vietmessenger.com
Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 20 Nov 2025

21. Ra khỏi chuồng người
Sau trại Kà Tót hắc ám đầy những cái chết dễ dàng như “chiếc lá buồn cành rơi xuống đất” là trại Sông Mao. Cái trại thứ hai nhốt hàng ngàn sĩ quan sau 75 là một trại khổ sai lao động, chứ chẳng phải là trại cải tạo con mẹ gì cả. Trại có cái tên rất ư là dễ ghét: “Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao“. Trên toàn nước Việt Nam dưới mầu cờ đỏ, chẳng có cái trại nào VC lấy cái tên thù hận như vậy. Giấy ra trại của tôi còn y nguyên cái tên đó với chữ ký của trung tá VC Võ Như Loan. Trong thời gian tẩy não mà đảng ta gọi là cải tạo, có một cái chuyện tréo cẳng ngỗng làm tôi nhớ mãi.
Số là trong một buổi trưa hè, cả 4 khối trong trại A chúng tôi chia nhau tập trung 4 chỗ cách nhau không xa, để bắt đầu bài học quan trọng đầu tiên: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới, và là kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam“. Chủ đề bài này có vẻ lẩm cẩm và cay cú bỏ mẹ. Thôi học thì học. Ngày học đầu êm ả trôi qua.
Truớc giờ học, các trại viên phải vỗ tay hát các bài hát “Kéo pháo qua đèo“, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”… hằm bà lằng. Hát phải hát cho to. Khi hát nhỏ, anh điều khiển hát tập thể vừa hát, vừa hét “to lên!”. To cái chó nào được khi sĩ quan VNCH có thằng nào kéo pháo 122 ly của VC qua đèo đâu! Có thằng nào “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây” đâu! Và có thằng nào hành quân với “Bác” đâu mà cứ rống “Bác cùng chúng cháu hành quân“? Hành quân hồi nào? Thiệt là trẹo họng. Mà không hát thì bỏ mẹ với “Bác” với Đảng! Chỉ có cái bài “Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời sông núi” là phe ta hét to nhất. Nó thăm thẳm chiều trôi cái nghĩa thầm kín dấu trong lời ca, chìm sâu vào đáy lòng của những kẻ bại trận.
Lúc ở khối 4 chúng tôi còn ê a, chưa vào đề tài, dưới cái nắng chói chang của trời Sông Mao, phái đoàn của Trung Đoàn VC do trại trưởng thượng úy Hào từ cổng đi vào trại, hướng về khối 2 Đà Lạt. Cả khối 2 ngưng hát và chuẩn bị bắt đầu hô khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ” theo lệnh quản giáo như mọi ngày trước khi bắt đầu bài học.
Chẳng biết trời xui đất khiến làm sao, một tiếng hô dõng dạc của người bắt giọng vang cả trại từ khối 2: “Đả đảo cộng sản!” Tiếp theo là tiếng hô hàng loạt: “Đả đảo! Đả đảo!” Rồi tất cả khựng lại ở lần thứ 3. Toàn trại nặng nề, im lặng. Các sĩ quan Việt cộng, các chính trị viên, quản giáo bất ngờ đứng yên như trời trồng. Tôi đá giò thằng bạn bên cạnh nói nhỏ:
– Khối 2 nhậu gan trời!
– Nhậu con mẹ gì! Thằng hô khẩu hiệu thấy cán bộ đến gần nên líu lưỡi hô lộn. Chắc toàn khối 2 lãnh cái búa chiều nay! Ngon thiệt!
Thượng úy Hào tiến vào khối 2:
– Chúng tôi biết mà! Các anh đến lúc này mà còn gồng mình chống cách mạng! Khối 2 nghỉ sinh hoạt bữa nay chờ lệnh tôi!
Về sau tôi biết là toàn khối bị làm kiểm điểm, điều tra, kể cả những ông ngủ gục giật mình đưa tay “đả đảo” sảng mà không biết thằng bạn mắc dịch của mình nó hô cái gì, cứ nghe đả đảo là cả đám ngủ gục giật mình hô đả đảo theo cho nó đồng bộ, đến khi tỉnh ra biết mình đang ở tù VC thì đã lỡ rồi. Đây là một thứ vạ miệng tập thể trong tù.
Ngày tôi được tạm tha, ra khỏi trại cùng mấy thằng bạn chân đứa nào cũng đi trên mây, lãng đãng, phiêu bồng như hút xì-ke. Cũng con đường đó hàng ngày đi nặng trịch hai bàn chân lao động, mà bây giờ nó lại thênh thang như Tề Thiên đói bụng vội vàng đằng vân bay về động Hoa Quả. Cái lệnh tha bằng bàn tay năm ngón sao mà linh thiêng như có phép mầu.
Vừa ra khỏi cổng trại, tôi bỗng thấy tấm thân mấy mươi ký nó nhẹ đi, nó bềnh bồng như mấy con muỗi Kà Tót, lại cái cảnh “kinh cung chi điểu”, thấy bộ đội VC đi ngược chiều bỗng sợ nó chận và lôi vô trở lại trại; nhớ chuyện Khối 2 hô đả đảo, bụng cũng muốn hô to một phát cho hả giận, nhưng mồm lại bảo đừng làm cái chuyện hại đời trai trong tay giặc. Thế là bọn tù thoát cũi kẽm gai cứ rảo bước xa dần trại mà đứa nào hai chân cũng muốn mọc cánh bay như chim.
Ra đến chợ Sông Mao, cả bọn rủ nhau hùn tiền mua kẹo đậu phọng, sốt ruột không chờ được xe Lam ra quốc lộ 1, bọn tôi vừa đi vừa nhai kẹo. Trời ơi! Con đường đất hang ổ đủ loại, từ ổ gà đến ổ voi từ ga Sông Mao ra Chợ Lầu hôm nay sao nó thơ mộng tuyệt vời! Mỗi bước chân tù mới thả ra là mỗi bước thần tiên lên tiên cảnh.
– Ê mày! Gom tiền chui vô quán chơi một ly cà-phê!
– Cà-phê sao phê bằng chè trôi nước trong chợ Phan Thiết!
– Chợ Phan Thiết sao được? Tao về Phan Rang mà!
– Lại đôi ngả chia ly rồi! Thôi bỏ chuyện cà-phê, chè trôi nước đi! Tụi mày mỗi đứa có đủ tiền xe đò không? Chia nhau cho đủ rồi chia tay! Xa quê hương, nhớ vợ hiền thấy bà tổ thì lo về gấp cho rồi!
Chúng tôi bịn rịn chia tay. Ba thằng xuôi Nam về Phan Thiết, hai thằng mới quen khi ra trại bắt xe đi hướng Bắc về Phan Rang.
Từ Chợ Lầu vô đến Phan Thiết, cảnh vật xác xơ, xa lạ dưới mầu cờ đỏ. Dường như tôi có cái cảm giác của Trần Dần khi xưa, nhưng cay đắng hơn, tủi nhục hơn. Xe qua Hậu Quách, những người dân Chàm bơ thờ như ngày Chế Bồng Nga thất trận. Xe qua Xóm Ruộng, rồi Lương Sơn, cả một xã trù phú trước 75, nay như hoang phế vô hồn.
Lương Sơn một thời là nơi sản xuất hạt dưa, mè cho những ngày Tết; bắp hột, đậu, mè tấp nập tải vô Phan Thiết, Sài Gòn, nay co mình trong cát bụi. Xe vô Suối Nhum rồi Sông Lủy, một trạm gác thu thuế với công an áo vàng nằm ngay ngả 3 quốc lộ 1 và đường vô ga. Tôi giật bắn người khi xe bị chận lại xét giấy tờ và kiểm soát nông phẩm.
Thân phận của người vừa ra tù chỉ dựa mong manh vào cái lệnh tha, không biết nó có đủ linh thiêng để hộ trì bọn tôi về tới Phan Thiết hay không. Mấy năm xa cách, đổi đời, đổi chủ, tôi không rõ mặt mũi cái thành phố thân yêu một thời có còn như xưa, hay cũng xác xơ như những thôn xóm vệ đường, nhưng dù gì thì nó cũng thôi thúc người về vô cùng.
Hú hồn! Chẳng ai bị hỏi giấy. Xe lại chạy. Chiếc xe đò như một con rùa, cứ chạy một đoạn lại bỏ người, một đoạn lại bốc người, tôi sốt ruột nhìn con đường thu ngắn dần qua Bàu Ốc, Cây Táo. Tôi nhìn lên cao điểm phía Đông của đơn vị Địa Phương Quân quen thuộc khi xưa, gợi nhớ trong tôi những tang thương của cuộc chiến. Rồi căn cứ pháo binh Nora hoang phế, rồi Long Thạnh, rồi Tà Dôn vách núi lạnh lùng.
Khi xe đò vượt qua Tùy Hòa rồi Phú Long, tôi mới thấy một chút sinh động trong mấy cái quán chợ lèo tèo. Tôi bỗng thèm một đĩa bánh hỏi thịt quay nổi danh một thời của xứ này, ruột cồn cào vì đói. Đói là cơn ác mộng của người tù. Một niềm hạnh phúc lâng lâng trổi dậy trong tim khi gió mát từ cánh đồng ruộng muối thổi vào da thịt, và hình bóng chiếc lầu nước nhoi lên từ thành phố xa xa. “Ta vẫn sống! Ta đã về!”
Tôi muốn hét to khi xe qua ngôi trường cũ, trường Phan Bội Châu thân yêu còn chôn giữ bao nhiêu kỷ niệm của tuổi học trò. Niềm vui bỗng chợt biến tan khi mắt tôi nhìn lên mầu cờ đỏ giữa sân trường. Cả một đất nước đi xuống cả một đất nước đổi thay, cả một cuộc đời rách bươm theo từng manh áo tù, chỉ còn lại cái thứ mà tôi cảm thấy không thay đổi là mấy viên chè trôi nước! Tôi như con chim chờ bay ra khỏi lồng. Cái lồng tạm giam tôi từ Chợ Lầu về Phan Thiết là chiếc xe đò cổ lổ x. Khi nó ngừng đổ người ở ga xe lửa Phan Thiết thì tôi phóng ra xe và ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Thằng bạn cùng đi với tôi theo hụt hơi, càm ràm:
– Ông nội! về tới đây ai còn bắt nữa đâu mà đi như ma rượt vậy?
– Ừa! Tao chẳng hiểu sao cái cẳng tao nó như “không người lái“, nó như muốn bay không hà! Tao nói thiệt, tao mà có nghề như Đoàn Dự thì tao đã về tới nhà từ khuya rồi!
– Rồi còn cái vụ chè trôi nước mày nói khi còn ở bến xe Chợ Lầu thì sao?
– Chết rồi! Mày không nhắc chắc tao quên! Đi với tao!
Ba thằng tù mới ra lò cải tạo, mặt mày xanh xao, áo quần rách rưới như quân Cờ Đen thua trận, xăng xái đi như bay qua cầu Quan, vượt công trường Cộng Hòa trước nhà sách Vui Vui, vượt đường Gia Long, cắt vô Đinh Tiên Hoàng rồi phóng vô chợ Phan Thiết. Cái đói, cái thèm ngọt nó làm bọn tôi quên cả nhìn những con đường phố quen thuộc, quên cả buổi tao phùng với vợ con.
– Chết mẹ! Cái hàng bán chè trôi nước đâu mất rồi!
– Ngọt thì cái nào cũng ngọt! Qua chỗ kia ăn chè đậu!
– Đâu được! Chè đậu xanh không phê bằng chè trôi nước!
Tôi hỏi thăm mấy người trong chợ và sau đó là “hội ngộ” với một gánh chè trôi nước trong góc chợ. Mấy bà trong chợ nhìn bọn tôi với cái nhìn vừa thương, vừa tội nghiệp:
– Chắc mấy cậu mới được thả?
– Dạ! Vừa thả ra muốn bay ngay về nhà nhưng thèm chè hết biết. Tụi tui chui vô đây rồi tới đâu hay tới đó!
– Tội nghiệp!
Mấy thằng tôi vét hết tiền còn lại trong túi và xã láng với mây viên chè. Trời ơi! Tuyệt vời! Ngon, ngọt, phê hết chỗ chê! Lúc này, “Với tôi tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa chè trôi nước!” Mấy viên chè trôi nước đã giữ chân bọn tôi cả mấy tiếng đồng hồ trong chợ Phan Thiết. Đến khi hết tiền rồi thì cả đám mới sực nhớ cái cảm giác “xa quê hương, nhớ vợ hiền.”
Tôi chào bà bán chè, từ giãvà quay lại hai thằng bạn:
– Tụi mày đã chưa? Hết biết! Thôi chia tay từ đây! Hổ về nhà gấp để vợ chờ!
– Ra tù có ai biết ai hay đâu mà chờ ông nội!
Chúng tôi chia tay, không gặp nhau từ đó. Mấy tháng sau, sống với gia đình, không có hàng rào kẽm gai, không có quản giáo, nhưng chẳng được đi đâu, cứ trình diện định kỳ, được công an “viếng thăm” bất định kỳ, không có mặt ở thành phố là khốn nạn với những câu hỏi của “bạn dân vô sản“. Lâu lâu công an thu giấy tạm tha về đồn giữ vài ba hôm, thế là thằng nhỏ phải tự giam mình trong nhà với cơn ác mộng từng đêm, mất ăn, mất ngủ. Dưới chế độ ưu việt của đảng ta, ra đường không có một miếng giấy lộn là chuyện giỡn mặt nhà nước vô sản, là tai họa trùng trùng, là lưỡi gươm “bác” Hồ treo tòn teng trên cổ!
Chưa hết, mấy cơn sốt rét Kà Tót nó cứ nhớ tình xưa nghĩa cũ trong rừng Kà Tót nên thăm viếng hoài hoài, nó như cái đồng hồ cột theo tấm lịch, đúng 20 ngày nó nổi phong ba một phen, nó vật thằng nhỏ từ giường xuống đất, từ đất lên giường, nó cho mùa Đông băng giá vào xương, rồi đùng một cái, nó trở mặt, nó thổi mùa Hè cháy thịt vào da, nó oánh thằng nhỏ tơi bời hoa lá. Cơm cá, chè trôi nước, đường tán, đường phèn gì… vợ “bồi dưỡng” 2 tuần, nó đánh tan tành trong một buổi lên cơn, không cần AK, lựu đạn, không cần B40, B41.
Trận chiến chấm dứt sau khoảng 3 tiếng đồng hồ quằn quại, thằng nhỏ tung mền bước xuống giường bỗng té cái bịch như đứa con nít mới biết đi, da thịt buổi sáng hồng hồng đôi chút, buổi chiều bỗng tái mét, xanh lè, đi từng bước trong nhà phải vịn tường, mặt mày phờ phạc, ngu ngơ, mất hết thần khí. Ôi thời oanh liệt nay còn đâu!
Những buổi vợ còn dạy mấy giờ cuối ở trường PBC về trễ, ngoài chuyện bò ra sau bếp nấu cơm và gậm từng thẻ đường Quảng Ngải đen như cứt bò, thằng nhỏ còn phải lần mò ra phố mua thuốc. Chuyện đầu tiên là khóa cửa, lò mò băng qua đường Trần Quí Cáp, vịn tường Tòa Giám Mục của Đức cha Nghi, lần theo đường Đồng Khánh. Mỗi bước “chân ngà mệt mỏi” của chàng đo được non hai gang. Chỗ nào không tường thì vịn gốc cây, mệt nghỉ. Một lần qua nhà anh Vĩnh Giên ở đường Đồng Khánh, bỗng nghe một giọng Huế quen thuộc bên tai:
– Trời đất ơi! Sao mà thê thảm vậy?
– Anh Vĩnh Giên! Anh khỏe không? Còn tôi, sốt rét Kà Tót nó thăm hồi xế!
– Cô Lương đâu?
– Còn trên PBC!
– Sao không nói cổ dạy bớt giờ để về sớm săn sóc chồng?
– Dạ tụi tui đâu dám giỡn mặt nhà nước, đảng đoàn?
– Sao kỳ vậy? sốt rét mà đi kiểu này có ngày trúng gió lăn quay!
– Trúng hay trật gì thì cũng không quan trọng bằng lời phàn nàn của nhà trường!
– Họ phàn nàn ra sao?
– Họ phê bình cô Lương rằng từ ngày chồng cô cải tạo được đảng và nhà nước khoan hồng cho về nhà, cô Lương không còn “hồ hởi, phân khởi” trong các buổi học tập như xưa. Cô Lương không “năng nổ” trong các giờ dạy, lấy cớ chuyện gia đình xin nghỉ nhiều hơn. Phải có lý do! Có thể cô bị ảnh hưởng tư tưởng phản động chưa gột rửa hết trong thời gian cải tạo của chồng cô. Họ cóc cần biết tôi bị sốt rét ác tính ra sao. Họ phán với bà xã tôi như vậy thì bố tôi cũng không dám xúi vợ xin nghỉ! Tình cảnh này, có chết là tôi tự chết ở nhà.
Tôi còn dặn bà xã tôi là tuyệt đối không chở tôi đi nhà thương. Ở nhà tôi tự trị, cứt mèo, cứt chó gì người ta bảo đốt uống hết bịnh, tôi cũng uống xã láng, may ra còn sống lâu một chút, đem lên nhà thương, mấy ông y sĩ cách mạng trị thì còn đi sớm hơn là cái chắc! Đời mấy thằng “ngụy” tụi tui bây giờ là cỏ rác, là cát bụi mà..!
Anh Vĩnh Giên trầm ngâm:
– Sẵn xe, leo lên Honda tôi chở đi cho! Mà đi đâu?
– Tiệm thuốc tây Bình Thuận ở đường Gia Long! Mà thôi anh đi đi! Tôi lò mò cũng tới chỗ mà! Tôi ngồi xe anh ôm không chặc té tôi cũng chết. Mà người ta để ý thấy anh chở tôi… không chừng anh cũng chết! Thôi anh đi đi!
Sống cái cảnh này thì thằng nhỏ chịu đời sao thấu! Những tưởng được “thoát cũi sổ lồng“, nhưng khi ra khỏi cũi thì lại thấy vẫn còn ở trong cái lồng to hơn cái cũi, cái lồng oan nghiệt bị theo dõi và dòm ngó kỹ càng hơn, truy áp hơn, căng thẳng hơn và tai họa cho gia đình hơn.
Mấy tháng sau, đêm nào trong giấc ngủ chờn vờn cũng có sóng nước đại dương và chiếc ghe vượt sóng, lớn cũng có, nhỏ cũng có, 1,2,3 block đầu bạc, đầu đen, đầu đỏ gì cũng có, nó thúc giục ban ngày, nó réo gọi ban đêm. Chỉ có ra khỏi Việt Nam, ra khỏi cái quê hương tù ngục này thì may ra cuộc đời mới sống được, và lại nữa, may ra mới có phương tiện đánh gục mấy triệu quân sốt rét plasmodium tràn ngập trong máu tôi, hành hạ tôi định kỳ.
Tôi âm thầm thực hiện chuyến ra đi như trong mơ… và chuyến đi đầu tiên đó, vợ chồng, con cái, anh em đã cùng tôi dắt díu nhau chui vô tù, trong đó có cả một đám bạn bè từ Sài Gòn. Đúng là số con dế!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.