Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Giáo Sư Bác Sĩ Hans Killian

Bìa cuốn Hinte runs steht nur der Herrgott của Giáo Sư Bác Sĩ Hans Killian cùng bản dịch Pháp Văn Sous le Reagrd de Dieu được Nghiêm Sĩ Tuấn và Nguyễn Vĩnh Đức dịch và giới thiệu trên báo Tình Thương.

HANS KILLIAN

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC dịch

NGUYỄN VĨNH ĐỨC bút hiệu Tô Tam Kiệt sinh ngày 4 tháng 12 năm 1938 tại Hà Nội, Bắc phần, trung học J.J. Rousseau Saigon, tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1965, nguyên Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Chủ bút đầu tiên báo Sinh viên Y khoa Tình Thương tới số 24 (tháng 12. 1965) cũng là ngày anh ra trường; anh là cây bút đa hiệu viết nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, truyện dịch và viết các bài chính luận. Nguyễn Vĩnh Đức có công lớn xây dựng Nguyệt san Tình Thương trở thành một tờ báo có tầm vớc.

Sau 1975, anh di tản khỏi Việt Nam, định cư Canada; trở lại hành nghề Y khoa tại Montréal từ 1978. Anh mất ngày 28 tháng Giêng năm 2005 thọ 67 tuổi.

NGHIÊM SỸ TUẤN bút hiệu Yến Thử, sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Trong thời gian học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký Tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-966] tới ngày Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc. Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận ở Khe Sanh tháng 4 năm 1968 ở tuổi 31.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

Nghiêm Sỹ Tuấn đã cùng Nguyễn Vĩnh Đức dịch một cách tài hoa tác phẩm rất giá trị, đầy tính nhân bản: Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương, như một trong những tiết mục thường xuyên, đã được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận thời bấy giờ. Ngoài bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu, Nghiêm Sỹ Tuấn còn tham khảo bản gốc tiếng Đức Hinter uns steht nur der Herrgott khi dịch tác phẩm này.

Tờ Di Chúc

Lời Nói Đầu:

Tôi có thói quen – chắc là một thói xấu – khi bắt đầu đọc quyển truyện nào là y như rằng đọc CÂU CUỐI trước. Thường thường, những câu cuối mọi truyện là những cảm giác, tâm trạng của nhân vật hay của tác giả xuyên qua một dáng điệu, một lời nói hoặc một câu tả cảnh tầm-thường … Một câu tuy tầm thường cũng đủ làm vỡ con đê chặn kỷ-niệm thấm-thía ổ-ạt như thác-lũ. Nếu đem tách riêng chúng ra ngoài, những câu đó có khi quá tầm-thường, có khi thật trơ trẽn, và có khi lại quá cục-mịch. Chúng chỉ gây xúc cảm khi được lồng vào truyện … Ta còn nhớ mãi mãi khi gấp cuốn truyện lại. Truyện ngắn chúng tôi khởi đầu trích-dịch dưới đây là truyện ngắn cuối cùng – có thể là CÂU CUỐI – của tập truyện-ngắn “Hinter uns steht nur der Herrgott”tạm dịch là “Dưới mắt Thượng-Đế”, ký ức của một thủ thuật gia danh tiếng người Đức Hans Killian. Có lẽ tôi đã trót theo thói quen trên. Nhưng, thật ra khi đọc truyện-ngắn này tôi đã xúc-cảm nhiều nhất. Bỗng nhiên tôi thấy đã bước vào ngưỡng-cửa vườn văn-nghệ y khoa đem theo một suy-tưởng: Con Người trước Sự Chết.

Nguyễn Vĩnh Đức

Con người thời-đại mới, tự-nhiên theo bản-năng, tim cách để xua đẩy – tôi có thể nói: có khi gần như để quên lãng – ý-nghĩ sự chết. Thuở xưa, người bệnh chết tại nhà, giữa những người thân; thời nay, người bệnh thường trút hơi thở cuối cùng trong cô đơn lạnh ngắt bệnh-viện. Nghĩa-địa, xưa kia bao quanh thánh-đường, ở giữa thành phố, nay đã dời xa về ngoại-ô, có khi còn xa nữa, xa khuất mắt kẻ sống. Tuy-nhiên, sự chết đối với mỗi người trong chúng ta, vẫn còn là điều chắc-chắn độc nhất. “Thưa Thượng-Để, xin người dạy chúng con nghĩ rằng một ngày kia chúng con sẽ chết, để chúng con suy-tưởng nhiều hơn”, lời Thánh-ca còn đó … nhưng ngày nay ai là người đọc Thánh-ca? Và ai là người thật sự sẵn sàng đương đầu với sự chết? Vì vậy, tôi muốn kết thúc quyển  ký-ức này bằng câu chuyện một thiếu phụ trẻ, mà cuộc đời đã kếtliễu một cách thảm khốc, nhưng cái chết nàng trọn-vẹn nhận lấy, đã cho tôi một niềm an-ủi mầu-nhiệm.

Tôi có cảm-tình ngay với thiếu-phụ. Dáng người mảnh dẻ, mái tóc vàng, bà ta có một khuôn mặt thanh-tú đễ thương, và trong ánh mắt xanh hình như có về gì vừa hiền lành vừa dí-đỏm. Thật khó ai thấy một người đàn bà như thế. Tuy nhiên khi quan-sát chăm-chú hơn, tôi thoáng thấy trong dáng bộ thiếu phụ một nét mệt-mỏi, như chịu đựng và như lo-lắng. Bà ta là vợ một đồng-nghiệp bị động-viên và đã tự ý đến nhờ tôi khám bệnh. Bắt đầu hỏi bệnh, tôi được biết bà ta có hai đứa con, một trai lên năm và một gái lên ba, hiện giờ đang ở miền quê với đì chúng, và thiếu-phụ đang đợi đứa thứ ba sắp ra đời. Thật vậy, chỉ nhìn cũng biết bà ta mang bầu.

– Thưa bà, bao giờ bà ở cữ?

– Thưa, còn năm tháng nữa.

Hơi sững-sờ, tôi nói:

– Nếu vậy bà nên đến một bác-sĩ chuyên về sản khoa hơn là đến tôi.

Bà ta lắc đầu và vẻ mặt bỗng nhiên trang trọng lo-lắng:

– Dạ, không phải thế đâu ạ. Tôi đến để nhờ giáo sư xem bệnh, vì ít lâu nay tôi thấy đau bên vú trái. Lẽ dĩ-nhiên tôi biết, khi có thai, như vậy không lạ gì. Khi tôi có mang hai cháu lớn, tôi thường thấy hai bên vú căng lên và thỉnh-thoảng nhức lắm. Nhưng lần này thì khác hần: hai vú tôi căng phồng lên và rắn, hơn nữa da dẻ lại óng ánh xanh … và sáng hôm qua tôi thấy dưới nách một cái hạch nhỏ. Và … tôi thường nghe nhà tôi nói nhiều điều về … Cố làm ra vẻ tự-nhiên, tôi mời bà ta cời áo và nằm lên để tôi khám bệnh. Thiếu-phụ chỉ cho tôi bên nách trái, tôi thấy một hạch bạch-huyết rất cứng, chắc chắn đã bị hư-biến. Ngay bên cạnh, tôi thấy một hạch khác, rồi một hạch khác – có lẽ đến cả chục cái. Vẫn thản-nhiên tôi khám tiếp vú bên trái. Cái vú phồng hẳn lên, rất căng, và khi nắn, có rất nhiều bướu lớn. Càng lúc càng kinh ngạc, tôi khám sang vú bên phải, hầu có thể chắc-chắn mà so sánh. Tôi suýt giật mình khi thấy ở đây cũng lại có những cục rắn khác. Có một chỗ làn da nhăn lại, như co vào trong. Nách bên phải cũng có nhiều hạch lớn, và gần những huyết-quản chạy xuống cánh tay cũng có hai cục lớn hơn. Không còn nghi-ngờ gì nữa, bà ta đã bị ung-thư cả hai vú và chắc-chắn ung-thư đã phát-triển rất nhanh. Hiện giờ, bệnh-nhân chưa thể đoán được tôi đã cố gắng thế nào để khắc-phục niềm kinh-hoàng đang xâm-chiếm tôi. Cách đây chưa đầy bốn tháng, tôi đã khám cho một thiếu-phụ Ba-Lan, cũng có chửa và cũng bị ung-thư. Lúc đó chúng tôi đã tự hỏi có nên mổ hay không. Sau cùng, tôi vẫn cứ mổ, không phải vì tôi tin chắc là phải mổ, mà vì trên bình-diện nhân-bản tôi không thể mặc-nhiên phó-thác bệnh nhân cho số-mệnh. Vậy mà trường-hợp người đàn bà xấu-số ấy lại rắc-rối thêm: bà ta oán ghét chiếc bào thai đã làm mình bị ung-thư. Nỗi oán ghét này, bà ta đã trút lên tất cả mọi người và lên chính mình nữa. Bà ta oán giận bác-sĩ, oán giận y-tá, oán giận cả thân mình. Sau hai lần mổ thật nguy hiểm, bệnh-nhân ủ-rũ hàng tuần, quay mặt đi khi chúng tôi đến hỏi han; cuối cùng chết, bất hòa với cả Thượng-Đế và với mọi người. Tôi cố gắng lắm mới có thể xua-đuổi kỷ-niệm ghê-gớm ấy. Dù thế nào chăng nữa, bổn phận tôi là tận-tâm với người sống, chứ không phải với người chết. Tôi phải làm gì bây giờ? Cắt hạch ra để khám-nghiệm ư? Nhưng, hỡi ơi trong trường hợp này, khám nghiệm thật hiển-nhiên là thừa; không còn nghi-ngờ gì nữa, ung thư này phải giải-phẫu ngay không nên chần-chừ. Trong khi người thiếu-phụ mặc lại áo, tôi tìm, một cách tuyệt vọng, một lời nào hay nhất để nói sự thật với bà ta. Vì, với bà ta, tôi đã quyết định không giấu giếm gì. Tôi tin và bây giờ tôi vẫn còn tin hơn bao giờ hết, rằng một lời nói dối “nhân đạo” vẫn là một lời nói dối, mà hậu quả chỉ có tai-hại. Một đằng bệnh-nhân, giam chặt trong ảo-tưởng mất hết liên-lạc với thực tế; đằng khác, xét cho cùng, lời nói dối đánh đổ niềm tin rất cần thiết của con bệnh đối với người thầy thuốc.

Tôi nói bằng một giọng an-ủi:

– Thưa bà, chắc bà biết bệnh này cũng nặng. Không giấu gì bà, bệnh này phải mổ. Nhưng trước khi quyết định, thế nào tôi cũng phải bàn với ông nhà. Chúng tôi sẽ mời ông ở tiền tuyến về ngay …

Tôi ngạc-nhiên thấy bà ta òa lên khóc và nức-nở:

– Tôi cũng chẳng biết bây giờ nhà tôi ở đâu nữa! Mấy tháng nay tôi không được tin-tức gì cả.

Tôi hiểu ngay, trước sự khủng-hoảng tinh thần này, tôi bắt buộc phải nói sự thật tàn-nhẫn:

– Thưa bà, bây giờ chắc chắn tính mạng bà đang lâm nguy. Những sự biến-đổi nơi vú chắc có liên lạc với cái thai của bà: tác dụng của vài chất kích-thích-tố đã làm những tế bào trong vú bà hư biến, nghĩa là bị ung thư. Vì thế cần phải mổ, tuy không phải để hủy cái thai, nhưng ít ra cũng cần làm cho nó đừng tiến triển nữa.

Chúng ta phải hết sức làm thế nào hãm lại và nếu có thể, đừng để những hạch này to thêm nữa. Thật vậy, tất cả những cố gắng của chúng ta sẽ vô hiệu, khi mà trong cơ thể bà, vẫn còn rất nhiều kích-thích-tố tăng-trưởng, rất cần cho đứa bé nhưng rất hại cho bà. Bà thấy không, chúng ta không có quyền lựa chọn.

Bà ta cầu khẩn nhìn tôi:

– Không, không bao giờ! Thưa giáo-sư, đứa bé không thuộc một mình tôi, mà còn của chồng tôi nữa, không đời nào tôi chịu bỏ nó. Tôi muốn trao nó lại cho chồng tôi. Nó là TỜ DI-CHÚC của tôi, tôi biết lắm, tôi không thể sống được. Chính vì thế mà tôi xin giáo sư cho tôi được sống đến khi đứa bé ra đời. Vì nó mà tôi đến đây, chứ không phải vì tôi.

Tôi hết sức phản đối, và cho thiếu phụ biết rằng bỏ đứa bé đi là cơ hội độc-nhất để cứu sống bà. Nhưng thiếu-phụ vẫn không lay chuyển. Đến nỗi cuối cùng, bối-rối trước tấm lòng can-đảm ấy, tôi đành khuất-phục.

– Nếu bà đã quyết-định như vậy, tôi xin chiều ý bà. Bà hãy về thu-xếp việc nhà và sửa-soạn càng mau càng tốt, bà sẽ phải nằm bệnh-viện lâu lắm đấy. Xong, bà trở lại đây ngay, chúng ta không thể phí thì-giờ được nữa.

Ba ngày sau, tôi bảo cho thiếu-phụ biết tôi sẽ bắt đầu cắt bỏ một bên vú. Trong vòng hai hay ba tuần-lễ, sau khi bà ta lấy lại sức khỏe, tôi sẽ có thể mổ nốt bên kia.

– Tuy thế, tôi nói tiếp, vẫn còn một mối nguy. Là cơ-thể đàn-bà có thai thường thường không thể chịu nổi một cuộc giải-phẫu quan trọng như vậy. Dù cẩn thận đến đâu, tôi vẫn ngại là giải-phẫu như thế đứa bé sẽ sinh ra thiếu tháng. Tôi ngại vậy thôi, tuy không đáng lo lắm, nhưng vẫn phải nghĩ tới.

Tôi kinh-ngạc thấy bà ta vẫn hoàn-toàn bình tĩnh:

– Trường hợp ấy chắc là ý Trời, ta không thể cưỡng lại được. Cuộc giải-phẫu thứ nhất diễn ra bình thường. Bệnh nhân không một chút hãi-động khi mũi Evipan đầu tiên đâm vào mạch máu. Tôi bắt đầu rạch quanh vú bên trái, tiết-kiệm từng tí da rất cần cho sau này. Xong, tôi lấy cả bắp thịt ở ngực cùng những cục bướu dính trên đó ra. Những người phụ-tá kẹp vội mạch máu không để mất một giây nào. Tiếp đó, tôi cắt chỗ cơ-ngực-lớn dính vào xương đòn gánh, bỏ hằn cơ-ngực-nhỏ, cắt chỗ bắp-thịt cánh tay dính vào xương và đầy đủ cái vú ra ngoài. Giai đoạn đầu như vậy đã xong. Sau khi bảo ngừng cho ê-te tôi tự tay dùng điện đốt các đầu mạch máu bị cắt. Tôi chỉ phải khâu và cột lại có một tĩnh mạch lớn. Rồi tôi bắt đầu giai-đoạn thứ hai, là nạo toàn-diện các hạch ở nách và dưới xương đòn gánh. Công-việc thật khó-nhọc, vì vùng-phải-nạo đầy hạch nhỏ. Chỉ còn làm sạch các bắp thịt phía sau nách, chỗ thường có nhiều hạch, là việc nạo kết-thúc. Sau khi để một “ống nòng” cao-su, tôi khâu lại đường cắt đi từ vú bên trái đến cánh tay. Tất cả mất 45 phút. Tuy bệnh-nhân mất ít máu, tôi vẫn cho truyền-máu trong giai-đoạn giải-phẫu cuối cùng.

– Những ngày sau đó, bệnh-nhân tỏ ra bình tĩnh một cách đáng khen. Nhưng một buổi sáng, khi vừa rút cái “ống nòng” ra, tôi thấy bệnh-nhân co rút người lại. Bỗng thiếu-phụ hỏi tôi:

– Thưa giáo-sư, tôi còn sống được bao lâu nữa?

Tôi hiểu liền ý-nghĩa câu hỏi ấy. Bệnh-nhân muốn biết mình có đủ sức chịu-đựng đến khi sinh-hạ đứa bé không. Không muốn an-ủi bằng một câu khôi-hài tầm-thường. Tôi chỉ trả-lời:

– Câu hỏi đó, bà không cần phải đặt ra làm chỉ.

Ngày hôm sau, tình-trạng bệnh nhân bắt đầu nặng thêm. Càng ngày càng gầy đi, làn da mặt mịn-màng khô như giấy, đôi mắt mở quà bánh cô kiếm được mặc dù khẩu-phần bị hạn-chế trong thời kỳ lớn thêm. Tôi dặn cô y-tá-trưởng lén dành cho bệnh-nhân tất cả chiến-tranh. Người nữ-tu già săn-sóc bệnh-nhân nhún vai và nói:

– Thưa, không ích gì đâu. Bà ấy không thiết gì ăn. Tôi phải dỗ mãi mới ăn được một tí.

Đôi khi, tôi đem lại cho thiếu phụ vài miếng súc-cù-là, trong lòng cố quên cái ý-tưởng khốc liệt rằng đồ ngọt giàu nhiệt-lượng không những nuôi sống người mẹ và đứa con lại còn nuôi-dưỡng cả ung-thư nữa.

Vả lại, vú bên phải không ngừng phồng lên. Tôi muốn mổ ngay, nhưng sức-khỏe bệnh-nhân buộc tôi phải từ bỏ ý-định đó. Tuy vậy, tinh thần bà ta vẫn vững ít ra trong ý-hướng là đã không mất hy-vọng sẽ cho con ra chào đời. Càng ngày bệnh-nhân càng không thể tập-trung tư-tưởng vào một vấn-đề nào khác trong khi nói chuyện. Thế-gioi chung-quanh chi tồn-tại nếu hòa-điệu với di-sản tình yêu mà thiếu-phụ dành cho người chồng. Lẽ dĩ-nhiên, tôi giấu không cho thiếu-phụ biết là di-sản ấy có thể không bao giờ đến tay người thu-nhận. Không cho bà ta hay, tôi đã đi hỏi Nha Quân-Y và còn giữ trong ô keo một bức-thư riêng báo cho tôi biết đơn-vị của người chồng thiếu-phụ được coi như “mất tích trên chiến-tuyến miền Đông”.

Điều lạ là cuộc giải-phẫu thứ hai đã diễn ra, cũng tốt đẹp như lần đầu tiên. Nhưng không may, mặc dầu chúng tôi đã cố gắng, tình-trạng lại trở nên nguy-ngập. Hon nữa, tôi bắt đầu sợ bào-thai có thể chết trong bụng mẹ. Bệnh nhân vừa được cho về phòng, tôi đã theo ngay đến, để nghe tiếng tim bào-thai đập. Tim đập hơi yếu nhưng thật rõ ràng. Tám ngày sau, bệnh-nhân hân-hoan báo cho tôi biết đứa bé đã máy; như thay đổi hắn, bà ta thì-thầm:

– Thằng bé nó đạp!

Khi cái thai được tám tháng, tôi đề-nghị cho bà ta sanh ngay, nhưng thiếu-phụ cương-quyết chối-từ.

– Tôi đã khỏe rồi, phải không, thưa giáo-sư? Vậy giáo-sư cho phép tôi về.

Cô em gái – một thiếu-phụ đẫy-đà, tràn trề nhựa sống – đến đón bà chị. Khi nghe thấy cô ta cần-nhằn trách chị sao không chịu ăn, tôi kéo cô ra nói nhỏ:

– Bệnh tình chị cô nặng lắm đấy. Vừa bị mổ hai lần, lại sắp sinh nở. Tôi mong cô nương nhẹ bà ấy.

Trong khi tôi đưa ra xe hồng-thập-tự, thiếu phụ hướng về phía tôi, đôi môi tái nhợt mấp máy câu hỏi, câu hỏi tôi vẫn e ngại:

– Còn bao lâu nữa?

Tôi chỉ có thể lắc đầu. Dù bất cứ với giá nào, tôi cũng không muốn dối bà ta. Tôi nói với một giọng vui vẻ gượng gạo:

– Thế nào cũng cho tôi biết tin sinh cháu nhé.

Ngong-ngóng đợi một tấm thiệp in, tôi đã ngạc nhiên khi nhận được một lá thư dài.

Kính thưa giáo sư,

“Vì đã gắng sức giúp tôi, giáo-sư sẽ là người độc nhất đọc thư tôi viết báo tin mừng này. Tôi hãy còn yếu và phải giữ-gìn chút sức tàn còn lại. Cách đây tám ngày tôi đã sinh một cháu trai. Cháu nhỏ tí-tẹo, nặng 2 ký 640, nhưng cháu sống, và bác-sĩ nói nhất định cháu sẽ sống.”

“Tôi không biết nói gì để tạ ơn, tạ ơn Trời và tạ ơn giáo-sư.”

“Mấy tuần lễ vừa qua thật khó nhọc và đã có lúc, tôi nghĩ rằng không thể cầm-cự đến phút cuối cùng. Bây giờ, giáo-sư ạ, tôi biết là phút cuối đã tới. Dù bác-sĩ ở đâu tốt bụng cho là tôi nói đông dài, dù em gái tôi luôn luôn giả vờ giận tôi, thì vẻ mặt lo lắng của người này, đôi mắt đỏ hoe của người kia đã nói trái lại những lời nhân đạo kia.”

“Dù sao, tôi biết tôi không thể sống được lâu nữa. Đôi khi tôi đã sợ chết – thật ra, tôi không can đảm hơn một người đàn-bà nào khác, nhưng tôi tự an-ủi ngay: sự hiện hữu của đứa bé chứng tỏ cho tôi tình-yêu vô cùng của Thượng-Đế. Có lẽ giáo-sư hoài-nghi  trước những “mặc-khải cá-nhân” của tôi, nhưng mong giáo-sư hãy tin rằng “mặc-khải” đó sẽ giúp tôi khi tôi về thế-giới bên kia.”

“Tôi đã từng yêu cuộc đời – yêu hoa, yêu nắng, yêu nhạc; tôi đã cố gắng làm một người mẹ hiền, và trong mười năm không một bóng mây nào làm vẩn tình yêu vợ chồng bền chặt của chúng tôi. Tôi ra đi, biết rằng tôi sẽ thấy ở thế giới bên kia tất cả đẹp hơn, trinh trắng hơn trên trái đất này. Và bây giờ xin vĩnh biệt giáo sư.”

“T.B. Nếu chồng tôi về, xin giáo-sư trao lại cho chàng bức thư này.”

Mười-lăm ngày sau, tôi nhận được thiệp báo-tang. Còn điều mong-ước cuối cùng của thiếu phụ, tôi không sao thực-hiện được: người chồng không trở về.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 1, tháng 1, 1964]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment