Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

95. Tuệ Sỹ

Viết về thơ là chạm tới những hình ảnh phản ánh trong nước. Không thể có một mặt nuớc hoàn toàn tĩnh lặng, dù đó có là một mặt hồ chăng nữa. Và người ta chỉ có thể nhận được những hình ảnh rập vỡ, thậm chí lộn ngược. Viết về thơ Tuệ Sỹ càng khó hơn.

Ông là ai?

Một tu sĩ?

Một học giả?

Một thi sĩ?

Một người tử tù?

Ông là tất cả những người ấy và cùng một lúc [hình như] thơ ông xóa bỏ hết thẩy những điều ấy. Tuệ Sỹ được coi là một trong vài vị Thiện Sư lỗi lạc của Phật Giáo Việt Nam hiện tại, có kiến thức uyên bác về Phật học, hiểu biết sâu rộng về các triết thuyết Tây phương, thông thạo nhiều ngoại ngữ.

Mới ngoài 20 tuổi ông đã là giáo sư đồng thời là một trong vài người quyết định đường hướng tư tưởng, triết lý chỉ đạo của Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Ông viết / soạn / dịch nhiều kinh / sách.

Các cuốn Triết Học Về Tính Không, Tô Đông Pha, Thiền Luận [sách dịch] của ông được đông đảo độc giả hoan nghênh. Ông cũng làm rất nhiều thơ.

1

giữa điều tôi nhìn thấy và điều tôi nói ra

giữa điều tôi nói ra và điều tôi thinh lặng

giữa điều tôi thinh lặng và điều tôi mơ mộng

giữa điều tôi mơ mộng và điều tôi quên lãng

là thơ

thơ trượt qua

giữa có và không

thơ nói

điều mà tôi thinh lặng

thơ thinh lặng

điều tôi nói

thơ mơ mộng

điều tôi lãng quên

thơ không là lời nói:

thơ là hành động

hành động của lời nói

thơ nói ra và lắng nghe:

thơ hiện ra thực sự

có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng?

2

ý tưởng hữu hình

chữ thì vô hình:

thơ

đến rồi đi

giữa cái hiện tiền

và cái không hiện hữu

thơ đan dệt

và tháo gỡ những suy tưởng

thơ tung rãi mắt nhìn lên trang giấy

tung rãi chữ vào trong mắt

mắt nói

chữ nhìn

cái nhìn suy tưởng

những đôi mắt nhắm lại

chữ thì mở ra

giữa có và không

thơ nói

điều mà tôi thinh lặng

thơ thinh lặng

điều mà tôi nói

thơ mơ mộng

điều tôi lãng quên

thơ không là lời nói

thơ là hành đông

hành động của lời nói

thơ nói ra và lắng nghe

thơ hiện ra thực sự

và ngay khi tôi nói là thơ hiện ra thực sự

thì thơ tan biến tức thì

có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng

Đó là những điều Tuệ Sỹ nói về thơ cũng là thơ ông. Liệu nó có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ Tuệ Sỹ chăng?

Bùi Giáng, một người có rất nhiều liên hệ với các chùa chiền, nhưng không phải tu sĩ, trong một bài nhan đề “Đi Vào Cõi Thơ Tuệ Sỹ”, viết, kể lại một giai thoại giữa ông vàTuệ Sỹ, rất Bùi Giáng, như sau:

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u …

Một bữa ông đọc cho hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt.

Tôi đề nghị với ông nên nhờ Ni Cô Trí Hải tiếp dùm.

Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế.

Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ty*

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình. Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia không hề có bao giờ vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm. Một bài thơ ‘Không Đề’ của ông đủ làm ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cõi dạ.

Bùi Giáng đề nghị [một] cách đoc mấy câu thơ của Tuệ Sỹ như sau:

Đôi mắt ướt tuổi vàng

khung trời

hội cũ

Xin xuống dòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì?

Cung trời hội cũ. Một hội đạp thanh? Một hội náo nức?

Giờ náo nức của một thời trẻ dại?

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh …

Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại. Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều ‘phải nói’ với mọi người ‘muốn nghe’ với riêng

mình ‘không thiết chi chuyện nói’.

Phạm Công Thiện, người đã có một thời cùng tu học với Tuệ Sỹ, nay đã cởi bỏ áo cà sa, cho biết thêm: “Mấy chục năm qua, Tuệ Sỹ làm rất nhiều thơ, nhưng Ni Cô Tuệ Hạnh chỉ thu nhặt được mấy chục bài và cho in lại với nhan đề thi tập là ‘Ngục Trung Mị Ngữ’, do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản. Đặc biệt trong thi tập này có 18 bài Tuệ Sỹ làm thẳng bằng chữ Hán, có một bài làm xúc động tâm hồn tôi đến cực điểm, bài:

Cúng Dường

Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

Thượng Tọa Viên Lý dịch thành bài lục bát như sau:

Hai tay nâng chén cơm tù

Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên

Thế gian huyết hận triền miên

Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào

Nhà thơ Vân Nguyên giữ nguyên thể ngũ ngôn và dịch như sau:

Dâng chén cơn tù lên

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian tràn oán hận

Ôm chén lòng khóc thầm

Và, tất cả những thông tin ấy liệu có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ của Tuệ Sỹ chăng? Hay đó cũng chỉ là những trận gió làm xao động thêm cái mặt nước đã không mấy yên tĩnh kia.

Độc giả bình thường không có được sự cảm thông đến rợn người như Bùi Giáng, như Phạm Công Thiện đối với thơ Tuệ Sỹ, người ta yêu những bài thơ nhỏ bé, dễ hiểu của Tuệ Sỹ hơn:

Buổi Sáng Tập Viết Chữ Thảo

Sương mai lịm khói trà

Gió lạnh vuốt tờ hoa

Nhè nhẹ tay nâng bút

Nghe lòng rộn âm ba

Cây Khô

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng

Để cây khô mạch suối khóc thương nhau

Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng

Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu

Người ta cảm nhận ở ông một hồn thơ trong suốt. Như một tấm gương, cái buồn trong thơ ông, nếu có, chỉ là những hình bóng phản ánh từ bên ngoài.

Năm Tàn

Lận đận năm trầy nữa

Sinh nhai ngọn gió rừng

Hàng cà phơi nắng lụa

Ngần ngại tiếng tha phương

Trầm Mặc

Anh ôm chồng sách cũ

Trầm mặc những đêm dài

Xót xa đời khách lữ

Mệnh yểu thế mà hay

Tuệ Sỹ cũng làm rất nhiều thơ tình. Đúng vậy. Nhưng thơ tình của ông dường đã bị tấm áo khoác của ông phủ nhận.

Con Trăng Đâu Đó

Nỗi nhớ đó

khát khao

luồn sơi tóc

Vòng tay

Ôm cụm khói bâng khuâng

Uống chưa cạn chén trà

sương móc

Trên đài cao em ngự mấy tầng

Lên cao mãi

đường mây

khép chặt

khoảng xoi mòn

ảo tượng

Thiên chân

Ô, nguyệt quế

trắng mờ đôi mắt

Ô

sao Em

sao ấn mãi

cung đàn?

Giai điệu đó

thoáng hờn

u uất

Xưa yêu Em

xao động hương vàng

Vài tấm hình ông người ta tình cờ được coi, tấm ông đàn lại có vẻ tu sĩ hơn bức ông mặc cà sa ngồi “tập chữ thảo”, đúng như chữ ông dùng, trông ông hiền từ, nhưng cũng đầy vẻ cương quyết.

Quanh ông luôn hiện hữu một sự trái ngược nho nhỏ [dễ thương] như vậy.

Trên mỏm trời Xích đạo

Cụm sao cài cúc áo

Long lanh những hạt mưa

Đôi mắt tròn hạt táo

Lữ khách bờ sông vắng

Trời khuya con nước xanh

Cụm sao trên quãng vắng

Trên cúc áo mong manh

Cái uyên bác của Tuệ Sỹ không phải ai cũng biết rõ ra sao. Nhưng cái tin ông bị tử hình đã làm, không phải chỉ riêng người Việt Nam, mà rất nhiều người trên khắp thế giới bàng hoàng.

Tử hình? Cũng may án chưa thi hành nên ông mới còn đến hôm nay.

Hình như, một nhà văn Pháp, Simone de Beauvoir thì phải, có viết một câu đại ý thế này: “Chủ nghĩa cộng sản không giải thích được. Cứ sống với họ rồi biết”

* Trần Lam Giang, chỉ nghe đọc qua điện thoại, dịch nghĩa như sau:

Đêm thâu gió thổi bóng nghiệp theo thân

Trước mặt hoa rụng bay chưa xong

Tâm sự phiêu bồng lệ chua cay

Trí Hải hay thẹn làm đàn sáo rối loạn


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply