baotreonline.com
Vương Mộng Long
Posted on 29 June, 2023
Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Kỳ 9
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Tôi ước đoán vùng địch tập trung các cỗ pháo là khu ngã ba Plei Xôm nên vội ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Như dùng 105 ly cơ hữu của Pleime bắn cầm canh trên vùng này để cản bước địch. Ðúng 4 giờ sáng, tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo có 3 chiếc tank của Việt-Cộng bị vướng mìn đang nằm im dưới chân đồi. Hai bên đường Tỉnh Lộ 6C đoạn từ Ðồi Tử Chiến về Nam có một bãi mìn chống chiến xa dài nửa cây số do Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu thiết lập.
Như vậy Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu là đơn vị có công đầu trong việc tiêu diệt ba chiếc xe tank của Việt-Cộng sáng 14 tháng 4 năm 1974 tại vùng 20 cây số Tây Nam Pleiku. Tôi cho lệnh tiền đồn Ðồi Tử Chiến cho người xuống dùng M72 bắn bồi thêm cho mấy chiếc T54 cháy luôn, nhưng không còn nghe tiếng tiểu đội này nữa. Tôi nhớ lại chuyện xe tank địch công khai xuất hiện giữa ban ngày trong trận Lệ Minh và Bu Prang nên vội vàng gọi cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn 22 ở Hàm Rồng để xin máy bay can thiệp gấp. Nào ngờ, cấp trên đã trả lời rằng hiện thời không quân đang bận bao vùng cho một đơn vị bộ binh chạm địch nặng vùng Tây Pleiku.
Túng quá, tôi bèn vẽ một ô vuông mỗi chiều 200 mét kéo dài từ Ðồi Tử Chiến về hướng Bắc, rồi xin pháo binh bắn liên tục hy vọng cản được đường tiến của cơ giới địch. Tới 5 giờ sáng, địch âm thầm dàn hàng ngang trên bờ con thông thủy nằm giữa Cứ Ðiểm 711 và Plei Ngol Ho rồi đồng loạt hò reo, xung phong lên bờ tường Ðông của 711. Có lẽ đơn vị này xuất phát từ làng Siêu 1 (Plei T’Seo 1) rồi di chuyển theo lòng con suối cạn để tới tuyến xung phong. Con suối này là nơi các ông lính pháo binh đã xuống lấy nước và phát giác ra đường dây điện thoại nhưng không báo cáo.
Hình như địch không biết bên Plei Ngol Ho có người, nên vô tình chúng đã đưa lưng làm bia cho Biệt Ðộng Quân và M113 nằm trong bìa rừng nhắm bắn thả giàn. Sáu khẩu đại liên 50 đặt trên M113 đồng loạt bóp cò tập trung về một hướng khiến cho cả một vùng bụi đất tung bay, mịt mù. Ðơn vị địch hiện diện có thể là một tiểu đoàn. Tất cả bốn đợt xung phong của địch đều bị bẻ gãy. Trung úy Nguyễn Trọng Thọ báo cáo rằng qua bốn đợt xung phong, đã có năm hay sáu cán binh lọt được vào trong vòng rào 711, nhưng quân ta đã bắn hạ hết những tên này.
6 giờ sáng thì tiếng súng im, không còn bóng dáng địch, tôi cho một trung đội ra thu lượm chiến lợi phẩm đem về sân trực thăng. Mấy anh lính kỵ binh của Chi Ðoàn 3/19 cũng hí hửng xuống xe, chạy theo phụ giúp Biệt Ðộng Quân. Ðánh nhau mới có vài tiếng đồng hồ mà vũ khí của địch đã bị ta tịch thu chất thành đống lớn. Trung úy Trần Dân Chủ tíu tít quanh khu đất chứa chiến lợi phẩm mà chụp hình lia lịa. Chủ tới bên tôi,
– Kỳ này đi buôn lời to! Mình lấy được gần ba trăm khẩu súng rồi đó ông ơi!
Tài liệu thu được từ xác những tên địch trên bãi cỏ hướng Ðông 711 cho ta hay đơn vị của chúng là Tiểu Ðoàn K2, Trung Ðoàn E48 của Sư Ðoàn 320A. Tôi lần bước theo bờ thành của 711 để quan sát trận địa thì thấy hàng chục tên địch nằm phơi thây bên bờ cỏ Tỉnh Lộ 6C. Tôi tò mò ngồi xuống quan sát một cái xác cán binh bị bắn vỡ đầu; chiếc nón cối mất một miếng to bằng bàn tay; bên ngoài cái nón có hàng chữ bằng mực xanh ghi tên đơn vị của người đã chết; tôi chỉ đọc được chữ “D” và số “0”; còn con số ở giữa không rõ là “1” hay “2”; kế số “0” là hai chữ “TS”. Do đó tôi chỉ đoán mò có thể đơn vị của tên Việt-Cộng này là Tiểu Ðoàn D10 hay D20 Trinh Sát. Từ đó tôi đưa ra kết luận cho rằng sáng nay địch đã sử dụng một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trinh sát để đánh tôi. Tôi gọi đài tiếp vận Hàm Rồng báo cáo tên các đơn vị địch tham chiến mà tôi vừa phát giác cho Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thì họ trả lời rằng họ đã biết hết rồi! Họ còn nói rõ rằng, ngoài Tiểu Ðoàn K2 của E48 và D20 Trinh Sát địch còn tung vào trận một đại đội xe tank của D16, nhưng xe tank bị vướng mìn hư hại, không tham chiến được. Tôi nhớ lại lời nhắn cách nay hai ngày của anh bạn Ðồng Ðăng Khoa:

“Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!”
Sau đình chiến, ta và địch đánh nhau cứ như đánh bài lật ngửa, lực lượng địch gồm những đơn vị nào ta đều biết, ta như thế nào địch cũng biết. Có điều cấp trên cứ giấu giếm thực lực địch, không cho cấp dưới biết chỉ vì sợ cấp dưới thấy địch mạnh quá hoảng hồn, không dám đánh! Tôi chợt chạnh lòng nghĩ lại, hiện giờ tôi cũng ở vào tình trạng không khác gì anh Quang Con và chú Hoàng Nghĩa Hội trong trận Lệ Minh tháng 9 năm 1973.
Rồi đài tiếp vận Hàm Rồng lại chuyển lệnh cho tôi cố duy trì đương cự được một ngày thì tôi sẽ có người vào tiếp viện. Trung úy Chủ, Sĩ quan Ban 3 cho tôi hay tổng kết thiệt hại của ta tính tới giờ phút đó đã có 12 Biệt Ðộng Quân và 10 Kỵ Binh tử trận. Số người bị thương là 28 người. Tất cả thương binh và xác người chết đều được tập trung ở bãi trực thăng hướng Bắc Plei Ngol Ho chờ phương tiện di chuyển. Ðại úy Xá cũng báo cáo rằng có 6 chiến xa bị cháy, hai sĩ quan và tám binh sĩ tử trận. Hiện thời trong 711 chỉ còn 6 chiếc M113, nên ông Chi đoàn trưởng đã tái phối trí những chiếc xe này thành những pháo đài vững chắc sau tường đất. Riêng chiếc M113 có khẩu 106 ly không giật được đặt ở góc Ðông Nam 711 họng súng nhắm ngay con dốc dưới triền đồi, địa thế nơi đây bắt buộc cơ giới phải đi theo hàng dọc từng chiếc một. 7 giờ sáng từ hướng suối địch lại ào ào xung phong lên. Chờ cho tiền quân địch tới sát bìa rào, ta mới nổ súng. Ðịch tháo chạy rồi, quân ta mới mau chóng ra kiểm soát kết quả. Ðại Ðội 3 mang về gần chục khẩu AK và hai cái ba lô.
Tôi mở một cái ba lô của tên cán binh vừa chết ra xem, thì thấy bên trong, ngoài hai bộ quần áo kaki xanh, một tấm vải dù, một cái bát, một cái muỗng bằng nhôm, một cây bút bi, còn có một bì thư đã dán kín nằm kẹp giữa một quyển sổ tay. Quyển sổ tay này là nhật ký của cán binh Lưu Sỹ Hồng quê quán Bắc-Thái.
Nghe ban Truyền Tin báo rằng sắp có tải thương, tôi đi ra bãi trực thăng, trên tay là quyển nhật ký và cái bì thư. Sau khi thăm hỏi an ủi các thương binh, tôi cũng ngồi xẹp xuống bãi cỏ mở cái bì thư ra xem thì thấy thư đề tên người nhận là Mạc Thị Huệ ở Bắc Thái. Thư mới viết, nét chữ anh chàng cán binh này không những không được cứng cáp mà còn có vẻ ẻo lả như chữ con gái. Mở đầu là một bài thơ ngắn, không rõ người viết thư đã sáng tác hay đã cóp nhặt từ ai,
“Em ơi!
Em hãy nhớ lời anh giờ chia tay
Ðường đi Bê ngút ngàn quan tái
Anh vẫn mang trên vai bóng hình người ở lại…
Ðất nước thanh bình anh sẽ về
Một mái tranh, một mảnh vườn quê
Trước sân nhà,
anh sẽ trồng thật nhiều hoa Hồng và hoa Huệ…
Anh sẽ về!
Anh hứa với em…”
Hai chữ “Hồng” và “Huệ” đều viết hoa và tô đậm. Huệ là tên người đợi chờ, Hồng là tên người đi B. Không biết tới bao giờ người đợi chờ mới biết tin người đi B đã mãi mãi không về? Tôi chưa đọc tiếp xem trong quyển sổ đã ghi chép gì thì nghe từ xa có tiếng trực thăng “Bạch! Bạch!” vọng lại. Tôi bỏ cái bì thư và quyển sổ tay vào cái ba lô chiến lợi phẩm. Tôi đứng chờ chỉ mấy phút sau thì Ðồng Ðăng Khoa sà xuống lơ lửng trên Plei Ngol Ho. Bay với Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa ngày hôm đó là Thiếu úy Võ Văn Phương, một thuộc cấp cũ của tôi ở Phòng 2.
Trong lúc Thiếu tá Khoa lo đạp mấy thùng súng M72 và đạn M16 xuống đất thì Thiếu úy Phương lo đỡ mấy Biệt Ðộng Quân bị thương nhẹ lên tàu. Thấy tôi, ông Phương giơ tay chào. Tôi leo lên càng trực thăng, đưa cho Thiếu úy Phương cái ba lô tài liệu rồi hét lớn,
– Nộp cái ba lô này cho Phòng 2 quân đoàn!
Thiếu úy Phương chụp cái ba lô ôm vào lòng, rồi nắm tay tôi, ân cần,
– Ông thầy ơi! Nhớ cẩn thận nghe ông thầy!
Chỉ ít lâu sau ngày cái ba lô được giao cho quân đoàn thì bài thơ của Lưu Sỹ Hồng đã xuất hiện trên những tờ truyền đơn kêu gọi cán binh Cộng-Sản ra chiêu hồi. Cũng nhờ những tờ truyền đơn này mà mấy chục năm sau tôi còn nhớ từng chữ, từng câu trong bài thơ tình của người cán binh trẻ tên là Lưu Sỹ Hồng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Công tác tải thương vừa bắt đầu đã nghe “Choác! Choác!” tiếng 12.7 ly và tiếng cành cây gãy răng rắc. Chiếc trực thăng vội vàng cất mình phóng thẳng xuống thung lũng hướng Ðông rồi biến trong màn mưa. Tôi đành cho lệnh khiêng các thương binh nặng đang nằm trên cáng về lại hầm thuyết trình.
7 giờ 30, pháo tầm xa 122ly và 105ly của địch từ vùng Tây Nam lại dồn dập bắn tới tấp trên 711. Ðợt pháo kích này kéo dài đúng nửa giờ thì chấm dứt. Rồi tình hình bỗng trở lại yên ắng một cách lạ kỳ. Chờ mười phút sau không thấy động tĩnh của địch, tôi nghi ngờ rằng chúng đang chuyển quân. Tôi ra lệnh cho Trung úy Danh gọi Pháo Binh từ Ngã Ba Mỹ-Thạch đánh hai hàng rào cản, cách 711 đúng 200 mét về hướng Nam và 200 mét chính Tây để ngăn địch. Năm phút sau khi đơn xin pháo binh gửi đi thì một chuyện bất ngờ đã xảy ra! Ðó là, thay vì đạn pháo bạn bắn từ Mỹ-Thạch phải rơi ngoài hàng rào thì chúng lại rơi ngay trên đầu Căn Cứ 711. Tôi tưởng đây là tai nạn tản đạn, nên cho ngừng pháo binh, rồi gửi tọa độ điều chỉnh lại. Nhưng! Ô hô! những quả đại bác kế tiếp vẫn rơi trên đầu quân ta!
Tức quá, tôi hét lên trong điện thoại,
– Ê! Danh! Mày là nội tuyến phải không? Sao mày cứ bắn lên đầu quân mình vậy?
Lúc đó Trung úy Danh cũng quýnh lên,
– Trình Thiếu tá! Em cũng không biết vì sao tụi nó lại bắn không đúng tọa độ mình xin. Ðể em hỏi lại.
Không lâu sau, Danh rối rít,
– Thái Sơn ơi! Nội tuyến! Pháo Binh ngoài Mỹ-Thạch có nội tuyến! Chúng nó sửa tọa độ xin yểm trợ của mình nên xảy ra chuyện vừa rồi. Mấy thằng nội tuyến đã bị bắt rồi!
8 giờ 30 đứng trên tường đất của Plei Ngol Ho, tôi thấy Ðồn 711 tiếp tục hứng đạn 122ly và AT3, cứ phừng lên từng chập như chớp giật, chói lòa không khác gì một chảo lửa. Tôi ra lệnh cho Ðại úy Xá rút tất cả những chiến xa còn lại chạy về Plei Ngol Ho càng nhanh càng tốt. Lệnh ban ra được vài phút thì bốn chiếc M113 nối đuôi nhau chui khỏi màn khói.
Ðoàn xe chạy được một đoạn trên Tỉnh Lộ 6C thì bị một bức tường lửa B40 hạ gục. Cùng lúc đó, là tiếng hô “Xung phong!” vang trời của hàng trăm tên địch đang dàn hàng ngang ào ào tiến lên từ triền dốc hướng Tây.
Những người lính thoát ra từ bốn chiếc M113 vội vàng nhào xuống núp dưới cái thông thủy bên cạnh Tỉnh Lộ 6C. Ngay lập tức, tất cả M113 của Ðại úy Xá trên Plei Ngol Ho được lệnh quay súng về bên phải để tưới đạn lên đoàn quân Việt-Cộng vừa xuất hiện. Ðơn vị địch mới tràn sang từ hướng Tây là Tiểu Ðoàn K1 của E48 Cộng-Sản. Tiểu Ðoàn K1 là một trong chín tiểu đoàn chủ công của trận đánh này nhưng đã tới trễ vì gặp trở ngại khi vượt sông Ia Meur. Ðịa thế vùng Bắc của Ðồn 711 hoàn toàn bằng phẳng và trống trải, do đó đối mặt với M113 thì K1 phải tháo chạy.
Ngày di chuyển từ Pleime ra đây, tôi chỉ đem theo một khẩu cối 4.2 và 300 viên đạn. Cối 4.2 tức là cối 106ly. Khẩu 4.2 này do Mỹ để lại, nằm ngoài bảng cấp số, do đó chỉ có những thùng đạn tồn trữ trong Pleime, bao giờ Pleime không còn loại đạn này thì khẩu súng cũng coi như đồ bỏ. Từ khuya hôm nay, một nửa số đạn đem theo đã được tôi sử dụng đánh trên trục tiến của địch vùng 1 cây số Nam của đồi Tử Chiến.
Giờ đây tôi bắt buộc phải dùng khẩu cối này để bắn bao trùm một vành cung hướng Tây của 711 thì chắc chắn không lâu sẽ chẳng còn viên đạn nào! Lúc này bên ngoài tường đất hướng Tây của 711 xuất hiện từng chùm lửa đỏ loé lên với những cụm khói đen bốc cao cùng tiếng “Oành! Oành!” liên tiếp nhau. Như vậy là Công-Binh Việt-Cộng bắt đầu dùng bangalore để phá rào!
Tôi gọi Trung úy Thọ và ra lệnh,
– Chúng nó đang phá rào! Chú cho anh em dùng lựu đạn tối đa để chận không cho chúng nó xung phong.
Lựu đạn nổ đùng đùng trên bờ Tây 711 một hồi thì không thấy bộc phá nữa. Lại một đợt pháo 105 ly và 122 ly kéo dài mười phút. Thêm hai chiếc M113 thoát chạy ra cổng, rồi bị B 40 bắn cháy ngay trước cổng. Hình như có ba bốn anh lính kỵ binh phóng ra khỏi xe chạy nhanh sang Plei Ngol Ho. Như vậy tính tới giờ này ta đã thiệt mất 12 chiếc M113.
Ðại úy Xá báo cáo với tôi,
– Hiện thời tui chỉ còn 6 chiếc M113, mà cũng sắp hết đạn rồi. Thái Sơn tính sao?
Tôi trả lời không suy nghĩ,
– Chờ đi! Chút nữa tôi sẽ gọi máy bay tới đạp đạn xuống cho anh!
Pháo chấm dứt, Công-Binh Việt-Cộng lại bắt đầu dùng bangalore phá hàng rào hướng Nam, nơi có hai ụ pháo binh cũ. Khói bộc phá vừa tan thì địch quân đã ào qua tường đất cùng với tiếng AK “Cành! Cành!’ nổ giòn. Ngoài rào còn có tiếng thúc quân oang oang, “Xung phong! Xung phong!” của địch phát đi từ một chiếc loa cầm tay.
Cùng lúc, là tiếng Trung úy Thọ la thất thanh trong máy,
– Tụi nó đã chiếm mất nửa phần Nam căn cứ! Em đánh dấu khói vàng, Thái Sơn cứ cho pháo binh bắn từ đó về Nam cho em!
Trên Ðồn 711, bóng người chạy xuống, chạy lên thoăn thoắt ẩn hiện trong màn khói. Sau khi chỉ cho Trung úy Danh mục tiêu cần trực xạ, tôi chạy sang khu thiết giáp, ra lệnh cho Ðại úy Xá bắn tập trung vào đoạn Tỉnh Lộ 6C tiếp giáp với bờ Nam của 711, rồi gọi cho Thọ:
– Chú cho anh em từ từ rút ra đường rồi chạy thẳng sang khu thiết giáp, anh đã ra lệnh cho M113 bắn cản đường cho chú chạy!
Năm phút sau có tiếng Thọ vừa thở hổn hển vừa thều thào,
– Em bị gãy chân rồi Thái Sơn ơi!
Tôi ra khỏi hầm truyền tin cho lệnh Chuẩn úy Trâm,
– Chú đem toàn bộ Trung Ðội Trinh Sát đi cứu thằng Thọ! Mau lên!
Tôi đã nhìn rõ các hướng tiến của địch, nếu có thêm quân, thì tôi dư sức đánh bọc trái hay bọc phải để giải tỏa áp lực của chúng. Khổ nỗi, hiện thời, trong tay tôi chỉ còn Ðại Ðội 3 cùng 6 chiếc M113 thiếu đạn, hai khẩu 155 ly cũng chỉ còn vài chục viên, nếu sau khi thanh toán xong Ðồn 711 mà Việt Cộng thừa thắng tràn sang Plei Ngol Ho, chắc chắn tôi sẽ nguy to.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.