vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Bài 11
Nỗi Bi Phẫn Khôn Nguôi Trên Giấy
Bùi Bảo Trúc
Việc nói về Phan Nhật Nam, nhà văn trong buổi họp mặt ngày hôm nay là một điều bất công đối với ông. Phan Nhật Nam lớn hơn nhiều, Phan Nhật Nam con người cũng như Phan Nhật Nam nhà văn lớn hơn như thế nhiều. Cứ mở phần danh biểu cuối cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến là chúng ta thấy ngay điều đó. Nếu số lần được nhắc đến trong cuốn sách này là một thước đo tầm vóc của một nhà văn thì với gần 20 lần được nhắc nhở trong cuốc sách đó, Phan Nhật Nam phải là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại.
Nhưng họ Phan vẫn bị đối xử một cách rất bất công. Ông thường bị xếp vào hàng ngũ những người viết bút ký chiến trường. Bút ký chiến trường thực ra không phải là một hình thức văn chương thấp hơn các thể loại văn chương khác. Nhưng có lẽ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những bút ký chiến trường chỉ được viết ở một mức độ cao hơn những bản tin chiến sự của Bộ Quốc Phòng một chút mà thôi. Thêm nữa, thể loại này chưa bao giờ được viết một cách nghiêm chỉnh, bằng những nỗ lực nghiêm chỉnh, với những tên tuổi có thể đem lại những mức độ nghiêm chỉnh cần thiết. Người ta thường quên “con người nhà văn” của họ Phan.
Người ta nghĩ ông chỉ viết bút ký chiến trường. Phan Nhật Nam không phải như thế. Căn bản ông là một nhà văn. Ông là một nhà văn sống cuộc sống của một người lính chiến. Như Saint Exupéry là một nhà văn lái máy bay. Như Ernest Hemingway là một nhà văn viết về nội chiến Tây Ban Nha, về Đệ Nhất Thế Chiến. Như Jean Larteguy viết về chiến tranh và những tàn nhẫn của nó. Phan Nhật Nam viết về chiến tranh, quả thật có mang nặng những chi tiết về võ khí, về chiến thuật, chiến lược; nhưng thật sự vẫn là cái không khí súng đạn, mặt trận, chiến trường mà ông viết xuống dưới các tác phẩm của ông. Các nhà văn không có cuộc sống như Phan Nhật Nam không viết như thế. Và các ký giả chiến trường không là nhà văn cũng không viết như thế.
Phan Nhật Nam căn bản là một nhà văn. Ông không là một nhà văn viết về cuộc đời duy nhất mà ông biết, và tình cờ đó là cuộc đời của một người lính sống trong những năm chiến trường khốc liệt. Phan Nhật Nam viết những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam với muôn vàn phẫn nộ, và có lẽ cũng vì thế người đọc cũng phẫn nộ với ông. Ta hãy nghe Phan Nhật Nam trong “Dọc Đường Số Một” nói về chuyện viết lách, chữ nghĩa của ông: “Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tha hồ tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một lần nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt, thấm máu tươi từ đôi môi khô héo.” Những chữ này không thấy trong ký sự chiến tranh chúng ta đọc trên báo. Phan Nhật Nam đi đến với văn chương không để tạo cho mình một cái tên. Ở nơi ông không có những thứ văn chương phù phiếm để lập thân, cách lập thân tối hạ như người trước đã nói.
Phan Nhật Nam, nói như Võ Phiến, là “một con ngưoi phẫn nộ, ông nổi trận lôi đình ầm ĩ trước những tàn bạo ngoài tiền tuyến, những xáo trộn vô trách nhiệm ở hậu phương. Ông lăn xả vào thời cuộc chính trị, vào chiến trận quân sự, ông văng tục, xỉ vả tưng bừng. Trái với lớp trẻ mười năm trước, Phan Nhật Nam dấn thân hết mình, bám sát thời thế. Ông nổi cáu, mạt sát những người cầm bút lè phè ở trong thành phố, không biết đến cuộc chiến trên quê hương … ” Như chúng ta thường đọc thấy trong Dọc Đường Số Một, Dấu Binh Lửa, Dựa Lưng Nổi Chết Phan Nhật Nam đã nguyền rủa cái ốc đảo Sài Gòn lãnh đạm, xa rời chiến tranh như thế này trong Dấu Binh Lửa:
“Một tháng ở thủ đô đủ để tạo tan hoang trong tâm hồn. Một tháng đủ để cho chúng tôi hiểu rõ nỗi ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy hằn học và dục vọng. Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết thành phố nhơ bẩn mà thủ đô đã bôi lên khuôn mặt của quê hương … “.
Với ông, không có “lính đa tình,” không có “lính viết tên người yêu trên ba lô nặng chĩu … ,” không “chiều nay em ơi, một chăm phần chăm … ,” không có những hình ảnh làm xấu hổ những người lính có lòng, có tâm hồn, yêu đất nước quê hương. Ông là hình ảnh thấy thấp thoáng trong một đoạn thơ của Nguyễn Bắc Sơn:
“…Nhậu để khói sầu lên ngút ngút
Đốt lòng uất hận cao ngùn ngụt
Ngửi mày một tị xem làm sao
Thân thể mày bay mùi binh đao
Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi đất
Ngày trước mày định đi tu tiên
Giờ bi đông lính tu ừng ực … ”
Hay một đoạn khác :
“ … Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Nếu mai đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui … “
Nhưng đọc kỹ Phan Nhật Nam, sau những phẫn nộ đó là một sự buồn phiền, là một lòng nhân hậu bao la rộng lớn .. Hãy lại nghe ông trong Dấu Binh Lửa, “Mưa thật lớn trên đồi cao, gió giật mạnh. Doanh trại vắng vẻ như tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc … Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường sù lông rũ nước kêu những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như những con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như những ngày vừa mới lớn..”
Đôi lúc họ Phan cũng ân hận về những gay gắt, hằn học mà ông đã nhiều lần viết xuống. Ông thấy đã có lúc ông có quá độ. Đó là nét nhân ái thấy rất nhiều trong con người phẫn nộ Phan Nhật Nam.
Con người nhân ái của Phan Nhật luôn luôn thấy thấp thoáng trong khung cảnh sống tàn bạo kinh khiếp, man dã của chiến tranh. Bản chất thiện của người lính Phan Nhật Nam được tìm thấy ngay trong giữa cảnh đổ nát, khói lửa mịt mùng của một trận đánh vừa chấm dứt. Trong Dấu Binh Lửa, Phan Nhật Nam viết về một phụ nữ trẻ trong ngôi nhà đổ nát, vôi vữa hoang tàn. Người phụ nữ hai tay đưa cho người sỹ quan trẻ cái lẳng đựng vài món quần áo và tư trang. Và khi người lính nhẩy dù từ chối, thì người đàn bà nọ tự động, im lặng, thẫn thờ bứt hàng nút áo ngực đưa phần thân thể phía trên ra để “mời” ông thiếu úy …
“Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sỹ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính đánh trận, chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt … Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này, cho những người lính chung quanh … “
Viết như vậy là văn chương. Không là bút ký chiến trường. Văn chương ở mức độ vượt lên mọi tác phẩm khác về chiến tranh Việt Nam. Nếu quá khứ cho chúng ta biết phần nào về tương lai thì người ta tin là Phan Nhật Nam, sau những Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số Một, Ải Trần Gian, Mùa Hè Đỏ Lửa, Dựa Lưng Nỗi Chết, Tù Binh và Hòa Bình, ông sẽ viết những tác phẩm khác. Những tác phẩm xuất sắc hơn. Thấm hơn . Đau hơn …
Phan Nhật Nam đã tiếp tục viết, và hôm nay, ông trở lại với Những Chuyện Cần Được Kể Lại và Đường
Trường Xa Xăm. Chúng tôi không đi vào từng bài thơ, từng tùy bút, từng đoạn ký trong hai cuốn sách này, mà chỉ xin mời độc giả của ông đọc ngay truyện “Giữa Vũng Tối” trong Đường Trường Xa Xăm và “Hai Người Lính … Sau Một Lần” trong Những Truyện Cần Được Kể Lại.
Truyện “Giữa Vũng Tối” viết về một đoạn kiên giam của người tù Phan Nhật Nam. Đoạn tù này làm cho cảnh tù đầy trong “Một Nửa Đàn Ông là Đàn Bà” của Trương HIền Lượng là một chuyến picnic, và “Một Ngày Trong Đời của Ivan Denissovich” mà Alexander Solzhenytsin viết lại chỉ là một ngày nắng đẹp … Nhà tù của Phan Nhật Nam khủng khiếp không thể nói sao cho hết. Nói theo một nhân vật của Vũ trọng Phụng thì nhà tù nơi Phan Nhật Nam bị kiên giam “oai” hơn các nhà tù mà Trương Hiền Lượng, Solzhenytsin đã trải qua rất nhiều. Truyện “Hai Người Lính Sau Một Lần” bi thảm hơn truyện hai người lính trong một ca khúc của Phạm Duy gấp trăm lần. Trong bài hát của Phạm Duy, tình cảnh hai người lính chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. “Hai Người Lính” trong truyện Phan Nhật Nam là người thật sống. Truyện kể một người lính “Ngụy” sau khi ra khỏi nhà tù, nhà tù mà Phan Nhật Nam đã tả trong “Giữa Vũng Tối” trở về một vùng quê nọ để sống. Vào một buổi tối, người lính “Ngụy” khi hành nghề chạy xe ôm đã gặp một gia đình bốn người đứng đón xe. Anh lính “Ngụy” giúp gia đình nọ hai chuyến mới chở hết được đến nơi họ muốn tới. Câu chuyện trao đổi trên lưng chiếc xe Honda giữa người lính “Ngụy” và hai vợ chồng người đón xe mở ra những chi tiết bất ngờ … Người đàn ông nguyên là bộ đội bị hỏng mắt trong trận đánh cuối cùng ở Đà Nẵng, và người đàn bà thì từng được “Cách Mạng” phong là “Nữ anh hùng diệt Mỹ”. Hai vợ chồng teo quắt lại như những chiếc vỏ chanh bị vắt đến kiệt nước. Và người lính “ngụy” cũng xác xơ sau mười mấy năm tù cộng sản. Những nạn nhân đó cuối cùng gặp nhau, người lính thì không nói ra câu chuyện của mình. Hai vợ chồng người bộ đội thì kể ngọn nhành những bi thảm của đời họ, tô điểm đây đó với những chi tiết độc ác về bọn lính “Ngụy” và tiếp tục lo ngại quyết định đi ăn xin kiếp sống của mình có thể làm xấu mặt nhà nước. Người lính “Ngụy” trút hết cả số tiền trong túi cho cả hai vợ chồng người bộ đội và trở lại Lái Thiêu. Người lính để cho người đọc thắc mắc, nếu anh “Ngụy” kia nói cho hai vợ chồng người bộ đội nọ biết anh là ai, thì phản ứng của hai vợ chồng người bộ đội biến thành ăn mày đó sẽ như thế nào?
Có lẽ Phan Nhật Nam không tàn nhẫn đến độ đâm một nhái dao vào lương tâm của người đàn ông và người đàn bà bất hạnh đó, để cho họ tiếp tục tin tưởng, tiếp tục có được những nụ cười khi nói về những huân chương “dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng lao động, anh hùng kháng chiến” của họ. Đó là nét nhân bản nơi con người Phan Nhật Nam. Hai cuốn sách mới của ông là hai cuốn sách đáng đọc. Có một điều những người đọc Phan Nhật Nam thấy là khi đọc ông, người ta gần như luôn luôn có chung với nhau một thái độ: “Người ta không thể đứng ở ngoài nhìn vào những điều ông nói. Không thể dửng dưng trước những điều ông viết xuống. Không thể không cùng phẩn nộ, đau xót, không thể không cùng cảm nhận những điều bi thảm ông nhìn thấy và ghi lại”. Đọc Phan Nhật Nam là nhập cuộc. Sống cùng những điều bi thảm đó. Chúng tôi xin mượn một số nhận xét của Võ Phiến về Phan Nhật Nam trong cuốn Ký, Bút, Kịch Miền Nam vừa do nhà Văn Nghệ xuất bản. Trong cuốn sách này, Võ Phiến viết: “Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường … Văn nghiệp của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm, dũng mãnh và can trường trong cuộc sống ấy.”
Trước phòng họp này có một đống đá. Tôi nhớ một vị giáo chủ cũng đã có lần cầm một cục đá, nói với những người hò hét chung quanh một người đàn bà bị kết án ngoại tình rằng: “Ai nghĩ mình là “người vô tội” thì hãy nhặt đá lên và ném cho người phụ nữ ấy chết đi”. Thời đó, tội ngoại tình là tội bị trừng phạt bằng những cục đá. Vị giáo chủ này đã không ném đá vào người đàn bà. Cũng không ai dám làm công việc đó. Dù đó là một người phụ nữ đã bị kết án, đã có bằng cớ ngoại tình. Tôi không dám cầm cục đá mà ném Phan Nhật Nam vì lẽ Phan Nhật Nam không có tội gì hết. Đâu là căn bản của luật pháp nước Mỹ, quốc gia chúng ta đang sống? Cái căn bản khẳng định một người phải được coi là vô tội cho đến khi nào pháp luật chứng minh được rằng ông ta có tội.
Phan Nhật Nam gần đây có lúc bị treo cổ như những người da đen trong thế kỷ trước và đầu thế kỷ này.
Những người da đen nọ chỉ cần bị “tình nghi” là phạm pháp, là không tôn kính, hay xúc phạm phụ nữ da trắng là thân xác của người ấy có thể bị đong đưa dưới một cành cây ở những tiểu bang miền Nam nước Mỹ lập tức.
Cũng thế, Phan Nhật Nam “đã bị treo cổ” mấy lần bởi những người cùng màu da với ông, bởi những tội mà ông không hề phạm phải. Phan Nhật Nam viết ở đầu hai cuốn sách ông xuất bản ở Hoa Kỳ rằng: “Không (có) khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan (và) chưa hề có một tài sản nào quá 10 đô la”. Thế thì ông chỉ giống như chúng ta thôi. Ba tờ chứng thư ông không có. Một số chúng ta cũng không có đủ ba thứ. Một số khác chỉ có một. Mà nếu tất cả còn nằm trong tay chúng ta thì chúng có được công dụng gì? Chắc chắn là không. Vậy những công chứng thư này trở thành vô giá trị trước luật pháp nước Mỹ. Sao lại căn cứ vào đấy để bảo Phan Nhật Nam “từ khước quá khứ quân đội dẹp bỏ tổ quốc, khinh miệt người lính” vì không mang theo trong người những chứng thư đó. Ông khai chưa có một tài sản nào quá 10 đô la, thì cũng nhiều lần chúng ta cùng hoàn cảnh tài chánh ngặt nghèo như ông. Chúng ta đã có lúc không có được tài sản quá 10 đô la. Nhưng “vì thiếu tiền mà bảo rằng chúng ta là người vô sản, cộng sản” có quá đáng hay chăng? Người bạn chúng ta mà là cộng sản ư? Người quân nhân từng chửi xa xả cộng sản trên tầng số máy truyền tin ở An Lộc ngày nào, người lính từng thương tích đầy người vì đạn đối phương ngoài mặt trận mà là cộng sản ư? Người không khoan nhượng với cán bộ cộng sản …(Thứ cán bộ cộng sản gộc, những Võ Đông Giang, Hoàng Anh Tuấn, Trần Văn Trà … Bùi Tín cũng chỉ là một viên Thiếu tá trưởng Ban Báo Chí của nhà nước VNDCCH không đủ cân lượng để “cầm cự“ trong cuộc “đọ sức” ngày 4 tháng 3, 1973 ngay tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội …) … Không khoan nhượng một chữ nói lên, mỗi tiêu đề viết xuống tại phòng hội Ban Liên Hợp, nơi địa điểm trao trả … Và cuối cùng, đấy cũng là người chịu cùm kẹp, lê lết qua đủ các thứ trại tù cộng sản kinh hoàng nhất lịch sử Việt Nam, cũng gớm ghê hơn tất cả chế độ giam giữ trên toàn thế giới …. Con người không chịu ngã gục kia mà lại là Cộng Sản ư … Hãy hổ thẹn vì những tiếng lời đã hạ nhục Người Bạn chúng ta!
Tôi phải bất đồng ý kiến với những lời cáo buộc nầy. Vì hai câu vừa trích dẫn trên, ông bị quàng cho cái tội:
“Từ khước quá khứ quân đội và là một người cộng sản!” Tôi không nghĩ vậy. Tôi cũng như tất cả quý vị đang ngồi trong phòng họp nầy, chúng ta không thể ném ông bằng những cục đá trong đống đá trước cửa, chẳng phải vì chúng ta cũng là những người “mang cái tội” Nam bị gán cho. Mà vì Phan Nhật Nam không phải là người có những tội đó. Mà là vì chúng ta không thể xúc phạm Nam như thế. Mười mấy năm trời chiến trận, bao nhiêu năm cấm cố, tra tấn, đánh đập, kiên giam … Phan Nhật Nam xứng đáng được chúng ta kính trọng.
Những lời lăng mạ, gán ghép, bóp méo, xuyên tạc, bôi bẩn, vu cáo, mạ ly không thể đến từ phía này. Kẻ thù chúng ta mới làm điều đó. Kẻ thù chúng ta mới quen làm và có thể làm những việc đó. Và chúng đã thực hiện với Phan Nhật Nam, với bạn bè bằng hữu của chúng ta, với các chiến hữu của quý vị.
Chúng ta không thể tiếp tay với những bàn tay man dã thô bạo mà rất nhiều người trong số quý vị đã rất biết sự tàn ác của những bàn tay ấy, để cào cấu, bóp cổ Bạn của chúng ta được:
Tôi không thể cầm những cục đá đá ném Phan Nhật Nam. Nếu phải ném, chúng ta đã biết mục tiêu phải ném tới. Mục tiêu đó không phải là cựu Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam, cựu sĩ quan của các tiểu đoàn 7,9,2
Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Phan Nhật Nam là người mà chúng ta rất vinh dự được gọi là Bạn.
Tháng Mười, 1995
Lần Vinh Dự không cùng
Từ Bằng Hữu.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.