Một trời một biển

vietmessnenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 23 Nov 2025

Phần 9.

Thấp thoáng hương xuân

Từ ngày dời lên khu Nguyễn Tri Phương gần bên giếng nước lớn, nhường chỗ cho chợ Hàng Bông, bến xe Mỹ Tho đã có một bộ mặt khang trang, sạch sẽ hơn. Rộng rãi nữa, đủ chỗ cho tất cả mọi thứ xe: xe đò, xe lô, và xe cà tàng chạy về các làng xã, thôn ấp xung quanh thành phố. Mát mẻ lắm, vì phía sau lưng kia là dòng sông Bảo Ðịnh, vẽ gọn một vòng đai bao bọc thiên nhiên. Nhiều chiếc ghe lớn chở đầy hàng hóa không thèm cặp bến Trưng Trắc, Cầu Quay, chạy tuốt lên đây, dở hàng ngay tại bờ sông cho đám xe thùng, vận tải đường bộ. Thật là tiện lợi. Dãy phòng ngủ năm bảy từng của thầu khoán Trương văn Phát vừa mới xây cất nằm bên hông ngó ra càng thêm vẻ tân tiến, văn minh.

Quang cảnh bến xe mới bây giờ lại càng rộn rịp hơn vì đang mùa Tết. Ðây đó người ta thấy nhiều đụn dưa hấu xanh um, chất cao theo hình kim tự tháp. Những cành hoa mai nở rộ hoặc đương hàm tiếu được ràng dây xung quanh, dựng bán dọc theo những băng ghế ngồi chờ xe. Và phía trong cùng, dọc bờ sông, những chậu bông cúc, thược dược, ớt kiểng, vạn thọ được sắp đầy trên cỏ. Cơn gió Tết dịu dàng thổi qua, bỗng dưng, nghe thoang thoảng hương hoa.

Người đi xa, kẻ trở về có lẽ nhiều hơn mọi bữa, Tần cảm thấy như vậy! Có thể chàng bị ảnh hưởng tâm lý vì lâu lắm rồi, cũng đến gần cả năm qua, chàng mới được nhìn lại khung trời tỉnh lẻ thân yêu. Nhờ vào dịp có mấy ngày phép về quê ăn Tết, ba ngày lễ thiêng liêng, cao quí của dân tộc Việt Nam, những ngày của vui chơi, hội hè, đình đám, thay cho chém giết, hận thù. Trong bầu không khí mơn man, êm đềm một năm mới có một lần này, thử hỏi ai mà không muốn thả xuôi lòng mình vào niềm thanh thản an bình?

Tần không phải là dân thành phố. Nhà chàng ở làng Bình Ðức, từ phía chợ Vòng Nhỏ đi lên, dọc theo bờ Tiền Giang. Bên này liên tỉnh lộ hầu hết là ruộng đồng và bên kia, sát bờ sông, là những khu vườn cây ăn trái rộng hẹp tùy khúc, thường có những đám lá dừa nước mọc xen kẽ trong đó. Cuộc sống nửa thành thị nửa thôn quê của nơi chàng ở thiệt không gì thần tiên, lý thú cho bằng.

Cách chợ Vòng Nhỏ khoảng một hai cây số, có chùa Quan Âm, với tượng Phật Bà bằng đá trắng như thạch cao, đang cầm bình nước cam lồ rải phước xuống chúng sinh, hiền hòa từ bi đứng trên tòa sen ngay trước mặt tiền chùa. Trong một vòng tròn lớn, cẩn đá trắng từng phiến to, trồng đầy hoa thơm cỏ lạ. Nhiều người lại cứ tưởng lầm đó là tượng của Ðức Mẹ Maria. Mà xa xa nhìn cũng giống thiệt. Lối đi vào chùa cũng rất là đặc biệt, một cây cầu vòng cung, lót ván và hai bên có lan can sắt sơn trắng, bắc qua con lạch ba bốn thước bề ngang. Hai bên chân cầu có những bụi dứa gai mọc lan xuống bờ lạch, thỉnh thoảng vọt lên cao những chùm hoa trắng nõn… Bởi phong cảnh nơi đây cũng khá hữu tình, thanh khiết cho nên sau chùa Vĩnh Tràng trong miệt Gò Cát, chùa Quan Âm đã là nơi có nhiều hình ảnh và kỷ niệm với mọi lứa tuổi của học trò trung học Mỹ Tho.

Ðộ một khoảng nữa là chợ Ðồng Xanh, nơi có thời làm trại cùi, dời từ Cồn Rồng về. Giờ chỉ còn là chỗ nhóm chợ với một nhà lồng trống lổng trống trơn, mái lợp tôn, như gắn hờ hững trên hai hàng cột dầu vuông ốm tong teo. Chung quanh chợ là vườn tược mọc rậm như rừng hoang.

Rồi mới đến cây cầu sắt bắc qua con rạch lớn cắt xuyên ngang liên tỉnh lộ. Ðầu cầu phía trên có một đồn nghĩa quân. Chòi canh và bót chính còn lợp lá. Hàng rào kẽm gai kéo sát bên vệ đường. Phía sau những khu khai hoang dọc hai bên rạch là những đám lá dừa nước mọc cao và dầy không thua gì những đám lá tối trời ở dưới Gò Công.

Thêm khoảng một hai cây số nữa mới đến xóm làng Bình Ðức, nơi mà sau này trở thành một trong hai ngã ba Ðồng Tâm, hai lối chính đi vào căn cứ Ðồng Tâm. Ngã ba trên nằm trên quốc lộ 4, cách Trung Lương năm bảy cây số về hướng Mỹ Thuận, không rộn rịp sầm uất bằng ngã ba dưới. Tại đây bây giờ đã mọc lên những quán nhậu, tiệm hàng xén khắp hai bên đường.

Nhà Tần cách đó một đỗi về phía Mỹ Tho. Cất trong một khu vườn đầy mận, vú sữa, xoài, bưởi và chanh. Sát mé sông Cửu Long, giống như nhiều vườn khác, là vạt lá dừa nước của nhà. Cho một mớ lá chầm lá xé đủ chi dụng hằng năm. Len lỏi trong đó có một lối mòn đắp đất dẫn ra bờ sông. Chỗ có cái vại lá che mưa nắng cho chiếc xuồng, bên cạnh một cầu ván bắc ra xa làm cầu tắm. Một vài cây bần rất lớn mọc sát mí nước, lẫn lộn trong đám lá… Cha chàng đã mất, anh chị chàng tứ tán bốn phương trời và mẹ chàng hưởng huê lợi vườn sống đấp đổi qua ngày. Tần bây giờ như là con một thay vì con út.

Muốn về Bình Ðức thì có thể nhảy lên xe Lam lấy bến ngay tại chợ Vòng Nhỏ hoặc quá giang xe đò đậu tại bến xe lớn chạy về vùng Vĩnh Kim, Xoài Hột, Rau Răm thuộc quận Sầm Giang. Tức là vùng Xoài Mút, Rạch Gầm theo tiếng gọi xa xưa, thời Gia Long tẩu quốc. Ðó cũng là quê hương của quái kiệt Trần văn Trạch, xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi … Người đã bao lần trình diễn ngoài trời nhiều bộ môn khác nhau, ảo thuật và ca nhạc kịch, trong sân trường Nguyễn Ðình Chiểu cho học trò coi miễn phí, dưới tàn che bóng mát của những cây sao, cây dái ngựa to lớn. Dạo đó Tần còn đang theo học các lớp đệ nhứt cấp.

Tương tự như những vùng Trung Lương, Ðạo Ngạn, Ðạo Thạnh, Bến Chùa, Bến Tranh…, Bình Ðức là vùng nửa chợ nửa quê, chỉ cách Mỹ Tho độ năm bảy cây số. Học sinh ở vùng này thường lâm vào thế kẹt, tấn thối lưỡng nan. Nếu đạp xe đi đi về về trong ngày thì hơi mệt. Ðó là chưa nói đến việc xe hư, vỏ mòn phải sửa chữa liên miên. Còn mướn nhà ở trọ thì hơi phí của. Tốt hơn hết có lẽ là ăn nhờ, ở đậu nhà bà con. Nhưng không phải ai cũng có bà con ở ngay tại tỉnh và đó là trường hợp của Tần. Bởi vậy, Tần thường ngủ lại nhà bạn bè, mỗi tuần lễ đôi ba ngày. Lúc thì nhà của thằng Thân ở Cầu Dầu, nhà máy Ðỗ Quang. Khi thì nhà thằng Phát ở chợ Vòng Nhỏ, gần nhà bảo sanh cô mụ Sâm. Cũng có lần ở nhà thằng Hiếu, đối diện bên này Hãng Xáng…

Tần lẩn thẩn đi lại bến đậu của những chiếc xe cà tàng, xe đò không ra xe đò xe hàng không ra xe hàng, chạy đường Mỹ Tho – Vĩnh Kim. Hên quá, gặp chuyến xe sắp sửa rời bến. Hành khách ngồi chen chúc chật ních trong lòng xe, trên mui đầy quang gánh, gióng thúng. Coi bộ đồ trận bốn túi mới may trên người Tần như không có kí-lô nào hết trơn, anh lơ xe hỏi tới:

– Anh về đâu, anh hai? Về đâu?

Tần đáp gọn:

– Về Bình Ðức!

– Bình Ðức hả? Vậy thì anh phải xuống trước, thôi, hay là anh ngồi tạm phía bên ngoài này đi… Ở bên trong làm ơn xích vô giùm một chút coi bà con. Ở trong thiếu gì chỗ trống mà sao bà con cứ ngồi lấn ra ngoài này hoài làm chi hổng biết nữa!

Nói thì nói cho có lệ vậy thôi chớ anh ta cũng biết chỗ trống nào mà còn trong giờ xe sắp chạy. Tuy nhiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng bởi tiếng nói của anh ta đôi chút, nhiều bà bạn hàng sáo lắc đít qua lại một đôi lần cũng lòi ra một chỗ hẹp té ở đầu băng cho Tần ngồi ké. Ðang mang hia đội mão như vầy chẳng lẽ chàng lại đứng đằng sau thùng ba-ga! Nghĩ cũng kỳ, cho nên chàng vội nắm chặc trụ sắt gắn liền giữa mui và sàn xe, xoay người làm liều ấn mông ngồi xuống. Nhúc nhích vài bận thì cũng đâu vào đấy. Rồi như sợ có ai dòm ngó, ăn cắp cái sac Air-France của mình, Tần ôm gọn nó vào lòng. Trong đó có mấy bịch khô mực con nào con nấy thiệt lớn, làm quà cho xóm giềng, bà con… Một lát sau bác tài mở cửa ngồi vào ghế, đóng nhẹ cánh cửa cây, móc cái khoen sắt làm khóa rất là từ tốn, cẩn thận rồi mới chịu nhận nút đề máy.

Xe chạy vòng xuống Cây Xăng theo đường ông bà Nguyễn Trung Long* mon men ra bến phà Rạch Miễu. Rồi từ đó mới quẹo phải theo đường Ngô Tùng Châu về hướng chợ Vòng Nhỏ, thẳng về Bình Ðức… Tần thấy mọi thứ dọc hai bên đường vẫn vậy, không mấy gì thay đổi. Nào là quán phở Tàu Bay, trường Kỹ Thuật, trường nữ Tiểu học và đối diện bên kia là hãng cà-rem Dân Sanh, trường bán công Thiên Hộ Dương, khu gia binh dựa lưng vào bức tường thành Sân Vận Ðộng…, đâu đâu cũng quá quen thuộc đối với Tần.

Có thay đổi chăng chính ra là ở lòng người, Tần tự nhủ? Mấy năm trước đây chàng cũng đã từng lang thang trên khắp những con đường này, nhưng với một tâm trạng khác hơn nhiều. Cùng với một đám bạn học cùng lớp, lẽ dĩ nhiên. Những khúc bánh mì ba-tê, những cuốn bò-bía, những gói đậu phọng rang, những lóng mía thanh diệu hay mía tây đã róc sạch vỏ, những ly nước rau má hay sữa đậu nành… luôn luôn mời gọi bọn lữ khách nhóc tì dừng chân. Ở mỗi góc đường. Sáng cũng như chiều, chiều cũng như tối. Không ai mảy may bận tâm đến ngày mai. Phải làm gì, phải sống như thế nào? Tuổi trẻ và đời học trò, ôi, sao mà hồn nhiên, phơi phới.

Bây giờ mùa Tết này trở về đây, Tần chưa chắc là mình sẽ gặp lại được một thằng, trong đám bạn thân xưa cũ. Vì hầu hết bọn nó đã vào lính, trước Tần. Nhiều đứa đã ra trường và đang đóng ở những nơi đèo heo hút gió nào đó. Một vài thằng lại sớm ra đi mà không buồn trở lại, như Quyền, như Ấu, như Tấn… Nhưng, phố xá hai bên đường hôm nay vẫn vậy. Cột điện và những đường dây giăng mắc trên không vẫn vậy. Lá vẫn xanh và thân cây vẫn xám. Cái gì mãi mãi tồn tại và cái gì luôn luôn đổi thay trong trời đất này, chàng khẽ thở dài? Nhưng, việc trước tiên là chàng phải dành thì giờ để đánh một vòng thành phố Mỹ Tho. Xem lại những quán ăn lúc nào như cũng rộn rịp tấp nập trên đường Trưng Trắc. Ngồi lại ghế đá công viên Lạc Hồng nhìn dòng Cửu Long lặng lẽ chảy xuôi. Thăm lại trường xưa, nơi đã đào tạo biết bao nhiêu người tên tuổi… Cho dù không gặp một người quen đi nữa!

Và sau đó, có lẽ Tần sẽ tìm thăm những cô em gái hậu phương thuần túy của chàng. Một vài đứa trong số đó đã từng là học trò dạy kèm của chàng về các môn toán, lý hóa. Ðặc biệt nhứt là Loan, có thân hình ôm ốm, dong dỏng cao và đôi tay dài thườn thượt. Dáng dấp dành riêng cho những ai thích mặc lên người chiếc áo dài Việt Nam. Ðẹp và độc đáo. Chính vì vậy mà nhiều lần Tần bị tụi bạn chọc, đại khái: “Mầy có con nhỏ học trò có đôi tay dài như tay vượn, ngồi dưới bàn mà chỉ với tay là rờ được ông thầy đứng trên bảng, không sót một chỗ nào…” Tần hi vọng là Loan đừng bắt chước đám bạn của nàng, ùn ùn kéo nhau đi lấy chồng sạch trơn. Với cương vị mới của chàng, người anh tiền tuyến, tình nghĩa thầy trò ngày xưa chắc sẽ có gì thay đổi. Chàng những mong như vậy.

Nghĩ đến đó, Tần bỗng dưng lại thấy mình có lỗi với Hiền, người em gái hậu phương nơi phương trời xa. Kẻ mà chàng đã tự nhiên cảm thấy mến yêu, ngay từ phút đầu gặp gỡ. Không biết giờ này Hiền đang làm gì ở ngoài Nha Trang. Nàng về Thành ăn Tết với mẹ nàng hay là ở lại vui xuân với anh chị nàng trong căn nhà nho nhỏ gần chợ Xóm Mới? Lần này về phép, chàng có ý định sẽ nói qua với mẹ chàng về cảm tình của mình đã dành cho Hiền. Nhưng thôi, bà già chắc không thích gái miền Trung, chàng ngẫm nghĩ lại. Bảo đảm, một trăm bà mẹ miền Nam như một, hễ nghe nói tới gái miền Trung là nơm nớp lo sợ con trai của mình rồi đây sẽ bị vợ ăn hiếp. Làm như ở trong Nam này, không riêng gì con gái mà luôn cả con trai, ai ai cũng hiền lành tử tế hết. Chớ ai có ngờ đâu, lắm lúc gặp nhiều ông thiệt là trật cẳng ngỗng và nhiều bà hết sức trật bàn đạp… Ô hay, phải chi thân này ví xẻ làm đôi thì được việc biết mấy, chàng nhủ thầm!

Xe ngừng lại tại chợ Vòng Nhỏ lấy thêm hàng, thêm người. Hành lý lại được chất chồng lên một lớp nữa trên mui. Hành khách thì phải đứng sắp lớp hạng cá kèo trong bệ chứa ba-ga hoặc phải đeo vè. Phần sau xe xệ xuống thấy rõ. Cũng với một giọng dửng dưng, bất cần hậu quả, anh lơ xe oang oang hò hét:

– Quí bà con cô bác ngồi ở bên trong làm ơn xích xích vô giùm một chút nữa coi. Cho anh ba nầy lọt cái đít vô là xe chạy liền ông bà ơi…

Có bà bạn hàng sồn sồn phản ứng lại ngay:

– Còn chỗ đâu nữa mà xích vô với xích ra! Tại sao mầy không nhường khách cho chuyến tới, hả Tám? Ham ăn quá có ngày không còn cái giống đách gì ăn hết nghen con!

– Chỗ quen biết mà má! Ba bữa nầy đâu làm sao bỏ anh ba đứng đợi cả tiếng đồng hồ ở ngoài đường cho được, má. Tội chết… Tới luôn đi bác tài…

Xe từ từ bò ra đường. Tần thấy thấp thoáng những cành mai vàng rực rỡ được xếp ngay hàng thẳng lối bên cạnh những đống dưa hấu đủ cỡ đủ màu, đen có xanh có sọc có. Vạn thọ, cúc, hạnh, ớt ngũ sắc, móng tay … nữa. Một vài tấm giấy bầu cua cá cọp trải dưới đất đã quây quần được một mớ đông con nít. Phải, đúng là ba bữa này, đâu đâu cũng vậy. Sơn phết, chưng dọn, điểm hoa lá cành để chuẩn bị chào đón chúa xuân. Cùng rước ông bà về nhà ăn Tết. Tháng giêng ăn Tết ở nhà. Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè …

Vừa qua khỏi mí vườn, trước mắt Tần là một vùng bao la, đồng không mông quạnh. Toàn là ruộng lúa đã gặt xong, chỉ còn trơ lại những gốc rạ chơ vơ một màu vàng quách. Như ánh nắng chói chang của mùa Tết thường ngày. Chạy dài tuốt qua phi trường mới mở, phi trường Bình Ðức. Tuy được gọi là phi trường Bình Ðức nhưng bên này phía Bình Ðức lại không có đường đi vô, mà phải từ phía bên kia, độc đạo từ dưới đường Lý Thường Kiệt đi lên… Một cơn gió Tết thổi tạt qua, lòn vào xe mát rượi.

Không còn bao lâu nữa Tần sẽ về bên mái nhà xưa. Gặp lại mẹ chàng cả năm trời xa cách. Chắc bà cũng mạnh khỏe như thường, Tần nghĩ. Rồi còn các anh chị và lũ cháu của chàng nữa chi. Cùng vợ chồng con cái anh bảy Ðồng, người phụ giúp và giữ gìn vườn tược cho gia đình chàng từ bao nhiêu năm nay. Tất cả sẽ vui vầy, sum họp.

Bây giờ chàng mới thật sự nôn nóng cho buổi hạnh ngộ trùng phùng. Tình thương gia đình bao giờ cũng ấm cúng hơn trong thấp thoáng hương xuân và rượu nồng pháo đỏ…

* Cựu quận trưởng quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, bị Việt cộng giựt mìn, phục kích giết chết hết cả nhà.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 23 Nov 2025

24. Chiếc lông chim Đại Bàng

Một ngày, 30 năm sau, có cánh chim vượt trùng dương bay về khung trời quê hương cũ. Chim soãi cánh trên không gian lồng lộng, nhìn xuống, nghẹn ngào từng bờ cỏ, từng ngọn cây, từng con đường xưa như còn in dấu chân chim, từng cánh đồng xanh, từng góc núi thẩm Trường Sơn hùng vĩ.

Chim mơ một lần hạ cánh để được đậu lại trên những cành xưa yêu dấu. Chim bình phi hạ dần cao độ, xuống dần. Lòng chim đau như cắt, nhưng làm sao chim có thể an lòng đậu trên những cành cây xưa mà lòng không “kinh cung chi điểu“! Chim vụt lên cao. Chim lại sà xuống tổ cũ, cánh soãi ngang, bàng hoàng, lưu luyến. Cả một vùng trời quê hương yêu dấu ẩn hiện nhạt nhòa trong mắt chim. Và vụt! Một mũi tên bắn lên từ vùng đất xưa, cắm thẳng vào thân chim. Chim đau đớn, tung cánh vút lên cao. Chim vượt Trường Sơn, vượt trùng dương qua biển Bắc, từ Alaska, theo rặng Rocky xuôi Nam.

Chim đuối sức, tàn hơi, hạ cánh đậu lên một mõm đá trên đỉnh Rainier thuộc vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Mùa xuân đen năm xưa, có một đàn chim vỡ tổ. Đàn chim tung cánh lìa đàn hoảng hốt bay bốn phương trời. Có những con chim gãy cánh trên rừng sâu. Có những con chim gãy cánh trên biển rộng, và cũng có những con chim đến được những vùng đất lành.

Chim vỡ tổ. Chim lìa tổ. Chim nhớ tổ. “Việt Điểu Sào Nam Chi“. Có những khung trời nắng ấm. Có những cánh chim mòn mõi. Có những khung trời lạnh giá. Có những cánh chim co ro giữa mùa đông tuyết trắng. Có những cánh chim tàn tạ bỏ mình trên đất khách nghìn trùng…

Trên mõm đá lạnh không còn bóng thù, chim ngoái cổ nhổ mũi tên ra khỏi thân. Một dòng máu chảy tuôn. Chim đặt mũi tên trên phiến đá. Cơn đau cắt ruột trên thân chim bỗng biến đi khi chim kinh hoàng nhận ra chiếc lông chim gắn dính sau đuôi mũi tên lại chính là chiếc lông của chim đã rơi vào tay kẻ thù.

Cơn mưa lạnh đã cuốn đi những vệt máu chim loang trên phiến đá. Mắt chim mờ đi. Không biết sương mù trên đỉnh Rainier rơi vào mắt chim hay chính chim đang khóc, khóc cho mình, khóc cho vận nước oan nghiệt đau thương…

Đoản văn này được viết theo một chuyện ngụ ngôn nói về chiếc lông chim đại bàng của một quốc gia vùng Địa Trung Hải. Và chiếc lông chim đại bàng Việt Nam được gắn làm đuôi mũi tên chính là những đồng đô la người Việt hải ngoại gửi về quê hương hàng năm tròm trèm 5,7 tỷ lọt vào tay cộng sản. Những đồng đô la đó chính là những viên sỏi trong các đôi giày cách mạng Việt Nam, là những mũi tên chí tử cắm vào thân thể những người yêu nước! Không biết cộng sản đã xây thêm bao nhiêu trại giam, bao nhiêu nhà tù để trấn áp muôn dân?!

Ôi, liệu có cánh chim đại bàng nào có thể bay xa khi những mũi tên thù làm bằng chính chiếc lông của mình, cứ tiếp tục phóng thẳng vào thân thể mình?! Mùa xuân nào những con chim đại bàng còn sống sót trên đất lạ, còn đủ lông cánh, có thể tung cánh trở về tổ ấm xưa khi trên thân mình dính đầy những vết thương oan nghiệt?!

Biển chiều!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

March 14th, 2025

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Thuộc Hội đồng Thành phố Surf Coast (Surf Coast Shire), tiểu bang Victoria, Australia, Lorne là một thị trấn ven biển, tọa lạc trên Great Ocean Road, một trong những tuyến đường biển đẹp nổi tiếng ở Australia. Vùng đất này vốn là nơi sinh sống của các bộ tộc thổ dân Gunditjmara. Vào cuối thế kỷ 19, với vẻ đẹp tự nhiên nổi bật với bãi biển dài, các vách đá ven biển, và những khu rừng mưa nhiệt đới bao quanh cộng với khí hậu mát mẻ, Lorne bắt đầu phát triển như một khu nghỉ mát, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Tên gọi ‘Lorne’ được đặt theo tên của Công tước xứ Lorne, người đã có chuyến thăm tới khu vực này vào năm 1870. John Campbell (1845 – 1914), Công tước xứ Argyll, kết hôn với công chúa Louise, con gái của Nữ hoàng Victoria, và vì thế ông nhận được danh hiệu Công tước xứ Lorne từ Nữ hoàng.

John Campbell cũng được đặt tên cho Port Campbell, là một làng chài  ven biển  vốn nằm trên đất của người Eastern Maar, thổ dân bản địa. Port Campbell ngày nay nổi tiếng với các nhà hàng và quán cà phê có tầm nhìn ra bãi biển, cũng như các cửa hàng và phòng trưng bày nghệ thuật đa dạng. Nơi đây cũng gần các thắng cảnh nổi tiếng như: 12 Apostles ( 12 Tông Đồ), Loch Ard Gorge và London Bridge.

Lorne cách thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria khoảng 140 km về phía Tây Nam. Từ Melbourne muốn tới Lorne, nếu bạn lái xe có thể mất khoảng 2 giờ 15 phút. Xe qua Geelong theo tuyến đường Great Ocean Road dọc theo bờ biển, với cảnh quan tuyệt đẹp trên đường đi. Với 282,809 cư dân, Geelong là thành phố lớn thứ hai ở Victoria, sau Melbourne. Tên “Geelong” có nguồn gốc từ tiếng thổ dân Wathaurong, với “jillong” hoặc “geelong” có nghĩa là “vịnh” hoặc “bến tàu”. Mấy thằng Úc có óc khôi hài đen: tên Geelong nó cắt ra làm ha: ‘Gee’ và ‘long’.  “Gee” là viết tắt của “Geez”, dùng để diễn tả sự ngạc nhiên hoặc bất ngờ, giống như kiểu “Ối giời ơi” trong tiếng Việt. Còn “long” thì đúng là có nghĩa là “dài”, và khi ghép lại thành “Gee long”, có thể dịch hài hước ra là “Ối giời ơi, dài quá!”, một cách chơi chữ rất ngộ nghĩnh.

Những người tị nạn Việt Nam đang thoát khỏi một chiếc thuyền bị đắm ở Malaysia, tháng 12 năm 1978. nguồn SBS.com.au

Bãi biển Lorne dài và cát mịn với làn nước trong xanh là một trong những bãi biển đẹp nhất dọc theo Great Ocean Road. Lorne còn nổi tiếng với những khu rừng mưa nhiệt đới, thác nước Erskine Falls gần đó, và các đường dài dành cho đi bộ trong vùng núi Otway. Theo ước tính, mỗi năm Lorne đón khoảng 500,000 du khách nội địa cũng như hải ngoại đến để lướt sóng, chèo thuyền kayak hoặc đạp xe đặc biệt là vào mùa hè xứ Úc (từ tháng 12 đến tháng 2)

Tuy nhiên, Lorne có nước biển cạn và nhiều đá ngầm, gây khó khăn cho việc điều hướng tàu trong các điều kiện thời tiết xấu, nên trong lịch sử có rất nhiều vụ đắm tàu gây chết người. Như vào ngày 9 tháng 6 năm 1851, xuất phát từ Port Phillip Bay, gần Melbourne, và di chuyển dọc theo bờ biển Australia để về Adelaide, Nam Úc, tàu buồm Osprey với hai mỏ neo được thả xuống vào sáng sớm Chủ Nhật ngày 18 tháng 6 năm 1854. Thuyền trưởng Hawkins đã lên bờ. Một cơn gió đông thổi mạnh và những con sóng lớn đã đánh vào làm con tàu bị mắc cạn rồi bị đắm gần bãi biển Lorne. Thủy thủ đoàn của tàu “Osprey” gồm khoảng 20 người, có khoảng 10 người thiệt mạng.

Tàu buôn Schooner Rebel, được ghi danh tại Geelong, dự định di chuyển từ Melbourne (Australia) đến Adelaide, thủ phủ của tiểu bang Nam Úc khoảng 700 km về phía Bắc Tây Nam, đã bị đắm vào ngày 17 tháng 2 năm 1855, gần bãi biển Lorne, tiểu bang Victoria. “Rebel” có một thủy thủ đoàn nhỏ, khoảng từ 10 đến 15 người, tất cả đều mất tích. Không còn ai sống sót!

Cách khoảng 10 phút lái xe về phía tây của thắng cảnh 12 Vị Tông Đồ là Loch Ard Gorge nơi có các vách đá dựng đứng bao quanh một bãi biển nhỏ nằm trong Công viên quốc gia Port Campbell. Đây là một phần của Great Ocean Road và nổi bật với cảnh quan tuyệt đẹp của vách đá, bãi biển và biển cả.

Nhạc sĩ Trần Chí Phúc trình bày “Xác em nay ở phương nào?” thơ Ngọc Khôi – nguồn youtube

Tên Loch Ard thực sự xuất phát từ một con tàu mang tên Loch Ard. Sau 3 tháng lênh đênh trên biển từ Anh đến Melbourne, trong cơn bão lớn cách Lorne khoảng 10 km về phía đông, vào ngày 1 tháng 6 năm 1878. tàu Loch Ard bị mất phương hướng. Những con sóng dữ đã đánh chìm tàu chỉ vài phút sau khi tàu va vào vách đá. Chuyến tàu tổng cộng 54 người gồm hành khách và thủy thủ đoàn, chỉ còn hai người sống sót là Tom Pearce – một thủy thủ học việc trên tàu và Eva Carmichael, một hành khách. Cả hai đều 18 tuổi. Pearce bị dạt vào bờ biển và đã tìm thấy Carmichael sau khi nghe tiếng khóc của cô. Họ trèo ra khỏi Loch Ard Gorge để tìm người giúp đỡ và đã được những người thổ dân bản địa cứu giúp. Vào tháng 6 năm 2009, sóng biển dữ làm mái vòm sụp đổ để lại hai trụ đá được đặt theo tên của hai ngươi là Tom và Eva sống sót trong thảm nạn chìm tàu Loch Ard.

Đứng trong biển chiều Lorne phóng tầm mắt ra xa, tôi tưởng nhớ những người đã chết trong hai vụ đắm tàu cách nay gần 150 năm.

Tôi cũng nhớ hàng trăm ngàn bà con thân yêu của tôi, một thời hãi hùng đã bỏ mình trên sóng nước bao la thời vượt biên, vượt biển. Lại nhớ thơ Cao Tần: “Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau…” Lại nhớ thơ Ngọc Khôi: “Xác em nay ở phương nào?” được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ nhạc. “Chiều ra biển đứng ê chề. Tìm trên ngọn sóng ngó về xác em. Vớt rong rêu ngọn tóc mềm. Quay về hướng gió tưởng em thở dài… Xác em nay ở phương nào. Tấp sang đất Thái hay vào Nam Dương. Có khi xác vượt trùng dương. Trôi về Bắc Mỹ trách hờn người yêu. Biển lớn, biển lớn cuốn em đi. Rồi xa, rồi xa, rồi xa mãi. Biển ơi, trả cho ta xác em yêu. Chiều ra biển đứng ngậm ngùi. Nhớ em và nhớ cả trời Việt Nam”.

Tôi lúi húi làm thơ: “Đêm anh ra biển một mình/ Thuyền linh đinh, giữa u minh nước trời/ Biển ru anh tiếng ru đời/ Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.”

ĐXT

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Chương 8.

Suy luận về thú chơi sách và thú chơi đồ cổ.

Hôm nay, 28-5-1993, đang ăn điểm tâm sáng, bỗng có người đến cho hay tin buồn, đáng thương: một nhà sưu tập và buôn cổ ngoạn, đã bị câu lưu rồi thả ra vài tháng nay và nay tin cho hay đã bị bắt và giam trở lại, chưa biết rõ duyên cớ nhưng tạm thấy nghề buôn nguy hiểm và muốn giữ được khỏi phiền toái và hao hớt tinh thần, lẫn vật chất, thì tốt hơn không nên chọn nghề đi buôn vật cổ, sách cũ và đồ vật xưa, khi đã được nhận là hiếm quí, thì tai họa lưu trữ cũng tùy và chưa biết trước được. Cao kế là đừng ham, đừng cố muốn sanh lợi là tốt nhứt.

Sưu tập nhiều năm, tốn hao không ít, đi đây đi đó mua về, mừng chưa kịp no, bỗng thinh khổng thinh không sạch sành sanh, không còn món nào, thân lại bị tù tội, nhà như có tang, vợ kinh hoàng, chạy đôn chạy đáo, con bị bỏ học, người ngoại cuộc hay tin, thỏ thác cáo sầu, nỗi thương tâm không bì nỗi tai họa đất bằng sóng dậy, nhưng nghĩ cho cùng, phải có lửa cháy, mới có khói bay ra … Khách báo tin ra về, đóng cửa lấy bộ Hồng lâu mộng ra đọc, giải buồn. Nhà có đến hai bộ: 1 bộ do Văn Hóa Hà Nội xuất bản năm 1962, dịch lại những thơ chữ Hán, nhưng rất tiếc là không kèm thêm bản phiên âm Hán tự ra quốc ngữ, để giúp người dốt hiểu thêm ý nghĩa người cổ nhân: bộ thứ 2 là bộ của nhà xuất bản “Chiêu Dương” Sài Gòn, in năm 1969, bộ nầy, chẳng qua là của một người, theo tôi, dựa theo bản đã in rồi trên kia và viết lại đổi lại vài từ ngữ, v.v.., nhiều chỗ, tỷ như thi Hán, vẫn phiên âm thay vì dịch nghĩa. Chung qui, ngày nhàn, giờ rỗi, nay đọc lại, mới hiểu thêm một đôi chỗ, giúp cho người dốt đực như tôi, chính tên viết làm sao cũng dốt luôn, vẫn mò và hiểu được chút ít về khoa chơi đồ cổ.

So sánh lại và xin miễn nói chuyện bây giờ, chỉ bàn về chuyện đã qua: tỷ như thời Tây u, thời Diệm như thời Thiệu v.v.., vẫn có tục “Nhà Nước mua sắm, vẫn thông qua nhà thầu, nhà buôn có môn bài, và giấy tờ luộm thuộm, facture, mandat de paiement, giấy giao hàng, ngân phiếu, v.v.. chung qui, vẫn y cựu lệ, đời Mãn Thanh, thời Ung Chánh, Kiền Long, thạnh thời nhứt buổi ấy, cũng vẫn Nhà Nước mua sắm chuyển qua tay các chức viên Thanh triều dưới danh từ y hệt “bình cũ rượu mới”, hoặc “bình mới rượu cũ”, và nói tắt cho mau hiểu, đời Tây đã có compradore, ta dịch Hán văn là “mại bản”, nôm na theo Ba Tàu là “Mái chính”, nói thông thường tiếng Việt là “nhà thầu”, “thầu khoán”, “người lãnh việc”, hoặc người bao mối mua lên và bán lại cho Nhà Nước để nhận tiền còm (vì vậy mà sau ngày Giải phóng 30/4/1975, các tay buôn dưới danh từ ấy đã bị hốt và quét gần như tiệt giống và trái lại, nói về đời Thanh và dựa theo bản Hồng Lâu Mộng, thì vẫn “Đô chuyển vận diêm sứ” (nếu coi về muối ăn cần thiết của triều đình và dân chúng, “Diêm”, hoặc gọi cách khác là “Tư diêm pháp đạo” v.v .. nhưng chung qui cũng là muối hột (nguyên chất) hoặc “muối bọt” khi đã tán, xay ra bột, ra hột muối nhỏ, v.v ..và để hiểu về đồ cổ, sách vở v.v .. , thì … đến đây, xin độc giả cho tôi dài dòng tâm sự cùng tìm hiểu như sau:

a) đồ cổ là gì?

Xin thưa: trước khi thành cổ, đồ ấy vẫn là nay. Tỷ dụ: 1 món gọi Đại Thanh Khang Hy niên chế, thì dưới đời vua Khang Hy, 1666 (K.H. đệ nhứt niên) đến 1722 (K.H. đệ lục thập nhứt niên), món ấy vẫn là nay (tân, mới), nhưng bắt đầu từ 1723 (Ung Chánh đệ nhứt niên) thì món ấy đã trở nên cũ, lỗi thời, và đã qua đời khác rồi và sở dĩ, theo Trung Hoa và theo người Việt ta, căn cứ theo nguyên tắc “thay vua thì phải thay tất cả những gì thuộc ông vua ấy, cho là “quá thời” và phải thay thế bằng vật đổi mới và lấy niên hiệu vua kế nghiệp làm đầu mối lại mới, để tránh sự loạn trong giống dòng, trong cung nội, (thay thế cung phi, của vua đã qua đời và lựa chọn, chế tạo lại dụng cụ theo thể thức mới của ông vua nối ngôi kế tiếp, tôi nói tuy lòng vòng, nhưng sự thật tóm tắt lại đó là để giữ mối giềng cho tinh khiết và cũng vậy mà, nói xuyên qua sự nối dòng, mỗi người nữ ngoại tình, hiểu theo Khổng Mạnh thì tội rất nặng, vì nữ ấy đã đem máu khác diệt máu của chồng và của bao nhiêu tổ tiên của chồng, trong khi và trái lại, hiểu theo đạo Da tô và theo luật người phương Tây, người nữ phạm tội ngoại tình, vẫn có chỗ tha thứ và nhẹ tội, cho rằng người đàn ông tuy cương quyết nhưng vẫn lầm lỗi, thì tức nhiên người đàn bà, trí óc kém người đàn ông, tức phải dễ lầm lạc và rất nên tha thứ, thứ nhứt là bên phương Tây, không có tục “nối dòng thờ phụng tổ tiên” (và phương Tây, gái có chồng còn lấy trai, có chỗ châm chế, không như phương Đông ngoại tình).

(viết ngày 18-6-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Bài 41

Quých-Quých Chưa đến ba giờ sau, chúng tôi đã đến trước một cái ao đầy bùn. Trên mặt lớp bùn là những cây hoa sen và những tàu lá xanh và to. Chúng tôi đi theo mép bùn.
– Cẩn thận đừng có trượt chân đấy, nếu bị ngã xuống là không mong lên được đâu, – Văn Huê vừa thấy tôi đi loạng choạng đã cảnh cáo tôi.
– Anh cứ đi đi, tôi theo anh, và tôi sẽ cẩn thận hơn.
Trước mặt tôi là một hòn đảo nhỏ, cách xa chừng một trăm năm mươi mét. Từ giữa cái đảo tí hon ấy, khói hốc lên. Chắc đấy là chỗ đốt than. Tôi nhận thấy có một con cá sấu nằm trong bùn, chỉ có cặp mắt ló ra. Không biết con cá sấu này ăn gì để sống trong đống bùn này.
Sau khi đi bộ hơn một kilômét dọc bờ ao có bùn này. Văn Huê dừng lại và cất tiếng hát một bài hát Tàu. Một bóng người hiện ra bên kia đảo. Đó là một người nhỏ nhắn, chỉ vận một cái quần cụt. Hai người nói chuyện với nhau rất lâu, tôi bắt đầu thấy sốt ruột thì vừa may họ cũng ngừng nói. 
– Đi lối này – Văn Huê bảo tôi.
Tôi đi theo anh, chúng tôi lại lộn ra.
– Mọi việc tốt cả. Đây là bạn Quých-Quých, Quých-Quých đi săn cũng sắp về rồi, ta phải đợi ở đây.
Chúng tôi ngồi xuống. Chưa đầy một giờ sau, Quých-Quých về. Đó là một người nhỏ và gầy, da vàng, răng nhuộm gần như đen bóng, có cặp mắt thông minh và thẳng thắn.
– Anh là bạn của Chang em tôi?
– Phải.
– Tốt lắm. Anh về được rồi đấy, Văn Huê ạ.
– Cảm ơn anh, – Văn Huê nói.
– Anh cầm con gà gô này về đi.
– Tôi không lấy đâu, cảm ơn anh. – Anh bắt tay tôi rồi quay đi.
Quých-Quých kéo tôi đi theo con heo cứ chạy trước anh. Anh theo sát nó từng bước.

– Anh hãy chú ý đấy Papillon. Xảy chân, bước lỡ một bước là anh bị sa lầy ngay. Trường hợp bị nạn, không ai có thể cứu được vì không phải một mà cả hai cũng tiêu luôn. Đường đi lại thay đổi luôn vì bùn cứ xê dịch hoài, nhưng con heo vẫn tìm được lối đi. Có một lần, tôi phải chờ hai ngày mới đi qua được.
Quả vậy, con heo đánh hơi và nhanh chóng vượt qua quãng bùn. Anh người Tàu nói với nó bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi di theo ngỡ ngàng vì thấy con vật nhỏ bé này nghe lời anh như một con chó.

Con heo đã đi qua được bên kia mà không lần nào lún sâu quá vài phân. Anh bạn mới của tôi cũng mau chân theo nó và nói: Anh bước theo bước chân tôi nhé. Phải đi rất nhanh vì những vết chân heo bị lấp rất chóng. Chúng tôi qua ao bùn không khó lắm. Không lúc nào bùn ngập quá bắp chân tôi, mà có ngập đến bắp chân thì cũng chỉ ở đoạn cuối thôi. 
Con heo đi hai khúc quành dài, làm chúng tôi buộc lòng phải đi trên lớp đất chắc ấy một quãng dài hơn hai trăm mét. Mồ hôi tôi chảy dòng dòng khắp người. Nói là tôi sợ thật chưa đủ. Phải nói là kinh hoàng mới đúng.
Đi quãng đường đầu tiên, tôi tự hỏi không biết số mạng tôi có phải chết như Sylvain không. Tôi như lại trông thấy anh bạn khốn khổ ấy trong giai đoạn cuối cùng, và tuy rất tỉnh táo tôi nhận rõ người anh nhưng mặt lại hao hao giống tôi. Cảm giác của tôi khi tôi đi qua đoạn đường đó thật là ghê sợ. Tôi không dễ quên ngay.
– Đưa tay cho tôi – Và Quých-Quých, anh chàng bé nhỏ chỉ có xương và da, đã giúp tôi leo lên bờ.
– Anh bạn ơi, bọn đi săn người không tới đây lùng chúng ta đâu nhỉ.
– ồ anh yên tâm về chuyện này.
Chúng tôi đi sâu vào đáo: Một mùi thán khí xộc vào họng tôi. Tôi ho. Đấy là mùi khói của hai cái lò đốt than đang bốc cháy ở đây tôi không còn sợ muỗi. Một cái lán nhỏ, lợp lá, vách cũng bằng lá kết lại với nhau, đứng trước gió, chung quanh mù mịt khói. Có một cửa vào, và đứng trước cứa là cái ông già người Đông-dương bé nhỏ mà tôi đã trông thấy trước khi gặp Quých-Quých.
– Chào me-xừ.
– Nói tiếng Pháp với anh ấy, đừng dùng tiếng địa phương, anh ta là bạn của em tôi đấy.
Ông già người Tàu, bé quắt một mẩu, nhìn tôi từ đầu đến chân. Hài lòng về cuộc quan sát của mình, ông chìa tay ra cho tôi, miệng mỉm cười móm mém. Vào đi ngồi xuống đây.
Cái bếp duy nhất này trông rất sạch sẽ. Trên bếp là một cái nồi to không biết đun nấu gì. Chỉ có một cái giường bằng cành cây đan với nhau, cao cách mặt đất ít nhất là một mét.
– Ông giúp tôi làm thế nào cho anh ấy có chỗ ngủ đêm nay đi.
– Được rồi,.
Chưa đầy nữa giờ sau, chỗ nằm của tôi đã xong. Hai người Tàu dọn thức ăn ra và chúng tôi ăn một món xúp tuyệt ngon, rồi cơm trắng với thịt nấu hành. Ông bạn Quých-Quých là người đi bán than củi. Ông ta không ở lại đảo, vì vậy tối đến, chỉ còn lại Quých-Quých và tôi.
– Phải, tôi đã lấy trộm cả bầy vịt của trại trưởng, vì vậy tôi phải vượt ngục.
Chúng tôi ngồi đối diện với nhau ngọn lửa nhỏ chốc chốc lại bốc lên soi sáng mặt chúng tôi. Mặt Quých-Quých không vàng hắn. Do phơi nắng, màu vàng tự nhiên đã chuyến thành màu đồng đỏ. Mắt anh xếch, đen nhánh, khi anh nói với ai là mắt anh nhìn thẳng vào mắt người ấy. Anh hút những điếu xì- gà dài mà anh dùng lá thuốc đen cuốn lấy. Tôi vẫn cuốn thuốc lá bằng tấm giấy bản mà anh cắt cho tôi.
– Tôi phải trốn vì trại trưởng, chủ đàn vịt, muốn giết chết tôi, chuyện ấy cách đây đã ba tháng. Khổ một cái là tôi thua bạc, không chỉ mất hết tiền bán vịt mà mất cả tiền bán than của hai lò than này.
– Anh chơi ở đâu?
– Chơi trong rừng. Đêm nào cũng đánh với mấy anh Tàu ở trại Inini và mấy anh tù mãn hạn từ bên Thác sang.
– Anh đã quyết định vượt biển chưa?
– Tôi chỉ mong có thế. Khi tôi bán được than củi, tôi tính mua một chiếc ghe, tìm một người biết lái chịu đi với tôi. Nhưng trong ba tuần nữa, ta bán than rồi là có thể mua một chiếc ghe và đi đường biển, vì anh biết lái mà.
– Tôi có tiền đây, anh Quých-Quých ạ, không cần phải chờ bán được than mới mua thuyền.
– Thế thì hay. Có một chiến thuyền tốt lắm, một ngàn năm trăm francs, của một người da đen làm nghề bổ củi bán.
– Anh đã coi chưa?
– Rồi.
– Nhưng tôi cũng muốn xem.
– Mai, tôi sẽ đi gặp Sô-cô-la, tôi vẫn gọi hắn như vậy Papillon ạ, anh kể cho tôi nghe chuyện vượt ngục của anh đi. Tôi tưởng không thể nào vượt ngục từ đảo Quỷ đi được. Sao Chang không đi cùng anh?
Tôi kể với anh chuyện vượt ngục, con sóng Lisette, cái chết của Silvain.
– Tôi hiểu tại sao Chang không muốn đi với anh. Thật là quá mạo hiểm. Số anh đỏ lắm đấy, cho nên anh mới sống sót mà tới đây được. Tôi mừng cho anh lắm. 
Quých-Quých và tôi trò chuyện với nhau đã ba giờ.
Chúng tôi ngủ sớm vì anh muốn đi tìm Sô-cô-la ngay lúc hừng đông. Sau khi đặt vào bếp một cành cây to để nó cháy suốt đêm, chúng tôi ngủ. Khói làm tôi ho và tắc cả mũi, nhưng có điều lợi là không có lấy một con muỗi.

Nằm trên giường, đắp chăn ấm, tôi nhắm nghiền mắt. Tôi không sao ngủ được. Tôi bị căng thẳng quá. Đúng là chuyến vượt ngục diễn ra thật tốt đẹp. Nếu tàu tốt chỉ tám ngày nưa là tôi sẽ ra khơi. Quých-Quých nhỏ và gầy, nhưng anh có sức mạnh phi thường, và sức chịu đựng của anh có thể vượt qua được mọi thứ thách. Chắc chắn là anh trung thực và đàng hoàng đối với bạn, nhưng có thể anh cũng rất tàn nhẫn với kẻ thù. Khó mà nhận xét được điều gì trên mặt một người Á đông, nó chẳng bộc lộ chút gì hết. Tuy vậy, mắt anh đã nói thay anh.
Tôi ngủ thiếp đi và mơ thấy biển khơi tràn đầy ánh nắng, tàu của tôi tưng bừng vượt sóng trên đường đi tới tự do.
Anh uổng cà-phê hay trà?
– Thế anh uống gì?
– Tôi uống trà.
– Vậy cho tôi trà.
Trời vừa ló sáng, lửa vẫn cháy từ đêm qua, nước reo trong xoong. Một con gà vui mừng cất tiếng gáy. Chung quanh chúng tôi không có tiếng chim kêu, chắc chắn khói đã làm chúng bạt đi mất. Con heo đen nằm trên giường với Quých-Quých. Con heo chắc làm biếng lắm, vì đến giờ nó vẫn còn ngủ. Những miếng bánh tráng làm bằng bột gạo đang được nướng trên than hồng. Sau khi pha trà đường, anh bạn tôi cắt bánh làm đôi, phết mỡ rồi đưa cho tôi. Chúng tôi ăn một bữa thịnh soạn. Tôi ăn ba chiếc bánh tráng đã được nướng kỹ. 
– Tôi đi đây, anh theo tôi ra nhé. Nếu có ai kêu hay huýt sáo, đừng trả lời. Anh không phải lo, không ai đến đây được. Nhưng nếu anh ra chỗ mép bùn, anh có thể bị chết đấy.
Con heo đã dậy theo tiếng gọi của chủ. Nó ăn, uống rồi ra ngoài, chủ nó đi theo nó. Nó đến thẳng nơi có bùn. Nó đi xuống cách đoạn đường chúng tôi tới đây hôm qua hơi xa hơn một chút. Đi được vài chục mét, nó quay lại: nó không ưng lối này. Sau khi dò thử ba lần, nó mới vượt qua chỗ bùn. Quých-Quých theo ngay nó, không e ngại và đã tới được chỗ đất rắn. Mãi tận chiều, Quých-Quých mới về. Tôi ăn một mình món súp anh đã đặt trên đống lửa. Sau khi nhặt được tám quả trứng trong chuồng gà, tôi lấy mỡ làm một đĩa ba quả trứng ốp-lết. Gió đã đổi chiều và khói ở hai lò bên lán đã bay về hướng khác. Buổi chiều trời mưa, tôi nằm trên giường gỗ của tôi, tôi không bị thán khí làm cho khó chịu.
Buổi sớm, tôi dạo một vòng quanh đảo. Khoảng giữa đảo có một khu đất trống khá rộng, cây đổ và củi bổ tại đó chứng tỏ là Quých-Quých lấy gỗ ở đấy để đốt thành than. Tôi còn thấy một cái hố có đất sét trắng, chắc anh moi lên để phết vào gỗ làm cho nó cháy không thành ngọn. Lũ gà kiếm ăn ở khu đất trống. Một con chuột kếch xù chạy vụt dưới chân tôi và cách đấy vài thước, tôi thấy một con rắn dài gần hai mét đã chết.
Chắc hẳn con chuột đã cắn chết con rắn.
Suốt ngày hôm ấy, ở một mình trên đảo, tôi khám phá hết cái nọ đến cái kia. Ví dụ, tôi gặp một gia đình những con ăn kiến. Một mẹ và ba con. Một tổ kiến to đang sôi sục quanh chỗ chúng. Hơn một tá khỉ rất nhỏ nhảy từ cành nọ sang cành kia trên khoảng đất trống. 
– Tôi không gặp Sô-cô-la, cũng không thấy chiếc thuyền. Chắc anh về làng ở vùng Thác mua thực phẩm. Anh ăn đủ chưa?
– Rồi.
– Anh còn muốn ăn nữa không?
– Không.
Tôi mang về cho anh hai gói thuốc đen, loại sợi to của lính: vì chỉ có thứ này.
– Cảm ơn anh, thứ này được rồi. Khi Sôcôla đi vắng, thường anh ta ở lại làng mấy ngày?
– Hai ba ngày, nhưng mai tôi lại đi, ngày nào tôi cũng đi, vì tôi không biết anh ta đi lúc nào. 

Hôm sau trời mưa tầm tã. Nhưng Quých-Quých vẫn trần truồng đội mưa ra đi. Anh bọc quần áo trong một tấm vải sơn cắp dưới nách. Tôi không tiễn chân anh. “Anh đừng đi làm gì cho ướt”. Anh nói với tôi thế. Mưa đã tạnh. Nhìn mặt trời, tôi biết là đã mười một giờ. Lò than thứ hai bị nước mưa làm sập. Tôi tới gần để ước lượng tai họa này. Mưa xối xà cũng không làm tắt hết củi. Vẫn còn khói từ trong cái đống dị hình đó bốc lên. Bỗng tôi dụi mắt rồi nhìn lần nữa vì những thứ tôi trông thấy thật bất ngờ: trong lò than có năm chiếc giày. Trông rõ ngay là mỗi chiếc giày đều đặt thắng đứng trên gót, đều được sỏ vào một cái chân còn nguyên từ bàn chân lên đến bắp. Như vậy là có ba người bị thiêu trong lò. Không cần phải mô tả phản ứng đầu tiên của tôi: khám phá ra chuyện này tôi thấy lành lạnh ờ sống lưng. Tôi cúi xuống lấy chân bới chút tàn than cháy dở, thì thấy bàn chân thứ sáu.
Quých-Quých cũng ghê thật, anh đã biến những người anh giết hàng loạt thành tro bụi. Tôi bị xúc động đến nỗi phải rời khỏi lò than ngay ra tận khu bãi trống đế có chút ánh nắng. Tôi cần phải được sưởi nóng. Đúng, trong không khí ngột ngạt này, tôi bỗng thấy lạnh và cần phải có một chút mặt trời nhiệt đới. Đọc đến đây, chắc độc giả cho là chuyện vô lý: đáng lẽ sau khi khám phá ra việc này, tôi phải toát mồ hôi mới phải. Thế mà không, tôi thấy lạnh cóng người, về tinh thần và thể chất. Rất lâu, đến một tiếng đồng hồ sau, mồ hôi mới bắt đầu chảy trên trán tôi vì càng nghĩ, tôi càng thấy rằng, tôi đã nói với anh ta là tôi có rất nhiều tiền dấu ở trong plan thế mà đến bây giờ tôi vẫn còn sống thì thật là một điều kỳ diệu. Phải chăng anh ta để dành tôi cho một cái lò đốt than thứ ba?
Tôi nhớ là Chang em của anh đã nói với tôi là anh bị kết án về tội ăn cướp và giết người trên một chiếc thuyền buồm. Khi họ tấn công một chiếc tàu để cướp của, họ giết cả gia đình, tất nhiên là vin vào những lý do chính trị. Vậy thì đây là những người đã quen giết người hàng loạt. Thế mà tôi lại bị cầm giữ ở đây. Tôi ở trong một hoàn cảnh thật gay go. Thứ điểm lại tình hình xem sao. Nếu tôi giết Quých-Quých trên đảo này rồi cho xác anh vào lò than, không ai hay biết được. Nhưng con heo lại không chịu nghe tôi con heo được rèn luyện này cũng không hiểu tiếng Pháp. Vậy là không có cách nào ra khỏi đảo. Nếu tôi ép buộc được anh Tàu này nghe theo tôi, thì sau khi bắt anh đưa tôi ra khỏi đảo, tôi sẽ giết anh trên đất liền. Nếu tôi ném anh xuống bùn, anh sẽ biến mất, nhưng chắc anh phải có lý do gì để thiêu những người này mà không ném xác họ xuống bùn, làm thế dễ hơn nhiều. Bọn cai tù, tôi đếch sợ, nhưng nếu các bạn Tàu của anh khám phá ra là tôi đã giết anh, họ sẽ thành kẻ đi săn người. Họ lại thông thạo địa thế ở đây. Như vậy, bị họ đuổi theo chẳng phải là chuyện hay hớm gì.
Quých-Quých chỉ có khẩu súng trường một nòng, nạp đạn từ phía đầu nòng. Anh không chịu rời nó, kể cá lúc nấu ăn, lúc ngủ và ngay cả khi đi ngoài anh cũng mang súng theo. Tôi có con dao lúc nào cũng mở sẵn nhưng tôi còn phải ngủ. Thế mà anh lại là người tôi chọn để cùng vượt ngục đấy, thật oái oăm. Cả ngày hôm ấy tôi không ăn. Và khi tôi nghe tiếng anh hát, tôi cũng chưa quyết định làm gì. Quých-Quých đã trở về. Nấp sau các cành cây tôi thấy anh đi tới. Anh mang một cái bọc đặt thăng bằng trên đầu và khi anh đến bên tôi, tôi mới ló ra. Anh tươi cười đưa tôi gói đồ bọc trong cái bao bột mì, leo lên rồi đi vội vào nhà. Tôi đi theo anh.
– Tin mừng, Papillon ạ, Sô-cô- la đã về rồi, thuyền vẫn còn. Anh ta nói là tàu có thể chở được hơn năm trăm kí-lô mà vẫn nổi. Thứ anh đang cần là những bao bột mì để ghép lại thành buồm chính và một buồm mui. Đây là bọc hàng đầu tiên. Nhưng thứ còn lại mai ta sẽ lấy về nốt, vì anh sẽ đi xem thuyền với tôi. 
Quých-Quých vừa đi vừa nói, không quay mặt lại.
Chúng tôi nối gót nhau đi. Trước tiên là con heo, rồi đến anh ta, còn tôi đi sau cùng. Tôi khoáng nghĩ rất nhanh là anh không có vẻ gì có ý định cho tôi vào lò than, vì ngày mai anh sẽ đưa tôi đi xem thuyền, và anh đã bắt đầu tiêu pha để chuẩn bị cho cuộc vượt ngục: anh còn mua cả những bao bột mì.
– Một cái lò bị sập đổ kìa. Chắc tại trời mưa. 
– Mưa nhiều quá nên cũng chẳng có gì là lạ.
Anh cũng không ra thăm lò, cứ đi thẳng về lán. Tôi không biết nói gì, cũng không biết nên làm gì. Coi như không trông thấy gì cũng không xong. chẳng lẽ suốt ngày tôi lại không mò đến gần lò ở cách lán có hai mươi lăm mét, nghĩ cũng kỳ.
– Anh để tắt lửa đấy à?
– Phải, tôi chẳng đề ý đến nữa.
– Anh đã ăn chưa?
– Chưa, tôi không đói.
– Anh bệnh à?
– Không.
– Thế tại sao anh không ăn súp đi?
– Quých-Quých, anh ngồi xuống dây, tôi có chuyện muốn nói với anh.
– Để tôi châm lửa đã.
– Đừng. Tôi muốn nói chuyện với anh ngay, trong lúc trời còn sáng.
– Có điều gì vậy?
– Có điều là lò sập đã để lộ ba cái xác người bị anh thiêu trong đó. Anh bày giải thích cho tôi nghe việc này.
– à! Thảo nào tôi thấy mặt anh là lạ.
Không lộ vẻ xúc động chút nào, anh nhìn thẳng tôi nói: 
– Sau khi nhìn thấy như vậy, anh không yên tâm phải không? Tôi hiểu, chuyện dĩ nhiên thôi. Cũng may cho tôi là anh chưa đâm vào lưng tôi. Anh Pappillon, ba thằng cha ấy là ba thằng đi săn người. Và tuần qua, mười hôm thì đúng hơn, tôi bán một mớ củi cho Sô-cô-la.

Ông người Tàu mà anh đã thấy, giúp tôi đưa các bao than ra khỏi đảo. Chuyện này rắc rối lắm: chúng tôi dùng thừng dài hơn hai trăm mét kéo những bao than cho trượt trên bùn. Đại khái là như vậy. Từ đây đến một con lạch nhỏ, thuyền của Sô-cô-la đậu ở đấy. Chúng tôi đã để lại rất nhiều dấu vết, mấy cái bao rách đã để rơi vài cục than. Thế là bắt đầu xuất hiện kẻ săn người đầu tiên. Nghe thú kêu, tôi biết là trong rừng có người. Tôi thấy được thằng cha nọ, nó lại không trông thấy tôi. Tôi lén đi qua phía bên kia đáo, vòng sau lưng nó đánh bất ngờ, chẳng có gì khó. Nó bị giết chết mà không hề biết ai giết mình. Tôi để ý nhận thấy các xác chết nắm xuống bùn sau vài ngày lại nổi lên, cho nên tôi mang nó về đây, cho vào lò.
– Còn hai người kia là thế nào?
Chuyện xáy ra ba ngày trước khi anh đến đây. Đêm ấy tối đen như mực và hoàn toàn im ắng, điều này ít khi thấy ở rừng lắm. Hai thằng này ở bờ ao từ chập tối. Một đứa hễ bị khói bay tới là lên cơn ho. Do có những tiếng ho mà tôi biết là có chúng ở đấy. Trước khi trời sáng, tôi đánh liều đi qua phía trước mặt, chỗ bùn mà tôi đã nhớ là có tiếng ho. Muốn cho nhanh, như tôi đã nói với anh, tôi đã cắt cổ tên săn người đầu tiên. Nó không kêu được một tiếng. Còn thằng sau nó, có một khẩu súng săn, nó chỉ lo nhìn về phía trên đảo xem có chuyện gì xảy ra, nên đã để tôi trông thấy. Tôi cho nó một phát súng và thấy nó chưa chết hẳn, tôi lại bồi thêm cho nó một nhát dao vào tim. Đấy là ba thằng mà anh đã trông thấy trong lò than đấy Papillon ạ Một thằng A-rập và hai thằng Pháp. Vác chúng lên vai mà đi qua đống bùn không phải dễ. Chúng nặng lắm, cho nên tôi phải đi làm hai chuyến. Rồi tôi cũng cho nó vào lò được.
– Chuyện xảy ra đúng như vậy chứ?
– Đúng thế, Papillon, tôi thề với anh ấy.
– Tại sao anh không cho chúng xuống bùn?
– Tôi đã nói rồi, bùn đẩy xác chết lên. Thỉnh thoảng có con nai bị rớt xuống đấy, chỉ một tuần sau, nó lại nổi lên. Hôi thối lắm, mãi đến khi kền kền đến ăn mới hết mùi. Phải lâu lắm, tiếng kền kền kêu và bay lượn làm cho người ta tò mò tìm đến. Papillon ơi, tôi thề với anh là đi với tôi anh không phải sợ gì. Đây để anh yên tâm, anh cầm lấy khẩu súng này, nếu anh muốn. Tôi muốn nhận khẩu súng đến chết, nhưng tôi đã nén được và tôi cố hết sức nói thật tự nhiên:
– Tôi không cầm đâu anh Quých-Quých, tôi đến đây vì tôi cảm thấy được bảo đảm, như đến với một người bạn. Ngày mai anh phải thiêu tiếp mấy tên săn người ấy cho hết dấu vết đi. Dù tôi không có mặt ở đây tôi cũng không muốn bị buộc tội là đã giết ba người.
– Được, mai tôi sẽ thiêu nữa. Nhưng anh yên trí. không ai đặt chân được lên đảo này. Không thể có ai dám qua đây nếu không muốn bị sa lầy. Thế với một chiếc xuồng bằng cao su có qua được không?
– Tôi không nghĩ đến việc đó.
Nếu ai dẫn bọn hiến binh đến đây và chúng muốn vào, anh cứ tin là với một cái bè, chúng có thể vào được. Vì vậy nên phải đi càng sớm càng tốt. 
– Đồng ý. Ngày mai, sẽ nhóm lò lại, nó cũng chưa tắt hẳn, chỉ cần làm hai ống thông hơi nữa.
– Thôi chào anh Quých-Quých.
– Chúc anh ngủ ngon, Papillon. Tôi nhắc lại là anh cứ ngủ cho kỹ, anh có thể tin tôi.
Nằm kéo chăn lên tận cằm, tôi thấy ấm áp khoan khoái Tôi châm thuốc hút.

Mười phút sau, Quých-Quých đã ngáy, con heo nằm cạnh anh cũng thở phì phò. Lửa không bốc lên nhưng than ở thân cây còn hồng và khi có cơn gió lùa vào lán, nó tạo ta một cảm giác thanh bình, êm ả. Tôi tận hưởng tiện nghi này và tôi đã ngủ với những ý nghĩ sau đây trong đầu? Ngày mai, tôi sẽ thức dậy và giữa Quých-Quých với tôi mọi việc đều êm đẹp; nếu không chú ba tàu này quá là một nghệ sĩ đã che dấu những ý định của mình và kể chuyện tào lao còn giỏi hơn ca Sacha Guitry* (*Sacha Guitry: diễn viên kịch nói và điện ảnh rất nổi tiếng của Pháp còn là tác giả của nhiều kịch bản sân khấu và phim (1885 –1957) – ND) và nếu thế tôi sẽ không thấy ánh mặt trời, vì tôi đã biết quá nhiều về anh, anh sẽ ngại.
Chuyên viên giết người hàng loạt đánh thức tôi dậy, tay cầm một ca cà-phê, và như không có chuyện gì xảy ra, anh chào tôi với một nụ cười vô cùng cởi mở. Ngày đã rạng.
– Này, anh uống cà phê, ăn bánh tráng đi, đã cho mỡ rồi đấy.
Ăn uống xong, tôi ra ngoài, rửa ráy ở một thùng ton-nô lúc nào cũng đầy nước.
– Anh giúp tôi nhé, Papillon?
– ừ! – tôi nói mà không hỏi xem anh ta cần giúp việc gì
Chúng tôi kéo chân mấy cái xác chết đã bị thiêu dở dang. Tôi để ý thấy mà không nói ra, là cả ba cái xác đều bị mổ bụng, anh chàng tàu dễ thương này chắc đã tìm xem họ có dấu tiền trong ruột không. Có đúng họ là những kẻ săn người không. Biết đâu lại chỉ là những người săn bướm và săn thú? Anh ta giết họ để tự vệ hay để lấy của? Thôi, không nghĩ thêm về chuyện này nữa! Mấy cái xác chết đã được đưa vào trong hố lò có củi và đất sét đắp lên trên. Hai ống thông hơi đã được mở ra và lò đã bốc cháy với hai nhiệm vụ: làm ra than củi và thiêu cho ba cái xác thành tro.
– Đi nào, Papillon.
Con heo con tìm ra lối đi trong nháy mắt. Chúng tôi nối đuôi nhau đi qua quãng bùn. Lúc sắp dấn bước đưa chân, tôi lo đến chết khiếp. Chuyện Sylvain bị sa lầy rồi chết đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc đến nỗi tôi không thề nào đi trên bùn một cách thanh thản được. Cuối cùng, toát mồ hôi hột, tôi cũng phải lao theo Quých-Quých. Chân tôi đặt từng bước lên vết chân anh, không có cách gì khác: anh qua được thì tôi cũng phải qua được chứ.
Sau hai giờ đi bộ, chúng tôi đi đến được nơi Sô-cô-la lấy gỗ. Trên đường đi chúng tôi không gặp ai và cũng không phải lẩn trốn lần nào.
– Chào me-xừ.
– Chào ông Quých-Quých.
– Anh có khỏe không?
– Khỏe lắm.
– Anh cho bạn tôi xem thuyền.
Cái thuyền rất khỏe, đó là một loại sà lúp chở hàng, nặng nề nhưng bền chắc. Tôi lấy dao sỉa vào mọi chỗ, dao không bao giờ ngập sâu quá nửa phân. Sàn tàu cũng còn nguyên. Tàu này được đóng bằng một thứ gỗ đã được chọn kỹ lưỡng.
– Anh bán bao nhiêu?
– Hai ngàn năm trăm francs.



Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Chương 18

1 tháng giêng 1945. Năm mới! Năm của chiến thắng! Xướng ngôn viên của đài B.B.C đã kêu lên như thế, và chúng tôi sung sướng được thấy nó. Ngày đầu tháng giêng nào cùng nói mãi điều đó, đến lúc phải chấm dứt để khỏi mang tiếng lừa phỉnh. Trong khi chờ đợi, định mệnh đã lựa chọn ngay hôm ấy để phân phát cho hơn 30 tù nhân những đòn đánh đập bằng gậy gộc. Lý do: một sai lầm trong danh sách làm cho tên Trung úy SS trong văn nhòng nhân sự nổi sùng. Lại một biến cố rất tầm thường, nếu André và tôi không ở trong số nạn nhân. May thay, trong cơn xui, chúng tôi chỉ bị có 10 gậy, tuy nhiên. Trời đất, đau không chịu nổi! Và tên đê tiện đánh chúng tôi, một tên Kapo Đức thay Paul bị bịnh, không quên nhắm thật kỹ. Chính tên Trung úy đứng nhìn, và một chút tận tụy quá đáng là đủ tạo thành một sự tạ ơn tối thiểu để đòn trừng phạt được xá miễn. Và vì tình cờ, tin rằng sau 20 hay 30 nạn nhân, tên Trung úy sẽ mệt quang cảnh đánh đập đều đều đáng chán, André và tôi được sắp đứng cuối hàng.

A! Chúng tôi đã hối tiếc vì chuyện ấy! Khi người thứ 40 bị đòn xong, y đứng trước bọn chúng tôi và nói với một vẻ chế nhạo:

– Ấy! Các anh chắc bị nhiễm lạnh mất rồi, – nói xong y quay sang một tên bộ hạ: – Feldwebel, bắt chúng làm một vài động tác thể thao.

Đúng là trời lạnh quá, tuy nhiên thà đứng trong không khí giá lạnh 15 phút còn hơn là phải chạy kiểu vịt, trong một khắc đồng hồ. Một giây đồng hồ dừng lại để thở là một cây gậy giáng trên đầu yếu đuối như chúng tôi, trò thể thao ấy quá kinh hồn, và gần như là với tâm trạng thư thái chúng tôi chạy vế phía gia hình, khi đến lượt chúng tôi lãnh đòn. Nhưng chúng tôi đã chạy đến để la hoặc rú lên tùy theo cách của mỗi người. Trong khi tên thô bạo đánh đập, một tên khác giữ không cho chúng tôi cục cựa. Tất cả những ai đã trải qua loại thể thao nầy đều nhớ đời đời. Rudolph cũng bị lôi vào cuộc. Mặc dù đau đớn, chúng tôi không ngăn khỏi tức cười khi thấy ông ta đi kiểu vịt, xiêu bên nọ vẹo bên kia. Ở tuổi 55, người ta chịu dựng một cách khó khăn hơn, các thử thách tương tự, và đối với một cựu sĩ quan hình phạt đó làm đau đớn gấp đôi.

Khi trở về khối sau buổi lễ kỳ lạ đó, đột ngột André hỏi tôi:

– Ngày 1 tháng giêng 1944 anh ở đâu?

– Tại Montluc, bị giam trong phòng tối.

– Tôi cũng vậy, ở Nancy, nhưng chắc chắn anh không giả định rằng phải ở đó đến năm sau chở?

– Không, tôi giả định đủ thứ, nhưng không phải điều đó.

Và chúng tôi buồn rầu làm bằng kết toán các chuyện thăng trầm trong năm qua, thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày của anh cũng trải qua trong cùng một thời kỳ, tại một khối khác, những cùng chung các lo âu, cùng hy vọng, cùng tất cả ảo vọng, và tất cả những cái chết. Những cuộc điểm danh dưới trời mưa, bị đánh thức vào lúc ba giờ mỗi sáng, bùn lầy, ẩm thấp, những ngày lao tác dài dằng dặc, những lúc chờ đợi trên sân ga, nhưng làm sao chúng tôi đã có thể chịu đựng nổi tất cả những thứ đó? Quả thật chúng tôi là những kẻ còn sống sót. Trong các khối, chúng tôi tự kiếm nhau, giữa người Pháp. Chỉ có những người có việc làm tốt mới còn lại, và không phải là tất cả đâu, vì người ta tiếp tục chết. Ngay khi tân niên vừa đến, Barot phải đi bệnh xá. Một chứng bịnh mới lại xuất hiện làm như là thần chết chưa được đại diện đủ: bịnh phù thủng. Thay vì trở thành một bộ xương trong vài ngày, bệnh nhân lại sưng phù lên một cách đáng kể cũng trong thời gian ấy. Thường thường bệnh bắt đầu từ chân, nhưng bao giờ cũng lan lên mặt làm thay hình đổi dạng hoàn toàn đến nỗi không còn nhận ra bạn bè nữa. Như vậy, cơ thể thoát khỏi biến chứng của bệnh phổi hay bịnh kiết lỵ, phải nhường bước thê thảm trước tình trạng thiếu ăn bằng cách nầy hay cách khác. Người bạn làm ở văn phòng để đương của chúng tôi chống cự được một tuần. Thật kỳ lạ, tất cả những ai quen biết anh ta đều thương tiếc anh một cách đặc biệt. Tuy nhiên, chính anh đã nói, anh chẳng tham gia kháng chiến, cũng không buôn bán chợ đen, các lãnh vực đó hoàn toàn xa lạ đối với anh. Nhưng anh tỏ ra rất tận tụy với tất cả mọi ngụrời, một cách tự nhiên, không làm dáng làm vẻ gì cả, và thật hiếm có những người thuần lương như vậy.

Trong khối chúng tôi có khá đông người Bỉ phần lớn là người gốc vùng Flandre, họ sống thành nhóm cách biệt không phải vì căm hờn gì ai mà vì thổ ngữ của họ và các tập quán của họ khá khác biệt với chúng tôi. Những mất mát của họ không làm chúng tôi xúc động hơn các bạn bè trong cùng biệt đội, nhưng khi Roger, người nghệ sĩ điêu khắc gia ngã bịnh, chúng tôi kinh hoàng thật sự. Ngã bịnh vào thời đó có nghĩa là chỉ có một phần trăm may mắn trở lại gặp bạn bè, và Roger là bạn của tất cả mọi người. Ngay đêm đầu nhuốm bộnh, anh sốt đến 40 độ. Việc chẩn bệnh không khó, anh tự làm lấy; sưng phổi cấp tính. Chính Rudolph đưa anh đi bệnh xá để xin săn sóc anh với phương tiện tối đa. Tuy nhiên trước khi rời chúng tôi, anh đã nói gở và làm cho chúng tôi vô cùng lo ngai cho số phận của mình.

– Tôi không còn nghi ngờ gì nữa, – anh nói với tôi, – ông tôi và cha tôi đều chết vì bị sưng phổi, và không phải tại đây tôi thoát khỏi được số phận đó.

Trong ba ngày liền, chúng tôi sống trong âu lo, chỉ nghĩ và nói đến Roger. Rudolph, đêm nào cũng đến thăm anh, trở về và đổ sụp người xuống vào đêm thứ tư: Chết! Roger chết rồi! Con “Người” duy nhất của toàn trại, cùng với khoảng mười người khác, anh là người còn xứng đáng được gọi bằng danh nghĩa ấy. Anh đã vượt xa tất cả chúng tôi với đức tính của một “gentleman” thật sự và, đêm 11 tháng giêng, đêm đầu tiên sau cái chết của anh, chúng tôi mới thật sự cảm thấy sự trống vắng vì thiếu anh, trong nhóm, không ai thốt một lời suốt hai giờ chờ đợi trên sân ga. Im lặng là lối tán dương chân thành nhất đối với con người cao cả và thành thật đó.

Ngày 13 tháng giêng, như một cơn gió Đông Nam từ Địa Trung Hải thổi đến các ốc đảo trên sa mạc, tin về cuộc tấn công mới của quân Nga lan tràn giữa các biệt đội lao tác đây đó. Đã đến lúc rồi!

Chính tờ báo cũng loan tin quân Nga đã tiến hơn một trăm năm mươi cây số trong năm ngày: không thể có sự sai lầm nữa và không khí trở nên giống với mùa hè năm 1944 lúc có cuộc tiến quân trên đất Pháp.. Mỗi buổi sáng lúc tập họp, chúng tôi tiên đoán những tin tức trong ngày và chúng tôi hấp tấp đến công trường để trông vẻ mặt của các nhân viên dân sự. Khi Breslau bị bao vây, tôi có dịp gặp Gustave mới trở lại sau mười lăm ngày vắng mặt. Anh ta nói với tôi đủ chuyện ngoại trừ tình hình mặt trận, tôi cũng giữ ý với anh ta, không đụng đến một chữ nào liên quan đến các vấn đề ấy. Sự thành thật không cho phép đến sát sự chế nhạo, và tôi không thể làm cho sự phẫn nộ nổ bùng. Tất cả bọn nhân viên dân sự đều có vẻ ngu muội. Sau khi bị nhồi nhét vào óc những luận điệu tuyên truyền, liệu có thể nào tin được là quân Nga – mà Goebbels đã nhiều lần tuyên bố sẽ bị tiêu diệt và thất bại – lại có mặt tại sông Oder, trước Stetlin, trong khi chỉ mới ba tuần trước đây họ còn ở Ba Lan đằng sau sông Vistule! Chúng tôi thì không thể trông thấy hai mươi ngày đầu của cuộc tấn công diễn ra như thế nào. Mặc dù bị lạnh và đói, cứ mỗi thành phố được chiếm, và có nhiều thành phố như thế trong mỗi ngày, là một mũi thuốc “moọc phin” giúp chúng tôi chịu đựng. Pavel đã trốn thoát ngay từ đầu cuộc tấn công, “khi quân đội tôi tấn công, tôi sẽ đi gặp họ”, anh ta đã nói với tôi. Trong nhiều ngày liền, tôi rình nghe tin về số phận của anh, nhưng anh đã không bị bắt lại. Alex đã cho tôi biết là công cuộc tìm kiếm đã bị hủy bỏ. Chắc chắn là anh ta đã thành công vì bọn SS luôn luôn sung sướng khi được cơ hội trưng bày với chúng tôi một người bạn bất hạnh.

Vụ trốn thoát của Pavel đối với chúng là một dấu hiệu của thời gian thuận lợi. Mùa thu và ngày đầu năm đã nghiền nát tất cả sức mạnh tinh thần của chúng tôi và trước bao nhiêu cái chết, chúng tôi tin rằng số phận đã được an bài, tuy nhiên, như một bình minh chói lọi sau một đêm dài, cuộc tấn công chung cuộc của quân Nga lại cho chúng tôi niềm phấn khởi và một tinh thần ham sống giúp chịu đựng cho đến khi chỉ còn thoi thóp mới thôi.

Thần chết lại tiếp tục hoành hành. Cái chết chỉ lùi một chút để tăng gia nhảy vọt, và một lợi khí mới lại đến tiếp tay đưa đi những nạn nhân đã chống cự được mọi thử thách: Lò bánh mì cung cấp cho chúng tôi bị phá hủy vào giữa tháng hai, và như vậy là thức ăn duy nhất giúp chúng tôi khỏi gục ngã đã bị hủy bỏ. Từ nhiều tháng qua súp ăn chỉ còn là nước củ cải, và nay nó là thức ăn duy nhất của chúng tôi. Một lít lúc bốn giờ sáng để thay cho bánh mì, và một lít thường lệ vào buổi tối. Một thời gian trung bình mười bảy giờ đồng hồ, không ăn giữa hai lần lãnh súp. Thật thê thảm vì đây là nạn đói theo đúng nghĩa của danh từ. Nửa giờ sau khi ăn, không ai cảm thấy còn chút súp nào trong người nữa. Đó chẵng qua là một cuộc rửa ruột làm cho chúng tôi bị bắt buộc phải đi tiểu nhiều hơn thường lệ. Tại công trường, trong giờ nghỉ buổi trưa, từng nhóm người như những đàn chó đói chung quanh làng, mò mẫm tới gần nhà ăn của nhân viên dân sự, bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đồ ăn nấu trong bếp. Rau vụn trong thùng rác, lõi bắp cải, vỏ khoai tây là đối tượng của các cuộc đối chiến. Những người lượm được sau khi rửa, bỏ tất cả vào một cái lon và nấu thành súp trên đống lửa đốt bằng củi, chỉ có nước và vỏ rau trái, không muối, không chất béo, nhưng khi họ ăn, người ta có cảm tưởng họ đang ăn ngỗng quay. Nhân số của công trường từ một ngàn năm trăm xuống còn sáu trăm và mỗi tối đoàn người đi về giống như một đoàn đám ma. Chúng tôi có chừng hai mươi người bạn phải mang về, họ ngã gục trong ngày và thật khó phân biệt một vài người với xác chết. Quả thật chẳng mấy chốc họ chết thật và thường thường những người khiêng họ về khiêng luôn một xác xuống bệnh xá, trong lòng tự hỏi là không biết chính mình còn sống được bao ngày nữa. Đến lượt Barberon, người bạn mà không bao giờ chúng tôi đưa được vào cùng một biệt đội nữa, ngã bệnh. Cùng với anh, Marcel, và André. Chúng tôi thuộc vào một lứa tuổi ngang nhau và thường kiếm nhau mỗi tối để cùng nhau chuyện trò. Tất cả chúng tôi đều vượt qua các cơn bệnh kiết lỵ hoặc cúm và Marcel một lần mắc cả bịnh sưng mũi và suýt chết, và mỗi lần thoát khỏi bịnh hoạn một cách vẻ vang, chúng tôi lại được một đảm bảo chắc chắn để vượt qua cơn thử thách. Tuy nhiên biết bao nhiêu thanh niên và bao nhiêu người khỏe mạnh hơn chúng tôi đã bị mang đi như các cọng rơm. Nhưng chúng tôi vẫn còn giữ được vị trí thuận lợi chờ công việc của biệt đội, và ảnh hưởng của chúng tôi trên bạn bè, chúng tôi được xem như một thứ lãnh đạo ý thức, đã tạo ra một thứ không khí tinh thần làm cho chúng tôi trở thành một thứ “bất khuất” Và chính chúng tôi cũng thường tự nhủ “nếu mọi người đều phải đi qua lò thiêu xác cả, ít ra chúng tôi cũng là những người sau cùng. Barberon ngã bệnh trong những ngày đầu tiên không có bánh mì đã làm chúng tôi mất tất cả ảo vọng mà chúng tôi hãy còn có thể có. Với sự phụ lực của André và Marcel, tôi đưa anh đến bệnh xá, nơi đây chúng tôi dự khán một quang cảnh còn khổ nhọc hơn là chúng tôi đã tưởng tượng. May thay cho người có tính trắc ẩn – nhưng hãy còn có loại người đó không? Ánh sáng yếu ớt của những ngọn đèn bão không cho phép chúng tôi thấy tất cả. Ngay khi các đoàn người từ khắp các công trường đi hàng dọc vào cổng trại, các người ngã bịnh và đã chết cũng được đưa về. Những người chết được chất đống ngay bên ngoài, trán được vẽ số, trước hai người chứng để tránh lầm lẫn. Đó là nghi lễ vĩnh biệt duy nhất đối với những kẻ quen biết người quá cố.

Những người đi khám bịnh có thể có cả ngàn cơ hội chết trước khi đến trước bác sĩ. Dãy người chờ đợi nối dài đến hơn 50 thước, các bệnh nhân còn đứng được hay ngã xuống đất đã ôm lấy nhau để bớt lạnh và nhất là để giảm bớt sức mạnh của các luồng gió mang theo tuyết quét đến. Tất cả bệnh nhân đều sốt trên 39 độ nếu không đến mức đó họ không cần phải đi bệnh xá. Chúng tôi đợi suốt hai giờ, hết sức che cho Barberon và đỡ anh hai bên sườn. Trong phòng khám bệnh những người được nhận cho ở lại bệnh xá, nằm la liệt lộn xộn, vì họ phải chờ sáng mai trước khi có thể chiếm các giường trống trong trại dưỡng bệnh. Một y tá đi len lách qua các hàng bệnh nhân, dùng một miếng giẻ ẩm chùi trán họ và viết lên đấy danh số của mỗi người. Năm mươi phần trăm con bệnh tắt hơi ở đấy trong đêm đầu tiên. Ngay từ sáng sớm toán thay thế khiêng xác chết lại bệnh xá, sẽ đến lượm xác tại phòng khám bệnh và họ phải vất vả lắm mới phân biệt được kẻ sống người chết, vì kẻ sống không còn có thể nói được tiếng nào trong cổ họng. May thay, mắt họ còn sáng, nhưng tôi vẫn rùng mình trước ý tưởng rằng có thể có lầm lẫn: một người hấp hối có thể dễ dàng bị mang đến lò thiêu như người đã chết. Một y tá khi nghe tôi phát biểu ý tưởng đó đã trả lời tôi:

– Đã xẩy ra rồi! Ở vào tình trạng của họ chẳng có gì quan trọng.

Barberon là người trầm lắng nhất trong ba chúng tôi, anh ngước đầu lên nhè nhẹ và nói:

– Như vậy ít ra người ta cũng được sưởi ấm một lần chót.

Và khi được người ta viết danh số vào trán, anh nói thêm:

– Các anh thấy chưa! Không bao giờ nên làm chương trình dự án gì cả.

Với anh, không cần không phải biểu lộ tình cảm. Chúng tôi phải khó nhọc lắm mới rời được anh để đi về, bài vì tên y tá phụ trách đánh danh số vào trán bệnh nhân có dáng điệu của một tên đồ tể đóng dấu kiểm nhận cho súc vật trước khi hạ thịt chúng. Tuy nhiên khi ra ngoài chúng tôi được thoải mái làm sao, và có thể hít một hơi không khí trong lành. Quả là chúng tôi vừa rời khỏi địa ngục và chúng tôi nghĩ rằng Dante là một người kể chuyện còn ngây thơ quá.

André trở về khối số ba, Marcel và tôi, số bẩy. Quang cảnh ở khối dù sao cũng ít dễ sợ hơn tại bệnh xá. Nơi đây những kẻ còn sống chiến đấu bằng số năng lực sau cùng, vì giá súp thừa đã tăng gấp đôi kể từ khi không có bánh mì nữa. Những con quỷ bạo dâm đã lợi dụng thời kỳ yếu đuối sau cùng của con người để làm cho thỏa thích thú tánh mà chúng đã không thể thỏa mãn được cho đến bấy giờ.

Và nếu có nhiều người đứng trước một dĩa súp thì các sự đề kháng cuối cùng của một lương tâm mà lúc trước rất trong sáng, hoàn toàn tan biến, thì cũng có nhiều trường hợp, có thể gọi là anh hùng, giúp xóa nhòa bớt các điều nhờm tỡm, Toso, diàng thanh niên ở Grenoble, vẫn bị một tên Kapo kiên nhẫn theo đuổi, đã trả lời khi y đề nghị đánh đổi thức ăn:

– Tôi thích chết đói hơn là nhượng bộ.

Vào đêm thứ tư kể từ hôm không phát bánh mì, nhà bếp bị tấn công về phía kho chứa củ cải. Một cửa sổ đưa vào kho. Khoảng 50 tù nhân lợi dụng đêm tối, và bất cần lệnh cấm di chuyển, đập vỡ cửa sổ và bắt đầu một cuộc cướp phá đúng nguyên tắc. Một cơn gió dữ dội che lấp các tiếng động nhưng tiếng cãi cọ, tiếng la hét đã làm một lính canh trong vọng gác gần đó chú ý. Tên lính bắn về phía phát ra tiếng động và đến hừng đông, những tù nhân đi làm tạp dịch vệ sinh, tìm thấy hai xác chết cứng ngắt và nhiều người bị thương gần như bị đông thành đá. Đêm thứ sáu, bọn phu đám ma đang lột áo quần các xác chết trước bệnh xá chợt bắt gặp một tên Tzigane đang xẻo một miếng “bit tết” nơi bàn tọa xác chết. Tên SS chỉ huy trại được tên Kapo ở bệnh xá báo cáo trường hợp ăn thịt người đầu tiên, liền dắt theo vợ và cả bộ tham mưu dự khán quang cảnh đó. Tôi cũng được báo cho biết để đến xem, và tên Tzigane không tỏ vẻ ngần ngại gì cả trước mệnh lệnh của viên chỉ huy bắt y làm lại một cách công khai những gì y đã làm lén lút, sau khi đua cho y một miếng bánh mì và một chút muối mang theo. Trông thấy miếng bánh mì, dường như khẩu vị của y lại được kích thích, và sau khi xén thêm một miếng nữa nơi đùi xác chết, rắc muối lên trên, y lạo thành một miếng sandwich và ăn ngấu nghiến trong vài phút, Tôi được đứng gần nến trông rõ miếng thịt người có màu đỏ thẫm, và tên chỉ huy trại cười với vợ như có ý nói với bà ta: “Em yêu, anh đã cho em chứng kiến một cảnh hiếm có”. Khuya đêm ấy, tên Tzigan bị hành quyết bởi tù nhân đủ mọi loại quốc tịch.

Tất cả những gì mà Marcel phát họa với bạn bè đã bị sụp đổ đúng vào thời kỳ anh cần đến họ nhiều nhất. Tất cả những người sống sót của chuyến công-voa sau cùng phải ra đi, tren một chuyến tàu gọi là để chở bệnh nhân để đến một trại dưỡng bệnh. Bọn bác sĩ Đức biết những gì mà danh xưng ấy muốn che đậy. Và chúng tôi cũng rất nghi ngờ chuyến đi dưỡng bệnh đó. Tuy nhiên định mạng đã phá hủy dứt khoát cả một âm mưu kim tiền, và bọn ăn cướp còn giữ một biên nhận tiền của họ, nay đã có thể dùng nó làm giấy đi cầu. Tiếc thay, Đại úy Adam, Bureau, ông thầu khoán nhỏ ở Lyon và nhiều người khác cũng phải đi theo chuyến công-voa đến một nơi mà họ sẽ không bao giờ trở về được nữa.

Một đêm, người ta loan báo nhà bếp bán xà lách và củ cải, vẫn không có bánh mì cấp phát cho nên tin nầy lạo ra cả một con đường đổ xô tìm vàng mới. Mỗi nhà buôn thiết lập trong vùng có cho bầy nô lệ chúng tôi mỗi tháng từ một đến bốn Đức kim dưới hình thức một phiếu mua hàng, tuy nhiên nếu tình cờ mà nhà bếp có gì để bán thì chỉ có tối đa 100 khách hàng có thể được thỏa mãn. Nói như vậy để biết hôm đó trận chiến xẩy ra như thế nào.

Đúng lúc vì quá thất vọng tôi sắp trở về khối với tay không, tôi nghe có người gọi tên tôi bằng tiếng Nga. Thật là một phép lạ nếu được người nào nhận ra trong đám đông hỗn loạn và nhất là trong bóng tối, vì chỉ có ánh sáng trong nhà bếp chiếu qua cánh cửa mở hé là soi sáng bên ngoài một chút. Nhưng may mắn đã đến với tôi và một chàng với Vladimir một gào mên hai lít, chứa đầy xà lách, đã nhảy đến choàng cổ tôi. Đã từ bốn tháng nay tôi không được gặp lại người bạn cùng ở khối số 3. Mặc đầu đã có nhiều biến chuyển anh nhưng vẫn khỏe mạnh, ốm hơn, lẽ tất nhiên! Nhưng luôn luôn rắn chắc. Vừa trách tôi không tìm đến chơi thường hơn, anh vừa đưa cho tôi gào-mên rau. Cùng với Marcel đi theo, chúng tôi xấu hổ vì đã ăn ngốn ngấu bằng tay, nhưng ngon làm sao! Mặc dầu đó chỉ là cú cải sống được xắc thành lát và nhúng trong dầu dấm. “Vật chất sáng tạo tinh thần”, lý thuyết nầy không được tất cả mọi người chấp nhận, nhưng với chúng tôi, nó rất đúng, bởi vì sau bữa ăn đạm bạc ấy chúng tôi cảm thấy một tinh thần có thể chịu đựng được nhiều tháng nữa và chúng tôi được ngủ một đêm mà không bị cái đói hành hạ.

André, nhờ các cây đèn mà anh có thể mang về cho tên trưởng khối, đã nhận được gấp đôi phần ăn, Marcel với giấy và viết chì lấy từ văn phòng ở công trường về đã làm một cuộc trao đổi khá tốt đẹp với Frantz, y đang cần các thứ đó. Bébert và Bicot tiếp tay với bọn tù Nga để tấn công các toán khiêng súp. Vì súp được phân phát buổi tối, hành động khá dễ dàng và xứng công. Họ có 20 mạng và mỗi chai súp chứa 50 lít. Họ thành công hai lần trong hai đêm liên tiếp, rồi các nhóm khác bắt chước theo, các chuyến mang súp liền được hộ vệ bởi các nhân viên võ trang bằng gậy. Cứ như vậy, mỗi người tùy theo cơ hội và khả năng, cố gắng tự kiếm ăn.

Các bưu kiện nay chỉ còn là mật kỷ niệm xa xưa và trong các câu chuyện, người ta chỉ còn nói đến ăn uống. Đó là cả một ám ảnh và đã có hơn một người thú nhận rằng mỗi khi nói đến một lát thịt bò đút lò hay một dĩa khoai chiên, khẩu vị lại dâng lên miệng và hình như bao tử được nhét đầy. Tuy nhiên để rồi bị ngất đi sau vài giây. Dầu sao mọi người cũng rung động với ý nghĩ quân Nga chỉ còn cách Bá-linh có 100 cây số và về phía Tây bằng các cuộc oanh tạc gia tang, Đồng Minh đang sửa soạn cho hiệp cuối cùng. Nhưng chúng tôi, một nỗi sợ hãi bao trùm, nỗi sợ hãi thấy lời tiên tri của tên quản trại trở thành sự thật: “các anh rồi sẽ qua đó hết”. Các trại tập trung lớn được nhiều người biết đến, nhưng liệu có mấy ai biết đến vài ngàn người lần khuất trong thị trấn Ellrich nhỏ bé nầy. Cuộn khói từ lò thiêu xác, sẽ không để lại dấu tích nào và chỉ cần một ngày thôi là một đại đội binh sĩ có thể dẹp bỏ trại tập trung này vốn không giống như trại nào khác. Sự yếu đuối cực độ đã làm cho thần kinh chúng tôi căng thẳng, và ngay cả trong biệt đội và trong toán mà chúng tôi kết hợp mỗi chiều trên sân ga, các cuộc gây gổ diễn ra luôn, nhiều khi vì các lý do thật ngu xuẩn. Đã 21 giờ rồi mà tàu hỏa vẫn chưa đến. Một cơn lạnh khô khan – hai mươi độ dưới không độ – bắt buộc chúng tôi từng tiểu đội ôm lấy nhau. Chúng tôi nhét đầy giấy trước ngực và sau lưng, nhưng chúng tôi cảm thấy bị ướp lạnh và mỗi hơi thở cho cảm giác là cơ thể bị khô đi một chút. Nước mũi chảy nhỏ giọt khiến chúng tôi nghĩ rằng từng tế bào óc chảy ra dần dần.

Đến 23 giờ, tàu vẫn chưa đến, may thay trời không mưa. Chúng tôi bị tê cóng toàn diện và không ai còn dẫm chân được nữa. Tôi đói và lạnh, trong khi đó trên trái đất người ta có thể đang ăn và sưởi ấm, thì tại sao tôi lại ở đây? Sợi dây vô hình nào đã lôi kéo tôi đến sân ga này, tôi, một con vi trùng trong háng triệu vi trùng khác. Tôi bắt đầu nói lảm nhảm vì đột nhiên tôi trông thấy một căn phòng sang trọng với một lò sưởi to tướng trong đó một ngọn lửa hồng đang cháy, tôi đang ngồi trong một chiếc ghế bành êm ái trong khi một chị hầu xinh đẹp đang dọn trên bàn một bữa tối thịnh soạn. Và rồi tôi không còn cảm giác gì về chân tay nữa, tôi không còn đói, lạnh, dường như tôi không còn hiện hữu nữa, tôi cảm thấy thư thái và tôi để mặc cho thân xác trôi đi. Mười hai giờ rưỡi khuya, tàu mới đến. Chính bạn bè đã làm tôi tỉnh dậy trên tàu, đã nói với tôi như thế. Thật khổ tâm khi trở lại với thực tế, tuy nhiên dãy trại đối với tôi như cả một lâu đài và dĩa súp nguội như là một chất kem ngon tuyệt. Nhưng khi đồ ăn phân phát xong thì đã gần ba giờ sáng và nửa giờ nữa lại phải thức dậy. Quân Nga còn cách Bá-linh 80 cây số. “tuy nhiên các đường hầm sẽ trở thành các cơ xưởng sản xuất bộ phận rời để đưa đến các xưởng ráp máy bay dùng để oanh tạc chính số quân Nga đó, vẫn được đào tiếp tục”. Và đến bốn giờ, chúng tôi lại ở ngoài sân đứng thành nhóm 100 người. Vì có báo động, đèn pha tắt hết nhưng trời cũng đủ sáng để đếm chúng tôi. Vẫn luôn luôn là đêm tối phân minh, đẹp đẽ ấy chứng kiến sự di chuyển của những bóng người mộng du thường lệ. Rất nhiều người vắng mặt trong buổi điểm danh. Trong vài giờ nữa lại có các ứng viên mới được ghi tên tại văn phòng khai tử. Tôi cũng có thể ở lại trại vì tôi không còn dáng gì sau khi bị ngất hồi đêm qua. Tuy nhiên chỉ cần nghĩ đến con số được ghi trên trán là thần kinh ở chân tôi hoạt động ngay. Để làm cho nỗi bất hạnh của chúng tôi thêm đậm đà”, con tàu sáng ấy lại không đến. Sau khi chờ đợi bốn giờ dài bất tận trong sân, tên chỉ huy trại quyết định chúng tôi phải đi hộ. Đó là cả một biến cố bởi vì chưa bao giờ chuyện ấy lại xảy ra vào buổi sớm mai. Chúng tôi đã mất ba giờ để đi 6 cây số. Lúc khởi hành có vẻ bình thường nhưng sau cây, số đầu tiên, những người yếu đuối nhất rơi rụng phải đỡ hoặc khiêng họ. Ngừng lại là điều bị cấm và chờ đợi lòng thương hại là chuyện vô ích; báng súng được xử dụng để duy trì trật tự. Không biết lúc đó chúng tôi giống cái gì? Các xác chết được khai quật lên, không hơn không kém. Marcel và André phải dìu tôi từ cây số thứ ba và tôi sống trong một nỗi thống khổ vô biên, họ cũng không hơn gì. Chúng tôi đi ở khoảng giữa đoàn người xếp thành hàng năm, và sự kiện có người đi sau mình đã lôi kéo thúc đẩy mình đôi chút. Nhưng kẻ đi sau cùng luôn luôn bị chó cắn chân và bọn lính canh dắt chó kích thích chúng lấy làm trò vui. Con đường đi bộ đã đưa chúng tôi qua một ngôi làng khá lớn hình như bị bỏ trống. Tuy nhiên có lé nay không phải là mùa gặt hái hoặc là dân cư trong làng đã nhận được lệnh không được ra khỏi nhà. Vì quan sát các cửa sổ, người ta có thể trông thấy những cái đầu nhìn lén lút bằng cách kéo bức màn cửa sang một bên. Có lẽ chưa bao giờ tôi nghĩ nhiều đến một không khí trong nhà êm dịu và một bữa ăn sáng thịnh soạn như thế. Và những người kia, chỉ cách chúng tôi vài thước đã có được tất cả những cái đó. Khi đến công trường, chừng 30 người không thể nào đến được chỗ làm việc. Họ nằm dài trên mặt đất thành một nhóm chờ đợi cho đến lúc tập họp vào xế chiều. Những người khác làm việc như thế nào? Xẻng và cuốc như thường lệ, có lẽ với một nhịp chậm hơn, tuy nhiên nếu hôm đó tôi cũng bị bắt buộc phải làm việc, nay tôi đã không có thể viết những dòng nầy và tôi sẽ đến cùng với hàng đống người hấp hối bắt đầu thêm đông ngay từ lúc sáng sớm. May mắn hơn nữa, André mang đến mấy củ khoai, nhờ gặp hên, anh đã thấy chúng trong một gian phòng mà anh phải thực hiện một vụ sửa chữa, có lẽ chính nhờ ba củ khoai ấy mà tôi được cứu sống và cả André nữa. Chiều hôm đó, chỉ riêng người bệnh và người chết cũng chiếm hết một toa tàu và chỉ còn lại năm toa dành cho chúng tôi. Lúc về đến trại, chúng tôi trông giống như một liêu đoàn tiểu đoàn thảm bại từ tiền tuyến trở về với tổn thất lớn lao.

Chúng tôi không được phân phát bánh mì trong vòng mười ngày, con số người chết trung bình đạt tới 125 mỗi ngày và mẩu bánh mì 150 gam mà chúng tôi nhận được sau thời gian nhịn đói dài dằng dặc đó có thể nói ngon hơn bất cứ loại bánh ngọt nào. Nhưng đã trễ quá rồi. Không phải chỉ một mẩu bánh mì là có thể cứu sống tất cả chúng tôi. Sáng hôm sau, trong khoảng thời gian giữa cuộc tập họp và, lúc khởi hành trong mỗi nhóm 100 người có hàng chục người ngã gục vì đói lả. Họ phải chờ cho đến khi chúng tôi đi khỏi mới được đưa xuống bệnh xá. Tất cả những gì chúng tôi làm được là kéo họ ra khỏi đám bùn lầy phủ khắp sân để đặt họ nằm dài trên các khoảng có lót đá và ít ẩm ướt hơn. Riêng đối với những người ngã gục khi đi và trước khi ra khỏi cổng chính, bạn bè đành phải bước ngang qua người hơn là tỏ thái độ muốn giúp đỡ vì cả hàng người đang đi không thể dừng lại được. Với nhịp độ nầy, các công trường sẽ phải đóng cửa vì thiếu nhân công. Tuy nhiên đã có thêm lực lượng tăng cường được đưa đến. Đó là những tù nhân được đưa từ một trại tập trung gần Stettin đến, họ gồm 5000 người đến vào giữa tháng 3. Họ có vẻ mập hơn chúng tôi, nhưng đã được nghe tiếng đại bác của Nga sô và điều nầy đã mang lại cho họ chút can đảm, bù đắp phần nào cho sự thiếu thốn thực phẩm mà họ là nạn nhân, trong suốt bốn ngày bốn đêm của cuộc hành trình. Họ gồm tất cả mọi loại quốc tịch, và vì lẽ họ được phân phối cho tất cả các biệt đội lao tác, nhiều người Pháp đã đến ở với chúng tôi.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Phần 8.

Phải ở lại thành

Một cuối tuần lại đến với các khóa sinh Ðệ nhị Hải sư. Ðối với những tên muốn ôm giấc mộng thủy chung với người tình nhỏ nơi quê nhà, coi con gái Nha Trang như không ai nhan sắc hết, thì cuối tuần này cũng có thể là một cuối tuần như mọi cuối tuần đã qua. Nghĩa là mò lên giảng đường hay chui vào thư viện để tiếp tục nấu sử sôi kinh, chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Ngoại trừ thời gian dành cho ngày ba bữa, điểm tâm và cơm nước nhà bàn.

Năm khi mười họa mới thấy mấy tên này nghĩ đến chuyện đi bờ. Mà cũng chỉ nhằm vào việc mua sắm lặt vặt những vật dụng cần thiết mà thôi. Cùng lắm là làm một chuyến to see * Hùng Vương để giải tỏa nỗi ẩn ức cho bầu tâm sự đang dâng đầy tới não. Và kể như là quá đầy đủ, nếu không quên thẳng tới bến xe đi Sài Gòn đớp một phát cơm sườn ở quán bình dân Bên Ðường. Nói nào ngay, khi vào những nhiệm sở bắn nhanh rút mạnh này, anh em ta thường hay mang cái mặc cảm đã làm mất mặt quân binh chủng. Cho nên, không một tên nào dám đóng trên người bộ đồ mang màu trắng trinh nguyên. Nếu không tìm được chỗ thay thì cứ tự tiện vọt đến nhà ông Quan, nhà thầu giặt ủi.

Còn đối với những tên có nơi ăn chốn ở tạm bợ ở ngoài phố, thì phải nói mỗi cuối tuần là mỗi mong đợi, chờ trông. Làm sao có thể chôn vùi đời trai vào bốn bức tường quân trường vô nghĩa, trống không? Tình yêu, vẫn là cái gì luôn luôn mang đến cho muôn loài những giây phút huy hoàng và hấp dẫn nhất của cuộc đời. Không ai có thể mặc nhiên đứng nhìn, mà bắt buộc phải chạy theo tiếng gọi của nó. Lắm khi trong một trạng thái rất là mù quáng, u mê. Ðến nỗi, khi thương trái ấu cũng tròn … thì phải biết mức độ quờ quạng của những người đang lầm lũi tiến bước trong cánh rừng yêu đương đã là như thế nào rồi!

Nha Trang với những chiều mưa buồn! Và Nha Trang với những cơn mưa sớm mù sương! Giờ như đã quá quen thuộc với Tần. Vì từ lâu chàng đã khám phá và biết rõ rằng, đất trời Nha Trang không mấy khi có mưa ban ngày, nhất là ngay giữa trưa. Ðiều này giúp cho những cuộc hẹn hò, vui chơi ít khi bị tan tác, cuốn trôi theo dòng nước lũ. Ðặc biệt là ngày hôm nay, Tần những mong như vậy. Ngày mà chàng dám dẫn hai thằng bạn thân, Thắng và Thành, cùng khăn gói đi xa, về tận miền quê hương thôn dã của xứ thùy dương.

Nắng ban mai như tơ vàng lụa thắm, long lanh sưởi ấm lòng người. Cảnh vật và cây cỏ bên đường như ngời sáng, xanh tươi thêm và bừng lên sức sống. Ðể cùng tan chảy vào niềm hân hoan tràn đầy trong con tim của những chàng trai trẻ đang yêu. Ðang ngọt ngào hòa điệu, nhịp nhàng từng cung bậc với những tâm hồn biển mặn, ngây thơ trong trắng của lứa tuổi học trò.

Trên đường đi đến chốn hẹn hò, Thắng hỏi Tần:

– Mầy có chắc là vùng đó an ninh một trăm phần trăm không? Ăn mặc tiểu lễ trắng bóc như vầy thì tụi du kích Việt cộng bắn sẻ khỏi cần nhắm nghen mậy!

Tần chê bạn:

– Sao dạo này mầy nhát gan quá vậy Thắng? Nếu bọn nó bắn sẻ khỏi cần nhắm thì tao đã không dẫn xác về trường từ lâu rồi.

Thành góp ý:

– Biết đâu tụi nó thấy mầy sắp sửa trở thành đồng hương đồng liêu, đồng tịch đồng sàng gì gì… với con Hiền mà tụi nó tha cho. Chớ còn tao với thằng Thắng đâu có cơm cháo gì ở đó mà tụi nó nghĩ tình. Tụi tao coi vậy chớ còn yêu đời, yêu Sài Gòn, yêu Cần Thơ, yêu Bình Dương… lắm nghen mậy.

– Vừa phải thôi Thành! Chớ còn Mỹ Tho của tao thì tụi mầy bỏ cho chó gặm chắc! Nè, không mấy ngày nữa tụi mình sẽ được phép về nhà ăn Tết, trong bụng tụi mầy có nôn không?

Thắng tiếp lời:

– Nôn thì có nôn, nhưng hãy để tụi tao nôn. Bổn phận mầy thì đương nhiên phải về xứ Thành làm rể, ăn Tết ở đó thì còn nôn với nóng cái nỗi gì?

Tần thở dài, ngậm ngùi phân bua:

– Giỡn hoài, tao phải bay về nhà ăn Tết với ông bà, cha mẹ, anh chị em chớ mậy. Cả năm trời xa quê hương rồi, nhớ nhà thấy mẹ…

Tất cả đã đồng ý chọn góc đường Phan Bội Châu và Phương Câu (tên của một nhân vật lịch sử hay là một huyền thoại nào đây?) làm điểm hẹn. Vì hai lý do. Thứ nhất, vì gần nhà Thúy, gần chợ Ðầm thì đúng hơn, có chỗ cho các nàng dễ dàng lấy cớ tụ họp. Thứ đến, vì không ai muốn phải đánh mất một cơ hội bát phố cuối tuần. Từ đây, cứ theo đường Phan Bội Châu ra Ðộc Lập rồi đi thẳng một đường mực tàu là đến bến xe Lam đi Thành, rất ư tiện lợi.

Tại sao phải đi bát phố? Có gì quyến rũ mà phải say mê dữ vậy? Quả kỳ lạ thật, chỉ là đi nhông nhông lên xuống vỉa hè Ðộc Lập vậy thôi, mà tại sao cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó nếu không có nó. Bất quá thì cũng chỉ gặp lại đám bạn bè thấy mặt nhau hằng ngày trong quân trường, nói dăm ba câu chào hỏi bâng quơ: “Ê, mầy đang đi đâu, định làm gì ngày hôm nay, có tiết mục nào vui vẻ hấp dẫn không?” Chỉ bấy nhiêu đó thôi!

À, có lẽ cái điểm tâm lý then chốt, căn bản của quan tàu ta là “khoe đào.” Vì em có đẹp đẽ xinh xắn, sắc nước hương trời thì anh mới hân hoan hãnh diện dìu em chường mặt trên hè phố! Chớ bố bảo anh cũng không dám mặc quân phục tiểu lễ trắng tinh như hoa bưởi mà lại dắt theo một con búp bê lọ nồi, đười ươi. Còn phần anh thì khỏi nói rồi, dẫu mặt mày tướng tá của anh có quằn quện xấu xí như ma cà rồng đi nữa cũng còn có bộ đồ trên mình làm chuẩn. Ngẫm nghĩ lại, nhìn ở bề ngoài, quan liêu với chức phận kể cũng có nhiều điểm lợi!

Bữa nay, cả ba nàng Hiền, Thảo và Thúy đều mặc quần trắng áo dài. Chắc là đã có bàn với nhau trước, Tần nghĩ vậy. Nhân vật chính của đoàn lữ khách từ thành phố trở về… Thành, là Hiền, tươi tắn trong cánh áo màu xanh nước biển với những cành hoa trắng, lớn nhỏ lẫn lộn, được thêu tay mịn màng khéo léo trên thân áo, từ ngực xuống chân. Ðôi môi mọng đỏ tự nhiên của nàng luôn luôn điểm nhẹ một nụ cười duyên. Làm cho đôi má thêm hây hây với chút phấn hồng tô nhạt. Trong khi Thảo mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh rải rác chỗ này chỗ kia một vài cánh hoa hồng in sẵn, bó sát vào người hơi đẫy đà của nàng. Nàng cũng thích hay cười có chủ đích, khoe hai hàm răng đều đặn. Chỉ có Thúy là ra chiều đăm chiêu tư lự, có phần rụt rè e lệ trong chiếc áo dài trắng học trò…

Giữa Thảo và Thắng cũng như Thúy và Thành vẫn còn chút gì ngăn cách, chỉ đứng chắp tay vào nhau, trao đổi qua loa vài lời. Trong lúc Hiền và Tần tự nhiên như ruồi, chàng và nàng âu yếm choàng tay ôm chặt lưng nhau. Chàng hỏi:

– Em đến đây hồi nào? Chờ tụi anh có lâu lắm không?

– Chừng năm mười phút thôi. Nhưng biết chắc các anh sẽ tới, nên em không lo!

– Tại gặp chiếc xe Lam chạy chậm như rùa bò, từ dưới trường lên đến bến mà phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ! Sao, bây giờ mình khởi hành được chưa? Ê, đi tụi mầy…

Cả bọn liền chia ra làm ba cặp, kẻ trước người sau, dấn bước giang hồ. Phố xá ngày hôm nay cũng không khác gì mọi khi. Vẫn đông đúc người đi, với gần phân nửa là lính quân trường: Không quân, Hải quân, Ðồng Ðế, Lam Sơn, Dục Mỹ… Mỗi trường đều có ấn định quân phục đặc biệt riêng cho khóa sinh của mình mỗi khi đi phố, nhưng nổi bật hơn hết vẫn là màu áo trắng Hải quân. Nha Trang, đương thời là thành phố của lính và nhiều tiệm quán, ciné, cửa hàng sống nhờ vào đồng lương của những người lính… chưa thực sự là lính. Mỗi cuối tuần, quả là dập dìu tài tử giai nhân. Ðường phố như được điểm trang bằng mọi thứ hoa lá cành và căng phồng nhựa sống bởi những bước chân tình tự vỉa hè.

Lần lượt trôi qua là những khu chính như Phạm Hồng Thái với nhà in Bác Ái, Quang Trung với phòng thông tin, Hai Chùa với rạp Tân Tân và bên kia quán Lise, Chiều Tím… Rồi không mấy chốc đến điểm hội tụ của ba đường Ðộc Lập, Trần Quí Cáp và xéo xéo phía góc, đường Phương Sài (bạn hiền hay hoặc giả có liên hệ mật thiết gì với Phương Câu?). Một đoạn ngắn nữa, lại đến điểm hội tụ thứ hai của ba đường Ðộc Lập, Yersin, và Gia Long từ dưới ngã bảy nhà thờ Núi đâm lên… Tất cả dồn lên chiếc xe Lam. Hên một cái là vừa đủ chỗ cho chuyến xe đầy vì có vài ba hành khách đã ngồi sẵn trước. Bác tài rồ máy chạy ngay.

Nhờ có gió lòn vào, cái nóng hâm hấp như lửa đốt trong người, sau cuộc bát phố một chiều, đang từ từ tỏa ra. Rồi có lẽ vì chật chội, mặt đối mặt, thịt chạm xương, cho nên ai nấy đều im lặng, không buồn nói một câu pha trò. Mỗi người theo đuổi, ôm ấp một ý nghĩ riêng tư. Bàn tay Hiền đặt lên đùi Tần âm ấm. Chẳng cần lên tiếng, chàng lòn tay mình bên dưới, đan vào nhau. Qua ánh mắt, Hiền cảm động trao về Tần nỗi lòng trìu mến, yêu thương. Chàng mỉm cười đáp lại rồi bâng quơ nhìn mông lung ra phía ngoài.

Xe vừa qua ngã ba Mả Vồng, chỗ tiếp giáp với liên tỉnh lộ 7 từ dưới khu Lữ Gia đi lên. Lãnh địa của Ðào Khiết Ðức, người bạn “thanh niên Khánh Hòa” của bộ ba tam xên miền Nam, mặc dù hắn ta cư ngụ trên một trong những con đường mang cả tên lẫn… số. Ðường số 1, số 2, số 3, số 4, và số 5 tức là đường Ðống Ða, Hồng Lĩnh, Lam Sơn, Nhị Hà, Vân Ðồn. Tần có lần nghe Ðức kể như vậy…

Ðang miên man thả hồn mơ mộng viển vông, Tần bỗng nghe Thắng, đang ngồi bìa ngoài đối diện với Tần, lên tiếng trong vẻ ngạc nhiên:

– Hê, ở đằng sau lưng mầy có ông Phật đang tọa thiền tuốt trên đỉnh đồi cao kìa Tần. Chỗ này coi bộ giống Thích ca Phật đài xây ở ngoài Vũng Tàu quá!

Thành nghe nói cũng chồm ra, dõi mắt ngước nhìn. Trong khi Tần gật gật đầu tỏ vẻ ta đây sành đời, trả lời bạn:

– Tao biết rồi. Ðó là chùa Phật Học.

Phải, đó là chùa Phật Học đúng như Tần nói. Nơi có tượng Phật trắng như san hô, ngồi trên tòa sen cao đến mười bốn mười lăm thước, xây trên đỉnh đồi cao chót vót phía sau chùa. Với hơn một trăm năm mươi bậc tam cấp cho đường đi lên. Ðứng dưới bệ Phật đài người ta có thể thấy toàn cảnh thành phố Nha Trang đang hiện ra dưới chân. Ở mọi phương hướng. Thấp thoáng trong những chòm cây xanh dọc theo đường phố. Bên cạnh chùa còn có thêm trường Bồ Ðề. À, sao mà ở Nha Trang lại có lắm trường quá hả, Tần tự nhủ? Ngoài các trường mà chàng nghe riết đã quen tai như Võ Tánh, Huyền Trân (tên xưa cũ của trường nữ trung học Nha Trang), Thánh Tâm, Kim Yến còn có Âu Cơ, Vinh Sơn, Ðăng Khoa, Bá Ninh, Trí Dũng…, và hiển nhiên ngang đây có thêm trung học Bồ Ðề. Ðó là chưa nói đến trường Tây (Collège Francais), trường Ðại học Duyên hải, trường nhà dòng thiên chúa giáo Thần học viện.

Ở vùng ngoại ô này, có nhiều lạch nhỏ chảy vào một phụ lưu của con sông Cái. Trước khi tất cả ngọn nguồn, chánh phụ gom về một mối và đổ ra biển qua ngả Hà Ra, Xóm Bóng (giữa hai cây cầu này là một hòn đảo lớn). Bởi vậy, trên đoạn đường vừa ra khỏi thành phố Nha Trang về phía tây, người ta đã bắt gặp nhiều cầu. Nào là cầu Chợ Mới, nổi tiếng với các xóm, ấp làm chiếu. Rồi đến cầu Dứa, cầu Ông Bộ… trước khi đến ngã ba Dầu Ðôi, chỗ có cây dầu thân bị chẻ làm hai thiệt lớn. Nếu đi theo ngã rẽ thì về thị trấn Ninh Hòa, một quận lỵ rất được biết tiếng nhờ hai món: nem và cua biển. Còn tiếp tục đi tới là sẽ vòng xuống hướng núi Ðồng Bò, để thẳng trớn đi luôn về miền Nam: qua Phan Rang, rẽ lên Ðà Lạt, rồi vô Phan Rí, Phan Thiết, Biên Hòa, Sài Gòn, Lục Tỉnh. Tần chỉ biết lõm bõm như thế.

Nhưng trước khi quẹo xuống Ðồng Bò, người ta phải đi ngang qua Thành. Ðây là một trong một vài địa danh của đất nước Việt Nam được đặt tên với chỉ có mỗi một chữ. Một tiếng: Thành. Một tiếng: Búng (ở Bình Dương)… Thực ra Thành đây là tên gọi ngắn gọn của thành Diên Khánh, đã được xây cất từ hồi Trịnh Nguyễn phân tranh. Sau này, chúa Nguyễn Ánh cũng đã từng cho tu bổ lại để làm bàn đạp tiến đánh quân Tây Sơn. Bây giờ, thành Diên Khánh chỉ còn lại có mỗi cái móng và một vài đoạn vách thành loang lổ, nối liền cửa Ðông qua cửa Tây để làm cảnh. Còn hầu hết đã biến thành những con đê ngát xanh cỏ dại, bao bọc ruộng vườn của dân chúng trong vùng. Trong thành! Âu cũng là một chứng tích hùng biện cho cuộc đời dâu biển!

Tất cả đã xuống xe và lục tục kéo nhau đi theo Hiền vào làng. Con đường mòn cát trắng ngoằn ngoèo uốn khúc trong chòm cây bụi cỏ mọc rậm ven bờ. Xa xa có mấy cây dừa lả ngọn. Gió hiu hiu Tết phất phơ tà áo, ẩn hiện những đường cong. Tần đang đi bên cạnh Hiền, ngó ngoái lại nói với đám bạn phía sau:

– Ê, tụi mầy thấy sao? Phong cảnh ở đây cũng tình chán, hả?

Thành không trả lời Tần mà có ý nói vọng sang Thắng:

– Tao thấy tụi mình như đang làm đám cưới, đưa thằng Tần về nhà đàng gái rước dâu phải không Thắng? Thôi, kể từ nay ván của mầy coi như đã đem đi đóng thuyền rồi nghen mậy, Tần!

Hiền giả bộ không nghe, trong khi Thảo và Thúy cười khúc khích. Thắng nói thêm vào:

– Bữa nay làm đám cưới cho hai đứa tụi nó, còn ngày mai sẽ làm đám cưới của cô sơn nữ nào đây?

Thảo vọt miệng:

– Thân em còn nhỏ dại lắm anh Thắng ơi. Anh làm ơn hãy để cho em học hành đến nơi đến chốn cho ba má em nhờ!

Thắng cười ha hả, chọc lại:

– Thân em nhỏ thì không nhỏ rồi. So với Hiền và Thúy em vẫn tròn trịa, có da có thịt hơn người ta mà. Rồi dại hay khôn thì cũng còn cần phải xét lại nữa. Nếu em thiệt dại dột đúng như lời em nói thì làm sao em sẽ học hành đến nơi đến chốn được đây chớ?

Thảo quay lại, cung hai tay nện vào ngực Thắng bình bịch:

– Anh quỉ vật gì đâu á! Ðã không bênh người ta mà còn ghẹo phá chẳng chút nương tay, thương tình gì hết hà!

Tần can:

– Nè, nếu đã chưa làm đám cưới thì cô đâu có quyền cấu xé người tình không chăn chiếu của cô dữ như vậy, cô Thảo?

Thảo tru tréo:

– Còn anh Tần nữa! Coi chừng Thảo nói nhỏ với con nhỏ Hiền ra tay năm ngón, “rửa tội” anh láng-xì-coóng bây giờ! Ðừng có ỷ làm lớn mà ăn hiếp em út hoài nghen!

Thúy theo phe Tần:

– Thôi đi cô nương ơi, ai mà dám ăn hiếp sư tử Hà Ðông…

Ngôi nhà gỗ ba gian lợp tranh của má Hiền đã khiêm tốn hiện ra dưới những tàn cây cao lớn, nhưng không phải là cây đa đầu làng. Xung quanh nhà chuối, dừa và cây ăn trái như xoài, đu đủ… xanh mởn, tươi tốt. Ðặc biệt là mãng cầu dai, đất cát miền núi rất thích hợp với cái ngữ này. Một khoảng sân rộng phía trước hàng hiên có đặt hai cái mái vú đựng nước màu gạch nung đỏ ối. Mặt tiền đóng ván, sơn màu xanh dương lợt, nhưng hai bên hông là những tấm vách tre được đan bằng những tấm nẹp thả nằm ngang. Phía hiên tây có cất thêm một cái chái gie ra ngoài, cũng lợp bằng tranh. Xóm giềng chung quanh hình như cũng đang sống trong cùng một hoàn cảnh tương tự, không mấy gì giàu có, vì Tần không thấy một ngôi nhà nền đúc lợp ngói nào hết. Một cái xóm bình dân, Tần hiểu rõ ràng như vậy. Bên trong những ngôi nhà lụp xụp đó, thỉnh thoảng Tần cũng bắt gặp những ánh mắt trẻ thơ, đang tò mò ngắm nhìn những bộ quân phục xa lạ và nhũng tà áo dài màu mè đùa bay trong gió.

Phía sau cái xóm bình dân bé bỏng đó là con sông Cái, trũng sâu, uốn khúc như cái bụng của một con rồng thật to. Mùa này nước giựt xuống thấp, hai bên bờ bãi cát phơi bày trắng bạch. Giữa lòng sông cũng vậy, những cồn cát ngầm trắng ngà, vì thấm nước dưới chân, đã hiện nguyên hình. Dòng nước trong veo, nhỏ nhoi như một con lạch đang lừ đừ chảy chậm.

Vừa bước vô nhà đã gặp má ngồi tại bàn nước kê giữa phòng khách, Hiền liền đứng nép bên Tần, giới thiệu:

– Thưa má, đây là anh Thành, anh Thắng, con Thúy và con Thảo. Tất cả đều là bạn của tụi con.

Những tiếng “Chào bác” hoặc “Dạ, chào bác” vang rân. Sở dĩ Hiền không giới thiệu Tần là vì chàng đã đến đây rồi. Má Hiền nói:

– Mấy cô cậu ở trên chợ hết đó hả? Chu choa, chẳng mấy thuở đi lạc về vùng đồng quê cỏ cháy này, thôi thì cứ tự nhiên như ở nhà, thay đồ thay đạc ra nghỉ ngơi hay chạy ra vườn chơi với tụi trẻ…

Hiền đỡ lời:

– Dạ, tụi con xin phép ra nhà sau, má! À, còn hai thằng Trí và Dũng có ở nhà không, má? Sao con không thấy tụi nó đâu hết vậy?

Má nàng cho biết:

– Ối, đi chơi rồi. Mới thấy hai đứa xách cần câu chạy băng ra sau vườn hồi nãy!

Cả bọn dồn ra đằng sau nhà bếp, ăn thông với cái chái mé hiên tây. Ở đó có bày một cái bàn tròn và mấy cái ghế đẩu. Một chõng tre kê sát bên vách, không biết để cho ai nằm ngủ trưa mà lên nước láng bóng. Thay mặt gia chủ, Tần vừa kéo ghế cho mình vừa mời hai bạn:

– Ê, ngồi chơi tụi mầy!

Thành và Thắng làm theo lời Tần. Trong khi đó, Hiền đề nghị với hai cô bạn:

– Hay là để mấy ảnh ngồi ở đây nói chuyện, tụi mình đi thay đồ ngắn ngay bây giờ đi. Chớ không lẽ hai bà muốn làm khách? Vả lại đâu làm sao chui vào bếp nấu nướng hay làm bánh trái với áo quần như vầy được?

Thảo lên tiếng:

– Trời đất, áo của bà làm sao thân tui tròng vô cho vừa!

Hiền tiếp lời:

– Mình có mấy bộ đồ bộ may rộng lắm, chỉ sợ bà chê kiểu vở thôi…

Ba cô nàng liền biến mất vào nhà trong. Tần tiếc rẻ một cơ hội được phép… ăn gian mà không ai dám truy tố. Như hồi nào Hiền rủ Tần về đây lần đầu tiên, Tần cứ theo Hiền không rời một bước. Ngay cả khi Hiền vào phòng riêng thay đồ. Hiền đuổi chàng ra, nhưng chàng không chịu. Rốt cuộc rồi Hiền cũng phải đền bù cho chàng những nụ hôn say đắm, quấn quít. Trong lén lút, sợ sệt. Vì ánh sáng bên ngoài ngang nhiên, ung dung len lỏi qua tấm vách tre đan. Chính vì vậy mà Tần không dám bồng Hiền lên giường, chớ chàng đâu phải là thần thánh mà dừng lại ở chỗ đó cho được.

Giờ thì chàng biết quá rồi, đứng bên ngoài này không thể thấy gì bên trong hết, nếu không dán mắt sát vào một lỗ trống. Trái lại, đứng ở bên trong nhìn ra, mọi di chuyển bên ngoài sẽ hiển hiện rõ ràng như trên một màn ảnh lớn. Chẳng biết Thảo và Thúy đã có cái kinh nghiệm này chưa? Chắc là hai cô nàng trong bụng đang đánh lô tô vì sợ ai đó đang nhìn lén mình, cố đi tìm chỗ núp kín đáo đâu đó trước khi dở trò thoát y vũ, Tần nhủ thầm!

Bỗng, Thắng khơi chuyện:

– Ê, hay là mình ra ngoài vườn chơi cho thoải mái, tụi mầy. Chẳng lẽ lại ngồi ở đây, lõ mắt nhìn nhau một cách vô tích sự như thế này?

Tần khuyên:

– Hãy khoan, chờ cho mấy em ra cái đã. Phải hỏi lại coi chương trình của mấy em sắp xếp ra làm sao trước khi mình tính chuyện của mình. Bề nào tụi mình cũng phải ở đây tới chiều mới về, đâu có gì gấp gáp phải không Thành?

Không trả lời Tần vì anh chàng đang mơ màng chuyện riêng, Thành bâng quơ hỏi lại:

– Không biết ở quanh đây có mương hay đìa không hả, Tần? Chớ như ở Cần Thơ, kéo vô vườn bà ngoại tao, ba thằng mình ra tay chận tát một khúc mương, một hai tiếng đồng hồ sau cạn nước, kiếm một rổ tôm cá dễ như chơi. Nhứt là ba cái thứ tôm lóng, tôm cụt, tôm lò rèn… chà, đem luộc sơ rồi trộn gỏi đu đủ rau răm, số dách hả?

Thắng cười khan:

– Ở miền biển mà mầy nói chuyện mương, đìa! Chỗ này lại trẻo trên núi, nếu có muốn tắm suối với mấy cô em sơn nữ… trần truồng như nhộng thì được, chớ còn tôm tát mương với gỏi đu đủ thì coi bộ xa vời dữ đa! Hay là như tao đã nói, cứ vọt ra ngoài vườn kiếm vài ba trái chua chua đem về nhậu ba sợi là tiện hơn hết.

Ba người đẹp xứ thùy dương vừa hóa thân thành ra ba cô sơn nữ xinh xinh, nhưng không hề… trần truồng như Thắng mong muốn. Hiền trong chiếc áo bà ba màu tím hoa cà, viền ren cả tay lẫn tà, và quần lãnh đen. Thảo mặc nguyên bộ đồ thêu màu cẩm thạch, bông trắng. Thúy đơn giản hơn, áo sơ mi trắng vạt bầu quần hàng trơn đen hơi mốc mốc.

Một tay nhéo tà áo và một tay đưa lên cao, Thảo nhún gối nhẹ một cái:

– Ta ra ra… Nè, mấy anh xem Thảo có khá hơn chút nào không?

Thắng vội vàng nói trước cho phải lẽ, nửa đùa nửa chọc:

– Mèn ơi, không ngờ Thảo của anh hôm nay trông đẹp ớn, có duyên ác!

Thảo phụng phịu:

– Nữa, anh lại chê em nữa rồi! Thôi, em không thèm chơi với anh Thắng nữa đâu!

Hiền lườm Tần, trách yêu:

– Sao nãy giờ anh không nói với anh Thắng anh Thành cởi áo ra cho mát. Tụi em sẽ đãi các anh ăn một món rất đặc biệt của xứ Thành… Hì hì, không cởi ra bây giờ lát nữa cũng phải cởi thôi!

Tần vừa kéo áo bỏ ra ngoài quần, vừa hỏi:

– Món gì? Bánh tráng hả? Vẫn bổn cũ soạn lại à? Hê, thay tiểu lễ mặc áo thun cho mát tụi bây. Ăn cái gì chớ ăn bánh tráng theo kiểu ở đây là tao bảo đảm, vừa mới nhập cuộc là đã tháo mồ hôi hột… Hay là như vầy Hiền ơi, anh với anh Thành anh Thắng dông ra ngoài vườn mãng cầu của má một chút, em với cô Thảo cô Thúy ở trong này sắp xếp thức ăn. Bao giờ xong xuôi đâu đó thì em chạy ra hú tụi anh một tiếng.

Hiền gật đầu, đồng ý:

– Cũng được.

Ba người con trai giao cho ba người con gái ba chiếc áo tiểu lễ, ba cái mũ kết quan tàu đem vào buồng cất giùm, rồi vọt thẳng vào khu vườn rậm…

Lại ăn bánh tráng? Tần không khoái cho lắm cái món quốc hồn quốc túy đó của người dân xứ Thành, xứ có tiếng về bánh tráng dẻo. Không giống như bánh tráng miền Nam, mỏng và cứng, khi ăn phải nhúng nước. Bánh tráng dẻo ở đây dầy hơn, giống giống như bánh phồng. Mềm như bánh phồng và để vậy ăn sống, cuốn tròn chấm nước mắm ớt chặt khúc cay thiệt cay. Chớ không đem nướng như bánh phồng trong Nam… Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay, Tần nghĩ chàng cũng không nên nói trước cho hai thằng bạn thân của mình biết qua cái phong tục dễ thương nhưng có hơi… cháy ruột, phỏng bao tử đó làm chi! Hãy để cho tụi nó tự tìm hiểu lấy, mới thấy thế nào là thấm thía khi đọc mấy câu thơ bình dân mà có lần chàng đã viết tặng Hiền làm kỷ niệm:

Về Thành phải ở lại Thành
Thích ăn bánh tráng cuốn
Chấm nước mắm ớt vừa hái trên cành
Thì em mới chịu yêu anh suốt đời 
…

* Ðộng thanh lâu ở địa chỉ 2C đường Hùng Vương, khoảng giữa Trịnh Phong và Lê Ðại Hành.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

23. Cốt nhục tương tàn

Xuân Mậu Thân 1968…

Trinh Tường, tiền đồn phía Bắc của thành phố Phan Thiết chịu áp lực vô cùng nặng nề của cộng quân. Liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm bị cắt đứt, và sau khi bị loạt AK xen vào tiếng pháo Tết rải vô tháp canh đồn thì những lớp giây kẽm gai được lệnh giăng mắc thêm chắn ngang đường ở cổng phía Bắc. Những giây mìn Claymore và mìn chiếu sáng được gài thêm dọc hàng rào phòng thủ đồn. Lệnh báo động khẩn cấp được ban hành trên khắp miền Nam và trên toàn lãnh thổ tỉnh Bình Thuận.

Xuân Mậu Thân đẫm máu bắt đầu từ những tiếng AK nổ vang trong ngày hưu chiến. Xạ thủ đại liên, hạ sĩ Lê Bá có lẽ chả thắc mắc gì với cái tên Hồ chí Minh, và anh cũng chẳng cần biết Nguyễn Chí Thanh là ai; đối với anh, thứ quan trọng, gần gũi anh nhất là khẩu đại liên trên tháp canh. Dù chiến trận chưa bùng nổ, nhưng mỗi đêm nhìn xuyên bóng đen, anh vẫn ngờ ngợ những bất trắc. Ban ngày, anh tháo ráp, lau chùi súng cẩn thận, bao cát được lót thêm cho vững hai chân càng, giây đạn móc sẵn vào ổ súng, các giây đạn khác thò đầu ra khỏi thùng nắm chờ đợi bên khẩu đại liên, sau lưng anh là mấy chục thùng đạn mở nắp.

Xuân Phong là làng sinh quán của anh. Đêm nay làng anh nằm trong tầm vòng đai tác xạ của các loại vũ khí trong đồn Trinh Tường. Các mũi tiến quân của địch khép dần về thành phố trên một vòng cung Tây Bắc từ sông Cà Ty vòng qua Xóm Tỉnh, Xuân Phong và cầu Bến Lội. Thế nhưng muốn tràn ngập Phan Thiết, địch phải khống chế hay đánh sụp đồn Trinh Tường để thọc mũi dùi vào khu chợ Phường gần trường Phan Bội Châu, tiến quân chiếm bệnh viện và nhà ga Phan Thiết hầu tấn công tòa tỉnh. Đồn Trinh Tường là yết hầu chiến lược quan trọng của thành phố nối liền với Ma Lâm, Thiện Giáo ở phía Bắc…

Trời vừa sập tối, tiếng AK đã nổ khắp các vòng cung tấn kích. Từ trên pháo tháp, khẩu đại liên đạn đã lên nòng, Lê Bá sắp lại các giây đạn, ước lượng tầm hỏa lực cho những điểm khả nghi, những cục gò mối, những chỗ địch có thể cắt rào xâm nhập. Bá lấy nón sắt che kín điếu thuốc trước khi rít một hơi dài để lấy bình tỉnh. Những lằn đạn AK vẹt đêm đen bay thẳng vào đồn. Mắt Bá cay cay, anh dụi tắt điếu thuốc và xoay nòng súng qua lại về hướng địch.

Một loạt đạn từ hướng Tây Bắc Xuân Phong bay thẳng vào tháp canh của Bá, anh nhận ra địch đã lởn vởn đâu đó gần xóm nhà bà Nội, anh định phóng một tràng đại liên về hướng địch nhưng ngón tay bóp cò bỗng ngưng lại. Mục tiêu chưa xác định, vã nhà tự bà Nội nằm trong hướng và tầm đại liên của Bá. Anh chợt nghĩ tới bà Nội sống một mình cô đơn trong căn nhà lúc nào nhang cũng cháy trên bàn thờ ông Nội. Anh lo cho bà Nội, không biết đêm nay bà sẽ ra sao, và khi những tràng đại liên anh quét về hướng xóm bà Nội, bà có kịp chui xuống hầm hay không, đạn anh bắn có trúng nhà tự bà Nội không…

Súng địch đã nổ. Đồn Trinh Tường vẫn im tiếng không bắn trả viên đạn nào. Tất cả đều chong mắt chờ địch tấn công. Ngồi trên tháp canh, anh biết rõ là ngày mai mồng Một Tết sẽ không có chuyện anh được phép về ăn Tết ở nhà, không có chuyện thăm Nội, thăm bà con, cô bác. Anh không biết chuyện cộng sản vi phạm ngày hưu chiến Tết nó nghiêm trọng ra sao, kéo dài ra sao, chết chóc ra sao, nhưng anh biết rõ là cái Tết đã tan tành. Anh chợt buộc miệng chửi thề:

– ĐM, mấy thằng VC! Bộ đánh đấm cả năm không đã hay sao mà ba ngày Tết còn mò về thử AK! Thiệt là mấy thằng trời đánh!

Mấy năm đi lính, chuyện đụng trận, bắn nhau là chuyện cơm bữa. Anh nghĩ chắc chuyện bắn nhau với VC đêm nay thì cũng vậy thôi. Giới nghiêm, báo động là chuyện thường, thế nhưng đêm nay, anh không hề biết anh đang là một trong những người lính đang ở tuyến đầu trong một trận đánh lịch sử của mùa xuân Mậu Thân máu lửa, trận đánh quyết liệt đã giữ cho Phan Thiết không bị cộng sản tràn ngập.

Vừa vói tay định bẻ hộc cốm bỏ vào miệng nhai cho đỡ buồn, một quả B40 chợt nổ đâu đó ở hướng vòng đai sau trường tiểu học Trinh Tường, Bá bỏ vội hộc cốm xuống thùng đạn, lừa cục cốm vào má, ngưng nhai và chụp súng khạc một tràng đại liên về phía cục gò mốì ngoài bờ ruộng gần nơi có tiếng nổ. Bá nghĩ bụng:

– Tụi mày muốn chơi B40 hay quan sát cận đồn, tụi mày phải núp sau cục gò mốì này! Cho mày ăn đạn! Thằng nào tới số chết bỏ!

Dường như quả B40 là hiệu lệnh địch khai hỏa, nên quanh vòng đai, tiếng súng nổ dồn dập hơn. Tràng đại liên đầu tiên của Bá làm các tay súng phòng thủ đồn tỉnh người, căng thẳng chờ địch và bắt đầu bắn trả. Bá thấy đêm càng khuya, tiếng súng hai bên càng nổ dữ hơn. Bá nghĩ bụng: “Chắc VC định ăn thua đủ trước khi trời sáng!”

Nguyên một vòng cung an ninh thành phố chạy dài từ Trinh Tường qua sông Cà Ti, chả có nơi nào là rừng, chỉ toàn là ruộng và nhà dân. Địch đánh ban ngày ở vùng này chỉ tổ làm mồi cho máy bay và pháo binh. Bá linh cảm thấy đêm nay là đêm sống chết. Mắt mở lớn hơn, đầu tỉnh táo hơn, mấy thùng đạn sẵn sàng đầy đủ hơn, và chưa bao giờ Bá thấy đạn đạo của địch đổ vào đồn dày hơn đêm nay.

Khoảng 2 giờ sáng, tiếng súng địch nổ rát hơn ở hai mặt Xóm Tỉnh và phía Tây Bắc Trinh Tường, trong lúc hướng Xuân Phong dẫn vào cổng đồn phía Đông Bắc rìa liên tỉnh lộ 8 thì không một tiếng súng. Cái yên lặng này làm Bá chú ý và lo lắng. Linh tính và kinh nghiệm trận mạc của Bá cho biết một cái gì bất thường.

Bá đưa nòng đại liên về hướng hàng rào kẽm gai phòng thủ đầy mìn nhưng thật là yên lặng này. Bá chờ đợi. Hỏa châu thắp giăng giăng đều theo các vòng cung phòng thủ. Hàng loạt hỏa châu treo đèn, soi chập chờn những mái tranh xa xa, và giữa những mái tranh hiền lành run rẩy dưới ánh sáng vàng vọt, nhô lên nóc ngói của ngôi nhà tự, nơi bà Nội Bá đang ở. Bá lẩm bẩm:

– Địch tấn công mặt này chắc nhà bà Nội có cơ lãnh đạn của mình. Tôi nghiệp! Không biết đêm nay Nội có chui kịp xuống hầm hay không! Nội có ngủ dưới hầm hay không! Bà ở một mình trong vùng lửa đạn, có mệnh hệ gì, ai lo cho bà đây!

Lòng Bá như tơ vò, như lửa đốt. Bỗng chợt, một loạt mìn Claymore nổ tung ở phía hàng rào kẽm gai phía Bắc, nơi mà từ giữa hôm không nghe một tiếng súng. Từ phía những lùm cây thấp và gò mả, những trái sáng tự động bị vướng giây bật sáng cả một góc trời. Dưới vùng ánh sáng của hỏa châu lơ lửng trên trời và những trái sáng chiếu rực hàng loạt dưới đất, từng lớp bóng đen tràn vào theo những lằn kẽm gai bị cắt. Địch bị khựng lại vì hàng loạt mìn nổ, cùng lúc khẩu đại liên của Bá đan lưới lửa phủ vào các bóng đen đang kẹt giữa những hàng kẽm gai bị cắt dang dỡ.

Vì địch đã nằm trong tầm đạn chờ sẵn của Bá nên hàng loạt bóng đen đã bị đốn ngã ngay trong đợt xâm nhập đầu tiên bị lộ. Số còn lại rút ra, Bá thấy rõ mồn một những đặc công cõng xác đồng đội tháo lui, Bá thay giây đạn và quét theo những tràng đại liên hòa nhịp với những tay súng phòng thủ khác. Đạn từ trong đồn bắn ra như mưa. Tác xạ từ trên cao, Bá cho lưới lửa săn đuổi bén gót những bóng đen, xác địch vắt từ trên những giây kẽm gai ra tận bờ ruộng ngoài hàng rào phòng thủ.

Kháng tuyến Trinh Tường không bị vỡ, đổi lại, toán đặc công chủ lực làm mũi nhọn thọc vào thành phố bị bẽ gẫy với những tổn thất nhân mạng vô cùng nặng nề. Tính chung, bộ đội cộng sản bị thất bại thê thãm thảm trên các kháng tuyến trong trận tấn công Phan Thiết năm Mậu Thân 1968.

Năm 1970 từ hậu cứ đơn vị ở Nha Trang, tôi có chuyến công tác về Phan Thiết và ghé thăm nhà, và tôi gặp Bá. Bá là con ông Bác, tôi gọi Bá bằng anh, nhỏ hơn tôi vài tuổi, chơi với nhau từ thuở nhỏ, vẫn xưng hô với tôi bằng mày tao. Lúc đó, hai anh em vẫn mặc quân phục và tôi đã mọc thêm một bông mai trên vai áo. Khi gặp nhau, chúng tôi là anh em máu mủ, chả có cấp bậc gì ráo, và tôi cảm thấy ấm áp với không khí xưng hô gia đình như vậy. Tôi hỏi thăm Bá về chuyện họ hàng, bà con. Khi đề cập đến gia đình cô Ba chúng tôi, Bá bỗng cúi mặt buồn buồn. Tôi hỏi:

– Anh Bá! Nghe nói anh Kháng, anh Chiến con cô Ba theo Việt cộng về đánh trận Mậu Thân ở Trinh Tường bị chết phải không?

Bá nhìn tôi:

– Cốt nhục tương tàn đó mày!

– Cái gì? Anh nói rõ hơn được không?

– Tao bắn hai đứa nó đó! Hai đứa nó nằm trong toán đặc công, toán tấn công vô đồn Trinh Tường kỳ Tết Mậu Thân bị đại liên tao đốn gục đó!

Sau câu trả lời của Bá, lòng tôi chùng xuống. Tôi hiểu là trong cuộc chiến tương tàn này, súng đạn không tránh được ai, súng đạn không hỏi căn cước, không tra lý lịch trước khi ghim thẳng vào thân người. Trong tầm tác xạ gần đạn đạo là một đường thẳng vô tri, vô giác, vô tình, nó không tránh né, cong quẹo khi gặp người thân. Và anh Bá kể lại cho tôi nghe câu chuyện nát lòng.

– ” Mày cũng biết, tao hiểu tụi mình có những anh em bà con theo Việt cộng. Trong trận Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công tiền đồn Trinh Tường, tao là xạ thủ đại liên của đồn mà tầm đạn bao dàn một vùng rộng lớn về hướng làng Xuân Phong của mình, trong đó có cả nhà tự bà Nội đang ở. Đêm đầu tiên, địch muốn tràn ngập chiếm thành phố bằng nổ lực dứt điểm nhanh và gọn đồn Trinh Tường. Nếu tụi nó thành công, có thể ngày hôm nay, tao không còn gặp mày.

Trong toán đặc công đầu tiên xông vào dãy hàng rào kẽm gai bị cắt, một mớ chết vì mìn, một mớ tiến sát đến sát lớp kẽm gai sau cùng gần đường lộ, bị tao quét sạch bằng đại liên, khoảng cả chục tên bị đốn gục, không có một tên nào lọt được vào đồn, không có một tên nào kịp bắn một phát B40 nhắm vào lô cốt tao và dường như khó có tên nào thoát khỏi lưới lửa đại liên của tao trên đường rút ra bờ ruộng.

Hôm sau, khi Việt cộng bị đẩy ra khỏi các vị trí xâm nhập khác trong thành phố, bị truy kích hay bị tiêu diệt tại chỗ, tình hình an ninh được vãn hồi trong thị xã và các vùng ngoại ô, kể cả Xuân Phong, các xác chết của cán binh Việt cộng được chuyển ra lộ và bờ ruộng ngoài cổng đồn. Các xác chết vì mìn được tập trung gần mấy cái gò mả, các xác chết kẹt trong hàng kẽm gai gần lộ do hỏa lực đại liên của tháp canh tao bắn được xếp bên bờ lộ gần cổng đồn. Sau khi kiểm soát, chính quyền ra thông báo cho thân nhân nhận diện tử thi và được phép đem về chôn cất.

Tinh hình an ninh đã khá hơn, song lệnh báo động và cấm quân vẫn còn rất căng. Tao vẫn thủ ngày thủ đêm cây đại liên trên tháp canh. Không có nó bữa đó là chết cả lũ. Khi tao đưa ống dòm lên mắt coi những người đến nhìn xác Việt cộng, tao tá hỏa tam tinh khi thấy cô Ba có mặt trong số người thất thểu tìm thân nhân bị chết, và linh tính tao cho biết có một cái gì rất là thê thảm… Tao dụi mắt và tao tiếp tục theo dõi cô Ba qua ống dòm. Tao cầm lòng không đậu khi thấy cô Ba lần mò lật mấy cái xác gần lộ, rồi cô Ba quỵ xuống ôm một xác người khóc thảm thiết. Hai tay cô Ba đập đất, hai tay cô Ba cào trời…

Chưa hết, khóc một hồi, cô Ba đứng dậy, lấy tấm khăn choàng đắp lên mặt một xác chết, rồi cô Ba xoay lưng tìm mấy cái xác còn lại. Và lần này, tao nghe tiếng cô Ba thét lên “Trời ơi! Chiến ơi! Con ơi!…” Rồi cô lăn dài ra đất. Lúc này thì tao đã hiểu ra cơ sự. Hai đứa nó, thằng Kháng, thằng Chiến con cô Ba nằm trong toán đặc công bị tao đốn gục đêm đó. Nó là con cô cậu của mình, nhưng súng đạn đâu có ăn nhậu gì với tình thân, ruột thịt.

Đêm đó tao không đốn kịp tụi nó thì nó đốn tháp canh tao bằng mìn hay B40. Làm sao biết được! Cô Ba không hề biết hai người con trai duy nhứt của cô bị chết vì đại liên của tao. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã nhìn hình ảnh cô lăn lộn trên xác con. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã khóc cho cô từ trên tháp canh. Tao kể chuyện này cho mày nghe và giữ kín, không cho bà con biết. Mày hứa là mày giữ kín chuyện này. Tao không muốn cô Ba không nhìn mặt tao! Mày biết chưa?!”

Kể đến đây, người anh tôi bật khóc. Tôi ngồi như trời trồng, lặng người, đau xót. Dường như cái cảm xúc máu mũ, ruột thịt nó có cái gì vượt lên trên lý trí, chính trị, chủ nghĩa; nó chập chờn trong không gian đâu đó, và khi trái tim mở ra, nó chui vào tâm thức lúc nào không hay. Nghĩ đến hình ảnh cô tôi tìm xác con, vật vã gào la dưới trời tuyệt vọng, mắt tôi mờ, hai giọt lệ ứa tuôn lăn xuống má tự lúc nào.

Hàng chục năm chinh chiến xa nhà, đơn vị tôi đóng ở Nha Trang, tôi không một lần gặp lại cô tôi. Tôi bùi ngùi nhớ lại hình ảnh hai ông anh con bà cô, anh Kháng, anh Chiến của những ngày thơ ấu cùng tôi đánh đáo, đánh trỏng đá banh, dành ăn và bị đòn… Và khi lớn lên, lịch sử oan nghiệt đã chia chúng tôi làm hai ngả đối chiến.

Sau đó, tôi và Lê Bá chia tay. Trước khi về lại đơn vị, tôi hỏi anh Bá về người con thứ ba và là đứa con gái út của cô tôi. Anh Bá trả lời:

– Kim hả? May mà Kim không có mặt trong đám đặc công của ông Kháng, ông Chiến, giờ chả biết nó ở xó rừng nào!

– Nghĩa là dượng Ba lôi cả bà út Kim lên núi?

– Thì chớ sao! Cái lão Việt cộng đó có chừa ai, có chừa đứa nào cho cô Ba đâu. Lão đem cả ba đứa con theo con đường mù tịt cùa lão. Lão mê cộng sản, lão theo tới cùng, lão đặt tên con là Kháng, là Chiến thì mày biết cái đầu lão ra sao. Chỉ tội cho cô Ba thui thủi một mình buôn bán nuôi cái thân ngày đau đêm ốm. Tao nghe nói Dượng Ba bị sốt rét chết sao đó. Sau vụ Mậu Thân, chắc bà Kim cũng biệt tích giang hồ trên núi, lạng quạng mò về để mà chết!

Năm 1971, tôi trở lại Phan Thiết nhân một chuyến công tác ở Sông Mao, mới hay tin anh Bá đã đổi sang Sư Đoàn 23 và bị mất trong một trận đánh nào đó. Tôi mất đi một người anh cùng chiến tuyến. Khi chúng tôi về đến thị xã thì trời đã xế chiều. Bốn thầy trò chúng tôi trên một chiếc xe Jeep đầy đủ súng đạn, không thể bỏ xe ngoài đường, tôi ghé đồn quân cảnh thăm Trung úy Canh và báo tối sẽ xin gửi xe ở đồn. Tôi cho Canh hay là tôi sẽ phóng xe về Xuân Phong thăm bà Nội và quay trở lại phố ngay. Canh dặn:

– Ồng cẩn thận! Chiều tối Việt cộng thường mò về vùng đó lắm đấy! Thăm bà cụ xong là “hổ ” gấp nghe chưa!

Theo đuờng Hải Thượng Lãn Ông, tôi bắt liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm để về Xuân Phong. Qua khỏi đồn Trinh Tường không tới một cây số, xe cua trái vào hương lộ nối qua Xuân Phong, Đại Nấm, Phú Hội. Tất cả súng ống trên xe đều có đạn lên nòng. Chúng tôi đang vào vùng không được an ninh mỗi khi chiều sập tối. Không tới 5 phút sau là chiếc Jeep tôi ngừng trước nhà tự Nội tôi. Tất cả anh em bước ra khỏi xe với súng cầm tay. Tôi dặn TSI Phúc coi xe và canh chừng, có gì nghi ngờ thì báo tôi hay để chuồn gấp. Một mình tôi vào nhà mang theo khẩu M16 với giây “ba chạc” đầy các băng đạn. Tôi không xài súng lục ngắn khi đi công tác xa. Loại này vô ích khi chơi với AK.

Tôi vào nhà bằng cửa chính đang mở, cửa sau không đóng, mấy cây nhang trên bàn thờ ông Nội tôi còn đang cháy. Tôi dừng lại thắp nhang trên bàn thờ ông Nội, xong bước nhanh ra gian nhà sau, vừa lên tiếng gọi “nội ơi!” thì tôi khựng lại. Trước mặt tôi là một cô gái khoảng 16,17 gì đó, nón tai bèo, giép râu, hoảng hốt muốn chui xuống hầm trốn nhưng không kịp phải đứng lại.

Cô gái đứng yên bất động như trời trồng. Tôi chợt hiểu ra ngay cô gái trước mặt là ai: chị Kim, đứa con duy nhất còn lại của cô Ba tôi sau khi hai người anh bị chết trong trận Mậu Thân. Chị Kim vẫn đứng đó nhưng người chị run lên thật tội nghiệp. Có lẽ chị chờ tôi bắt chị. Chị thấy trên người tôi đầy đạn trong giây “ba chạc”, tay cầm súng, song tôi không làm gì hết, lại bất ngờ lên tiếng:

– Chị là chị Kim con cô Ba?

Câu hỏi không có vẻ gì thù hận của tôi làm chị ngạc nhiên. Có lẽ trong đầu chị thoạt đã nghĩ rằng tên “sĩ quan ngụy” này không có trái tim, không còn tình cảm. Chị Kim lên tiếng, giọng chị run run, nói như hụt hơi:

– Tôi biết cậu mà! Cậu bây giờ quan quyền rồi mà còn nhìn bà con được nữa sao?

Câu nói chống chế của chị Kim bị cắt đứt khi bà Nội tôi từ sau bếp bước vào. Tôi quay người qua ôm lấy Nội tôi:

– Đi công tác ngang, con ghé thăm Nội một chút rồi đi lại. Nội khỏe không?

Chỉ trong một phút giây ngắn ngủi, khi nhớ lại chị Kim tôi quay lại thì chị Kim đã biến mất như một con ma. Chi Kim đã trốn trong một hốc tối nào đó trong gian nhà sau mà tôi không biết. Tôi không bắt chị ngay từ đầu thì không lý gì tôi gọi lính tôi vào lục soát nhà tự Nội tôi để bắt chị Kim. Tôi tha cho chị vì một cái gì rất người, từ tim, từ óc, từ máu mũ ruột thịt mà lý trí của một người lính trong tôi trong giây phút đó nó biến tan đi đâu tôi không biết.

Trên một góc độ nào đó, trong bộ quân phục, tôi nghĩ là tôi có lỗi, nếu nói có tội cũng được. Nghĩ lại, tôi không chỉa súng vào người chị Kim ngay trong giây phút bất ngờ gặp chị là một cái gì rất là người, rất là nhân bản, tự nhiên. Vào lúc đó thì tôi không hiểu tại sao tôi lại tỉnh như vậy.

Chị Kim đã trốn được, và tôi không hối tiếc, tôi thanh thản đã không bắt chị Kim trong lần tao ngộ bẽ bàng đó. Song nếu lúc đó có một người lính tôi bên cạnh, tôi đã bắt chị Kim. Chính tôi bắt chị. Và lúc đó tình cảnh đã đổi khác, tôi không có sự lựa chọn của trái tim. Tôi phải bắt chị Kim… Người lính đi bên cạnh tôi sẽ là một đơn vị, nó không còn cái gì của riêng tôi.

Ngay sau đó, để tránh những bất trắc không lường được, trời gần sập tối, tôi vội vã rời nhà Nội tôi. Và khi chiếc Jeep của tôi rú ga phóng về Phan Thiết, chị Kim hiểu rõ là tôi đã tha cho chị. Nội tôi cũng không biết những gì vừa đã xẩy ra trong gian nhà tự. Lúc đó, cụ gần 75 tuổi, không có một ý niệm gì về quốc-cộng, chỉ khi nghe tiếng súng thì đem giỏ trầu, ống quấy chui xuống hầm, hết tiếng súng thì chui lên.

Ba người lính tôi trên xe cũng không biết chuyện gì đã diễn ra trước đó. Tôi giữ yên lặng, giữ tất cả những bí mật riêng tư, chưa bao giờ nói với ai, kể cả đơn vị trưởng, kể cả cha mẹ, bạn bè và kể cả cô Ba tôi nay còn sống mà có một lần tôi gặp lại khi ra tù Việt cộng. Tôi không rõ chị Kim có bao giờ kể lại điều đó cho cô tôi biết hay không.

Năm 1975, cả cuộc đời lộn ngược, cả đất nước tang thương dưới mầu cờ đỏ, tôi và bè bạn bị đẩy vào các trại tù “cải tạo”, sống sót từ trại tử thần Kà Tót, về sau chuyển về “Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao”. Trong thời gian khai lý lịch và thẩm cung ở trại Kà Tót, Việt cộng hỏi tôi khá kỹ về dòng họ tôi, về “tội ác” của tôi, cả đến việc viết lách và bút hiệu của tôi. Họ phán những tên đi lính “ngụy” mà viết báo đều là CIA! Họ đề cập tới cô tôi và trong lúc khai cung và hỏi cung, tôi được biết chồng cô tôi từng là tay cán bộ gộc hoạt động trong vùng mật khu này. Có lẽ ông Kháng, ông Chiến và chị Kim một thời cũng có ở trong rừng Kà Tót, nơi mà ngày nay tôi và bè bạn bị giam.

Sau những tuần lễ khai đi, khai lại tả tơi cái món lý lịch và “tội ác”, nằm đêm, tôi cứ nghĩ vẩn vơ về chuyện chị Kim. Mấy con tắc kè bám trên nóc tranh cứ chắc lưỡi đánh thức tôi từng đêm, nghĩ đến ngày mai đen tối, nhìn ra cánh rừng mù mịt, tôi đôi lúc cũng chắc lưỡi với con tắc kè và giật mình nghĩ lại chuyện chị Kim.

Nếu kỳ đó tôi chỉa súng chộp chị Kim, người chị con bà cô ruột thịt với mình ngay trong nhà tự bà Nội, giao cho tiểu khu Bình Thuận khai thác, rồi chị Kim bị tống vào tù mà về sau sống chết tôi không rõ, thì không biết giờ này trong tay Việt cộng số phận tôi sẽ về đâu.

Tôi đã thấy Việt cộng hành hạ tù ra sao, tôi đã thấy cảnh đang hỏi cung, Việt cộng quát tháo và lôi đại úy Thông Ngộ ra trói ngữa trên sạp nứa gần nhà bếp, hai chân, hai tay và cổ bị cột dính xuống sạp như thể chuẩn bị thiêu tù trên dàn hỏa, và họ bỏ đói anh ra sao. Và đến lượt tôi, tên trưởng trại Kà Tót, tên gì chả biết nhưng anh em gọi hắn là Trung Ông Vố, gọi tôi lên, và cơn ác mộng có thể diễn ra như sau:

– Anh là Lê Khắc Hai?

– Thưa vâng!

– Đại úy ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh là người bắt sống đồng chí Nguyễn Thị Kim của chúng tôi giao cho quân ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh có biết hai đồng chí Nguyễn Văn Kháng, Nguyễn Văn Chiến, anh ruột của đồng chí Kim, đã hy sinh cho cách mạng trong trận Mậu Thân?

– Thưa vâng, biết! Hai anh ấy là con bà cô ruột tôi!

– Nghĩa là anh biết đồng chí Kim là chị cô cậu ruột với anh?

– Thưa vâng, biết!

– Thế nhưng tại sao anh bắt chị anh giao cho quân ngụy?

– Là một quân nhân, tôi chỉ làm nhiệm vụ của tôi!

– Im! Câm mồm! Phản động! Anh có biết tội ác của anh đối với cách mạng, với nhân dân và thân nhân của anh?

– …..

– Sao anh không trả lời? Thế anh có biết bố của các đồng chí liệt sĩ Kháng, Chiến và đồng chí Kim là gì của chúng tôi không?

– Thưa không?

– Đồng chí ấy ngày trước từng chỉ huy ở đây, ngay trong căn cứ Kà Tót này, và đồng chí ấy từng là lãnh đạo của chúng tôi! Hừ! Hừ! Anh là một tên quân ngụy phản quốc, không có trái tim…!

Những anh em tù tàn binh đã từng qua trại Kà Tót với tôi nay sống sót ra nước ngoài, nhớ tên trưởng trại Trung Ông Vố và những tên Việt cộng không còn nhân tính trong trại đều biết là trong tình huống oan nghiệt đó, tôi khó có cơ hội sống còn để cùng anh em lết về “Tổng trại 8 Tù tàn binh Sông Mao” như những thây ma đói xanh xao, vàng vọt…

Ôi! Một chút tình ruột thịt, một chút từ tâm, một chút Phật tính, một chút con người trong hoàn cảnh éo le bât chợt đã ngăn tôi không chĩa súng vào chị Kim để trói chị đem ra xe, tránh được cái cảnh “cốt nhục tương tàn”, và phải chăng. cũng nhờ một chút lòng từ đó mà trời cho tôi được sống còn đến ngày nay!?

Nghĩ cho cùng, ngày đó tôi có bắt chị Kim, cuộc chiến cũng không xoay sang một góc độ khác, lịch sử vẫn đậm một mầu tang… Sài Gòn vẫn bị cưỡng chiếm. Còn tôi, tôi biết mệnh số mình sẽ ra sao trên rừng Kà Tót năm xưa: một nấm mồ hoang không bia, không nhang, không khói giữa rừng tranh u ám bên cạnh nơi an nghỉ nghìn thu của Long, của Biên, của vô số anh em tù tàn binh bị giết hay bỏ xác trên thung lũng chết người này.

Cám ơn Trời đã cho tôi một trái tim người đủ để chứa những khổ đau oan khuất, đủ để xử thế đương đầu với nghịch cảnh, đủ để cưu mang cả một dòng đời bất hạnh. Sau hơn 30 năm, viết lại những dòng này mà lòng vẫn như còn mang mang đất trời nghiêng ngả…

Em về, sông cạn núi mòn

Mà trong hư ảo như còn lửa binh

Em về, mấy triệu sinh linh

Bó tay, cúi mặt, cực hình bủa vây.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Chương 7

Nên Chơi Sách Hay Nên Chơi Cổ Ngoạn

Lấy người nầy làm gương. Tôi đã quá già, nhưng tánh hay lo việc bao đồng. Riêng tôi, tôi đã chán ngán, nhưng tưởng cũng cần nói vài lời về hai thú trên đây, nghe cùng không tôi không cần biết, và người nói trong nhan đề, oan hay ưng, tôi cũng không vụ tất làm chi. Xét lại cho kỹ, chơi cổ ngoạn thú vị nhiều, nhưng vẫn có nhiều người ganh tị. Khi ganh, không ngại đặt điều nói xấu, phao vu buôn lậu vật báu của nước, như vừa rồi, việc còn nóng hổi, có một chàng nọ, tuổi còn trẻ, chơi thân với tôi và thường nghe lời tôi, thường ra Bắc hay về Huế đô, mua sắm được nhiều món lạ, chính tôi thấy cũng thèm, tôi đã khuyên phải cẩn thận, chơi thì nên nhưng đừng làm con buôn, và phải coi chừng kẻo đứt tay có ngày, người ấy bỗng bị bắt, bị giam, cổ vật sưu tập bị hốt, một vài tháng sau được tha rồi bị bắt trở lại, cổ vật có được thu hồi, và người ấy có thật phạm tội cùng không, việc không mắc mớ gì tôi, chính nếu có người cáo tôi thì tôi cũng phải chịu vào ngồi trong đó như ai kia chớ tôi nào có hơn ai, tuy vậy thỏ chết cáo buồn, và bài nầy tôi viết là cốt lấy kinh nghiệm mớ tuổi già và xin lấy trực tâm già nghề, nghề chơi sách và nghề chơi đồ cổ, tôi là kẻ dưới, còn sự công bình và xét đoán phân minh là ở bề trên, tôi không dám nói nhiều chỉ mong có hải hà lượng cao.

Gần đây, tôi có đọc kỹ lại hai bộ sách để trên đầu nằm, đó là:

– Le Viet Nam, Histoire Et Civilisation của Lê Thành Khôi (Nhà Minuit, 1955, Paris)

– Việt Nam Sử Lược, của Trần Trọng Kim, bản Tân Việt lần 5, năm 1954.

Sách Pháp của ông Khôi ghi gãy gọn: Nguyễn Du, Kim Vân Kiều 1802 (tr 509);

V.N.S.L. Trần Trọng Kim, tr 418, cũng vắn tắt: “Truyện Kim Vân Kiều của Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du, cũng phát hiện thời bấy giờ” (xin hiểu đó là năm 1802).

Cả hải học giả đều sở học uyên thâm, tôi lé đé dưới mắt cá, dám đâu đèo bòng nói lăng xăng trong lúc không có mặt, duy trong nghề chơi đồ cổ và làm mọt sách, tôi đọc lại và riêng thấy: “năm 1802, phương Bắc đang bị xáo trộn, có binh trong Nam của chúa Nguyễn Ánh kéo lên, Du nào có lòng yên để ngồi viết sách và có lẽ vào năm 1813, nhơn được đi sứ sang Tàu và mua được sách hay (bộ Thanh tâm tài nhân) và nhơn đọc chuyện nàng Kiều trầm luân, mới nhớ và tỷ hứng xa vời chuyện nước nhà hay chăng?

Theo tôi ngẫm lại văn hóa nước ta có được bộ truyện Kiều, chính là nhờ có được cuộc đi sứ năm 1813 nầy. Vả lại, bộ sách Hán cũng chỉ văn viết tầm thường thôi, nhưng sự tích khá li kì, cũng năm 1813 nầy sứ bộ của ta mang về bộ chén trà “Mai Hạc” tôi sẽ nói nơi đoạn sau, và nơi đây, tôi xin cho tôi được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng lại vẫn không khác nào cảnh đã phải gánh chịu của một đại văn hào phương Bắc buổi Lê tàn, Trịnh mạt, Tây Sơn lên mau như chớp rồi tắt lịm như bóng đèn khí khi điện lực bị cúp, sự việc một gái nhà lành vì hiếu phải bán mình, rồi bị đày đọa, thân bị vằn vọc, trăm cay ngàn đắng suốt mười lăm năm trời, nhưng binh sĩ chúa Ánh kéo lên phương Bắc năm 1802, chỉ làm nhục và cầm tù một nhà khoa bảng là Phan Huy Ích, và chỉ đánh đòn, nhưng lỡ tay hay vì căm thù, đánh quá nặng đến chết một nhân tài là Ngô Thời Nhiệm, và theo như tôi tự xét và hiểu, có lẽ thức cảnh sanh tình, Du năm 1802 cũng na ná cảnh ngộ tựa tựa như vầy, nên bỗng mượn lấy nòng cốt chuyện Kiều mà đẻ ra một bản kiệt tác gợi lại chuyện xa xăm quãng phong ba bão táp cuối thế kỷ XVII bước qua đầu thế kỷ XIX v.v .. nhưng phải đợi năm 1813 yên chí đi sứ Tầu về, và phải đợi năm 1813 hoặc sau 1813 tâm thần bình tĩnh, thấy xa hiểu rộng một năm dài khi ngồi thuyền khi ngồi võng hay chạy ngựa suốt một năm dài bận đi như bận về, mắt ngắm tai nghe đủ mọi cảnh đẹp việc hay của nước lớn Trung Hoa, đến đây tôi không quyết đoán phải đúng năm 1813, nhưng cũng lối năm ấy, và một bằng chứng khác, xét theo lối chơi cổ ngoạn, tôi đã gặp và làm chủ một bộ chén trà niên hiệu để năm Giáp tý (1804) là năm đi sứ sang Tàu của một văn nhân trong Nam là Trịnh Hoài Đức có miếu thờ trong Chợ Lớn.

Và xin cho tôi được dài dòng kể lại đây, tuy đã có nhiều sách dẫn giải trước và theo như tôi hiểu nông cạn lấy tỷ dụ không khác giữa nhóm bình dân, ngày xưa nước Tàu rộng lớn bao la, đối với các nước nhỏ lân bang, chỉ muốn “làm người Anh Chị” đối với “hàng Em Út dưới tay” và chỉ cần “đầu hàng” là đủ, cần có dâng “cống vật” và có đi có lại, nước nhỏ nạp lễ cống: ngà voi, tê giác, sáp trắng, mật ong, quế Thanh, quế Quảng, sa nhân, đậu khấu v.v .. là đủ, rồi nước lớn hiến lại nào đồ gốm sứ có ngự bút nhà vua, bánh đúc đi, bánh sáp đáp lại và như vậy là đồng đều … và xin cho tôi kể thêm đại lược những năm đi sứ sang Tàu, theo bộ sách Bang Giao (không kể rành chi tiết) và duy nhờ mò lần theo các cổ sứ mua được mà tôi rõ như sau:

– Năm 1802, chúa Nguyễn Ánh, tuy tức vị nhưng chưa có sắc của Thanh triều ban cấp thì chưa đủ uy tín cho dân thờ, tuy đã sai quan Thượng thơ Binh bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt – lấy lẽ nam là An Nam, Việt là Việt Thường. Nhưng sứ bộ nầy bị nhà Thanh hỏi khó, sứ bộ không đáp được cho nên có sứ bộ khác do Trịnh Hoài Đức cầm đầu sang tiếp, Hoài Đức gốc người Phước Kiến và mẹ là người Việt, ứng đáp suôn sẻ rằng: “nước nhỏ dám đâu xúc phạm thượng quốc, duy “hiện Bắc hữu Thăng Long, Nam hữu Gia Định, nay đã qui nhứt thống, nên chọn đế hiệu “Gia Long”, chữ “Long” không tiếm chữ của tiên đế Kiền Long, chữ “Gia” lại không cố ý chọn chữ của đức kiêm thượng tại ngự, và được chấp nhận. Duy đến hai chữ Nam Việt, lại bị bắt lỗi sái văn phạm và lấy nhẹ tỷ dụ “dư chi phu, dư chi thê”, đành dùng hai chữ Việt Nam cho xong việc. Tôi vốn dốt nát duy nghe người rành nói lại có lẽ người Tàu chiết tự và tránh nhắc lại danh hiệu cổ Nam Việt của cổ thời Triệu Đà hay chăng?

Nhơn tiện tôi xin nhắc lại đây sứ bộ Trịnh Hoài Đức chuyến về có mang về bộ chén trà ba quân một tống đề niên hiệu “Giáp tý niên chế” dương lịch 1804, có câu thi:

“Thúy sắc du xuân noãn, kiên tâm nại tuế hàn” (tôi dịch lẹ cho mau: ngày nay đạp xuân hưởng sắc thúy, đầm ấm; Xin đừng quên cảnh lòng bền năm lạnh). Cũng trong năm 1804 nầy có một sứ bộ khác do Lê Bá Phẩm cầm đầu (V.N.S.L. trang 419 có kể), nhưng tôi chưa gặp và bắt được món sứ nào.

– Năm Mậu Thìn (1808) tôi may mắn có mua được một chén quân uống trà duy nhứt, vẽ san thủy thật khéo nhưng không một câu thi nào, theo tôi, đây là chén sứ của võ quan dùng, niên hiệu đủ bốn chữ “Mậu thìn niên chế”.

– Hai năm, Kỷ tỵ (1809) và năm Canh ngọ (1810) tôi có gặp và mua lên hai cái tô lành lẻ tuyệt khéo, hai tô nầy tôi đã tả tỷ mỷ trong bản thảo số 8 “Những đồ sứ đi sứ mang về” (Les bleus d’ambassade) sách đang in và xin miễn viết lại đây.

– Theo một quyển đã in dày 239 trang khổ 13×23 tác giả là Nguyễn Lộc xuất bản tại Đà Nẵng năm 1986, có kể và tôi tóm tắt đại lược, thì:

– Năm Quí dậu (1813) đến năm Quí dậu (1993) nầy là đúng 180 năm, thì sứ đoàn chính là do Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều làm chánh sứ đem về bộ chén trà Mai Hạc, và theo tôi 1813 là móc chứng nhận năm sáng tác của truyện Kiều.

Trong quyển của Phủ đặc trách văn hóa thời Ông Diệm in tại Sài Gòn năm 1968, sách nầy dịch lại theo bộ Bang Giao của bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, sách chữ Hán nầy lớn rộng mà không để lại chi tiết nào, tôi đành theo Nguyễn Lộc thì:

– Năm Quí dậu (1813) sứ đoàn đi nạp cống cho Thanh triều, gồm:

– Chánh sứ: Nguyễn Du, Cần chánh điện đại học sĩ,

– Phó sứ: Trần Văn Đại, Lại bộ thiêm sự;

– Bồi sứ: Nguyễn Văn Phong, Lễ bộ thiêm sự.

– Cuộc hành trình. Lên đường, khởi đi từ Phú Xuân, giữa tháng 2 âm lịch. Trung tuần tháng 4 mới tới Thăng Long. Nay xin cho tôi mạn phép gọi chánh sứ tắt là Du cho gọn viết: mấy năm về trước Du đã gặp và thăm Nguyễn Để, nay gặp lại vẫn nhìn không ra và không nhìn được các dấu cũ. Nào xưa là đài các thì nay là lộ là đường. Cố cung nay đã bị một bức tường chia làm đôi, cắt đứt cung và điện cũ. Bạn bè lớp xưa nay có người đã thay hai thứ tóc, kẻ nữa lụm cụm già nua quá tuổi, bơ phờ hoặc ngu ngơ. Phái cầm ca con hát, nào ngờ giới phấn son, quần thao lại đổi sắc quá mau. Đúng hệt câu dâu biển thay nhiều, tang thương cũng lắm. Không trách triều đại nhà Tây Sơn như đã nói, phát như điện mà cũng tàn lẹ như ánh sét thình lình.

– Ngày 6 tháng 5, đến cửa Nam quan (Quỉ môn quan) (tên nghe ghê sợ thế nào). Rồi đến Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây. Sứ đoàn bỏ đường bộ sang qua đường thủy, bình bồng trên thuyền chèo chống qua nhiều nơi chưa từng mắt thấy và thường đọc tên trong sách: Thương Ngô, Quế Lâm, Tuyền Châu (Phước Kiến), Trường Sa, Nhạc Dương v.v ..

Khi thuyền đến Hán Khẩu, lại phải trở lên đường bộ trực chỉ Bắc Kinh. Quả là một con đường nhiêu khê man mác, Du bắt nhớ lại các di tích đã từng đọc trải qua sử sách đã từng nghiên cứu, nay Du sống lại bằng mắt thấy tai nghe, khiến ôn cố tri tân, nặng lòng hoài cựu, chạnh lòng thương cho cuộc đời từ phong kiến đến hiện đại, quá mau, của Trung Quốc cổ thời và của nước nhà hiện nay, than ôi, “ … trải qua một cuộc bể dâu … “, Lê tàn, Trịnh mạt, nay Du nầy lại phải gượng gạo phù tá triều đại mới, và nhờ có cuộc đi sứ nầy mới rõ được ý nghĩa câu “bất quá cao sơn, bất tri thiên cao”, Du vả chăng là người nhớ dai hiểu rộng, nay được đặt bước vào Vị, Hoài, Tầm Dương, Động Đình, Nhạc Dương Lâu, Hoàng Hạc Lâu … Mịch La là đâu, rồi nào Hàn Tín, Dương quí phi, Kinh Kha, Lạng Tương Như, núm mồ Đỗ Phủ, núm mồ Tỷ Can, mộ lăng Tây Sở Bá Vương, mộ Liễu Hạ Huệ, Đồng tước đài, hồ Tam Giang, Ngũ Hổ, miếu Nhạc Võ mục (Nhạc Phi), tượng Tần Cối và vợ là Vương thị, bị hình phạt và dân ném đá tượng đã bị chôn vùi … Ngày lên tới Bắc Kinh là ngày 29 tháng 10 kể theo dương lịch là 1813, lễ nạp cống đã xong, được chầu vua Thanh đủ lễ, tạ từ Thanh quốc trở về đất mẹ, chuyến nầy lại không noi theo con đường đã trải và để đổi qua đường mới, noi theo Đức Châu, Từ Châu, Tiền Sơn, Hoàng Mai, Quảng Tế … và khi đến Hán khẩu lại xuống thuyền trở về nước, duyên may đã khéo gặp và đã làm được hai việc đáng kể như sau.

1. Việc tuân lịnh đức vua, đặt chế cho lò sứ tỉnh Giang Tây một bộ chén trà, có đủ dĩa dầm (dĩa nhỏ chứa chén pha trà), dĩa bàn (dĩa lớn chứa chén uống trà, một chén tống (do tướng nói trại, để pha), và bốn chén quân cũng gọi chén tốt (sĩ tốt), duy giữ theo phong tục Huế thì chỉ dùng ba chén (tam quân), và vẽ tích Mai Hạc, với câu lục bát nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, Hạc là người xưa”. Tiện đây xin nói nhà có giữ một bộ Mai Hạc gồm ba chén quân có thơ nôm kế đây và một chén lại đề câu Hán “Hàn mai xuân tín tảo, tiên hạc tháo vi đầu”, và xin ghi rõ bộ chén nầy nhơn đào mộ lăng Hoàng Công Lý bị xử trảm dưới thời Tổng trấn Tả quân Lê, và xin nhìn nhận bộ chén nầy có thể dùng làm mẫu cho chén Mai Hạc chánh hiệu, chớ ngày nay có rất nhiều bộ Mai Hạc, tôi biết thêm hai câu: “Thả liễm xung thiên vỏ, Vi khán Lĩnh Nam chi” và nhiều bộ Mai Hạc thơ nôm, nhưng chữ “Cũ” (bạn cũ) khi viết đơn, chữ Nhựt gạch một nét, đã qua, và chữ “Nhựt”,

viết kép kềm chữ “cựu” v.v .. theo tôi, thảy đều làm sau 1813 hoặc là tân tạo, khách ham chơi đồ cổ phải đề phòng. Lại nữa hai câu 6 – 8 nôm, thợ lò sứ Tàu khi viết làm bốn hàng, khi viết làm hai hàng 5 chữ và hai hàng 2 chữ, hóa như thơ thất ngôn, tôi đã tốn rất nhiều tiền mua sắm gần trọn bộ môn, kế bị người trong nhà trộm cắp mà tôi không khai báo, lấy theo lời nghiêm thân đã dạy: “nhân phi ngãi bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”.

2. Một việc khác, quan trọng hơn nhiều và thuộc về văn hóa nước nhà và thú riêng chơi sách, là chánh sứ Du đã bắt gặp và may mắn cho nước Việt ta quá, là người đã mua được bộ sách Hán “Thanh tâm tài nhân”, việc nầy tôi đã nói rồi nhưng xin cho tôi nhại lại, và thưa với Lê Thành Khôi và tác giả quá cố bộ V.N.S.L. rán theo tôi, nói “truyện Kiều có từ năm 1802, đời Gia Long nguyên niên, nói làm vậy là nói vắn tắt cho gọn và cho được việc, còn tò mò như tôi, dựa theo nghề khảo cổ, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802, tâm thần đang loạn rối, có một cha chức Tham tụng triều Lê cũ, một anh là sủng thần chúa Sâm, trong hàng anh và em khác, kẻ theo Tây Sơn cũng chết, kẻ chống lại cũng bị giết, bản thân Du chạy theo vua Chiêu Thống thì vua đã bỏ chạy xa vời không theo kịp, ở lại thì tiêu tan sự nghiệp dòng họ, bản thân chứng kiến cảnh rùng rợn khoa bảng kẻ vào tù kẻ bị đánh đòn. Tôi không dám giẹ hẹm, chỉ nhớ Du phải đợi buổi đi sứ trở về, như con cá thia thia được ngon nước, lên sắc, phình xòe, phùng mang đá bóng, chừng ấy mới trực nhớ cảnh binh Tây Sơn khi ra Bắc cũng ngồi nghe hát cô đầu, Hồ Tôn Hiến, Từ Hải mới hiện và hiển hiện dưới ngọn bút xuất kỳ, để lại: “Giờ ra thay bực … ” “Tức gan muốn đạp” “thân lươn bao quản”, “phòng khi nước đã”, “sớm khuya khăn mặc”, “than sao thân đến”, v.v .. và v.v .. , tôi sao nhớ cho đủ? Theo tôi hiểu riêng, bao nhiêu ý thâm, bao nhiêu câu nắn nặn tình tứ, phải có rơi nước mắt thật nhiều mới xét nghĩ ra, và tiện đây xin nói liền, đừng viết và nói vua Tự Đức không thích và ghét Du câu “Thì con người ấy, ai cầu làm chi?”, câu nầy khi Du viết thì vua chưa sanh, làm sao ghét được? Viết đến đây, bỗng giựt mình, tôi đã làm chướng mắt độc giả không ít, với những lời bàn thừa thãi, nay xin trở lại tình cảnh người bạn nhỏ đang bị giam cầm cũng vì tội ham mê đổi chác đồ cổ và tưởng lượng trên xin khoan hồng, tôi rất tin, tuy không là dị đoan, nhưng tôi tin đồ cổ rất linh và vẫn có cô hồn, tôi bị trộm, đi thưa chưa chắc gì kiếm lại được, thà phí phà cho nhẹ bớt lòng lo, còn chú bạn nhỏ nầy, cũng nên tha cho về và trả lại các vật đã thâu. Cổ vật, cổ ngoạn, trừ những vật thuộc loại quốc dụng, loại thuộc sử liệu quí hiếm, thì xin cứ việc cho dân chơi líp (libre) miễn đừng thầm kín bán ra ngoại bang, hoặc như muốn bán, thì nên bán cho viện bảo tàng trả đúng giá giữ làm mẫu, hay là trình viện bảo tàng cho người lão luyện xem xét và cho giấy chứng nhận bán ra y như ở Paris, lúc tôi qua đó và đã chứng kiến tận mắt. Tôi đã thấy áp dụng quyền thâu lại cho viện bảo tàng chờ đấu giá và đến giá cao chót, viện sẽ mua lên, không thiệt hại cho người bán, đó là luật pháp gọi “droit de préhension” và một luật nữa là droit de priorité là quyền mua trước tiên sau khi viện thương lượng và thuận tình với người chủ bán.

Tạm kết luận.

Nhơn năm ni là năm Quí dậu 1993 cũng gần hết, với tuổi 92, như con cáo già sắp trở đầu về núi, chưa biết đó là ngày nào, xin nhắc lại vài quí dậu, cớ sau việc biến chuyển như con chong chóng, các bạn trẻ người nào chưa ra nước ngoài, nghe tôi kể đây cũng “lời quê chắp nhặt” đọc ngày xuân đỡ buồn.

Năm Quí dậu 1813, Nguyễn Du gặp sách hay, nghĩ ra và viết truyện Kiều, tôi xin chừa cho người cao kiến xét lại. Năm Quí dậu 1873, cái hoa niên 60 năm ấy sao mà quá sôi nổi? Năm 1862, ba tỉnh miền Đông trong Nam bị Tây lấy; năm 1867, Phan Thanh Giản tự uống á phiện lấy sự liều mình để cho nhà vua giừ tròn chữ Hiếu, con nhà học trò giữ đạo Khổng Mạnh làm vậy, còn hàng quan võ thì Nguyễn Tri Phương, Trương Định, kẻ moi ruột kẻ tự bắn hay cắt cổ cho tròn chữ Trung, Hoàng Diệu tự treo cổ, năm 1874, hiệp ước triều Huế ký với Pháp nhưng cớ sao nhà cầm quyền Pháp lụi đụi nấu chảy ấn bạc của nhà Thanh và không biết gởi trả ấn ấy cho Trung Quốc tự liệu, chắng là cao kế hơn chăng?

Và đến năm Quí dậu 1993 còn mấy tháng cũng hết, sao xảy ra đó đây lắm chuyện động trời, sụp đất, lũ lụt, chết người, tôi xin để độc giả chiêm nghiệm lấy. Ngồi buồn, lấy ra quyển sách Pháp nhan đề là “Trois siècles de ventes publiques” (Ba thế kỷ bán công khai cổ vật quí, tác giả là Beurdeley có qua đây và có ghé nhà, thuật lại rằng: “có một chén nhỏ có chưn (coupe), bề cao chỉ độ bảy phân bảy ly thước Tây (7,7cm), hiệu đề “Thành Hóa” (1465 – 1487), vẽ vời hoa dây xanh đỏ, trước kia năm 1937 một người tên là Pairfax xuất tiền mua giá 28 guinées (hai mươi tám bạc vụn nước Ăng lê, và vào ngày 25-11-1980, đưa ra bán đấu giá thâu được 4.200.000 HK $, tức bốn triệu hai trăm ngàn đô la Hồng Kông, tương đương 4.800.000 francs lourds Pháp (bốn triệu tám trăm quan nặng của Pháp), trang 205 sách đã dẫn, món ấy số 198 có in ảnh, tôi chép lại câu sách Pháp:

“Petite coupe à vin, dite stemcoup, en émaux doucat ét bleu sous couverte, avec marque Chenghua (1465 – 1487), au revers. Achetée 28 guinées lors d’une vente en Angleterre en 1937, par un dénommé Pairfax, elle atteindra le prix des 4.200.000 HK $ (soit environ 4.800.00 F.F. (avec les frais de vente, le 25 novembre 1980, payé par un amateur indonésien”.

Porcelaine, H. 7,7 c/m, Possesseur actuel non identifié (theo sách đã dẫn).

Một cái tin quá giựt gân như vậy, hỏi có làm loạn trí người chơi cổ vật xứ nầy hay chăng. Và như vậy cổ vật cổ ngoạn đã có người đeo đuổi ham chơi, đấu giá qua lại giành giựt và chuyền tay nhau bên Âu châu đã có trên ba thế kỷ.

(viết ngày 28-5-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Bài 40

Trong rừng

Trước khi mặt trời lặn, tôi vội vã tiến sâu vào rừng, vừa bơi, vừa đi vì ở đây vẫn còn lớp bùn cứ muốn hút lấy người ta. Nước vào rất sâu trong rừng, và đêm đã xuống, mà người tôi vẫn chưa khô. Một mùi thối úng sộc vào mũi tôi và thán khí bốc lên làm tôi bị cay mắt. Chân tôi ngập đầy cỏ và lá cây. Tôi vẫn đẩy cái bao tải của tôi. Mỗi lần tiến một bước, tôi lại lấy bàn chân dò khoảng đất ở dưới nước, chỉ khi nào không thấy đất lún, tôi mới bước lên.
Tôi qua đêm đầu tiên trên một cây to. Rất nhiều con thú đi phía dưới tôi. Cả người tôi nóng hừng hực và như bị chín khắp nơi. Sau khi kéo bao tải lên thân cây và buộc chắc hai đầu vào cây, tôi lấy áo va-rơi ra mặc. Trong bao tải là nguồn sống, vì chỉ bổ dừa là tôi có cái ăn để lấy sức chịu đựng. Tôi buộc con dao phát vào cổ tay phải của tôi. Tôi nằm dài trên cây, người mệt lả, giữa hai cành cây tạo thành cái hốc, và tôi ngủ thiếp đi không kịp nghĩ đến bất cứ việc gì. Không, có lẽ tôi còn lẩm bẩm hai ba lần: “Tội nghiệp cho Sylvain” trước khi ngủ như chết.
Tiếng chim đã đánh thức tôi dậy. Nắng chiếu xiên ngang rất sâu vào rừng: Vậy thì bây giờ phải là bảy tám giờ sáng. Xung quanh tôi toàn là nước; vậy là nước thủy triều đang lên. Có thể là đợt nước lên lần thứ mười đang chấm dứt.
Tôi rời đảo Quỷ đã được sáu mươi giờ. Tôi không nhận ra chỗ tôi có ở xa biển không. Dù sao tôi cũng phải chờ cho nước rút để ra bờ biển hong cho khô người và tắm nắng. Tôi không còn nước ngọt. Tôi ăn nốt ba miếng cùi dừa còn lại rất ngon lành, tôi lấy dừa xoa lên các chỗ đau. Cùi dừa có chất dầu, làm dịu các vết bỏng của tôi. Rồi tôi hút hai điếu thuốc. Tôi lại nghĩ đến Sylvain lần này còn xót xa hơn. Trước hết, đáng lẽ tôi không nên rủ bạn cùng vượt ngục thì hơn? Vì tôi vẫn có tham vọng tự mình xoay xở lấy. Nếu vậy, sẽ không có gì thay đổi, chỉ có điều là một nỗi buồn mênh mông làm tim tôi thắt lại và tôi nhắm nghiền hai mắt, tưởng chừng làm như thế tôi sẽ không còn trông thấy cảnh bạn tôi sa lầy nữa. Đối với anh, thế là hết. 
Tôi đã nhét chắc bao tải vào chạc cây, bắt đầu lấy trái dừa ra. Tôi lột vỏ được hai trái bằng lấy hết sức đập mạnh dừa vào thân cây giữa hai chân tôi. Phải đập ở khoảng đầu trái dừa mới bửa nó ra được. Dùng dao phạt càng tốt. Tôi ăn cả một trái dừa tươi và uống chút nước dừa ngọt lịm. Nước rút rất nhanh, và chỉ lát sau tôi đã có thể dễ dàng đi trên bùn để ra bãi biển. 
Ánh nắng thật rạng rỡ, và hôm nay biển đẹp không lấy gì so sánh nổi. Tôi nhìn mãi về nơi mà tôi cho là Sylvain đã chìm xuống. Quần áo tôi đã khô, người tôi sau khi được kỳ cọ ở một hố nước mặn cũng đã khô. Hút xong một điếu thuốc, tôi nhìn lần cuối nơi đã chôn vùi bạn tôi, rồi đi vào rừng, bước không khó khăn lắm. Bao tải trên vai, tôi từ từ đi sâu vào lùm cây. Sau hai giờ, tôi thấy một khoảng đất mà nước không bao giờ tới. Dưới gốc cây, không có một vết tích gì chứng tỏ nước thủy triều tràn vào tận đây. Tôi sẽ cắm lại đây để nghỉ hẳn hai mươi bốn giờ. Tôi bổ dần các trái dừa, nạo cùi và cho tất cả vào xắc đề khi muốn là ăn được ngay. Tôi có thể châm lửa, nhưng tôi nghĩ làm như vậy là không thận trọng.
Phần còn lại của ngày và đêm hôm đó đã trôi qua vô sự Tiếng chim ồn ào đã đánh thức tôi dậy. Tôi nạo nốt cùi dừa rồi đi về hướng đông, vai mang xắc. 
Khoảng ba giờ chiều, tôi thấy một con đường mòn. Đây là một con đường nhỏ của những người đi kiếm balata (một thứ nhựa cây thiên nhiên) hoặc đi khai thác gỗ, hoặc đi tiếp tế cho những người đi tìm vàng. Con đường hẹp nhưng quang đãng, không có những cành cây chắn ngang, nghĩa là thường có người đi lại. Thỉnh thoảng lại có vết chân lừa hay la không đóng móng. Những chỗ bùn đã khô, tôi để ý thấy có vết chân người, ngón cái hằn rất rõ nét trong đất sét. Tôi đi cho đến khi trời tối, miệng nhai cùi dừa vừa để nuôi dưỡng cơ thể vừa để khỏi khát.