khẩu 106 ly không giật được đặt ở góc Ðông Nam 711 họng súng nhắm ngay con dốc dưới triền đồi, địa thế nơi đây bắt buộc cơ giới phải đi theo hàng dọc từng chiếc một. 7 giờ sáng từ hướng suối địch lại ào ào xung phong lên. Chờ cho tiền quân địch tới sát bìa rào, ta mới nổ súng. Ðịch tháo chạy rồi, quân ta mới mau chóng ra kiểm soát kết quả. Ðại Ðội 3 mang về gần chục khẩu AK và hai cái ba lô.

Tôi mở một cái ba lô của tên cán binh vừa chết ra xem, thì thấy bên trong, ngoài hai bộ quần áo kaki xanh, một tấm vải dù, một cái bát, một cái muỗng bằng nhôm, một cây bút bi, còn có một bì thư đã dán kín nằm kẹp giữa một quyển sổ tay. Quyển sổ tay này là nhật ký của cán binh Lưu Sỹ Hồng quê quán Bắc-Thái.

Nghe ban Truyền Tin báo rằng sắp có tải thương, tôi đi ra bãi trực thăng, trên tay là quyển nhật ký và cái bì thư. Sau khi thăm hỏi an ủi các thương binh, tôi cũng ngồi xẹp xuống bãi cỏ mở cái bì thư ra xem thì thấy thư đề tên người nhận là Mạc Thị Huệ ở Bắc Thái. Thư mới viết, nét chữ anh chàng cán binh này không những không được cứng cáp mà còn có vẻ ẻo lả như chữ con gái. Mở đầu là một bài thơ ngắn, không rõ người viết thư đã sáng tác hay đã cóp nhặt từ ai,

“Em ơi!

Em hãy nhớ lời anh giờ chia tay

Ðường đi Bê ngút ngàn quan tái

Anh vẫn mang trên vai bóng hình người ở lại…

Ðất nước thanh bình anh sẽ về

Một mái tranh, một mảnh vườn quê

Trước sân nhà,

anh sẽ trồng thật nhiều hoa Hồng và hoa Huệ…

Anh sẽ về!

Anh hứa với em…”

Hai chữ “Hồng” và “Huệ” đều viết hoa và tô đậm. Huệ là tên người đợi chờ, Hồng là tên người đi B. Không biết tới bao giờ người đợi chờ mới biết tin người đi B đã mãi mãi không về? Tôi chưa đọc tiếp xem trong quyển sổ đã ghi chép gì thì nghe từ xa có tiếng trực thăng “Bạch! Bạch!” vọng lại. Tôi bỏ cái bì thư và quyển sổ tay vào cái ba lô chiến lợi phẩm. Tôi đứng chờ chỉ mấy phút sau thì Ðồng Ðăng Khoa sà xuống lơ lửng trên Plei Ngol Ho. Bay với Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa ngày hôm đó là Thiếu úy Võ Văn Phương, một thuộc cấp cũ của tôi ở Phòng 2.

Trong lúc Thiếu tá Khoa lo đạp mấy thùng súng M72 và đạn M16 xuống đất thì Thiếu úy Phương lo đỡ mấy Biệt Ðộng Quân bị thương nhẹ lên tàu. Thấy tôi, ông Phương giơ tay chào. Tôi leo lên càng trực thăng, đưa cho Thiếu úy Phương cái ba lô tài liệu rồi hét lớn,

– Nộp cái ba lô này cho Phòng 2 quân đoàn!

Thiếu úy Phương chụp cái ba lô ôm vào lòng, rồi nắm tay tôi, ân cần,

– Ông thầy ơi! Nhớ cẩn thận nghe ông thầy!

Chỉ ít lâu sau ngày cái ba lô được giao cho quân đoàn thì bài thơ của Lưu Sỹ Hồng đã xuất hiện trên những tờ truyền đơn kêu gọi cán binh Cộng-Sản ra chiêu hồi. Cũng nhờ những tờ truyền đơn này mà mấy chục năm sau tôi còn nhớ từng chữ, từng câu trong bài thơ tình của người cán binh trẻ tên là Lưu Sỹ Hồng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Công tác tải thương vừa bắt đầu đã nghe “Choác! Choác!” tiếng 12.7 ly và tiếng cành cây gãy răng rắc. Chiếc trực thăng vội vàng cất mình phóng thẳng xuống thung lũng hướng Ðông rồi biến trong màn mưa. Tôi đành cho lệnh khiêng các thương binh nặng đang nằm trên cáng về lại hầm thuyết trình.

7 giờ 30, pháo tầm xa 122ly và 105ly của địch từ vùng Tây Nam lại dồn dập bắn tới tấp trên 711. Ðợt pháo kích này kéo dài đúng nửa giờ thì chấm dứt. Rồi tình hình bỗng trở lại yên ắng một cách lạ kỳ. Chờ mười phút sau không thấy động tĩnh của địch, tôi nghi ngờ rằng chúng đang chuyển quân. Tôi ra lệnh cho Trung úy Danh gọi Pháo Binh từ Ngã Ba Mỹ-Thạch đánh hai hàng rào cản, cách 711 đúng 200 mét về hướng Nam và 200 mét chính Tây để ngăn địch. Năm phút sau khi đơn xin pháo binh gửi đi thì một chuyện bất ngờ đã xảy ra! Ðó là, thay vì đạn pháo bạn bắn từ Mỹ-Thạch phải rơi ngoài hàng rào thì chúng lại rơi ngay trên đầu Căn Cứ 711. Tôi tưởng đây là tai nạn tản đạn, nên cho ngừng pháo binh, rồi gửi tọa độ điều chỉnh lại. Nhưng! Ô hô! những quả đại bác kế tiếp vẫn rơi trên đầu quân ta!

Tức quá, tôi hét lên trong điện thoại,

– Ê! Danh! Mày là nội tuyến phải không? Sao mày cứ bắn lên đầu quân mình vậy?

Lúc đó Trung úy Danh cũng quýnh lên,

– Trình Thiếu tá! Em cũng không biết vì sao tụi nó lại bắn không đúng tọa độ mình xin. Ðể em hỏi lại.

Không lâu sau, Danh rối rít,

– Thái Sơn ơi! Nội tuyến! Pháo Binh ngoài Mỹ-Thạch có nội tuyến! Chúng nó sửa tọa độ xin yểm trợ của mình nên xảy ra chuyện vừa rồi. Mấy thằng nội tuyến đã bị bắt rồi!

8 giờ 30 đứng trên tường đất của Plei Ngol Ho, tôi thấy Ðồn 711 tiếp tục hứng đạn 122ly và AT3, cứ phừng lên từng chập như chớp giật, chói lòa không khác gì một chảo lửa. Tôi ra lệnh cho Ðại úy Xá rút tất cả những chiến xa còn lại chạy về Plei Ngol Ho càng nhanh càng tốt. Lệnh ban ra được vài phút thì bốn chiếc M113 nối đuôi nhau chui khỏi màn khói.

Ðoàn xe chạy được một đoạn trên Tỉnh Lộ 6C thì bị một bức tường lửa B40 hạ gục. Cùng lúc đó, là tiếng hô “Xung phong!” vang trời của hàng trăm tên địch đang dàn hàng ngang ào ào tiến lên từ triền dốc hướng Tây.

Những người lính thoát ra từ bốn chiếc M113 vội vàng nhào xuống núp dưới cái thông thủy bên cạnh Tỉnh Lộ 6C. Ngay lập tức, tất cả M113 của Ðại úy Xá trên Plei Ngol Ho được lệnh quay súng về bên phải để tưới đạn lên đoàn quân Việt-Cộng vừa xuất hiện. Ðơn vị địch mới tràn sang từ hướng Tây là Tiểu Ðoàn K1 của E48 Cộng-Sản. Tiểu Ðoàn K1 là một trong chín tiểu đoàn chủ công của trận đánh này nhưng đã tới trễ vì gặp trở ngại khi vượt sông Ia Meur. Ðịa thế vùng Bắc của Ðồn 711 hoàn toàn bằng phẳng và trống trải, do đó đối mặt với M113 thì K1 phải tháo chạy.

Ngày di chuyển từ Pleime ra đây, tôi chỉ đem theo một khẩu cối 4.2 và 300 viên đạn. Cối 4.2 tức là cối 106ly. Khẩu 4.2 này do Mỹ để lại, nằm ngoài bảng cấp số, do đó chỉ có những thùng đạn tồn trữ trong Pleime, bao giờ Pleime không còn loại đạn này thì khẩu súng cũng coi như đồ bỏ. Từ khuya hôm nay, một nửa số đạn đem theo đã được tôi sử dụng đánh trên trục tiến của địch vùng 1 cây số Nam của đồi Tử Chiến.

Giờ đây tôi bắt buộc phải dùng khẩu cối này để bắn bao trùm một vành cung hướng Tây của 711 thì chắc chắn không lâu sẽ chẳng còn viên đạn nào! Lúc này bên ngoài tường đất hướng Tây của 711 xuất hiện từng chùm lửa đỏ loé lên với những cụm khói đen bốc cao cùng tiếng “Oành! Oành!” liên tiếp nhau. Như vậy là Công-Binh Việt-Cộng bắt đầu dùng bangalore để phá rào!

Tôi gọi Trung úy Thọ và ra lệnh,

– Chúng nó đang phá rào! Chú cho anh em dùng lựu đạn tối đa để chận không cho chúng nó xung phong.

Lựu đạn nổ đùng đùng trên bờ Tây 711 một hồi thì không thấy bộc phá nữa. Lại một đợt pháo 105 ly và 122 ly kéo dài mười phút. Thêm hai chiếc M113 thoát chạy ra cổng, rồi bị B 40 bắn cháy ngay trước cổng. Hình như có ba bốn anh lính kỵ binh phóng ra khỏi xe chạy nhanh sang Plei Ngol Ho. Như vậy tính tới giờ này ta đã thiệt mất 12 chiếc M113.

Ðại úy Xá báo cáo với tôi,

– Hiện thời tui chỉ còn 6 chiếc M113, mà cũng sắp hết đạn rồi. Thái Sơn tính sao?

Tôi trả lời không suy nghĩ,

– Chờ đi! Chút nữa tôi sẽ gọi máy bay tới đạp đạn xuống cho anh!

Pháo chấm dứt, Công-Binh Việt-Cộng lại bắt đầu dùng bangalore phá hàng rào hướng Nam, nơi có hai ụ pháo binh cũ. Khói bộc phá vừa tan thì địch quân đã ào qua tường đất cùng với tiếng AK “Cành! Cành!’ nổ giòn. Ngoài rào còn có tiếng thúc quân oang oang, “Xung phong! Xung phong!” của địch phát đi từ một chiếc loa cầm tay.

Cùng lúc, là tiếng Trung úy Thọ la thất thanh trong máy,

– Tụi nó đã chiếm mất nửa phần Nam căn cứ! Em đánh dấu khói vàng, Thái Sơn cứ cho pháo binh bắn từ đó về Nam cho em!

Trên Ðồn 711, bóng người chạy xuống, chạy lên thoăn thoắt ẩn hiện trong màn khói. Sau khi chỉ cho Trung úy Danh mục tiêu cần trực xạ, tôi chạy sang khu thiết giáp, ra lệnh cho Ðại úy Xá bắn tập trung vào đoạn Tỉnh Lộ 6C tiếp giáp với bờ Nam của 711, rồi gọi cho Thọ:

– Chú cho anh em từ từ rút ra đường rồi chạy thẳng sang khu thiết giáp, anh đã ra lệnh cho M113 bắn cản đường cho chú chạy!

Năm phút sau có tiếng Thọ vừa thở hổn hển vừa thều thào,

– Em bị gãy chân rồi Thái Sơn ơi!

Tôi ra khỏi hầm truyền tin cho lệnh Chuẩn úy Trâm,

– Chú đem toàn bộ Trung Ðội Trinh Sát đi cứu thằng Thọ! Mau lên!

Tôi đã nhìn rõ các hướng tiến của địch, nếu có thêm quân, thì tôi dư sức đánh bọc trái hay bọc phải để giải tỏa áp lực của chúng. Khổ nỗi, hiện thời, trong tay tôi chỉ còn Ðại Ðội 3 cùng 6 chiếc M113 thiếu đạn, hai khẩu 155 ly cũng chỉ còn vài chục viên, nếu sau khi thanh toán xong Ðồn 711 mà Việt Cộng thừa thắng tràn sang Plei Ngol Ho, chắc chắn tôi sẽ nguy to.

“Ngàn năm bia miệng”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 10 Jun 2015 

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Bài 20

Sau vụ “Mười ba con ma”, một hôm Công An “biên chế” về “Trại Đá” khoảng hai chục người Thượng, hình như họ bị bắt trong một vụ Fulro (1) nổi loạn.

Toán người Thượng nầy bị sống biệt lập, cái gì cũng biệt lập. Họ ở riêng một nhà giam. Mỗi nhà thường giam ít nhất sáu chục người thì nhà họ chỉ có hai chục người của họ với nhau. Tập trung ở sân trại đi lao động cũng bị Công An bắt ngồi riêng môt góc. Sau khi tất cả các đội bị gọi đi lao động cả rồi mới tới phiên họ đi. Ngày nghỉ, họ bị giam trong sân riêng nhà của họ, không được xuống bếp xin nước hay nấu nướng gì. Vả lại, không thấy ai trong bọn họ được thăm nuôi, lấy gì mà nấu nướng. Có lẽ gia đình họ nghèo lắm!

            Tối lại, sau khi điểm danh xong, họ vào nhà, cửa đóng lại. Phía ngoài cửa gài một cây “song hồng” vừa to vừa nặng, người ở phía trong không sao mở ra được.

            Vậy rồi một buổi sáng, khi cán bộ trực trại đến mở cửa điểm danh thì cửa đã mở sẵn rồi. Nhìn vào trong, chẳng còn “anh Thượng” nào cả. Hình như mấy “anh Thượng” đã “thượng lộ” vào lúc nửa khuya, hai chục người đi hết, chẳng còn ma nào ở lại.

Hai chục người cùng trốn một lần mà không bị lộ. Sao họ tài thế!?

Chưa bao lâu thì có hai người, không nhớ đội nào, thuộc gian nhà gần nhà bếp. Do gia đình thăm nuôi, họ được một cái cưa sắt dài bằng ngón tay. Họ cưa song sắt ở cửa sổ trong phòng đựng đồ, không phải chỉ trong một đêm mà kiên trì nhiều đêm. Cho đến một đêm nào đó thì xong. Thế rồi, họ bẻ cong song sắt, chui ra.

Biết phía ngoài trại có bọn tuần tiểu nên họ nằm chờ ở cái balcon sau cửa hội trường đang xây dở chừng, chờ khi trời gần sáng, toán Công An phục kích ở ngoài rút về, họ mới quăng giây leo qua hàng rào xây bằng gạch lốc, phía trên có rào kẽm gai, đi thẳng vào rừng.

Sáng ra, cán bộ trực trại vào điểm danh, thấy thiếu người, thấy cây song cửa sắt bị bẻ cong, họ mới biết có hai người trốn trại. Khi đó cũng đã trễ, hai người trốn trại đã đi xa lắm rồi.

Một hôm, chúng tôi cuốc đất gần ranh giới Trại A cũ. Tuy không thấy nhau rõ, nhưng cũng thấy bóng người xa xa đang cuốc đất bên ấy. Bỗng nhiên, chúng tôi nghe phía bên ấy có tiếng người la, có bóng người chạy sang phía xóm nhà “Kinh Tế Mới.” Rồi nhiều tiếng súng nổ, bóng người chạy ngã xuống. Chắc là trốn trại, bị bắn. Quả thật y như vậy.

Quản giáo Hoành biểu chúng tôi tập họp cuốc và người lại, ngồi quanh bếp lửa, vừa ăn khoai mì vừa chín xong, vừa uống nước. Chúng tôi không nói cười như lệ thường. Cũng theo lệ thường, mỗi khi ra tới rẫy, “Khiêm nấu bếp” mang tới cho vệ binh một “gô” – (“loon” Guygoz) nước trà, cho bọn chúng uống chơi, xong, có thêm một “học viên cải tạo” khác nữa, do Đội Trưởng Đông chọn, đi tới khu trồng mì gần đó, đào một thùng đầy, đem ra suối rửa, lột vỏ, nấu chín.

“Trò” nầy là do Đội Trưởng Dương Tiến Đông bày ra, nhằm “mua chuộc cán bộ”, để chúng tôi cuốc đất tà tà, khỏi nặng nhọc. Tiền mua trà, đôi khi thêm vài cái kẹo nữa, là do “ông Đội Trưởng” của chúng tôi “mua bán linh tinh” với xóm dân ở đầu xóm, trên con đường từ Ga Giá Rai đi Vỏ Đắt, Vỏ Xu.

Anh em chúng tôi khoái cái trò nầy của Dương Tiến Đông lắm. Vừa ít mệt, lại có khoai mì ăn đều đều mỗi ngày.

Hôm nay, chúng tôi vừa sà xuống ăn khoai mì – dĩ nhiên phải có một dĩa “dành riêng cho cán bộ” – thì quản giáo Hoành nói: “Ăn xong về, có lệnh về sớm.”

Có lẽ do vụ trốn trại, có người bị bắn chết, sợ chúng tôi giao động nên cho về sớm đấy. Do được về sớm, nên “Ngọc xùi” vui vẻ nói: “Bữa nay vui quá!”

Anh Lã Trung Tâm nói: “Có người chết mà vui gì! Cái thằng vô tâm nầy!”

Từ lời nói của anh Tâm, nhiều người chê “Ngọc Xùi”, khiến anh ta ra ngồi một góc, mặt buồn hiu.

Thấy vậy, tôi nói với anh Lã Trung Tâm: “Kệ nó anh à. Nó còn trẻ quá, anh rầy nó làm chi!”

Bỗng anh Tâm quay qua cự nự tôi:

– “Mày cũng vậy! Cứ vui đùa hoài.”

Tôi cải lại:

“Chủ nghĩa lạc quan” mà anh. Ở tù Dziệt Cộng nên tìm cái vui mà sống. Rầu rĩ chỉ mau chết thôi. Thiên hạ đặt tên cho anh là “Ông già ham vui” mà anh cự nự tui. Buồn cười không!”

Khi tôi bị chuyển ra Trại C, gặp quản giáo Hoành, đội tôi “dễ thở” hơn, tôi sẽ kể sau.

Hồi còn đi học, giấy mực còn hiếm, nhiều khi tôi xin được giấy pelure do vài người quen ở các công sở cho, đem về đóng sách chơi, hoặc là để chép nhạc, hoặc để làm “Lưu bút ngày xanh” (nghe “mari-sến” dữ), hoặc chép những bài thơ của các thi sĩ thời tiền chiến vì ít ai còn giữ cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân. Chúng tôi thường gọi đùa những học sinh chép thơ là “thi sĩ chép”.

            Tình cờ, quản giáo Hoành biết tôi biết đóng sách, bèn đưa giấy nhờ tôi đóng cho y một cuốn. Đóng một cuốn, tôi được nghỉ lao động ba ngày. Rồi từ Hoành, các tên Công An cũng nhờ tôi đóng sách giùm. Hoành lại cho tôi nghỉ ở nhà đóng sách. Nhờ vậy mà tôi nghỉ ở nhà dài dài.

            Hôm nào ở nhà thì buổi sáng, sau khi tôi chờ bác Hoàng Xưởng “lao động nhẹ” xong, – “lao động nhẹ” là việc làm của mấy ông già, khỏi đi đốn rừng, cuốc đất, ở nhà lo quét nhà, quét sân – tôi và bác Xưởng nấu nước sôi “pha trà uống chơi”.

Bác Hoàng Xưởng là người tôi mang ơn hồi Tết Mậu Thân ở Huế, tôi dắt vợ con “chạy giặc” đến tá túc tại nhà bác ở đường Hàng Me – Huế. Bác ít được thăm nuôi. Nhà có hai con gái và một anh con trai. Anh con trai nầy và hai anh chàng rể đều được “cách mạng đi học tập” hết nên bác gái ở nhà cũng đói meo, nói chi bác trai ở trong tù. Bốn cái cột trụ của gia đình đều tù hết, nên nhà bác Xưởng chỉ còn “hai mái tranh nghèo.” Hai cô con gái bác, tốt nghiệp “Sư phạm Qui Nhơn” đều bỏ nghề ra “bán chợ trời”. Cộng Sản đâu cần cái chất xám của người miền Nam, “hồng hơn chuyên” mà!

            Vậy mà bác Xưởng ít thèm ăn, chỉ thèm uống trà. Sáng nào thấy tôi ở nhà là bác hẹn: “Xong ngay, tôi gặp thầy!” Con trai bác – anh Hoàng Công Lập – là học trò cũ của của tôi, bác gọi thay con.

            Uống trà với bác Xưởng, đã đời rồi, đến khi trà chỉ ra nước trong, tôi mới nhẩn nha lấy giấy, kim chỉ và dao ra đóng sách. Bác Xương ngồi xem.

            Bác ấy nói:

– “Thầy có cái “nghề” nầy cũng đỡ, mà tôi cũng được uống trà chung!”

            Một hôm, đóng xong một cuốn, có bìa làm bằng vải, ngoài bìa có “hoa lá cành”, bác Xưởng nói:

– “Ở trang đầu, sao thầy không cho nó vài câu thơ?”

            Tôi hỏi:

– “Thơ gì bây giờ?”

            Bác Xưởng đọc:

                        “Nhật mộ hương quan hà xứ thị…” 

            Tôi đọc tiếp: “Yên ba giang thượng…”

            Rồi tôi lại nói:

– “Bọn nầy biết mà gì về “Cổ Văn”. “Đàn gãy tai trâu”, không như bọn học trò trong Nam hồi trước. Với bọn “Bắc kỳ bảy lăm” là”: Tôi đọc đùa:

                        Cái đài, cái đổng, cái đa,

                 Có ba cái ấy đời ta huy hoàng.

                        Ấy là theo đảng vinh quang,

                 Ấy là theo dấu còn đàng “bác đi.”

            “Bác đi là “bi đát” bác ơi!

            Nghe xong, bác Xưởng và tôi cùng cười.

            Một lúc sau, tôi nói: “Có lẽ tôi cho thằng Hoành vài câu, ở cuốn tôi đóng cho nó. Nó vừa nhờ tôi đóng thêm một cuốn nữa.”

                        Ngồi đây tôi nhớ quê nhà,

                 Nhớ con bướm trắng la đà cuối thôn!

            Hôm đưa cho Hoành câu nầy, tôi nói:

– “Anh có con bạn học hồi nhỏ phải không? “Con bướm trắng” là ý nói con nhỏ đó đấy!”

            Hoành xuýt xoa cám ơn, nói với tôi: “Cô ấy chờ tôi không được, vừa đi lấy chồng, lấy thằng cán bộ huyện.”

            Tôi nói khích:

– “Nó là cán bộ huyện, to hơn anh nên bắt mất “bồ” của anh chớ gì! Đời mà!

            Một hôm, Hoành hỏi đội trưởng Dương Tiến Đông: “Đội anh người nào khéo tay làm bia ximăng được. Phải biết trang trí hoa văn nhé.”

            Dương Tiến Đông nghĩ ngay đến tôi, không phải vì tôi khéo tay mà khéo “bắt chuyện” nên hôm đó tôi được ở nhà, chờ quản giáo Hoành xuống.

            Trước khi đi lao động, Đông dặn tôi:

            – “Anh ở nhà, thằng Hoành xuống gọi anh đi làm bia. Nhớ tìm hiểu coi thằng nào chết, vì sao chết. Hình như tụi nó bị đám người Thượng trốn trại phục kích.”

            Đông nói y như rằng. Tôi được gọi lên khu nhà kho, lãnh ximăng rồi đi kiếm cát và sắt để đúc một tấm bia.

Quản giáo Hoành dẫn tôi đi loanh quanh kiếm vật liệu, rồi tôi lợi dụng việc làm bia để “hỏi thăm”: “Anh nào chết mà còn trẻ, tội nhiệp quá!” Hoành vô tình kể tuốt tuột. Người chết cùng quê với Hoành (nên anh ta đứng ra coi việc dựng bia cho đồng hương. Anh không làm thì chẳng ai làm, như anh ta nói).

Ngay sau khi mấy người Thượng trốn trại, Công An cho một tiểu đội, lên xe hơi lên ngã Định Quán, chận đường về của đám Fulro.

Đám nầy cũng khôn không vừa gì, lại có tài đi rừng của “người rừng”. Đoán chừng Công An sẽ đuổi theo, chận đường về, nên họ phục kích ở con đường dốc nhỏ và hẹp, đi xuống một con suối cạn, giựt được cây súng của tên Công An lẹt đẹt đi sau cùng, dùng súng đó bắn chết một tên Công An khác. Cả tiểu đội Công An hoảng sợ chạy tán loạn. Đám người Thượng kéo nhau đi sâu vào rừng.

Ngày hôm sau, được tăng cường thêm một trung đội nữa, bọn chúng mới dám tiến lên lại chỗ bị phục kích hôm trước, đem xác người chết về. Số người Thượng thì đã mất dấu, vừa khó tìm mà đám Công An cũng vừa lạnh giò.

Tôi vừa làm bia, vừa vẽ hoa văn, viết tên người chết cho đẹp để làm vui lòng Hoành mà khai thác câu chuyện. Dĩ nhiên, chiều hôm đó, câu chuyện được phát thanh bằng “đài mồm” cho anh em trong trại cùng nghe cho vui. Có người chết mà lại có người vui, nghĩ đời cũng buồn cười!

Anh Lã Trung Tâm cự nự tôi:

– “Cái tượng chiến sĩ trước Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa nghe nói bị “tụi nó” giựt sập xuống rồi, còn mày thì đi làm bia cho bọn chúng. Mày ngon dữ há?”

Tôi chống chế bằng cách nói đùa:

– “Tui làm “nhiệm vụ tình báo” mà anh!”

– “Mày tình báo mẹ gì! Nói dốc dữ không?!” Anh Lã Trung Tâm cự nư tiếp.

Tôi kể chuyện bọn Công An bị phục kích và bị bắn chết cho anh Tâm nghe, anh mới chịu im. Một lúc anh nói:

– “Bia gì mà bia! Bia miệng thì sao? Hả?”

Tôi đọc hai câu ca dao:

            “Trăm năm bia đá thì mòn

     Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”

Rồi tôi nói tiếp:

– “Ở đời ai cũng sợ bia miệng cả!”

Anh Lã Trung Tâm lại mai mỉa:

– “Bọn nầy, Trời chúng còn chưa sợ, sá gì “bia miệng” mầy ơi!”

– “Vậy thì sá gì cái bia ximăng mà anh cự nự tui!” Tôi cố biện minh việc mình làm.

hoànglonghải

(1)-FULRO (viết tắt từ Front Uni de Lutte des Races Opprimées, có khi viết là: Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées), trong tiếng Pháp, có nghĩa Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc Tộc bị áp bức) là một tổ chức chính trị, quân sự do một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thành lập năm 1964 để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Phần 26.

Bọn Công an thành Hồ có sách báo Việt hải ngoại không có gì khó. Sách báo Việt hải ngoại bán tự do. Chúng chỉ việc cho tay sai bỏ tiền mua gửi về. Nhưng chắc chắn chúng cũng không thể nào mua và có được tất cả các sách báo Việt chống cộng phát hành ở hải ngoại. Vì vậy anh cu Kiên Trinh chỉ được đọc có 15 bài. Và chỉ mới đọc 15 bài thôi anh đã phải nhận: “… bài nào cũng thuộc loại chống cộng có cỡ…”Riêng tôi, tôi không lấy gì làm quan trọng những bài tôi viết. Tôi viết toàn những chuyện phiếm, tôi viết như tôi nói chuyện. Tôi tự coi tôi như anh lom khom đứng ở góc vườn, vạch rào nói ra ngoài, tiếng được, tiếng mất, mong những người đi ngoài đường nghe tiếng:

– Mấy ông, mấy bà ơi… Đừng có tin mấy thằng ăn cướp chúng nó chiếm cái nhà này của chúng tôi. Chúng nó nói với mấy ông, mấy bà là mọi người sống trong căn nhà này đều sung sướng là chúng nó nói láo. Chúng nó đểu lắm, ác lắm. Chúng nó làm chúng tôi điêu đứng…

Vì đã có thời làm phóng viên nhà báo, tôi tự cho tôi biết những người Việt bỏ của chạy lấy người trước ngày đứt phim trong thời gian ấy- những năm 76 đến 84 – sống lưu vong ở những nơi chân trời, góc biển muốn nghe, muốn đọc, muốn biết những chuyện gì đang xảy ra ở Sàigòn. Tôi tự đặt tôi vào tình trạng tinh thần của những người Việt lưu vong, những người từ đời ông cố, ông sơ sống truyền kiếp ở Sàigòn, quen thân từng ngõ ngách, từng vỉa hè, đôi mông quen thuộc với tất cả những chiếc ghế da rạp Rex, Đại Nam, Kim Châu, Khải Hoàn, Eden, Thanh Bình, Quốc Tế, Bonard Vĩnh Lợi… quen luôn cả những Lido, Đại Quang, Victory bỗng dưng một sớm một chiều bị bốc ra khỏi môi trường sống. Người Việt sống ở Sàigòn thoải mái, hồn nhiên, tự nhiên, thiên nhiên, tất nhiên, mặc nhiên, nghiễm nhiên, đủ thứ nhiên hằm bà lằng xíu oát, như con cá lóc sống trong biển Hồ Pleiku, nơi có người em Pleiku má đỏ, môi hồng, nơi cuộc đời quanh năm mùa đông. Người Việt Sègoòng bị trực thăng Mẽo bốc ra nước ngoài tình cảm chắc cũng không khác gì em cá bông lau bị đưa lên chợ Cá Trần Quốc Toản. Xin lỗi, không đến nỗi bi đát như thế nhưng nếu tôi là những người tha hương sầu xứ đột ngột và bất đắc dĩ ấy, tôi muốn được nghe, được đọc những chuyện gì đang xẩy ở Sàigòn.

Nếu tôi là người Việt lưu vong, tôi sẽ muốn đọc, muốn biết những chuyện linh tinh, lặt vặt xẩy đến trong cuộc sống thường ngày của người dân thường Sègoòng. Người Sègoòng sống ra sao, mần ăn chi, có bị Việt cộng hành hạ khổ sở lắm không? Dân Sègoòng nghĩ gì về bọn Việt cộng nay làm chủ Sàigòn? Vì vậy, tôi đã viết ra nước ngoài những việc rất thường như chuyện dân Sègoòng đi lãnh đồ ở những nhà bưu điện, ở kho hàng Tân Sơn Nhất.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh

Đôi tay anh vín đôi cành

Quả chín anh hái quả xanh anh vồ

Năm sáu năm nay anh ăn ở thành Hồ

Anh ra bưu điện lãnh quà em cho

Đồ em vừa nặng vừa to

Anh đã con mắt anh no cái mồm

Tôi viết về những nghề mới của dân Sègoòng sau Ba mươi tháng Tư: bơm mực bút bi, mua bán chợ trời, chợ đất, thuốc tây, ve chai – một loại dze chai mới xã hội chủ nghĩa – nghề chà đồ nhôm. Trang điểm những bài viết ấy là những bài thơ nho nhỏ:

Chà đồ nhôm

Đi đâu bỏ con ở nhà?

Hỏi Em, Em nói: Đi chà đồ nhôm!

Đi đâu tay xách, nách ôm?

Hỏi Em, Em nói: Đi chôm đồ nhà!

Cộng sản đi đến đâu đói khổ, nheo nhóc, dơ dáy đi đến đấy. Quy luật ấy đã có từ bẩy mươi mùa củ chuối và đã xảy ra ở quá nhiều nơi. Nhưng như cái gọi là Thiền, phải đến những năm 75, 76 đen hơn cái lá đa dân Sègoòng mới thấy, mới biết, mới bị nó quật cho tối tăm mắt mũi, ứa máu ra đủ bẩy lỗ gọi là Thất khiếu. Như chợ trời chẳng hạn. Cộng sản đến bất cứ thành phố nào trên trái đất bất hạnh vì có tai họa cộng sản này lập tức thành phố đó xuất hiện những chợ vỉa hè. Người dân đem đủ thứ vật dụng ra vỉa hè bày bán. Đặc biệt năm 1975, có nhiều nhà cho Mỹ mướn, nhiều nhà giàu bỏ của, bỏ nhà, bỏ nước chạy lấy người, số vật dụng được dân nghèo vào những nhà đó lấy ra thật nhiều. Không chỉ quần áo, đồ dùng vặt vãnh mà thôi, người dân Sègoòng bán cả bàn ghế, giường tủ, xe gắn máy. Người ta như bị say đòn bán đồ. Thấy người khác bán đồ, nhiều người không cần tiền cũng đem đồ ra bán tống, bán tháo. Có người sợ: “Nhà mình nhiều đồ quá, nó để ý…” “Nó” đây là Việt cộng.

Giấc mộng huy hoàng nhất của những anh “bộ đội cụ Hồ” là có một chiếc đồng hồ tay. Những câu “đồng hồ không người lái, một cửa sổ, hai cửa sổ” xuất hiện trong ngôn ngữ dân Sègoòng. Nhân tiện nói đến chuyện đồng hồ, xin nhắc lại chuyện “giả chân” trong bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu.

Phùng Quán – nghe nói là cháu gọi Tố Hữu là cậu – viết một bài ngắn tả cảnh ông đi tù về đến nhà thăm ông cậu. Ông tả thời Tố Hữu đang hiển hách, khi Tố Hữu là Phó Thủ tướng kiêm đại đầu sỏ Văn nghệ xã hội chủ nghĩa, nhà Tố Hữu được canh gác như một phủ chúa, cận vệ bận đồng phục trắng, an ninh nổi chìm khắp dinh, quan khách ra vào tấp nập. Thế rồi Đảng cộng sản Nga tiêu tán thoòng, Liên Sô thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, thánh tổ Lenin bị kéo cổ cho ra nằm bãi rác.

Biết rồi…. Nói mãi… Xin vắn tắt: Tố Hữu bị thất sủng. Đang là vị lãnh tụ được chuẩn bị thay thế Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội Đồng Chánh Phủ, tức là làm Tể Tướng – Tố Hữu tụt xuống làm một thứ dở ông, dở thằng không giống ai và không ai giống. Phùng Quán tả nhà ông cậu xuống chó vắng như chùa Bà Đanh, như nhà cô Đạm Tiên khi người khách viễn phương đến thăm. Rồi Phùng Quán kể đến bài thơ mới làm của ông cậu xuống chó.

Thơ như vầy:

Anh bộ đội đi mua đồng hồ

Thật giả khó phân anh rất lo

Anh hỏi cô hàng, cô tủm tỉm:

Giả mà như thật, khó chi mô!

Ra cái điều Tố Hữu chửi bọn Đỗ Mười, Võ Văn Kẹt là bọn đệ tử Mác giả hiệu. Ý nghĩa bài thơ này, em bé lên ba, cụ già chín bó đọc qua đều biết. Bọn đệ tử Mác vẫn thường chửi nhau là đệ tử Mác giả hiệu, miệng nói theo Mác, việc làm phản lại lý thuyết Mác. Không những chúng chỉ chửi nhau mà thôi, chúng còn nhân chuyện ấy giết nhau tàn tệ. Từ lâu rồi, người ta đã nói: Nếu Các Mác mà sống dưới thời Sít Ta Lin, Các Mác cũng bị Sít Ta Lin bỏ tù vì tội “hiểu sai chủ nghĩa Mác”

Điều lạ là anh Tố Hữu, thi sĩ cộng sản đoạt giải thơ nâng bi lãnh tụ nhiều năm liên tiếp, tác giả những câu ca tụng Chúa Đỏ Sít-ta-lin đến cái độ ghê rợn – biết rồi, khỏi kể – đã không biết nhục mà còn mần thơ chửi bọn Mác Xít hoạt đầu. Bài viết ngắn của Phùng Quán tả cuộc đến thăm Tố Hữu chỉ được nhiều người để ý vì có bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu.

Có điều lạ nữa là dường như chẳng ai thấy cái vớ vẩn của bài thơ. Ý bài thơ không ăn khớp. Anh bộ đội đi mua đồng hồ nói một đường, chị bán đồng hồ trả lời một nẻo. Ý bài thơ anh chẳng, ả chuộc, anh nói gà, ả nói vịt vô lý quá rõ. Vậy mà tôi chẳng thấy ai nói gì về chuyện ấy cả.

Này nhé, anh bộ đội đi mua đồng hồ. Chợ xã hội chủ nghĩa bán nhiều thứ giả mạo quá, anh sợ anh mua phải đồ giả. Anh hỏi cô hàng làm sao phân biệt được đồng hồ nào giả, đồng hồ nào thiệt. Thay vì trả lời câu hỏi đó, cô hàng lưu manh trả lời một câu không ăn nhập gì đến câu hỏi:

– Đồng hồ giả mà làm như đồng hồ thật có gì khó đâu.

Anh bộ đội cụ Hồ có thể nổi cáu:

– Chị đừng có ăn nói vớ vẩn. Tôi hỏi nằm thao biết đồng hồ lào giả, đồng hồ lào thật… Chị khoe chị làm cho đồ giả như thật là nghĩa chi?

Bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu, theo tôi, phải như sau mới có nghĩa:

Anh bộ đội đi bán đồng hồ

Đồng hồ anh giả, anh rất lo

Anh nhờ cô hàng, cô tủm tỉm:

Giả mà như thật, khó chi mô!

Có lần tôi bi phẫn trước cảnh những anh chị dze chai mới đi khắp xóm rao mua đủ thứ đồng hồ, mắt kính, ra-zô, bàn ủi, máy may, nồi cơm điện… Chẳng thấy ai rao mua người. Anh bạn tôi nói:

– Cũng có đứa nó mua người chứ. Sao anh lại nói chẳng ai mua người…

Phẫn nộ một cách hết sức dzô dzang, tôi đi một đường Tác-giăng nổi giận:

– Nó mua là nó mua đàn bà, con gái còn sài được. Nó có mua loại đàn bà ho hen, kèn cựa, vú lép, mông teo đâu. Đằng này đồ hư, đồ cũ, đồ xập xệ, đồ nát. Đồ gì cũng có người mua hết. Đàn bà ốm nhách, xanh leo, xanh lét có cho không nó cũng không thèm lấy. Còn cái ra-zô cũ, chuột gặm mốc meo anh mua từ thời lính Mẽo chưa tham chiến ở Việt Nam nghe hết được anh bỏ quên trong gậm tủ, nay anh mang ra bán vẫn có người mua.

Vật quý hơn người. Đó là lẽ thường, lẽ tự nhiên và đương nhiên. Tôi bất bình vì chuyện đồ cũ bán có người mua, người cũ không ai mua cả là tôi vô lý. Quẳng cái bàn ủi cũ ra đường năm phút sau có người ôm đi ngay. Quẳng một em bốn bó, kể luôn cả ba bó, ho lao hen suyễn khặc khừ, hay đang trong tình trạng thượng thổ, hạ tả ra vỉa hè, nằm bẩy ngày người qua đường không ai thèm dừng chân lại nhìn cho một cái làm phúc. Tôi cũng dzậy thôi. Bố bảo tôi cũng không khiêng những em ốm o ấy về nhà, đừng nói đến chuyện tôi bỏ tiền ra mua.

Bất bình tắc minh. Tức cảnh sinh tình. Trong những năm 1976, 1977, rồi trong hai năm 1982, 1983 tôi viết một số bài linh tinh về những chuyện vặt đại khái như tôi vừa kể gửi ra nước ngoài. Rất tiếc, những bài tôi viết ra nước ngoài thời ấy, tuy được đăng trên nhiều báo ở Mỹ, Úc, Pháp, nhưng vì không được in thành sách nên bị chìm mất theo thời gian. Nay ở Rừng Phong tôi chỉ còn được một hai bài đăng trong tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào”, nhà xuất bản Lá Bối ấn hành ở Paria năm 1982, một bài trong Thời Tập, tạp chí do Viên Linh chủ trương, ấn hành ở Mỹ năm 1979.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

95. Tuệ Sỹ

Viết về thơ là chạm tới những hình ảnh phản ánh trong nước. Không thể có một mặt nuớc hoàn toàn tĩnh lặng, dù đó có là một mặt hồ chăng nữa. Và người ta chỉ có thể nhận được những hình ảnh rập vỡ, thậm chí lộn ngược. Viết về thơ Tuệ Sỹ càng khó hơn.

Ông là ai?

Một tu sĩ?

Một học giả?

Một thi sĩ?

Một người tử tù?

Ông là tất cả những người ấy và cùng một lúc [hình như] thơ ông xóa bỏ hết thẩy những điều ấy. Tuệ Sỹ được coi là một trong vài vị Thiện Sư lỗi lạc của Phật Giáo Việt Nam hiện tại, có kiến thức uyên bác về Phật học, hiểu biết sâu rộng về các triết thuyết Tây phương, thông thạo nhiều ngoại ngữ.

Mới ngoài 20 tuổi ông đã là giáo sư đồng thời là một trong vài người quyết định đường hướng tư tưởng, triết lý chỉ đạo của Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Ông viết / soạn / dịch nhiều kinh / sách.

Các cuốn Triết Học Về Tính Không, Tô Đông Pha, Thiền Luận [sách dịch] của ông được đông đảo độc giả hoan nghênh. Ông cũng làm rất nhiều thơ.

1

giữa điều tôi nhìn thấy và điều tôi nói ra

giữa điều tôi nói ra và điều tôi thinh lặng

giữa điều tôi thinh lặng và điều tôi mơ mộng

giữa điều tôi mơ mộng và điều tôi quên lãng

là thơ

thơ trượt qua

giữa có và không

thơ nói

điều mà tôi thinh lặng

thơ thinh lặng

điều tôi nói

thơ mơ mộng

điều tôi lãng quên

thơ không là lời nói:

thơ là hành động

hành động của lời nói

thơ nói ra và lắng nghe:

thơ hiện ra thực sự

có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng?

2

ý tưởng hữu hình

chữ thì vô hình:

thơ

đến rồi đi

giữa cái hiện tiền

và cái không hiện hữu

thơ đan dệt

và tháo gỡ những suy tưởng

thơ tung rãi mắt nhìn lên trang giấy

tung rãi chữ vào trong mắt

mắt nói

chữ nhìn

cái nhìn suy tưởng

những đôi mắt nhắm lại

chữ thì mở ra

giữa có và không

thơ nói

điều mà tôi thinh lặng

thơ thinh lặng

điều mà tôi nói

thơ mơ mộng

điều tôi lãng quên

thơ không là lời nói

thơ là hành đông

hành động của lời nói

thơ nói ra và lắng nghe

thơ hiện ra thực sự

và ngay khi tôi nói là thơ hiện ra thực sự

thì thơ tan biến tức thì

có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng

Đó là những điều Tuệ Sỹ nói về thơ cũng là thơ ông. Liệu nó có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ Tuệ Sỹ chăng?

Bùi Giáng, một người có rất nhiều liên hệ với các chùa chiền, nhưng không phải tu sĩ, trong một bài nhan đề “Đi Vào Cõi Thơ Tuệ Sỹ”, viết, kể lại một giai thoại giữa ông vàTuệ Sỹ, rất Bùi Giáng, như sau:

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u …

Một bữa ông đọc cho hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt.

Tôi đề nghị với ông nên nhờ Ni Cô Trí Hải tiếp dùm.

Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế.

Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ty*

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình. Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia không hề có bao giờ vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm. Một bài thơ ‘Không Đề’ của ông đủ làm ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cõi dạ.

Bùi Giáng đề nghị [một] cách đoc mấy câu thơ của Tuệ Sỹ như sau:

Đôi mắt ướt tuổi vàng

khung trời

hội cũ

Xin xuống dòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì?

Cung trời hội cũ. Một hội đạp thanh? Một hội náo nức?

Giờ náo nức của một thời trẻ dại?

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh …

Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại. Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều ‘phải nói’ với mọi người ‘muốn nghe’ với riêng

mình ‘không thiết chi chuyện nói’.

Phạm Công Thiện, người đã có một thời cùng tu học với Tuệ Sỹ, nay đã cởi bỏ áo cà sa, cho biết thêm: “Mấy chục năm qua, Tuệ Sỹ làm rất nhiều thơ, nhưng Ni Cô Tuệ Hạnh chỉ thu nhặt được mấy chục bài và cho in lại với nhan đề thi tập là ‘Ngục Trung Mị Ngữ’, do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản. Đặc biệt trong thi tập này có 18 bài Tuệ Sỹ làm thẳng bằng chữ Hán, có một bài làm xúc động tâm hồn tôi đến cực điểm, bài:

Cúng Dường

Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

Thượng Tọa Viên Lý dịch thành bài lục bát như sau:

Hai tay nâng chén cơm tù

Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên

Thế gian huyết hận triền miên

Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào

Nhà thơ Vân Nguyên giữ nguyên thể ngũ ngôn và dịch như sau:

Dâng chén cơn tù lên

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian tràn oán hận

Ôm chén lòng khóc thầm

Và, tất cả những thông tin ấy liệu có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ của Tuệ Sỹ chăng? Hay đó cũng chỉ là những trận gió làm xao động thêm cái mặt nước đã không mấy yên tĩnh kia.

Độc giả bình thường không có được sự cảm thông đến rợn người như Bùi Giáng, như Phạm Công Thiện đối với thơ Tuệ Sỹ, người ta yêu những bài thơ nhỏ bé, dễ hiểu của Tuệ Sỹ hơn:

Buổi Sáng Tập Viết Chữ Thảo

Sương mai lịm khói trà

Gió lạnh vuốt tờ hoa

Nhè nhẹ tay nâng bút

Nghe lòng rộn âm ba

Cây Khô

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng

Để cây khô mạch suối khóc thương nhau

Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng

Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu

Người ta cảm nhận ở ông một hồn thơ trong suốt. Như một tấm gương, cái buồn trong thơ ông, nếu có, chỉ là những hình bóng phản ánh từ bên ngoài.

Năm Tàn

Lận đận năm trầy nữa

Sinh nhai ngọn gió rừng

Hàng cà phơi nắng lụa

Ngần ngại tiếng tha phương

Trầm Mặc

Anh ôm chồng sách cũ

Trầm mặc những đêm dài

Xót xa đời khách lữ

Mệnh yểu thế mà hay

Tuệ Sỹ cũng làm rất nhiều thơ tình. Đúng vậy. Nhưng thơ tình của ông dường đã bị tấm áo khoác của ông phủ nhận.

Con Trăng Đâu Đó

Nỗi nhớ đó

khát khao

luồn sơi tóc

Vòng tay

Ôm cụm khói bâng khuâng

Uống chưa cạn chén trà

sương móc

Trên đài cao em ngự mấy tầng

Lên cao mãi

đường mây

khép chặt

khoảng xoi mòn

ảo tượng

Thiên chân

Ô, nguyệt quế

trắng mờ đôi mắt

Ô

sao Em

sao ấn mãi

cung đàn?

Giai điệu đó

thoáng hờn

u uất

Xưa yêu Em

xao động hương vàng

Vài tấm hình ông người ta tình cờ được coi, tấm ông đàn lại có vẻ tu sĩ hơn bức ông mặc cà sa ngồi “tập chữ thảo”, đúng như chữ ông dùng, trông ông hiền từ, nhưng cũng đầy vẻ cương quyết.

Quanh ông luôn hiện hữu một sự trái ngược nho nhỏ [dễ thương] như vậy.

Trên mỏm trời Xích đạo

Cụm sao cài cúc áo

Long lanh những hạt mưa

Đôi mắt tròn hạt táo

Lữ khách bờ sông vắng

Trời khuya con nước xanh

Cụm sao trên quãng vắng

Trên cúc áo mong manh

Cái uyên bác của Tuệ Sỹ không phải ai cũng biết rõ ra sao. Nhưng cái tin ông bị tử hình đã làm, không phải chỉ riêng người Việt Nam, mà rất nhiều người trên khắp thế giới bàng hoàng.

Tử hình? Cũng may án chưa thi hành nên ông mới còn đến hôm nay.

Hình như, một nhà văn Pháp, Simone de Beauvoir thì phải, có viết một câu đại ý thế này: “Chủ nghĩa cộng sản không giải thích được. Cứ sống với họ rồi biết”

* Trần Lam Giang, chỉ nghe đọc qua điện thoại, dịch nghĩa như sau:

Đêm thâu gió thổi bóng nghiệp theo thân

Trước mặt hoa rụng bay chưa xong

Tâm sự phiêu bồng lệ chua cay

Trí Hải hay thẹn làm đàn sáo rối loạn

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son rau 13 Oct 2025

94. Trí Hải

Sư Cô Trí Hải có tên thật ngoài đời là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh. Cô sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống tu học từ lâu trên đất thần kinh. Thân Phụ cô là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều, cháu nội của Tuy Lý Vương.

Trong thế giới tu hành, một người được coi là chân tu khi thấy đời sống, nhân cách, tính tình, có một vẻ gì đó, tựa hồ như đã được sửa soạn sẵn cho việc tu hành. Trường hợp sư cô Trí Hải hơi khác thường, nghe nói, khi mới mang thai cô được 3 tháng, thân mẫu cô đã tới xin cho thai nhi được quy y tam bảo với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, tăng thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (1964).

Hòa Thượng ban cho cô Pháp danh Tâm Hỉ. Như thế có thể nói sư cô đã tu từ lúc chưa chào đời. Dĩ nhiên đó chỉ là một cách nói. Năm 1964 cô chính thức xuất gia với sư Bà Diệu Không tại chùa Hồng Ân Huế, lấy pháp hiệu là Trí Hải. Và cô đã ở lại cửa Phật cho đến khi qua đời. Đỗ tú tài rất sớm, năm 17 tuổi, cô theo học sư phạm và trở thành giáo sư trường Phan Chu Chinh, Đà Nẵng. Năm 1960 cô sang Hoa Kỳ du học và tốt nghiệp cao học [M.A.] ngành thư viện. Sư cô từng giữ chức vụ Thư Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Tháng 12 năm 2003 sư cô được cử làm Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Trong suốt 39 năm tu hành, sư cô nổi tiếng là người hành trì nghiêm mật và có một tấm lòng hỷ xả, thường không ngại ngần trong những công cuộc cứu tế xã hội, giúp những trẻ em nghèo khó, đồng bào bị bão lụt, nạn nhân chiến cuộc …

Ngoài những hoạt động hoằng pháp và cứu giúp những kẻ khốn cùng, sư cô còn được giới trí thức văn nghệ biết đến nhiều nhờ những công trình trước tác, phiên dịch. Hai cuốn sách do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch được rất nhiều người đọc là các cuốn “Câu Chuyện Của Dòng Sông” của Herman Hesse và “Bắt Trẻ Đồng Xanh” của Salinger.

Trong bài Ngõ Vào Thiền Sư Cô Trí Hải đã viết:

“Thiền là một phẩm chất của đời bạn, như hơi thở. Bạn tiếp tục thở dù cho bạn làm bất cứ việc gì, chứ không thể khi thở khi không. Thiền là một hơi thở tâm linh. Cũng như thân thể đang thở không khí, tâm bạn cũng cũng thở với ý thức tỉnh giác. Khi bạn hít vào thở ra, với ý thức thì bạn không chỉ là một xác thân vật lý, mà từ đó có một sự thở ‘cao cấp’ nghĩa là thở trong tỉnh thức, hít thở chính sự sống. Khi ấy bạn đi vào một lãnh vực khác, gọi là lãnh vực siêu hình. Sự thở của bạn là vật lý, còn thiền định, ý thức tỉnh giác, [chánh niệm] là siêu hình. Bạn có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời sống là một thiền định sâu xa:

Núi đồi, trăng sao, hoa lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định … Thi nhân có thể vào Thiền không cần đến bậc thầy nào, cũng không đi chùa … Ông ta có thể ‘nhập đạo’ bằng thơ văn bằng tính sáng tạo trong mình. Một người thợ gốm cũng có thể nhập thiền chỉ nhờ nắn đồ gốm. Mỗi ngành nghề đều có thể trở thành một cổng vào đạo … nếu như việc của bạn làm có phẩm chất của tính giác chánh niệm”.

Tổng số kinh sách dịch, hiệu đính, phóng tác và biên soạn của Sư Cô Trí Hải được liệt kê gồm 89 tác phẩm, điển hình là các cuốn:

1/ Luật Ni tứ phần chú giải,

2/ Luật Ngũ Phần, gồm 15 cuốn đầu

3/ Thanh Tịnh Đạo,

4/ So Sánh Trung A Hàm [Luận Án Tiến Sĩ của Hòa

Thượng Thích Minh Châu]

5/ Huyền Trang – Nhà Chiêm Bái và Học Giả

6/ Kim Cang Bát Nhã trực giải

7/ Pháp Hiển – Nhà Chiêm Bái

8/ Tạng Thư Sống Chết

9/ Hành Trình Mật Tông

10/ Phật Giáo Truyền Thống Đại Thừa

11/ Đường Về Nội Tâm

Sức làm việc của sư cô mạnh mẽ. Hình như viết sách, dịch sách cũng là một cách tu của Cô. Nhận định về Cô, nhà phê bình văn học Cao Huy Thuần cho rằng: “Cô đã để lại hình ảnh một bậc ni sư toàn vẹn mà Phật Giáo Việt Nam tự hào, hình ảnh đẹp thanh thoát của một hành trình đi vào chữ không”.

Người ta cũng nhắc lại nhiều giai thoại về Sư Cô trong đời sống thường nhật. Chẳng hạn, cụ Nguyễn Tường Bách kể, có lần cụ nghe Sư Cô nói về cái máy vi tính, sư Cô cho rằng nó cũng giống tâm người. Được hỏi giống ở chỗ nào, Cô đã giải thích “Mình ở trong cái hồ sơ [file] thì mình không thể xóa nó được. Mình ra khỏi nó mới xóa được nó. Tâm cũng thế thôi. Đang giận thì khó mà biết mình đang giận lắm”.

Lần khác sư cô cũng nói với cụ Bách:

“Đau răng mới biết rõ ý nghĩa của vô ngã. Khi răng không đau thì mình không để ý tới hắn, coi như không có. Khi hắn lên tiếng là có chuyện. Cũng thế, nếu mình vô ngã thì môi trường chung quanh mình rất dễ chịu. Còn mình lên tiếng ‘có tôi đây’ thì có chuyện ngay . Bởi vậy, muốn lành mạnh thì phải vô ngã thôi”.

Xin trích dẫn sau đây bài thơ Sống Chết của sư Cô Trí Hải, viết trên giường bệnh trước khi mất:

Sống trong hơi thở vào

Chết cùng với hơi ra

Ngày đêm liên tục chuyển

Kiếp số như Hằng sa

Hít vào ta còn đó

Thở ra đã hết ta

Ta hòa cùng với gió

Thành vũ trụ bao la

Sư cô Trí Hải đã viên tịch ngày 7 tháng 12 năm 2003 sau khi bị tai nạn xe hơi trên đường đi cứu trợ từ Bình Thuận về Sài Gòn. Tai nạn xẩy ra tại Suối Cát tỉnh Đồng Nai. Sư cô trụ thế 60 tuổi.

Tượng ó vàng

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

September 18th, 2025

Post by Sơn râu 12 Oct 2025

Osiyo! Osiyo! (Hello, tiếng Da Đỏ Cherokee)

Wadogi lay mạnh vai Kota, anh chồng yêu mến của mình đang ở trần, nằm trước cửa căn lều gỗ, miệng nồng nặc mùi rượu.

– Nè! Tỉnh dậy đi anh!

Nhưng Kota vẫn ngáy khò khò.

– Em đã nói nhiều lần rồi! Uống vui thì uống, còn nốc vô cho say thì thôi!… Đã say còn nằm ngủ trước cửa, trời về đêm núi rừng lạnh lắm… Rủi trúng gió rồi đi luôn thì sao? Kota! Vô nhà ngủ!…

Wadogi đá vô hông Kota, chị bỏ đi, lẩn vô lùm cây trước cửa.

Kota bỗng thức. Anh ngồi dậy, ngơ ngác nhìn quanh… Cũng như bao nhiêu lần trước, Anh biết, vợ anh mới hiện về.

Wadogi cũng là dân Da Đỏ Lipan Apache. Chị làm công nhân chung với Kota trong một hãng rượu Tequila. Hai người về ở chung sau khi lên núi Junta khấn lạy thần linh dưới một con thác. Năm 2020, Wadogi trúng dịch cúm, chị qua đời khi mang thai thằng con trai đã 6 tháng.

– Những người chết lúc mang bầu rất linh thiêng!

Ông Da Đỏ già sống một mình trong núi, nói với Kota, sau khi đốt bộ áo quần của chị để làm lễ cầu hồn.

– Anh đem gói tro này về thờ cùng với hình ảnh của Wadogi …

Kota vô lều, anh mở đèn, lấy nắm lá khô bỏ vô chén sành, mồi lửa. Mùi khuynh diệp bốc lên, Kota mang chén để trên kệ gỗ sát tường, bên hũ sành đựng tro bộ áo quần của Wadogi. Phía dưới là khung hình nhỏ, hình của Wadogi khi tốt nghiệp trung học.

Kota mồ côi từ hồi 5 tuổi, anh thuộc bộ tộc Da Đỏ Lipan Apache. Sau khi vợ qua đời vì trận dịch cúm càn quét vùng núi Junta năm 2020. Kota dọn về Paul Spur. Khu này là mỏ vàng, dân tìm vàng đã kéo nhau về đây 10 năm trước, nên Paul Spur ngày càng đông. Paul Spur nằm giữa 2 thị trấn Lowell và Douglas của Arizona, cách xa lộ 80 chừng 30 phút đi bộ và 20 km là tới biên giới Mễ. Ở ngay vùng tìm vàng nhưng Kota lại làm nghề săn bắn thú rừng. Vì nghề này đã quen tay với anh và đang hái ra tiền vì dân Mỹ khá giả đã bắt đầu thích ăn thịt thú rừng thiên nhiên, đúng loại hữu cơ. Họ cho rằng loại thịt này không làm mập phì và tuổi thọ sẽ dài hơn với loại đạm tố thiên nhiên.

Kota núp trong hốc núi, anh chĩa súng về phía miệng hang, có đám xương rồng che khuất. Một con chồn xám bò ra khỏi hang, đánh hơi chung quanh, chạy vô hang. Và chỉ vậy! Anh đã ngồi đợi cả 30 phút, không một con chồn nào khác xuất hiện.

Mặt trời đã nằm trên đầu. Kota kéo chiếc nón cói rộng vành che khuất vai. Anh lấy khúc bánh mì kẹp xúc xích trong túi vải, vừa ăn vừa đi xuống đồi. Đã xế chiều. Đám mây xám che ngang mặt trời làm cả vùng tối lại như nhật thực. Kota chống cây súng nhìn chung quanh… “Chắc sẽ không bắn được con nào nữa” Anh uống lon coke. Về nhà.

– Phù!

Một con vật, không biết là chồn hay sóc vừa phóng rất nhanh qua chân Kota. Anh cầm súng trên tay, nhìn chung quanh, bước tới đám xương rồng sát bên bờ suối.

– Phù!

Từ những cây xương rồng, con vật lại chạy ngang trước mắt Kota, … Và đứng lại nhìn anh. Thì ra là một con chồn. Anh đưa súng lên. Con chồn lớn, có bộ lông vàng với những sọc đen từ đầu tới mình, nó mở to mắt nhìn Kota. Anh hạ súng xuống. Con chồn đứng trên hai chân. Anh bước chậm tới, con chồn vàng đứng im. Kota đưa hai tay, sẵn sàng bắt con chồn, anh chồm qua phải, con chồn nhảy qua trái, anh chụp mạnh, con chồn vàng phóng xuống con suối cạn, chạy lúp xúp trong nước. Kota chạy theo. Tới giữa suối. Ánh mặt trời cuối ngày bỗng lóe lên tia óng ánh ở một vật gì đó trong hốc đá nhỏ, sâu trong bờ suối. Kota tò mò bước tới. Dưới gợn nước lung linh, những hòn đá chồng lên nhau, sâu bên dưới là tia sáng ẩn hiện. Kota thọc hai tay xuống, đẩy những hòn đá bên trên qua hai bên. Bên dưới là một vật có màu vàng lấp lánh, hình dạng như một con chim đang bay. Vật lạ rất nặng. Kota kéo lên, anh mất đà té ra sau, ngồi xuống nước. Anh nâng vật lạ… Một tượng con ó to bằng bàn tay, vươn hai cánh, chạm khắc thô sơ, rong rêu màu đen đóng chung quanh, nằm trên hai tay anh. Kota nhúng vô nước, lấy nắm cát chà mạnh, tượng con ó sáng rực màu vàng.

Kota xoay cái tượng trong tay “Không lẽ bằng vàng thật?”

Sáng thứ Bảy, Kota dậy sớm. Anh đeo thùng lạnh, có 6 con chồn, đã làm lông sạch sẽ, ướp đá, xuống thị trấn Paul Spur.

– Chào ông chủ!

Kota cười với ông Lucio chủ tiệm thịt, anh để cái thùng lạnh xuống sàn nhà.

– Tuần này có bao nhiêu?

Kota nhún vai.

– Tuần qua là một tuần đi săn không tốt … Chỉ có 4 con chồn xám, 2 chồn nâu!

Anh lấy số chồn ra, đặt trên cái cân thịt.

– Tổng cộng 12 ký. 200 đô!

Ông Lucio đưa tiền cho Kota.

– Cám ơn Lucio!

Anh ra cửa băng qua đường, đẩy cửa tiệm “Isaac, chuyên mua vàng mỏ, đá quý”

Ông già Do Thái đội nón chóp đen đứng sau quầy gỗ, cười thân thiện.

– Hello! Anh là người Da Đỏ đầu tiên vô tiệm này trong năm nay!… Tôi có thể giúp gì cho anh đây?

Kota bước tới sát quầy, có vẻ ngại ngùng.

– À… Thưa ông!

Ông Isaac đưa tay.

– Tôi có thể mua vàng mỏ, đá quý của anh với giá cao nhất!

– À!… Không…

– Anh cần gì?

Kota lấy tượng con ó trong túi da, để lên quầy.

– Ô!… ô ô!

Ông ta tròn mắt, miệng há ra… Kinh ngạc!

– Hannah! Bà ơi!

Ông kêu vợ.

Bà vợ bước ra.

– Bà! Thấy không?

Bà vợ nhìn cái tượng.

– Làm sao anh có vật này? Trời đất ơi! Anh có biết giá trị của nó không!

Kota thật thà.

– À! … Tôi tìm được bên suối!… Bà có thể cho tôi biết giá trị của nó?

Xem thêm:   Hỏa hồng Nhựt Tảo

– Vô giá!

Ông Isaac chen vô.

– Đây là biểu tượng Thần Núi của dân Da Đỏ!… Một tượng cổ… Nên vô giá! Nhưng tôi có thể mua với 15,000 đô… Trả bằng tiền mặt! Ngay bây giờ!

Kota ấp úng.

– Xin lỗi! Tôi là người Da Đỏ!… Tôi sẽ không bán thần linh của chúng tôi!… Cám ơn ông đã cho biết!

Kota lấy tượng, bỏ vô túi da, anh đẩy cửa bước ra. Kota không thấy thằng Mễ đứng sau lưng, nãy giờ đang lau nhà, và nó đã nghe hết mọi chuyện.

Trời đã chiều mát, và Kota không muốn về nhà sớm. Sẵn có tiền trong túi. Anh ghé vô tiệm Paul Spur Tarven.

Một ly sót.

Kota kêu một phần thịt bò nướng.

Hai ly sót.

Kota cười một mình.

Ba ly sót.

Mặt mày anh đỏ ké… Nhìn chung quanh…Cười với mọi người.

Năm ly sót.

Mắt Kota híp lại, ngón tay gõ nhịp trên bàn. Anh hát lí nhí.

We n’ de ya ho

We n’ de ya ho

We n’ de ya,

We n’ de ya,

ho, ho, ho, ho.

He ya ho, he ya ho,

Ya ya ya…

(Bài hát chào buổi sáng của Da Đỏ Cherokee)

– Xin lỗi anh đã uống nhiều! chúng tôi sẽ không bán thêm rượu! Anh có thể tính tiền!

Cô phục vụ đặt cái phiếu tính tiền kẹp trong bìa dày.

Kota trả tiền, anh trả thêm 20 đô tiền tip.

– Xin lỗi vì uống nhiều… Nhưng tôi vui quá!

Vậy là “Rượu vô lời ra”

– Hà Hà! Tôi mới có một khối tài sản! Ha Ha!

Và “Lời ra” này không lọt khỏi tai thằng Mễ lau nhà cho ông Isaac. Nó đang ngồi uống bia trong góc tiệm.

Kota đi xe bus liên tỉnh về tới trạm “Rừng thông”, anh xuống xe, băng qua bãi xương rồng về nhà.

We n’ de ya ho

…

We n’ de ya,

… de ya,

ho, ho, …

He ya ho, he ya ho,

Ya ya ya…

Kota xiêu vẹo, vừa đi vừa hát, tiếng được, tiếng mất.

… Ho, ho, …

He ya ho, he ya ho,

Ya ya ya…

– Bụp!

Cái chày đánh banh quất ngang lưng Kota. Anh tắt tiếng, té cái bịch xuống đám xương rồng. Thằng Mễ chụp cái bao da bên hông Kota giựt mạnh.

– Anh Kota! Dậy đi! Say sưa hoài!… Thằng chó kia ăn cắp cái tượng của anh rồi!… Dậy đi!… Ủa? Sao không dậy?

Wadogi chống nạnh… Cô đá vô hông chồng. Kota lảo đảo đứng dậy, anh chụp cái thắt lưng… Kota lạnh người! Cục tài sản của anh, con ó vàng đã biến mất.

Tối đó Kota buồn bã, nốc cả lít rượu, lật xuống giường.

– Nè! Kota… Em đã nói đừng uống rượu say, chỉ uống rượu vui! Anh say mút chỉ rồi!… Người ta cướp cái tượng con ó, anh không chịu đi tìm, nằm lăn quay say ngất!… Kota! Em không vui!… Anh dậy đi! Mình đi tìm cái tượng! Đó là của tổ tiên để lại cho anh! Vì anh là truyền nhân cho thế hệ tới của Lipan Apache… Anh không được mất! Không bao giờ được mất!… Dậy đi! Em dắt anh đi tìm thằng cướp cạn. Wadogi chống nạnh… Cô lại đá vô hông chồng. Kota lảo đảo đứng dậy.

– Tối rồi! làm sao tìm?”

Kota ngồi bên bàn, ôm đầu.

Không biết từ đâu, con sóc vàng lưng sọc đen lại xuất hiện. Nó phóng lên bàn.  Đứng yên, cặp mắt đen như hai hạt đậu, nhìn Kota. Anh đứng dậy, con sóc chạy tới cửa… Đứng lại, nhìn anh.

Kota mặc áo khoác, cầm cây đèn pin, con dao rừng, đẩy cửa.

Con sóc vàng chạy trước Kota tới bìa rừng, băng ngang bãi xương rồng, tới một khoảng rừng thưa, đầy những bụi cây. Có ánh đèn phía xa, con sóc vàng và Kota chạy nhanh tới.

Một căn lều gỗ, bên trong ánh đèn ga vàng vọt. Thằng Mễ lau nhà đang nhậu. Trên bàn chai Tequila cạn hết nửa và dĩa xúc xích. Nó la lớn.

– Ha ha! Tao sẽ giàu! Sẽ giàu!

Thằng Mễ cầm cái tượng ó vàng đưa lên cao…

– Của vô giá!… Chắc là vài trăm ngàn!

Nó ngồi xuống. Để cái tượng con ó vô hộp, giấu trong góc giường. Thằng Mễ rót ly rượu, ngước cổ nốc cạn. Nó vừa để cái ly xuống, thì Kota đã nhảy vô, chụp đầu.

– Mẹ! Thằng cướp cạn…

Kota đẩy con dao rừng vô cổ thằng Mễ. Nó nhón người lên.

– Ê! Từ từ!

– Mầy cướp cái tượng ó của tao! Đưa ra đây!

– Tượng gì? Tao không cướp của mầy! Mầy lộn người rồi!

– Chính mầy cướp! Đừng chối!

Kota thật thà

– Mầy không cướp?…  Không phải mầy?

Kota hạ con dao. Anh không biết mình đã bị thằng Mễ lừa. nên khi anh vừa hạ con dao. Nó thụp xuống, lăn một vòng, chụp con dao rừng trên cửa, phạt ngang chân Kota.

– Ahh!

Nhát dao cắt vô chân Kota, anh sụm xuống. Thằng Mễ đúng là tay đánh dao nhà nghề, nó vùng lên, chém một phát xuống vai Kota. Nhưng anh lăn qua, cú chém sát thủ của thằng Mễ xé rách miếng lưng áo. Kota lăn vô vách.

“Quỳ xuống anh! Đâm xéo vô ngực nó, xoay ngược lưỡi dao, đứng dậy thọc lên tới cổ”

Giọng nói ấm áp của Wadogi vang trong đầu.

Kota làm theo lời vợ. Anh thọc con dao lên, trúng ngay hàm thằng Mễ.

– Aaaah!

Nó té xuống. Thằng Mễ chĩa thẳng lưỡi dao rừng. Và Kota đã sai lầm khi nhảy vô đâm nó. Anh lãnh ngay một nhát vô bắp đùi. Bật ra sau. Thằng Mễ vùng dậy, hai tay cầm con dao rừng đưa lên cao… Nhưng từ đâu đó con sóc vàng sọc đen phóng vô mặt nó.

– Aahhh! Uhhh! Uhh Ahh!

Con sóc chui vô áo, thằng Mễ quay vòng vòng, con sóc xuống tới quần.

– Ahh! Uhh! Wahhhh!

Thằng Mễ té xuống, ôm háng, la lớn.

– Aahhh! Uhhh! Ahhhhhh!

Hôm sau.

Kota lấy nắm lá khô bỏ vô chén sành, mồi lửa. Mùi khuynh diệp bốc lên, Kota mang chén để trên kệ gỗ sát tường, bên bao da đựng tro bộ áo quần của Wadogi, dưới khung hình nhỏ, hình của Wadogi khi tốt nghiệp trung học. Một bên là tượng con ó vàng, di vật của tổ tiên bộ tộc Da Đỏ Lipan Apache.

Thằng Mễ chùi nhà thì vô bệnh viện vì bị con sóc cắn, nhiễm trùng hai hòn dái.

HĐV

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 12 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

21.Trước Khi Trở Lại Ba Lê

RA đón tôi tại phi cảng Caracas có cả gia đình tôi cùng với các bạn hữu đã được Rita cho biết đầy đủ tin tức do tôi gởi về mỗi ngày.

– Xong rồi, cưng, sẽ nổ tung ghê gớm lắm.

Rồi những nụ hôn, lại hôn nữa.

– Sách sẽ được tung ra ngày 19 tháng 5. In lần đầu: 15.000 bản, Latfont hứa với anh như vậy.

Anh Giáo sư Pháp văn có mặt với hầu hết nhân vật trong “Ủy ban đọc sách”.

– Hôm nay không có nhân vật chính quyền nào đón anh, anh ta nói, kỳ sau sẽ có vô tuyến truyền hình.

– Không nên phóng đại, Rita nói, nên luôn luôn dè dặt tốt hơn.

Tôi cười. Mãi khi về đến nhà, trong lúc nhấm nháp ly rượu tái ngộ, tôi mới nói lại:

– Này, quí vị có muốn tôi nói hết ý nghĩ của tôi không?

– Nói đi.

– Tôi thành thật tin rằng lúc tôi trở về Caracas sau khi sách tôi được phát hành, Vô tuyến truyền hình sẽ ở đó chờ tôi.

– Anh điên hết cỡ rồi, cưng ơi, Rita nói.

– Anh không điên, anh tin chắc như vậy!

Rồi mọi người cùng cười, đồng ý rằng tôi có phóng đại chút ít.

Tháng 4 năm 1969, một phép lạ nho nhỏ. Chính hình bìa của cháu tôi, Jacques Bourgeas, đã thắng các đồ án khác. Trong nhà xuất bản Latfont, không ai biết đó là cháu tôi. Thằng ấy, con của chị Hélène, chưa đẻ khi đoạn đời gian khổ của tôi bắt đầu. Trong 20 năm, nó không biết có tôi trên quả đất này và chỉ biết tôi từ hai năm nay, năm 1967.

Và ông Trời đã lựa chính nó để vẽ bìa sách của tôi, cuốn sách của cậu nó từ nhiều năm không có trong bộ đời đối với nó! Vâng, đã có rất nhiều trường hợp kỳ lạ chung quanh ngày khai sinh cuốn sách.

Và cuộc phiêu lưu kỳ thú tiếp tục.

Một bức thư đề ngày 8 tháng 4 của Castelnau cho tôi biết:

– Các đại lý của nhà xuất bản Latfont, đứng đầu là Mermet, đã đọc bản vỗ và sẵn sàng ủng hộ cuốn sách hết mình;

– Mấy thằng cha ở Đài Phát Thanh Radio Luxembourg sau khi nghe Castelnau nói về cuốn sách, tỏ ra rất hăng;

– Một con nhỏ ghê gớm Paule Neuvéglise, đang nghiên cứu để đăng trước trong ba ngày trên báo France Soir.

Buổi tối, trên đường phố Caracas, trong một đôi quán rượu tôi vào để bắt tay người quen, ngực tôi phồng lên như có một mặt trời bên trong chiếu rọi một ánh sáng mãnh liệt và êm dịu. Tôi tươi cười, hào phóng, nhã nhặn với mọi người. Tôi hơi buồn cho những người tôi bắt tay vì họ không biết, không cảm thấy như tôi rằng sắp xảy ra một biến cố kinh khủng. Họ vẫn vậy, với những chiếc đầu như hôm qua. Tôi nào có khác gì. Nhưng lúc ở chân trời lóe lên một niềm hy vọng bao la thì mọi việc đều như cũ và không việc gì như cũ, mình không biết mình đang như thế nào, vừa mừng, vừa lo, vừa xao xuyến, vừa bình thản.

Ngày 22 tháng 4, Jean Pierre gởi cho tôi bản văn lời hậu tự, do “một trong những khối ốc trí thức nhất thời đại” viết, Jean François Revel.

Tôi hết sức cảm kích khi đọc bài ấy, nhưng cũng xin thú thực rằng tôi hơi bỡ ngỡ. Bởi vì tôi cảm thấy ở đây chúng ta đã bước vào một thứ văn chương lớn, vào lịch sử, vào tất cả, lại còn cho rằng tôi là anh em họ của một vị giám mục đã chết từ ba trăm năm, Grégoire de Tours, thì quả là quá hân hạnh cho tôi. Dù sao, nếu Castelnau đã nghĩ rằng đây là bài sáng suốt nhất về phương diện văn chương viết về cuốn sách của tôi, tôi chỉ còn có nước để cho mình trôi theo cảm tưởng thiện mỹ do bài hậu tự gợi ra.

Dù rằng từ ngày ấy, gia đình và bạn bè thân thiết của tôi gọi tôi là người anh em của Grégoire de Tours.

Vâng, nói về chuyện phiêu lưu thì đây là một cuộc phiêu lưu đích thực, đẹp như tôi không bao giờ dám mơ ước, và sau những cuộc phiêu lưu đã qua, tôi không tin rằng những trang giấy lem nhem lại có thể khơi động trong cuộc sống một người không biết bao nhiêu là sự việc bất ngờ, tức cười, kinh ngạc, cảm động, kỳ lạ, và dù sao cũng đều rất sống động.

– Nên sống, nên sống, nên sống cưng ơi! Đời chúng ta quá phong phú, phải không em? Anh không biết có bán được nhiều sách đủ để bù lại tất cả tổn phí hay không, nhưng quả thật những ngày vừa qua thật là đáng sống, phải vậy không?

– Vâng, Henri, thật là đáng sống. Em cảm thấy điều ấy trong tận cùng em. Em không biết tìm chữ gì để nói cho anh biết em sung sướng cho anh trước, cho chúng mình sau.

– Cảm ơn em. Rồi em sẽ thấy, cuối tháng 5 này, chính người Pháp sẽ nói: “Chín nút, Ông Papillon! Lùa tiền đi. Lần này ông đã thắng”.

Tôi đến thợ may để họ cắt cho một bộ quần áo. May chịu, vì cần để dành tiền, biết đâu đấy. Mọi chuyện không thể tin được, anh ta nhất định may cho tôi hai bộ, một bộ mặc ban ngày, một bộ mặc ban đêm: “Tôi chắc chắn tiền tác quyền sẽ dư để trả tiền may”. Anh này cũng tin tưởng cuốn sách sẽ thành công.

De Gaulle bị hạ bệ. Hậu quả, sách tôi sẽ ra trong lúc cuộc bầu cử Tổng Thống Pháp đang diễn ra sôi nổi, vào cuối tháng 5. Nếu tôi nhào qua Ba Lê vào lúc ấy, còn ai có thì giờ lo cho một anh Papillon vô danh. Tấn công trước chắc hay hơn. Tôi sắp gọi Castelnau thì anh ta gọi tôi: anh cũng nghĩ như tôi. Nhất định rồi, tôi sẽ đến Ba Lê vào đầu tháng 5.

Anh ta nói, người ta chờ tôi với tất cả ý nghĩa của chữ ấy. Anh đã báo động cho nhiều ký giả báo chí và phóng viên truyền thanh.

Vậy thì, trong mười lăm ngày nữa tôi sẽ đến Ba Lê, vài ngày sau đó sách tôi sẽ ra. Vâng, chỉ còn ít ngày nữa rồi mày sẽ thân chinh tiếp xúc với các nhà báo, các cây bút phê bình, vô tuyến truyền thanh, có lẽ cả vô tuyến truyền hình. Báo chí ấy, vô tuyến truyền thanh ấy, vô tuyến truyền hình ấy là của một dân tộc hơn năm mươi triệu người.

Người ta sẽ đón nhận sách mày như thế nào, người ta sẽ tiếp đón mày ra sao?

Vì sách của mày là câu chuyện đời mày, đúng, nhưng không phải chỉ các chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Xuyên qua các chuyện ấy, công lý, cảnh sát, nhất là chế độ lao tù của một nước như nước Pháp đã được mổ xẻ.

Chỉ của nước Pháp thôi sao? Có lẽ hơn thế nữa, của tất cả các nước trên thế giới. Tất cả các nước sẽ do sách của mày, xét lại nền công lý của họ, cơ quan cảnh sát của họ, và cách thức đối xử với con người trong các nhà tù của họ.

Bởi lẽ mày nên tin rằng hoặc là sách mày sẽ được đọc ngấu nghiến tại nước Pháp đang khao khát biết rõ sự thật cũng như tìm thấy những điều họ không được biết, xuyên qua câu chuyện phiêu lưu gian khổ của mày, cùng cái giá phải trả để cứu vãn nền an ninh công cộng, hoặc là nước Pháp sẽ quay lưng đối với cuốn sách của mày, từ chối biết rõ sự thật, một sự thật khá phiền phức.

Không! Tôi tin chắc rằng dân tộc Pháp, một dân tộc hào hiệp đang khoắc khoải mong muốn có một nền công lý đích thực và một cơ quan Cảnh sát phải chăng, cũng loại bỏ mọi chế độ lao tù ít nhiều giống như một máy chém khô, tôi tin chắc rằng tất cả dân Pháp sẽ chăm chú đọc hết cuốn Papillon, vì họ là một chủng tộc không sợ sự thật. Ba Lê công xã còn ở trong tiềm thức của họ, và những người đã nghĩ, đã viết. Hiến ước Nhân quyền và Dân quyền sẽ phẫn nộ khi thấy người ta không áp dụng hiến ước, dù chỉ một phần nhỏ thôi, trong công cuộc trừng phạt người phạm tội.

Nếu người Pháp, tôi tin chắc như vậy, chấp nhận, bàn cãi, và phân tích bản cáo trạng chứa đựng trong cuốn sách của tôi, tất cả các quốc gia sẽ chú ý đến tình trạng của nước chúng ta để rồi tự hỏi về những gì xảy ra trong nước họ.

Tôi vẫn biết chúng ta đang ở vào năm 1969 mà sách tôi đề cập đến những chuyện xảy ra gần bốn mươi năm trước. Tôi vẫn biết nơi tù đày không còn nữa, đó là một điều đáng mừng, vì mãi đến năm 1930, nó vẫn còn là một sỉ nhục cho nước Pháp đối với người Anh, người Hòa Lan, người Mỹ và tất cả các nước biết nó.

Tôi vẫn biết bây giờ 1 không còn nữa, tôi bị kết án từ năm 1931, người ta có thể nói với tôi: “Ông Papillon, ông nói về thời xưa, về Vercingétorix, về quân đội viễn chinh La Mã! Sau đó đã có Charlemagne, cuộc Cách mạng năm 1789 và vô số biến cố khác! Tất cả đã thay đổi: Công lý, Cảnh sát, nhà tù?”.

Có thật là tất cả đã thay đổi không? Cảnh sát, công lý, nhà tù?

Thế còn vụ án Gabrielle Russier? Vụ án Devaux?

Có thật là đã thay đổi đến như vậy chăng?

Phải chăng vì phụ thẩm đoàn chỉ còn chín người thay vì mười hai người mà tất cả đã thay đổi?

Phải chăng cũng trong tòa đại hình ấy, được bảo tồn kỹ lưỡng, cũng những tấm màn ấy, những tấm thảm ấy, những màu sắc ấy, cũng cách sắp đặt các thẩm phán, Chưởng Lý, bị can ấy, cũng những cảnh binh và công chúng ấy, hằng ngày mạng sống của những người trẻ, những người già hơn, những người rất già được chiếu cố? Và người ta đã phán quyết tùy theo bốn mùa trong năm, thời tiết bên ngoài, hình thù hoặc tính khí vui buồn của những người hiện diện?

Phải chăng từ năm 1968 không còn những nhân viên cảnh sát bị mất chức, bị kết án, những cái chết đáng ngờ?

Không, Papi, đừng có đùa. Mọi người sẽ hiểu, trừ phi người ta đặt sự yên ổn của lương tri tiểu tư sản lên trên sự thật, mỗi người sẽ hiểu những điều mày công kích trong lúc kể lại các sự kiện đã qua, vẫn còn tái diễn, mặc dù ít lộ liễu hơn.

Ít lộ liễu? Tôi phải đọc kỹ các báo Pháp. Không cần gì đọc kỹ; mấy hàng tít lớn cũng đủ.

Bởi vì sẽ có mãi những thằng Mayzaud.

Bởi vì sẽ có mãi những thằng Goldstein, hãng đĩa nhựa được ghi âm tại số 36 đường Orfèvres.

Bởi vì sẽ có mãi những thằng cảnh sát thối nát, bạo dâm, những pháp quan bẩn thỉu.

Bởi vì sẽ có mãi những thằng phụ thẩm trong đời không thấy gì, không biết gì, không hiểu gì hết, mở miệng nói một cách vô trách nhiệm: “Người này đã phạm các tội bị cáo buộc, đáng xử tù chung thân”.

Đàng khác kẻ phạm tội cũng vẫn có luôn. Tôi biết vì có kinh nghiệm. Cùng những câu chuyện như vậy, cũng lời kể là như vậy. Khi những tên ấy, hoặc già hoặc trẻ, kể những việc đã xảy ra hoặc vừa xảy ra cho chúng, tôi có cảm tưởng việc ấy đã xảy ra cho tôi. Đôi khi tôi nói với chúng:

– Tụi nó có nói, có làm như thế này, thế này không?

– Tại sao anh biết?

Và tôi tức cười vì chúng quá ngây thơ.

Papi, khi viết sách, mày không nhận định đích thực những gì mày đưa ra trên bàn mổ. Mày viết để làm một vụ kiếm tiền cho tuổi già của mày và của Rita, chỉ có thế, ít nữa là mày tin như vậy. Cho dù trong một cơn mê sảng mày đã làm sống lại mười ba năm ngục tù khủng khiếp, một câu chuyện ghê tởm có thể là của bao người khác, cho dù trong lúc viết mày la lớn mày cần người ta biết đến những chuyện ấy và rồi cuối cùng mày được thỏa mãn. Không, thành thật mà nói, mày không nhận thức điều đó.

Bây giờ thì đã quá trễ, có tiền hay không có tiền, mày chỉ còn một việc phải làm là dấn thân vào cuộc đấm đá, mặc dù mày có thể không còn yên ổn, tự do và có thể hy sinh mạng sống.

Xã hội năm 1930 có thể chấp nhận rằng một tên tù khổ sai từ Cayenne trở về như một con ma đội mồ, chôn chặt đời mình trong quên lãng, trong khổ nhục, nhưng không bao giờ tha thứ để nó trở nên một người đàng hoàng, đáng kính nể và được kính nể.

Tuy nhiên bây giờ là năm 1969. Mọi người đều quí tự do, tự do đích thực. Mọi người đã chán ngấy không còn muốn làm một trong muôn ngàn bánh xe của một bộ máy khổng lồ. Tất cả, không trừ một ai, từ người Hoa Kỳ đến người Anh, từ người Bắc Âu đến người Nam Tư Lạp Phu, từ người Đức đến người vùng Địa Trung Hải, tất cả đều muốn hưởng thụ cuộc sống, muốn có cảm giác mạnh trong các cuộc phiêu lưu mạo hiểm, muốn cởi áo đi dạo bất cứ giờ nào để được hòa hợp hoàn toàn với thiên nhiên.

Tôi thấy họ ở đây, tại Venezuela, những thanh niên Đức, những thanh niên Bắc Âu, những người Tây Ban Nha, những người Anh, người Hoa Kỳ, người Do Thái. Ngày nào tôi cũng thấy họ, trong số ấy tôi có hằng chục người bạn, không phân biệt chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo, và tất cả, không trừ một ai, đều bác bỏ mọi khuôn sáo, và chỉ xin Thượng Đế một điều: ăn, uống, làm tình khi nào thích chứ không phải khi có người, dù người ấy là cha hay là mẹ, bảo làm.

Vâng, bản cáo trạng do cuốn Papillon của tôi đưa ra, không chỉ là một thách thức đối với dân tộc Pháp, mà là một thách thức đối với cả thế giới.

Những chân trời xa tít, những tiếng gọi của rừng sâu, những bình nguyên mênh mông phi ngựa như điên đi về bốn phương tám hướng; đi tìm một bộ lạc da đỏ cùng sống như họ một thời gian; lái một chiếc máy bay nhỏ rồi hạ cánh gần những thác nước đẹp nhất trần gian, vĩ đại hơn thác Niagara, những thác nước Canaima; đi đến các thác nước Ilovisna, ở đó một ít người dân không nghe tiếng nhạc nào ngoài tiếng thác nước, tiếng chim kêu, tiếng vượn hú, tiếng chim két hoặc chim ác muôn màu; lên một chiếc tàu, ra khơi, sau khi băng qua chín mươi hải lý trong một cảnh hồ mênh mông nằm giữa hàng trăm hải đảo san hô ở Los Roques; ở đó hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, tự nuôi sống bằng cách câu cá hoặc dùng tay bắt tôm hùm, ngồi cả giờ ngắm đáy nước trong hồ, nước trong đến độ trông thấy rõ ràng những con tôm hùm, những con sứa ma bò ở dưới sâu hơn mười lăm thước, từ đó đi qua các hải đảo Las Ayes, cả ngàn chim chóc không biết giống người tàn ác nên đến với người, đi trên mình người đang nằm dài trên cát phơi nắng.

Thế nào? Người ta trách tôi yêu tất cả những cảnh ấy? Ai?

Người ta sẽ không cho tôi nói về những chuyện ấy và không cho tôi kể rằng một hôm tôi đã ở hơn một tuần trên hải đảo ấy với bốn cặp thanh niên Mỹ đã dùng một chiếc tàu nhỏ đến đó, trong số ấy có một cặp người da đen, họ sung sướng như điên vì máy tàu bị hỏng chính ngay tại nơi này, và tôi đã sống với họ trong sự thông cảm hoàn toàn và đầy đủ về tinh thần và thể xác kỳ ảo nhất.

Cặp thanh niên thiếu nữ người Mỹ da đen ấy đẹp như hai pho tượng gỗ mun, thông minh, cởi mở, yêu nhau không chút mặc cảm, những cô gái tóc vàng tiếc rằng đoàn người này quá ít, tất cả những cảnh tôi đã sống ấy, người ta muốn tôi đánh đổi với thứ gì? Đổi lấy một tư pháp lý lịch trinh trắng à? Đổi lấy một công việc làm tại một ngân hàng hay một xí nghiệp, không còn là Papillon, mà là Henri Charrière, một công dân thuần thục, tôn trọng pháp luật do người khác làm để áp dụng cho những người khác, còn riêng họ thì dễ dàng không tuân theo pháp luật vì thuộc giai cấp được ưu đãi? Phải chăng cần phải có nhiều tiền để có thể sung sướng cả đời khi ta có đầy đủ sức khỏe?

Thay vì một trương mục kết sù tại ngân hàng, nên có một nhiệt tình trong lòng vì đó là một trương mục không bao giờ cạn nếu nó giúp chúng ta ham sống, sống trọn vẹn đầy đủ.

Vâng, giờ G gần kề, hành trang đã sẵn sàng, tôi được một chiếu khán ba tháng để đi Pháp. Một lần nữa tôi sẽ đổ bộ xuống phi trường Orly, nhưng lần này không dễ gì người ta không chú ý đến tôi. Castelnau cho biết sẽ có một vài nhà báo. Miễn là người ta không nhân dịp này tống đạt lệnh cấm lưu trú ở Ba Lê cho tôi.

•

Trong chuyến đi Ba Lê ngày 9 tháng 5 năm 1969 này, tôi không muốn có người đưa tiễn. Chỉ có Rita bên cạnh tôi. Tại sân thượng phi cảng, chúng tôi uống trà. Nàng cầm tay tôi, siết nhẹ tay để tôi nhìn vào mắt nàng. Chúng tôi im lặng, nàng biết tôi nghĩ gì: kể từ 11 giờ ngày mai, một tay hồ lỳ sẽ lật từng con bài. Tuy tôi chơi cạn láng ngày 19 tháng 5 trong dịp sách tôi được phát hành, nhưng canh bạc bắt đầu từ ngày mồng 10 lúc 11 giờ. Nàng lại siết nhẹ tay tôi, tôi mỉm cười nhìn nàng với tất cả lòng tin tưởng.

Đời đẹp khi hai người yêu nhau: họ không cần phải dùng lời để nói cho nhau nghe muôn ngàn ý nghĩ, người này trở thành người kia với đầy đủ ý nghĩ của mình. Nếu có điều gì hoài nghi, chỉ cần nhìn nhau để vững tin là cả hai đều cùng chung tư tưởng.

Nàng mỉm cười, ánh mắt có vẻ chế nhạo. Tôi biết nàng muốn nói: “Hồi nãy, anh nói hơi quá với anh người Ý. Anh thành thật nói như vậy, hay anh chế nhạo cả anh lẫn anh ta”. – “Không anh nói thật, anh nói không chút ác ý, anh không hiểu tại sao lại như vậy”, đôi mắt tôi trả lời nàng.

Nửa giờ trước, một anh thầu khoán người Ý chúc tôi thượng lộ bình an; vì muốn đề cập đến vấn đề làm ăn, anh bảo tôi khi nào trở về Caracas thì cho anh ta biết. Anh sẽ cho tôi số điện thoại.

Không suy nghĩ, tôi đáp:

– Mario, anh xem báo sẽ biết ngày về của tôi.

– Tại sao các báo lại cho biết ngày về của anh?

– Bởi vì khi trở lại Caracas, tôi sẽ nổi tiếng.

Mario cười hô hố, nghe vậy hay vậy chứ không hỏi tại sao nghĩ rằng đó là một câu nói đùa. Thế nhưng lúc nói, tôi rất thành thật.

Máy phóng thanh la lên: “Chuyến bay Hàng không Pháp đi Ba Lê xin lên máy bay ngay!”.

Vài nụ hôn, nhưng đặc biệt là vòng tay ôm cổ tôi như một chiếc kiếng quí giá nhất và bên tai, một giọng nói rất nhỏ, chỉ để tôi nghe: “Nhớ em suốt ngày đêm nhá; em sẽ ở bên anh cả đêm lẫn ngày. Đến nơi có thì giờ, viết thư cho em gấp, nếu không thì đánh điện”.

Liền sau đó, tôi ngồi vào chiếc ghế hạng nhất rất êm. Chính Rita đi lấy vé và nàng muốn dành cho tôi sự bất ngờ này để tôi đi đường thoải mái hơn. Phi cơ lăn bánh êm ru. Trong hai phút tôi còn trông thấy nàng, tay đưa lên vẫy chiếc khăn tay.

•

Hoạt động, đương đầu với một hoàn cảnh mới lạ khó khăn, bao giờ cũng hấp dẫn. Căng thẳng nhất, không phải lúc tranh đấu, mà trước, lúc chờ đợi. Đầu óc suy nghĩ lung tung, mình tự hỏi: “Công việc sẽ diễn tiến như thế nào? Ai đón mình. Mình sẽ nói thế này, thế này, sẽ làm thế này, thế này”. Và mọi việc không xảy ra như mình tưởng. Đột ngột mình bị đưa ngay vào vòng chiến và ngay lúc ấy phải tìm cho ra vũ khí để hóa giải đối phương, thuyết phục hoặc loại trừ đối phương. Mình chỉ cần tự nhủ một điều này: “Mình phải vượt qua chướng ngại, dù mình mạnh hơn hay yếu hơn những người định cản trở bước tiến của mình”.

Nếu tôi nhận định sâu sắc thì tất cả đều ngược lại việc cho ra sách tôi trong ngày hôm ấy. Tại Pháp, cuộc tranh đấu chính trị nhân dịp bầu cử Tổng Thống đang diễn tiến sôi nổi. Đây là thời kỳ hết sức quan trọng đối với quần chúng Pháp. Thế mà mày muốn ngoài công cuộc tranh đấu chính trị, người ta chú ý đến cuốn sách của một người vô danh? Cũng có thể được trong những lúc thiên hạ tạm nghỉ tranh đấu hoặc lắng dịu. Rồi sẽ biết!

Không lẽ chỉ có những yếu tố tiêu cực trong việc cho ra cuốn sách trong ngày ấy sao? Hôm đó là kỷ niệm sinh viên tranh đấu kỳ tháng 5 năm 1968.

Tháng 5 năm 1969, kỷ niệm ngày đẫm máu của sinh viên Pháp kỷ niệm nổ tung nồi hơi chất chứa trong quá nhiều năm. Kỷ niệm ngày lấy búa chặt vào cây cổ thụ bất khả xâm phạm trên đó vị tế sư đang ngồi vắt vẻo, sau hết, kỷ niệm những ngày mà cuối cùng người ta phải nghe tiếng nói những người bị xử tội câm nín suốt đời.

Vì vậy mà ngày tiền định này cũng sẽ là ngày mà tôi, một người cũng bị xử tội câm nín suốt đời, được nói những gì chất chứa trong lòng và xin người ta lắng nghe một chút.

– Thêm một tí sâm banh nữa nhá?

– Thôi, cảm ơn. Xin cô một tí phố mát với rượu chát đỏ… Được chứ.

– Có ngay.

– Cảm ơn cô Hàng Không Pháp.

– Ông đi Ba Lê?

– Vâng.

– Ông là người Venezuela?

– Đúng và không đúng.

Nàng bỏ đi rồi trở lại ngay.

– Đây, phố mát và rượu chát. Thế thì ông gốc Pháp nhập quốc tịch Venezuela?

– Đúng vậy.

– Bây giờ có quốc tịch khác rồi, ông trở về Pháp có thấy kỳ không?

– Có một ít, nhưng vậy mới gọi là phiêu lưu.

– Ông đã phiêu lưu nhiều rồi phải không ạ?

– Cũng khá nhiều và rất sôi động.

– Bây giờ công việc tôi đã xong, xin ông vui lòng kể cho tôi nghe với.

– Dài lắm, nhưng trong vài ngày nữa, cô bé sẽ đọc các chuyện ấy trong một quyển sách.

– Ông là nhà văn?

– Không. Nhưng tôi có viết lại cuộc đời giang hồ của tôi.

– Tên sách là gì?

– Papillon.

– Tại sao lại Papillon? Đó là tên ông?

– Không, biệt danh của tôi.

– Sách ông nói về chuyện gì?

– Nè, cô bé quá tò mò. Nếu bé cho tôi thêm một miếng phố mát, tôi sẽ nói cho nghe.

Không phải đợi lâu. Một phút sau:

– Đây. Bây giờ ông phải kể tôi nghe. Ông có muốn tôi nói thật ý nghĩ của tôi không?

– Nói đi.

– Tôi có thói quen đoán xem một hành khách hạng nhất làm gì, địa vị xã hội như thế nào. Thế mà với ông thì chịu. Từ lúc ông bước vào, tôi tự hỏi ông này làm nghề gì vậy.

– Và cô bé không tìm ra?

– Không. Tôi lần lượt loại trừ các nghề nghiệp có thể gán cho ông, rốt cuộc không tìm ra gì hết.

– Bây giờ tôi sẽ thỏa mãn tính tò mò của cô. Tôi là một kẻ phiêu lưu.

– Thật là hết xẩy.

Cô bé đứng lên để đi đưa một chiếc mền cho một người hành khách. Tôi tự nhủ đây là một dịp để trắc nghiệm. Một người lạ, một thiếu nữ đi nhiều vì nghề nghiệp bắt buộc, hẳn là đọc sách nhiều, quả là một hàn thử biểu tuyệt hảo. Tôi sẽ bắt mạch cho cuốn Papillon.

– Cô bé, bây giờ tôi nói cho cô biết: một chàng thanh niên hai mươi ba tuổi, có phần đẹp trai, nhưng hoang lung, chàng thanh niên ấy có lý do hoặc tưởng mình có lý do để xem thường trật tự và kỷ luật. Cô tưởng tượng ra người thanh niên ấy rồi chứ?

– Rồi, rất rõ.

– Chàng thanh niên bị đưa ra tòa đại hình về một tội trong giới giang hồ mà hắn không phạm, và bị xử chung thân.

– Vô lý!

– Người ta bắt hắn rục ra dần dần cho đến khi chết, trong một nơi tồi bại nhất trần gian, tại trại tù đày ở Cayenne. Năm 1933, chàng thanh niên được đưa gửi Guyane, nhốt trong một cái chuồng có song sắt lớn dưới hầm một chiếc tàu dùng vào việc ấy. Hắn không chấp nhận, vượt ngục hai lần đều thất bại. Cuối cùng, sau mười ba năm, hắn đến Venezuela tự do. Tại đó, hắn trở thành một người đàng hoàng, có một chỗ đứng trong xã hội, lấy vợ, sống gần quân bình. Ba mươi chín năm sau, hắn trở về Ba Lê với một cuốn sách kể lại đời hắn, những nỗi khổ nhục, những ngục tối, những lần vượt ngục, những lần tranh đấu, trong ba năm rưỡi hắn hai lần bị quăng vào một chuồng gấu bên trên có song sắt; không được nói lời nào, trong bóng tối lờ mờ, hắn đi lui đi tới như một con thú để khỏi mất trí và để khi ra khỏi chuồng gấu, sắp đặt một cuộc vượt ngục khác. Đó là nội dung cuốn sách, không hơn không kém. Cuộc sống của một người trong ngục thất.

Người nữ tiếp viên đôi mắt đen mở lớn, không nói, nhưng tôi cảm thấy nàng tìm xem trên khuôn mặt khắc khổ của tôi những gì khác lạ mà nàng linh cảm.

– Trong cuốn sách ông đã can đảm nói hết? Không sót một điều gì?

– Tất cả.

– Và ông không sợ phải đương đầu với công luận, ông, một….

– Cô cứ nói: Ông, một người đã bị tù đày.

Cô bé không dám trả lời, nàng chỉ gật đầu. Vâng, đúng như vậy đó. Tôi, một người đã bị lưu đày, một tên bị kết án chung thân vì tội cố sát, một tên vượt ngục đi đây đi đó phây phây dù bị cấm lưu trú, nay lại trở về Ba Lê với một tâm hồn trần truồng trên một đĩa bàn và trong vài giờ nữa tôi sẽ trình bày đĩa bàn ấy cho dân chúng Pháp xem.

Một lần nữa; đôi mắt mở to cố tìm đi sâu vào mắt tôi. Cô bé rùng mình, đôi mắt có vẻ muốn nói: “Kìa, ông không nhận thấy ông đang làm một việc kinh khủng, những gì ông sẽ quậy lên!”.

– Cô bé nghĩ sao? Như vậy là can đảm hay tự sát?

– Không cần suy nghĩ, tôi chắc việc này sẽ gây ít nhiều tiếng vang. Nhất là với ông.

– Tại sao?

– Bởi vì vừa trông thấy ông, người ta thấy ngay ông có một cái gì đặc biệt.

– Có thật cô bé có cảm tưởng câu chuyện này sẽ làm người ta quan tâm không? Ngay trong một nước Pháp đang âu lo tìm kiếm một người thay người hùng De Gaulle?

– Tôi tin chắc như vậy, và tôi ước mong được ở bên ông để sống một phần nào những giờ phút ông sẽ sống. Vì không thể nào ở Pháp người ta lại thờ ơ với câu chuyện ông kể, nếu ông đã viết ra đầy đủ như ông vừa kể tôi nghe. Xin lỗi ông tôi phải đi, tôi phải ngồi chỗ trực. Tôi rất muốn ngồi bên ông. Hẹn ngày mai, chúc ông ngủ ngon.

Với điệu bộ dễ thương, nàng cúi sát xuống mặt tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, nói: “Ông đi đến một cuộc chiến thắng lớn, tôi tin chắc như vậy, tôi hết lòng cầu chúc ông thành công”.

Cuộc trắc nghiệm tỏ ra xác thực. Bằng vài câu về một phần nhỏ của vấn đề, người thiếu nữ đã thấy ham thích. Sẽ có rất nhiều người như cô bé này. Hy vọng như vậy.

Tôi bỏ ghế nằm dài ra, không ngủ được. Tôi cuốn chân vào một chiếc mền, tự tay với lấy ở trên đầu. Tôi không muốn phiền cặp mắt đen lớn.

Bây giờ mọi chuyện đã chuyển động. Trong đêm tối chiếc Boeing bay với tốc độ 900 cây số giờ trên Đại Tây Dương. Giờ phút quyết định.

Tôi biết rõ vì đâu và tại sao tôi viết quyển sách, nhưng đối với họ, những người ở bên Pháp, kẻ đến hôm nay là ai? Không là ai hết, một người vô danh.

Thế thì chỉ có một cách, đi thẳng vào vấn đề:

– Tôi xin tự giới thiệu, Papillon.

– Nghề nghiệp của ông trước khi viết cuốn sách này?

– Trước hết là tù bị đày.

– Rồi sau?

– Tù vượt ngục, rồi tù biệt xứ.

– Quốc tịch?

– Venezuelien, gốc tỉnh Ardèche.

Vâng, người sắp đến Orly là một tên tù đày vượt ngục. Một người đã bị tòa án Pháp chính thức đưa vào con đường ô nhục chung thân. Không phải vì thời hạn biệt xứ của mày đã triệt tiêu mà người ta không thể làm gì đối với mày, mà sự liên hệ giữa mày với cơ quan tư pháp và cảnh sát đã thay đổi. Còn bị biệt xứ hay đã hết, mày vẫn là một thằng tù vượt ngục. Mày về đây không len lén đi nép theo các bức tường, tìm một thôn hẻo lánh để sống mãn đời trong im lặng, khiêm nhường dấu kín sau các bức tường cao để người ta khỏi trông thấy mày và để khỏi nghe người đời nói lên tiếng chì, tiếng bấc.

Không, mày đến với một cuốn sách, trong sách ấy mày viết: “Hỡi người Pháp, đây là cảnh đời ghê tởm của các người trong tám mươi năm”. Và trong cuốn sách, tấn công chế độ lao tù, nhân viên cảnh sát và ngay cả nền công lý của một quốc gia có trên năm mươi triệu dân, mày chỉ trích ba cơ quan phụ trách an ninh công cộng. Thế thì mày lớn gan thật! Chuồn đi ngay.

Hơn thế nữa, sách mày không âm thầm xuất đầu lộ diện trong các tiệm sách ngày 19 tháng 5. Mày đến Ba Lê ngày 10 (mày không quyền đến đây vì bị cấm lưu trú) rồi ngày 12, theo như thư người ta đã tin cho mày biết, báo France Soir sẽ cho đăng trước một đoạn sách của mày. Nghĩa là ngày 12, trong 1.200.000 tờ France Soir, cả nước Pháp sẽ biết mày còn sống. Thường thì ba người đọc một tờ báo, thế là có ba triệu sáu trăm ngàn người, trong tám ngày, biết trên đời này có một người tên Henri Charrière, biệt danh Papillon, tù nhân vượt ngục Cayenne sau một bản án chung thân, biệt xứ, hôm nay đến để nói một cách rất tự nhiên: “Năm 1931, mười hai người trong các anh đã xóa tên tôi trong danh sách người sống. Quan tòa của các anh thay mặt cho công lý và an ninh của các anh, và năm 1931 người ta dẫn đến trước mặt họ một thanh niên tên Papillon. Các quan tòa ấy đã tin vào cảnh sát, vào các cuộc thẩm vấn, các cuộc điều tra của cảnh sát. Các quan tòa cùng mười hai phụ thẩm đã chấp thuận một việc ghê gớm: thủ tiêu một thanh niên hai mươi bốn tuổi. Họ tưởng phải làm như vậy; họ đã bị một thằng nhân viên cảnh sát thối nát lừa phỉnh như những đứa ngốc. Sau đó người ta quẳng nó vào tay cơ quan quản trị ngục thất, phó mặc nó cho các phương pháp trung cổ đối xử với con người tàn tệ hơn là một đống rác. Rồi do một phép lạ, nó đã được tái sinh. Bây giờ người thanh niên ở đây, ở đây với số tuổi sáu mươi để nói với các anh: “Lúc bấy giờ các anh có đồng ý không? Các anh có biết không? Các anh có đồng lõa không? Vì Albert Londres cũng như bao nhiêu ký giả tên tuổi khác, cũng như Trung tá Péan trong Đoàn quân cứu nguy cũng chưa khơi động tâm hồn các anh đúng mức để các anh đòi hỏi người ta phải lập tức xóa bỏ con đường ô nhục, chiếc máy chém khô ấy đi!”.

Vâng, tôi sẽ nói tất cả chuyện ấy ra. Vâng, họ sẽ đọc tất cả chuyện ấy. Mày phải làm cho họ đọc các con số một, hai, ba, bốn, năm, của các phòng tối và các ngục thất của mày.

Vì sau khi được đăng trước trên báo France Soir, Papi, sẽ có đủ hết. Mày sẽ được phỏng vấn trên báo, trên đài phát thanh, trên vô tuyến truyền hình và chuyện ấy sẽ không được chấp nhận dễ dàng đâu.

Vậy thì, trước hết mày nên nói:

– Ông cho phép tôi nói?

“Theo ông, tôi có quyền được phát biểu ý kiến?

“Ông đồng ý rằng một người trước bị tù đày, nay có thể trở thành một người đàng hoàng?

“Các ông đã bác bỏ, quét sạch những ý kiến cổ hủ của ông cha các ông rồi chứ?

– Này, tôi có thể thở không khí tự do trong nước Pháp năm 1969 chứ?

Hay là phải xin phép? Và xin phép ai?

Không lý gì người ta không thấy rõ rằng hình phạt không tương xứng với lỗi lầm người ta cáo buộc mày, cho dù mày có là thủ phạm. Nếu bất kể cuộc tuyển cử, người ta vẫn chú ý đến mày, mày nên tin rằng sẽ còn nhiều pha cụp lạc.

Tại sao? Bởi vì sẽ có cả khối người bực mình vì thấy một tên tù vượt ngục, đối với pháp luật vẫn ở trong tình trạng trốn tránh, lại dám đứng ra nói tất cả những chuyện ấy ngay chính trong nước đã kết tội nó. Thật là quá dị thường. Trong một giai cấp nào đó, người ta sẽ nghiến răng trèo trẹo. Bao nhiêu người? Có lẽ không đến một triệu, nhưng một triệu người ấy sẽ làm ồn lắm. Những người bảo thủ hưởng đặc quyền đặc lợi ấy cho rằng trên đời này, tất cả đều tốt; bọn hủ lậu ấy không thể chấp nhận rằng các giai cấp khác có thể thay đi và tiến hóa. Chẳng khác nào bọn thực dân!

Bọn thực dân ở Algérie hay Maroc phẫn nộ vì không còn quyền để bắt người Ả Rập phải đổ mồ hôi nước mắt, họ gán cho những ai nghĩ rằng người Ả Rập bình đẳng với chúng ta, là cộng sản, là không tưởng, là phản lại Đế quốc Pháp. Chính hạng người ấy chủ trương nên thủ tiêu bằng cách này hay cách khác tất cả những kẻ động chạm đến đời sống yên ổn của họ. Họ đã sáng chế ra hạt giống của lao tù là nhà trừng giới, thế nào cũng đưa đến tù đày. Oan hay ưng? Họ không cần biết. Một chế độ ghê tởm, phi nhân? Họ cũng không cần biết. Họ chỉ cần bất động.

“Họ chỉ cần bất động…”, đó là một khẩu hiệu trường kỳ. Trong việc áp dụng hình phạt, họ tới hôn kẻ phạm tội. Họ tiếc rẻ các tào dịch hình, thời xưa mà người ta có thể kết tội một người chỉ vì người ấy “có thể làm việc ấy”. Vâng, mày sẽ đụng đầu với hạng người ấy.

Đến nay đã bốn mươi năm rồi. Cũng là may. Trong thời kỳ chiến tranh, hằng ngàn người lương thiện đã bị tù tội, đã bị cảnh sát, Tòa Án phiền nhiễu, và nhất là trong một đôi trường hợp, đã hiểu người ta đối xử với mình như thế nào khi mình chỉ còn là một con số.

Chúng ta hy vọng đã có nhiều thay đổi, nhưng một điều chắc chắn là nếu được hỏi trên báo chí, trên đài phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình, tôi không có quyền dấu nhẹm, tôi phải nói sự thật. Không cần biết hậu quả.

Sẽ vô cùng khích động, nhưng không toàn màu hồng. Tiến lên! Phải thẳng thắn, dù có ảnh hưởng bất lợi về phương diện thương mại của cuốn sách. Ồ, dù cho có vì quá thẳng thắn, quá hăng say bênh vực sự thật mà tôi phải bị thiệt thòi vì sách bán không chạy, tôi vẫn làm, tôi phải làm, người ta phải nghe tôi nói, người ta phải được nghe tôi nói ra những gì tôi đã thấy. Dù cho thay vì mua một ngôi nhà dưỡng già, tôi chỉ còn đủ tiền thuê hai căn phòng bên bờ sông Ardèche, dưới ánh sáng rực rỡ.

Trời đã sáng qua khung cửa nhỏ thân máy bay và đến lúc đó tôi mới ngủ được, yên tâm vì đã có một quyết định dứt khoát.

– Xin nhà phiêu lưu dùng một ít cà phê! Cặp mắt đen lớn mỉm cười khả ái, cặp mắt đầy mến mộ và cảm tình.

– Cảm ơn cô bé. Trời ơi, sáng bạch rồi!

– Vậy, sắp đến nơi. Chỉ còn một giờ nữa. Này ông, người ta đã dẹp nơi tù đày rồi phải không?

– Cũng may là như vậy. Đã hai mươi năm.

– Thế thì, ông thấy không, chỉ cái việc dẹp nơi đó đi cũng đủ nói lên rằng dân Pháp hiện hữu trước đây đã đồng ý với ông.

– Cô bé có lý, tôi không thấy điều đó.

– Thưa ông, ông nên tin tôi, người ta sẽ nghe ông, sẽ hiểu ông, hơn thế nữa, người ta sẽ quí ông.

– Tôi hết lòng cầu mong được như vậy. Cảm ơn cô bé.

“Xin quí vị cột thắt lưng lại: Chúng ta bắt đầu đáp xuống Orly, trong hai mươi phút chúng ta sẽ hạ cánh, khí hậu bây giờ là mười chín độ, trời trong sáng!”.

Trời trong sáng cho mọi người, nhưng đối với tôi, một tên tù đày đến đây, có người mở rộng vòng tay chờ đón, (mong được vậy), có người chực ném đá, trời Ba Lê hiện giờ ra sao đây?

Thắc mắc như thế đủ rồi! Có để làm gì đâu? Tôi đã đưa cuộc đời tôi vào canh bạc, giờ đây tôi tiếp tục. Một canh bạc rất hấp dẫn đang chờ tôi. Bằng tất cả các thớ thịt, tôi sẽ cảm thấy một cách mãnh liệt cuộc tranh đấu với những người do nghề nghiệp và học vấn đã được chuẩn bị đầy đủ hơn tôi, sẵn sàng mổ xẻ những gì tôi phơi trần ra hay nói đúng hơn, che đậy theo kiểu họ, bộ xương của những gì tôi đại diện, một trong hàng trăm tên tù khổ sai đã thoát khỏi bàn tay bọn cá mập.

Mày hơn thiên hạ ở điểm mày đã khổ nhục và mày nắm được sự thật.

Dù có u ám hay không u ám, vòm trời Ba Lê của tôi ít ra cũng có một chút lóe sáng, vì vừa ra khỏi nơi trạm kiểm soát của Cảnh sát, tôi đã trông thấy Castelnau với nụ cười rộng mở, cảm động, vừa hôn tôi, vừa đưa cho tôi bản đầu tiên của quyển Papillon.

– Cảm ơn anh, Jean Pierre. Chờ tôi chút, để lại một chữ gửi ngay cho Rita.

– Đồng ý, nhưng nhanh lên. Người ta chờ mình.

– Ở đâu?

– Tại nhà tôi. Hai nhà báo quan trọng. Tôi sẽ nói anh rõ.

Trong lúc tôi vừa bước đi, hai ánh đèn chụp hình rọi tôi. Hai tấm hình đầu tiên của tôi do nhà báo chụp.

– Để đăng báo France Soir. Mừng Ông đến Ba Lê, ông Charrière.

– Jean Pierre, ở Ba Lê công việc thông tin hễ bắt đầu là nổ tung liền!

Sách đã gửi đi. Tôi nhận thấy Jean Pierre có vẻ lo lắng:

– Sao, Henri, khỏe chứ? Đối với việc sắp xảy ra, anh có xốp phổi không?

– Không, anh đừng lo. Chưa đủ để tôi phải bối rối đâu.

– Bởi vì, anh biết không, ở Ba Lê, báo chí, các nhà phê bình, có lẽ không hoàn toàn như anh nghĩ. Ngòi bút đôi khi còn nguy hiểm hơn súng đạn.

– Đừng lo, con ơi. Tôi minh mẫn hơn lúc nào hết. Tin tôi đi.

– Đồng ý. Nhưng tôi báo trước anh biết: sẽ gay go, khó khăn, nhọc nhằn lắm. Và trong một giờ nữa, cuộc đụng độ bắt đầu.

– Tôi khoái chuyện ấy lắm; tôi nắm trong tay hai lợi khí: sự thật và ý chí vượt qua các trở ngại khi lẽ phải về mình.

– Càng hay, ta lên đường về nhà.

——————————–

1          Nouméa: một hải đảo ở Úc Châu.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 22 June, 2023

Post by Sơn râu 12 Oct 2025

Kỳ 8

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Ngày 7 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1974 một hợp đoàn trực thăng đáp xuống Pleime để di chuyển hai Ðại đội 2 và 3 cùng bộ chỉ huy hành quân của tôi ra Căn Cứ Hỏa Lực 711. Tôi nhận cái căn cứ này từ một đại đội của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân bàn giao. Vì nhu cầu chiến thuật, Căn Cứ Hỏa Lực 711 ra đời vào cuối năm 1973. Ðây chỉ là một tiền đồn dã chiến được dựng lên trên miếng đất hình chữ nhật với diện tích chừng nửa mẫu tây. Cứ điểm này nằm sát lề Tây của Liên Tỉnh Lộ 6C  trên ngọn đồi tương đối bằng phẳng có cao độ 600 mét. Cứ Ðiểm 711 có bờ đất bao quanh cùng một hệ thống giao thông hào và bốn cái lô cốt ở bốn góc. Trên nóc mỗi lô cốt đều có một chòi gác lợp tranh. Ra vào chỉ có một cái cổng chính hướng Ðông sát với tỉnh lộ. Bên trái cổng là điếm canh, bên phải cổng là phòng khách cũng là phòng thuyết trình của căn cứ.

– Ngày 8 tháng 4 năm 1974:

Trưa 8 tháng 4 năm 1974 Trung tá Huỳnh Văn Lộc, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân đáp xuống Ðồn 711 thăm tôi và chuyển quyền giám sát hành quân Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân cho tôi, thay vì dưới quyền Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân. Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân trong quận lỵ Thanh-An và chốt giữ Ðèo Thanh-Bình nên liên lạc với Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân rất khó khăn vì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân lại đồn trú trong Quận Phú-Nhơn. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân là Thiếu tá Nguyễn Hoàng.

Năm 1965 khi tôi còn là một Sinh Viên Sĩ Quan khóa 20 Ðà-Lạt thì ông Nguyễn Hoàng là thầy tôi. Ngày đó ông Hoàng là Trung úy sĩ quan cán bộ Ðại đội phó Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị. Sau khi đại đội giữ Ðồn 711 rút đi thì Tiểu Ðoàn 205 chỉ còn một đại đội đóng quân trên Tỉnh Lộ 6 C cách Ngã Ba Mỹ Thạch chừng năm cây số. Tôi giao cho thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân giữ vai trò trừ bị.

– Ngày 9 tháng 4 năm 1974: Sáng 9 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được một xe ủi đất với một sĩ quan và hai binh sĩ Công Binh tăng phái từ Sư Ðoàn 22 Bộ Binh cùng lúc với sơ đồ thiết lập một căn cứ hỏa lực mới nằm trong làng Plei Ngol Ho bên lề Ðông của tỉnh lộ và cách 711 một cái thông thủy.

Nửa giờ sau tôi tiếp nhận đoàn xe của Trung úy Danh, một Pháo đội trưởng của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh kéo theo 2 đại bác 155 ly vào tăng cường. Vì Trung úy Danh đóng chung vị trí với tôi, mà tôi lại không có tiền sát viên, nên anh Danh kiêm luôn vai trò sĩ quan hỏa yểm cho đơn vị tôi. Cũng từ hôm đó, tôi phân nhiệm cho Ðại Ðội 2 phòng thủ Ðồn 711 đồng thời duy trì một tiền đồn trên Ðồi Tử Chiến, cách 711 chừng 2 cây số về hướng Nam. Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 cùng Ðại Ðội 3 và Trung Ðội Trinh Sát 82 đóng chung với Pháo Binh và Công Binh trong Plei Ngol Ho. Công tác xây dựng Căn Cứ Plei Ngon Ho tiến hành không được suôn sẻ, vì sau khi hoàn thành hai cái ụ pháo binh thì chiếc xe ủi đất cứ bị chết máy hoài.

– Ngày 10 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 10 tháng 4 tôi nghe báo cáo, toán tuần tiễu an ninh hướng Nam 711 vướng lựu đạn gài, một quân nhân bị thương. Ông sĩ quan trợ y tới trình diện tôi:

– Trình Thiếu tá, thằng lính bị thương không cho tôi băng bó, nó cứ đòi gặp Thiếu tá!

Nghe vậy, tôi liền đi theo ông trợ y ra ngoài Tỉnh Lộ 6 C nơi có năm, sáu người đứng vây quanh một cái cáng cứu thương và đang tranh nhau bàn tán xôn xao. Ðám đông tản ra cho tôi bước tới. Anh sĩ quan trợ y phân bua:

– Con cu của nó bị mảnh lựu đạn cắt đứt một khúc, nó cứ nằng nặc bắt em phải nối con cu cho nó thì nó mới cho em chùi rửa vết thương.

Vừa thấy mặt tôi, anh thương binh đã lớn tiếng la,

– Thiếu tá ơi! Thiếu tá cứu em!

– Gì thế?

Hai tay ôm khư khư một vật trước ngực, anh lính người sắc tộc Ja Rai nhìn tôi, khẩn khoản,

– Con cu của em bị đứt! Thiếu tá làm ơn nối nó lại cho em! Nếu không em chết đó!

Tôi móc túi rút bao thuốc lá Lucky ra, lột cái vỏ bằng giấy bóng bao ngoài, rồi ngồi xuống bên cạnh anh lính, từ tốn nói,

– Em mở bàn tay ra, bỏ đầu con cu vào đây, Thiếu tá sẽ viết thư cho bác sĩ nối nó lại cho em!

Tới lúc này anh chàng mới xòe bàn tay cho tôi coi, trong lòng tay anh ta là một cục thịt màu đen dài chừng bốn hay năm phân.

Anh lính Thượng run run bỏ cục thịt vào cái bao thuốc lá rồi lại khư khư ôm chặt nó.

Tôi lấy quyển sổ nhật ký của Ban Quân Y trên tay anh trợ y, xé ra một tờ, rồi ghi vội vàng một lời nhắn:

“Kính gửi Bác sĩ Trung, Bác sĩ Thiết, Bác sĩ Anh hoặc bất cứ bác sĩ nào nhận được thư này.

Tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, xin giới thiệu với bác sĩ.

Ðây là một người anh hùng đang hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương.

Xin bác sĩ hãy đặt mình vào tình trạng của anh lính này mà ra tay cứu giúp anh ta.

Xin cám ơn quý vị.

Thiếu tá Vương Mộng Long”

Sẵn có chiếc xe Doge 4×4 của đơn vị, tôi ra lệnh cho Thiếu úy Trần Văn Phước áp tải anh thương binh về bệnh viện. Phước cũng được lệnh phải trao tận tay vị bác sĩ trực ngày hôm đó lá thư nhờ vả của tôi.

Hai tháng sau ngày đó, giữa tháng 6 năm 1974, anh thương binh người Thượng Ja Rai có tên Nay On được xuất viện trở về. Trình diện tôi, On hớn hở khoe:

– Nhờ ông Thiếu tá giới thiệu với ông bác sĩ, ông bác sĩ đã khâu vá con cu cho em. Em không bị con vợ nó bỏ. Nếu em mà mất con cu thì vợ em bỏ em, em sẽ bắn vào đầu em chết ngay đó! Xuất viện, em được lệnh thuyên chuyển về tiểu khu, gác dinh tỉnh trưởng, nhưng em nhớ ơn ông Thiếu tá, em xin về lại tiểu đoàn mình! Em thương ông Thiếu tá nhiều nhiều lắm!

Cuối tháng 7 năm 1974 Binh nhất Nay On đã tử trận ngay ngày đầu chiến dịch vây hãm Pleime mở màn.

– Ngày 12 tháng 4 năm 1974:

Trưa 12 tháng 4 năm 1974 có hai chiếc xe GMC chạy tới Cứ Ðiểm 711; một xe chở thực phẩm tiếp tế cho đơn vị do Thiếu úy Nghị chỉ huy; xe thứ nhì do Thiếu úy Việt chỉ huy. Thiếu úy Phạm Ðại Việt vừa khỏi bịnh sốt rét xuất viện trở về đơn vị. Cùng đi trên chuyến xe của Thiếu úy Việt còn có 5 ông Thiếu úy Ðà-Lạt, 5 ông Chuẩn úy Ðồng-Ðế và 1 ông Chuẩn úy Thủ-Ðức tới Tiểu Ðoàn 82 để thực tập quan sát sau khi mãn khóa Rừng Núi Sình Lầy.

Vì căn cứ hỏa lực mới chưa có phòng hội, nên tôi tập họp 11 sĩ quan thực tập trong phòng thuyết trình của Ðồn 711 để phác họa cho các tân sĩ quan biết tình hình địch hiện nay đồng thời chỉ dẫn cho họ những việc cần làm trong thời gian ở đây.

Trong lúc tôi đang thao thao trên bục, trước tấm bảng đen thì đạn đại bác 105 ly của địch bất ngờ theo nhau nổ “Ùm! Ùm! Ùm!” trên căn cứ. Kẻng báo động gióng lên “Canh! Canh!” Cùng với tiếng binh sĩ kêu gọi nhau: “Xuống hố! Sẵn sàng chiến đấu!”

Trong hầm thuyết trình, tôi vẫn bình tĩnh đứng trên bục gỗ. Trong khi đó 10 ông tân sĩ quan đã nhanh nhẹn nằm rạp xuống nền đất tránh đạn, chỉ còn duy nhất trên hàng ghế đầu, một chuẩn úy mặt còn rất trẻ đang ngồi ngây người, giương to đôi mắt nhìn tôi.

Trong màn khói bụi, tôi lớn tiếng trấn an những sĩ quan đàn em,

– Bình tĩnh! Hầm này có hai lớp bao cát, xung quanh cũng có tường bao cát. Mảnh đạn pháo binh sẽ bay lên theo hình nón ngửa, không xuyên qua tường được đâu! Ðứng dậy! Ngồi lên ghế! Ðừng sợ!

Ðợt tấn công bằng pháo 105 ly của Việt Cộng chỉ kéo dài chừng năm phút, với tổng số khoảng trên, dưới 30 viên chạm nổ rơi ngay trên sân Tiền Ðồn 711.

Ðợi cho các tân sĩ quan đã yên vị, tôi mới từ tốn nói,

– Ðây là một kỷ niệm và cũng là kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đời chinh chiến sau này của các chú.

Tôi cúi xuống vỗ vai anh chuẩn úy ngồi hàng ghế đầu, rồi đọc được cái bảng tên “LONG” của anh ta, nên buột miệng

– Chú tên là Long! Vậy chú mang họ gì?

– Trình Thiếu tá em là Hồ Văn Long, sĩ quan Thủ-Ðức.

– Anh khen ngợi chú đấy! Sau khi thực tập, nếu chú muốn về 82, anh sẽ nhận chú ngay!

Một thiếu úy Ðà-Lạt mang bảng tên là Tuân hay Tuấn rụt rè đứng lên thắc mắc,

– Em có thắc mắc là tại sao niên trưởng không phản pháo?

Tôi gật đầu cười,

– Một câu hỏi rất hay! Anh không cho phản pháo vì anh biết chắc chắn rằng, chỉ một phút sau khi bắn, địch sẽ kéo súng sang vị trí khác. Ta không nắm chắc tọa độ súng địch ở đâu, thì có phản pháo cũng chỉ bắn cầu âu, chỉ phí đạn mà thôi!

Ðợt đột kích bằng pháo binh của địch không làm ai bị thương. Tôi không ngờ đợt pháo kích vừa rồi, cũng như những đợt pháo kích nhắm vào Ðịa Phương Quân trước đây, là nhằm điều chỉnh yếu tố tác xạ cho trận đánh sau này của địch. Hết báo động, sinh hoạt trên Căn Cứ 711 trở lại bình thường.Tôi giao cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy 11 ông sĩ quan thực tập. Nhóm sĩ quan này tạm thời tá túc với đại đội chỉ huy của tiểu đoàn.

Chiều 12 tháng 4 năm 1974 một trực thăng đáp xuống 711, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 trao cho tôi một công điện mang tay, thông báo cho tôi biết rằng, từ trưa 13 tháng 4 năm 1974 Chi đoàn 3/19 Thiết Vận Xa sẽ tới tăng phái cho tôi. Kế đó, anh Khoa cũng đưa cho tôi một phóng đồ hành quân, ra lệnh cho tôi phải cấp tốc tổ chức một cuộc hành quân chớp nhoáng nhằm tảo thanh vùng rừng thưa cách Plei Xôm 4 cây số về hướng Tây. Cuộc hành quân này sẽ đi, về trong ngày, lực lượng tham dự là Chi Ðoàn 3/19 Thiết Quân Vận cùng một đại đội Biệt Ðộng Quân tùng thiết.

Trong thời gian chờ trực thăng quay trở lại, Thiếu tá Khoa nói nhỏ với tôi,

– Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!

Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, khóa 19 Võ Bị là bạn thân của tôi. Anh Khoa vừa đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 được vài ngày.

– Ngày 13 tháng 4 năm 1974:

Sáng 13 tháng 4 năm 1974 Chi Ðoàn 3/19 từ Pleiku tới 711. Ðơn vị này có 18 Thiết Quân Vận M113 do Ðại úy Nguyễn Xá, Chi đoàn trưởng chỉ huy. Vì Căn Cứ Plei Ngol Ho đang trong thời gian xây dựng, xe cộ phải đậu lộ thiên, do đó Ðại úy Xá đề nghị với tôi để Chi Ðội Chỉ Huy gồm 6 chiếc M113 trên Plei Ngol Ho, số còn lại sẽ trú quân trong Ðồn 711 vì nơi đây có tường đất cao bao quanh và hầm hào đã thiết trí sẵn.Như vậy, chiều 13 tháng 4 năm 1974 trong khu vực hành quân lực lượng bạn gồm có:

Tại 711 có mặt Ðại Ðội 2/82 và 12 Thiết Vận Xa. Trên Ðồi Tử Chiến có một tiểu đội. Tại Plei Ngol Ho có Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 82, Ðại Ðội 3/82, Trung Ðội Trinh Sát 82, hai khẩu pháo 155 ly, một xe ủi đất và 6 Thiết Vận Xa M113 trong đó có chiếc xe chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá. Chiều 13 tháng 4 tôi vừa ngả lưng trên chiếc võng dưới vòm bụi tre gai thì bỗng đâu, có một con chim cu còn đỏ hỏn rơi “độp!” trên ngực tôi. Tôi lượm con chim non lên rồi thả nó vào bụi tre sau võng. Con chim non cứ run rẩy, ngoác mỏ liên tục “Chim chíp! Chim chíp!” kêu thương. Con chim đã khuất dạng trong cỏ rồi, tai tôi vẫn còn nghe tiếng “Chim chíp!” não lòng. Vài phút sau, tôi ngồi dậy tính đi một vòng kiểm soát vị trí đóng quân thì nghe sột soạt trên lá tre khô dưới chân. Rồi một con rắn đen to bằng cổ tay, dài cả thước cứ từ từ uốn mình trườn qua lưng hai chân giầy của tôi. Nhìn cái lưỡi rắn thè ra, quét qua quét lại hai bên mép nó mà tôi cảm thấy tóc gáy mình dựng ngược. Cái đầu rắn ngóc cao cả gang tay, cứ ngất nga, ngất nghểu, tôi không biết lúc nào nó sẽ mổ xuống ngay đầu gối của mình.

Tôi nín thở, ngồi im. Cả phút sau con rắn mới trườn qua chân tôi rồi biến vào bụi rậm. Tôi không tin vào những chuyện dị đoan mộng mị, nhưng chuyện vừa xảy ra cũng làm tôi suy nghĩ vì tôi thường nghe nói rằng thấy nhạn lạc, xà qui là điềm xấu, sắp gặp điều không may. Theo như các cụ ngày xưa, thì chỉ nhìn thấy chim sa, rắn lượn đã sợ rồi, vậy mà chiều nay tôi đã bị chim rơi ngay trên ngực, rắn bò ngang qua chân, nên cũng thấy lo. Tôi lo ngày mai Chi Ðoàn 319 và Ðại Ðội 282 vào vùng địch có thể gặp chuyện chẳng lành.

Ði ngang ụ pháo binh, tôi thấy mấy anh xạ thủ đang xúm vào nhau rầm rì chuyện gì đó. Tôi tới gần thì họ nhìn tôi một cách lấm lét rồi tản đi. Mãi sau này tôi mới nghe báo cáo rằng hôm đó, mấy anh lính pháo binh xuống suối múc nước đã phát giác ra một đường dây điện thoại mới căng dưới chân đồi, nhưng họ không báo cáo vì sợ phải dẫn đường cho lính Biệt Ðộng Quân đi kiểm chứng. Ði kiểm chứng mà gặp Việt-Cộng thì sẽ phải bắn nhau. Họ sợ phải bắn nhau nên không báo cáo cho tôi hay Việt-Cộng đã có mặt ở đây rồi. Nếu tôi biết được tin tức này thì tình hình trận đánh ngày hôm sau đã diễn ra khác đi nhiều. Tôi đã biết, địch thường mở các cuộc tấn công rạng đông vào khoảng 5 giờ sáng, nên hàng ngày, đúng 4 giờ tôi đã cho anh em thức dậy ngồi sẵn dưới giao thông hào chờ. Nào ngờ địch đã ra tay sớm hơn thời điểm mà tôi đã trù liệu.

– Ngày 14 tháng 4 năm 1974:

Ba giờ sáng 14 tháng 4 năm 1974 tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo rằng có tiếng động cơ xe di chuyển trong vùng hướng Nam. 3 giờ 30 từ hai hướng Tây và Nam, đại bác 105 ly, đại bác 122 ly nòng dài và hỏa tiễn AT3 của địch rơi như mưa trên 711. Không ai có thể đếm được số đạn đã được địch bắn đi, tiếng nổ chen nhau, hòa vào nhau chứ không nối tiếp nhau. Chỉ có chớp nhóa, khói, bụi tung lên, cùng tiếng “Ùng! Oành! Ùng! Oành!”

Ðợt pháo kích đầu tiên kéo dài chừng hai mươi phút. Im tiếng pháo, Ðại úy Xá báo cho tôi biết có 2 chiến xa M 113 bị cháy. Trung úy Thọ cũng cho tôi hay, y tá của Thọ chỉ cứu được một sĩ quan thiết giáp sống sót nhưng bị phỏng nặng, những người khác đều đã chết theo xe. Ông Chuẩn úy kỵ binh này tên là Nguyễn Tá đã được khiêng sang chỗ tôi để quân y băng bó. Trung úy Nguyễn Công Minh, sĩ quan Truyền Tin 82 động lòng trắc ẩn, mồi một điếu thuốc lá đầu lọc đặt lên môi anh thương binh,

– Bồ hút điếu thuốc cho quên đau!

Anh sĩ quan thiết giáp mấp máy môi,

– Em cám ơn huynh trưởng!

Hình như ông Minh và ông Tá có quen nhau?

Trại Đá

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 24 May 2015

Post by Sơn râu 12 Oct 2025

Bài 19

Khi anh em tù chúng tôi bị đưa từ trại Suối Máu về Z30-A, thường gọi là Trại Xuân Lộc, qua khỏi Trại “Đồi Phượng Vĩ” – còn gọi là “Trại A” – khoảng ba cây số, đi sâu vô rừng thì tới “Trại Cây” – Còn gọi là “Trại B” -. Bên cạnh nó là một trại mới đang xây, chúng tôi gọi là “Trại Đá”.

Việt Cộng mở nhiều “trường” quá, gọi lung tung, tạm thời cứ cho là như thế.

Trại Cây là trại làm bằng cây rừng, do tù nhân làm để giam tù nhân. Hàng rào bằng cây, vuông vức bốn phía, mỗi phía dài khoảng ba hay bốn trăm mét. Hàng rào dày lắm. Những “quái kiệt” trốn trại, như ông Trịnh Xuân Chính, phải leo qua trên đầu hàng rào, không thể phá hàng rào chui qua được.

Cổng trại là một gian nhà có tầng lầu cao để canh gác. Ban ngày, cổng ít khi đóng kín, còn ban đêm, bị chúng nó nhốt vào nhà, “đâu có thấy gì đâu?”

Vô khỏi cổng, bên phải là Trạm Y Tế, bác sĩ Trần Đình Đôn, cũng là tù cải tạo, bị bắt vì tội vượt biên, làm “xếp xòng” ở đây. Bác sĩ được ăn ở tại chỗ. Kế đó là 5 cái longhouse, nhà nhốt tù.

Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn khá nổi tiếng vì trạm chỉ có một thứ thuốc: “Xuyên Tâm Liên”. Đau đầu, nhức răng, cảm sốt, thương hàn, thậm chí trặc tay, gãy chân… cũng chỉ có một thứ “Xuyên Tâm Liên” mà thôi. Nó là thứ thuốc “bá bệnh tiêu trừ”, như câu quảng cáo “Mãi Võ Sơn Đông”, là biểu tượng của ngành Y Tế xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa đấy!

            “Mãi Võ Sơn Đông” thuộc loại đồ cổ. Mấy chục năm nay, ở miền Nam VN, chẳng ai còn thấy người ta diễn trò “Mãi Võ Sơn Đông” ở cái sân đầu chợ nữa. Nó là thứ bọn trẻ rất mê vì ông chủ Mãi Võ có con khỉ biết đi chạy đạp, những con búp bê gỗ biết nói tiếng người. Thậm chí cả thứ “Cao Đơn Hoàn Tán” của nhà thuốc Võ Văn Vân trên đường Nguyễn Thái Học ở Saigon cũng mất dấu luôn vì bị thuốc Tây tràn ngập. Các thứ nầy, ở xứ Mỹ, nếu còn lại, ai muốn mua thì phải vô mấy tiệm bán đồ antique mà tìm.

Vậy mà bây giờ Việt Cộng cho sống lại cái “hồn ma cũ” bằng thứ thuốc Xuyên Tâm Liên, đen như… “cứt chó” (xin lỗi độc giả, bởi vì tôi phải viết như thế cho đúng với lời bình phẩm của anh em tù cải tạo khi họ được bác sĩ Đôn cấp cho thứ thuốc nầy).

            Nói thật tình, mấy năm đầu khi bọn tù chúng tôi mới về Trại Cây, khi lên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn để khám bệnh xin thuốc, thì trạm cũng phát cho vài ba tứ thuốc cũ, chế độ cũ còn lại, có khi “quá đát”, nhưng cũng còn hiệu nghiệm chán, uống vô hết bịnh, vì tâm lý hay sinh lý, đâu ai biết được!

Được vài năm, sau khi miền Nam VN, dưới chế độ mới, “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên xã hội XHCN thì thuốc cũ không còn. Nhà nước bây giờ, ở ngoài dân chúng hay trong trại tù Cải Tạo cũng “thống nhất” một thứ thuốc “Xuyên Tâm Liên” mà thôi.

            Tới Trạm Y Tế không phải để xin thuốc, mục đích chính là để xin “nghỉ một ngày” lao động hôm đó, nằm khểnh nhà cho khỏe thân, lấy đồ ăn do gia đình tiếp tế cho “nấu nướng linh tinh”, – câu cán bộ thường phê bình bọn tù chúng tôi..

“Mánh” nầy rồi cũng bể. Sau đó thì bác sĩ Đôn hạn chế phê vào giấy khám bệnh mấy chữ “đề nghị nghỉ lao động…” Chỉ mới đề nghị nghỉ thôi, chớ không quyết định. Việc nầy thuộc quyền “quản giáo”.

            Vì vậy nên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn vắng dần. Không được nghỉ lao động thì thôi, còn mang ba cái thứ “Xuyên Tâm Liên” về chỉ mất công bỏ thùng rác.

            Thành ra, ai bệnh, cứ xin thẳng “cán bộ quản giáo”, khỏi làm phiền bác sĩ Đôn. Quản giáo, kiêm luôn bác sĩ, xét từng người cho nghỉ hay không.

            Một hôm Trần Phú Trắc nói với tôi:

– “Tui xin thằng Chinh – quản giáo đội tôi – “Tui muốn bệnh, quản giáo cho tui nghỉ một bữa.”

            “Chinh hỏi:

– “Anh nói anh “muốn bệnh” phải không?

– “Vâng”. Trắc trả lời.

– “Muốn bệnh là chưa bệnh. Đi làm đi!”

            Dĩ nhiên, khi Trắc kể lại câu chuyện cho tôi nghe, anh không thể không kèm thêm một tiếng chưởi thề.

            Bên trái cổng trại là “hồ nước”. Việt Cộng cho đào sâu một cái hồ, hình tròn, đường kính khoảng năm hay sáu mét. Mỗi ngày, “nhà đèn” cho bơm nước vô đấy, để tù đi lao động về có nước tắm giặt. Hồ nầy không xây, nên nước hòa với bùn đỏ, nước đục ngầu. Tuy nhiên, tắm vô cũng mát, cũng sạch. Thế là “sướng đời tù” rồi, còn mong chi nữa! Để tiết kiệm vải, phần đông chúng tôi tắm ở đây đều tắm truồng.

            Kế hồ nước là “Nhà bếp”. Nhà bếp có bốn cái lò, trên có chão to. Hằng ngày, chão thường dùng để nấu bắp, có khi nấu cả vỏ, về sau có đải vỏ, bắp mềm, dễ ăn hơn, hoặc khoai mì không lột vỏ, chặt khúc.

Sáng thì tổ trực xống bếp lấy khoai mì và chia cho tù, mỗi người một khúc, dài khoảng ngón tay trỏ. Trưa thì một chén bắp, chiều cũng “bổn cũ soạn lại”, y chang như vậy.

            Mỗi tuần một lần, trưa chủ nhật, thay vì một chén bắp thì được lưng chén cơm. Thế là “huy hoàng Xã Hội Chủ Nghĩa” lắm đấy. Muốn thêm ít cơm nữa cũng không được.

            Dĩ nhiên, bắp hay cơm, phải có “đồ ăn”. Đồ ăn là rau muống luộc, món khoái khẩu của “Dân Bắc Kỳ rau muống”, nhưng không khoái khẩu cho dân Nam Bộ, nhất là tù. Và “như mọi người đều biết”: Nước Mắm Đại Dương.

            Việt Cộng là “bậc sư” trong những cái trò lừa phỉnh. Nước Mắm Đại Dương, cũng là một trò lừa phỉnh đấy.

            Cơm hay bắp, khi nấu cũng bị cháy nhiều ít ở đáy chão.  Miếng cháy được giữ lại, cho thêm nước giếng và muối vào, nấu sôi quậy đều, có màu đen đen như nước mắm. Gọi đó là “Nước Mắm Đại Dương” hay “Nước Mắm Xã Hội Chủ Nghĩa” đều được cả, không ai phản đối loại nước mắm giả đó. Nước muối mà ai cũng gọi là Nước Mắm. Người ta chấp nhận đó là “Hiện thực XHCN” hay người ta nói mỉa?

            Kế bếp cũng là 5 longhouse, đối xứng với năm longhouse phía bên kia. Giữa các longhouse là Hội Trường. “Quí cụ văn nhân” trong ban “Thông Tin Văn Hóa” được ở riêng tại Hội Trường, khỏi phải điểm danh. Tôi không nhớ tên các vị “Thông Tin Văn Hóa” nầy.

            Trước Hội Trường có trồng hoa: Cúc vạn thọ vàng rực. Tóc tiên được cho leo theo hình những con công, con phượng, làm bằng giây kẽm gai đã lấy mắt nhọn.

            Anh Lã Trung Tâm nói mỉa: “Đ. m. Ăn khoai mì mà cũng trồng bông. Bọn nầy làm chuyện ruồi bu!”

            Trắc phụ họa vào: “Trồng vạn họ là tù còn lâu lắm!”

– “Đừng nói xui!” Tôi cản ý Trắc.

            Khi chúng tôi tới Trại Cây, trại nầy mới dựng xong 4 hay 5 longhouse ngoài. Các nhà trong đang làm. Sẽ có thêm bạn tù đấy.

            Chẳng bao lâu thì “Trại Học Tập Cải Tạo” đầy “trại viên”.

            Mỗi longhouse dài khoảng bốn hay năm chục mét. Sạp ngủ hai tầng. Tầng trên dành cho người “ưa tuổi thân”, nghĩa là mỗi ngày phải lên lên trụt xuống những mấy lần. Ai không ưa leo trèo thì nằm tầng dưới. Chỗ nằm chật ních, vì mỗi longhouse chứa 3 đội, trên dưới 120 “trại viên”. Phía trong cùng là cầu tiêu, cầu tiểu. Mỗi sáng, có toán “Vệ Sinh”, trường toán là ông Châu Tử, nguyên thiếu úy Cảnh Sát Công Lộ Saigon, chủ nhân hãng “Cà-ri Nị” ở Saigon, cùng với mấy anh trong toán vào dọn vệ sinh. Phân người thì đổ vào một cái hố phía sau trại, ngoài hàng rào. Khi nào hố đầy thì lấp đất, ủ cho hoai. Có khi chưa đủ hoai cũng được moi lên, đem bón rau, “làm giàu xã hội XHCN.”

            Khi ấy Trại Đá – tên do “trại viên” đạt ra – bên cạnh Trại Cây đang xây.

            Như tôi đã nói, Trại Đá do Xí ghiệp Xây Dựng số 1 “thi công” (danh từ Việt Cộng đấy), chậm như rùa vì vật liệu không đủ hay sao đó. Chưa xong thì Xí Nghiệp nầy rút lui, giao lại cho Trại Cải Tạo Xuân Lộc tự xây lấy.

Tôi không biết nhiều về các “tù cải tạo” trong “Đội Xây Dựng” nầy, ngoại trừ vài người mới quen như “Thẩm Phán Đoàn Cảnh Thúy” do anh Lã Trung Tâm giới thiệu. Ông Thúy ở trong toán “kiến trúc”, tức là vẽ họa đồ; còn như cầm bay, cầm búa thì có anh Trịnh Quang Hà, em trai ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tên ông Hà thì tôi có nghe, nhưng gặp mặt thì chưa. Có thể ông ta biết tôi, vì các em gái của ông như Vĩnh Thúy, Vĩnh Tâm đều là học trò của tôi cả. Hồi ấy, ca sĩ Vĩnh Trinh còn nhỏ xíu, chưa thể làm học trò của tôi được.  Ngay cả vợ ông Hà, – tôi không nhớ tên -, cũng là học trò của tôi nữa. Có lần ông Hà được thăm nuôi; chiều lại, ông mời tôi ăn chung với ông. Đồ ăn ông được tiếp tế cũng ngon lắm, với tù, lại còn ngon hơn, nên tôi thầm cám ơn. Nay nhắc lại, cũng để cám ơn một lần nữa, ông đã cho ăn bữa ăn ngon hôm đó.

            Thỉnh thoảng, tôi có gặp ông Hà, “nói chuyện Huế” cho đỡ nhớ quê. Ông Hà bị động viên, mang loon đại úy hay trung úy gì đấy, phục vụ ở Tiểu Khu Thừa Thiên. Có lần, Hà kể, hôm Thiếu tướng Kỳ tổ chức văn nghệ ở Pleiku, mời Trịnh Công Sơn lên chơi. Hà phải lấy xe jeep của ông ta chở ông Sơn ra phi trường Phú Bài để tránh Quân Cảnh. Ông Sơn đang “trốn quân dịch”.

            Trại Đá lúc đó cũng đang xây dở chừng. Khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá, nhà bếp, nhà ở cũng như bốn cái “cachot” (nhà ngục tối) phía sau cùng, hội trường chưa xong gì cả. Tới bữa, phải về lãnh đồ ăn bên nhà bếp cũ, ở Trại Cây. Chỉ có hàng rào là xây xong rồi. Hàng rào xây bằng gạch “lốc”, cao bằng rưởi đầu người, trên lại có giăng concertina khá kỹ, trốn trại cũng khó đấy!

            Tại sao xây chưa xong mà chuyển chúng tôi qua đó?

            Số người bị chuyển chỉ có hai đội. Đội 19 do Trương Đình Gòn làm đội trưởng. Và Đội 20, đội trưởng là “Thầy Đạo.”

            Về Trương Đình Gòn, nếu độc giả muốn biết thêm, xin đọc “Nụ Cười Sơn Cước” là truyện ngắn của tôi, viết vài chuyện vui về ông nầy. Còn “Thầy Đạo”, “theo chúng tôi biết” thì như sau:

            Khi còn bị giam ở Trảng Lớn – L3-T3, tôi làm tổ trưởng tổ 1, nguyên đại úy Nguyễn Đạo làm tổ trưởng tổ 2, thuộc đội 1, khối 1. Đội trưởng đội 1 là Nguyễn Văn Quí (quí mập, bụng thề lề, ở trần tay cầm cái quạt, quạt tối ngày). Trưởng khối 1 là Phan Hải. Tôi có nói về ông nầy rồi, ở bài trước.

            Hai ông bác sĩ Văn Tần, bác sĩ Trương Thìn, đều ở trại L3-T3 nầy. Khi tôi bị chuyển qua đây, hai ông bác sĩ nầy đã được tha.

            Trong thời gian bị giam ở đây, ông bác sĩ Trương Thìn (Ông nầy cũng “hà tiện”, tên không có chữ lót, chỉ Trương Thìn mà thôi) “phát triển” việc trị bệnh bằng châm cứu trong giới “học viên”.

            “Chính quyền Cách mạng” thông báo đem theo mười ngày lương thực, ai cũng tưởng là “học” chỉ có mười ngày, xong thì về, nên có đem theo thuốc men trị bệnh gì đâu!?

“Cách mạng nói “mười ngày lương thực, chớ có nói “học tập mười ngày đâu”. “Cách mạng” giải thích lẹo lưỡi như vậy, còn người miền Nam “thật dạ tin người” như cô Kiều nghe lời Sở Khanh vậy.

Nay “Cách mạng” đã giải thích rõ ràng như thế, người ta vẫn không chịu “hiểu” gì “Cách mạng” cả, cứ cho là người miền Nam bị lừa. Thật ra, “Cách mạng có lừa ai đâu!” Nói cho cùng, chính họ cũng lừa nhau đấy, nói chi tới người miền Nam. Cộng Sản mà, nói sao cho hết những trò “lừa đảo”. Ai dại thì “dính chấu” thôi!

            Không có thuốc men thì có bác sĩ Trương Thìn ra tay “phục vụ cách mạng”, dạy cho “cải tạo viên” trị bệnh bằng châm cứu, như người Tầu. Thiên hạ thấy vui, bèn ùn ùn kéo nhau đi học châm cứu. Học xong, về dạy lại người khác, “tam sao thất bổn”, châm đã không hết bệnh mà thành “châm kêu” (kêu người khác tới cứu), hay “châm khiêng” (châm xong khiêng lên trạm xá).

            Thầy Đạo không biết là học trò mấy đời của ông bác sĩ Trương Thìn, vì cứ một người dạy cho một người là “một đời”. Cứ thế mà kể dài xuống.

            Học xong, thầy Đạo cũng đi cứu đời, làm cái nghề tổ tiên gọi là “Cứu nhân độ thế”. Thầy có một hộp đựng “kim châm”, ngày ngày thầy ôm hộp đi quanh, cứu người nầy, châm người kia.

            Về tới Z30-A thì thầy bỏ nghề. Mỗi ngày phá rừng, cuốc đất, lên giồng trồng khoai lang “mệt bá thở”, lại còn phải ăn, tắm giặt, nên “hộp kim châm” nằm gọn đâu đó trong cái giỏ đựng áo quần của thầy, có lẽ thầy quên mất rồi. Lâu ngày không hành nghề, nghề thầy cũng lụt dần.

            Hai đội bị chuyển trại nói trên phần đông đều “can tội đại úy” – như ghi trong lệnh tha – Các đội còn lại bên Trại Cây loon lá thấp hơn. Vậy là rõ. Một tên đại úy trốn trại nguy hiểm hơn một anh trung sĩ trốn trại. “Cách mạng” tính kỹ lắm đấy!

            Chưa được mấy hôm thì “Đội Văn Nghệ” của bầu Trừ ở Trại A – trên đồi Phượng Vĩ – cũng bị đưa vào đây!

            Dĩ nhiên, “Đội Văn Nghệ” cũng có “vấn đề”! Không thì “Cách mạng” đưa “Đội Văn Nghệ” vô Trại Đá làm chi!

            Chẳng qua là hôm Tết vừa rồi, các tay trong “Đội Văn Nghệ” tổ chức “rước Mẹ Việt Nam đi thăm các con trong trại tù”. (Xin xem bài sau nói rõ hơn vụ mà Việt Cộng gọi là phản động nầy! “Rước mẹ Việt Nam mà gọi là “phản động”? Đúng đấy. Việt Cộng chỉ có Đảng và Bác, làm chi có cha, có mẹ mà rước!).

&

            QueenBee hay Đêm Mầu Hồng.

            Ở chung với “Đội Văn Nghệ”, có sẵn ca sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ… chúng tôi bèn tổ chức “QueenBee” hoặc “Đêm Mầu Hồng” ngay trong trại tù.

            Tối thứ Bảy, ngày mai Chủ Nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi bèn tổ chức, tuần nầy thì QueenBee, tuần tới thì “Đêm Mầu Hồng”…

            Cắt một anh tù ngồi ngay cửa sổ, anh chừng cổng ngoài. Hễ thấy công an đi tuần vào thì hô lên: “Gió lớn” để báo động. “Gió lớn là “Đại Phong” là tên các chiến dịch tấn công Cộng Sản của QĐVNCH trước 1975. Chương trình văn nghệ tạm ngưng vì “sự cố kỷ thuật” (danh từ Việt Cộng đấy!). Tay cầm “điếu thuốc ba số” (thuốc lá thơm đầu lọc, hiệu 555), với hộp quẹt, anh bạn có nhiệm vụ “xã giao”chào anh công an một tiếng. “Quen như lệ thường”, anh công an sà vào, nhận điếu thuốc, phì phèo. Thế là “sự cố giải quyết xong”, chương trình văn nghệ lại tiếp tục.

            Có khi công an còn nói: “Các anh hát bài “Những Đồi Hoa Xim” đi. Bài ấy hay nắm.” Thế là Chương, “người đẹp đái đứng” (xin lỗi độc giả một lần nữa), mở giọng ca “con nhạn trắng Gò Công”.

            “Người đẹp đái đứng” có một bài ruột, khi nào có “chương trình văn nghệ” là anh ta thỏ thẻ: “Hoàng Hôn, lá rơi bên thềm…” (1) Nghe Chương hát những câu như “nhớ nhung vì đâu! thắm đôi dòng châu, tiếc thay tại sao đành lỡ làng…” anh em chúng tôi có người xúc động không ít và cảm cho thân phận tù tội của mình. “Cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương” làm cho chúng tôi cảm thương mình là kẻ lưu đày như Bạch Cư Dị, bồi hồi nhớ lại câu thơ nói về tiếng đàn Tỳ Bà của người kỹ nữ hôm ấy trên “bến sông vắng lạnh”.

            Có lần Cụ Trần Văn Niệm (anh ruột danh thủ bóng tròn Bắc Hà Trần Văn Ứng), bảo tôi cố nhớ chép lại cho hết 88 câu thơ dịch Tỳ Bà Hành để Cụ đọc chơi.

Nhờ dạy học lâu năm, mà năm nào cũng dạy tác phẩm nầy cho học sinh; với lại năm học lớp Đệ Tứ, tôi cũng mê tác phẩm nầy nên chép lại đủ:

            “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

            Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…

 Tôi còn chép cho cụ Niệm một phần bài tựa của Bạch Cư Dị, tôi nhớ được:

            “Năm Nguyên Hòa thứ mười, ta bị biếm ra giữ chức Tư Mã ở đất Giang Châu. Mùa thu năm sau, tiễn khách ở bến sông Bồn, chợt nghe tiếng đàn tỳ bà trên bến sông vẳng lại. Nghe tiếng đàn thánh thót, ta bèn hỏi thăm mới biết người đàn bà cầm đàn gốc gác ở kinh đô Trường An. Vốn là con hát, vì nhan sắc tàn tạ mà lưu lạc đến nơi nầy… (2)

            Sở dĩ chúng tôi gọi Chương là “người đẹp đái đứng” vì anh thường ỏng ẹo như con gái, dù phải cầm cuốc cuốc đất hay cầm dao phá rừng như mọi người.

            Chương có cấp bậc “thiếu úy Cảnh Sát”, khi ra trường được đưa về làm Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã Tân Hội, quận Kiên Tân, Tỉnh Kiên Giang. Xã nầy nằm kế cận “đồng Huệ Đức” là “đồng chó ngáp” của tỉnh Long Xuyên. Ở đây, có lần, tôi ỉ i, hành quân lạc qua vùng ranh ba quận Kiên Tân, Kiên Thành và Huệ Đức, bị Trung đội Thám Báo Kiên Thành, tưởng lầm là Việt Cộng nên tấn công một trận, khiến bọn tôi chạy trối chết. (Xin xem lại “Hương Tràm Trà Tiên, cùng tác giả). Tuy nhiên, khi Chương về Kiên Tân thì tôi đã đi xuống “chỗ tận cùng của đất nước”: Hà Tiên.

Cuối năm 1974, Việt Cộng chiếm xã, Chương ở trong “chính quyền lưu vong”, trước khi làm “người dân lưu vong” ngày 30 tháng Tư/1975.

            Chương trình văn nghệ thường có thêm nhiều ca sĩ tham gia, mãi tới hơn mười giờ tối mới chấm dứt. Tôi nhớ nhất là anh bạn Ngô Quang, bạn thời niên thiếu ở thị xã Quảng Trị. Quang hát hay nên được “thính giả yêu cầu” hát nhiều bài.

            Tôi cũng là “ca sĩ của chương trình văn nghệ” đấy. “Nụ Cười Sơn Cước” là bài tôi thích nhất vì mỗi lần hát “Ai về sau dãy núi Kim Bôi” là tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê tôi, nơi có đèo Lao Bảo, có “Động Ông Đô” và có: “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc” như tôi đã kể trong “Một lần về thủ đô, thăm các vị La Hán”.

            Hát có nghĩa là gởi hồn mình về nơi cố quận, về “Saigon đẹp lắm, Saigon ơi!” hay “về thăm nơi yêu thương muôn đời” của Huế, của sông Hương núi Ngự, hay “có ai về miền Tây”, “sông sâu nước biếc”. Họ có thể giam hảm thân xác chúng tôi, nhưng không thể giam hảm tâm hồn chúng tôi được.

            Bọn tù chúng tôi cũng bướng lắm đấy, nhất là mấy “trự” trong “Đội Văn Nghệ”. Vì câu chuyện “Rước Mẹ Việt Nam” mà cả đám kéo nhau vô cachot nằm ngót một tháng, được tha ra thì chuyển trại vô đây, Việt Cộng tưởng họ “tởn” nhưng thật ra chẳng nhằm nhò gì cả. Cái gan lì, cũng như tinh thần của họ, có thua gì Hồ Chí Minh trong “Ngục Trung Nhật Ký”

“Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại.”

            Luật sư Trần Danh San và 12 con ma!

            “Chàng đi theo nước…”

            Mười hai con ma, cộng thêm luật sư Trần Danh San nữa là 13 con ma.

            Sau “Đội Văn Nghệ” chuyển vào Trại Đá không lâu thì tới “13 con ma” tiếng chúng tôi gọi đùa về 13 nhân vật đặc biệt nầy.

            Nửa đêm, đang ngủ thì chúng tôi nghe tiếng máy xe Molotova ầm ì vào sân, đậu ngay căn nhà phía sau. Mười ba bóng đen, lầm lủi đi vào nhà giam như những bóng ma, nên chúng tôi gọi những người tù ấy là “Mười ba con ma”.

            Sáng ra, qua “thông tin”, chúng tôi biết đấy là 13 “yếu nhân” từ Trại Đồi Phượng Vĩ chuyển vào. Người đầu tiên phải kể tên, là người nhiều người biết: Luật sư Trần Danh San.

            Không nhớ rõ năm nào, ông làm ra bản “tuyên ngôn của Hội Nhân Quyền Việt Nam”, do ông làm chủ tịch. Một bản ông giao cho Toại (?). Toại nào nhỉ? Ngô Vương Toại hay Đàm Văn Toại (3), vượt biên đem ra ngoại quốc, phổ biến trên đài BBC. Một bản ông tự tay cầm ra công trường trước Nhà Thờ Đức Bà Saigon đọc cho đồng bào nghe.

            Dĩ nhiên, công an cũng nghe, và nghe rõ nữa, nên túm ông cho vào Trại Cải Tạo như chúng tôi vậy, buộc phải “học tập cho thông suốt đường lối cách mạng”. Ông nầy học dở, chẳng thông suốt chút nào nên không còn được ở cái trại có cái tên thơ mộng “Đồi Phượng Vĩ” mà vào Trại Đá để thêm lạnh lùng đời tù.

            Luật sư Nguyễn Hữu Giao, (hay Dao), cũng là một trong số 13 con ma nầy. Trắc nói với tôi ông LS Giao là con (rơi) của vua Bảo Đại. Hồi ông còn nhỏ, khi ông Bảo Đại còn chức vị, ông Giao đi đâu cũng có một anh Tây mắt xanh mũi lõ tò tò đi theo để bảo vệ hoàng tử. Bây giờ, trong Trại Đá, dĩ nhiên, không có “anh Tây” nào theo tò tò bảo vệ hoàng tử nữa. Tướng ông Giao đẹp người, cao lớn vừa phải, tù cải tạo mà da còn trắng, tác phong nghiêm chỉnh.

            Vài ba bữa sau, chủ nhật, ông luật sư Trần Danh San qua phòng của đội tôi chơi. Ông được anh em đón tiếp tử tế, vui vẻ, và trọng vọng nữa. Người mời caphê, người mời bánh ngọt… Chúng tôi họp lại, ngồi quanh ông, để nghe ông nói chuyện về tình hình đất nước, về người Mỹ “bỏ của chạy làng”, và về chương trình ODP đang được bài cãi ở Thụy Sĩ, về một ngày về không xa lắm, v.v… và v.v… Nghe ông nói chuyện, anh em chúng tôi phấn chấn, hy vọng một ngày mai “dựng lại ngọn cờ chính nghĩa”, không chỉ cho miền Nam VN mà toàn cõi đất nước.

            Thấy tôi tham gia, không những một mà nhiều lần những buổi nói chuyện của Luật Sư Trần Danh San, anh Lã Trung Tâm, trong một bữa ăn, nói với tôi:

– “Mày ưng chi mà theo cái “đám Nhân Quyền” đó!

– “Ưng gì đâu! Nghe ông ta nói thì cũng như đọc sách vậy mà. Tôi ưa đọc sách, mấy năm nay không có sách đọc, nghe biết thêm.”

– “Hay không?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

– “Anh em tui nói thiệt. Không thể không nói họ là người gan lì, anh hùng. Nhưng đấu tranh kiểu nầy, giống như Nguyễn Thái Học vậy: “Thành nhân mà không thành công.”

            Trắc hỏi tôi:

– “Sao anh nói vậy?”

– “Muốn đấu tranh lật đổ chế độ, là phải có quần chúng. Quần chúng ông San là ai? Nói cho đầy đủ thì như thế nầy! Muốn lật đổ Cộng Sản, người Miền Nam chúng ta phải có chính nghĩa. Chính nghĩa đó là Tự Do, Dân Chủ. Chế độ VNCH, nhất là thời Đệ Nhị, rõ ràng là có Dân Chủ, Tự Do, nhưng nói sáng tỏ cho mọi người dân đều biết thì chưa có. Dân chúng, nhất là ở thôn quê, còn bị Cộng Sản tuyên truyền. Thứ đến là vũ lực. Vũ lực thì mình đã thua. Thứ ba là chính trị, tức nhân lực, là dân chúng, chính yếu là nông dân, công nhân. Chúng ta có dân chúng chưa? Dân chúng theo mình được bao nhiêu!”

– “Nói vậy thì coi như mình xây dựng lại từ đầu!” Trắc nói.

– “Không hẳn vậy. Thời cơ là quan trọng. Ví dụ cuộc Cách Mạng tháng Tám chẳng hạn. Cộng Sản lúc đó được mấy ngoe? Có sức mạnh gì đâu! Nhưng họ may mắn nắm thời cơ. Chính quyền lúc đó thì coi như… vô sự, không làm gì cả. Nhật thì vừa đầu hàng, không muốn dính dáng gì tới Đông Dương nữa. Những người vận động nông dân cướp chính quyền là thanh niên, sinh viên, học sinh, Thanh Niên Tiền Phong và cả Hướng Đạo. Thành phần nầy cũng như dân chúng không biết đảng phái gì cả, Quốc Gia, Cộng Sản gì cả, chống Pháp giành độc lập là được. “Thiên thời, địa lợi nhân hòa”: Cộng Sản may mắn có đủ cả.”

– “Làm sao lật đổ tụi nó?” Anh Lã Trung Tâm nhăn nhó.

– “So lại với cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Nguyễn Thái Học. Họ có lý tưởng cao cả, có lực lượng nhưng còn yếu, có quần chúng nhưng không đông. Thời cơ chưa tới. Họ chỉ có cái hoài bảo của Thanh Niên tiểu tư sản, nên cuộc khởi nghĩa của họ rất tiểu tư sản. “Không thành công thì thành nhân”. Câu nầy rất là “trí thức tiểu tư sản”. Ngày ông Nguyễn Thái Học bị lên đoạn đầu đài, cô Bắc về làng Thổ Tang, mua tấm khăn sô quấn lên đầu để tang cho chồng, lạy cha mẹ chồng, rồi ra quán nước gần làng, uống bát nước chè xanh, xong đứng lên hướng về làng chồng, rút súng tự tử. Câu chuyện vừa bi thảm mà vừa lãng mạn. Khi tôi còn nhỏ, học lớp Nhì, tôi có đọc truyện nầy. “Chàng đi theo nước, thiếp theo chàng” của Tủ Sách Bạn Trẻ Tân Việt. Dù còn trẻ con, tôi chảy nước mắt khi đọc tới đoạn cuối như tôi kể ở trên.”

– “Theo anh thì anh nghĩ ông San như thế nào?” Trắc hỏi.

– “Tôi nghe tên ông San nầy từ lâu lắm. Tôi học luật 1 khi bà Trai làm Khoa Trưởng, ông Bùi Tường Huân dạy kinh tế. Ông San học sau tôi vài ba năm gì đó, khi tôi đã thôi học. Bây giờ thì biết rõ hơn. Ảnh hưởng anh hùng của “Khởi nghĩa Yên Báy” và Dũng của Nhất Linh, cũng như Nhất Linh đối với ông không nhẹ. Nguyễn Thái Học, Dũng hay ông Nhất Linh, làm cách mạng theo với cung cách của một trí thức tiểu tư sản, có kết quả giống nhau.”

– “Căng nhỉ!” Trắc nói.

– “Căng chớ sao không! Sau ngày 30 tháng Tư ít lâu, tôi gặp người anh cả của ông anh rể tôi, tập kết về. Ông ấy không ưa Cộng Sản vì ông là cháu Đại Tướng Khiêm. Khi ông Khiêm làm lớn trong Nam, ông bị tụi nó đì dữ lắm. Ông nói thẳng với anh em chúng tôi:

– “Không hy vọng gì lật được họ đâu. Ba mươi năm chiến đấu, hy sinh xương máu hàng triệu người mới có được quyền lợi như bây giờ. Họ không nhả ra đâu! Không bao giờ nhả.”

– “Hình như ông già vợ ông San cũng không đồng ý với cách đấu tranh của ông ta.” Trắc nói.

– “Trắc nói ông Luật Sư Vũ Đăng Dung?” Tôi nói tiếp. “Ông nầy “cãi vui lắm”. Tui có đi coi ông cãi một lần ở tòa Thượng Thẩm Huế, rất hùng hồn, giống như bạn ông là Luật Sư Nguyễn Toại, dạy Pháp Chế Sử cho chúng tôi vậy! Cha con ông San cùng ở tù với nhau trại nầy.”

– “Mày coi vụ gì?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

– “Vụ ông Trần Điền. Khi làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị, ông Trần Điền dính vô “Vụ Ba Lòng”, bị ông Diệm đưa ra tòa, tội phản quốc. Hai người cãi cho ông Trần Điền là ông Luật Sư Lê Trọng Quát và ông Luật Sư Vũ Đăng Dung. Ông Quát có dạy thêm ở Quốc Học, nhiều đứa thích ông lắm. Tui thì không. Xạo không! Khi ông cãi cho ông Trần Điền, ông đem cái tượng Chúa Giê Su ra trước tòa. Ông nói: “Thân chủ tôi là một người theo đạo Thiên Chúa” – Ông Quát cầm tượng lên, chỉ vào tượng. – “Một người theo đạo Thiên Chúa như thân chủ tôi là một người tin Chúa, tin Chúa thì không thể là người phản quốc được.” Nói vậy là lẹo lưỡi đó. Mấy người có Đạo mà theo Tây, như Huyện Sĩ thì yêu nước cái gì! Ông Quát muốn lợi dụng cái tâm lý ông Diệm là người có Đạo nhưng yêu nước để chạy tôi cho ông Trần Điền. Ông Vũ Đăng Dung cãi “vui hơn”.

– “Vui là sao?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

– “Hôm đó Cụ Lê Khắc Hy ngồi Chánh Án. Khi ông Vũ Đăng Dung nói câu của Đặng Trần Thường “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai…” thì ông Chánh Án rung chuông biểu ông Dung im, không được nói câu đó.” (4)

– “Sợ đụng chạm Tổng Thống Ngô Đình Diệm chớ gì!” Trắc nói.

– “Được làm vua, thua làm giặc ông ơi!” Tôi cười phụ họa với Trắc. “Bây giờ mình thua Việt Cộng thì mình là giặc, tụi nó là vua. Đời mà!”

            Khoảng nửa tháng sau, tôi thấy vài anh em được ông San “phong chức”: Võ Phước Thọ, trung úy Cảnh Sát, được làm “Trưởng Ban An Ninh.” Trắc nói với tôi: “Tôi có đề nghị với ông San để anh làm Trưởng Ban Tuyên Huấn.”

Tôi hỏi Trắc:

– “Đây là ý của ông San hay đề nghị của ông?”

– “Tui đề nghị!” Trắc nói. “Ông San không biết gì về anh đâu!”

– “Cái nầy là kẹt… tui. Nếu ông San biểu, tui từ chối liền. Dễ thôi. Nhưng nếu ông đề nghị, lỡ ông San “ừ” thì tui khó từ chối. Không lý mấy ông tham gia, tui lại đứng ngoài. Tui sợ mấy ông cho tui hèn nhát. Anh em với nhau cả mà, khó xử lắm.”

            Mấy ngày sau, cũng nửa đêm, xe Molotova lại vào. Mười ba con ma lầm lũi ra xe. Sáng ra thì biết chắc họ đã bị chuyển đi hồi đêm rồi. Hình như ra Phú Yên, Trại A-30.

            Năm 1977, Trắc được tha, ông San cũng được tha, Võ Phước Thọ cũng được tha luôn, nhưng chưa được bao lâu thì Thọ mang bệnh, qua đời, có lẽ do “hậu bệnh” những lần bị Công An đánh đập quá tay khi Thọ bị giam mấy lần ở Cachot.

Tôi được tha trước đó 5 năm.

            Gặp tôi, Trắc nhắc lại Hội Nhân Quyền của ông San. Tôi nói: “Ở trong tù, một thân một mình, dễ hơn. Bây giờ, về với vợ con, không dễ gì hoạt động đâu.”

            Trắc vừa bán được căn nhà, lo mở tiệm bán càphê kiếm sống qua ngày, cũng không thấy nói gì thêm.

            Nam 1989, tôi vượt biên tới Bidong, lại nghe tin ông San, ông cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cũng vượt biên, được tàu biển cứu. Ở Mỹ, tôi vẫn thường liên lạc với Trắc ở Nam Cali, nhưng không nghe Trắc nói gì tới Luật Sư Trần Danh San và Hội Nhân Quyền nữa cả.

            Già rồi, ai cũng đuối sức cả rồi!

            hoànglonghải

(1)- “Tiếng Xưa” Dương Thiệu Tước.

(2)- “Tỳ Bà Hành” nguyên tác của Bạch Cư Dị, người Tầu. Bản dịch chữ Nôm của Phan Huy Vịnh. Có người nói bản chữ Nôm hay hơn bản chữ Hán.

(3)-Ngô Vương Toại, sinh viên Văn Khoa, bị Việt Cộng bắn vào bụng tại sân khấu đem tổ chức Tết năm Mậu Thân, thoát chết. Đoàn Văn Toại, cũng là sinh viên Đại học Saigon. Khi tôi còn ở trại tỵ nạn (1989, 90….) thì nghe tin ông Toại bị người Việt hải ngoại đánh khiến ông bị thương. Vài người tưởng lầm ông Toại nầy với Ngô Vương Toại. Tôi không tin ông Ngô Vương Toại bị đánh, vì tôi biết ông Ngô Vương Toại khi ông còn trẻ, học trò của tôi.

Trước đó mấy năm, khi còn trong tù cải tạo, tôi nghe tin ông Nguyễn Công Hoan, dân biểu chế độ cũ, mà cũng là dân biểu của Dziệt Cộng, vượt biên.

Mới đây, tôi biết ông Hoan vượt biên cùng ông Trần Văn Sơn, tức Trần Bình Nam, dân biểu thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đối lập, “khối Ấn Quang”. Chuyến vượt biên chỉ có 2 người, một ghe. Tôi không rõ họ đến đảo hay được tàu nào vớt.

Khi tôi mới tới định cư ở Mỹ, nghe nói Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi Houston và Cali để vận động nhưng bị phản đối dữ dội. Nhiều lý do, nhưng không nói ở đây làm chi cho dông dài.

Sau đó, có “một người Mỹ” (CIA?), khuyên các ông như Nguyễn Văn Ng. đến gặp một nhân vật bí mật, ở LA, để có thể giúp cho.

Đám ông Ng. đến LA, tới một khách sạn hạng sang, gặp hai người đang ở chung một phòng: Ông Đoàn Văn Tọai và ông Hoan.

Nhìn chung, đây là đám gì? Giống hay khác với Đỗ Ngọc Yến chụp hình có Nguyễn Tấn Dũng.

(4)-Ngô Thời Nhiệm (Nhậm) và Đặng Trần Thường là bạn học. Ngô Thời Nhiệm theo Nhà Tây Sơn. Đặng Trần Thường trốn vào nam theo Nguyễn Ánh. Sau khi Nguyễn Ánh toàn thắng lên ngôi vua, giao cho Đặng Trần Thường xử tội các sĩ phu Bắc Hà theo Nhà Tây Sơn.

Trước mặt Ngô Thời Nhiệm là kẻ bại trận, Đặng Trần Thường nói, vẻ tự cao:

– “Ta ra cho người một câu đối. Đối được ta tha.”

Ngô Thời Nhiệm trả lời “vâng”.

Đặng Trần Thường ra câu:

– “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai!”

Ngô Thời Nhiệm đối lại:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”

Mặc dù Ngô Thời Nhiệm đối được, nhưng vì mối thù cũ, Ngô Thời Nhiệm từng chê Đặng Trần Thường học dốt, nên Thường sai đánh chết Nhiệm trước Văn Miếu Hà Nội.