Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Dưới Mắt Thượng Đế

Bài 12.

Phép Lạ

Google image

Dưới mắt Thượng Đế chúng ta phải làm gì? Hãy tha thứ lỗi lầm cho nhau – Thượng đế sẽ tha thứ chứng ta. Hãy thương yêu nhau – Thượng Đế sẽ yêu thương chúng ta. Còn gì tuyệt vời hơn tình yêu trong tâm hồn chúng ta?

PARACELSE

MỘT BỮA, tôi phải đi thăm hệnh ở khu Giải phẩu chỉnh trực. Viên y sĩ trong khu này, một người tài ba, đã bất mãn bỏ đi vì bất đồng ý kiến với ban giám đốc. Chưa tìm được người thay thế ông giảm đốc bệnh viện đã nhờ tôi tạm thời trông coi khu ấy, thêm vào nhiệm vụ vẫn có thường ngày.

Sáng hôm ấy, tôi chú-ý ngay đển một bệnh nhân mới vào, một người dân bà quê mùa, trạc bốn mươi tuổi, ở miền Rừng Đen. Gương mặt nghiêm trang, gần như khắc khổ dưới mái tóc sớm điểm bạc chải hết ra đằng sau gáy, lộ vẻ tiều tụy vì sương gió, lộ vẻ khắc khổ và tiều tụy của những nông phu miền núi thường phải cày cấy và canh tác trong những điều kiện cực kỳ khó nhọc. Qua lá thư người bạn đồng nghiệp đã săn sóc rồi gửi bệnh nhân đến đây, tôi được biết bà ta bị bại hai chân và đã phải nằm liệt giường từ tám năm nay. Tôi còn được biết bệnh nhân đã ngã khi bắt đầu bị liệt. Tôi khám sơ qua và chẳng biết thêm được gì. Hai bắp chân có vẻ bình thường nếu các bắp thịt không bị teo lại vì bất động quá lâu. Tình trạng đôi chân thật đáng ngại hơn. Gan bàn chân vẹo vào phía trong, cổ chân duỗi thẳng – trong nghề chúng tôi gọi là “bàn chân ngựa vẹo vào”- thành ra bắp thịt bắp chân và gân gót co ngắn lại rất nhiều. Bệnh nhân không giơ chân lên được, vì các bắp thịt thường thi hành cử động ấy đã suy yếu quá. Tóm lại, người có “bàn chân ngựa vẹo vào” không thể đi được, cố gắng lắm cũng chỉ nhích được một tí trên đầu ngón chân là cùng. Hơi phân-vân, tôi khám lại kỹ càng hơn. Tôi đã tốn công vô ích: không một thương tích nào ở trung khu vận động, không một hỗn loạn cảm giác nào ở da và cũng không phải tê liệt thần kinh. Hình rọi quang tuyến cũng không thấy thương tích nào ở xương sọ hay xương sống khả dĩ đụng chạm đến não tủy. Dưới khía cạnh bệnh nghiệm, liệt chân như thế thật kỳ và lạ, nếu không nói là vô lý. Còn muốn giảng tại sao hai chân bị vẹo thật cũng dễ lắm. Khi nằm dài, hai bàn chân ta tự-nhiên duỗi thẳng ra, các bắp thịt co lại, trong khi các bắp thịt trước ống chân cũng dãn, hai bên co dãn tỉ lệ nhau. (Muốn nhận định rõ, ta chỉ việc nằm dài xuống là thấy ngay). Thêm vào đó, chăn nệm đè nặng trên người, giữ hai chân duỗi thẳng, nhất là khi nằm ngửa. Vậy mà bệnh nhân nằm im, bất động đã tám năm trường …

Nhưng, nguyên nhân sự tê liệt vẫn không sao giải thích nổi. Chụp quang tuyến từ đầu tới chân, không một vết gẫy nào ở sọ cũng như ở xương sống, ở chân cũng như ở vòng xương chậu. Tuy nhiên, phải có một nguyên cớ nào khiến người đàn bà này phải chịu tàn tật gần như hoàn toàn trong suốt tám năm. Trong y khoa, người ta phân biệt hai loại tê liệt. Hầu hết những tê liệt bắp thịt đều do một chứng bệnh nặng nơi óc hay tủy sống, hoặc do một khiếm khuyết nơi hệ thần kinh khi bị ngộ độc hay bị thương. Nhưng ngoài ra, còn có những tê liệt giả do một nguyên nhân chủ-quan: bị kích động mạnh hay đau đớn quá, bệnh nhận chợt thấy không thể làm một vài cử động nào đó, duỗi tay ra, co chân vào chẳng hạn. Guồng máy vận động như bị hãm lại, nghĩa là khi sắp làm một cử động, bệnh nhân không thấy tác dụng thần  kinh, khiến các bắp thịt phải thi hành cử động ấy không thể hoạtđộng được. Những trường hợp này, các y sĩ trẻ, mới ra trường, thường cho là loạn thần kinh hay bệnh nhân cố ý, coi người bệnh hoặc như một người điên hoặc như kẻ giả ốm. Theo ý tôi, phán đoán như vậy hơi vội vàng, ta cần phải tìm cho được những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng.

Hai ba bữa sau, với ý định ấy tôi trở lại thăm người đàn bà nhà quê “của tôi”. Vì khu giải phẫu chỉnh trực đầy người nên bệnh nhân được nằm một mình trong một buồng nhỏ. Thật là một cơ hội để tôi dò xét bà ta. Thoạt tiên, tôi hỏi thăm về nông trại ruộng nương, trâu bò. Cứ nhìn dáng điệu dễ dàng sung túc khi thiếu phụ kể nào nhà, đất, tôi cũng biết nhà rất khá giả; hai vợ chồng khai thác một trong những trang trại đẹp nhất do hàng bao thế hệ nông dân kiêu hãnh cần cù lập nên ở vùng Rừng Đen. Dần dà đề cập đến chuyện bệnh tật, ở điểm này tôi vẫn e ngại một sự kín đáo tiêu cực và thụ động. Thường thường dân miền quê hay rụt rè e lệ khi nói đến chuyện sức khỏe hay bệnh tật. Phải làm như hỏi cung lục vấn mới cậy họ rỉ răng cho biết tai nạn đã xảy ra thế nào hay bệnh tình diễn biến ra sao. Thế mà tôi rất ngạc nhiên khi bệnh nhân, không đợi hỏi han, đã kể lể con cà con kê hết cả sự tình. Nỗi khổ đau, niềm thống khổ bắt đầu từ tám năm trước. Hôm ấy cả gia đình họp mặt trong trại: có bà mẹ chồng, ông anh chồng, người chị và em trai thiếu-phụ. Bốn người ngồi ăn quanh chiếc bàn kế cạnh gốc cây hồ đào cổ thụ. Mọi người nói chuyện ồn ào vui vẻ – trừ bà chủ gia-đình. Theo lệ thường, một mình bà trong bếp bận pha cà-phê. Bao giờ cũng vậy, thui thủi một mình chẳng ai giúp đỡ: người đàn bà ấy cong lưng thổi nấu dọn dẹp từ sáng tới chiều. Thỉnh thoảng mới có dịp vui đùa giải trí trong trại, thì lại chỉ được đóng vai chầu rìa.

Vậy hôm ấy, bà luôn luôn bận bịu bếp núc trong khi người khác vui chơi. Lửa nhỏ, củi hết, bà ta lặng lẽ ra chái nhà lấy thêm. Vừa bước được mấy nấc thang từ bếp ra sân, thiếu phụ trượt chân mất thăng bằng, cả mình ngã ra đằng sau, bàn tọa đập mạnh vào những bậc đá. Đứng dậy không được bà ta kêu cứu. Mãi một lúc sau, cả nhà chạy lại. Ông chồng đến sau cùng. Dửng dưng trước sự đau đớn rên rỉ của vợ, ông phá ra cười.

– Nhà cháu hỏi sao cháu lại chơi ván trượt tuyết (toboggan) trên lưng như thế, rồi bảo cháu nào còn son trẻ gì, – nhưng thấy cháu không đứng dậy được, anh ấy cũng sợ, thôi không cười nữa.   , thưa bác sĩ, từ lúc ấy cháu không đi được nữa … đã tám năm trời rồi …

Thiếu-phụ ngừng lời, cố nén nức nở. Tôi lặng yên để bà ta bình-tĩnh lại. Câu chuyện vừa nghe chẳng giúp tôi tiến thêm bước nào để giải quyết vấn đề cả. Ngã mà chẳng có thương-tích nào hết, chắc phải có nguyên cớ gì khác chứ – nhưng nguyên cớ nào?

– Lúc ấy, bà có cho mời bác sĩ đến không?

– Thưa có ạ. Nhà cháu có sai thằng nhỏ phóng xe vào làng mời. Bác sĩ đến, nhưng không tìm thấy gì cả ạ. Sau cùng ông bảo có lẽ cháu bị đau ở xương cụt, rồi thế nào nó cũng sưng-tấy lên, cần phải coi lại. Cháu phải nằm mất tám ngày, chườm chỗ đau bằng mỡ heo. Còn bác sĩ thì có vẻ do dự lắm. Thấy thế, mấy người nhà tỏ ra hối hận, ngày nào cũng đến thăm cháu, lại còn cho kẹo bánh nữa, chứ trước kia, họ chỉ đến chơi suông thôi, Chắc bác sĩ cũng biết, cháu chỉ được cái hay là hay làm, hay tiếc công tiếc việc, chẳng ai để ý đến cháu. Bây giờ người ta tử tế thì cháu lại què mất rồi, tử tế cũng bằng thừa … thật khổ cho cháu phải nằm liệt suốt tám năm … Lần này bệnh nhân không cầm được nước mắt. Rõ ràng sự tàn tật cũng không làm bà buồn phiền bằng cái không khí thù hằn ở quê nhà, khi hồi tưởng lại bao nỗi nhục nhằn đã cam chịu. Nguyên do hai chân bị liệt chắc là ở đấy. Cái tai nạn kia không thể nào làm đau ốm lâu đến thế được, mặc dù người đàn bà đáng thương ấy đã đau nhức như chịu hành hình: thật vậy một thương tích nhỏ nhoi ở xương cụt cũng có thể làm đau đớn dữ-dội, vì nhất cử nhất động, các bắp-thịt mông đều kéo mạnh vào xương. Tôi nhớ lại giọng chua chát khi thiếu phụ nói đến chồng: “Nhà cháu phá lên cười, rồi bảo cháu già rồi mà còn … ” Nỗi oán hờn vừa hé lộ còn có nguyên nhân nào khác nữa không?

– À, mà tôi quên hỏi bà, bà được mấy cháu?

Bà ta lắc đầu:

– Cháu sợ nhất khi ai hỏi đến con cái. Cháu không thể có con được.

Bà ta quay mặt đi, như xấu hồ vì lỗi vô tự, vì đã không làm trọn thiên chức của người đàn bà, rồi nỗi thất vọng chất chồng bao tháng năm bỗng nổ bùng: thiếu phụ nghẹn ngào nức nở.

– Nhà cháu gọi cháu là một quả hồ-đào rỗng … đồ vô tích-sự …

Thảm trạng người đàn bà này, giàu vật chất nhưng khốn khổ đã rõ ràng. Người chồng, chắc cũng cứng rắn như bao  nông dân khác, muốn có một mống con trai để kế tự, và người vợđã không thể chửa đẻ gì được. Vợ mình chỉ là một “trái hồ-đào rỗng tuếch” cái danh từ tàn nhẫn ấy đã nói lên tất cả nỗi thất vọng của người chồng đối với người vợ son trẻ. Ông ta chắc đã tìm đủ cách để hành hạ, giày vò vợ; người đàn bà đáng thương đã phải đền bù lại sự “yếu kém” của mình bằng cách gia công làm như một tên khổ sai, đến kiệt sức. Nhưng người ta không chấp nhận toan tính đền bù ấy: không một hy sinh nào làm người chồng nguôi giận,

cũng như ông đã quyết bắt vợ phải trả giá sự giận-dữ ấy. Ngoài ra lại còn gia đình. Ai cũng lo làm vừa lòng ông bác, ông anh họ hay anh rể giàu-sụ có của thừa kế này, thành ra mọi người đều nghĩ cách làm tội làm tình người đàn bà vô phương tự vệ. Đối với những người chỉ sống vì nhu-cầu và thèm khát vật chất, luật “mạnh được yếu thua” là nhất, họ chẳng còn một chút nhân đạo sơ-đẳng nào. Kẻ yếu nhất trong bọn là con mồi để họ theo đuổi, hành hạ và hạ thủ trong niềm vui của loài thú dữ.  Chính để thoát khỏi cái không khí hung bạo cố hữu này ngườiđàn bà khốn khổ đã phải ẩn náu trong bệnh tật, nơi duy nhất có thể tìm thấy một chút trắc ẩn hão, lòng âu yếm vợ. Nhưng ẩn trốn rồi, bà ta phải chịu một sự thay đổi, hay đúng hơn một biến dạng của ý chí, dẫn lần đến tình trạng loạn thần kinh. Tình trạng này, người thầy thuốc, biết rõ hay nghi ngờ, đều phải hết sức điều chỉnh lại. Người bệnh này lại thích vai trò mới của mình: được người ngoài ái ngại, nhưng người bệnh lại thoát được tình trạng bán nô lệ đã bắt bà ta chịu những thói quen ghê sợ hằng ngày, và trở nên trung tâm của gia đình. Đây là lần đầu kể từ khi về nhà chồng, bà có thể tự cho mình quan-trọng, thỏa mãn cái ước muốn uy quyền có ở ngay cả những kẻ bất-hạnh nhất trong chúng ta.

Vậy mà tình trạng này cũng đang nguy ngập. Hiển nhiên là nếu khỏi, người đàn bà này lại bị ném trả về quãng đời khốn khổ khi xưa. Bởi lo ngại nên cố bám lấy bệnh tật như kẻ đắm tàu bám vào tấm ván đã trôi nổi giữa sóng biển khơi. Tóm lại, bà ta muốn ốm và muốn ốm mãi.

Ngay hôm sau tôi thấy án chẩn của tôi đúng. Bệnh nhân khăng khăng không chịu giải phẫu. Tôi cố giảng giải: chỉ cần một cuộc giải-phẫu hết sức vô hại – kéo dài hai gân gót chân là bà ta có thể đi được; nhưng thiếu-phụ cương quyết không chịu, lại tỏ thái độ gần như khiêu khích. Từ tám năm nay, bà nói, có đến cả tá ông thầy chữa bằng đủ băm sáu chước, mà cũng chẳng ăn thua gì, huống-hồ bây giờ một ông thầy khác lại muốn đem chân bà ta ra thái vụn như anh hàng thịt hay sao? Không, bà ta không bao giờ chịu để làm thế? Tôi hiểu ngay, trong những trường hợp này, nếu ta dồn con bệnh vào ngõ bí, họ sẽ phản-đối quyết liệt và không bao giờ nhượng bộ nữa.

Tôi bèn ngưng ngay câu chuyện và bỏ đi ra. Những ngày sau, trường hợp người đàn-bà thích liệt chân hơn đời sống bình thường bắt tôi luôn luôn nghĩ ngợi. Chắc chắn, nếu chỉ giải phẫu không thôi thì không mong gì chữa khỏi được. Thật vậy, giải phẫu rồi, mà muốn đi lại được như xưa, bệnh-nhân phải tự gắng sức tập. Không bao giờ tôi có thể mong đợi bà ta sẽ gắng sức hợp tác. Chỉ còn một cách là làm sao để bệnh nhân thành thật ước muốn trở lại thế giới những người khỏe-mạnh. Đã tám năm nay, bà ta cứ tưởng ốm là hay; bây giờ tôi phải làm sao cho bệnh nhân tin rằng khi bình phục cũng không kém thích thú, nếu không nói là còn hơn thế nữa.

Bắt đầu, tôi cho chuyển bệnh nhân sang buồng khác có năm nữ bệnh nhân khác. Tôi đã chọn những người thật là dễ-thương; tôi còn cẩn-thận cho chuyển đi nơi khác một bà âu-sầu gắt gỏng hay chỉ trích đay nghiến nên có thể phương hại đến cách trị liệu tâm lý của tôi. Phương pháp tôi sắp áp dụng chẳng có chi tân kỳ cả. Bất cứ một y sĩ nào có chút kinh nghiệm cũng biết rằng đời sống cộng đồng, nghĩa là ở chung phòng với các bệnh nhân khác, thường có ảnh hưởng tốt đẹp cho một bệnh nhân đã mất tinh-thần. Nhiều người lại còn xin nằm cùng buồng, ước muốn phát xuất tự một bản năng hoàn toàn lành mạnh. Chỉ cần sống với những kẻ đồng cảnh ngộ cũng đủ giúp ta lướt thắng mọi đau khổ; bệnh nhân hết có cảm tưởng mình bị lẻ loi, bỏ rơi không phương chống đỡ với lo sợ, u sầu và suy tư khổ hạnh. Bệnh nhân dự vào một nhóm trong đó người này săn sóc người kia, dần dần phát triển và thành hình một tinh thần tập thể. Một tinh thần lúc nào cũng rộng rãi đã nẩy nở vì nề lẫn nhau, vì tận tâm với nhau và cùng chân thành giao cảm: ai đã cảm thấy mình đau khổ tất sẽ hiểu rõ nỗi khổ đau của người khác hơn là kẻ có sức khỏe dồi dào. Nhiều khi những bệnh nhân cũ trở lại bệnh-viện, hàng tuần liên tiếp, vào đúng giờ thăm bệnh, chỉ để nói chuyện với các bạn cùng phòng xưa, để nhớ lại mình đã khổ đau như họ. Phần đông, họ vô tình không biết, làm như thế, họ đã bị lôi cuốn vì đã luyến tiếc một tập thể trong đó họ đã sống sung sướng, vì trong thế giới vất vả của những người khỏe-mạnh, họ cảm thấy nhớ nhung. Chính trên cái tinh thần tập thể ấy mà tôi mong đợi để làm nứt rạn cái vỏ cứng rắn người đàn bà tự khoác vào mình. Tôi còn đợi mấy ngày nữa mới gợi lại câu chuyện phải giải

phẫu cho thiếu phụ nghe. Lần này tôi dùng một chiến thuật khác. Dĩ nhiên tôi không non nớt gì mà phụ họa với bệnh nhân rằng cuộc giải phẫu này thật quá phiêu lưu, như thế, là tôi đã phản lại tôi. Tôi cố gắng thuyết phục bệnh nhân rằng, theo ý tôi, nếu bà ta hoàn toàn bình phục thật là một phép-lạ. Tôi nhấn mạnh nhiều lần hai chữ “phép lạ”, mừng thầm khi thấy nét mặt bà tươi hẳn lên. Rõ ràng, ý-tưởng sẽ trở thành “một phép lạ y học” đã quyến rũ bà. Mấy bệnh nhân kia chú ý theo rõi câu chuyện. Bỗng một bà đứng tuổi cất lời:

– Chết, sao em cứng đầu vậy! Nếu ông thầy cứ muốn mổ cho  em, em cũng nên chiều ông một tí!

Mọi người đều phá ra cười; ngay cả người bệnh “cứng đầu” của tôi cũng hồn nhiên cười. Bây giờ băng tuyết đã tan, bệnh nhân bắt đầu nhượng bộ. Mười lăm phút sau, trước khi tôi ra khỏi phòng, bệnh nhân đồng ý chịu mổ, đồng ý không phải vì bị ép buộc, mà sốt sắng vui vẻ biểu đồng tình với mấy người bạn cùng phòng.

Hai ngày sau, tôi “trịnh trọng” bắt đầu cuộc giải phẫu nhỏ – kéo dài gân gót chân phải trước, rồi tuần sau tới chân trái. Sau khi đã nắn hai bàn chân về vị-trí cũ, tôi bó bột lại. Đợi ba bốn tuần cho gân gót liền, tôi mới tháo băng. Ngay hôm sau, tôi bắt phải xoa bóp và tập đi lại cho các khớp xương cổ chân và đầu gối quen dần. Bây giờ mới là lúc quyết định. Ai cũng nhận thấy nếu bệnh nhân cứ khăng khăng không muốn mình khỏi, cuộc giải-phẫu vừa rồi cũng chẳng ích gì. Tôi phải làm thế nào để bệnh nhân hợp-tác với tôi? Sau khi đã nêu ra và loại bỏ nhiều mưu chước, hoặc vì cầu kỳ quá, hoặc vì lộ liễu quá, tôi quyết định một phương pháp khả dĩ hài lòng: tinh thần tập thể trong phòng này đã giúp tôi một lần, tại sao lại không áp dụng lần nữa cho cùng một mục đích?

Một buổi sáng, nhân lúc hai cô y tá vừa dẫn bà bệnh “của tôi” vào phòng tắm để xoa bóp chân trong nước nóng, tôi đến dàn cảnh chương trình đã định sẵn với năm bệnh nhân kia:

– Tôi cần các bà giúp tôi, hay đúng hơn các bà cùng đóng kịch với tôi. Các bà cũng biết bà X … vừa bị mổ vì tê liệt chứ? Cuộc giải phẫu đã thành công, trên nguyên tắc bà ấy phải đi lại được. Nhưng bà ấy cứ tin là không thể đi được. Bây giờ các bà phải giúp bà ấy tin tưởng. Chiều mai, khi đi thăm bệnh, bất thần tôi sẽ bắt bà ta đứng dậy khỏi giường. Khi thấy bà ta đứng được các bà hãy lộ vẻ kinh ngạc hết sức, như không ngờ có thể như vậy được. Các bà nhớ cho, đây không phải chuyện đùa, mà chúng ta chữa bệnh. Muốn cho bà ấy khỏi, các bà phải tỏ vẻ thán phục lòng can đảm và khuyến khích bà ta. Rồi, mỗi bước đi, dù phải bám vào thành giường, các bà cứ vỗ tay cho tôi. Cần lắm đấy, nếu các bà không giúp luôn luôn như vậy, không bao giờ người đàn bà xấu số này lại có thể đi được. Tôi hoàn toàn tin ở các bà đấy nhé!

Bà nào cũng sốt sắng hứa hưởng ứng, có vẻ hăm hở nhiệt thành với công việc sẽ làm. Vững tâm, tôi rút lui ngay trước khi “nạn-nhân” về.

Chiều hôm sau, như thường lệ, tôi bước vào phòng, theo sau có cô y tá, dĩ nhiên cũng tùng đảng với tôi. Năm bà “đồ đệ” của tôi trông vẻ thản nhiên hơn bao giờ hết; phải tinh lắm mới cảm thấy bầu không-khí căng thẳng đang bao trùm phòng bệnh. Đến cạnh giường bệnh và hất mạnh tấm chăn ra, tôi lạnh-lùng truyền lệnh:

– Bà ngồi dậy! Để chân xuống đất đi.

Tôi nắm một cánh tay bệnh nhân, ra hiệu cho cô y tá nắm nốt cánh tay kia. Bao nhiêu con mắt đổ dồn như chờ đợi. Phút quyết định đã tới.

– Bây giờ bà đứng dậy đi!

Không để tỏ dấu phản kháng, tôi xốc nách và lôi mạnh bệnh nhân đứng dậy. Bệnh nhân chưa hiểu ất giáp gì. Tuy ngây người ra, ngơ ngác, và rơm rớm nước mắt, … nhưng bà ta vẫn đứng. Thật ra, trong khoảnh-khắc, bà vẫn tự hỏi có nên khuyu xuống hay không. Tôi vừa lo lắng vừa chăm chú theo dõi. Bệnh nhân lảo đảo, rồi đứng yên, trong khi năm bà bạn reo hò ầm-ĩ:

– Chị ấy đứng kìa! Thật không ngờ nhỉ? Phúc đức quá! Thôi khỏi rồi!

Tôi suýt bật cười. Các diễn viên như đã xuất thần đảm nhiệm vai trò của mình. Nhất là bà gác dan hai tay giơ lên trời như lên đồng, luôn miệng suýt soa: “Phép lạ! Đúng là phép lạ!” Thực tình tôi muốn bà ta diễn xuất kín-đáo hơn. Bệnh nhân hầu như chỉ để ý đến hai chữ “phép lạ” mà không nhận ra các diễn viên đã đóng kịch quá lố. Và hai chữ “phép lạ” đã làm phép lạ thực sự. Dần dần vẻ âu lo trên nét mặt dịu xuống, vẻ

âu-lo của con thú đến bước đường cùng nhường chỗ cho bình-thản còn đượm chút hoài nghi. Tôi cảm thấy sự thay đổi trong tâm hồn người đàn bà và một chuyển hướng của ý chí từ lâu đã lạc vào ngõ cụt. Đôi mắt mở to. Nụ cười e dè. Nét mặt hiền hậu. Bệnh nhân khẽ đưa chân về phía trước để đứng cho thoải-mái hơn. Chúng tôi đã thành công. Từ giờ phút này, bệnh nhân lần lần bình phục. Người đàn bà này, trước kia đã chối từ cuộc sống bình thường, nay chăm chỉ tập đi. Lúc đầu, đi chung quanh giường, sau từ giường này đến giường nọ, luôn luôn được năm bà bạn dìu dắt và khuyến khích. Mỗi bước đi là một tiến bộ, theo sau là lời trầm trồ thán phục. Đáng thán phục lắm chứ, vì một người tê bại đã tám năm trời lại có thể phục hồi nhanh chóng như vậy. Nếu trong tám năm qua, đã khăng khăng nằm lì trên giường thì giờ đây bà ta lại cũng khăng khăng giành lại sức khỏe. Chỉ tuần lễ sau, bà đã có thể chống nạng đi khắp phòng. Rồi tiến đến hành lang, và tuần lễ sau nữa, tôi ngạc nhiên thấy bóng thiếu phụ lững thững trong vườn. Cuối tháng ấy, bệnh-nhân đã trở về nhà. Bốn tuần sau, bà ta trở lại thăm tôi. Đến lượt tôi, tôi cũng suýt thốt lên hai chữ “phép lạ”. Bà ấy khoe có thể đi dạo hàng giờ, không cần chống gậy, hơn nữa còn leo được cả ngọn đồi thông sau trại. Bà nói rất nhiều đến dư luận lúc trở về: ông thị-trưởng đến chơi tận nhà xem bà đi, ông thầy thuốc săn sóc bà xưa kia cũng phải bối rối.

– Thưa đúng ạ, ông bác sĩ cứ nói mãi thật không ngờ. Ông khám lại hai chân cháu rồi lắc đầu và hỏi thế bác sĩ trên tỉnh bó bột rồi còn làm gì nữa không? Dạ, cháu cứ thú thật là bác-sĩ chẳng làm gì thêm cả.

Tôi chỉ mỉm cười:

– Tháng sau, có dịp bà lại đến thăm tôi nhé! Mời cả ông nhà nữa.

Đúng hẹn, hai vợ chồng đến thăm tôi. Người chồng vạm vỡ, dáng đi nặng nề, thật rõ là con người cục mịch miền núi. Ông ta lí nhí vài câu cảm ơn rồi im lặng để vợ nói … Khi tiễn hai vợ chồng về, tôi quay lại hỏi ông chồng:

– Bây giờ chắc ông hài lòng nhỉ? Bà nhà khỏe mạnh hoàn toàn rồi nhá!

Ông ta cúi đầu:

– Thưa bác sĩ, vâng, cháu cũng mừng, nhà cháu lại đi được như mọi người, có điều … nhà cháu vẫn như xưa.

Một lúc sau, tôi mới hiểu: ông ta ám chỉ vợ mình không bao giờ có thể có con. Tôi đề nghị:

– Nhân tiện hai ông bà ở đây, để tôi giới-thiệu đi khám cả xem.

– Họ tỏ vẻ ngại ngùng, nói vài câu cảm ơn rồi lên xe. Bẵng đi, tôi không được tin gì của họ nữa. Một hôm, tôi gặp bạn đồng nghiệp phụ trách khu sản phụ khoa trong hành-lang. Anh bảo tôi:

– Hôm qua hai vợ chồng người đàn-bà bị tê liệt đến tôi khám bệnh. Người vợ không sao cả. Lỗi tại người chồng. Ông ta bối rối lắm, vì chắc không ngờ tới vì mình mà vợ đã không chửa đẻ được.

Tôi nghĩ ngợi mãi khi nghe tin ấy. Không biết phản ứng của người chồng ra sao, khi lòng kiêu hãnh bị xúc phạm đến tột cùng. Còn người vợ, liệu người đàn-bà ấy có trả thù lại bao nhiêu nhục-nhã chồng chất tháng năm? Hoàn-cảnh này thật đặc-biệt. Tôi định sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Chủ nhật sau, lái xe qua miền Rừng Đen, đến tận thung-lũng Precht để thăm trang trại của hai vợ chồng. Đỗ xe bên đường cái, tôi leo bộ lên căn nhà gỗ cũ kỹ, có nhiều cửa sổ, mái rộng mênh mông nhọn hoắt.

Không thấy ai, tôi vòng ra phía sau nhà, đẩy cánh cửa gỗ nhỏ, bước vào vườn. Hai vợ chồng đang ngồi trên ghế dài, dưới bóng rợp cây hồ đào cổ thụ. Người vợ đan áo, người chồng cặm cụi đẽo gọt một khúc gỗ. Dưới chân họ, một đứa bé tóc vàng chơi đùa trong cỏ. Người vợ trông thấy tôi trước. Bà vụt đứng dậy, vui mừng thốt lên:

– A, bác sĩ … quý hóa quá, bác sĩ đến chơi!

Người chồng cũng đứng dậy, mỉm cười, tiến lại rồi bắt tay tôi.

– Kìa, nhà đi lấy chai rượu; lấy cả bánh mì và dăm-bông nữa.

Này, lấy cả hũ rượu anh đào nữa nhá! Quý hóa … quý hóa quá! Kìa, mời bác sĩ ngồi.

Người chồng lật đật đi vào nhà. Tôi hỏi nhỏ người vợ:

– Thằng cu này là thế nào đây?

– Thưa, cháu tên Henri, con bà chị cháu. Bố mẹ cháu bị tai nạn xe hơi chết cả hai vợ chồng cách đây đúng mười lăm ngày … Kinh khủng quá, bác sĩ ạ. Xe trượt bánh đâm nhào xuống vực. Được tin vợ chồng nhà cháu đến ngay, đem về nuôi mụn cháu nhỏ này. Bâygiờ nó là con chúng cháu. Chắc bác sĩ không tin cháu đâu, chứ nhà cháu cưng nó lắm. Chiều nào cũng làm đồ chơi cho cậu con giai. Nói thế chứ nhà cháu khéo tay lắm …

Tôi cúi xuống vuốt ve đứa nhỏ. Tóc nó mềm mại, miệng nó nhoẻn cười. Không cần khám nghiệm kỹ, chỉ cần nghe giọng nói cảm động của thiếu phụ tôi cũng biết bà ta đã hoàn-toàn bình phục thực sự. Đúng như ý-nghĩ của Paracelse, dưới mắt Thượng Đế, thiếu phụ đã tìm thấy nước Trời, một vũ trụ trong đó tâm hồn được nuôi dưỡng bởi TÌNH YÊU.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 2, tháng 2, 1964]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment