Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 15 Oct 2025

Phần 28.

Nhân nhắc đến những năm 77, 78, tôi nằm xà lim ở Số 4 Phan Đăng Lưu, xin nhắc lại một vài kỷ niệm:

Trước hết là anh Nguyễn Mạnh Côn, một trong những ông đàn anh văn nghệ của tôi. Anh bị bắt trong chiến dịch càn quét văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại Sàigòn tháng Ba năm 1976.

Một chiều thứ bẩy, tháng Chín năm 1977, tôi vào xà lim số 15 khu B Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Khoảng 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau, tôi nhìn thấy anh Nguyễn Mạnh Côn.

Anh ở phòng tập thể số I khu B ngay trước dẫy xà lim trong có tôi. Chủ nhật, cai tù mở cửa phòng giam cho tù ra sân ngồi phơi nắng chừng nửa giờ. Tù phòng này được ra nửa giờ, trở vào phòng rồi mới mở cửa phòng tù khác.

Anh Côn ngồi xa tôi chừng 15 thước. Anh bận bô bà ba nâu. Người tù nào da dẻ cũng xanh mướt như tàu lá chuối non. Anh Côn tóc bạc, râu bạc. Buổi sáng hôm ấy tôi mới vào tù, tôi bồi hồi nhìn ông đàn anh của tôi qua ô cửa gió nhỏ bằng quyển sách trên cửa xa-lim. Hình ảnh anh Côn gầy yếu trong bộ bà ba nâu ngồi trong nắng trước cửa phòng tù số I khu B Nhà Tù Sâố 4 Phan Đăng Lưu hai mươi mùa thu trước sáng nay trở về ẩn hiện trước mắt tôi..

Anh Côn mua lại căn nhà lầu của Phạm Duy trong cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Vì anh chưa trả hết tiền, nên Phạm Duy chưa sang tên nhà cho anh, 30 Tháng Tư đến, Phạm Duy đi mất, anh chị Côn chưa chính thức làm chủ căn nhà. Tôi không biết anh chị Côn gặp khó khăn như thế nào vì căn nhà chưa sang tên này. Việt cộng theo lời dạy của thánh tổ Lênin, tịch thu hết “tài sản của những kẻ bỏ trốn ra nước ngoài”

Tôi vào tù được chừng bẩy ngày, được nói qua, nói lại với anh Côn vài câu ngắn ngủi, rồi tôi ngàn thu vĩnh biệt anh. Một tối nằm trong xà lim, tôi nghe có tiếng lịch kịch mở cửa sắt, tiếng gọi tên bên ngoài. Cánh cửa gió nhỏ ở trên xà lim bị đóng lại để người tù biệt giam không biết có chuyện gì xẩy ra bên ngoài. Đây là cuộc chuyển trại. Những người tù được chuyển đi, thường là sang Chí Hòa hoặc lên trại cải tạo, được gọi ra tập trung vào một hai phòng, chờ lên xe đi. Anh Côn đi khỏi số 4 Phan Đăng Lưu trong đêm hôm đó.

Nhiều đêm nằm trằn trọc trong xà lim đèn lờ mờ, tôi gợi ký ức nhớ lại đủ thứ chuyện. Tôi hình dung lại căn nhà của gia đình tôi ở Hà Đông. Tôi sắp xếp đồ đạc ở trong nhà: cửa sơn mầu nâu gụ, ngay bên cửa ra vào là hai cái ghế, bộ sa-lông Tàu kê ở giữa nhà, rồi sập gụ, tủ chè, hoành phi, câu đối, chiếc đồng hồ quả lắc treo cạnh cái đầu trâu rừng đắp bằng đất nung, cặp sừng là sừng thật, sản phẩm của nhà thủ công nghệ Hà Đông, cây súng săn Ca-líp Xe-giờ của thầy tôi đặt trên cái giá sừng hươu trên tủ chè…

Và tôi nhớ lại cuộc giao tình của tôi với anh Côn. Như tôi đã viết trong số những người viết trẻ từng thân với anh Côn như Nguyễn Đình Toàn, Duyên Anh, Trần Dạ Từ, chỉ có tôi là “bạn đồng sàng, đồng bàn đọi” với anh Côn.

Anh Côn có bàn thờ Cô Ba tại gia nhưng anh thích đi hút ở tiệm hơn. Anh hút nhiều, tự làm thuốc lấy vất vả, mất thú. Ít khi anh tiếp ai ở bàn đọi của anh. Đi hút ở tiệm quá đô rồi về nhà anh vẫn đốt đèn làm vài bi để chị Côn yên trí là anh không hút ở tiệm.

Tôi được anh tiếp tại bàn đọi ở nhà mấy lần. Anh bảo tôi:

– Vợ tôi bà ấy nói tội nghiệp cậu. Tôi nói nó kiếm được tiền, sợ quái gì. Vợ tôi nói: “…nhiều hay ít thì rồi cũng vất vả như anh thôi…”

Anh Côn mất khoảng năm 1979 trên trại cải tạo Xuyên Mộc, chị Côn mất khoảng năm 1990 tại thành Hồ. Anh chị có hai con trai. Cháu lớn ở với vợ con trong căn nhà anh chị mua lại của Phạm Duy ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Cháu thứ hai sống với vợ con ở Houston, Texas.

Anh Côn là đại biểu Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội trong quốc hội thứ nhất của ta sau năm 1945. Anh nói:

– Năm ấy, chúng tôi làm một bản tổng kết tình hình đất nước sau chiến tranh. Bản tổng kết có kể nạn đói năm Ất Dậu làm đồng bào ta chết đầy đồng. Chúng tôi quyết định để là hai triệu người chết. Đâu có làm thống kê được mà biết chắc con số người chết vì không có ăn trong năm ấy là bao nhiêu. Con số hai triệu do chúng tôi đặt ra trở thành số liệu lịch sử.

Khi tôi và anh Côn chơi ở tiệm Đ.Q hẻm trường Đại học Vạn Hạnh cạnh cầu Trương Minh Giảng, anh Triều Đẩu cũng hay lui tới đây. Anh Triều Đẩu là tác giả tiểu thuyết phóng sự Trên Vỉa Hè Hà Nội đăng trên Tạp chí Thế Kỷ xuất bản khoảng năm 1952, 1953 ở Hà Nội. Tôi đọc Trên Vỉa Hè Hà Nội của anh Triều Đẩu thấy anh viết thật hay, giọng văn có duyên, hỏm hỉnh, hấp dẫn. Một phần nhờ đọc Trên Vỉa Hè Hà Nội mà tôi nẩy ra ý bắt chước, viết cái gọi là phóng sự tiểu thuyết tếu Ông Tây, Bà Đầm, Bà Lớn, Yêu Tì, đưa ra những nhân vật không giống ai và không ai giống như ký giả Cuốc Tô, bà Zô-zan Chủ tịch hội Lát-Sốt-sì-sần, Cập-pi-tên La Lô, ông Đội Đèn, chị em Ngọc Tũn ái nữ ông Lang Toe, có thế võ Kim kê áp noãn thần sầu quỷ khốc không nam cao thủ võ lâm nào chịu nổi.

Anh Triều Đẩu là công chức, anh không phải là người viết chuyên nghiệp. Anh nghiên cứu tử vi và giải số tử vi nổi tiếng. Cung cách tử vi của anh có mục gọi là “Thất sát triều đẩu” nên anh lấy bút hiệu là Triều Đẩu. Bút hiệu thật hay và đặc biệt. Bên bàn đọi, anh xem tử vi cho nhiều người. Tôi đích thân chứng kiến vài chuyện anh chỉ căn cứ vào tên mấy ngôi sao trên tờ giấy mà gọi ra đời tư người ta đúng vanh vách. Đơn cử một chuyện:

Anh bạn Đại úy hít tô phê nhờ anh Triều Đẩu xem giùm lá tử vi đã lập thành. Giải linh tinh một hồi, không có gì quan trọng, thầy nói:

– Theo lá số này, thì chị vợ của anh đã có một đời chồng.

Đại úy cười gượng:

– Thưa nhân tình, nhân bánh thì chắc có, chồng thì chưa…

Tôi nghe anh Triều Đẩu nói:

– Tôi nói là đã có một đời chồng kia. Nếu không phải thì tôi đoán sai, tôi xin lỗi.

Thầy xin lỗi và thầy không giải nữa.

Đại úy bèn nhận là vợ mình đã có một đời chồng và xin thầy giải tiếp. Sau đó, tôi được nghe một ông Đại úy cũng trong hội hít tô phê khác kể tại bàn đọi này:

– Vợ nó là nữ trợ tá, bị thằng Thiếu tá trưởng phòng nó lấy. Nhưng thằng Trưởng phòng đã có vợ con rồi, nó lấy ít lâu nó buông, nó làm mối em cho tên này lúc ấy mới là Thiếu úy. Chuyện ấy anh em trong Nha tôi ai mà chẳng biết….

Tôi kể lại chuyện xưa tích cũ để nói về tài giải đoán tử vi của anh Triều Đẩu. Anh đã qua đời ở Thành Hồ. Tôi chỉ théc méc một điều: coi tử vi cho anh Côn và tôi anh Triều Đẩu nói cả hai chúng tôi đều có hậu vận êm đềm, càng ngày càng có tiếng, sống lâu lên lão làng, địa vị bền vững….

Lời anh tiên đoán về hậu vận của chúng tôi chắc chắn là đúng nếu chúng ta không bại trận, nếu quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đứng vững. Nhưng chuyện xảy ra cho tôi thấy cuộc đời anh Nguyễn mạnh Côn hoàn toàn khác với lời giải của anh Triều Đẩu. Trước năm 1975, làm sao tôi có thể tin nếu có người nói: “Anh Côn, anh Hoạt sẽ chết thảm thiết trong tù, các tướng lãnh, sĩ quan của ta sẽ đi tù hết…”

Tôi không tin nếu có người nói như thế, nhưng sự thực là chẳng có ai, kể cả những ông bà thầy bói mù lẫn bói sáng nói một câu như : “Coi chừng. Đến năm 1975 tử vi của ông đi vào đại hạn đen hơn mõm chó mực. Ông bị mất chức, mất nhà, mất cả vợ, ông bị đi tù…” Có một thời, những năm đầu của thập niên 70, từ ông Tổng thống đến ông Tống thư văn, từ vị Đại tướng đến vị binh Nhì, tất cả đều mê tín tử vi, xem tử vi lu bù kèn. Nhưng tử vi của vị nào cũng sáng hơn gương Tầu, quan văn, quan võ đều thăng quan tiến chức, tả phù, hữu bật, nhà buôn đều nhất bản vạn lợi, phúc lộc dồi dào. Đùng một cái, Việt cộng nó kéo vào Sàigòn. Banh ta lông tú lơ mo. Tử vi, tử véo của anh nào cũng có sao Quả Tạ đồng cung với sao Bị Gậy….

Anh Chu Tử Chu Văn Bình chết trên tầu Việt Nam Thương Tín khi tầu trên đường ra cửa biển, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong nhà tù Chí Hòa, anh Nguyễn Mạnh Côn chết trong trại cải tạo Xuyên Mộc.

Tôi được nghe anh em kể anh Côn chết vì anh tuyệt thực đòi Việt cộng phải trả tự do cho anh. Không biết vì sao anh nghĩ rằng án tù của anh chỉ là ba năm và anh đã ở tù đủ ba năm, Việt cộng phải trả tự do cho anh.

Cai tù Việt cộng học cách đàn áp tù nhân của đàn anh Nga cộng, Tầu cộng, tàn ác khủng khiếp với những người tù dám công khai chống đối bạo quyền của chúng. Chúng đàn áp thẳng tay những người tù đó để trấn áp những người tù khác. Người tù nào không chịu làm khổ sai là bị chúng nhốt phòng tối, trần truồng, không mùng mền, không chiếu, ăn cơm nhạt, không được tắm rửa… Chúng nhốt cho chết luôn. Người tù sống sót chỉ được thả ra sau khi năm bẩy lần van xin bằng miệng, bằng đơn từ. Người tù nào tuyên bố tuyệt thực là chúng bắt phải chết bằng cách “không chịu ăn, không cho uống nước luôn…”

Nghe nói người ta có thể nhịn ăn và lả dần cho đến chết, nhưng không sao có thể nhịn uống được.. Bằng chứng là những năm Sàigòn bát nháo từ 1965 đến 1970 nhiều tu sĩ thường đến trước dinh Độc Lập để tuyệt thực, với những bình nước sâm Cao ly thượng hảo hạng do các nữ đệ tử cúng dâng. Ở trại cải tạo Xuyên Mộc, anh Côn tuyên bố tuyệt thực đòi tự do, bọn cai tù không cho anh uống nước cho đến lúc anh chết.

Từ Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, tác giả Đem tâm tình viết lịch sử, Ba người lính nhẩy dù lâm nạn, Mối tình mầu hoa đào, Tình cao thượng, Hòa bình… Nghĩ gì…? Làm gì…? bị Việt cộng đưa lên trại cải tạo Xuyên Mộc, Bà Rịa. Anh đến đó và nằm tại vùng rừng già ấy.

Hận thù nào rồi cũng qua đi với thời gian. Mai sau dầu có bao giờ… con cháu chúng ta đọc được những trang sử ghi lại những hận thù, những đau thương của ông cha chúng trong nửa cuối thế kỷ thứ 20 đầy máu và nước mắt chắc sẽ phải ngạc nhiên khi thấy ông cha chúng giết nhau, thù hận nhau quá đỗi.

Khi sống trong tù, mắt nhìn thấy những người bạn tù chết thảm thương, tôi vẫn nghĩ các bạn tôi chết, tôi cũng có thể chết như họ. Tại sao không phải là Hoàng Hải Thủy chết cứng trên nền xi măng xà lim số 4 Phan Đăng Lưu và hôm nay Dương Hùng Cường ngồi viết ở Rừng Phong Arlington kể lại cái chết thê thảm của bạn?

Tôi mượn lời văn sĩ Elie Wiesel để diễn tả tâm trạng tôi khi tôi viết những trang này. Văn sĩ Elie Wiesel người gốc Do Thái, sinh trưởng ở Romania, hiện sống trên đất Hoa Kỳ. Ông viết nhiều về thảm họa dân Do Thái ở Âu châu bị Đức quốc xã giết hại trong thế chiến thứ hai. Ông được tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1986:

– Tôi không có quyền tha thứ cho bọn giết người về cái tội chúng đã tiêu diệt sáu triệu người Do Thái. Quyền tha thứ hay không là ở những người đã chết.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Oct 2025

99. Vũ Bằng

Vũ Bằng là một trong những nhà văn tiền phong của chúng ta. Ông viết văn, viết báo rất sớm. Năm 16 tuổi, còn đang là một học sinh trung học, ông đã có sách in ra, đó là cuốn Lọ Văn, châm biếm người đồng thời. Những tác phẩm chính của Vũ Bằng đã được xuất bản gồm có:

Lọ Văn [Tạp văn]

Một Mình Trong Đêm Tối [Tiểu Thuyết]

Truyện Hai Người [Tiểu Thuyết]

Tội Ác Và Hối Hận [Tiểu Thuyết]

Để Cho Chàng Khỏi Khổ [Tiểu Thuyết]

Khảo Về Tiểu Thuyết [Biên Khảo]

Miếng Ngon Hà Nội [Tạp Văn]

Phù Dung Ơi Vĩnh Biệt [Sau đổi thành Cai, Tự Truyện].

Bốn Mươi Năm Nói Láo [Hồi ký]

Thương Nhớ Mười Hai [Tạp Văn]

Được biết, đương thời Vũ Bằng cộng tác với rất nhiều báo, viết nhiều mục khác nhau, ký nhiều tên khác nhau, có thể còn rất nhiều bài vở của ông chưa được sưu tầm đầy đủ. Nhưng qua những gì đã được in thành sách, người ta đã được đọc, có thể coi như tầm quan trọng của hai vai trò nhà văn và nhà báo của ông ngang nhau. Ông đã lăn xả vào nghề làm báo, bỏ dở cả học hành, phụ cả ước mơ của thân mẫu muốn ông trở thành một bác sĩ.

Song chính nhờ những người như ông mà nền báo chí của chúng ta đã trưởng thành mau chóng. Hồi ký Bốn Mươi Năm Nói Láo của ông, tuy ông viết về mình, rõ hơn, viết về việc theo đuổi cái nghiệp viết văn, làm báo của mình, nhưng qua tác phẩm này, người đọc có thể hình dung lại được một phần sinh hoạt báo chí Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước. Cũng qua Vũ Bằng, người ta được biết nhiều chuyện vui buồn liên quan đến các nhà văn, nhà báo kỳ cựu của chúng ta một thời như: Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tích Chu, Tam Lang, Phùng Tất Đắc, Vũ Trọng Phụng, Đào Trinh Nhất, Tản Đà, Nam Hương, Nhượng Tống …

Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, ông đã ý thức rõ ràng về cái nghề làm báo của mình. Vũ Bằng viết:

“Bây giờ người ta gọi nghề làm báo là nghề nói láo ăn tiền. Kẻ viết bài này đã ngã vào cái nghề đó từ lâu, hôm nay ngồi giở lại cuốn sổ ký ức của mình, xin nhận ngay là mình làm nghề nói láo, Vì thế, tác giả lấy đầu đề tập ký ức này ‘Bốn Mươi Năm Nói Láo’ chứ không dám đề là ‘Bốn Mươi Năm Làm Báo’. Vì tác giả nhận thấy rằng, nói láo là một cái vinh dự, làm nghề nói láo là một nghề đặc biệt ít ai dám đem ra khoe khoang. Thực vậy, đa số các nhà làm báo bây giờ, nghe thấy danh từ ‘làm báo nói láo ăn tiền’ ngoài mặt thì có vẻ bất cần, nhưng trong thâm tâm thì hơi giận: tại sao làm một cái nghề cao quý như nghề báo, tại sao lãnh một cái sứ mạng nghiêm trọng là hướng dẫn dư luận, tại sao phục vụ một quyền lực lớn mạnh vào bậc thứ tư trên trái đất này mà có người dám bảo là nghề nói láo?”.

Nghề báo đến với nước ta muộn so với các nước Âu Mỹ. Vậy người Âu Mỹ nghĩ sao về nghề báo? Carlyle cho rằng: “Cao quý thay nghề làm báo. Một ông chủ báo có khả năng há chẳng phải là một nhà cai trị thế giới, vì là người thuyết phục thế giới, mặc dầu không do thế giới cử mà do mình cử mình thôi, tuy nhiên cũng được bằng con số báo bán ra cho thiên hạ”.

Còn văn hào Đức Gocthe thì lại nói về báo chí bằng những lời chua chát:

“Từ lâu, tôi vẫn tin rằng báo chí ra đời, là đề tài để cho dân chúng người ta tiêu khiển giết thì giờ và loè bịp họ nhất thời, hoặc vì có một sức mạnh nào ở bên ngoài ngăn viên ký giả nói ra sự thực; hoặc vì tinh thần đảng phái đánh cho y lạc hướng đi, vì thế tôi không đọc một tờ báo nào hết”.

Vũ Bằng cho biết, khi ấy chưa có một trường nào dạy viết văn, làm báo, ông đã đọc và học thuộc thơ của Tản Đà, Nam Hương, Nhượng Tống, Thi Nham, Đàm Xuyên, để rồi bắt chước. Đọc những dòng tâm sự của ông, ngưòi ta vừa buồn cho ông, vừa buồn cho đất nước:

“Mục đích của tôi là thuật lại thật đúng các giai đoạn làm báo nói láo ăn tiền của tôi để nhân đó may ra có nhận thấy diễn tiến của nghề báo ở nước ta như thế nào. Thêm nữa, tôi bắt đầu làm báo từ khi người mình còn sống dưới sự đô hộ của Pháp, qua thời kỳ Nhật vác kiếm lê trên mặt đất, đá Pháp một cú vào mông, rồi đuổi đi, đến Việt Minh bí mật, rồi Nhật thua, Việt Minh nắm chính quyền, rồi Pháp trở lại, rồi Pháp thua Điện Biên Phủ, ký hiệp định Geneve chia đất nước làm đôi, vác va li vào Sài Gòn hầu hạ Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, cho tới bây giờ sống nhờ vào quân đội Mỹ ô

kê, sa lem … rất có thể cứ thuật lại hết những giai đoạn nói láo của mình, chưa biết chừng lại vẽ lại được một giai đoạn đau thương tang tóc, đã qua”.

Vũ Bằng cũng kể lại trong Bốn Mươi Năm Nói Láo cuộc gặp gỡ của ông với ông Phùng Tất Đắc, khi ấy đang là chủ bút báo Đông Tây, như sau:

“Tôi được gặp ông Phùng Tất Đắc lần đầu tiên vào một chiều tắt nắng, nhân dịp yết kiến Hoàng Tích Chu, tại trụ sở báo Đông Tây, số 12 phố Nhà Thờ. Vừa mới thấy ông Đắc ngồi ở bàn viết, ở cửa đi thẳng vào, tôi đã biết ngay, không phải đã được ông tự giới thiệu, nhưng tại chính tôi được biết vì có bạn bè, trước đó, đã chỉ ông cho tôi rồi, ngồi xuống ghế, nói với ông câu đầu tiên, máu tôi chảy có một vòng, phần vì sợ văn ông, phần vì vẫn nghe tiếng ông là con nhà giàu ở Nam Thành, thạo đời ‘một cây’, lại có tiếng là tay ăn chơi ‘sộp’ … tôi luống cuống và cảm thấy tay chân thừa cả, không biết giấu chỗ nào”. Ông Đắc mặc Âu phục, vén tay áo sơ mi lên ngồi rung đùi khảo cứu Nho Giáo. Bên cạnh cuốn sách của Lệ Thần Trần Trọng Kim, tôi thấy một chồng sách chữ Nho. Đêm hôm ấy, về nằm nhớ lại buổi ban chiều, tôi chán đời không thể tả, vì thấy Phùng Tất Đắc, tôi quan niệm muốn viết báo cho ra viết báo, muốn xử dụng ngòi bút tài tình như ông Đắc trong mục ‘Trước Đèn’ của báo Đông Tây, người ta phải thông kim bác cổ, thạo cả chữ Hán lẫn chữ Tây”.

Sau này, năm 1964, khi ông Phùng Tất Đắc cho tái bản cuốn Trước Đèn, người đề tựa cho cuốn sách lại chính là Vũ Bằng đấy! ‘Người xưa’ đối xử với nhau như thế không lạ sao? Không đẹp sao?

Nói chung các cuốn tiểu thuyết của Vũ Bằng không được nhiều người đọc như các cuốn tạp văn của ông. Ngay cả cuốn Luận Về Tiểu Thuyết, được viết vào một thời chưa một ai [trong nước] bàn về lý thuyết của bộ môn nghệ thuật này, cũng không được mấy người muốn vào nghề tìm đọc.

Hai cuốn tạp văn Miếng Ngon Hà Nội và Thương Nhớ Mười Hai được độc giả hoan nghênh hơn nhiều. Ở các cuốn này, văn ông trau chuốt, đôi khi đọc, người ta có cảm tưởng như đang đọc những bài thơ xuôi.

Sau đây là một đoạn Vũ Bằng viết về Phở:

“Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú, một nhúm bánh phở, một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc, mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên, vừa đỏ sẫm như hoa lựu … Ba bốn thứ màu sắc đó, cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể, của một họa sĩ trong phái Văn Nghệ Tiền Tiến, dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt. Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bỏ từng miếng bày lên”.

Trong văn chương của chúng ta không biết đã có bao nhiêu người viết ca ngợi ‘cốm’, cái món ăn đặc sản này của dân tộc? Và cũng không biết trên thế giới những dân tộc nào chế biến được món ăn tuơng tự, dù họ có trồng lúa? Đó là điều người ta không thể không có lúc cảm thấy thầm hãnh diện tự hỏi, khi đọc vũ Bằng viết về cốm Vòng, vì ngoài cái ngon còn có cái đẹp của món ăn nữa:

“Cốm Vòng quả là một thứ quà đặc biệt nhất trong mọi thứ quà Hà Nội, đặc biệt vì cứ mỗi khi thấy gió vàng hiu hắt trở về thì lại nhớ đến cốm, mà đặc biệt hơn nữa là khắp các nẻo đường đất nước, chỉ có Hà Nội có cốm thôi! Có những hình ảnh đẹp quá, thoáng qua trước mắt một giây, mà ta nhớ không bao giờ quên. Bây giờ nghĩ lại cái đẹp não nùng của cốm Vòng xanh màu lưu ly để ở bên cạnh những trái hồng trứng thắm mọng như son tàu, tôi thích nhớ lại một buổi chiều đã xa lắm rồi, có một nhà nọ đưa hồng và cốm sang sêu một người em gái tôi.

Trên một cái khay chân quỳ, khảm xà cừ, đặt ở giữa án thư, hai gói cốm bọc trong lá sen được xếp song song còn hồng thì bầy trong một cái giá, dưới đệm những lá chuối xanh nõn, tước tơi, để ở trên mặt sập”.

Lại không phải chỉ có cái ngon, cái đẹp, qua ngòi bút Vũ Bằng còn có cả cái tình bên những món ăn nữa. Đoạn Vũ Bằng nói về món “hổ lốn”, tức là những món ăn dư của những ngày giỗ, tết, bỏ “hầm bà lằng” vào nồi đun nóng, thêm vào chút ít rau cỏ, cũng đáng được đưa vào các cuốn “thi văn trích diễm”:

“Ngoài sân mưa, mưa lăn tăn làm ướt giàn thiên lý. Mấy con ngỗng trời bay tránh rét, buông ở trên màn trời xám màu chì mấy tiếng đìu hiu. Cơm vừa chín tới, ‘hổ lốn’ lại nóng hổi, bốc khói lên nghi ngút, mà ngồi ăn ở trong một căn phòng ấm cúng với người vợ má hồng hồng vì mới ở dưới bếp lên, có họa là thất phu lắm mới không cảm thấy cái thú sống ở đời”.

Cuốn Thương Nhớ Mười Hai xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 được rất nhiều người đọc và coi ông như một trong những nhà văn viết tùy bút hay nhất của chúng ta.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son rau 15 Oct 2025

98. Võ Phiến.

Ông Võ Phiến có cái may mắn đã ra khỏi miền Nam trước ngày 30 tháng 4/1975, nếu không, không biết ông có còn đến hôm nay chăng? Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Hiếu Chân [Nguyễn Hoạt], Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường, Hoàng Vĩnh Lộc … đã chẳng chết trong cuộc tang thương đó sao?

Trong chuyến trở về Việt Nam, gần đây, nhà văn Phan Lạc Tiếp kể lại rằng, ông có dịp tiếp xúc được với một vài người bạn cũ ở Hà Nội, những người am tường sinh hoạt văn học nghệ thuật trong mấy thập niên qua, trong câu chuyện, ông Phan có hỏi: “Liệu ông Võ Phiến có về thăm quê nhà lúc này được chưa?”

Người ấy cười bảo: “Chưa! Chưa được đâu! Ở đây người ta đánh giá Võ Phiến rất nặng. Họ coi ông ta như một vài tay lãnh đạo văn học miền Nam trước đây và cả ngay bây giờ ở hải ngoại”.

Thực tế thế nào thì tất cả những người ở miền Nam trước đây và ở hải ngoại hiện nay đều đã biết. Ông Võ Phiến chưa bao giờ là người lãnh đạo văn học ở đâu cả. Ông rất được các đồng nghiệp, các nhà văn ở miền Nam, đủ các

lứa tuổi yêu mến, kính trọng về cả hai phương diện nhân cách và chuyên môn. Nhưng chắc chắn, bản thân ông, cũng không bao giờ có ý muốn lãnh đạo ai và cũng chẳng có một người viết văn nào lại muốn tự đặt mình dưới sự lãnh đạo của bất cứ ai. Người yêu tự do là người không chịu nổi cả sự mất tự do của người khác. Cứ đọc Võ Phiến người ta có thể nhận ra những điều đó.

Ông được hay bị người ta xếp vào hàng ngũ những nhà văn chống Cộng, trước hết, chính là vì ông muốn chống lại sự lãnh đạo trong văn học của cộng sản vậy. Và điều đó đủ là tội khiến Võ Phiến chưa thể về thăm quê được. Chưa thể về thăm Việt Nam được, trong những năm lưu lạc ở xứ người, ông Võ Phiến tiếp tục sáng tác và cặm cụi soạn bộ Tổng Quan Văn Học Miền Nam, cuốn sách đã được nhà văn kiêm họa sĩ Võ Đình dịch ra Anh ngữ và đã được các thư viện cũng như đại học nhiều quốc gia, lưu trữ, nghiên cứu và dùng làm tài liệu giảng dạy.

Để trả lời câu hỏi: “Làm sao ông có đủ tài liệu và thời gian để làm công việc ấy?”. Võ Phiến đáp: “Tiếng nói của cả miền Nam, thể hiện qua hơn hai mươi năm văn học, phải được giữ lại chứ? Lúc này, họ [tức là Cộng Sản Hà Nội] cả vú lấp miệng em, nhưng tài liệu mình cụ thể, mình chịu khó sưu tầm, lưu giữ, sau này sự thực sẽ có ngày sáng tỏ. Tôi có biết uống rượu

đâu. Già rồi, đi lại cũng ngại. Nên chỉ còn cái thú đọc sách. Nhờ đó, tôi cũng đọc được nhiều”.

Theo nhận xét chung của các độc giả, ông Võ Phiến đã tỏ ra hết sức trung thực khi soạn bộ sách này. Ông không ngần ngại đưa ra những nhận định rất thẳng thắn đối với một số tác phẩm, tác giả, cho dù đó có là những người từng sinh hoạt với ông, là những bạn bè quen biết từ nhiều năm trước hoặc sau này, ở trong cũng như ở ngoài nước.

Nhà văn Phan Lạc Tiếp cho biết thêm:

“Cuốn Tổng Quan Văn Học Miền Nam mới chỉ là cái sườn, những điều tổng quát mà thôi. Như chạy thi với ngày tàn của thế kỷ, một thế kỷ chất chứa những tang thương, cuối năm 1999, ông [tức Võ Phiến] cho nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành bộ sách khổng lồ dầy 3232 trang. Văn học miền Nam, riêng về truyện có 3 tập, đề cập tới 50 tác giả, ký 22 tác giả, các cuốn khác gồm kịch, tùy bút và thơ, đề cập tới 58 tác giả. Trong tổng số 3232 trang, có 1667 trang do Võ Phiến viết và 1561 trang trích dẫn 118 tác giả. Tất cả những điều ấy, phải công bình mà nói, Võ Phiến đã vì danh dự của miền Nam mà thực hiện. Công việc đó là một đóng góp rất lớn, vô giá, mà theo tôi [tức Phan Lạc Tiếp] chúng ta có quyền hãnh diện và mang ơn tác giả”.

Các tác phẩm của Võ Phiến đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Tiệp … và do các nhà xuất bản lớn phát hành. Tất nhiên không phải cuốn sách nào được chuyển ngữ cũng đều là sách có giá trị. Nhưng chúng ta có thể yên tâm, nếu cuốn sách được dịch ra ngoại ngữ đó mang tên Võ Phiến.

Ngoài ra, có vài sự kiện có thể coi như những đánh giá trân trọng đối với các công trình trước tác của Võ Phiến, đó là Luận Án Cao Học của bà Marie Annielle viết về Võ Phiến, trình tại Đại Học Paris 3èm năm 1986 và Luận Án Tiến Sĩ của bà Trương Thị Liễu, trình ngày 9 tháng 10 năm 2001 tại Đại Học Sorbonne, viết về đề tài “Võ Phiến Culture Nationnale, Lecture Occidentale”, dày ngót 600 trang, được Hội Đồng Giám Khảo phê tối ưu với sự ban khen [Mention très honorable avec félicitation du Jury].

Truyện của Võ Phiến có nhiều điều buồn thảm, sở dĩ như vậy vì những truyện ông viết, tự nó chứa sẵn sự buồn thảm. Bắt Trẻ Đồng Xanh chẳng hạn, không thể có điều gì vui được. Chứ đằng sau mỗi dòng, mỗi chữ của ông, hình như luôn dấu sẵn một nụ cười nhân hậu.

Đuợc hỏi “ông nghĩ sao về những luận án đề tài là các tác phẩm của mình đó”, Võ Phiến đã cười và trả lời một cách rất Võ Phiến rằng:

“Những luận án ấy là công trình của người soạn thảo, chứ đâu có phải là công trình của tôi. Ví dụ, giáo sư Phạm Hoàng Hộ ra sách nghiên cứu về cây rau muống thì đó là công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ, chứ đâu phải của cây rau muống. Rau muống khoe khoang e lộn chăng?”

Và sau đây là mấy câu thơ tình của Võ Phiến:

Một ngôi nhà

hôm bắt đầu cuộc sống chúng ta

Em nhớ chứ

cái đêm dài kỳ lạ

Gió định đến chợt ngập ngừng

rồi rút lui êm ả

Suốt một đêm cây lá nín hơi

Tàu chuối toan trở mình

nghĩ lại

bèn thôi

Trời gần sáng mới có mưa

rón rén

Những sợi nhỏ vừa rơi

vừa thẹn

*Chú thích của VP (viết tay): “Bài này bị cắt xén giấu mất hơn ½ bài. Tụi Cộng sản hèn!”

Papillon Người Tù Khổ Sai

Henri Charrière

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

Bài 1 –  Con đường của sự thối nát – Phiên toà Đại hình Cái tát mạnh đến nỗi mãi mười ba năm sau tôi mới gượng dậy được. Quả nhiên đó không phải là một cái bớp bình thường, và để dáng nó vào mặt tôi, họ đã xúm lại khá đông.
Hôm ấy là ngày 26 tháng Mười năm 1931. Từ tám giờ sáng tôi đã được đưa ra khỏi căn buồng giam dành cho tôi ở nhà lao Conciergerie từ một năm nay. Tôi đã cạo mặt nhẵn nhụi, ăn mặc chỉnh tề: bộ com-lê này ở một hiệu may có hạng làm cho dáng dấp tôi thêm phần trang nhã. Sơ mi trắng, thắt một chiếc nơ bươm bướm màu xanh nhạt điểm thêm một nét cuối cùng làm cho trang phục của tôi càng hoàn chỉnh.
Tôi đã hai mươi lăm tuổi, nhưng trông chỉ độ hai mươi. Bọn cảnh sát hơi chững lại trước cái dáng dấp “gentlemen” của tôi, nên cư xử với tôi khá lịch thiệp. Họ còn cởi khóa tay cho tôi nữa là khác. Họ với tôi cả thảy sáu người đang ngồi trên hai chiếc ghế dài đặt trong căn phòng trống trải. Bên ngoài trời u ám. Trước mặt chúng tôi có một cánh cửa chắc hẳn là dẫn sang phòng xử án, vì nơi này là Tòa án quận Seine ở Paris. 
Lát nữa tôi sẽ bị tố cáo về tội giết người. Trạng sư của tôi ông Raymond Hubert, có đến chào tôi. “Không có lấy một bằng chứng đích đáng nào chống lại anh, tôi tin chắc là chúng ta sẽ được trắng án”. Tôi nghe hai chữ “chúng ta” mà không khỏi mỉm cười. Cứ như thể chính ông ta; luật sư Hubert, cũng sắp ra trước tòa án đại hình với tư cách bị cáo, và nếu có hình án gì thì ông ta cũng sẽ cùng chịu với tôi.

Một viên lục sự mở cửa mời chúng tôi vào. Qua hai cánh cửa mở rộng, có bốn viên cảnh sát đi hai bên cùng với viên chuẩn úy chỉ huy họ, tôi bước vào một gian phòng rộng mênh mông. Để dáng cho tôi cái tát kia, họ đã trang hoàng cho gian phòng toàn bằng màu đỏ thẫm như máu: những tấm thảm, những tấm rèm trên các cửa sổ lớn, cho đến cả những bộ áo dài của các quan tòa lát nữa sẽ xét xử tôi.

– Thưa các vị, Tòa đã ra?
Từ một cánh cửa ở bên phải lần lượt bước ra sáu người. Quan Chánh án, rồi đến năm vị quan tòa, đều đội mũ vải đỏ. Quan Chánh án đứng lại trước cái ghế đặt ớ giữa, và hai bên các vị quan tòa khác cũng đứng vào chỗ. Một cõi im lặng trang nghiêm trùm lên gian phòng: ai mấy đều đứng yên, kể cả tôi, cho đến khi Tòa ngồi xuống mọi người mới ngồi theo.
Viên chánh án, có đôi má phính ửng hồng trên hai lưỡng quyền, vẻ mặt khắc nghiệt, nhìn thẳng vào mắt tôi mà không để lộ một cảm xúc nào. Ông ta tên là Bévin. Sau này ông ta sẽ chủ trì những cuộc tranh luận một cách không thiên vị, và thái độ của ông sẽ làm cho mọi người hiểu rằng, là một quan tòa chuyên nghiệp, ông ta không lấy gì làm tin tưởng vào sự thành thật của các nhân chứng và các nhân viên cảnh sát. Không, ông ta sẽ không có phần trách nhiệm nào trong cái tát, ông ta chỉ làm cái việc dọn nó lên cho tôi ăn mà thôi.
Công tố viên là luật sư Pradel. Tất cả các trạng sư đều rất sợ ông ta. Ông ta nổi tiếng là người cung cấp đắc lực nhất cho máy chém và cho các nhà lao trong nước cũng như hải ngoại.
Pradel là biểu trưng của bàn tay trừng phạt của công lý. Đó là người buộc tội chính thức của xã hội, một sức mạnh không có chút nhân tính. Ông đại diện cho Pháp Luật, cho Cán cân Công lý, chính ông cầm cái cân ấy và ông sẽ đem hết sức mình ra để làm cho nó nghiêng về phía ông. Đôi mắt kền kền của ông hơi cụp mi xuống nhìn tôi chằm chằm từ trên cao. Trước hết đó là chiều cao của cái bệ ông ta đứng, thứ đến là chiều cao của vóc người ông, ít ra cũng phải một thước tám, nó làm tăng cái vẻ hách dịch của ông ta lên rất nhiều. Ông ta không bỏ tấm áo khoác màu đỏ, mà chỉ đặt cái mũ xuống trước mặt. Ông ta chống hai tay lên bàn, hai bàn tay to như hai cái bồ cào. Một chiếc nhẫn vàng cho biết rằng ông ta đã có vợ, và ở ngón tay út ông đeo một cái đinh móng ngựa nhẵn bóng thay cho nhẫn.
Ông hơi nghiêng về phía tôi để tăng thêm sức áp đảo ông có vẻ như đang nói với tôi: này anh bạn trẻ, nếu anh nghĩ rằng anh có thể thoát khỏi tay tôi thì anh nhầm đấy. Người ta không thấy tay tôi có vuốt nhọn, nhưng bộ vuốt này luôn luôn có mặt trong tâm hồn tôi, và nó sẽ xé tan anh ra không có cách gì thoát nổi. Và sở dĩ tất cả các trạng sư đều sợ tôi, sở dĩ trong giới quan tòa tôi nổi tiếng là một công tố viên nguy hiểm, chính là vì không bao giờ tôi để sổng mất mồi.

“Tôi không cần biết anh có tội hay không, nhiệm vụ duy nhất của tôi là sử dụng tất cả những gì có thể sử dụng được để hại anh: cuộc sống phóng đãng của anh ở khu Montmartre, những lời khai mà cảnh sát đã mớm cho các nhân chứng và những báo cáo của chính bọn cảnh sát. Với mớ tài liệu ghê tởm mà viên dự thẩm đã thu thập được, tôi phải tìm hết cách để làm cho anh trở thành xấu xa đến mức bọn bồi thẩm phải quyết định gạt anh ra ngoài xã hội”.

Tôi có cảm giác là nghe thấy những câu nói này rất rõ, trừ phi tôi nằm mơ, vì quả tình “kẻ ăn người” này đã gây được cho tôi một ấn tượng rất mạnh. 
“Bị cáo nhân, anh hãy để mặc cho ta làm, và nhất là đừng tìm cách tự vệ: ta sẽ dẫn anh lên con đường của sự thối nát”!
“Và ta mong rằng anh đừng trông mong gì vào bọn bồi thẩm: chớ có ảo tưởng. Mười hai con người này chẳng hiểu gì về cuộc sống đâu”.
“Anh cứ thử nhìn họ mà xem. Họ đang ngồi trước mặt anh thành một dãy: rõ ràng là mười hai miếng pho-mát từ một tỉnh lẻ nào đó mới chở về Paris. Đó là những anh chàng tiểu thị dân, những anh công chức về hưu, những gã lái buôn. Chẳng hơi đâu mà nói kỹ về họ. Dù sao thì chắc anh cũng không khờ khạo đến nỗi tưởng rằng những con người như thế có thể hiểu được quãng đời hai mươi lăm năm mà anh đã sống và cách sinh hoạt của anh ở Montmartre. Đối với họ, quảng trường Pigalle và quãng trường Trắng chính là Địa ngục, và tất cả những người sống về đêm đều là những kẻ thù của xã hội. Tất cả bọn họ đều vô cùng hãnh diện với cái chân bồi thẩm ở Tòa Đại hình. Ngoài ra anh cũng nên biết rằng họ rất đau khổ vì cái thân phận tiểu thị dân nhỏ bé của họ”.
“Thế mà anh, anh bước ra trước mặt họ, trẻ trung, tuấn tú. Chắc anh hiểu thừa rằng ta sẽ chẳng nể nang gì mà không miêu tả anh thành một tên sở khanh của những đêm Montmartre, cho nên ngay từ đầu ta sẽ biến bọn bồi thẩm này thành những kẻ thù của anh. Anh ăn mặc sang trọng quá: đến đây lẽ ra anh phải ăn mặc thật khiêm nhường. ở chỗ này anh đã phạm một lỗi nghiêm trọng về chiến thuật. Anh không thấy là họ ganh tị với cách ăn mặc của anh sao? Họ thì toàn mua đồ may sẵn ở cửa hàng Samaritaine, và dù có nằm mơ họ cũng không dám nghĩ rằng mình có bao giờ đi may đo lấy được một bộ”.
Bây giờ đã mười giờ, Tòa đã sẵn sàng mở đầu cuộc tranh luận. Trước mắt tôi là sáu viên quan tòa trong đó có ông công tố viên hung hãn sẽ đưa hết uy quyền ma quái của mình, đưa hết trí thông minh của mình ra để thuyết phục mười hai gã tiểu thị dân kia rằng tôi là kẻ có tội và bản tuyên án ngày hôm nay chỉ có thể là tội lưu đày hay máy chém.
Người ta sắp xử tôi về cái tội giết một tên ma-cô, một tên dắt gái của giới ăn mày chơi Montmartre. Không có lấy một bằng chứng nào. Nhưng bọn cớm cứ mỗi lần tìm được thủ phạm là một lần thêm lon, cho nên sẽ một mực khẳng định rằng tôi là thủ phạm. Thiếu bằng chứng, chúng nó sẽ nói là nắm được những sự kiện “bí mật” từ một nguồn riêng, cho chúng nó biết một cách chắc chắn, không còn hồ nghi gì nữa. Một nhân chứng do chúng chuẩn bị, một cái đĩa hát sống chế tạo tại số nhà 36 quai des Orfevres, tên là Polein, sẽ là chỗ dựa hữu hiệu nhất của lời buộc tội. Vì tôi một mực quả quyết rằng tôi không quen biết hắn ta, đến một lúc nào đó ông chánh án hỏi tôi một cách rất vô tư: “Anh nói rằng người làm chứng này nói dối. Được. Nhưng tại sao người ấy lại đi nói dối? Để làm gì?
– Thưa ngài Chánh án, sở dĩ từ khi bị bắt cho đến nay đêm nào tôi cũng không sao chợp mắt được, điều đó không phải vì hối hận: có phải tôi giết Roland le Petit đâu? Chẳng qua vì tôi cứ nghĩ mãi không biết tại sao, cái gì đã thúc đẩy người làm chứng này hằn học đối với tôi như vậy và luôn luôn tìm cách hại tôi, cứ mỗi lần lý lẽ của bên nguyên xem chừng yếu đi thì lại cố nghĩ thêm những lời khai mới để củng cố cho nó.
Rốt cục, thưa ông Chánh án, tôi phải đi đến kết luận là cảnh sát đã bắt quả tang hắn đang làm điều gì phạm pháp nghiêm trọng và đã thương lượng với hắn: sẽ làm ngơ cho, với điều kiện là phải buộc tội thằng Bươm bướm. Lúc bấy giờ tôi cũng không ngờ là tôi đã nói đúng sự thật đến như thế. Tên Polein hôm ấy được giới thiệu ở phiên tòa là một người lương thiện chưa hề can án, thì mấy năm sau đã bị bắt và bị xử về tội buôn lậu bạch phiến.
Trạng sư Hubert ra sức bào chữa cho tôi, nhưng ông ta không có được cái tầm cỡ của ông Công tố viên. Chỉ có trạng sư Bouffay, nhờ sự công phân sôi sục của ông ta, đã gây khó khăn cho ông Công tố viên trong một thời gian nào đó. Tiếc thay cũng chẳng được bao lâu và trong cuộc đấu khẩu tay đôi này sự khôn khéo của Pradel đã thắng một cách khá nhanh chóng. Hơn nữa ông ta đã biết cách làm cho bọn bồi thẩm hài lòng: họ hết sức hãnh diện được một nhân vật đầy uy thế như ông ta coi như những người bằng vai phải lứa và như những người đồng sự.
Đến mười một giờ tối hôm ấy, ván cờ đã vãn. Các trạng sư bào chữa cho tôi bị chiếu bí. Và tôi, người vô tội, đã bị lên án.
Cái xã hội Pháp do Công tố viên Pradel đại diện đã loại bỏ vĩnh viễn một thanh niên hai mươi lăm tuổi. Và không có hy vọng gì giảm án hết! Món ăn sang trọng này đã được quan Chánh án Bévin dọn ra trước mặt tôi bằng cái giọng không có âm sắc của ngài.
– Bị cáo nhân, đứng dậy.
Tôi đứng dậy. Một bầu không khí hoàn toàn im lặng bao trùm lấy căn phòng, mọi người nín thở, tim tôi đập nhanh hơn. Bọn bồi thẩm kẻ thì nhìn tôi, kẻ thì cúi đầu. Họ đều có vẻ xấu hổ.
– Bị cáo nhân, hội đồng bồi thẩm đã trả lời khẳng định cho tất cả các câu hỏi của Tòa trừ câu hỏi về khoản có chủ mưu từ trước hay không, cho nên Tòa xử anh tội khổ sai chung thân. Anh có điều gì cần nói không?
Tôi đã không choáng váng, thái độ của tôi vẫn giữ được bình thường, chỉ có hai bàn tay tôi xiết hơi mạnh vành móng ngựa.
– Thưa ngài Chánh án, có, tôi cần nói rằng tôi thực sự vô tội và là nạn nhân của một âm mưu của cảnh sát.
Từ cái góc dành cho những quý khách phụ nữ ăn mặc sang trọng ở phía sau Tòa, một tiếng rì rầm vẳng đến tai tôi. Tôi nói với họ, dõng dạc nhưng không quát tháo:

– Thôi im đi, các bà đeo chuỗi ngọc đến đây thưởng thức những cảm giác không lành mạnh. Màn kịch đã diễn xong. Một án mạng đã được cảnh sát và tư pháp của các bà giải quyết ổn thỏa, vậy các bà phải lấy làm thỏa mãn chứ!
– Đưa phạm nhân đi – quan Chánh án nói.
Trước khi ra khỏi phòng, tôi nghe một tiếng nói rõ to: “Anh đừng buồn phiền, em sẽ đến tận đấy tìm anh”. Đó là Nénette, nàng Nénette trung thực và cao thượng của tôi, đang gửi đến tôi những tình cảm đằm thắm của nàng. Những người thuộc giới giang hồ có mặt trong phòng đều vỗ tay. Họ thì họ biết thực chất vụ án mạng này, và làm như vậy họ muốn tỏ ra cho tôi biết rằng họ tự hào về tôi, vì tôi dã không đầu hàng bọn cảnh sát và đã không tố giác một người nào.
Khi đã đi sang căn phòng nhỏ mà tôi ngồi trước khi xử án, bọn cảnh sát khóa tay tôi lại. Cổ tay bên phải của tôi có một sợi xích ngắn nối với cổ tay bên trái của một viên cảnh sát. Không ai nói với ai một lời. Tôi xin một điếu thuốc. Viên quản đưa cho tôi một điếu và châm lửa cho tôi. Cứ mỗi lần tôi đưa tay lên điếu thuốc hay bỏ tay xuống, viên cảnh sát đứng bên phải tôi lại phải đưa tay lên hay đưa xuống theo tôi.
Tôi đứng hút hết khoảng ba phần tư điếu thuốc lá.
Chẳng ai nói một câu nào. Người đầu tiên mở miệng là tôi. Tôi nói với viên quản: “Đi thôi”.
Xuống mấy lượt cầu thang với khoảng mười hai viên cảnh sát đi áp tải, tôi bước ra sân sau của tòa án.
Chiếc xe hơi chở tù đã đợi sẵn chúng tôi ở đây. Đó không phải là loại xe chở tù có ngăn ra nhiều xà lim. Trong thùng xe có xếp khoảng mười cái ghế dài.
Viên quản nói: “Conciergerie”.




Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6 July, 2023

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

Kỳ 10

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi đã gọi đài tiếp vận Hàm Rồng xin tiếp viện nhiều lần, lần nào cũng bị trả lời, “Gắng chờ! Gắng chờ!”  Mấy ngày sau tôi mới hay, từ sáng sớm ngày 14 tháng 4, thượng cấp đã gửi một tiểu đoàn bộ binh vào tiếp viện cho tôi, nhưng vừa đi qua ngã ba Mỹ Thạch được năm cây số thì đơn vị này đã bị địch đánh tan. Chuẩn úy Trâm và Trung đội Trinh Sát 82 đã tiếp tay được Trung úy Thọ. Cùng đi với Thọ có hai thằng em bị thương gãy tay là Binh nhất Lê Thanh Phong và Trung sĩ 1 Nông Văn Út người Nùng. Trung sĩ Út đang là một Trung đội trưởng của Ðại Ðội 2 thay thế cho Thượng sĩ Don Luân người Thượng đi phép vắng.

Trước đó Chuẩn úy Lê Văn Phước, tức là Phước Răng Vàng cùng hai anh lính Truyền Tin của Ðại Ðội 2 là Trung sĩ Thế và Hạ sĩ Khanh đã chạy sang Plei Ngol Ho; cả ba người này đều bị thương. Trung úy Thọ vào tới sân Plei Ngol Ho đúng vào thời điểm địch cắm được lá cờ Giải Phóng Miền Nam trên nóc phòng thuyết trình của 711. Cũng ngay giờ phút đó, Cứ Ðiểm Plei Ngol Ho hứng chịu loạt mưa pháo đầu tiên.

Vũ khí tàn phá của địch chủ yếu vẫn là 122ly, 105 ly cùng với hỏa tiễn AT3. Có điều địch không nhìn thấy 6 chiếc M113 của Ðại úy Xá nằm núp sau các bụi tre gai, nên AT3 chỉ lập loè nhắm vào hai khẩu 155 ly và cái xe ủi đất. Vì địch đã chiếm được 711 và làm chủ đoạn Tỉnh Lộ 6C hướng Bắc đồi Tử Chiến, nên chúng công khai dùng xe chở quân tăng viện tới sát bên 711 rồi mới nhảy xuống, dàn trận, xung phong. 9 giờ sáng 14 tháng 4, trong màn mưa, một biển người ào lên bờ đất phòng thủ hướng Tây Plei Ngol Ho. Ngay đợt xung phong đầu, ba sĩ quan trung đội trưởng của Ðại Ðội 3 đã bị thương.

Tôi ra lệnh cho ba anh chuẩn úy này lui về sau, nhường quyền chỉ huy cho ba sĩ quan thực tập thì Chuẩn úy Trương Trọng Tài, Trung đội trưởng Trung Ðội 2 Ðại Ðội 3 xua tay từ chối. Ông chuẩn úy này chỉ còn tay phải, tay trái bị thương nhẹ, đã được băng bó rồi được treo lên bằng một cuộn băng cá nhân vòng quanh cổ.

Trong màn khói đạn mịt mù, hiện ra một Chuẩn úy Trương Trọng Tài, còn gọi là Trương Thiên Tài, đẹp như một nam tài tử trong phim cao bồi của Mỹ, một tay anh treo tòn ten trước ngực, một tay ôm M16, một chân dưới giao thông hào, một chân nhịp nhịp chống trên bờ đất, hai ống quần hoa đã bị cắt tới đầu gối, cái mũ đi rừng thì đội lệch một bên, miệng anh đang ngậm nửa điếu Ruby đã tắt lửa tự bao giờ.

Tôi nghĩ, nếu có phóng viên quốc tế nào ở đây, thì hình ảnh của tài tử Trương Thiên Tài chắc chắn sẽ chiếm trang đầu của Báo Life hay Báo Times. Tài cười vang rồi nhìn tôi:

– Thái Sơn để tui chơi tiếp với mấy thằng Việt-Cộng này! Lính của tôi còn ở đây, tui mặt mũi nào mà trốn sau lưng tụi nó!

Thấy thế, hai ông chuẩn úy còn lại là Trần Quảng và Trương Anh Kiệt cũng không chịu kém,

– Tui cũng không trốn, tui xin Thái Sơn cho tui ở lại với thằng Tài! Chết thì chết! Có chi mà ngán!

Tôi đành lắc đầu, ái ngại cho ba thằng em, nhưng trong lòng tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Tôi rút bao Lucky ra châm cho ba đứa em mỗi đứa một điếu rồi đi sang khu pháo binh. Ðể có sĩ quan chỉ huy dự phòng, tôi cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt tạm thời giữ chức đại đội phó cho Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Cùng lúc, tôi gọi Trung úy Chủ dẫn hai ông sĩ quan thực tập tới Ðại Ðội 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Phiến. Trận đánh tiếp tục giằng co. Tôi không lo địch pháo nữa mà chỉ lo chúng cứ liều mạng xông lên, chúng nó mà xông lên vài đợt nữa thì chúng tôi hết đạn!

Tới xế trưa thì hai trung đội trưởng Trần Quảng và Trương Anh Kiệt bị vết thương làm độc lên cơn sốt cao nên Thiếu úy Phiến phải đưa họ vào phòng thuyết trình để ông trợ y săn sóc. Hai sĩ quan thực tập đã sẵn sàng trám chỗ cho hai người này. Tới chiều, dù pháo địch cứ rộ từng cơn, nhưng không thấy địch xung phong, tôi vội đi thị sát một vòng. Tới khu pháo binh tôi mới hay, Trung úy Danh và một thiếu úy dưới quyền anh cùng bốn binh sĩ đã bị thương cách đây vài phút. Hai khẩu đại bác 155ly xẹp bánh, nằm nghiêng một bên. Những pháo thủ còn lành mạnh giờ đây đã biến thành những chiến binh đánh nhau bằng M16.

Cũng từ lúc này, tôi là người trực tiếp xin pháo yểm vì ông Trung úy Danh đã nằm trong hầm cứu thương. Trở về hầm chỉ huy, tôi gọi Sư Ðoàn 22 hỏi xem lúc nào có quân tăng viện thì câu trả lời vẫn là, “Gắng chờ!” Thấy màn đêm sắp buông, tôi gọi cho các đơn vị phải cảnh giác canh chừng Ðặc Công. Tôi sợ rằng, vị trí đóng quân của tôi chưa có hàng rào, chưa có mìn bẫy, nếu địch vừa đánh Ðặc Công xong, liền xua đại quân ào lên đánh biển người thì tôi vô phương chống đỡ. Bỗng trong óc tôi lóe lên ý nghĩ sử dụng đơn vị trừ bị là Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân. Qua mười phút liên tục phát thanh, tôi vẫn không nghe Thiếu tá Nguyễn Hoàng trả lời.

Tôi vào tần số của Chi Khu Phú-Nhơn để nhắn tin cho Thiếu tá Nguyễn Hoàng thì nghe họ thông báo rằng Thiếu tá Hoàng vừa đem lính đi Ngã Ba Mỹ Thạch để đón một đại đội của ông đóng quân cách ngã ba 5 cây số, nhưng đêm qua đơn vị này đã bị Việt-Cộng đánh tan tành và đang thất lạc. Cuối cùng, túng thế quá, tôi đành phải tính chuyện sử dụng Ðại Ðội 1. Sử dụng Ðại Ðội 1 là một hành động vô cùng liều lĩnh, cần phải cân nhắc kỹ. Nếu không đem Ðại Ðội 1 ra kịp, chắc chắn tôi sẽ vỡ trận vì không đủ quân. Nhưng nếu địch biết tôi đã đem Ðại Ðội 1 đi thì chúng sẽ đánh chiếm Pleime ngay.

Sau một hồi suy đi, tính lại, tôi thấy, hiện giờ tôi đang ở Plei Ngol Ho, Plei Ngol Ho là mạng sống của tôi! Nếu tôi còn sống, chuyện an nguy của Pleime mới thành vấn đề, nếu tôi chết thì Pleime còn hay mất đâu còn ăn thua gì nữa? Thế là, tôi quyết định chơi xả láng! Bỏ Pleime để chống đỡ Plei Ngol Ho! Kế đó, tôi gọi Thiếu úy Phạm Văn Tô, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 vào máy rồi ra lệnh:

– Thái Sơn về núi!

Ðầu máy bên kia có tiếng Thiếu úy Tô,

– Nhận 5!

Từ ngày nhận chức chỉ huy 82, tôi đã có mật ước với 5 vị đại đội trưởng là, trong trường hợp khẩn cấp nếu nghe được chính miệng tôi phát ra mật lệnh “Thái Sơn về núi!” thì người nghe phải lập tức vặn máy sang tần số 47.70 để nghe tôi ra lệnh tiếp. Ðại Ðội 1 đang ở Làng Xổm, chỉ cách Căn Cứ 711 chưa đầy 7 cây số đường chim bay. Nếu là bình thường thì đơn vị này chỉ cần một tiếng đồng hồ di hành là đã qua đoạn đường này. Nhưng giờ đây vùng Bắc của Tỉnh Lộ 6C đã bị địch chiếm cứ, Ðại Ðội 1 mà đi trên tỉnh lộ thì không khác gì tự tử.

Tôi nói,

– Mở thực đơn ra nghe lệnh!

(Thực đơn: là bản đồ ghi mục tiêu)

Ngưng một phút cho Thiếu úy Tô chuẩn bị bản đồ rồi tôi mới bắt đầu chậm rãi,

– Target 1 Le Tam Pôte! Target 2 Le Dido! Target 3 Torr! Nghe rõ chưa? Lặp lại!

Tôi không chờ lâu, Tô đã đáp lời ngay,

– Nhận 5! Le Tam Pôte, Le Dido, Torr!

Tôi tin rằng, không chỉ mình Thiếu úy Tô, mà tất cả quân nhân của Ðại Ðội1 đều thông thuộc những địa danh này, không cần bản đồ hay địa bàn họ cũng có thể đi tới đó một cách dễ dàng.

Vì chắc chắn vào giờ phút ấy, bên hướng Ðông suối Ia Tur sẽ không có tên Việt-Cộng nào, nếu an toàn qua được Plei Le Tam Pôte thì coi như hết lo lắng. Rồi từ Plei Le Tam Pôte ta cứ yên trí chạy một mạch theo con đường xe be lên hướng Bắc, vượt qua 6 cây số thì tới làng Plei Torr. Tới Plei Torr coi như tới 711!

Quả nhiên, gần 7 giờ tối tôi đã nghe Thiếu úy Tô thở hổn hển,

– Trình Thái Sơn! Tôi thanh toán xong làng Torr!

Tôi ra lệnh,

– Cho anh em nghỉ vài phút rồi đi tiếp!

– Nhận 5!

Kế đó, từ làng Plei Torr rẽ trái, theo đường xe be, chỉ nửa giờ sau Ðại Ðội 1 đã có mặt trên Plei Ngol Ho. Tôi cho Ðại Ðội 1 giữ tuyến chính Ðông, mặt Tây vẫn do Ðại Ðội 3 phòng thủ, vì những người lính của đơn vị này đã quen với địa hình địa vật trước mặt. Tiếp đó, tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 1 chia sẻ bớt đạn và lựu đạn cho Ðại Ðội 3 và Ðại Ðội 2. Lúc này, bình quân trên lưng mỗi người lính chỉ có khoảng dưới 100 viên đạn M16. Ðánh nhau mà thiếu đạn thì khổ lắm, nhưng biết làm sao bây giờ? Bố quân xong, tôi quay về hầm truyền tin, tính nhắm mắt vài phút cho tinh thần bớt căng thì nghe trong máy khuếch âm có tiếng gọi lớn, giọng Bắc Xâm Nhập,

– Thái sơn! Thái ổi! Thái rau! Thái thịt! Thái cứt! Thái đái! Ðây là Bố gọi! Con có nghe không? Trả lời!

Nghe thấy vậy, Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn liền la lên,

– Truyền Tin! Sang tần số giải tỏa! Số nhà này bị Việt-Cộng vào phá rối rồi!

Chiến trận đã nhiều, nhưng tôi thấy rất ít khi bị Việt-Cộng vào tần số chọc phá, nên tôi nói với ông Chủ,

– Kệ mẹ nó! Cứ hỏi nó muốn cái gì?

Trung úy Chủ cầm máy lên,

– Chúng mày muốn gì?

– Bố mày muốn nói chuyện với thằng Thái Sơn.

Thấy tôi gật đầu, ông Chủ nói tiếp,

– Thái Sơn đây! Mày là ai? Muốn gì?

Ðầu máy bên kia có tiếng “Ẹc! Ẹc! Ẹc!” như có sự chuyền tay cái loa phát âm, rồi tôi nghe tiếng người dõng dạc,

– Tao là người chỉ huy Quân Giải Phóng, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Tôi ra dấu cho Trung úy Chủ trao máy cho tôi rồi cũng dõng dạc đáp lời,

– Tao là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Ðáp lời tôi là tiếng “Chát” do máy phát đập trên nền cứng, cùng với tiếng hét,

– Ð! Mẹ mày! Mày là đồ tay sai của đế quốc Mỹ!

Tôi cũng già hàm, không chịu kém,

– Ð! Mẹ mày! Ông nội, ông ngoại, thằng cha, con mẹ mày chỉ là thứ bần cố nông, hốt cứt, gắp phân! Mày cũng chỉ là một tên tay sai của Liên Xô và Tầu Phù!

Người bên kia nghiến răng,

– Thái Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cũng nghiến răng,

– Hồng Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cứ tưởng rằng mình đang chửi nhau với Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A nhưng bỗng nghe người bên kia hét thật to,

– Tao là Kim Tuấn! Mày sẽ không thoát được tay tao!

Thì ra, từ nãy tới giờ tôi đang cãi nhau với Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Tôi bèn lớn tiếng, nhưng thật là chậm rãi,

– Tao là Thái Sơn! Mày vào bao nhiêu tao giết hết bấy nhiêu! Cứ xua quân vào đi! Tao thách mày đấy! Ở Tây Nguyên này tao là vô địch! Nghe rõ chưa?

Tôi dứt tiếng thì người bên kia rít lên,

– Tao thề sẽ giết mày!

Rồi máy tắt, không còn nghe gì nữa.

Mười phút sau không biết cơ man nào là pháo từ Tây, và Tây Nam, bắt đầu bay tới Plei Ngol Ho. Ðạn 105ly, đạn 122ly nòng ngắn, nòng dài, hàng nghìn trái theo đuôi nhau. Cũng may là địch pháo hơi dài so với hướng súng, khiến cho tất cả đạn đều rơi trên đỉnh đồi hướng Ðông. Căn cứ 711 nằm trong lòng đất trũng của làng Plei Ngol Ho nên không có viên đại bác nào rơi trên chỗ chúng tôi đóng quân.

“Thái Sơn đây Hỏa Long!”

Ðang khổ sở vì pháo địch, nghe tiếng ông niên trưởng Trần Bạch Thanh khóa 17 Võ Bị trên AC47 tôi vừa mừng lại vừa lo. Tôi mừng vì có thể nhờ Hỏa Long oanh kích những khu vực địch đặt pháo, nhưng lo vì nếu được hỏa châu soi sáng, tụi bộ binh của Việt-Cộng sẽ tập trung dễ dàng hơn, di chuyển cũng nhanh hơn. Khi đã nhận biết nguồn sáng phát ra từ cái đèn Beacon của Thiếu úy Trần Văn Phước ở giữa sân Plei Ngol Ho, anh Thanh hỏi tôi,

– Giờ đây Thái Sơn cần tôi càn quét chỗ nào?

– Okay! 4 clicks Tây Nam! Ðánh thả giàn!

Bầu trời đêm cuối tháng Âm Lịch rực sáng dưới hỏa châu, sau đó là những luồng đạn lập lòe chớp chớp từng chặp. Văng vẳng, tôi nghe vọng lại tiếng đại liên “Ồ! Ồ! Ồ!” Trên trời bỗng loé sáng như ai đó vừa bắn pháo thăng thiên! Một phút sau tai tôi nghe, “Bốp! Bốp! Bốp!”  tiếng phòng không 37ly giòn giã. Chiếc Hỏa Long bỗng tắt hết đèn, rồi bay đi đâu mất. Mấy phút sau, máy bay bất thình lình quay lại, vẫn tắt đèn, bắn vội vài tràng đạn, rồi biến luôn. Ðúng nửa đêm 14 tháng 4 năm 1974 địch triển khai đợt biển người thứ nhất trong ngày nhắm vào Plei Ngol Ho.

“Oành! Oành! Oành!

Thủ pháo mở đường, rồi bộ binh ào lên,

“Cành! Cành! Cành!”- “Xung phong! Xung phong! Xung Phong!”

Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, bắn chéo cánh sẻ, đạn đan nhau, không một tên Việt-Cộng nào tới được bìa rào. Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui.

Thợ Mộc

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 18 June 2015 

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

Bài 21

Ai ơi chớ lấy thợ cưa

Cưa qua cưa lại, dái đưa lòng thòng.

(ca dao)

Ai nói thợ mộc không phải là thợ cưa?

Thợ mộc cũng phải cưa gỗ chứ!

Đặt tấm gỗ trên cái đòn, để cho cái đầu hơi chếch ra phía ngoài, cầm cái cưa dài, xẻ dọc tấm gỗ; có khi là một thanh gỗ thì “đưa” thế nào được.

Câu ca dao trên là nhằm nói tới những người xẻ gỗ súc. Súc gỗ to vài dài, được chống nghiêng, đầu cao đầu thấp. Hai người thợ mộc, cầm cái “cưa cá mập”, người đầu cao, người đầu thấp, cưa qua cưa lại, thế mới đúng với câu ca dao.

Đội cưa của tôi không có cưa cá mập, nhưng có cái cưa dĩa. Buổi sáng thì tôi tà tà, chuẩn bị để cưa gỗ, có khi phải mài dĩa cưa; buổi chiều, máy điện chạy mới có việc.

Tôi và một người bạn tù nữa, đẩy những thanh gỗ dài, xẻ nhỏ theo kích thước, xong giao cho các bạn tù khác, cắt ngắn, đóng khuôn ngói. Đúng ra là đóng khuôn để lò gạch phơi ngói, trước khi đem nung.

Mô-tơ thì yếu, dĩa cưa mòn nhiều, người đẩy, người kéo phải dùng hết sức, mạt cưa bay lên mù mịt, văng vào đầu, vào mặt, vào mắt, có khi không kịp lau vì còn phải lo đẩy thanh gỗ đi tới, rất mệt, nên khi cưa máy, trong tình cảnh như thế, đâu có biết có cái gì “đưa long thòng” hay không!

Chỉ tiêu là ba ngàn cái khuôn như thế, do trại tù Xuân Lộc ký hợp đồng với lò ngói nào đó, ở Hố Nai.

Nhưng tôi cũng phải nói tại sao tôi lại phải làm cái công việc thợ cưa nầy.

Sau khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá mấy tháng, và cũng sau khi “mười ba con ba” bị chuyển ra trại A-30 ở Phú Yên rồi, thì khoảng mấy chục “học viên” (danh từ Dziệt Cộng đấy), hầu hết là cấp bậc đại úy, từ trại Vườn Đào, ở Cai Lậy, bị chuyển lên Trại Đá ở cùng chúng tôi, nhưng khác nhà, khác đội.

Trại Vườn Đào là tên một trại tù cải tạo nào đó ở Cai Lậy, chớ không phải là nơi kết nghĩa của ba ông Lưu Quan Trương. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn trân trọng hai chữ Vườn Đào, tuồng như nó nhắc nhở chúng tôi về “tình kết nghĩa” của những người tù cải tạo vậy.

&

Việc chuyển tù cải tạo, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, cho người ta thấy cái lúng túng của Việt Cộng Hà Nội.

Sau khi chiếm miền Nam, Võ Nguyễn Giáp đưa ra kế hoạch gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế”. Nói thì nghe kêu vậy, chớ cái gọi là kế hoạch nầy cũ rích, nước ta đã có từ mấy trăm năm trước.

Chỉ một ví dụ thôi, độc giả thấy ngay.

Khi đánh nhau với quân nhà Minh, Lê Lợi cần nhiều quân. Đến khi quân nhà Minh thua rồi, hai nước giao hảo bình thường, đoán chừng mấy chú Ba “cạch”, không dám dòm ngó đến nước ta nữa, thì vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) phải giảm quân. Phần thì cho binh lính về quê, nay gọi là “giải ngũ”, làm ruộng, phần thì đi “dinh điền”, tức là đi khai phá đất đai làm nông nghiệp. Giữ binh lính ở dinh điền cũng là phòng khi, nếu nhà Minh trở mặt, làm bậy thì vua Lê có binh lính ngay.

Xưa, gọi việc ấy là “tiến vi binh, thối vi nông.”

Vua Lê thì có viễn kiến, nhìn thấy một tương lai thanh bình xa, còn Võ Nguyên Giáp thì chẳng có viễn kiến gì hết, chỉ mấy năm là coi như xong, viễn kiến thành “cận thị”.

Mới chiếm được miền Nam chưa bao lâu thì Khmer Đỏ đánh phá ở các tỉnh giáp biên với Miên, khiến Cộng Sản Hà Nội, cuối năm 1978, cho quân sang xâm lăng Miên. Cũng vì vậy nên “lính Tầu Ô” của anh Tầu lùn họ Đặng đánh dọc biên giới sáu tỉnh phía Bắc.

Lính tráng phải ra chiến trường chớ “làm kinh tế” gì nữa. “Viễn kiến” của Võ Nguyên Giáp kéo dài chưa tới ba năm.

Bên cạnh đó, Cộng Sản Hà Nội cũng lo “giữ tù cải tạo” cho kỹ, lỡ như để cho Tầu Cộng “chộp” được, thì đám tù cải tạo nầy sẽ là cán bộ, cấp chỉ huy; còn binh lính thì trong dân chúng chẳng thiếu chi, chẳng bao lâu Tầu Cộng thành lập được một đội quân chống Cộng ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Lo xa như thế, các trại tù cải tạo trên biên giới phải dẹp cho sớm, đưa tù cải tạo về Trung Du, Thanh Hóa, Nghệ An…

Ấy là ở ngoài Bắc, còn trong Nam thì Việt Cộng cũng lo chuyển trại tù, gom lại mà giữ cho kỹ.

Mấy năm trước Việt Cộng đem tù cải tạo trại Vườn Đào, đi làm ruộng, đi phá rừng ở Rạch Giá, Trà Tiên. Khi Khmer Đỏ đánh vào Hà Tiên, Dziệt Cộng sợ, đem đám tù nầy về Cai Lậy, đưa vô trại Vườn Đào, xa biên giới. Cũng chưa yên tâm, bây giờ thì Dziệt Cộng cho vô Trại Đá cho chắc chuyện.

Trước 1975, phần đông cái tù cải tạo Vườn Đào, phục vụ ở Quân Khu IV, các Tiểu Khu Phong Dinh hoặc Sadec, đông nhất là thuộc Tiểu Khu Kiến Hòa.

Không phải định kiến, nhưng xét ra, đám Vườn Đào và anh em chúng tôi, gốc Saigon, có khác nhau đấy. “Dân Saigon” thì “phản động” hơn, “nói năng linh tinh” hơn, “bướng” hơn, còn đám Vườn Đào thì “hiền” hơn.

Chính bọn Công An cũng thấy như vậy đấy! Bởi vì:

Hôm có tin phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm trại, bọn Công An cho “diễn trò học tập cải tạo” như thế nầy:

Sáng hôm đó, kẻng gọi đi lao động trễ một giờ đồng hồ!

Có chuyện chi đây?

Té ra Dziệt Cộng đem chúng tôi đi giấu, đem tuốt vô trong bìa rừng. Tới bìa rừng thôi, đem tuốt vô rừng chúng tôi dễ trốn nên bọn chúng sợ.

Làm như thế, Phái Đoàn LHQ không gặp chúng tôi được vì sợ như lỡ như Phái Đoàn Liên Hợp Quốc gặp được, chúng tôi sẽ tố cáo tùm lum. Việc nầy, độc giả coi trong bài sau sẽ biết rõ hơn.

Còn lại chỉ một đội, không đem đi giấu. Đó là Đội Vườn Đào. Tên đội nầy là do chúng tôi đặt ra.

Sáng hôm đó, “cải tạo viên” (danh từ Việt Cộng đấy!) đội Vườn Đào, được lệnh ăn mặc sạch sẽ, đẹp đẽ, tức là “diện vô” mấy bộ “trei-di” do anh em cất kỹ. Dziệt Cộng phát cho mỗi người một cuốn tập (vở), bút chì. Chờ khi chúng tôi xuất trại rồi, các bạn đó mới tập trung lên lớp, tức là đưa vào một phòng phía ngoài ngôi nhà giam, có bàn ghế. Chờ khi Phái Đoàn Liên Hợp Quốc tới thì “diễn trò học tập” cho Phái Đoàn LHQ coi chơi.

Dĩ nhiên, đây là trò lừa bịp của Dziệt Cộng.

Dziệt Cộng cũng chọn đám Vườn Đào diễn trò vì chúng nó nghĩ đám nầy “hiền”, không phản phé!

&

Khoảng một hay hai tháng sau, mặc dù Dziệt Cộng cho rằng họ “hiền” nhưng chúng cũng không thể không nghi họ trốn trại, nên khi cần một “đội Thợ Mộc”, nguyên cả đội nầy được chọn làm công việc đó, việc đóng khuôn phơi ngói, như tôi đã trình bày ở trên.

Dương Tiến Đông, Lương Văn Lịch, Trịnh Xuân Chính và tôi bị “tình nghi trốn trại”, nên “biên chế” qua Đội Mộc.

Hôm ôm khăn gói qua đội mới, anh Trịnh Xuân Chính, người có “thành tích trốn trại”, nói: “Mẹ! tụi nó sợ bọn mình trốn trại nên chuyển qua đây.” Trịnh Xuân Chính nói câu ấy, ý cho là Đội Mộc nằm sát bên hông trại, đâu có đi xa vào rẫy để tù có thể trốn được. Đông góp ý: “Đ. má! Đâu cũng tù. Qua Đội Mộc cho vui.”

Qua Đội Mộc vui thiệt!

Anh Chính tìm được nhiều cái mắt rễ cây gõ đỏ, gọi là nu. Nu thường cứng lắm. Vậy mà anh ta mày mò, đục, khoan, gọt… thành một cái ống vố, còn đẹp hơn cái “Dunhill thứ thiệt” mà tôi đang dùng.

Thấy cái Dunhill của tôi “thâm niên công vụ”, anh lấy cái ống vố của anh mới làm, đưa cho tôi nói: “Cho cậu! Mình làm cái khác!” Cho tôi! Chứng tỏ anh là người tốt bụng, nhưng xem ra, “ông học trò cử nhân văn chương Pháp” nầy coi việc làm ống vố của anh như một thú tiêu khiển mà không chừng quên hết mấy ông Tây mắt xanh mũi lõ làm thơ viết văn trong văn chương Pháp, bởi vì một lần tôi nói với anh rằng Saint-John Perse được giải Nobel mà anh ta cứ cười tôi nói bậy.

Ngày nào anh ta cũng mày mò làm ống vố, chăm lắm. “Quản giáo” Lăng của đội tôi, thấy anh làm ống vố đẹp, bèn xin anh một cái, có lẽ đợi dịp về thăm nhà, đem về cho ông bố.

Chính từ chối lời xin của cán bộ Lăng, nói riêng với chúng tôi: “Mắc gì mình phải cho cái thằng Dziệt Cộng chó ấy. Còn khuya!”

Ít lâu sau, cán bộ Lăng “đột xuất” được về thăm nhà. Bố anh ta té xuống giếng mà chết. Lăng than: “Giếng đào nhưng không xây được thành giếng, không mua được vật liệu.” Nửa khuya, bố anh ta đi tiểu tiện, không thấy  đường nên té xuống đấy.

Chúng tôi nói chuyện đó với nhau, Lương Văn Lịch mỉa mai: “Xã hội chủ nghĩa tiến bộ ghê! Giếng đào không cần xây thành, xuống giếng nằm chết cho mát!”

&

Trong thời gian tôi ở đội mộc, trường hợp anh Chung Văn Nghiêm thật đáng thương: Anh không được thăm nuôi như trước.

Anh Nghiêm là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 2 Trâu Điên. “Tan hàng” rồi, anh đem vợ con về quê ở Cai Lậy, rồi “trình diện học tập cải tạo” dưới đó, thuộc nhóm “Vườn Đào”, chuyển lên ở chung với chúng tôi.

Trước đó, dù gia đình anh ở Cai Lậy, cũng xa, nhưng vợ anh lên thăm đều lắm, mỗi tháng hay hai tháng một lần.

Thế rồi một hôm bà cô già lên thăm, thay cho vợ anh. Bà cô thì già, đường đi thì xa, gói quà nhỏ teo. Bà cô già không biết mua cái gì để đi thăm cháu. Bà cứ tưởng tù bây giờ cũng như tù ngày xưa, đâu có đói bao giờ!

Chuyện là vợ anh dẫn các con đi vượt biên, bị bắt cả đám, không sót ai lớn nhỏ, ngay tại địa phương.

Bọn cán bộ địa phương nghĩ rằng anh là đại úy, nên vợ anh có tư trang, của cải nhiều. Khi vợ anh bị bắt, lại không có vàng bạc gì cả. Bọn chúng cho rằng vợ anh còn cất dấu của đâu đó, chưa khai ra thì chưa cho về. Chúng nó muốn “khảo của” đấy.

Thời đại của Thúy Kiều sống lại ở gia đình anh Nghiêm: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh.” Ruồi đang tìm đường, tìm mật.  Vì vậy, giam gần cả năm rồi, mặc dù vợ con anh chỉ là đàn bà con nít, chúng cũng không tha mống nào, làm anh Nghiêm kẹt, không ai đi thăm nuôi.

Đúng là:

                        Lạ gì một thói sai nha

                 Làm cho khốc hại chảng qua vì tiền.

Thế rồi, bỗng dưng trong đội xảy ra chuyện mất cắp. Ai thăm nuôi cũng bị mất, thực phẩm còn y, nhưng gói… trà thì không cánh mà bay! Tôi cũng bị như mất trà như mọi người vậy. Chỉ mất trà. Thế thôi!

“Anh hùng thước mốt” (danh hiệu do người trong đội đặt cho) Nguyễn Văn Bộ, người cùng đội, là người láu lỉnh. Một hôm, thấy anh Nghiêm xin nghỉ bệnh, Bộ cũng xin nghỉ theo. Anh ta giả bệnh nằm đắp mền kín đầu, nhưng lắng tai, hé mắt ra khỏi mền để… rình. Anh Nghiêm bị Bộ bắt tại trận, đang ăn cắp trà. Chỉ ăn cắp trà.

Tối hôm ấy, Đội Mộc họp “kiểm thảo”, theo cách sinh hoạt đội của Dziệt Cộng vậy, bàn về việc anh Nghiêm ăn cắp trà. Ai cũng thấy buồn cười!

Hai bên phòng là hai dãy sập hai tầng làm chỗ nằm cho tù. Anh Nghiêm bị kêu ra đứng giữa. Trông anh ta thật tội nghiệp: Già, râu rễ tre lởm chởm, đen, ốm, sợ sệt… Ông đại úy đại đội trưởng của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thủy Quân Lục Chiến, vang danh một thời trong chiến sử Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, nay đứng trước anh em cùng bạn tù với nhau, sao mà hiền vậy?

Anh ở trần vì trong phòng nóng như cái lò, quần xà lỏn: Hai ống chân nhỏ như hai khúc tre già, đen đúa, lắc lư nhè nhẹ vì run trong hai ống quần xà lỏn bạc mầu, vá chùm vá đụp. Anh lập cập nói:

– “Thưa các anh em. Tui có lấy đồ ăn, tôm khô, cá khô gì của anh em đâu! Vợ tôi lâu ngày không lên thăm, tui chỉ thèm trà. Tui hứa từ nay tui có thèm thì tui nhịn, không đụng tới trà của anh em nữa!”

Anh em ai cũng cười. Vậy mà Dương Tiến Đông cũng chưa chịu. Anh còn muốn bày trò “Con nhà võ” của anh. Anh đi tới đi lui, đưa tay đấm vào vách tường rầm rầm mấy cái, nói: “Tui đủ sức chơi anh, nếu anh không chịu chừa.” Nói xong, anh ta lại đấm vào vách mấy cái nữa.

Biết tính Đông, tôi đùa:

– “Thôi! Đủ rồi! Mai tôi không cho dầu bóp tay đau đâu!”

Trịnh Xuân Chính ngồi bên tôi, cũng nói:

– “Thằng quỉ! Dở trò hoài.

Sau đó, không ai còn bị mất trà hay cái gì khác!

Thế nhưng cái tật thèm trà của anh Nghiêm vẫn không hết. Công việc của anh là nấu nước sôi cho toàn đội khi đi lao động ngoài bãi. Nhờ đó, anh thường lén dấu, đem về mấy cục than đen. Tối tối, anh bỏ than vào cái lò nhỏ làm bằng lon thiếc “Sữa SMA”, để nấu nước sôi trong loon Guigoz.

Khi nước sôi, anh la to: “Nước sôi rồi.” Ý của anh là nhắc ai có trà thì lấy nước sôi của anh mà pha. Nhờ đó, anh kiếm được chén trà do anh em mời mà uống cho đỡ thèm.

Đôi khi anh la to “nước sôi” nhưng không ai pha trà cả. Loon nước cứ sôi hoài. Anh lại la to lên một lần nữa, như cố ý nhắc: “Nước sôi lắm rồi nè!”

Cũng chẳng ai pha trà. Thấy tội nghiệp cho anh, đôi khi tôi phải lấy trà ra pha, để tôi và anh có chút trà uống chơi! Đời tù, cũng có những điều vừa tội nghiệp vừa buồn cười!

            Tối thứ bảy, không ai ngủ sớm được. Ngày mai, chủ nhựt, khỏi đi lao động, anh em gặp nhau kể chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện vui cười, đôi khi là những dòng tâm sự không thiếu nước mắt. Thường là chuyện tình ngang trái, dang dở.

            Huỳnh Hà Đông là người vui tính trong đội. Tối nào, có nước trà, anh em mời Đông tới, để anh ta kể chuyện vui.

            Có lần anh ta kể chuyện vui bằng thơ. Người chồng ở lính, nhận thư vợ gởi cho, thư kể chuyện ở nhà các con bị bệnh:

                        Vài lời nhắn gởi bố cái Lôn

                        Cái Lôn đã bớt, cái Lồ… lại sưng

                        Đêm đêm trằn trọc trên giường

                        Nghĩ đi nghĩ lại mà thương thằng Buồi.

            Người chồng viết thư trả lời:

                        Vài hàng nhắn gởi mẹ cái Lôn

                        Ở nhà chăm sóc cái Lồ… cho tôi

                        Chờ khi giấy phép xong rồi,

                        Thì tôi sẽ dẫn thằng Buồi về thăm.

Lôn hay Lồ… hay Buồi là tên “xấu háy”, tục xưa thường đặt tên xấu cho con để “khỏi bị ma bắt.”

            Liêm, anh chàng gầy cao, mặt dài, miệng móm mém như Laurel, cũng đóng góp mấy vần thơ:

Giặc gì giặc đánh lúc canh ba,

Tướng sĩ xông vào phá lũy tra.

Một tướng xông vào nơi hang ổ,

Nhị viên còn đứng ngoại giang hà

Quân ta đối địch cùng quân nó

Nước nó giao hòa với nước ta

Xong trận, lui binh lau khí giái

Mạnh ai nấy thở, hít hì hà.

“Khí giái” là nói theo người xưa, bây giờ là “khí giới”. Giái (có khi là dái), còn nghĩa khác nữa.

            Lê Quang Dung chỉ có một câu chuyện vui. Ấy là chuyện ông Độc Phủ Đại, có cậu con trai trên là Bôn Lành (Paul Lành), cô con gái lớn là Mary Thu Cúc, cô con gái thứ là Josephine Thu Đạm. Dung kể tới đó thì ai nấy đều cười nên câu chuyện vui không có đoạn kết.

            Chuyện tình là chuyện của Trắc với Rolette, chuyện của Báu với “xơ” Kim Chi.

            Đâu phải chỉ có một mình Phạm Thái mới có chuyện tình ngang trái với Trương Quỳnh Như. Trong tù, không ít người tù cải tạo có những chuyện tình đau như thế, đau hơn thế. Dù sao, Phạm Thái, dù có đau đớn như thế nào đi nữa, ông cũng không bị nhà Tây Sơn bỏ tù như anh em chúng tôi. “Tù cải tạo”, tù không có án, làm sao có được chút an bình để bớt lo lắng cho người yêu còn ở ngoài?

Báu phục vụ ở Qui Nhơn. Khi Qui Nhơn sắp di tản, anh phải theo đơn vị, bỏ “xơ” Kim Chi lại, một “bà xơ” bỏ chiếc áo tu hành, yêu Báu “như điên như khùng” mấy năm nay, không cách nào Báu gỡ ra được. Tại sao không gỡ ra được. Trái tim có những lý lẽ của nó, có trời mới hiểu. Khi Dziệt Cộng tấn công vào Qui Nhơn, Báu và đơn vị kẹt trên đèo Cả, “xơ” Kim Chi ở lại Qui Nhơn với cái bụng… bầu.

            Thế rồi Báu vô trại cải tạo, không kịp đi tìm “xơ” Kim Chi để biết cô ta ở đâu, “xơ” sống một mình với cái bụng bầu hay có cha mẹ bên cạnh?

Báu không rõ “xơ” có biết đường tìm về Pleiku với bố mẹ hay không? Khi “xơ” Kim Chi về tới vùng đất đỏ ấy, chắc không còn chi là “Em Pleiku má đỏ môi hồng!”

            Gần tới 30 tháng Tư, Trắc chuẩn bị cho mẹ và vợ con di tản trước. Thế rồi mẹ Trắc, vì “mồ mả ông bà” bèn về Tri Thủy (Phan Rang) thăm mộ một lần chót, và kẹt lại ngoài ấy. Trưa 30 tháng Tư, Trắc không biết chọn con đường nào? Chờ mẹ từ Phan Rang vào hay xuống tầu đi với vợ con và bỏ mẹ lại một mình?

            Trong khi đó thì Rolette, người yêu của Trắc, hy vọng bố ở miền Bắc sẽ về, và cô ta: “Em sẽ được làm vợ của anh” vì vợ Trắc đã xuống tầu ra khơi.

Khi Trắc vào trại cải tạo, anh chỉ nhận được những tin đau lòng. Mẹ anh ở lại quê nhà. Vợ anh lưu lạc nơi đất khách quê người với hai đứa con dại. Bố của Rolette về Nam nhưng cấm cô ta quan hệ với “thằng sĩ quan ngụy nay đời đã xuống tận bùn đen”, như lời ông ta nói. Ông bố bắt con gái phá thai, đem gã cho một anh cán bộ được “chi viện cho miền Nam” hiện đang “công tác ở Kontum”. Kontum, địa danh ấy, trong đời người lính Dù, Trắc từng hành quân ở đó. Trắc quen với núi rừng, nhưng Trắc đau lòng khi biết Rolette đang cố làm quen với khung cảnh núi non trùng điệp ấy.

Khi ở Trại Đá, tôi chọn một chỗ nằm ngay cửa sổ, bên phải là Trắc, bên trái là Báu. Những đêm sáng trăng, trăng chảy lai láng nhiều hơn trăng của Hàn Mặc Tử, nhưng không đem trăng bán cho ai được. Trăng đời thường bán đã không ai mua huống chi trăng tù. Hàn Mặc Tử vì không bán được trăng nên đành chịu chết đói trong cảnh nghèo. Vậy thì chắc chắn không ai mua trăng tù bao giờ!

            Trăng ngoài kia sáng lắm. Trăng rừng. Trăng đồng quê. Trăng trên sông Hương, sông Hậu. Trăng trên bãi biển Vũng Tầu. Chúng tôi nằm dưới trăng, khi trăng lòn qua song sắt để đến với người tù thì tâm hồn người tù cũng bị trăng kéo ra ngoài kia, đưa hồn người tù vượt qua núi cao sông rộng để về đến quê nhà.

Người tù nằm trong song sắt. Hồn người tù ở ngoài song sắt. Hồn người tù theo trăng du lịch ngoài xa, nên người tù không sao ngủ được. Và nỗi nhớ, lai láng như trăng, mềm mại như trăng, êm ái như trăng, làm choáng ngợp tâm hồn kẻ ở trong tù.

            Và cứ thế, những đêm trăng, người tù thả hồn mình đi theo trăng, tới một phương trời vô định nào đó, không cần biết làm chi. Biết để làm gì khi hồn người tù vượt ra ngoài song sắt.

            Trong ánh trăng huyền diệu đó, người tù nghĩ đến một ngày về, mơ một ngày về nhưng biết đến bao giờ…

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

Phần 27.

Tôi trang trọng cám ơn bạn đã đọc tôi dến dòng chữ này. Mời bạn đọc – mời bạn đọc lại nếu bạn đã đọc rồi – một bài tôi viết về đời sống dân thành Hồ gửi ra nước ngoài năm 1981.

Chà Đồ Nhôm

Trích “Tắm Mát Ngọn Sông Đào,” bài viết ở Thành Hồ năm 1981.

Trong tiểu thuyết “1984″ George Orwell viết dự tưởng rằng năm 1984 của thế kỷ này, cái gọi là “socialism” – chế độ xã hội chủ nghĩa – được thiết lập ở nước Anh. Orwell viết “1984″ vào năm 1948, trong đó ông dự tưởng một số sự kiện sẽ xảy ra vào năm 1984 ở nước Anh xã hội chủ nghĩa. Trong số sự kiện này, có việc Orwell cho rằng khi xã hội chủ nghĩa được đặt ở nước Anh nước đó sẽ “mười lăm ngày có một kỳ xổ số”

Khi viết truyện đó cách đây ba mươi hai năm, Orwell cho rằng “mười lăm ngày một kỳ xổ số” là ghê gớm kỳ dị, khó chấp nhận, khó tưởng tượng lắm lắm. Thật ra George Orwell ngây thơ không biết chừng nào. Nếu ông còn sống đến năm nay, chắc ông phải ngượng vì sự dự tưởng không đúng mức, kém xa mức độ hiện thực, không đi đến đâu, chưa đáng gì, chưa nói được gì hết của ông ta. Bởi vì ở đây, từ năm 1980, trong cuộc sống của một nước xã hội chủ nghĩa đang lên, non trẻ, đầy sức sống “xổ số không phải là chỉ nửa tháng mà là một ngày ba kỳ”.

Ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, người ta xổ số mỗi ngày hai lần, có những ngày đặc biệt xổ ba lần, kể cả ngày chủ nhật. Một tháng trung bình tám mươi kỳ xổ số. Kỹ nghệ phồn thịnh này do nhà nước chủ trương và khai thác. Nó phát triển sâu rộng khắp miền Nam, đi sâu vào mọi ngã ngách, vào từng nhà ở thành cũng như tỉnh. Người ta nói một trong những nguyên nhân làm giá giấy đắt, học trò thiếu tập chép bài, quyển vở một trăm trang giấy đen hiện giá bốn đồng, là vì nhà nước dùng quá nhiều giấy để in vé số và giấy ban khen, tuyên dương công nhân tiên tiến. Về giấy khen trong vài năm đầu, những người được khen còn dán lên tường, đặt trong tủ kiến nhưng nay thì xếp đống, vì nhiều quá không có chỗ nào trưng nữa.

Ngành xổ số hiện cung cấp việc làm cho cả trăm ngàn người dân Thành Hồ. Ngoài những người mù, người già, người què, người sồn sồn, trẻ em mang vé đi bán ở những quán ăn, tiệm cà phê, vào các xóm, đi đường bạn thấy chỗ nào cũng có sạp bán vé số. Có những chỗ bán lớn đặt hai ba cái bàn, trên bầy kín các tập vé số, đằng sau có ba bốn cái bảng đen ghi bằng phấn kết quả những kỳ xổ số vừa ra trong ngày hôm qua. Những chỗ này tấp nập người ra vô, buổi sáng đến lựa mua số, buổi chiều đến dò số, đổi vé trúng. Mỗi chiều vào lúc bốn giờ rưỡi, xổ số được xổ và loan báo trên đài phát thanh. Báo không đăng nhưng những kết quả xổ cũng chẳng bao giờ lầm. Người có vé số chỉ việc ra đầu đường là có sẵn tấm bảng kết quả để dò. Mỗi chiều, công nhân đi làm về , xe đạp và người đứng chật cả nửa đường ở những chỗ đặt bảng kết quả xổ số.

Mỗi thành phố, mỗi tỉnh ở miền Nam đều được quyền mở xổ số để lấy lời cho quỹ tỉnh mình. Vì vậy có những kỳ xổ số của Thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là số thành phố, và Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Nai, Sông Bé, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Cửu Long, Tây Ninh, Long An v.v… Phần lớn những vé này được tiêu thụ ở Thành Hồ. Mỗi địa phương mỗi tuần chỉ có một kỳ xổ số thôi, nhưng cứ tính sơ sơ như vậy, ta cũng thấy số lần xổ số trong một ngày, lại thỉnh thoảng có những kỳ đặc biệt. Hoặc thành phố có thể xổ số mỗi tuần ba kỳ.

Tưởng cũng nên nhắc qua lịch sử xổ số ở xứ này. Loterie do thực dân Pháp mang vào Đông Dương, có lẽ lần đầu vào những năm 1920. Vào thời kỳ này, Anh Con Trai Bà Cả Đọi còn đang giữ việc điếu đóm ở Thiên Đình, chưa bị Ngọc Hoàng đầy xuống trần ai, nên không biết rõ lắm. Có lẽ vào thời kỳ đầu tiên đó, xổ số được gọi là Xổ số Đông Pháp, phát hành khắp Việt-Miên-Lào Đến năm 1951, cái gọi là chính phủ quốc gia ở Sàigòn mở lại xổ số bán một đồng, độc đắc một triệu đồng, một tháng một kỳ. Qua Đệ nhất Cộng Hòa xổ số tiến lên một tuần một kỳ, tăng giá mười đồng cho đến ngày tan hàng.

Vì ngành xổ số phát hành đều mỗi ngày nên kỹ nghệ phụ của nó là Xổ Đề, đánh đề cũng theo nó bành trướng mạnh. Dân Thành Hồ có câu “Cả nước xổ số, toàn dân đánh đề” nói lên một cách rất đúng đắn hiện thực xã hội này. Trẻ con cũng chơi đề, nuôi số đề và việc chơi đề, nói lái là “đời chê” đem lại niềm vui, an ủi và hy vọng cho nhiều triệu người ở miền Nam.

Ngoài nghề bán, mua xổ số, huyện đề, chơi đề, nhân dân Thành Hồ hiện làm những nghề gì nữa? Nhân dân làm hàng trăm thứ nghề mới cũ do xã hội và thời cuộc tạo ra. Song đại đa số đều là những nghề buôn bán, cung cấp dịch vụ, không sản xuất vật phẩm. Đầy lề đường, nhân dân ngồi bán thuốc lá. Khoảng trăm thước có một chỗ sửa xe đạp. Giá vá một lỗ thủng xe đạp nay đã lên hai đồng, công bơm hai bánh xe đạp là năm mươi xu. Ở cửa các trường học có những người ngồi bơm mực bút bi cho học trò. Mỗi ống mực bơm là một đồng, trong lúc giá mua một bút mực Bic ngoại quốc mới là tám đồng. Từ sáng sớm có những ông già , bà lão, trẻ em lưng đeo cái bao bố, tay cầm móc sắt, đến những chỗ đổ rác, đi vào các xóm, bới các thùng rác nhặt bao ny lông, giấy vụn, bao rách, giấy bẩn, cứ ny lông và giấy là lượm, đem về bán cho Ba Tầu nấu lại. Bao, túi ny lông cũ nấu đi nấu lại nhiều lần, ép thành những bao túi mới mầu cà phê, mầu nâu. Giấy cũ tái sinh thành giấy carton.

Cũng trong các xóm đông đúc của Sàigòn ta thấy có nhiều nghề vặt hay hay. Chẳng hạn có nhiều người rao “đồ cũ đổi đồ mới”. Có những anh Tầu đi xe đạp chở một cần xé dép cao su đủ mầu, đi bán và đổi dép cũ đứt. Tất nhiên là phải các thêm tiền. Có những bà gánh nồi niêu xoong nhôm, đèn dầu tây đi bán, đổi. Đến năm nay, giá những chậu thùng bằng plastic quá đắt, dân Sàigòn bắt đầu quay lại dùng đồ sành. Vì nấu ăn bằng củi than, người Sàigòn dùng lại bếp lò. Cần đồ đựng nước, gạo, người dân Sàigòn dùng lại vại, chum sành. Có những ông chở trên một chiếc xe đạp bẫy cái vại cỡ trung đem vào các xóm bán từng nhà. Chắc bạn không sao tưởng tượng được bằng cách nào người ta có thể chở trên một cái xe đạp bẩy cái vại cồng kềnh và rất dễ vỡ. Người ta dùng những cái boọc ba ga bằng sắt lớn và chắc, lấy cây gỗ buộc thêm, giữa để một vại, hai bên sáu vại cân đối nhau, dùng dây chão chằng lại. Tất nhiên muốn chở nặng như vậy, xe đạp phải là xe tốt, khung niền cứng, vỏ ruột mới, loại xe gọi là xe thồ được chế tạo đặc biệt để chở đồ. Và người chạy xe phải thật cứng gân, cứng tay lái.

Trên đây là kể sơ sơ một số những nghề ít vốn, ai làm cũng được. Nếu có tiền, có chỗ, người Sàigòn mở tiệm ăn, cà phê, chè đường, trái cây có nước đá bào gọi là cocktail, mua bán quần áo cũ ở những chỗ gọi là khu chợ trời, bán đồ xe đạp, thuốc tây. Nhiều vốn nữa thì bán radio-cassette, quần áo ngoại quốc v.v… Tất cả đều mua đi bán lại. Tình trạng ly kỳ đập mạnh vào mắt mọi người và không ai trước đây có thể tưởng tượng nổi là Sàigòn hiện nay, 1981, lại có nhiều hàng hóa ngoại quốc hơn Sàigòn 1975. Ai có thể dự kiến được rằng sau sáu năm trái tim tư bản vẫn đập mạnh trong các xác vô sản gầy còm, khô khan. Trái tim tư bản đó sở dĩ còn đập được là vì nó được ngày ngày tiếp máu hồng từ những dòng máu tư bản ở khắp bốn châu truyền về. Tôi kể bốn châu là trừ châu Phi quá đọi nên không cung cấp gì cho Sàigòn. Những dòng máu đó là đường dây chi viện tư nhân do Việt kiều ở khắp thế giới gửi về cho người thân. 90% những người được hưởng chi viện này đều ở thành phố Hồ Chí Minh. Mọi thứ hàng về tới tám phần mười đổ ra bán ở thị trường. Trước tháng 6 năm 1980, khi thuốc lá ngoại quốc còn được gửi về, chưa bị tịch thâu, hang cùng ngõ hẻm nào cũng có bán Pall Mall, 555, Lucky, Craven A. Vào thời đó, thuốc lá ngoại át hẳn thuốc lá nội hóa, mua một gói Pall Mall dễ hơn, sẵn hơn là mua một gói Vàm Cỏ. Nay thì thuốc lá Anh Mỹ gần như hết hẳn ở Sàigòn. Chỉ còn thuốc Samit của Thái Lan được đổ lậu qua biên giới Thái-Kampuchia về và nếu có tiền chịu khó đi tìm thì ta vẫn còn mua được một gói 555 giá năm mươi đồng, một gói Craven A mười điếu cũng năm mươi đồng.

Những quần jean, áo pull, xà bông, kem đánh răng, vải xoa, nước hoa, bút, bật lửa thì chưa bao giờ Sàigòn có nhiều và đẹp như bây giờ. Sàigòn hiện có nhiều khu bán đồ ngoại quốc. Khu Huỳnh Thúc Kháng bán radio, cassette. Khu này bị dọn dẹp, cấm bán mấy lần, rồi lại cho bán. Quần áo, đồ dùng, thực phẩm và những đồ ngoại khác được bán rất nhiều ở khu Nguyễn Thông, đầu Hồng Thập Tự – chỗ công trường liền với Lý Thái To,å chợ An Đông, chợ Tân Định, khu Hải Ký mì gia và ở đường Tạ Thu Thâu chợ Bến Thành.

Khu nào đồ cũng nhiều và đẹp. Song tôi thấy không khu nào đồ nhiều, đẹp, sang, tốt nhìn mát mắt bằng khu Tạ Thu Thâu. Suốt con đường ngắn này và trên vỉa hè nhìn sang chợ Bến Thành, nhà nước cho dựng sạp đàng hoàng, mỗi sạp rộng một thước, hai dẫy đâu lưng nhau, treo bầy kín những quần jean, blousons, sơ mi đủ màu, đủ quốc tịch toàn cỡ vừa tầm người Việt, mua là mặc ngay, khỏi sửa. Có cả quần áo phụ nữ và trẻ em, giầy mũ là những thứ mà trước đây hàng PX Mỹ không hề có. Các tủ bầy nước hoa cũng có đủ thứ quốc tịch, xà bông, kem đánh răng đủ hiệu. Ngày xưa muốn mua một quần jean vừa ý, người ta phải kiếm mỏi mắt ở chợ trời khu Nhà Băng, nay thì theo ước lượng của tôi, muốn mua 50.000 bộ jeans-blousons người ta có thể đến khu Tạ Thu Thâu mua được ngay trong nửa tiếng đồng hồ. Giá quần jean từ hai trăm, đến năm trăm, pull và sơ mi rẻ hơn, khoảng một trăm năm mươi đến hai trăm đồng một áo.

Khu Hải Ký mì gia bán toàn thực phẩm: bơ, sữa, rượu, nho khô, bánh ngọt, trà sâm, kẹo mứt v.v… Đúng ra thì khu nào cũng có bán đủ mặt hàng, chỉ có nhiều hơn hoặc ít hơn, khu nào cũng có bán thuốc tây, bút. Nhưng thuốc tây nhiều nhất là ở khu Nguyễn Thông, bút bi, bút mực, bút chì, đồ văn phòng nhiều nhất ở vỉa hè Lê Lợi chỗ trước cửa nhà hàng Kim Hoa, cạnh Casino Sàigòn. Ở đây có đủ các thứ bút và bật lửa của Mỹ, Pháp, Đức, Nhật… Khu vỉa hè Tax bán phim ảnh v.v…

Tôi khó có thể tả hết những cảnh buôn bán của Sàigòn hiện nay. Vì thật ra tôi không thể biết hết. Và cũng không có đủ tài, đủ điều kiện để thu thập dữ kiện và diễn tả. Những gì tôi mô tả đây chỉ là một phần nhỏ của sinh hoạt Sàigòn. Còn biết bao nhiêu chuyện nữa không được viết vào đây. Thôi thì tôi dùng câu an ủi thông thường của tôi “Được bao nhiêu hay chừng nấy, Tùy duyên phương tiện”.

Những nghề tôi vừa kể ở thành Hồ đều là những nghề ít nhiều đã có từ trước ở Sàigòn. Trước năm 1975, người Sàigòn đã bán xổ số, đánh đề, làm đĩ, ăn cướp, ăn xin, đi moi thùng rác, bán quần áo cũ, bán chợ trời, đạp xích lô, mua ve chai v.v… Chỉ có trước năm 1975, dân Sàigòn bị Mỹ, Ngụy kìm kẹp nên ít người làm những nghề đó, nay thì được thả giàn.

Bây giờ đến một số nghề mà chỉ có Sàigòn xã hội chủ nghĩa hoặc thành phố Hồ Chí Minh mới có, Sàigòn tiền 75 không có. Cũng khá nhiều, như nghề đứng ở cửa nhà Bưu Điện để hỏi mua lại thuốc tây của những người đi lãnh đồ. Số này toàn thanh niên, nam nữ. Có những em đẹp ra gì, từ khoảng hai mươi đến ba mươi tuổi. Các em đón mua thuốc cho những sạp bán thuốc ở các chợ hoặc cung cấp thẳng cho bác sĩ, y sĩ Sàigòn hành nghề tư được quyền bán thuốc tây luôn cho khách. Bán thuốc tây là nguồn lợi chính của y sĩ, không phải tiền coi mạch hay khám bệnh. Thường thì bà vợ y sĩ giữ việc bán thuốc. Bác sĩ Huỳnh Kim Hữu đã già nhưng vẫn còn hành nghề. Bà vợ ông bán thuốc và mỗi toa thuốc của ông bác sĩ nổi tiếng này ít nhất cũng từ 1.000 đến 5.000 đồng.

Tôi đã viết về tình trạng sau khi cộng sản hạ những cái gọi là bức màn sắt, bức màn tre xuống nước Nga, nước Tầu, phải đợi đến cả hai mươi mấy mùa cóc chín sau thế giới tự do mới thấy lai rai vài bài viết tố cáo chế độ cộng sản ác ôn, bất nhân, bất lương, về thực trạng cộng sản bị thất bại nặng trong việc mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, do những người viết trong nước Nga, nước Tầu gửi ra. Đích xác hơn, ta thấy Nga cộng cướp chính quyền từ năm 1920 đến năm 1979 Nga mới có Alexandre Solzhenytsin. Đánh Nga cộng như Solzhenytsin mới thật là đánh. Tầu cộng cướp trọn lục địa Trung Hoa năm 1948, mãi đến cuối thập niên 80 mới thấy lác đác vài nhân vật Tầu trốn sang được Âu châu viết vài tác phẩm mỏng dính kết án cộng sản Tầu và Mao Sì Tung. Anh em chúng tôi, một số người viết phải ngơ ngáo và ngơ ngác sống trong ác mộng thấy Việt cộng đi ngờ ngờ trong thành phố, chỉ sáu tháng, một niên sau ngày trời long, đất ngả nghiêng, chúng tôi đã có lai rai những bài viết về đời sống cực khổ của đồng bào ta dưới ách cộng sản gửi ra nước ngoài.

Làm được việc ấy, thực ra anh em chúng tôi cũng chẳng can đảm hay giỏi giang gì mấy. Năm 1975, tình hình có khác với năm 1954, Việt cộng chiếm Sàigòn, đường liên lạc bưu tín giữa Sàigòn và các nước tự do Anh, Pháp, Mỹ vẫn không đứt đoạn. Những lá thư từ nước ngoài nườm nượp gửi về tìm hỏi người thân kẹt lại, còn hay đã chết. Những lá thư con cá trong nước cũng lũ lượt kéo nhau ra đi.

Chúng tôi lợi dụng tình trạng tương đối tự do về thư tín ấy. Nếu Việt cộng làm như Pol Pot Khờ Me Đỏ, ra lệnh hủy bỏ bưu điện, nhân dân không có thư từ điện tín, điện thoại chi ráo, chắc anh em chúng tôi đã không làm được cái việc viết và gửi tác phẩm khơi khơi bằng đường bưu cục ra nước ngoài.

Công an VC rất khó kiểm soát được hữu hiệu số thư của nhân dân trong nước gửi ra những nước ngoài. Lý do, quá nhiều thư gửi đi, bọn công an bảo vệ văn hóa có đông đến mấy cũng không có thể mở từng phong thư ra kiểm duyệt được. ViXi không nắm được những địa chỉ khả nghi ở các nước Âu Mỹ. Nghe nói ở Bưu điện Trung ương Sàigòn, bọn cán bộ thường kiểm duyệt bằng cách lấy đại một số thư mở ra coi. Thư trong nước gửi ra nước ngoài, những lá thư bị gọi là “phản cách mạng, phản động” như thư của chúng tôi chìm lẫn trong cả ngàn lá thư đi mỗi tuần. Vixi có rình cũng khó vồ được thư của chúng tôi. Nhưng thư từ nước ngoài gửi về thì tình hình lại khác hẳn.

Công an VC rất dễ kiểm duyệt thư từ nước ngoài gửi về. Nhà dân được chia thành từng khu, mỗi khu chừng 400 đến 500 hộ. Một nhân viên bưu cục phát thư phụ trách việc phát thư cho hai khu. Nhà tôi ở quận Tân Bình, thư gửi cho tôi được đưa về bưu cục Tân Bình, bưu cục nằm trên đường Võ Tánh xưa của ta, nay là đường Hoàng Văn Thụ, khoảng trước con đường đi vào Đệ Nhất Khách Sạn. Tại đây, thư của tôi được đưa vào hộp chờ người phát thư khu tôi lấy đem đi. CAVC chỉ ra lệnh giữ số thư nước ngoài gửi về khu nhà tôi tại bưu cục chờ kiểm soát. Bọn công an mới vào nghề được gọi theo Tầu cộng là những trinh sát viên hoặc chiến sĩ trinh sát, những năm đầu đói rách đạp xế guồng rạc cẳng, nay thì tên nào cũng Honda mới hoặc cũ, vài ba ngày đến bưu cục Tân Bình một lần. Chúng chỉ việc kiểm số thư gửi về khu nhà tôi, thấy có thư của tôi là lấy, đem về sở mở ra coi. Bằng chứng tôi có liên lạc với “bọn phản động chống phá cách mạng” ở nước ngoài nằm trong những lá thư anh em tôi gửi về đó.

Tôi viết bài gửi ra nước ngoài nhiều nhất trong hai năm 1982, 1983. Tôi nhớ những năm ấy tôi gửi bài viết linh tinh cho từng này người:

– Cô Phương Hương, anh Trần TamTiệp, Paris, Pháp.

– Ông Hồ Anh, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ở Hoa Kỳ.

– Anh Nhất Giang ở Cabramatta, Úc.

Viết bài gửi đi, nhiều khi tôi bâng khuâng nghĩ đến chuyện không biết thư mình có đi thoát, có đến tay người mình gửi hay không? Một trong những sung sướng của tôi là được đọc bài viết của mình in trên trang giấy, sáng sủa, sạch sẽ, gọn gàng. Trong nhiều năm ở Thành Hồ, tuy vẫn viết bài gửi đi, tôi không hưởng được cái lạc thú ấy. Có lần tôi viết dặn ông chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong:

– … Anh viết về cho tôi biết anh nhận được bao nhiêu bài của tôi, ngày nào. Anh viết là “áo hoa” tôi hiểu.

Ông chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong làm đúng lời tôi yêu cầu. Tôi nhận được lá thư từ Hoa Kỳ gửi về:

– …Tôi nhận được ngày… hai áo hoa anh gửi, ngày … hai áo hoa nữa…

Đọc thư tôi thở hắt ra. Công an nó không đọc thư này thì thôi, nó mà đọc là nó biết tỏng tòng tong cái gọi là “áo hoa” này là cái gì. Bất cứ người dân Thành Hồ nào cũng có thể gửi áo hoa sang Tây, sang Mỹ, sang Úc, sang Ăng-lê – những năm đầu 80 có phong trào người Thành Hồ gửi những sấp hàng may áo dài cho thân nhân ở nước ngoài, những sấp hàng này được vẽ hoa nên gọi tắt là áo hoa – riêng Anh Con Trai Bà Cả đọi, anh em cùng vợ với Công tử Hà Đông, thì không thể. Cái gọi mánh “áo hoa, áo hoét” trong thư này chỉ là những bài viết phản động của anh thôi.

Khi CAVC nghi, mở cuộc theo dõi họ rất dễ tìm ra bằng chứng những người bị nghi phạm tội. Chúng tôi cứ viết, cứ gửi đi, cứ nhận thư về ngay nhà mình, một năm rồi hai năm. Cứ như vậy không thay đổi. Chuyện bại lộ và bị bắt là chuyện không thể tránh được.

CAVC chặn thư, mở thư xem, có thư họ lấy luôn, có thư họ chụp photocopy rồi để lại vào phong bì, gửi đến người nhận. Có những đêm nằm trằn trọc trên căn gác nhỏ Ngã Ba Ông Tạ, tôi xem lại lá thư mới nhận, lo âu khi thấy rõ vết phong bì thư bị mở ra, dán lại. Tôi sợ khi thấy những triệu chứng tôi sắp bị bắt lại. Nghe nói ở đời này có những người không ngán sợ tù đày, tôi không ở trong số những người đó. Tôi sợ tù đầy. Tôi đã nằm tù một lần hai mùa lá rụng, tôi đã biết thế nào là sự bẩn thỉu, nỗi buồn chán ghê rợn của cuộc sống trong tù. Những tháng giữa năm 1977, 1978, khi bị bắt lần thứ nhất, tôi nằm 12 tháng 2 ngày một mình còng queo, vò võ, buồn và nóng ruột nhiều khi muốn phát cuồng, trong hai xà-lim, văn huê kiểu Việt cộng là Biệt giam và Ca sô – số 15 khu B và số 6 khu C Một Nhà Tạm Giam số 4 Phan Đăng Lưu, tôi bắt chước thi sĩ Trần Văn Hương làm thơ:

Đã buồn cho nó buồn luôn

Vào tù xem mặt tù buồn ra sao

Vào tù mới rõ thấp cao

Buồn tù chẳng có buồn nào buồn hơn

Vào tù mới rõ nguồn cơn

Buồn nào thì cũng chẳng hơn buồn tù.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

97. Văn Thế Bảo

Kể từ sau biến cố 1975, cái tên Văn Thế Bảo không thấy ai nhắc tới nữa. Ông mất còn, phiêu bạt ra sao, ngoài các thân nhân của ông, không ai biết.

Đã có một thời [1954-1975] thơ Văn Thế Bảo được đọc và nghe rất nhiều ở miền Nam. Nói là đọc và nghe vì, tuy chưa có tác phẩm nào in thành sách, nhưng ông có rất nhiều thơ đăng trên các tập san, báo chí, trong đó có một số bài do Y Vân phổ nhạc, đã trở thành những ca khúc phổ thông, gần như được phát hàng ngày trên sóng của các đài truyền thanh, truyền hình.

Nếu nền tân nhạc ở phía Nam của chúng ta sau khi đất nước bị chia cắt [1954] có thể coi là một thời kỳ rực rỡ, thì phải nói Y Vân và Văn Thế Bảo đã đóng góp không ít công lao.

Nước ngon uống lắm cũng say

Mái nghèo mà đẹp, má gầy mà xinh

Thơ phổ nhạc lúc ấy còn ít. Dường như các nhạc sĩ thỉnh thoảng đọc được bài thơ vừa ý lắm mới đem phổ nhạc. Nên những bài hát kết hợp giữa nhạc và thơ như thế, rất dễ được yêu thích.

Lối về thoai thoải chân đồi

Thướt tha ngành liễu, trăng soi lối mòn

Nhìn trời, nhìn nước, nhìn non

Nhớ chồng thì ít, nhớ con thì nhiều

[VTB/Về Miền Tây]

Thơ Văn Thế Bảo rất gần với ca dao. Gần chứ không giống. Nó cũng khác cái gần ca dao của thơ Nguyễn Bính.

Hoa chanh nở ở vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Có một chút gì đó có vẽ chân quê’ trong thơ Nguyễn Bính thật. Nhưng đấy cũng là cái duyên, cái đẹp của thơ Nguyễn Bính, được tạo thành bằng thứ ngôn ngữ thấm đẫm ‘hương đồng gió nội’ chỉ mình ông nắm vững và biết cách xử dụng.

Thơ Văn Thế Bảo gần với ca dao vì chính tâm hồn ông mộc mạc, giản dị, ông lại yêu những cảnh trí bình thường của quê hương, như hoa buớm, núi đồi, lối mòn, trăng sao v.v … nên thơ ông như vậy, chứ không phải ông cố tình làm cho giống ca dao.

Đêm nay phiên gác giao thừa

Đông tàn đổi lá sang mùa xuân tươi

Đăm đăm nhìn một phương trời

Xa xôi nẻo ấy bao người tôi thương

[VTB/ Phiên Gác Giao Thừa]

Những bài thơ lục bát được phổ nhạc một cách tự nhiên, thoải mái như trường hợp Y Vân phổ các bài Về Miên Tây, Phiên Gác Giao Thừa của Văn Thế Bảo càng ngày càng hiếm. Có lẽ vì thơ lục bát đã có khuôn khổ nhất định [âm vận, câu chữ] lại được phổ nhạc nhiều quá, nên tiếp tục công việc ấy người ta dễ bị rơi vào sự gò ép. Nói chung, thơ Văn Thế Bảo là ‘thơ nòi tình, cốt nhạc’, nên dễ phổ nhạc.

Y Vân và Văn Thế Bảo gặp được nhau trong đời hẳn là một niềm vui chung cho cả hai người. Chúng ta cũng được chia sẻ niềm vui ấy khi nghe các ca

khúc của họ. Bài Đời Anh Có Đời Em có thể coi là điển hình cho thơ Văn Thế Bảo: ngọt ngào, thiết tha, đôn hậu.

Đời Anh Có Đời Em

Chiều nay nhìn hoa nở

Thương những ngày xa xôi

Bướm đùa hoa trước ngõ

Xuân về chim có đôi

Nhớ nhau mùa hoa nở

Lưng trời mây trắng bay

Thương nhau từng nhịp thở

Yêu rồi em có hay

Mưa trên đôi mái nhỏ

Em sợ bức tường xiêu

Có anh nhà không đổ

Nắng mưa qua bốn chiều

Bao năm trong gian khổ

Anh tìm nhật ký xem

Thấy đôi hàng chữ nhỏ

“Đời anh có đời em”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

96. Văn Quang

Văn Quang là tác giả khoảng ba chục cuốn tiểu thuyết đã được in ra. Và, gần như toàn bộ số tác phẩm ấy, đều đã được ông viết dưới dạng feuilleton, nghĩa là viết tới đâu in tới đó, đăng hàng ngày hay hàng tuần trên các nhật báo, tuần báo các tạp chí, rồi sau đó mới cho in thành sách.

Văn Quang cho biết, vào lúc ăn khách nhất, có khi ông phải viết cùng một lúc 3 cái truyện dài hay phóng sự, cho 3 tờ báo khác nhau, và dĩ nhiên, như thế, mỗi ngày ông đều phải cung cấp một số trang nhất định. Đôi khi, người của các tòa báo phải ngồi chờ lấy bài để cho kịp giờ báo lên khuôn hay đưa đi kiểm duyệt. Nói như vậy có nghĩa là ông vừa phải viết nhiều, vừa phải viết nhanh.

Văn Quang cho biết:

“Cũng vì viết nhanh nên tất nhiên, khi truyện đã in rồi, mới thấy có những khiếm khuyết. Lúc đó thì chỉ còn cách, cứ để đó khi nào xuất bản sửa sau. Nhưng có khi, ông chủ nhà xuất bản cứ đánh máy ở báo đã in rồi cho xuất bản. Đó là cái lỗi làm ẩu của tôi, không thể đổ cho ai được”

Viết nhanh, viết nhiều lại thêm tội “ẩu” không sửa được cả những cái lỗi đã nhận thấy khi cho đăng báo, nhưng phải nói Văn Quang là một trong những người viết được đọc nhiều nhất trong số các nhà văn ở miền Nam trước 1975. Ông đã có tới 4 cuốn truyện dài được các hãng phim thời ấy mua bản quyền để quay thành phim, đó là các cuốn:

– Ngàn Năm Mây Bay, Hãng phim Thái Lai, do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn:

– Chân Trời Tím, Liên Hiệp phim, đạo diễn Lê Hoàng Hoa

– Đời Chưa Trang Điểm Giao Chỉ phim, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.

– Tiếng Hát Học Trò”, Alpha phim, đạo diễn Thái Thúc Nha.

Văn Quang cho biết, ông thường chọn đề tài ngay trong cuộc sống: Cái gì là điều đáng nói nhất trong lúc này? Xã hội chúng ta đang sống có những vấn đề gì gai góc cho con người bất kể lứa tuổi nào?

Ông cho biết tiếp:

“Sau khi đã có đề tài thì lúc đó mới là lúc bố cục + thế nào cho có thể dễ dàng diễn tả hết được ý mình và một feuilleton thì đừng quên yếu tố hấp dẫn. Nghệ thuật chính là ở lúc viết, lúc diễn tả, chứ không hoàn toàn được quyết định bởi đề tài hay nội dung cốt chuyện. Lúc ngòi bút chạy trên trang giấy, [hay bây giờ là computer] mới chính là lúc cần tới sức sáng tạo nhiều hơn cả, và lúc đó mới chính là lúc “cái gì là tinh túy” của bạn mới xuất hiện. Diễn tả một sự việc phải tìm câu, tìm chữ nào cho đúng ‘phân lượng’. Cái đẹp thế nào là đúng với nhân vật mình diễn tả, nỗi buồn nào cho đúng với hoàn cảnh lúc đó. Sự việc xẩy ra phải hợp tình, hợp lý, không gượng ép, không vô lý. Một sự thay đổi tâm lý phải dựa trên những nguyên nhân vững chắc. Một lời đối thoại phải hợp tình, hợp cảnh, làm cho người đọc thích thú không rơi vào sự tầm thường”.

Điều cấm kỵ trong khi viết đối với Văn Quang là không làm dáng văn chương, không khoe mẽ những hiểu biết của mình, nói cả những gì không cần nói trong đoạn đó, “nó thừa như cái khăn quàng bằng gấm trong khí hậu nóng bức”.

Văn Quang viết rất nhiều về các “nhân vật lính”. Ông có quan niệm, cách nhìn riêng, khi cấu tạo những nhân vật này:

“Người lính thì thời nào cũng thế. Nhưng tôi nhìn nhận họ theo cuộc sống thật của tôi. Người lính không chỉ có thế và sau này người ta phong tặng cho là chiến sĩ hay anh hung thì cũng chẳng phải chỉ có lý tưởng mà còn con người của chính anh ta. Tình cảm và cuộc đời chiến đấu nó sống chung hòa bình như thế nào? Đến ngay sự hy sinh cao quý nhất là cái chết cũng khó mà lý giải vì cái gì? Nói như người ta thường nói đó là vì tổ quốc, vì đồng bào thì giản dị và dễ dàng quá. Giải thích như thế tôi cho là chưa đủ. Còn những thứ khác nữa thí dụ như tình đồng đội, cuộc sống của đơn vị, danh dự của gia đình, và của cả những người yêu thương mình. Hoặc nói đến sự hy sinh của người lính thì không phải chỉ có ở chiến trường, mà họ còn có nhiều thứ phải hy sinh nữa. Ngay khi họ rời quân ngũ, sự hy sinh đó vẫn còn. Trong ‘Đời Chưa Trang Điểm’ [một tác phẩm của Văn Quang] người lính sau khi bị thương trở lại với cuộc sống đời thường, anh ta đã phải hy sinh cả người yêu của mình vì … không còn đủ năng lực mang lại hạnh phúc cho người yêu của mình nữa”.

Được biết Văn Quang, trong những ngày sau cùng trước 30 tháng tư, 75, là Trung Tá Quản Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH.

Ông đã bị tập trung cải tạo 12 năm 2 tháng 26 ngày. Tháng 9 năm 1987, ông được tha khỏi trại tù. Ông đã quyết định ở lại Việt Nam, không đi tỵ nạn theo diện HO vì những quan điểm và lý do riêng. Có một thời đói rách quá ông phải viết những truyện gọi là “vô thưởng vô phạt”, ký tên khác, bán, để sống. Đó là thời mở cửa, được phép xuất bản những cuốn tiểu thuyết tình cảm.

Văn Quang cho biết rõ như sau:

“Đây là một nhu cầu của của người dân, sau hơn một thập kỷ đọc toàn những truyện ‘khô như ngói’, nhân vật cứ như ‘thép trên lò’ người ta ngán quá rồi nên tìm đọc những cuốn sách tình cảm đúng nghĩa, không phải là sách tuyên truyền không phải là những nhân vật anh hùng cứng ngắc”.

Các nhà xuất bản tư nhân đi đặt hàng rồi liên kết với một nhà xuất bản của nhà nước để phát hành. Và Văn Quang đã được ‘đặt hàng’. Hàng đưa cho nhà xuất bản, ký tên ai thì ký.

Những cuốn sách ấy, gần đây, đã được in lại ở Mỹ, ký tên Văn Quang hẳn hoi đó là các cuốn: Soi Bóng Cuộc Tình, Suối Đam Mê, Tình Khúc Màu Tím, Sau Ánh Đèn Thành Phố …

Trả lời phỏng vấn của tuần báo Khởi Hành mới đây, Văn Quang nói:

“Không còn cách gì sống thì phải viết”.

Cuốn sách mới nhất của ông vừa đước xuất bản ở Mỹ là cuốn “Ngã Tư Hoàng Hôn” được ông coi là viết cho mình, cho thời đại ông đang sống.

Nhiều ngôn ngữ ông xử dụng trong các tiểu thuyết, phóng sự của mình, đã rời khỏi các trang giấy và trở thành ngôn ngữ của đời sống.

Người Việt tha hương hiện nay, thường tìm đọc những bài viết được gọi chung là thư nhà, chuyện lẩm cẩm của ông, để biết về những sinh hoạt ở trong nước: chính trị, tôn giáo, tình ái, giáo dục, chuyện các nhà văn, nhà báo cũ, mới, sống chết, động vật quý hiếm bị bắt làm thịt, buôn bán phụ nữ, nghĩa là ‘trăm thứ bà rằn’ như cách nói của các cụ ta ngày xưa. Không lẩm cẩm chút nào. Có những điều đọc xong, người ta có thể vừa cười vừa chẩy nước mắt hoặc lo lắng.

Hiện Văn Quang sống trong một căn nhà và một khu vườn nhỏ tại Lộc Ninh. Hỏi: tại sao lại bỏ thành phố về sống ở nơi “khỉ ho cò gáy” vậy? Đáp: đã đến cái tuổi thành phố nó bỏ mình chứ không phải mình bỏ nó nữa. Vả lại, muốn về Sài Gòn chỉ mất vài tiếng xe đò thôi mà.

Ông sống an nhiên, tự tại.

Bằng hữu tự viễn phương lai, đều không quản đường xa, ghé thăm ông, chủ khách đều vui vẻ. Từ nhà Văn Quang sang nhà Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ

cách một quãng đường có thể đi bộ được. Những đêm trăng sáng có thể nhờ ánh trăng soi đường đi được.

Sòng bài bị cướp

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

December 7th, 2024

Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Phố Tàu Montreal, 11 giờ tối, dọc đường Saint Laurent, những nhà hàng, tiệm ăn đóng cửa, tắt đèn. Thùng rác, thùng giấy bìa, đã đẩy ra 2 bên lề, đám chuột giành nhau cắn những đống thức ăn lòi ra từ các bao rác nhỏ rớt vung vãi xuống dòng nước chảy sát lề đường từ cơn mưa hồi chiều, ánh nước lung linh bảng hiệu còn chớp đèn của nhà hàng nổi tiếng TP, cửa chính đã đóng nhưng sau lưng hai người đứng trước hẻm nhỏ là cửa hông vô nhà hàng, Hết bậc thang cuối, quẹo phải. Căn phòng rộng dành cho đám cưới, đang có 4 bàn bài cẩu, nhiều khách hàng vây chung quanh. Tiếng cười, tiếng khui bia, cụng ly, tiếng xúc xắc lanh canh nghe từ lớn tới nhỏ dần, tiếng tắc lưỡi nuối tiếc, chửi thề, tiếng cười hinh hích của những người thắng cuộc…

– Rầm!

2 người gác cửa té xuống sàn, 2 khẩu súng tay văng ra. 3 người bước vô đứng hàng ngang, chĩa 3 khẩu Uzi hãm thanh vô mấy bàn bài cẩu. H, em ruột của Q, người gác cửa, chồm tới chụp khẩu súng tay.

– Bụp! Bụp!

2 tiếng nổ khô rang, H cong người duỗi chân, đầu ngoẹo qua một bên, chết!

– Ê! Mấy người kia đừng dại dột phản ứng! Hui nhị tì liền! Tất cả để 2 tay lên bàn…

Anh nhỏ con, lùn nhất trong 3 người võ trang, bước tới, chĩa khẩu Uzi vô một người đứng ngay bàn.

– Tụi tui là cướp! tới đây cướp sòng này. Bỏ hết tiền bạc trong túi, đồng hồ, trang sức ra bàn…

Anh quay người.

– Bụp!

Viên đạn làm chai rượu trên quầy nổ tung.

– Nên nhớ, A Dách này, người nổi tiếng bắn chết ngay từ viên đầu.

A Dách đứng sát tường, 2 người kia lấy hết số tiền trên các sòng, một đống tiền toàn giấy 100 đô, 8 cái đồng hồ Rolex, do dân chơi bài bỏ ra, có 3 cái toàn đính kim cương chớp nháy dưới ánh đèn.

A Dách đưa khẩu Uzi, làm 3 phát vô chùm đèn lớn trên trần. Tiếng thủy tinh bể, tiếng điện xẹt, căn phòng lớn tối thui.

Hồ Đắc Vũ

Q.

Q, tốt ngiệp đại học Montreal, tam đẳng Karate, võ sĩ Bình Định, trùm nhóm Việt Nam, gồm 15 người, toàn dân miền Nam, chuyên tổ chức sòng bài lậu lưu động, từ phố Tàu cho tới khu Côte Des Neiges, Longueuil, bán cần sa, sau này thêm món thuốc ma túy tổng hợp, chủ 2 nhà hàng tiệc cưới lớn tại Montreal. Q ngả   người, dựa lưng trên ghế dài kê sát tường trong phòng tập, trên tủ gỗ, treo cờ hiệu Karate và Bình Định Sa long Cương, dọc 2 tường, những binh khí, và 2 con ngựa gỗ tập quyền đã lên nước. Nắng buổi sáng xuyên qua khung cửa sổ, đổ một vùng sáng dài chạy qua tấm thảm xanh lục. Q đứng dậy, bước tới chiếc tủ kiếng nhỏ. Vùng sáng hắt lên những giải thưởng hạng nhất thi đấu Karate của Q.

Tiếng mở cửa,

– Anh Q!

– …

– Tụi BTK chơi mạnh quá… Thằng em H tiêu rồi!

Q không quay lại, giọng lạnh ngắt.

– Để việc đó cho anh… Em tiếp tục mở sòng, nới rộng vòng đai báo động, mỗi nhóm 3 người với remote 3G, có dân lạ, đi xe hơi nhào tới là bấm remote liền, không cần chống cự, liên lạc với tụi Da Đỏ, mua cho mỗi sòng 1 khẩu Uzi hãm thanh.

Cướp thuốc

Chiếc xe Ford 4×4 đang chạy xuống dốc, băng qua con lạch cạn, leo bờ, tới bìa rừng Người nông dân Mỹ trong áo khoác ca rô đỏ, mang đôi giày ống cao su cao tới gối, tay cầm khẩu shotgun đưa cao, ra dấu ngừng lại. Chiếc Ford quẹo vô rừng, đậu sau chiếc xe tải Toyota.

– Hello! Bạn Montreal… Mọi chuyện an toàn và sẵn sàng!

L và M, trong nhóm của Q, mở thùng xe, mang hàng qua xe Toyota. Leo lên lái băng rừng, nhắm hướng xa lộ 89 Nam.

– Đùng! Đùng! Đùng!

3 phát súng chát chúa nẹt vô đầu xe. M thắng gấp, xe cày một vòng, văng lớp đất đỏ trên con đường rừng.

Tiếng loa.

– Ê! Đây là A Dách, BTK Boston…

A Dách đưa cao khẩu M-18.

– Đùng!

Phát súng xuyên nát kính trước

– Dù xa, nhưng tao bảo đảm cho 2 thằng mầy lên bàn thờ ngay lập tức… Nếu không bỏ số hàng xuống và quay đầu về biên giới.

M nhìn khẩu súng 9 ly, cưa nòng nhỏ xíu trong tay, nói với bạn.

– ĐM! Chịu thua đi! Bể rồi! Giao hàng, dzọt lẹ về.

Cướp đám cưới

Tối thứ Bảy, 8:30 tối, tại sảnh đám cưới lớn trên lầu 3, khách sạn Holiday Inn, phố Tàu Montreal.

Một đám cưới linh đình nhất, rực rỡ nhất thành phố. Chú rể, cô dâu, bước ra chào quan khách, bước thẳng tới chiếc bàn gỗ gụ đỏ, có 4 đầu rồng thếp vàng 4 góc.

– Dạ! Chúng con xin đa tạ quý khách và bà con bạn bè đã tới chung vui đám cưới của tụi con.

Mọi người mang phong bì quà tặng, thường là tiền mặt, bỏ cả chồng trên bàn.

Đây là đám cưới của M, em trai út của Q.

– Chúng em xin cám ơn sự tài trợ vô giá của anh Hai…

M nâng ly rượu, quay qua Q.

– Xin mời anh Hai.

– Bụp!

Đèn tắt ngúm. Tiếng lao xao. 3 phút, đèn sáng.

Cô dâu chú rể bị cột chùm vô nhau, miệng bị dán băng keo. Q đã biến mất khỏi bàn.

3 người Việt, mặc toàn đồ đen như những tay sát thủ Ý, chĩa 3 khẩu Uzi gắn hãm thanh vô khách.

– Quý vị ngồi im, tụi tui là cướp… Hôm nay cướp đám này.

2 người kia, tới bàn cô dâu chú rể, dùa hết phong bì quà tặng vô bao vải.

– Bụp!

Một phát Uzi, mọi người đứng tim.

– Nhân tiện! Tụi tui cướp luôn quý vị!… Xin vui lòng bỏ hết nữ trang, đồng hồ, tiền mặt ra bàn, ai cố tình giấu …

A Dách chỉ tay xuống.

– Là tui cho xuống địa ngục liền!

– Dạ thưa ông cướp! Làm ơn cho tui xin lại cái vòng hột xoàn …

Bà sồn sồn đứng lên, chỉ tay.

– … Nằm trên bàn! Hu hu!…

Bà bắt đầu vừa khóc tỉ tê.

– … Đó là cái vòng gia bảo … Hu hu! Của nhà tui, bà cố cho nội tui, nội cho… Hu hu! Má tui…Hu hu… Cho tui… Hu hu! Má tui chết rồi… Tui muốn xin lại để nhớ tới… Hu hu…

– Nín!

A Dách la lớn.

– Đám cưới mà sao bà khóc?

– … Dạ để nhớ tới má tui… Hu hu!…

– Im! Tôi không cho lại, Nhớ má bà thì ra nghĩa địa thăm, đâu cần phải có cái vòng hột xoàn.

Bà rống lên.

– Hu! Hu!

A Dách nổ một phát lên trần. Bà sồn sồn nín thinh, té cái bịch, xỉu.

A Dách lùi ra cửa, 2 đàn em tóm sạch trang sức, đồng hồ vô bao vải. 2 súng chĩa vô khách, bước lui. Tuồng cũ làm lại. A Dách đưa khẩu Uzi, làm 3 phát vô chùm đèn lớn trên trần. tiếng thủy tinh bể, tiếng điện xẹt, căn phòng lớn tối thui.

…

Vùng Deux Montagnes. Căn biệt thự màu trắng, nằm bên khu rừng thông đổ dốc, phía sau là một hồ tắm nhỏ. Q ngồi dựa lưng trên ghế, nhìn mặt nước xanh lóng lánh dưới nắng chiều. P người em kế, bước tới quầy, rót ly Scotch vàng óng, bỏ 2 viên đá, đặt xuống chiếc bàn nhỏ bên ghế của Q.

– Uống chút đi anh Hai.

P lấy chai bia lạnh làm một hơi dài.

– Mình sẽ làm gì anh Hai?

Q nốc cạn ly rượu.

– Em làm công việc quản lý mấy sòng bài, vụ cần sa để cho thằng Bảy lo, đang mùa cưới, tăng cường an ninh cho mấy nhà hàng…

M trở lại quầy, làm ly rượu khác, đem ra cho Q.

Q xoay ly Scotch ánh màu hổ phách, anh nhìn trừng trừng vô những bọt nhỏ lăn tăn vỡ tan trên những viên đá…

– Việc A Dách … Để anh đích thân lo.

Qua Boston

Chiếc Camry cũ mèm chạy tới tiệm bán burger ở Chambly, gần biên giới Mỹ lúc 5 giờ chiều. Q bước vô, gọi một cái burger, ngồi ăn ở bàn. 5 phút sau, người Mỹ tóc bạc bước vô tiệm.

– Hello Q! Jack đây.

Hai người chào hỏi. Ông gọi một burger, khoai tây chiên mang về.

– 6 giờ rồi Q, đi!

Cả hai ra khỏi tiệm, Q lên chiếc Ford 4×4 với ông Mỹ, chạy băng qua những ruộng bắp bạt ngàn, tới khu rừng thông, dài theo con lạch nhỏ, cả hai lội bộ qua rừng thông, đụng bờ lạch. Trời chập choạng tối. Jack móc túi, đưa cho Q chai Scotch nhỏ.

– Đêm thường lạnh, làm một shot.

Jack uống hết phần rượu còn lại.

– Jack, vùng này nổi tiếng nhiều gấu… Có con nào tới đây không?

–  Gấu chỉ ở vùng đầu lạch trên kia… Nhưng nếu có con nào lạc tới đây.

Jack rút khẩu Magnum nòng dài từ sau lưng.

– … Thì tao xơi liền, yên tâm.

Có tiếng khuấy nước trên lạch, Jack ra dấu nằm xuống.

Chiếc ca nô chèo tay từ từ tấp vô bờ lạch, có tiếng chim đêm kêu nhẹ, Jack nháy đèn pin trả lời.

– Bạn tới rước mầy qua bên kia.

Jack đưa Q xuống ca nô.

– Chúc may mắn.

– Cám ơn Jack.

Q nhét cuộn tiền vô tay Jack. Chiếc ca nô qua bờ bên kia. Cậu nhỏ đứng sẵn bên chiếc Jeep đón Q.

– Hello! Q

– Hello.

Cậu leo lên xe mở máy, đưa cho Q một vật tròn, trong túi vải.

– Lựu đạn mini đây! Cẩn thận.

Q cám ơn, đút túi cậu nhỏ cuộn tiền. Anh lái xe ra khỏi rừng, về hướng xa lộ 89 Nam.

Trả thù

4 giờ chiều, tại phòng VIP, Casino Mohegan Sun, Uncasville, Connecticut. A Dách và 3 người bạn đang chơi bài xì dách, A Dách thắng luôn 3 bàn lớn, 70,000 đô chỉ trong 8 phút. Anh đưa tay.

– Nghỉ! Nhậu một chầu, tối chơi tiếp.

S, gọi.

– Cho 2 chai scotch Nhật, Akashi, 36 con sò tươi Main, 2 phần Sashimi đặc biệt, 6 càng king crab hấp, 3 tô súp bào ngư, đỉa biển trắng.

Anh cho người chia bài 1,000, anh phục vụ 1,000. Hai người lẹ làng ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Chừng 10 phút sau. Có tiếng chuông cửa.

– Hello! Phục vụ thức ăn đây.

S mở cửa.

– Dạ xin chào quý anh!

Người đàn ông phục vụ nói tiếng Việt, đeo khẩu trang, đẩy chiếc xe đồ ăn vô tới bàn. Anh lẹ làng khui chai rượu, rót 4 ly.

– Dạ! 2 viên đá?

– Ừ!

Anh đưa từng ly tận tay cho mọi người, quay lại, mở 3 nắp đậy mạ bạc, sắp 3 dĩa sò tươi, mở 2 phần Sashimi đặc biệt để hai bên bàn.

– Dạ! Đây là 6 càng King Crab rất tươi, từ Úc, mới tới sáng nay… Dạ! xin kính mời ông trùm A Dách!

– Sao biết A Dách?

Anh phục vụ bước tới bên A Dách, cúi đầu.

– Dạ! Tiếng tăm A Dách, trùm BTK nổi tiếng phố Tàu… Ai cũng biết! Bây giờ còn vang danh tới tận Montreal… Dà xin mời ông trùm.

Anh phục vụ, mở nắp đĩa cua King Crab.

Trên chiếc dĩa trắng, to, không một càng cua nào! Chỉ trái lựu đạn mi ni sát thương tròn, màu lính.

3 người bạn nhảy khỏi ghế, A Dách bật ra. Người phục vụ chụp trái lựu đạn, rút chốt.

– Tụi bay ngồi im! Không phản ứng! Tao có mặc áo giáp, nên không lo… Tao thả ra là cả đám tiêu tùng!

Nhanh như chớp, anh chụp cằm A Dách bóp mạnh. tống trái lựu đạn vô miệng A Dách đang há rộng.

– Up ơ! hơ!

A Dách la trong cổ.

Anh phục vụ lột khẩu trang.

– Tao là Q, trùm Q của Montreal đây…

Anh cúi sát mặt A Dách.

– Mấy tháng qua, mày đã cướp phá việc làm ăn của tao, từ sòng bài cho tới chuyến hàng bán vô Mỹ, bắn chết thằng H, em tao… Cướp đám cưới của gia đình tao… A Dách! Mày nghĩ là tao sẽ chơi lại BTK chớ gì? Không! Tao không chơi trò mắt trả mắt răng trả răng như bọn Hồi… Tao tha chết cho mầy!

Q lấy trong túi áo ra một hộp gỗ nhỏ, dài.

– Tao biết mầy thích thứ này khi uống Scotch…

Q mở hộp gỗ, lấy ra.

– Đây! Tao mời mầy điếu xì gà Cohiba nổi tiếng nhất… À! nhưng mầy đang ngậm lựu đạn, đâu hút được…Vậy! Cầm đi.

Q đưa điếu xì gà, A Dách cầm.

– Nhưng tao phải cắt đuôi xì gà trước khi mầy hút…

Q lấy trong hộp gỗ cái dao cắt đuôi xì gà mạ vàng, có lỗ tròn ở giữa, Q đút điếu xì gà vô, bấm nhẹ, lưỡi dao bén ngót cắt xuống một phát, cái đuôi xì gà to như ngón chân cái, rớt nhẹ nhàng, Q cười.

– Thôi cầm đỡ đi A Dách.

A Dách vừa đưa tay, Q đã chụp lấy ngón trỏ, thọt vô cái dao cắt xì gà, bấm mạnh, ngón trỏ tay phải của A Dách rớt ra trên bàn, Q chụp luôn tay trái của anh ta, thọt vô dao cắt. Ngón trỏ tay trái của A Dách rớm máu rớt ra.

– Wa! Aw! Wa wa!

A Dách rú lên, đưa 2 tay đầy máu, ôm lấy miệng, sợ la lớn… trái lựu đạn rớt ra!

Q lấy bao ny lông nhỏ trong túi, bỏ 2 ngón tay vô, kéo zip lại, bước tới, hé cửa, nhìn ra ngoài…

– Bye “A… Không còn là Dách”

Anh nói với 3 người đang ngồi dưới sàn.

– Tụi bay gọi “Đội phá gỡ chất nổ” tới cứu A Dách!

Rồi quay qua.

– Bye! “A Dách” Thôi! về phố Tàu bán trà sữa kiếm sống đi!

Q mở cửa, đưa chiếc bao ny lông đựng 2 ngón tay vấy máu, tím bầm lên cao.

– Tao giữ cái này làm kỷ niệm!

Từ bữa đó, A Dách không còn là “Dách” nữa và trở thành “A Cụt”

HĐV