vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 12 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
21.Trước Khi Trở Lại Ba Lê
RA đón tôi tại phi cảng Caracas có cả gia đình tôi cùng với các bạn hữu đã được Rita cho biết đầy đủ tin tức do tôi gởi về mỗi ngày.
– Xong rồi, cưng, sẽ nổ tung ghê gớm lắm.
Rồi những nụ hôn, lại hôn nữa.
– Sách sẽ được tung ra ngày 19 tháng 5. In lần đầu: 15.000 bản, Latfont hứa với anh như vậy.
Anh Giáo sư Pháp văn có mặt với hầu hết nhân vật trong “Ủy ban đọc sách”.
– Hôm nay không có nhân vật chính quyền nào đón anh, anh ta nói, kỳ sau sẽ có vô tuyến truyền hình.
– Không nên phóng đại, Rita nói, nên luôn luôn dè dặt tốt hơn.
Tôi cười. Mãi khi về đến nhà, trong lúc nhấm nháp ly rượu tái ngộ, tôi mới nói lại:
– Này, quí vị có muốn tôi nói hết ý nghĩ của tôi không?
– Nói đi.
– Tôi thành thật tin rằng lúc tôi trở về Caracas sau khi sách tôi được phát hành, Vô tuyến truyền hình sẽ ở đó chờ tôi.
– Anh điên hết cỡ rồi, cưng ơi, Rita nói.
– Anh không điên, anh tin chắc như vậy!
Rồi mọi người cùng cười, đồng ý rằng tôi có phóng đại chút ít.
Tháng 4 năm 1969, một phép lạ nho nhỏ. Chính hình bìa của cháu tôi, Jacques Bourgeas, đã thắng các đồ án khác. Trong nhà xuất bản Latfont, không ai biết đó là cháu tôi. Thằng ấy, con của chị Hélène, chưa đẻ khi đoạn đời gian khổ của tôi bắt đầu. Trong 20 năm, nó không biết có tôi trên quả đất này và chỉ biết tôi từ hai năm nay, năm 1967.
Và ông Trời đã lựa chính nó để vẽ bìa sách của tôi, cuốn sách của cậu nó từ nhiều năm không có trong bộ đời đối với nó! Vâng, đã có rất nhiều trường hợp kỳ lạ chung quanh ngày khai sinh cuốn sách.
Và cuộc phiêu lưu kỳ thú tiếp tục.
Một bức thư đề ngày 8 tháng 4 của Castelnau cho tôi biết:
– Các đại lý của nhà xuất bản Latfont, đứng đầu là Mermet, đã đọc bản vỗ và sẵn sàng ủng hộ cuốn sách hết mình;
– Mấy thằng cha ở Đài Phát Thanh Radio Luxembourg sau khi nghe Castelnau nói về cuốn sách, tỏ ra rất hăng;
– Một con nhỏ ghê gớm Paule Neuvéglise, đang nghiên cứu để đăng trước trong ba ngày trên báo France Soir.
Buổi tối, trên đường phố Caracas, trong một đôi quán rượu tôi vào để bắt tay người quen, ngực tôi phồng lên như có một mặt trời bên trong chiếu rọi một ánh sáng mãnh liệt và êm dịu. Tôi tươi cười, hào phóng, nhã nhặn với mọi người. Tôi hơi buồn cho những người tôi bắt tay vì họ không biết, không cảm thấy như tôi rằng sắp xảy ra một biến cố kinh khủng. Họ vẫn vậy, với những chiếc đầu như hôm qua. Tôi nào có khác gì. Nhưng lúc ở chân trời lóe lên một niềm hy vọng bao la thì mọi việc đều như cũ và không việc gì như cũ, mình không biết mình đang như thế nào, vừa mừng, vừa lo, vừa xao xuyến, vừa bình thản.
Ngày 22 tháng 4, Jean Pierre gởi cho tôi bản văn lời hậu tự, do “một trong những khối ốc trí thức nhất thời đại” viết, Jean François Revel.
Tôi hết sức cảm kích khi đọc bài ấy, nhưng cũng xin thú thực rằng tôi hơi bỡ ngỡ. Bởi vì tôi cảm thấy ở đây chúng ta đã bước vào một thứ văn chương lớn, vào lịch sử, vào tất cả, lại còn cho rằng tôi là anh em họ của một vị giám mục đã chết từ ba trăm năm, Grégoire de Tours, thì quả là quá hân hạnh cho tôi. Dù sao, nếu Castelnau đã nghĩ rằng đây là bài sáng suốt nhất về phương diện văn chương viết về cuốn sách của tôi, tôi chỉ còn có nước để cho mình trôi theo cảm tưởng thiện mỹ do bài hậu tự gợi ra.
Dù rằng từ ngày ấy, gia đình và bạn bè thân thiết của tôi gọi tôi là người anh em của Grégoire de Tours.
Vâng, nói về chuyện phiêu lưu thì đây là một cuộc phiêu lưu đích thực, đẹp như tôi không bao giờ dám mơ ước, và sau những cuộc phiêu lưu đã qua, tôi không tin rằng những trang giấy lem nhem lại có thể khơi động trong cuộc sống một người không biết bao nhiêu là sự việc bất ngờ, tức cười, kinh ngạc, cảm động, kỳ lạ, và dù sao cũng đều rất sống động.
– Nên sống, nên sống, nên sống cưng ơi! Đời chúng ta quá phong phú, phải không em? Anh không biết có bán được nhiều sách đủ để bù lại tất cả tổn phí hay không, nhưng quả thật những ngày vừa qua thật là đáng sống, phải vậy không?
– Vâng, Henri, thật là đáng sống. Em cảm thấy điều ấy trong tận cùng em. Em không biết tìm chữ gì để nói cho anh biết em sung sướng cho anh trước, cho chúng mình sau.
– Cảm ơn em. Rồi em sẽ thấy, cuối tháng 5 này, chính người Pháp sẽ nói: “Chín nút, Ông Papillon! Lùa tiền đi. Lần này ông đã thắng”.
Tôi đến thợ may để họ cắt cho một bộ quần áo. May chịu, vì cần để dành tiền, biết đâu đấy. Mọi chuyện không thể tin được, anh ta nhất định may cho tôi hai bộ, một bộ mặc ban ngày, một bộ mặc ban đêm: “Tôi chắc chắn tiền tác quyền sẽ dư để trả tiền may”. Anh này cũng tin tưởng cuốn sách sẽ thành công.
De Gaulle bị hạ bệ. Hậu quả, sách tôi sẽ ra trong lúc cuộc bầu cử Tổng Thống Pháp đang diễn ra sôi nổi, vào cuối tháng 5. Nếu tôi nhào qua Ba Lê vào lúc ấy, còn ai có thì giờ lo cho một anh Papillon vô danh. Tấn công trước chắc hay hơn. Tôi sắp gọi Castelnau thì anh ta gọi tôi: anh cũng nghĩ như tôi. Nhất định rồi, tôi sẽ đến Ba Lê vào đầu tháng 5.
Anh ta nói, người ta chờ tôi với tất cả ý nghĩa của chữ ấy. Anh đã báo động cho nhiều ký giả báo chí và phóng viên truyền thanh.
Vậy thì, trong mười lăm ngày nữa tôi sẽ đến Ba Lê, vài ngày sau đó sách tôi sẽ ra. Vâng, chỉ còn ít ngày nữa rồi mày sẽ thân chinh tiếp xúc với các nhà báo, các cây bút phê bình, vô tuyến truyền thanh, có lẽ cả vô tuyến truyền hình. Báo chí ấy, vô tuyến truyền thanh ấy, vô tuyến truyền hình ấy là của một dân tộc hơn năm mươi triệu người.
Người ta sẽ đón nhận sách mày như thế nào, người ta sẽ tiếp đón mày ra sao?
Vì sách của mày là câu chuyện đời mày, đúng, nhưng không phải chỉ các chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Xuyên qua các chuyện ấy, công lý, cảnh sát, nhất là chế độ lao tù của một nước như nước Pháp đã được mổ xẻ.
Chỉ của nước Pháp thôi sao? Có lẽ hơn thế nữa, của tất cả các nước trên thế giới. Tất cả các nước sẽ do sách của mày, xét lại nền công lý của họ, cơ quan cảnh sát của họ, và cách thức đối xử với con người trong các nhà tù của họ.
Bởi lẽ mày nên tin rằng hoặc là sách mày sẽ được đọc ngấu nghiến tại nước Pháp đang khao khát biết rõ sự thật cũng như tìm thấy những điều họ không được biết, xuyên qua câu chuyện phiêu lưu gian khổ của mày, cùng cái giá phải trả để cứu vãn nền an ninh công cộng, hoặc là nước Pháp sẽ quay lưng đối với cuốn sách của mày, từ chối biết rõ sự thật, một sự thật khá phiền phức.
Không! Tôi tin chắc rằng dân tộc Pháp, một dân tộc hào hiệp đang khoắc khoải mong muốn có một nền công lý đích thực và một cơ quan Cảnh sát phải chăng, cũng loại bỏ mọi chế độ lao tù ít nhiều giống như một máy chém khô, tôi tin chắc rằng tất cả dân Pháp sẽ chăm chú đọc hết cuốn Papillon, vì họ là một chủng tộc không sợ sự thật. Ba Lê công xã còn ở trong tiềm thức của họ, và những người đã nghĩ, đã viết. Hiến ước Nhân quyền và Dân quyền sẽ phẫn nộ khi thấy người ta không áp dụng hiến ước, dù chỉ một phần nhỏ thôi, trong công cuộc trừng phạt người phạm tội.
Nếu người Pháp, tôi tin chắc như vậy, chấp nhận, bàn cãi, và phân tích bản cáo trạng chứa đựng trong cuốn sách của tôi, tất cả các quốc gia sẽ chú ý đến tình trạng của nước chúng ta để rồi tự hỏi về những gì xảy ra trong nước họ.
Tôi vẫn biết chúng ta đang ở vào năm 1969 mà sách tôi đề cập đến những chuyện xảy ra gần bốn mươi năm trước. Tôi vẫn biết nơi tù đày không còn nữa, đó là một điều đáng mừng, vì mãi đến năm 1930, nó vẫn còn là một sỉ nhục cho nước Pháp đối với người Anh, người Hòa Lan, người Mỹ và tất cả các nước biết nó.
Tôi vẫn biết bây giờ 1 không còn nữa, tôi bị kết án từ năm 1931, người ta có thể nói với tôi: “Ông Papillon, ông nói về thời xưa, về Vercingétorix, về quân đội viễn chinh La Mã! Sau đó đã có Charlemagne, cuộc Cách mạng năm 1789 và vô số biến cố khác! Tất cả đã thay đổi: Công lý, Cảnh sát, nhà tù?”.
Có thật là tất cả đã thay đổi không? Cảnh sát, công lý, nhà tù?
Thế còn vụ án Gabrielle Russier? Vụ án Devaux?
Có thật là đã thay đổi đến như vậy chăng?
Phải chăng vì phụ thẩm đoàn chỉ còn chín người thay vì mười hai người mà tất cả đã thay đổi?
Phải chăng cũng trong tòa đại hình ấy, được bảo tồn kỹ lưỡng, cũng những tấm màn ấy, những tấm thảm ấy, những màu sắc ấy, cũng cách sắp đặt các thẩm phán, Chưởng Lý, bị can ấy, cũng những cảnh binh và công chúng ấy, hằng ngày mạng sống của những người trẻ, những người già hơn, những người rất già được chiếu cố? Và người ta đã phán quyết tùy theo bốn mùa trong năm, thời tiết bên ngoài, hình thù hoặc tính khí vui buồn của những người hiện diện?
Phải chăng từ năm 1968 không còn những nhân viên cảnh sát bị mất chức, bị kết án, những cái chết đáng ngờ?
Không, Papi, đừng có đùa. Mọi người sẽ hiểu, trừ phi người ta đặt sự yên ổn của lương tri tiểu tư sản lên trên sự thật, mỗi người sẽ hiểu những điều mày công kích trong lúc kể lại các sự kiện đã qua, vẫn còn tái diễn, mặc dù ít lộ liễu hơn.
Ít lộ liễu? Tôi phải đọc kỹ các báo Pháp. Không cần gì đọc kỹ; mấy hàng tít lớn cũng đủ.
Bởi vì sẽ có mãi những thằng Mayzaud.
Bởi vì sẽ có mãi những thằng Goldstein, hãng đĩa nhựa được ghi âm tại số 36 đường Orfèvres.
Bởi vì sẽ có mãi những thằng cảnh sát thối nát, bạo dâm, những pháp quan bẩn thỉu.
Bởi vì sẽ có mãi những thằng phụ thẩm trong đời không thấy gì, không biết gì, không hiểu gì hết, mở miệng nói một cách vô trách nhiệm: “Người này đã phạm các tội bị cáo buộc, đáng xử tù chung thân”.
Đàng khác kẻ phạm tội cũng vẫn có luôn. Tôi biết vì có kinh nghiệm. Cùng những câu chuyện như vậy, cũng lời kể là như vậy. Khi những tên ấy, hoặc già hoặc trẻ, kể những việc đã xảy ra hoặc vừa xảy ra cho chúng, tôi có cảm tưởng việc ấy đã xảy ra cho tôi. Đôi khi tôi nói với chúng:
– Tụi nó có nói, có làm như thế này, thế này không?
– Tại sao anh biết?
Và tôi tức cười vì chúng quá ngây thơ.
Papi, khi viết sách, mày không nhận định đích thực những gì mày đưa ra trên bàn mổ. Mày viết để làm một vụ kiếm tiền cho tuổi già của mày và của Rita, chỉ có thế, ít nữa là mày tin như vậy. Cho dù trong một cơn mê sảng mày đã làm sống lại mười ba năm ngục tù khủng khiếp, một câu chuyện ghê tởm có thể là của bao người khác, cho dù trong lúc viết mày la lớn mày cần người ta biết đến những chuyện ấy và rồi cuối cùng mày được thỏa mãn. Không, thành thật mà nói, mày không nhận thức điều đó.
Bây giờ thì đã quá trễ, có tiền hay không có tiền, mày chỉ còn một việc phải làm là dấn thân vào cuộc đấm đá, mặc dù mày có thể không còn yên ổn, tự do và có thể hy sinh mạng sống.
Xã hội năm 1930 có thể chấp nhận rằng một tên tù khổ sai từ Cayenne trở về như một con ma đội mồ, chôn chặt đời mình trong quên lãng, trong khổ nhục, nhưng không bao giờ tha thứ để nó trở nên một người đàng hoàng, đáng kính nể và được kính nể.
Tuy nhiên bây giờ là năm 1969. Mọi người đều quí tự do, tự do đích thực. Mọi người đã chán ngấy không còn muốn làm một trong muôn ngàn bánh xe của một bộ máy khổng lồ. Tất cả, không trừ một ai, từ người Hoa Kỳ đến người Anh, từ người Bắc Âu đến người Nam Tư Lạp Phu, từ người Đức đến người vùng Địa Trung Hải, tất cả đều muốn hưởng thụ cuộc sống, muốn có cảm giác mạnh trong các cuộc phiêu lưu mạo hiểm, muốn cởi áo đi dạo bất cứ giờ nào để được hòa hợp hoàn toàn với thiên nhiên.
Tôi thấy họ ở đây, tại Venezuela, những thanh niên Đức, những thanh niên Bắc Âu, những người Tây Ban Nha, những người Anh, người Hoa Kỳ, người Do Thái. Ngày nào tôi cũng thấy họ, trong số ấy tôi có hằng chục người bạn, không phân biệt chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo, và tất cả, không trừ một ai, đều bác bỏ mọi khuôn sáo, và chỉ xin Thượng Đế một điều: ăn, uống, làm tình khi nào thích chứ không phải khi có người, dù người ấy là cha hay là mẹ, bảo làm.
Vâng, bản cáo trạng do cuốn Papillon của tôi đưa ra, không chỉ là một thách thức đối với dân tộc Pháp, mà là một thách thức đối với cả thế giới.
Những chân trời xa tít, những tiếng gọi của rừng sâu, những bình nguyên mênh mông phi ngựa như điên đi về bốn phương tám hướng; đi tìm một bộ lạc da đỏ cùng sống như họ một thời gian; lái một chiếc máy bay nhỏ rồi hạ cánh gần những thác nước đẹp nhất trần gian, vĩ đại hơn thác Niagara, những thác nước Canaima; đi đến các thác nước Ilovisna, ở đó một ít người dân không nghe tiếng nhạc nào ngoài tiếng thác nước, tiếng chim kêu, tiếng vượn hú, tiếng chim két hoặc chim ác muôn màu; lên một chiếc tàu, ra khơi, sau khi băng qua chín mươi hải lý trong một cảnh hồ mênh mông nằm giữa hàng trăm hải đảo san hô ở Los Roques; ở đó hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, tự nuôi sống bằng cách câu cá hoặc dùng tay bắt tôm hùm, ngồi cả giờ ngắm đáy nước trong hồ, nước trong đến độ trông thấy rõ ràng những con tôm hùm, những con sứa ma bò ở dưới sâu hơn mười lăm thước, từ đó đi qua các hải đảo Las Ayes, cả ngàn chim chóc không biết giống người tàn ác nên đến với người, đi trên mình người đang nằm dài trên cát phơi nắng.
Thế nào? Người ta trách tôi yêu tất cả những cảnh ấy? Ai?
Người ta sẽ không cho tôi nói về những chuyện ấy và không cho tôi kể rằng một hôm tôi đã ở hơn một tuần trên hải đảo ấy với bốn cặp thanh niên Mỹ đã dùng một chiếc tàu nhỏ đến đó, trong số ấy có một cặp người da đen, họ sung sướng như điên vì máy tàu bị hỏng chính ngay tại nơi này, và tôi đã sống với họ trong sự thông cảm hoàn toàn và đầy đủ về tinh thần và thể xác kỳ ảo nhất.
Cặp thanh niên thiếu nữ người Mỹ da đen ấy đẹp như hai pho tượng gỗ mun, thông minh, cởi mở, yêu nhau không chút mặc cảm, những cô gái tóc vàng tiếc rằng đoàn người này quá ít, tất cả những cảnh tôi đã sống ấy, người ta muốn tôi đánh đổi với thứ gì? Đổi lấy một tư pháp lý lịch trinh trắng à? Đổi lấy một công việc làm tại một ngân hàng hay một xí nghiệp, không còn là Papillon, mà là Henri Charrière, một công dân thuần thục, tôn trọng pháp luật do người khác làm để áp dụng cho những người khác, còn riêng họ thì dễ dàng không tuân theo pháp luật vì thuộc giai cấp được ưu đãi? Phải chăng cần phải có nhiều tiền để có thể sung sướng cả đời khi ta có đầy đủ sức khỏe?
Thay vì một trương mục kết sù tại ngân hàng, nên có một nhiệt tình trong lòng vì đó là một trương mục không bao giờ cạn nếu nó giúp chúng ta ham sống, sống trọn vẹn đầy đủ.
Vâng, giờ G gần kề, hành trang đã sẵn sàng, tôi được một chiếu khán ba tháng để đi Pháp. Một lần nữa tôi sẽ đổ bộ xuống phi trường Orly, nhưng lần này không dễ gì người ta không chú ý đến tôi. Castelnau cho biết sẽ có một vài nhà báo. Miễn là người ta không nhân dịp này tống đạt lệnh cấm lưu trú ở Ba Lê cho tôi.
•
Trong chuyến đi Ba Lê ngày 9 tháng 5 năm 1969 này, tôi không muốn có người đưa tiễn. Chỉ có Rita bên cạnh tôi. Tại sân thượng phi cảng, chúng tôi uống trà. Nàng cầm tay tôi, siết nhẹ tay để tôi nhìn vào mắt nàng. Chúng tôi im lặng, nàng biết tôi nghĩ gì: kể từ 11 giờ ngày mai, một tay hồ lỳ sẽ lật từng con bài. Tuy tôi chơi cạn láng ngày 19 tháng 5 trong dịp sách tôi được phát hành, nhưng canh bạc bắt đầu từ ngày mồng 10 lúc 11 giờ. Nàng lại siết nhẹ tay tôi, tôi mỉm cười nhìn nàng với tất cả lòng tin tưởng.
Đời đẹp khi hai người yêu nhau: họ không cần phải dùng lời để nói cho nhau nghe muôn ngàn ý nghĩ, người này trở thành người kia với đầy đủ ý nghĩ của mình. Nếu có điều gì hoài nghi, chỉ cần nhìn nhau để vững tin là cả hai đều cùng chung tư tưởng.
Nàng mỉm cười, ánh mắt có vẻ chế nhạo. Tôi biết nàng muốn nói: “Hồi nãy, anh nói hơi quá với anh người Ý. Anh thành thật nói như vậy, hay anh chế nhạo cả anh lẫn anh ta”. – “Không anh nói thật, anh nói không chút ác ý, anh không hiểu tại sao lại như vậy”, đôi mắt tôi trả lời nàng.
Nửa giờ trước, một anh thầu khoán người Ý chúc tôi thượng lộ bình an; vì muốn đề cập đến vấn đề làm ăn, anh bảo tôi khi nào trở về Caracas thì cho anh ta biết. Anh sẽ cho tôi số điện thoại.
Không suy nghĩ, tôi đáp:
– Mario, anh xem báo sẽ biết ngày về của tôi.
– Tại sao các báo lại cho biết ngày về của anh?
– Bởi vì khi trở lại Caracas, tôi sẽ nổi tiếng.
Mario cười hô hố, nghe vậy hay vậy chứ không hỏi tại sao nghĩ rằng đó là một câu nói đùa. Thế nhưng lúc nói, tôi rất thành thật.
Máy phóng thanh la lên: “Chuyến bay Hàng không Pháp đi Ba Lê xin lên máy bay ngay!”.
Vài nụ hôn, nhưng đặc biệt là vòng tay ôm cổ tôi như một chiếc kiếng quí giá nhất và bên tai, một giọng nói rất nhỏ, chỉ để tôi nghe: “Nhớ em suốt ngày đêm nhá; em sẽ ở bên anh cả đêm lẫn ngày. Đến nơi có thì giờ, viết thư cho em gấp, nếu không thì đánh điện”.
Liền sau đó, tôi ngồi vào chiếc ghế hạng nhất rất êm. Chính Rita đi lấy vé và nàng muốn dành cho tôi sự bất ngờ này để tôi đi đường thoải mái hơn. Phi cơ lăn bánh êm ru. Trong hai phút tôi còn trông thấy nàng, tay đưa lên vẫy chiếc khăn tay.
•
Hoạt động, đương đầu với một hoàn cảnh mới lạ khó khăn, bao giờ cũng hấp dẫn. Căng thẳng nhất, không phải lúc tranh đấu, mà trước, lúc chờ đợi. Đầu óc suy nghĩ lung tung, mình tự hỏi: “Công việc sẽ diễn tiến như thế nào? Ai đón mình. Mình sẽ nói thế này, thế này, sẽ làm thế này, thế này”. Và mọi việc không xảy ra như mình tưởng. Đột ngột mình bị đưa ngay vào vòng chiến và ngay lúc ấy phải tìm cho ra vũ khí để hóa giải đối phương, thuyết phục hoặc loại trừ đối phương. Mình chỉ cần tự nhủ một điều này: “Mình phải vượt qua chướng ngại, dù mình mạnh hơn hay yếu hơn những người định cản trở bước tiến của mình”.
Nếu tôi nhận định sâu sắc thì tất cả đều ngược lại việc cho ra sách tôi trong ngày hôm ấy. Tại Pháp, cuộc tranh đấu chính trị nhân dịp bầu cử Tổng Thống đang diễn tiến sôi nổi. Đây là thời kỳ hết sức quan trọng đối với quần chúng Pháp. Thế mà mày muốn ngoài công cuộc tranh đấu chính trị, người ta chú ý đến cuốn sách của một người vô danh? Cũng có thể được trong những lúc thiên hạ tạm nghỉ tranh đấu hoặc lắng dịu. Rồi sẽ biết!
Không lẽ chỉ có những yếu tố tiêu cực trong việc cho ra cuốn sách trong ngày ấy sao? Hôm đó là kỷ niệm sinh viên tranh đấu kỳ tháng 5 năm 1968.
Tháng 5 năm 1969, kỷ niệm ngày đẫm máu của sinh viên Pháp kỷ niệm nổ tung nồi hơi chất chứa trong quá nhiều năm. Kỷ niệm ngày lấy búa chặt vào cây cổ thụ bất khả xâm phạm trên đó vị tế sư đang ngồi vắt vẻo, sau hết, kỷ niệm những ngày mà cuối cùng người ta phải nghe tiếng nói những người bị xử tội câm nín suốt đời.
Vì vậy mà ngày tiền định này cũng sẽ là ngày mà tôi, một người cũng bị xử tội câm nín suốt đời, được nói những gì chất chứa trong lòng và xin người ta lắng nghe một chút.
– Thêm một tí sâm banh nữa nhá?
– Thôi, cảm ơn. Xin cô một tí phố mát với rượu chát đỏ… Được chứ.
– Có ngay.
– Cảm ơn cô Hàng Không Pháp.
– Ông đi Ba Lê?
– Vâng.
– Ông là người Venezuela?
– Đúng và không đúng.
Nàng bỏ đi rồi trở lại ngay.
– Đây, phố mát và rượu chát. Thế thì ông gốc Pháp nhập quốc tịch Venezuela?
– Đúng vậy.
– Bây giờ có quốc tịch khác rồi, ông trở về Pháp có thấy kỳ không?
– Có một ít, nhưng vậy mới gọi là phiêu lưu.
– Ông đã phiêu lưu nhiều rồi phải không ạ?
– Cũng khá nhiều và rất sôi động.
– Bây giờ công việc tôi đã xong, xin ông vui lòng kể cho tôi nghe với.
– Dài lắm, nhưng trong vài ngày nữa, cô bé sẽ đọc các chuyện ấy trong một quyển sách.
– Ông là nhà văn?
– Không. Nhưng tôi có viết lại cuộc đời giang hồ của tôi.
– Tên sách là gì?
– Papillon.
– Tại sao lại Papillon? Đó là tên ông?
– Không, biệt danh của tôi.
– Sách ông nói về chuyện gì?
– Nè, cô bé quá tò mò. Nếu bé cho tôi thêm một miếng phố mát, tôi sẽ nói cho nghe.
Không phải đợi lâu. Một phút sau:
– Đây. Bây giờ ông phải kể tôi nghe. Ông có muốn tôi nói thật ý nghĩ của tôi không?
– Nói đi.
– Tôi có thói quen đoán xem một hành khách hạng nhất làm gì, địa vị xã hội như thế nào. Thế mà với ông thì chịu. Từ lúc ông bước vào, tôi tự hỏi ông này làm nghề gì vậy.
– Và cô bé không tìm ra?
– Không. Tôi lần lượt loại trừ các nghề nghiệp có thể gán cho ông, rốt cuộc không tìm ra gì hết.
– Bây giờ tôi sẽ thỏa mãn tính tò mò của cô. Tôi là một kẻ phiêu lưu.
– Thật là hết xẩy.
Cô bé đứng lên để đi đưa một chiếc mền cho một người hành khách. Tôi tự nhủ đây là một dịp để trắc nghiệm. Một người lạ, một thiếu nữ đi nhiều vì nghề nghiệp bắt buộc, hẳn là đọc sách nhiều, quả là một hàn thử biểu tuyệt hảo. Tôi sẽ bắt mạch cho cuốn Papillon.
– Cô bé, bây giờ tôi nói cho cô biết: một chàng thanh niên hai mươi ba tuổi, có phần đẹp trai, nhưng hoang lung, chàng thanh niên ấy có lý do hoặc tưởng mình có lý do để xem thường trật tự và kỷ luật. Cô tưởng tượng ra người thanh niên ấy rồi chứ?
– Rồi, rất rõ.
– Chàng thanh niên bị đưa ra tòa đại hình về một tội trong giới giang hồ mà hắn không phạm, và bị xử chung thân.
– Vô lý!
– Người ta bắt hắn rục ra dần dần cho đến khi chết, trong một nơi tồi bại nhất trần gian, tại trại tù đày ở Cayenne. Năm 1933, chàng thanh niên được đưa gửi Guyane, nhốt trong một cái chuồng có song sắt lớn dưới hầm một chiếc tàu dùng vào việc ấy. Hắn không chấp nhận, vượt ngục hai lần đều thất bại. Cuối cùng, sau mười ba năm, hắn đến Venezuela tự do. Tại đó, hắn trở thành một người đàng hoàng, có một chỗ đứng trong xã hội, lấy vợ, sống gần quân bình. Ba mươi chín năm sau, hắn trở về Ba Lê với một cuốn sách kể lại đời hắn, những nỗi khổ nhục, những ngục tối, những lần vượt ngục, những lần tranh đấu, trong ba năm rưỡi hắn hai lần bị quăng vào một chuồng gấu bên trên có song sắt; không được nói lời nào, trong bóng tối lờ mờ, hắn đi lui đi tới như một con thú để khỏi mất trí và để khi ra khỏi chuồng gấu, sắp đặt một cuộc vượt ngục khác. Đó là nội dung cuốn sách, không hơn không kém. Cuộc sống của một người trong ngục thất.
Người nữ tiếp viên đôi mắt đen mở lớn, không nói, nhưng tôi cảm thấy nàng tìm xem trên khuôn mặt khắc khổ của tôi những gì khác lạ mà nàng linh cảm.
– Trong cuốn sách ông đã can đảm nói hết? Không sót một điều gì?
– Tất cả.
– Và ông không sợ phải đương đầu với công luận, ông, một….
– Cô cứ nói: Ông, một người đã bị tù đày.
Cô bé không dám trả lời, nàng chỉ gật đầu. Vâng, đúng như vậy đó. Tôi, một người đã bị lưu đày, một tên bị kết án chung thân vì tội cố sát, một tên vượt ngục đi đây đi đó phây phây dù bị cấm lưu trú, nay lại trở về Ba Lê với một tâm hồn trần truồng trên một đĩa bàn và trong vài giờ nữa tôi sẽ trình bày đĩa bàn ấy cho dân chúng Pháp xem.
Một lần nữa; đôi mắt mở to cố tìm đi sâu vào mắt tôi. Cô bé rùng mình, đôi mắt có vẻ muốn nói: “Kìa, ông không nhận thấy ông đang làm một việc kinh khủng, những gì ông sẽ quậy lên!”.
– Cô bé nghĩ sao? Như vậy là can đảm hay tự sát?
– Không cần suy nghĩ, tôi chắc việc này sẽ gây ít nhiều tiếng vang. Nhất là với ông.
– Tại sao?
– Bởi vì vừa trông thấy ông, người ta thấy ngay ông có một cái gì đặc biệt.
– Có thật cô bé có cảm tưởng câu chuyện này sẽ làm người ta quan tâm không? Ngay trong một nước Pháp đang âu lo tìm kiếm một người thay người hùng De Gaulle?
– Tôi tin chắc như vậy, và tôi ước mong được ở bên ông để sống một phần nào những giờ phút ông sẽ sống. Vì không thể nào ở Pháp người ta lại thờ ơ với câu chuyện ông kể, nếu ông đã viết ra đầy đủ như ông vừa kể tôi nghe. Xin lỗi ông tôi phải đi, tôi phải ngồi chỗ trực. Tôi rất muốn ngồi bên ông. Hẹn ngày mai, chúc ông ngủ ngon.
Với điệu bộ dễ thương, nàng cúi sát xuống mặt tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, nói: “Ông đi đến một cuộc chiến thắng lớn, tôi tin chắc như vậy, tôi hết lòng cầu chúc ông thành công”.
Cuộc trắc nghiệm tỏ ra xác thực. Bằng vài câu về một phần nhỏ của vấn đề, người thiếu nữ đã thấy ham thích. Sẽ có rất nhiều người như cô bé này. Hy vọng như vậy.
Tôi bỏ ghế nằm dài ra, không ngủ được. Tôi cuốn chân vào một chiếc mền, tự tay với lấy ở trên đầu. Tôi không muốn phiền cặp mắt đen lớn.
Bây giờ mọi chuyện đã chuyển động. Trong đêm tối chiếc Boeing bay với tốc độ 900 cây số giờ trên Đại Tây Dương. Giờ phút quyết định.
Tôi biết rõ vì đâu và tại sao tôi viết quyển sách, nhưng đối với họ, những người ở bên Pháp, kẻ đến hôm nay là ai? Không là ai hết, một người vô danh.
Thế thì chỉ có một cách, đi thẳng vào vấn đề:
– Tôi xin tự giới thiệu, Papillon.
– Nghề nghiệp của ông trước khi viết cuốn sách này?
– Trước hết là tù bị đày.
– Rồi sau?
– Tù vượt ngục, rồi tù biệt xứ.
– Quốc tịch?
– Venezuelien, gốc tỉnh Ardèche.
Vâng, người sắp đến Orly là một tên tù đày vượt ngục. Một người đã bị tòa án Pháp chính thức đưa vào con đường ô nhục chung thân. Không phải vì thời hạn biệt xứ của mày đã triệt tiêu mà người ta không thể làm gì đối với mày, mà sự liên hệ giữa mày với cơ quan tư pháp và cảnh sát đã thay đổi. Còn bị biệt xứ hay đã hết, mày vẫn là một thằng tù vượt ngục. Mày về đây không len lén đi nép theo các bức tường, tìm một thôn hẻo lánh để sống mãn đời trong im lặng, khiêm nhường dấu kín sau các bức tường cao để người ta khỏi trông thấy mày và để khỏi nghe người đời nói lên tiếng chì, tiếng bấc.
Không, mày đến với một cuốn sách, trong sách ấy mày viết: “Hỡi người Pháp, đây là cảnh đời ghê tởm của các người trong tám mươi năm”. Và trong cuốn sách, tấn công chế độ lao tù, nhân viên cảnh sát và ngay cả nền công lý của một quốc gia có trên năm mươi triệu dân, mày chỉ trích ba cơ quan phụ trách an ninh công cộng. Thế thì mày lớn gan thật! Chuồn đi ngay.
Hơn thế nữa, sách mày không âm thầm xuất đầu lộ diện trong các tiệm sách ngày 19 tháng 5. Mày đến Ba Lê ngày 10 (mày không quyền đến đây vì bị cấm lưu trú) rồi ngày 12, theo như thư người ta đã tin cho mày biết, báo France Soir sẽ cho đăng trước một đoạn sách của mày. Nghĩa là ngày 12, trong 1.200.000 tờ France Soir, cả nước Pháp sẽ biết mày còn sống. Thường thì ba người đọc một tờ báo, thế là có ba triệu sáu trăm ngàn người, trong tám ngày, biết trên đời này có một người tên Henri Charrière, biệt danh Papillon, tù nhân vượt ngục Cayenne sau một bản án chung thân, biệt xứ, hôm nay đến để nói một cách rất tự nhiên: “Năm 1931, mười hai người trong các anh đã xóa tên tôi trong danh sách người sống. Quan tòa của các anh thay mặt cho công lý và an ninh của các anh, và năm 1931 người ta dẫn đến trước mặt họ một thanh niên tên Papillon. Các quan tòa ấy đã tin vào cảnh sát, vào các cuộc thẩm vấn, các cuộc điều tra của cảnh sát. Các quan tòa cùng mười hai phụ thẩm đã chấp thuận một việc ghê gớm: thủ tiêu một thanh niên hai mươi bốn tuổi. Họ tưởng phải làm như vậy; họ đã bị một thằng nhân viên cảnh sát thối nát lừa phỉnh như những đứa ngốc. Sau đó người ta quẳng nó vào tay cơ quan quản trị ngục thất, phó mặc nó cho các phương pháp trung cổ đối xử với con người tàn tệ hơn là một đống rác. Rồi do một phép lạ, nó đã được tái sinh. Bây giờ người thanh niên ở đây, ở đây với số tuổi sáu mươi để nói với các anh: “Lúc bấy giờ các anh có đồng ý không? Các anh có biết không? Các anh có đồng lõa không? Vì Albert Londres cũng như bao nhiêu ký giả tên tuổi khác, cũng như Trung tá Péan trong Đoàn quân cứu nguy cũng chưa khơi động tâm hồn các anh đúng mức để các anh đòi hỏi người ta phải lập tức xóa bỏ con đường ô nhục, chiếc máy chém khô ấy đi!”.
Vâng, tôi sẽ nói tất cả chuyện ấy ra. Vâng, họ sẽ đọc tất cả chuyện ấy. Mày phải làm cho họ đọc các con số một, hai, ba, bốn, năm, của các phòng tối và các ngục thất của mày.
Vì sau khi được đăng trước trên báo France Soir, Papi, sẽ có đủ hết. Mày sẽ được phỏng vấn trên báo, trên đài phát thanh, trên vô tuyến truyền hình và chuyện ấy sẽ không được chấp nhận dễ dàng đâu.
Vậy thì, trước hết mày nên nói:
– Ông cho phép tôi nói?
“Theo ông, tôi có quyền được phát biểu ý kiến?
“Ông đồng ý rằng một người trước bị tù đày, nay có thể trở thành một người đàng hoàng?
“Các ông đã bác bỏ, quét sạch những ý kiến cổ hủ của ông cha các ông rồi chứ?
– Này, tôi có thể thở không khí tự do trong nước Pháp năm 1969 chứ?
Hay là phải xin phép? Và xin phép ai?
Không lý gì người ta không thấy rõ rằng hình phạt không tương xứng với lỗi lầm người ta cáo buộc mày, cho dù mày có là thủ phạm. Nếu bất kể cuộc tuyển cử, người ta vẫn chú ý đến mày, mày nên tin rằng sẽ còn nhiều pha cụp lạc.
Tại sao? Bởi vì sẽ có cả khối người bực mình vì thấy một tên tù vượt ngục, đối với pháp luật vẫn ở trong tình trạng trốn tránh, lại dám đứng ra nói tất cả những chuyện ấy ngay chính trong nước đã kết tội nó. Thật là quá dị thường. Trong một giai cấp nào đó, người ta sẽ nghiến răng trèo trẹo. Bao nhiêu người? Có lẽ không đến một triệu, nhưng một triệu người ấy sẽ làm ồn lắm. Những người bảo thủ hưởng đặc quyền đặc lợi ấy cho rằng trên đời này, tất cả đều tốt; bọn hủ lậu ấy không thể chấp nhận rằng các giai cấp khác có thể thay đi và tiến hóa. Chẳng khác nào bọn thực dân!
Bọn thực dân ở Algérie hay Maroc phẫn nộ vì không còn quyền để bắt người Ả Rập phải đổ mồ hôi nước mắt, họ gán cho những ai nghĩ rằng người Ả Rập bình đẳng với chúng ta, là cộng sản, là không tưởng, là phản lại Đế quốc Pháp. Chính hạng người ấy chủ trương nên thủ tiêu bằng cách này hay cách khác tất cả những kẻ động chạm đến đời sống yên ổn của họ. Họ đã sáng chế ra hạt giống của lao tù là nhà trừng giới, thế nào cũng đưa đến tù đày. Oan hay ưng? Họ không cần biết. Một chế độ ghê tởm, phi nhân? Họ cũng không cần biết. Họ chỉ cần bất động.
“Họ chỉ cần bất động…”, đó là một khẩu hiệu trường kỳ. Trong việc áp dụng hình phạt, họ tới hôn kẻ phạm tội. Họ tiếc rẻ các tào dịch hình, thời xưa mà người ta có thể kết tội một người chỉ vì người ấy “có thể làm việc ấy”. Vâng, mày sẽ đụng đầu với hạng người ấy.
Đến nay đã bốn mươi năm rồi. Cũng là may. Trong thời kỳ chiến tranh, hằng ngàn người lương thiện đã bị tù tội, đã bị cảnh sát, Tòa Án phiền nhiễu, và nhất là trong một đôi trường hợp, đã hiểu người ta đối xử với mình như thế nào khi mình chỉ còn là một con số.
Chúng ta hy vọng đã có nhiều thay đổi, nhưng một điều chắc chắn là nếu được hỏi trên báo chí, trên đài phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình, tôi không có quyền dấu nhẹm, tôi phải nói sự thật. Không cần biết hậu quả.
Sẽ vô cùng khích động, nhưng không toàn màu hồng. Tiến lên! Phải thẳng thắn, dù có ảnh hưởng bất lợi về phương diện thương mại của cuốn sách. Ồ, dù cho có vì quá thẳng thắn, quá hăng say bênh vực sự thật mà tôi phải bị thiệt thòi vì sách bán không chạy, tôi vẫn làm, tôi phải làm, người ta phải nghe tôi nói, người ta phải được nghe tôi nói ra những gì tôi đã thấy. Dù cho thay vì mua một ngôi nhà dưỡng già, tôi chỉ còn đủ tiền thuê hai căn phòng bên bờ sông Ardèche, dưới ánh sáng rực rỡ.
Trời đã sáng qua khung cửa nhỏ thân máy bay và đến lúc đó tôi mới ngủ được, yên tâm vì đã có một quyết định dứt khoát.
– Xin nhà phiêu lưu dùng một ít cà phê! Cặp mắt đen lớn mỉm cười khả ái, cặp mắt đầy mến mộ và cảm tình.
– Cảm ơn cô bé. Trời ơi, sáng bạch rồi!
– Vậy, sắp đến nơi. Chỉ còn một giờ nữa. Này ông, người ta đã dẹp nơi tù đày rồi phải không?
– Cũng may là như vậy. Đã hai mươi năm.
– Thế thì, ông thấy không, chỉ cái việc dẹp nơi đó đi cũng đủ nói lên rằng dân Pháp hiện hữu trước đây đã đồng ý với ông.
– Cô bé có lý, tôi không thấy điều đó.
– Thưa ông, ông nên tin tôi, người ta sẽ nghe ông, sẽ hiểu ông, hơn thế nữa, người ta sẽ quí ông.
– Tôi hết lòng cầu mong được như vậy. Cảm ơn cô bé.
“Xin quí vị cột thắt lưng lại: Chúng ta bắt đầu đáp xuống Orly, trong hai mươi phút chúng ta sẽ hạ cánh, khí hậu bây giờ là mười chín độ, trời trong sáng!”.
Trời trong sáng cho mọi người, nhưng đối với tôi, một tên tù đày đến đây, có người mở rộng vòng tay chờ đón, (mong được vậy), có người chực ném đá, trời Ba Lê hiện giờ ra sao đây?
Thắc mắc như thế đủ rồi! Có để làm gì đâu? Tôi đã đưa cuộc đời tôi vào canh bạc, giờ đây tôi tiếp tục. Một canh bạc rất hấp dẫn đang chờ tôi. Bằng tất cả các thớ thịt, tôi sẽ cảm thấy một cách mãnh liệt cuộc tranh đấu với những người do nghề nghiệp và học vấn đã được chuẩn bị đầy đủ hơn tôi, sẵn sàng mổ xẻ những gì tôi phơi trần ra hay nói đúng hơn, che đậy theo kiểu họ, bộ xương của những gì tôi đại diện, một trong hàng trăm tên tù khổ sai đã thoát khỏi bàn tay bọn cá mập.
Mày hơn thiên hạ ở điểm mày đã khổ nhục và mày nắm được sự thật.
Dù có u ám hay không u ám, vòm trời Ba Lê của tôi ít ra cũng có một chút lóe sáng, vì vừa ra khỏi nơi trạm kiểm soát của Cảnh sát, tôi đã trông thấy Castelnau với nụ cười rộng mở, cảm động, vừa hôn tôi, vừa đưa cho tôi bản đầu tiên của quyển Papillon.
– Cảm ơn anh, Jean Pierre. Chờ tôi chút, để lại một chữ gửi ngay cho Rita.
– Đồng ý, nhưng nhanh lên. Người ta chờ mình.
– Ở đâu?
– Tại nhà tôi. Hai nhà báo quan trọng. Tôi sẽ nói anh rõ.
Trong lúc tôi vừa bước đi, hai ánh đèn chụp hình rọi tôi. Hai tấm hình đầu tiên của tôi do nhà báo chụp.
– Để đăng báo France Soir. Mừng Ông đến Ba Lê, ông Charrière.
– Jean Pierre, ở Ba Lê công việc thông tin hễ bắt đầu là nổ tung liền!
Sách đã gửi đi. Tôi nhận thấy Jean Pierre có vẻ lo lắng:
– Sao, Henri, khỏe chứ? Đối với việc sắp xảy ra, anh có xốp phổi không?
– Không, anh đừng lo. Chưa đủ để tôi phải bối rối đâu.
– Bởi vì, anh biết không, ở Ba Lê, báo chí, các nhà phê bình, có lẽ không hoàn toàn như anh nghĩ. Ngòi bút đôi khi còn nguy hiểm hơn súng đạn.
– Đừng lo, con ơi. Tôi minh mẫn hơn lúc nào hết. Tin tôi đi.
– Đồng ý. Nhưng tôi báo trước anh biết: sẽ gay go, khó khăn, nhọc nhằn lắm. Và trong một giờ nữa, cuộc đụng độ bắt đầu.
– Tôi khoái chuyện ấy lắm; tôi nắm trong tay hai lợi khí: sự thật và ý chí vượt qua các trở ngại khi lẽ phải về mình.
– Càng hay, ta lên đường về nhà.
——————————–
1 Nouméa: một hải đảo ở Úc Châu.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.