vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 13 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
22. Cạn Láng!
HAI anh nghĩa quân đầu tiên chui ra khỏi đường hầm ở đây là hai chiếc ghế bành trong phòng khách nhà Castelnau. Người cầm súng tiểu liên không ai khác hơn là Jacques Laurent Bost và bạn của anh, Serge Lasaurie, trong tay có khẩu súng trường bắn xa.
Mục giới thiệu. Tôi vừa đủ thì giờ đặt chiếc va-li xuống ở cửa vào rồi chúng tôi đi lại bàn, ăn qua loa. Trong lúc ăn, tôi được biết hai ông bạn dễ mến và cởi mở này là hai đặc phái viên của báo Nouvel Observateur mà Castelnau đã nói với tôi.
Một mặc cảm nhỏ đầu tiên tôi không để lộ là trước đây tôi không biết có tờ Nouvel Observateur, chỉ nghe Jean Pierre giải thích trên xe đó là một tạp chí rất quan trọng.
Hai anh nghĩa quân vồ lấy tôi lúc vừa đến, sau một chuyến đi mười bốn giờ không ngủ, sau một sự thay đổi hoàn toàn về giờ giấc, về khí hậu, về tất cả, phải chăng họ cố ý nhân tôi mệt nhọc mà chơi trội tôi? Có thể lắm, vì thằng cha Bost thẳng cánh rót đầy ly rượu tôi, miệng nói tôi cần lấy lại sức sau một cuộc hành trình quá dài. Nuốt xong miếng bánh sau cùng, mọi người qua phòng khách. Cà phê, whisky. Cuộc tấn công diễn ra rất nhanh.
Họ đã dùng cảm tình chinh phục tôi. Bởi vì nói đến tráo trở, nguy hiểm, giả nhân giả nghĩa, hoài nghi, không ai hơn tôi nổi. Cuộc tấn công tới tấp kéo dài bảy tiếng đồng hồ. Ba chai Whisky chỉ đem lại kết quả là làm cho Bost và Lasaurie tấn công mạnh thêm: “Chuyện này có thật hả? Có thật vậy không? Một ít hả? Rất ít hả? Nhiều lắm hả? Không bao nhiêu hả?” Hai nhân vật ấy đã quay tôi chẳng khác nào cơ quan cảnh sát Liên Bang, họ lật ngược vấn đề một cách quỉ quyệt để cho cũng cùng những câu hỏi ấy, nhưng người ta tưởng khác đi. Xin phục! Thật là những tay thủ thuật đại tài trong công việc mổ xẻ một người.
Cuối cuộc phỏng vấn, người tôi ướt đẫm mồ hôi, cởi sơ mi ra; từ lúc thức dậy đến bây giờ là hai mươi ba giờ, mà đã để ra bảy giờ trả lời các câu hỏi.
Trời, bắt đầu như vậy nhất rồi! Đúng là cảnh ở 36 đường Orfèvres, bốn mươi năm trước, nhưng thiếu đánh đập, lại có thêm tình cảm và rượu Whisky.
Tôi sung sướng đưa họ ra xe, với cảm tưởng họ mệt hơn tôi. Phải chăng tửu lượng họ kém hơn tôi.
Mọi người chia tay nhau vui vẻ. Jean Pierre nói với tôi.
– Chúng ta đi ngủ, chắc anh đừ người.
Hắn bật cười hiền hòa khi tôi nói:
– Không cần. Để lấy lại sức, chúng ta đi uống một ly tại mỗi quán trong khu phố.
Trong tiếng nhạc ồn ào hắn nghiêng sang tôi nói:
– Papi, hình như chúng ta thắng, tôi cảm thấy vậy.
Đến ba giờ sáng, sau một lần thay đổi quán rượu chúng tôi về nhà. Tôi sẽ ngủ trong phòng của cháu Jean. Hắn bồng thằng bé đang ngủ say đem để trên ghế dài phòng khách cùng với một cái gối và một cái mền.
Tôi ngả lưng nằm dài trên vải nệm còn hơi ấm của thằng bé mười một tuổi. Và tôi ngủ một giấc trong cơn lốc vần vũ, quanh tôi, thằng cha mang súng tiểu liên và thằng cha mang súng trường có kính nhắm bắn xa, đang nhảy múa một vũ điệu dân da đỏ, tiếng thét là những câu phỏng vấn nổ dòn như các tràng súng liên thanh.
– Papi, dậy!
Vừa ra lệnh dịu dàng, tay vừa lay nhẹ vai tôi, Castelnau đang đứng đó, quần áo chỉnh tề.
– Mấy giờ rồi?
– Chín giờ.
– Tối?
– Không, chín giờ sáng.
– Bạn điên rồi. Vô trách nhiệm nữa là khác. Bạn thản nhiên đi vào nguy hiểm bằng cách đánh thức tôi dậy lúc chín giờ sáng, bạn không biết sao? Cút đi, và nhanh lên!
Rồi tôi vùi đầu trong gối, túm vành gối đậy tai lại. Thằng cha vô ý thức lại thúc tôi, lần này vào ba sườn của tôi. Như một con quỉ nhảy ra khỏi hang, tôi ngồi dậy, sẵn sàng nhảy tới để tống thằng điên này ra khỏi phòng. Hắn vẫn mỉm cười:
– Thật là quá khổ, nhưng chúng ta muốn vậy. Lỗi cả tôi và cả anh. Bây giờ thì không thụt lùi được nữa, cả đống người đang chờ anh.
Trời ơi? Thế là bị lôi cuốn vào một trận bão vùng nhiệt đới. Ba Lê, một thiên đàng? Không, một con quái vật vừa tìm được con người của thời cuộc, muốn ăn tươi nuốt sống ngay. Cùng với Françoise Lebert và Castelnau, chúng tôi chạy tới chạy lui, trả lời điện thoại, chấp nhận, từ chối. Tại sao chấp nhận, tại sao từ chối? Nhưng để cho tôi thở với chứ!
– Bọn nhà báo chúng tôi nào có thở khi chạy theo anh?
– Nào phải lỗi tại tôi.
– Có, lỗi tại anh! Chúng tôi đang thung dung với cái bài báo viết về các ứng cử viên Tổng Thống, chúng tôi đang có thì giờ ăn trưa với một nhà văn tên tuổi, điềm đạm, đột nhiên anh đến. Phải tìm biết anh từ đâu đến? Đồng ý, biết rồi, anh đến từ nơi tù đày, sau khi nghỉ chân ở Venezuela. Và không những anh đến, anh còn đem lời thách thức các cơ chế bất khả xâm phạm nhất. Tóm lại, anh đến quấy rầy chúng tôi, anh còn cả gan đòi người ta để anh yên hả? Đúng là vô ý thức. Bạn ơi, từ thủ đô thanh bình của xứ Venezuela đến, bạn không biết mô tê gì ráo!
“Ở đây là một thế giới khác. Anh thuộc về chúng tôi cả đêm lẫn ngày, anh là thời cuộc lúc này, món ăn chính trong bữa tiệc, ai cũng phải ăn món này để còn có thể nói lại cho quần chúng đang chờ món ăn hằng ngày. Anh là thời sự trong thời sự, danh từ này hiểu dưới mọi khía cạnh, mọi phương diện, mọi kết luận, sự chấp nhận hay từ chối của những người hỏi anh. Không lẽ anh tưởng rằng một phóng viên, khi túm được áo anh ở cầu thang, không cho anh mở máy xe, chờ anh ở cổng nhà xuất bản, trước cửa cầu tiêu, tìm thấy nơi anh ăn bít tết, đuổi theo anh trong thang máy, chặn đầu anh như một người đi săn đối với thú rừng, theo anh ngoài đường phố, mơ ước anh vào một tiệm hớt tóc, lợi dụng hai mươi phút anh ngồi yên để đặt câu hỏi, làm như thế anh tưởng họ chơi sao? Không lẽ anh nghĩ rằng bọn tôi, những người làm nghề thông tin, chúng tôi làm tất cả chuyện ấy để cho vui hay vì yêu anh sao?
– Thế thì để làm gì?
– Vì yêu nghề nghiệp. Để làm một bài dài hơn người khác về những vấn đề người ta chưa biết. Để chứng tỏ rằng mình không ngu hơn những thằng ranh con gặp anh lúc trời vừa sáng, vì lương tâm nghề nghiệp, để ông chủ khỏi xài xễ, để khỏi phải nghe ông nói bằng một giọng chua như dấm: “Tất cả các bạn đồng nghiệp đều có một bài phỏng vấn, còn anh, anh không đem gì về cả sao? Anh có phải là một thằng ngốc không? Hay anh bất lực?”.
– Xin lỗi ông chủ. Tôi muốn để cho ông ta nghỉ một chút vì thấy ông ta quá mệt.
– Quá mệt, đứt xương sống, chân cẳng khẳng khiu, anh tôn trọng đời tư của thằng cha ấy à? Anh điên rồi, hoàn toàn điên! Nó không có quyền ngủ, không có quyền ăn theo ý nó, lâu mấy cũng được, nơi nào cũng được. Trước hết nó thuộc về chúng ta những người thông tin, để sau đó chúng ta nuôi dưỡng tính hiếu kỳ của công chúng. Vì nó là thời sự, nên chính nó phải đến với chúng ta để trình bày thời sự dưới mọi khía cạnh tùy theo sở thích của chúng ta.
Không một bữa ăn nào không có nhà báo, một hoặc nhiều người, không một bữa tiệc nào không có một nhân vật quan trọng. Có những bữa ăn rất mê ly. Ví dụ một cô Paule Neuvéglise (báo France Soir) đổ bộ từ Nouméa 1, đi thẳng đến với một chiếc máy ghi âm mà không cần tạt qua nhà mình. Chúng tôi ngồi tại quán rượu La Cafétière, đường Magatine. Nhân cách, thái độ tế nhị, trí thông minh, giọng nói êm ái, chiếc máy ghi âm không chạy, ánh mắt trong sáng ngay thẳng chứa chan tình cảm đối với tôi, tất cả đã đánh thức tôi hoàn toàn và tăng thêm hùng khí cho tôi. Và tôi nói, tôi nói, vui vẻ, thành khẩn. Trút hết tâm hồn vào một người tinh tế như vậy thật là thoải mái và say mê.
Trong một bữa ăn khác, một anh chàng sạch sẽ, gầy yếu, thẳng thắn, cởi mở, đến với tôi, tay chìa ra: “Auguste Lebreton”. Chúng tôi nói, nói, rồi tôi chạy đến nhà xuất bản ký ba trăm cuốn Papillon, để anh ta gởi cho cơ quan báo chí, rồi tôi nghe đọc danh sách những người xin gặp tôi, và tôi cần gặp, rồi tôi chào tất cả những nhân viên khả ái trong nhà xuất bản Latfont đã làm việc hơn nửa tháng để cho quyển sách tôi kịp ra.
Tôi hút thuốc, tôi ký tên, tôi nói, tôi nghe các câu hỏi, tôi trả lời, trả lời nữa, không cần nhìn người hỏi là ai, và như thế ngày này qua ngày khác, đêm này sang đêm khác, tại các văn phòng, trên đường phố, trong tiệm cà phê, trong quán ăn, trên một ghế dài xóm Pigalle, trên ghế dài ở Champs Elysées, rồi những nhiếp ảnh viên im lặng đi theo mỗi ký giả, rồi rượu Whisky uống đúng ngay tại quầy, giữa hai ngụm rượu, một ngụm uống quá gấp nên bị sặc, tôi đáp:
– Đúng vậy, người ta đã bắt tôi chịu một cực hình không khác thời Trung Cổ!
– Vô lý! Dù sao chúng ta cũng đang ở tại nước Pháp.
– Chính vì sự việc đã xảy ra tại nước Pháp, một dân tộc khai sinh bản Nhân quyền và Dân quyền nên càng kinh tởm hơn nơi khác!
Mềm người? Quá mệt? Tắt tiếng? Không, bị nghiền nát, đúng rồi, nghiền nát về tinh thần lẫn thể chất. Bất cứ giờ nào trong đêm, tôi cũng lăn ra trên giường của bé Jean, con của Castelnau, được bố nó cõng trên vai đem đặt ngủ trong phòng khách, tôi chỉ còn đủ sức tháo cà vạt và đôi giày để rồi chìm vào một giấc ngủ mê man.
Và trong trận bão, trận cuồng phong lôi cuốn như một cọng rơm, trong lúc tôi nhìn và trả lời bên trái, bên mặt, phía trên, phía dưới cho những người đàn ông, đàn bà, cho các báo, các tạp chí, tôi lại phải nói ở đài phát thanh, ghi âm những chương trình dài mười phút để phát thanh hằng ngày trong vòng từ mười đến mười lăm hôm, mắt tôi lạc thần, miệng tôi thè lưỡi, tiếng nói tôi gần tắt và tôi chạy đến các dược phòng để mua thuốc dành cho ca sĩ giọng nam kim, trong lúc tôi tìm hiểu tôi đang ở đâu, tôi tự hỏi có nên luôn luôn trả lời có tôi trong bất cứ trường hợp nào hay nên bỏ trốn, chính trong ngọn lửa hỏa diệm sơn, đẩy tôi cùng với giòng nước lửa và khói mù lên trên luồng sóng thông tin quốc tế, người ta đưa cho tôi một bức điện báo tin Nénette, nàng Nénette của tôi lúc tôi hai mươi tuổi vẫn còn sống. Tôi liền ra đi như một thằng điên trên chiếc xe cũ của Julien Sarrazin, chồng Albertine để đến thăm nàng đang nằm bệnh viện ở Limeil Brévannes.
Tôi khóc vì xúc động khi gặp lại người đàn bà tôi đã giã biệt cách nay bốn mươi năm, từ đó đến nay không hề có liên lạc gì với nàng, nàng đã già, bệnh hoạn, đau yếu vì một tai nạn, nhưng trong đôi mắt vẫn còn ánh lên ngọn lửa của người thiếu nữ can đảm, đứng đắn thời xưa. Nàng cũng khóc. Tôi dốc túi đổ hết một ít tiền còn lại và ra đi để chạy đến đám người đang chờ tôi, sau khi hẹn với nàng sẽ trở lại và không khi nào bỏ nàng, một lời hứa tôi đã giữ đúng.
Và như thường lệ, một chuyện bực bao giờ cũng đi theo một tin vui, người ta mời tôi đến cảnh sát, đường Horloge, để thông báo lệnh cấm lưu trú ở Ba Lê, để người ta khỏi phiền nhiễu quá lâu.
Trong cuộc săn đuổi mà tôi là con nai, đã có nhiều lúc trời thanh biển lặng. Một bữa ăn đáng ghi nhớ với Claude Lanzman, một nụ hôn của kỳ nữ Judith Magre. Nhưng đài phát thanh Radio Luxembourg cướp tôi cùng với Pierre Dumayer. Sau đó là với một người khác, rồi buổi tối, là một cuộc hợp tại nhà Daniel Mermet, Giám Đốc thương mại của nhà xuất bản Latfont muốn giới thiệu tôi với đoàn đại lý rất tích cực hoạt động khắp các nơi trên đất Pháp. Họ vô cùng phấn khởi: “Tiến lên, Papillon, chúng tôi đứng sau lưng anh”. Với một đoàn người như vậy, nếu không bán được quyển sách nào, thật là đáng thất vọng.
Tôi đến Combs la Ville, tại nhà cháu tôi. Hôm nay là 18 tháng 5. Mọi việc xảy ra chỉ mới tám ngày. Ngày nào cũng có những đoạn trích trong sách đăng trên báo France Soir kèm theo hình tôi. Thế là chỉ trong mấy ngày, cả nước Pháp đều đã biết, không những cuộc đời gian khổ của Papillon, mà cả cái mặt của hắn nữa. Hôm nay chúa nhật, mọi việc diễn tiến quá mau lẹ, quá huy hoàng, quá bất ngờ nên tôi ngủ mười giờ để lấy lại sức. Tôi nghỉ xả hơi một ngày kỳ diệu tại nhà vợ chồng cháu tôi cùng hai bé cháu gái; mấy đứa bé tò mò nhìn ông cậu đã được các báo nói đến nhiều, và đã có tiếng nói trên đài phát thanh.
– Cậu uống rượu hồi?
– Ừ. Rượu rất bổ ích cho cậu trong hai mươi bốn giờ sống tại thanh đảo này. Ngày mai rồi sẽ tái diễn cái trò ấy. Chán quá mất.
– Còn nhiều gian khổ nữa cậu à!
– Cháu điên rồi! Không thể gian khổ hơn được.
– Cậu sẽ thấy, không chỉ gian khổ, mà không còn chịu nổi.
Tiếng chuông điện thoại không làm tôi giựt mình, có lẽ không phải gọi tôi. Ít hôm nữa tôi sẽ gọi Rita ở Caracas để cho nàng biết trái bom đã nổ mạnh hơn là mình mơ ước.
– Vâng, ông ấy ở đây, giọng Jacques nói. Tôi chuyển máy cho ông ấy. Cậu ơi, Castelnau gọi cậu để cậu nói chuyện với Latfont.
– Cảm ơn anh đã gọi tôi. Vâng, khỏe lắm, tôi đã lấy lại sức một phần nào. Một ngày chúa nhật mùa xuân khá đẹp phải không? Anh đang nghỉ cuối tuần hả?
– Anh nên sửa soạn lên vô tuyến truyền hình trong vòng ba giờ nữa. Anh được Gaston Bonheur mời trong chương trình “Người khách ngày chúa nhật”. Khách là anh ấy, nhưng anh ta mời anh cùng với nhiều nhân vật khác. Đó là vinh dự lớn cho anh và rất quan trọng đối với cuốn sách của anh. Người ta đến tìm anh hay là anh tự đến?
– Tôi đến.
Tôi gác máy.
– Việc gì vậy, Jacques hỏi.
– Cậu được Gaston Bonheur mời vào chương trình: “Người khách ngày chúa nhật”. Các cháu thấy thế nào?
– Cậu ơi, thật là phi thường; may không thể tưởng tượng!
– Thế cậu nên đi không?
– Chạy chứ lị, cậu ơi, chạy gấp.
– Ông lên vô tuyến truyền hình phải không ông? Mấy chú bé la lên.
– Ừ, các cháu sẽ thấy mặt ông trong vài giờ nữa trên màn ảnh nhỏ của các cháu.
Vô tuyến truyền hình Pháp, Vô tuyến truyền hình của Nhà nước. Tôi, một tên tù khổ sai vượt ngục, tôi sẽ được tự do nói trên đài truyền hình chính thức ấy như bất cứ người công dân nào. Thật khó tin, nhưng có thật! Đó là nước Pháp hiện nay. Cũng nước Pháp ấy, năm 1931 đã quăng tôi xuống một cái giếng không đáy để tôi chết rục, nay cũng nước Pháp ấy muốn biết sự thật, chấp nhận trực diện với tôi. Xin bái phục.
Một chương trình phi thường đối với tôi. Người mời tôi là một nhà trí thức Pháp nổi tiếng, tác giả có sách bán rất chạy, người rất tế nhị và rất có lòng, con giáo chức như tôi. Với một độ lượng chưa từng thấy, anh ta giới thiệu tôi với nước Pháp như thế này: “Hai chúng tôi đều con giáo chức tỉnh lẻ đến Ba Lê. Hai cuộc đời khác nhau. Tôi Gaston Bonheur, tôi đi vào giới trí thức và báo chí và lập nghiệp ở đó. Anh ta, Henri Charrière, biệt danh Papillon, dừng chân ngắn ngủi cũng ở Ba Lê này rồi lên đường tù đày, vì bị kết án chung thân. Người cựu tù nhân khổ sai nay trở thành một con người như tất cả mọi người sẽ kể lại một ít về cuộc đời kỳ lạ của anh?”.
Sau cuộc phỏng vấn được Jacques Ertaud hướng dẫn hết sức tài tình, tôi ứa nước mắt khi bắt tay Gaston Bonheur và ra khỏi sân quay.
Trong quán nước, trước ly Whisky, tất cả những người cùng đi với tôi đều thú nhận đã run khi tôi bước lên sân quay: anh ta chưa quen, dám bị cứng miệng lắm, vân vân. Thế mà không, thành thật mà nói, tôi vẫn cảm thấy thoải mái. Lúc bấy giờ tôi tin chắc, họ cũng vậy, rằng tôi sẽ thành đạt trong cuộc thi khó khăn để cho cuộc phiêu lưu này được tiếp tục và thành công.
Người ta đã cho tôi biết trước, nhưng tôi không tin sẽ có những hậu quả quá mãnh liệt của chương trình truyền hình ấy. Ngày hôm sau, thứ hai, trận bão lại cuốn hút tôi một lần nữa, dữ dội gấp bội. Và các đài phát thanh, các báo, không trừ một tờ nào, yêu cầu đăng tải các cuộc phỏng vấn, rồi đòi hỏi nữa, các tạp chí cũng tham gia phong trào, vô tuyến truyền hình, báo Paris Match, tất cả đã làm tôi chạy tứ tung, ban ngày, ban đêm, ở xóm Pigalle, ở khu Bastille, tôi đến cả một trường tiểu học, để dạy cho bọn con nít mười một tuổi về tự do, màn này gây nhiều rắc rối tại Ban Giám đốc Vô tuyến truyền hình nên chương trình ấy phải cắt đi. Thế nào? Thằng cha này tưởng mình ngon lành lắm đó! Một thằng tù khổ sai vượt ngục dạy về tự do cho con em của chúng ta à? Điên hết rồi sao?
Trong cuộc sống quay cuồng ấy, tôi ngủ nhiều lắm bốn giờ mỗi đêm, đã có những giờ phút đặc biệt. Một buổi uống trà vào giấc gần trưa với Simone de Beauvoir. Tôi vô cùng cảm động khi được ngồi bên nàng. Tôi cảm thấy bản chất thượng thặng trí thức của nhà văn nữ này. Và trong khuê phòng bày biện hết sức trang nhã, mỗi tiểu tiết, là một bài thơ, ngồi cạnh người đàn bà dịu dàng, nói với tôi những lời kiều diễm, hỏi tôi một cách ân cần và hiền hòa, bỗng nhiên tôi nhận thức mà không cần suy nghĩ tôi đang ở đâu, với ai, và tôi từ đầu đến, trước kia tôi đã sống với ai. Rời phòng tối bẩn thỉu của nhà cấm cố Saint Joseph do bọn bạo dâm canh giữ thình lình hiện ra rõ ràng trong ảo giác trên chiếc dương cầm, sau pho tượng một vũ nữ mảnh mai bằng sứ, rồi mờ dần chỉ còn lại hiện tại, giờ phút đặc biệt có chiếc tượng duyên dáng tươi cười đón tiếp tôi trong ngôi nhà này y như Simone de Beauvoir đang mỉm cười nói với tôi: “Con đường anh đã đi thật quá dài và nhiều chông gai, phải vậy không? Nhưng điều quan trọng là anh đã đến bến yên lành. Xin anh hãy yên lòng nghỉ chân ở đây như tại nhà một người bạn gái.” Cổ tôi nghẹn lại vì cảm động, nên thay vì trả lời cảm ơn, tôi hít một hơi thuốc và nuốt khói một cách khó khăn. Claude Lanzman và cả ba chúng tôi đi ăn tại một nhà hàng sang trọng của đô thành Ba Lê.
Rồi tất cả lại nói đến nữa, các báo L′Express, Minute, Canard Enchainé, Elle và Figaro Littéraire. Đài Pháp thanh Europe số 1 nữa, đài phát thanh Luxembourg nữa, và nhiều người bây giờ tôi không nhớ, vì lúc bấy giờ tôi không gặp họ, không thể gặp họ. Trận bão lớn dần, lớn dần, tôi bị lôi cuốn theo, tôi là của trận bão, của người khác, tôi đến nơi nào người ta gọi, tôi ngồi nơi nào người ta bảo; mặc sức tôi nổi tức và nói ra tất cả nỗi ấm ức của tôi, tôi vẫn bị mất tự do một lần nữa, nhưng lần này tôi bị mất tự do vì quyển sách hi hữu của tôi.
Tôi đã có thể điện cho Rita: “Tất cả tiến triển tuyệt hảo, thành công lớn, hôn em?”. Ngày hôm sau tôi nhận bức điện tín: “Báo chí Caracas đã cho tin về thành công của anh. Hoan hô”. Và tôi vui vẻ nghĩ đến anh người Ý ở phi cảng, anh Mario. Người ngạc nhiên hơn hết chắc là thằng cha ấy.
Mỗi ngày tôi xem các báo, các tạp chí. Tờ Nouvel Observateur đã viết bảy trang nảy lửa với cuộc phỏng vấn của hai anh nghĩa quân. Trong tạp chí Elle, có đăng một bài tuyệt kỹ của Lanzman. Ngay François Mauriac, trong Hàn Lâm Viện Pháp, cũng có viết trong tờ Figaro Littéraire: “Bạn đồng nghiệp mới này là một bậc thầy”.
Vừa cười tôi nói với Castelnau:
– Cũng có thể một ngày nào đó, chúng nó đẩy tôi vào Hàn Lâm Viện đấy nhé.
– Nào có gì lạ đâu, hắn nói nghiêm trang như một vị giáo hoàng.
Hai mươi sáu ngày như điên, một thằng vô danh tiểu tốt như tôi bỗng nhiên trở thành nổi tiếng, được chấp nhận, được nuông chiều, trở thành một minh tinh ngay trong lòng xứ sở, trong lòng dân tộc, trong lòng đô thành Ba Lê trước kia đã đưa tôi vào cõi chết như hàng ngàn người khác ở Guyane. Làm minh tinh không phải chuyện đùa.
Sách bán mỗi ngày ba, bốn, năm ngàn quyển.
Vâng, tôi đã quen biết nhiều minh tinh kịch nghệ nhiều minh tinh màn bạc. Vâng, một nhân vật như cỡ Peter Towsend, nằm điều trị tại bệnh viện Hoa Kỳ ở Ba Lê, đã đến chào tôi. Vâng, tại nhà các bạn Armel và Sophie Issartel, tôi đã dự tiệc với những khuôn mặt danh tiếng nhất thế giới. Vâng, một họa sĩ triệu phú, Vincent Roux, bạn của Luật sư tài hoa Paul Lombard, đã dành cho tôi ngôi nhà riêng, một trong những ngôi nhà thanh lịch nhất Ba Lê. Vâng, tất cả những người quyền cao chức trọng ấy đã dành nhau để mời tôi ăn cơm.
Tuy nhiên tất cả những vinh dự ấy không làm tôi cảm kích sâu xa. Trong đời tôi đã biết quá nhiều, từ việc hay nhất đến việc tệ nhất, nên tôi nghĩ thế giới hào nhoáng này bây giờ tử tế với tôi, vì tôi là nhân vật đương thời. Nhưng sau, khi dòng đời đều đều đưa đến một vấn đề thời cuộc khác thì sao?
Điều có nghĩa lý, làm tôi cảm động là khi một cô thợ may bé nhỏ, một chú hippi dễ thương, một công nhân áo thấm ướt mồ hôi đến bắt tay tôi, nói một tiếng hoan hô và xin chữ ký trên một quyển sách hay một mảnh giấy.
Ngày 6 tháng 6, tôi về gấp Caracas, mệt nhưng sung sướng, để lại một Castelnau và một Françoise Lebert sắp kiệt lực. Lúc tôi đến phi cảng, có vô tuyến truyền hình đang đợi.
Tôi đã qua một đoạn đường dài từ những bước chân tự do đầu tiên trên mảnh đất này sau ngày được phóng thích khỏi ngục thất El Dorado!
Về đến Venezuela, Tổng Thống Rafael Caldera đã tiếp riêng tôi, cũng như đức Giám Mục Caracas, tất cả các báo, trừ một vài tờ dĩ nhiên, đều có bài chúc mừng tôi, nhất là Osera Silva, một nhà văn nổi danh, chủ nhiệm một trong những nhật báo lớn nhất Nam Mỹ, vợ chồng Osera Silva, đích thực là những người đỡ đầu cho cuốn sách, đi gởi sách tặng Pablo Neruda, và tôi hân hạnh được ông này ngợi khen trực tiếp. Chưa kể trên đài phát thanh và vô tuyến truyền hình, một người điều khiển chương trình tài tình như Renny Ottolina đã giới thiệu tôi bằng những lời lẽ hết sức nồng nhiệt.
Ở Caracas, tôi nào được yên, đâu có nghỉ. Này nhá! Tôi về chưa được mười ngày thì các phóng viên tạp chí Paris Match đặc biệt từ Ba Lê sang đã lôi tôi đi một vòng đến Guyane, đến Hải Đảo, và đến những nơi tôi vượt ngục. Tại Trinidad tôi gặp lại Master Bowen, anh luật sư đã tiếp tôi trong kỳ vượt ngục lần đầu, tại Georgetown tôi đã gặp lại Pierrot Điên cùng anh thợ sửa đồng hồ tóc bạc, và khi đến ngục thất El Dorado tôi gặp lại những bạn tù cũ đã ra rồi trở vào lại, và người ta đã chụp hình tên tôi, ngày tôi đến, ngày tôi ra trên quyển sổ của ngục thất.
Về lại Pháp đầu tháng tám, và mọi việc vẫn cứ tiếp tục.
Công chuyện kéo dài tám tháng, không ngưng nghỉ.
Trong thời gian tám tháng, tôi đã từ một hiện tượng của thời cuộc chuyển sang hàng ngũ nhà văn một mình một cõi, rồi sang hàng ngũ rất nguy hiểm của hạng minh tinh.
Trong tám tháng, hơn tám trăm ngàn cuốn sách được bán ra.
Rồi là bắt đầu những cuộc du hành đến các quốc gia đã dịch sách tôi: Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Đức, Anh, Bỉ, Hoa Kỳ, Hy Lạp. Nơi nào cũng vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình; báo chí, và tôi nói, tôi nói. Khắp nơi đều tiếp đón hết sức nồng hậu. Những ngày sáng như kim cương.
Làm thế nào tôi quên được Genève, tại đây đài truyền hình dành cho tôi một sự bất ngờ bằng cách đưa lên sân quay, trong một chương trình truyền hình trực tiếp, người đã đưa Chúa Kitô vào nơi tù đày, Trung tá Péan; ông này đã trung thực nói rằng những gì tôi kể lại về nơi tù đày không những đúng sự thật mà còn dưới sự thật. Làm thế nào quên được cuộc viếng thăm nhiều giờ tại nhà Charlie Chaplin, ở Vevey, cùng buổi tiếp tân tại nhà con gái của ông? Và cuốn phim của vô tuyến truyền hình Bỉ tôi xuất hiện chung với Georges Simenon? Làm thế nào quên được tình bạn vững chắc, không bao giờ thay đổi của một nhà thơ như Jacques Prévert đã tặng tôi tất cả sách do anh ta viết, trên mỗi cuốn anh có vẽ những bức hình kỳ lạ, tuyệt kỹ?
Tại Hy Lạp, tôi được biết người ta cho ra hai quyển “chống Papillon” để hại tôi. Bỗng nhiên có những kẻ thù vô thường, mình không làm gì họ, ngay cả không biết họ là ai, quả là một điều vô cùng khích động.
Tôi đã thành thật kinh khủng trong nhiều lần trả lời các cuộc phỏng vấn về nền công lý hiện tại của nước Pháp. Đặc biệt là trong một chương trình “Tờ báo bất ngờ” của đài Vô Tuyến truyền thanh truyền hình Luxembourg ngày thứ bảy buổi trưa, người điều khiển chương trình là một nhân vật được mời đến, một nhân vật của thời cuộc do một lý do này hay một lý do khác. Thứ bảy hôm ấy, chủ bút “Tờ báo bất ngờ” là Papillon. Bên mặt là Jean Pierre Farkas, bên trái là Jean Carlier. Về phần thời sự trong ngày thì khá dồi dào. Một đằng là vụ một nữ Giáo sư bị người ta đưa đẩy đến chỗ tự tử, Gabrielle Russier, đằng khác là vụ một người thư ký bị cáo về tội mưu sát, Devaux.
– Papillon, anh có ý kiến như thế nào về các vụ án này?
Tôi thấy ngay nguy cơ. Nếu không trả lời, nếu trả lời quanh co, người ta sẽ bảo: “Papillon đã say men chiến thắng, đã trở thành tự phụ, đã quên nó từ đâu đến. Nó không còn muốn cộng tác với những người thông tin đã giúp rất nhiều cho nó được nổi tiếng. Quả là một đứa ích kỷ, vô ơn bạc nghĩa”. Còn nếu tôi vâng, nếu tôi trả lời đúng ý nghĩ của tôi cho tất cả các câu hỏi, người ta sẽ bảo: “Papillon bây giờ là “Người biết tất cả”, giải đáp tất cả mọi vấn đề, khuyến cáo về bất cứ việc gì, kể cả cách nấu ăn và hơn thế nữa, một anh cựu phạm tù đày, lại tự cho có quyền dạy chúng ta về những điều nên làm, những điều không nên làm. Thật hết chịu nổi”.
Vậy thì đằng nào cũng kẹt, thà cứ xông tới, nói trắng ra những điều tôi nghĩ, phương chi tôi không có cách gì làm khác một khi tôi say mê một vấn đề.
Dĩ nhiên là có những nhà báo sẽ nghĩ: “Không thể kéo dài tình trạng này. Mình đã đẻ ra nó, đã biến nó thành một người hùng, thế thì bây giờ mình đập nó. Sẽ vui lắm, lại có tiền nữa. Chúng ta đã bán nó về trước, chúng ta hiện đang bán nó, thế thì chúng ta sẽ bán nó về sau”.
Chương trình của Vô tuyến Truyền thanh Truyền hình Luxembourg về vụ án Russier và vụ án Devaux, mà về sau Edgar Schneider có viết: “Papillon đã làm rung chuyển đài Luxembourg, hiện đang còn rung chuyển vì phẫn nộ” chương trình ấy là một trong hai giọt nước đã làm cho nước trong chậu tràn ra.
Giọt nước kia là tôi đã đích thân được mời với tư cách “người hưởng dụng công lý” bởi những người làm luật, say mê công lý và chiếu cố đến những người chịu đựng công lý. Công việc diễn ra trong tòa nhà cổ kính của Luật khoa Đại học đường Ba Lê. Một tên cựu tù khổ sai ngồi cạnh luật sư Jean Lemaire, Chủ tịch Luật Sư Đoàn Ba Lê, được các nhân vật danh vọng như giáo sư Baruk, Chủ tịch Luật sư Stancier, Tổng Thư ký Hiệp hội quốc tế phòng ngừa tội phạm, mời đến để phát biểu ý kiến, đó là một chuyện không thể chịu được, phải bịt miệng thằng Papillon, ít ra là hạ uy tín của nó.
Rồi một thằng cảnh sát, đích thực là một loại “văn sĩ cảnh sát”, như lời báo La Suisse viết sau này, đã nhờ sự che chở của một quận trưởng cảnh sát, cho ra một cuốn sách như tôi.
Trong đời có những cảnh ngộ hoàn toàn trái ngược nhau, mỗi bên ở một thái cực.
Anh đã biết thiên đàng chưa?
Anh đã lên thiên đàng, ở đó mọi người đều khả ái, đều chào hỏi anh, ca ngợi đức độ của anh chưa?
Anh đã lên thiên đàng, ở đó không khí bàng bạc tiếng nhạc được sáng tác cho anh, điệu nhạc thánh thót dịu dàng quyện lấy anh chưa?
Anh đã lên thiên đàng, ở đó các thiên thần mỹ miều đến với anh tay cầm mảnh giấy nhỏ để xin chữ ký quí hóa của anh chưa?
Anh đã lên thiên đàng ở đó tất cả những điều anh nói, anh làm đều được khen ngợi chưa?
Anh đã lên thiên đàng ở đó người ta nhờ anh giải đáp mọi vấn đề và đều được chấp thuận chưa?
Anh đã lên thiên đàng ở đó con cháu những người đã ngược đãi anh nay xin anh tha thứ cho họ và lên án những việc làm của cha ông họ chưa?
Anh đã lên thiên đàng ở đó các giáo sư nghe anh nói chứ không nói chưa?
Anh đã lên thiên đàng ở đó những tay cao thủ giới văn chương nhận anh và hoan nghênh anh chưa?
Nhưng anh đã giã từ thiên đàng cùng các cặn bã lưu lại sau các cuộc vui kỳ ảo được vứt vào lỗ cống chưa?
Anh đã đến các lỗ cống, ở đó bọn chuột đồng dành nhau từng mảnh nhỏ bánh mì anh vứt ra?
Anh đã bị một đám người ganh tị, đố kỵ, tham lam, một đám dòi bọ sống trong các lỗ cống, vứt anh vào đó, tuy rằng trong vũng nước thối tha ấy chúng cũng vẫn sinh sôi nẩy nở chưa?
Anh đã đến các lỗ cống, ở đó những người bị đời đánh ngã, những mảnh vây cũ do con bướm bỏ lại sau khi tung cánh bay lên, đang lê cuộc sống gãy đổ trong chua xót và hận thù, từ bao năm chìm đắm trong bóng tối của vô danh chưa?
Anh đã rơi vào trong các lỗ cống, bị kéo, bị đày, bị lôi đến bọn người điên dại chỉ biết một điều, có thể cắn anh để đưa vào thịt anh chứng bệnh ghê tởm của họ. Vì họ không thể nào tha thứ sự thành công của anh chưa?
Có hay không, anh đã biết thiên đàng ấy, lỗ cống ấy?
Có hay không, anh đã biết hai mặt ấy của Ba Lê?
Có lẽ anh không biết mặt nào hết.
Tôi đây, tôi đã biết cả hai.
Giờ đây chỉ còn lại hàng ngàn bức thư, hàng ngàn chứng tích từ nhiều nước gởi đến, trong đó bạn đọc la lớn:
– Papillon, chín nút! Ít ra trong đời khốn khổ của mày, cũng có một lần mày ăn trọn! Lùa tiền đi! Mừng cho mày.
Về đến Caracas, cũng có thiên đàng với lỗ cống.
Trong căn nhà chúng tôi, cũng vẫn căn nhà cũ, của thời địa chấn, trong khu phố nửa bình dân ở Chacaito, trên bàn giấy trước đây tôi ngồi để viết cuốn Papillon, tôi mơn trớn xác bảo vật đã lượm lặt trong cuộc phiêu lưu kỳ ảo này.
Tôi đã dở lại các bức thư, hằng trăm, hằng ngàn bức thư đòi tôi viết quyển sách này, những bức thư từ khắp nơi trên thế giới; trong các bức thư những tâm hồn đã mở rộng, đã kể ra những gì sâu kín nhất: “Nhờ anh, nhờ cuốn sách của anh, tôi đã không tự tử, tôi đã để trôi qua giờ tìm về cõi chết, tôi đã tìm lại niềm tin tưởng vào cuộc đời, tôi đã thay đổi nếp sống, tôi đã khống chế được một cảnh ngộ mà tôi tưởng không thể nào thắng nổi”, những bức thư trong đó già, trẻ, trai, gái khắp thế giới giải thích rằng cuốn sách của tôi đã đem đến cho họ tính vừa cương vừa nhu cần thiết để yêu đời và vui sống.
Tôi say mê cuộc sống phiêu lưu, chơi cạn láng, thua rồi chơi lại, một cuộc sống phong phú luôn luôn mới đối với ai thích hiểm nguy; một cuộc sống khiến con người rung cảm đến tận cùng cơ thể, một cuộc sống hồi hộp mỗi khi con người chuyển động, mỗi khi con người nhảy qua cửa sổ lao mình vào cuộc phiêu lưu ngang tầm tay của mọi người, ở ngay trước ngõ nếu người ta hết lòng mong ước, một cuộc sống trong đó không bao giờ anh thất bại bởi vì chính ngay lúc anh thua một trận, anh lại chuẩn bị một trận mới với hy vọng lần này sẽ thắng, một khát vọng được sống dồi dào không bao giờ nên đè nén, ở bất cứ tuổi nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, con người phải cảm thấy trẻ mãi để sống, sống hoàn toàn tự do, không một ngăn cách nào có thể giam hãm mình trong bất cứ một nơi nào hay một tập thể nào.
Vì thế mà sau vụ chơi cạn láng với cuốn sách của tôi, thay vì rên siết rồi mua một mái nhà an hưởng tuổi già, tôi đã thực hiện một cuốn phim trong đó tôi chơi nhiều, tôi thua nhiều, cuốn phim mang tên Popoy Pop.
Vừa là tác giả, đạo diễn, diễn viên, đây cũng lại là một dịp để hưởng thú được thua, để có những cảm giác mạnh. Về phương diện cảm giác, thì vẫn có, nhưng lần này tôi đã thất bại. Tôi đã thua trong canh bạc này.
May mà còn nhiều canh bạc để chơi. Chắc chắn tôi sẽ chơi cạn láng một lần nữa. Khi nào? Cần gì biết, đời còn đẹp biết bao!
Hẹn gặp lại.
PAPILLON
Fuengirola, tháng 8 năm 1971
Caracas, tháng 2 năm 1972.
——————————–
1 Cayenne: Thủ đô xứ Guyane thuộc Pháp, nơi đày ải các người bị xử án khổ sai biệt xứ.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.