Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Chương 16

Ngày tháng trôi qua – lúc nầy khổ hơn – những kẻ sốt ruột nhất, tất nhiên là những người làm trong các biệt đội tệ nhất, hoàn, toàn nghi ngờ thời hạn ba tháng trứ danh, vẫn được coi như thời gian cần thiết để kết thúc chiến tranh. Câu trả lời vẫn được chờ đợi mỗi khi câu hỏi đặt ra quá chi tiết. Tự tin và không lừa bịp là thái độ cũng ngày càng khó giữ. Những thông cáo của bọn Đức đầy ngạo, mạn, và hàng ngày không quên nhắc nhở Luân-đôn bị chìm ngập dưới hỏa tiễn V1 1. Người ta đã không tin hay tin rất it, nhưng giọt nước rơi đều cũng làm thương tổn chất liệu cứng rắn nhất. Từ khi chiếm được Varsovie, quân Nga đã dừng lại. Tháng 8 đã đến và chỉ có oanh tạc mà thôi. Ngoại trừ các chuyến tàu đến trễ, kết quả của chiến lược nầy không thấy được trong diễn biến của tình thế, và người ta không biết trọng lượng chính xác của nó là bao nhiêu trên cán cân lượng giá sự bại trận của Đức. Và quần chúng thì đầy phụ nữ tính. Tập thể đó bao bọc chúng tôi, và đã bắt đầu quá quen với các tin hấp dẫn từ mấy tuần qua, muốn thấy một cuộc tiến quân thêm vài cây số và một thành phố được chiếm lại. Cuộc mưu sát Hitler sưởi ấm được tâm trí họ và họ từ chối dữ dội các lời nói thật. Nếu không ai loan báo gì, họ sẵn sàng nghe theo các tin thất thiệt.

May mắn cho những kẻ tuyệt vọng. Marcel đã đến bổ túc cho tình trạng thiếu kém tin tức của chúng tôi. Không phải là anh ta mang lại những tin tức chính xác gì, nhưng anh là loại người mà lời nói được tin ngay. Anh kể lại cuộc đời thanh niên đầy sứ mạng đặc biệt của mình, và vì mỗi người tin rằng biết được một bí mật đặc biệt, ai ai cũng ngưỡng mộ anh ngay. André và tôi, chúng tôi là những người đầu tiên theo dõi sự cảm phục tổng quát, vì nhờ thế chúng tôi có thể nghỉ ngơi và đổi hướng một sự chú ý bắt đầu có vẻ nặng nề vậy thì, “đến 15 tháng 10, Churchill sẽ có mặt ở Bá-linh”. Marcel còn giữ một mẩu tờ báo trong đó có ghi rằng ông Thủ Tướng Anh đã đảm bảo ngày tháng đó với viên xử lý tòa Đại sứ Mễ Tây Cơ tại Luân-đôn, trong một cuộc tiếp xúc ngay sau hôm quau Đồng Minh đổ bộ. Và anh ta tin tưởng việc đó một cách sắt đá. Churchill là thần tượng của anh ta và mặc dù Marcel là Đại úy Hải quân, mọi sự ngờ vực Anh quốc, ý tưởng lưu truyền của Hải quân Pháp, đã biến mất, trong anh. Điều nầy dễ hiểu. Năm 1940 anh ở Luân-đôn, chấm dứt một khóa huấn luyện về Hải quân, dưới các trận mưa bom của không lực Đức, và bây giờ anh nói Anh ngữ giỏi như tiếng mẹ đẻ, cùng vởí một số người Pháp yêu nước khác, anh đã chịu đựng cuộc huấn luyện gian khổ để trở thành biệt kích đổ bộ. Với một thanh niên 20 tuổi, thật đáng chú ý! Như thế, tất cả những gì thuộc về quê hương thứ hai của anh đều có tính cách thiêng liêng.

Marcel kể các con số, các cuộc mạo hiểm trên bể. Anh đã đi theo nhiều chuyến công-voa, trước hết là trên Đại Tây Dương, Bắc hải cho đến Mourmansk. Anh đã toát mồ hôi một lần vì tàu ngầm của Đô Đốc Doenitz, nhưng không có gì làm giảm được niềm tin của anh. Anh có giọng chí thành đến nỗi trở thành thần tượng của mọi người. Và vì anh ta còn đi xa hơn cả những người lạc quan, người ta khai thác anh, bắt anh lặp lại các lời dự đoán. Cùng với André, chúng tôi không ngớt nhấn mạnh rằng chính chúng tôi đã khám phá ra anh ta. Chỉ nhờ một sự tình cờ: chúng tôi đưa vật liệu cho một toán làm việc trong đường hầm. André đưa tôi đi qua công trường, vừa đi vừa kể những ngày đầu tiên ở trại tập trung:

– Cả một vùng rộng lớn toàn lúa mì. Chúng tôi gồm có năm trăm người, những người đầu tiên, để xây dựng trại Ellrich. Những xe vận tải nhỏ đưa chúng tôi lại đây. Lúc đó là tháng tư, ngày thứ hai đúng lễ Phục sinh. Vì là công tác khởi đầu, chúng tôi phải phân tán trong cánh đồng mênh mông và dẫm chân lên lúa bằng thích, có nhiều xe ủi đến tiếp sức để hoàn tất công việc phá hoại, và quang cảnh nầy đối với tôi là cảnh đẹp nhất của thời đại điên khùng mà chúng ta đang sống. Tại nhà ga Wofleben, các toa xe vật liệu đang chờ. Từ đó như anh thấy, công cuộc xây cất không hề ngừng nghỉ. Nhiều con đường được phóng thêm, con sông uốn khúc theo triền núi có thể làm cản trở cho việc đào hầm, đã bị đổi dòng, và trong cả một góc trời, cái gì có vẻ xinh tươi đều đã bị chúng biến thành địa ngục.

Càng đến gần các đường hầm, tiếng động càng chát chúa. Họ đứng cách nhau chừng mười thước, và một đường sắt giúp cho những toa xe mang đá ra ngoài. Hầm càng được đào sâu, đường sắt cần nối dài thêm và toán bắt điện chúng tôi phải điều chỉnh đường dây để họ có ánh sáng làm việc. Ngay lối vào, một cơn lạnh ẩm ướt bao phủ lấy người, và bên trong toàn bụi xám, mịn như bột gạo, phủ khắp mọi vật. Bóng tối chỉ được soi thủng bởi vài ngọn đèn tù mù như các ngọn đèn bão. Người ta chỉ đặt ánh sáng thật sự cho những người thợ dân sự Đức, mỗi khi đường hầm hoàn tất, đến thiết trí các nhà máy. Kẻ nào rủi ro rơi vào toán đào hầm sẽ có bộ mặt như thây ma của loại nhân công làm việc lâu ngày dưới đất; họ chỉ làm tám giờ, nhưng họ thích làm mười sáu giờ ở chỗ khác hơn, nhất là họ phải làm việc luân phiên ngày đêm. Nguy hiểm nhất là các vụ nổ mìn để sửa soạn cho việc nới sâu đường hầm thêm vào phía lòng núi. Đường hầm được để trống bằng cách di tản mọi người ra ngoài một chốc, nhưng nếu một ngòi mìn không nổ, một tù nhân phải vào xem lại, và thường thường bạn bè người nầy phải lượm lại các mảnh thịt xương bắn vung vãi chung với đá vụn. Các vụ hầm sụp xảy ra luôn, nhưng vì không có một biện pháp an toàn nào, bọn nhân viên dân sự chỉ vào kiểm soát ít phút trong một ngày.

Khi chúng tôi tiến vào hầm với André, các bạn chúng tôi đang căng đường dây. Tự nhiên, tôi nhìn lên trần hầm, bởi vì có nước rơi xuống. Trong tiếng huyên náo đáng sợ” – những tù khổ sai làm công việc chất đá lên các toa xe nhỏ. Toán đào hầm không thấy được vì một lớp bụi dày bao phủ lấy họ. Rất nhiều thiếu niên làm việc trong cái lò nầy.” Ở Dora cũng như vậy, André lưu ý tôi, vì anh ta cũng đã từng nếm mùi vị chế độ lao tác nầy rồi trước khi trở thành thợ điện nhờ biết tiếng Đức. Chúng tôi biết là thứ ngôn ngữ nầy là cứu tinh tối hậu của chúng tôi. Nếu không có nó, ngoại trừ có phương tiện đặc biệt, thì tai hại cũng như câm điếc, và phải cam tâm làm tất cả các công việc nhọc nhằn. Trong một dãy trại nằm trước miệng hầm, dùng làm văn phòng của nhân viên dân sự. André phải đặt một chỗ cắm điện. Tôi đi theo anh ta, nhiệm vụ tôi đã xong và chúng tôi gặp một tù nhân làm chúng tôi ngạc nhiên vì bộ áo quần còn tốt của anh ta và nhất là vì chữ anh ta mang trên ngực:

– Kia, những người Pháp! – Anh ta kêu lên. – Thật vui thú khi thấy các anh trốn việc được, chỉ một số ít thôi đấy nhé. Tôi tên là Marcel, tôi từ Dora đến đã sáu ngày nay và tôi làm việc tại phòng họa đồ. Tất nhiên là nhờ nói được tiếng Đức.

Anh ta cũng là một người tốt số, suốt ngày ở với một viên kỹ sư vẽ các họa đồ. Thỉnh thoảng anh ta hút nguyên một điếu thuốc, có một cô thư ký đánh máy, quả là xinh, làm việc gần anh. Đó là một trong các mâu thuẫn của các trại tập trung. Vì không quen biết ai, chúng tôi lập tức mời anh ta đến nhập bọn lúc tập họp vào buổi tối, và tại đó, anh chinh phục được mọi người vì vẻ lạc quan và tính ưa kết bạn của anh, nhất là vì anh cho họ hút một cách quảng đại trong khi giá cả thuốc lá không ngớt tăng thêm.

Tuy nhiên các biến chuyển của tình hình dường như xác nhận anh ta có lý. Qua báo chí cũng như qua các buổi phát thanh mà André nghe được, chúng tôi được biết vụ Arranches, cuộc tiến quân đến Reunes, vụ bao vây vùng Bretagne và vụ khởi đầu tiến quân về Ba-lê. Đó là những ngày khó quên và những tù nhân lại được phép hy vọng. Mỗi thông cáo mang lại các địa danh mà dường như có sức mạnh bơm vào tim chúng tôi. Không lúc nào không tin chiến tranh sắp chấm dứt trong nay mai. Thế nhưng tại sao lại có nhận định rằng chiến tranh sẽ chấm đứt tháng 5 năm 1945 mà đài phát thanh Mạc-tư-khoa loan đi và được một người bạn Đức ở Buchenwald cho tôi biết, con số nầy cứ trở lại trong trí tôi mỗi khi tình hình có vẻ khá hơn. Tôi thích chẳng thà dừng biết gì và trong sự sung sướng của toàn thể, tôi thường rùng mình nghĩ rằng chắc nó đứng quá. Đúng lúc đó, nhân một cuộc phân loại lại, tôi rời khỏi khối số 3 để cùng với cả biệt đội di chuyển qua khối số 7. Marcel cũng đã có thể làm như thế và chúng tôi tìm cách nằm gần nhau để có thể tiếp tục các câu chuyện được đề cập trên sân ga, nhưng một cách chi tiết hơn. Và rồi chúng tôi trao đổi các kỷ niệm cũ. Chuyện của anh nhiều khi rất cảm động vì anh biết vận dụng yến tố tình cảm, chỉ riêng trong câu chuyện về Anh quốc, về tổ tiên của anh, tất cả đều ở trong hải quân, Tất nhiên bao giờ anh cũng trở lại câu chuyện thời gian sống ở Luân-đôn và anh bày tỏ sự ngưững mộ Tưởng De Gaulle.

– Tôi đến đó ngày 18 tháng 6, tất cả phong trào Pháp quốc tự do có mặt ở đó, trong hai gian phòng khách sạn. Một trong hai gian để một chiếc bàn, một cuốn tập và một giá đựng viết. Một tùy phái có nhiệm vụ ghi tên những người tình nguyện, Ngày đầu tiên có 300, chụp hình chung, ông Tướng nói vài lời rồi bắt tay mỗi người. Đó là lịch sử và dù không nhiều, chúng tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ chuyện gì. Mỗi người theo ngành chuyên môn, vì phải học hỏi phương pháp mới để tái chiếm Pháp quốc. Chúng tôi ở trong các đơn vị huấn luyện đặc biệt với thanh niên thuộc đủ loại quốc tịch… Năm 1943, người ta yêu cầu một số tình nguyện cho công tác phá hoại trên lực địa. Đó là các cuộc mạo hiểm và một tương lai vô định, nhưng có rất nhiều ứng viên: Ba Lan, Nga, Bỉ, Pháp và cả Đức nữa, tất nhiên là chống Quốc Xã. Chúng tôi được thả dù xuống xứ mình. Cuộc khởi hành được tổ chức trong đêm nhưng những giờ trước đó chắc chắn là những giờ phút đẹp nhất trong đời. Thời gian tượng trưng cho niềm khích lệ tột độ, trong đó người ta cảm thấy tình anh em thật sự. Chúng tôi chỉ biết nhau qua họ của mỗi người, có những Peter, Hans, Stanislas, Georges. Không cần nói lúc lên tàu bay, ai ai cũng ứa nước mắt. Chúng tôi hẹn gặp nhau trong tất cả các quán rượu ở Âu châu sau chiến tranh, nhưng đó chỉ là để đè nén mối xúc cảm và ai cũng biết là không bao giờ còn gặp lại nhau nữa… Đó là các nhân viên được thả dù và tính theo tỷ lệ, thì số lượng mất mát lên cao nhất, và trước sau gì mọi người cũng sẽ bị bắt. Số phận của tôi còn khá, đa số đồng bạn đã bị xử tử hình.

Lửa thiêng vẫn còn nơi anh, không lay chuyển được, và anh nóng lòng ra khỏi trại không phải để được ăn uống ngấu nghiến hay nghỉ ngơi, nhưng để chiến đấu, lần nầy chống Nhật Bổn.Tôi không muốn tranh luận với anh và nhất là khi anh có thái độ thành khẩn như thế, tuy nhiên Paco, đôi khi đến họp mặt với chúng tôi, bày tỏ quan điểm trái ngược, mặc dù vậy Marcel cũng không có vẻ gì bị lung lạc. Suy cho cùng cuộc nói chuyện của chúng tôi cũng chỉ là một phương cách đưa tinh thần và các mối ưu tư ra khỏi lãnh vực các điều kiện sống vật chất hiện tại càng ngày càng nhọc nhằn.

Trong thực tế, khối chúng tôi ở, mỗi đêm, lại bày ra cảnh sống cơ cực. Vì thiếu chỗ, chúng tôi chồng chất lên nhau như cá hộp, hiểu theo nghĩa đen, và thật là một bài toàn vỡ óc khi muốn kiếm một góc để nằm. Trong số 700 người chúng tôi. 200 phải nằm đất giữa hai dãy giường chồng lên nhau, và vấn đề là đứng lọt vào trong số 200 người đó. Khi giờ ngủ được loan báo, một nhân viên cầm gậy lùa ba người vào một giường và khi tất cả giường ngủ đều đầy, lúc đó số người còn lại phải nằm đất. Không phải vì ích kỹ mà Marcel với tôi lợi dụng vị thế công trường đã chiếm một giường, nhưng nếu là ba người thì quả thật là một cực hình, vả chăng đưa thêm một người nằm đất lên với chúng tôi cũng không phải là một sự giúp đỡ lớn lao gì.

Hơn nữa họ cũng có đệm rơm, điều bất tiện cho họ là bị gió luồng, bụi và tất cả những gì có thể từ các giường trên rơi xuống. Lại còn vấn đề chăn mền: một chiếc cho hai hay ba người. Số mền lại không đủ cho tất cả mọi người và rủi ro nhất là những kẻ bị kéo mất mền khi đèn mới tắt. Tuy nhiên trong suốt thời kỳ ấy, tổng quát, những bất tiện đó không đáng kể, bởi vì đã có cái khác an ủi; trời đẹp, tin tức tuyệt diệu, và qua tất cả mọi ngôn ngữ trong trại cũng như ngoài công trường, ai ai cũng nghe nói đến tên thành phố Ba-lê. Hình như Đồng Minh đã tiến đến ngưỡng cửa thủ đô và có thể nói đó là một biến cố đặc biệt trong số các biến cố khác, không những chỉ thuần túy về mặt quân sự, nhưng hơn thế nữa, một cái gì thuộc về tình cảm.

Ngày 20 tháng 8, các trận đánh trên đường phố được loan báo bằng tít lớn trên báo làm chúng tôi lo sợ. Tất nhiên là Ba-Lê có những dấu vết đáng hổ thẹn: các khu nhà ổ chuột, khu đĩ điếm, nhưng ở đấy cũng có nào là bảo tàng viện, đài kỷ niệm, công viên, các đại lộ xinh đẹp và tất cả danh tiếng của lịch sử hàng ngàn năm, vì ngay trong trường hợp không ở đấy, người ta cũng có thể đi dạo trong thành phố như thường. Luân-đôn, Varsovie, Rotterdam, Bá-linh, nhiều thủ đô khác đã bị ít nhiều thiệt hại vì chiến tranh, và thành thật mà nói, điều đó không làm chúng tôi quá xúc động, khi nghĩ đến chuyện vài quả bom có thể làm Ba-lê tan tành, thì đó là điều không thể quan niệm được. Chúng tôi sống trong lo sợ. Bị hủy diệt, có nghĩa là không có gì thay thế được André và tôi quả quyết là sẽ có một buổi phát thanh về cuộc tiến chiếm Ba-lê. Vừa lúc đó có một máy thu thanh cần sửa chữa trên bàn ông chủ của anh, nhưng chỉ là sửa lặt vặt không liên quan gì đến tình trạng máy cả. Hôm ấy là ngày 24 tháng 8. Ông chủ của André sẽ đi khỏi bàn giấy lúc 17 giờ. Cho đến 18 giờ, giờ tập họp, có một buổi phát thanh và nhất định phải đón nghe. Báo chí vẫn đề cập đến các trận đánh trên đường phố và còn kể ngay cả vài địa danh trong đó có khu Quartier Latin. Giữa 5 và 6 giờ, thời gian không thuận tiện vì cuối ngày, nhiều nhân viên dân sự mang báo cáo hoạt động bay giấy tờ khác về các văn phòng cùng ở trong một dãy trại, và họ thường đến gặp ông chủ của André. Tuy nhiên việc nầy có thể làm được cũng như mọi lần khác, khi cơ hội đến.

André quyết định tự để bị nhốt vào trong văn phòng từ 17 giờ bởi Guy, anh nầy có một chìa khóa được tất cả các cửa và phải giả vờ quét hành lang để che dấu vai trò canh chừng. Tôi chỉ có thể đến nhập bọn 20 phút sau. Khi tôi đến, Guy đã ở vào vị trí. Tôi mang theo Tony, Tozo và Bicot, cũng đã xong việc và mỗi người phải đứng ở một vị trí thích hợp để xem chừng có ai xuất hiện từ xa. Họ trang bị đủ loại vật liệu dụng cụ, làm như đang công tác một cách tự nhiên. Sau khi chắc chắn không có ai trông thấy, Guy mở cửa nhanh và nhốt tôi vào văn phòng cùng với André. Phòng tối om, cửa sổ đóng kín. Tận cuối phòng, tôi thấy trên một chiều cao ngang mặt bàn có một đốm sáng, đó là mắt thần của chiếc máy thu thanh, và người ta vừa nghe được một giọng nói từ phương trời đưa đưa lại. André đâu? Tôi đứng yên một lúc, không dám thở và sau cùng tôi nghe kẻ đồng mưu đứng dậy từ trong góc phòng và tiến nói với tôi:

– Khi nghe tiếng chìa khóa, tôi lùi vào góc tối nhất vì linh tính.

– Tốt, anh bắt được chưa?

– Được ngay, tôi dò được chỗ rồi nhưng họ chưa loan báo tin tức.

Chúng tôi đứng gần nhau, sát đến nỗi đầu cụng vào nhau, nhưng giọng xướng ngôn viên luôn luôn đọc một bản văn về kinh tế với các lời hứa hẹn trong thời hậu chiến, sau khi chiến thắng. Tôi nghĩ rằng chưa bao giờ tôi chưởi rủa một xướng ngôn viên đài phát thanh nhiều hơn và André cũng phụ giúp tôi. Tuy nhiên nếu trông thấy được chúng tôi y có thể nói trong phần trình bày một câu, ít ra là một câu liên quan đến Ba-lê. Lời của xướng ngôn viên, làm chúng tôi bị căng thẳng thần kinh. Nói thành thật chúng tôi sợ! Lần thứ nhất người ta có thể hành động ít mù quáng, nhưng lần thứ hai, ít nhiều ý thức về về hành động của mình hơn, chúng tôi hoàn toàn bị nguy hiểm trong hành động liều mạng. Hình ảnh những người Tiệp Khắc đu đưa nơi đầu sợi thòng lọng chợt hiện về trong trí óc André chỉ chiếc đồng hồ đặt trên bàn. Hai mươi phút đã trôi qua. Phải tắt máy ra đành chờ một dịp khác. Và rồi khi đi ra đến cửa một sức mạnh vô hình, một trực giác kỳ dị bắt chúng tôi quay trở lại. Chiếr máy được mở mau lẹ và cùng lúc chúng tôi siết tay nhau thật chặt, chúng tôi nghe mấy chữ: “Đã vào được Ba-lê anh dung”. Ai đã vào? Không cần biết, André đã tắt máy, không để mất một giây nhỏ, vì đã đến giờ tập họp. Một phản ứng sáng suốt đã kềm chế không cho chúng tôi nhảy nhót hò hét vì sung sướng. Qua lỗ khóa, ba tiếng huýt còi nhỏ báo cho Guy biết chúng tôi muốn ra. Chắc không có gì ngoài hành lang nên chúng tôi lập tức nghe tiếng chìa khóa. Một xúc động khác, khi tiếng chìa khóa xoay trong ổ, “Nếu sau cánh cửa là một tên SS hay là một nhân viên dân sự?”. Không, đó chính là Guy, anh không cần sự giải thích, khi chúng tôi nhảy lên bá cổ anh. Để đánh lạc lối về nguồn gốc của tin tức, vì không ai ngăn được những người đầu tiên được nghe chạy đi cho bọn mình hay, rồi đến lượt người nầy tiết lộ, chúng tôi quyết định để cho một nhân viên dân sự thông báo cho một đồng nghiệp và nhiều người trong bọn chúng tôi nghe được câu chuyện.

Nhưng chúng tôi không có gì phải sợ, khắp trại đâu có phải chỉ có một mình chúng tôi là có thể nghe được tin tức, và không có gì chính xác, nhưng với sức mạnh, dư luận khi đến chúng tôi đã trở thành tin Đồng Minh vượt quá Ba-lê rồi và loan báo những đoàn quân tiến rất xa về phía Đông. Dư luận ấy chỉ chậm hơn có vài giờ, vì mỗi ngày lại có tin tiến quân về phía sông Rhin và phía Bắc.

Giống như núi tuyết, tùy theo tin tức, tinh thần chúng tôi không giữ cố định, từ đầu tháng 6 cho đến giữa thánh 9, ngày giờ trôi sao nhanh quá. Khi quân Mỹ dừng lại trước Alx-la-Cha- pells, ai cũng đồng ý là cần có sự chỉnh đốn lại hàng ngũ trước khi mở cuộc tấn công cuối cùng. Mọi người đây là tù nhân vì dĩ nhiên là các nhân viên dân sự cùng làm việc với chúng tôi thì không nghĩ như thế. Một kỹ sư điện, Gustave, vẫn thường nói chuyện với tôi mỗi khi có biến cố lớn và luôn luôn trả lời mọi câu hỏi của tôi đựa trên sự kiện. Những kháng biện còn anh ta có thể làm độc giả một tờ báo hài hước buồn cười, nhưng anh ta nói với tất cả nghiêm trang, rõ ràng. Chuyện đó xảy ra rồi, trước cuộc đổ bộ không thể nào tìm được một công dân Đức tin chuyện đó có thể xẩy ra, nhưng khi cuộc đổ bộ đã được thực hiện, tuyên truyền của bọn Quốc Xã thích ứng mau lẹ với tình hình mới, Vì tôi vẫn trêu Gustave về vấn đề nầy, anh ta trả lời tôi với vẻ quan trọng:

– Bọn tài “phiệt” mạnh hơn chúng tôi về không quân và về hải quân, thế thì tại sao chúng tôi lại tự làm cho tiêu hao ở bờ biển. Bức tường Đại Tây Dương được xây dựng thật, ra là để hãm bớt cuộc đổ bộ, nhưng chúng tôi để chúng tiến thêm vào nội địa, nơi đó chúng tôi có một sức mạnh vô địch. Chẳng bao giờ chúng tiến khỏi được bán đảo Colentin.

Khi Ba-lê bị vượt qua, anh ta giãi bày với vẻ bí mật rằng để biểu dương toàn lực. 2 Von Rundstedt chỉ cần một nửa nước Pháp và từ đó người ta sẽ thấy cuộc tàn sát vô tiền khoáng hậu, vì về bộ binh, năm Sư đoàn Mỹ chưa chắc đã địch nổi được với một sư đoàn SS.

Sau cùng khi Đồng Minh tiến đến biên thùy Đức, anh ta lại xác nhận rằng từ khi bom bay V1 3 được mang ra xử dụng, vấn đề lãnh thổ không còn quan trọng nữa, và trình bày kế hoạch tối hậu của Tống hành dinh của Fuhrer:

1. Nhử các lực lượng Đồng Minh đang đồn trú tại Anh quốc tiến tối đa vào đất Pháp.

2. San bằng Luân-đôn và cả vùng phía Nam nước Anh bằng V1 và loại V2 sắp được mang ra sử dụng.

3. Trong khi bọn Anh và Mỹ bị chẻ ra từng mảnh trước phòng tuyến Siegfried, sẽ có vô số quân dù và các Sư đoàn không vận được đổ xuống nước Anh xảo quyệt.

Và anh ta kết luận:

– Đấy sẽ là sự toàn thắng của Đức quốc.

Đây là một người chấp nhận mỗi sự chiến bại, mỗi cuộc rút lui mới bằng cách dựa vào nguyên tắc, theo đó, nếu Fuhrer đã ra lệnh như vậy, chắc chắn là để nhằm mục tiêu chiến thắng tối hậu. Anh ta không tìm kiếm các lời giải thích khác. Mọi sự thất bại có thể xẩy đến cho Đức đều bị gạt bỏ dứt khoát.

Trước sự ngoan cố như thế, tôi quên mất vị thế của mình, và mất bình tĩnh

– Nhưng, tôi nói với anh ta khi được biết Aix – la – Chapelle coi như đã bị bao vây, anh có giả định rằng một khi cuộc đổ bộ thành công, ba tháng sau kẻ địch của các anh đã đến được bờ sông Rhin không? Hãy nhớ lại giọng điệu báo chí của các anh vào giữa tháng 6 khi loan báo V1 ra đời. Luân-đôn chắc chắn sẽ bị san bằng trong vài tuần nếu không nói là vài ngày. Anh cho rằng bọn Anh sẽ xin ân huệ, nhưng chính họ cùng với người Mỹ đã làm tê liệt hoàn toàn nhiều thành phố của các anh hàng ngày và bây giờ chỉ còn cách đây có 300 cây số. Đó, anh thấy rõ là đã thua, và lợi ích của Đức là đầu hàng.

Tôi dừng lại đúng lúc, vì tôi thấy một tia sáng thú vật lóe lên trong mắt anh ta; tôi đã đạt tới giới hạn của người văn minh. Một lời nói thêm nữa là tôi sẽ làm thức tỉnh con người Đức dã man xưa, vẫn còn tiềm ẩn trong mỗi người Đức hiện tại. May thay cho tương lai của tôi, chính con người có giáo dục trả lời tôi. Nhưng tôi đủ làm thương tổn niềm tin vững chắc của anh ta vì anh ta chạy nấp sau một bức tường như tín đồ nấp vào bóng Chúa.

– Dẫu cho sự thể ra sao, chúng tôi sẽ không bao giờ đầu hàng vì chúng tôi sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Chúng tôi không thể nào chấp nhận thất bại sau biết bao nhiêu nỗ lực và hy sinh. Người Mỹ phải hiểu và sẽ có một sự dàn xếp. – Gần như sắp ngã sụp xuống, – anh ta trở lại giọng châm biếm như một kẻ hấp hối, để nói với tôi vẻ gần như tức giận: “Vả lại họ sẽ phải bắt buộc đi đến một thỏa hiệp tại phương Tây; vì họ đã và sẽ chết bằng hà sa số trước phòng tuyến Siegfried mà họ sẽ không bao giờ vượt qua được. Đó là một kho thuốc súng mà họ sẽ tìm thấy trên mỗi thước đất.

Ngoài các vấn đề gai góc đó, anh ta là một người trung hậu, anh đối xử với chúng tôi như người với người và không bao giờ lợi dụng điều kiện yếu kém của chúng tôi.

Đó đây, cũng có dấu hiệu hèn hạ trong số nhân viên dân sự. Một thợ máy giãi bày với tôi nhân một lần máy bị hư và chúng tôi có thể trao đổi vài lời, anh ta ở vùng Sarre, gần biên giới Pháp, và ông nội anh là người vùng Lorraine. “Tôi không có gì phải sợ cả, tôi có thể chứng minh gốc gác của tổ tiên tôi”, anh ta nói thêm. Vì lẽ ý tưởng chủ yếu nơi người Đức là tất cả mọi công dân Đức đều sẽ bị lên án, nếu không bị Đồng Minh tàn sát. Tất nhiên, nơi kẻ cuồng tín cũng như nơi kẻ hèn hạ, không có một dấu hiệu nào cho thấy có tình trạng vô kỷ luật hay chán nản. Himler, con nhện chúa, đã dệt màn lưới của mình rất kỹ, và Goebbels, người nắm giữ toàn quyền từ sau cuộc mưu sát ngày 20 tháng 74, đã gia tăng số giờ làm việc để giảm thiểu thêm thời gian rảnh rỗi của đồng bào y. Và vào tháng 9 ấy, thành thật, chúng tôi sung sướng hơn bọn lính Đức và nhân viên dân sự làm việc bên cạnh chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy chiến thắng đã gần kề. Bọn Đức thì lại không có gì để tự an ủi; tiếp liệu tổng quát rất tệ! Các thành phố bị oanh tạc, dân tị nạn tràn ngập vùng đồng quê.

——————————–

1Đọc: “Hitler và vũ khí bí mật” – Sông Kiên xuất bản. Sách, đang in.
2Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II.
3Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in.
4Đọc “Những trận đánh lịch sử của Hitler” và “Hitler và sứ mạng lịch sử của Skorzeny” – Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành.

Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply