This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lời nhận xét và kết tội ấy áp dụng cho chủ nghĩa cộng sản mới đúng. Cũng như câu tiên đoán của Mác trong tuyên ngôn của đảng cộng sản năm 1884.
Chủ nghĩa tư bản có đặc tính ăm bám, thối nát và đang giẫy chết.
Đến giờ này mà còn lải nhải kể chuyện cộng sản chuyên môn lừa bịp nhiều Cố Hồng chắc chắn sẽ kêu: “Biết rồi… Khổ lắm… Nói mãi…” Vì vậy chỉ kể sơ thôi. Thuốc men Nga cộng, Tầu cộng là thứ dở ẹt nhất thế giới. Nga cộng, Tàu cộng chỉ chi viện súng đạn, mìn, hỏa tiễn cho đàn em. Nhưng Tầu cộng có phương thuốc tễ thần sầu quỷ khốc bổ dưỡng cho các lãnh tụ, những bạo chúa cuối thế kỷ hai mươi.
Tầu cộng truyền phương thuốc bí truyền lãnh tụ cộng sản chi bảo ấy cho đàn em Việt cộng. Cũng rất có thể đàn anh khoảnh độc, giữ bí mật chỉ cho đàn em thuốc sực thôi, không chỉ cách mần. Nhưng đàn em ma lanh, ma bùn, học lén được bí kíp chế tạo mật phương. Nhờ bí phương này có thể nói tất cả lãnh tụ cao cấp thế giới cộng sản đều béo tốt, hồng hào, phương phi trông no đủ hơn hẳn những nhân vật lãnh đạo các nước tư bản.
Phương thuốc bổ dưỡng đại quý Việt cộng học lén được của đàn anh Tầu cộng là Nhân Cao. So với Nhân cao, thì cao hổ cốt, cao ban long, cao xương khiếu, cao khỉ đột không đi đến đâu. Nhân cao, hay cao nhân, như tên gọi, là cao người, được cộng sản làm bằng thịt và xương người. Không phải thịt và xương những người tầm thường đã mất nguyên khí hay nguyên trinh mà là xương thịt thai nhi. Trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa dài lòng thòng việc con gái – những cháu ngoan bác Hồ mười sáu, mười bẩy tuổi, con gái còn trinh chứ không phải đàn bà – chửa hoang đi nạo thai là việc được chế độ khuyến khích, bảo vệ. Thai nhi được lấy ra bất chấp sự an nguy của người mang thai. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thiên hạ lấy thai ra khỏi bụng mẹ như thiến gà, thiến chó.
Ở những xưởng đẻ Xã hội Chủ nghĩa thai con nít nhiều đến nỗi được lấy đi nuôi lợn. Một số thai được dược học Xã hội Chủ nghĩa làm thành Nhân cao. Những cái tên gọi là Viện Y Học Dân Tộc Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ có mỗi một thứ thuốc khốn nạn gọi là Xuyên Tâm Liên. Nhân cao chỉ để dành cho cán bộ đảng viên. Thứ thuốc vợ Tư Tuân nhờ mấy đồng chí bên cái gọi là Viện Y học Dân tộc đặc chế đưa cho chồng chính là một trong những dược phẩm nhân cao ác ôn. Nhân cao được làm bằng xương, thịt, máu bào thai, bất cứ người nào ngửi cũng thấy tanh tưởi. Bọn công an cộng sản không giống người thường, như Tư Tuân chẳng hạn, y ngửi thấy thơm thơm.
Theo như chi tiết được tả Cớm Tư Tuân phải làm việc ngày đêm, ăn thì chỉ ăn sáng qua loa có mấy chén cơm chiên – Cớm mà đớp thật tình chắc phải hết cả chảo – mà Cớm mần việc chi mà dữ quá dzậy? Ngôn từ Việt cộng gọi là “khẩn trương”. Cớm ngày đêm đọc “sách báo của bọn phản động lưu vong ở nước ngoài” tìm xem những tên gan cóc tía nào sống dưới gông cùm cộng sản mà dám viết những bài tố cáo tội ác cộng sản, mô tả đời sống cực khổ của nhân dân, cười khóc thay cho nhân dân, nguyền rủa cộng sản thay cho nhân dân. Tìm ra những tên mật lớn này để tóm cổ chúng nhốt vào tù mút mùa Đỗ Đít.
Việc làm này dễ ợt, dễ hơn đớp cơm sườn. Những năm 81, 82 ở Thành Hồ, bọn văn sĩ Sàigòn viết được và dám viết bài gửi ra ngoại quốc có thể đếm được trên mấy đầu ngón tay. Để có thể có những bài viết, gọi là bài viết thôi, đừng nói đến “tác phẩm” đao to búa lớn – để có thể có được những bài viết tả đời sống thật của nhân dân Thành Hồ gửi ra nước ngoài, điều kiện cần nhất và quan trọng nhất là người viết “dám viết, dám gửi đi, nhận chịu nguy hiểm”. Nhiều ông ra được nước ngoài viết vung xích chó, viết loạn cào cài châu chấu, nhưng trong khi còn ở trong nước thì thủ khẩu như bình, một chữ cũng không viết đi. Mấy ông như dzậy là mấy ông khôn. Chỉ có những thằng ngu sống dưới ách Việt cộng chưa biết chết lúc nào mà còn ngứa ngáy viết bậy viết bạ gửi ra nước ngoài. Bị tù mút chỉ cà tha, bị bỏ mạng trong tù là đáng kiếp.
Nhưng đến đoạn này ta lại thấy lòi ra anh Cớm cộng Kiên Trinh. Vậy là thủ trưởng giao việc điều tra tóm bọn văn nghệ sĩ Sàigòn viết bài gửi ra nước ngoài cho Tư Tuân, Tư Tuân trao việc này cho Kiên Trinh. Vậy mà vừa mới đoạn trên ta thấy tả Tư Tuân nghiên kíu điều cha, điều mẹ ngày đêm, chị vợ phải đi kiếm nhân cao cho đương sự tẩm bổ. Đây là lời báo cáo của anh cớm cộng có cái tên không hợp với cớm cộng chút nào là Kiên Trinh:
– Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống cộng “có cỡ” cả. Tôi xin trình bày từng loại dễ “nhận diện” nhất. Đó là loại phiếm luận như bài tựa “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” chắc chắn tác giả của nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu xoong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu ruột quan tri huyện.
Chàng Công tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu – chữ của Duyên Anh Tuổi Ngọc những năm tháng xa xưa – khi được Cớm cộng gọi là “Công tử bột”. Dân Bắc kỳ ngày xưa – ngày xưa tức là phần đầu nửa thế kỷ Hai mươi Trần ai khoai củ – có câu “Công tử Bột, Tiểu thư Vôi” để gọi những cô cậu cũng ăn diện đấy nhưng không được thanh lịch, không sang, rẻ tiền. Đúng vậy, Công tử Hà Đông đúng là một thứ Công tử Bột Bắc kỳ điển hình và chính cống. Nhưng mà Công tử Bột cũng là, vẫn là công tử. Đời trước, đời này, đời sau không biết ra sao, có thật ít người dám nhận mình là công tử. Vài ba anh tự phong mình là công tử ăn diện đúng mác thường bị người đời chê là rởm, khoác lác hoặc phét lác. Khi Công tử Hà Đông tự nhận là Công tử Hà Đông tức là chàng muốn nhận chàng chỉ là một thứ công tử bột “… Công tử bột con thầy thông phán, cháu ruột quan tri huyện…”. Ní nịch trích ngang, trích dọc không có gì nhiều, không nặng mà cũng không nhẹ, song nghe cũng không không đến nỗi quá ư hạ cấp.
Có điều cần viết cho đúng về câu nói của anh Cớm cộng Kiên Trinh trên đây: “… như bài tựa đề “Nếu chàng Trương Phi đẹp trai” chắc chắn tác giả nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu soong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương..”. Bài được đăng dưới bút hiệu “Lão Dương”. Con nít lên ba, cụ già chín bó cũng biết “Lão Dương” là Dương Hùng Cường Dê Húc Càn. Thứ hai, nhóm “nồi niêu soong chảo” là nhóm ký giả trẻ chủ lực của tòa soạn báo Sống của anh Chu Tử Chu Văn Bình từ những ngày đầu ho hen kèn cựa, chết đi sống lại của báo Sống đầu năm 1965. Sau ngày ba anh em ông Diệm, Nhu, Cẩn bị bắn chết, đảng Cách Mạng Quốc Gia, đảng Cần Lao Nhân Vị, Lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa xẹp nhanh hơn bong bóng xà bông, nguyên thủ Ngô Đình Diệm bị bể đầu, Big Minh lên thay chức nguyên thủ chưa đầy ba tháng thì bị Nguyễn Khánh chỉnh lý hạ bệ, cho ngồi chơi xơi nước mút chỉ. Những cuộc binh biến theo nhau xảy ra, những thủ tướng theo nhau rớt đài, anh Chu Tử không ra được báo nên phải mướn “măng xét” của báo người khác để làm. Làng báo Sàigòn – và toàn thể làng báo Bắc Kỳ, Nam Vang, Viên Chiên do quan thầy Phú Lang Sa truyền nghề. Vì vậy báo Sàigòn dùng rất nhiều thuật ngữ chuyên môn tiếng Phú Lang Sa. “Măng xét: Manchette” là tên tờ báo có giấy xuất bản. Nhiều anh viết cái biên lai giặt ủi cũng ướt mồ hôi trán nhờ những thế lực nào đó xin được giấy phép ra báo. Mấy ảnh mà báo bổ ký gì. Mấy ảnh mướn ký giả chuyên nghiệp hoặc cho ký giả chuyên nghiệp mướn giấy phép ra báo của mình. Việc làm đó được giới trong nghề gọi tắt và giản dị là “Mướn măng xét”. Mỗi lần báo bị đóng cửa, anh Chu Tử mô tả nhóm anh em ký giả của anh “lêu bêu như chó mất chủ”. Khi mướn được một măng xét nào đó trong bài trình làng anh viết: “Nhóm chủ trương báo Sống sẽ đua hết nồi niêu soong chảo sang tờ báo này vv..” Từ đó thành cái tên Nhóm Nồi Niêu Soong Chảo. Toàn Nhóm Nồi Niêu Soong Chảo sẽ tái ngộ với bạn đọc thân mến trên tờ báo X v.v…”
Nhóm “Nồi niêu soong chảo” không bao giờ là “của Anh Quân”. Anh Quân có thời làm ký giả báo Sống, nhưng chính Anh Quân không ở trong nhóm “Nồi niêu xoong chảo” của báo Sống những ngày đầu. Sau khi anh Chu Tử bị bắn mà không chết vào giữa năm 1965, báo Sống sống vững, mấy tiếng “Nồi niêu xoong chảo” không được dùng đến nữa và bị quên dần. Năm 1970, nhân báo Sống đăng phóng sự làm lớn vụ PM Mẽo dẹp khu lều dân Việt nghèo dựng lên ngoài hàng rào căn cứ quân sự Mỹ trên bán đảo Cam Ranh để bán sì ke cho GI Mỹ, cho đó là vụ lính Mỹ xâm phạm, đi bốt đờ sô lên chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, báo Sống bị đóng cửa. Ký giả báo Sống mới tản đi kiếm sống ở những báo khác.
Nhóm “Nồi niêu soong chảo” chính cống gồm có Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Tú Kếu, Trần Tử, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Thụy Long, Nhã Ca, Anh Hợp. “Hiện nay tại thành phố ta còn vài ba tên trong nhóm đó thôi.” Khi Cớm cộng nói câu đó thì ở cái gọi là “thành phố ta” chỉ còn có hai tay cựu “nồi niêu soong chảo” là Nguyễn Thụy Long và Nhã Ca là còn lạng quạng vất vưởng ở ngoài nhà tù. Ký giả Trần Tử, Anh Hợp đã chết, Nguyễn Văn Đông sang Mỹ, Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Tú Kếu đang ở trong những trại tù khổ sai. Dê Húc Càn Dương Hùng Cường và tôi, người viết những dòng này, không ở trong nhóm ký giả gọi là nhóm “Nồi niêu xoong chảo” do anh Chu Tử đứng đầu.
– Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Trong một chế độ mà người viết văn, làm thơ không dám ký tên thật dưới những tác phẩm của mình, bọn cầm quyền, bọn đầu sỏ của chế độ đó phải thấy xấu hổ, thấy nhục nhã hơn những người viết không dám ký tên thật. Người viết không dám ký tên thật can tội hèn nhát. Đúng vậy. Nhưng họ còn có lý do chạy tội là họ muốn giữ bí mật tên tuổi để không bị bọn đầu trâu mặt ngựa nửa đêm ập đến nhà còng tay đưa đi năm bảy mùa thu lá rụng chưa nhìn thấy mơ hồ bóng dáng đường trở về mái nhà xưa. Họ mong họ không bị bắt để họ còn có thể viết được nhiều nữa.
Đời nào cũng vậy thôi, rất nhiều người làm văn nghệ nhưng chỉ có rất ít người được nổi tiếng. Nổi tiếng và được đời công nhận là văn nghệ sĩ. Nổi tiếng cũng là thành công. Như Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, không cần có hai tiếng thi sĩ đứng trước tên. Phạm Duy, Văn Cao, Hoài Bắc không cần có hai tiếng nhạc sĩ, như Thái Thanh không cần được giới thiệu là nữ ca sĩ. Có rất nhiều người viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, làm nhiều bài thơ nhưng vẫn chẳng được ai nhìn nhận là văn sĩ hay thi sĩ. Người viết tạo được một văn phong riêng, bút pháo riêng – nôm na là giọng văn riêng, cách viết riêng, lối nhận xét cuộc đời trần ai khoai củ riêng – lại rất khó và hiếm.
Cớm Kiên Trinh báo cáo với cớm Tư Tuân:
– Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng “có cỡ” cả…
Cớm cộng đọc 15 bài anh em chúng tôi viết ra, công nhận: “Tất cả đều loại chống cộng “có cỡ”. Trong khi đó thì chính anh em chúng tôi, những người viết những bài cớm cộng cho là “chống cộng có cỡ” ấy, chúng tôi coi những gì chúng tôi viết gởi đi chỉ là loại viết chơi vì quá buồn. Chúng tôi không có ý viết những lời đao to, búa lớn. Chúng tôi áy náy vì thấy mình không diễn tả, không ghi lại được một phần trăm những đau khổ, những oán hận của nhân dân, những tai họa do cộng sản gây ra cho nhân dân ta.
“Những tên biệt kích cầm bút” trang 79, anh cu Tư Tuân cớm cộng, trưởng cái ban gọi là Ban Công Tác Chống Phá Hoại Tư Tưởng, được giám đốc cớm Thành Hồ giao nhiệm vụ điều tra mấy tên văn nghệ sĩ Sègoòng gan cóc tía dám viết bài tố cáo chế độ cộng sản ác ôn côn đồ gửi ra nước ngoài. Nói là điều tra cho huê dạng, đúng ra là giao cho anh cu Tư Tuân việc tìm bắt, bỏ tù bọn gan cóc tía. Tư Tuân đọc những bài báo phản động và thấy “buồn nôn vì toàn là những luận điệu rẻ tiền..” nhưng đến trang 87, tức là chưa đến mười trang sau, anh cu Kiên Trinh, anh Cớm Cộng có cái tên không có vẻ cớm chút nào là Kiên Trinh, được Trưởng ban Tư Tuân giao lại việc tìm bắt bọn gan cóc tía, báo cáo:
– Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng “có cỡ” cả…
Thằng đàn anh vừa chê: “… luận điệu vu cáo rẻ tiền. Chán đến buồn nôn…” Ngay sau đó thằng đàn em dộng tủ đứng, dộng luôn cả cái bàn thờ Chủ tịt Đảng vào mồm thằng đàn anh bằng câu nói:
– Em đọc 15 bài của chúng nó thấy bài nào cũng thuộc loại chống cộng “có cỡ” cả…
Rẻ tiền tức là không có cỡ, mà có cỡ tức là có giá trị, và có giá trị tức là không rẻ tiền. Anh cu Kiên Trinh, cái tên anh cu cớm cộng Thành Hồ này cũng kỳ. Bác Hồ học mót lối dùng bí danh có vẻ bình dân để gọi nhau trong Đảng của Tầu Cộng, bác lấy tên là Sáu Keo. Từ đó, bọn đảng viên Việt cộng anh nào cũng có tên mang số thứ tự hai, ba, năm, sáu đứng đầu. Chẳng hạn như Tư Bốn, Ba Thiên, Năm Lành, Bốn Lù v.v… Có anh còn mang cái tên gợi cảm là Hai Bi, Ba Bi. Nhưng ở trang này, ta lại thấy lòi ra một anh cớm cộng có cái tên là Kiên Trinh – Anh cu Kiên Trinh chỉ mới đọc có 15 bài còm của vài tên văn nghệ sĩ Sègoòng kẹt giỏ viết gửi ra nước ngoài là anh đã phải nhận là “… chống cộng có cỡ…” Nếu hai anh cu này đọc 150 bài do anh em chúng tôi viết về cuộc sống thê thảm của nhân dân thành Hồ dưới gông cùm Việt cộng, chắc hai anh sẽ buồn nôn đến cái độ nôn ra máu.
Được cớm cộng “đánh giá” là viết toàn những bài “chống cộng có cỡ” nghe cũng khoái tỉ. Nhưng quy luật của tự nhiên, theo Ăng Ghen là “càng được cộng sản đánh giá chống cộng cao cấp chừng nào càng bị cộng sản bỏ tù lâu chừng ấy”. Những trang NTBKCB cho anh em chúng tôi thấy tại sao bọn công an Thành Hồ lại hục hặc kết anh em chúng tôi vào tội gián điệp, đưa chúng tôi ra tòa với tội gián điệp và muốn tử hình một người trong bọn chúng tôi, bỏ tù chung thân tên thứ hai trong danh sách gián điệp, bỏ tù hai mươi cuốn lịch Tam Toong Méo tên đứng hạng thứ ba, mười lăm mùa khoai lang tên đứng thứ tư, mười hai mùa củ đậu tên đứng hạng thứ năm, mười mùa cốm giẹp tên đứng hàng thứ sáu. Hai tên gián điệp cuối cùng trong số 8 tên, tên số tám và tên số bẩy: mỗi tên tám mùa cô hồn cháo lá đa.
Bị tó tháng Năm 1984, một tháng sau ngày Nhóm Già Lam Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Thích Trí Hải giã từ cửa Thiền lên xe bông dzô cửa tù, chúng tôi bị bọn viết báo cộng sản chửi lai rai, chửi dài dài từ năm 1985. Năm 1986 trước ngày bọn công an Thành Hồ đưa chúng tôi ra tòa, bọn báo Công An và bọn báo Tuổi Trẻ Thành Hồ cùng đăng những bài mới về chúng tôi. Khi những tờ báo có những bài viết ấy vào đến tay chúng tôi trong nhà tù Chí Hòa, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, người ở tù cùng phòng với tôi trong suốt năm mùa Lễ Vu Lan, nói với tôi:
– Sao chúng nó thù các bác quá…
Tôi gọi Trí Siêu bằng thầy. Trí Siêu gọi tôi bằng bác. Trí Siêu kém tuổi tôi mười mùa bác Hồ đầu thai phá dân hại nước.
Nhưng như tôi đã viết, xin viết lại ở đây cho câu chuyện được mạch lạc, bạn đọc dễ theo dõi hơn. Công an Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, làm om sòm trên báo để đưa “bọn gián điệp ra tòa. Chúng sẽ phải cúi đầu nhận tội…v.v…”
Năm 1986, trước ngày chúng họp cái gọi là Đại Hội Đảng Mả Mẹ kỳ 6. Nhưng rồi, chúng không thể đưa chúng tôi ra tòa như chúng đã loan báo rình rang trên các báo. Chúng tẽn tò. Loạt bài nửa phóng sự, nửa điều tra, nửa chuyện bịa viết nhiều kỳ về bọn gián điệp mới đăng được ba kỳ trên báo Công An, Tuổi Trẻ bị ngưng. Không cả một mẩu tin cho độc giả biết phiên tòa xử bọn gián điệp được loan báo xử ngày đó, tháng đó đã được hoãn.
Tập Những Chuyến Mưa Qua của Trần Yên Hòa như một cuốn phim buồn về một giai đoạn lịch sử của đất nước.
Cuộc kháng chiến chống Pháp đã bùng nổ ở khắp mọi nơi. Và cũng ở khắp mọi nơi, đất nước được chia ra từng vùng. Vùng do Pháp kiểm soát. Vùng do Việt Minh kiểm soát. Nhưng nói như thế chỉ để cho dễ phân biệt, chứ trên thực tế, trừ những thành phố lớn, tình hình có vẻ rõ ràng như vậy, chứ tại các vùng xa, vùng quê, thì luôn ở trong tình trạng xôi đậu, từ đặc biệt của thời đại để chỉ cái cảnh một cổ đôi tròng, ban ngày Tây kiểm soát, tối thuộc tay Việt Minh.
Tây muốn bắt ai thì bắt.
Việt Minh muôn giết ai thì giết.
Bởi vì, đêm Việt Minh về làng, sáng Tây về càn, ai ở trong làng cũng có thể là Việt Minh cả. Cũng có thể có cả Việt Minh thật nữa, một vài người nào đó, là dân làng, bí mật hoạt động cho kháng chiến, ai cũng biết nhưng không ai dám tố cáo. Vì, làm như vậy chắc chắn sẽ phải lãnh cái chết.
Tây biết trong làng có Việt Minh, không bắt được, sẽ bắt bất cứ ai Tây nghi ngờ, để khủng bố, đe dọa, điều tra …
Thảm họa ấy, người ta tưởng chỉ diễn ra ở các vùng quê miền Bắc, không ngờ cả miền Trung, miền Nam, dân chúng ta đều phải chịu cảnh trên đe dưới búa tương tự.
Nhân vật của Trần Yên Hòa, hay chính tác giả, là một đứa trẻ lớn lên trong bối cảnh ấy, ký ức ghi đầy những chuyện tang thương: “Gia đình sống bằng nghề nông, ở thôn quê, bộ đội về đóng trong nhà, máy bay Pháp oanh tạc, chợ búa nhóm ban đêm, ăn cơm phải độn khoai sắn, bữa nào ăn thịt cá thì phải dấu diếm. Năm đình chiến 1954 anh đến tuổi đi học thì thay đổi chế độ. Anh lớn lên trong một số năm thanh bình ít ỏi, và trưởng thành với một cuộc chiến khác, cho đến ngày miền Nam sụp đổ thì anh đã là sĩ quan trongngành chiến tranh chính trị của miền Nam. Lại thêm một số kinh nghiệm sống phong phú thời kỳ sau 75, cho đến ngày đi định cư tại Mỹ”.
Trần Yên Hòa đã kể lại những kinh nghiệm ấy, tái hiện quá khứ ấy, bằng một ý thức tan nát trải dài theo thời gian, từ ký ức non nớt của một đứa trẻ đến ý thức của một người trưởng thành, một sĩ quan chính trị, vừa ngó nhìn vừa tham gia vào các sinh hoạt của người di dân tại đất Mỹ.
Viết về tập Những Chuyến Mưa Qua của Trần Yên Hòa, Phạm Xuân Đài nhận định:
“Có thể nói Trần Yên Hòa là một sản phẩm điển hình không pha tạp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Với một chút ký ức non nớt của tuổi thơ ấu thời kháng Pháp, anh được học hành, nuôi dưỡng, thành hình ý thức chính trị, rồi vào đời hoàn toàn với khung cảnh và khí hậu của hai mươi năm tồntại của miền Nam. Truyện của anh đi sát với cảnh đời mà anh trải qua, dù là về thời niên thiếu đi học ở Tam Kỳ, lớn lên đi dạy, đi lính, hay là tình trạng xảy đàn tan nghé sau 1975, ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ. Các mảnh đời anh đề cập đến, có thể là xa tít trong quá khứ hoặc sờ thấy đượctrong hiện tại của cuộc đời tị nạn. Anh trìu mến với từng kỷ niệm, từng niềm vui cũng như từng nỗi đau. Những Chuyến Mưa Qua mời chúng ta tham dự vào các nỗi niềm của cả một thời gian dài, mà người miền Nam nào rồi cũng nhận ra mình là một phần trong đó”.
Vâng, đọc Trần Yên Hòa và một số các tác giả khác, kể cả nhũng người lớp trước hay lớp sau Trần Yên Hòa, những người đặt cả ý thức của mình vào công việc viết văn, bằng cách viết, bằng văn chương nhìn lại mình, nhìn lại hoàn cảnh đất nước, đôi khi làm chúng ta sợ. Sợ vì cái quạnh quẽ mênh mông bao phủ trên từng phận người và trên cả đất nước. Truyện của những người ở trong nước, truyện của những người ở ngoài nước, đều có chung một nỗi bơ vơ, tựa hồ con người không còn chỗ để sống. Mọi sự đều nhuốm vẻ tạm bợ. Người ta không muốn nghi ngờ ai nhưng cũng không biết tin ai. Tất cả hy vọng đều mờ nhạt. Nếu hạnh phúc của con người là một điều gì đó ràng buộc với quê hương thì bao giờ chúng ta mới tìm thấy hạnh phúc?
Nhà xuất bản Trẻ ở trong nước vừa cho ấn hành bộ Hồi Ký Trần Văn Khê. Sách được chia làm bốn tập và được đặt dưới bốn tiêu đề khác nhau.
Tập thứ nhất: Ươm Mầm Trổ Nụ
Tập thứ hai: Đất Khách Quê Người
Tập thứ ba: Bôn Ba Bốn Biển Năm Châu
Tập thứ tư: Một Gánh Nhạc, Một Cuộc Đời
Tổng cộng sách dày trên 1500 trang.
Ông Trần Văn Khê đã kể lại từ thời thơ ấu cho tới lúc ông qua Pháp du học, đậu tiến sĩ và trở thành giáo sư tại đại học Sorbonne, một trong những trường đại học danh tiếng nhất của nước Pháp. Như tác giả cho biết, ông sinh ra trong một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Bốn đời là kể đến ông thôi. Thực tế phải kể thêm các con và các cháu nội ngoại của ông nữa là sáu đời. Bởi vì riêng trưởng nam của ông, nhạc sĩ Trần Quang Hải, hiện đã là một trong những nhạc sư danh tiếng trên thế giới rồi. Về bản thân, Trần Văn Khê cho biết, ông được học nhạc từ lúc còn ở trong bụng mẹ, ông gọi là giáo thai.
Cũng theo ông, nếu không nhờ người cậu thứ Năm và thân mẫu thực hiện việc giáo thai bằng âm nhạc, chưa chắc ông đó được ngọn lửa tình yêu âm nhạc nung nấu trong lòng như ngày nay. Có thể nói ông Trần Văn Khê là một trong vài người Việt Nam bình thường, nghĩa là không từng giữ một chức vụ chính trị nào, nổi tiếng nhất, nhờ công việc nghiên cứu và giảng dạy nhạc cổ truyền dân tộc [và có thể nói, nhạc của cả vùng Đông Nam Á nữa]. Không những ông nổi tiếng trong nước, còn có thể nói, trong địa hạt chuyên môn, ông được cả thế giới coi như bậc thầy. Quả thật, theo dõi tập sách, người ta không thể nhớ hết những hội nghị, các viện đại học, âm nhạc, ông đã được mời tham dự, thỉnh giảng và được tôn kính như thế nào.
Trong lời tựa của tập sách, Trần Văn Khê viết:
“Trải qua bao nhiêu thăng trầm, tôi thấu hiểu rằng có tài năng thiên phú chưa đủ mà còn phải luôn học hỏi, trau dồi, luyện tập công phu mới đạt được kết quả tốt cho công việc.
Trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi luôn cố giữ sáng suốt để nhận chân sự việc, cùng với ý chí quyết tâm thì khó khăn đến đâu cũng sẽ vượt qua, gặp cảnh buồn cũng đốt tan thành sầu, dập tắt lửa muộn để tìm được niềm lạc quan. Trong mọi việc làm thì không vì danh hay vì lợi mà chỉ vì tình, tình đổi với người thân, với dân tộc, đất nước và rộng hơn nữa là với nhân loại”.
Đọc trên dưới một ngàn trang sách, đôi lúc độc giả có cảm tưởng như đọc một bộ tiểu thuyết có đủ vui buồn, gay cấn, hấp dẫn. Cái hấp dẫn nhất là người ta biết chắc đây là một nhân vật có thật, những chuyện xẩy ra đều là chuyện có thật. Các tình huống éo le, khó khăn luôn kết thúc một cách tốt đẹp, nhờ sự uyên bác khéo léo của tác giả. Ngoài sự uyên bác ông còn có tài hùng biện. Rất nhiều các nhân vật hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trên địa hạt văn hóa của quốc gia họ, đã nhờ có ông mà hoàn tất được vai trò đó và trong vài trường hợp, nhờ sự cố vấn của ông, họ đã giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn bế tắc, giải quyết một cách êm đẹp, đôi khi bảo
vệ được cả tự ái dân tộc của họ nữa.
Có thể nói, ông là người thứ nhất, đã hệ thống hóa được nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc một cách khoa học đồng thời đem rao giảng, truyền bá, làm cho thế giới biết tới giá trị đích thực của nó, vừa yêu mến vừa kính nể.
Riêng về các nhạc cụ Việt Nam, ông Trần Văn Khê cho biết:
“Nhạc cụ Việt Nam đa dạng và phong phú có đôi nét đặc thù mà chúng ta nên lưu ý. Hình dáng thanh nhã và cân đối, âm sắc khác nhau, tiếng thổ đàn kìm, tiếng kim đàn tranh, tiếng mộc nhịp phách, tiếng tơ đàn tỳ, tiếng đá biên khánh, bồi âm đàn bầu, hợp âm đàn đáy, nhưng nếu được chọn để hòa hợp, bổ sung cho nhau rất nhuần nhuyễn.
Cố giáo sư Emile Leipp, chuyên gia thanh học đại học Paris, sau khi nghiên cứu một số nhạc cụ Việt Nam đã ngạc nhiên nhận xét rằng: ‘Dưới các dạng đơn sơ, nhạc cụ Việt Nam có hiệu quả và năng xuất rất cao trong lãnh vực thanh học và khả năng biểu diễn”.
Tất cả các năng xuất và khả năng ấy của nhạc cụ Việt Nam, đã được ông Trần Văn Khê, trong khi giảng dạy hoặc thuyết trình tại các hội nghị âm nhạc đề cập, dẫn chứng, và công việc minh họa của ông đã trở thành các cuộc trình diễn thuyết phục đối với các sinh viên, giáo sư, các nhà nghiên cứu âm nhạc khắp thế giới.
Sau đây chúng tôi xin trích dẫn một đoạn, trong tập 3 của cuốn hồi ký, các trang 133-134, điển hình cho các công việc của tác giả: “ … tôi được mời nói chuyện mấy buổi về âm nhạc Việt Nam có cả phần minh họa trên đài phát thanh Budapest. Giáo sư Kroo – nhà nhạc học Hungary, giáo sư tạiHàn Lâm Viện List cũng là giám đốc chương trình âm nhạc đài phát thanh Budapest nói rằng tôi dạy trong lớp chỉ có vài trăm người nghe, còn ở trên đài thì những điều tôi nói sẽ có cả triệu người nghe.
Tôi hào hứng nhận lời và trong phần kết luận tôi nói:
“Trong 45 phút vừa qua, chúng tôi mới chỉ trình bày sơ lược về các thể loại âm nhạc, giống như mời các bạn ngồi trên máy bay đi một vòng nhìn xuống nước Việt Nam. Các bạn không thể dừng lại nơi nầy nơi nọ để ngắm xem các loại kỳ hoa dị thảo, chưa được nghe câu hò tiếng hát trong dân gian,những làn điệu hát chèo, hát tuồng trong truyền thống chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Các bạn cũng chưa thưởng thức nhạc thính phòng của Việt Nam. Xin hẹn một lần khác khi có dịp chúng tôi sẽ đi sâu hơn vào mỗi loại. Nghe vậy ban biên tập đài phát thanh nhờ giáo sư Kroo đến gặp tôi chuyển lời mời của họ:
Sẵn dịp có mặt tại Budapest, giáo sư có bằng lòng nói thêm hai buổi nữa về âm nhạc dân gian và âm nhạc bác học trong truyền thống âm nhạc Việt Nam không?
Lẽ tất nhiên tôi rất sẵn lòng”.
Tập hồi ký của ông Trần Văn Khê có đủ chuyện vui buồn hấp dẫn như một bộ tiểu thuyết. Sau đây là một đoạn tác giả kể lại chuyến tham dự liên hoan âm nhạc của ông tại Testour, một đô thị của Tunisie, do những người Á Rập rời khỏi Tây Ban Nha sang lánh nạn rồi xây dựng từ thế kỷ thứ 17.
“Trong liên hoan có một buổi hội thảo về nhạc cụ, nhạc khí Ả Rập, nhân dịp này tôi nói chuyện về sự di chuyển của một nhạc khí.
Chẳng hạn như đàn barbat truyền thống của Ba Tư đã theo con đường tơ lụa ngày xưa du nhập sang các nước Đông Á, được các nước xử dụng và phát triển thành một phong cách mới. Đờn này sang Trung Quốc dưới dạng Pipa, rồi qua Việt Nam trở thành tỳ bà, đến Nhật Bản biến thành bốn năm loại Biwa khác nhau, vào Triều Tiên thì do không phù hợp nên Tang pipa chỉ được xử dụng một thời gian ngắn rồi bị mai một”.
Phải nói, những người đọc sách của ông Trần Văn Khê được biết thêm nhiều thứ liên quan tới âm nhạc, không phải chỉ âm nhạc dân tộc mà còn liên quan tới âm nhạc của nhiều nước trên thế giới, kể cả sự cảm thông giữa các dân tộc qua âm nhạc mà người ta thường được nghe mệnh danh là một ngôn ngữ quốc tế.
Ông Trần Văn Khê kể tiếp:
“Ấn tượng nhứt trong dịp này là lần tôi gặp gỡ phái đoàn của Syrie gồm những sinh viên trường nhạc và các nhạc sĩ rất trẻ, tuổi chỉ từ 17 đến 25. Những bạn trẻ này đờn rất hay với tất cả những nhiệt tình say sưa. Trong buổi giao lưu, tôi đờn tranh điệu ‘sa mạc’, ngâm bài thơ ‘Anh Khóamà nội dung mô tả tâm sự bi thương của một thiếu phụ vắng chồng. Người chồng từ giã gia đình lên kinh đô thi Hương, thi Hội, những mong sau khi bảng hổ đề tên, công danh đắc lộ, thì ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau.
Người vợ ở lại nhà thay chồng nuôi mẹ già và gánh vác luôn bổn phận người cha đối với con trai. Nỗi nhớ nhung, mong đợi đã khiến nàng sầu não, tự ví mình như con ve, sống mòn mỏi qua ngày chờ đợi dáng người chồng thân yêu biền biệt không biết bao giờ mới trở về.
Khi tôi dứt lời ca, mọi người trong đoàn Syrie đều chảy nước mắt, có bạn bật khóc nức nở bỏ chạy ra ngoài”.
Ông Trần Văn Khê cho biết, sở dĩ các bạn trẻ Syrie xúc động như vậy vì điệu sa mạc của Việt Nam có âm điệu ray rứt, buồn bã, tương đồng với nhạc truyền thống của Ả Rập, do áp dụng một quãng ba trung bình giữa trưởng và thứ, giống như quãng ba Zalzal của truyền thống Ả Rập, mặc dầu họ không hiểu hết lời thơ, ý nhạc của Việt Nam.
Qua nhiều trạng huống, ông đã chinh phục được lòng yêu mến, ngưỡng mộ của rất nhiều tầng lớp người nghe của nhiều quốc gia khác nhau, gặt hái sự thành công bằng cả những giọt nước mắt xúc động, nghĩa là lòng ái mộ sâu xa nhất, không phải chỉ riêng đối với âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà ngay cả đối với nền âm nhạc của chính nước họ nữa. Thượng đế đã ban cho ông nhiều ưu điểm.
Nhưng cũng phải nói cái tài, cái học của ông, còn do chính công lao của ông hun đúc nên. Ông cũng tự nhận ông là người may mắn. May mắn vì suốt đời ông đã được theo đuổi và làm công việc ông ưa thích. Đó là cái may mắn, với hoàn cảnh như đất nước chúng ta trong suốt gần nửa thế kỷ qua, chỉ một vài người có được. Ông cũng nói, ông có thái độ chính trị chứ không làm chính trị, không đứng về phe nào cả. Nghĩa là, ông không đứng về phe quốc gia hay cộng sản. Ông làm việc chỉ để phục vụ văn hóa, đồng bào và nhân loại thôi. Có lẽ ông là người Việt Nam duy nhất có thể tìm ra cái chỗ đứng ấy, kể từ 1945 đến giờ! Thực tế, ông đã nhiều lần tỏ rõ lập trường của mình.
Một thí dụ cụ thể là khi ông về nước, được ông Trần Văn Hương, với tư cách là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đề nghị trao tặng huân chương Chương Mỹ Bội Tinh hạng nhứt mà ông gọi là của Chánh Phủ Sài Gòn, ông không muốn nhận vì “không muốn có quan hệ gắn bó gì với Chánh Phủ Sài Gòn”.
Ông viết trong cuốn hồi ký, “nếu trong buổi lễ, họ ghi là xét rằng tôi có công với chính phủ chắc chắn tôi sẽ phản đối ngay, vì danh không chính, ngôn không thuận”. Ông cho biết trong buổi lễ, ông có phần nhẹ nhõm khi nghe nội dung ghi trong quyết định trao tặng huân chương:
“Xét vì giáo sư Trần Văn Khê suốt trong nhiều năm ở hải ngoại, đã đem tiếng nhạc Việt Nam đến khắp nơi trên thế giới, gây được cảm tình của rất nhiều người trên thế giới đối với dân tộc và âm nhạc Việt Nam”.
Đó là lý do ông nhận các huy chương.
Ông kể tiếp:
“Trong lời phát biểu, tôi tránh không cảm ơn Chánh Phủ và Tổng Thống là người đã ký tên trong bảng huân chương, ‘các bạn tôi’ đều e ngại khi nhận ra điều đó. Theo đúng nghi thức đáng lẽ tôi phải tới bắt tay cảm ơn ông Hương và từng người trong Hội Đồng Chánh Phủ, nhưng tôi chỉ nghiêng đầu chào mọi người rồi trở về chỗ ngồi. Thật bất ngờ, các quan chức thấy vậy liền đứng dậy đi tới bắt tay tôi” [tập 3, trang 19]. Ở trang 189 cùng tập, ông Trần Văn Khê nói về việc ông cùng phái đoàn chuyên gia về âm nhạc học và Hội Đồng Quốc Tế Âm Nhạc sang Mỹ họp và được Tổng Thống Mỹ lúc bấy giờ là ông Lyndon B. Johnson mời vào Tòa Bạch Ốc uống trà.
Ông cảm thấy khó xử, e thẹn đối với những người “bạn” của mình đang hy sinh tánh mạng trên chiến trường. Về buổi thuyết trình có minh họa với đề tài “Âm nhạc trong đời sống của người Việt Nam” tại Los Angeles, ông
Trần Văn Khê kể tiếp trong cuốn Hồi ký như sau:
“Trước khi đánh trống, tôi nói thêm rằng, giờ phút này máy bay Mỹ có thể đang giội bom trên đất nước tôi. Một số thanh niên Việt Nam và cả thanh niên Mỹ cũng có người đang chết.
Vì vậy, tôi mong muốn buổi nói chuyện này mang tinh thần kêu gọi hòa bình cho đất nước Việt Nam để có sự hữu nghị thực sự giữa hai dân tộc”.
Sự uyên bác của ông Trần Văn Khê trong lãnh vực âm nhạc là điều giới chuyên môn cả thế giới công nhận.
Ông cũng đã mang tất cả tài sức, sở học ra để làm rạng danh xứ sở, làm cho thế giới biết đến âm nhạc Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
Ông tự xác định là một người tự do, không dây dưa gì đến chính trị.
Nhưng ông cũng nhiều lần khẳng định ông không muốn có một sự liên hệ nào với chính phủ miền Nam. Ông trách người Mỹ ném bom trên đất nước Việt Nam. Không biết có bao giờ ông tự hỏi, vì sao có cuộc chiến tranh, để bom đạn phải đổ xuống đất nước? Và đó cũng là lý do, nhiều người, nhất là những người sống ở miền Nam [trong đó có cả gia đình ông] không làm sao có thể hoàn toàn chia sẻ sự hãnh diện dù cho việc làm của ông có mang lại.
Tôi gọi là tình cũ bởi vì mối tình mà tôi sắp kể cho các bạn nghe bắt đầu từ gần 53 năm trước, năm 1968 tức năm Mậu Thân, năm tôi mười tám tuổi.
Năm 1968, tôi học đệ nhất tại trung học Nguyễn Trãi, trường nằm ở đường Trịnh Minh Thế, quận Tư, bên Khánh Hội, đối diện với kho Năm của bến cảng Sàigòn. Thông thường, tuổi mười tám là tuổi bắt đầu biết yêu, biết mơ mộng, tương tư một tà áo, một ánh mắt, một nụ cười…Tuy nhiên, thú thật tôi là thằng cả quỷnh, ngoài giờ đến trường, học, ôn bài vở ở nhà, tôi chỉ cắm cúi vào chuyện sơn, cắt, dán mấy chiếc máy bay F-86 Sabre, F-100 Super Sabre, Phantom F-4, Thunderchief F-105…theo các mẫu bằng các vật liệu nhẹ, trong khi các bạn cùng lớp, cùng lứa tuổi hay đảo quanh các thư viện, các trường nữ trung học hoặc trường tư thục có các nữ sinh tìm bạn gái hay còn gọi là đi “cua” đào.
Nhiều đứa trong lớp tôi đã có bạn gái, hẹn hò nhau đi coi xi-nê ở các rạp Rex, Đại Nam, Casino Sàigòn hay đi ăn kem Phương Lan, hủ tíu Nam Vang Thanh Xuân, uống nước mía Viễn Đông…Riêng tôi vẫn sô-lô một mình trên chiếc Honda SS-67, thoảng có những phim hay, do các tài tử nổi tiếng như Alain Delon, Jean Paul-Belmondo, Charles Bronson… đóng như Le Samurai, Adieu l´Ami…tôi mới rủ thằng bạn thân nhất là Hải, tục gọi Hải Dưới cùng đi coi cho vui.
Lúc đầu tôi cũng không hiểu tại sao Hải bị gọi là Hải Dưới, sau có thằng bạn khác giải thích rằng Việt Nam chỉ có Hải Thượng Lãn Ông là Hải Trên, còn tất cả những ai khác có tên Hải đều là Hải Dưới, nói xong nó ôm bụng cười ngặt nghẽo. Một vài thằng bạn khác ác miệng, thấy tôi hay đi cặp kè với Hải Dưới, gọi chúng tôi là “bóng”. Tuy thế, tôi cũng như Hải thuộc loại ít nói, chịu đựng, mà thế gian thường gọi là đần nên cũng không để ý những lời trêu chọc của bạn bè. Gặp hai đứa tôi đi với nhau ngoài đường phố Sài Gòn, tụi nó cứ hay phá lên cười rồi hỏi tụi tôi có đi xem phim mới ở rạp Vĩnh Lợi chưa? Sau này khi đã có bạn gái rồi tôi mới hiểu ý lũ bạn tinh quái.
Chiến sự tại miền Nam đã bắt đầu gia tăng ở nhiều nơi từ năm 64, nhưng ở Sài Gòn, nhờ vào sự chiến đấu anh dũng của quân đội VNCH, chúng tôi vẫn bình yên với đời sống học trò. Nhưng rồi mọi chuyện thay đổi khi vào đêm Giao Thừa tết Mậu Thân 1968, quân cộng sản Việt Nam vi phạm lệnh hưu chiến 3 ngày trong dịp Tết.
Lợi dụng tiếng pháo mừng xuân của đồng bào miền Nam, cộng sản đồng loạt nổ súng ở khắp nơi, tấn công vào các tỉnh, thành phố, quận lỵ, đơn vị trú đóng, đồn, bót của quân lực VNCH, khi một nửa số quân nhân VNCH với thỏa hiệp hưu chiến, được phép về nhà ăn tết, xum họp với gia đình. Cộng sản cho rằng khi lực lượng chiến đấu chỉ còn một nửa, họ sẽ ăn gỏi miền Nam vào lúc đó. Nhưng họ đã tính toán sai lầm khi đánh giá thấp tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng của quân dân miền Nam.
Sài Gòn cũng là một mục tiêu chính của quân cộng sản. Các khu vực Bình Triệu, Cây Quéo, Đồng Ông Cộ, Xóm Mới, Chợ Lớn… chìm trong lửa đạn. Gia đình tôi ở trên đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, gần ngả ba Nguyễn Minh Chiếu, tương đối bình yên nên đón gia đình bác Hiền, một người bạn của bố tôi từ Xóm Mới tản cư lên. Thế là tôi và Ngọc Dung quen nhau.
Gia đình bác Hiền chỉ có ba người, hai vợ chồng bác với Toàn, anh con trai hơn tôi ba tuổi và Dung. Ngọc Dung kém tôi một tuổi, gọi bác cả Hiền là bác ruột. Gia đình Dung sống ở Nha Trang, gần cầu Xóm Bóng, Dung vào Sài Gòn trọ học, chuẩn bị thi tú tài như tôi. Tuy kém tôi một tuổi nhưng Dung học rất giỏi, làm đơn xin miễn tuổi lúc còn ở Nha Trang, học nhẩy lớp, đậu tú tài 1 ban B hạng ưu. Nhờ học giỏi nàng xin được vào lớp đệ nhất ở Trưng Vương.
Bố mẹ tôi dành riêng cho gia đình bác Hiền tầng thứ hai trong căn nhà ba tầng mua ít năm về trước, tôi phải dọn lên tầng trên cùng chỉ có một phòng duy nhất, trước vốn chỉ dùng làm nhà kho. Nhà có 3 tầng nhưng chỉ có một nhà bếp, do đó mẹ tôi thường phải nấu ăn sớm để có bếp cho bác Hiền gái nấu sau.
Từ ngày có gia đình bác Hiền đến tạm trú, tôi cảm thấy vui hẳn lên, Tôi bớt bận bịu với những chiếc máy bay của mình mà hay lẩn quẩn bên Dung những buổi chiều nàng đi học về, phụ bác Hiền gái nấu cơm.
Dung có khuôn mặt trái soan, da trắng, đẹp thùy mị, đoan trang, nhất là giọng nói thật nhẹ nhàng, êm ái, ít người có. Vì vậy từ hôm Dung đến ở nhà tôi, lúc nào cũng có một vài chiếc xe gắn máy đủ loại từ Honda, Suzuki tới Bridgeston…rề rề theo sau những khi nàng đi học về.
Buổi tối ăn cơm xong, Dung thường lên lầu hai, nơi dành cho gia đình bác Hiền, học bài, tôi hay kiếm cớ không giải được mấy bài toán lượng giác, đem lên hỏi để được gần gũi nàng. Mỗi lần lên gặp nàng tôi đều pha hai ly cà phê sữa đá, thứ mà Dung rất thích, một cho tôi, một cho nàng, Có lẽ Dung cũng đoán biết ý đồ (đen tối) của tôi vì những bài toán nhờ nàng giúp, đa số giải dễ dàng, thình thoảng mới có bài thật sự hóc búa. Tuy nhiên nàng không hề phản đối hay tìm cách tránh né những lúc tôi lân la tìm cớ kề cận bên nàng.
Tôi yêu Dung từ những ngày tháng đó. Tin tức chiến sự hàng ngày trên Radio, trên báo chí, cảnh người dân từ nhiều nơi ở ngoại ô hay các tỉnh lân cận đổ vào thành phố, gồng gánh chạy giặc, những khuôn mặt hớt hải, những ánh mắt lo âu, những chiếc xe GMC chở đầy lính, trang bị vũ khí, phóng ào ào trên đường, tiếng vần vũ của những chiếc trực thăng Cobra bắn những tràng đạn từ súng minigun mà tiếng nổ rống lên từng tràng như những con bò không làm tôi quan tâm.
Hạnh phúc đầu đời trong tình yêu của tôi thật đơn giản, tôi cảm thấy tâm hồn mình ngây ngất, bay bổng đi đâu những khi được ngồi gần bên Dung, ngửi mùi sà bông Dove thoang thoảng từ người nàng toát ra, nghe giọng nói ngọt ngào, ngắm nụ cười tươi với hàm răng trắng đều và đôi môi đỏ hồng tự nhiên.
Thấm thoát Dung tạm trú ở nhà tôi đã được hai tháng, tình hình chiến sự đã tạm lắng, cộng quân đã bị đánh bại khắp nơi. Cuộc tổng công kích tết Mậu Thân của cộng sản hoàn toàn thất bại với số thương vong nặng nề về nhân mạng, tuy nhiên họ cũng gây được một tiếng vang trên thế giới khiến người dân Mỹ, nhất là những người có thân nhân tham chiến tại Việt Nam bắt đầu lo âu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Không biết Dung nghĩ thế nào về mình, tôi đem chuyện kể cho Hải Dưới nghe. Hải không đần như tôi, nó xúi tôi rủ Dung đi chơi, đi coi xi-nê, nếu nàng đồng ý là coi như em chịu đèn. Tôi làm theo lời Hải. Tối thứ sáu, sau khi vớ vẩn, vờ vịt chuyện học hành một lúc, tôi hỏi Dung:
-Mai em có rảnh không Dung?
Dung nhìn tôi, hơi ngạc nhiên:
-Mai thứ bẩy hả? Có chuyện gì không anh?
-Anh định rủ em đi chơi ngày mai để cám ơn em đã kèm toán cho anh bấy lâu nay.
Dung nhìn tôi mỉm cười, ánh mắt tinh nghịch:
-Em phải cám ơn anh mới đúng. Cám ơn anh đã pha cho em những ly cà phê sữa đá thật ngon, giúp em tỉnh táo học bài tới khuya.
Nói xong Dung cúi mặt, có vẻ suy nghĩ, trong lúc tôi vẫn nhìn nàng chờ đợi vì chưa có câu trả lời rõ ràng đi hay không. Độ chừng một phút sau, khoảng thời gian tôi thấy dài như cả tháng, Dung mới ngẩng lên, gật đầu nhè nhẹ:
-Dạ! Nhưng anh phải xin phép bác Hiền cho em.
Tôi mừng quá, không dằn được chụp lấy bàn tay nàng:
-Cám ơn em! Sáng mai anh sẽ xin phép bác.
Dung để yên tay nàng trong tay tôi vài ba giây rồi ý tứ, nhẹ nhàng rút tay ra khỏi tay tôi:
-Chiều mai từ 2 giờ em có thể đi chơi với anh, nhưng phải về trước 6 giờ để phụ bác em nấu cơm. Bây giờ thì anh có thể đi nghỉ để em học bài tiếp nha.
Ngày hôm sau trời nắng đẹp, lúc xin phép, tôi chỉ sợ bác Hiền không cho Dung đi chơi với tôi nhưng không ngờ hai bác chấp thuận ngay, có lẽ cũng do quen biết với cha mẹ tôi đã lâu. Riêng bố mẹ tôi tuy không theo Tây học, cũng không ngăn cấm anh em chúng tôi trong vấn đề giao thiệp với bạn trai gái.
Tôi chở Dung ra Sài gòn trên chiếc Honda SS-50 màu đen. Ngồi một bên trên xe, nàng rất giữ ý, kê một cái túi đeo vai nhỏ bằng vải giữa tôi và nàng, tay phải đặt nhẹ lên hông tôi chứ không ôm. Dù vậy tôi cũng thấy rất hạnh phúc, sung sướng vì là lần đầu tiên đi chơi với bạn gái.
Sau khi gửi xe, tôi và Dung đi bộ lang thang trên đường Lê Lợi, vào nhà sách Khai Trí coi vớ vẩn vài quyển mới xuất bản, vào tiêm kem Phương Lan giải khát. Ăn kem xong, tôi rủ Dung đi coi xi-nê, nàng có vẻ hơi ngần ngại nhưng rồi chiều theo ý tôi, đồng ý vào rạp Rex coi phim The Thomas Crown Affair với hai tài tử Steve McQueen và Faye Dunaway.
Lúc mua vé, Dung nhất định không để tôi trả tiền, viện lý do là tôi đã trả tiền trong tiệm kem Phương Lan. Tôi đành chiều theo ý nàng. Chiều thứ bẩy, phim hay nên rạp khá đông, hai đứa tôi vào rạp lúc đang chiếu quảng cáo, giới thiệu các phim khác. Đứng trong bóng tối, Dung nắm tay kéo tôi sát vào người nàng thì thầm vào tai tôi:
-Đứng đây một chút đi anh! Quen mắt với bóng tối rồi hãy tìm chỗ ngồi.
Sự va chạm nhẹ nhàng giữa hai thân thể, dù qua đôi ba lần vải cùng với mùi sà bông Dove mà Dung hay dùng khiến tôi đê mê, ngây ngất. Tôi nghĩ thầm, có đứng đây với Dung cả tháng cũng được.
Mấy phút sau, khi đã quen mắt, thấy ít ghế trống ở hàng trên cùng, tôi nắm tay Dung đi lên. Lúc đặt người xuống, tôi cố ý ngồi sát vào nàng, hai bàn tay vẫn không rời nhau. Dung nhìn tôi, mỉm cười không nói gì, không xích người ra như những lúc ở nhà, luôn có khoảng cách giữa hai đứa.
Ngồi cạnh Dung mà hồn tôi bay bổng nơi đâu, phim diễn tiến thế nào tôi không biết bởi mắt nhìn mà không thấy, tôi mê mải ngụp lặn trong thời gian hạnh phúc bên cạnh Dung.
Không biết phim chiếu được bao lâu thì tôi thu hết can đảm, choàng tay phải qua vai Dung kéo nàng vào người. Dung không phản đối, tựa đầu vào vai tôi.
Không dằn được cảm xúc, tôi quay mặt định hôn nhẹ lên má nàng thì đúng lúc Dung quay mặt lại, thế là chúng tôi trao nhau nụ hôn đầu đời.
Lúc ra khỏi rạp, Dung cười tinh nghịch hỏi:
-Anh thấy phim hay không?
Tôi cũng cười nheo mắt nhìn nàng:
-Anh không biết! Em thấy hay không?
Dung mỉm cười, mặt đỏ bừng:
-Mai mốt không đi coi xi-nê với anh nữa!
Tình cảm giữa tôi và Dung tưởng chừng sẽ kéo dài, không ngờ lại chấm dứt nhanh chóng. Cuối tháng tư 1968, khi tình hình Sài Gòn trở lại vẻ yên ắng, cộng quân đã bị đánh bật ra khỏi thành phố, mọi sinh hoạt thành phố đã gần như bình thường, gia đình bác Hiền trở về Xóm Mới.
Buổi tối thứ hai đầu tuần, trước ngày Bác Hiền dọn ra, sau khi học bài, cầm hai ly cà phê sữa đá, lên lầu tìm Dung, thấy nàng lay hoay sắp xếp đồ đạc cá nhân, sách vở cho vào cái va-li (valise), tôi ngạc nhiên hỏi:
-Em làm gì vậy?
Dung cúi mặt trả lời, không ngước nhìn tôi:
-Mai em về lại Xóm Mới!
Tôi bàng hoàng, mải mê trong hạnh phúc, tôi không hề nghĩ đến chuyện lúc nào Dung và gia đình bác Hiền sẽ dọn về lại Xóm Mới khi tình trạng giao tranh đã chấm dứt trong thành phố.
Biết hai vợ chồng bác Hiền đang ngồi nói chuyện với bố mẹ tôi ở salon phòng khách, tôi đặt hai ly cà phê xuống bàn, nơi tôi và Dung hay ngồi cạnh nhau, tiến lại gần, định ôm Dung vào lòng nhưng nàng thấy tôi đến gần đã vội lảng ra xa, nói nhỏ:
-Đừng anh! Hai bác thấy thì chết em!
Chỉ cái ghế nơi tôi thường ngồi, Dung nhẹ nhàng nhưng rất cương quyết:
-Anh ngồi xuống ghế đi! Em cho anh cái này!
Tôi làm theo lời Dung, ngồi xuống khuấy ly cà phê, nhìn nàng chờ đợi. Dung lấy ra một bao thư không dán trong một cuốn sách đưa cho tôi. Mở ra, bên trong bao thư chỉ là một tấm hình bán thân, trắng đen cỡ 6×9 của Dung. Tôi quay nhìn mặt sau của tấm hình, Dung chỉ ghi vỏn vẹn mấy chữ “Thương tặng anh yêu, Ngọc Dung” cùng với ngày tháng, chữ ký của nàng.
Tôi đẩy một ly cà phê về phía Dung:
-Em uống đi!
Dung lắc đầu, cố gắng đè nén cảm xúc, nhưng giọng nói có vẻ hơi run:
-Không! Tối nay em không uống cà phê! Anh về nghỉ đi, mai anh còn đi học. Rảnh anh lên bác Hiền thăm em.
Biết Dung không muốn biểu lộ tình cảm lúc sắp chia tay, tôi lặng lẽ cầm hai ly cà phê đứng lên về phòng mình. Tối hôm đó tôi mất ngủ bởi những hình ảnh chia ly, những nghĩ ngợi xa xôi. Dù biết rằng Phú Nhuận – Xóm Mới chẳng xa gì cho lắm, chỉ 15-20 phút xe gắn máy là tới, tôi vẫn có linh cảm sẽ mất Dung từ ngày hôm đó.
Linh cảm của tôi đã không sai. Ngày hôm sau thứ ba, lúc đi học về, gia đình bác Hiền đã dọn ra. Chiếc Yamaha-Dame với cái bửng màu xanh dương của Dung không còn. Lầu hai nơi gia đình Bác Hiền và Dung ở thời gian qua đã được dọn dẹp sạch sẽ. Mẹ tôi nói tôi có thể trở về phòng cũ của mình.
Tôi vẫn cố gắng đi học bình thường như trước nhưng tâm trí chỉ nôn nóng, mong mau tới thứ bẩy sẽ xuống Xóm Mới tìm Dung.
Sáng thử bẩy, chưa 8 giờ, ăn vội đĩa bánh cuốn mẹ tôi mua ở đầu chợ Lò Đúc, tôi lấy xe chạy xuống nhà bác Hiền. Hai bác đi vắng, chỉ có anh Toàn ở nhà. Thấy tôi, anh Toàn có vẻ ngạc nhiên, mở cửa hàng rào cho tôi dắt xe vào sân:
-Vào đi Huy! Có chuyện gì quan trọng không? Bố mẹ anh đi vắng rồi.
Thấy chiếc Yamaha của Dung vẫn để trong phòng khách, nghĩ Dung có ở đó, tôi lắc đầu:
-Dạ không! Em chỉ muốn xuống thăm Dung!
Anh Toàn lại tròn mắt nhìn tôi:
-Ủa? Dung không nói gì với em hết sao? Nó về Nha Trang hôm thứ năm rồi. Mẹ nó bệnh nặng không người chăm sóc, có lẽ nó sẽ ở lại, học và thi cử ngoài đó luôn. Tội nghiêp cho nó, Dung là con một, vào đây trọ học vì bố mẹ nó không hòa thuận với nhau, đã li dị ở riêng. Nó thương cả hai người, không muốn làm mất lòng ai, không muốn nhìn thấy những tranh chấp giữa bố mẹ nên mới tìm vào học ở Sàigòn.
Tôi bàng hoàng cả người mất mấy phút. Những ngày ở nhà tôi, anh Toàn và tôi không nói chuyện nhiều với nhau nhưng có lẽ anh cũng biết tình cảm giữa tôi và Dung. Anh nhìn tôi ái ngại:
-Anh có địa chỉ của Dung ở Nha Trang. Em có cần liên lạc, thư từ gì anh đưa cho.
Tôi cố gắng bình thản để giọng nói không run:
-Dạ thôi! Chắc thế nào Dung cũng viết thư cho em!
Nói xong tôi chào anh, dắt xe ra về lòng thầm nghĩ, nếu Dung yêu và nhớ tôi, Dung sẽ viết thư cho tôi. Tuy nhiên tôi cũng tự trách mình, yêu Dung nhưng tôi hoàn toàn không tìm hiểu, hỏi han, không biết gì về gia đình nàng. Tôi mặc nhiên coi Dung như con bác Hiền, tôi đúng là một thằng đần.
Những tháng ngày sau đó, tôi cố gắng vùi đầu vào chuyện học hành, gạt bỏ hết mọi chuyện, quên đi hình ảnh của Dung vì ngày thi sắp đến. Cũng may là năm đó, tôi đậu tú tài 2 với hạng bình thứ. Bố mẹ tôi có vẻ hài lòng, muốn lo cho tôi đi du học tự túc ở Canada sau khi tôi thi vào trường kỹ sư Phú Thọ không đậu, nhưng tôi từ chối, tỏ ý không muốn đi ra ngoại quốc. Chính bản thân tôi lúc đó cũng không hiểu rõ lý do tại sao.
Ở lại Sài Gòn, tôi ghi danh SPCN (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles) ở Đại học Khoa học. Xa mặt thì cách lòng, thật đúng như thế, nỗi buồn vì xa Dung khuây khỏa dần, phần không gặp gỡ, không nhận được thư từ, tin tức gì của Dung, phần chương trình SPCN quá nặng, tôi không còn tâm trí để nghĩ đến chuyện khác.
Cuối tháng sáu 1968, chính phủ VNCH ban hành lệnh tổng động viên. Đa số bạn học của tôi, những người sinh năm 1949-1950 không có tú tài 2 đều phải trình diện nhập ngũ vào cuối năm đó.
Tôi học gần hết năm dự bị SPCN thì bạn bè Nguyễn Trãi, nhìn lại chẳng còn gặp được mấy đứa, hầu hết đã nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, đứa đang ở quân trường, đứa đã ra đơn vị, khắp các binh chủng. Mấy thằng còn lại đang rủ rê nhau gia nhập vào không quân, hải quân…với hy vọng được đi Mỹ du học.
Khi tin tức chiến sự ngày càng tăng, những cảnh biểu tình của sinh viên với phong trào đòi tự trị đại học bị giật dây bởi đám sinh viên thân cộng khiến tình hình chính trị miền Nam càng lúc càng xáo trộn, rối rắm làm tôi hoang mang và bắt đầu chán chuyện học hành, sách vở.
Một buổi chiều tháng sáu, đang nằm nhà chờ kết quả thi viết chứng chỉ SPCN thì Hải Dưới chạy chiếc Honda S-90 màu đỏ, ghé rủ đi nhậu.
Tôi theo nó vào trong Chợ Lớn, ngã sáu Nguyễn Tri Phương, đến một quán nhậu nằm trên cái sân trải đá xanh nhỏ tiếp giáp lề đường, sát ngang hông tường một trường học Tàu.
Hai thằng làm hết sáu lon bia Budweiser, bốn hột vịt lộn và chừng chục thau nghêu với bánh tráng nướng. Lúc sương sương rồi, Hải cho tôi biết nó rủ tôi đi nhậu để từ giã. Nó đã nhận được giấy báo thứ hai tới nhập ngũ theo học khóa 21 sĩ quan hải quân Nha Trang, đơn tình nguyện nộp từ mấy tháng trước, thủ tục khám sức khỏe cũng đã xong.
Vậy là thằng bạn thân nhất cũng sắp xa tôi. Hải cũng cho biết không quân đang tuyển sĩ quan phi hành và không phi hành, khuyên tôi nên kiếm đường binh trước cho ngon lành, chờ tới lúc có giấy gọi trình diện thì chỉ có vào trường bộ binh Thủ Đức.
Mấy ngày sau, giấu bố mẹ, theo lời Hải, tôi đến cổng Phi Long phi trường Tân Sơn Nhất xin mẫu đơn gia nhập không quân rồi lặng lẽ điền đơn, chụp hình, photocopy bằng tú tài 2, giấy khai sanh, thẻ căn cước…đem nộp thẳng tại văn phòng tuyển mộ.
Ước nguyện tôi ghi trong đơn là mong muốn trở thành phi công khu trục tức chiến đấu cơ. Ước muốn này trước đây, thỉnh thoảng cũng hiện lên trong suy nghĩ của tôi nhưng không mãnh liệt cho lắm.
Đến lúc nhận được giấy báo đi khám sức khỏe của ban tuyển mộ tôi mới cho bố mẹ tôi biết. Có lẽ biết rằng dù tôi có tiếp tục học nữa thì trước sau cũng phải đi lính bởi tôi đã có hai anh trai du học ngoại quốc, tôi được hoãn dịch chỉ vì lý do học vấn nên bố mẹ tôi cũng không phản đối, la rầy.
Khám sức khỏe xong. Kết quả tốt, tháng tám năm 1969 tôi được đưa đi học quân sự giai đoạn 1, tám tuần lễ ở trung tâm huấn luyện Quang Trung. Hết giai đoạn 1, được mấy ngày phép về nhà chờ đi học giai đoạn 2, tôi nhận được thư của Dung từ Mỹ gửi về. Lá thư khiến tôi ngỡ ngàng không tin được mắt mình.
Dung không viết nhiều, chỉ vắn tắt cho biết, sau khi về Nha Trang được hai tuần thì mẹ nàng chết. Không còn phải thấy cảnh lục đục giữa bố mẹ, nàng về sống với bố và thi đậu tú tài 2 tại Nha Trang với hạng tối ưu. Với hai bằng tú tài ưu hạng, Dung được một học bổng qua Mỹ học về điện tử và lên đường vào cuối tháng tám năm ngoái.
Đau buồn vì tang mẹ và không muốn để tình cảm nam nữ chi phối, ảnh hưởng chuyện học hành khi hai người ở cách xa nhau, đồng thời tránh cảnh buồn bã lúc chia tay chưa biết bao giờ gặp lại, Dung quyết định không gặp tôi trước khi đi Mỹ. Hơn một năm sau khi thấy lòng đã bình yên, nàng mới viết thư cho tôi, chúc mọi sự tốt đẹp và khuyên tôi nên quên nàng đi.
Bên ngoài bao thư có tên người gửi, thành phố nhưng không có số nhà, tên đường, số vùng. Tôi gấp lá thư lại, nhét vào một cuốn sách. Một cảm giác bâng khuâng, trống vắng lẫn tiếc nuối len vào người, kéo dài cả mấy ngày sau đó. Khi vào quân trường Thủ Đức với tám tuần lễ huấn nhục, cảm giác đó mới chấm dứt. Gần hết giai đoạn 2 quân sự, tôi được rút về bộ Tư Lệnh Không Quân trước khi Thủ Đức mãn khóa.
Những năm tháng sau đó, học Anh ngữ, đi Mỹ học bay, ra đơn vị, rồi hành quân liên tục với những ngày bay bổng có khi tới 8 tiếng đồng hồ trên phi cơ…tôi bị cuộc sống cuốn hút đi. Những mối tình vụn vặt, ngắn ngủi với những người đàn bà gặp gỡ ở các phi trường, căn cứ đóng quân không để lại cho tôi nhiều kỷ niệm, nhưng hình ảnh của Dung cũng mờ nhạt dần trong tâm trí, tôi hầu như quên bẵng mối tình đầu.
Tháng tư 1975, tôi bị kẹt lại không di tản kịp khi cộng sản chiếm được miền Nam. Đi tù gần 5 năm, trở về được ít tháng, bố mẹ tôi tìm đường cho tôi vượt biên. May mắn tàu tôi tới Thái Lan không bị hải tặc. Nằm trên đảo chưa tới 6 tháng, với những giấy tờ, bằng cấp còn giữ, tôi nhanh chóng được định cư ở Mỹ.
Năm 2005, một buổi chiều khoảng 4-5 giờ, gần tan sở nhưng tôi còn đang làm việc, con gái tôi lúc đó 15 tuổi, gọi điện thoại nói tôi về nhà chở nó đi bác sĩ gấp, cả người nó bị nổi allergy đỏ và ngứa không chịu nổi. Tôi phải bỏ dở công việc, lái xe ngay về nhà. Trong lúc lái xe, dùng GPS kiếm bác sĩ da và Allergist, thấy tên Dr. Nancy Luong chỉ cách nhà khoảng 3 miles, tôi liền gọi điện thoại báo trước.
Lúc làm thủ tục nhận bệnh nhân ở quầy reception, thấy tấm bằng chuyên khoa Allergology ghi Luong Ngoc Dung Nancy treo trên tường, dù biết tên họ trùng là chuyện bình thường, nhưng tôi vẫn có cảm giác nôn nào kỳ lạ muốn gặp ngay người bác sĩ này.
Chờ khoảng 30 phút con gái tôi được gọi vào khám. Cánh cửa phòng khám vừa mở ra, nhìn vào trong tôi nhận ra ngay người nữ bác sĩ tên Nancy Lương chính là Ngọc Dung của tôi ngày trước, dù thời gian đã làm khuôn mặt nàng già đi rất nhiều. Tuy nhiên tôi yên lặng, không lộ cử chỉ khác lạ để tỏ vẻ quen biết nàng. Không biết Dung có nhận ra tôi không?
Trời ơi! 37 năm tôi mới nghe lại giọng nói của Dung, hơi khàn đi theo thời gian nhưng vẫn ngọt ngào như ngày nào khi nghe nàng khám, hỏi bệnh con gái tôi. Cử chỉ của Dung, từ vạch áo coi những chỗ nổi mề đay, mẩn đỏ trên da, hỏi từng chi tiết rõ ràng trước khi bị allergy ăn uống thứ gì, đến đo huyết áp, chích cho nó một mũi cortisone đều rất dịu dàng, từ tốn.
Khi xong mọi chuyện, trao cho con gái tôi một vỉ thuốc antihistamine, Dung mới quay sang nhìn tôi, mỉm cười:
-Con gái anh Huy hả? Cháu đẹp quá! Giống anh ghê. Anh để cháu nằm đây độ một giờ để em coi cháu có bị nặng hơn không? Anh ngồi đây với cháu chờ em một chút. Em còn hai người khách nữa, khám xong em sẽ nói chuyện với anh. Nói xong nàng đi qua phòng khám bên cạnh bằng một cánh cửa thông nhau.
Đến lúc đó tôi mới biết Dung cũng đã nhận ra mình sau 37 năm dài không gặp lại. Con gái tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Dung biết tên tôi. Nó hỏi tôi:
-Bố quen bà bác sĩ này hả?
Tôi gật đầu cười, thì thầm vào tai nó. Nó tròn mắt nhìn tôi:
-Really?
Nói nửa tiếng nhưng cũng phải 40 phút sau Dung mới quay lại với bố con tôi. Vạch áo nhìn lưng, bụng, khám lại cho con gái tôi thêm lần nữa Dung nói:
-Bớt sưng, bớt đỏ nhiều rồi đó cháu! Không có gì phải lo nữa. Cháu bị bệnh này gọi là contact allergy. Cháu còn thấy ngứa không? Nhớ đừng có ăn tôm, cua, đồ biển hay rờ, chạm vào những thứ đó nữa nghe cháu. Vỉ thuốc cô đưa hồi này, về nhà thấy ngứa uống ngay một viên nghe, không ngứa thì thôi.
Con gái tôi lắc đầu:
-Dạ! Bớt nhiều lắm rồi cô!
Đến lúc đó Dung mới quay sang tôi:
-Anh qua đây lâu chưa?
Thấy tôi nhìn đồng hồ, Dung hiểu ý:
-Đã 7 giờ hơn, em cho thư ký đóng cửa phòng mạch rồi. Giờ mình có thể nói chuyện với nhau. Thường em đóng cửa phòng mạch lúc 6 giờ. Hôm nay có thêm cháu với hai bệnh nhân nữa nên mới đóng trễ đó.
Thấy tôi và Dung gọi nhau bằng anh em, con gái tôi tế nhị đứng lên:
-Cháu ra ngoài phòng chờ nghe cô!
Dung gật đầu, con gái tôi liền bước ra ngoài, lịch sự khép của phòng khám lại. Chúng tôi ngồi đối diện với nhau, nhìn nhau im lặng thật lâu, mãi lúc sau tôi mới lên tiếng:
-Nhanh quá Dung nhỉ, mới đây mà đã 37 năm rồi. Anh không ngờ gặp lại em. Lúc mới vào phòng mạch, thấy tên em, anh có cảm giác nôn nao lạ lùng lắm dù biết rằng tên họ giống nhau rất nhiều. Hơn nữa hồi em đi du học, anh nhớ rằng em nói đang học về điện tử.
Dung gật đầu:
-Em học điện tử hai năm đầu, năm thứ ba mới đổi sang y khoa. Em đổi sang y khoa cũng có nguyên nhân, để hôm nào rảnh em kể anh nghe.
Thấy cả hai bàn tay Dung không đeo nhẫn, tôi hỏi:
-Gia đình em ra sao? Em được mấy cháu?
Dung nhìn tôi lắc đầu, nhìn lên cái đồng hồ digital treo trên tường có cả ngày tháng rồi mới nói:
-Em có một đời chồng người Mỹ, cũng là bác sĩ, anh ấy chết cách đây năm năm hơn rồi. Em không có đứa con nào hết. Hiện em sống một mình, nhiều lúc cũng thấy trống vắng, buồn dễ sợ, nhất là những ngày cuối tuần hay ngày lễ. Ngày thường công việc của bác sĩ cũng bận rộn nhiều, do đó nhiều lúc em thấy sợ cuối tuần lắm.
Lòng tôi chợt rộn lên một niềm vui khi nghe Dung nói vậy. Tôi mỉm cười nhìn nàng âu yếm. Thấy ánh mắt và nụ cười của tôi, Dung ngạc nhiên:
-Đời em buồn quá, có gì đáng cho anh cười?
Tôi lắc đầu, xoay xoay hai bàn tay trước mặt nàng. Dung chợt hiểu:
-Anh ly dị vợ hả? Bao lâu rồi?
Tôi gật đầu:
-Cách đây hai năm. Anh có hai đứa con, con trai lớn hiện là sĩ quan cảnh sát ở Chicago, còn con Jennifer đang sống với mẹ nó. Chỉ lúc nào cần gì như đưa đi bác sĩ bất ngờ như hôm nay nó mới gọi cho anh hoặc anh muốn đưa nó đi chơi đâu thì phải gọi hay plan cho nó biết trước. Anh cũng đang sống một mình.
Tôi thấy mắt Dung sáng lên một niềm vui. Nàng cười nhẹ:
-Vậy anh có định rủ em đi ăn kem Phương Lan ngày thứ bẩy này không?
Tôi lắc đầu:
-Không! Anh chỉ muốn rủ em đi coi phim The Thomas Crown Affair mới được quay lại năm 1999 với Pierce Brosnan và Rene Russo đóng vai chính, nhưng không biết rạp nào chiếu và cũng không biết em còn chịu vào xi-né với anh nữa không? Tuy nhiên nếu em thích, mỗi ngày anh sẽ pha cho em một ly cà phê sữa đá.
TÔI đáp máy bay từ Caracas đi Ba Lê với một chiếc va li đựng ba kí rưỡi trang giấy đánh máy. Vé khứ hồi mua chịu. Tôi quá nôn nả tiếp xúc với nhà xuất bản nên có thể sẽ phải đương đầu với cảnh sát ở phi trường Orly. Mong sao người ta không bắt tôi lại để tống đạt và bảo tôi ký lệnh cấm lưu trú suốt đời ở Ba Lê! Trong trường hợp tôi phải đi xin xỏ ở tại một văn phòng thê thảm một giấy phép lưu trú, thật là chán chết. Sau ba mươi tám năm, chắc hẳn tên tôi không còn trên danh sách những người cần phải theo dõi.
Số 8 đường De Nesle, Nhà Xuất bản Jean Jacques Pauvert. Từ Caracas, một đô thị với những đại lộ rộng lớn hiện đại, tôi đến đây đi vào một con phố hẹp, bẩn thỉu, một tòa nhà loang lổ. Sân nhà cũng tồi tàn như con đường. Những tảng đá lớn, những tảng đá của những đường phố Ba Lê cách đây một trăm năm, một cổng lớn dành cho các xe độc mã, song mã vào ra thời trước. Chưa kể mỗi lần đi ra, phải tính rất sít sao. Một tầng lầu cao phải leo lên, một cầu thang với những bậc cấp đã cũ kỹ, thật chẳng khác nào cổng vào phòng tối trong nhà tù ở Caen. Trời! Nhà xuất bản Pauvert có một bộ mặt không làm cho mình vững tâm chút nào.
Mặc dù tôi tự bảo đây là khu phố cũ kỹ nhất của thành phố Ba Lê, và có cả đống thằng có bộ óc đầy kiến thức mỹ thuật hay nói đúng hơn, những thằng không phải tụi ấy, sẵn sàng chết để không ai động đến một viên đá ở đây. Nhưng đối với một thằng từ Nam Mỹ sang với một quả bom hy vọng trong tay, khung cảnh này không có vẻ gì là “đại tư bản” hết.
Tuy nhiên, ở từng lầu nhất, khung cửa khá đẹp, đánh xi cẩn thận, một khung cửa mênh mông như của một văn phòng chưởng khế tỉnh lẻ. Phía trên, hàng chữ bằng đồng bóng lộn: Jean Jacques Pauvert, nhà xuất bản.
Cửa mở bằng cách bấm nút. Trong nhà này, người ta không sợ kẻ trộm. Thật ra trong cái hang này chỉ có giấy mà thôi. Dù sao, tụi mình mở cửa cũng gây thêm chút tự tin.
Tôi đã cẩn thận báo trước bằng điện thoại:
– Allô! Ông Castelnau? Đây là Charrière.
– Kìa! Ông điện thoại từ Caracas phải không?
– Không, tôi đang ở Ba Lê.
– Hay quá!
Ông ta không thể tin nổi và mời tôi đến trong buổi chiều.
Bên trong cửa, hai người đang chờ, trên đùi có tập bản thảo. Sau khi cô thư ký mời tôi ngồi, một bà già nghiêng mình về phía tôi nói: “Tôi mong ông không gấp lắm, vì tôi đã chờ một lúc lâu rồi”.
– Không, tôi không gấp.
Một phút sau:
– Ông Charrière, gặp ông ở đây thật không tin nổi!
Một người khoảng 40 tuổi, dáng dấp còn trẻ, tươi cười, khuôn mặt dễ thương, gầy như một cây đinh. Ông ta như đang bơi trong bộ quần áo đã trải qua nhiều mùa mưa nắng.
Ông ta tự giới thiệu:
– Jean Jacques Castelnau. Ông cười, nói tiếp: – Quả thật, không thể tin được! Tôi chờ đợi tất cả, trừ việc gặp ông tại đây.
Ông ta nhã nhặn, vui vẻ kéo tôi lại văn phòng. Văn phòng được sưởi ấm, khắc khổ, nhưng trang hoàng đẹp mắt bằng một tủ đầy ắp sách và đủ loại tranh vẽ cùng giấy quảng cáo dán trên bốn bức tường.
– Tôi hết sức ngạc nhiên được gặp ông ở đây. Xin lỗi ông, sau khi gửi thư đi, tôi trông đợi các tập vở kia chứ quả thật không trông đợi ông.
– Ông ngạc nhiên vì một người bị phá sản đã đi từ Caracas chỉ vì một bức thư không ràng buộc gì ông hết, phải vậy không?
– Ông thấy không, tôi bị phá sản, đúng vậy, nhưng tôi vẫn trả tiền thuê nhà và tiền điện thoại.
– Điều quan trọng là ông đã đến đây. Chắc Jean Jacques sẽ bằng lòng lắm. Ông có đem tập bản thảo chứ? Đã viết xong hết chưa?
– Có bản thảo đây. Đã xong và đầy đủ.
– Có đây không?
– Không, ngày mai tôi sẽ đem đến. Hôm nay chỉ để tiếp xúc xã giao.
Chúng tôi nói chuyện một lúc thì một người trẻ cao lớn, đôi mắt trong sáng, nụ cười dễ mến bước vào: “Xin giới thiệu Jean Castellin” Castelnau nói.
– Hân hạnh. Tôi là Henri Charrière. Ông trùng tên với một tên tù trong sách tôi. Không phiền chứ?
– Không bao giờ, anh ta cười nói. Tôi đã đọc các đoạn trong sách ông và thấy rất hay. Xin mừng ông.
Anh ta đi ra. Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa, rồi tôi đứng lên:
– Hẹn ngày mai.
– Sao, chúng ta đi ăn với nhau chứ?
– Xin cảm ơn ông, ngày mai vậy.
– Ngày mai gặp lại, với các tập vở.
– Với tất cả các tập vở.
Tôi về nhà cháu Jacques ở ngoại ô. Nó biết Ba Lê như túi áo của nó và có ý kiến khá xác thực về giới văn chương vì nó làm việc cho báo Paris Match. Nó cũng là một nghệ sĩ. Nó đợi tôi với Jacquelinne, người vợ khả ái của nó, làm nghề trang trí và hai đứa con gái, trong một biệt thự xinh xắn có vườn chung quanh.
– Thế nào, cậu? Jacques hỏi khi tôi vừa khép cửa lại.
– Thế này… và tôi kể lại cho nó nghe. Thằng cha Castelnau, dễ thương hết sức, vân vân.
– Còn Pauvert?
– Cậu không gặp.
– Cậu không gặp ông ta?
– Ừ không!
– Theo cậu, như vậy là triệu chứng tốt hay xấu?
– Theo cậu nghĩ, người điều khiển việc xem các bản thảo và quyết định trước tiên là Castelnau. Thằng chả chắc làm việc theo kiểu các nhà doanh nghiệp Hoa Kỳ.
– Cậu muốn nói gì?
– Như trong tất cả mọi dịch vụ, mọi đề nghị đều được các cộng sự viên xem xét cẩn thận, rồi trình bày các lý do khiến họ xin chấp thuận cái này cái nọ, một tác phẩm hoặc một kiểu vòi nước mới. Và cuối cùng lão chủ lớn quyết định. Vì hắn chưa hề tiếp xúc với cậu, chưa đi ăn, đi nhậu, nghĩa là chưa có dịp quen biết cậu, vì hắn chưa phát biểu một lời khen hoặc một sự phấn khởi nào, nên khi hắn quyết định là mình đến máy chém rồi: chặt đầu hay thoát chết. Rồi sau đó hắn bắt đầu phân bua: “Ông hiểu cho, không có gì đặc sắc, mấy anh cộng sự viên của tôi bốc đồng nhanh quá, vì không phải họ trả tiền nên họ không thiệt gì hết, nhưng tôi thì khác. Bây giờ, có lẽ chúng ta có thể thử xem lại, dĩ nhiên là nếu ông chịu làm việc với chúng tôi với những điều kiện khiêm nhường hơn”. Thằng cha Pauvert, chắc là một thằng như vậy.
– Cậu quá chán đời!
– Trái lại, cậu rất sành tâm lý cháu ạ. Bởi vì, cậu nói cho cháu biết: Khi một anh già như cậu, đã sống trong địa ngục như cậu đã sống, nay trở về, vượt 12.000 cây số bằng máy bay để đưa cho cháu những trang giấy kể lại những nỗi khổ ải, nếu trong bụng cháu còn có một ít tình cảm, một ít nhân ái, dù cháu có bận gì đi nữa, cháu cũng đều nói một lời chào đón, chỉ một lời thôi. Hắn không đến, thế thì không cần phải rọi kiếng làm gì cho mệt, ruột gan của hắn đã rõ ràng: giống như một số doanh nhân Hoa Kỳ, tiền của hắn chỉ đập theo nhịp kim tiền. Cháu tin như vậy đi.
Nghe tôi nói như vậy, vợ chồng Jacques cười ngặt nghẽo.
Tôi thức dậy sớm để có mặt đúng mười giờ ở Ba Lê.
Tôi mang theo 620 trang của tập bản thảo đánh máy. Xe tắc xi để tôi ở góc đường De Nesle và đường Dauphine, và tại chỗ ấy, trên lề đường, trước một quán nước, có Jean Jacques Castelnau.
Anh ta mặc áo choàng ấm, như thế phải lắm vì trời khá lạnh, mà gầy như anh, không có mỡ để che chở. Anh tiến về phía tôi:
– Ồ, ông đã đến! Chúng ta đi uống cà phê nhé?
Phải chăng anh ta chờ tôi trên lề đường? Rồi sẽ biết!
– Từ hôm qua đến nay, khỏe chứ, ông Castelnau?
– Cảm ơn ông. Tập bản thảo trong chiếc va li nhỏ ấy phải không.
– Vâng.
Người ta đem ra hai tách cà phê.
– Ông cho phép, tôi xin liếc qua một chút?
– Vâng (thằng chả nôn nả lắm, hẳn thích rồi).
Chiếc va li nhỏ bằng vải nằm trên bàn quán nước, khóa phét mơ tuya đã kéo ra.
Và anh chàng Castelnau vui tính, khả ái, nhã nhặn để mặc tách cà phê nguội hẳn, cặp mắt nhà nghề của anh lướt nhanh trên các trang giấy, hết đoạn này đến đoạn khác. Tôi nhìn anh. Khuôn mặt đăm chiêu, cặp mắt hơi nhíu lại, căng thẳng. Thằng chả đã quên tôi rồi. Đây là triệu chứng tốt.
– Thế này, anh Charrière, hôm nay là thứ năm, tôi sẽ đọc tập bản thảo dày cộm này trong ngày nghỉ cuối tuần rồi thứ hai anh đến gặp tôi, tôi sẽ cho anh biết chúng ta phải làm gì. Khỏi phải nhọc công leo lên văn phòng tôi, chúng ta đã nói những gì cần nói rồi. Đồng ý?
– Tốt lắm.
– Bây giờ chào anh và hẹn thứ hai.
Anh ta nói những điều trên với một thái độ cởi mở, một nụ cười khả ái, một ánh mắt thẳng thắn trẻ trung trong lúc anh kéo phẹt mơ tuya chiếc va li nhỏ bằng vải, nhận lãnh chiếc va li ấy, thản nhiên biểu tỏ anh nôn nả, rất nôn nả được một mình đọc tập bản thảo.
– Chào anh Castelnau, hẹn thứ hai.
Thằng cha dễ thương ấy đi theo đường De Nesle còn tôi thì đi ngược lên đường Dauphine hướng về phía đường ngầm Odéon.
Trời mưa phùn, tôi không lạnh vì có mặc áo choàng ấm và khá nhiều mỡ che bộ xương của tôi.
Nên đi tắc xi, như thế hay hơn đi xe lửa ngầm. Mãi đến lúc ngồi trên toa xe lửa ngoại ô, tôi mới nghĩ lại những gì vừa xảy ra. Cuộc sống nhộn nhịp trên các đường phố Ba Lê, nhìn từ xe tắc xi đã cướp hết tâm trí tôi.
Đáng lẽ hắn phải biên nhận cho tôi. Tại sao không, Papi nhỉ? Cuốn sách của mày không phải một bảo vật, nhưng dù sao người ta cũng có thể chép ra, tất cả hay một phần. Thằng cháu tôi có nói, hình như là trước khi đưa một tập bản thảo cho bất cứ ai, nên cẩn thận nạp bản tại Hội các nhà văn. Nhưng tôi không phải nhà văn! Vả lại, không ai có thể thay thế Papillon đã bị mười hai lão phụ thẩm đưa đi đày chung thân; không giống một nhà văn thứ thiệt.
Coi chừng, tại sao hắn không muốn mày leo lên lầu? Có thể hắn có một lý do nào đó. Papi, được rồi, phải đề phòng, đồng ý, nhưng đến mức đó thì quá chừng! Mày đã thấy khuôn mặt khả ái, lương thiện, vui vẻ của hắn rồi mà. Tôi có thấy, đúng, nhưng cái thằng Hoa Kỳ chở tôm hùm với khuôn mặt tròn như chị Hằng, dáng dấp hiền lành ngốc ngếch, cũng có vẻ một người lương thiện lắm chứ! Không, hắn chỉ muốn khỏi phiền mày leo cầu thang. Hẳn mong như vậy đã.
Dù sao chỉ hơn bốn ngày nữa là mày biết rõ. Một chuyện ghê gớm là thằng cha quan trọng nhất trong nhà xuất bản Pauvert sẽ đọc cuốn sách mày trong ngày nghỉ cuối tuần. Bao nhiêu tập bản thảo được cái may mắn ấy, nhất là do một người không tên tuổi? Hơn thế nữa, một tên cựu phạm?
Bốn ngày dài ghê. Hay là mày đi thăm cháu gái của mày ở Saint Priest?
Sáng hôm sau, tôi đáp máy bay đi Lyon. Phi cơ đông nghẹt người. Ngồi thiếu tiện nghi, tôi hút thuốc. Cạnh tôi một bà đọc tờ France Soir. Vì tôi từ chối tờ báo do cô tiếp viên đưa, nên tôi liếc sang để đọc những hàng tít lớn trên tờ báo của bà ngồi cạnh đã nhã nhặn vì tôi mở lớn tờ báo.
Trời ơi! Vô lý! Vô lý! Dưới tên ký Edgard Schneider, tôi đọc mấy chữ to tổ bố:
“Pauvert có ích gì cho công chúng không?”.
Tôi chỉ đọc được hàng tít, vì không đeo kính, kính tôi để trong áo choàng ấm, trong cái lưới trên đầu tôi. Vì tôi ngồi gần cửa kính ở hông máy bay, nên phải làm rộn hai người mới ra chỗ hành lang lấy được. Mọi người sẽ khó chịu, lại lâu lia nữa.
Vả chăng, thằng cha Pauvert có thể không phải là thằng Pauvert của tôi, cặp kính quá bự như vậy không phải là của một nhà xuất bản, mà có lẽ là một ông bộ trưởng.
Tuy vậy, tôi vẫn không đừng được.
– Xin lỗi bà, anh Pauvert này là ai vậy?
– Ông muốn xem tờ báo?
– Không, cảm ơn bà, tôi không có kính. Xin bà vui lòng đọc cho mấy chữ nhỏ.
Bà láng giềng của tôi đọc bằng một giọng bình thản:
“Jean Jacques Pauvert (không còn nghi ngờ gì nữa) có thể được chính các chủ nợ cứu khỏi tình trạng vỡ nợ”.
Cái mà nhà xuất bản ít khuôn sáo nhất Ba Lê gọi là một sự trục trặc tiến trình, thực ra là một lỗ hổng… đồng quan nặng, vân vân”.
– Cảm ơn Bà, cảm ơn nhiều. Tôi sẵn sàng nhận tờ báo sau khi bà xem xong, vì tôi muốn giữ lại bài ấy.
– Ông biết Jean Jacques Pauvert?
– Không, còn tệ hơn nữa kìa, suýt nữa là thứ hai vừa qua tôi làm quen với hắn.
Tôi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên trên nét mặt bà ta, và chiếc Caravelle vẫn tiếp tục bay rất êm trong các đám mây trắng như bông gòn của tháng mười này.
Tôi có làm rộn mấy hành khách ngồi cạnh cũng mặc, vì quá xúc động tôi phải mắc tiểu.
– Xin lỗi bà. Xin lỗi ông.
Thay vì đứng để tiểu tiện, tôi ngồi bẹp trên bàn tọa của cầu tiêu. Ngồi một mình như vậy, tôi mặc sức suy nghĩ. Người ta vẫn đến lắc chốt cửa, tôi đếch cần, đi chỗ khác mà đái.
Bạn ơi, thế này thì thật là phá sản hoàn toàn. Mày sắp tìm ra một nhà xuất bản, như trong túi rồi, sự thật nó nằm trong đống cải su.
Đặc biệt hơn nữa, nó giữ tập bản thảo của mày.
À, ra vậy nên thằng chả có nụ cười tình, chờ mày trước quán nước và không muốn mày lên lầu!
Eo ơi, đáng lẽ mày phải linh cảm luồng gió thất bại này! Có lẽ trên lầu, một thừa phát lại đang tiến hành công cuộc tịch biên bàn ghế, máy móc. Vậy đó!
Tờ France Soir không phải là đồ bỏ. Nhờ nó mày có tin sốt dẻo! Và xin lỗi, không phải tin vớ vẩn! Tin đưa cả một vừng thái dương vào lòng mày đó!
Làm gì bây giờ? Lấy tờ báo của bà kia rồi về Ba Lê lập tức.
Lúc 10 giờ phi cơ hạ cánh xuống Lyon.
Lúc 10 giờ 20, tôi đến kho hành lý lấy chiếc va li.
Lúc 10 giờ 30, tôi đem nó gởi theo chuyến bay Lyon – Ba Lê.
Lúc 15 giờ, tôi xuất hiện tại chỗ tiếp tân nhà xuất bản Pauvert.
Lúc 15 giờ một phút. Không nhờ báo trước cũng không cần xin phép trước, tôi đột nhập văn phòng của Castelnau; tôi thấy hắn đang đọc tập bản thảo của tôi và đang bàn cãi về tập bản thảo ấy với Castelli.
Lúc 15 giờ 6 phút, tôi lặng lẽ cất tập bản thảo vào chiếc va li nhỏ bằng vải sau khi đã kiểm điểm lại đủ 620 trang.
Lúc 15 giờ 10 ngồi trước tách cà phê, Castelnau giải thích cho tôi nghe rằng không phải vì Jean Jacques Pauvert gặp rắc rối trong cơ sở mang tên hắn mà hắn không thể xuất bản sách tôi trong một chi nhánh nhà xuất bản của hắn, các chi nhánh vẫn lành mạnh như thường.
Lúc 15 giờ 15, tôi tuyên bố thẳng thừng với Castelnau rằng tôi không còn muốn biết gì về con người doanh thương quá khôn khéo ấy nữa.
Và đúng 15 giờ 20, chúng tôi quyết định cùng nhau đi ăn cơm tối ở nhà hàng La Coupole ngay hôm ấy, lúc 8 giờ.
Và tại đây tôi tìm thấy con người cao thượng nhất, hào hoa nhất, ngay thẳng nhất.
Lúc uống Whisky, tôi được biết chính anh Castelnau, là người đặc trách vụ Albertine Sarazin từ đầu;
Đến khi ăn sò, anh cho biết anh hết tiền và không còn làm ở nhà xuất bản Pauvert vì anh này không thể tiếp tục trả lương cho anh, anh chỉ lãnh một ít tiền, lâu về sau này;
Đến khi ăn cá dìa, anh nói Pauvert là bạn của anh nên anh đã để cho Pauvert ở khỏi trả tiền một căn nhà nhỏ trong sân, có phần hư nát, nhưng anh ấy sẽ sửa sang làm văn phòng, để anh ta có thì giờ quật lại đương đầu với tương lai;
Đến món bít tết, anh cho biết trên hết mọi việc, anh có năm đứa con tuyệt diệu, bốn gái một trai và một người vợ rất ngoan;
Đến món phố mát, anh tự cho còn may lắm vì chúng nó rất đễ thương và yêu nhau lắm;
Đến món tráng miệng, anh cho biết anh có mắc nợ chút ít, nhưng điều ấy không quan trọng, vì anh đã trả tiền học cho cháu và đã may sắm quần áo lạnh cho chúng;
Đến lúc uống cô nhắc, anh tin chắc trong vòng sáu tháng anh sẽ cho xuất bản sách tôi trong những điều kiện rất tốt đẹp.
– Anh sẽ bảo đảm như thế nào với tôi?
– Về phương diện vật chất, không có gì hết. Vấn đề là anh tin tôi, tin tuyệt đối. Anh sẽ không hối tiếc đâu.
À, thằng này muốn chơi trội mình! Hoặc nó là một thằng lưu manh quỷ quyệt, hoặc là…
– Tôi có thể đến nhà anh ngày mai không? Nếu được, lúc mấy giờ?
– Mời anh đến dùng cơm trưa, lúc 1 giờ. Được không?
– O.K.
Chúng tôi dắt nhau vào vài quán rượu. Hắn uống có hạng lắm, vẫn như thường, dễ thương, vui vẻ, đớp whisky rất thành thạo.
– Mai gặp lại, Jean Pierre.
– Hẹn ngày mai, Henri.
Lúc bấy giờ tôi không biết việc gì đã xảy ra: chúng tôi bật cười lớn, bắt tay nhau.
Tôi đến nhà cháu tôi vào lúc 1 giờ khuya. Bọn con nít đã ngủ.
– Cậu đó hả? Cháu tưởng cậu ở Lyon. Có việc gì vậy? Mọi việc trôi chảy hết chứ?
– Vâng, mọi việc đều trôi chảy. Nhà xuất bản của cậu, nói đúng thằng cha sắp trở thành nhà xuất bản, đang vỡ nợ.
Rồi chúng tôi cùng cười.
– Quả thật đời cậu không giống ai hết. Luôn luôn có chuyện bất ngờ xảy đến.
– Đúng vậy. Chúc chúng bây ngủ ngon.
Tôi nằm xuống và ngủ liền, không chút âu lo gì về số phận cuốn sách của tôi.
Tôi không thể giải thích tại sao, chỉ linh cảm như vậy.
Ngày mai sẽ hay. Đêm rất bình yên.
Ngày thứ bảy, đúng 13 giờ, tôi leo hai tầng lầu của một tòa nhà sạch sẽ, ở tại khu 6. Bậc cấp dễ bước lên, điều này đối với tôi rất quan trọng vì cặp giò tôi bị gãy ở Baranquilla; cầu thang có trải một tấm thảm tươm tất giúp người ta bước lên không trượt chân. Ngoài trời, vẫn còn mưa.
Jean Pierre làm chủ cả một bộ lạc, một bộ lạc dân da đỏ chính hiệu.
Hai bé gái, Olivia với Florence, mười tám, và mười sáu tuổi, rồi nghỉ một thời gian khá lâu trong “cơ xưởng Marianne”, vì vợ Jean Pierre tên Marianne. Tôi nhận thấy nụ cười hiền dịu và đôi mắt sáng ngời khi nàng nhìn mấy đứa nhỏ, ra đời sáu năm sau Florence, “Khi người ta không còn đợi chúng nữa”, tôi vừa nói vừa cười.
Một căn nhà rộng rãi, sạch sẽ và có phần sang trọng một vài bàn ghế cổ chứng tỏ một trong hai người hoặc cả hai đã có những bà nội thuộc giới thượng lưu. Vừa nói chuyện, tôi vừa để ý đến các chi tiết nhỏ nhặt.
Trong bữa ăn, tôi để ý đến hai điều rất quan trọng:
– Trong nhà Jean Pierre, mọi người biết giữ lễ độ, bọn con nít ăn không kém người lớn và hơn Papillon, ứng viên tác giả có sách bán rất chạy.
– Chiếc bàn hình tròn, nên mọi người trông thấy nhau rất rõ. Ra điều con gái ngoan, hai đứa lớn kín đáo giúp việc bưng dọn, đứa đi tìm cái này, đứa bưng dọn cái khác. Ba đứa bé tí quí cha chúng một cách rõ ràng và chỉ nói khi được cho phép, một chuyện rất hiếm. Vì Jean Pierre nói nhiều không kém gì tôi, và như vậy người khách khó chen vào một câu nào được.
Thằng cha Jean Pierre kể lại câu chuyện phát hiện Albertine Sarazin, sự thành công của nhà văn nữ ấy, lý do cùng cơ may trong việc giới thiệu ồ ạt một tác giả, các mối quan hệ với báo chí, đài phát thanh, các nhà phê bình. Tất cả tên tuổi của tất cả các nhà phê bình, với đầy đủ thành tích, giòng dõi vân vân tuôn ra nhẹ nhàng từ đôi môi nhà xuất bản tương lai của tôi, làm cho tôi hết sức thán phục.
Không khí lành mạnh, chủ nhà thông thạo nghề nghiệp những điều anh ta nói ra rất hợp lý, anh nói mà không hề lên giọng. Chúng tôi đồng ý bản thỏa ước như sau tại phòng khách của anh:
– Tôi trao cho anh cuốn sách cùng tác quyền của tôi. Anh cũng biết tôi viết để kiếm tiền, không có gì khác. Và anh biết tại sao.
Anh ta cười nhẹ:
– Không bao giờ người ta biết chắc chắn tại sao người ta viết một cuốn sách.
– Có thể, nhưng tôi thì tôi biết.
– Anh có thể tin.
– Chào anh nhé.
– Thôi chào anh.
– Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại.
Trên chuyến xe lửa ngoại ô đưa về nhà cháu tôi, trong tôi không còn chút hoài nghi, ngờ vực nào hết. Nhà anh ta rất lành mạnh rất sáng sủa, một người bê bối không thể có một gia đình như vậy. Thêm vào đó, anh là người khôn khéo vì trong hoàn cảnh nghèo rớt mồng tơi, anh đã sắp đặt để cho mái ấm gia đình có vẻ vững tin vào ngày mai và vào một cuộc sống yên lành của một gia đình khá giả.
Mười bốn giờ bay và giờ đây tôi đến Caracas.
– Em cưng! Anh chiến thắng trở về.
– Xong rồi hả? Người ta xuất bản sách của anh?
– Hơn thế nữa, người ta chuẩn bị cho anh một thành công huy hoàng.
Tháng 10, tháng 11, tháng chạp, cả một cuộc trao đổi thư từ giữa Castelnau với tôi. Anh ta nói cho tôi biết anh rất tôn trọng tập bản thảo, do những gì anh đã cảm thấy xuyên qua tập bản thảo ấy. Cảm nghĩ của anh ta rất đúng: “Về đến Caracas, chắc anh tự hỏi tất cả chuyện này phải chăng là một giấc mơ, một sự láo toét, vân vân… Không có vấn đề viết lại cuốn sách của anh thành một cuốn tiểu thuyết, nhưng chỉ sửa các lỗi về văn phạm, về chính tả, về chấm câu… Sách của anh có một ngôn ngữ riêng, ít khi thấy, không ai động đến, nó sẽ là cuốn sách của anh, xin anh đừng lo, vân vân”.
30 tháng giêng năm 1969: một bức điện tín: “Đại thắng. Khế ước đã ký với nhà xuất bản lớn Robert Latfont rất hứng khởi (chấm) Sẽ đích thân theo dõi việc giới thiệu ồ ạt cuốn sách (chấm) Thư tiếp sau. Jean Pierre”.
Và mặt trời đã về lại trong nhà cùng với bức điện tín trên.
Và mặt trời đã về lại trong lòng chúng tôi khi hay tin người ta chắc chắn sẽ xuất bản cuốn sách của tôi.
Và mặt trời đã rọi chiếu một cầu vồng hy vọng rực rỡ vì đây là một nhà xuất bản lớn, Robert Latfont.
Bức điện tín đến trong lúc chỉ có tôi và Rita ở nhà. Chúng tôi đang ngủ thì người phát thư gọi dậy lúc 10 giờ sáng (đêm qua chúng tôi đi ngủ lúc 6 giờ sáng sau khi quán rượu Scotch đóng cửa), chúng tôi đã ngủ lại với bức điện. Trước khi ngủ, chúng tôi đọc lại một lần nữa. Tôi nói:
– Chờ anh một phút nghe cưng.
Tôi gọi dây nói con gái chúng tôi ở Tòa Đại Sứ để báo tin mừng. Nó reo lên:
– Nhà xuất bản nào vậy? (Vì nó đọc sách nhiều lắm).
– Robert Latfont. Con biết chứ?
Giọng nói hết vui tươi đáp: “Con không biết nhà xuất bản này. Có lẽ một nhà xuất bản nhỏ, bởi vì thành thật mà nói, con hoàn toàn không nghe nói đến tên này”.
Tôi gác máy, có phần thất vọng vì con gái tôi không biết nhà xuất bản lớn của tôi.
16 giờ. Clotilde vừa về đến nhà, Rita đến tiệm uốn tóc. Nó đọc đi đọc lại bức điện.
– Robert Latfont, một nhà xuất bản lớn? Con chắc thằng chả phóng đại, vì con không biết nhà xuất bản ấy.
– Nhưng Castelnau đứng đắn lắm.
– Vô lý. Ở Tòa Đại Sứ, con có hỏi một con nhỏ bạn. Nó còn đọc nhiều sách hơn con, nó quả quyết: không biết Latfont. Con bạn người Pháp, dân Ba Lê nữa là khác.
Lạ thật.
Điện thoại reo.
– Anh Henri đó hả? Em, Rita đây. Đúng đó, một nhà xuất bản lớn.
– Sao, em nói sao?
– Tại đây, trong tiệm uốn tóc, có một tờ toàn báo cũ có in hình của cái nhà xuất bản của anh. Hình lớn.
– Em về ngay đi.
– Em làm tóc chưa xong.
– Về gấp đi cưng, chóng ngoan, ngày mai làm tóc cũng được!
Mười lăm phút sau, về mọi phương diện, đã được xác định rằng Castelnau không phóng đại khi nói: “nhà xuất bản lớn”.
Đó là do tạp chí Jours de France.
Trong một văn phòng sang trọng, hai người: Robert Latfont và nhà văn Bernard Clavel. Những bức hình lớn. Họ đang cười, đúng lúc lắm: Bernard Clavel, một tác giả của Latfont, vừa đoạt giải thưởng Goncourt kỳ thứ 63. Theo tờ báo, giải thưởng này đưa đến cho nhà xuất bản một số tiền lớn (càng hay, như thế nó sẽ có địa để xuất bản sách của tôi) và cho tác giả một tổng số tác quyền khoảng một triệu quan.
Tôi cũng được biết, anh Latfont này (trên bức hình anh ta giống một kép nhất) thành lập nhà xuất bản từ năm 1941. Đàng hoàng mà!
Tôi lại được biết, trước khi được giải Goncourt, Bernard Clavel đã nếm mùi thất vọng vì bị các nhà xuất bản từ chối và các nhà phê bình trề môi trước mấy quyển sách đầu tay của anh.
Thế là tôi thật hên! Tôi không bị các nhà xuất bản từ chối, tôi tìm ra một nhà xuất bản đặc biệt. Còn chờ xem hình thù miệng mồm của các nhà phê bình khi họ xem sách tôi. Mong sao nó đừng giống lỗ đít gà mái.
Tôi với Rita dứt khoát sắp Clotilde và bạn gái của nó vào hạng dưới mức trí thức, quá dốt nên mới không biết một nhà xuất bản quan trọng, vĩ đại như Robert Latfont, nhà xuất bản của tôi. Clotilde cười vui vẻ đồng ý rồi lập tức đem lồng hai trang tuần báo vào giấy nhựa treo trên tường phòng làm việc của tôi.
Ôi, ngày hôm nay đẹp quá! Hoan hô bức điện tín của Jean Pierre, hoan hô tờ tạp chí đã cho chúng tôi biết những điều cần thiết để chúng tôi hoàn toàn sung sướng.
Thế là tôi đã đi vào một thế giới mới lạ đối với tôi bằng cửa lớn.
Một bức thư của Castelnau yêu cầu tôi đến Ba Lê ở lại mười lăm ngày. Đồng ý với Latfont rất mong được biết tôi. Castelnau muốn, nếu tôi chấp thuận, chính tự tay tôi cắt bỏ một vài đoạn trong bản thảo vì quá dài và sửa chữa một đôi chỗ tôi kể không được hay lắm.
Tám ngày sau tôi đến, vào đầu tháng ba.
Castelnau đón tôi ở phi trường Orly. Vừa ăn trưa trong một tiệm ăn, anh trình bày những việc anh đề nghị với tôi: bỏ hẳn một vài chuyện rất hay tôi nghe kể trong tù.
– Tại sao?
– Bởi vì, Henri, đôi khi, trong mười hay hai mươi trang, anh kể chuyện một người khác và như vậy, trong hai mươi trang ấy, nhất là khi các chuyện ấy quá hấp dẫn, anh phá vỡ câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm của người mà độc giả đang hồi hộp theo dõi từng bước chân, người ấy là Papillon.
– Tôi hiểu: không nên có chuyện gì khác, ngoài Papillon. O.K.
Quả thật mỗi ngày mình học thêm được một sàng khôn. Khi viết quyển “Papillon” tôi tự nhủ: “Papillon, rồi lại Papillon, Papillon mãi, riết rồi người ta sẽ chán. Còn nếu thêm chuyện này, chuyện nọ, chuyện của người này, của người nọ, tính chất tạp bác của cuốn sách sẽ tăng, người đọc sẽ thích thú hơn”. Nhưng vì Castelnau và nhà xuất bản đã đồng ý bảo tôi cất đi, tôi làm theo không lôi thôi gì hết.
Tôi gặp Latfont tại văn phòng của anh ta và chúng tôi thân nhau ngay.
Anh ta đẹp như một người bốn mươi tuổi, kiểu “thần tượng”. Một người cẩn trọng, bình tĩnh, dáng điệu một nhà ngoại giao, nhưng người ta cảm thấy bên trong, lửa đam mê có thể bùng cháy mà không dễ dàng phát lộ thành pháo bông rực rỡ. Tóm lại, một nhân vật lớn, hào hoa phong nhã đang tiếp một anh đã bị tù đày, như một người bạn, và đã biểu tỏ mối cảm tình ấy một cách hết sức tế nhị, đã mời ăn trưa ngày hôm sau, thứ bảy, không phải ở nhà hàng, mà ở tại nhà rất trưởng giả của anh.
Không bao giờ tôi quên được bữa ăn ấy, bữa ăn đầu tiên hết sức đặc biệt đối với tôi, trong một ngôi nhà lộng lẫy ở bìa rừng Boulogne. Trong đời tôi chỉ biết môi trường giới chức tầm thường hoặc các nhà hàng hạng sang! Nhưng một khung cảnh và một không khí thanh lịch như thế này, tôi chưa bao giờ được biết.
Không phải vì vậy mà tôi bị chóa mắt, không thốt nên lời, vì tôi không đến nỗi quê như vậy, nhưng tôi vô cùng cảm động vì sự ân cần của vợ chồng Latfont ngay hôm sau ngày sơ ngộ.
Trong bàn ăn có Robert cùng gia đình, một chủ ngân hàng, vợ chồng Castelnau.
Robert nói về cuốn sách. Anh nói rằng anh quá thích đến nỗi bắt đầu đọc từ lúc nghỉ cuối tuần anh chỉ bỏ sách xuống trong đêm chúa nhật. Vợ anh thêm rằng trong hai ngày ấy anh không hề mở miệng và không ai đến gần anh được.
Trong bữa cơm ấy, tôi nhận thấy anh là một người trung thực, cao thượng, rộng rãi. Khác hẳn loại doanh nhân điêu xảo chỉ tìm cách làm sao phát tài là được.
Tôi không thể tả cho bạn đọc rõ tất cả vẻ đẹp, tất cả sự cảm thông và niềm xúc động của khoảnh khắc ấy. Nhưng tự bạn đọc cũng có thể tưởng tượng niềm phấn khởi của tôi khi tìm thấy một thế giới mới lạ, khác hẳn những gì tôi đã biết, chưa kể tôi đang trải qua một chuyển hướng đột ngột của đời tôi: thật tình tôi đang say sưa hạnh phúc.
Nói với một người có một quá khứ như tôi: “Anh không kém bất cứ một người nào, anh đáng được trọng nể như một người xuất chúng, anh xứng đáng được ngồi đây, cùng với gia đình tôi trong nhà này, anh rất hợp với nơi này, anh đến tôi rất sung sướng”. Nói mà không nói thành lời, mừng chỉ hiểu ngầm, không một lời khen tặng rẻ tiền làm cho mình bực bội hơn là hoan hỉ, không, không có gì cảm kích lòng người sâu xa hơn được.
Một điều bất ngờ đối với Latfont và Castelnau là trong câu chuyện, vấn đề tương lai và sự thành công của cuốn sách chỉ còn ở hàng thứ yếu. Sách tôi đã đem lại quá nhiều cảm giác kỳ diệu nên công sức của tôi được đáp ứng xứng đáng rồi. Đến nỗi tôi đã hăng say tấn công anh chủ ngân hàng, bạn của Robert, để thuyết phục anh cùng tôi mở ở Venezuela một cơ sở thương mại về tôm hùm.
Tôi cũng có làm quen với cô Françoise Lebert, người cao lớn niềm nở, tùy viên báo chí của Latfont. Nàng chưa kịp đọc tập bản thảo đã được đưa gấp đến nhà in. Tôi với Castelnau hẹn gặp nàng lúc 7 giờ ở nhà hàng La Coupole, để làm quen, và tại đây nàng đã dại dột nói thế này: “Anh nói qua cho tôi biết trong sách anh nói”. Chúng tôi ăn xong lúc một giờ rưỡi. Ngày hôm sau nàng điện thoại cho Castelnau: “Chưa bao giờ tôi được một buổi họp mặt tuyệt diệu như vậy, thành công nắm chắc rồi”. Triệu chứng tốt.
Tôi lên đường về Caracas, như một chiếc buồm căng gió.
Vì mãi suy nghĩ về tất cả những gì vừa xảy ra, tôi không nghe tiếng cô tiếp viên mời hành khách lên phi cơ. Chuyến bay ấy không có tôi. Phải chờ mười sáu giờ, điện cho Rita.
Trong mười sáu giờ ấy, khi thì ở quán cà phê, khi thì ở quán rượu, khi thì ở tiệm ăn phi cảng Orly, tôi hồi tưởng lại ba tuần lễ phi thường và ngắn ngủi ở Ba Lê.
Sau bữa ăn trưa tại nhà Latfont một bữa ăn trưa tại nhà một nhà trí thức lớn, Jean François Revel. Castelnau cho tôi biết, Revel là một trong những khối óc lớn của Ba Lê, văn sĩ tài danh, triết gia và gì đó nữa. Latfont đã đưa tập bản thảo của tôi cho anh ta đọc và anh ta cũng mê ngay. Đến nỗi anh định viết một cái gì về cuốn sách ấy.
Tôi xúc động khi đến thăm anh, tôi cũng xúc động khi biết ngôi nhà của anh, gia đình anh. Một ngôi nhà trên bờ sông Seine, sáng sủa, vui tươi, đầy sách và trong không khí phảng phất một vẻ gì khiến người ta cảm thấy ngay chỉ những ý nghĩ cao thượng mới có quyền ở trong nhà này.
Trong khi được vợ chồng Jean François tiếp, tôi không nhận họ có chút mặc cảm tự tôn nào. Họ không cho tôi được ngồi cùng bàn với họ, mà đã tiếp tôi như người thân, ngang hàng nhau.
Nhiều lần trong bữa ăn tôi đề cập đến sự “cải tạo”, sự “hồi phục danh dự” của tôi, và chính Jean François Revel là người đã cho tôi hiểu hơn bất cứ ai, hơn cả tôi nữa, rằng tôi không nên nói đến vấn đề “cải tạo” hay “hồi phục danh dự” như tôi đã làm. Anh giải thích rằng không phải kẻ khác, kể cả những thằng cha ghê gớm tôi đã gặp, đã tạo nên con người của tôi, mà con người ấy đã có rồi, từ trước.
Cải tạo? Hồi phục? Đối với ai? Đối với cái gì? Những gì đã có trong tôi, không kể có quan trọng hay có giá trị thế nào đi nữa, những gì là nghị lực, là đức tính, là trí tuệ, là óc thích phiêu lưu, là tinh thần công lý, nhân ái, vui sống, đều đã có luôn luôn trong tôi. Đã có từ buổi đầu, rất lâu trước thời kỳ Montmartre và trong mấy năm tù đày, nếu không, tôi đã không thể làm những gì tôi đã làm để thoát khỏi con đường thối nát, và tôi đã không làm như tôi đã làm.
Anh nói tiếp rằng một đôi người thượng thặng có thể giúp mình nhìn thấy sự việc khác hơn trước, nhưng không thể làm cho mình đủ sức sống với sự việc ấy, đạt đến thành công và chi phối các sự việc ấy. Không ai có thể “cải tạo” tôi, bởi lẽ dù một đôi hoàn cảnh trong buổi thiếu thời của tôi đã che khuất con người thật của thằng bé Henri Charrière, và khiến trong một giai đoạn nào đó, những điều nó làm đã tạo ra một hình ảnh khác hẳn nó, những gì đã có trong tôi và đã phát tiết đầy đủ trong cuộc tranh đấu để thoát khỏi cảnh tù đày ghê tởm, vẫn đã có trong tôi từ trước. Mẹ tôi mất đã có ảnh hưởng quyết định đối với đời tôi; cái chết ấy nó như một hỏa diệm sơn trong thể xác một đứa bé mười một tuổi, tôi không thể chấp nhận một chuyện khủng khiếp như vậy, một bất công tuyệt đối như vậy, tôi một thằng con trai hung dữ, cảm ứng mau lẹ óc tưởng tượng dồi dào, và không có gì cho thấy, không ai được quyền nói, nếu không có thảm cảnh ấy thì cho đến ngày thành người lớn, vì không có bên cạnh một bà mẹ dịu hiền, một mối tình mẫu tử tôi cần cho tôi, tôi đã không trở thành một người khác, tuy tôi vẫn là tôi. Một loại người sáng tạo, có thể là một người phát minh những dụng cụ tân kỳ như tôi thường mơ ước, một người giang hồ mạo hiểm, vâng, có thể là một người đi chinh phục đất mới, nhưng một người sống trong xã hội.
Người ta không cải tạo một cái gì đã có rồi, nhưng người cho nó có dịp phát hiện hoàn toàn, không sớm thì muộn. Dân Venezuela không tạo tôi thành con người ngày hôm nay, nhưng đã cho tôi cơ hội, sự tự do, niềm tin tưởng để chọn một lối sống khác, theo đó tất cả những gì trong tôi đã bị nền công lý nước Pháp phủ nhận và xử tiêu, có thể trở thành hữu dụng trong một tập thể bình thường. Chỉ bấy nhiêu đó, tôi đã tri ân họ ngàn đời.
Và anh nói, như thế tôi khỏi có mặt cảm tự ti đối với mọi người trong xã hội này khi tôi trở về với một cuốn sách, dù sách ấy có gây ồn ào, nhưng tôi không nên vì vậy mà tự cho mình là siêu nhân. Vâng, tôi đã làm những điều dại dột, tôi đã bị trừng phạt, nhưng những gì tôi đã làm để tự giải phóng, mấy người lương thiện kia có làm nổi không, có đủ nghị lực, đủ đức tin để làm không?
Không, đừng nên nghĩ rằng vì những tủi nhục tôi đã chịu đựng, tất cả những người Pháp đều kém tôi, vì họ đã đày tôi qua bên ấy, nhưng cũng đừng nên nghĩ rằng do quá khứ của tôi, thiên hạ có quyền nghi ngờ tôi, khinh miệt tôi, nói với tôi. “Im đi, mày không là gì hết, mày nên nhớ mày từ đâu đến”.
Tất cả các ý kiến ấy, nhiều lần tôi nghĩ đến, nhưng vì tôi đã từ nơi ấy thoát ra, đã sống với hạng người như vậy, rồi trong bao nhiêu năm tháng, lúc đầu ở trước tòa đại hình và sau thì khắp mọi nơi, người ta đều nói đi nói lại đến điên cái đầu rằng tôi chỉ là một thứ đất đen, nên tôi không an tâm, tôi bị giao động, tôi không dám nghĩ như vậy nữa. Phải có những người như Castelnau, Latfont, Revel tôi mới có thể nhìn thẳng vào tôi trong gương, nhìn thấy mà không giao động một người có lẽ nhiều tính xấu và khuyết điểm, nhưng là một con người, một con người xứng đáng như những người khác.
Tôi đi đến nhà các anh ấy như khi tôi đến gần một chiếc ghế, không biết mình có quyền ngồi xuống hay không. Nhưng các anh ấy đã nói: “Mời anh ngồi, chỗ này là của anh”.
Tất cả cảnh ấy hiện rõ trong đầu óc trong khi tôi chờ máy bay đến ở Orly, và tôi tự nhủ khi nào về lại Ba Lê trong dịp phát hành cuốn sách, chắc chắn tôi sẽ còn gặp nhiều người tài ba lỗi lạc.
Không phải chỉ có những kẻ phiêu lưu mạo hiểm là đáng kể. Mỗi người đàn ông, mỗi người đàn bà đều có một tiểu sử, nhưng dù họ từ đâu đến, từ một nơi nào trên hoàn cầu, người ta cũng nhận ra ngay những người không chịu cúi đầu chấp nhận luân lý thông thường một khi đã phân tích thấy luân lý ấy không đúng.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 7
Trong thời gian giải lao giữa giờ họp, tôi kéo áo Trung tá Huấn giựt giựt mấy cái rồi lớn tiếng nói đùa,
– Nếu Việt Cộng mà bao vây Pleime, tôi sẽ kêu ông vào cứu đó nghe!
Ông Huấn nhanh nhảu giơ tay cam kết,
– Ô kê đô! Nếu ông bị đánh, cứ hô một tiếng là tôi đem cả liên đoàn vào cứu ngay!
Thấy thế, anh Nguyễn Ngọc Di đứng gần đó cũng buồn rầu góp lời,
– Còn tôi thì chỉ trông cậy vào sự hên xui của số mạng. Chia tay lần này, không biết mai đây chúng mình có còn nhìn thấy nhau nữa hay không?
Nghe ông bạn vong niên thở than, tôi bỗng chạnh lòng an ủi anh Di,
– Anh là người nhân hậu thật thà, chắc chắn Trời Phật sẽ che chở cho anh. Ðừng lo lắng quá làm gì cho nó khổ cái thân già.
Anh Di người Huế, lớn hơn tôi gần chục tuổi; tôi và anh quen nhau từ năm 1966. Ngày đó anh Di là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 311 còn tôi là một thiếu úy chân ướt, chân ráo mới từ Ðà Nẵng vừa vào Pleiku chưa có chức vụ gì. Anh Di thường cho tôi quá giang trên chiếc Jeep của anh từ Biển Hồ đi Pleiku. Vợ anh Di là chủ một tiệm tạp hóa nằm trên đường Lê Lợi, tôi thường mua thuốc lá ở cửa hàng này. Tôi và anh Di đã trải qua gần chục năm sát cánh, chiến đấu bên nhau.
Tôi đã biết, hiện thời tiền đồn Dak Pek đang nằm heo hút tít mù xa, cách tỉnh lỵ Kon-Tum hơn 80 cây số đường chim bay, yểm trợ thì khó khăn, hạn chế, không thể cứu viện, không đường rút lui, chắc chắn không sớm thì chầy, căn cứ này cũng rơi vào tay Cộng Quân. Ðã có lần, trong một buổi họp với quân đoàn, tôi mạnh miệng đề nghị đóng cửa tiền đồn này, rút Tiểu Ðoàn 88 Biên Phòng về Kon-Tum để tiết kiệm xương máu của quân mình nhưng ý kiến của tôi không được Tư Lệnh Quân Khu chấp thuận.
Tôi móc túi lấy bao Lucky đưa cho anh Di,
– Trước ngày lên đường anh hãy hút một điếu Lucky của tôi để lấy hên!
Bạn tôi rút một điếu thuốc kẹp vào giữa hai ngón tay, rồi nhìn tôi với ánh mắt đượm buồn,
– Lần đầu tiên mình gặp nhau tháng 10 năm 1966 Long mời mình một điếu Lucky không đầu lọc. Vì “gu” của mình là Salem nên mình đã không chịu nhận điếu thuốc Long cho, vì thế mà Long đã giận mình cả tuần lễ sau mới nguôi. Kỳ này thì mình sẽ hút thuốc Long mời, biết đâu có thể đây là lần cuối cùng bạn còn nhìn thấy mình, mời mình hút thuốc.
Tôi xoè bàn tay ra để bịt miệng anh Di,
– Ðừng nói gở! Ðừng nói gở!
Quả thực tôi không biết hôm đó anh Di đã buột miệng “nói gở” hay anh Di vừa linh cảm thấy điều gì đó không tốt đẹp sắp xảy ra?
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1974, một chiếc trực thăng cất cánh từ Kon-Tum ghé sân Biệt Ðộng Quân Pleiku đón tôi. Trên tàu đã có sẵn hai hành khách, đó là ông Trung tá Chính, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y mới ra trường. Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân ở đồi Ba Chấm trên Kontum, Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đang bận họp hành quân nên nhờ Trung tá Chính đưa tôi vào Pleime. Ngày đầu ở tiền đồn Pleime thật là dở khóc, dở cười. Tôi đã không chịu ký vào ba xấp giấy phụ bản bàn giao chỉ vì: Trên phụ bản quân số thì có 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt khi điểm danh. Trên phụ bản tiếp liệu ghi còn tồn kho 400 bộ đồ hoa nhưng trong kho thì trống rỗng. Anh em trong đơn vị than phiền rằng cả năm nay không có quần áo mới. Khi có phái đoàn thanh tra tới thì những người áo quần rách rưới quá bị dẫn ra suối để tránh mặt. Trên phụ bản ẩm thực ghi rõ món nợ trưng dụng gần nửa triệu đồng chưa chứng minh. Mỗi khi lãnh lương thì tiểu đoàn trưởng phải ký nợ tiền ăn tháng sắp tới, vì tiền ăn tháng đó đã bị Ngân Khố trừ nợ hết rồi. Tôi đòi hỏi phải có ba phụ bản mới, trong đó Trung tá Chính phải ký tên làm chứng. Ba phụ bản đó gồm có: Bản ký nhận quân số tại hàng. Ông cựu tiểu đoàn trưởng phải chịu trách nhiệm báo cáo vắng mặt hay báo cáo tầm nã 92 người vắng mặt ngày hôm đó. Bản danh sách xin bổ sung quân trang khẩn cấp cho tất cả quân nhân tại hàng. Trung tá Chính sẽ đem về trao cho Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân giải quyết. Bản danh sách ứng tiền ăn mới, không liên quan tới những nợ nần đã có trước của đơn vị.
Trong danh sách ứng tiền ăn này, tôi ra lệnh trừ tiền ăn tất cả mọi người, không ai được miễn trừ, kể cả tôi, tiểu đoàn trưởng. Tới kỳ nhận tiếp tế, thực phẩm sẽ được chia đồng đều, phần của ông thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng giống y như phần của anh binh nhì, không khác gì nhau.
Xưa nay, trong đơn vị này, hàng chục quân nhân thân cận tiểu đoàn trưởng và cả ông tiểu đoàn trưởng đã được ông ta cho miễn trừ tiền ăn. Những người này cuối tháng được lãnh toàn số lương, không bị trừ đồng nào, nhưng khi tiếp tế thì họ vẫn được lãnh phần như người khác. Như thế có nghĩa là những người khác đã đóng tiền để nuôi họ. Ðây là một hành động ăn cắp bỉ ổi không thể chấp nhận được. Sau khi đưa tôi đi quanh doanh trại một vòng để quan sát hệ thống bố phòng, lúc trở về, Thiếu tá Bé cho tôi biết tin rằng cái đơn xin thuyên chuyển về phục vụ nơi nguyên quán của ông ta đã được thượng cấp chấp thuận. Do đó, ông Bé xin tôi cho ông ta theo chân Trung tá Chính trên chuyến bay rời Pleime ngay sau khi bàn giao.
Trung tá Chính cũng cho tôi biết người thay chỗ cho Thiếu tá Bé sẽ là một đại úy gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, sĩ quan Võ Bị, khóa đàn em của tôi. Từ ngày thứ nhì, tôi bắt đầu hướng dẫn đơn vị tập cho quen với nếp sinh hoạt mới. Ðiều cấm kỵ nghiêm ngặt thứ nhất là lính gác tuyệt đối không được hút thuốc trong phiên trực, dù là ban ngày, hay ban đêm. Ðiều cấm kỵ thứ hai là không được uống rượu đế, rượu trắng trong doanh trại. Ðiều cấm kỵ thứ ba là không được bài bạc dưới bất cứ hình thức nào.
Trong mười năm chỉ huy, tôi đã thấy những cái chết thảm khốc, mất đồn, mất chốt, chỉ vì quân ta cứ ham mê đỏ đen, tụ tập say sưa, bù khú, lơ là canh gác, nên Ðặc Công mới chui được vào vị trí đóng quân mà đánh phá. Ngay buổi trưa ngày thứ nhì, tôi đã ra lệnh tất cả dụng cụ phục vụ các trò chơi như xóc đĩa, bài cào, tứ sắc, xập xám, và cả những bộ Domino đều bị tịch thu và thiêu hủy. Tôi thẳng thắn tuyên bố rằng, những ai thấy không thể tuân theo những luật lệ trên thì cứ trình diện tôi xin đi đơn vị khác, tôi sẽ cấp sự vụ lệnh cho đi ngay. Hình như sự có mặt của tôi đã làm đảo lộn nhiều thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của đơn vị này. Những nhân viên làm việc trong bộ chỉ huy tiểu đoàn, trừ ông Thiếu úy Trần Văn Phước và Thượng sĩ Nguyễn Phường của Ban 2 từng làm việc dưới quyền tôi, thì người nào cũng lộ vẻ e dè, giữ kẽ mỗi khi tôi bước vào văn phòng, hay trung tâm hành quân. Trung đội Trinh Sát 82 có khoảng gần hai chục quân nhân do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm làm trung đội trưởng và Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Sơn làm trung đội phó. Ngày tôi nhận tiểu đoàn, đầu tóc ông nào cũng dài thậm thượt, vậy mà thoáng cái, hai hôm sau, tóc ông nào cũng húi cua, ngắn như tóc tân binh. Những ngày kế đó tôi phải đích thân đi tới quan sát ba cái tiền đồn cố định, trên Chư Hô, Chư Gô và đồi Bắc Pleime. Tại đây tôi trực tiếp hướng dẫn từng chuyện phải làm cho ba ông trung đội trưởng chỉ huy tiền đồn cách báo cáo tin tức, cách bố trí canh gác cũng như cách thiết trí con đường rút chạy khi bị địch tấn công quá mạnh.
Tôi đã biết ưu điểm của các đơn vị biên phòng là thám sát và cố thủ. Nhược điểm cần khắc phục là thiếu kinh nghiệm hành quân tấn công. Thay đổi thói quen tác chiến của một đơn vị không phải là công việc dễ dàng. Từ ngày thứ tư, tôi bắt đầu huấn luyện kỹ thuật dàn quân tấn công cho các đại đội. Dự trù thời gian huấn luyện dành cho mỗi đại đội sẽ là mười ngày, mười đêm. Suốt thời gian huấn luyện này, Trung đội Trinh Sát 82 là thành phần trừ bị, sẵn sàng ứng phó với những biến cố xảy ra. Tôi dự tính, sau khi 4 đại đội tác chiến đã được huấn luyện, tôi sẽ giải tán Trung đội Trinh Sát và thay vào đó là 6 toán viễn thám, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Trần Văn Phước.
Cũng trong thời gian này tôi nhận được một thuộc cấp cũ tới tiếp tay đó là Trung úy Trần Dân Chủ. Ông Chủ, khi còn mang lon thiếu úy, đã bị Việt Cộng bắt trong trận Ben-Het tháng 5 năm 1969.
Ông Chủ mới được trao trả tù binh cách nay vài tháng và được đưa về Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân; nghe tin tôi vừa nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 thì ông Chủ xin về làm việc với tôi.
Tôi cho Trung úy Nguyễn Trọng Thọ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn giữ chức Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 thay thế cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt đang nằm bệnh viện Pleiku; còn Trung úy Trần Dân Chủ sẽ thay thế Trung úy Thọ. Phụ tá cho Trung úy Chủ là một hạ sĩ quan tham mưu rất siêng năng và lanh lẹ, đó là Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn. Ðôi khi rảnh rỗi, tôi thường chỉ vẽ cho Trung úy Chủ và Trung sĩ Hoàn những nguyên tắc tham mưu binh đoàn; nhân dịp này mà Trung sĩ Hoàn có cơ hội mở mang kiến văn.
Nửa năm sau tôi đã ký tên chấp thuận cho chú Hoàn theo học Khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt. Tiếc thay, đúng thời điểm Trung sĩ Lưu Ðức Hoàn có mặt ở Tiền cứ Ban Mê Thuột để chờ nhận tờ Sự Vụ Lệnh theo học khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt thì thành phố này bị Việt-Cộng tấn công. Vì lý do đó mà tới ngày chiến tranh chấm dứt, Biệt Ðộng Quân Lưu Ðức Hoàn vẫn còn là một trung sĩ. Rút kinh nghiệm từ các trận Lệ Minh và Bu Prang, địch thường dùng xe tank để uy hiếp tinh thần quân ta, do đó, song song với việc huấn luyện đơn vị tôi phải đích thân đi thám sát những đường tiến sát mà xe tank địch có thể sử dụng để uy hiếp Pleime.
Kế đó, một khóa huấn luyện cấp tốc được tổ chức ngay trong sân cờ. Huấn luyện viên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, học viên là năm sĩ quan Ðại đội trưởng, Trưởng ban 2, Trưởng ban 3, Trung đội trưởng Trinh Sát, và Trung đội trưởng Pháo Binh Biên Phòng.
Tôi đã đích thân hướng dẫn thật chi tiết cho từng người nắm vững thứ tự công việc phải làm và từng động tác phải làm để gài một quả mìn.Tôi nhấn mạnh công tác ngụy trang một quả mìn một cách thật tỉ mỉ, vì đây mới là mục đích sau cùng của bài học. Bí quyết ngụy trang này chỉ là một mẹo vặt rất dễ thi hành, nhưng ít ai nghĩ tới. Có thể Viễn Thám của Phòng 2/Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 là đơn vị độc nhất của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã áp dụng bí quyết đó một cách hiệu quả trong suốt thời gian tôi giữ chức vụ chỉ huy đơn vị này.
Muốn nguỵ trang một hố mìn, ta phải làm đúng theo thứ tự sau: Gắn ngòi nổ xong thì ta phủ một lớp đất mỏng che mặt quả mìn. Ðặt một cục đá dẹp lên trên quả mìn. Kế đó, để một lưỡi xẻng hay một miếng kim loại rỉ sét lên trên cục đá. Lấp một lớp đất mỏng lên trên lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Xóa dấu vết toàn khu vực trước khi rời đi. Máy rà mìn của địch sẽ reo khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Vì thấy dưới miếng kim loại chỉ có cục đá nên chắc chắn chúng sẽ ơ hờ, bỏ qua. Chúng đâu ngờ dưới cục đá còn có quả mìn!…Máy dò của Việt-Cộng đi trước, tank của Việt-Cộng bò theo sau, bánh xích xe tank sẽ cán lên cục đá, thế là … “Ùm!”
Ðể tránh sự nghi ngờ của địch, ta phải đặt mìn với khoảng cách khá xa nhau, và đặt với vị trí dích dắc… Ngay hôm sau ngày huấn luyện, đoạn đường xe be dốc Tây suối Ia Mê, đã có bốn quả mìn chống chiến xa được an bài.
Cứ Ðiểm 711 tháng 4 năm 1974: Một chống lại mười. Trong địa phận Pleiku thì tôi biết rõ ràng rằng, mục tiêu của địch sẽ là một trong ba trọng điểm: Quận lỵ Thanh-An, Quận lỵ Phú-Nhơn và Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Hiện thời, đại quân của Cộng-Sản đang tập trung trong thung lũng Ia Drang.Vì thế, nếu đánh Thanh-An địch sẽ sử dụng Quốc lộ 19 còn đánh Phú-Nhơn hay Pleime thì chúng phải chuyển quân theo con đường vừa được phát quang. Thời gian này Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã vinh thăng Trung tướng. Một tuần lễ sau khi vào Pleime, tôi bị gọi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh nhận nhiệm vụ đem quân ra Căn Cứ Hỏa Lực 711 để xây dựng một căn cứ hỏa lực mới rộng lớn hơn. Căn Cứ 711 hiện thời sẽ bị phá đi.
Tướng Toàn cho tôi biết trong thời gian sắp tới, địch sẽ tung quân cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian để Trung Ðoàn 470 Vận Tải của chúng có thể dùng cơ giới thi hành một chuyến tiếp tế quân lương cho lực lượng Cộng Sản dưới duyên hải. Nhiệm vụ của tôi là cố gắng phát giác và cầm chân, không cho đoàn xe của địch vượt qua sông Ia Tur. Lệnh của quân đoàn đưa ra thật gấp gáp, tôi chỉ kịp tập họp Trung đội Trinh Sát và hai Ðại đội 2 và 3 rồi chuẩn bị lên đường. Ông tân Tiểu đoàn phó là Ðại úy Quách Cơ Bình mới thấy tên trên công điện thông báo, nhưng chưa đáo nhậm, do đó Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng Pháo Binh Pleime đương nhiên trở thành người chỉ huy phòng thủ căn cứ biên phòng này trong thời gian tôi dẫn quân xuất trại. Ðại đội 4 canh gác trại và giữ ba cái tiền đồn; Ðại đội 1 đóng trụ tại vùng 4 cây số Bắc Pleime.
Tiếp theo đây là diễn tiến trận đánh lịch sử đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku vào tháng 4 năm 1974.
Tháng 2 năm 1979, Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt Trung. Ngay khi nghe tin Trung Cộng sắp đánh, toàn thể tù trại cải tạo Z-30A, Xuân Lộc rất xôn xao. Ai ai cũng “vui mừng”. Có người nói mỉa “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở!”
Người ta nhìn vấn đề theo lăng kính chủ quan: Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta.
Anh em hỏi nhau: Có thể như thế được không? Hễ nghe Đặng Tiểu Bình chưởi Hà Nội một câu gì đó, có người khoái chí. Có người nói Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Buổi trưa ăn cơm Hà Nội, buổi tối ăn cơm Saigon.” Ý Đặng muốn nói Trung Cộng có khả năng chiếm trọn Việt Nam trong một thời gian rất ngắn! Có người dại dột, – dĩ nhiên cũng có mấy chú Ba Chợ Lớn đang ở tù chung ở đây -, mong Trung Cộng đánh tới Saigon.
Việc nầy là không xong, sai lầm.
“Tàu phù” đô hộ Việt Nam đã kinh, đến như Tàu Cộng mà đô hộ thì coi như tàn đời, tàn “dân tộc”, kể cả mấy anh Ba trong Chợ Lớn cũng tàn theo mây khói vậy thôi! Nếu Trung Cộng cai trị Việt Nam, mấy chú Ba cũng chẳng được “xơ múi” gì đâu! Cộng Sản chẳng tin ai bao giờ! Chúng còn chưa tin nhau, làm sao tin mình được!? Tất cả chỉ vì lợi, và lợi dụng người khác.
Một hôm, ăn chiều xong, chờ giờ “vào chuồng” – tôi uống nước trà với Trần Phú Trắc và “Ông già ham vui” (Anh Lã Trung Tâm). Trắc nói:
– “Tui chỉ muốn Trung Cộng đánh một trận, nhưng chỉ tới biên giới thôi. Đánh xuống nữa thì khổ dân mình.”
“Ông già ham vui” nói:
– “Thằng Đặng Tiểu Bình nói cho Việt Nam một bài học nhưng có “giới hạn không gian, thời gian”. Sao nó nói thế?”
Tôi nói:
– “Mỹ qua giúp miền Nam chống Cộng, tụi Cộng Sản la làng “Đế Quốc Mỹ xâm lược”, khiến Mỹ cũng ngại. Đời bây giờ không dễ gì một nước lớn đem quân đánh một nước nhỏ. Tụi Tàu biết rõ sau lưng nó, bên kia Hắc Long Giang, bốn mươi sư đoàn Liên Xô đang chực sẵn. Hễ Tàu đánh Việt Nam xuống sâu chút nữa, xa biên giới Việt Trung thì Liên Xô cho quân qua sông. Sợ bị cắn vào lưng một phát, đau tận mạng nên Đặng Tiểu Bình phải trấn an Liên Xô, tuyên bố vậy.”
“Ông già ham vui” nói:
– “Đ. mẹ nó. Cho tụi nó đánh nhau loạn xạ ngầu cho vui!”
Tôi cười:
“Ghét Cộng Sản Hà Nội thì mình nói vậy chớ đụng thằng Tàu là mệt lắm. Tình hình bây giờ cũng giống như đời Hồ Quí Ly, bị quân Minh đánh. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” là chết cả đám. Bọn mình cũng tiêu luôn. Staline đày bọn phản động qua Tây Bá Lợi Á. Bọn Hà Nội đày bọn mình ra Việt Bắc. Tàu mà chiếm cả nước thì bọn mình bị đày qua tận sa mạc Tân Cương. Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương, vua quan đời Hậu Trần đều “bỏ mạng sa tràng” bên Tầu.”
Trắc nói:
– “Ông” nầy hồi trước dạy sử nên lúc nào cũng ví von. Anh kể đầu đuôi cho anh Tâm nghe đi.”
Anh Lã Trung Tâm, dân Saigon, từ nhỏ học trường Tây, học sử Tây thì nhiều mà ít học sử ta thì ít nên Trắc mới nhắc tôi như vậy.
Tôi kể:
– “Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần. Tôi không nhớ rõ năm, khoảng 1406 hay 1407 gì đó. Bọn nhà Minh đem quân qua đánh, mượn tiếng “phù Trần, diệt Hồ”. Người mình ghét họ Hồ, tin bọn Tàu nên không tích cực với việc cùng với nhà Hồ chống Trương Phụ, mặc dù cha con Hồ Quý Ly là những người tài giỏi. Hồ Quý Ly là người đầu tiên cho in tiền giấy, Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng là người tìm ra nhiều cách đánh Tầu rất hay, lại là người chế ra súng thần công. Sau nầy, khi qua Tầu, nhờ có tài nên ông nầy đuợc Tầu cho làm quan to.
-“Vậy tại sao thua Tầu?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.
-“Hồ Quý Ly gốc là người nước Ngu bên Tầu, nên ông đổi tên nước ta là “Đại Ngu”. Ngu dữ lắm – tôi và Trắc cũng như anh Lã Trung Tâm đều cười – Bởi lòng người còn nhớ là Trần – Nhà Trần cai trị nước ta đã hai trăm năm, ba lần đánh bại bọn Mông Cổ, công lớn lắm, nên dân chúng không theo Hồ Quý Ly. Lòng dân không theo thì đánh chác cái chi?!” Tôi nói.
“Đến khi Hồ Quí Ly thua rồi thì bọn Tàu giả nói tìm không ra con cháu nhà Trần nên chúng phải đặt quan cai trị. Lúc đó, dân mình có làm “Văn Vĩ chạy xe ôm” (1) thì cũng trễ rồi. May mà có Lê Lợi.” Tôi kể tiếp.
– “Nếu bọn Tầu đánh tới, thế nào Việt Cộng cũng có biện pháp đối với anh em mình.” Anh Lã Trung Tâm phỏng đoán.
Trắc góp ý:
– “Bọn chúng đề phòng mình chứ!”
– “Trắc nói đúng đấy! Chúng nó sợ mình nhiều thứ: trốn trại, đấu tranh, biểu tình, phản đối không đi lao động, nổi loạn, vân vân…” Tôi nói.
– “Làm được chi!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Mình thiếu đủ thứ: thiếu đoàn kết, thiếu lãnh đạo, thiếu kế hoạch…”
– “Tù là quần chúng. Ai sẽ “người lãnh đạo”, “chỉ huy” để đấu tranh? Phải có cán bộ chứ! Vấn đề cán bộ là quan trọng. Thiếu cán bộ không làm được việc. Tâm lý bọn tù chúng mình phức tạp lắm. Làm thì không làm, sợ, nhưng ai làm thì phê phán, chê trách, mai mỉa nên không làm được gì!” Trắc nói, vẻ chán nản.
– “Tui có đọc mấy tài liệu Cộng Sản phê phán giai cấp tiểu tư sản. Chúng nó nhận xét về chúng ta không sai.” Tôi nói.
– “Phê phán như thế nào?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.
– “Háo danh, tranh giành địa vị, ngại khó, ngại khổ, hoạt đầu, vân vân…” Tôi nói.
– “Mày thấy tụi nó nói đúng không?” Lã Trung Tâm hỏi tôi.
– “Đúng chớ! Nhưng nó chỉ nhìn mặt xấu, không nhìn mặt tốt. Thành ra cách nói của chúng có ác ý, xuyên tạc, thiếu sót.” Tôi trả lời.
Trắc nói:
– “Tui thấy giai cấp tiểu tư sản có nhiều cái hay lắm: Tinh thần trách nhiệm, hy sinh, vị tha, có tài lãnh đạo. Không có họ, những cuộc cách mạng không có người lãnh đạo.”
Tôi góp ý:
– “Trắc nói đúng đấy. Giai cấp tư sản, tiểu tư sản mới có đủ trình độ để ý thức về quyền lợi giai cấp, ý thức về bị bóc lột, bị cai trị, bị nô lệ. “Vô sản” cũng là “vô học”. Không có học làm sao ý thức, nhận biết về quyền lợi, về độc lập mà đấu tranh? Tất cả các cuộc cách mạng gọi là vô sản ở Nga, ở Đông Âu, ở Tầu, cả ở nước ta… đều do giai cấp tiểu tử sản lãnh đạo cả.”
– “Vậy tụi vô sản làm cái chi?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.
– “Theo đuôi! Trí thức, tư sản, tiểu tư sản “giác ngộ” cho giai cấp vô sản và chúng theo đuôi, chịu sự lãnh đạo.” Tôi nói.
– “Mày nói sai!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Tụi lãnh đạo ngoài bắc bây giờ là vô sản cả.”
– “Cái hay của Cộng Sản là ở chỗ đó.” Tôi nói. “Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Minh đều là tiểu tư sản cả. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng…, có thằng nào là vô sản, “tam đại bần nông, tứ đại khố rách” đâu! Tuy nhiên, trong thời gian chống Pháp, Việt Minh đào tạo một lớp cán bộ mới, xuất thân từ vô sản. Có cán bộ mới, Cộng Sản dần dần loại bỏ thành phần tiểu tư sản, trung nông trong hàng ngũ Việt Minh. “Biên chế”, “Cải cách ruộng đất” là thực hiện chính sách loại trừ đó. Họ không sai lầm trong “Cải cách ruộng đất” đâu. Có bài bản cả.”
Giai cấp vô sản ai cho ăn thì theo!
Khoảng trước hiệp định Genève 1954, ở quê tôi, tôi thấy những người đi lính Commando, Partisan… cho Tây, phần đông là những người vô sản, sinh trưởng ở thôn quê, ít học… và cũng không phải là người theo đạo Thiên Chúa. Không ít người theo đạo Thiên Chúa đi lính Tây vì muốn chống Việt Minh. Vậy thì họ đi lính Tây để làm gì? Lý do tôn giáo? Ý thức giai cấp? Bị Việt Minh đàn áp? Không! Chỉ vì một lý do đơn giản: Tiền. Có tiền để ăn chơi, đĩ điếm, cờ bạc. Vậy thôi! Nhìn vào trường hợp họ, người ta có thể thấy lý thuyết Cộng Sản sai!
Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:
-“Có chắc Tầu đánh không?”
-“Chắc chớ!” Tôi nói. “Chiều hôm qua, tôi đọc một bài báo ở tờ “Saigon Giải Phóng” dán ngoài hội trường. Bài báo trích lại lời của bình luận từ một tờ báo Tầu Cộng: “Nhân dân Trung Quốc, không ngại hy sinh, không ngại khó nhọc, nhịn ăn, nhịn mặc, để giúp đỡ cho Việt Nam…” Nói như thế thì còn gì để nói nữa!”
-“Nghĩa là đánh?” Trắc hỏi.
-“Nói như thế là để “biện minh” cho viêc sắp làm chớ gì!” anh Lã Trung Tâm góp ý.
-“Anh nói đúng đấy! Biện minh cho việc sắp đánh bọn Hà Nội!” Tôi nói. “Tôi không hiểu tại sao tờ “Saigon Giải Phóng” lại trích đăng câu nói nầy, chỉ có lợi cho Tầu!” Tôi lại tiếp lời.
&
Câu chuyện Trung Cộng sắp đánh làm cho nhiều anh em thấy vui, hớn hở. Có anh em nói: “Đánh thấy mẹ nó đi!”
Một chủ nhật, trước ngày Bắc Kinh đem quân đánh Cộng Sản Hà Nội hôm 17 tháng 2 năm 1979, bọn chúng tôi bị gọi lên hội trường trại B để nghe trung tá Việt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng Z-30A nói về việc “Trung Quốc đang chuẩn bị đánh ta” – câu của Thích – Theo y nói, là y vừa đi Hà Nội về, gặp các “anh lãnh đạo ở Hà Nội” nói như thế. Không phải Thích “nổ” đâu. Khoảng các năm 1945-46, Trịnh Văn Thích là cận vệ của Hồ Chí Minh. Nhờ đó, y quen biết một số “to đầu” ở Hà Nội bây giờ. Ông ta cũng có 25 năm làm “tù trưởng” – Tiếng chúng tôi gọi đùa, ám chỉ người nào đứng đầu trại tù.
Nói ba hoa, lung tung một lúc, đại ý là “Trung quốc muốn đánh Việt Nam” (Cộng Sản) nhưng còn “sợ ông Liên Xô nên chưa dám”. Trịnh Văn Thích phê phán việc thay đổi lập trường của Trung Cộng là theo Mỹ, “bám đuôi Mỹ”, phản bội chủ nghĩa Cộng Sản, v.v… Xong, Trịnh văn Thích “chứng minh” sự thay đổi đó bằng bốn câu thơ của Tố Hữu.
Tố Hữu đi Mascơva, trên đường về, ghé Bắc Kinh. Trước thái độ tiếp đón lạnh nhạt của Tầu Cộng, Tố Hữu làm bài thơ, trong đó có mấy câu. Trịnh Văn Thích chỉ đọc mấy câu thơ nầy, hay y chỉ nhớ có chừng đó?
“Tình bạn ngày nay đã khác xưa,
Rằng e sớm nắng lại chiều mưa
Chợ trời thật giả đâu chân lý
Hàng hóa lương tâm vẫn thiếu thừa…”
Trong một phút nào đó ở cuối buổi “lên lớp”, Thích bỗng nổi đóa, gọi Trung Cộng là “Ba Tầu”, “Ba Chệt”… làm ai nấy đều cười.
Kết quả buổi “lên lớp” đó là những ngày sau, mỗi chiều, đi lao động về, sau khi “cán bộ trực trại” kiểm tra nhân số và soát xét chúng tôi xem thử có trộm cắp bắp trái gì ở ngoài bãi lao động xong thì chúng tôi vào cổng. Qua khỏi cổng, Công An không còn nghe rõ, chúng tôi hè nhau la to, vui vẻ: “Tới rồi! Tới rồi!” Có người đùa “Tới rồi bác tài ơi”. Có người la rõ hơn: “Tới rồi bộ chính trị ơi!” hoặc “Tới rồi Dziệt Cộng ơi!” Tới rồi có nghĩa là Trung Cộng đánh tới rồi.
&
Cũng trong thời gian đó, một hôm đội chúng tôi được chọn ra 5 người, xuống cát từ trên một chiếc xe Molotova đổ xuống sân, gần nơi một ngôi nhà đang xây. Quản giáo Tuyên nói: “Làm xong, các anh được về.” Có nghĩa là chúng tôi sẽ được về sớm nên làm cũng chăm.”
Người canh giữ chúng tôi là quản giáo Tuyên. Anh nầy là tay khá côn đồ, nóng tính. Khi còn làm quản giáo đội của tôi, có lần anh em chúng tôi phản ứng lệnh của y, y rút súng đòi bắn. Chúng tôi khiếu nại với trại. Sau đó, y chuyển qua làm cán bộ trực trại. Hôm ấy, vì vợ y mới từ ngoài bắc vào thăm, y được giao một công việc nhẹ hơn là canh chừng 5 người chúng tôi xuống cát khỏi xe Molotova. Y cứ ở trong buồng với vợ, lâu lâu chạy ra xem chừng chúng tôi xong, lại chui vào phòng. Nhờ thế, chúng tôi vừa làm vừa chơi, chẳng có ai theo dõi, “khiển trách khiển nồi” gì cả.
Toán chúng tôi gồm Nguyễn Ngọc, Trần Nguyên Bình, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung (đội phó) và tôi chơi thân với nhau, hay chuyện trò, hay đùa giỡn. Nhân cái vui đó, thấy Tuyên vừa đưa vợ ra khỏi phòng đi đâu đó, tôi nói đùa với Bình, theo cách làm một câu thơ mới:
“Em từ sơ tán chạy vào đây…”
Vừa xong câu đó thì mấy anh em đang xúc cát cười nói: “Tới đi bác tài, tới đi…” có nghĩa là làm cho xong bài thơ. Ngọc cũng đùa: “Tới đi!” Nghe Ngọc xúi, thấy vui, tôi đọc tiếp, đọc bừa, nghe cho xuôi tai thì thôi vì vốn dĩ, tôi không biết làm thơ:
“Nói nhỏ anh nghe một chuyện nầy:
Trung Quốc xem chừng đánh dữ lắm.
Đảng ta chắc chắn sẽ tan ngay.
Dân Nam rất căm thù Việt Cộng,
Nhắc anh sớm liệu mà xa bay!”
Nghe xong, mấy anh bạn cùng ngừng xúc cát, cười ha hả. Có người nhắc lại câu 2, câu 3. Bình nói đùa với tôi:
– “Trước giờ, anh đặt thơ chống Cộng biết bao nhiêu lần. Tui là Việt Cộng, tui đánh giá anh là tên đại phản động, đem bắn là vừa.”
Tôi cũng cười:
– “Bậy nà. Mầy nói to, tụi nó nghe là chết tao!”
Chuyện “Trung Quốc sắp sửa đánh ta” xem ra là đề tài mỗi ngày.
Chủ nhật kế đó, chúng tôi được ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (câu cán bộ thường nói với chúng tôi). Anh Lã Trung Tâm gọi Trắc ra hội trường ngồi chơi, lại gọi tôi ra theo. Hôm ấy, có thêm Nguyễn Ngọc, chúng tôi gọi đùa là “Ngọc thiến” vì trước kia, anh ngừa thai bằng cách cắt ống dẫn tinh.
Vừa chúm chụm lại uống trà, anh Lã Trung Tâm lại hỏi tôi:
Nói xong, tôi đi tới tấm bảng thông tin. Ở đó có dán bài báo của tờ Saigon Giải như tôi nói ở trên. Tôi lén gỡ bài báo đó, đem lại cho anh em đọc.
Lã Trung Tâm nói:
– “Kể công thì nhằm nhò gì?”
Trắc giải thích:
– “Không phải như dzầy đâu. Ý nó muốn kể công, la làng, để hễ nó có đánh thì thiên hạ người ta cho rằng nó phải, không trách cứ gì nó. Đánh là vì Dziệt Cộng nó phản phúc. Nói năng cách nầy bình dân dễ hiểu quá! Nó đã kể lễ như vậy là nó sẽ đánh đó.”
– “Hà Nội có dám đánh lại không?” Nguyễn Ngọc hỏi.
– “Đánh chớ sao không? Đánh nhưng cầu hòa.” Tôi nói.
– “Cầu hòa là sao?” Lã Trung Tâm hỏi, tỏ ý không tin.
Trắc nói:
– “Tui nghĩ anh Hải nói phải. Không thể không đánh lại nhưng lo cầu hòa. Cầu hòa là vì tình thế nước lớn, nước nhỏ, chớ chưa chắc vì sợ. Có Liên-Xô mà!”
– “Trắc nói đúng!” Tôi góp ý. “Chẳng hạn như khi “Lê Lợi đại thắng quân Minh” rồi, cũng phải cho người sang Tầu cầu hòa, ba năm đi sứ một lần, mỗi lần sang sứ Tầu, phải làm hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” đem cống, coi như thế mạng Liễu Thăng, Vương Minh.”
– “Vương Minh là phó tướng của Liễu Thăng. Đúng không?” Ngọc hỏi.
Lã Trung Tâm lại hỏi:
– “Triều cống là chịu nó cai trị?”
– “Không phải.” Tôi nói. “Triều cống chỉ là một phương cách ngoại giao hồi xưa. Nước nó, nó cai trị dân nó. Nước mình, mình cai trị dân mình. Còn như bị đô hộ là nó cai trị mình hoặc mình cai trị dân mình theo lệnh của nó. Nếu mình có tự chủ, nó ra lệnh, mình không nghe thì làm gì được nhau? Hễ đánh mình thì mình đánh lại. Có khi nó chưa đánh mình thì mình ra tay trước, như Lý Thường Kiệt đem quân đánh châu Ung, châu Khiêm thời nhà Lý vậy. Trên thực tế, nó là nước lớn, mình là nước nhỏ, nên thay vì nó triều cống mình, mình phải triều cống nó, để khỏi bị nó ỷ thế nước lớn, nay dọa nạt, mai hăm he, mình phải lo canh giữ biên giới chặt chẽ, hao tốn, khó khăn, gian khổ lắm. Theo tôi nghĩ, để tránh đụng chạm, chung quanh nước lớn, thường có những vùng gọi là “quốc gia đệm”, như trong hội nghị Yalta chẳng hạn.”
Anh Lã Trung Tâm biểu tôi:
“Mày kể lại hội nghị đó nghe đi. Tao cũng có học nhưng quên gần hết.”
– “Tui khoái đọc lịch sử, lại dạy môn sử ký, không đọc không được, không nhớ không được. Nhưng tui đi lính từ Mậu Thân, quên đi nhiều, nhớ đại khái thôi.”
Ngọc nói:
– “Nói mấy cái đại khái anh nhớ đi.”
– “Hồi đó tui có đọc cuốn “Yalta, ou la partage du monde” (2) và mấy bài báo của Từ Trì trên Bách Khoa (3). Lúc đó, biết chắc phe Trục sắp đầu hàng, các nước lớn họp nhau lại, bàn chuyện “hậu chiến”. Có 5 nước lớn là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Tầu, nhưng hội nghị nầy không có Pháp với Tầu, Mỹ Nga chơi đểu, lén gặp tay đôi bàn chuyện chia nhau thế giới.” Tôi kể lại.
– “Chia như thế nào?” Ngọc hỏi.
– “Chia như chia bánh ga-tô vậy. Miếng nầy là Đông Âu, gần Nga, “rừng nào cọp nấy” chia phần cho Nga. Miếng nầy, châu Á, thị trường mênh mông thiên địa, chia cho chú lái buôn áo đuôi tôm, mũ sọc dưa.” Tôi vừa giải thích, vừa đùa.
– “Vậy Việt Nam, hồi đó ông Hồ Chí Minh có kêu gọi tổng thống Mỹ?” Lã Trung Tâm hỏi.
– “Hồ Chí Minh là anh điếm, mà điếm làng, chỉ ăn trên đầu mấy anh quốc gia của mình thôi. Còn như OSS, (4) CIA, chúng nó biết tỏng Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Quốc tế. Giúp Hồ Chí Minh rồi để Liên Xô hưởng sao? “Cầm cặ… chó đái” sao? Anh điếm làng Hồ Chí Minh qua mặt quốc tế sao được! Thật ra vì Roosevelt chết sớm, dân mình cũng xui.” Tôi nói.
– “Roosevelt làm gì?” Lã Trung Tâm lại hỏi tôi.
– “Trước khi chết, Roosevelt đã có chính sách “Ủy trị cho Đông Dương” (5). Nhưng khi ông ta chết thì chính sách nầy cũng chết theo. Tụi Cộng Sản Nga mạnh lên, gây ra chiến tranh lạnh. Tổng thống Truman chơi không lại, bèn kéo Pháp về phe Mỹ, cùng chống Cộng. Vậy là Mỹ viện trợ cho Pháp trở lại Đông Dương thay vì ngăn Pháp trở lại như “ủy trị” của Roosevelt. Người ta nói, về Đông Dương, chính sách Mỹ mâu thuẫn là vì lẽ đó.” Tôi giải thích.
– “Mày vẽ bùa mà đeo chớ đọc đâu ra ba cái chuyện trên trời dưới đất nầy?” Lã Trung Tâm hỏi, vẻ không thoải mái.
Vốn rất mến ông “Nam bộ tánh nóng Ba Cụt Năm Lửa” nầy, tôi không tự ái, mà còn dẫn chứng thêm:
– “Tui nói thiệt anh, chứng chỉ sử ở đại học chẳng nói chi ba cái chuyện nầy cả, nhưng nếu anh muốn, khi nào về, anh có thể đọc cuốn “Sự quan trọng Đông Dương trước mặt Đông Nam Á” của ông cha Nguyễn Phương thì sẽ thấy phần nào điều tôi nói ở trong sách đó. Anh giỏi Pháp văn, chán chi tài liệu, anh đọc loại Livre de poche. Loại nầy tui có đọc mấy cuốn về Napoleon, về Nato, Seato, về chiến tranh thế giới thứ hai. Tui chưa đọc cuốn nào nói về Đông Dương hồi đó. Anh có thể đọc cuốn Street Without Joy của Bernard Falls (6), tìm trong mấy cuốn của ông nầy, nhiều cái hay lắm!”
Trắc trấn an anh Tâm:
– “Ông” nầy đọc nhiều và chả nhớ dữ lắm, chắc không sai đâu!”
– “Tui kể anh nghe một chuyện nầy anh không ngờ.” Tôi nói tiếp. “Ông bà mình từ xưa thường hay kích thích cái tinh thần nhỏ mà thắng lớn, óc nhỏ mà khôn hơn thằng to đầu, yếu mà thắng mạnh. Cái nầy thấy rõ lắm.”
– “Mày đưa ra ví dụ đi, nói mơ hồ hoài.” Anh Lã Trung Tâm cằn nhằn tôi.
– “Như tục ngữ có câu “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn” chẳng hạn. “Thằng Tầu to đầu” chắc gì khôn hơn “thằng nhỏ dái Việt Nam”. Trong văn chương Việt Nam có nhiều chuyện như vầy, vui lắm.”
– “Chưa tới giờ ăn đâu, anh Hải kể vài chuyện nghe chơi là vừa.” Ngọc đề nghị.
– “Trong lịch sử”, Tôi nói: “ai cũng biết việc Lý Thường Kiệt đánh Tầu, ca dao nói là “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng là chấu ngã, ai dè xe nghiêng”. Chuyện mấy ông trạng Tầu và trạng ta đấu trí là vui nhất.”
Bây giờ anh Tâm thấy vui, nói đùa:
– “Tiếp đi bác tài.”
– “Ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ bên Tầu, đang giữa tiệc, ông thấy một bức tranh thêu có hình con chim sẻ đậu trên cành trúc. Tưởng là chim thật, ông bước tới đưa tay bắt. Ai nấy đều cuời. Ông lanh trí chụp bức tranh xé mất, rồi tâu với vua Tầu: “Chim sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, cây trúc là quân tử. Tiểu nhân ở trên quân tử sao được nên thần phải xé đi.” Thấy ông ta thông minh quá, vua Tầu cũng phong cho ông làm trạng nguyên nước Tầu nên sử gọi là “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Một chuyện nữa nghe! Chuyện nầy ông Doãn Quốc Sĩ chép lại trong cuốn “Trạng Đi Sứ” của ông. Trạng mấy nước gặp nhau bên Tầu. Vua Tầu cho dựng một cái chòi cao, trên có cắm lọng, treo cờ. Khi các sứ lên hết trên chòi, vua Tầu bèn ra lệnh cất cái thang, ai muốn xuống cách nào thì xuống. Các sứ Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ loay hoay chưa tìm ra cách xuống thì trạng Việt Nam đã gỡ lọng ôm mà nhảy xuống, như người ta nhảy dù. Bọn Tầu phục lăn, sứ An nam thông minh, lanh lợi.”
– “Binh chủng Dù nên chọn ông nầy làm thánh tổ chớ sao chọn ông Michae. Ai biết ông Michae là ông nào đâu!” Trắc góp ý.
– “Tao cũng không rõ, hình như đâu trong thần thoại Hy Lạp.” Lã Trung Tâm nói.
– “Còn chuyện chi nữa không?” Ngọc nôn nóng hỏi, có lẽ anh ta sợ sắp tới giờ phát cơm. Hôm nay, chủ nhựt, tuần một lần, mỗi người được lưng chén cơm.
– “Còn nhiều lắm” Tôi nói, “Sứ Tầu sang ta, đi thuyền qua sông, y địt một cái bủm, còn ngạo mạn nói “Sấm động Nam vang.” Trạng An Nam bèn lên đứng ở mũi ghe, bắt cặc đái xuống sông, đối lại ngay “Vũ quá Bắc hải.”
– “Anh nhớ chuyện chọi trâu không?” Trắc nói. “Trạng mình dẫn ra con nghé, giam đói đã mấy hôm, nhè dái trâu, tưởng là cái vú trâu Tầu mà đớp. Trâu Tầu nhột quá, bỏ chạy mất!”
– “Mục đích tổ tiên mình là muốn dạy con cháu, đừng thấy thằng Tầu nước lớn, dân đông mà sợ. Cứ đoàn kết mà đánh nhầu vào. Từ khi thoát khỏi Bắc thuộc tới giờ, cả ngàn năm, thằng Tầu đánh ta mấy lần, có bao giờ ta thua đâu. Mắc chi mà sợ. Ấy đấy, những chuyện vui ấy vừa văn học vừa là luân lý đấy, đừng sợ kẻ mạnh. Quan trọng là phải đoàn kết. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” như đời Hồ Quí Ly là bị Tầu đô hộ ngay.” Tôi nói.
Trắc nói với tôi:
– “Anh lặp lại câu Lỗ Tấn nói cho anh Tâm nghe đi.”
Tôi nói ngay: “Lỗ Tấn là đại văn hào của Tầu, nhận xét về người Tầu của ông, ông ta nói: “Tàn bạo như sư tử, xảo quyệt như hồ ly, nhát gan như thỏ đế.” Tui chỉ sợ đạo quân thứ 5 thôi.
– “Đúng đấy!” Trắc nói. “Người Tầu ở xứ mình khá đông, như trong Chợ Lớn chẳng hạn. Nếu họ dựng cờ theo Tầu thì mình mệt.”
Tôi nói:
– “Đất lành chim đậu. Người Tầu trung thành với nơi cho họ no ấm. Người Tầu Singapor, người Tầu Đài Loan không bao giờ muốn lệ thuộc mẫu quốc của họ. Người Tầu ở Việt Nam cũng vậy, họ trung thành với đất nước nầy. Nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lý gốc từ bên Tầu qua Việt Nam có mấy đời mà có theo Tầu đâu. Tầu Mạc Cửu có đem đất Hà Tiên mà dâng cho Bắc Kinh đâu. Cả đám quan to nhà Nguyễn như Lý Văn Phức, Ngụy Khắc Đản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản đều Minh Hương, gốc Tầu cả, có ai không trung thành với nước Việt Nam?”
Rồi tôi quay qua chỉ anh Lã Trung Tâm nói: “Còn cái ông họ Lã nầy, cháu ông Lã Bố đời Tam Quốc. Ông Lã nầy cũng lo “hí Điêu Thuyền Việt Nam”, có chịu theo Tầu đâu!”
Lã Trung Tâm đỏ mặt, cũng nói đùa:
– “Mày họ Hoàng, cũng gốc Tầu như tao, bày đặt láu cá! Mày là cháu của Hoàng Cái đấy.”
Thế rồi kẻng nhà bếp đánh lên mấy tiếng, chúng tôi giải tán về nhận phần cơm trưa, sau một buổi sáng bàn chuyện “chính chị chính em”.
Việc Trung Cộng đánh có hậu quả lâu dài. Có thể thấy rõ điều đó trong một số hoạt động của anh em tù như tìm cách gởi thư cho phái đoàn Liên Hợp Quốc, tết đón Mẹ Việt Nam, văn nghệ “tự biên tự diễn” và trốn trại dài dài…
Sau khi Trung Cộng đánh ở biên giới, một hôm đang phá rừng thì nghe mấy loạt súng nổ dồn dập. Quản giáo Chinh và công an bảo vệ đề phòng, biểu chúng tôi tập họp ở bìa rừng, chờ. Chiều hôm đó bỗng nghe tin một anh nào đó ở Trại A đang lao động cách chỗ chúng tôi không xa lắm, đang cuốc đất thì tiện tay cuốc vào đầu quản giáo đang đứng cạnh một phát. Nhờ cái nón cối nên tên Công an không bị thương nặng. Anh tù cải tạo bỏ chạy. Công An đuổi theo bắn mấy loạt súng, anh ta gục tại chỗ.
Cũng một thời gian ngắn sau, lại có một ông nguyên xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Anh ta bàn bạc cùng một người trong đội là người Thượng. Đang lao động, hai người trốn đi lúc nào Công An không hay. Đến khi thấy hai bóng người xa xa, đang đi vào rừng, Công An mới biết tù trốn. Chúng đuổi theo nhưng không sao đuổi kịp. Không rõ ông Quốc Gia Hành Chánh được anh người Thượng dạy cho cách đi rừng như thế nào mà cả hai người đi như bay, Công An rán hết sức chạy theo nhưng rồi cuối cùng cũng phải đứng ngó, bắn theo thì đạn chẳng tới. Anh em chúng tôi bỏ cuốc đứng nhìn cảnh tượng đó mà cười sung sướng, mừng cho người thoát vòng tù tội.
Chưa được mấy chốc thì Công an nạt nộ biểu tập trung ra về. Đội trưởng Trương Đình Gòn nói đùa: “Anh em “bài cào” tập trung về đi!” Công An thì không biết gì, nhưng anh em chúng tôi thì cười vì câu đùa của Gòn: “Thua me gỡ bài cào” Thua hai người trốn trại, Công An bèn có thái độ hung dữ với chúng tôi, đúng như câu tục ngữ đã nói.
hoànglonghải
(1)-“Văn Vĩ chạy xe ôm là câu nói đùa của dân Saigon sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Dưới chế độ mới, không còn ai mơ hồ gì với Cộng Sản cả. Ai cũng “sáng mắt ra”, đến nỗi như nhạc sĩ vĩ cầm cổ nhạc như Văn Vĩ bị mù cũng “chạy xe ôm”, có nghĩa là Văn Vĩ cũng sáng mắt vì Cộng Sản, vì nếu không “sáng mắt ra”, làm sao ông có thể “chạy xe ôm” được?!
(2)-“Yalta ou la partage du monde” tác giả là Arthur Conte. Hội nghị xảy ra hồi đầu tháng 2 năm 1945, tại Yalta, một thành phố nghỉ mát của Liên Xô ở Hắc Hải. Hai nước, sau nầy là hội viên Hội Đồng Thường Trực Bảo An không có mặt là Pháp và Tầu. Staline chơi điếm. Lợi dụng lúc nầy Roosevelt đau yếu nặng (ba tháng sau thì qua đời), nên ông ta và Roosevelt thường họp mật, riêng rẻ mà không cho Churchill biết, chia chác nhau thế giới. Theo Từ Trì trên Bách Khoa thì Staline chọn 3 lâu đài cho ba lãnh tụ ở. Lâu đài Staline và Roosevelt ở gần nhau, lâu đài Churchill ở nằm riêng ra, thành ra khi hai tay đầu sỏ Nga Mỹ lén lút gặp nhau, phái đoàn Churchill không biết được. Roosevelt giao vùng Đông Âu cho Liên Xô. Ngược lại, Liên xô không can thiệp những hoạt động của Mỹ ở châu Á. Vì thái độ nầy của Mỹ, ông Churchill có tuyên bố, sau nầy, nếu có đến Nữu Ước, không bao giờ ông nhìn vào tượng Nữ Thần Tự Do ở cảng nầy.
(3) Bán nguyệt san nổi tiếng ở miền Nam trước 1975, số đầu tiên xuất bản khoảng 1956, hình như đến 30 tháng tư- 1975 mới ngừng xuất bản. Ban đầu do ông Huỳnh Văn Lang chủ trương, Khoảng năm Mậu thân, ông Lang giao lại cho ông Lê Ngộ Châu.
(4) Office of Strategic Services (OSS) Cơ quan tình báo Mỹ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai, có hoạt động ở Việt Bắc và giúp đỡ cho Việt Minh, tiền thân của Xịa.
(5) Chính sách Ủy trị (trusteeship) là chính sách của tổng thống Mỹ Roosevelt về Đông Dương. Theo chính sách nầy, sau khi chiến tranh Thế giới thú 2 chấm dứt, Pháp không được trở lại Đông Dương. Các nước Đông Dương sẽ được cai trị bằng một Hội Đồng Ủy Trị gồm có đại diện 3 nước Đông Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan, Trung Hoa và Mỹ. Dĩ nhiên, Mỹ là chủ tịch hội đồng nầy. Theo chủ trương nầy, sau thời gian 5 năm các nước Đông Dương sẽ được độc lập.
(6) Bernard Falls: sinh năm 1926, chết năm 1967 ở Việt Nam, gần cầu Phò trạch, Thừa Thiên, nơi ông ta đặt tên là “Con đường buồn thiu” (Street without joy). Ông sinh ở Áo, theo gia đình qua Pháp sinh sống từ khi còn thơ ấu. Khi Đức Quốc xã cai trị Pháp, ông theo phong trào kháng chiến chống Đức.
Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, ông qua học ở Mỹ, tốt nghiệp đại học và làm giáo sư ở viện đại học Howard.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), ông qua Đông Dương làm phóng viên chiến trường, từng gặp và phỏng vấn các nhân vật lãnh đạo Pháp ở Đông Dương, Quốc gia Việt Nam và Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Minh.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1965-75), ông lại qua Đông Dương làm phóng viên một lần nữa, và tử nạn khi ông đi theo một đoàn quân Mỹ từ Phú Bài ra giới tuyến. Ông chết ngay trên chiếc xe GMC khi xe bị mìn. Cái máy tape recorder ông mang ở ngực vẫn còn chạy nên ghi cả tiếng mìn nổ ấy. Vợ ông, bà Dorothy Falls, đang mang bầu, từ Mỹ mang cái bụng bầu sang Việt Nam đón xác chồng về.
Câu hát của Trịnh Công Sơn “Một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm, người chết hai lần chính là địa điểm xe của Bernard Falls bị mìn.
Ông nổi tiếng là một nhà báo, một sử gia giỏi, và là một “chuyên viên” về Đông Dương, có ảnh hưởng lớn đến các nhà chiến lược Mỹ, hoạch định chính sách Hoa Kỳ cho Đông Dương.
Những hàng chữ trên các tập sách báo phản động vẫn lướt qua mắt anh, chúng thoạt nhòe đi khi anh nghĩ đến vợ và hiện ra những vết đen bẩn thỉu trên mặt giấy trắng chẳng khác gì lũ vi trùng trên tiêu bản đặt dưới ống kính hiển vi. Thật gớm ghiếc. Thế mà Tư Tuân vẫn phải đọc, vẫn phải chép trên giấy những đoạn cần thiết để làm tư liệu.
Nghe ấm nước sôi, Tư Tuân buông cây bút xuống bàn. “Mình cũng chưa hiểu hết chúng” – Anh tự nhủ thầm trong lúc pha trà – “Chúng là thế đấy. Đến lúc này mới nắm được là quá chậm”
Chén trà đầu tiên buổi sáng làm anh nguôi ngoai đi nỗi bực dọc. Chính lúc đó Kiên Trinh tươi tỉnh bước vào. Tư Tuân lên tiếng chào:
– Trà mới pha đấy. Còn sớm nên mình đang lo phải độc ẩm thì buồn chết. Trà ngon không có bạn hiền không ngon.
– Tôi đoán thế nào anh cũng đến sớm mà!
Trên bàn làm việc của Tư Tuân, cạnh ấm trà mới pha là bao thuốc lá Mai còn nguyên. Tư Tuân không nghiện thuốc, nên Kiên Trinh biết chỉ huy đơn vị dành cho anh.
– Thế nào, nhà nghiên cứu văn học! Tư Tuân thường có lối dùng từ ngữ dí dỏm như thế.
Kiên Trinh kéo ghế ngồi, nhận chén trà của người chỉ huy trao. Anh là thí sinh sắp trả bài, mà người chấm thi vui vẻ này lại rất nghiêm khắc khi ra đề thi. Anh lấy từ trong áo ra một tờ giấy nhỏ có ghi độ mươi dòng và cây bút bi.
– Nghĩa là cậu đã thuộc lòng? Tư Tuân cười. Thế thì tốt. Nào ta bắt đầu đi!
– Xin anh cho biết ta nên bắt đầu từ đâu?
Tư Tuân lại cười:
– Chà, cậu khôn lắm. Cậu nhường cho tôi giao bóng trước để thăm dò chứ gì? Thôi được, cậu lần lượt giới thiệu từng chương của “công trình nghiên cứu văn học” của cậu đi. Trước hết, sau khi nghiên cứu các bài vở đăng trên báo chí của bọn phản động lưu vong, được chúng quảng cáo là do các tác giả trong nước gửi ra, cậu thấy thật giả thế nào, nếu có thật thì khả năng tên nào viết? Hai là nếu có bọn trong nước viết bài thì chúng gửi ra bằng đường nào, làm sao phát hiện các đường dây ấy?
Kiên Trinh dụi điếu thuốc vừa mới đốt vào gạt tàn. Anh nhìn vào tờ giấy trước mặt. Chắc chắn với mười dòng chữ trên đó không thể nào gói gọn nội dung trả lời hai câu hỏi ấy. Tuy thế, Tư Tuân biết rõ người cán bộ dưới quyền mình đã chuẩn bị để giải đáp các vấn đề do anh đặt ra. Nhưng cậu ta vẫn có thói quen chừng nào vấn đề còn phải được bàn cãi thì chưa vội viết thành văn bản báo cáo. Kiên Trinh giải thích rằng viết các báo cáo mà vấn đề chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh là động tác thừa. Tư Tuân tán đồng quan điểm ấy và anh cũng đã rất tin vào trí nhớ của đồng chí mình. Đối với anh, trí nhớ tốt là điều kiện bắt buộc của nghề nghiệp. Hàng chục năm làm cán bộ quân báo trong kháng chiến, anh đã có thói quen bắt bộ óc phải ghi nhận tin tức, tài liệu thay cho giấy tờ để bảo đảm an toàn, chỉ khi nào cần gửi báo cáo đi xa anh mới dùng đến chữ nghĩa dầu là với mực bí mật hoạc vi ảnh.
– Xin báo cáo trước với anh, những điều tôi sẽ trình bày chỉ là đánh giá từ những cơ sở chưa có chứng cứ chắc chắn. Tôi đã đọc hai mươi mốt bài ký tên mười bốn tác giả khác nhau. Dựa trên nội dung, cách hành văn, tôi tin rằng ít nhất có mười lăm bài do ít nhất bốn tên từ trong nước gửi ra, nhưng lấy nhiều bút hiệu. Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Cái khó là chỗ đó. Nhưng điều may mắn là văn chương cũng như chữ viết có đặc điểm riêng của người viết. Hình như khoa học hình sự chưa có bô môn xác định văn phong như xác định tự dạng. Tuy thế không phải ai cũng viết văn được. Do đó, số người viết văn không nhiều lắm, nên ta dễ “khoanh” lại.
– Hay lắm – Tư Tuân cười hóm hỉnh – Xem ra cậu có thể là nhà phát minh ra một môn mới trong khoa học điều tra hình sự rồi đấy. Cậu đang giữ bóng tốt đấy, sút đi.
– Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống cộng “có cỡ” cả. Tôi xin trình bày từng loại dễ “nhận diện” nhất. Đó là loại phiếm luận như bài tựa “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” chắc chắn tác giả của nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu xoong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu ruột quan tri huyện.
– Tạm chấp nhận cách suy luận và “bộ môn xét nghiệm” văn phong của cậu – Tư Tuân suy nghĩ rồi phát biểu – Nếu giả thuyết đó đúng thì vấn đề còn lại là… bắt đối tượng vào lưới nhặt bóng. Nhưng chính sự thành công dễ dàng ấy khiến ta không dễ dàng chấp nhận cách nhìn đơn giản toàn bộ vấn đề. Cậu nghĩ xem đằng sau các tờ báo rẻ tiền ấy là gì? Trong những điều kiện hiện nay, thử hỏi chúng sử dụng loại tay sai nào khác cho những hoạt động chiến tranh tâm lý? Nhiều khi chiến tranh tâm lý chỉ là những thứ hỏa mù để che đậy cho những hoạt động ngầm khác, đành rằng loại kẻ thù này chúng ta đã từng chạm mặt và quá quen thuộc bài bản của chúng: chúng rất “rẻ tiền” nhưng cũng rất xảo quyệt. Bọn trong nước gửi bài, tin, bọn bên ngoài đăng trên báo, tạp chí. Gần đây lại có thêm đài phát thanh của bọn được mệnh danh là “phục quốc” đặt ở biên giới Thái Lan cũng đã léo nhéo phát trên sóng nhiều bài, tin của bọn này. Cứ bên ngoài bọn chúng càng la to, bọn bên trong càng dễ lộ mặt. Việc làm này của chúng nào có khác gì cho “voi đẻ giữa chợ” thì khó nói đến chuyện giấu kín được.
Bọn chúng đánh giá thấp chúng ta chăng? Tư Tuân tự đặt một câu hỏi và liền sau đó anh ta tự trả lời – Chưa hẳn thế. Đánh nhau mấy chục năm, biết rõ nhau quá rồi. Nhưng chúng vẫn chống ta vì hận thù, vì ảo tưởng. Hơn thế nữa, chống cộng là hái ra tiền. Thằng nào cũng có “mánh” riêng. Cái đám Hoàng Cơ Minh, Phạm Văn Liễu lợi dụng chiêu bài “phục quốc” để quyên tiền trong số người Việt di tản và đút vào túi hàng chục triệu đô la của nước ngoài. Trần Tam Tiệp cũng vậy thôi. Có khác nhau chăng là hắn nhân danh hoạt động văn hóa để tổ chức quyên góp và nhận tài trợ của bọn phản động các nước để “cứu tế” văn nghệ sĩ ở trong nước. Giờ đây, nếu nằm im không “lên tiếng” bằng cách này hay cách khác thì moi được tiền của ai, nhất là bọn chủ của chúng cũng chẳng phải bọn ngu ngốc cứ tung tiền mà không thu lại được gì. Đám văn nghệ sĩ phản động còn lại trong nước đối với chúng vẫn còn có tác dụng trong việc gây lung lạc một số quần chúng trong và ngoài nước. Bọn này bị “tóm” ư? Chẳng lỗ lã gì với bọn quan thầy. Thậm chí chúng sẽ vin vào đó để mở chiến dịch vu cáo cộng sản khủng bố tù đầy văn nghệ sĩ. Và đây lại là một cú áp phe mới. Rồi sau đó, chúng tiếp tục tìm cách tạo dựng ra những âm binh mới để tác động, hòng gây tình hình không ổn định thường xuyên cho ta. Tôi nói thủ đoạn của chúng “rẻ tiền” vì hai lẽ: một là nó ít tốn kém mà có hiệu quả, hai là nó không có gì mới lạ. Song đó cũng chính là sự xảo quyệt của kẻ thù. Liên hệ thực tế vụ án này cậu nghĩ thế nào?
– Thú thật với anh, khi khoan lại diện đối tượng như đã trình bày và cho anh em rà lại để xác minh đánh giá của mình, tôi cảm thấy thất vọng vì đã có những cơ sở bước đầu cho thấy giả thiết của tôi có khả năng là hiện thực. Tôi thất vọng vì cái mà anh gọi là thành công dễ dàng và sự “rẻ tiền” của đối thủ mình. Còn điều thứ hai mà anh gợi ý, quả thật tôi chưa nghĩ đến.
– Đừng vội thất vọng, anh bạn trẻ. Hãy đi vào vấn đề cụ thể này là làm thế nào chúng có thể gửi đều đặn các bài viết ra ngoài? Hẳn có đường dây ổn định. Nghĩa là có một tổ chức hẳn hoi, một thứ “tòa soạn tại chỗ” để đặt hàng và trả tiền cho bọn bồi bút đó. Cái tòa soạn bí mật đó là đối thủ trực tiếp của chúng ta. Cậu có tin tức gì chưa? Nếu chưa có thì tính toán để có lời giải tiếp theo.
Tư Tuân làm việc không biết mệt mỏi, làm ngày, làm đêm. Mần việc đến một, hai giờ đêm, ngáo đến năm giờ sáng mà đã mò dậy tập thể dục và “ăn qua loa mấy chén cơm chiên…” Mèn ơi, cơm chiên mà đảng viên ta chỉ đớp qua loa mỗi sáng có mấy chén thôi. Cơm chiên mà đảng viên ta buổi sáng đớp qua loa được những mấy chén thì dù không có ưa cộng sản đến mấy, ta cũng phải nhận đảng viên đớp khỏe quá. Đảng viên có thể đau bất cứ bệnh gì, song chắc chắn không phải là đau dạ dày.
Khi anh dắt xe ra khỏi nhà chị chạy theo trao cho anh lọ thuốc và dặn:
– Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhớ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.
Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến.
Ta nói “nửa đêm” nhưng chẳng ai nói “nửa buổi sáng”. Ta nói “giữa buổi sáng” hay chín, mười giờ sáng. Riêng Cớm Cộng vợ dặn chồng uống thuốc vào lúc “nửa buổi sáng”. Nhưng thôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy. Ta nên nói đến thứ thuốc tễ đặc bịt mà Cớm Tư Tuân, trong lúc ngồi lên phương án truy tầm tung tích và tóm bọn Biệt Kích Thành Hồ, đưa lên mũi ngửi và thấy thơm thơm.
Sau ngày Ba Mươi Tháng Tư những người dân Việt Nam Cộng Hòa bại trận tối tăm mắt mũi trong một sớm một chiều thấy mình mất hết tất cả. Sàigòn đang đầy ắp hàng hóa, thực phẩm, thuốc men, Việt cộng trên răng vẩu, cải mả, dưới lựu đạn thối, ngơ ngáo dắt nhau vào Sàigòn, bỗng dưng Sàigòn trở thành một Chợ Trời, chợ vỉa hè khổng lồ. Tất cả những cửa hàng đều đóng cửa. Những người có tiền gửi ngân hàng đều không được lấy ra, mất trắng. Những người mắc nợ ngân hàng, nợ Nhà Nước VNCH, bị Việt cộng truy tầm đòi trả nợ đến nơi, đến chốn. Nhiều người miền Nam Cộng Hòa cũng biết bọn Việt cộng Bắc Kỳ đói khổ nhưng thực tình chẳng ai ngờ chúng lại đói rách đến cái độ cực kỳ như thế.
Bọn lý thuyết gia cộng sản từng viết những câu hung hăng con bọ xít hơn cả thánh tổ của chúng là Các Mác, Ăng Ghen – anh cu Lê Nin không đáng được nói đến – chẳng hạn như câu:
– Chủ nghĩa tư bản ngay từ lúc nó ra đời đã mang máu tươi trên từng lỗ chân lông của nó…
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam Post by Sơn râu 11 Oct 2025
91. Trần Trị Chi
Những năm gần đây độc giả được đọc ít nhiều truyện ngắn của Trần Trị Chi đăng rải rác trên các tạp chí Văn, Văn Học và Thế Kỷ 21. Gia Phả gồm 10 truyện ngắn của ông được tuyển chọn, in thành sách.
Về phần tiểu sử người ta được biết Trần Trị Chi sinh năm 1943 tại Nam Định. Cựu quân nhân thuộc QLVNCH. 1975 tù cải tạo. 1979 vượt biên.
Hiện định cư tại Mỹ. Giới thiệu Trần Trị Chi, Nguyễn Xuân Hoàng, người
chủ biên Tạp Chí và nhà xuất bản Văn viết:
“Với tập truyện đầu tay này, Trần Trị Chi đã gửi đến người đọc chúng ta những trang viết của một người nặng lòng với chữ nghĩa. Nhân vật của ông gần với đời thường và việc ông đi sâu tận đáy những chi tiết của nhân vật cho thấy ông không bằng lòng với sự hời hợt trong cách viết. Gia Phả là một tập truyện được viết với một tâm hồn nhậy cảm và một nỗ lực đầy năng động của tác giả”.
Có thể coi Gia Phả của Trần Trị Chi là một tập truyện tình. Nhưng bầu trời của những truyện tình ấy lúc nào cũng vần vũ những đám mây u ám, đôi khi phải nói là tối tăm mù mịt nữa. Chiến tranh rồi biến cố 30 tháng 4/75 đã ảnh hưởng nặng nề đến tâm hồn người Việt Nam, đặc biệt là những người miền Nam.
Gần như, không một cuốn sách nào được viết trong mấy chục năm gần đây, lại không có dấu vết của những thảm họa xẩy ra trong khoảng thời gian tồi tệ ấy, ngay cả đối với một số tác giả chỉ mới trưởng thành sau này, rõ hơn, sau ngày 30 tháng 4/75. Bởi vì, trực tiếp hay gián tiếp, người ta đã phải chia nhau gánh chịu những thảm họa ấy. Trừ Gia Phả truyện đã được tác giả chọn làm nhan cho cuốn sách, 9 truyện còn lại trong tuyển tập của Trần Trị Chi, đều là những truyện, những mảnh đời tan nát do chiến tranh, rồi những hậu quả của cuộc chiến tranh ấy gây ra. Những cái chết đột ngột của các nhân vật trong nhiều truyện có một vẻ gì đó giống nhau, dĩ nhiên chỉ giống nhau ở chỗ đột ngột, chứ nguyên do dẫn đến cái đó thì người ta đã được báo trước: các nhân vật gia nhập quân đội, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức chẳng hạn, thì hình như cái chết đã rình rập sẵn bên ngoài cổng trường để chộp lấy, sớm hay muộn gì đó thôi.
Dĩ nhiên không phải thần chết chộp hết mọi người. Vì thế mới có những đoạn tiếp sau ngày 30 tháng 4 cho nó đủ ý nghĩa cái gọi là thảm họa.
Kể lại những ngày đầu tiên đi học tập cải tạo Trần Trị Chi viết:
“Số thực phẩm chúng tôi đem theo đã sạch boong. Số thực phẩm tích lũy trong cơ thể chúng tôi cũng đã teo tóp. Thời gian càng kéo dài, số người liệt càng lên cao. Nhiều người thường bảo cộng sản rất giỏi trong chiến tranh. Khi hòa bình, loay hoay chẳng biết làm ra sao. Thực ra, nếu không sai thì cũng thiếu. Bởi vì còn cái món cầm tù nữa. Bọn ‘chủ nhân ông mới’ đáng là bực thầy thiên hạ trong cách bỏ tù đồng loại, nhất là bỏ tù người cùng một nước. Chúng chả mất quái gì, mà vẫn tận dụng được xương cốt của tù nhân. Này nhá. Hàng rào nhốt chúng tôi, chúng tôi xây. Thực phẩm nuôi chúng tôi, chúng tôi sản xuất. Và khi thiếu thốn, kiệt lực, chúng tôi viết thư ăn xin vợ con thân nhân của chúng tôi. Thế là ân huệ được ban ra: mọi cải tạo viên được viết thư về nhà. Kết quả các thùng quà được tới tấp gửi vào. Những người liệt đã ngồi dậy được. Những người còn khỏe thì thêm da, thêm thịt.
“Và chúng tôi lại đi lao động!”.
Nhớ ngày nào mởi vào tù. Sau mười ngày vẫn chưa thấy đả động tới việc học tập. Có người lên tiếng hỏi. Lão quản giáo cười cười, vênh cái mặt lên, ra dáng chúng tôi ngô nghê chẳng hiểu gì hết về cái lệnh rất rõ ràng của Ủy Ban Quân Quản. Nay lão phải làm phúc giảng giải cho rõ:
– Chúng tôi có bảo các anh đi tập trung cải tạo mười ngày đâu? Bảo các anh mang theo mười ngày ăn. Bởi vì gấp quá. Sau mười ngày Cách mạng mới đủ thì giờ lo thực phẩm cho các anh được.
Khi ấy một anh bạn tù đã nói:
– Bài học thứ nhất trong trường cải tạo đấy nhé”.
Đã hẳn còn nhiều, còn rất nhiều bài học khác nữa, có người không còn đủ sức để học vì chết giữa chừng, có người lê lết học cho đến lúc được tha về.
Họ trở về có thể như nhân vật Minh bắt gặp những em bé gái nhỏ như con, nhỏ hơn con mình, đề nghị những món tiền ‘nhẩy dù’, ‘qua đêm’ trong truyện Đào Phai. Hay như thầy Quân trong tuyện “Thầy Giáo Và Học Trò”. Thầy và trò gặp nhau bất chợt. Biết trò đang trong cảnh bần cùng, thầy cho em tùy ý chọn một hộp mứt tết như món quà của Thầy. Trò bây giờ là gái nhẩy.
Ở trang 193, Trần Trị Chi viết:
“Thùy Trang trở lại đời thực; sững sờ cúi xuống nhìn hộp mứt to, đắt tiền.
Nhận thì phải trả !… Cô lạnh băng hỏi Quân một câu thẳng tuột, không một chút đắn đo:
– Thầy ở phòng nào thưa thầy? Em có quen anh lễ tân buổi tối của khách sạn. Đêm, ảnh vẫn để em lên các phòng trên đó”.
Nhân vật Minh đã cho cô bé ba trăm năm chục ngàn như giá cô đã ra “để cháu về cháu ngủ”.
Nhân vật Quân quyết định đổi khách sạn. Nghĩa là cả hai nhân vật đều từ chối cái “trả” của việc “nhận” như cách nói trong truyện. Nhưng đọc hết những truyện người ta thấy rõ cách giải quyết như thế chẳng giải quyết được gì cả. Và một nỗi u ám bao phủ tâm hồn người đọc, luẩn quẩn với câu hỏi: rồi những nhân vật ấy và cả cuộc đời họ đang trôi nổi trong đó sẽ ra sao đây?
Lạc Đạn được ghi chú là truyện dài, nhưng chỉ gồm 70 trang. Cộng thêm 10 truyện ngắn, sách dày 166 trang. Những trang in lời bạt không đánh số. Sách in đẹp, nhưng chữ nhỏ, quá nhỏ đối với những người lớn tuổi, thị lực yếu. Trần Thị Ngh. được người đọc chú ý ngay từ những truyện ngắn đầu tiên cho đăng rải rác trên các tạp chí ở Sài Gòn khoảng đầu thập niên 70.
Với một bút pháp ngắn gọn, những ý tưởng thông minh, ngổ ngáo, đôi khi tàn nhẫn, Trần Thị Ngh. được coi là mới nhất trong số các nhà văn nữ của chúng ta lúc bấy giờ. Chữ mới ở đây, vừa được hiểu theo nghĩa người đến sau, vừa khác lạ.
Không khí truyện của Trần Thị Ngh. là một không khí u uất, lúc nào cũng ngầy ngật như một cơn sốt dưới da. Người đọc theo dõi các nhân vật một cách mệt nhọc. Các nhân vật sống một cách khó khăn. Một sự khó khăn không có lý do. Chẳng hạn như nhân vật Nguyệt trong Lạc Đạn, ba lần đi với ba người đàn ông khác nhau vào khách sạn, không vì tiền, không vì tình, cũng không cả vì dục vọng nữa.
“Tôi nằm ngửa, ngó ngược lên trần căn phòng. Đêm ngoài tầm hiểu biết”.
Nếu có một chút tình nào đó với người đàn ông thứ nhất, thì đấy là những gì Nguyệt nói về cái đêm đầu đời của mình. Sau đây là điều Nguyệt nói về Tấn, người đàn ông thứ hai:
“Tôi là cái chuông Tấn biết cách rung”.
Còn người đàn ông thứ ba thì như thế này:
“Trường nói về tình yêu và sự chết. Chàng nói tình yêu là một sự lừa dối và cái chết là sự cải chính. Dầu muốn dầu không, em đã làm mọi chuyện hỏng bét hết rồi Nguyệt, trừ phi em muốn cải chính tất cả”.
Đại để tình yêu trong các truyện của Trần Thị Ngh. Là như vậy. Các nhân vật làm đủ chuyện trước khi kịp hiểu nó như thế nào. Họ triết lý trước khi sống và đã biến đời sống thành những cuộc phiêu lưu trật nhịp hay lỡ trớn.
Ở trang 65 tác giả viết:
“Trưa mát mẻ với Trường ngày cuối năm, vẫn còn làm tôi chưng hửng. Sự nhớ lại lộn xộn làm suy nghĩ không kịp. Mà dường như bao giờ trong những dịp tương tự như thế, tôi ít khi kịp suy nghĩ được chuyện gì. Lần nào tôi cũng đầy ứ, chết trân, không phản ứng”.
Các nhân vật hình như không sống mà trôi trong đời sống, mặc dầu lúc nào họ cũng muốn tỏ ra mình sáng suốt. Họ mỉa mai, hay ít nhất, nhìn một cách chua chát cách người khác sống và mỉa mai chính bản thân. Dư vị đắng đót là những gì rõ ràng nhất, người đọc cảm thấy, sau khi đọc bất cứ truyện nào của Trần Thị Ngh. Thế nhưng tất cả các vị mỉa mai đắng đót ấy lại có sức hấp dẫn đối với một số người đọc.
Nhận xét về tập truyện Lạc Đạn, Lương Thư Trung đã viết trên tạp chí Phố Văn, số 7, tháng 3, năm 2001, như sau:
“Thông thường các nhà văn đều cho rằng truyện của mình đều hoàn toàn là hư cấu. Hư cấu từ cốt truyện cho đến các nhân vật. Nhưng có lẽ trong truyện của Trần Thị Ngh., từ cốt truyện đến các nhân vật, tác giả đã hư cấu thật khéo léo và, nhờ tác giả sở trường trong cách dùng chữ, mà nhấtlà trong cách đối thoại, vừa dí dỏm vừa tự nhiên, nên người đọc tưởng truyện của tác giả rất gần với các nhân vật ở đời thường. Đọc truyện của Trân Thị Ngh. xong, không chỉ để giải trí mà còn để suy gẫm nữa, suy gẫm ngay cái cốt truyện vừa đọc, suy gẫm về cuộc đời chung quanh và suy gẫm với chính mình”.
Người đề bạt cho cuốn sách Trần Sa đưa ra nhận xét:
“Trong vài chục năm qua, tiếng nói đối kháng đòi nữ quyền khắp nơi trên thế giới đã có nhiều tiếng vang và đem lại nhiều thay đổi tích cực cho đời sống còn nhiều khuyết lầm. Lạc Đạn và 10 truyện ngắn là một tập sách quan trọng của người Việt cấp tiến, không phân biệt giới tính, đã từ lâu chờ đợi”.
Có một điều phải ghi nhận là, trong các truyện được sáng tác những năm gần đây, các tác giả, nhất là các tác giả trẻ, ít nói đến hoàn cảnh đất nước, hoặc chỉ nhắc phớt qua. Họ muốn trung thực với mình, không nói đến những điều mình không hiểu rõ hoặc giả coi văn chương không có khả năng giải quyết gì hết nên tránh, hay nhìn nó như một vấn đề thời sự không có tính bền vững nên bỏ qua?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.