Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Google image

Chương 15

Hiến Điền Về Quê

Cầm lá thư Nghiêm trên tay, Hoàng khóc. Hoàng đã tự nhủ phải cứng rắn, không khóc, thế nhưng nước mắt từ đâu cứ chảy ra liên tục. Những giọt nước mắt mà Hoàng cố giấu trước mọi người. Những giọt nước mắt thường chỉ lặng lẽ chảy về đêm làm ướt đẫm áo gối. Cái gối mộng của một tình yêu đang độ, của một cuộc hôn nhân chưa tròn hai tuổi bỗng chốc trở thành cái gối để giấu che dòng nước mắt âm thầm.

Khung trời kỷ niệm còn đó. Đà Lạt đang độ mùa hoa quỳ vàng ối khắp các lối đi, những cánh hoa vàng lấp lánh trong nắng chiều vàng. Những bước chân sóng đôi trên từng lối mòn heo hút. Ôi những cánh hoa quỳ Đà Lạt. Ôi những lối mòn đầy hoa cỏ dại là những kỷ niệm của một trời thu nhớ. Mùa thu ngọt ngào quyến rũ mang những dấu chấm của bức tranh tình yêu tuổi học trò. Em và anh, chàng và nàng như những cây cọ đầy màu sắc cùng nhau vẽ nên bức tranh tình yêu. Từng nét, từng chấm li ti trên khung đời mộng như là những mảnh linh hồn trao gởi.

Khuôn viên viện đại học Đà Lạt còn đó. Khuôn viên trường Đại học Chiến tranh Chính trị còn đó. Buổi hẹn hò đầu tiên nơi đại giảng đường, đêm mừng sinh nhật tập thể còn đó. Cảnh vật còn đó nhưng vành trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường![1]

Hai mươi lăm cây số từ Bồng Lai về Đà Lạt bây giờ là con đường dài như vô tận. Con đường của ngút ngàn kỷ niệm ngày xưa và con đường của mù khơi tương lai còn lại. Định mệnh sẽ đưa anh về đâu? Định mệnh sẽ đưa em về đâu? Sẽ đưa chúng mình về đâu?

Trước mắt Hoàng không còn khuôn viên đại học. Không còn cảnh vừa tan trường ra đã thấy chiếc xe gắn máy màu đỏ của Nghiêm đứng trơ trọi bên gốc thông già, là dấu hiệu để báo cho Hoàng biết có Nghiêm đến đón. Còn Nghiêm thì ngồi ở lưng chừng đồi nhìn nắng vàng dưới lũng sâu.

– Đón con người ta mà làm như cực khổ lắm!

Từng cái vờ vĩnh giận hờn, chợt đến, chợt đi. Chợt tan như nắng vội. Chợt buồn như mưa bụi làm đẫm ướt bờ mi.

Hoàng còn nhớ khi xe Nghiêm vượt qua đám sinh viên cùng lớp, Nghiêm vô tình cứ băng băng nhìn phía trước nhưng Hoàng thì nhìn lại đàng sau. Đám bạn nói, cười, vẫy tay Hoàng và Nghiêm nhưng Hà thì cắm cúi bước. Những bước chân đau buồn lặng lẽ. Những bước chân đơn độc âm thầm.

Hoàng cứ nghĩ tuổi thanh niên thường tự tạo ra cho mình một nét đặc biệt giữa đám đông và Hà tự tạo ra cái âm thầm đơn độc ấy. Những mảnh giấy nho nhỏ, những dòng chữ mang nội dung đặc biệt của Hà cứ vô tình sót lại trong tập vở Hà mượn của Hoàng. Hoàng hiểu. Nhưng cái âm thầm của Hà vẫn là của Hà. Hoàng không thể chia sẻ cái âm thầm lẻ loi đó.

Vài lần Nghiêm bận công tác không đến đón, Hà lại lúng túng thả bộ theo Hoàng trên con đường về nhà. Hà không bao giờ hội nhập với đám đông học trò. Với đùa giỡn, chọc phá ồn ào. Trái lại Hà luôn luôn ấp úng đến tội nghiệp. Hà vừa tách biệt bí ẩn, vừa mặc cảm lẻ loi. Thứ mặc cảm của một người luôn luôn thấy mình cứ lẽo đẽo đàng sau trên con đường tình ái.

Và bây giờ mọi người lại ngạc nhiên. Hoàng cũng ngạc nhiên. Hà là Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Lâm Đồng – Đà Lạt!

Lá cờ đỏ sao vàng run phần phật trong gió. Từ ngày xuất quân cho đến bây giờ lá cờ luôn luôn theo toán công tác thủy lợi, được cắm ngay ở vị trí cao nhất tại hiện trường lao động. Lá cờ là niềm tự hào của đảng viên đang lãnh đạo công trường, là quyền lực của chế độ nhưng là niềm lo lắng của những tấm lưng còng thiếu dinh dưỡng, đang lao động quần quật. Đảng đang đứng canh chừng phía sau lưng!

Công trình dẫn nước từ thác Prenn về Định An và hai xã K’Long A, K’Long B đang được thực hiện. Câu khẩu hiệu đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên (!) nhắc nhở mọi người, dù thành phần lao động cho công tác nầy không phải chỉ dành cho thanh niên, là thành phần trong trắng, nhiệt tình và luôn luôn được ca tụng, vẽ vời, bằng đủ loại chữ nghĩa! Chính quyền địa phương huy động toàn bộ nhân lực từ Bồng Lai trở lên, kể cả đàn bà, con gái có con mọn như Hoàng.

Và ngày mai, ông Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh sẽ xuống thăm công trường!

Thư Nghiêm không viết về bản thân. Nghiêm viết cho người ở lại với những lo lắng, sắp xếp. Lá thư được viết từ miền Bắc xa xôi như một lời trăn trối. Hoàng làm sao có thểbước thêm bước nữa(!) khi Nghiêm gợi ý đừng phí phạm tuổi xuân(!) Hai con là lẽ sống của Hoàng làm sao Hoàng có thể gửi lại cho nội để đi lấy chồng khác? Hoàng không đau đớn trách cứ vì những gửi gắm của Nghiêm với cha mẹ hai bên. Nghiêm chấp nhận hy sinh cho tình yêu, Hoàng cũng thừa nghị lực như vậy. Nghiêm hy sinh cá nhân cho Hoàng và Hoàng cũng hy sinh cá nhân cho con.

Lúc nầy không phải là sự thổn thức của trái tim nhưng cần nghị lực để sống!

Lúc còn ở trung học trong giờ Việt văn, một lần cô giáo chia lớp học ra làm hai để tranh luận về thái độ của Loan, nhân vật chính trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh: Khóc lóc hay rên rĩ là yếu hèn! Phải nhìn sự thật bằng đôi mắt ráo lệ, không phiền muộn, không oán hờn, mạnh mẽ mà sống! Lần đó Hoàng thấy thương Loan quá. Một mình phải đương đầu với thói lề xã hội, một xã hội phong kiến! Hoàng biết đâu chính Hoàng đang phải đương đầu với xã hội hiện tại! Một xã hội nhân danh lao động nhưng trấn áp người lao động. Một chế độ nhân danh chống áp bức bóc lột nhưng công khai trù dập và cướp đoạt tài sản của người dân! Hoàng biết rất rõ, Hoàng không có được cái can đảm làm cuộc cách mạng xã hội như Loan. Hoàng nhỏ bé hơn, yếu đuối hơn. Hoàng chỉ cố gắng bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, của hai con. Cơn cuồng phong của xã hội có dữ dội nhưng đôi cánh nhỏ nhoi của con gà mẹ vẫn đem hết sức lực để bảo vệ đàn con!

Khi tất cả những thành phần ưu tú của đất nước không xu nịnh chế độ mới, đều là “phản động” (!) phải tập trung cải tạo thì thân phận nhỏ nhoi của Hoàng chỉ như cỏ rác, có đáng gì! Nhưng thà như cỏ để tồn tại trước cơn bão dữ. Là cỏ của suy tư. Là cỏ của nhân chứng. Không mạnh mẽ như Loan nhưng phải bền vững. Nghiêm ơi, nếu định mệnh đã chia cắt vĩnh viễn chúng ta thì em phải tồn tại. Em phải là nhân chứng! Nếu cuộc đời chúng ta đã qua đi thì con chúng ta phải tồn tại. Cây hy vọng phải được lớn lên. Lớn lên từ sự nhẫn nại kiên trì. Em không hận thù vì cuộc đời vốn quá ngắn. Em không sợ hãi vì chẳng còn gì để sợ nhưng kinh ngạc trước sự vong thân đạo đức của chế độ!

Ngày mai Hà sẽ xuống thăm công trường thủy lợi. Một Hà tách biệt thầm lặng ngày trước có khác với một Hà Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hiện tại không? Hà có nhận ra Hoàng trong đám lao động ở công trường? Một Hoàng khép nép trong chiếc áo dài với cái huy hiệu tròn có chữ Thụ nhân của viện đại học Đà Lạt cài trên tay áo ngày trước? Hoàng nhìn lại chính mình bây giờ. Hốc hác. Gầy. Đen. Áo quần chính hiệu nông dân! Một Hoàng ngồi khum lưng trên đất nhóm lửa, thổi tro bay đầy đầu. Mười ngón tay búp măng thường đan vào nhau mà Nghiêm đã nâng niu chìu chuộng bây giờ chai cứng sần sùi. Hoàng bất giác thở dài. Chút mặc cảm về nhan sắc hiện về. Hoàng soi lại dung nhan mình trên tấm kiếng thời gian. Từ cô nữ sinh yêu đời dệt mộng đến ngày tháng nổi trôi buôn bán chợ trời. Rồi từ chợ trời đến nông dân. Và bây giờ đang lao động khổ sai trên công trường thủy lợi! Khoảng thời gian thật ngắn nhưng đã làm đảo lộn mọi giá trị. Xã hội bật gốc. Ước mơ bị hủy diệt. Một giai cấp mới đang thống trị với hỗn mang và vô học. Những người dân lương thiện thiếu ăn, bị cưỡng bức nai lưng đào đất vét mương, để xây dựng một thiên đường ảo tưởng!

Bạn Hoàng đang dạy ở trường Văn Học Đà Lạt kể cho Hoàng nghe câu chuyện về gia đình Hà. Hà kết hôn với Diễm cũng là bạn học chung của hai đứa. Diễm có người yêu làdân Võ Bị trước kia nhưng sau năm 75 đã mất liên lạc và nghe đâu cũng đang cải tạo ở ngoài Bắc. Khi Diễm có thai đứa con đầu lòng, Diễm ngạc nhiên trước sự hờ hững và lạnh lùng của Hà. Một tuần lễ sau Hà ép Diễm đi nạo thai. Không ai biết rõ lý do kể cả Diễm. Miền Nam mấy ai biết chính sách ba khoan trong thời gian chiến tranh ở ngoài Bắc.Chưa yêu thì khoan yêu. Nếu đã yêu thì khoan cưới. Nếu đã cưới thì khoan có con ! Diễm chỉ mơ hồ là có con trong lúc nầy không đúng lúc, Hà chỉ nói có vậy. Phải chăng nhận được chỉ thị từ trên và vì địa vị của Hà hiện tại nên cần phải làm gương? Nhẹ việc nhà, nặng việc Đảng(?) bí ẩn chỉ có Hà biết. Với rất nhiều dư luận trong số ít bạn bè còn lại cho biết Diễm bị mất bình thường sau đó. Hoàng nghe và thấy lạnh cả người! Ý định nếu gặp Hà Hoàng sẽ xin Hà giúp đỡ cho Nghiêm sớm được về Hoàng bỏ ngay từ đó.

Khi đứa con đầu lòng của Diễm phải hy sinh thì chút tình bạn ngày trước có giá trị gì?

Tình cảm không còn là thiêng liêng thì con người như một cỗ máy.

Cứ để kỷ niệm cũ tồn tại. Cứ để một Hà ấp úng ngày xưa tồn tại. Tránh cho mình khỏi mặc cảm. Tránh cho Hà khỏi khó chịu. Hoàng khai bệnh lánh mặt.

Hoàng từ giã Sài Gòn và gia đình Nghiêm để lên Bồng Lai theo kế hoạch di tản dân ra khỏi thành phố. Chính sách kinh tế mới của chính phủ bắt mọi người dân trở về nông thôn, đặc biệt vợ con của những người đi cải tạo thì được nhà nước hứa hẹn sẽ sớm cho trở về sum họp. Cô sinh viên đang ngỡ ngàng trước những biến động to lớn của lịch sử, của xã hội và chưa bao giờ đối diện với thực tế ghê rợn như lúc nầy, lại đang được chính phủ hứa sẽ sớm cho chồng về sum họp tại kinh tế mới. Mục đích đời sống trước mắt của Hoàng là sum họp gia đình cùng lo nuôi dưỡng hai con còn thơ dại. Mọi chuyện đều vứt bỏ lại phía sau. Tương lai là cái gì còn trừu tượng, xa vời. Phải nắm bắt thực tế. Đảng đã khẳng định là đường lối chính sách trước sau như một, như vậy thì đi. Không cần biết tương lai. Phải đi. Đi để Nghiêm được trở về. Lời hứa của Đảng, của chế độ mới là một bảo đảm! Giá trị đạo đức của một cá nhân thì có thể nghi ngờ nhưng đạo đức của một đảng đang lãnh đạo, của một chế độ mới, một chính phủ mới phải chắc chắn! Phải thành tín!

Đi.

Bỏ tất cả lại đàng sau!

Những chuyến xe đầy ắp người đi kinh tế mới được cổ vũ. Tiễn đưa rầm rộ. TV, đài phát thanh thi nhau làm phóng sự. Và Hoàng phải đi.

Hoàng lặng lẽ cùng một số người trong gia đình Nghiêm sửa soạn rời Sài Gòn. Gia đình phải chia làm đôi, một nửa ở lại, một nửa ra đi. Bỏ lại những ồn ào, náo nhiệt phía sau. Bỏ lại những tháng ngày ngược xuôi, buôn bán chợ trời, kiếm sống phía sau. Hai đứa con còn thơ dại, đứa con gái lớn chưa đầy hai tuổi gửi lại cho bà nội, cho cô chú, còn đứa nhỏ đang bú sữa mẹ, Hoàng đem theo. Không có tiền để mua sữa cho con nên Hoàng cho con bú sữa mẹ. Thân xác mẹ thiếu dinh dưỡng vì phải ăn bo bo, khoai bắp, rau đậu nhưng Hoàng vẫn hy vọng sức trẻ của chính mình sẽ cung cấp đủ nguồn sữa cho con. Không thể tìm nguồn trợ cấp từ bên ngoài thì đem thân xác ra, rút sinh lực ra lo cho con!

Từ bé cho đến lúc nầy Hoàng chưa bao giờ biết lao động tay chân cho dù có con nhưng Hoàng vẫn còn trên ghế nhà trường. Công khó của cha, công khó của mẹ là nuôi hy vọng cho con tốt nghiệp đại học, vì đây là bước căn bản để tiến thân trong xã hội ngày một đòi hỏi thêm kiến thức nhưng công khó đó đã bị gãy đổ bất ngờ theo vận mệnh miền Nam.

Mọi việc ra đi phải được sửa soạn, chuẩn bị trước. Đứa con gái chưa đầy hai tuổi, đang chập chững đi. Rờ rẫm. Phá phách. Nó cũng lăng xăng tới lui, thích thú trước các đống đồ đạc ngổn ngang đang được sắp xếp, nào dao, cuốc, rựa, liềm… dụng cụ nhà nông. Hoàng ứa nước mắt nhìn con. Tuổi thơ đâu biết rằng nó sắp phải xa mẹ! Đâu biết rằng từng bước chuẩn bị là từng bước cách xa! Xa mẹ chắc nó sẽ khóc vì nhớ một thời gian nhưng con nít sẽ chóng quên. Chỉ có Hoàng, ngay từ lúc quyết định rời xa thành phố là lúc đã bắt đầu đau đớn, xót xa. Giấc mơ sau khi tốt nghiệp đại học sẽ xây một mái ấm gia đình tại Đà Lạt, có căn nhà nhỏ nằm khiêm nhường trên một triền đồi với những ngọn thông cao không còn nữa. Tiếng thông vi vu trong gió là nhạc khúc êm đềm trong những giấc ngủ bình yên khi vợ chồng mới cưới nhau không còn nữa. Căn nhà nhỏ nằm giữa rừng thông ở đường Yersin không còn nữa. Những cây thông đẹp đã bị đốn đi để biến thành củi ngo đem bán và nấu bếp. Tiếng thông reo trong gió, bây giờ là những tiếng u uẩn, xót xa trong đêm dài của những con người không còn tương lai, không còn hy vọng.

Suốt đêm Hoàng không thể ngủ. Mới 3 giờ sáng mọi người trong gia đình đã thức dậy. Không ai nói với nhau nhưng hình như trắng đêm không ai ngủ được. Riêng Hoàng trằn trọc nằm giữa hai con. Xoay qua bên nầy, nhìn con gái. Xoay qua phía bên kia, nhìn con trai. Nhìn giấc ngủ thiên thần của trẻ thơ mà tan nát lòng. Đứa con gái khi cựa mình để cái ti rơi xuống một bên má, bàn tay tí hon của nó lại quờ quạng lượm nhắt lại vô miệng. Nhìn đôi môi múm mím, chùn chụt từ nhịp nhanh rồi chậm dần, rồi ngưng hẳn chìm lại vào giấc ngủ. Cái ti lại tụt xuống..! Bàn tay nhỏ nhắn của đứa con trai còn đang bú sữa mẹ lại mò mẫm, luồn trong áo tìm vú mẹ. Nó biết bầu vú sữa là của riêng nó nhưng khi mơ ngủ nó vẫn muốn kiếm tìm, gìn giữ. Từng dòng nước mắt lại lặng lẽ rơi trên gối. Cái gối đã ướt đẫm không biết bao nhiêu đêm dài. Nghiêm đang ở đâu? Bặt tin Nghiêm gần nửa năm rồi! Nghiêm ơi, Nghiêm có biết hoàn cảnh hiện tại của mẹ con em không? Em đang nằm đây giữa hơi ấm của hai con mà có cảm tưởngđã xa vời vợi, đã ngoài tầm tay với!

5 giờ sáng phải lên đường, bà nội ẳm cháu trai ra cửa tiễn. Bà yêu cháu nhất nhà, bà hít hà mùi thơm da thịt trẻ thơ của cháu nhưng bà không thể giấu được nước mắt. Bà khóc. Quay qua nói với Hoàng đang đứng bên cạnh như để an ủi chính mình và động viên Hoàng:

– Đi đi con. Còn má ở lại, không sao đâu. Con cố gắng sớm ổn định trên đó rồi má sẽ đem chúng lên với con.

Hoàng yên lặng quay trở vô nhà. Lại đến giường vén mùng nhìn con gái đang say ngủ. Hoàng sờ tấm tả đã ướt. Cô Tư đứng sau lưng lên tiếng:

– Chị đi đi, để em thay tả cho.

Hoàng không trả lời. Nước mắt rơi từng giọt. Hoàng muốn kéo dài thêm từng giây phút với con gái. Hoàng muốn tự tay thay tả cho con lần cuối. Tấm tả có mùi ngai ngái, Hoàng nói trong lòng:

– Mùi nước hoa hảo hạng của má đây mà! Mùi Immortel số 5.

Vừa xa con trai, bầu vú sữa Hoàng căng cứng và chảy ướt đẫm áo, Hoàng đau xót nhớ con nên dứt khoát quay về ngay để đem con lên ở với mình. Năm sáu tháng trôi qua. Năm sáu tháng Hoàng cố gắng trong đời sống nhà nông, cuốc đất, làm cỏ, gieo giống… chăm sóc con, không có việc nào Hoàng không làm nhưng Hoàng chưa thể thích nghi. Đứa con trai ngày một lớn, nhu cầu dinh dưỡng ngày một nhiều hơn nhưng sức khỏe Hoàng ngày càng xuống dốc. Nguồn sữa khô cạn dần. Có trái cây gì, có quả trứng nào Hoàng chắt chiu, bù đắp cho con và quên hẳn nhu cầu bản thân. Mớ kiến thức học được ở trường không có nơi áp dụng và còn phải tự giấu nhẹm. Người ta đang kỳ thị trí thức! Thỉnh thoảng về đêm Hoàng lại phải ẳm con tham gia học tập. Những dè bĩu, ngụy quân, ngụy quyền cứ xoáy lấy trong từng chữ, từng ánh mắt của người dân trong vùng, một vùng thuộc loại “xôi đậu” trước kia. Mười mẫu đất vườn và cà phê đang độ cho sản lượng của ông bà Năm, ba má Hoàng, người đã bỏ công khai phá và gầy dựng bây giờ là một miếng mồi ngon mà nông dân trong vùng thèm muốn. Họ là những người vừa là hàng xóm, vừa được ông bà Năm thuê mướn trước kia đã trở thành những người đang quyết định số phận của gia đình ông bà Năm. Thôn xóm đã vào qui hoạch thành tập đoàn sản xuất! Ông tập đoàn trưởng, người quen biết với ông bà Năm trước kia là một cán bộ nằm vùng. Ông không đến nỗi là người quên dĩ vãng, nhưng trào lưu cách mạng (!) của nông dân rất mạnh. Họ không có chút kính nể ông tập đoàn trưởng thì có thể ông bà Năm đã bị ghép nhiều thứ tội! Điều họ ham muốn họ không nói đến. Họ chỉ nói là gia đình có con, rể là sĩ quan ngụy. Tình chòm xóm trước kia xa lạ rất nhanh. Sự nhờ vả, vay mượn nhau trong thời còn xôi đậu cũng là của dĩ vãng! Chiếc xe đò Minh Trung chạy tuyến đường Đà Lạt – Sài Gòn của ông bà Năm đã nhiều lần giúp đỡ việc đêm hôm tăm tối chở người bệnh đi cấp cứu, sinh đẻ cũng chỉ là sự “che đậy của bọn tư bản”! Bọn giả nhân nghĩa! Không, bây giờ không còn loại dĩ vãng đó. Bây giờ không còn loại tình nghĩa cũ đó.

Thời đại mới. Tình nghĩa mới. Quan hệ mới. Tiếng nói của những người có công với cách mạng đang lãnh đạo, đang định hướng cho xóm giềng! Đó là những tiếng nói có trọng lượng. Đó là đạo đức mới, con người mới của cách mạng!

Mười mẫu vườn là do bóc lột mà có! Chiếc xe đò là do bóc lột mà có! Tất cả tài sản là do lạm dụng quyền thế của con cái mà có! Mấy mươi năm lao động cần mẫn của ông bà Năm trong phút chốc là con số không. Lại mang thêm một cái tội lo gầy dựng gia đình, nuôi dạy mười ba người con có chút học thức, có chút địa vị trong chế độ “Mỹ-Ngụy”!

Những đêm bình công điểm lao động là những lúc Hoàng phải đối diện với thực tế phủ phàng:

– “Chị Hoàng làm không có năng suất nên không thể tính là công lao động chính mà chỉ như công phụ mà thôi.”

Hoàng ôm đứa con trai vào lòng ngồi yên lặng trong bóng tối của ánh đèn không đủ sáng, nghe họ nói về mình. Hơi ấm từ con là nghị lực giúp Hoàng vượt qua giá băng của hoàn cảnh. Hoàng buông xuôi. Sự khác biệt giữa công chính và công phụ là để được chia thêm chút khoai bắp cũng chẳng đủ vào đâu. Cả tương lai của Hoàng và gia đình người ta còn trù dập, cướp đi thì chút khoai bắp có giá trị gì? Đứa con trai nhoài người ra khỏi lòng mẹ, xòe tay bi bô và nở nụ cười thơ dại với người ngồi bên cạnh, những nông dân của Đảng đang hừng hực ganh tị và căm thù mẹ nó!

Không khí ngột ngạt. Căng thẳng.

Một buổi tối, ông tập đoàn trưởng đến nhà ông bà Năm. Sau khi nhấp tí nước trà cho thấm giọng, ông mở lời:

– Anh chị Năm biết rồi. Biết hết rồi. Người trong xóm đang tìm mọi cách để thưa lên xã hoặc lên huyện về tình trạng gia đình của anh chị. Như ông Điền, có đất liên ranh với anh chị, lại bè bạn với nhau từ hồi não hồi nào, bi chừ lại trở mặt vu oan anh chị giành lấn đất, cũng may anh chị còn giữ được mấy miếng giấy viết tay từ hồi mới khai phá rừng chứng minh, chớ không cũng mệt dữ lắm, chớ chẳng chơi đâu. Bi chừ họ áp lực ngầm lên tui. Mà lòng dạ tui đâu có khuất tất gì, cho nên anh chị suy nghĩ kỹ đi. Cái chính sách đất đai đều thuộc của nhà nước, thì sớm muộn gì đất đai anh chị cũng thuộc về nhà nước, chớ chẳng chơi đâu. Lúc đó thì liệu anh chị có còn giữ được nhà, được xe, hay lại bị gởi đi nơi khác?

Ông tập đoàn trưởng né tránh chữ cải tạo, nhưng ông bà Năm thấm ý.

Ông tập đoàn trưởng nói tiếp:

– Tui cũng bất nhẫn trong mấy cái chuyện như thế nầy lắm nhưng ở trên không ai nghe tui, mà không chừng mấy ổng sẽ thay thế tui bằng người khác thì dẫu sao anh chị cũng mất đi một tiếng nói đã giúp đỡ anh chị…

Tiễn ông tập đoàn trưởng ra cửa, ngọn gió đêm buốt lạnh tràn vào. Đêm bên ngoài đen như mực. Không còn loại đêm yên bình ngồi ngắm sao một thuở! Đêm bây giờ là bóng tối đang đè nặng lên tâm tư ông bà Năm. Là con quái vật sẵn sàng nuốt chửng chút hạnh phúc mong manh của tuổi xế chiều mà ông bà đã đắp xây hơn mấy chục năm qua. Ông bà Năm nhìn nhau. Lòng dạ ông tập đoàn trưởng không tệ! Ông ấy cũng không ham cái chức vụ nầy. Ít ra trong số bạn bè lối xóm cũ cũng còn lại một người: ông nằm vùng đang vỡ mộng!

Tuần lễ sau, ông tập đoàn trưởng đưa ông bà Năm lên xã, nộp tờ đơn xin tình nguyện hiến điền (!) để về quê!

Ông Đặng, Bí thư xã, tiếp khách:

– Hai bác biết chuyện, giác ngộ sớm như vậy là rất tốt. Đảng và nhà nước lúc nào cũng khoan hồng cho người biết ăn năn, hối cải và thay mặt Đảng, tôi chấp thuận thỉnh nguyện hiến điền của hai bác. Còn lúc nào hai bác về quê, chính quyền sẽ sẵn sàng cấp giấy tờ để hai bác di chuyển không gặp trở ngại.

Ra khỏi trụ sở xã Hiệp Thạnh gần ngả ba Phi Nôm, nắng buổi sáng chưa xuyên thủng được những mảng mù sương còn lãng đãng trên cây cỏ. Cây cổ thụ vẫn đứng đơn độc bên kia vệ đường, lối về Đơn Dương. Nhìn nắng hanh hao trên ngọn đồi trơ trọi phía bên kia cầu, bà Năm bật khóc. Bà Năm đã cố kiềm giữ không khóc trước mặt ông bí thư, nhưng cho đến giờ phút nầy sức chịu đựng của bà đã cạn. Bà như kiệt sức, không còn cầm giữ được nước mắt. Một tay bà cầm cái túi nylon, có mấy miếng cau trầu, tay còn lại bà nắm lấy bàn tay sần sùi của ông, là chỗ bám víu cuối cùng. Đây không phải là thói quen của bà từ thời còn trẻ cho tới nay:

– Mình rời Sài Gòn, từ lúc mới có hai đứa, con Hai với con Ba! Hơn ba mươi năm nay rồi, bây giờ biết quê ở đâu mà dìa?

Ông Năm cầm bàn tay khẳng khiu của bà. Giọng ông chẫm rãi và bình tĩnh. Ông biết tuổi già của ông bà rất rõ nhưng gắng an ủi bà:

– Thì lúc mình mới lên đây, hai vợ chồng cũng hai bàn tay trắng vậy. Nhân nha rồi cũng có chỗ để mình xin dìa quê mà!

Mẹ trông con qua cầu Ái Tử,
Vợ trông chồng đứng núi vọng phu,
Một mai bóng xế, trăng lu,
Con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu cho gặp chàng!

Lời câu ca dao tha thiết. Nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Từng chữ như ngấm vào trong máu, trong tim. Biết mấy thu cho gặp chàng! Nghiêm ơi!

Đoạn đường mịt mù đang ở trước mặt. Đương đầu với nghịch cảnh hay buông trôi? Hoàng phải đương đầu như thế nào để tồn tại, để mong ngày được gặp lại Nghiêm?

Gia đình ba má Hoàng, ông bà Năm, phải bỏ của chạy lấy người! Gia sản mấy mươi năm cần cù lao động bây giờ phải xin tình nguyện dâng hiến cho chính phủ, chính phủ nhân danh người lao động!

Ông bà đã bán chiếc xe, gom góp tiền đi tìm quê mới để về! Hoàng và gia đình Nghiêm cũng phải tìm nơi mới. Đường trở về Sài Gòn đã cụt! Hộ khẩu đã bị cắt. Người không có hộ khẩu là thành phần cư trú bất hợp pháp, đồng nghĩa với bất lương, tội phạm, vì người bị ghép vào thành phần cư trú bất hợp pháp có thể bị bắt bất cứ lúc nào, dù chính mình đang sinh sống trong căn nhà mang tên mình là chủ đã mấy mươi năm! Đây là điều lạ lùng nhất về thủ tục hành chánh của chế độ, một chế độ tự xưng là đỉnh cao trí tuệ của loài người! Hộ khẩu là sợi dây thòng lọng. Sợi dây không còn lơ lửng trên đầu nhưng đã tròng vào tận cổ và nhà nước đang từ từ đẩy cái ghế dưới chân ra.

Đi về đâu?

Ông bà Năm tìm về Châu Phú tỉnh An Giang, một nơi hoàn toàn xa lạ. Thế nhưng là về quê! Hoàng và gia đình Nghiêm sẽ đi vùng kinh tế mới ở Lộc Ngãi. Một năm trước, Hoàng rời Sài Gòn với hy vọng Nghiêm được sớm trở về đoàn tụ. Và bây giờ Hoàng phải rời bỏ đây để đi kinh tế mới vùng khác vì không còn con đường nào để đi.

Nhà cửa, đồ đạc, tháo dở ngổn ngang. Mọi người đang lo thu dọn, sắp xếp, chợt thấy ông Chín Hổ, công an xã, cỡi chiếc Honda đàn bà màu xanh khá bóng láng, chạy đến. Mọi việc bỗng dưng khựng lại. Lòng dạ ông bà Năm bồn chồn, lo lắng. Chắc có chuyện rắc rối nữa đây! Ông Chín Hổ ngừng xe, vẫn ngồi trên yên. Hai chân ông bỏ thỏng hai bên. Nhìn quang cảnh rồi ông đánh diêm hút thuốc. Ông ngậm điếu thuốc đầu lọc làm cặp môi thâm sì của ông hơi trễ xuống. Ông vẫy vẫy ông bà Năm lại gần:

– Cháu hẹn bác trai, trưa lên xã lấy giấy đi đường nhưng tiện thể qua ngã nầy nên cháu đem đến đây cho hai bác luôn.

Ngôn ngữ thật tử tế, lịch sự nhưng ông bà Năm không mảy may xúc động. Ông bà đang hồi hộp đợi chờ để biết cái gì ở đàng sau câu nói và hành động hiếm hoi nầy!

Vừa nói, ông Chín Hổ vừa móc xắc cốt lấy giấy tờ đi đường ra đưa cho ông bà Năm.

– Đồ đạc bác nhiều dữ rứa? Phải mà bác cho cháu bớt mấy miếng tôn. Cái chái chuồng heo nhà cháu cần hai miến

Bà Năm rối ruột, đưa hai tay nhận tờ giấy cho phép đi đường quên cả tiếng cám ơn. Hàng chữ in đậm nét:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

đang nhảy múa trước mắt bà!

Những con người cần cù, lương thiện, bị cướp giật săn đuổi đến cùng đường!

[1] Kiều

“Xì tai” kiểu Ozzie!

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on January 5, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Bà con mình chắc ai cũng biết: chữ “Australian” là từ chính thức để chỉ người hoặc điều gì đó liên quan đến nước Úc. Nhưng người Úc vốn xuề xòa, lười dài dòng, nên họ bẻ chữ cho gọn thành “Aussie”. Đọc lên nghe thân mật, gần gũi, y như giọng Ozzie kéo dài ở quán pub sau vài ly bia. Có người còn viết “Ozzie” cho nó khác chút, nhưng nghĩa cũng vậy thôi.

Chữ “Aussie style” hay “living Aussie style” mang cái nghĩa sống theo phong cách người Úc: thoải mái, phóng khoáng, thích ngoài trời, khoái bù khú với bạn bè, chẳng màng nhiều chuyện thế sự.

Nói tới “xì tai” Úc thì phải kể chuyện của tui. Ba chục năm lưu lạc ở Melbourne, từ cái ngày bồng bế vợ con chạy cộng sản, tóc tai rối bù, hành trang chỉ còn cái quần xà lỏn.

Tiền đâu mà mua sắm? Cái gì cũng mướn. Nhà mướn, bàn ghế xin, ngay cả cái nồi cơm điện xin nồi cũ của thằng tới trước.

Rồi đời cu li bắt đầu. Ban đầu là “casual” (công nhựt), làm bữa đực bữa cái; ngày nào làm thì ngày đó có lương. Sau nhích lên “part-time” (bán thời, ít nhứt 20 tiếng mỗi tuần); rồi cuối cùng thành “full-time” (toàn thời, ít nhứt 38 tiếng một tuần).

Lương lãnh hai tuần một lần (fortnight), chuyển thẳng vô tài khoản ngân hàng Commonwealth.

Cái “pay slip” coi vậy mà quý, cộng vô trừ ra, ráng dành dụm chút tiền cọc. Ngân hàng thấy mình có ăn hơi bền, liền chìa tay cho mượn phần còn lại để mua căn nhà.

Mà mua nhà ở Úc cũng như ký giao kèo với quỷ dữ. Ở nhà mướn thì mình làm đầy tớ cho chủ. Mua nhà rồi thì làm cu li cho nhà băng. Mình cày được một đồng, tụi nó hốt năm mươi cents. Năm này qua năm nọ, hai mươi lăm năm dài cày sâu cuốc bẫm trả xong thì tóc bạc răng long, nhìn lại mới hay: cái nhà nuốt hết cả tuổi xuân, cả hoa bướm của một đời trai trẻ!

Rồi tới hồi chết, cũng tay trắng. Căn nhà từng đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có, rốt cuộc chẳng mang theo nổi. Xác đem đốt, khói bay lên trời, ô nhiễm môi trường chút rồi thong dong đi qua “cõi bên kia”. Còn cái cõi đó ra sao thì tui chịu. Bạn bè tui, kẻ thù tui, đứa nào cũng đi rồi, nhưng chưa có đứa nào quay lại báo cáo. Chắc nó sướng lắm, nên tụi nó giấu. Giống mấy ông đào vàng ngày xưa ở Ballarat, đãi được vàng thì nín khe, sợ người khác nhào vô tranh phần.

Tranh Bảo Huân

Căn nhà còn lại thì vợ con hưởng. Vợ tui mà rước thằng nào vô ở, kệ nó. “Who cares?” Mình đã thong dong đi cõi khác thì ghen làm gì. Nhà của tao sao mày dám vô ở? Ruộng của tao sao mày dám cày? Ờ, nhiều ông chết rồi còn hiện hồn bóp cổ tình địch. Tui thì không! Tui tính thoáng hơn. Đã về với mây trắng trăng trắng, vỗ tay reo trong cõi tang bồng thì buông bỏ hết cho nhẹ kiếp.

Ba chục năm qua, đời tị nạn lận đận, dọn nhà vòng vòng Miền Bắc, Miền Tây khu nghèo. Dọn từ Coburg, Fawkner, rồi West Footscray, St Albans rồi về lại Footscray… năm bảy ngoại ô, vui ít buồn nhiều. Nhưng ngộ cái, tui lại thích cái buồn đó. Thích vì trong buồn có cái xì tai Úc: ai mạnh nấy sống, không dựa dẫm, không màu mè hòa nhập hay hòa tan gì ráo.

Người Úc không bao giờ gõ cửa nhà hàng xóm xin chai beer. Họ quý tự do cá nhân, quý cái “space” riêng, nhưng lỡ gặp ngoài sân thì vẫn sẵn sàng cười toe: “G’day mate!” Nó có cho mình cắc nào đâu mà phải nịnh?

Tui nhớ hồi mới qua, tiếng Anh lõm bõm, nghe người ta gọi “Aussie, Aussie!” tưởng họ chửi mình chớ. Về nhà hỏi thằng nhỏ đi học, nó cười lăn: “Ba ơi, người ta kêu mình dân Úc đó!”

Mấy chữ giản dị mà chứa cả niềm tự hào. Sống lâu ở đây, tui cũng dần thấy: Aussie style không phải chỉ là ăn barbecue (thịt nướng) hay coi footy (bóng cà). Nó là một cách sống: không bon chen, không khoe khoang, làm lè phè nhưng chơi cũng siêng, thích ngoài trời, thích bushwalking (dạo rừng), camping (cắm trại), câu cá…

Ở Melbourne, cuối tuần dân mình hay rủ nhau ra bờ sông Maribyrnong, bờ vịnh Port Phillip cắm trại, uống bia. Bà con Úc đi ngang cũng ghé vô, hỏi thăm vài câu, rồi cụng ly “cheers” là thành bạn. Đó, cái xì tai Ozzie nó đơn giản vậy đó. Sống sao cho vui, cho thoải mái, không ai hơn ai, không ai thua ai.

Có lúc, ngồi nghĩ lại, tui thấy đời tị nạn ở Úc khá công bằng: mình bỏ công, bỏ sức, đổi lấy cơ hội cho con cái. Nhà băng thì hốt tiền lời, chính phủ thì lấy thuế, còn con mình thì hưởng tương lai sáng sủa hơn. Mình trễ rồi! Tương lai là của con, của cháu. Tui cam chịu cái phận cu li cũng vì vậy. Bon chen làm gì? Mệt!

Ở đời, ai mà chẳng phải làm cu li cho một cái gì đó. Ở quê nhà thì bị CS nắm đầu mình bắt làm cu li cho đảng, cho chế độ. Qua đây thì làm cu li cho nhà băng. Ít ra ở Úc, làm cu li mà còn có chút tự do, chút nắng, chút gió, có tiếng “mate” ấm lòng. Vậy là đủ.

Cho nên, nếu ai hỏi tui về cái “xì tai Ozzie”, tui chỉ trả lời gọn: Đó là kiểu sống không bon chen, không gồng mình, cứ thoải mái mà đi, cười được thì cười, nhậu được thì nhậu, làm được thì làm, trả được thì trả. Còn tới lúc chết thì… thôi bỏ đi tám!

DXT

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Bài 12

Người Bạn, Ngọn Nguồn Sống Động Với Tôi

Quả thật, người cộng sản, những người cầm quyền thuộc hàng lãnh đạo các đảng cộng sản (Đông lẫn Tây; ở Việt Nam, Trung Cộng lại càng nổi bật, sắc nét), đã chứng tỏ khả năng gần như tuyệt đối hữu hiệu trong quá trình đánh bạt những kẻ thù của họ về mặt chính trị, tư tưởng. Giữa những “kẻ thù cần phải tiêu diệt” kia, oan nghiệt thay, người viết văn, kẻ xử dụng chữ nghĩa, những thi sĩ, nghệ sĩ … Tất cả những ai làm công tác văn hoá nghệ thuật, kể cả những nhà giáo dục, chức sắc các tôn giáo …. Tất cả những người nầy phải là nạn nhân hàng đầu, không cơ may dung thứ, nhận điều kiện giảm khinh. Rất nhiều lần, những nạn nhân nầy còn“được“đặt trước, đánh giá hạng cao hơn hẳn những đối thủ chính trị, những kẻ thù quân sự. Staline có thể “thật lòng” ở mức độ nào đó với Ngoại Trưởng Đức J. Von Ribbentrop hoặc với Tổng Thống Mỹ Roosevelt, nhưng đã không hề cho phép người đàn bà làm thơ, Anna Akhmatova (1888-1966) có cơ hội khoan hồng. Thời “băng tan” của Khrushchev bày ra tội ác giết hai mươi triệu người Nga của Staline, nhưng đã không hề nới giảm Điều Khoản 58 về định nghĩa:”Tội Chống Đối Chính Quyền Sô Viết”. Định nghĩa tác động, quyết định sinh mạng chính trị lẫn vật chất của tập thể Nhà Văn Sô Viết đến hơn nửa thế kỷ, trong đó những danh tính Boris Pasternak, Alexander Solzhenitsyn bị đày ải miệt thị đến độ tàn nhẫn nhất. Nói ra như một điều khôi hài thê thảm, “Hồi Ký Viết Dưới Hầm Tử Hình” của Fyodor Dostoiesky cũng đã bị xếp vào loại “sách phản động” dưới ánh sáng nghị quyết của Bộ ChínhTrị Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên sô.

Tương tự như trên, Hồ chí Minh và những người thừa kế của ông ta, có thể (mà lịch sử đã chứng tỏ tỷ lệ khả thi khá lớn) “nhất trí” với những Marius Moutet, Jean Sainteny; sau nầy với Bidault, Kissinger … Nhưng họ đã “không chút nương tay” với Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Khái Hưng, Nhượng Tống trước 1945; hoặc với Từ Chung Vũ Nhất Huy, Chu Tử Chu Văn Bình; Hồ Hữu Tường, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường … của Miền Nam trước và sau 1975. Nhất Linh chỉ sống sót được sau 1946 bởi đã may mắn thoát hiểm chứ không do từ “hoà hợp, hoà giải” của người cộng sản. Cái chết là biện pháp đầu tiên, duy nhất người cộng sản (Nói lại một lần, cộng sản Việt Nam là loại bậc thầy, hàng kiện tướng) thường áp đặt đối với những người không thuận cùng họ về mặt tư tưởng. Có thể có trường hợp biệt lệ, khi người gọi là “kẻ chống đối tư tưởng” kia được đánh giá “để sống có hiệu quả hơn cho chết”. Thực tế Việt Nam sau 1975 với những đối tượng hành xử (của người cs) là giới viết văn, làm báo, sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật Sài Gòn là chứng cớ mới mẻ, cụ thể nhất. Đứng về quan điểm Tội Phạm Học, với những điều khoản hình luật cho dù khắc khe nhất, kể cả cách nại ra những nhu cầu chính trị tối cần thiết (ảnh hưởng, quyết định lên tiến trình xét xử, thi hành án lệnh của ngành Tư Pháp) …. Cũng không ai có thể tìm đâu ra“yếu tố phạm tội” nơi những trang sách, giòng chữ chan hoà Tính Lành, Lòng Thiện của “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc …” với Doãn Quốc Sỹ. Thế nhưng, người viết văn vô cùng trung hậu kia đã là một “đối tượng cần phải trừng trị đích đáng, hạ nhục thậm tệ” với án tù gần mười ba năm. Thời hạn giam giữ vượt quá mức án giành cho phạm nhân bị án tử hình. Theo cách xét xử và thì hành án lệnh của cộng sản Hà Nội, nếu án tử hình không thi hành, được giảm thành chung thân, xong xuống dần 0,16, 12 năm … Có khi chỉ khoảng 9, 10 năm đã được phóng thích, cho ra “tự giác”, một hình thức quản chế tại chỗ.

Một người cứng cựa kiêu hãnh như Phan Khôi, với chin năm theo kháng chiến, con, cháu làm cán bộ cao cấp (Phan Thao, Phan Bôi), nhưng chỉ vì một vài bài văn đã sống không ra dạng người, chết không yên nấm mồ.

Mãi đến 1987, báo Nhân Dân, tạp chí Học tập còn đăng bài truy bách, hài tội người đã chết. Nói thật tình, cho dù cụ Phan có viết đến hàng ngàn nội dung như Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi … Dịch ra dăm ba chục sinh ngữ, phát không trên toàn thế giới; Hội Đồng Nobel Thuy Điễn trao đến hai lần giải thưởng … Thì chế độ Hà Nội chắc cũng không chịu một chút nhỏ ảnh hưởng, cho dù bằng đầu sợi tóc.

Đến đây, chúng ta phải nhận ra điều khốc liệt: “Nhà Văn, Người xử dụng chữ nghĩa là nạn nhân hàng đầu và mau mắn nhất của những lần đổi thay chế độ, bất cứ thời đại nào đối với tất cả những tập đoàn cầm quyền, thực thi bạo lực”.

Chế độ cộng sản, người cộng sản Việt Nam hiện thực sự nhẫn tâm bất công trên ở mức độ cao nhất với biện pháp ác hiểm nhất. Kể từ khi tổ chức bạo lực, quyền lực của họ có mặt trên quê hương chúng ta, thập niên 30, nay đã hơn nửa thế kỷ, hiện tượng oan nghiệt đau đớn (mà cũng thật sự không cần thiết) kia chưa có dấu hiệu chấm dứt. Không hề có khả năng chấm dứt. Cho dù chúng ta đang ở thời hạn cuối cùng Thế Kỷ 20. Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế và nhiều người nữa … Những người không thể nào “đe doạ an ninh quốc phòng” vẫn còn nơi nhà giam, ngục tối, ở Việt Nam.

Từ những lẽ trên, bản thân cá nhân “Người Lính Viết Văn” hoàn toàn không có biệt lệ tránh khỏi được vòng vây nguy biến giành riêng phận người cầm viết. Hình như đây cũng là mặt biểu trưng về “hiện tượng chậm tiến” của những xã hội khốn cùng do nghèo đói, chiến tranh, thực dân, cộng sản cùng lần xé nát hay chăng? Hơn thế nữa, chính bản thân, chứ không ai khác là kẻ cùng cực hứng chịu ngay tại trung tâm cơn bão, không mãy may hy vọng chống cự, thoát thân. Trong trận chiến không cân sức nầy, hắn ta quả thật đã là mục tiêu bị đánh dập thê thảm và tàn nhẫn nhất. Từ tình cảnh khốn đốn của ngày 4 tháng Ba, 1973 tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội với một giàn thông tín viên, văn công, ký giả vây bọc, dàn cảnh mưu thuật gài bẫy, tấn công. Đến lần điều động cả một tổ chức với những chức sắc văn hoá, chính trị cấp cao, giỏi nghiệp vụ, vững lập trường như TT Đăng Đàn với Bộ Văn Hoá cộng sản Miền Bắc, để hoàn thành nên ngàn trang sách cáo buộc hàm hồ ngang ngược trong “Mười Lăm Năm Văn Học Nô Dịch Mỹ-Nguy Miền Nam.” (Ở đâu ra cái “văn học cùng khốn “nầy hả trời?!). Nhưng lần “đánh” nầy dù sao cũng chỉ là đòn phủ đầu chung đối với toàn giới viết văn Miền Nam, không từ một ai, dù người đã chết như … Lê Văn Trương, Đinh Hùng; nữ giới Bà Tùng Long, Lan Phương … Những người hoàn toàn vô can vi tất cả những gì gọi là “âm mưu của lầu năm góc, tập đoàn “quân phiệt phát-xít cia” (?!)”. Phải đợi đến lần “tổng công kích dứt điểm” được chỉ huy bởi một “công thần văn hoá” hàng đầu của chế độ Miền Bắc, Chế Lan Viên, vận động cả cơ quan ngôn luận trung ương đảng, báo Nhân Dân, Tạp chí Học Tập, qua các buổi học tập trong các trại tù suốt năm 1978, chuẩn bị tư tưởng cho lần Tàu đánh Việt Nam. Một cá nhân viết văn, chỉ danh “phan nhật nam”, được nại ra như “dấu hiệu về lần sa đoạ tột cùng của tập đoàn văn học nô dịch mỹ- -nguy”- Trong tài liệu học tập của chiến dịch nầy, những danh từ riêng “không được viết hoa” để biễu lộ mức độ khinh miệt của người cộng sản đối với tất cả những ai gọi là “kẻ thù tư tưởng”, chứ không phải do lỗi đánh máy, in ấn. Đức Thánh Cha Jean Paul II được gọi xách mé không thương tiếc: “giáo hoàng la-mã giăng-pôn hai”. Người cộng sản HàNội cũng dùng đến những bĩ thử ngược ngạo tồi tệ nhất, “Nhà văn viết bằng máu. Nhưng máu phan nhật nam là nước lã”. Chế Lan Viên nhắc lại ví von kia trong hồi ký xuất bản ở hải ngoại nầy. Ông ta rất hãnh diện điều mình đã viết, cách đã sống qua, quyền lợi đã thâu hoạch (từ chế độ cộng sản), cho dù hiện đang tuổi 80; sau những biến cố 1989, 1991 ở Đông Au, tại Liên Sô. Ai đã có chút chạnh lòng cùng chúng tôi, “Người Lính ViếtVăn” bị hạ nhục?”

Tại sao phải “đánh giá cao” một cách không tương xứng và độc địa đến vậy? Vì, trước sau, chúng tôi vẫn chỉ là một cá nhân đơn độc, thực hiện công việc viết lách sau tấm áo lính, vị trí đã quen thân, hợp dáng, để giải toả một số vấn nạn tâm lý tình cảm khởi từ sự xung đột mang tính cách cá nhân đối với một hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Chúng tôi hoàn toàn “vô vụ lợi lẫn vô hại” trong quá trình hiện thực chữ nghĩa nầy. Những dòng chữ viết kia (của quá khứ cũng như hiện tại), chỉ mang vác ý hướng duy nhất: Xiển dương Tính Thiện cho dù được viết trong bão táp lửa đạn hoặc nỗi chết. Đơn giản hơn, đấy là những “Việc Thiện” nhỏ bé mà đứa trẻ coi như là nghĩa vụ thường ngày đối với một Hướng Đạo Sinh. Bản thân cũng chưa hề đòi hỏi, tranh chấp cùng ai (kể cả đối với người cộng sản) về những mục tiêu quyền lực chính trị lẫn kinh tế; cũng không gây vướng bận, choán chỗ, vị trí công, danh trong văn chương, học thuật để gây phiền lòng đến những “nhà” nghiêm khắc và khó khăn của lãnh vực nầy. Trước sau, chúng tôi chỉ là “Người Lính dụng chữ nghĩa nói về Nỗi Đau” về từng ngày sống trên quê nhà lậm Khổ Nghiệp. Chuyện khổ đau làm sao nói đến cho cùng. Công việc người lính, nói rõ ra chỉ để nhẹ đi phần phiền muộn. Khi một người ở vào tình cảnh phải bật khóc, (lại là gã trai trẻ, lính tráng) ắt hẳn hắn ta đang ở thế cùng chứ đâu để mở mặt trận tấn công, tranh chấp cùng ai?! Thế nhưng, chúng tôi chỉ nhận lại sự đánh giá “không công bằng”. Số đông những người cầm bút Sài Gòn, trước 1975 (và hải ngoại hiện tại) có bao giờ nhìn nhận bản thân chúng tôi như là một “văn hữu” thuần thành, chuyên nghiệp của riêng giới họ?! Trước 30 tháng Tư, 75, chúng tôi được gọi là “nhà văn quân đội với ký sự chiến trường ồn ào súng đạn” … Nghĩa là, chỉ xác định về một hạng, thứ “nhà văn hạn chế”, thành viên của một tập thể không có khả năng, cũng không là đối tượng văn học nghệ thuật. “Nhà Văn – Một vóc dáng cao xa. Ở nơi bí ẩn nào khác!”. Và hiện nay, ở Mỹ là: “… Một loại thứ văn chương HO nhàm chán thiếu chiều sâu trí tuệ, sáng tạo”. Chén đắng “không tử tế” nầy cần phải nói lại đầy đủ để hiểu:” Lần hạ nhục khởi đi từ 23 tháng Tư, 1995 tại Houston, lây lan tiếp theo khắp nước Mỹ, tràn tới những nơi đông Người Việt cư ngụ, cũng là những chỗ “Người Lính- Người Tù-Người Viết Văn” dự định đi đến” … là hệ quả tất yếu của một vấn đề tệ hại vốn dĩ có sẵn. Tất cả chỉ là “lần nối dài” của hiện tượng hằng có từ trước 1975, với mặt trước chiến tuyến là người cộng sản (tất nhiên) và bên nầy … (Xin phép vận dụng sự thẳng thắng cần thiết, cho dù gây mối cay đắng nhức nhối, không ai muốn nhận ra).

Vâng, bên nầy hướng tấn công, sau lưng chúng tôi, không ai khác, những người luôn nại đến những điều linh thiêng- Những “siêu yếu tố luôn được lợi dụng” bởi không ai bảo chứng, kể cả những những kẻ tráo trở vô lại làm điều bội bạc, bất lương; những tên tham nhũng phá nát toàn bộ hệ thống kinh tế, tài chánh quốc gia; những kẻ gây điêu đứng vận mệnh, chủ quyền đất nước- Đấy là hai trụ cột “cứu nguy”: “Lập trường Quốc Gia Dân Tộc; Tập thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà”. Kẻ cầm quyền cộng sản hiện nay ở Việt Nam cũng đang làm công việc tương tự nhưng với những danh hiệu cũ kỷ khác … “nhân dân, chủ nghĩa xã hội, độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng”. Những người (của cả hai “phe”) tham dự vào lần “đòi ném đá” (nói theo cách Bùi Bảo Trúc) lên “Người Lính- Viết Văn- Bị Cầm Tù”, quả tình chiếm thế thượng phong áp đảo trong trận đánh không cân sức vừa kể ra. Về phía cộng sản, họ có tỷ lệ thắng lợi quyết định rõ ràng hơn. Tuy nhiên, cả hai đều không tiên liệu được một điều: Cá nhân bị hạ nhục kia Có Bạn.Bằng Hữu bốn phương đứng đủ sau lưng hắn. Những Người Bạn đã cùng qua sống – chết.

Chúng Tôi đã từ rất lâu Bị Hạ Nhục,

Chúng Tôi vẫn từ lâu ở Vị Trí Chiến Đấu,

Bởi,

Chúng Tôi Có – Bạn.

Chúng tôi có Bạn. Những người đã từng gọi nhau bằng tiểu danh “thằng Rô, cu Lớn, cu Lé … ”. Người đã tham dự vào những trận “huyết chiến” với súng trường làm bằng bẹ chuối; gươm đao là ống đu đủ. Người khám phá được “bí mật” về chấm nốt ruồi nằm ẩn sâu trong con ngươi mà chính kẻ sở hữu kia cũng không hay biết. Người chứng kiến lúc những sợi tóc xanh đầu tiên chuyển màu trắng bạc, nhận ra nét mệt mỏi của Bạn trong giấc ngủ bất chợt sau bữa rượu hiu quạnh. Đấy là Hồ Công Lộ nơi cuối cùng Nam bán cầu, ở chấm nhỏ tận sâu thế giới, chốn có màu phượng đỏ như sân cát trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng và mùi gió biển thổi đến từ Tiên Sa, Mỹ Khê, Mỹ Thị. Trong tâm cảnh như thế, nên giữa giờ Giao Thừa, Bạn chợt hỏi: “Ông nhớ mình ăn tết cuối cùng với nhau, đến bây giờ là bao lâu”. Anh trả lời: “Lúc ấy, nhà ông vừa dời xuống Trẹm, cuối 1959″. Tiếng nói chìm xuống bùi ngùi … “Ừ, vậy là ba mươi sáu năm … ”. Đấy là Trịnh Diệu Tân với lời bật khóc: “…Cầm tay bạn, tôi có cảm giác như chạm phải những nhánh nè khô ở ngoài mình…”. Và một thân đàn bà gầy yếu, Võ Thị Thương tám giờ lái xe qua bão tuyết, đến cho kịp giờ họp mặt, để nói được câu ngắn ngủi: “Bạn tôi gọi thì tôi đến. Bốn mươi lăm năm mong thấy lại một lần nầy”. Tôi phải viết hẳn một bài riêng hoặc một cuốn sách mới nói hết chuyện về, của mỗi người, những NBTrạc, BNTô, VNChiêu, TTHải, Tuấn, Thảo, Bình … Kể hết trang giấy nầy liệu đủ tên chăng?

Ba mươi, bốn mươi năm … Đến một lúc nào đó, với những dáng hình ân cần ấy, ta thấy hình như “chính bản thân mình”– Là Chính Ta Không Biến Đổi.

Chúng tôi đã cùng với nhau đêm di hành qua núi đồi Đà Lạt đẫm sương mù và mưa khuất mặt, vùng rừng nức hương nhựa thông, ánh lửa mục tiêu sáng hồng vũng đêm dọi bóng bạn xuống bạt ngàn cây lá. Chúng tôi đã cùng với nhau chìm trong dòng nước đục ngầu, mùi bùn đước ngùn ngụt bốc lên xám tối vàm sông, mờ khói sóng biển Đông ngày giáp Tết. Nửa thân dầm nước bạc, nửa thân trần, tay giong súng lên cao, đám lính trẻ cười vui như đang trong hồi thích thú … Không một ai chạnh nhớ … Đang là chiều cuối năm … Mái ấm gia đình. Một buổi bình yên đoàn tụ … Bởi chúng tôi đang hân hoan trong Muà Xuân Bằng Hữu cuả riêng tuổi trẻ không hề tàn luị. Quả thật không hề mất đi tiếng cười thanh xuân hào sãng kia, dù hôm nay, trăm, ngàn người tuổi trẻ cuả ngày ấy, lượng vắng mặt đã quá phần đa số. Những Lô, Thông, Mễ, Lạc, Tâm, Túc, Trang, Đức, Cần … Tên người sống kẻ chết lẫn vào nhau. Bởi, chúng tôi luôn nghĩ về Bạn như một người đang sống đây, dù đã bao lâu không thấy mặt và cách bao xa.

Nhưng Bạn Lính không chỉ là những người cùng chung lứa tuổi, cùng khoá sĩ quan, cùng Trường Võ Bị. Có hằng hà cả triệu quân lực, của hết Bốn Vùng Chiến Thuật. Nầy, Đào Văn Năng, Biệt Động Quân số 103, Khóa 12 Rừng Núi Sình Lầy, người lấy khẩu AK 47 đầu tiên ở chiến trường Miền Đông, Đồng Xoài, Bình Dương, tháng Năm, 1965. Cũng là người chiếm hàng đầu “phạt trọng cấm” của một triệu quân lực Miền Nam; thâm niên cấp bực trung uý đáo hạng bảy năm. Tôi đứng bên cạnh không nhận ra, nhìn xuống khối bông băng lỗ chỗ những vết nám đen vì khói đạn rây khô cùng máu đọng. Đấy, thiếu uý Vũ Văn Bắc hai mươi tuổi, ở pháo binh Dù. Bắc đi lính vì không chịu nỗi tình cảnh quảng đường từ nhà đến giảng đường trường Luật. Từ Bà Quẹo Bắc phải qua Trại Hoàng Hoa Thám, bản doanh Sư Đoàn Dù; Trại Phạm Công Quân, Tiểu Đoàn 3; Trại Nguyễn Trung Hiếu, Tiểu Đoàn 1 … Có nghĩa, Bắc phải chứng kiến hằng ngày những xe GMC từ những nơi ấy đi ra đường phố Sài Gòn, hướng về Biên Hoà, nơi Nghĩa Trang Quân Đội. Trên xe, chiếc quan tài phủ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lắc lư … Người vợ xỗ tóc gục đầu trên nắp áo quan, đứa bé ôm ảnh cha ngồi ngó mông xuống lòng đường ầm vang xe máy. Không ai vội lướt nhìn lên. Bắc không đành lòng với cách lãnh đạm tàn nhẫn nầy. Bắc đi lính năm 1972 vì sách “Mùa Hè Đỏ Lửa” nói thật những chuyện nhỏ bé bi thiết đó.

Có hằng trăm, ngàn người tuổi trẻ vào lính trong những năm 70, dù rất nhiều người được tình trạng hoãn dịch.

“Người Lính-Viết Văn” viết về họ chứ không ai khác. Phải viết hết những Bạn Lính của mình. Công việc nầy là một bổn phận rất cảm động và đáng tự hào. Nhưng Bạn Lính không chỉ có cùng nhau khởi đầu lãng mạng, nhiều xức cảm, trí tuệ ấy. Bởi sau quyết định dấn thân vào chốn nguy nan kia, người Bạn Trẻ cùng chúng tôi hiểu được ra rằng, lần hiểu biết cũng là lúc tham dự trực tiếp vào những giờ phút khốc hại, mà dù trí tưởng tượng phong phú bao nhiêu cũng không có khả năng dự báo, chuẩn bị theo kịp. Đấy là, khi nằm ép mình sau mô đất, nhìn từ gốc cao su đến bờ rừng ngặt nghèo kia … Nơi xuất phát những tiếng nổ sắc gọn … Khô đục của AK, âm độc địa của thượng liên nồi … Cũng là lúc hiểu với nhau rằng, tự thân mỗi người đang có cảm giác lạnh. Lạnh đến phát run dẫu trời hạ chí Miền Nam hun hút lửa. Chúng tôi đã cùng nhau qua phút giây ngắn ngủi nhưng tưởng chừng thiên thu không đứt đoạn, không kết thúc ấy. Tiếp sau đó, cùng lần xốc dậy, giọng vỡ ra khàn đục những âm thanh khô rốc, hoang dã …. X … ung … xung … ph.. ong … Chúng tôi cùng lật bật chạy trên mô đất, ruộng lúa, gò cát, hố hầm săn sắc … vướng vít … Và bỗng nhiên có người ngã xuống … Thân hình quật ngược trên đất. Giây ba chạc đeo đạn bị bứt tung. Người bị nạn luống cuống những ngón tay trên ngực, nơi vết thương đang ứa thẫm, máu theo lỗ thủng từng giòng, từng chập tràn loang, sũi bọt … Đích thân …. đích thân … tui, tu .. i bị thương …!! Mắt Bạn hốt hoảng, quanh quất, tìm kiếm … Bỗng nhiên ánh mắt kia dịu xuống … Bạn thở hắt, nói nhỏ … Đích … thân … đích thân … đừng … đừng bỏ e .. em …

Chúng tôi hằng sống với Bạn như thế cho dẫu mười, hai mươi năm xa. Cho dẫu hai vùng địa cực. Cho dẫu nửa vòng trái đất. Đã mất hẳn vũ khí. Quân phục bị xé bỏ …Anh đã sống như thế với Thái “tây lai”, Ngọ “bài cào”, Cảnh “kèn”, Binh nhất Thiên, Hạ sĩ Hùng … Mà hơn ba mươi năm, khi nhận được lá thư, gởi đâu từ một ấp nhỏ ở Xuân Lộc, Long Khánh, Hùng vẫn nhắc lại cái hôm đóng quân nơi chợ Sịa … Anh đau thắt thật sự bởi kết luận cùng đành … Anh em khổ quá “đích thân” …Chúng tôi cũng đã sống như trên với Nguyễn Văn

Phán, Trần Như Hùng, Nguyễn Tiến Việt, Cao Xuân Huy, Nguyễn Tường Phong, Lê Xuân Nhị, Đào Quang Vinh, Đại Dương … Chúng tôi hằng sống như thế với mỗi Người Bạn Lính. Cảm động và sâu xa hơn … Chúng tôi cũng đã sống với nhau qua “cảnh chết- trại tù”. Cảnh địa ngục im lặng có thật mở ra từ đêm trước ngày hành quyết Lê Đức Thịnh, 16 tháng Tư, 1976, Long Giao, Long Khánh. Tổ, đội năm mười người; vài ba trăm của từng nhà, từng láng; ngàn, chục ngàn con người đồng nín thở thì thầm … Bao giờ … Bao giờ … bao giờ … bắn?! Mặt trời đầu mùa Hè xuống sau rừng cây cao su; mặt người ráng pha như máu thấm. Những con mắt láo liên, nhìn quanh quất như đã thấy tượng hình cái chết. Chết, ngày trước chúng tôi hằng sống cùng nó và đủ sức đương cự. Nhưng lúc ấy, trong tay có cây súng, tạo nên mối tự tin bình yên như lần lên máy bay với chiếc dù sau lưng. Nay cảm giác an toàn kia không còn. Cây súng đã bị đập vỡ. Chúng tôi tê liệt, co rúm, hoàn toàn trần trụi trước dãy giao thông hào sâu ba thước, bề ngang hai thước, đào lẫn khuất dười tàng cây, vòng quanh khu kho đạn, những nơi phải tinh ý lắm mới nhận ra. Thật đúng vị trí cho một hệ thống mộ tập thể. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Không một lời. Tình cảnh của đám người Do Thái dắt díu nhau, trần truồng bước vào phòng hơi ngạt … Như những ngày Mậu Thân, khi người cộng sản cần an toàn chính trị, bảo vệ tuyệt đối quyền lực. Trong những giờ phút trắng nhợt lặng lẽ kia- BẠN là nhu cầu sinh tử, không là cha, mẹ, vợ, con. Chúng tôi sống với nhau qua từng giây siết ngặt ấy – Với Nguyễn Xuân Trung, Trần Tử Thanh, Hà Khắc Quỳnh, Cao Xuân Hiệp, Nam “râu”; Hưng “híp”, Trọng” đểu” … Những người cho thêm khí thở từng hơi ngắn. Phải. Anh không hề nói quá lời. Ngày Hè, 1976 Anh và Bạn thở như cá vất lên bờ. Cũng những con mắt đỏ qua từng đêm trước ngày 19, tháng 6- Ngày Quân Lực- Cũng ngày xuống tàu Sông Hương đi ra Bắc. Trong toa xe kín cửa, chiều tối 23 tháng 6, anh tì cằm, thở trên vai bạn từng hơi ngắn .. Không can gì … Không can gì … Cầu Chúa đi …Một người nào đã nói. Bạn Tù!! Tiếng vỡ oà thống khoái của những người đang cùng dưới đáy vực. Người bình thản chia nhau hơi thuốc trước khi mở ra cánh cửa thống khổ, hiện thực cảnh địa ngục nơi trần thế. Đấy là khi anh cùng Thảo Trường chia nhau nhúm lá xanh xanh gọi là “thuốc”, thở hơi khói, quấn ống quần, cột con “dao tông” vào hông, bắt tay nhau, nói lời ngắn: “Gặp như thế nầy là biết đang còn sống. Phút tới, ngày mai, đi đâu, như thế nào … đếch cần biết”. Xong cả hai chui vào khoảng tối màu xanh lục đậm gọi là “vũng giang”. Phải, chỉ chui được như một loài bò sát mõng dẹp bởi vũng giang thuộc loại cây rừng thiên cổ, do từ khi có sự sống trên quả đất, nơi đây chưa hề có hơi người. Cũng không hề thấy dấu vết của loài thú bốn chân. Cùng lúc hiểu ra ý nghĩa của từ “gian nan” – Gian nan hoá ra là thế nầy thôi … Là trong vũng giang!! Ý nghĩ xen lẫn bồi hồi vì đột nhiên nhớ tới Bạn: “Không biết ông ấy có chịu nổi không; ông ấy là lính tham mưu, lại lớn tuổi hơn mình? Lúc ấy, mùa Đông, 1976. Mười hai năm sau, chúng tôi gặp nhau lần thứ hai. Gặp Thảo Trường đang trong trạng thái “hồn ma dương thế, … Kiến … kiến … giết nó đi .. Bạn chỉ vào cốc sữa nơi tay anh. Bấy giờ cũng là mùa Đông, năm 1988. Chúng tôi đang qua năm tù thứ mười bốn. Đố ai biết bạn anh phải thêm một hạn tù ba năm nữa. Chỉ chúng tôi sống với nhau. Cũng chỉ mỗi mình anh Với Bạn nơi ranh giới sống-chết lặng lẽ kia. Khi Bạn lên cơn sốt vỡ máu óc.

BạnTù là tiếng nói thì thầm thúc dục, giữ gìn, nâng đở vọng từ mông mênh đặc kín tầng đen, vào một giờ khắc không xác định, của một ai đó không quen .. anh … anh ….. na .. m … nam … ăn đi … có anh .. e .. m … c .. ó … vớ … i … an .. h .. “.Âm sắc người Miền Nam đưa dần anh qua hấp hối, hôn mê sau trận đòn mở đầu kỳ kiên giam, sau bảy ngày nhịn ăn để đợi … chết. Anh đã sống trong tình cảnh linh diệu đó với Biệt kích quân Hà Sơn, Nguyễn Công Thành, với Trần Văn Chí, Khoá 11 Quốc Gia Hành Chánh, với Cao Văn Bảy giáo sư Petrus Ký … Ngày cận kề, đi vòng về bên kia. Sau cái chết. Tháng Hai, 1979. BạnTù- Là nguyên nhân gây xúc động trưởng chừng kích ngất của một lần nơi khám tử hình trại Nam Hà, sau tám năm kiên giam kể từ 1981. Khoảng thời gian quá dài để không nhớ được rằng đã có lần ” Ta Có Bạn”; bởi kể từ thời gian xa xôi kia, ngày 25 tháng Tư, 1983, khi nghe ngoài cửa phân trại C, trại 5 Lam Sơn âm thanh, tiếng nói   Người Miền Nam lần cuối … Giọng Quảng Ngãi, Trần Xuân Lợi TQLC; cách gằn chữ của Phan Giỏi Sư đoàn 2 Bộ binh, người Quảng Nam … Để biết, vậy là Bạn đi về Miền Nam, mình ta với đơn độc ở lại – Cách chết sống im lặng nơi những phòng giam không mối nối với loài người, giữa những đồng bào cùng chung huyết tộc. Kể từ đấy đến hôm nay, 1988, nơi trại Nam Hà nầy … Lâu quá … mình không có bạn, không được nghe “người trong mình” ... Anh đã tán thán nhiều lần như thế giữa vũng tối, tại những hầm kiên giam chưa kịp xác định vị trí đã phải vội di chuyển đi nơi khác. Thế nên, vào buổi bất ngờ kia … Người đi sau gã tù trật tự đột nhiên cất tiếng:” … Nam … Nam … Tôi đây!!” Và người ấy cất chiếc nón lá … Ô .. Anh … anh … Uỷ!! Anh cầm tay BẠN … Vâng. Đây là Con Ngừời. Đây là Người Bạn. Anh biết nói gì hơn?! Cuối cùng, Bạn không phải chỉ giới hạn giữa những người đã một lần quen biết do chung số tuổi, chung màu áo lính … Người có thói quen về bữa rượu; người chia sẻ một hoàn cảnh từ tội ngặt nghèo … Không chỉ là thế, hoàn toàn ra khỏi mọi dự tính khi quanh anh có một tập hợp lạ lùng đa dạng vì tình cảnh: Người Bạn nầy là một khác biệt hẳn đối với một Người Bạn kia! Giữa những Bằng Hữu ấy không hề có chút tương đồng cho dù với một mẫu số chung nhỏ nhất. Bởi cô Đặng Hoà Bình ở Virginia có giải thích: “Tôi rời Việt Nam trước 30 tháng Tư với Mùa Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số I … Là những gì quý nhất trong những kỷ niệm một đời tôi ở Việt Nam. Ông chẳng biết tôi là ai, nhưng vì là một người đọc sách, và cũng là một trong những người được hưởng an bình nhờ công lao chiến đấu của ông và những người lính khác. Nên tôi thấy có bổn phận phải nói lên ý kiến dù không ai hỏi tới. Sự Hy Sinh của Người Lính không có gì đền bù được …”. Cùng lúc, người lớn tuổi Tôn Thất Đàm, 14592 Sheffield St, Westminster thì viết nên lời xót xa: “Tôi ấm ức mấy ngày, đi ra đi vào tức bực. Tôi nói với nhà tôi: “Tại sao con người có thể đối xử với nhau “ác” đến như thế. Người ta có thể bôi lọ nhau vì miếng cơm manh áo, chức tước hão huyền … Nhưng trên bình diện tư tưởng thì chớ. Đừng PHẠM VÀO TỘI ÁC …”. Người Bạn của anh cũng không cần phải có một số tuổi ấn định nào đó mới cấu kết nên mối cảm thông. Thế nên, dù là cậu bé còn trong độ tuổi thiếu nhi ngày rời khỏi nước, Lê Thắng Tiết ở Montréal đã làm một công việc đầy cảm khích, phát xuất từ lòng trung nghĩa, biết hàm ân: “Em tập trung những huy hiệu của các đơn vị Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, để nhớ các anh, cha em, chú em đã chiến đấu dưới những phù hiệu nầy cho Miền Nam. Em sưu tìm nó từ lúc em bắt đầu có suy nghĩ, nghĩa là từ khi đọc cuốn sách tiếng Việt đầu tiên, cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa của anh.”. Phùng Minh Hải Ohio, thì có cách biễu lộ thắm thiết riêng:”Em lái xe từ trên đó xuống đây, Trại Hè VềNguồn VI; tháng 9, 1995 Tennessee hơn sáu giờ, dự trại nầy để nghe anh nói chuyện, xong đêm nay em trở về đi làm ngay”. Hải lục hết các túi, đếm đủ tiền cho hai cuốn sách, lột chiếc đồng hồ trên tay:” … Anh là người không hề có tiền … Cho phép em … “.

Anh cười gượng, bởi cảm xúc quá lớn:”Không đúng thế đâu; trái lại anh là người “giàu nhất”. Có Nhiều Nhất”.

Bữa cơm trong căn nhà “đầm đìa việt nam”, mà có một lúc, anh nghĩ đang ở Phú Nhuận, Bà Quẹo … Bởi màu lá cây đong đưa trong không khí gây gây rét … Khối không khí tỉnh lạnh của 1966 qua 67, nơi vườn cau Bình Trị Đông, cạnh con kinh loáng sáng phản chiếu lên những trái bần xanh … Anh nghe ra mùi nắng, gió, bãi ruộng đã gặt nức bùn non chưa khô vỡ đầm đìa cùng hương sắc thăm thẳm Miền Nam rộ vàng Mai ngày Tết … Nhưng thật ra bởi cử chỉ, tiếng lời của Bạn … Một nhân dáng võ thuật chuyên nghiệp chân truyền, nên dẫu to lớn, thô tháp, vạm vỡ vẫn chắc vững, nhanh gọn. Và tiếng lời thì đúng của một người đang trong cơn hoan hĩ cùng cực của buổi “… Bằng hữu tự viễn phương lai bất diệc lạc hề …. Nào, nào … mời … Bác. Nào, ông xơi hộ tôi. Nào … ông với tôi ngờ đâu có được ngày nầy. Ông nhớ chứ … Năm ấy … ở Bà Rịa, ở Vũng Tầu .. ” Trần Huy Quyền cho anh sống lại đủ ngày vui của lần vừa qua hai mươi tuổi. Anh luôn linh động trẻ trung với Bạn. Cả hai không hề nghĩ ra … Qua Tết nầy là đã “quá ngũ tuần” …

Chiều cuối năm, Melbourne chợt lạnh bởi cơn gió thốc lên từ đia cực, thổi bay mái tóc nâu nhạt cuả Trần Như Hùng đang lóng coóng bế con nhỏ trên tay; Lê Đại Lãng cho tay vào túi lấy bao thuốc, mắt cúi xuống, di di chân trên nền đất; lời nói đuà thường lệ bỗng tắt ngang. Hai cô em, vợ Hùng và Lãng, chỉ chỏ những nhà lầu không có gì đổi khác. Bỗng tất cả động tác, lời nói đồng lần chùng lại …. Bé Ti hôn bác đi … Người lớn cất dấu, chuyền cảm xúc qua con trẻ. Anh lên xe, mắt nóng cay. Bởi, mấy mươi năm nay anh luôn đi một mình. Ngày anh rời đất Úc, có mặt đủ hết bốn ông, bốn bà Khoá 18; ba vợ chồng Khoá 21 và bốn cháu nhỏ. Nghiã là, hai thế hệ Võ Bị và ba thế hệ thương yêu. Anh hoàn toàn quên mất sự việc: “Những người mở đầu trận “đánh” ở Houston cũng thuộc những khoá 18 và 21 nầy”.

Nên,

Xin được nói lời cuối với Thật Lòng Hãnh Diện:

Tôi Là Một Người Việt Nam Vinh Hạnh.

Tôi Có Bạn.

11 THÁNG 1, 1997.

Một Năm Sau,

Từ Đất Bình An – Úc Châu.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Dưới Mắt Thượng Đế

Bài 12.

Phép Lạ

Google image

Dưới mắt Thượng Đế chúng ta phải làm gì? Hãy tha thứ lỗi lầm cho nhau – Thượng đế sẽ tha thứ chứng ta. Hãy thương yêu nhau – Thượng Đế sẽ yêu thương chúng ta. Còn gì tuyệt vời hơn tình yêu trong tâm hồn chúng ta?

PARACELSE

MỘT BỮA, tôi phải đi thăm hệnh ở khu Giải phẩu chỉnh trực. Viên y sĩ trong khu này, một người tài ba, đã bất mãn bỏ đi vì bất đồng ý kiến với ban giám đốc. Chưa tìm được người thay thế ông giảm đốc bệnh viện đã nhờ tôi tạm thời trông coi khu ấy, thêm vào nhiệm vụ vẫn có thường ngày.

Sáng hôm ấy, tôi chú-ý ngay đển một bệnh nhân mới vào, một người dân bà quê mùa, trạc bốn mươi tuổi, ở miền Rừng Đen. Gương mặt nghiêm trang, gần như khắc khổ dưới mái tóc sớm điểm bạc chải hết ra đằng sau gáy, lộ vẻ tiều tụy vì sương gió, lộ vẻ khắc khổ và tiều tụy của những nông phu miền núi thường phải cày cấy và canh tác trong những điều kiện cực kỳ khó nhọc. Qua lá thư người bạn đồng nghiệp đã săn sóc rồi gửi bệnh nhân đến đây, tôi được biết bà ta bị bại hai chân và đã phải nằm liệt giường từ tám năm nay. Tôi còn được biết bệnh nhân đã ngã khi bắt đầu bị liệt. Tôi khám sơ qua và chẳng biết thêm được gì. Hai bắp chân có vẻ bình thường nếu các bắp thịt không bị teo lại vì bất động quá lâu. Tình trạng đôi chân thật đáng ngại hơn. Gan bàn chân vẹo vào phía trong, cổ chân duỗi thẳng – trong nghề chúng tôi gọi là “bàn chân ngựa vẹo vào”- thành ra bắp thịt bắp chân và gân gót co ngắn lại rất nhiều. Bệnh nhân không giơ chân lên được, vì các bắp thịt thường thi hành cử động ấy đã suy yếu quá. Tóm lại, người có “bàn chân ngựa vẹo vào” không thể đi được, cố gắng lắm cũng chỉ nhích được một tí trên đầu ngón chân là cùng. Hơi phân-vân, tôi khám lại kỹ càng hơn. Tôi đã tốn công vô ích: không một thương tích nào ở trung khu vận động, không một hỗn loạn cảm giác nào ở da và cũng không phải tê liệt thần kinh. Hình rọi quang tuyến cũng không thấy thương tích nào ở xương sọ hay xương sống khả dĩ đụng chạm đến não tủy. Dưới khía cạnh bệnh nghiệm, liệt chân như thế thật kỳ và lạ, nếu không nói là vô lý. Còn muốn giảng tại sao hai chân bị vẹo thật cũng dễ lắm. Khi nằm dài, hai bàn chân ta tự-nhiên duỗi thẳng ra, các bắp thịt co lại, trong khi các bắp thịt trước ống chân cũng dãn, hai bên co dãn tỉ lệ nhau. (Muốn nhận định rõ, ta chỉ việc nằm dài xuống là thấy ngay). Thêm vào đó, chăn nệm đè nặng trên người, giữ hai chân duỗi thẳng, nhất là khi nằm ngửa. Vậy mà bệnh nhân nằm im, bất động đã tám năm trường …

Nhưng, nguyên nhân sự tê liệt vẫn không sao giải thích nổi. Chụp quang tuyến từ đầu tới chân, không một vết gẫy nào ở sọ cũng như ở xương sống, ở chân cũng như ở vòng xương chậu. Tuy nhiên, phải có một nguyên cớ nào khiến người đàn bà này phải chịu tàn tật gần như hoàn toàn trong suốt tám năm. Trong y khoa, người ta phân biệt hai loại tê liệt. Hầu hết những tê liệt bắp thịt đều do một chứng bệnh nặng nơi óc hay tủy sống, hoặc do một khiếm khuyết nơi hệ thần kinh khi bị ngộ độc hay bị thương. Nhưng ngoài ra, còn có những tê liệt giả do một nguyên nhân chủ-quan: bị kích động mạnh hay đau đớn quá, bệnh nhận chợt thấy không thể làm một vài cử động nào đó, duỗi tay ra, co chân vào chẳng hạn. Guồng máy vận động như bị hãm lại, nghĩa là khi sắp làm một cử động, bệnh nhân không thấy tác dụng thần  kinh, khiến các bắp thịt phải thi hành cử động ấy không thể hoạtđộng được. Những trường hợp này, các y sĩ trẻ, mới ra trường, thường cho là loạn thần kinh hay bệnh nhân cố ý, coi người bệnh hoặc như một người điên hoặc như kẻ giả ốm. Theo ý tôi, phán đoán như vậy hơi vội vàng, ta cần phải tìm cho được những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng.

Hai ba bữa sau, với ý định ấy tôi trở lại thăm người đàn bà nhà quê “của tôi”. Vì khu giải phẫu chỉnh trực đầy người nên bệnh nhân được nằm một mình trong một buồng nhỏ. Thật là một cơ hội để tôi dò xét bà ta. Thoạt tiên, tôi hỏi thăm về nông trại ruộng nương, trâu bò. Cứ nhìn dáng điệu dễ dàng sung túc khi thiếu phụ kể nào nhà, đất, tôi cũng biết nhà rất khá giả; hai vợ chồng khai thác một trong những trang trại đẹp nhất do hàng bao thế hệ nông dân kiêu hãnh cần cù lập nên ở vùng Rừng Đen. Dần dà đề cập đến chuyện bệnh tật, ở điểm này tôi vẫn e ngại một sự kín đáo tiêu cực và thụ động. Thường thường dân miền quê hay rụt rè e lệ khi nói đến chuyện sức khỏe hay bệnh tật. Phải làm như hỏi cung lục vấn mới cậy họ rỉ răng cho biết tai nạn đã xảy ra thế nào hay bệnh tình diễn biến ra sao. Thế mà tôi rất ngạc nhiên khi bệnh nhân, không đợi hỏi han, đã kể lể con cà con kê hết cả sự tình. Nỗi khổ đau, niềm thống khổ bắt đầu từ tám năm trước. Hôm ấy cả gia đình họp mặt trong trại: có bà mẹ chồng, ông anh chồng, người chị và em trai thiếu-phụ. Bốn người ngồi ăn quanh chiếc bàn kế cạnh gốc cây hồ đào cổ thụ. Mọi người nói chuyện ồn ào vui vẻ – trừ bà chủ gia-đình. Theo lệ thường, một mình bà trong bếp bận pha cà-phê. Bao giờ cũng vậy, thui thủi một mình chẳng ai giúp đỡ: người đàn bà ấy cong lưng thổi nấu dọn dẹp từ sáng tới chiều. Thỉnh thoảng mới có dịp vui đùa giải trí trong trại, thì lại chỉ được đóng vai chầu rìa.

Vậy hôm ấy, bà luôn luôn bận bịu bếp núc trong khi người khác vui chơi. Lửa nhỏ, củi hết, bà ta lặng lẽ ra chái nhà lấy thêm. Vừa bước được mấy nấc thang từ bếp ra sân, thiếu phụ trượt chân mất thăng bằng, cả mình ngã ra đằng sau, bàn tọa đập mạnh vào những bậc đá. Đứng dậy không được bà ta kêu cứu. Mãi một lúc sau, cả nhà chạy lại. Ông chồng đến sau cùng. Dửng dưng trước sự đau đớn rên rỉ của vợ, ông phá ra cười.

– Nhà cháu hỏi sao cháu lại chơi ván trượt tuyết (toboggan) trên lưng như thế, rồi bảo cháu nào còn son trẻ gì, – nhưng thấy cháu không đứng dậy được, anh ấy cũng sợ, thôi không cười nữa.   , thưa bác sĩ, từ lúc ấy cháu không đi được nữa … đã tám năm trời rồi …

Thiếu-phụ ngừng lời, cố nén nức nở. Tôi lặng yên để bà ta bình-tĩnh lại. Câu chuyện vừa nghe chẳng giúp tôi tiến thêm bước nào để giải quyết vấn đề cả. Ngã mà chẳng có thương-tích nào hết, chắc phải có nguyên cớ gì khác chứ – nhưng nguyên cớ nào?

– Lúc ấy, bà có cho mời bác sĩ đến không?

– Thưa có ạ. Nhà cháu có sai thằng nhỏ phóng xe vào làng mời. Bác sĩ đến, nhưng không tìm thấy gì cả ạ. Sau cùng ông bảo có lẽ cháu bị đau ở xương cụt, rồi thế nào nó cũng sưng-tấy lên, cần phải coi lại. Cháu phải nằm mất tám ngày, chườm chỗ đau bằng mỡ heo. Còn bác sĩ thì có vẻ do dự lắm. Thấy thế, mấy người nhà tỏ ra hối hận, ngày nào cũng đến thăm cháu, lại còn cho kẹo bánh nữa, chứ trước kia, họ chỉ đến chơi suông thôi, Chắc bác sĩ cũng biết, cháu chỉ được cái hay là hay làm, hay tiếc công tiếc việc, chẳng ai để ý đến cháu. Bây giờ người ta tử tế thì cháu lại què mất rồi, tử tế cũng bằng thừa … thật khổ cho cháu phải nằm liệt suốt tám năm … Lần này bệnh nhân không cầm được nước mắt. Rõ ràng sự tàn tật cũng không làm bà buồn phiền bằng cái không khí thù hằn ở quê nhà, khi hồi tưởng lại bao nỗi nhục nhằn đã cam chịu. Nguyên do hai chân bị liệt chắc là ở đấy. Cái tai nạn kia không thể nào làm đau ốm lâu đến thế được, mặc dù người đàn bà đáng thương ấy đã đau nhức như chịu hành hình: thật vậy một thương tích nhỏ nhoi ở xương cụt cũng có thể làm đau đớn dữ-dội, vì nhất cử nhất động, các bắp-thịt mông đều kéo mạnh vào xương. Tôi nhớ lại giọng chua chát khi thiếu phụ nói đến chồng: “Nhà cháu phá lên cười, rồi bảo cháu già rồi mà còn … ” Nỗi oán hờn vừa hé lộ còn có nguyên nhân nào khác nữa không?

– À, mà tôi quên hỏi bà, bà được mấy cháu?

Bà ta lắc đầu:

– Cháu sợ nhất khi ai hỏi đến con cái. Cháu không thể có con được.

Bà ta quay mặt đi, như xấu hồ vì lỗi vô tự, vì đã không làm trọn thiên chức của người đàn bà, rồi nỗi thất vọng chất chồng bao tháng năm bỗng nổ bùng: thiếu phụ nghẹn ngào nức nở.

– Nhà cháu gọi cháu là một quả hồ-đào rỗng … đồ vô tích-sự …

Thảm trạng người đàn bà này, giàu vật chất nhưng khốn khổ đã rõ ràng. Người chồng, chắc cũng cứng rắn như bao  nông dân khác, muốn có một mống con trai để kế tự, và người vợđã không thể chửa đẻ gì được. Vợ mình chỉ là một “trái hồ-đào rỗng tuếch” cái danh từ tàn nhẫn ấy đã nói lên tất cả nỗi thất vọng của người chồng đối với người vợ son trẻ. Ông ta chắc đã tìm đủ cách để hành hạ, giày vò vợ; người đàn bà đáng thương đã phải đền bù lại sự “yếu kém” của mình bằng cách gia công làm như một tên khổ sai, đến kiệt sức. Nhưng người ta không chấp nhận toan tính đền bù ấy: không một hy sinh nào làm người chồng nguôi giận,

cũng như ông đã quyết bắt vợ phải trả giá sự giận-dữ ấy. Ngoài ra lại còn gia đình. Ai cũng lo làm vừa lòng ông bác, ông anh họ hay anh rể giàu-sụ có của thừa kế này, thành ra mọi người đều nghĩ cách làm tội làm tình người đàn bà vô phương tự vệ. Đối với những người chỉ sống vì nhu-cầu và thèm khát vật chất, luật “mạnh được yếu thua” là nhất, họ chẳng còn một chút nhân đạo sơ-đẳng nào. Kẻ yếu nhất trong bọn là con mồi để họ theo đuổi, hành hạ và hạ thủ trong niềm vui của loài thú dữ.  Chính để thoát khỏi cái không khí hung bạo cố hữu này ngườiđàn bà khốn khổ đã phải ẩn náu trong bệnh tật, nơi duy nhất có thể tìm thấy một chút trắc ẩn hão, lòng âu yếm vợ. Nhưng ẩn trốn rồi, bà ta phải chịu một sự thay đổi, hay đúng hơn một biến dạng của ý chí, dẫn lần đến tình trạng loạn thần kinh. Tình trạng này, người thầy thuốc, biết rõ hay nghi ngờ, đều phải hết sức điều chỉnh lại. Người bệnh này lại thích vai trò mới của mình: được người ngoài ái ngại, nhưng người bệnh lại thoát được tình trạng bán nô lệ đã bắt bà ta chịu những thói quen ghê sợ hằng ngày, và trở nên trung tâm của gia đình. Đây là lần đầu kể từ khi về nhà chồng, bà có thể tự cho mình quan-trọng, thỏa mãn cái ước muốn uy quyền có ở ngay cả những kẻ bất-hạnh nhất trong chúng ta.

Vậy mà tình trạng này cũng đang nguy ngập. Hiển nhiên là nếu khỏi, người đàn bà này lại bị ném trả về quãng đời khốn khổ khi xưa. Bởi lo ngại nên cố bám lấy bệnh tật như kẻ đắm tàu bám vào tấm ván đã trôi nổi giữa sóng biển khơi. Tóm lại, bà ta muốn ốm và muốn ốm mãi.

Ngay hôm sau tôi thấy án chẩn của tôi đúng. Bệnh nhân khăng khăng không chịu giải phẫu. Tôi cố giảng giải: chỉ cần một cuộc giải-phẫu hết sức vô hại – kéo dài hai gân gót chân là bà ta có thể đi được; nhưng thiếu-phụ cương quyết không chịu, lại tỏ thái độ gần như khiêu khích. Từ tám năm nay, bà nói, có đến cả tá ông thầy chữa bằng đủ băm sáu chước, mà cũng chẳng ăn thua gì, huống-hồ bây giờ một ông thầy khác lại muốn đem chân bà ta ra thái vụn như anh hàng thịt hay sao? Không, bà ta không bao giờ chịu để làm thế? Tôi hiểu ngay, trong những trường hợp này, nếu ta dồn con bệnh vào ngõ bí, họ sẽ phản-đối quyết liệt và không bao giờ nhượng bộ nữa.

Tôi bèn ngưng ngay câu chuyện và bỏ đi ra. Những ngày sau, trường hợp người đàn-bà thích liệt chân hơn đời sống bình thường bắt tôi luôn luôn nghĩ ngợi. Chắc chắn, nếu chỉ giải phẫu không thôi thì không mong gì chữa khỏi được. Thật vậy, giải phẫu rồi, mà muốn đi lại được như xưa, bệnh-nhân phải tự gắng sức tập. Không bao giờ tôi có thể mong đợi bà ta sẽ gắng sức hợp tác. Chỉ còn một cách là làm sao để bệnh nhân thành thật ước muốn trở lại thế giới những người khỏe-mạnh. Đã tám năm nay, bà ta cứ tưởng ốm là hay; bây giờ tôi phải làm sao cho bệnh nhân tin rằng khi bình phục cũng không kém thích thú, nếu không nói là còn hơn thế nữa.

Bắt đầu, tôi cho chuyển bệnh nhân sang buồng khác có năm nữ bệnh nhân khác. Tôi đã chọn những người thật là dễ-thương; tôi còn cẩn-thận cho chuyển đi nơi khác một bà âu-sầu gắt gỏng hay chỉ trích đay nghiến nên có thể phương hại đến cách trị liệu tâm lý của tôi. Phương pháp tôi sắp áp dụng chẳng có chi tân kỳ cả. Bất cứ một y sĩ nào có chút kinh nghiệm cũng biết rằng đời sống cộng đồng, nghĩa là ở chung phòng với các bệnh nhân khác, thường có ảnh hưởng tốt đẹp cho một bệnh nhân đã mất tinh-thần. Nhiều người lại còn xin nằm cùng buồng, ước muốn phát xuất tự một bản năng hoàn toàn lành mạnh. Chỉ cần sống với những kẻ đồng cảnh ngộ cũng đủ giúp ta lướt thắng mọi đau khổ; bệnh nhân hết có cảm tưởng mình bị lẻ loi, bỏ rơi không phương chống đỡ với lo sợ, u sầu và suy tư khổ hạnh. Bệnh nhân dự vào một nhóm trong đó người này săn sóc người kia, dần dần phát triển và thành hình một tinh thần tập thể. Một tinh thần lúc nào cũng rộng rãi đã nẩy nở vì nề lẫn nhau, vì tận tâm với nhau và cùng chân thành giao cảm: ai đã cảm thấy mình đau khổ tất sẽ hiểu rõ nỗi khổ đau của người khác hơn là kẻ có sức khỏe dồi dào. Nhiều khi những bệnh nhân cũ trở lại bệnh-viện, hàng tuần liên tiếp, vào đúng giờ thăm bệnh, chỉ để nói chuyện với các bạn cùng phòng xưa, để nhớ lại mình đã khổ đau như họ. Phần đông, họ vô tình không biết, làm như thế, họ đã bị lôi cuốn vì đã luyến tiếc một tập thể trong đó họ đã sống sung sướng, vì trong thế giới vất vả của những người khỏe-mạnh, họ cảm thấy nhớ nhung. Chính trên cái tinh thần tập thể ấy mà tôi mong đợi để làm nứt rạn cái vỏ cứng rắn người đàn bà tự khoác vào mình. Tôi còn đợi mấy ngày nữa mới gợi lại câu chuyện phải giải

phẫu cho thiếu phụ nghe. Lần này tôi dùng một chiến thuật khác. Dĩ nhiên tôi không non nớt gì mà phụ họa với bệnh nhân rằng cuộc giải phẫu này thật quá phiêu lưu, như thế, là tôi đã phản lại tôi. Tôi cố gắng thuyết phục bệnh nhân rằng, theo ý tôi, nếu bà ta hoàn toàn bình phục thật là một phép-lạ. Tôi nhấn mạnh nhiều lần hai chữ “phép lạ”, mừng thầm khi thấy nét mặt bà tươi hẳn lên. Rõ ràng, ý-tưởng sẽ trở thành “một phép lạ y học” đã quyến rũ bà. Mấy bệnh nhân kia chú ý theo rõi câu chuyện. Bỗng một bà đứng tuổi cất lời:

– Chết, sao em cứng đầu vậy! Nếu ông thầy cứ muốn mổ cho  em, em cũng nên chiều ông một tí!

Mọi người đều phá ra cười; ngay cả người bệnh “cứng đầu” của tôi cũng hồn nhiên cười. Bây giờ băng tuyết đã tan, bệnh nhân bắt đầu nhượng bộ. Mười lăm phút sau, trước khi tôi ra khỏi phòng, bệnh nhân đồng ý chịu mổ, đồng ý không phải vì bị ép buộc, mà sốt sắng vui vẻ biểu đồng tình với mấy người bạn cùng phòng.

Hai ngày sau, tôi “trịnh trọng” bắt đầu cuộc giải phẫu nhỏ – kéo dài gân gót chân phải trước, rồi tuần sau tới chân trái. Sau khi đã nắn hai bàn chân về vị-trí cũ, tôi bó bột lại. Đợi ba bốn tuần cho gân gót liền, tôi mới tháo băng. Ngay hôm sau, tôi bắt phải xoa bóp và tập đi lại cho các khớp xương cổ chân và đầu gối quen dần. Bây giờ mới là lúc quyết định. Ai cũng nhận thấy nếu bệnh nhân cứ khăng khăng không muốn mình khỏi, cuộc giải-phẫu vừa rồi cũng chẳng ích gì. Tôi phải làm thế nào để bệnh nhân hợp-tác với tôi? Sau khi đã nêu ra và loại bỏ nhiều mưu chước, hoặc vì cầu kỳ quá, hoặc vì lộ liễu quá, tôi quyết định một phương pháp khả dĩ hài lòng: tinh thần tập thể trong phòng này đã giúp tôi một lần, tại sao lại không áp dụng lần nữa cho cùng một mục đích?

Một buổi sáng, nhân lúc hai cô y tá vừa dẫn bà bệnh “của tôi” vào phòng tắm để xoa bóp chân trong nước nóng, tôi đến dàn cảnh chương trình đã định sẵn với năm bệnh nhân kia:

– Tôi cần các bà giúp tôi, hay đúng hơn các bà cùng đóng kịch với tôi. Các bà cũng biết bà X … vừa bị mổ vì tê liệt chứ? Cuộc giải phẫu đã thành công, trên nguyên tắc bà ấy phải đi lại được. Nhưng bà ấy cứ tin là không thể đi được. Bây giờ các bà phải giúp bà ấy tin tưởng. Chiều mai, khi đi thăm bệnh, bất thần tôi sẽ bắt bà ta đứng dậy khỏi giường. Khi thấy bà ta đứng được các bà hãy lộ vẻ kinh ngạc hết sức, như không ngờ có thể như vậy được. Các bà nhớ cho, đây không phải chuyện đùa, mà chúng ta chữa bệnh. Muốn cho bà ấy khỏi, các bà phải tỏ vẻ thán phục lòng can đảm và khuyến khích bà ta. Rồi, mỗi bước đi, dù phải bám vào thành giường, các bà cứ vỗ tay cho tôi. Cần lắm đấy, nếu các bà không giúp luôn luôn như vậy, không bao giờ người đàn bà xấu số này lại có thể đi được. Tôi hoàn toàn tin ở các bà đấy nhé!

Bà nào cũng sốt sắng hứa hưởng ứng, có vẻ hăm hở nhiệt thành với công việc sẽ làm. Vững tâm, tôi rút lui ngay trước khi “nạn-nhân” về.

Chiều hôm sau, như thường lệ, tôi bước vào phòng, theo sau có cô y tá, dĩ nhiên cũng tùng đảng với tôi. Năm bà “đồ đệ” của tôi trông vẻ thản nhiên hơn bao giờ hết; phải tinh lắm mới cảm thấy bầu không-khí căng thẳng đang bao trùm phòng bệnh. Đến cạnh giường bệnh và hất mạnh tấm chăn ra, tôi lạnh-lùng truyền lệnh:

– Bà ngồi dậy! Để chân xuống đất đi.

Tôi nắm một cánh tay bệnh nhân, ra hiệu cho cô y tá nắm nốt cánh tay kia. Bao nhiêu con mắt đổ dồn như chờ đợi. Phút quyết định đã tới.

– Bây giờ bà đứng dậy đi!

Không để tỏ dấu phản kháng, tôi xốc nách và lôi mạnh bệnh nhân đứng dậy. Bệnh nhân chưa hiểu ất giáp gì. Tuy ngây người ra, ngơ ngác, và rơm rớm nước mắt, … nhưng bà ta vẫn đứng. Thật ra, trong khoảnh-khắc, bà vẫn tự hỏi có nên khuyu xuống hay không. Tôi vừa lo lắng vừa chăm chú theo dõi. Bệnh nhân lảo đảo, rồi đứng yên, trong khi năm bà bạn reo hò ầm-ĩ:

– Chị ấy đứng kìa! Thật không ngờ nhỉ? Phúc đức quá! Thôi khỏi rồi!

Tôi suýt bật cười. Các diễn viên như đã xuất thần đảm nhiệm vai trò của mình. Nhất là bà gác dan hai tay giơ lên trời như lên đồng, luôn miệng suýt soa: “Phép lạ! Đúng là phép lạ!” Thực tình tôi muốn bà ta diễn xuất kín-đáo hơn. Bệnh nhân hầu như chỉ để ý đến hai chữ “phép lạ” mà không nhận ra các diễn viên đã đóng kịch quá lố. Và hai chữ “phép lạ” đã làm phép lạ thực sự. Dần dần vẻ âu lo trên nét mặt dịu xuống, vẻ

âu-lo của con thú đến bước đường cùng nhường chỗ cho bình-thản còn đượm chút hoài nghi. Tôi cảm thấy sự thay đổi trong tâm hồn người đàn bà và một chuyển hướng của ý chí từ lâu đã lạc vào ngõ cụt. Đôi mắt mở to. Nụ cười e dè. Nét mặt hiền hậu. Bệnh nhân khẽ đưa chân về phía trước để đứng cho thoải-mái hơn. Chúng tôi đã thành công. Từ giờ phút này, bệnh nhân lần lần bình phục. Người đàn bà này, trước kia đã chối từ cuộc sống bình thường, nay chăm chỉ tập đi. Lúc đầu, đi chung quanh giường, sau từ giường này đến giường nọ, luôn luôn được năm bà bạn dìu dắt và khuyến khích. Mỗi bước đi là một tiến bộ, theo sau là lời trầm trồ thán phục. Đáng thán phục lắm chứ, vì một người tê bại đã tám năm trời lại có thể phục hồi nhanh chóng như vậy. Nếu trong tám năm qua, đã khăng khăng nằm lì trên giường thì giờ đây bà ta lại cũng khăng khăng giành lại sức khỏe. Chỉ tuần lễ sau, bà đã có thể chống nạng đi khắp phòng. Rồi tiến đến hành lang, và tuần lễ sau nữa, tôi ngạc nhiên thấy bóng thiếu phụ lững thững trong vườn. Cuối tháng ấy, bệnh-nhân đã trở về nhà. Bốn tuần sau, bà ta trở lại thăm tôi. Đến lượt tôi, tôi cũng suýt thốt lên hai chữ “phép lạ”. Bà ấy khoe có thể đi dạo hàng giờ, không cần chống gậy, hơn nữa còn leo được cả ngọn đồi thông sau trại. Bà nói rất nhiều đến dư luận lúc trở về: ông thị-trưởng đến chơi tận nhà xem bà đi, ông thầy thuốc săn sóc bà xưa kia cũng phải bối rối.

– Thưa đúng ạ, ông bác sĩ cứ nói mãi thật không ngờ. Ông khám lại hai chân cháu rồi lắc đầu và hỏi thế bác sĩ trên tỉnh bó bột rồi còn làm gì nữa không? Dạ, cháu cứ thú thật là bác-sĩ chẳng làm gì thêm cả.

Tôi chỉ mỉm cười:

– Tháng sau, có dịp bà lại đến thăm tôi nhé! Mời cả ông nhà nữa.

Đúng hẹn, hai vợ chồng đến thăm tôi. Người chồng vạm vỡ, dáng đi nặng nề, thật rõ là con người cục mịch miền núi. Ông ta lí nhí vài câu cảm ơn rồi im lặng để vợ nói … Khi tiễn hai vợ chồng về, tôi quay lại hỏi ông chồng:

– Bây giờ chắc ông hài lòng nhỉ? Bà nhà khỏe mạnh hoàn toàn rồi nhá!

Ông ta cúi đầu:

– Thưa bác sĩ, vâng, cháu cũng mừng, nhà cháu lại đi được như mọi người, có điều … nhà cháu vẫn như xưa.

Một lúc sau, tôi mới hiểu: ông ta ám chỉ vợ mình không bao giờ có thể có con. Tôi đề nghị:

– Nhân tiện hai ông bà ở đây, để tôi giới-thiệu đi khám cả xem.

– Họ tỏ vẻ ngại ngùng, nói vài câu cảm ơn rồi lên xe. Bẵng đi, tôi không được tin gì của họ nữa. Một hôm, tôi gặp bạn đồng nghiệp phụ trách khu sản phụ khoa trong hành-lang. Anh bảo tôi:

– Hôm qua hai vợ chồng người đàn-bà bị tê liệt đến tôi khám bệnh. Người vợ không sao cả. Lỗi tại người chồng. Ông ta bối rối lắm, vì chắc không ngờ tới vì mình mà vợ đã không chửa đẻ được.

Tôi nghĩ ngợi mãi khi nghe tin ấy. Không biết phản ứng của người chồng ra sao, khi lòng kiêu hãnh bị xúc phạm đến tột cùng. Còn người vợ, liệu người đàn-bà ấy có trả thù lại bao nhiêu nhục-nhã chồng chất tháng năm? Hoàn-cảnh này thật đặc-biệt. Tôi định sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Chủ nhật sau, lái xe qua miền Rừng Đen, đến tận thung-lũng Precht để thăm trang trại của hai vợ chồng. Đỗ xe bên đường cái, tôi leo bộ lên căn nhà gỗ cũ kỹ, có nhiều cửa sổ, mái rộng mênh mông nhọn hoắt.

Không thấy ai, tôi vòng ra phía sau nhà, đẩy cánh cửa gỗ nhỏ, bước vào vườn. Hai vợ chồng đang ngồi trên ghế dài, dưới bóng rợp cây hồ đào cổ thụ. Người vợ đan áo, người chồng cặm cụi đẽo gọt một khúc gỗ. Dưới chân họ, một đứa bé tóc vàng chơi đùa trong cỏ. Người vợ trông thấy tôi trước. Bà vụt đứng dậy, vui mừng thốt lên:

– A, bác sĩ … quý hóa quá, bác sĩ đến chơi!

Người chồng cũng đứng dậy, mỉm cười, tiến lại rồi bắt tay tôi.

– Kìa, nhà đi lấy chai rượu; lấy cả bánh mì và dăm-bông nữa.

Này, lấy cả hũ rượu anh đào nữa nhá! Quý hóa … quý hóa quá! Kìa, mời bác sĩ ngồi.

Người chồng lật đật đi vào nhà. Tôi hỏi nhỏ người vợ:

– Thằng cu này là thế nào đây?

– Thưa, cháu tên Henri, con bà chị cháu. Bố mẹ cháu bị tai nạn xe hơi chết cả hai vợ chồng cách đây đúng mười lăm ngày … Kinh khủng quá, bác sĩ ạ. Xe trượt bánh đâm nhào xuống vực. Được tin vợ chồng nhà cháu đến ngay, đem về nuôi mụn cháu nhỏ này. Bâygiờ nó là con chúng cháu. Chắc bác sĩ không tin cháu đâu, chứ nhà cháu cưng nó lắm. Chiều nào cũng làm đồ chơi cho cậu con giai. Nói thế chứ nhà cháu khéo tay lắm …

Tôi cúi xuống vuốt ve đứa nhỏ. Tóc nó mềm mại, miệng nó nhoẻn cười. Không cần khám nghiệm kỹ, chỉ cần nghe giọng nói cảm động của thiếu phụ tôi cũng biết bà ta đã hoàn-toàn bình phục thực sự. Đúng như ý-nghĩ của Paracelse, dưới mắt Thượng Đế, thiếu phụ đã tìm thấy nước Trời, một vũ trụ trong đó tâm hồn được nuôi dưỡng bởi TÌNH YÊU.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 2, tháng 2, 1964]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam

trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 14

Đúng 5 giờ sáng, công anh ập vào chùa An Lạc. Từ lúc nào, bộ đội vây quanh khu vực chùa, chắn hết các lối ra vào, không ai biết. Chủ tiểu Thích Thanh Bần chưa kịp rung hồi chuông sớ. Chú vừa nâng cái chày thì họng súng lạnh ngắt đã dí sát sau gáy chú, bắt chú buông tay xuống và đẩy chú trở vô. Chẳng hề sợ hãi, chú tiểu thản nhiên làm theo lệnh công an. Thân chú, chú không lo mà rất lo cho Hoàng Sơn Trường vì đêm qua Trường ngủ ở chùa. Trường định viết những trang đầu của chủ thuyết tiểu tư sản tại đây. Công an đã lùa chú tiểu Thích Thanh Bần vào chính điện, nơi đó, tất cả những người tu hành bị cưỡng bức tới, ngồi co ro một góc. Nhiều mũi súng chỉa sát. Những khuôn mặt lạnh lùng. Một lát, sư cụ được dẫn ra, được mời ngồi ở chỗ ngài ngồi tụng kinh niệm Phật nhưng quay lưng về phía Phật đài.

Công an lên tiếng:

– Ai là Thích Tâm Bình?

Sư bác Tâm Bình trả lời:

– Tôi.

Công an hất đầu:

– Anh đứng lên!

Sư bác Tâm Bình đứng lên. Công an gọi tiếp:

– Thích Giác Ngộ, Thích Chánh Đạo, Thích Giáo Lý, đứng lên!

Ba nhà sư đứng lên.

– Đáp “phải” hay “không phải”, thế thôi. Gọn ngắn và khẩn trương. Thích Tâm Binh, tên thật của anh là Lê Minh Mẫn, phải không?

– Phải.

– Thích Giác Ngộ, tên thật của anh là Nguyễn Trọng Thu, phải không?

– Phải.

– Thích Chánh Đạo, tên thật của anh là Phạm Tuấn, phải không?

– Phải.

– Thích Gìáo Lý, tên thật của anh à Vũ Văn Hiền, phải không?

– Phải.

– Kể từ phút này, chúng tôi bắt các anh!

Công an còng tay bốn nhà sư lại.

– Các anh nghe đọc “Quyết Định”

“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bộ Nội Vụ

Sở Công An Nội Chính thành phố Sàigòn

Quyết Định số….

…….

…….Bắt nhốt những tên Lê Minh Mẫn tự Thích Tâm Bình, Nguyễn Trọng Thu tự Thích Giác Ngộ, Phạm Tuấn tự Thích Chánh Đạo, Vũ Văn Hiền tự Thích Giáo Lý can tội tổ chức bè phái chống phá cách mạng, đe doạ an ninh tổ quốc…”

Công an hỏi:

– Các anh có phản đối gì không?

Bốn nhà sư cùng đáp:

– Không.

Công an lễ độ – thứ lễ độ giả tạo – nói với sư cụ:

– Thưa thượng toạ, chúng tôi rất tiếc đã xúc phạm cửa Phật và thượng toạ. Chế độ ta không hề đàn áp tôn giáo, mọi công dân đều được tự do tín ngưỡng trong pháp chế của nhà nước . Những người bị bắt vì phạm pháp chế của nhà nước, chống phá chế độ nên bắt buộc chúng tôi phải bắt nhốt để giáo dục họ. Đồng thời chúng tôi mời hết các nhà sư về Sở để hỏi thăm vài việc. Chúng tôi sẽ khám xét chùa xem có tài liệu nào làm ô uế thanh danh chùa không , xin thượng toạ tha thứ…

Sư cụ khoan thai:

– Các ông cứ làm nhiệm vụ.

Sư bác Tâm Bình xin phép công an thưa với sư cụ vài lời. Công an đồng ý.

– Bạch Thầy, chúng con thật có lỗi với Thầy…

Sư cụ mĩm cười độ lượng:

– Chúng sinh đầy tội lỗi, riêng gì các con. Tham vọng, tham vọng lạc lối dẫn con người vào cõi u mê.Tự do là tội ác và hình phạt. Tự do là chiến tanh và ngục tù. Các con chỉ có lỗi riêng với thầy là đã dấu diếm hành động riêng tư của các con, không cho thầy biết. Nếu thầy biết, thầy sẽ hoan hỉ vào tù với các con….

Công an khó chịu:

– Đủ rồi, thưa thượng toạ. Nhà chùa không thể là cái ổ phản động và thượng toạ nên tụng kinh gõ mõ để lên Niết Bàn. Nhà tù khác Niết Bàn. Ở đó, thượng toạ không được ăn chay, không được gọt đầu, không được hưởng một tí đặc quyền đặc lợi nào hết. Và theo đúng Nội Quy nhà tù, mọi người phải gọi thượng toạ là anh. Thượng toạ cần sáng suốt để còn được xưng tụng là thầy cho đến lúc lên cõi Niết Bàn.

Công an cứ nói, sư cụ đã vô thiền rồi. Họ lục soát chùa chiền, moi móc đủ chỗ, tự do xúc phạm chốn thiêng liêng. Trước khi giăng lưới bắt bốn nhà sư, họ đã theo dõi bốn nhà sư cả tháng trời. Họ biết những ai hay đến chùa, ngủ lại chùa. Ngô Tỵ, Trần Chiêm Đồng, Hoàng Sơn Trường có tên trong sổ đen công tác của họ. Họ điều tra lý lịch ba người thanh niên này. Họ nắm vững diễn tiến tư tưởng của Ngô Tỵ sau khi Ngô Tỵ ly khai Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.

Dĩ nhiên, họ có địa chỉ của từng người và rõ giờ giấc, địa điểm tới lui của từng người . Họ quyết đoán Tỵ, Đồng, Trường nằm trong tổ chức của bốn nhà sư. Họ không hề biết chú tiểu Thích Thanh Bần và Hoàng Sơn Trường thuộc một tổ chức riêng biệt, độc đáo. Chú tiểu Thích Thanh Bần cũng vô cùng ngạc nhiên. Nhưng chú rất sung sướng. Trường đã tâm sự với chú: “Ở thời của chúng ta, chỉ đánh chết chủ nghĩa cộng sản mới đắc đạo. Không dám đánh cộng sản thì dẫu chẳng nỡ giết con kiến cũng mang tội ác”! Chú tiểu Thích Thanh Bần không bị vướng mắc tâm hồn nữa. Còn nỗi niềm lo lắng trong chú là Hoàng Sơn Trường. Nếu Trường bị bắt, chủ thuyết tiểu tư sản ra sao và đâu là vũ khí tư tưởng võ trang toàn diện cho cuộc chiến đấu tiêu hủy chủ nghĩa cộng sản.

Lịch sử có nhiều bất ngờ hữu hạnh và bất hạnh. Chủ thuyết tiểu tư sản đang nằm trên một sự bất ngờ của lịch sử. Chữ thời luôn luôm đúng cho mọi trường hợp, cho mọi thời đại, cho mọi người . Nó quyết định vận mạng của dân tộc và của nhân loại. Nếu Hoàng Sơn Trường bị bắt, bị chết chưa kịp viết xong chủ thuyết tiểu tư sản thì cái thời của Trường oan nghiệt quá. Người ta chỉ giăng lưới bắt cá nhỏ, không ngờ bắt luôn được cá mập. Chú tiểu Thích Thanh Bần lo lắng, hồi hộp và nuối tiếc.

Công an đã dẫn Hoàng Sơn Trường ra, đẩy cậu ngồi chung với các nhà sư. Mấy trang bản nháp mở đầu cho chủ nghĩa tiểu tư sản cũng bị tịch thu. Giòng cuối còn tươi màu mực: “…Không còn tài phiệ khuynh loát quốc gia, không còn kỹ thuật nô lệ hoá con người, tước đoạt mọi sáng tạo của con người, không còn giáo điều cưỡng bức con người thù hận con người….”

Người công an chỉ huy cuộc vây bắt hỏi Hoàng Sơn Trường:

– Anh thuộc tổ chức sư mô phản động?

– Không.

– Anh đến đây làm gì?

-Thăm bạn tôi là Thích Thanh Bần.

– Thích Thanh Bần là ai?

– Tôi đây.

– Đứng lên… Cả Hoàng Sơn Trường nữa.

Hai người bạn đứng lên.

– Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng quen hai anh?

Chú tiểu Thanh Bần đáp:

– Quen tôi thôi.

Công an hỏi:

– Bốn anh thuộc một tổ chức khác?

Chú tiểu Thanh Bần nói:

– Chúng tôi không có tổ chức, chưa có tổ chức.

Người công an cầm mấy trang bản nháp, đọc qua, rồi hỏi:

– Ai dám viết chủ nghĩa tiểu tư sản?

Hoàng Sơn Trường trả lời:

– Tôi.

– Nhóc con mà viết nổi à? Ai đã nói với anh về chủ nghĩa tiểu tư sản?

– Tôi suy tư và viết.

– Nói thật đi, rồi về Sông Bé sống với gia đình. Đừng tưởng qua mặt nổi công an. Chúng tôi biết các anh hơn các anh biết các anh nữa. Các anh xui dục Ngô Tỵ ly khai cách mạng, rủ rê Trần Chiêm Đồng cấu kết người Hoa chống chế độ. Ai là tác giả chủ nghĩa tiểu tư sản dơ dáy, ăn bám.

– Tiểu tư sản hào hoa, lãng mạn. Dơ dáy dùng cho chủ nghĩa khác.

– Được rồi. Mẹ anh sẽ ân hận chứ không phải anh, nếu anh không nói ai dạy anh chủ nghĩa tiểu tư sản.

Công an còng tay Hoàng Sơn Trường và Thích Thanh Bần với nhau để phân biệt hai vụ. Nhà lập thuyết và nhà sư chung một còng. Cuộc lục soát vẫn còn, kỷ lưỡng hơn, thận trọng hơn vì chủ thuyết tiểu tư sảnh chạm đúng nọc độc tôn của chủ nghĩa cộng sản . Hai người bạn trẻ có thể nói chuyện thầm thì.

– Chúng ta vô duyên với lịch sử.

– Đừng buồn. Cần tồn tại. Chúng ta không cần sống mà cần ý nghĩa của sự sống của chúng ta tồn tại. Vậy phải biết cách sống. Nhà chùa là sơ khởi, nhà tù là hoàn thành. Hoa nở ở nhà chùa, sẽ kết trái ở nhà tù. Phật xưa không viết. Chúa xưa không viết. Khổng Tử xưa không viết. Môn đồ của họ viết. Môn đệ của họ nghe rồi truyền giảng. Biết đâu, ở tù, chúng ta sẽ gặp người lỗi lạc. Và chủ nghĩa của chúng ta sẽ thăng hoa.

– Cậu vẫn ước mơ?

– Luôn luôn ước mơ.

– Biết bao giờ khai sinh chủ nghĩa tiểu tư sản?

– Cậu đã rung chuông khai sinh nó rồi.

Công an thúc báng súng lên vai chú tiểu Thích Thanh Bần:

– Bàn tán gì thế?

Họ tháo còng ra và còng riêng từng người, bắt mỗi người ngồi một góc. Đến 10 giờ, cuộc lục soát hoàn tất. Công an phát giác nhiều truyền đơn, tài liệu học tập chống phá cách mạng. Họ lợi dụng cơ hội tịch thu toàn bộ kinh sách của nhà chùa . Họ tịch thu luôn “tài sản” của các nhà sư. Họ lập biên bản và đọc cho sư cụ nghe. Sư cụ vẫn thiền, họ lay sư cụ tỉnh và yêu cầu sư cụ ký vào biên bản xác nhận họ đã tới chùa, không gây huyên náo, không xúc phạm cửa Phật, chỉ tịch thu tang vật phản động.

Sư cụ không ký, ngài nói:

– Với Phật tử, cái có là cái không, cái được là cái mất, mọi chuyện trên đời ra cái gì đâu mà quý ông bắt tôi ký.

Người công an chỉ huy cười thật đểu:

– Này sư cụ , Phật không dạy thế đâu, sư cụ đừng chơi chữ. Với người cộng sản, được thì chẳng bao giờ mất cả. Sự ưu việt của chủ nghĩa chúng tôi thừa khả năng biến cái vô sắc thành hữu sắc.

Sư cụ lặng thinh. Chú tiểu Thích Thanh Bần tiếp lời Thầy:

– Nhưng các ông không đủ khả năng biến cái vô sản thành hữu sản. Các ông chỉ có tài biến cái vô sản thành cái vô cùng tăm tối.

Người công an chỏ tay về phía chú tiểu:

– Ký sinh trùng ăn bám xã hội, trốn tránh lao động, phản tiến bộ mà cũng dám nói hỗn à?

Chú tiểu bình tỉnh:

– Tôi đã đọc nhiều sách vở về chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy chủ tịch nói năng đạo đức chứa chan hơn cả Phật, cả Chúa. Ngôn ngữ và cung cách của ông đối với những người tu hành khiến tôi nghi ngờ cái vĩ đại của Hồ chủ tịch. Ông nên lễ độ để làm sáng danh người cộng sản . Chúng tôi đã đi tu thì đi tù cũng thế và sống hay chết đều vô nghĩa. Người cộng sản hình như , chưa ai dám tự thiêu. Chúng tôi có nhiều người đã dám tự thiêu. Và sẽ có cả tôi, nếu cần.

Người công an bĩu môi:

– Xăng dầu không thừa cho anh dùng vào việc tự nướng cái thân anh . Bọn Mỹ Ngụy xúc động chuyện tự thiêu của các anh chứ người cộng sản thì dửng dưng. Anh tự thiêu, chúng tôi sẽ đánh thuế ngu và bắt thân nhân anh phải nôp. Ở tù, một que diêm cũng bị cấm, nghe chưa?

Chú tiểu nói:

– Khi tôi cần tự thiêu, tôi tự thiêu bằng lửa của trái tim tôi, hiểu chưa?

Sư cụ lên tiếng mắng chú tiểu:

– Thanh Bần, con nói nhiều quá.

Rồi sư cụ vẫy người công an:

– Đưa đây, tôi ký.

Người công an bảo sư cụ giữ một tờ biên bản, đoạn nghiêng mình rất hài hước, xấc láo:

-Nhà nước bảo về chùa An Lạc một thời gian. Từ nay cấm mọi đàn chay, lễ lạc.

Công an dẫn dắt các nhà sư rút khỏi chùa. Chú tiểu Thích Thanh Bần bị đưa về Sở Công An. Hoàng Sơn Trường đi đâu, chú không rõ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, ngó qua ô cửa cachot, chú thấy Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng. Đợi khuya vắng, cai ngục ngủ gà ngủ gật, chú gọi Ngô Tỵ,Trần Chiêm Đồng và dặn dò nên khai báo sự thật, không cần dấu diếm vì dấu diếm sẽ có thể bị khai thác dài dài và làm liên lụy những người khác.

Ngay hôm sau, chú tiểu Thích Thanh Bần được gọi ra làm việc và chú được “vinh dự” với Mai Chí Thọ.

– Nghe nói chú đọc nhiều sách lắm phải không?

– Không nhiều lắm. Tôi nghèo và ít thì giờ.

– Chú đã đọc Tiêu Sơn tráng sĩ chưa?

– Rồi.

– Và chú muốn biến chùa An Lạc thành chùa Tiêu Sơn?

– Ông hiểu lầm đó.

– Chú nghĩ gì về Phạm Thái?

– Tôi yêu nhà Tây Sơn.

– Yêu nhà Tây Sơn mà chú lại noi gương Chiêu Lỳ?

– Phạm Thái và tôi khác nhau đủ thứ, tâm trạng và thời đại, tài hoa và ước mơ.

– Phạm Thái là tên phản động. Tây Sơn là cách mạng, là chúng tôi

– Thư ông, tôi đứng về phía Tây Sơn khi Gia Long đã diệt xong Tây Sơn.

– Tôi không hiểu chú muốn nói gi?

– Khi ấy, Gia Long hạ Tây Sơn xuống hàng…Ngụy!

– Bây giờ thì tôi hiểu chú.

Mai Chí Thọ mời chú tiểu Thích Thanh Bần hút thuốc Lucky. Chú thản nhiên rút thuốc, châm lửa, nhả khói.

– Chú định nghĩa tráng sĩ là gì?

– Là người phù suy.

– Ngụy đã thịnh.

– Lúc này Ngụy suy.

– Thịnh suy là định luật của muôn đời, chú chống nổi chân lý?

– Ngụy chưa hề thịnh. Tôi muốn nói về những người ngụy Tây Sơn thời đại của tôi.

– Tôi lại hiểu thêm chú chút nữa.

– Cám ơn ông.

– Ai đã nói với chú về chủ về chủ nghĩa tiểu tư sản?

– Bạn tôi, Hoàng Sơn Trường?

– Hoàng Sơn Trường?

– Vâng, thần tượng của tôi, nhà lập thuyết trẻ nhất lịch sử triết học cổ kim, đông tây.

– Tôi không tin bạn chú ghê gớm vậy.

– Tại vì hoặc ông kiêu ngạo, hoặc ông chẳng biết cái gì khác ngoài cái miệng giếng chủ nghĩa cộng sản của ông!

Mai Chí Thọ muốn bợp chú tiểu Thích Thanh Bần vài cái. Ngụy quân tử đã nén giận, mĩm cười, lên mặt đạo đức:

– Chú sẽ nên người nếu được giáo dục tốt.

– Cám ơn ông , tôi vẫn được giáo dục tốt.

– Tôi sẽ làm việc với chú vào dịp khác.

Mai Chí Thọ nhấn chuông. Một người công an khác dẫn chú về cachot. Từ lúc này, tay chú bị còng chéo vào chân. Dĩ nhiên, đó là lệnh của giám đốc Mai Chí Thọ.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Google image

Chương 14

Ông Trại Trưởng

Nhìn dáng của ông chín ngón đứng trên bờ hồ cá có thể thấy được phần nào những diễn biến trong trại trong những ngày sắp tới. Cái năng nổ, tự tin như đã mất trong ông tự bao giờ, ông không hay biết. Những bước đi vững chắc, giọng nói oang oang, gãy gọn và dứt khoát của ông đã thay đổi. Giọng ông bây giờ lại phân vân, lưỡng lự vì một câu hỏi lớn trong đầu ông chưa có câu giải đáp.

Bây giờ hàng ngày khi mở radio, ông nghe ra rả luận điệu kích động và lên án bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là bọn Sô vanh nước lớn nhưng luận điệu nầy chỉ mới xảy ra mấy tháng trước đây thôi. Còn từ trước đó ông chỉ nghe nói đến tình hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững! Ông đã nghe không biết bao nhiêu lần, đến độ thuộc nằm lòng câu môi hở răng lạnh của lãnh tụ Trung Quốc hậu thuẫn cho Đảng trong thời gian chiến tranh với miền Nam. Ông chỉ nghe mọi người đều dùng những danh từ trang trọng nhất để gọi các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc vĩ đại. Ông tin Đảng. Đảng vĩ đại. Đảng là đỉnh cao trí tuệ của loài người nên đã đánh thắng cả hai đế quốc sừng sỏ nhất. Đảng mang đôi hia bảy dặm. Có đôi mắt nhìn suốt được chiều dài của lịch sử. Đảng đã ca ngợi thành đồng Xã hội Chủ nghĩa Liên Xô, người anh em vĩ đại Trung Quốc. Đảng không thể nào sai. Nhưng hôm nay cũng Đảng, lại đả kích Trung Quốc như là kẻ thù nguy hiểm nhất, ác độc nhất, chắc hẳn Đảng cũng không thể nào sai. Đảng ca ngợi Trung Quốc, Đảng đúng. Đảng kết án Trung Quốc, Đảng cũng đúng. Đảng nói như thế nào cũng đúng nhưng có lẽ lỗi là tại chính ông. Ông không hiểu được cái đúng mới nhất mà Đảng đang kích động quần chúng, nhân dân đấy thôi. Đảng đang kích động chính ông nữa nhưng ông chưa theo kịp cái nhìn mới của Đảng. Cái tội không phải là Đảng thay đổi lập trường xoành xoạch, nhanh như trở bàn tay, nhưng cái tội là ở ông. Ông chưa bắt nhịp được sự chuyển hướng mới của Đảng để đưa dân tộc đi lên cho kịp nhịp bánh xe của thời đại mới, của ba dòng thác cách mạng. Ông như người ăn cơm mắc nghẹn. Ông phải ráng nuốt. Chỉ cần nín thở mà nuốt. Nuốt đánh ực cái là xong. Là ông sẽ thấy ngay vận hội mới của dân tộc và của bản thân ông!

Hôm qua đi họp ở trung đoàn, ông chính ủy ban lệnh phải thu gọn lại mọi kế hoạch của các trại, càng nhanh càng tốt. Thế mà chỉ hai tháng trước đây thì đặt kế hoạch trường kỳ, bung ra càng nhanh càng tốt! Cái hồ cá khang trang, ông đã nuôi bao nhiêu mộng. Ba mươi ngàn con cá trám cỏ thả xuống đợt đầu, chỉ cần bảy tám tháng nữa thì sẽ thành một số vốn khổng lồ. Mọi công khó đã xong xuôi, bây giờ chỉ cần cho tù cắt cỏ, xắt lá sắn quăng xuống hồ hằng ngày và đợi thời gian thu hoạch. Cơm đang lùa tới miệng chỉ đợi nuốt, thế mà ông chính ủy bắt phá đập bắt cá! Khi họp, ông chín ngón cứ tưởng ông chính ủy quên mất kế hoạch mà ông đã trình lên trước kia và được chính ông chính ủy biểu dương trước trung đoàn, nên có ý nhắc khéo ông chính ủy:

– Thưa anh, cái hồ cá của trại tôi đang phát triển rất thuận lợi, chỉ đợi ngày thu hoạch.

Thế nhưng ông chính ủy tảng lờ:

– Theo lệnh trên, mọi kế hoạch đều phải thu vén lại trong thời gian ngắn nhất và chờ đợi.

Ông chín ngón đau lòng lắm nhưng không dám đặt câu hỏi để biết cho được nguyên nhân. Cái nguyên nhân ác ôn nào đã giết giấc mơ và niềm hy vọng của ông. Đất nước đã thống nhất, đã hòa bình rồi cơ mà! Người anh em Xã hội Chủ nghĩa môi hở răng lạnh vĩ đại lại đang ở bên cạnh, nhưng cái hồ cá vẫn không yên!

Ngoài trách nhiệm của một quân nhân, ông còn mang bổn phận của một đảng viên, cho nên ông chỉ phải thi hành. Chấp hành tuyệt đối. Mọi người chỉ có bổn phận phải thi hành lệnh Đảng và bảo vệ bí mật. Phải thi hành. Khóc mà thi hành. Tức tưởi mà thi hành. Ông chín ngón tan nát lòng mà thi hành. Đảng là bộ óc của ông. Ông không có quyền khác ý kiến. Ông phải nhất trí. Phải nhất trí!

Ông chính ủy ở xa nên ra lệnh cho ông rất dễ vì không thấy trước mắt, nhưng ông chín ngón lại phải trực tiếp ra lệnh cho ông quản giáo cho một đội phá đập. Ông phải trực tiếp nhìn dòng nước ồ ạt chảy, chảy cuốn băng băng mang đi niềm mơ ước của ông với bùn đất. Ông thi hành nhưng không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ông chỉ lờ mờ nhưng không hiểu. Không hiểu nhưng ông phải nhất trí. Ông có biết đâu cấp trên của ông và chính các ông lãnh tụ Đảng cũng không hiểu, không biết phải làm gì để xây dựng đất nước, để đưa dân tộc ra khỏi nghèo đói và lạc hậu, để hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù giữa hai miền Nam Bắc mà Đảng đã dày công tạo ra trong thời gian chiến tranh. Các ông chỉ quen việc gây chia rẽ và hận thù nên không có trái tim biết đoàn kết và yêu thương đồng bào. Đàng sau khẩu hiệu đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết là sự khô cứng về tư duy và khốn cùng về ý thức. Các ông lãnh tụ chỉ biết Liên Xô vĩ đại, Trung Quốc vĩ đại, và Đảng cũng vĩ đại, nhưng là loại đàn em nên có bổn phận phải phục tùng! Cái khổ là hai người anh em vĩ đại nầy đang xung khắc nhau và bây giờ đến lượt xung khắc với Đảng! Vì đã đụng đến Đảng nên các ông phải quyết tâm bảo vệ, bảo vệ quyền lợi Đảng. Quyền lợi Đảng trên hết. Trên tổ quốc và xương máu nhân dân!

Đảng treo bó cỏ trước mắt con ngựa, bắt con ngựa phải chạy. Chạy vả cả mồ hôi, chạy đến sùi bọt mép, nhưng bó cỏ vẫn luôn luôn ở trước mắt. Nên, nếu cần hy sinh, đã có dân, những con ngựa bị khớp mõm! Nếu cần chiến đấu, đã có quân đội, quân đội đang mang tên nhân dân! Đảng là chủ nhân ông. Chủ của người dân. Chủ của quân đội. Chủ cả cánh đồng cỏ xanh tươi.

Giao việc cho ông quản giáo Hương dùng một đội phá đập. Xả nước từ từ, chờ hai ba ngày sau khi cạn nước thì tăng cường một đội nữa để tìm cách thu hồi số cá. Ông chín ngón lại nôn nóng đi thanh tra hiện trường cưa xẻ.

Cây gỗ lớn đã dứt ra thành nhiều đoạn ngắn. Ban đầu, ông nghĩ kế hoạch còn lâu dài, nên cho xẻ thành ván những đoạn nhỏ trước, vừa để tù cưa xẻ học việc, vừa cho đội mộc đóng một số bàn ghế gia dụng, sau đó ông cho xẻ ván các đoạn gỗ lớn, vì lúc nầy tù cưa xẻ đã có tay nghề khá hơn, nên ván của các đoạn gỗ lớn sẽ rất rộng bản và có giá trị. Ông đã lên kế hoạch và liên lạc mối lái về thành phố. Trung đoàn sẽ cho xe chở đi tiêu thụ. Mọi việc đang diễn ra tốt đẹp nhưng đến đây thì bị đảo lộn. Ông chín ngón phải cho tù xẻ ngay gỗ rộng bản. Ông cho tăng tiêu chuẩn ăn của tù cưa xẻ lên 21 cân và tuyển chọn thêm tù, tăng cường cho toán. Điều quan trọng trong lúc nầy là lưỡi cưa không được ngưng! Cứ luôn phiên nhau cưa từ sáng đến chiều. Ông cắt hai vệ binh trực tiếp canh giữ.

Lưỡi cưa nhất định phải rèn rẹt. Rèn rẹt liên tục như cưa được thời gian và vặn ngược được kim đồng hồ!

Linh tính cho Tố Nga biết toán cưa xẻ thế nào cũng cắt Nghi đi xuống suối lấy nước, nên Tố Nga quanh quẩn nơi dòng suối chờ đợi. Cô ẩn hiện, rình rập, như một con chồn nhỏ tinh khôn chờ cơ hội, dù Tố Nga cũng biết cơ hội có thể không còn nữa.

Buổi sáng hôm qua Tố Nga đã thấy một người xuống lấy nước nhưng không phải là Nghi và có một ông vệ binh đi theo nên Tố Nga thất vọng, lặng lẽ quay về nhà. Mang trở về gói thực phẩm cô đã nấu cho Nghi nhưng không gặp, lòng cô buồn vô hạn. Cô mở gói thực phẩm chính cô nấu với tất cả thương yêu trao gửi trong đó, rồi ngồi nhìn nó thẫn thờ. Cô muốn ăn nhưng không còn tha thiết nữa. Lần đầu tiên cô thấm thía câu ca dao:

Mâm đồng chùi sáng
Để dưới ván thấy hình
Cháo đậu xanh kia, đường cát nọ,
Nhớ mình, quên ăn!

Người ta thì nhớ mình, nhớ người chồng đến quên ăn, còn Tố Nga? Tố Nga biết mọi diễn biến đang thay đổi rất nhanh. Có thể cô sẽ không bao giờ còn có cơ hội gặp lại Nghi, nên cô chuẩn bị một cách thật tình cờ để gặp ông vệ binh tại dòng suối, nơi hàng ngày toán cưa xẻ xuống lấy nước.

Hôm nay Tố Nga đi rừng, mệt và ngồi nghỉ thỏa mái nơi bến nước của dòng suối. Cô không có cái hồi hộp, rình rập và sợ sệt như ngày hôm qua. Tình cờ, cô nhất định phải tình cờ gặp ông vệ binh và một người tù lấy nước tại đây. Những câu hỏi, câu nói, cô đều chuẩn bị sẵn để cố moi cho được tin tức trong trại.

Từ xa cô đã thấy Nghi đang đi xuống. Cái dáng dấp đi rừng của Nghi cô không thể nhầm lẫn với ai được. Nó không có vẻ cực khổ, lam lũ của một người sống ở rừng cho dù Nghi tiều tụy, rách nát! Nghi vẫn có cái nét nào đó của một tài tử đóng phim trong rừng. Cô cũng không có cái nét của một người đang sống ở rừng, điều mà chính cô không hề hay biết. Tố Nga bối rối, quên cả mọi chuẩn bị phải đối phó như thế nào với ông vệ binh đeo súng đang lẽo đẽo theo sau Nghi. Cô quên hết. Cô sững sờ khi thấy Nghi. Trái tim cô đập lên thình thịch.

Nghi thấy Tố Nga. Nghi biết có thể gặp Tố Nga trong giây lát ở một nơi nào đó nhưng không ngờ lại gặp ở đây. Nghi biết cái khôn ngoan, nhanh nhẹn của Tố Nga, dù thế nào cô cũng dàn cảnh để thấy nhau trong chốc lát trước khi chia tay. Nghi cần phải bình tĩnh, nên khi vừa thấy Tố Nga, Nghi đi chậm lại đợi ông vệ binh đến gần. Nghi muốn dựa theo phản ứng của ông vệ binh khi thấy có Tố Nga nơi suối để có phản ứng riêng. Ông vệ binh lên tiếng:

– Có dân nhỉ?

Rồi ông nhận ra người quen:

– À, chào cô Tố Nga, ngọn gió nào đưa cô đến đây sáng nay?

– Dạ, chào anh Quân. Anh đang dẫn đối tượng đi đâu đấy?

– Đi lấy nước. Tôi được tăng cường coi toán cưa xẻ hôm nay.

– Dạo này chắc anh bận nhỉ?

– Vâng, toàn trại đang phải tập trung nhân lực để dứt điểm một số vụ việc…

– Thảo nào không thấy các anh ghé nhà chơi như trước kia.

– Vâng, bận lắm. Và không biết bao lâu mới lại có giờ rỗi rảnh đây.

Ông vệ binh quay qua nói với Nghi, hơi lớn tiếng để kín đáo khoe tí oai quyền:

– Cho phép anh nghỉ giải lao mười lăm phút, nhưng đừng đi đâu xa nhé.

– Dạ, cám ơn cán bộ.

Trong lúc ông vệ binh và Tố Nga nói chuyện, Nghi men theo bờ suối, đi về phía ngả ba, giao điểm của hai dòng nước, nơi Tố Nga đã hẹn Nghi trước kia. Vừa đi, vừa suy nghĩ làm thế nào để Tố Nga biết và nhận được mảnh giấy Nghi đã chuẩn bị sẵn mang theo trong người mấy hôm nay. Đến nơi, Nghi nhìn quanh rồi ngồi xuống dở một viên đá nhỏ, lật ngược lên, để tạo chút khác biệt và giấu mảnh giấy bên dưới. Nghi bẻ thêm một nhánh cây nhỏ vứt bên lối đi, thân của nhánh cây hướng về viên đá như một mũi tên định hướng. Nghi hy vọng cái thông minh của Tố Nga giúp cô nhận ra được.

Mười lăm phút sau Nghi quay lại. Nghi biết Tố Nga thế nào cũng kín đáo quan sát anh. Ông vệ binh chào Tố Nga. Nghi cúi xuống xách thùng nước lên, một nhánh cây vô tình cài vào quai xách, Nghi bẻ nhánh cây vứt tại chỗ rồi xách nước lên đồi. Nghi hy vọng hình ảnh nhánh cây gãy là lời nhắn khéo cuối cùng cho Tố Nga.

Bỏ lại Tố Nga, bỏ lại dòng suối phía sau lưng Nghi mang thêm một nỗi buồn. Thêm một lần chia ly, thêm một lần mất mát trong đời! Tố Nga lặng người. Gặp nhau không dám nhìn. Không dám nói. Yên lặng xót xa. Yên lặng đau đớn. Tố Nga bước xuống suối rửa mặt, cố giấu những giọt nước mắt nhạt nhòa. Dòng suối ơi. Dòng suối ơi!

Hồ cá đã cạn. Trời lại đang mưa phùn. Gió bấc thổi từng cơn. Rét, lạnh và sình lầy nhầy nhụa. Ông quản giáo Hương mang đôi ủng, khoát áo mưa. Rất đông vệ binh đội mưa, đi đi lại lại trên bờ hồ, chỉ huy cả hai đội tù bắt cá. Tiếng chỉ trỏ, kêu réo, khá ồn ào huyên náo. Đa số tù không có tay nghề bắt cá nên những chú cá cứ vẫy vùng từ nơi nầy đến nơi khác. Tù lại một phen tắm sình.

Hình ảnh của những chú cá không còn lối thoát nhưng cố vẫy vùng tìm cách thoát thân cũng giống như đám tù cùng đường trong ao tù chế độ.

Tù cùng nhau yên lặng hành động. Những chú cá lớn lớn phải bóp đầu cho chết và dìm xuống sình, rồi tìm cách nhét vào túi áo quần. Những Tôn Ngộ Không ứa máu, trong lần dỡ sắn ba tháng trước đây lại hiện về nhưng thời điểm đã khác nhau. Ngày đó trại thi hành kỷ luật khắc khe, nhưng hôm nay là hoạt cảnh chợ chiều ba mươi Tết. Ông chín ngón và các ông quản giáo lo tìm cách thu vén và bảo vệ quyền lợi cá nhân nên không ông nào còn nghĩ đến chuyện kỷ luật đối với tù.

Tiêu ướt sũng, tái mét, run rẩy giao cho Nghiêm gô cá đầy ắp rồi vội vã ra suối tắm. Cái lạnh đã quá sức chịu đựng nên cần phải tắm nhanh rồi tìm ấm. Nghiêm ra suối làm cá. Nhìn đám tù sình lầy, đen đủi, trần truồng, xương xẩu, chen lấn nhau tắm giặt, cũng huyên náo, ồn ào như một bầy khỉ ở Phi Châu đang tranh nhau trong vũng nước. Có phải đây là đám vượn người thời tiền sử của Darwin và chủ nghĩa duy vật?

Thủy tổ của nhân loại, của Karl Max-Lenin lại tái xuất hiện vào cuối thế kỷ 20!

Đảng Cộng sản Việt Nam thật có công lớn khi đưa lịch sử nhân loại đi một vòng tròn trở về thời kỳ nguyên thủy!

Hai tuần lễ sau khi họp ở Trung Đoàn thì có lệnh chuyển trại. Ông chín ngón dậy thật sớm. Ông kéo một hơi thuốc lào thật sâu, rồi ngồi trầm ngâm ở văn phòng. Tất cả nhân viên của ông đều đang bận chuẩn bị cho việc chuyển trại, trừ ông.

Mới tờ mờ sáng, tù đã bắt đầu lũ lượt rời trại, trong màn sương trắng như màu sữa loãng. Những con vượnngười lại thêm một bước văn minh, biết gồng gánh, khiêng vác hành trang cá nhân của mình! Thứ hành trang tù thật đơn giản, gọn nhẹ nhưng thật sự không nhẹ chút nào với tình trạng sức khỏe cạn kiệt và đường xa. Chỉ cần đi bộ không thôi, trên mấy chục cây số cũng đã là một việc khó rồi. Ông chín ngón đứng nhìn theo cho đến người tù cuối cùng rời khỏi trại. Một cảm giác trống vắng thật khó tả trong ông. Những sinh động của một trại tù giờ đây không còn nữa. Cái ồn ào, nhộn nhịp trong thời gian qua không còn nữa. Núi rừng lại trở về với cái im vắng mênh mông của nó. Ông rơi vào nỗi cô đơn lạ lùng.

Chờ nắng lên, ông một mình đi lang thang trong trại. Ông nghe cả âm thanh của những chiếc lá khô vàng quyện theo bước chân ông. Từng dãy lán nằm im lìm như còn vương vấn hơi tù. Ông bước vào hội trường, một cảm giác thật khó tả. Mới hôm nào ông đứng trên bục giảng, hùng hồn thuyết về chủ nghĩa, đường lối chính sách, về nội quy, kỷ luật. Những khuôn mặt tù hốc hác, tai tái, chì chì, nhìn ông trong sợ hãi. Những ánh mắt đó cho ông có cảm tưởng ông cao lớn hơn, oai quyền hơn, nhưng bây giờ thì tất cả không còn nữa.

Xuống trại mộc, những sản phẩm chưa kịp hoàn tất, đang còn ngổn ngang ra đó. Căn nhà ông ấp ủ, bàn ghế ông mơ ước đang ở trước mắt ông nhưng sao lại xa vời. Đến bên suối, nhìn những lối mòn, những tảng đá nhẵn bóng vì sinh hoạt của tù và dòng nước vẫn róc rách trôi. Không một ai chung quanh ông. Ông trở về con người thật của ông, bản chất của ông. Ông đứng đái trên dòng nước.

Về lại bộ chỉ huy, sau khi giao việc cho mấy ông vệ binh coi giữ trại, ông chín ngón đi ra hiện trường cưa xẻ. Đến hồ cá ông dừng lại. Mặt hồ nước rộng mênh mông, xanh biếc không còn nữa. Cái kiếng thần vĩ đại, phản chiếu cả màu trời và ước mơ của ông không còn nữa. Mặt hồ bây giờ sâu hoắm, lỗ chỗ, xấu xí. Một lớp nước mỏng trên mặt sình chì xám, với những hang hốc quanh bờ, đều phô bày ra, xám xịt khó coi. Ông chín ngón bước đi, bước chân nặng trĩu.

Những ngày trước kia, trên đường đi kiểm tra toán cưa xẻ, cũng núi rừng, cũng suối nước, cũng cái yên vắng muôn đời của rừng già nhưng ông chín ngón thấy nó linh hoạt và sống động mà sao bây giờ lại như một bức tranh tĩnh vật?

Tố Nga ngồi yên trên mặt phẳng của khúc gỗ cưa còn dở dang. Cô chết lặng đi với nỗi nhớ. Những sinh hoạt tại đây cô chưa bao giờ đặt chân đến nhưng cô biết rất rõ. Cái chòi lá sơ sài, trống trải nhưng là nơi che mưa nắng của toán cưa xẻ. Mấy chạng ba của mấy cây trụ lều là nơi móc quần áo, gô, coóng. Những que củi còn chụm đầu lại trong đống tro bếp đã nguội lạnh, những chiếc lá cháy nám lăn tăn trên nền đất theo cơn gió nhẹ. Sinh hoạt của tù cưa xẻ còn rõ ràng nhưng không có một dấu vết đặc biệt nào của Nghi. Tố Nga chỉ cần dấu vết của Nghi.

Cô đã nhận được mảnh giấy của Nghi nơi dòng suối, những lời dặn dò làm cô khóc khô cả nước mắt. Tố Nga cũng viết sẵn một lá thư hồi âm, cô dự trù sẽ giấu gần nơi Nghi đã gửi mảnh giấy cho cô. Không cần dặn dò, không cần chỉ điểm nhưng khi hai trái tim tìm nhau, hướng về nhau thì sẽ nhận diện được dấu vết của nhau. Loài thú khi yêu nhau cũng bắn tin nơi cành cây, hốc đá để biết và tìm đến nhau. Ôi chao khi hai người yêu nhau lại phải làm theo dấu thú.

Tố Nga đã đến dòng suối nhưng dòng suối vắng lặng. Tố Nga lại tìm đến nơi cùng Nghi hò hẹn trước kia nhưng chỉ thấy cây lá vô tình. Không có một dấu vết nào của Nghi. Cô lần lên lưng chừng đồi, với hy vọng được nghe tiếng rèn rẹt quen thuộc thân yêu. Tiếng lưỡi cưa ăn vào gỗ là tiếng khổ sai của tù nhưng cũng là tiếng hy vọng của Tố Nga. Thế nhưng bây giờ mọi nơi đều yên vắng. Yên vắng hoàn toàn. Đi nhanh hơn. Nhanh hơn, nhưng nhóm cưa xẻ không còn nữa. Tất cả đã biến mất. Khi Tố Nga thấy căn chòi trống trơn, vắng lặng, cô bật khóc. Khi loài thú xa nhau còn có những tiếng kêu đặc biệt nhưng khi con người xa nhau, sao yên lặng ngập tràn?

Nga khóc. Cô nghe tiếng thổn thức của chính mình. Tiếng kêu của chính mình. Tiếng kêu tuyệt vọng trong một cuộc tình câm nín. Bước chân tù của Nghi đã đi về đâu. Bước chân người ở lại như cô sẽ về đâu?

Tố Nga nuối tiếc. Nếu hôm qua Tố Nga ra đây, biết đâu cô có thể gặp Nghi lần cuối? Tố Nga đem lá thư cô viết cho Nghi ra xem lại. Không gửi được cho anh, không trao được đến tay anh, thì em ngồi đây đọc cho anh, cho cây cỏ, núi rừng lắng nghe chúng sẽ chuyển đến anh…

Ông chín ngón ngạc nhiên. Không phải là thú rừng. Không phải là bóng ma. Là người sao lại xuất hiện ở đây? Câu hỏi đến đột ngột trong ông. Có thể có người đã biết tù di chuyển nên đến đây tìm cách ăn cắp gỗ của ông. Ông bước nhanh hơn.

Thấy có người đi đến, Tố Nga giật mình lo sợ. Cô gấp vội lá thư bỏ vào túi thì ông chín ngón đã đến gần. Ông ngạc nhiên nhưng chưa lên tiếng. Đôi mắt ông dừng lại nơi tờ giấy vừa gấp lại vội vàng. Ông là con cáo già. Ông có câu hỏi khôn khéo, để thăm dò:

– Chào cô Tố Nga, cô ngồi nghỉ lâu chưa? Đây là khu vực quân sự của chúng tôi đấy.

Tố Nga bối rối như một người bị bắt quả tang vì phạm tội. Cô lúng túng tìm cách trả lời:

– Chào thủ trưởng, tôi đi rừng đang lúc mệt, lại thấy có mặt gỗ bằng phẳng nên ngồi nghỉ ấy mà! Tôi không biết đây là khu vực quân sự của thủ trưởng.

Ông chín ngón tiếp:

– Đây là nơi làm việc của tù dân không có quyền lui tới.

Tố Nga xuống nước tìm kế thoát thân:

– Tôi không biết thủ trưởng ạ chỉ mới ngồi nghỉ chốc lát ấy mà!

Ông chín ngón không để cho Tố Nga rút yên được. Ông tiếp:

– Tôi chịu trách nhiệm ở khu vực nầy và mọi việc liên quan đến tù. Tuy cô đến đây một mình không thấy có liên hệ nào với tù nhưng về mặt an ninh tôi cũng phải hỏi. Tôi chỉ muốn giúp cô bảo vệ an ninh cho chính cô. Bọn tù nầy rất nguy hiểm nếu vô tình gặp chúng cô có thể bị mất mạng đấy!

– Dạ, cám ơn thủ trưởng mách bảo. Xin phép thủ trưởng tôi đi và sẽ chẳng bao giờ trở lại khu vực nầy đâu.

– Tôi đã bảo với cô, tôi chịu trách nhiệm an ninh trong khu vực nên cô có thể cho tôi xem mảnh giấy cô vừa cất vào túi được không?

Tố Nga bối rối ra mặt. Cô tìm cách chống chế. Cô cố biện minh để thoát khỏi sự nghi ngờ của con cáo già nầy. Tố Nga nói:

– Đấy là bài hát, vật riêng tư cá nhân thủ trưởng xem làm gì.

– Xin lỗi cô, tôi đã bảo vì an ninh cơ mà!

Tố Nga phản ứng:

– Tôi không có quan hệ gì với các đối tượng. Tôi không có gì sai quấy cả. Thủ trưởng không có quyền tra xét tôi.

– Tôi đã bảo, phải bảo vệ cô cũng như người dân trong vùng nầy. Đó là trách nhiệm của tôi.

Vừa nói, ông chín ngón vừa trờ tới. Tố Nga đứng dậy, thối lui, cô cố thoát tay ông chín ngón. Nhưng ông chín ngón không còn là ông thủ trưởng nữa, ông là con gấu khổng lồ tấn công Tố Nga tới tấp. Chỉ trong giây phút Tố Nga đã bị khống chế hoàn toàn. Ôm và vật Tố Nga trên đất một cảm giác mới bừng bừng trong ông. Mảnh giấy không còn là mục tiêu nữa. Cơ thể một người đàn bà ấm áp, đương độ và sinh động đang nằm trong vòng tay ông. Điều mà trong những giấc mơ, cứ đêm đêm hiện về quậy phá giấc ngủ của ông. Run rẩy và thèm khát. Giọng ông hấp tấp:

– Sẽ không có một ai biết chuyện nầy đâu Tố Nga. Em kêu lớn cũng vô ích. Mảnh giấy em đang giữ chắc chắn có liên quan đến tù. Em sẽ bị liên hệ. Em sẽ bị điều tra. Cái án cải tạo… tôi sẽ bỏ qua..

Tố Nga không còn nghe rõ. Cô chỉ cố vùng vẫy. Vùng vẫy trong tuyệt vọng. Đến khi cô biết thì đã muộn. Cô không thể đi rừng một mình. Đi đêm có ngày gặp ma! Cô có thể bị giết chết và chôn giấu tại đây mà không ai có thể tìm được xác. Bản năng sinh tồn trỗi dậy. Cô gắng sức vùng vẫy, chống trả. Nhưng vô vọng. Càng chống trả, quần áo cô càng xốc xếch, xô lệch.

Ông chín ngón không còn nghe bất cứ tiếng than van, xin xỏ nào của Tố Nga. Ông như con vật đang say mồi. Tố Nga tuyệt vọng. Cô kêu cứu, nhưng tiếng kêu của cô mất hút giữa núi rừng mênh mông và làm cô mất thêm sức. Cô tự nhủ, phải bình tĩnh trong lúc nầy. Cô cần phải sống. Phải nhận diện dấu vết rõ ràng nơi ông chín ngón. Từng dấu vết nhỏ nhất trên cơ thể ông cô phải ghi nhớ. Cô sẽ đưa ra pháp luật dù cô thừa biết thứ pháp luật của người cai trị. Hai tay cô bị bẻ ngoặc ra phía sau. Cả thân người đồ sộ của ông chín ngón đè lên cô. Bàn tay còn lại của ông tung hoành trên cơ thể cô. Những mảnh vải tối thiểu trên người cô lần lượt đều bị ông chín ngón tháo bỏ. Chính hai cái tay áo sơ mi của cô trở thành sợi dây buộc hai cánh tay cô. Ông chín ngón trút bỏ áo quần của ông trước đôi mắt kinh hãi của Tố Nga. Rồi cơ thể ông đổ lên người cô. Cô nhắm mắt. Nước mắt ràn rụa. Nghi ơi. Nghi ơi!

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Bài 11

Nỗi Bi Phẫn Khôn Nguôi Trên Giấy

Bùi Bảo Trúc

Việc nói về Phan Nhật Nam, nhà văn trong buổi họp mặt ngày hôm nay là một điều bất công đối với ông. Phan Nhật Nam lớn hơn nhiều, Phan Nhật Nam con người cũng như Phan Nhật Nam nhà văn lớn hơn như thế nhiều. Cứ mở phần danh biểu cuối cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến là chúng ta thấy ngay điều đó. Nếu số lần được nhắc đến trong cuốn sách này là một thước đo tầm vóc của một nhà văn thì với gần 20 lần được nhắc nhở trong cuốc sách đó, Phan Nhật Nam phải là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại.

Nhưng họ Phan vẫn bị đối xử một cách rất bất công. Ông thường bị xếp vào hàng ngũ những người viết bút ký chiến trường. Bút ký chiến trường thực ra không phải là một hình thức văn chương thấp hơn các thể loại văn chương khác. Nhưng có lẽ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những bút ký chiến trường chỉ được viết ở một mức độ cao hơn những bản tin chiến sự của Bộ Quốc Phòng một chút mà thôi. Thêm nữa, thể loại này chưa bao giờ được viết một cách nghiêm chỉnh, bằng những nỗ lực nghiêm chỉnh, với những tên tuổi có thể đem lại những mức độ nghiêm chỉnh cần thiết. Người ta thường quên “con người nhà văn” của họ Phan.

Người ta nghĩ ông chỉ viết bút ký chiến trường. Phan Nhật Nam không phải như thế. Căn bản ông là một nhà văn. Ông là một nhà văn sống cuộc sống của một người lính chiến. Như Saint Exupéry là một nhà văn lái máy bay. Như Ernest Hemingway là một nhà văn viết về nội chiến Tây Ban Nha, về Đệ Nhất Thế Chiến. Như Jean Larteguy viết về chiến tranh và những tàn nhẫn của nó. Phan Nhật Nam viết về chiến tranh, quả thật có mang nặng những chi tiết về võ khí, về chiến thuật, chiến lược; nhưng thật sự vẫn là cái không khí súng đạn, mặt trận, chiến trường mà ông viết xuống dưới các tác phẩm của ông. Các nhà văn không có cuộc sống như Phan Nhật Nam không viết như thế. Và các ký giả chiến trường không là nhà văn cũng không viết như thế.

Phan Nhật Nam căn bản là một nhà văn. Ông không là một nhà văn viết về cuộc đời duy nhất mà ông biết, và tình cờ đó là cuộc đời của một người lính sống trong những năm chiến trường khốc liệt. Phan Nhật Nam viết những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam với muôn vàn phẫn nộ, và có lẽ cũng vì thế người đọc cũng phẫn nộ với ông. Ta hãy nghe Phan Nhật Nam trong “Dọc Đường Số Một” nói về chuyện viết lách, chữ nghĩa của ông: “Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tha hồ tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một lần nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt, thấm máu tươi từ đôi môi khô héo.” Những chữ này không thấy trong ký sự chiến tranh chúng ta đọc trên báo. Phan Nhật Nam đi đến với văn chương không để tạo cho mình một cái tên. Ở nơi ông không có những thứ văn chương phù phiếm để lập thân, cách lập thân tối hạ như người trước đã nói.

Phan Nhật Nam, nói như Võ Phiến, là “một con ngưoi phẫn nộ, ông nổi trận lôi đình ầm ĩ trước những tàn bạo ngoài tiền tuyến, những xáo trộn vô trách nhiệm ở hậu phương. Ông lăn xả vào thời cuộc chính trị, vào chiến trận quân sự, ông văng tục, xỉ vả tưng bừng. Trái với lớp trẻ mười năm trước, Phan Nhật Nam dấn thân hết mình, bám sát thời thế. Ông nổi cáu, mạt sát những người cầm bút lè phè ở trong thành phố, không biết đến cuộc chiến trên quê hương … ” Như chúng ta thường đọc thấy trong Dọc Đường Số Một, Dấu Binh Lửa, Dựa Lưng Nổi Chết Phan Nhật Nam đã nguyền rủa cái ốc đảo Sài Gòn lãnh đạm, xa rời chiến tranh như thế này trong Dấu Binh Lửa:

“Một tháng ở thủ đô đủ để tạo tan hoang trong tâm hồn. Một tháng đủ để cho chúng tôi hiểu rõ nỗi ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy hằn học và dục vọng. Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một  cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết thành phố nhơ bẩn mà thủ đô đã bôi lên khuôn mặt của quê hương … “.

Với ông, không có “lính đa tình,” không có “lính viết tên người yêu trên ba lô nặng chĩu … ,” không “chiều nay em ơi, một chăm phần chăm … ,” không có những hình ảnh làm xấu hổ những người lính có lòng, có tâm hồn, yêu đất nước quê hương. Ông là hình ảnh thấy thấp thoáng trong một đoạn thơ của Nguyễn Bắc Sơn:

“…Nhậu để khói sầu lên ngút ngút

Đốt lòng uất hận cao ngùn ngụt

Ngửi mày một tị xem làm sao

Thân thể mày bay mùi binh đao

Ngày trước mày hiền như cục đất

Giờ mở miệng ra là chửi tục

Hà hà ra thế con nhà binh

Ngôn ngữ thơm tho như mùi đất

Ngày trước mày định đi tu tiên

Giờ bi đông lính tu ừng ực … ”

Hay một đoạn khác :

“ … Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát

Nghe súng rừng xa nổ cắc cù

Chợt thấy trong lòng mình bát ngát

Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Nếu mai đụng trận ta còn sống

Về ghé Sông Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui … “

Nhưng đọc kỹ Phan Nhật Nam, sau những phẫn nộ đó là một sự buồn phiền, là một lòng nhân hậu bao la rộng lớn .. Hãy lại nghe ông trong Dấu Binh Lửa, “Mưa thật lớn trên đồi cao, gió giật mạnh. Doanh trại vắng vẻ như tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc … Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường sù lông rũ nước kêu những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như những con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như những ngày vừa mới lớn..”

Đôi lúc họ Phan cũng ân hận về những gay gắt, hằn học mà ông đã nhiều lần viết xuống. Ông thấy đã có lúc ông có quá độ. Đó là nét nhân ái thấy rất nhiều trong con người phẫn nộ Phan Nhật Nam.

Con người nhân ái của Phan Nhật luôn luôn thấy thấp thoáng trong khung cảnh sống tàn bạo kinh khiếp, man dã của chiến tranh. Bản chất thiện của người lính Phan Nhật Nam được tìm thấy ngay trong giữa cảnh đổ nát, khói lửa mịt mùng của một trận đánh vừa chấm dứt. Trong Dấu Binh Lửa, Phan Nhật Nam viết về một phụ nữ trẻ trong ngôi nhà đổ nát, vôi vữa hoang tàn. Người phụ nữ hai tay đưa cho người sỹ quan trẻ cái lẳng đựng vài món quần áo và tư trang. Và khi người lính nhẩy dù từ chối, thì người đàn bà nọ tự động, im lặng, thẫn thờ bứt hàng nút áo ngực đưa phần thân thể phía trên ra để “mời” ông thiếu úy …

“Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sỹ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính đánh trận, chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt … Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này, cho những người lính chung quanh … “

Viết như vậy là văn chương. Không là bút ký chiến trường. Văn chương ở mức độ vượt lên mọi tác phẩm khác về chiến tranh Việt Nam. Nếu quá khứ cho chúng ta biết phần nào về tương lai thì người ta tin là Phan Nhật Nam, sau những Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số Một, Ải Trần Gian, Mùa Hè Đỏ Lửa, Dựa Lưng Nỗi Chết, Tù Binh và Hòa Bình, ông sẽ viết những tác phẩm khác. Những tác phẩm xuất sắc hơn. Thấm hơn . Đau hơn …

Phan Nhật Nam đã tiếp tục viết, và hôm nay, ông trở lại với Những Chuyện Cần Được Kể Lại và Đường

Trường Xa Xăm. Chúng tôi không đi vào từng bài thơ, từng tùy bút, từng đoạn ký trong hai cuốn sách này, mà chỉ xin mời độc giả của ông đọc ngay truyện “Giữa Vũng Tối” trong Đường Trường Xa Xăm và “Hai Người Lính … Sau Một Lần” trong Những Truyện Cần Được Kể Lại.

Truyện “Giữa Vũng Tối” viết về một đoạn kiên giam của người tù Phan Nhật Nam. Đoạn tù này làm cho cảnh tù đầy trong “Một Nửa Đàn Ông là Đàn Bà” của Trương HIền Lượng là một chuyến picnic, và “Một Ngày Trong Đời của Ivan Denissovich” mà Alexander Solzhenytsin viết lại chỉ là một ngày nắng đẹp … Nhà tù của Phan Nhật Nam khủng khiếp không thể nói sao cho hết. Nói theo một nhân vật của Vũ trọng Phụng thì nhà tù nơi Phan Nhật Nam bị kiên giam “oai” hơn các nhà tù mà Trương Hiền Lượng, Solzhenytsin đã trải qua rất nhiều. Truyện “Hai Người Lính Sau Một Lần” bi thảm hơn truyện hai người lính trong một ca khúc của Phạm Duy gấp trăm lần. Trong bài hát của Phạm Duy, tình cảnh hai người lính chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. “Hai Người Lính” trong truyện Phan Nhật Nam là người thật sống. Truyện kể một người lính “Ngụy” sau khi ra khỏi nhà tù, nhà tù mà Phan Nhật Nam đã tả trong “Giữa Vũng Tối” trở về một vùng quê nọ để sống. Vào một buổi tối, người lính “Ngụy” khi hành nghề chạy xe ôm đã gặp một gia đình bốn người đứng đón xe. Anh lính “Ngụy” giúp gia đình nọ hai chuyến mới chở hết được đến nơi họ muốn tới. Câu chuyện trao đổi trên lưng chiếc xe Honda giữa người lính “Ngụy” và hai vợ chồng người đón xe mở ra những chi tiết bất ngờ … Người đàn ông nguyên là bộ đội bị hỏng mắt trong trận đánh cuối cùng ở Đà Nẵng, và người đàn bà thì từng được “Cách Mạng” phong là “Nữ anh hùng diệt Mỹ”. Hai vợ chồng teo quắt lại như những chiếc vỏ chanh bị vắt đến kiệt nước. Và người lính “ngụy” cũng xác xơ sau mười mấy năm tù cộng sản. Những nạn nhân đó cuối cùng gặp nhau, người lính thì không nói ra câu chuyện của mình. Hai vợ chồng người bộ đội thì kể ngọn nhành những bi thảm của đời họ, tô điểm đây đó với những chi tiết độc ác về bọn lính “Ngụy” và tiếp tục lo ngại quyết định đi ăn xin kiếp sống của mình có thể làm xấu mặt nhà nước. Người lính “Ngụy” trút hết cả số tiền trong túi cho cả hai vợ chồng người bộ đội và trở lại Lái Thiêu. Người lính để cho người đọc thắc mắc, nếu anh “Ngụy” kia nói cho hai vợ chồng người bộ đội nọ biết anh là ai, thì phản ứng của hai vợ chồng người bộ đội biến thành ăn mày đó sẽ như thế nào?

Có lẽ Phan Nhật Nam không tàn nhẫn đến độ đâm một nhái dao vào lương tâm của người đàn ông và người đàn bà bất hạnh đó, để cho họ tiếp tục tin tưởng, tiếp tục có được những nụ cười khi nói về những huân chương “dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng lao động, anh hùng kháng chiến” của họ. Đó là nét nhân bản nơi con người Phan Nhật Nam. Hai cuốn sách mới của ông là hai cuốn sách đáng đọc. Có một điều những người đọc Phan Nhật Nam thấy là khi đọc ông, người ta gần như luôn luôn có chung với nhau một thái độ: “Người ta không thể đứng ở ngoài nhìn vào những điều ông nói. Không thể dửng dưng trước những điều ông viết xuống. Không thể không cùng phẩn nộ, đau xót, không thể không cùng cảm nhận những điều bi thảm ông nhìn thấy và ghi lại”. Đọc Phan Nhật Nam là nhập cuộc. Sống cùng những điều bi thảm đó. Chúng tôi xin mượn một số nhận xét của Võ Phiến về Phan Nhật Nam trong cuốn Ký, Bút, Kịch Miền Nam vừa do nhà Văn Nghệ xuất bản. Trong cuốn sách này, Võ Phiến viết: “Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường … Văn nghiệp của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm, dũng mãnh và can trường trong cuộc sống ấy.”

Trước phòng họp này có một đống đá. Tôi nhớ một vị giáo chủ cũng đã có lần cầm một cục đá, nói với những người hò hét chung quanh một người đàn bà bị kết án ngoại tình rằng: “Ai nghĩ mình là “người vô tội” thì hãy nhặt đá lên và ném cho người phụ nữ ấy chết đi”. Thời đó, tội ngoại tình là tội bị trừng phạt bằng những cục đá. Vị giáo chủ này đã không ném đá vào người đàn bà. Cũng không ai dám làm công việc đó. Dù đó là một người phụ nữ đã bị kết án, đã có bằng cớ ngoại tình. Tôi không dám cầm cục đá mà ném Phan Nhật Nam vì lẽ Phan Nhật Nam không có tội gì hết. Đâu là căn bản của luật pháp nước Mỹ, quốc gia chúng ta đang sống? Cái căn bản khẳng định một người phải được coi là vô tội cho đến khi nào pháp luật chứng minh được rằng ông ta có tội.

Phan Nhật Nam gần đây có lúc bị treo cổ như những người da đen trong thế kỷ trước và đầu thế kỷ này.

Những người da đen nọ chỉ cần bị “tình nghi” là phạm pháp, là không tôn kính, hay xúc phạm phụ nữ da trắng là thân xác của người ấy có thể bị đong đưa dưới một cành cây ở những tiểu bang miền Nam nước Mỹ lập tức.

Cũng thế, Phan Nhật Nam “đã bị treo cổ” mấy lần bởi những người cùng màu da với ông, bởi những tội mà ông không hề phạm phải. Phan Nhật Nam viết ở đầu hai cuốn sách ông xuất bản ở Hoa Kỳ rằng: “Không (có) khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan (và) chưa hề có một tài sản nào quá 10 đô la”. Thế thì ông chỉ giống như chúng ta thôi. Ba tờ chứng thư ông không có. Một số chúng ta cũng không có đủ ba thứ. Một số khác chỉ có một. Mà nếu tất cả còn nằm trong tay chúng ta thì chúng có được công dụng gì? Chắc chắn là không. Vậy những công chứng thư này trở thành vô giá trị trước luật pháp nước Mỹ. Sao lại căn cứ vào đấy để bảo Phan Nhật Nam “từ khước quá khứ quân đội dẹp bỏ tổ quốc, khinh miệt người lính” vì không mang theo trong người những chứng thư đó. Ông khai chưa có một tài sản nào quá 10 đô la, thì cũng nhiều lần chúng ta cùng hoàn cảnh tài chánh ngặt nghèo như ông. Chúng ta đã có lúc không có được tài sản quá 10 đô la. Nhưng “vì thiếu tiền mà bảo rằng chúng ta là người vô sản, cộng sản” có quá đáng hay chăng? Người bạn chúng ta mà là cộng sản ư? Người quân nhân từng chửi xa xả cộng sản trên tầng số máy truyền tin ở An Lộc ngày nào, người lính từng thương tích đầy người vì đạn đối phương ngoài mặt trận mà là cộng sản ư? Người không khoan nhượng với cán bộ cộng sản …(Thứ cán bộ cộng sản gộc, những Võ Đông Giang, Hoàng Anh Tuấn, Trần Văn Trà … Bùi Tín cũng chỉ là một viên Thiếu tá trưởng Ban Báo Chí của nhà nước VNDCCH không đủ cân lượng để “cầm cự“ trong cuộc “đọ sức” ngày 4 tháng 3, 1973 ngay tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội …) … Không khoan nhượng một chữ nói lên, mỗi tiêu đề viết xuống tại phòng hội Ban Liên Hợp, nơi địa điểm trao trả … Và cuối cùng, đấy cũng là người chịu cùm kẹp, lê lết qua đủ các thứ trại tù cộng sản kinh hoàng nhất lịch sử Việt Nam, cũng gớm ghê hơn tất cả chế độ giam giữ trên toàn thế giới …. Con người không chịu ngã gục kia mà lại là Cộng Sản ư … Hãy hổ thẹn vì những tiếng lời đã hạ nhục Người Bạn chúng ta!

Tôi phải bất đồng ý kiến với những lời cáo buộc nầy. Vì hai câu vừa trích dẫn trên, ông bị quàng cho cái tội:

“Từ khước quá khứ quân đội và là một người cộng sản!” Tôi không nghĩ vậy. Tôi cũng như tất cả quý vị đang ngồi trong phòng họp nầy, chúng ta không thể ném ông bằng những cục đá trong đống đá trước cửa, chẳng phải vì chúng ta cũng là những người “mang cái tội” Nam bị gán cho. Mà vì Phan Nhật Nam không phải là người có những tội đó. Mà là vì chúng ta không thể xúc phạm Nam như thế. Mười mấy năm trời chiến trận, bao nhiêu năm cấm cố, tra tấn, đánh đập, kiên giam … Phan Nhật Nam xứng đáng được chúng ta kính trọng.

 Những lời lăng mạ, gán ghép, bóp méo, xuyên tạc, bôi bẩn, vu cáo, mạ ly không thể đến từ phía này. Kẻ thù chúng ta mới làm điều đó. Kẻ thù chúng ta mới quen làm và có thể làm những việc đó. Và chúng đã thực hiện với Phan Nhật Nam, với bạn bè bằng hữu của chúng ta, với các chiến hữu của quý vị.

Chúng ta không thể tiếp tay với những bàn tay man dã thô bạo mà rất nhiều người trong số quý vị đã rất biết sự tàn ác của những bàn tay ấy, để cào cấu, bóp cổ Bạn của chúng ta được:

Tôi không thể cầm những cục đá đá ném Phan Nhật Nam. Nếu phải ném, chúng ta đã biết mục tiêu phải ném tới. Mục tiêu đó không phải là cựu Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam, cựu sĩ quan của các tiểu đoàn 7,9,2

Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Phan Nhật Nam là người mà chúng ta rất vinh dự được gọi là Bạn.

Tháng Mười, 1995

Lần Vinh Dự không cùng

Từ Bằng Hữu.

Theo chân những tiếng hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Chương 8

Những Giong Hát Vào Thời Lính Mỹ Tham Chiến

Tôi còn thiếu sót một vài giọng hát nổi danh trước khi Mỹ bắt đầu tham chiến ở Việt Nam. Đó là giọng của Thanh Sơn, Anh Duy, Vũ Thành An, Trường Hải, Ngọc Sơn và Nhật Thiên Lan.

* Thanh Sơn:

Dù đậu khôi nguyên trong cuộc chung kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ, nhưng Thanh Sơn có một giọng chân phác quá nên không ăn khách được. Giọng hát của anh vững vàng, chuỗi ngân không dài nhưng thoải mái. Nhưng buồn một nỗi cái âm sắc của anh không đẹp, không làm thính giả mường tượng được một hình ảnh đẹp có thể làm rung cảm họ. Đó cũng như tiếng hát của Nguyễn Hữu Thiết, tuy cứng về kỹ thuật nhưng nghe không ngọt ngào du dương. Qua tiếng hát của cả hai, thính giả chỉ mường tượng đó là mẫu ca sĩ mộc mạc đến trơ trẽn, cục mịch, không một chút bay bướm để làm cho cuộc sống nên thơ. Thanh Sơn bỏ nghề ca hát để sáng tác nhạc. Hai bản “Mùa Hoa Anh Đào” và “Nỗi Buồn Hoa Phượng” của anh đi sâu vào quần chúng nhưng không phổ biến trong giới thức giả.

* Vũ Thành An:

Khi chưa sáng tác, anh thích hát những bài nhạc uớt át, nhưng có phẩm chất cao như “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân, “Chiều Mưa Công Viên” và “GióLạnh Đêm Hè” của Y Vân. Vũ Thành An trắng trẻo khôi ngô. Nhưng anh ốm yếu lỏng khỏng, hàm răng thưa nên trông anh nhạt nhẽo như khứa cá ngon nhưng chưa ướp muối và gia vị. Nhưng tiếng hát của anh thì trái lại thanh tao và đậm đà, phần ngân nga trội hơn hơn phần ngân nga của Thanh Sơn nhiều. Qua tiếng hát của anh, thính giả có thể mường tượng những khung cảnh rất mộng rất thơ, có thể nghĩ đến ánh trăng trên sông dài bát ngát, đến ánh nắng làm rực bóng dáng đồi biếc núi lam, toàn là những khung cảnh dành cho đôi lứa yêu nhau say đắm. Đó là tiếng hát làm phong phú sự liên tưởng, cõi mường tượng, niềm ước mơ của khán thính giả. Trong lãnh vực sáng tác, nếu Thanh Sơn đưa âm nhạc xuống phố chợ, xuống đám dân bình dị thì Vũ Thành An nâng âm nhạc lên chỗ cao sáng vời vợi hơn, biến âm nhạc thành ánh nắng trữ tình, ánh trăng mộng mị để len lỏi vào tâm hồn giới tuổi trẻ bén nhạy cảm xúc, vào khiếu thưởng ngoạn của khách sành điệu hơn.

* Trường Hải:

Giới mộ điệu môn ca hát biết anh nhiều qua các ca khúc thời trang của anh hơn là giọng hát của anh. Đây là một giọng trong trẻo, hơi nũng nịu điệu đà một chút. Nhưng anh hát những bản blues rất điệu nghệ vì giọng anh dẻo mê dẻo mệt. Bài “Những Chiều Không Có Em” là bài đưa tên tuổi anh lên cao (trong lãnh vực nghệ thuật sáng tác lẫn nghệ thuật hát diễn tả bài hát). Trong hàng ngũ ca sĩ hát nhạc blues đen gồm có Hùng Cường, Duy Khánh và anh.

* Ngọc Sơn:

Anh vừa là nhạc sĩ mà cũng vừa là ca sĩ như Trường Hải. Anh sáng tác nhiều nhạc phẩm, nhưng chỉ có nhạc phẩm “Hoa Mimosa” là vượt được cái tạp chất của ý nhạc để vươn lên cái phong phú của giai điệu, cái chuốt lọc của nghệ thuật. Ngọc Sơn có vẻ hơi phong trần, nhưng giọng hát của anh lại sang quý như một thứ ngọc được giồi mài đúng mức. Tôi có lần nghe anh hát “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, lối hát rất điệu nghệ.

* Anh Duy:

Anh trắng trẻo và phương phi, bắt chước giọng Duy Khánh cũng được 90%, nhưng lại không thành công về phương diện ăn khách. Anh xuất hiện nhiều lần trên các sân khấu Đại nhạc hội quy mô, cũng được khán thính giả vỗ tay nồng nhiệt để rồi sau đó dư hưởng tiếng hát anh cũng như một áng hương mong manh phai nhạt đi trong tâm tưởng họ và họ chỉ còn nhớ tiếng hát Duy Khánh mà thôi.

* Nhật Thiên Lan:

Cô có dáng tròn trịa, mập mà chắc và xinh. Tiếng hát cô hơi khàn, ấm áp, nhưng không vững chãi. Chuỗi ngân của cô cũng không được thoải mái, khi có khi không. Đây không phải là một giọng già dặn về kỹ thuật, nhưng nghe qua, thính giả có thể mường tượng được những hình ảnh ấm cúng và thân mật. Nhật Thiên Lan cũng là một ca sĩ phòng trà, nhưng không trở thành một ngôi sao trong môi trường ấy vì cách trình diễn của cô không có gì đặc biệt, tiếng hát cô lại không đủ ma lực để thu hút hồn phách những khách thưởng ngoạn.

Tôi xin nói qua vài nét chấm phá về thời cuộc nước nhà khi bước vào một giai đoạn bắt đầu khó khăn. Cộng Sản len lỏi vào Nam để cùng với bọn nằm vùng thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do chính quyền Hà Nội tạo ra. Việt Cộng lúc đầu mở những cuộc đánh du kích, sau là những mặt trận lớn với sự tham chiến của những lực lượng chính quy. Trong hàng ngũ quốc gia, sự rối reng càng ngày càng trầm trọng. Các đảng phái ló mòi tranh chấp nhau. Chính quyền trong tay một vị nguyên thủ theo đạo Gia-tô. Ông lập nên đảng Nhân vị, chẳng những muốn độc tôn cai trị nhân dân bằng cách đàn áp các đảng phái khác mà còn muốn đưa đạo Gia-tô lên hàng Quốc Giáo bằng cách đàn áp các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật Giáo vì số tín đồ Phật Giáo quá đông gấp 10 lần các tín đồ theo đạo Gia-tô. Vụ đàn áp Phật Giáo của anh em họ Ngô là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, đưa đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài dựa vào tinh thần gia đình trị.

Sau khi lật đổ chế độ anh em họ Ngô, các tướng lãnh thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng để điều khiển vận mệnh quốc gia. Phật Giáo ưa làm khó làm eo chính quyền, tổ chức nhiều cuộc biểu tình đại quy mô. Chùa Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự không phải là chỗ để hành hương nữa mà là chỗ để sư sãi sách động quần chúng. Người Mỹ khởi sự tham chiến. Đây là một xã hội rối reng, một giai đoạn lịch sử trùng trùng biến cố nhất. Trong vòng 20 tháng sau ngày tàn của Ngô triều xảy ra 13 cuộc chỉnh lý, tái chỉnh lý, đảo chính, phản đảo chính. Có 9 chính phủ ra đời và có 4 bản Hiến Pháp đặt ra. Phật Giáo và Công Giáo xung đột nhau. Cộng Sản len lỏi ở chỗ chùa chiền, các cơ quan thông tin văn hoa, các hệ thống truyền thông đã đành mà còn trà trộn vào giới học sinh, sinh viên để gây những cuộc xuống đường, những cuộc biểu tình bãi khóa. Về sinh hoạt âm nhạc, Phạm Duy vẫn dẫn đầu về phẩm cũng như về lượng. Nhạc anh không quá cao như nhạc Vũ Thành, không quá yêu kiều quý phái như nhạc Lê Trọng Nguyễn hay nhạc của Cung Tiến. Đây là thứ nhạc dễ hát, dù có nhiều bài không âm hưởng dân ca, nhưng quen thân và gần gũi với cảm quan người Việt Nam biết bao.

Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” (quyển III, Thời Phân Chia Quốc Cộng) như sau:

Khi Hoa Kỳ ồ ạt vào Việt Nam, tuổi trẻ đua nhau đi học Anh Văn để làm thông dịch viên và có đời sống cao hơn. Sau khi nắm được Anh Ngữ, họ lại càng đọc thêm những sách của thời thượng như thuyết chán đời, hippy v.v … Một sự kiện quan trọng nữa là — lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh — cuộc chiến ở Việt Nam được chiếu trên Tivi, do đó Sàigon là nơi có một đạo quân báo chí, truyền hình đông đảo nhất thế giới, với những phóng viên trẻ trung, hăng hái, xông xáo, có phương tiện tối tân để thực hiện phương pháp làm báo rất táo bạo … Tiền bạc đổ ra — chỉ riêng cho việc lấy tin tức – còn hơn tiền ném qua cửa sổ. Tất cả ảnh hưởng mạnh tới giới truyền thông Việt Nam, giới dịch vụ với Mỹ kể từ cô gái bán bar, anh lái xe taxi, anh sinh viên hay người trí thức, ảnh hưởng tới người làm thương phẩm cũng như ảnh hưởng tới người làm văn học nghệ thuật. Trong làng nhạc, có một biến chuyển lớn.

Saigon vẫn có thứ văn nghệ thông thường, rất mềm mại, than thở về chuyện đi lính, chia ly, nhớ Thành Đô v.v … rất ăn khách của các bạn soạn nhạc ít bận tâm về thời thế. Bây giờ máy thu băng hay máy chạy đĩa hát mang những tên những tên PIONEER, AKAI, SONY giúp cho nhạc Âu Mỹ (nhất là nhạc Beatles) nhẩy vào Việt Nam cùng với lính Mỹ. Loại “Nhạc Trẻ” ra đời, ồ ạt như vũ bão. Nhiều ban nhạc được thành lập để đi hát cho lính Mỹ nghe. Nhiều bài hát soạn theo điệu “rock” ra đời. Các hãng băng đua nhau phát hành chương trình nhạc thương mại. Tôi xin bổ túc thêm vài chi tiết nhận định của anh Phạm Duy. Quả thật, khi lính Mỹ bắt đầu tham chiến thì xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn. Đó là cái cớ để cho Việt Cộng đả kích. Khi lính Mỹ đóng tại căn cứ nào trên bốn Vùng Chiến Thuật thì nơi đó biến thành một thị trấn nhộn nhịp. Các snack bar dành cho lính Mỹ lẫn dân sự Mỹ (thiên hạ gọi trại là “sờ-nách-ba”), tiệm giặt ủi, phòng tắm hơi, nhà cho thuê, các tiệm nước và các quán ăn dành cho người Việt làm việc cho Mỹ, tất cả mọc ra như nấm. Các snack bar là nơi để lính Mỹ đến giải khát, nhưng thật ra là nơi để họ tìm đào. Các cô chiêu đãi

viên là các cô điếm trá hình. Khi tìm được đào vừa ý là họ đưa tới khách sạn, hoặc về tổ quỷ của họ. Bởi đó nhóm Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ ra đời nhằm đả kích việc chính quyền dung túng cho các snack bar và các ổ mãi dâm dành cho người Mỹ. Song song đó, có thêm nhóm Tin Văn do Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Lương chủ trương; nhưng thật ra Hội Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ lẫn nhóm Tin Văn đều do ông Lưu Hữu Phước, Bộ trưởng bộ Văn Hóa & Giáo Dục của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Hóc Môn) giật dây dụi để bài xích nền văn nghệ đồi trụy ở miền Nam. Văn chương miền Nam lúc bấy giờ là thời kỳ hưng thịnh của nhóm Sáng Tạo. Trước khi Ngô triều sụp đổ, nó chỉ như cái thai vừa tượng hình trong bụng mẹ. Giờ thì nó đã trưởng thành. Đây là thứ văn nghệ có khuynh hướng theo thứ văn nghệ hiện sinh từ bên Tây nhập cảng qua. Thật ra, ở bên Tây, văn nghệ hiện sinh đã chết từ lâu, nhưng không hiểu sao chút tàn dư vô cùng độc hiểm của nó một khi chui vào nhóm Sáng Tạo bỗng trở nên hiển thánh bất ngờ. Văn chương ụa mửa, chán đời, khuyến khích tự tử đi song hành với nền âm nhạc ca tụng cuộc tình dang dở giữa Lan và Điệp, giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, giữa chú tiểu Lan và chàng sinh viên Ngọc trong quyển Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng và giữa chàng trai khói lửa và người vợ bé nhỏ hậu phương trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan. Sở dĩ có loại nhạc ca tụng tình yêu dang dở như vậy là bởi cuốn phim Hồng Kông Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài của Lý Hàn Tường chiếu tại Sài Gòn đã hốt bạc kinh khủng. Mối tình giữa chàng Lương và nàng Chúc cũng như mối tình cặp Romeo và Juliet đã lay động biết bao tâm hồn và trái tim giới trẻ. Cho nên các nhà soạn nhạc cố tìm trong kho tàng tình sử, trong kho tàng văn chương nước nhà những mối tình tuyệt vọng ngập tràn nước mắt na ná như mối tình Lương & Chúc, như mối tình Juliet & Romeo để hốt bạc của những thính giả tuy có trình độ thưởng ngoạn kém, nhưng có trái tim mẫn cảm và nguồn nước mắt dồi dào sẵn sàng để cho tiết điệu của nhạc phẩm họ chi phối.

Trong giai đoạn nầy, có sự xuất hiện của Phạm Mạnh Cương với “Thu Ca” và “Thương Hoài Ngàn Năm”, của Dũng Chinh với “Những Đồi Hoa Sim”, của Mạc Thế Nhân với “Ru Em Tròn Giấc Ngủ”, của Hàn Châu với “Ánh Mắt Hỏa Châu” …

Cung Tiến và Anh Việt Thu đã nổi danh từ khoảng cuối thập niên 50. Cung Tiến với “Thu Vàng”, Anh Việt Thu với “Giòng An Giang” đem đến giới trẻ một thứ nhạc xanh mướt tâm tình. Nhưng trong giai đoạn mới nầy, Anh Việt Thu nổi danh trong quần chúng với những bản nhạc kém về phẩm chất nhưng dễ đi sâu cảm quan những kẻ thích loại tiết điệu lâm ly phù phiếm trong đó có bài “Hai Vì Sao Lạc”. Riêng Cung Tiến với bản “Hương Xưa” đã làm say mê biết bao kẻ sành nhạc. Anh Việt Thu vẫn là người có tài. Nếu không vì cơm áo, anh không chọn đường lối đi vào lớp thưởng nhạc có trình độ kém như vậy. Những bài hát trong quyển tuyển tập nhạc dành riêng cho anh có cái tựa là Con Đường Chúng Ta Đi do Kẻ Sĩ xuất bản là những nhạc phẩm có phẩm chất ở nhạc lẫn lời. Sau “Hương Xưa”, Cung Tiến sáng tác thêm những nhạc phẩm trác tuyệt như “Hoài Cảm”, “Nguyệt Cầm”, “Mắt Biếc” …

Còn về môi trường ca hát thì sao?

Hai năm trước khi nhà Ngô sụp đổ, Hoàng Thi Thơ có lập ra ban ca vũ nhạc đại quy mô, cách dàn dựng sân khấu rất mỹ thuật. Phần vũ dưới sự điều khiển của vũ sư Trịnh Toàn giới thiệu được văn hóa dân tộc. Ban ca vũ nhạc kịch nầy có hai vở ca kịch đạt đến phẩm chất cao là Cô Gái Điên và Ả Đào Say. Ban ca vũ nhạc kịch Hoàng Thi Thơ xuất ngoại, qua trình diễn ở hội chợ Osaka thành công rực rỡ. Bởi Hoàng Thi Thơ làm mếch lòng một số báo chí, không lo lót tiền hối lộ cho bọn ký giả tham nhũng nên bị chúng nó vu khống nào là là đoàn bị khán giả Nhật đả đảo vì các tiết mục văn nghệ quá thấp kém không hợp với trình độ cao của dân Nhật, nào là sân khấu bên Nhật vĩ đại, trong khi đó tranh cảnh của đoàn chỉ hợp với sân khấu nhỏ như các sân khấu ở Sài Gòn. Nhưng kiều bào bên Nhật viết thư về cho họ hàng của họ ở Việt Nam biết rằng,

khán giả Nhật hoan hô các tiết mục văn nghệ của đoàn Hoàng Thi Thơ, nhất là các màn múa nón, múa quạt làm kiều bào hãnh diện lây.

Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Anh, Thể Tần, Phương Nga, Nhật Bằng, Ngọc Long, Anh Ngọc, Phượng Bằng, Hồng Phúc là những kiện tướng đài Sài Gòn. Hai khuôn mặt mới là Phượng Bằng và Phương Nga tuy tuổi rất trẻ, nhưng tài cao. Phượng Bằng hát không kém Anh Ngọc bao nhiêu, chuỗi ngân đều đặn và vững vàng. Phương Nga tuy có giọng hát trong, nhưng làn hơi không phong phú và dũng mảnh. Phượng Bằng có khuôn mặt hồng hào xán lạn, nhưng anh không đẹp trai nên ngại xuất hiện trên sân khấu và chỉ chường mặt vài lần trên Tivi về sau. Phương Nga khá đẹp nhưng không đậm đà, tuy nhiên cũng có thể lên sân khấu hoặc chường mặt ở trên Tivi mà không chút mặc cảm. Về sau cô thường đi chung và ca chung với Mai Hương, Quỳnh Giao, Như Thủy.

Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Thái Thanh, Thần Đồng Phương Mai vẫn là những ngôi sao ca nhạc ăn khách trên sân khấu Đại nhạc hội. Kế đó là Thanh Hùng, Việt Ấn.

Bốn ngôi sao mới bắt đầu rực sáng là Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh và Chế Linh. Phải đợi hai năm sau mới thêm Thanh Tuyền, và từ đó có thêm Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Hương Lan Giao Linh, Kim Loan.

Hà Thanh rời xứ Huế vì chị thấy thời cuộc ở đó căng thẳng. Vả lại Huế không thể là nơi để chị mở tầm hoạt động ca hát được. Lúc đầu chị bắt chước theo cách hát của Lệ Thanh để quyến rũ quần chúng. Nhưng sau đó khi đã liệt vào hàng ngũ ăn khách nhất, chị hát theo cái bản sắc của giọng hát mình, tránh bớt những cái láy qua láy lại tiếng cuối của câu hát. Tiếng Lệ Thanh dù có vang lộng nhưng nghẹt mũi, còn đằng nầy tiếng Hà Thanh dù có giống đôi chút tiếng Lệ Thanh nhưng khỏe khoắn và ngọt ngào hơn. Cho nên chẳng bao lâu khách mộ điệu quên hẳn tiếng Lệ Thanh sau khi Lệ Thanh đi lấy chồng vì họ đã có một giọng hát lành mạnh và tài ba hơn thay thế. Cũng như Hoàng Oanh, Hà Thanh không thích hát trên sân khấu mà chỉ thích hát trên đài truyền thanh, đài truyền hình và trong làng dĩa nhựa mà thôi.

* Phương Dung:

Phương Dung vốn quê ở Gò Công, lên Sài Gòn học trường Nguyễn Bá Tòng. Cô có một khuôn mặt mặn mà. Trong thời gian đeo đuổi theo nghề hát, cô vẫn giữ dáng dấp nữ sinh, thường thích mặc áo dài màu nguội và nhạt, nhất là thích áo dài màu trắng. Cô có vóc mình tầm thước và thanh cảnh, mái tóc uốn kiểu thường, son phấn thật nhạt. Nhìn cô, không ai nghĩ rằng đó là một nghệ sĩ cả, bởi cô quá giản dị để có thể hòa mình vào đám đông bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dũng Chinh đã làm cô nổi tiếng, sau đó là “Nỗi Buồn Gác Trọ”, “Chuyện Tình Lan và Điệp”. Cũng có lần, cô hát bài có giá trị nghệ thuật hơn, như bài “Tống Biệt” của Võ Đức Thu (phổ bài thơ cùng tựa của Tản Đà), “Khúc Hát Ân Tình” của Xuân Tiên, “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh …

Giọng của Phương Dung lảnh lót, có ngân vang. Nhưng đây là một giọng không được cắt xén gạn lọc những cái cặn bã thô tháp. Nó ví như một loài man thảo mọc sum suê lấn át những kỳ hoa dị thảo khác một cách bừa bãi. Nó giống như một cây hoang dại gặp thời tiết thích hợp là đâm cành, nẩy lá, đơm nụ, trổ hoa, kết quả. Nó không được tỉa xén nên không thể trở thành một cây cảnh trồng trong chậu sứ hay trong một ngự uyển hoặc một hoa viên nào. Được cái khi lên cao, Phương Dung ít khi chịu chuyền qua giọng óc. Nhưng thay vì rống lên để tiếng vang lồng lộng thì cô thọc sâu tiếng vào trong cổ họng để rít lên chua ơi là chua! Cô ca mà người thưởng ngoạn có cảm tưởng tiếng cô mắc kẹt ở chỗ nào trục trặc nhiêu khê trong cổ họng cô nên cô không thể ngân nga được. Đây là tiếng hát chỉ lấy cái lảnh lót để che đậy nhiều tỳ vết, nhiều lỗi lầm. Một giọng hát thiếu cái mềm mại để đi vào những ngõ ngách uyển chuyển trong tâm hồn người thưởng ngoạn cao. Đó là tiếng hát đến chúng ta bằng những đợt sóng huyên náo và tới tấp để rồi chìm trong quên lãng, không đọng lại trong tâm hồn khách sành điệu dù là một giọt nắng tàn ảm đạm hay một giọt sương giá ngắt nào. Nhưng dù sao đây là một tiếng hát đẹp, một quặng kim có chất vàng quý giá. Nhưng tiếng hát đó phải được tập luyện đúng mức, quặng kim đó phải được loại ra các tạp chất thì mới có chất vàng ròng tinh túy. Trong khoảng 11 năm ròng, tiếng hát Phương Dung đã trở thành thân tình ấm áp đối với quần chúng. Tiếng hát của cô nói lên những ước vọng thầm kín của họ rằng đây là tiếng hát mà họ có thể nhái theo để tự hát và tự thưởng thức hoặc để gửi trao những kẻ mà họ mến yêu. Đây là tiếng hát của giới học sinh, của các anh lính tiền đồn. Đây cũng là tiếng hát của những tâm hồn chất phác không cần đào sâu vấn đề, nhưng giàu sang mạch cảm hoài, thích sống hồn nhiên như cỏ nội hoa ngàn. Phương Dung được báo chí tặng biệt danh là “con nhạn trắng Gò Công”. Tiếng nhạn kêu sương là tiếng thê lương tự bản chất. Nhưng tự bản chất, tiếng Phương Dung rất mộc mạc, lảnh lót như tiếng nhạn nhưng không buồn như tiếng nhạn. Nó không uốn vặn để tỉ tê sướt mướt. Nó gợi nên những giếng nước ngọt ở vùng biển mặn như vùng đất Gò Công đúng hơn. Nó hợp cùng hình ảnh người hát thành một biểu tượng ngọt ngào như xôi nếp một, như đường mía lau, nói lên cái bình dị nhưng phong phú của đất nước mến yêu, của đồng ruộng hiền hòa. Nghe Phương Dung hát, chúng ta có thể liên tưởng đến những cô nữ sinh tỉnh lẻ, những người phụ nữ trung lưu yêu nếp sống khiêm tốn cùng khung cảnh bình lặng vây chung quanh mình. Những kẻ đó tuy có bận vì sinh kế, nhưng vẫn có đôi lúc để tâm hồn mình ngấm sâu vào phong vị thơ văn thuở tiền chiến, vào tình ý ca dao của ba miền đất nước và vào những huyền thoại của nơi chôn rau cắt rún của mình.

* Hoàng Oanh:

Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, nên Hoàng Oanh không được luyện giọng theo lối chân truyền. Cô nổi danh khi chưa thành thiếu nữ, hãy còn bé bé xinh xinh như nàng ngọc nữ và non mềm như cô kiều nga trong bộ áo đầm với chiếc áo sơ mi trắng và chiếc váy xám kẻ ô quả chám. Vào 4 năm cuối của thập niên 70, tôi cộng tác cho tạp san Quê Mẹ ở Gennevilliers, thành phố phụ cận phía bắc của kinh đô Paris. Tạp chí nầy do Võ văn Ái làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, còn tôi làm tổng thư ký tòa soan. Tôi đã viết về tiếng hát của Hoàng Oanh trên tạp san Quê Mẹ số 27 (ngày 4/10/78) như sau:

Mỗi tiếng hát mang một hình ảnh, một khung cảnh, mang luôn cả thế giới nào đó mà mỗi người nghe, qua óc tưởng tượng tuyệt vời, có thể mường tượng ra.

Tiếng hát của Hoàng Oanh, hồi 15 về trước, trong trẻo du dương gợi cho tôi bóng dáng cô bé gái, mắt to, cái nhìn reo vui, khuôn mặt trong sáng, váy đầm xòe, tóc cài nơ bướm màu hồng. Chung quanh cô bé đó là khung cảnh một sân trường vui nhộn, tràn ngập tiếng cười hồn nhiên. Đó là tiếng hát Hoàng Oanh trong thời kỳ nàng còn ở trong ban thiếu nhi do nhạc sĩ Nguyễn Đức điều khiển mà bên cạnh nàng còn có Phước Vân, Bích Vân, Ngọc Vân, Thanh Lan …

Nhưng khi Hoàng Oanh trưởng thành thì tiếng hát đó càng buồn đậm thêm, dù nó vẫn mang bản chất tiếng hát nữ sinh từ lớp học, sân trường bay lọt ra ngoài. Tiếng hát gợi nên câu thơ tình của Trần Dạ Từ trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em”:

Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu

Áo trắng phơi buồn sân nắng trưa.

Tiếng hát nàng lúc đó vẽ nên hình ảnh cô nữ sinh tóc xõa, áo dài thướt tha, nón lá nghiêng nghiêng, đôi mắt to đẹp. Đôi mắt đó biết mơ mộng trên những trang sách diễm tình của Tuấn Huy, của Văn Quang, của Thanh Nam, biết thấm buồn qua âm hưởng thơ tình thời tiền chiến, biết chớp mắt vì cảm động khi nghe chương trình Dạ Lan với lời thỏ thẻ của em gái hậu phương gửi về anh trai tiền tuyến. Đó là thời kỳ Hoàng Oanh cùng với Phương Dung, Hà Thanh thao túng nhất trong môi trường dĩa nhựa. Thính giả mê say giọng hát nàng vì họ cảm thấy sao mà nó thân mật, gần gũi với cảm xúc và tâm hồn họ đến thế! Mãi tới bây giờ tiếng hát đó vẫn còn là bông hoa hiếm quý nở mãi trong lòng họ không bao giờ tàn phai.

Giọng Hoàng Oanh khi lên cao hoặc lúc xuống trầm hơi mỏng, chuỗi ngân không kéo dài lắm, nhưng ở nốt ngang ngang, giọng hát của nàng như rung ngời thứ ánh sáng cực kỳ mê hoặc. Với âm vực hẹp, Hoàng Oanh hát với một thái độ khiêm tốn, không cần tới làn hơi phong phú và kỹ thuật điêu luyện. Tiếng hát đó truyền cảm thâm thúy như chất rượu để lâu năm hay vị trà tàu thơm đậm, ngấm vào lòng người bằng cảm giác say sưa phiêu diễu. Nó gợi nên một going sông buồn lặng chảy qua một khung cảnh thơ mộng, trong bóng chiều êm dịu. Nó gợi nên con đường rợp bóng râm miền ngoại ô tỉnh ly nào đó, mà người đi qua đã trải tâm hồn thi vị của mình trên từng bước đi. Biết bao cô nữ sinh yêu tiếng hát nàng vì họ tưởng đó là tiếng lòng của chính họ để họ gửi gấm về một ông hoàng mộng tưởng nào đó. Còn các chàng trai thì sao? Vâng, có biết bao cậu trai tân trong ngưỡng cửa học đường hoặc những anh lính chiến đã từng ôm tiếng hát đó vào giấc ngủ, cất giấu vào chỗ đẹp nhất của tâm hồn mình.

Hãy nghe Hoàng Oanh hát “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh và “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng để yêu thêm cái tài nhấn vuốt của nàng trong tiếng hát. Hai bài hát nầy mang âm hưởng cổ nhạc miền Trung, nếu ai đó hát đúng theo nốt cây piano sẽ làm gãy đổ mất tình ý đậm đà của bài hát đi. Hoàng Oanh khi trình bày hai bài hát đó, biết uốn giọng, biết tạo những nét láy uyển chuyển và thật bay bướm và biết dồn tất cả những rung động của trái tim mình vào tiếng hát. Bởi đó khó có ai qua mặt nàng khi hát hai bài đó. Nếu chúng ta bị tiếng hát của nàng chinh phục ở những bài mang tính chất dân ca, thì chúng ta càng mê say lối diễn ngâm của nàng trên chương trình Tao Đàn hoặc chương trình Thi Nhạc Giao Duyên. Nếu giọng diễn ngâm của Hồ Điệp sắc sảo, đượm nhuần hơi hướm cổ nhạc miền Bắc, nếu giọng ngâm của Hồng Vân điêu luyện và lảnh lót, nếu giọng của Mai Lan trong trẻo, nếu giọng của Hỷ Khương đài các, nếu giọng của Mai Hiên thướt tha, thì giọng ngâm của Hoàng Oanh ngọt ngào, đưa tâm hồn người nghe vào cuộc viễn

trình của thế giới mộng mơ thời tiền chiến. Hiện nay dù cách Paris một bán cầu, bên kia nước Mỹ, Hoàng Oanh vẫn là bạn thân của Gia Đình Quê Mẹ, đã đóng góp vào sự cổ động cho báo Quê Mẹ. Từ New Jersey tới Paris, những lá thư của nàng và của chồng nàng (nhạc sĩ Mai Châu) thường xuyên đến chúng tôi, thăm hỏi, tâm sự, bàn bạc những kế hoạch phát hành Quê Mẹ. Hoàng Oanh đến với chúng ta qua điệu hát, giọng ngâm, mãi mãi viết lên đời sống một bức thông điệp của Tình Yêu, của Cảm Thông và của Hòa Điệu.

Ở bài nầy, tôi không nói hết những gì tôi suy nghĩ về tiếng hát Hoàng Oanh. So với tiếng hát Phương Dung, tiếng hát Hoàng Oanh mềm mại hơn, gợi cảm hơn. Nhưng cái mà làm tôi khó chịu là chuỗi ngân của cô chỉ có ba hột, không thể kéo dài thêm. Chuỗi ngân không vững chắc và không óng ả tự nhiên. Cô cố tình ngân nga, chứ không phải kéo một hơi dài để chuỗi ngân đến một cách tự nhiên. Đó là cô không luyện tập theo lối chân truyền căn bản. Lại thêm, khi cô hát ngang ngang thì hùng dũng biết bao, nhưng xuống trầm tiếng cô bị sa lầy, bị mắc cạn. Và khi lên cao cô chuyển giọng óc nghe lồng lộng. Từ giọng thật đến giọng óc, có một lằn ranh phân biệt rõ mồn một như lằn ranh giữa nước với dầu. Thái Thanh và Mai Hương khi lên cao cũng chuyển giọng óc, nhưng cả hai khéo léo hơn Hoàng Oanh nhiều. Họ không cho ta thấy cái giáp mí giữa giọng óc và giọng thật trong tiếng hát của họ. Hoàng Oanh là mẫu người có phẩm hạnh, có tư cách. Khi tôi viếng đài Phát thanh Sài Gòn thường gặp cô cùng với Mộc Lan, Hồ Điệp, Hoàng Hương Trang, Hồng Vân, Diễm Chi, Hoàng Oanh ngồi chờ thâu trong hai chương trình Thi Văn Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên. Hồng Vân bày trò nói tiếu lâm với Mộc Lan và Hoàng Hương Trang, nhưng Hoàng Oanh cùng Hồ Điệp và Diễm Chi chỉ ngồi nghe và cười hiền lành. Khi câu chuyện tới chỗ giật gân thì Hồ Điệp có thể bật cười,

trong khi đó Diễm Chi thẹn đỏ mặt, còn Hoàng Oanh không hề đổi sắc mặt, và vẫn chỉ cười thật ôn nhu đằm thắm, thái độ thật đoan trang thùy mị.

Hoàng Oanh không thích lên sân khấu. Không phải cô sợ mình không ăn ánh đèn, mà cô muốn giữ trong tâm tưởng thính giả của mình một tiếng hát học trò qua hình ảnh hư hư thực thực để họ tha hồ mà mường tượng chân dung cô. Có lần nữ ca sĩ Thanh Tuyền lập phòng trà, có để tên cô vào danh sách các ca sĩ thường trực của phòng trà ấy. Hoàng Oanh yêu cầu những ký giả quen thân đính chính dùm cô rằng cô không quen hát phòng trà nên cô không cộng tác với Thanh Tuyền, cô bạn đồng nghiệp mà cô hằng quý mến.

Ra hải ngoại, Hoàng Oanh vẫn giữ nghề ca sĩ. Tiếng hát của cô cực kỳ mê hoặc; càng nghe chúng ta càng bị thu hút vào cái âm sắc lảnh lót và véo von của nó. Chưa có tiếng hát nào gợi cảm và tràn ngập nữ tính hơn tiếng hát của cô. Dù lên cao và xuống trầm không oanh liệt và xông xáo, như cô hát thật thao túng, cô đùa bỡn với tiết điệu và âm thanh thật thoải mái. Nét uốn lượn của cô thật duyên dáng, nét láy của cô thật mềm mại. Cô hát bằng trái tim mẫn cảm, bằng tâm tình trung thực. Cô gửi trọn tâm hồn, nhiệt huyết của mình lúc hát thì bảo sao sự nghiệp ca hát của cô không lâu dài?

* Thanh Tuyền:

Hà Thanh và Hoàng Oanh không chịu lên sân khấu. Lệ Thanh và Thanh Thúy đi lấy chồng. Lệ Thanh thì tuyên bố dứt khoát lìa bỏ nghiệp cầm ca. Trong khi đó, Thanh Thúy không hẹn chính xác bao giờ cô trở lại cung đàn tiếng hát. Một mình Minh Hiếu và Phương Dung thôi không đủ tạo nên sức lôi cuốn cho khán giả phòng trà lẫn khán giả Đại nhạc hội. Do đó mà nhạc sĩ Mạnh Phát tung ra đúng lúc một ngôi sao ca nhạc mới, có tiếng sang sảng không kém tiếng Phương Dung. Đó là tiếng hát một cô nữ sinh ở Đà Lạt mang cái nghệ danh là Thanh Tuyền.

Thanh Tuyền có vóc vạc tầm thước, tròn lẳn. Khuôn mặt cô khá phúc hậu, dù đôi mắt cô hơi nhỏ, cái miệng tươi nhưng không đẹp bởi hàm răng hơi vẩu. Nhưng trông cô có một cái gì mộc mạc đáng mến làm người ngắm có cảm tưởng đây là một chồi măng le được xắn từ trong rừng, có thể làm ngọt mát bát canh trong mùa mưa tưới tẩm nhuần đượm khắp vùng sơn cước. Đôi mắt cô nhỏ nhưng cái nhìn rộng lớn, như ôm choàng cảnh vật xung quanh bằng niềm thương mến. Đôi mắt nhỏ nhưng không làm cho mặt cô có vẻ ngái ngủ như người bị chụp thuốc mê vì thần thái của cô thật rạng rỡ. Lúc đầu, Thanh Tuyền chưa biết ăn diện và hóa trang. Cô chỉ đánh phấn sương sương, không kẻ viền mắt cho đôi mắt thêm rộng, không biết kẻ mày tạo cho khuôn mặt có nét bầu bĩnh của cô thêm một nét cong duyên dáng. Cô chỉ mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh và đeo chiếc vòng bằng ngà ở cườm tay mặt. Tuy nhiên tiếng hát cô lồng lộng trải rộng sân khấu và hí viện. Tiếng hát sao mà véo von như chim sơn ca, vững chắc và dẻo dai như thép. Đây là một tiếng hát không điệu đà, nhưng lại thảm thiết.

Thanh Tuyền có nội lực thiên phú trong giọng hát, nhưng giá cô tập luyện giọng cho có phương pháp chân truyền, chắc chắn tiếng hát của cô sẽ dũng mãnh hơn, gieo vào tâm hồn người thưởng ngoạn những dư âm tê điếng hơn. Có nhiều khi cô phung phí làn hơi ở những chỗ không đáng đem ra ứng dụng để rồi khi lên hơi cao, cô lại hụt hơi. Thường thì khi lên cao cô nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng, thay vì rống lên để cho âm vang trải rộng ra thì cô lại nhốt sâu trong cuống họng và cô chỉ có thể rít tru tréo. Về ngân nga, Thanh Tuyền không có căn bản luyện một chuỗi ngân cần thiết. Giống như Hoàng Oanh, cô ngân rời rạc, chao đảo. Có nhiều khi cô chẳng them ngân nga gì cả mặc cho trường độ một nốt nhạc có kéo dài tới đâu.

Nhưng dù gì thì dù, đây là một giọng thiên phú, trong như một dải suối mùa xuân, lại còn gợi lên hình ảnh một khối ngọc băng, một khối pha lê. Chất thảm trong giọng hát của cô làm cho biết bao người đang có tâm sự u hoài dễ cảm thông với nó.

Bà chị Thụy Vũ của tôi vào năm 1967 có việc lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gặp Đại Úy Thục Vũ, tình cờ cũng gặp Thanh Tuyền đến đó. Khi về tới nhà, chị bảo tôi:

“Thanh Tuyền đẹp đó chớ, đẹp hơn khi xuất hiện trên sân khấu nhiều. Cô ta trắng trẻo và phúc hậu, dễ thương lắm. Đã vậy, cô ta ăn nói khiêm tốn mềm mỏng”. Có một dạo Thanh Tuyền bày vẽ hát Vọng Cổ và ngâm thơ Tao Đàn. Ở hai lãnh vực mới nầy cô không mấy tinh luyện nhuần nhuyễn nên ít lâu cô dẹp nó qua một bên. Hát Tân nhạc không thôi, cô có thể đứng vào hàng ngũ những giọng ăn khách nhất.

Sau năm 1975, cô hát cho ban Kịch nói Kim Cương. Không hiểu ai đó luyện tập cho cô lại cách hát mà cô ngân nga thật vững vàng, dàn trải làn hơi thật sành sỏi. Chu choa ơi, giọng cô thật vững nên cô trình bày bản “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” và bản “Nổi Lửa” rất nghề. Thuở đó, đi xem ban Kịch nói Kim Cương, tôi chỉ thích nghe Thanh Tuyền hát. Cô chẳng cao ráo để chế ngự sân khấu, nhưng tiếng hát cô lại mở một chân trời lồng lộng. Nhạc của Cộng sản dù tôi rất ghét, nhưng tiếng hát cô như mang sẵn cả một cái gì quý báu như thanh bảo kiếm Long Tuyền đang long lanh dưới ánh nguyệt đêm rằm.

Từ đầu thập niên 60, những cuộc đánh lớn mang những cái tên Plei-me, Chu-prong, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả v.v … xảy ra khắp bốn Vùng Chiến Thuật của miền Nam đất nước. Chính Quyền không thể kiểm soát được vùng xôi đậu, tức là vùng có Việt Cộng trà trộn nên cùng các toán Dân Sự Vụ tổ chức các cuộc di dân, đem dân chúng từ những vùng bất an ninh mà chính quyền không thể kiểm soát về những vùng định cư mới. Ở Sài Gòn, Huế, sư sãi và Phật tử thường tổ chức các cuộc xuống đường. Công giáo xuống đường. Sinh viên bãi khóa, cũng xuống đường. Các chùa chiền, nhà thờ, các giảng đường đại học mở cuộc họp hành liên miên. Sinh hoạt ở hai thủ đô lớn là Huế và Sài Gòn thường bị ngưng trệ bởi những bãi thị đình công. Trong khi đó, Cộng Sản ở Hà Nội vẫn tiếp tục cho quân theo Đường Mòn Hồ Chí Minh và ngõ Tam Biên (nơi gặp nhau giữa Việt Miên Lào) để vào Nam.

Trong tình trạng trăn trở bất an của đất nước, Phạm Duy vẫn là người mẫn cảm với ý nhạc. Thời thế dù có xoay trở cách nào cũng tác động vào thần trí sáng tạo của anh những cảm hứng phồn thịnh láng lai. Từ 1963 cho tới lúc Tổng Tấn Công trong dịp Tết Mậu thân (1968), anh sáng tác trường ca “Mẹ Việt Nam”, 10 bài “Tâm Ca”, những ca khúc cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, những ca khúc cho Cục Chính Huấn (thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị).

Về trường ca “Mẹ Việt Nam”, Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” quyển III như sau:

Nếu CON ĐƯỜNG CÁI QUAN là một hành ca ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt thì MẸ VIỆT NAM là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào Tình Thương Yêu và Tính Hiếu Hòa, tính tình nầy đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại. Đây là một Trường ca trong đó, lúc trẻ tuổi, Mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng ĐẤT MẦU tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước. Khi đứng tuổi, Mẹ hiện thân là NÚI NON sắt đá, trong sự hy sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con SÔNG NGÒI, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội Mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm tan nát lòng Mẹ. Vào lúc tuổi già, Mẹ trở thành BIỂN CẢ đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ, thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của MẸ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, nối chặt chu kỳ của trường ca MẸ VIỆT NAM.

Mẹ Việt Nam trong một sớm một chiều làm đề tài cho biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc. Các nghệ sĩ sáng tác cứ gọi Mẹ nhiều quá thét rồi Mẹ cũng trở nên nhàm đối với đa số kẻ thưởng ngoạn. Nhà văn Lê Tất Điều đã có lần phàn nàn trong quyển Phá Núi rằng thiên hạ lạm dụng trong việc đưa Mẹ Việt Nam vào công trình sáng tác của họ. Mấy tên đá cá lăn dưa ở khắp hang cùng ngõ hẻm đô thành cũng cảm thấy có cái gì không ổn khi các văn nghệ sĩ cứ réo giật ngược Mẹ Việt Nam một cách bừa bãi xả láng như thế. Họ cứ bắt Mẹ phải chui vào tác phẩm của họ cho kỳ được dù tác phẩm của họ dở t. Họ cứ hành tội Mẹ liên miên không để Mẹ nghỉ ngơi ăn trầu uống nước cho khỏe được dăm ba phút. Bởi đó chúng sửa lời trong bài “Lối Về Đất Mẹ” của Duy Khánh như sau:

Em ơi, em ơi!

Mẹ Việt Nam ghẻ lở

Mẹ Việt Nam mắc cở

Mẹ Việt Nam tắt thở.

hoặc:

Em ơi, em ơi!

Mẹ Việt Nam mắc cổ

Mẹ Việt Nam xấu hổ

Mẹ Việt Nam muốn nổ.

Vậy mới biết Phạm Duy vừa xướng ra điều gì đều cũng được nhất hô bá ứng cả. Ngày xưa, bên Pháp nhà thi hào Victor Hugo với những thiên trường ca (bằng thơ) của ông được người cùng thời gọi ông là “L’Écho du Siècle” (Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ). Còn Phạm Duy với gia tài âm nhạc của anh qua bao lớp sóng phế hưng của lịch sử nói chung, qua hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng “Mười Bài Tâm Ca” nói riêng há không được cái biệt danh “Chứng Nhân của Lịch Sử” hoặc “Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ” hay sao?

Về “Mười Bài Tâm Ca”, Phạm Duy viết như sau:

Bây giờ, tôi đang đứng trước một quê hương đã trở thành nơi thử võ khí tranh chấp ý thức hệ của những thế lực quốc tế. Với mức độ gia tăng của chiến tranh, xã hội Việt Nam quay cuồng theo cơn lốc chiến cuộc, những giá trị tinh thần bị đổ vỡ và bị thay thế bằng những giá trị vật chất, đời sống càng ngày càng trở nên khốc liệt …tôi cần phải nhận diện lại quê hương. Không thể cứ xưng tụng một nước Việt Nam lý tưởng qua những dân ca, trường ca yêu nước được nữa! Bây giờ là lúc phải phê phán xã hội. Vấn đề là phê phán ra làm sao thôi. MƯỜI BÀI TÂM CA, với những tựa đề như “Tôi Ước Mơ”, “Tiếng Hát to”, “Ngồi Gần Nhau”, “Giọt Mưa Trên Lá”, “Để Lại Cho Em”, “Một Cành Củi Khô”, “Kẻ Thù Ta”, “Ru Người Hấp Hối”, “Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe”, “Hát Với Tôi” …muốn được là tiếng nói lương tâm của con người đối mặt cùng sự thật, nhận diện lại mọi thứ trong đời. Tuy nhiên có một vấn đề cần phải đặt ra. Hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng một số bài tâm ca vẫn có cái gì quá cao, quá trang trọng nên chúng mắc kẹt trên sân khấu Đại nhạc hội, trong các ban nhạc lừng danh của đài phát thanh, trong những cộng đồng gồm các sinh viên có sự thưởng ngoạn âm nhạc cao. Nó không thể đi vào quần chúng được. Còn những bài dành cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, cho Cục Chính Huấn dù hay tới đâu thiên hạ cũng nghĩ là đó là nhạc tuyên truyền, tác giả đặt ra để moi tiền chính phủ. Cho nên trong giai đoạn nầy Phạm Duy có sáng tác một bài hát mà toàn dân đều ngưỡng mộ. Đó là bài “Việt Nam! Việt Nam”. Người nào hát bài đó có cảm tưởng tác giả vắt tim óc, máu và nước mắt trên từng câu, từng dòng nhạc để chảy ùa vào nội giới của mình. Chính ra trong những lần đi sinh hoạt với kiều bào từ Việt Nam vừa đặt chân tới trại tạm cư hay trại tiếp cư bên Pháp, tôi được hát bài nầy với họ. Họ vừa hát vừa khóc ròng. Có một ông già 70 tuổi bảo tôi:

— Được ra nước ngoài để hát bài “Việt Nam! Việt Nam” là cả một may mắn còn lại cho cuối đời của tôi.

Song song với vận sự Phạm Duy trước tác những bài Tâm Ca thì trong hàng ngũ sinh viên, có Hoàng Ngọc Tuệ tổ chức Phong Trào Du Ca với những tên như Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu …

Sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn ở giai đoạn nầy hãy còn mờ nhạt. Bài “Ướt Mi” của anh do Thanh Thúy hát không được thính giả hâm mộ lắm bởi vì giọng cô không hợp với bài nầy. Thái Thanh hát thâu dĩa bản “Diễm Xưa” chua như giấm. Hà Thanh hát thâu dĩa bản “Hạ Trắng” ngọt quá là ngọt trong khi bài nầy cần một chút đắng ở giọng người diễn tả mới nổi bật tình ý của tác giả. Nhưng Bạch Yến hát “Lời Buồn Thánh”, Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” thì thính giả bắt đầu chú ý tới nhạc của anh nhất là lời nhạc thật đẹp của anh.

Trịnh Công Sơn có giọng hát êm và khá trong, chuỗi ngân nhỏ và óng ả. Anh hát không cố gắng, có vẻ lười lĩnh. Với thân hình gầy gò, ốm yếu, nhưng anh có chất thơ mộng và vóc dáng nho phong lại thêm có cái phong độ nghệ sĩ nên cái mã của anh dễ lôi cuốn giới trẻ. Năm 1967, vào một buổi tối, anh tháp tùng theo Tô Thùy Yên đến viếng nhà Thụy Vũ. Anh mang theo hai tập nhạc của anh là Ca Khúc Da Vàng và Ca Khúc Trịnh Công Sơn vừa xuất bản. Tập thứ hai do Tô Thùy Yên viết tựa (về ý nghĩa các ca khúc) và viết bạt (về con người du ca). Cũng như các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo, Tô Thùy Yên quen thói viết phô trương Tây học của mình. Yên so sánh nhạc của Sơn qua những bài “Thánh Vịnh” của vua David và những “Diễm Tình Ca” của vua Salomon, rồi nhìn Trịnh Công Sơn qua những chàng du ca (troubadour) thời Trung Cổ bên Âu Châu. Tôi biết ngay rằng tựa và bạt sẽ đưa nhạc Trịnh Công Sơn đi thật xa vì thuở đó giới trẻ phần đông chuộng thời thượng và ưa làm dáng trí thức. Ai đó mà hát những bài trù ẻo cuộc đời, nguyền rủa thế hệ theo kiểu triết lý và văn chương nôn mửa của bọn hiện sinh qua các bài trong Ca Khúc Trịnh Công Sơn như “Xin Mặt Trời Ngủ Yên”, “Vết Lăn Trầm” v.v … sẽ được coi như mình thành tín đồ ông Sartre một cách ngon ơ. Trong những kẻ thời thượng vào thuở đó, than ôi lại có tôi, cho nên ngồi nghe Trịnh Công Sơn hát, tôi vụt thấy Sơn lẫn Yên hiển thánh ngay trong thi ca và âm nhạc của nước nhà một cách kỳ diệu.

Hôm đó, Trịnh Công Sơn ngỏ ý muốn mời nhà văn nữ Nguyễn thị Hoàng theo anh đi khắp nơi trình diễn các nhạc phẩm của anh. Anh còn cho tôi biết anh đã nghe Nguyễn thị Hoàng hát bài “O Cangaceiro” rất hay, giọng thật mùi và thật nghệ sĩ. Tôi cười:

— Người ta có chồng rồi, lại sanh con đẻ cái đùm đề, theo ông sao được? Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của ông rất tới, sao ông không rủ chị ta?

Trịnh Công Sơn bảo:

— Tôi có rủ bà ấy, bà ấy thoái thác vì đang kẹt ở các phòng trà và lại bận trông nom gia đình.

Chừng vài tháng sau, Trịnh Công Sơn lên Đà Lạt gặp được Khánh Ly. Thế là có những cuộc trình diễn ở sân trường Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn những bài phản chiến lẫn những bài than thở số phận bi đát của nhân loại (mà anh gọi là “phận ca”) qua giọng hát khàn đục và quyến rũ của Khánh Ly. Trịnh Công Sơn bảo rằng giọng hát Khánh Ly là giọng ma túy. Theo tôi, nếu giọng Khánh Ly là ma túy thì nhạc Trịnh Công Sơn là bùa mê, hai cái đó làm bàng hoàng ngây ngất cả một thế hệ trẻ vào hai năm cuối của thập niên 60 và leo qua 5 năm đầu của thập niên 70. Trong khi Trịnh Công Sơn leo lên tuyệt đỉnh vinh quang thì có hai nhạc sĩ trẻ tuy không phải là du ca, nhưng nhạc tình của họ cũng làm say lòng giới trẻ không kém. Đó là Vũ Thành An và Từ Công Phụng.

Từ Công Phụng vóc dáng cứng cáp và khỏe mạnh, khuôn mặt gân guốc như nét chạm trên đá. Anh có nước da ngăm đen, hồng hào, xán lạn và nồng mặn. Chính tại nước da nầy mà có nhiều người đồn rằng anh lai Chiêm Thành. Những nhạc phẩm nổi tiếng của anh là “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Tình Khúc Mùa Mưa”, “Trên Ngọn Tình Sầu”. Chính Từ Công Phụng cũng là một ca sĩ với giọng hát thật cừ, với chuỗi ngân tinh luyện, với âm sắc thật đẹp. Tôi được xem anh hát vài lần chung với vợ anh là Từ Dung tại Quán Cây Tre của Khánh Ly.

Cũng có lần tôi được xem anh hát bài “Mộng Đêm Xuân” của Tuấn Khanh trên Tivi, phải nói rằng càng nghe tôi càng cảm thấy giọng hát của anh đậm đà khó tả. Từ Dung trắng trẻo, mảnh mai, dáng dấp cao sang thanh thoát, khuôn mặt trong sáng và thông minh. Cô diện áo sơ-mi trắng, váy maxi in hoa diêm dúa trong thật gợi cảm. Từ Dung có giọng hát na ná như giọng Châu Hà, dù chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của cô kém điêu luyện hơn chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của Châu Hà. Hỏi ra, thì chính cô đã luyện giọng dưới sự hướng dẫn của Châu Hà.

Trong giai đoạn nầy, những giọng hát tinh túy thì không có ai. Nhưng bốn giọng hát của Hương Lan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh và Chế Linh bắt đầu khuynh đảo trên làn sóng điện, trên sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa và bắt đầu làm mưa làm gió trong làng băng nhựa.

* Chế Linh:

Anh gốc Chàm, tên thật là gì thì tôi không rõ. Anh có vóc dáng thanh cảnh, nước da sậm nhưng ấm áp, khuôn mặt khôi ngô, cặp mắt nòi tình, nụ cười cởi mở. Đây là mẫu ca sĩ chẳng những được phụ nữ say mê như điếu đổ mà cũng được nam giới ngưỡng mộ đặc biệt. Nữ giới, nhất là những cô nàng thường xây mơ dệt mộng trên những trang sách diễm tình của Dương Hà, Trọng Nguyên, Ngọc Linh, Sĩ Trung, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy, bà Tùng Long thường xem Chế Linh như một nhân vật hào hoa từ trong các tác phẩm của các tác giả kia chui ra. Còn nam giới nhất là lính tráng thích mô phỏng theo nhân dáng của Chế Linh để chải chuốt ăn mặc và mơ được biến thành mẫu người có thể làm rung động hàng vạn trái tim phụ nữ như anh. Chế Linh là mẫu người vui tính, lém lỉnh. Nhưng khi bước ra sân khấu thì anh tạo một khuôn mặt thâm trầm, đầy chất nhạc chất thơ. Giọng anh lúc đó trở nên thê thiết quằn quại như giọng của những kẻ đang mềm người vì roi vọt bạo tàn. Khi cất cao, giọng anh trầm thống như khua động vào trong lòng tháp Chàm huyền bí, như đánh thức những ma Hời đã từng gửi xương thịt trên đất nước xa xưa của họ mà từ lâu đã bị người Việt lấn chiếm và xóa tên trên bản đồ Đông Nam Á. Bài “Đêm Nguyện Cầu” là bài đưa tên tuổi anh đi xa khắp mọi địa danh từ Bến Hải xuống mũi Cà Mau và đi sâu vào tâm hồn một khối đông đảo quần chúng. Khi lên cao, anh dùng giọng thật, nhưng ở chỗ ngang ngang, anh thường chẻ qua giọng óc để làm cho giọng thật nổi lên những nét bay bướm và huê dạng. Elvis Phương, Thái Châu, Giang Tử, Trường Hải, Ngọc Sơn về sau nầy cũng đi theo vết chân anh là tét qua giọng óc để làm duyên làm dáng, làm eo làm nũng với cuộc đời. Và dù họ không rên rỉ sướt mướt để hoàn toàn theo anh nhưng cũng tạo được những giọng đau khổ rã rời để hớp hồn khán thính giả.

Tuy nhiên đã là người làm nghệ thuật, giọng hát của Chế Linh dù được hàng triệu kẻ say mê chiêm ngưỡng, nhưng anh vẫn bị có người chê bai, đánh gục chí tử. Nhà văn nữ Túy Hồng, dưới bút hiệu Hân Tố Tố, đã nhận xét giọng Chế Linh đại khái như sau: “Giọng Chế Linh là giọng nửa trong nửa đục, nửa âm nửa dương, nửa trống nửa mái, nửa đực nửa cái … “. Còn nhà văn Phạm Quốc Hùng thì cho rằng giọng hát của Chế Linh như giọng con heo nái đang lúc động cỡn, được chủ nhà lấy cọng dọc mùng thọc vào bí huyệt khoái lạc của nó cho nó đỡ ngứa ngáy tình dục. Chế Linh không phải là một ca sĩ có kỹ thuật căn bản trong giọng hát. Nhưng cũng như Thái Thanh, Hoàng Oanh, Hương Lan, anh biết sáng tạo một giọng hát đặc biệt, giọng nầy gợi cảm và truyền cảm thì có, nhưng đạt được cái căn bản nghệ thuật thì chưa. Anh không cần ngân nga. Khi anh kéo dài làn hơi ở chữ cuối câu hát, làn hơi ấy gợn được bao nhiêu lượn sóng thì hay bấy nhiêu, anh không chú ý đến vấn đề then chốt đó. Thật ra, anh cũng chẳng biết ngân nga. Anh chỉ biết kéo dài làn hơi cho nhừa nhựa, cho tỉ tê như dế khóc sương, như đỗ quyên khắc khoải dưới trăng hè. Đó là một giọng hát mà ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn của Tổng thống Thiệu (báo chí gọi là ông Hoàng Đã Nhứt) cho là giọng trù ẻo, có thể làm mất nước. Cho nên trong khoảng 1972 cho tới 1975, Chế Linh bị cấm hát một cách oan uổng bất công. Lính tráng rủng chí chiến đấu đâu phải vì giọng Chế Linh mà bởi tại tập đoàn tham nhũng của Vua Thiệu trong đó có ông Hoàng Playboy có cái tên là Đã Nhứt. Dù rằng đất nước anh bị tổ tiên người Việt cướp mất, dù bị chính quyền Vua Thiệu đối xử bất công, dù bị một nhà văn nữ nổi danh và một nhà văn nam thuộc hạng cá kèo chê bai một cách thô tục, nhưng không vì vậy mà Chế Linh thù oán cả dân tộc Việt Nam, nhất là những người Việt bỏ xứ Việt Nam đi tìm tự do trên các đất nước Tây phương. Khi mới ra hải ngoại, Chế Linh không lấy tiền thù lao khi hát cho các cuộc trình diễn văn nghệ kiếm tiền bạc cho con tàu Cap Anamur cứu vớt người vượt biển. Cho đến nay, giọng anh cùng với giọng Tuấn Vũ thuộc loại giọng hát ăn khách hàng đầu.

* Hương Lan:

Tôi đã viết về Hương Lan trên Quê Mẹ số 29 (ngày 30/12/1978) như sau:

Hương Lan là một tài năng đa diện: cổ nhạc, sân khấu, màn ảnh … Cô cũng là kẻ thừa tự giòng máu nghệ sĩ. Thân sinh của cô là nghệ sĩ Hữu Phước, một danh tài sân khấu cải lương với lối ca Vọng Cổ xa-lông tuyệt vời đã từng thủ vai chính suốt 25 năm trên sân khấu đại ban Kim Chưởng và Thanh Minh Thanh Nga.

Hương Lan đã từng là đào con trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga với cái tên là em bé Ngọc Ánh. Cô đã xuất sắc trong vai đứa con không cha trong vở Hai Chuyến Xe Hoa của Thái Thụy Phong, phóng tác theo quyển tiểu thuyết cùng tựa của An Khê. Ít lâu sau, điện ảnh gia Hoàng Anh Tuấn chuyển vở ca kịch nầy thành phim. Hương Lan lại chứng tỏ khả năng diễn xuất của mình khi nhảy qua lãnh vực nghệ thuật thứ 7. Vào khoảng năm 1973, cô lại được đạo diễn kiêm kịch sĩ Nguyễn Long chọn để thủ một vai trong phim Em Yêu Anh bên cạnh Trần Quang, Hùng Cường, Phương Uyên và Tú Trinh. Nhưng thật ra, Hương Lan thành công ở địa hạt tân nhạc. Giọng hát của cô dù hơi giống giọng hát Hoàng Oanh, tuy không truyền cảm bằng, nhưng dài hơi và nhiều âm lượng hơn. Bởi đó, Hương Lan có thể hát những bản ruột của Hoàng Oanh để chiếm cho mình một số đông đảo khán thính giả như “Ai Ra Xứ Huế”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gấy”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”. Nhưng lần lần từ đó, Hương Lan tạo cho mình một lối diễn tả riêng, với nét gợi cảm, say đắm riêng. Tiếng hát Hoàng Oanh dịu dàng uyển chuyển thì tiếng Hương Lan đầy âm vang lanh lảnh. Nếu căn cứ theo bản chất thì tiếng Hoàng Oanh như loại nhung mềm, còn tiếng Hương Lan như một thứ lụa mượt mà, rập rờn ánh sáng. Hai tiếng hát đó có một khởi điểm chung, để rồi tách biệt hoàn toàn với nét độc đáo riêng.

Tiếng hát Hương Lan đầy đủ hấp lực để diễn tả loại nhạc âm hưởng dân ca, đôi lúc ngọt ngào, đôi lúc tái tê. Mật ong pha trộn mật đắng. Và tiếng hát đó đưa chúng ta vào những cảnh phố khuya đèn muộn, cảnh quạnh quẽ rã rời …. Về bên cổ nhạc, tiếng hát Hương Lan thuộc loại kim pha đồng, có nghĩa là cao vút và vang dội. Đây là một tài nghệ vững chắc nhất của cô. Cái lối sắp chữ huê dạng của cô là lối sắp chữ theo chân truyền, thoát thai từ một căn bản nghệ thuật vững vàng, chứ không phải lối huê dạng tật nguyền của một số nghệ sĩ của công ty Kim Chung hồi còn ở bên quê nhà. Về phương diện sân khấu cải lương, Hương Lan đã có lần đóng vai chính trong vở tuồng Em Đi Trên Phím Nhạc của soạn giả Lê Khanh phỏng theo cuốn tiểu thuyết La Dame Aux Camélias của Alexandre Dumas Fils. Vở nầy đã từng được Út Bạch Lan đóng vai mà Hương Lan đảm nhiệm, nhưng nếu Út Bạch Lan thành công về mặt diễn xuất thì Hương Lan tuy chưa qua mặt cô Út về phương diện này, nhưng lại thao túng ở mặt trình bày những bản Tân nhạc, có nghĩa là thành công ngay ở chỗ sở đoản của Út Bạch Lan.

Về mặt trình diễn Tân nhạc, Hương Lan đến với quảng đại quần chúng bằng tiếng hát ngọt như quít Hương Cần, làm rung động hàng triệu con tim khán thính giả. Riêng về bên Cổ nhạc, Hương Lan cho chúng ta thấy rõ “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, đã thừa hưởng một giòng máu nghệ sĩ để tạo ra một lối hát chân truyền và giờ đây là một Vương hậu Vọng Cổ ở hải ngoại. Hương Lan đến với chúng ta qua nhiều khía cạnh tài năng, có một thành tích lộng lẫy trong giới trình diễn và giờ đây là một tiếng hát hiếm quý của kiều bào chúng ta.

Bài nầy nhằm giới thiệu một giọng hát chứ không phải là một bài phân tích một giọng hát. Thật ra Hương Lan có những cái défaut không thể giúp cho cô tiến xa. Một là vóc dáng cô hơi bé nhỏ. Cho nên trên sân khấu, dù có ca hay diễn giỏi tới đâu, nhưng cô không thể làm đào chánh. Khi đứng chung với Mỹ Châu hay Lệ Thủy trên cùng một sân khấu, cô cũng phải làm đào nhì, đóng những vai thứ hạng. Hương Lan không xấu, nhưng cũng không đẹp. Cô chỉ có duyên mà thôi. Môi cô hình củ ấu, lúc ngậm miệng lại thì chiếc miệng của cô có vẻ quạu quọ, như sẵn sàng để bật ra những tiếng phàn nàn, bực dọc, càu nhàu. Ây vậy khi cô cười thì nụ cười tươi ơi là tươi, xinh đẹp một cách bất ngờ, chiếu hào quang rạng rỡ lên khuôn mặt cô. Hương Lan giỏi tài hóa trang. Những chuyến đi trình diễn chung với Bạch Yến cô hóa trang tươi thắm, đậm đà và lộng lẫy át hẳn mầu trang điểm kể cũng gọi là sành sõi của Bạch Yến. Khi hát, cô cũng không ra điệu bộ nhiều như Bạch Yến, nhưng nét mặt cô linh hoạt khác thường.

Hương Lan khi hát Vọng Cổ thì theo lối chân truyền, nhưng khi hát Tân nhạc, cô xài nhiều quái chiêu. Tiếng hát cô dù có trong sáng ngọt ngào, dù có một âm sắc quyến rũ cùng diễn tả cách bay bướm tuyệt vời đi nữa, song không phải là một tiếng hát tập luyện thuần thục theo phương pháp nghiêm chỉnh. Cô ngân nga không vững. Cô không thể hát những bài bản lớn đòi hỏi một nội công thâm hậu trong cách luyện giọng và đòi hỏi một kỹ thuật vững chãi. Cô chỉ trình bày những bản nhạc dành cho thị hiếu thấp kém của quần chúng, chứ không thể hát những bài có giá trị cao để làm thỏa mãn giới sành điệu. Tiếng hát của cô chỉ có lan rộng trong dân gian nhưng không thể vươn lên cao, bay đến chỗ kỳ diệu của âm nhạc được.

Hương Lan lăn lóc với nghề trình diễn quá sớm. Chung quanh cô, báo chí thêu dệt biết bao cuộc tình nẩy lửa, biết bao “xì-căng-đan”. Vào thuở đó, cô có vẻ còn bé bỏng, mặc áo đầm xòe, tóc cài nơ lụa. Cô không hề đăng tin cải chính trên báo rằng những tin đồn như vậy có thất thiệt hay không cũng như không cần che đậy những cuộc giao du của mình với bạn trai. Ở Hương Lan, ngay lúc cô còn mặc áo đầm xòe, các cậu học sinh vẫn không coi cô là biểu tượng tiếng hát học trò như ở trường hợp của Thanh Lan. Cô chỉ là người yêu trong mộng của các anh chiến sĩ ngoài tiền đồn, khi cô hát hai bài nổi danh của Trúc Phương là “Hai Mươi Bốn Giờ Phép” và “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” thì cô biến thành thần tượng huy hoàng của những kẻ khoác chinh y.

Vào năm 1978, tôi có nhiều lần tháp tùng Bạch Yến, Hương Lan và Pauline Ngọc đi trình diễn ở Lyon, Toulon v.v …Hương Lan có tài kể chuyện tiếu lâm làm ai cũng cười. Bạch Yến ưa nhắc thời oanh liệt cũ, Pauline Ngọc có tâm sự buồn, trong khi đó Hương Lan lúc nào cũng vui vẻ, mộc mạc, nhưng cực kỳ duyên dáng. Cho nên tôi cảm thấy gần gũi với cô hơn vì ở cô tôi tìm được mẫu người miền Nam đúng nghĩa. Cô thường khen tôi bằng câu:

— Không hiểu cái anh nầy cốt con gì mà nhớ dai như vầy!

* Phương Hoài Tâm:

Tôi nhớ mang máng rằng trong một lần hát mừng ngày Phật Đản, Phương Hoài Tâm xuất hiện trong một đoạn phim thời sự. Cô mặc áo đầm, tóc uốn theo kiểu Lollo úp, khuôn mặt thật đẹp và trong sáng như khuôn mặt thiên thần. Phương Hoài Tâm xuất thân từ lò Nguyễn Đức, dĩ nhiên là giọng hát của cô làm sao trui rèn đúng mức. Nhưng có lẽ khi ra nghề, cô luyện giọng thêm nhờ sự hướng dẫn của nhiều nhạc sĩ khác nên giọng cô nhuần nhuyễn hơn. Phương Hoài Tâm khi còn ở trong nước, luôn mang dáng dấp một nữ sinh. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao. Đáng lẽ với đôi lưỡng quyền ấy, khuôn mặt cô trở nên tối tăm và cứng cỏi. Nhưng mà không, mặt cô vẫn trong sáng, đôi lưỡng quyền ấy đem lại cho cô cái duyên dáng mặn nồng thâm thúy kỳ lạ. Đã vậy, khuôn mặt cô lại hiền dịu, nụ cười hơi thẹn thùng e ấp nhưng thật tươi sáng. Khuôn mặt thánh thiện ấy lại được cắm trên một vóc dáng tầm thước, nồng nàn sinh lực. Những chiếc áo dài màu tươi phơn phớt hay những chiếc áo dài màu trắng vẫn có thể làm cô đẹp, chẳng cần những chiếc áo dài in hoa hay những chiếc áo dài thêu đăng teng.

Giọng hát Phương Hoài Tâm ngoài cái ngọt dịu và trong sáng như nước cam trộn mật ong và nước đá, chẳng có gì đặc biệt khác. Khi cô xuất hiện trên bục ca hay trên sân khấu, cô vẫn thôi miên khán giả ở lối diễn tả đơn giản làm cho giọng hát của cô có về đằm thắm thục nữ. Âm vực trong giọng hát cô không rộng. Ấy vậy, có lần cô hát bài “Thu Vàng” của Cung Tiến thì tôi lo sợ giùm cho cô khi cô hát gần tới chỗ lên cao. Vậy mà cô vẫn hát khá đạt, dù giọng cô lúc lên cao hơi mỏng, nhưng cô hát trôi chảy, không vỡ gãy, không chai sượng. Đã vậy cô còn ngân lăn tăn được vài lượn thu ba. Phương Hoài Tâm có đóng một vai trong phim Nàng do Thẩm Thúy Hằng sản xuất. Thẩm Thúy Hằng khen nào là Phương Hoài Tâm đóng rất nghề, nào là Phương Hoài Tâm làm việc nghiêm chỉnh, nào là Phương Hoài Tâm mềm mỏng dễ thương … Nhưng không hiểu sao ở các cuốn phim sau do chính Thẩm Thúy Hằng sản xuất, Phương Hoài Tâm lại không được mời đóng nữa. Thôi thì chúng ta nên đổ thừa rằng Phương Hoài Tâm không có duyên nhiều với điện ảnh, cho nên ở các phim sau, cô không tìm gặp những vai nào thích hợp.

* Phương Hồng Hạnh:

Cũng xuất thân từ lò Nguyễn Đức như Hoàng Oanh, Thanh Lan và Phương Hoài Tâm, nhưng xem ra Phương Hồng Hạnh lép vế hơn hết. Khuôn mặt cô là khuôn mặt trứng ngỗng, đôi mắt lá răm hơi nhỏ, giọng hát hơi lu chìm. Suốt quãng thời kỳ mới lớn với tấm nhan sắc thịt không ra thịt, cá không ra cá ấy, không ai có thể nghĩ rằng Phương Hồng Hạnh có thể tiến xa trên đường sự nghiệp. Nhưng khi cô bước vào ngưỡng cửa dậy thì, khuôn mặt cô nồng mặn bất ngờ, thân hình cô nồng nàn sinh lực không kém thân hình của Phương Hoài Tâm. Khi cô bước ra sân khấu, đôi mắt lá răm của cô được kẻ đường viền đen hòa hợp với cặp mày tô đậm uốn cong theo viền trăng mỏng, tạo nên một hòa điệu tuyệt vời, làm cho khán giả liên tưởng đến câu ca dao: “Đôi mắt lá răm, đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.

Phương Hồng Hạnh không đẹp bằng Phương Hoài Tâm, nhưng đài các và sang trọng hơn. Khi cô bước ra sân khấu với chiếc áo dài trắng, dáng dấp của cô phiêu hốt làm khán thính giả nghĩ đến một nàng tiên trong nội cỏ thiên đường nào ghé qua. Khi trình bày một bản nhạc vui, cô hơi lém lỉnh một chút. Nhưng sắc diện thần tiên của cô không thể nào lẳng lơ được. Lúc nào cô cũng giữ vẻ đằm thắm đoan trang, vẻ điềm đạm thùy mị. Cô chỉ đẹp có vài ba phân, tức là chỉ đẹp vừa phải thôi, nhưng cái vẻ cao sang thanh thoát làm cô đẹp trội lên tới mười.

Giọng Phương Hồng Hạnh là giọng lu chìm. Nhưng cô biết xử dụng máy vi âm nên hát rất điệu nghệ. Về sau, với sự luyện tập của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Phương Hồng Hạnh tiến bộ rất xa về phương diện kỹ thuật. Cô hát nhuyễn lắm, có chiều hướng đi lên theo giọng Mai Hương, chuỗi ngân cô thật điêu luyện. Nhưng than ôi, cô phải trả một giá rất đắt: Có nhiều nhà báo độc miệng tanh lòng nỡ vu oan cho cô tằng tịu với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm những chàng nam sinh ái mộ cô thất vọng không ít.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Giáo Sư Bác Sĩ Hans Killian

Bìa cuốn Hinte runs steht nur der Herrgott của Giáo Sư Bác Sĩ Hans Killian cùng bản dịch Pháp Văn Sous le Reagrd de Dieu được Nghiêm Sĩ Tuấn và Nguyễn Vĩnh Đức dịch và giới thiệu trên báo Tình Thương.

HANS KILLIAN

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC dịch

NGUYỄN VĨNH ĐỨC bút hiệu Tô Tam Kiệt sinh ngày 4 tháng 12 năm 1938 tại Hà Nội, Bắc phần, trung học J.J. Rousseau Saigon, tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1965, nguyên Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Chủ bút đầu tiên báo Sinh viên Y khoa Tình Thương tới số 24 (tháng 12. 1965) cũng là ngày anh ra trường; anh là cây bút đa hiệu viết nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, truyện dịch và viết các bài chính luận. Nguyễn Vĩnh Đức có công lớn xây dựng Nguyệt san Tình Thương trở thành một tờ báo có tầm vớc.

Sau 1975, anh di tản khỏi Việt Nam, định cư Canada; trở lại hành nghề Y khoa tại Montréal từ 1978. Anh mất ngày 28 tháng Giêng năm 2005 thọ 67 tuổi.

NGHIÊM SỸ TUẤN bút hiệu Yến Thử, sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Trong thời gian học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký Tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-966] tới ngày Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc. Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận ở Khe Sanh tháng 4 năm 1968 ở tuổi 31.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

Nghiêm Sỹ Tuấn đã cùng Nguyễn Vĩnh Đức dịch một cách tài hoa tác phẩm rất giá trị, đầy tính nhân bản: Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương, như một trong những tiết mục thường xuyên, đã được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận thời bấy giờ. Ngoài bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu, Nghiêm Sỹ Tuấn còn tham khảo bản gốc tiếng Đức Hinter uns steht nur der Herrgott khi dịch tác phẩm này.

Tờ Di Chúc

Lời Nói Đầu:

Tôi có thói quen – chắc là một thói xấu – khi bắt đầu đọc quyển truyện nào là y như rằng đọc CÂU CUỐI trước. Thường thường, những câu cuối mọi truyện là những cảm giác, tâm trạng của nhân vật hay của tác giả xuyên qua một dáng điệu, một lời nói hoặc một câu tả cảnh tầm-thường … Một câu tuy tầm thường cũng đủ làm vỡ con đê chặn kỷ-niệm thấm-thía ổ-ạt như thác-lũ. Nếu đem tách riêng chúng ra ngoài, những câu đó có khi quá tầm-thường, có khi thật trơ trẽn, và có khi lại quá cục-mịch. Chúng chỉ gây xúc cảm khi được lồng vào truyện … Ta còn nhớ mãi mãi khi gấp cuốn truyện lại. Truyện ngắn chúng tôi khởi đầu trích-dịch dưới đây là truyện ngắn cuối cùng – có thể là CÂU CUỐI – của tập truyện-ngắn “Hinter uns steht nur der Herrgott”tạm dịch là “Dưới mắt Thượng-Đế”, ký ức của một thủ thuật gia danh tiếng người Đức Hans Killian. Có lẽ tôi đã trót theo thói quen trên. Nhưng, thật ra khi đọc truyện-ngắn này tôi đã xúc-cảm nhiều nhất. Bỗng nhiên tôi thấy đã bước vào ngưỡng-cửa vườn văn-nghệ y khoa đem theo một suy-tưởng: Con Người trước Sự Chết.

Nguyễn Vĩnh Đức

Con người thời-đại mới, tự-nhiên theo bản-năng, tim cách để xua đẩy – tôi có thể nói: có khi gần như để quên lãng – ý-nghĩ sự chết. Thuở xưa, người bệnh chết tại nhà, giữa những người thân; thời nay, người bệnh thường trút hơi thở cuối cùng trong cô đơn lạnh ngắt bệnh-viện. Nghĩa-địa, xưa kia bao quanh thánh-đường, ở giữa thành phố, nay đã dời xa về ngoại-ô, có khi còn xa nữa, xa khuất mắt kẻ sống. Tuy-nhiên, sự chết đối với mỗi người trong chúng ta, vẫn còn là điều chắc-chắn độc nhất. “Thưa Thượng-Để, xin người dạy chúng con nghĩ rằng một ngày kia chúng con sẽ chết, để chúng con suy-tưởng nhiều hơn”, lời Thánh-ca còn đó … nhưng ngày nay ai là người đọc Thánh-ca? Và ai là người thật sự sẵn sàng đương đầu với sự chết? Vì vậy, tôi muốn kết thúc quyển  ký-ức này bằng câu chuyện một thiếu phụ trẻ, mà cuộc đời đã kếtliễu một cách thảm khốc, nhưng cái chết nàng trọn-vẹn nhận lấy, đã cho tôi một niềm an-ủi mầu-nhiệm.

Tôi có cảm-tình ngay với thiếu-phụ. Dáng người mảnh dẻ, mái tóc vàng, bà ta có một khuôn mặt thanh-tú đễ thương, và trong ánh mắt xanh hình như có về gì vừa hiền lành vừa dí-đỏm. Thật khó ai thấy một người đàn bà như thế. Tuy nhiên khi quan-sát chăm-chú hơn, tôi thoáng thấy trong dáng bộ thiếu phụ một nét mệt-mỏi, như chịu đựng và như lo-lắng. Bà ta là vợ một đồng-nghiệp bị động-viên và đã tự ý đến nhờ tôi khám bệnh. Bắt đầu hỏi bệnh, tôi được biết bà ta có hai đứa con, một trai lên năm và một gái lên ba, hiện giờ đang ở miền quê với đì chúng, và thiếu-phụ đang đợi đứa thứ ba sắp ra đời. Thật vậy, chỉ nhìn cũng biết bà ta mang bầu.

– Thưa bà, bao giờ bà ở cữ?

– Thưa, còn năm tháng nữa.

Hơi sững-sờ, tôi nói:

– Nếu vậy bà nên đến một bác-sĩ chuyên về sản khoa hơn là đến tôi.

Bà ta lắc đầu và vẻ mặt bỗng nhiên trang trọng lo-lắng:

– Dạ, không phải thế đâu ạ. Tôi đến để nhờ giáo sư xem bệnh, vì ít lâu nay tôi thấy đau bên vú trái. Lẽ dĩ-nhiên tôi biết, khi có thai, như vậy không lạ gì. Khi tôi có mang hai cháu lớn, tôi thường thấy hai bên vú căng lên và thỉnh-thoảng nhức lắm. Nhưng lần này thì khác hần: hai vú tôi căng phồng lên và rắn, hơn nữa da dẻ lại óng ánh xanh … và sáng hôm qua tôi thấy dưới nách một cái hạch nhỏ. Và … tôi thường nghe nhà tôi nói nhiều điều về … Cố làm ra vẻ tự-nhiên, tôi mời bà ta cời áo và nằm lên để tôi khám bệnh. Thiếu-phụ chỉ cho tôi bên nách trái, tôi thấy một hạch bạch-huyết rất cứng, chắc chắn đã bị hư-biến. Ngay bên cạnh, tôi thấy một hạch khác, rồi một hạch khác – có lẽ đến cả chục cái. Vẫn thản-nhiên tôi khám tiếp vú bên trái. Cái vú phồng hẳn lên, rất căng, và khi nắn, có rất nhiều bướu lớn. Càng lúc càng kinh ngạc, tôi khám sang vú bên phải, hầu có thể chắc-chắn mà so sánh. Tôi suýt giật mình khi thấy ở đây cũng lại có những cục rắn khác. Có một chỗ làn da nhăn lại, như co vào trong. Nách bên phải cũng có nhiều hạch lớn, và gần những huyết-quản chạy xuống cánh tay cũng có hai cục lớn hơn. Không còn nghi-ngờ gì nữa, bà ta đã bị ung-thư cả hai vú và chắc-chắn ung-thư đã phát-triển rất nhanh. Hiện giờ, bệnh-nhân chưa thể đoán được tôi đã cố gắng thế nào để khắc-phục niềm kinh-hoàng đang xâm-chiếm tôi. Cách đây chưa đầy bốn tháng, tôi đã khám cho một thiếu-phụ Ba-Lan, cũng có chửa và cũng bị ung-thư. Lúc đó chúng tôi đã tự hỏi có nên mổ hay không. Sau cùng, tôi vẫn cứ mổ, không phải vì tôi tin chắc là phải mổ, mà vì trên bình-diện nhân-bản tôi không thể mặc-nhiên phó-thác bệnh nhân cho số-mệnh. Vậy mà trường-hợp người đàn bà xấu-số ấy lại rắc-rối thêm: bà ta oán ghét chiếc bào thai đã làm mình bị ung-thư. Nỗi oán ghét này, bà ta đã trút lên tất cả mọi người và lên chính mình nữa. Bà ta oán giận bác-sĩ, oán giận y-tá, oán giận cả thân mình. Sau hai lần mổ thật nguy hiểm, bệnh-nhân ủ-rũ hàng tuần, quay mặt đi khi chúng tôi đến hỏi han; cuối cùng chết, bất hòa với cả Thượng-Đế và với mọi người. Tôi cố gắng lắm mới có thể xua-đuổi kỷ-niệm ghê-gớm ấy. Dù thế nào chăng nữa, bổn phận tôi là tận-tâm với người sống, chứ không phải với người chết. Tôi phải làm gì bây giờ? Cắt hạch ra để khám-nghiệm ư? Nhưng, hỡi ơi trong trường hợp này, khám nghiệm thật hiển-nhiên là thừa; không còn nghi-ngờ gì nữa, ung thư này phải giải-phẫu ngay không nên chần-chừ. Trong khi người thiếu-phụ mặc lại áo, tôi tìm, một cách tuyệt vọng, một lời nào hay nhất để nói sự thật với bà ta. Vì, với bà ta, tôi đã quyết định không giấu giếm gì. Tôi tin và bây giờ tôi vẫn còn tin hơn bao giờ hết, rằng một lời nói dối “nhân đạo” vẫn là một lời nói dối, mà hậu quả chỉ có tai-hại. Một đằng bệnh-nhân, giam chặt trong ảo-tưởng mất hết liên-lạc với thực tế; đằng khác, xét cho cùng, lời nói dối đánh đổ niềm tin rất cần thiết của con bệnh đối với người thầy thuốc.

Tôi nói bằng một giọng an-ủi:

– Thưa bà, chắc bà biết bệnh này cũng nặng. Không giấu gì bà, bệnh này phải mổ. Nhưng trước khi quyết định, thế nào tôi cũng phải bàn với ông nhà. Chúng tôi sẽ mời ông ở tiền tuyến về ngay …

Tôi ngạc-nhiên thấy bà ta òa lên khóc và nức-nở:

– Tôi cũng chẳng biết bây giờ nhà tôi ở đâu nữa! Mấy tháng nay tôi không được tin-tức gì cả.

Tôi hiểu ngay, trước sự khủng-hoảng tinh thần này, tôi bắt buộc phải nói sự thật tàn-nhẫn:

– Thưa bà, bây giờ chắc chắn tính mạng bà đang lâm nguy. Những sự biến-đổi nơi vú chắc có liên lạc với cái thai của bà: tác dụng của vài chất kích-thích-tố đã làm những tế bào trong vú bà hư biến, nghĩa là bị ung thư. Vì thế cần phải mổ, tuy không phải để hủy cái thai, nhưng ít ra cũng cần làm cho nó đừng tiến triển nữa.

Chúng ta phải hết sức làm thế nào hãm lại và nếu có thể, đừng để những hạch này to thêm nữa. Thật vậy, tất cả những cố gắng của chúng ta sẽ vô hiệu, khi mà trong cơ thể bà, vẫn còn rất nhiều kích-thích-tố tăng-trưởng, rất cần cho đứa bé nhưng rất hại cho bà. Bà thấy không, chúng ta không có quyền lựa chọn.

Bà ta cầu khẩn nhìn tôi:

– Không, không bao giờ! Thưa giáo-sư, đứa bé không thuộc một mình tôi, mà còn của chồng tôi nữa, không đời nào tôi chịu bỏ nó. Tôi muốn trao nó lại cho chồng tôi. Nó là TỜ DI-CHÚC của tôi, tôi biết lắm, tôi không thể sống được. Chính vì thế mà tôi xin giáo sư cho tôi được sống đến khi đứa bé ra đời. Vì nó mà tôi đến đây, chứ không phải vì tôi.

Tôi hết sức phản đối, và cho thiếu phụ biết rằng bỏ đứa bé đi là cơ hội độc-nhất để cứu sống bà. Nhưng thiếu-phụ vẫn không lay chuyển. Đến nỗi cuối cùng, bối-rối trước tấm lòng can-đảm ấy, tôi đành khuất-phục.

– Nếu bà đã quyết-định như vậy, tôi xin chiều ý bà. Bà hãy về thu-xếp việc nhà và sửa-soạn càng mau càng tốt, bà sẽ phải nằm bệnh-viện lâu lắm đấy. Xong, bà trở lại đây ngay, chúng ta không thể phí thì-giờ được nữa.

Ba ngày sau, tôi bảo cho thiếu-phụ biết tôi sẽ bắt đầu cắt bỏ một bên vú. Trong vòng hai hay ba tuần-lễ, sau khi bà ta lấy lại sức khỏe, tôi sẽ có thể mổ nốt bên kia.

– Tuy thế, tôi nói tiếp, vẫn còn một mối nguy. Là cơ-thể đàn-bà có thai thường thường không thể chịu nổi một cuộc giải-phẫu quan trọng như vậy. Dù cẩn thận đến đâu, tôi vẫn ngại là giải-phẫu như thế đứa bé sẽ sinh ra thiếu tháng. Tôi ngại vậy thôi, tuy không đáng lo lắm, nhưng vẫn phải nghĩ tới.

Tôi kinh-ngạc thấy bà ta vẫn hoàn-toàn bình tĩnh:

– Trường hợp ấy chắc là ý Trời, ta không thể cưỡng lại được. Cuộc giải-phẫu thứ nhất diễn ra bình thường. Bệnh nhân không một chút hãi-động khi mũi Evipan đầu tiên đâm vào mạch máu. Tôi bắt đầu rạch quanh vú bên trái, tiết-kiệm từng tí da rất cần cho sau này. Xong, tôi lấy cả bắp thịt ở ngực cùng những cục bướu dính trên đó ra. Những người phụ-tá kẹp vội mạch máu không để mất một giây nào. Tiếp đó, tôi cắt chỗ cơ-ngực-lớn dính vào xương đòn gánh, bỏ hằn cơ-ngực-nhỏ, cắt chỗ bắp-thịt cánh tay dính vào xương và đầy đủ cái vú ra ngoài. Giai đoạn đầu như vậy đã xong. Sau khi bảo ngừng cho ê-te tôi tự tay dùng điện đốt các đầu mạch máu bị cắt. Tôi chỉ phải khâu và cột lại có một tĩnh mạch lớn. Rồi tôi bắt đầu giai-đoạn thứ hai, là nạo toàn-diện các hạch ở nách và dưới xương đòn gánh. Công-việc thật khó-nhọc, vì vùng-phải-nạo đầy hạch nhỏ. Chỉ còn làm sạch các bắp thịt phía sau nách, chỗ thường có nhiều hạch, là việc nạo kết-thúc. Sau khi để một “ống nòng” cao-su, tôi khâu lại đường cắt đi từ vú bên trái đến cánh tay. Tất cả mất 45 phút. Tuy bệnh-nhân mất ít máu, tôi vẫn cho truyền-máu trong giai-đoạn giải-phẫu cuối cùng.

– Những ngày sau đó, bệnh-nhân tỏ ra bình tĩnh một cách đáng khen. Nhưng một buổi sáng, khi vừa rút cái “ống nòng” ra, tôi thấy bệnh-nhân co rút người lại. Bỗng thiếu-phụ hỏi tôi:

– Thưa giáo-sư, tôi còn sống được bao lâu nữa?

Tôi hiểu liền ý-nghĩa câu hỏi ấy. Bệnh-nhân muốn biết mình có đủ sức chịu-đựng đến khi sinh-hạ đứa bé không. Không muốn an-ủi bằng một câu khôi-hài tầm-thường. Tôi chỉ trả-lời:

– Câu hỏi đó, bà không cần phải đặt ra làm chỉ.

Ngày hôm sau, tình-trạng bệnh nhân bắt đầu nặng thêm. Càng ngày càng gầy đi, làn da mặt mịn-màng khô như giấy, đôi mắt mở quà bánh cô kiếm được mặc dù khẩu-phần bị hạn-chế trong thời kỳ lớn thêm. Tôi dặn cô y-tá-trưởng lén dành cho bệnh-nhân tất cả chiến-tranh. Người nữ-tu già săn-sóc bệnh-nhân nhún vai và nói:

– Thưa, không ích gì đâu. Bà ấy không thiết gì ăn. Tôi phải dỗ mãi mới ăn được một tí.

Đôi khi, tôi đem lại cho thiếu phụ vài miếng súc-cù-là, trong lòng cố quên cái ý-tưởng khốc liệt rằng đồ ngọt giàu nhiệt-lượng không những nuôi sống người mẹ và đứa con lại còn nuôi-dưỡng cả ung-thư nữa.

Vả lại, vú bên phải không ngừng phồng lên. Tôi muốn mổ ngay, nhưng sức-khỏe bệnh-nhân buộc tôi phải từ bỏ ý-định đó. Tuy vậy, tinh thần bà ta vẫn vững ít ra trong ý-hướng là đã không mất hy-vọng sẽ cho con ra chào đời. Càng ngày bệnh-nhân càng không thể tập-trung tư-tưởng vào một vấn-đề nào khác trong khi nói chuyện. Thế-gioi chung-quanh chi tồn-tại nếu hòa-điệu với di-sản tình yêu mà thiếu-phụ dành cho người chồng. Lẽ dĩ-nhiên, tôi giấu không cho thiếu-phụ biết là di-sản ấy có thể không bao giờ đến tay người thu-nhận. Không cho bà ta hay, tôi đã đi hỏi Nha Quân-Y và còn giữ trong ô keo một bức-thư riêng báo cho tôi biết đơn-vị của người chồng thiếu-phụ được coi như “mất tích trên chiến-tuyến miền Đông”.

Điều lạ là cuộc giải-phẫu thứ hai đã diễn ra, cũng tốt đẹp như lần đầu tiên. Nhưng không may, mặc dầu chúng tôi đã cố gắng, tình-trạng lại trở nên nguy-ngập. Hon nữa, tôi bắt đầu sợ bào-thai có thể chết trong bụng mẹ. Bệnh nhân vừa được cho về phòng, tôi đã theo ngay đến, để nghe tiếng tim bào-thai đập. Tim đập hơi yếu nhưng thật rõ ràng. Tám ngày sau, bệnh-nhân hân-hoan báo cho tôi biết đứa bé đã máy; như thay đổi hắn, bà ta thì-thầm:

– Thằng bé nó đạp!

Khi cái thai được tám tháng, tôi đề-nghị cho bà ta sanh ngay, nhưng thiếu-phụ cương-quyết chối-từ.

– Tôi đã khỏe rồi, phải không, thưa giáo-sư? Vậy giáo-sư cho phép tôi về.

Cô em gái – một thiếu-phụ đẫy-đà, tràn trề nhựa sống – đến đón bà chị. Khi nghe thấy cô ta cần-nhằn trách chị sao không chịu ăn, tôi kéo cô ra nói nhỏ:

– Bệnh tình chị cô nặng lắm đấy. Vừa bị mổ hai lần, lại sắp sinh nở. Tôi mong cô nương nhẹ bà ấy.

Trong khi tôi đưa ra xe hồng-thập-tự, thiếu phụ hướng về phía tôi, đôi môi tái nhợt mấp máy câu hỏi, câu hỏi tôi vẫn e ngại:

– Còn bao lâu nữa?

Tôi chỉ có thể lắc đầu. Dù bất cứ với giá nào, tôi cũng không muốn dối bà ta. Tôi nói với một giọng vui vẻ gượng gạo:

– Thế nào cũng cho tôi biết tin sinh cháu nhé.

Ngong-ngóng đợi một tấm thiệp in, tôi đã ngạc nhiên khi nhận được một lá thư dài.

Kính thưa giáo sư,

“Vì đã gắng sức giúp tôi, giáo-sư sẽ là người độc nhất đọc thư tôi viết báo tin mừng này. Tôi hãy còn yếu và phải giữ-gìn chút sức tàn còn lại. Cách đây tám ngày tôi đã sinh một cháu trai. Cháu nhỏ tí-tẹo, nặng 2 ký 640, nhưng cháu sống, và bác-sĩ nói nhất định cháu sẽ sống.”

“Tôi không biết nói gì để tạ ơn, tạ ơn Trời và tạ ơn giáo-sư.”

“Mấy tuần lễ vừa qua thật khó nhọc và đã có lúc, tôi nghĩ rằng không thể cầm-cự đến phút cuối cùng. Bây giờ, giáo-sư ạ, tôi biết là phút cuối đã tới. Dù bác-sĩ ở đâu tốt bụng cho là tôi nói đông dài, dù em gái tôi luôn luôn giả vờ giận tôi, thì vẻ mặt lo lắng của người này, đôi mắt đỏ hoe của người kia đã nói trái lại những lời nhân đạo kia.”

“Dù sao, tôi biết tôi không thể sống được lâu nữa. Đôi khi tôi đã sợ chết – thật ra, tôi không can đảm hơn một người đàn-bà nào khác, nhưng tôi tự an-ủi ngay: sự hiện hữu của đứa bé chứng tỏ cho tôi tình-yêu vô cùng của Thượng-Đế. Có lẽ giáo-sư hoài-nghi  trước những “mặc-khải cá-nhân” của tôi, nhưng mong giáo-sư hãy tin rằng “mặc-khải” đó sẽ giúp tôi khi tôi về thế-giới bên kia.”

“Tôi đã từng yêu cuộc đời – yêu hoa, yêu nắng, yêu nhạc; tôi đã cố gắng làm một người mẹ hiền, và trong mười năm không một bóng mây nào làm vẩn tình yêu vợ chồng bền chặt của chúng tôi. Tôi ra đi, biết rằng tôi sẽ thấy ở thế giới bên kia tất cả đẹp hơn, trinh trắng hơn trên trái đất này. Và bây giờ xin vĩnh biệt giáo sư.”

“T.B. Nếu chồng tôi về, xin giáo-sư trao lại cho chàng bức thư này.”

Mười-lăm ngày sau, tôi nhận được thiệp báo-tang. Còn điều mong-ước cuối cùng của thiếu phụ, tôi không sao thực-hiện được: người chồng không trở về.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 1, tháng 1, 1964]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 9 jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau

30-4-1975

Bài 13

«Vâng, tôi lấy danh dự hứa rằng tôi không nói dối. Cũng chẳng cần phải nói dối vì những người liên hệ với tôi trong tổ chức đã bị bắt hết. Tên tôi là Ngô Tỵ, 19 tuổi, học sinh lớp 12 trường Cộng Hòa. Ba tôi người Minh Hương, má tôi người Việt Nam. Nhà tôi nổi tiếng vì cái bảng hiệu Tám Mập, chuyên bán đồ nhậu ở ngã tư Phan Thanh Giản – Cao Thắng, gần rạp hát Đại Đồng. Tôi có chân trong hội múa lân của bang Triều Châu. Cách mạng vô Sài Gòn, tôi được chị Bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh kếp nạp vào đoàn và được làm phụ tá cho chị ấy, hoạt động tại các trường Régina Mundi, Marie Curie, Lê Quý Đôn thuộc phạm vi quận 3 là những trường của con nhà giầu học, nghiêng về chương trình Pháp. Chị Bí thư cần tôi vì chị ở bưng ra, chữ nghĩa chị rất kém.

Tôi hoạt động tích cực. Chị Bí thư có nhiều cảm tình với tôi, thường biểu dương tôi và khuyên tôi thoát ly gia đình theo cách mạng. Đôi khi, một mình tôi chủ trì những phiên họp ở các trường quận 3. Tôi đã giáo dục bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie, cấm chúng nó viết thông cáo bằng Pháp ngữ, Anh ngữ nặng tính chất chống đối. Tôi bị chúng nó ghét cay ghét đắng. Điều đó không thành vấn đề. Vấn đề là tôi đã đưa chúng nó vào sinh hoạt mới, kỷ luật mới, đời sống mới. Chị Bí thư trao súng K54 của chị cho tôi giữ. Chị dạy tôi cách xử dụng. Đi đâu tôi cũng đeo súng và rất hãnh diện. Tôi tự vẽ cho tôi một tương lai huy hoàng. Tôi sẽ trở thành đảng viên đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Tôi sẽ sang học bên Liên Sô. Tôi sẽ đem hết khả năng của tôi cống hiến đảng và nhân dân. Tôi đã đọc cuốn truyện liên xô, nhan đề: Thép đã tôi thế đấy và tôi rất yêu mến anh Pavel. Anh này đúng là biểu tượng của thanh niên cộng sản. Tôi còn đọc cuốn Ruồi trâu và tôi khinh bỉ Thiên Chúa Giáo. Tôi là ước mơ của bao nhiêu đứa bạn bằng tuổi tôi, được đảng chiếu cố, được đảng ban phát ân huệ để nở mày nở mặt với đời. Đời xưa quen gọi tôi là thằng chệt, thằng ba tàu, thằng hủ tíu…! Đời nay gọi tôi là “đồng chí”, là anh Tỵ. Ba má tôi hồ hởi, phấn khởi. Họ hàng tôi tự cho là có chỗ nương dựa ở xã hội mới.

Nhưng tại sao tôi thay đổi toàn bộ tư tưởng? Một buổi tối tháng 10, thằng bạn tôi là Trần Chiêm Đồng đến rủ tôi đi uống cà phê. Tôi theo nó. Đồng và tôi nói chuyện.

– Tư sản mại bản Chợ Lớn bị bắt nhốt ở Chí Hòa mày biết không?

– Biết. Bị bắt hồi tháng 9.

– Ông bang trưởng Đào Mậu cũng bị bắt.

– Thế hả?

– Ông bang Trần Thành nằm khám luôn.

– Thế hả?

– Các đội trưởng múa lân Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu trong Chợ Lớn bị bắt hết.

– Thế hả?

– Các hiệu trưởng trường Tàu vào ấp cả.

– Thế hả?

– Hội Tinh Võ bị giải tán rồi. Tinh Võ Môn bị Nhật Bản nó phá vỡ bảng hiệu! Tiếc rằng không có Lý Tiểu Long.

Trần Chiêm Đồng đưa ra những câu hỏi làm tôi choáng váng. Nó lại nhắc tôi tinh thần yêu nước của người Trung Hoa trong phim Tinh Võ Môn. Tôi cũng là võ sinh của Tinh Võ Môn. Ở hội múa lân là phải giỏi võ vì các hội khác bang thường thách thức thí võ và đánh nhau.

Chúng tôi im lặng một lát. Trần Chiêm Đồng thở dài.

– Đời này làm gì có Lý Tiểu Long.

Nó chưởi thề:

– Mẹ kiếp, bao nhiêu năm ăn cơm, uống nước của người Việt Nam, bây giờ, bảng hiệu Việt Nam bị gỡ xuống, nghĩ rất thẹn vì không có tinh thần Lý Tiểu Long. Cái thân phận Việt gốc Hoa nghìn năm bị khinh bỉ ở đất nước Việt Nam chỉ vì sống theo kiểu gió chiều nào nương chiều ấy. Nay, Việt cộng nó bắt bỏ tù, nó tịch thu tài sản, nó đuổi về vùng kinh tế mới, dám làm gì nó không? Kêu cứu ông Mao Trạch Đông, ông Tưởng Kinh Quốc đi!

Nó hỏi tôi:

– Bao giờ mày được vào đảng?

Tôi đáp:

– Còn lâu!

Nó chản nản:

– Đợi mày vào đảng để cứu các ông bang chắc các ông ấy rũ xác trong tù rồi.

Nó mỉa tôi:

– Năm nào mày đi tố cáo Việt cộng, năm nay mày đeo súng Việt cộng. Kỳ quá, Tỵ à!

Cái vụ này, tôi xin kể: Năm 1970, quán nhậu của ba tôi rất đông lính Cộng Hoà. Có người đến ăn nhậu rồi bỏ lại cái giỏ đỏ. Tôi chạy theo bảo người ấy trở lại lấy bị đồ. Người ấy bỏ chạy nhanh. Sinh nghi, tôi báo cảnh sát bắt người ấy. Rồi tôi về quán báo động. Khách hàng bỏ chạy tán loạn. Nhờ một sĩ quan công binh giỏi nghề chất nổ nên cái giỏ chất nổ để đồng hồ tự động đã bị vô hiệu hóa.

Nó tiếp:

– Nếu chất nổ không được sĩ quan “ngụy” hủy diệt, ba má mày chết hết, mày què cụt, hôm nay mày có theo Việt cộng không?

Tôi cứng họng không trả lời nổi. Nó dọa tôi:

– Việt cộng nó thù dai lắm, tội từ thuở lọt lòng nó còn lôi ra đấy. Mày đừng tưởng bở.

Nó chia tay tôi ở quán cà phê. Tôi về suy nghĩ cả đêm không ngủ. Đầu óc tôi muốn nổ tung. Hôm sau, tôi đến nhà Trần Chiêm Đồng thật sớm.

– Tối qua mày gợi những chuyện ấy với tao nhằm mục đích gì?

– Không nhằm mục đích gì cả.

– Mày cứ nói thật đi!

– Tao không còn tin mày nữa. Bây giờ, tao tự nhận tao là Quốc Gia, còn mày thì đã là Cộng Sản. Quốc Gia không tin Cộng Sản.

– Tao chưa là cộng sản.

– Mày đeo súng hoạt động cho cộng sản, mày là cái gì? Nói thật rồi mày có đi tố cáo thì đi, tao không sợ đâu. Mày lúc này cộng sản không ra cộng sản, ngụy không ra ngụy, mày mình dơi đuôi chuột. cộng sản nó bắt mày hôm nào tao chưa biết nhưng Quốc Gia về thì mày chết trước. Mày tưởng Quốc Gia chết rồi à? Mày tưởng ngụy nhào rồi à? Ngụy nhào, Mỹ cút nhưng Quốc Gia vẫn sống hiên ngang. Quốc Gia sắp về. Mày mù, mày điếc nên không biết gì cả. Mày tự chặt cầu rồi, mày, mày… Tội nghiệp mày quá!bần thần, ngồi đưa tay bưng mặt khóc. Trần Chiêm Đông vẫn nói trong tiếng khóc của tôi:

– Tao rất sợ sự phẫn nộ của quần chúng khi Quốc Gia trở về. Mày gây thù hận ở các trường quận 3 khiếp quá.

Tôi nức nở:

– Mày cứu tao! Mày là bạn thân nhất của tao, Đồng ơi!

Nó nói:

– Mày tự cứu lấy.

– Tao tự cứu tao bằng cách nào?

– Làm sao tao biết được!

– Mày nói mày là Quốc Gia. Quốc Gia mới hay Quốc Gia cũ?

– Quốc Gia mới.

– Tao có thể là Quốc Gia mới không?

– Tự mày hỏi mày đi. Mày nên về suy nghĩ kỹ lưỡng. Mày cần nhìn rõ cộng sản đã.

– Tao suy nghĩ kỹ rồi.

– Chưa đâu. Người Quốc Gia mới không đùa với cộng sản bằng truyền đơn vớ vẩn. Tao chắc mày đánh giá người Quốc Gia mới như mấy anh Phục Quốc. Không. Phục Quốc là mặt nổi, mặt chìm của người Quốc Gia mới là đồ chơi sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống hố thẳm của thời đại.

Tôi đâm ra nể sợ Trần Chiêm Đồng. Về sau, tôi phục nó, yêu mến nó hơn và mãi mãi tôi yêu mến nó. Bởi vì nó đã dẫn tôi đi trên con đường lạ lùng của tuổi trẻ ước mơ. Nó có vẻ không cần tôi vội vã. Nó bắt tôi suy nghĩ để tôi khỏi ân hận. Một tuần lễ sau, tôi lại tới nhà Trần Chiêm Đồng.

Nó hỏi tôi:

– Mày nhìn gì thêm về cộng sản chưa?

Tôi đáp:

– Rồi.

– Kể tao nghe!

– Nó đẩy tao vào đường chết. Nó chỉ thị tao phải cứng rắn với bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie mà nó thì lại ngọt xớt. Con mụ Bí thư chi đoàn nham hiểm thật.

– Nó cho mày giữ súng của nó để mày tự sát đấy.

– Tao sẽ bắn nó.

– Bắn nó đâu có chết chủ nghĩa cộng sản. Bắn chết chủ nghĩa cộng sản thì đảng cộng sản chết, chế độ cộng sản tiêu luôn. Người Quốc Gia mới chỉ cần bắn chết chủ nghĩa cộng sản thôi. Không bắn chết chủ nghĩa cộng sản, mọi việc chống đối, kháng chiến là trò đùa. Người Quốc Gia mới không võ trang bằng súng đạn Mỹ. Họ võ trang bằng tư tưởng. Tư tưởng mạnh hơn súng đạn.

– Ai dạy mày điều đó?

– Người Quốc Gia mới.

– Họ ở đâu?

– Sàigòn.

– Tao gặp được chứ?

– Được. Dù mày có phản bội, họ vẫn chấp nhận mày.

– Tao thật lòng.

– Mày chứng minh sự thật lòng của mày trước đi.

Tôi trả khẩu K54 cho chị Bí thư chi đoàn, báo cho chị ấy biết là tôi nghỉ hoạt động, không nêu lý do. Tôi đến các trường trung học ở quận 3 họp hành, xin lỗi và tuyến bố tự ý rút lui khỏi chức vụ phụ tá Bí thư. Tôi trả thẻ đoàn viên. Trần Chiêm Đồng hứa sẽ giới thiệu tôi với người Quốc Gia mới. Nó giữ lời hứa. Đồng dẫn tôi tới chùa An Lạc. Ngang qua một con hẻm, chúng tôi dừng lại vì công an đang ập vào một căn nhà và dân chúng lối xóm bu quanh đông nghẹt. Có gì lạ thế? Dân chúng nói, ông chủ căn nhà có thằng con trai 10 tuổi. Nó là thiếu niên quàng khăn đỏ tiên tiến, xuất sắc, gương mẫu. Nó đi họp hành tối ngày, người ta giáo dục nó kiểm soát cha mẹ và tố cáo với phường khóm ngay nếu phát hiện tội lỗi của cha mẹ. Hôm nay, thằng thiếu niên khăn đỏ, “cháu ngoan bác hồ” tố cáo cha nó chôn dấu súng với công an phường. Công an đến khám xét.

Chúng tôi tò mò đứng chờ kết quả. Công an còng tay bố thằng thiếu niên lôi đi với khẩu M16 bọc ni-lông dính đầy đất ướt. Thằng bé đã được học tập căm thù để đưa bố nó vào tù. Tôi nhìn rõ mặt thằng bé. Nó cười hớn hở khi ông phường trưởng xoa đầu biểu dương nó. Còn mẹ nó thì khóc sướt mướt. Hình ảnh đó, hôm nay tôi vẫn chưa quên. Tôi cám ơn Trần Chiêm Đồng đã lôi tôi ra khỏi tội ác. Chúng tôi bỏ đi. Lòng tôi dậy lên con sóng phẫn nộ. cộng sản là thế, là con nít cũng không tha đầu độc, hủy diệt tình nghĩa của nó. Tôi vào chùa An Lạc, gặp chú tiểu Thích Thanh Bần. Chú pha trà mời tôi uống và hỏi tôi:

– Anh viếng chùa hay tôi?

Trần Chiêm Đồng nói:

– Anh ấy viếng chú. Tôi đã bảo chú là anh Ngô Tỵ sẽ đến thăm chú.

Tôi nói:

– Hân hạnh quen biết chú.

Chú tiểu cười thật dễ thương.

– Đừng gọi tôi là chú nữa, tôi chưa xứng đáng để anh phải thủ lễ. Anh Đồng là bạn học cũ lại năng viếng chùa, chúng tôi coi nhau như anh em, cùng gia đình Phật tử cả.

Cạn chén trà, chú tiểu hỏi:

– Anh Tỵ gặp tôi là muốn tìm hiểu người Quốc Gia mới phải không?

Tôi đáp:

– Vâng, tôi tha thiết gặp mặt người lãnh tụ.

Chú tiểu lại cười:

– Theo tôi biết thì họ không có lãnh tụ, họ chỉ có người mở đường, người này chưa tiện gặp ai. Anh Đồng cũng chưa gặp.

Trong khi chú tiểu và tôi nói chuyện, Trần Chiêm Đồng ngồi im hút thuốc, uống nước.

– Thỉnh thoảng, người ấy ghé chùa, tôi có dịp nghe người ấy nói về tương lai dân tộc Việt Nam và cái thế tất bại của chủ nghĩa cộng sản. Người ấy quả là con người ước mơ. Anh Tỵ có nhiều mơ ước không?

– Tôi ít ước mơ lắm.

– Tuổi trẻ cần nhiều ước mơ. Ước mơ 10 ngọn núi rồi thực hiện 1 ngọn núi là đủ. cộng sản thật bất hạnh vì họ không biết ước mơ. Họ chỉ biết tạo ra đau khổ và bắt con người phải chịu đựng.

Giọng nói của chú tiểu quyến rũ vô cùng. Tôi nghe chú nói bằng cả tâm hồn tôi. Tôi không ngờ, chỉ bằng tuổi tôi thôi, mà chú ấy quảng bác quá. Chú ấy phân tích những sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và chứng minh hai chủ nghĩa này cùng đốn mạt và đã toa rập với nhau hủy hoại văn minh Việt Nam, cày nát quê hương Việt Nam và làm điêu đứng dân tộc Việt Nam. Chú ấy nói về chủ thuyết tiểu tư sản. Tôi ngẩn ngơ. Tôi mê mẩn và tôi chìm đắm vào cái chủ thuyết tuyệt vời đó. Chú ấy bảo cha đẻ của chủ thuyết này là người tôi muốn gặp mặt. Tôi rất tin tưởng vào cái thế tất thắng của người Quốc Gia mới.

Sau hôm đó, tôi thường lui tới chùa An Lạc. Mỗi lần ngồi nghe chú tiểu luận bàn thời thế là mỗi lần tôi vẽ thêm mơ ước. Tôi chưa gặp người mở đường cũng chưa được giao công tác gì. Tôi nghĩ họ còn thử thách tôi. Nếu họ giao công tác, bất cứ công tác nào, nguy hiểm cách mấy, tôi sẽ nhận và thực hiện bằng được. Tôi hơi buồn vì tưởng mình bị thử thách. Lần chót, chú tiểu xua tan lớp mây ngờ vực của tôi:

– Chiến đấu bằng tư tưởng khác với chiến đấu bằng súng đạn. Súng đạn chỉ giải quyết ở chiến trường, không giải quyết được lòng người. Đó là kinh nghiệm chiến thắng của cộng sản. Cuộc chiến đấu của chúng ta sẽ chiến thắng bằng chính tư tưởng của mọi người trong toàn thể dân tộc ta. Khi mọi người đều thấm tư tưởng mới thì vũ khí là trái tim mạnh hơn cả nguyên tử. Bởi vậy, chúng ta phải kiên nhẫn, phải chờ đợi tư tưởng thấm vào hồn.

Tư tưởng mới nằm trong chủ nghĩa tiểu tư sản. Tôi hiểu và tôi cảm thấy có cái gì khác lạ xứng đáng để tôi dấn thân. Sự liên hệ của tôi với Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần mới đến thế. Tôi đem những gì nghe được ở chùa An Lạc kể cho bạn hữu nghe, đứa nào cũng khoái và muốn đến chùa. Bạn hữu tôi lại kể cho những người quen thân khác. Và chú tiểu nói như thế là vận động tư tưởng là công tác trọng đại. Rồi, tự nhiên, công an bảo vệ chính trị tới nhà tôi bắt tôi giam nhốt. Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao, do đâu tôi bị bắt. Ông bảo tôi khai hết sự thật, tôi đã khai hết sự thật. Chẳng cần dấu diếm làm gì. Tôi đã thấy Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần ở cachot đối diện cachot tôi. Họ ra hiệu cho phép tôi nói thật, nói hết. Chiến đấu bằng tư tưởng là chiến đấu đẹp, là chiến đấu cho sự thật, cần chi phải gian dối.

Tôi còn muốn nói thật với ông rằng, không có thứ gì tẩy xóa nổi sự say mê chủ nghĩa tiểu tư sản đã khắc sâu trong tâm hồn tôi. Ông đừng dối lòng ông là ông không thèm làm người tiểu tư sản. Hãy liệng cái xe Honda của ông xuống sông rồi gạ đi chung xe với đồng chí của ông xem sao! À, lúc ấy ông sẽ thấy quyền tư hữu của cộng sản và ông mơ ước làm người tiểu tư sản hào sảng, thông minh, lãng mạn. Cái nôi của loài người không là chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà là chủ nghĩa tiểu tư sản.»