Theo chân những tiếng hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Chương 8

Những Giong Hát Vào Thời Lính Mỹ Tham Chiến

Tôi còn thiếu sót một vài giọng hát nổi danh trước khi Mỹ bắt đầu tham chiến ở Việt Nam. Đó là giọng của Thanh Sơn, Anh Duy, Vũ Thành An, Trường Hải, Ngọc Sơn và Nhật Thiên Lan.

* Thanh Sơn:

Dù đậu khôi nguyên trong cuộc chung kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ, nhưng Thanh Sơn có một giọng chân phác quá nên không ăn khách được. Giọng hát của anh vững vàng, chuỗi ngân không dài nhưng thoải mái. Nhưng buồn một nỗi cái âm sắc của anh không đẹp, không làm thính giả mường tượng được một hình ảnh đẹp có thể làm rung cảm họ. Đó cũng như tiếng hát của Nguyễn Hữu Thiết, tuy cứng về kỹ thuật nhưng nghe không ngọt ngào du dương. Qua tiếng hát của cả hai, thính giả chỉ mường tượng đó là mẫu ca sĩ mộc mạc đến trơ trẽn, cục mịch, không một chút bay bướm để làm cho cuộc sống nên thơ. Thanh Sơn bỏ nghề ca hát để sáng tác nhạc. Hai bản “Mùa Hoa Anh Đào” và “Nỗi Buồn Hoa Phượng” của anh đi sâu vào quần chúng nhưng không phổ biến trong giới thức giả.

* Vũ Thành An:

Khi chưa sáng tác, anh thích hát những bài nhạc uớt át, nhưng có phẩm chất cao như “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân, “Chiều Mưa Công Viên” và “GióLạnh Đêm Hè” của Y Vân. Vũ Thành An trắng trẻo khôi ngô. Nhưng anh ốm yếu lỏng khỏng, hàm răng thưa nên trông anh nhạt nhẽo như khứa cá ngon nhưng chưa ướp muối và gia vị. Nhưng tiếng hát của anh thì trái lại thanh tao và đậm đà, phần ngân nga trội hơn hơn phần ngân nga của Thanh Sơn nhiều. Qua tiếng hát của anh, thính giả có thể mường tượng những khung cảnh rất mộng rất thơ, có thể nghĩ đến ánh trăng trên sông dài bát ngát, đến ánh nắng làm rực bóng dáng đồi biếc núi lam, toàn là những khung cảnh dành cho đôi lứa yêu nhau say đắm. Đó là tiếng hát làm phong phú sự liên tưởng, cõi mường tượng, niềm ước mơ của khán thính giả. Trong lãnh vực sáng tác, nếu Thanh Sơn đưa âm nhạc xuống phố chợ, xuống đám dân bình dị thì Vũ Thành An nâng âm nhạc lên chỗ cao sáng vời vợi hơn, biến âm nhạc thành ánh nắng trữ tình, ánh trăng mộng mị để len lỏi vào tâm hồn giới tuổi trẻ bén nhạy cảm xúc, vào khiếu thưởng ngoạn của khách sành điệu hơn.

* Trường Hải:

Giới mộ điệu môn ca hát biết anh nhiều qua các ca khúc thời trang của anh hơn là giọng hát của anh. Đây là một giọng trong trẻo, hơi nũng nịu điệu đà một chút. Nhưng anh hát những bản blues rất điệu nghệ vì giọng anh dẻo mê dẻo mệt. Bài “Những Chiều Không Có Em” là bài đưa tên tuổi anh lên cao (trong lãnh vực nghệ thuật sáng tác lẫn nghệ thuật hát diễn tả bài hát). Trong hàng ngũ ca sĩ hát nhạc blues đen gồm có Hùng Cường, Duy Khánh và anh.

* Ngọc Sơn:

Anh vừa là nhạc sĩ mà cũng vừa là ca sĩ như Trường Hải. Anh sáng tác nhiều nhạc phẩm, nhưng chỉ có nhạc phẩm “Hoa Mimosa” là vượt được cái tạp chất của ý nhạc để vươn lên cái phong phú của giai điệu, cái chuốt lọc của nghệ thuật. Ngọc Sơn có vẻ hơi phong trần, nhưng giọng hát của anh lại sang quý như một thứ ngọc được giồi mài đúng mức. Tôi có lần nghe anh hát “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, lối hát rất điệu nghệ.

* Anh Duy:

Anh trắng trẻo và phương phi, bắt chước giọng Duy Khánh cũng được 90%, nhưng lại không thành công về phương diện ăn khách. Anh xuất hiện nhiều lần trên các sân khấu Đại nhạc hội quy mô, cũng được khán thính giả vỗ tay nồng nhiệt để rồi sau đó dư hưởng tiếng hát anh cũng như một áng hương mong manh phai nhạt đi trong tâm tưởng họ và họ chỉ còn nhớ tiếng hát Duy Khánh mà thôi.

* Nhật Thiên Lan:

Cô có dáng tròn trịa, mập mà chắc và xinh. Tiếng hát cô hơi khàn, ấm áp, nhưng không vững chãi. Chuỗi ngân của cô cũng không được thoải mái, khi có khi không. Đây không phải là một giọng già dặn về kỹ thuật, nhưng nghe qua, thính giả có thể mường tượng được những hình ảnh ấm cúng và thân mật. Nhật Thiên Lan cũng là một ca sĩ phòng trà, nhưng không trở thành một ngôi sao trong môi trường ấy vì cách trình diễn của cô không có gì đặc biệt, tiếng hát cô lại không đủ ma lực để thu hút hồn phách những khách thưởng ngoạn.

Tôi xin nói qua vài nét chấm phá về thời cuộc nước nhà khi bước vào một giai đoạn bắt đầu khó khăn. Cộng Sản len lỏi vào Nam để cùng với bọn nằm vùng thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do chính quyền Hà Nội tạo ra. Việt Cộng lúc đầu mở những cuộc đánh du kích, sau là những mặt trận lớn với sự tham chiến của những lực lượng chính quy. Trong hàng ngũ quốc gia, sự rối reng càng ngày càng trầm trọng. Các đảng phái ló mòi tranh chấp nhau. Chính quyền trong tay một vị nguyên thủ theo đạo Gia-tô. Ông lập nên đảng Nhân vị, chẳng những muốn độc tôn cai trị nhân dân bằng cách đàn áp các đảng phái khác mà còn muốn đưa đạo Gia-tô lên hàng Quốc Giáo bằng cách đàn áp các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật Giáo vì số tín đồ Phật Giáo quá đông gấp 10 lần các tín đồ theo đạo Gia-tô. Vụ đàn áp Phật Giáo của anh em họ Ngô là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, đưa đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài dựa vào tinh thần gia đình trị.

Sau khi lật đổ chế độ anh em họ Ngô, các tướng lãnh thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng để điều khiển vận mệnh quốc gia. Phật Giáo ưa làm khó làm eo chính quyền, tổ chức nhiều cuộc biểu tình đại quy mô. Chùa Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự không phải là chỗ để hành hương nữa mà là chỗ để sư sãi sách động quần chúng. Người Mỹ khởi sự tham chiến. Đây là một xã hội rối reng, một giai đoạn lịch sử trùng trùng biến cố nhất. Trong vòng 20 tháng sau ngày tàn của Ngô triều xảy ra 13 cuộc chỉnh lý, tái chỉnh lý, đảo chính, phản đảo chính. Có 9 chính phủ ra đời và có 4 bản Hiến Pháp đặt ra. Phật Giáo và Công Giáo xung đột nhau. Cộng Sản len lỏi ở chỗ chùa chiền, các cơ quan thông tin văn hoa, các hệ thống truyền thông đã đành mà còn trà trộn vào giới học sinh, sinh viên để gây những cuộc xuống đường, những cuộc biểu tình bãi khóa. Về sinh hoạt âm nhạc, Phạm Duy vẫn dẫn đầu về phẩm cũng như về lượng. Nhạc anh không quá cao như nhạc Vũ Thành, không quá yêu kiều quý phái như nhạc Lê Trọng Nguyễn hay nhạc của Cung Tiến. Đây là thứ nhạc dễ hát, dù có nhiều bài không âm hưởng dân ca, nhưng quen thân và gần gũi với cảm quan người Việt Nam biết bao.

Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” (quyển III, Thời Phân Chia Quốc Cộng) như sau:

Khi Hoa Kỳ ồ ạt vào Việt Nam, tuổi trẻ đua nhau đi học Anh Văn để làm thông dịch viên và có đời sống cao hơn. Sau khi nắm được Anh Ngữ, họ lại càng đọc thêm những sách của thời thượng như thuyết chán đời, hippy v.v … Một sự kiện quan trọng nữa là — lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh — cuộc chiến ở Việt Nam được chiếu trên Tivi, do đó Sàigon là nơi có một đạo quân báo chí, truyền hình đông đảo nhất thế giới, với những phóng viên trẻ trung, hăng hái, xông xáo, có phương tiện tối tân để thực hiện phương pháp làm báo rất táo bạo … Tiền bạc đổ ra — chỉ riêng cho việc lấy tin tức – còn hơn tiền ném qua cửa sổ. Tất cả ảnh hưởng mạnh tới giới truyền thông Việt Nam, giới dịch vụ với Mỹ kể từ cô gái bán bar, anh lái xe taxi, anh sinh viên hay người trí thức, ảnh hưởng tới người làm thương phẩm cũng như ảnh hưởng tới người làm văn học nghệ thuật. Trong làng nhạc, có một biến chuyển lớn.

Saigon vẫn có thứ văn nghệ thông thường, rất mềm mại, than thở về chuyện đi lính, chia ly, nhớ Thành Đô v.v … rất ăn khách của các bạn soạn nhạc ít bận tâm về thời thế. Bây giờ máy thu băng hay máy chạy đĩa hát mang những tên những tên PIONEER, AKAI, SONY giúp cho nhạc Âu Mỹ (nhất là nhạc Beatles) nhẩy vào Việt Nam cùng với lính Mỹ. Loại “Nhạc Trẻ” ra đời, ồ ạt như vũ bão. Nhiều ban nhạc được thành lập để đi hát cho lính Mỹ nghe. Nhiều bài hát soạn theo điệu “rock” ra đời. Các hãng băng đua nhau phát hành chương trình nhạc thương mại. Tôi xin bổ túc thêm vài chi tiết nhận định của anh Phạm Duy. Quả thật, khi lính Mỹ bắt đầu tham chiến thì xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn. Đó là cái cớ để cho Việt Cộng đả kích. Khi lính Mỹ đóng tại căn cứ nào trên bốn Vùng Chiến Thuật thì nơi đó biến thành một thị trấn nhộn nhịp. Các snack bar dành cho lính Mỹ lẫn dân sự Mỹ (thiên hạ gọi trại là “sờ-nách-ba”), tiệm giặt ủi, phòng tắm hơi, nhà cho thuê, các tiệm nước và các quán ăn dành cho người Việt làm việc cho Mỹ, tất cả mọc ra như nấm. Các snack bar là nơi để lính Mỹ đến giải khát, nhưng thật ra là nơi để họ tìm đào. Các cô chiêu đãi

viên là các cô điếm trá hình. Khi tìm được đào vừa ý là họ đưa tới khách sạn, hoặc về tổ quỷ của họ. Bởi đó nhóm Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ ra đời nhằm đả kích việc chính quyền dung túng cho các snack bar và các ổ mãi dâm dành cho người Mỹ. Song song đó, có thêm nhóm Tin Văn do Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Lương chủ trương; nhưng thật ra Hội Bảo Vệ Nhân Phẩm Phụ Nữ lẫn nhóm Tin Văn đều do ông Lưu Hữu Phước, Bộ trưởng bộ Văn Hóa & Giáo Dục của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Hóc Môn) giật dây dụi để bài xích nền văn nghệ đồi trụy ở miền Nam. Văn chương miền Nam lúc bấy giờ là thời kỳ hưng thịnh của nhóm Sáng Tạo. Trước khi Ngô triều sụp đổ, nó chỉ như cái thai vừa tượng hình trong bụng mẹ. Giờ thì nó đã trưởng thành. Đây là thứ văn nghệ có khuynh hướng theo thứ văn nghệ hiện sinh từ bên Tây nhập cảng qua. Thật ra, ở bên Tây, văn nghệ hiện sinh đã chết từ lâu, nhưng không hiểu sao chút tàn dư vô cùng độc hiểm của nó một khi chui vào nhóm Sáng Tạo bỗng trở nên hiển thánh bất ngờ. Văn chương ụa mửa, chán đời, khuyến khích tự tử đi song hành với nền âm nhạc ca tụng cuộc tình dang dở giữa Lan và Điệp, giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, giữa chú tiểu Lan và chàng sinh viên Ngọc trong quyển Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng và giữa chàng trai khói lửa và người vợ bé nhỏ hậu phương trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan. Sở dĩ có loại nhạc ca tụng tình yêu dang dở như vậy là bởi cuốn phim Hồng Kông Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài của Lý Hàn Tường chiếu tại Sài Gòn đã hốt bạc kinh khủng. Mối tình giữa chàng Lương và nàng Chúc cũng như mối tình cặp Romeo và Juliet đã lay động biết bao tâm hồn và trái tim giới trẻ. Cho nên các nhà soạn nhạc cố tìm trong kho tàng tình sử, trong kho tàng văn chương nước nhà những mối tình tuyệt vọng ngập tràn nước mắt na ná như mối tình Lương & Chúc, như mối tình Juliet & Romeo để hốt bạc của những thính giả tuy có trình độ thưởng ngoạn kém, nhưng có trái tim mẫn cảm và nguồn nước mắt dồi dào sẵn sàng để cho tiết điệu của nhạc phẩm họ chi phối.

Trong giai đoạn nầy, có sự xuất hiện của Phạm Mạnh Cương với “Thu Ca” và “Thương Hoài Ngàn Năm”, của Dũng Chinh với “Những Đồi Hoa Sim”, của Mạc Thế Nhân với “Ru Em Tròn Giấc Ngủ”, của Hàn Châu với “Ánh Mắt Hỏa Châu” …

Cung Tiến và Anh Việt Thu đã nổi danh từ khoảng cuối thập niên 50. Cung Tiến với “Thu Vàng”, Anh Việt Thu với “Giòng An Giang” đem đến giới trẻ một thứ nhạc xanh mướt tâm tình. Nhưng trong giai đoạn mới nầy, Anh Việt Thu nổi danh trong quần chúng với những bản nhạc kém về phẩm chất nhưng dễ đi sâu cảm quan những kẻ thích loại tiết điệu lâm ly phù phiếm trong đó có bài “Hai Vì Sao Lạc”. Riêng Cung Tiến với bản “Hương Xưa” đã làm say mê biết bao kẻ sành nhạc. Anh Việt Thu vẫn là người có tài. Nếu không vì cơm áo, anh không chọn đường lối đi vào lớp thưởng nhạc có trình độ kém như vậy. Những bài hát trong quyển tuyển tập nhạc dành riêng cho anh có cái tựa là Con Đường Chúng Ta Đi do Kẻ Sĩ xuất bản là những nhạc phẩm có phẩm chất ở nhạc lẫn lời. Sau “Hương Xưa”, Cung Tiến sáng tác thêm những nhạc phẩm trác tuyệt như “Hoài Cảm”, “Nguyệt Cầm”, “Mắt Biếc” …

Còn về môi trường ca hát thì sao?

Hai năm trước khi nhà Ngô sụp đổ, Hoàng Thi Thơ có lập ra ban ca vũ nhạc đại quy mô, cách dàn dựng sân khấu rất mỹ thuật. Phần vũ dưới sự điều khiển của vũ sư Trịnh Toàn giới thiệu được văn hóa dân tộc. Ban ca vũ nhạc kịch nầy có hai vở ca kịch đạt đến phẩm chất cao là Cô Gái Điên và Ả Đào Say. Ban ca vũ nhạc kịch Hoàng Thi Thơ xuất ngoại, qua trình diễn ở hội chợ Osaka thành công rực rỡ. Bởi Hoàng Thi Thơ làm mếch lòng một số báo chí, không lo lót tiền hối lộ cho bọn ký giả tham nhũng nên bị chúng nó vu khống nào là là đoàn bị khán giả Nhật đả đảo vì các tiết mục văn nghệ quá thấp kém không hợp với trình độ cao của dân Nhật, nào là sân khấu bên Nhật vĩ đại, trong khi đó tranh cảnh của đoàn chỉ hợp với sân khấu nhỏ như các sân khấu ở Sài Gòn. Nhưng kiều bào bên Nhật viết thư về cho họ hàng của họ ở Việt Nam biết rằng,

khán giả Nhật hoan hô các tiết mục văn nghệ của đoàn Hoàng Thi Thơ, nhất là các màn múa nón, múa quạt làm kiều bào hãnh diện lây.

Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Anh, Thể Tần, Phương Nga, Nhật Bằng, Ngọc Long, Anh Ngọc, Phượng Bằng, Hồng Phúc là những kiện tướng đài Sài Gòn. Hai khuôn mặt mới là Phượng Bằng và Phương Nga tuy tuổi rất trẻ, nhưng tài cao. Phượng Bằng hát không kém Anh Ngọc bao nhiêu, chuỗi ngân đều đặn và vững vàng. Phương Nga tuy có giọng hát trong, nhưng làn hơi không phong phú và dũng mảnh. Phượng Bằng có khuôn mặt hồng hào xán lạn, nhưng anh không đẹp trai nên ngại xuất hiện trên sân khấu và chỉ chường mặt vài lần trên Tivi về sau. Phương Nga khá đẹp nhưng không đậm đà, tuy nhiên cũng có thể lên sân khấu hoặc chường mặt ở trên Tivi mà không chút mặc cảm. Về sau cô thường đi chung và ca chung với Mai Hương, Quỳnh Giao, Như Thủy.

Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Thái Thanh, Thần Đồng Phương Mai vẫn là những ngôi sao ca nhạc ăn khách trên sân khấu Đại nhạc hội. Kế đó là Thanh Hùng, Việt Ấn.

Bốn ngôi sao mới bắt đầu rực sáng là Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh và Chế Linh. Phải đợi hai năm sau mới thêm Thanh Tuyền, và từ đó có thêm Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Hương Lan Giao Linh, Kim Loan.

Hà Thanh rời xứ Huế vì chị thấy thời cuộc ở đó căng thẳng. Vả lại Huế không thể là nơi để chị mở tầm hoạt động ca hát được. Lúc đầu chị bắt chước theo cách hát của Lệ Thanh để quyến rũ quần chúng. Nhưng sau đó khi đã liệt vào hàng ngũ ăn khách nhất, chị hát theo cái bản sắc của giọng hát mình, tránh bớt những cái láy qua láy lại tiếng cuối của câu hát. Tiếng Lệ Thanh dù có vang lộng nhưng nghẹt mũi, còn đằng nầy tiếng Hà Thanh dù có giống đôi chút tiếng Lệ Thanh nhưng khỏe khoắn và ngọt ngào hơn. Cho nên chẳng bao lâu khách mộ điệu quên hẳn tiếng Lệ Thanh sau khi Lệ Thanh đi lấy chồng vì họ đã có một giọng hát lành mạnh và tài ba hơn thay thế. Cũng như Hoàng Oanh, Hà Thanh không thích hát trên sân khấu mà chỉ thích hát trên đài truyền thanh, đài truyền hình và trong làng dĩa nhựa mà thôi.

* Phương Dung:

Phương Dung vốn quê ở Gò Công, lên Sài Gòn học trường Nguyễn Bá Tòng. Cô có một khuôn mặt mặn mà. Trong thời gian đeo đuổi theo nghề hát, cô vẫn giữ dáng dấp nữ sinh, thường thích mặc áo dài màu nguội và nhạt, nhất là thích áo dài màu trắng. Cô có vóc mình tầm thước và thanh cảnh, mái tóc uốn kiểu thường, son phấn thật nhạt. Nhìn cô, không ai nghĩ rằng đó là một nghệ sĩ cả, bởi cô quá giản dị để có thể hòa mình vào đám đông bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dũng Chinh đã làm cô nổi tiếng, sau đó là “Nỗi Buồn Gác Trọ”, “Chuyện Tình Lan và Điệp”. Cũng có lần, cô hát bài có giá trị nghệ thuật hơn, như bài “Tống Biệt” của Võ Đức Thu (phổ bài thơ cùng tựa của Tản Đà), “Khúc Hát Ân Tình” của Xuân Tiên, “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh …

Giọng của Phương Dung lảnh lót, có ngân vang. Nhưng đây là một giọng không được cắt xén gạn lọc những cái cặn bã thô tháp. Nó ví như một loài man thảo mọc sum suê lấn át những kỳ hoa dị thảo khác một cách bừa bãi. Nó giống như một cây hoang dại gặp thời tiết thích hợp là đâm cành, nẩy lá, đơm nụ, trổ hoa, kết quả. Nó không được tỉa xén nên không thể trở thành một cây cảnh trồng trong chậu sứ hay trong một ngự uyển hoặc một hoa viên nào. Được cái khi lên cao, Phương Dung ít khi chịu chuyền qua giọng óc. Nhưng thay vì rống lên để tiếng vang lồng lộng thì cô thọc sâu tiếng vào trong cổ họng để rít lên chua ơi là chua! Cô ca mà người thưởng ngoạn có cảm tưởng tiếng cô mắc kẹt ở chỗ nào trục trặc nhiêu khê trong cổ họng cô nên cô không thể ngân nga được. Đây là tiếng hát chỉ lấy cái lảnh lót để che đậy nhiều tỳ vết, nhiều lỗi lầm. Một giọng hát thiếu cái mềm mại để đi vào những ngõ ngách uyển chuyển trong tâm hồn người thưởng ngoạn cao. Đó là tiếng hát đến chúng ta bằng những đợt sóng huyên náo và tới tấp để rồi chìm trong quên lãng, không đọng lại trong tâm hồn khách sành điệu dù là một giọt nắng tàn ảm đạm hay một giọt sương giá ngắt nào. Nhưng dù sao đây là một tiếng hát đẹp, một quặng kim có chất vàng quý giá. Nhưng tiếng hát đó phải được tập luyện đúng mức, quặng kim đó phải được loại ra các tạp chất thì mới có chất vàng ròng tinh túy. Trong khoảng 11 năm ròng, tiếng hát Phương Dung đã trở thành thân tình ấm áp đối với quần chúng. Tiếng hát của cô nói lên những ước vọng thầm kín của họ rằng đây là tiếng hát mà họ có thể nhái theo để tự hát và tự thưởng thức hoặc để gửi trao những kẻ mà họ mến yêu. Đây là tiếng hát của giới học sinh, của các anh lính tiền đồn. Đây cũng là tiếng hát của những tâm hồn chất phác không cần đào sâu vấn đề, nhưng giàu sang mạch cảm hoài, thích sống hồn nhiên như cỏ nội hoa ngàn. Phương Dung được báo chí tặng biệt danh là “con nhạn trắng Gò Công”. Tiếng nhạn kêu sương là tiếng thê lương tự bản chất. Nhưng tự bản chất, tiếng Phương Dung rất mộc mạc, lảnh lót như tiếng nhạn nhưng không buồn như tiếng nhạn. Nó không uốn vặn để tỉ tê sướt mướt. Nó gợi nên những giếng nước ngọt ở vùng biển mặn như vùng đất Gò Công đúng hơn. Nó hợp cùng hình ảnh người hát thành một biểu tượng ngọt ngào như xôi nếp một, như đường mía lau, nói lên cái bình dị nhưng phong phú của đất nước mến yêu, của đồng ruộng hiền hòa. Nghe Phương Dung hát, chúng ta có thể liên tưởng đến những cô nữ sinh tỉnh lẻ, những người phụ nữ trung lưu yêu nếp sống khiêm tốn cùng khung cảnh bình lặng vây chung quanh mình. Những kẻ đó tuy có bận vì sinh kế, nhưng vẫn có đôi lúc để tâm hồn mình ngấm sâu vào phong vị thơ văn thuở tiền chiến, vào tình ý ca dao của ba miền đất nước và vào những huyền thoại của nơi chôn rau cắt rún của mình.

* Hoàng Oanh:

Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, nên Hoàng Oanh không được luyện giọng theo lối chân truyền. Cô nổi danh khi chưa thành thiếu nữ, hãy còn bé bé xinh xinh như nàng ngọc nữ và non mềm như cô kiều nga trong bộ áo đầm với chiếc áo sơ mi trắng và chiếc váy xám kẻ ô quả chám. Vào 4 năm cuối của thập niên 70, tôi cộng tác cho tạp san Quê Mẹ ở Gennevilliers, thành phố phụ cận phía bắc của kinh đô Paris. Tạp chí nầy do Võ văn Ái làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, còn tôi làm tổng thư ký tòa soan. Tôi đã viết về tiếng hát của Hoàng Oanh trên tạp san Quê Mẹ số 27 (ngày 4/10/78) như sau:

Mỗi tiếng hát mang một hình ảnh, một khung cảnh, mang luôn cả thế giới nào đó mà mỗi người nghe, qua óc tưởng tượng tuyệt vời, có thể mường tượng ra.

Tiếng hát của Hoàng Oanh, hồi 15 về trước, trong trẻo du dương gợi cho tôi bóng dáng cô bé gái, mắt to, cái nhìn reo vui, khuôn mặt trong sáng, váy đầm xòe, tóc cài nơ bướm màu hồng. Chung quanh cô bé đó là khung cảnh một sân trường vui nhộn, tràn ngập tiếng cười hồn nhiên. Đó là tiếng hát Hoàng Oanh trong thời kỳ nàng còn ở trong ban thiếu nhi do nhạc sĩ Nguyễn Đức điều khiển mà bên cạnh nàng còn có Phước Vân, Bích Vân, Ngọc Vân, Thanh Lan …

Nhưng khi Hoàng Oanh trưởng thành thì tiếng hát đó càng buồn đậm thêm, dù nó vẫn mang bản chất tiếng hát nữ sinh từ lớp học, sân trường bay lọt ra ngoài. Tiếng hát gợi nên câu thơ tình của Trần Dạ Từ trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em”:

Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu

Áo trắng phơi buồn sân nắng trưa.

Tiếng hát nàng lúc đó vẽ nên hình ảnh cô nữ sinh tóc xõa, áo dài thướt tha, nón lá nghiêng nghiêng, đôi mắt to đẹp. Đôi mắt đó biết mơ mộng trên những trang sách diễm tình của Tuấn Huy, của Văn Quang, của Thanh Nam, biết thấm buồn qua âm hưởng thơ tình thời tiền chiến, biết chớp mắt vì cảm động khi nghe chương trình Dạ Lan với lời thỏ thẻ của em gái hậu phương gửi về anh trai tiền tuyến. Đó là thời kỳ Hoàng Oanh cùng với Phương Dung, Hà Thanh thao túng nhất trong môi trường dĩa nhựa. Thính giả mê say giọng hát nàng vì họ cảm thấy sao mà nó thân mật, gần gũi với cảm xúc và tâm hồn họ đến thế! Mãi tới bây giờ tiếng hát đó vẫn còn là bông hoa hiếm quý nở mãi trong lòng họ không bao giờ tàn phai.

Giọng Hoàng Oanh khi lên cao hoặc lúc xuống trầm hơi mỏng, chuỗi ngân không kéo dài lắm, nhưng ở nốt ngang ngang, giọng hát của nàng như rung ngời thứ ánh sáng cực kỳ mê hoặc. Với âm vực hẹp, Hoàng Oanh hát với một thái độ khiêm tốn, không cần tới làn hơi phong phú và kỹ thuật điêu luyện. Tiếng hát đó truyền cảm thâm thúy như chất rượu để lâu năm hay vị trà tàu thơm đậm, ngấm vào lòng người bằng cảm giác say sưa phiêu diễu. Nó gợi nên một going sông buồn lặng chảy qua một khung cảnh thơ mộng, trong bóng chiều êm dịu. Nó gợi nên con đường rợp bóng râm miền ngoại ô tỉnh ly nào đó, mà người đi qua đã trải tâm hồn thi vị của mình trên từng bước đi. Biết bao cô nữ sinh yêu tiếng hát nàng vì họ tưởng đó là tiếng lòng của chính họ để họ gửi gấm về một ông hoàng mộng tưởng nào đó. Còn các chàng trai thì sao? Vâng, có biết bao cậu trai tân trong ngưỡng cửa học đường hoặc những anh lính chiến đã từng ôm tiếng hát đó vào giấc ngủ, cất giấu vào chỗ đẹp nhất của tâm hồn mình.

Hãy nghe Hoàng Oanh hát “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh và “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng để yêu thêm cái tài nhấn vuốt của nàng trong tiếng hát. Hai bài hát nầy mang âm hưởng cổ nhạc miền Trung, nếu ai đó hát đúng theo nốt cây piano sẽ làm gãy đổ mất tình ý đậm đà của bài hát đi. Hoàng Oanh khi trình bày hai bài hát đó, biết uốn giọng, biết tạo những nét láy uyển chuyển và thật bay bướm và biết dồn tất cả những rung động của trái tim mình vào tiếng hát. Bởi đó khó có ai qua mặt nàng khi hát hai bài đó. Nếu chúng ta bị tiếng hát của nàng chinh phục ở những bài mang tính chất dân ca, thì chúng ta càng mê say lối diễn ngâm của nàng trên chương trình Tao Đàn hoặc chương trình Thi Nhạc Giao Duyên. Nếu giọng diễn ngâm của Hồ Điệp sắc sảo, đượm nhuần hơi hướm cổ nhạc miền Bắc, nếu giọng ngâm của Hồng Vân điêu luyện và lảnh lót, nếu giọng của Mai Lan trong trẻo, nếu giọng của Hỷ Khương đài các, nếu giọng của Mai Hiên thướt tha, thì giọng ngâm của Hoàng Oanh ngọt ngào, đưa tâm hồn người nghe vào cuộc viễn

trình của thế giới mộng mơ thời tiền chiến. Hiện nay dù cách Paris một bán cầu, bên kia nước Mỹ, Hoàng Oanh vẫn là bạn thân của Gia Đình Quê Mẹ, đã đóng góp vào sự cổ động cho báo Quê Mẹ. Từ New Jersey tới Paris, những lá thư của nàng và của chồng nàng (nhạc sĩ Mai Châu) thường xuyên đến chúng tôi, thăm hỏi, tâm sự, bàn bạc những kế hoạch phát hành Quê Mẹ. Hoàng Oanh đến với chúng ta qua điệu hát, giọng ngâm, mãi mãi viết lên đời sống một bức thông điệp của Tình Yêu, của Cảm Thông và của Hòa Điệu.

Ở bài nầy, tôi không nói hết những gì tôi suy nghĩ về tiếng hát Hoàng Oanh. So với tiếng hát Phương Dung, tiếng hát Hoàng Oanh mềm mại hơn, gợi cảm hơn. Nhưng cái mà làm tôi khó chịu là chuỗi ngân của cô chỉ có ba hột, không thể kéo dài thêm. Chuỗi ngân không vững chắc và không óng ả tự nhiên. Cô cố tình ngân nga, chứ không phải kéo một hơi dài để chuỗi ngân đến một cách tự nhiên. Đó là cô không luyện tập theo lối chân truyền căn bản. Lại thêm, khi cô hát ngang ngang thì hùng dũng biết bao, nhưng xuống trầm tiếng cô bị sa lầy, bị mắc cạn. Và khi lên cao cô chuyển giọng óc nghe lồng lộng. Từ giọng thật đến giọng óc, có một lằn ranh phân biệt rõ mồn một như lằn ranh giữa nước với dầu. Thái Thanh và Mai Hương khi lên cao cũng chuyển giọng óc, nhưng cả hai khéo léo hơn Hoàng Oanh nhiều. Họ không cho ta thấy cái giáp mí giữa giọng óc và giọng thật trong tiếng hát của họ. Hoàng Oanh là mẫu người có phẩm hạnh, có tư cách. Khi tôi viếng đài Phát thanh Sài Gòn thường gặp cô cùng với Mộc Lan, Hồ Điệp, Hoàng Hương Trang, Hồng Vân, Diễm Chi, Hoàng Oanh ngồi chờ thâu trong hai chương trình Thi Văn Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên. Hồng Vân bày trò nói tiếu lâm với Mộc Lan và Hoàng Hương Trang, nhưng Hoàng Oanh cùng Hồ Điệp và Diễm Chi chỉ ngồi nghe và cười hiền lành. Khi câu chuyện tới chỗ giật gân thì Hồ Điệp có thể bật cười,

trong khi đó Diễm Chi thẹn đỏ mặt, còn Hoàng Oanh không hề đổi sắc mặt, và vẫn chỉ cười thật ôn nhu đằm thắm, thái độ thật đoan trang thùy mị.

Hoàng Oanh không thích lên sân khấu. Không phải cô sợ mình không ăn ánh đèn, mà cô muốn giữ trong tâm tưởng thính giả của mình một tiếng hát học trò qua hình ảnh hư hư thực thực để họ tha hồ mà mường tượng chân dung cô. Có lần nữ ca sĩ Thanh Tuyền lập phòng trà, có để tên cô vào danh sách các ca sĩ thường trực của phòng trà ấy. Hoàng Oanh yêu cầu những ký giả quen thân đính chính dùm cô rằng cô không quen hát phòng trà nên cô không cộng tác với Thanh Tuyền, cô bạn đồng nghiệp mà cô hằng quý mến.

Ra hải ngoại, Hoàng Oanh vẫn giữ nghề ca sĩ. Tiếng hát của cô cực kỳ mê hoặc; càng nghe chúng ta càng bị thu hút vào cái âm sắc lảnh lót và véo von của nó. Chưa có tiếng hát nào gợi cảm và tràn ngập nữ tính hơn tiếng hát của cô. Dù lên cao và xuống trầm không oanh liệt và xông xáo, như cô hát thật thao túng, cô đùa bỡn với tiết điệu và âm thanh thật thoải mái. Nét uốn lượn của cô thật duyên dáng, nét láy của cô thật mềm mại. Cô hát bằng trái tim mẫn cảm, bằng tâm tình trung thực. Cô gửi trọn tâm hồn, nhiệt huyết của mình lúc hát thì bảo sao sự nghiệp ca hát của cô không lâu dài?

* Thanh Tuyền:

Hà Thanh và Hoàng Oanh không chịu lên sân khấu. Lệ Thanh và Thanh Thúy đi lấy chồng. Lệ Thanh thì tuyên bố dứt khoát lìa bỏ nghiệp cầm ca. Trong khi đó, Thanh Thúy không hẹn chính xác bao giờ cô trở lại cung đàn tiếng hát. Một mình Minh Hiếu và Phương Dung thôi không đủ tạo nên sức lôi cuốn cho khán giả phòng trà lẫn khán giả Đại nhạc hội. Do đó mà nhạc sĩ Mạnh Phát tung ra đúng lúc một ngôi sao ca nhạc mới, có tiếng sang sảng không kém tiếng Phương Dung. Đó là tiếng hát một cô nữ sinh ở Đà Lạt mang cái nghệ danh là Thanh Tuyền.

Thanh Tuyền có vóc vạc tầm thước, tròn lẳn. Khuôn mặt cô khá phúc hậu, dù đôi mắt cô hơi nhỏ, cái miệng tươi nhưng không đẹp bởi hàm răng hơi vẩu. Nhưng trông cô có một cái gì mộc mạc đáng mến làm người ngắm có cảm tưởng đây là một chồi măng le được xắn từ trong rừng, có thể làm ngọt mát bát canh trong mùa mưa tưới tẩm nhuần đượm khắp vùng sơn cước. Đôi mắt cô nhỏ nhưng cái nhìn rộng lớn, như ôm choàng cảnh vật xung quanh bằng niềm thương mến. Đôi mắt nhỏ nhưng không làm cho mặt cô có vẻ ngái ngủ như người bị chụp thuốc mê vì thần thái của cô thật rạng rỡ. Lúc đầu, Thanh Tuyền chưa biết ăn diện và hóa trang. Cô chỉ đánh phấn sương sương, không kẻ viền mắt cho đôi mắt thêm rộng, không biết kẻ mày tạo cho khuôn mặt có nét bầu bĩnh của cô thêm một nét cong duyên dáng. Cô chỉ mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh và đeo chiếc vòng bằng ngà ở cườm tay mặt. Tuy nhiên tiếng hát cô lồng lộng trải rộng sân khấu và hí viện. Tiếng hát sao mà véo von như chim sơn ca, vững chắc và dẻo dai như thép. Đây là một tiếng hát không điệu đà, nhưng lại thảm thiết.

Thanh Tuyền có nội lực thiên phú trong giọng hát, nhưng giá cô tập luyện giọng cho có phương pháp chân truyền, chắc chắn tiếng hát của cô sẽ dũng mãnh hơn, gieo vào tâm hồn người thưởng ngoạn những dư âm tê điếng hơn. Có nhiều khi cô phung phí làn hơi ở những chỗ không đáng đem ra ứng dụng để rồi khi lên hơi cao, cô lại hụt hơi. Thường thì khi lên cao cô nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng, thay vì rống lên để cho âm vang trải rộng ra thì cô lại nhốt sâu trong cuống họng và cô chỉ có thể rít tru tréo. Về ngân nga, Thanh Tuyền không có căn bản luyện một chuỗi ngân cần thiết. Giống như Hoàng Oanh, cô ngân rời rạc, chao đảo. Có nhiều khi cô chẳng them ngân nga gì cả mặc cho trường độ một nốt nhạc có kéo dài tới đâu.

Nhưng dù gì thì dù, đây là một giọng thiên phú, trong như một dải suối mùa xuân, lại còn gợi lên hình ảnh một khối ngọc băng, một khối pha lê. Chất thảm trong giọng hát của cô làm cho biết bao người đang có tâm sự u hoài dễ cảm thông với nó.

Bà chị Thụy Vũ của tôi vào năm 1967 có việc lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gặp Đại Úy Thục Vũ, tình cờ cũng gặp Thanh Tuyền đến đó. Khi về tới nhà, chị bảo tôi:

“Thanh Tuyền đẹp đó chớ, đẹp hơn khi xuất hiện trên sân khấu nhiều. Cô ta trắng trẻo và phúc hậu, dễ thương lắm. Đã vậy, cô ta ăn nói khiêm tốn mềm mỏng”. Có một dạo Thanh Tuyền bày vẽ hát Vọng Cổ và ngâm thơ Tao Đàn. Ở hai lãnh vực mới nầy cô không mấy tinh luyện nhuần nhuyễn nên ít lâu cô dẹp nó qua một bên. Hát Tân nhạc không thôi, cô có thể đứng vào hàng ngũ những giọng ăn khách nhất.

Sau năm 1975, cô hát cho ban Kịch nói Kim Cương. Không hiểu ai đó luyện tập cho cô lại cách hát mà cô ngân nga thật vững vàng, dàn trải làn hơi thật sành sỏi. Chu choa ơi, giọng cô thật vững nên cô trình bày bản “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” và bản “Nổi Lửa” rất nghề. Thuở đó, đi xem ban Kịch nói Kim Cương, tôi chỉ thích nghe Thanh Tuyền hát. Cô chẳng cao ráo để chế ngự sân khấu, nhưng tiếng hát cô lại mở một chân trời lồng lộng. Nhạc của Cộng sản dù tôi rất ghét, nhưng tiếng hát cô như mang sẵn cả một cái gì quý báu như thanh bảo kiếm Long Tuyền đang long lanh dưới ánh nguyệt đêm rằm.

Từ đầu thập niên 60, những cuộc đánh lớn mang những cái tên Plei-me, Chu-prong, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả v.v … xảy ra khắp bốn Vùng Chiến Thuật của miền Nam đất nước. Chính Quyền không thể kiểm soát được vùng xôi đậu, tức là vùng có Việt Cộng trà trộn nên cùng các toán Dân Sự Vụ tổ chức các cuộc di dân, đem dân chúng từ những vùng bất an ninh mà chính quyền không thể kiểm soát về những vùng định cư mới. Ở Sài Gòn, Huế, sư sãi và Phật tử thường tổ chức các cuộc xuống đường. Công giáo xuống đường. Sinh viên bãi khóa, cũng xuống đường. Các chùa chiền, nhà thờ, các giảng đường đại học mở cuộc họp hành liên miên. Sinh hoạt ở hai thủ đô lớn là Huế và Sài Gòn thường bị ngưng trệ bởi những bãi thị đình công. Trong khi đó, Cộng Sản ở Hà Nội vẫn tiếp tục cho quân theo Đường Mòn Hồ Chí Minh và ngõ Tam Biên (nơi gặp nhau giữa Việt Miên Lào) để vào Nam.

Trong tình trạng trăn trở bất an của đất nước, Phạm Duy vẫn là người mẫn cảm với ý nhạc. Thời thế dù có xoay trở cách nào cũng tác động vào thần trí sáng tạo của anh những cảm hứng phồn thịnh láng lai. Từ 1963 cho tới lúc Tổng Tấn Công trong dịp Tết Mậu thân (1968), anh sáng tác trường ca “Mẹ Việt Nam”, 10 bài “Tâm Ca”, những ca khúc cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, những ca khúc cho Cục Chính Huấn (thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị).

Về trường ca “Mẹ Việt Nam”, Phạm Duy đã viết trong “Hồi Ký” quyển III như sau:

Nếu CON ĐƯỜNG CÁI QUAN là một hành ca ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt thì MẸ VIỆT NAM là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào Tình Thương Yêu và Tính Hiếu Hòa, tính tình nầy đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại. Đây là một Trường ca trong đó, lúc trẻ tuổi, Mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng ĐẤT MẦU tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước. Khi đứng tuổi, Mẹ hiện thân là NÚI NON sắt đá, trong sự hy sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Mẹ còn âm thầm xót thương lũ con SÔNG NGÒI, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội Mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm tan nát lòng Mẹ. Vào lúc tuổi già, Mẹ trở thành BIỂN CẢ đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ, thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của MẸ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, nối chặt chu kỳ của trường ca MẸ VIỆT NAM.

Mẹ Việt Nam trong một sớm một chiều làm đề tài cho biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc. Các nghệ sĩ sáng tác cứ gọi Mẹ nhiều quá thét rồi Mẹ cũng trở nên nhàm đối với đa số kẻ thưởng ngoạn. Nhà văn Lê Tất Điều đã có lần phàn nàn trong quyển Phá Núi rằng thiên hạ lạm dụng trong việc đưa Mẹ Việt Nam vào công trình sáng tác của họ. Mấy tên đá cá lăn dưa ở khắp hang cùng ngõ hẻm đô thành cũng cảm thấy có cái gì không ổn khi các văn nghệ sĩ cứ réo giật ngược Mẹ Việt Nam một cách bừa bãi xả láng như thế. Họ cứ bắt Mẹ phải chui vào tác phẩm của họ cho kỳ được dù tác phẩm của họ dở t. Họ cứ hành tội Mẹ liên miên không để Mẹ nghỉ ngơi ăn trầu uống nước cho khỏe được dăm ba phút. Bởi đó chúng sửa lời trong bài “Lối Về Đất Mẹ” của Duy Khánh như sau:

Em ơi, em ơi!

Mẹ Việt Nam ghẻ lở

Mẹ Việt Nam mắc cở

Mẹ Việt Nam tắt thở.

hoặc:

Em ơi, em ơi!

Mẹ Việt Nam mắc cổ

Mẹ Việt Nam xấu hổ

Mẹ Việt Nam muốn nổ.

Vậy mới biết Phạm Duy vừa xướng ra điều gì đều cũng được nhất hô bá ứng cả. Ngày xưa, bên Pháp nhà thi hào Victor Hugo với những thiên trường ca (bằng thơ) của ông được người cùng thời gọi ông là “L’Écho du Siècle” (Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ). Còn Phạm Duy với gia tài âm nhạc của anh qua bao lớp sóng phế hưng của lịch sử nói chung, qua hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng “Mười Bài Tâm Ca” nói riêng há không được cái biệt danh “Chứng Nhân của Lịch Sử” hoặc “Tiếng Đồng Vọng của Thế Kỷ” hay sao?

Về “Mười Bài Tâm Ca”, Phạm Duy viết như sau:

Bây giờ, tôi đang đứng trước một quê hương đã trở thành nơi thử võ khí tranh chấp ý thức hệ của những thế lực quốc tế. Với mức độ gia tăng của chiến tranh, xã hội Việt Nam quay cuồng theo cơn lốc chiến cuộc, những giá trị tinh thần bị đổ vỡ và bị thay thế bằng những giá trị vật chất, đời sống càng ngày càng trở nên khốc liệt …tôi cần phải nhận diện lại quê hương. Không thể cứ xưng tụng một nước Việt Nam lý tưởng qua những dân ca, trường ca yêu nước được nữa! Bây giờ là lúc phải phê phán xã hội. Vấn đề là phê phán ra làm sao thôi. MƯỜI BÀI TÂM CA, với những tựa đề như “Tôi Ước Mơ”, “Tiếng Hát to”, “Ngồi Gần Nhau”, “Giọt Mưa Trên Lá”, “Để Lại Cho Em”, “Một Cành Củi Khô”, “Kẻ Thù Ta”, “Ru Người Hấp Hối”, “Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe”, “Hát Với Tôi” …muốn được là tiếng nói lương tâm của con người đối mặt cùng sự thật, nhận diện lại mọi thứ trong đời. Tuy nhiên có một vấn đề cần phải đặt ra. Hai thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” cùng một số bài tâm ca vẫn có cái gì quá cao, quá trang trọng nên chúng mắc kẹt trên sân khấu Đại nhạc hội, trong các ban nhạc lừng danh của đài phát thanh, trong những cộng đồng gồm các sinh viên có sự thưởng ngoạn âm nhạc cao. Nó không thể đi vào quần chúng được. Còn những bài dành cho tổ chức Xây Dựng Nông Thôn, cho Cục Chính Huấn dù hay tới đâu thiên hạ cũng nghĩ là đó là nhạc tuyên truyền, tác giả đặt ra để moi tiền chính phủ. Cho nên trong giai đoạn nầy Phạm Duy có sáng tác một bài hát mà toàn dân đều ngưỡng mộ. Đó là bài “Việt Nam! Việt Nam”. Người nào hát bài đó có cảm tưởng tác giả vắt tim óc, máu và nước mắt trên từng câu, từng dòng nhạc để chảy ùa vào nội giới của mình. Chính ra trong những lần đi sinh hoạt với kiều bào từ Việt Nam vừa đặt chân tới trại tạm cư hay trại tiếp cư bên Pháp, tôi được hát bài nầy với họ. Họ vừa hát vừa khóc ròng. Có một ông già 70 tuổi bảo tôi:

— Được ra nước ngoài để hát bài “Việt Nam! Việt Nam” là cả một may mắn còn lại cho cuối đời của tôi.

Song song với vận sự Phạm Duy trước tác những bài Tâm Ca thì trong hàng ngũ sinh viên, có Hoàng Ngọc Tuệ tổ chức Phong Trào Du Ca với những tên như Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu …

Sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn ở giai đoạn nầy hãy còn mờ nhạt. Bài “Ướt Mi” của anh do Thanh Thúy hát không được thính giả hâm mộ lắm bởi vì giọng cô không hợp với bài nầy. Thái Thanh hát thâu dĩa bản “Diễm Xưa” chua như giấm. Hà Thanh hát thâu dĩa bản “Hạ Trắng” ngọt quá là ngọt trong khi bài nầy cần một chút đắng ở giọng người diễn tả mới nổi bật tình ý của tác giả. Nhưng Bạch Yến hát “Lời Buồn Thánh”, Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” thì thính giả bắt đầu chú ý tới nhạc của anh nhất là lời nhạc thật đẹp của anh.

Trịnh Công Sơn có giọng hát êm và khá trong, chuỗi ngân nhỏ và óng ả. Anh hát không cố gắng, có vẻ lười lĩnh. Với thân hình gầy gò, ốm yếu, nhưng anh có chất thơ mộng và vóc dáng nho phong lại thêm có cái phong độ nghệ sĩ nên cái mã của anh dễ lôi cuốn giới trẻ. Năm 1967, vào một buổi tối, anh tháp tùng theo Tô Thùy Yên đến viếng nhà Thụy Vũ. Anh mang theo hai tập nhạc của anh là Ca Khúc Da Vàng và Ca Khúc Trịnh Công Sơn vừa xuất bản. Tập thứ hai do Tô Thùy Yên viết tựa (về ý nghĩa các ca khúc) và viết bạt (về con người du ca). Cũng như các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo, Tô Thùy Yên quen thói viết phô trương Tây học của mình. Yên so sánh nhạc của Sơn qua những bài “Thánh Vịnh” của vua David và những “Diễm Tình Ca” của vua Salomon, rồi nhìn Trịnh Công Sơn qua những chàng du ca (troubadour) thời Trung Cổ bên Âu Châu. Tôi biết ngay rằng tựa và bạt sẽ đưa nhạc Trịnh Công Sơn đi thật xa vì thuở đó giới trẻ phần đông chuộng thời thượng và ưa làm dáng trí thức. Ai đó mà hát những bài trù ẻo cuộc đời, nguyền rủa thế hệ theo kiểu triết lý và văn chương nôn mửa của bọn hiện sinh qua các bài trong Ca Khúc Trịnh Công Sơn như “Xin Mặt Trời Ngủ Yên”, “Vết Lăn Trầm” v.v … sẽ được coi như mình thành tín đồ ông Sartre một cách ngon ơ. Trong những kẻ thời thượng vào thuở đó, than ôi lại có tôi, cho nên ngồi nghe Trịnh Công Sơn hát, tôi vụt thấy Sơn lẫn Yên hiển thánh ngay trong thi ca và âm nhạc của nước nhà một cách kỳ diệu.

Hôm đó, Trịnh Công Sơn ngỏ ý muốn mời nhà văn nữ Nguyễn thị Hoàng theo anh đi khắp nơi trình diễn các nhạc phẩm của anh. Anh còn cho tôi biết anh đã nghe Nguyễn thị Hoàng hát bài “O Cangaceiro” rất hay, giọng thật mùi và thật nghệ sĩ. Tôi cười:

— Người ta có chồng rồi, lại sanh con đẻ cái đùm đề, theo ông sao được? Lệ Thu hát bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của ông rất tới, sao ông không rủ chị ta?

Trịnh Công Sơn bảo:

— Tôi có rủ bà ấy, bà ấy thoái thác vì đang kẹt ở các phòng trà và lại bận trông nom gia đình.

Chừng vài tháng sau, Trịnh Công Sơn lên Đà Lạt gặp được Khánh Ly. Thế là có những cuộc trình diễn ở sân trường Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn những bài phản chiến lẫn những bài than thở số phận bi đát của nhân loại (mà anh gọi là “phận ca”) qua giọng hát khàn đục và quyến rũ của Khánh Ly. Trịnh Công Sơn bảo rằng giọng hát Khánh Ly là giọng ma túy. Theo tôi, nếu giọng Khánh Ly là ma túy thì nhạc Trịnh Công Sơn là bùa mê, hai cái đó làm bàng hoàng ngây ngất cả một thế hệ trẻ vào hai năm cuối của thập niên 60 và leo qua 5 năm đầu của thập niên 70. Trong khi Trịnh Công Sơn leo lên tuyệt đỉnh vinh quang thì có hai nhạc sĩ trẻ tuy không phải là du ca, nhưng nhạc tình của họ cũng làm say lòng giới trẻ không kém. Đó là Vũ Thành An và Từ Công Phụng.

Từ Công Phụng vóc dáng cứng cáp và khỏe mạnh, khuôn mặt gân guốc như nét chạm trên đá. Anh có nước da ngăm đen, hồng hào, xán lạn và nồng mặn. Chính tại nước da nầy mà có nhiều người đồn rằng anh lai Chiêm Thành. Những nhạc phẩm nổi tiếng của anh là “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Tình Khúc Mùa Mưa”, “Trên Ngọn Tình Sầu”. Chính Từ Công Phụng cũng là một ca sĩ với giọng hát thật cừ, với chuỗi ngân tinh luyện, với âm sắc thật đẹp. Tôi được xem anh hát vài lần chung với vợ anh là Từ Dung tại Quán Cây Tre của Khánh Ly.

Cũng có lần tôi được xem anh hát bài “Mộng Đêm Xuân” của Tuấn Khanh trên Tivi, phải nói rằng càng nghe tôi càng cảm thấy giọng hát của anh đậm đà khó tả. Từ Dung trắng trẻo, mảnh mai, dáng dấp cao sang thanh thoát, khuôn mặt trong sáng và thông minh. Cô diện áo sơ-mi trắng, váy maxi in hoa diêm dúa trong thật gợi cảm. Từ Dung có giọng hát na ná như giọng Châu Hà, dù chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của cô kém điêu luyện hơn chuỗi ngân và cách dàn trải làn hơi của Châu Hà. Hỏi ra, thì chính cô đã luyện giọng dưới sự hướng dẫn của Châu Hà.

Trong giai đoạn nầy, những giọng hát tinh túy thì không có ai. Nhưng bốn giọng hát của Hương Lan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh và Chế Linh bắt đầu khuynh đảo trên làn sóng điện, trên sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa và bắt đầu làm mưa làm gió trong làng băng nhựa.

* Chế Linh:

Anh gốc Chàm, tên thật là gì thì tôi không rõ. Anh có vóc dáng thanh cảnh, nước da sậm nhưng ấm áp, khuôn mặt khôi ngô, cặp mắt nòi tình, nụ cười cởi mở. Đây là mẫu ca sĩ chẳng những được phụ nữ say mê như điếu đổ mà cũng được nam giới ngưỡng mộ đặc biệt. Nữ giới, nhất là những cô nàng thường xây mơ dệt mộng trên những trang sách diễm tình của Dương Hà, Trọng Nguyên, Ngọc Linh, Sĩ Trung, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy, bà Tùng Long thường xem Chế Linh như một nhân vật hào hoa từ trong các tác phẩm của các tác giả kia chui ra. Còn nam giới nhất là lính tráng thích mô phỏng theo nhân dáng của Chế Linh để chải chuốt ăn mặc và mơ được biến thành mẫu người có thể làm rung động hàng vạn trái tim phụ nữ như anh. Chế Linh là mẫu người vui tính, lém lỉnh. Nhưng khi bước ra sân khấu thì anh tạo một khuôn mặt thâm trầm, đầy chất nhạc chất thơ. Giọng anh lúc đó trở nên thê thiết quằn quại như giọng của những kẻ đang mềm người vì roi vọt bạo tàn. Khi cất cao, giọng anh trầm thống như khua động vào trong lòng tháp Chàm huyền bí, như đánh thức những ma Hời đã từng gửi xương thịt trên đất nước xa xưa của họ mà từ lâu đã bị người Việt lấn chiếm và xóa tên trên bản đồ Đông Nam Á. Bài “Đêm Nguyện Cầu” là bài đưa tên tuổi anh đi xa khắp mọi địa danh từ Bến Hải xuống mũi Cà Mau và đi sâu vào tâm hồn một khối đông đảo quần chúng. Khi lên cao, anh dùng giọng thật, nhưng ở chỗ ngang ngang, anh thường chẻ qua giọng óc để làm cho giọng thật nổi lên những nét bay bướm và huê dạng. Elvis Phương, Thái Châu, Giang Tử, Trường Hải, Ngọc Sơn về sau nầy cũng đi theo vết chân anh là tét qua giọng óc để làm duyên làm dáng, làm eo làm nũng với cuộc đời. Và dù họ không rên rỉ sướt mướt để hoàn toàn theo anh nhưng cũng tạo được những giọng đau khổ rã rời để hớp hồn khán thính giả.

Tuy nhiên đã là người làm nghệ thuật, giọng hát của Chế Linh dù được hàng triệu kẻ say mê chiêm ngưỡng, nhưng anh vẫn bị có người chê bai, đánh gục chí tử. Nhà văn nữ Túy Hồng, dưới bút hiệu Hân Tố Tố, đã nhận xét giọng Chế Linh đại khái như sau: “Giọng Chế Linh là giọng nửa trong nửa đục, nửa âm nửa dương, nửa trống nửa mái, nửa đực nửa cái … “. Còn nhà văn Phạm Quốc Hùng thì cho rằng giọng hát của Chế Linh như giọng con heo nái đang lúc động cỡn, được chủ nhà lấy cọng dọc mùng thọc vào bí huyệt khoái lạc của nó cho nó đỡ ngứa ngáy tình dục. Chế Linh không phải là một ca sĩ có kỹ thuật căn bản trong giọng hát. Nhưng cũng như Thái Thanh, Hoàng Oanh, Hương Lan, anh biết sáng tạo một giọng hát đặc biệt, giọng nầy gợi cảm và truyền cảm thì có, nhưng đạt được cái căn bản nghệ thuật thì chưa. Anh không cần ngân nga. Khi anh kéo dài làn hơi ở chữ cuối câu hát, làn hơi ấy gợn được bao nhiêu lượn sóng thì hay bấy nhiêu, anh không chú ý đến vấn đề then chốt đó. Thật ra, anh cũng chẳng biết ngân nga. Anh chỉ biết kéo dài làn hơi cho nhừa nhựa, cho tỉ tê như dế khóc sương, như đỗ quyên khắc khoải dưới trăng hè. Đó là một giọng hát mà ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn của Tổng thống Thiệu (báo chí gọi là ông Hoàng Đã Nhứt) cho là giọng trù ẻo, có thể làm mất nước. Cho nên trong khoảng 1972 cho tới 1975, Chế Linh bị cấm hát một cách oan uổng bất công. Lính tráng rủng chí chiến đấu đâu phải vì giọng Chế Linh mà bởi tại tập đoàn tham nhũng của Vua Thiệu trong đó có ông Hoàng Playboy có cái tên là Đã Nhứt. Dù rằng đất nước anh bị tổ tiên người Việt cướp mất, dù bị chính quyền Vua Thiệu đối xử bất công, dù bị một nhà văn nữ nổi danh và một nhà văn nam thuộc hạng cá kèo chê bai một cách thô tục, nhưng không vì vậy mà Chế Linh thù oán cả dân tộc Việt Nam, nhất là những người Việt bỏ xứ Việt Nam đi tìm tự do trên các đất nước Tây phương. Khi mới ra hải ngoại, Chế Linh không lấy tiền thù lao khi hát cho các cuộc trình diễn văn nghệ kiếm tiền bạc cho con tàu Cap Anamur cứu vớt người vượt biển. Cho đến nay, giọng anh cùng với giọng Tuấn Vũ thuộc loại giọng hát ăn khách hàng đầu.

* Hương Lan:

Tôi đã viết về Hương Lan trên Quê Mẹ số 29 (ngày 30/12/1978) như sau:

Hương Lan là một tài năng đa diện: cổ nhạc, sân khấu, màn ảnh … Cô cũng là kẻ thừa tự giòng máu nghệ sĩ. Thân sinh của cô là nghệ sĩ Hữu Phước, một danh tài sân khấu cải lương với lối ca Vọng Cổ xa-lông tuyệt vời đã từng thủ vai chính suốt 25 năm trên sân khấu đại ban Kim Chưởng và Thanh Minh Thanh Nga.

Hương Lan đã từng là đào con trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga với cái tên là em bé Ngọc Ánh. Cô đã xuất sắc trong vai đứa con không cha trong vở Hai Chuyến Xe Hoa của Thái Thụy Phong, phóng tác theo quyển tiểu thuyết cùng tựa của An Khê. Ít lâu sau, điện ảnh gia Hoàng Anh Tuấn chuyển vở ca kịch nầy thành phim. Hương Lan lại chứng tỏ khả năng diễn xuất của mình khi nhảy qua lãnh vực nghệ thuật thứ 7. Vào khoảng năm 1973, cô lại được đạo diễn kiêm kịch sĩ Nguyễn Long chọn để thủ một vai trong phim Em Yêu Anh bên cạnh Trần Quang, Hùng Cường, Phương Uyên và Tú Trinh. Nhưng thật ra, Hương Lan thành công ở địa hạt tân nhạc. Giọng hát của cô dù hơi giống giọng hát Hoàng Oanh, tuy không truyền cảm bằng, nhưng dài hơi và nhiều âm lượng hơn. Bởi đó, Hương Lan có thể hát những bản ruột của Hoàng Oanh để chiếm cho mình một số đông đảo khán thính giả như “Ai Ra Xứ Huế”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gấy”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”. Nhưng lần lần từ đó, Hương Lan tạo cho mình một lối diễn tả riêng, với nét gợi cảm, say đắm riêng. Tiếng hát Hoàng Oanh dịu dàng uyển chuyển thì tiếng Hương Lan đầy âm vang lanh lảnh. Nếu căn cứ theo bản chất thì tiếng Hoàng Oanh như loại nhung mềm, còn tiếng Hương Lan như một thứ lụa mượt mà, rập rờn ánh sáng. Hai tiếng hát đó có một khởi điểm chung, để rồi tách biệt hoàn toàn với nét độc đáo riêng.

Tiếng hát Hương Lan đầy đủ hấp lực để diễn tả loại nhạc âm hưởng dân ca, đôi lúc ngọt ngào, đôi lúc tái tê. Mật ong pha trộn mật đắng. Và tiếng hát đó đưa chúng ta vào những cảnh phố khuya đèn muộn, cảnh quạnh quẽ rã rời …. Về bên cổ nhạc, tiếng hát Hương Lan thuộc loại kim pha đồng, có nghĩa là cao vút và vang dội. Đây là một tài nghệ vững chắc nhất của cô. Cái lối sắp chữ huê dạng của cô là lối sắp chữ theo chân truyền, thoát thai từ một căn bản nghệ thuật vững vàng, chứ không phải lối huê dạng tật nguyền của một số nghệ sĩ của công ty Kim Chung hồi còn ở bên quê nhà. Về phương diện sân khấu cải lương, Hương Lan đã có lần đóng vai chính trong vở tuồng Em Đi Trên Phím Nhạc của soạn giả Lê Khanh phỏng theo cuốn tiểu thuyết La Dame Aux Camélias của Alexandre Dumas Fils. Vở nầy đã từng được Út Bạch Lan đóng vai mà Hương Lan đảm nhiệm, nhưng nếu Út Bạch Lan thành công về mặt diễn xuất thì Hương Lan tuy chưa qua mặt cô Út về phương diện này, nhưng lại thao túng ở mặt trình bày những bản Tân nhạc, có nghĩa là thành công ngay ở chỗ sở đoản của Út Bạch Lan.

Về mặt trình diễn Tân nhạc, Hương Lan đến với quảng đại quần chúng bằng tiếng hát ngọt như quít Hương Cần, làm rung động hàng triệu con tim khán thính giả. Riêng về bên Cổ nhạc, Hương Lan cho chúng ta thấy rõ “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, đã thừa hưởng một giòng máu nghệ sĩ để tạo ra một lối hát chân truyền và giờ đây là một Vương hậu Vọng Cổ ở hải ngoại. Hương Lan đến với chúng ta qua nhiều khía cạnh tài năng, có một thành tích lộng lẫy trong giới trình diễn và giờ đây là một tiếng hát hiếm quý của kiều bào chúng ta.

Bài nầy nhằm giới thiệu một giọng hát chứ không phải là một bài phân tích một giọng hát. Thật ra Hương Lan có những cái défaut không thể giúp cho cô tiến xa. Một là vóc dáng cô hơi bé nhỏ. Cho nên trên sân khấu, dù có ca hay diễn giỏi tới đâu, nhưng cô không thể làm đào chánh. Khi đứng chung với Mỹ Châu hay Lệ Thủy trên cùng một sân khấu, cô cũng phải làm đào nhì, đóng những vai thứ hạng. Hương Lan không xấu, nhưng cũng không đẹp. Cô chỉ có duyên mà thôi. Môi cô hình củ ấu, lúc ngậm miệng lại thì chiếc miệng của cô có vẻ quạu quọ, như sẵn sàng để bật ra những tiếng phàn nàn, bực dọc, càu nhàu. Ây vậy khi cô cười thì nụ cười tươi ơi là tươi, xinh đẹp một cách bất ngờ, chiếu hào quang rạng rỡ lên khuôn mặt cô. Hương Lan giỏi tài hóa trang. Những chuyến đi trình diễn chung với Bạch Yến cô hóa trang tươi thắm, đậm đà và lộng lẫy át hẳn mầu trang điểm kể cũng gọi là sành sõi của Bạch Yến. Khi hát, cô cũng không ra điệu bộ nhiều như Bạch Yến, nhưng nét mặt cô linh hoạt khác thường.

Hương Lan khi hát Vọng Cổ thì theo lối chân truyền, nhưng khi hát Tân nhạc, cô xài nhiều quái chiêu. Tiếng hát cô dù có trong sáng ngọt ngào, dù có một âm sắc quyến rũ cùng diễn tả cách bay bướm tuyệt vời đi nữa, song không phải là một tiếng hát tập luyện thuần thục theo phương pháp nghiêm chỉnh. Cô ngân nga không vững. Cô không thể hát những bài bản lớn đòi hỏi một nội công thâm hậu trong cách luyện giọng và đòi hỏi một kỹ thuật vững chãi. Cô chỉ trình bày những bản nhạc dành cho thị hiếu thấp kém của quần chúng, chứ không thể hát những bài có giá trị cao để làm thỏa mãn giới sành điệu. Tiếng hát của cô chỉ có lan rộng trong dân gian nhưng không thể vươn lên cao, bay đến chỗ kỳ diệu của âm nhạc được.

Hương Lan lăn lóc với nghề trình diễn quá sớm. Chung quanh cô, báo chí thêu dệt biết bao cuộc tình nẩy lửa, biết bao “xì-căng-đan”. Vào thuở đó, cô có vẻ còn bé bỏng, mặc áo đầm xòe, tóc cài nơ lụa. Cô không hề đăng tin cải chính trên báo rằng những tin đồn như vậy có thất thiệt hay không cũng như không cần che đậy những cuộc giao du của mình với bạn trai. Ở Hương Lan, ngay lúc cô còn mặc áo đầm xòe, các cậu học sinh vẫn không coi cô là biểu tượng tiếng hát học trò như ở trường hợp của Thanh Lan. Cô chỉ là người yêu trong mộng của các anh chiến sĩ ngoài tiền đồn, khi cô hát hai bài nổi danh của Trúc Phương là “Hai Mươi Bốn Giờ Phép” và “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” thì cô biến thành thần tượng huy hoàng của những kẻ khoác chinh y.

Vào năm 1978, tôi có nhiều lần tháp tùng Bạch Yến, Hương Lan và Pauline Ngọc đi trình diễn ở Lyon, Toulon v.v …Hương Lan có tài kể chuyện tiếu lâm làm ai cũng cười. Bạch Yến ưa nhắc thời oanh liệt cũ, Pauline Ngọc có tâm sự buồn, trong khi đó Hương Lan lúc nào cũng vui vẻ, mộc mạc, nhưng cực kỳ duyên dáng. Cho nên tôi cảm thấy gần gũi với cô hơn vì ở cô tôi tìm được mẫu người miền Nam đúng nghĩa. Cô thường khen tôi bằng câu:

— Không hiểu cái anh nầy cốt con gì mà nhớ dai như vầy!

* Phương Hoài Tâm:

Tôi nhớ mang máng rằng trong một lần hát mừng ngày Phật Đản, Phương Hoài Tâm xuất hiện trong một đoạn phim thời sự. Cô mặc áo đầm, tóc uốn theo kiểu Lollo úp, khuôn mặt thật đẹp và trong sáng như khuôn mặt thiên thần. Phương Hoài Tâm xuất thân từ lò Nguyễn Đức, dĩ nhiên là giọng hát của cô làm sao trui rèn đúng mức. Nhưng có lẽ khi ra nghề, cô luyện giọng thêm nhờ sự hướng dẫn của nhiều nhạc sĩ khác nên giọng cô nhuần nhuyễn hơn. Phương Hoài Tâm khi còn ở trong nước, luôn mang dáng dấp một nữ sinh. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao. Đáng lẽ với đôi lưỡng quyền ấy, khuôn mặt cô trở nên tối tăm và cứng cỏi. Nhưng mà không, mặt cô vẫn trong sáng, đôi lưỡng quyền ấy đem lại cho cô cái duyên dáng mặn nồng thâm thúy kỳ lạ. Đã vậy, khuôn mặt cô lại hiền dịu, nụ cười hơi thẹn thùng e ấp nhưng thật tươi sáng. Khuôn mặt thánh thiện ấy lại được cắm trên một vóc dáng tầm thước, nồng nàn sinh lực. Những chiếc áo dài màu tươi phơn phớt hay những chiếc áo dài màu trắng vẫn có thể làm cô đẹp, chẳng cần những chiếc áo dài in hoa hay những chiếc áo dài thêu đăng teng.

Giọng hát Phương Hoài Tâm ngoài cái ngọt dịu và trong sáng như nước cam trộn mật ong và nước đá, chẳng có gì đặc biệt khác. Khi cô xuất hiện trên bục ca hay trên sân khấu, cô vẫn thôi miên khán giả ở lối diễn tả đơn giản làm cho giọng hát của cô có về đằm thắm thục nữ. Âm vực trong giọng hát cô không rộng. Ấy vậy, có lần cô hát bài “Thu Vàng” của Cung Tiến thì tôi lo sợ giùm cho cô khi cô hát gần tới chỗ lên cao. Vậy mà cô vẫn hát khá đạt, dù giọng cô lúc lên cao hơi mỏng, nhưng cô hát trôi chảy, không vỡ gãy, không chai sượng. Đã vậy cô còn ngân lăn tăn được vài lượn thu ba. Phương Hoài Tâm có đóng một vai trong phim Nàng do Thẩm Thúy Hằng sản xuất. Thẩm Thúy Hằng khen nào là Phương Hoài Tâm đóng rất nghề, nào là Phương Hoài Tâm làm việc nghiêm chỉnh, nào là Phương Hoài Tâm mềm mỏng dễ thương … Nhưng không hiểu sao ở các cuốn phim sau do chính Thẩm Thúy Hằng sản xuất, Phương Hoài Tâm lại không được mời đóng nữa. Thôi thì chúng ta nên đổ thừa rằng Phương Hoài Tâm không có duyên nhiều với điện ảnh, cho nên ở các phim sau, cô không tìm gặp những vai nào thích hợp.

* Phương Hồng Hạnh:

Cũng xuất thân từ lò Nguyễn Đức như Hoàng Oanh, Thanh Lan và Phương Hoài Tâm, nhưng xem ra Phương Hồng Hạnh lép vế hơn hết. Khuôn mặt cô là khuôn mặt trứng ngỗng, đôi mắt lá răm hơi nhỏ, giọng hát hơi lu chìm. Suốt quãng thời kỳ mới lớn với tấm nhan sắc thịt không ra thịt, cá không ra cá ấy, không ai có thể nghĩ rằng Phương Hồng Hạnh có thể tiến xa trên đường sự nghiệp. Nhưng khi cô bước vào ngưỡng cửa dậy thì, khuôn mặt cô nồng mặn bất ngờ, thân hình cô nồng nàn sinh lực không kém thân hình của Phương Hoài Tâm. Khi cô bước ra sân khấu, đôi mắt lá răm của cô được kẻ đường viền đen hòa hợp với cặp mày tô đậm uốn cong theo viền trăng mỏng, tạo nên một hòa điệu tuyệt vời, làm cho khán giả liên tưởng đến câu ca dao: “Đôi mắt lá răm, đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.

Phương Hồng Hạnh không đẹp bằng Phương Hoài Tâm, nhưng đài các và sang trọng hơn. Khi cô bước ra sân khấu với chiếc áo dài trắng, dáng dấp của cô phiêu hốt làm khán thính giả nghĩ đến một nàng tiên trong nội cỏ thiên đường nào ghé qua. Khi trình bày một bản nhạc vui, cô hơi lém lỉnh một chút. Nhưng sắc diện thần tiên của cô không thể nào lẳng lơ được. Lúc nào cô cũng giữ vẻ đằm thắm đoan trang, vẻ điềm đạm thùy mị. Cô chỉ đẹp có vài ba phân, tức là chỉ đẹp vừa phải thôi, nhưng cái vẻ cao sang thanh thoát làm cô đẹp trội lên tới mười.

Giọng Phương Hồng Hạnh là giọng lu chìm. Nhưng cô biết xử dụng máy vi âm nên hát rất điệu nghệ. Về sau, với sự luyện tập của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Phương Hồng Hạnh tiến bộ rất xa về phương diện kỹ thuật. Cô hát nhuyễn lắm, có chiều hướng đi lên theo giọng Mai Hương, chuỗi ngân cô thật điêu luyện. Nhưng than ôi, cô phải trả một giá rất đắt: Có nhiều nhà báo độc miệng tanh lòng nỡ vu oan cho cô tằng tịu với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm những chàng nam sinh ái mộ cô thất vọng không ít.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment