Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 15 Jan 2026

TẢN MẠN VỚI TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN DẤU CHÂN NGÀY XƯA 

Như vài dòng giới thiệu
Một ngày nọ, tạm gọi là tình cờ, tôi nhận được tuyển tập truyện ngắn DẤU CHÂN NGÀY XƯA của Đồng Sa Băng gởi đến từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi tham lam đọc ngấu nghiến lần lược theo thứ tự của mục lục lục mà khi thấy cay mắt thì đã 2 giờ sáng! Cũng chính vì sự tham lam này mà tập truyện đã “cao chạy xa bay” ngay buổi sáng hôm sau khi tôi rời khỏi nhà. Thằng bạn ngủ “quá giang” hôm đó nó đã rinh đi mất, sau đó nó còn bị người khác rinh tiếp nên tập truyện chỉ quay lại tôi sau gần ba tuần với nhiều cuộc điện thoại “đòi nợ”! 
Toàn tập truyện như một cuốn hồi ký về quê hương. Tác giả không có ý định xây dựng một nhân vật chính nào cả, tất cả đều “kể” ra rất thật. Thật như đời sống thường nhật, thật như những con người bình dị nói bằng ngôn ngữ của quê hương ruộng đồng. Truyện ngắn của Đồng Sa Băng không hề thấy sự trau chuốt  từ ngữ, thậm chí không sửa các từ địa phương mà chúng ta thường cho rằng khó biết, khó hiểu. Và cũng chính vì điều này ta lại cảm thấy hương vị của hoa đồng cỏ nội lại ngào ngạt lang tỏa khi đọc tập truyện. Đọc truyện của Đồng Sa Băng tôi liên tưởng đến “Thằng quỷ nhỏ”, “Buổi chiều window”… của Nguyễn Nhật Ánh mà ngày xưa tôi thèm đọc như người nghiện thèm thuốc. 
Xin chân thành cảm ơn tác giả đã vẽ lại bức tranh về đồng quê xứ Quảng bằng cả ký ức và tấm lòng của một người xa xứ. Trong bức tranh này có bóng dáng người mẹ, có em thơ, có tiếng gà sớm trưa, có tiếng bình yên mỗi buổi tinh mơ của học trò rủ nhau đi học, có tiếng khóc cười của buồn vui cuộc sống. Ai lớn lên từ quê hương có đồng ruộng, có núi đồi, có sông nước có lẽ cũng sẽ thấy ít nhiều dấu chân của chính mình trong số các DẤU CHÂN NGÀY XƯA đã in hằn trên quê hương yêu dấu! 

Ngô Hữu Đoàn 
Sàigòn, 09.10.2006 
XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG CÁC BẠN

Google image

Người xưa

Mới vừa năm giờ sáng chiếc xe khách đã len lỏi dưới ánh đèn mập mờ Saì Gòn, lách qua từng con đường lớn, con dường nhỏ, và âm thầm chạy đi trong giấc ngủ của người dân đô thị. Những bóng đèn vàng vọt, treo lẳng lơ trên đường phố, dường như đã mệt nhoài sau một đêm daì soi đường chỉ lối, bây giờ nhường lại cho ánh nắng bình minh để lui vào giấc ngủ. Chiếc xe đang chạy tự nhiên thắng lại kêu két két, bốn bánh xe vạch đường dài trên mặt lộ, và từ từ dừng lại trước một quán ăn bên lề đường. Trước khi nín thở nó lại xịt cho một tiếng thật to, rồi phun khói đen bay đầy trời. Người tài xế bước xuống đi vào quán ăn, tôi mở mắt nhìn ra ngoài, mặt trời mới vừa ló dạng và chiếc xe cũng mới vừa đến ngã ba Dầu Giây. 
Con đường từ đây lên Ban Mê Thuột còn xa quá, tôi mới vừa ló đầu ra xe thì: “Bánh bao đây, bánh bao đây, bánh bao đi chú.” “Bán cho chú hai cái đi.” Tôi cũng chẳng buồn mở cái bánh ra, ngã mình trên ghế xe, tôi thèm giấc ngủ còn hơn đứa bé thèm cây cà lem của mẹ về chợ. Trong nháy mắt tôi lại nghe tiếng rao văng vẳng bên tai: “Miá ghimmm đây, mía ghimmmmm…” và bao nhiêu tiếng chân người bước đi trong gió. 
Năm đó tôi vào lớp mười hai trường Văn Học, ngồi nghe Nguyên Sa nói về người Saì Gòn mà cười muốn bể bụng. Nhưng tôi đâu có phải người Saì Gòn đâu. 
Ngày đó tôi cũng khăn gói, lất lư chạy theo cha mẹ tản cư nhiều lần lắm, chạy đi, chạy về, rồi lại chạy đi. Nhưng cuối cùng không còn chổ chạy về nữa nên tôi mới lọt vào cái trường Tư Chánh B nầy. Những ngày tháng tản cư ngắn ngũi sống ở trường Tư Chánh B tôi thấy vui lắm. Tôi thường lang thang phía sau trường, băng lên khu nhà thương và lên lò bánh mì Chí Thành ở thị xã Quảng Ngãi. Tôi thấy Quảng Ngãi rộng lớn quá, mà tấm thân tôi đến chiếc xe đạp cũng chưa biết cởi, nên suốt ngày chỉ biết lanh quanh ở khu Tư Chánh B nầy. 
Chiều về, những đứa bé tạm cư kéo nhau ra đầy sân trường nô đùa chạy nhảy, con gái thì nhảy dây, con trai thì tạt lon. Nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn, những chiếc dép Nhật sức đai, những lon sửa bò móp méo, và những sợi dây thừng đứt tả tơi bây giờ nằm chơi vơi trên sân trường. 
Những đứa trẻ theo gia đình mỗi người đi một ngã, còn tôi thì lại trôi dạt vào cái xứ Sài thành. 
Mà một người tản cư thì tôi cũng như bao nhiêu người con xứ Quảng khác, phải biết đi làm để đóng tiền trường. Tôi phụ và học việc tại một tiệm sửa đồng hồ của một người cùng quê. Những giờ không có lớp học tôi thường đạp chiếc xe đạp cộc cạch đến tiệm sửa đồng hồ ở Tân Qui Ðông. Từ bến đò Long Kiển, Hương Lộ 24, chạy vào một khoảng đường bốn năm trăm thước là khu thương mại bỏ túi. Cái tiệm sửa đồng hồ của anh Ba nằm trong nhà bà Ðạt và bên cạnh là tiệm may của mấy người con gáí bà Ðạt. 
Hôm nay có một người thợ may mới về trong tiệm, làm cho không khí tự nhiên ồn ào và náo nhiệt hơn. 
Những chiều cuối tuần bến đò Long Kiển trở nên tấp nập hơn, người từ phương xa tay xách, nách mang, những bó hoa, những bộ quần áo thật màu sắc, đổ về ngôi mộ bà Ana trong Tân Qui để tặng bà, và xin một vài điều may mắn gì đó. Hay cầu xin bà cho một con số để chiều nay đánh số đề. Trong số những người đến viếng thăm mộ bà Ana có cả những chàng bạch diện thư sinh, và những tà áo nữ sinh bay phất phới trong gió. Họ về đây để xin bà Ana chứng kiến lòng thành của họ, và cầu xin bà cho thi đổ kỳ thi nầy. Nhìn những khuôn mặt khẩn trương, và hớn hở đi trên đường mới biết niềm tin thật là mảnh liệt! Tôi nguyện cầu cho họ. 
Ở đâu có đám đông thì ở đó có chợ búa nổi lên. Cho nên bến đò Long Kiển bây giờ cũng mọc lên cái chợ chồm hổm. Cái chợ chồm hổm nhỏ chút vậy mà cũng đông người ghê. 
Tôi xuống xe dắc bộ chen lấn đi vào cửa tiệm đồng hồ. 
– Ðể xe đụng dơ quần tui rồi, dơ hết trơn rồi, mắt dịch. 
– Em nói tui mắt dịch hả? 
– Hổng lý tui nói tui mắt dịch. Thấy quần người ta bị dơ hông? 
– À, xin lổi, đưa đây tui phủi cho. 
– Thôi, thôi, đừng có dzô dziên. 
– Lần sau em đừng nói qua mắt dịch nghe hông. 
– Hí, lần sau, có lần sau nữa sao, thiệt là. 
Người con gái có vẽ bực bội, xách cái giỏ đi chợ bước vào tiệm may, nàng không quên quay đầu lại liếc tôi một cái muốn lòì con mắt ra ngoài. 
Tôi dắt chiếc xe đến cửa tiêm, dựng ngoaì hiên rồi vào trong lấy mấy caí hoá đơn để lên Chợ Củ mua thêm ba đồ phụ tùng về sửa. 
Từ đây lên Chợ Củ nếu không muốn đi bằng đò thì phải chạy xe dọc theo bờ kênh Tẻ để về cầu Tân Thuận Ðông, rồi bắt qua đường Trịnh Minh Thế đi lên. Ðường đi xa quá nên tôi thường lấy con đò Long Kiển qua cho lẹ. 
Ðứng bên bờ sông, nhìn chiếc xuồng cập bến tôi lại nhớ con đò An Chỉ ngày xưa. Ngày đó quê tôi nằm bên đây bờ sông Vệ, bên kia bờ là làng An Chỉ. Dọc theo hai bên bờ sông là những cụm tre già ngỗn ngang. Từ làng tôi qua làng bên phải đi bằng một con đò, con đò An Chỉ. Từ sáng tinh sương cho đến chiều hôm, ngày nào ông Ðàn, ông lái đò, cũng đưa khách sang sông. Con đò ông Ðàn đan bằng nan tre, trét dầu rái đen bóng, và lớn gấp ba gấp bốn lần những con xuồng ở bến đò Long Kiển nầy. Những lúc vắng khách, đò ông Ðàn thường cập bến bên cạnh buị tre già. Rồi một tiếng “ông lái đoooò” từ bên kia sông, là đò ông lại khoan thai rẽ sóng với cây sào bằng tre, dài, từ từ chuyển mình rời bến. 
Ngày đó tôi thường theo mẹ trên con đò An Chỉ qua sông cho kịp buổi chợ chiều. 
Bây giờ nhìn những con đò chạy bằng máy đuôi tôm lướt mình trên sông, hình ảnh ông lái đò ngày xưa hình như đã chìm lỉm trong dòng sông. 
Chiếc xuồng đã cập bến, tôi vội vã bước lên xuồng qua Khánh Hội để lên Chợ Củ. 
Tôi vừa làm vừa học nghề ở tiệm sửa đồng hồ nầy cũng gần một năm nay. Anh Ba, người cùng quê tôi, sau ngày chiến tranh, mất làng mạc, anh cũng chạy tứ tung, rồi anh học được cái nghề sửa đồng hồ đâu ngoài Ðà Nẳng. Sau nầy anh vào Saì Gòn lập nên cái tiệm sửa đồng hồ nầy. Thật sự ảnh cũng không có vốn để lập nên cái tiệm nầy đâu, nhưng vì ảnh có tay nghề giỏi mà ông bà Ðạt thì có nhiều con gái lớn chưa có chồng con, nên ông bà Ðạt mới đồng ý cho anh Ba đặt cái tủ nhỏ trong tiệm tạp hoá ổng bả để sửa đồng hồ, và chỉ cho thằng Lượm con ổng bả làm nghề. Vì chổ cùng quê nên tôi cũng được anh Ba chỉ cho cái nghề nầy luôn. 
Một năm sau khi anh Ba dọn về làm ở đây, ảnh cưới cô Bốn con gái ông bà Ðạt làm vợ. Ngày đám cưới tôi làm phụ rể cho anh Ba, tôi nói thôi, đám cưới nó vui tưng bừng, ông bà Ðạt mừng có được rể có tay nghề, dìu dắt đám con ổng cùng nhau làm ăn. Còn cô Bốn thì mở tiệm may sát nhà luôn. Tiểu hỷ, đại hỷ rồi tân gia hồng phát giống như rồng gặp nước vậy! 
Tôi ghé mấy tiệm bán đồ phụ tùng đồng hồ ở gần Chợ Củ, mua ít đồ xong tôi đi thẳng đến trường học luôn. 
Chiều về, tan trường tôi lấy xe chạy thẳng về bến đò Long Kiển để qua sông về tiệm sửa đồng hồ. Tôi dựng xe, bước vào tiệm và đưa cho anh Ba những gì ảnh nhờ tôi mua sáng nay. Tôi mới vừa ngồi xuống thì chợt thấy người con gái hồi sáng tôi làm dơ quần cổ, cổ cũng có mặt trong tiệm. Nàng đang nói chuyện với bà chủ nhà, và coi có vẽ thân thiện lắm. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn nàng rõ hơn, nàng cũng bình thường như bao nhiêu người con gái khác. Chiếc áo bà ba với mái tóc dài xỏa ngang lưng. 
Sáng nay tôi bị người ta xô đẩy đụng vào nàng, bây giờ thì gặp nàng ở đây, tôi muốn nhào vô làm quen với nàng ngay. Nhưng tôi không biết mình phải bắt đầu làm sao, nói cái gì? Tồi đành quay qua hỏi anh Ba: 
– Cô kia là ai vậy anh Ba? 
– Cháu bà chủ nhà đó. 
– Có phải cô thợ may sáng nay mới vô đó không? 
– Ừ, mà sao hôm nay chú hỏi tui chi kỷ vậy? 
– Thì thấy lạ hỏi thôi, anh biết nhỏ tên gì hông? 
– Nhị. 
Anh Ba người thật thà, hiền lắm, nhưng có cái bịnh nặng tai, cũng vì vậy mà anh sinh ra cái tật nói lớn tiếng, cái gì cũng nói như la làng lên. Người con gái đang nói chuyện với bà Ðạt nghe tiếng Nhị liền quay qua chổ tôi đang ngồi, nàng liếc mắt nhìn tôi một thoáng rồi quay đi. Tôi quay qua nói nhỏ anh Ba: 
– La gì to dữ vậy cha nội. 
– Hả, chú hỏi tui cái gì? 
Ổng lại la lên nữa. Khổ quá! Người con gái quay về phía tôi, xong đi thẳng ra về tiệm may luôn. Ông nầy ổng phá bể mánh tui rồi, nhưng tui đâu dám nói lớn nói nhỏ gì ổng được đâu, ổng là ông thầy của tui mà! 
Tôi phụ anh Ba chùi dầu cái đồng hồ xong tôi lấy xe ra về. Khi ngang qua tiệm may, tôi liếc vô nhìn nhưng không thấy bóng dáng nàng đâu hết. 
Ra tới bến đò Long Kiển trời đã ngã bóng về chiều. Nước sông đang lên, mang theo lục bình, rác rến đua nhau chạy về miệt cầu Rạch Ông. Cảnh người nhộn nhịp của chợ chồm hổm buổi sáng bây giờ đã vắng chỉ còn lại mấy con đò nằm trên bến đợi khách sang sông. Tôi bước xuống chiếc xuồng con. Cái máy đuôi tôm vừa nổ tạch tạch xong là chiếc xuồng cũng sắp đưa chúng tôi ra giữa dòng sông. Nhìn những đám lục bình trôi vội vàng trên sông sao tôi lại nhớ ánh mắt và mái tóc xỏa ngang lưng của Nhị. 
Nhưng rồi những con tóan, và hình ảnh những bài vở của ngày mai lại xâm chiếm suy nghỉ của tôi. 
Ở tuổi nầy tôi cũng biết mộng mơ rồi. Có những lúc đứng trước những bóng hồng, lòng tôi cũng biết bâng khuâng hồi hộp, ước mơ được dìu nhau đi dưới những hàng me xanh mát, hay nắm tay nhau đi bên cạnh bờ sông trong những buổi chiều tắt nắng. Nhưng mà thật tế vẫn là thật tế, những bài vở, những kỳ thi, và những lo toan của cuộc đời vẫn luôn hiện hữu trong tâm tư của người học sinh thời loạn. 
Những tháng ngày cuối của năm lớp mười hai tôi ít xuống tiệm sửa đồng hồ anh Ba. 
Mỗi ngày sau bửa ăn tối, tôi vào căn nhà nhỏ ôn bài cho kỳ thi sắp tới. Thỉnh thoảng tôi ghé tiệm anh Ba để mua đồ phụ tùng dùm ảnh. Mỗi lần ghé tiệm sửa đồng hồ tôi thường qua tiệm may của vợ anh Ba chơi. Ngày xưa ít khi tôi vào cái tiệm may nầy đâu, nhưng từ ngày có người thợ may mới tôi lại thường qua chơi. Riết rồi tôi cũng làm quen được với người thợ may mới nầy. Nhà Nhị ở tận ngã ba Cây Thị, Gò Vấp, xa quá nên Nhị ở ngụ tại tiệm may vợ chồng anh Ba. 
– Sao mấy nay không thấy anh xuống sửa đồng hồ? Nhị hỏi. 
– Anh đang học thi nên không có thì giờ nữa. Hôm nào Nhị về trên nhà cho anh đi theo với được không? 

– Thôi, anh lo học thi đi, theo em về trên đó làm gì. 
– Anh muốn biết chổ Nhị ở mà. 
– Không được đâu, má em biết thì chết em đó. 
Quen biết Nhị mấy tháng rồi mà tôi không dám hẹn hò rủ Nhị đi chơi, có lẽ tôi sợ gia đình bà Ðạt biết, rồi sẽ đến tai gia đình tôi, và nhất là mẹ tôi. Tôi sợ bao nhiêu công lao mẹ tôi dành cho tôi mà kỳ thi Tú Taì nầy không đậu thì chắc khổ lắm. Cho nên mối tình thầm kín của Nhị có lẽ chỉ có Nhị và tôi biết thôi. 
Còn hai tháng nữa là ngày thi, lúc nầy tôi tự cắm trại một trăm phần trăm, không còn lên xuống tiệm sửa đồng hồ và cũng không có thì giờ gặp Nhị. Và kỳ thi đó tôi đã đỗ. Ngày đi coi kết quả tôi âm thầm ra đi một mình, khi biết đã đậu tôi vội vàng về báo cho mẹ, và anh chị biết, rồi chạy xuống tiệm may tìm Nhị. Trên đường đi tôi nghĩ chắc Nhị sẽ vui thật nhiều khi biết tôi đỗ kỳ nầy. 
Có lần tôi nhớ Nhị nói: “Anh rán thi đậu đi để khỏi bị xa em. Mấy người thi rớt đi lính hết, xa lắm, biết làm sao gặp.” 
Mọi ngày con đò Long Kiển chạy lẹ lắm, sao hôm nay tôi thấy nó chậm quá. Qua bên kia bờ tôi liền chạy như bay vào tiệm may của vợ chồng anh Ba, mọi người vẫn còn đó nhưng sao không thấy Nhị. Tôi hỏi anh Ba thì biết nay Nhị không còn ở và may đây nữa. 
Tôi dấu trong tâm tư một cảm giác thật buồn, những hớn hở vui mừng lúc trước bây giờ chợt bay mất. 
Tôi hỏi nữa thì mới biết nhà của Nhị trên Gò Vấp bị hỏa hoạn cháy thành than rồi. Nhị phải về trên đó để giúp đỡ má Nhị, tôi nghe thấy buồn cho Nhị và cũng thấy đỡ lo. 
Những tháng ngày mệt mỏi học thi bây giờ đã qua rồi, tôi thấy mình thật vui đời, không còn bận bịu gì nữa. Tôi đi tìm Nhị. 
Gò Vấp thì rộng lớn, chứ ngã ba Cây Thị thì có là bao nhiêu, tôi nghĩ như vậy. Và tôi đã đến ngã ba Cây Thị. Vợ anh Ba nói Nhị may cho một tiệm may nào đó ở ngã ba Cây Thị. Tiệm nào tôi đâu có biết, vậy là tiệm may nào trên ngã ba Cây Thị tôi cũng thò đầu vào xem, cuối cùng tôi cũng tìm được Nhị. Nhị rất ngạc nhiên, và rất vui mừng khi biết tôi thi đỗ. 
Từ buổi hôm đó tôi không còn sợ gia đình bà Ðạt biết nữa, và cũng từ buổi hôm đó tôi và Nhị thật vui bên nhau. 
Sau ngày tôi vào đại học, những ngày cuối tuần tôi thường lên thăm Nhị. Nhị may cho tôi một bộ đồ bà ba màu nâu, cái áo có hai cái túi. Có những ngày đẹp trời tôi đưa Nhị dạo chơi trong Thảo Cầm Viên. 
Mỗi lần lên thăm Nhị ít khi nào tôi gặp người gia đình Nhị lắm. Tôi hỏi: 
– Ba em đâu? 
– Ba đi bán muối rồi, nhà chỉ có má và em thôi. 
Có những buổi chiều, tôi ngồi trên đi- vân nhìn Nhị may áo, những tiếng mưa rơi lách tách trên mái hiên, tôi thấy cuộc đời thật hạnh phúc. Rồi tôi lại ngồi bên em, những cánh tay cuộn tròn với nhau, tôi nghe mùi thơm của tóc và ngoài sân, hột mưa vẫn rơi. 
Thời gian trôi qua, mỗi ngày thứ Sáu ra khỏi trường Ðại HọcKhoa Học tôi chạy lên ngã ba Cây Thị thăm Nhị. 
Nhưng rồi chiến tranh đến ngày gay cấn, khắp bốn vùng chiến thuật khói lữa điêu tàn. Và rồi tháng Tư cũng đến, Sài Gòn nằm trong hổn loạn, trường trại đều đóng cửa, mọi người nhôn nháo chạy tứ tung. Tôi cũng ham vui và nghĩ rằng cơ hội để con chim sổ lồng bay xa tìm hiểu và khám phá. Nhưng ra đi bỏ Nhị lại tôi thấy buồn lắm, cho nên vào giờ chót, hay là cái giờ thứ 25 tôi chạy lên ngã ba Cây Thị tìm Nhị. 
– Anh đang tìm đường đi ra nước ngoài đó, em đi với anh nhe. 
– Ý, không được đâu, còn má em bỏ lại đây một mình sao? 
– Thì em nói má đi chung luôn. 
– Không được, má em không đi đâu. 
– Sao vậy, sao không đi. Người ta đi đầy trời có sao đâu. 
– Nhưng má không đi được. Anh đi một mình đi nha. 
– Ba chết rồi, chỉ còn có em và má thôi, anh sẽ dẫn em và má đi luôn. 
– Em nói không được đâu mà, anh đi một mình đi. 
– Nếu em không đi thì anh không đi đâu, em đi nhe. 
Tôi năn nỉ và nói hết nước miếng nhưng cuối cùng Nhị vẫn nhất quyết ở lại. 
Hôm đó trời tháng Tư, không nhiều mây. Tôi ngồi chơi với Nhị cả buổi sáng. Những ngôi làng xa xa ngoài Gò Vấp tiếng súng nỗ đì đùng. Nhà chỉ có hai mẹ con nhưng sao tôi không thấy má Nhị đâu hết, có lẽ bà còn đi làm chăng! 
Những lời thắm thiết tôi đã trao cho Nhị, cuối cùng Nhị đi bộ cùng tôi qua một cái gò để ra bến xe Cây Thị. Tôi nói với Nhị nếu Nhị không đi tôi sẽ không đi, nhưng hình như trong lòng tôi đã quyết định. Tôi bước đi bên cạnh, những bước chân thật buồn, tôi sợ có lẽ từ đây sẽ cách xa ngàn dặm cho nên tôi không muốn đi mau. Tôi muốn níu kéo thời gian lại để được gần Nhị thêm vài giờ, nhưng rồi tôi sợ bị trể chuyến xe. Con đường từ nhà ra bến xe cỏ may ngập lối đi, những bông cỏ may đan đầy ống quần của tôi và Nhị, mà sao nó không đan hai tôi lại luôn! 
Tôi lên chiếc xe đò trở về Saì Gòn. Nhị đứng đó nhìn tôi, vẫy tay chào. Rồi chiếc xe từ từ lăng bánh, hình bóng của Nhị xa dần, xa dần trong gió bụi. 
Hai ngày sau tôi lên một chiếc tàu Hải Quân, rời Căn Cứ Chuyễn Vận Kho 18 lúc 20h10 ngày 29 tháng Tư. 
Cũng từ buổi chiều hôm ấy tôi bôn ba bên xứ người. Gia đình và người yêu đã là xa xí. 
Mãi đến hai năm sau tôi mới nhận lá thư đầu tiên của gia đình. Và tôi mới biết ba Nhị không đi “bán muối”, ngoài ra Nhị còn một người chị nữa, nay đã về đoàn tụ, Những thắc mắc tại sao trong những ngày bom đạn má Nhị không có ở nhà, và tại sao má Nhị quyết định không cho Nhị đi với tôi, bây giờ tôi mới hiểu. Và rồi những lá thư kế tiếp, tôi biết Nhị bây giờ đã lập gia đình với một cán bộ miền Bắc. 
Vậy là không còn trông đợi gì nữa. Tôi vào trường và tìm quên lãng bên những thằng bạn “mồ côi” như tôi. 
Ðến nay đã 25 năm qua rồi, 25 năm xa nhà, xa quê hương, hôm nay tôi trở lại. Tôi muốn tìm lại dấu chân ngày xưa, những kỷ niệm thật êm đềm mà tôi gói gắm mang theo. 
Con đò Long Kiển ngày xưa đưa tôi đến chợ chồm hổm Tân Qui, và bến xe Cây Thị bây giờ vẫn còn đó, tuy có một ít nhiều thay đổi. Nhưng Nhị không còn ở ngã ba Cây Thị nữa. 
Tôi theo đoàn xe du lịch đi Ban Mê Thuộc, du lịch cao nguyên. 
Tôi đang mơ màng thì đoàn người trở lại xe sau khi ăn sáng. Những tiếng động đã đánh thức tôi dậy, tôi vừa nhìn ra cửa sổ xe thì: Mía ghimmm đây, mía ghimmm đây… rồi chiếc xe từ từ lăng bánh. 
Hơn một tiếng đồng hồ sau xe đã đến Gia kiệm. Ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo ngày nào vẫn nằm sừng sững bên mặt đường. Hai bên đường là những líp thuốc lào được phơi ngay hàng thẳng lối. Những quần xanh áo trắng kéo nhau đến trường. 
Từ đây xe chạy mãi về hướng cao nguyên, qua con sông La Ngà rồi Ðịnh Quán với ba hòn đá chồng. Xa xa lên nữa là ngã ba Bão Lộc, và rồi cuối cùng đoàn xe cũng vượt bao nhiêu đèo cao để đến Ban Mê Thuộc. Ở đây du khách đi chơi tứ phía, cởi voi, cởi ngựa, vân vân. Tôi đứng ngắm những cảnh hùng vĩ của núi đồi cao nguyên mà nhớ lại quê tôi. 
Những ngày kế tiếp tôi vào thành phố để tìm người anh, anh Ty, ngày xưa người cùng làng tôi và sau này anh lên dạy học ở đây. Cũng mấy mươi năm rồi mới gặp lại, anh nói thao thao bất tuyệt về những này sống chung ở chợ Cây Quéo, Sài Gòn. Rồi anh Ty còn cho tôi biết nữa là anh Ba, người thầy dạy sửa đồng hồ cho tôi cũng ở Ban Mê Thuộc nầy. Vậy là không hẹn mà gặp, tôi tìm đến gặp anh Ba. 
Lâu rồi ai mà không thay đổi, tôi gặp anh Ba trong ngỡ ngàng và nếu không giới thiệu có lẽ anh cũng không nhìn ra tôi. Anh Ba dẫn tôi đi thăm rừng cà phê của ảnh, và hỏi tôi rằng: 
– Chú vê đây để tìm một người phải không? 
– Tìm ai đâu, tui chỉ đi du lịch lên đây chơi, và biết anh Ty ở đây, tìm tới thăm rồi lòi ra anh đó chớ tìm ai. 
– Thiệt không? 
– Nữa, đã nói như vậy rồi mà. 
– Ðược, nếu như vậy thì ngày mai chú trở lại đây gặp tui nghe hông. 
– Cái anh nầy có cái bịnh nặng tai, sinh ra cái tật nói lớn tiếng, rồi mấy năm không gặp, lại sinh thêm cái tật ấp ấp mỡ mỡ nầy nữa. Có gì thì nói hụych tẹt mẹ nó ra đi. 
– Không, bây giờ tối rồi, ngày mai chú trở lại đi. Anh cười khúc khích, đưa hai hàm răng khểnh ra trông như cái nạo dừa. 
Ngày hôm sau tôi trở lại, anh Ba đẫn tôi đến một tiệm tạp hóa nọ. Ðến nơi anh Ba nói: 
– Ðó, cái tiệm đó có người chú muốn gặp đó. Tui sẽ đợi chú ngoài đầu ngõ kia. 
Thế rồi anh đi, bỏ một mình tôi đứng đó, đến đây rồi tôi phải vào cho biết. 
Trời nắng quá ,tôi đeo đôi kiến râm và bước vào cửa tiệm tạp hóa. Một thiếu phụ đứng tuổi đang ngồi trông nôm cửa tiệm bên trong, bên ngoài là một thiếu nữ cỡ tuổi đôi mươi. 
Mới vừa thoáng nhìn người thiếu nữ tôi giật mình và súyt la lên. Trước mắt tôi là Nhị của 25 năm về trước! Tôi không tin con mắt của tôi, Nhị không còn trẻ như vậy đâu. Nhưng sao giống qúa! Tôi hỏi người thiếu nữ: 
– Cháu tên gì? 
– Cháu tên Vân. 
Tôi bước vào bên trong mua một ít đồ dùng, đứng trước người thiếu phụ, tôi hỏi: 
– Chào cô, cô buôn bán đây lâu chưa? 
– Từ năm 75 tới giờ anh. Anh người ở đâu, hình như không phải ở vùng nầy. Anh tên gì? 
– Tui người nơi xa đến đây thăm chơi. Tên tui là Vân. Chị có quen ai tên Vân không? 
– Vân. À có. Nhưng lâu rồi không biết ảnh ở đâu. 
Người thiếu phụ nhìn tôi rồi quay qua người con gái: 
– Vân, con vô gọi ba về ăn cơm đi con. 
Ðúng rồi, đây là Nhị, giọng nói đó, khuôn mặt đó, tuy thay đổi nhiều nhưng làm sao tôi quên được! 
Nhưng buồn thay, nàng không nhìn ra tôi! 
Tôi bước ra ngoài mua năm ba viên kẹo, viết lên miếng giấy nhỏ vài lời và gọi người thiếu nữ lại. Trao cho cô tờ giấy gói một nửa viên kẹo, bảo cô trao dùm cho má cô, rồi tôi bước ra cửa tiệm. 
Một lát sau, tôi đã đi gần khuất bóng, tôi quay lại thì thấy, người thiếu phụ đứng ngóng theo. 
Người con gái hỏi: “Chú ấy nói cái gì với Má vậy?” Người thiếu phụ không trả lời mà chỉ đưa tờ giấy gói nửa viên kẹo cho người con gái: 
“25 năm về trước, ngã ba Cây Thị, hai người hôn nhau và cắn vỡ viên kẹo cho mỗi người một nửa.” 
“Tên của con là tên của người ấy.” Người thiếu phụ nói nhỏ rồi bước vào bên trong.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 14 Jan 2026

Bài 14

Bắt Đầu Từ Một Dêm Trăng

Với Quê xa. Với Trường xưa,

VÀ MỖI NGƯỜI BẠN LUÔN HIỆN MỚI.

Bạn tôi nếu mới gặp lần đầu, ta có thể nghĩ đấy là gã tay chơi, kẻ sống theo lề lối, sinh hoạt sôi nổi bề mặt. Cũng có thể đúng như thế, một phần do bạn vốn môn đồ Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, khuôn mặt sắc nét tươi vui đều đặn. Bạn cũng có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của dân học trường Tây, gia đình tài sản lớn. Nhưng, đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn … Cũng là lối đi rực rỡ huyền hoặc của tất cả nhân sinh – Đường của người yêu với cách thế, điều kiện đặc thù để diễn đạt tình yêu ấy – Nghệ thuật. Và bạn đã chọn hướng Nghệ thuật hàng đầu-Âm Nhạc-Với thanh sắc kỳ ảo của riêng. Bạn tôi là một cô gái tội nghiệp trong số những thiếu nữ hẩm hiu bất hạnh. Bạn không có nét quyến rũ, lộng lẩy dù đang lúc thanh xuân khởi sắc. Bạn chỉ là một vóc dáng nhỏ bé linh hoạt, tóc nâu nhạt và đôi mắt luôn sáng ánh ngạc nhiên … Loáng lạ lẫm của tâm hồn đơn giản trung hậu trước những điều dữ dội, đe dọa từ cuộc sống. Bạn mất cha từ tấm bé nên gia đình đã là một điều phiền muộn u uẩn. Và lớp học, nơi bạn hằng ngày nôn nao đi về, đôi khi cũng gây nên đớn đau … Tân không có quần áo mới! Tân mặc quần … cháo lòng!”. Gã bạn nhỏ cùng lớp chỉ do nghịch ngợm vô tình nói lên câu ác độc … Bạn bật khóc, lòng ghi sâu mối rúng động gớm ghê. Nỗi xót xa khi trái tim bị xúc phạm. Trong đơn độc tủi hổ của tuổi lớn lên, Bạn như con chim nhỏ giữa đám lá sũng nước. Bạn cảm thấy bị đe dọa và cần được che chở.

… Hai bạn tôi yêu nhau từ một đêm trăng.

Gã thanh niên quả tình chỉ để ý đến người thiếu nữ như một phản ứng bù trừ. Anh học trường Pháp từ tiểu học nên quen giao tiếp phóng khoáng, văn minh. Từ căn gác của gia đình, ngôi nhà lầu mặt tiền con đường lớn nhất thành phố, hằng ngày anh nhìn thấy cô bé từ xóm nhà nghèo đi ra: Xóm nhỏ phần lớn là nhà tranh quay quần quanh khu đường cát lỡ. Những lối đi cát xám, nhỏ vừa đủ hai xe đạp tránh nhau, chạy vướng vít dưới tàng cây sầu đông, vào mùa Hè thoáng hương thơm ngan ngát theo gió từ vịnh biển tản lan. Cô bé (Khi khởi đầu câu chuyện, chỉ là cô bé gái vừa qua tuổi dậy thì) đã đi từ hẻm cát ra đến gốc cây đa, tiếp tục theo một con lộ khác lớn hơn, cũng là đường đất cát mà bộ hành chỉ xử dụng hai lối nhỏ hai bên, khoảng giữa tâm đường, cát gồ lên gò, đống. Đi hết đoạn đường cát, cô mới rẽ vào phố chính trải nhựa.

Một ngày, không nhớ rõ là bao giờ … Người thanh niên thấy ra cô bé … Sao “nó” có nét mặt chịu đựng tội nghiệp đến thế. Vẻ lặng lẽ cam phận này rất dễ nhận vì cô vốn có nét sắc sáng loáng tinh anh với sống mũi cao thẳng, da trắng và ánh mắt loáng xanh linh động. Anh theo dõi bước chân của cô bé như thế từ lúc nào không rõ. Chỉ biết, Hè vừa qua, cô gái đã là một thiếu nữ hoàn hảo, nói lời tiếp xúc đầu tiên: “Thưa anh, em đã đậu trung học … Đậu kỳ vừa rồi. Đậu Bình Thứ”. Giọng nói trong trẻo, tự tin, chững chạc.

Hai bạn tôi tiếp xúc quen nhau sau ba năm nhìn thấy vào ngày Hè 1958. Mùa sống động nồng nhiệt của tuổi trẻ và đất trời. Họ thường hẹn gặp nhau nơi vịnh biển trong rừng dương liễu. Họ chọn khu rừng gần hồ nước, hướng về làng Thanh Bồ, nơi lau lách, đồng cỏ ngút ngàn, tiếp giáp rừng dương, bờ biển để thiên nhiên còn nguyên độ hoang sơ thuần nhã thích đáng, hòa hợp với tình yêu trong sáng, thắm thiết của họ. Ở đấy không bóng người, chỉ tiếng gió vi vu xao động qua tàng cây và hàng lau nghiêng ngã. Chuyến tàu hỏa chở hàng từ ga chợ Hàn trở về gióng âm thanh xa vắng, thả lên trời vệt khói đen mỏng manh chỉ làm tăng thêm độ u tịch của cảnh sắc. Đoàn xe đôi khi bị mất hút đâu đó sau ngàn lau … Ở đây yên tĩnh quá anh há. Người con trai cười nhẹ. Anh chỉ có nụ cười trẻ trung chân thật này. Biết nói thế nào bằng tiếng Việt?! Quả thật âm thanh, ngôn ngữ có một khoảng trống không vận dụng được. Chưa vận dụng được. Anh bất lực để nói lên lời cụ thể. Anh cần một “Cách Thế, Phương Tiện” diễn đạt khác, đầy đủ, chính xác và thắm thiết hơn.

Một mùa Hè, một năm đi qua. Nay lại đến mùa Hè thứ hai từ lúc thương mến. Ngày Hè năm 1959, cô gái đột

nhiên vắng mặt. Gọi là “đột nhiên” vì do phản ứng của mối liên hệ đang bình thường, đang thắm thiết, bỗng nhiên cắt đứt. Người thiếu nữ phải theo đoàn học sinh cùng trường đi cắm trại vào dịp cuối năm. Cô vắng mặt từ sáng sớm, đến chiều người thanh niên động tâm. Chiều, khoảng thời gian sau khi tan học, từ nắng sáng tiếp bóng đêm … Không hẳn thế. Thật sự chỉ là ngày hôm qua, chiều trước của buổi chiều ghê gớm này. Anh đạp xe ra vịnh biển … Đến nơi vùng lau lách quen thuộc Anh để chân trần di động trên bãi cỏ, gò cát … Đi đến chỗ mép hồ, ngồi xuống, nhặt quả thông, khối cỏ tròn, tua tủa những cọng sắc như lông nhím … Anh thả khối cỏ quay lông lốc theo triền dốc cát … Đầu ngọn cỏ nhọn sắc đâm vào tay, hơi mát đầm đầm dưới chân, tiếng rì

rào của gió khua lá, mặt nước hồ hắt khối nắng vàng khô úa … Hình như tất cả cảnh sắc đang sụp xuống tàn tạ, hấp hối; khối đất trời đang đổi thay. Đang chết. Chịu không nổi, anh trở lại thành phố. Phải đi tìm …

Phải đi tìm.

– Ông biết học trò trường Phan Châu Trinh đi cắm trại ở đâu không?

Người bạn anh, vốn huynh trưởng một đoàn Hướng Đạo tuy biết rõ tất cả địa điểm cắm trại của vùng núi đồi, thôn dã quanh thị xã, không trả lời liền. Anh ta nhìn vào nét mặt thê lương ủ dột của bạn …

– Ông làm sao thế?

-Không có gì, tôi muốn biết họ đi cắm trại ở đâu. Cần lắm. Cuối cùng, cả hai đến chân đồi Mỹ Thị lúc ngày hết và trăng đã lên. Giải đồi dương liễu loang loáng, hiện ra mới mẻ theo từng khoảng khắc dưới trăng. Thân lá óng màu sáng bạc xôn xao chuyển động, xô đẩy đùa trăng đi như liếp sóng. Ta có cảm giác như những lượn sóng bạc đẩu đâu từ ngoài trùng dương xa xôi sau khi chạm đến bờ đã tràn qua giải cát, theo trăng lên đồi, tiếp ngọn cây, xô liếp sóng lá cồn lên không gian xanh sáng … Nhưng sóng lá thông còn phải đi hết lộ trình bất tận, chuyển xuống chân đồi, phía làng nhỏ và giòng sông, khua mặt nước làm trôi những giải đường trăng thiêm thiếp tan vào bờ lau, in hình khối núi Non Nước chìm chìm im lặng. Trên sóng nước, giữa giòng trăng, từ con đò len lỏi trong lau sậy bạn tôi đưa ống sáo lên môi. Anh dung nguồn thanh âm của tre trúc thay tiếng lời. Những nội dung mà ngôn ngữ bình thường hạn hẹp không nói được. Từ trên đồi cao, mấy trăm học sinh ngồi dậy. Họ đồng im lặng nghe giữa hơi gió cuốn lá, sóng trăng miên man thanh âm chuyển động kỳ ảo – Giọng tiêu trúc ca ngợi, tỏ tình.

Người thiếu nữ bật khóc. Bóng lá thông khi gió thổi lệnh làm lộ rõ ngấn nước mắt trên má long lanh.

Và, Nguyễn Đình Nghĩa cùng Trịnh Diệu Tân đã nuôi dưỡng, vượt sống, hiện thực tình yêu hằng suốt hơn ba mươi năm … Từ đêm Hè không hề mất độ sáng và âm thanh tiếng sáo vĩnh viễn màu trăng.

Cần gì phải cậy đến điển tích, sự việc người xưa, chuyện thần thoại … Những Trương Lương, Trương Chi, Orphée để diễn đạt, biểu hiện sức mạnh kỳ diệu của tình yêu, âm nhạc. Đêm trăng mùa Hè 1959 nơi đồi Mỹ Thị đã không chỉ của riêng Nguyễn Đình Nghĩa và Trịnh Diệu Tân, mà đã là cảnh sắc, thanh âm, giòng rung động, sức sống của tất cả lớp tuổi trẻ ngày ấy. Tuổi trẻ chỉ có một lần trong đời. Mà ba mươi, bốn mươi năm sau ở chốn cuối trời, nơi xứ lạ hoặc còn trong vùng đất nước tang thương … Những người thầy tóc bạc Nguyễn Đăng Ngọc, Bùi Tấn, Trần Tấn … Những người anh, người chị, Trần Đại Tăng, Trần Đình Hoàn, Đặng Thị Liệu, Trần Thị Kim Đính … Những học trò … Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Bá Trạc, Hà Nguyên Thạch, Bùi Ngọc Tô, Lê Chí Thảo, Tôn Thất Tuấn & Hải, Võ Thị Thương, Lê Thạch Trúc, Lê Như Hảo, Nguyễn Liên Hương, Huỳnh Thị Phú, Võ Hồng Diệp …. Và rất nhiều người. Tất cả đồng một lần xanh ngắt sống lại, một lần linh động phơi phới, khi nhắc lại trường xưa, bạn cũ … Vô vàn tiếng sáo đêm Hè Mỹ Thị sáng giòng trăng. Và quả thật, một mình tôi sẽ không đủ sức đi hết đoạn đường khó nhọc từ mấy mươi năm qua nếu không được sức nâng thường trực bền bỉ, cụ thể từ bằng hữu. Tôi không thể nào sống qua những ngày trẻ tuổi trầm luân thiếu đói nơi căn gác gỗ đường Tô Hiến Thành, Huế nếu không có Trạc, có Nghĩa, có Dinh … Tôi cũng không thể nào qua khỏi mười bốn năm lính điêu linh nếu không có những Mễ, Lạc, Lô, Tâm … Đám bạn lính chia với tôi từng ngày, từng giờ bão lửa. Và cuối cùng, từng phút giây đương cự nơi ngục tối. Tôi biết sống cùng AI, nếu không với những Người Bạn. Mỗi người bạn hiện hữu rõ từng chi tiết, nét mặt, tiếng lời. Sự thiết thân mầu nhiệm này có thật. Nên từ bóng tối, cảnh chết … Tôi đã phục sinh …

Trăng giãi vàng rơi liếp sóng loang

Lau lách im lặng dưới đêm ngàn

Ngũ Hành năm cụm nằm thiêm thiếp

Thuyền chở tiêu sầu qua quá canh

………

Con đâu? Bạn đâu? Trời xưa đâu?

Đêm đã qua lâu, bóng tối sâu …

Còn chút hơi tàn hong nhịp thở

Nhớ Người ghìm tiếng thét chìm đau

Nguyễn Đình Nghĩa không chỉ vận động giòng âm hưởng từ ống trúc để bày tỏ tình yêu. Anh hiện thực, hữu hiệu hóa khối năng lực thanh âm kia thành phẩm lượng vật chất để nuôi dưỡng, duy trì, khai triển tình yêu kia trong đời sống. Anh cùng Người Yêu kết hợp từ tiếng sáo đêm trăng, bỏ Đà Nẵng vào Sài Gòn những ngày đầu thập niên 60. Cả hai vào Sài Gòn với tay trắng. Tay trắng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng- Chỉ với cây sáo Trúc và Tình Yêu. Nhưng chuyện thần tiên và chuyện cổ tích của Nghĩa -Tân được hiện thực hóa ở Sài Gòn với đại nạn chiến tranh, trong căn nhà bốn thước bề ngang, hai mươi thước dọc nơi hẻm nhỏ đường Phan Văn Trị, Nancy. Nguyễn Đình Nghĩa dựng nên thế giới thanh âm tre trúc ầm vang giòng xe luôn náo động của hai con đường lớn nhất Sài Gòn-Chợ Lớn, Trần Hưng Đạo và Cộng Hòa, hòa nhịp với tiếng gõ xe mì, xe hủ tiếu âm động của dãy thùng hứng nước từ đầu hẻm và lẽ tất nhiên, chuỗi rầm rì liên tục mệt nhọc của nhà máy đèn Chợ Quán. Trong hẻm lao động tồi tàn náo loạn đó, Nguyễn Đình Nghĩa đã hoàn thành “tác phẩm” lớn của đời mình – Nuôi dưỡng vợ và ba con từng ngày bằng tiếng sáo. Diệu Tân thành người khoa bảng và các con khôn lớn trưởng thành. Chuyện thần thoại có kết thúc rất cổ điển và trung hậu: Nguyễn Đình Nghĩa là cây sáo số một của Việt Nam, của miền Nam. “Có một thằng cha bên Tàu, và một cha nữa bên Tây … Hai cha này thổi hay hơn moi!! “ Nghĩa đã nói với tôi như thế hơn hai mươi năm trước. Tôi nhìn quanh căn nhà lổng  chổng đồ đạc tồi tàn, chiếc xe đạp treo trên tường, tấm bảng đen đầy bụi phấn, đống áo quần dơ, sô nước và Diệu Tân lấm lem khói bếp … “Ông nên “nhường” cho hai cha ấy đi … Sống thế này mà “thổi” được như ông là Thánh”. Ít khi nào lời nói đùa mang độ thật đến như thế. Nguyễn Đình Nghĩa lúc ấy, “cây sáo số một” của Việt Nam, gã Orphée tân thời chỉ một chiếc quần xà lỏn trên mình. Nóng từ mái tôn hắt xuống như đang trong lò bánh mì … Hỏi ai có thể “thổi” hay hơn bạn được. Chỉ cho tên một người khác đi, trước đây hoặc bây giờ.

30 tháng 4, 1975 sập xuống, cùng một lần với Miền Nam, Nghĩa và gia đình bị đuổi ra khỏi căn nhà hẻm Phan Văn Trị. “Sáo với tiêu, rõ nỡm, cái đống tre này chỉ đun được nồi cơm là phèo.” Gã cán bộ chỉ vào đống trúc đang chờ đục lỗ. Nghĩa và Diệu Tân trở lại miền Trung sau hai mươi lăm năm. Khác với lần di chuyển vào Nam ngày trước, chuyến đi của can đảm tuổi trẻ và lãng mạn tình yêu … Hôm nay, hai người có khối nặng của ba con và nỗi thấm nhục bị miệt thị. Hành vi của người Nghệ Sĩ bị đánh giá thành hoạt động hèn mọn chính trị suy đồi: “Chỉ có bọn Ngụy mới trả tiền để anh thổi sáo cho chúng … Cách mạng chúng tôi không cần. Nhân dân ta chỉ cần đánh Mỹ, thắng Mỹ và thi đua lao động.” Nghĩa và gia đình không về lại Đà Nẵng. Anh đưa vợ và ba con đi xa hơn … Nơi hẻo lánh, vùng núi miền Trung. Và chuyện thần thoại được thực hiện lần thứ hai. Cái khó không bó được cái khôn. Với điều kiện chúng ta phải khôn. Sự cùng khổ đôi khi không là tai họa nếu chúng ta có sức vượt qua cùng khổ. Ở miền núi, tiếp xúc với những người sắc tộc Bahnar, H’mong, Rhadé … Nghĩa dần khám phá ra khối lượng nhạc khí độc đáo, kỳ ảo của ho. Với cây đàn Trưng, nhạc khí gỗ khởi vỏn vẹn năm ống tre, đầu mắc vào cột, một người ngồi giữ giây, một người gõ. Người Bahnar (Vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy qua Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột xuống Bình Long, Nam bộ …) Chỉ vận dụng được một cung năm ngữ âm đơn giản, để dùng trong việc liên lạc, mời gọi họp bạn hoặc các buổi tế lễ như hạ trâu, cưới xin, mở cửa mả.

Năm 1978, có mặt trong buổi liên hoan âm nhạc đồng bào sắc tộc Việt Nam tại Nha Trang, Nghĩa nẩy ra ý nghĩ khi nghe đàn T’rưng cải tiến (Từ một nhạc công người Nam đem ra Bắc năm 1954) Đàn T’rưng cải tiến thành cung Mi trưởng, có đầy đủ một hợp âm bát độ. Nghĩa so sánh:” Nếu chỉ với một ống sáo nhỏ bé anh đã tạo nên hằng hà âm giai, âm sắc biến hóa kỳ ảo … Thì huống gì đây những năm ống tre, cũng từ tre, trúc mà ra thôi”. Anh gọt không phải hằng chục, hằng trăm, hàng ngàn, mà hằng chục ngàn ống tre … Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu – Để buồng hơi (chambre à air) tạo nên âm thanh tuyệt đối thuần túy – Một cung cộng hưởng tối đa. Căn nhà của anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày với từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một … Năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 26 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra, Nghĩa phải cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một “gam vồ tình” cũng có thể gọi là “gam mềm” sau khi gắn vào thêm hai ống. Chiếc đàn 29 ống hoàn chỉnh. Bộ trưởng Văn Hóa (Cộng Sản) Lưu Hữu Phước không thể nào vùi lấp sáng kiến và tài năng của Nghĩa, cũng một phần, đây là điều đáng hãnh diện của người Miền Nam sau khi Hà Nội sáng chế nên cây gõ hai đầu; cây gõ nguyên thủy chỉ một đầu.

Nguyễn Đình Nghĩa được chính phủ Cộng Sản – Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp nhận.

– Phải chấp nhận – Người nghệ sĩ Miền Nam này là một tài năng đích thực. Tài sản lớn của tất cả Việt Nam.

Thái độ này là một biểu hiện điển hình của thú nhận:

Sau mấy mươi năm chỉ huy miền Bắc, những người lãnh đạo cộng sản đã thành hình được một khối lượng lớn (rất lớn) văn hóa phẩm gồm những bài hát chỉ được hát một lần ở đài phát thanh; những toàn tập chỉ được mua bởi cơ quan chính phủ; những tranh, tượng dùng để trang trí ở các phòng họp, hội trường nhà nước … Họ cũng dần hiểu rõ “mặc cảm” cần được tiêu trừ (Như một cấp lãnh đạo miền Bắc đã nói cùng cố học giả Nguyễn Hiến Lê:

“Miền Nam nên từ bỏ “mặc cảm tự ti” vì lạc hậu, phản động (do thua trận) và miền Bắc cần từ bỏ “mặc cảm tự tôn (do đã thắng trận”). Thật ra, chính là cái “mặc cảm”, đám tổng lý sau khi ăn bạc và cơn say bữa rượu thịt chó của chính họ. Quả tình tôi rất thấm hiểu “cơn trả thù của người nghệ sĩ” khi nhìn thấy hàng hàng cán bộ lãnh đạo, viên chức nhà nước, những văn nghệ sĩ “cấp cao” cộng sản nối đuôi nhau vào xem và tranh mua những họa phẩm của “bọn họa sĩ Ngụy”: Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Đằng Giao, Phạm Cung, Nguyễn Hải Chí (Chóe). Tranh của cụ Nguyễn Gia Trí đã là một “Tài sản Quốc gia”. Tranh và những họa sĩ đã bị khinh miệt vất bỏ từ buổi sáng ngày 30 tháng 4, 1975.

Nguyễn Đình Nghĩa là một “”trả thù” xứng đáng nhất. Nhân tiện đây, tôi có ý nghĩ, đồng bào hải ngoại chớ nên gay gắt cùng với những văn, nghệ sĩ hiện còn ở Việt Nam nếu như họ có phần “cộng tác” cùng chế độ, chính quyền cộng sản ở đấy. Tại sao ta không chia phần “hãnh diện” vì người Việt Nam (Người ở miền Bắc, Hà Nội lại là đa số) chỉ tìm đọc Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Thụy Long, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng … và cả đến Bà Tùng Long, cụ Hồ Biểu Chánh. Họ hát “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” của Phạm Duy, bài “Hát Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” của Trịnh Công Sơn và “Người Ở Lại Charlie” của Nhật Trường từ phòng giam trại 5 Lam Sơn, Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Trại Hà Nam Ninh … Người miền Nam có hề “thua” đâu. Thấy như thế. Nghĩ như thế.

Nhưng chuyện thần kỳ của Nguyễn Đình Nghĩa không ừng lại ở đấy, ở Việt Nam. Anh đến Canada năm 1984; tháng Giêng 1987 nhân dịp Tết Việt Nam, anh xuất hiện ở phòng hòa tấu Đại học Toronto và liên tục trình diễn qua các cơ sở văn hóa, giáo dục vùng Đông Bắc nước Mỹ. Anh không đứng trên sân khấu một mình. Sau lưng và hai bên anh bây giờ đã có toàn thể khối lực hỗ trợ … Những Đoan Trang, Nam Phương, Nguyễn Đình Nghị và tiếp theo, Nguyễn Đình Hòa và Chiến.

Đây không còn là những đứa bé trèo lên vai, bám lên cổ anh ở hai mươi năm trước, mà đã là người thiếu nữ Việt Nam làm sống động âm thanh khắc khoải

gờn gợn của Độc Huyền (Nam Phương); người dựng lại khối âm thanh rực rỡ của Thập Lục (Đoan Trang) và những cây guitar điện với Nghị, Hòa, Chiến … Tất cả đã hòa nhịp cùng chiếc đàn đồ sộ 29 ống của Nghĩa hiện thực nên điều – Âm nhạc, nhạc khí cổ truyền Dân Tộc Việt Nam là một thế giới kỳ diệu do từ nội dung sâu lắng, phong cách, kỹ thuật trình diễn điêu luyện tế vi. Buổi trình diễn ngày 2/6/1994, tại thính đường Carnegie Đại học Kỹ Thuật New York là một xác chứng về câu chuyện có vẻ không thực của một gia đình tên

gọi Nguyễn Đình Nghĩa. Vì sau gần trăm năm thành lập, phòng hòa âm ấy chỉ dành riêng để các bậc thầy trình diễn về các bậc thầy … Những Beethoven, Mozart, Wagner … Nhưng nguồn sống động làm phấn khởi, thúc dục tôi viết nên bài này không phải là giải thưởng của Thống Đốc Tiểu bang Maryland về “Nghệ Sĩ Độc Tấu Xuất Sắc” năm 1994 mà Nghĩa vừa nhận được hôm 12/6 tại Baltimore. Có một điều gì cao quý và sâu xa hơn. Đấy là dự định mà tôi tin chắc Nghĩa sẽ thực hiện được – Làm sống lại Beethoven, Tchaikovsky, Debussy … Bằng lửa. Với lửa – Nghĩa là Nghĩa sẽ tái cấu trúc, hoàn chỉnh lại cây “Đàn Lửa” của người Vân Kiều (Vùng núi Bạch Mã, Cầu Hai, Thừa Thiên) Một loại đàn đã bị thất truyền và không người có khả năng khôi phục. Lửa sẽ được đốt lên (tất nhiên từ một hệ thống lò ga thay vì lửa trại, lửa rừng) chuyền hơi nóng qua những ống tre lớn, do Nghĩa đã nắm được cấu trúc từng tế bào tre, trúc …)

Và những hợp tấu khúc lớn của các bậc thầy sẽ được dựng nên, bừng dậy như ánh lửa chập chùng hằng cháy sáng từ ngày khai sinh sự sống trần gian. Nhưng cuối cùng, cũng không hẳn như thế. Chẳng phải vì tài hoa đặc dị của bạn mà tôi viết nên lời. Tôi cảm động vì một điều đơn giản. Về một điều rất đơn giản, tầm thường.

… Ngày xưa, buổi rất lâu của hơn bốn mươi năm trước, những ngày của thời gian trước 1954. Tôi lúc ấy là đứa trẻ nhà nghèo thường hay nhặt những hạt, hột không tên, vô vị nào đó để lót lòng vào buổi, giờ xa bữa ăn vốn quá thiếu thốn … Hạt cây quăn vị ngọt nhầy nhầy mủ trắng, hạt trái mâm xôi xám trắng trong trong. Và trong những lúc lẫn quẩn nơi bụi hoang, bãi cỏ để tìm kiếm loại “lương thực” tội nghiệp kia, giữa tiếng lá kiền kiền khô cuốn trong cỏ tranh, trên mặt đường đất đá lồi lõm vùng ngoại ô Đà Nẵng … Giữa tịch mịch của thanh âm nắng, gió, lá, cỏ kia tôi nghe vọng tiếng chim …

Tít … tít .. tít … tịt … t .. tịt .. tịt … Chim kêu tắt tắt, chậm chậm và lịm dần. Tôi không biết tên chim nhưng nghĩ … Chim chắc cũng đang chịu phần tội nghiệp hẩm hiu ...Cũng chưa thấy đáng chim lần nào. Năm 1993, nơi vườn Lái Thiêu, giữa khoảng xanh dầy của tàn măng cụt, tôi trải chiếc chiếu ngủ dật dờ trên đám lá, nắng cuối năm vàng khô lạnh lạnh. Chẳng khá hơn tình cảnh của đứa bé bốn mươi năm trước, và nghe lại tiếng chim

.. Tít … tít .. tịt .. tịt .. tịt … Chim gì kêu buồn quá ông ơi!!

Chịu không nổi. Tôi phải nói lên cùng Út Năng, ông bạn già chủ vườn tôi ở,

– Thì chim “mồ côi” mà cha …

– Mồ côi? Ai mồ côi?!!

– Ông không nghe ra à … père … mère … frère … tout est perdue … Mất hết trơn như vậy làm sao không kêu ..

– Ờ … há … vậy là con chim giống tôi … Hèn gì hồi nhỏ tôi đã nằm lặng ra mà nghe.

Và tôi đã nghĩ có mấy ai trong đời phải mất hết trơn đến tội như thế. Và có ai trong đời hằng phải nhớ đến một tiếng chim. Nhưng không, trong những bài nhạc do Nghĩa soạn cho sáo, đàn có nhiều bài về chim … Bài Phụng Vũ, bài Chim Loan … Và bài Chim Boong Klé. Boong Klé là chim gì? Tôi hỏi bạn.

– Chim “mồ côi” đó mà … Ở Đà Nẵng thuở nhỏ toa có nghe lần nào không …

Vâng, Nghĩa và Tân ạ … Tôi đã nghe tiếng chim ấy và tôi cũng đã đôi lần kêu với nó. Thật ra rất nhiều lần. Vẫn đang kêu cùng chím.

Quê hương tôi có loài chim mồ côi

Mẹ chết, mết cha, anh em phiêu tán

Lắng âm tiếng hiểu dần nên nguồn cội

Chim và người cùng thấm khổ ĐAU thôi.

Tháng Lúa chín … Mùa Chim mồ côi.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 14 Jan 2026

Vun Xới Thửa Vườn Văn Nghệ Y Khoa

HANS KILLIAN

DƯỚI MẮT THƯỢNG ĐẾ

(HINTER UNS STEHT NUR DER HERRGOTT)

Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Đức và Nghiêm Sỹ Tuấn

Bài 14

VĂN SỢI NGƯỜI PHỤ-TÙNG

Thật cũng có phần đúng khi người ta nói các thẩm phán,  luật sư và các y sĩ giải phẫu thường đứng trước cùng mộttình trạng lưỡng nan. Họ đã phần nào quyết định tính mệnh của đồng loại, nhưng sau đó, họ không bao giờ gặp lại bị can hay bệnh nhân. Thật rất hiếm khi họ được biết tin tức của những người mà số mệnh trong khoảng một, hai giờ, đã được phó thác trong tay họ. Và còn hiếm hơn nữa, những khi việc đời cứ kết thúc vui vẻ như trong truyện thần tiên như trường hợp bác phụ tá kế-toán Trần-Văn-Sợi.

*

Có lẽ chưa bao giờ tôi gặp một người “xám” như Trần Văn Sợi. Chưa đầy ba mươi tuổi mà tóc hắn đã chớm ngả xám màu muối tiêu. Áo tây xám, cà-vạt xám, sơ-mi xám, rồi giày xám, bí-tất xám, và đến nỗi dây đồng hồ trông cũng xám nốt. Hắn đến bệnh viện những mong trút hết mọi điều khổ não chất nặng trong lòng. Dáng người nhỏ thó, Văn-Sợi còn cố thu người lại như muốn mình phải nhỏ hơn nữa. Vừa vào là hắn bắt đầu kể ngay những chuỗi ngày thống khổ:

– Bẩm, thưa bác sĩ, bác sĩ hiểu cho, cháu chẳng bao giờ gặp may trên cõi đời này cả. Cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”. Đã thế, cháu lại mắc một thứ “bệnh phụ tùng” nữa; khổ lắm, bác-sĩ ạ, khổ lắm!

Tôi cố ngắt lời hắn để xem “bệnh phụ tùng” là bệnh gì, nhưng hình như hắn chẳng để ý đến và cứ tiếp-tục kể khổ.

– Bẩm, nói vô phép khi cháu đi đại tiện, ở hậu môn cứ có những cục phồng phồng nổi lên. Bẩm ra cả máu nữa ạ, mà cũng nhức nhối lắm ạ. Cháu không bao giờ có đủ can đảm đi bác sĩ khám bệnh – cháu bao giờ cũng sợ – ngay cả bây giờ, xin bác sĩ đại xá cho, cháu sợ cả bác sĩ nữa. Bẩm, cháu có đến bà mụ trong xóm, dạ … bà ấy đã xem những cục này rồi ạ … Bẩm, cháu ngượng lắm, ngượng vì phải để bà ấy xem nhưng cháu cứ bụng bảo dạ: người ta là bà mụ, người ta xem chán đi rồi. Khám xong, bà ấy bảo cháu:

“Này, ông Sợi này” – vâng chính thế, bà ấy gọi cháu bằng “ông”  bẩm, ông vì … bác sĩ hiểu cho cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”, bà ấy bảo cháu: “Ông Sợi ạ, ông bị trĩ hạ đấy”. Rồi bà ấy cho cháu hai thứ thuốc – trong uống, ngoài xoa, bà ấy bảo thế – vâng, một thứ để uống, một để nhét vào … đằng sau! Chắc bác sĩ biết thừa rồi chứ ạ? Nhưng bẩm cũng chẳng ăn thua gì cả, vì cháu không thích dùng, nó lỉnh kỉnh lắm. Chấu cứ bụng bảo dạ: cẩn thận đấy, kẻo lợn lành chữa thành lợn què rồi tiền mất tật mang thì khốn!

Dạ, cũng vì thế mà bây giờ cháu vẫn bị trĩ, và cái “của nợ” này cứ chảy máu hoài. Bây giờ, vâng, bây giờ cháu mới tự nhủ chẳng lẽ cứ để mãi như thế ru? Có người đi đứt vì đau phổi thì chắc cháu cũng đến đi đứt vì mấy “cái ấy” mất thôi. Chỉ nhìn qua cái hậu môn của Văn-Sợi tôi cũng thấy là bà mụ nói đúng những cục “của nợ” trông thật “ớn” quá.

– Chắc chắn là trĩ hạ rồi, bác ạ. Phải lấy nó đi, nghĩa là phải mổ. Trĩ để lâu ngày quá, chỉ có mổ mới khỏi thôi.

Văn Sợi giật nẩy mình kinh hoảng:

– Bẩm, bác sĩ nói thật đấy ạ? Bẩm, không thể được, mà mổ làm sao được chứ! Bác sĩ cứ nhìn cháu, cháu gầy ốm thế này chỉ còn có “nửa người” thôi … một “người phụ tùng” mà!

Vốn còm cõi, nhỏ thó, cháu đã yếu sẵn mà bây giờ lại còn yếu hơn nữa là khác. Bẩm bác sĩ cứ tin cháu đi, mổ thì cháu chết mất, chỉ có đánh thuốc mê không cũng đi đời nhà ma rồi còn gì. Vâng, thật thế, bẩm, bác sĩ đừng mổ cháu. Cứ cho cháu mấy thứ thuốc như của bà mụ cũng được ạ, bác sĩ hiểu cho cháu không còn mặt mũi nào lại nhà bà ấy nữa. Hay bác sĩ làm ơn làm phúc liệu xem còn có cách khác không? Cháu cắn răng cắn cỏ lạy bác sĩ đừng mổ cháu, tội nghiệp!

Tôi phải cố gắng lắm mới nhịn được cười. Tôi nghiêm giọng nói:

_Bệnh này phải mổ, bắt buộc phải mổ. Nếu tôi để bác mãi như thế này, bác sẽ mất rất nhiều máu, rồi người yếu dần đi, nó lử đi, rồi bác kiệt sức mà chết. Muốn khỏi “của nợ” này chỉ có một cách là mổ!

Văn Sợi bàng hoàng ngả người xuống ghế. Nghĩ đến những viễn tưởng đen tối, hắn lầm bầm nói những lời khó hiểu. Muốn hắn khỏi nghĩ ngợi lung tung, tôi hỏi:

_Nhưng nay, sao lại “người phụ tùng”? “Người phụ tùng” là sao chứ?

Đôi mắt hắn lóe lên một tia hãnh diện, nhưng cũng đượm vẻ buồn:

– Bẩm, cháu đã sáng tác ra ba chữ ấy: “người phụ tùng” là một tên tầm thường, không quan trọng gì cả, một tên vô tích sự chẳng ai thèm để ý tới, -Bẩm, cháu muốn nói là chẳng có những chân quan trọng nào, những người mặt to tai lớn, bụng bệ vệ, vẻ đài các nào để ý tới. Bẩm bác sĩ, cháu làm chân phụ tá kế toán trong một hang lớn; cháu chuyên kê danh sách về lương bổng. Từ sáng đến chiều, cháu chỉ viết có chữ số, thành hàng thành lối, rồi cứ đến cuối trang là cháu cộng lại. Công việc không khó lắm, nên cháu làm được. Nhưng phiền một nỗi là công việc dễ quá, nên đồng lương ít ỏi lắm, chỉ đủ vắt mũi đút miệng thôi ạ. Mà cháu lại không biết việc gì khác, nên cả đời cháu chỉ là một anh ký quèn ngồi cạo giấy, cộng cộng trừ trừ cho đến già. Dạ, ông sếp cháu có khi cũng quên cả tên cháu. Cả tháng, ông ấy chỉ nói với cháu chừng một vài lần, mà lại gọi cháu là “bác Thừng” hay “bác Chão”. Bẩm bác sĩ, đối với ông ấy, cháu chỉ là một thứ người phụ tùng, ông ấy nhớ tên cháu làm gì cho mệt đến thân.

Văn-Sợi ngừng lại để thở dài, mặt buồn thiu.

Tôi an ủi:

– Việc gì mà bác phải để tâm đến điều nhỏ mọn ấy. Ông chủ sự nào mà chả như vua con.

Ông chủ sự của bác chắc cứ tưởng mình là Nã-phá-luân chứ gì? Tôi chắc thế nào các bạn bác …

– Dạ, không? Bác sĩ không biết, chứ họ cũng thế cả. Đối với họ, cháu cũng chỉ là một người phụ tùng. Họ sống cuộc đời khác hẳn cháu. Họ có vespa, máy ảnh, họ có bồ có bịch; chủ nhật ngày lễ, anh chị dẫn nhau đi xem xi-nê; có người lại thích đi coi tuồng cải lương. Còn cháu, tối cắp ô về chiếc nhà tôn nóng như lửa đốt,

bác sĩ biết cháu làm gì không? Bẩm, cháu chui vào giường, ngủ như chết … Có một lần, mùa hè năm ngoái, cháu cũng muốn làm như bọn họ. Chủ nhật hôm ấy, cháu đi xe đò về miền quê chơi. Bẩm, cũng kỳ lắm – đi thui thủi có một mình, trong khi thiên hạ, kẻ cặp kè bồ bịch, kẻ sum họp gia đình, có vợ có con. Dạ, cháu buồn, cháu tủi lắm! Rồi lúc trở về, xe đò trật bánh, vâng, họ lái ẩu lắm ạ! Một ông to lớn như hộ pháp ngã đè lên cháu, dẫm bẹp cả mấy ngón chân cháu. Bác sĩ thấy không: cái số cháu là “người phụ  ùng” nó thế đấy! Bây giờ lại bị trĩ nữa. Thật đã buồn về trận mưa  rào, lại đau về nỗi ào ào gió thu. Bác sĩ có thấy rõ cháu là “người phụ  tùng” không?

-Không, bác cứ tưởng tượng thế đấy chứ! Trĩ hạ là bệnh thường, nhẹ thôi. Nhưng vì bác để lâu quá nên nó mới to đến thế đấy! Không thể tránh được, phải mồ bác ạ!

Tôi phải nhấn mạnh cho hắn nghe, bao nhiêu nỗi cực khổ đau đớn đang chờ hắn, nếu hắn cứ khăng khăng giữ mãi thứ “của nợ” này. Tôi còn giải thích cho hắn rằng mổ không có gì nguy hiểm cả. Rồi tôi bảo hắn: “Chí nam nhi ta có ngại gì!” Dần dần, nỗi lo âu tan như mây khói. Nửa giờ sau, tôi cho đưa hắn ra văn phòng làm thủ tục nhập viện.

Thế là Văn Sợi đã nằm trong khu của tôi, chờ ngày mổ. Rầu rĩ nhưng hắn an phận chờ đợi giây phút “khủng khiếp” của cuộc giải phẫu, định sẽ làm hai ngày sau. Ngày hôm ấy, khoảng mười một giờ sáng, trong phòng rửa tay cạnh phòng mồ, toán chúng tôi đang sửa soạn để giải phẫu tiếp. Tiết đại thử, trời oi bức như miền nhiệt đới. Thời gian đi chậm chạp đến sốt ruột. Chân tay rã rời; mồ hôi nhễ nhại làm những tấm tablier cao su dày dính cả vào da thịt. Đến cồn rửa tay, mọi khi mát rượi mà hôm nay cũng nóng như nước hâm.

Phòng mồ, xây nhô ra khỏi các phòng khác, lồng toàn kính. Các kiến trúc sư đã khôn ngoan đoán trước là đến tiết giữa hạ, ánh sáng mặt trời tụ trên lồng kính này, sẽ nóng như thiêu như đốt, nên đã đặt một hệ thống tưới nước chảy đều trên mái. Nhưng hệ thống tân kỳ này có một khuyết điểm lớn, là chưa bao giờ được áp dụng, thành thử chiếc lồng bằng kính này hóa ra một lò lửa. Không khí nóng bức, sặc mùi ê-te làm ta tưởng như phòng tắm hơi. Mát-tít dán cửa mềm đến nỗi chảy cả xuống gạch hoa, kết thành từng vùng nhỏ; đi ủng cao su dẫm phải, dính nhơm-nhớp. Dù phải làm việc trong những điều kiện tồi tệ này, chúng tôi đã mồ gần hết những trường hợp phải hoàn tất nội trong buổi sáng. Chỉ còn cuộc giải phẫu thứ bảy và cũng là cuối cùng – mổ trĩ hạ cho Trần-Văn-Sợi. Bệnh nhân đã được tắm mát, được sửa soạn đầy đủ, và đang nằm trên bàn mồ. Bỏ hết quần áo đi, trông hắn lại càng thêm gầy ốm – đúng là chỉ còn có “nửa người” như hắn đã tự ví.

Bệnh nhân yên lặng, hai mắt nhắm nghiền, hoàn toàn chịu đựng, phó thác thân phận cho số mệnh. Một anh phụ tá bắt đầu chụp thuốc mê. Tôi ngạc nhiên thấy Văn-Sợi rất bình thản; chắc hẳn đã quyết định sẽ tỏ ra biết điều. Từ nãy đến giờ, qua cửa sổ phòng rửa tay, tôi vẫn quan sát hắn. Tôi hỏi anh bạn đồng nghiệp:

– Thế nào, hắn ra sao?

– Ngủ rồi, ông bạn ngoan lắm!

Anh kết luận hơi vội vã. Có lẽ Văn Sợi chỉ chờ khi nghe những câu này là khởi sự. Hắn vùng mạnh, giãy giụa, làm bật tung cái đai da thắt ngang bụng; hắn giật mạnh hai tay bị buộc vào bàn, rồi nhảy xuống đất. Tinh ranh như cáo, hắn đã đánh lừa chúng tôi: đáng lẽ phải hít thật mạnh, hắn chỉ hít có ít khí mê thôi. Giờ đây, hắn đứng sừng sững, trần như nhộng, giữa một đám các cô y tá hốt hoảng. Tôi suýt bật cười khi thấy hắn, theo bản năng, làm dáng điệu của Vệ nữ đảo Milo: hai tay ngây thơ xòe ra che cái mà một người có giáo dục không bao giờ được để lộ ra. Bỗng hắn hét lớn:

– Không … Tôi không chịu mồ … Tôi không chịu mồ nữa đâu!

Anh chuyên viên thuốc mê, nắm lấy cánh tay hắn, cố thuyết phục, nhưng những lý lẽ nêu ra, dù hùng hồn đến đâu, cũng bằng thừa. Văn-Sợi không thèm nghe nữa, cứ gân cổ mà hét, càng hét giọng càng the thé:

– Tôi không chịu mổ đâu !… Không! Tôi không chịu mổ mà!

Khi tôi đến gần, Văn-Sợi nín bặt. Trong khoảnh khắc, hắn nhìn tôi, mặt đượm vẻ kinh hoàng, làm như tôi là một quái vật hay quỷ dạ-xoa đang đứng trước mặt hắn. Bỗng nhiên, nhanh như cắt, hắn đẩy anh chuyên viên thuốc mê ra, quay gót, phá vòng vây của các cô y-tá, chạy thục mạng ra cửa phòng; rồi sau đó mất dạng.

Đúng lúc ấy, trong hành lang, ông Y sĩ trưởng – tục danh là “giáo sư Charlot” đang đi tới, bên cạnh có cô thư-ký riêng tóc vàng, thân hình nẩy lửa. Ông thất kinh, há hốc mồm khi thấy một người vọt ra, ba chân bốn cẳng chạy trước, đằng sau rầm rộ cả một đoàn y-sĩ và y-tá giải phẫu đuổi theo. Giây phút kinh ngạc đã qua, ông lấy lại bình tĩnh ngay. Ông gắt cô thư ký là sao lại đứng đấy như trời trồng, rồi oang oang truyền lệnh đặt bệnh viện trong tình trạng giới nghiêm. Cô thư ký, mặt đỏ bừng, chạy vào văn phòng, gọi điện thoại báo cho tất cả các khu trong bệnh viện. Nhà thương bây giờ giống như một ổ kiến bị kẻ thù xâm nhập. Từ từng dưới đến từng thứ bốn, phòng nào cũng huyên náo ồn ào. Các bệnh nhân chẳng hiểu ất giáp gì, bắt đầu hoảng hốt. Có người tưởng nhà thương bị cháy, tuột khỏi giường tay còn quấn băng, bó bột, mà cũng lê đến tận cửa sồ, kêu cứu ầm ĩ. Ngoài đường, khách thấy bệnh viện huyên náo, tụ tập lại bàn tán: có kẻ lại đổ xô cả đến cồng chính. Thấy thế ông gác-dan nắm tay đập vỡ kính đèn hiệu và ấn nút điện thoại tự động đến sở cứu hỏa. Trong khi ấy, chúng tôi vẫn đuổi theo Văn-Sợi, biệt danh “người phụ tùng”. Hắn chạy bổ đến hành lang bên trái dẫn đến phòng phụ nữ C2. Chợt thấy một cánh cửa, hắn dừng lại, mở ra, nhảy vọt lên một cầu thang phụ. Hắn láu cá đáo để: bắt chước chiến thuật của những chú thỏ rừng, cứ thấy chỗ nào rẽ được là xông vào, theo kiểu chạy chữ chi. Nhưng chúng tôi đã thoáng thấy hắn chạy qua cửa đó, nên chúng tôi bén gót.

Dần dần, viện binh của chúng tôi đến đông thêm: những anh phụ tá, những người đến thăm bệnh, và cả vài bệnh nhân nữa. Trong đám bệnh nhân, có một ông cựu thượng sĩ. Thấy đuổi bắt, máu nhà binh của ông lại hăng say nổi dậy. Bao vây địch! Ông quản rành lắm mà! Đặt bản doanh ở một chỗ hiểm yếu, ông quản, rõ ra dáng chỉ huy, ra lệnh cho người này, cắt đặt cho người kia; thành thử đã rối loạn lại càng rối loạn thêm.

Văn-Sợi đã đến từng thứ bốn; hắn lẻn vào lối đi đến phòng chờ của bệnh nhân. Hắn lao mình đẩy hai cánh cửa, bổ nhào vào một chiếc xe lăn đựng đồ băng bó, làm đổ tứ tung nào lọ, nào bình, nào bông, gạc, nào kéo, kẹp … nhưng “ông nhộng” đã lóp ngóp bò dậy mà tiếp tục chạy. Cách đây mấy thước, bà sơ bề trên cố cản đường Văn-Sợi. Thấy danh dự bệnh viện tổn thương, bà can đảm xông tới dang tay chặn hắn lại. Nhưng cuối cùng, bà mất tinh thần, lại để hắn lách mình chạy thoát. Hắn lại rẽ nữa, nhưng hành lang này là ngõ cụt. Bấy giờ tiến thoái lưỡng nan hắn đành nhào vào một căn phòng nhỏ và đóng sầm cửa lại. Chúng tôi đến chỉ vừa đủ để nghe hắn vặn tách ổ khóa lại.

“Ông nhộng” đang ở trong nhà cầu dãy C6!”

Tin ấy loan đi, nhanh như lửa bắt mồi thuốc súng. Từ tứ phía, đổ xô lại: y sĩ, y tá, y công, các cô đầu bếp, rồi bệnh nhân, đến nỗi khoảng hành lang trước nơi “ẩn dật” này giống khung cảnh một nơi hội họp. Phen này thì anh bạn cợt nhả kỳ cục có chạy đằng giời – anh bạn hết phá trật tự trong cái nhà thương bình yên này nữa nhé! Nhưng chẳng lẽ cứ đứng canh gác pháo đài này mãi sao! Bà sơ Alice, tướng người phốp pháp, trông coi dãy này, bảo chúng tôi hãy im lặng để bà thương thuyết đình chiến qua cánh cửa. – Nào, ông Sợi ơi! Phải biết điều một tí chứ? Có ai làm gì ông đâu mà sợ, đừng sợ mà … mở khóa ra đi … mở khóa đi ông!

Văn Sợi không trả lời. Bà sơ Alice giơ hai tay tỏ dấu “xin chịu”, nhường chỗ cho bà y tá ở khu giải phẫu của tôi, bà có tiếng là lúc nào cũng trầm nghị và bình tĩnh.

– Thế nào, ông Sợi, ông định ở lỳ đến bao giờ đây? Suốt đời hả? Đừng làm thế! Kỳ lắm! Vả lại, ông thầy không bắt mổ nữa đâu. Có gì mà sợ chứ!

Vẫn không có tiếng trả lời. Trái lại, có tiếng xì xầm trong khán giả. “Giáo sư Charlot” vừa thở hổn hển vừa bước tới, có vẻ muốn đem quyền hành mình ra giải quyết phải trái. Ông hét lớn, sau khi đấm vào cửa một cái rầm:

– Có mở cửa ra không nào? Sao ông lại giở chứng ra thế này? Chắc ông tưởng thế là hay lắm hả? Tôi ra lệnh cho ông mở cửa ngay tức khắc, ông có nghe rõ không? Tôi cảnh cáo ông trước: tôi sẽ gọi Cảnh sát, rồi ông sẽ biết, lúc ấy đừng có trách nhé!

Lần này, Văn-Sợi không im lìm nữa. Hắn lên tiếng, nhưng không chiều theo ý của “giáo sư Charlot”:

– Tôi chẳng biết, chẳng biết gì hết. Nếu tôi không muốn mổ, các ông không thể đem tôi ra mổ được. Tôi có ưng chịu, các ông mới được mổ, có phải không đã? Vậy thì còn lâu tôi mới ưng! Còn mở cửa này à? Tôi đâu có đến nỗi ngu ngốc thế! Tôi sẽ không rời khỏi nơi đây; chờ các ông đi rồi, tôi mới chuồn lẹ chứ!

“Giáo-sư Charlot” giơ hai tay lên trời, quay lại gắt với tôi:

– Anh phải tính sao đi chứ! Làm sao thì làm, bệnh nhân này của anh mà.

Đến lượt tôi cũng thử thương thuyết, nhưng vì nể ông y-sĩ trưởng hơn là tin chắc thành công. Tôi cố lấy giọng thuyết phục:

– Bác Sợi ạ! Bác nghe tôi một tí. Bác cũng nhận là cái trò này chẳng đi đến đâu cả. Thật tình, tôi không tin là bác lại có thể làm những điều như vậy. Vì hôm kia đây, chúng ta vừa hàn huyên trang nhã, mà hôm nay bác đã làm loạn cả nhà thương lên. Đừng trẻ con nữa; ra đi, căn phòng này đâu có đủ tiện nghi. Ra đi, về giường mà nằm. Chắc bác đang mệt, tôi không mồ hôm nay đâu. Tôi hứa với bác, bác cứ tin tôi.

Văn-Sợi cất tiếng, giọng cương quyết:

– Bác sĩ đừng nhọc công vô-ích! Đúng, chúng ta đã nói chuyện với nhau thân mật vui vẻ; nhưng tôi đã nói với bác sĩ rồi mà: ngay đến cả bác sĩ tôi cũng sợ mà! Không, bác sĩ ạ, tôi … cháu chỉ ở đây một lát thôi. Căn phòng không đến nỗi tệ lắm đâu!

Làm sao bây giờ? Chỉ còn một giải-pháp: gọi ông thợ khóa. Ông này, miệng cười hô hố, tay xách đồ lề, khật khưỡng đi đến và chưa đầy một phút, khóa cửa đã bật tung. Mọi người nghển cổ nhìn. Cánh cửa vừa mở, một tràng cười rộ lên trong cử tọa: Văn-Sợi, trong y phục của ông A-đam ngồi trên nắp cái chậu xí, hai cẳng

bó sát trước bụng. Hắn run rẩy như một chiếc lá, vừa sợ vừa thẹn. Mọi người xô lại nói với hắn, kẻ mai mỉa, kẻ vỗ về an ủi. Nhưng biết mình trần như nhộng, Văn-Sợi không chịu đứng dậy. Bấy giờ, một bà nhà bếp to lớn, mạnh mẽ cả tinh thần lẫn thể xác, vội cởi cái tablier ra, quấn vào bụng hắn. Như vậy, Văn-Sợi che được phía trước người; còn phía sau dĩ nhiên cũng cần được che kín, nhưng trong lúc bối rối, hắn chưa kịp nghĩ đến chi tiết này. Chúng tôi vây quanh hắn, giáo sư Charlot bên trái, tôi bên phải, những người khác đi sau như một đám rước. Khi đoàn quân chiến thắng dẫn độ hắn về, xuống từng dưới, vừa bước vào hành lang có cửa sổ trông ra đường, tiếng ồn ào bỗng nổi lên làm chúng tôi giật nẩy mình: tiếng động cơ rồ lớn, nhịp với tiếng còi hú liên hồi. Tôi ghé nhìn qua cửa sổ, không giữ nổi tiếng kêu: “Lính cứu hỏa!” Chiếc thang lớn vừa lọt cửa nhà thương, rẽ về bên phải rồi dừng lại trước tòa nhà của chúng tôi, tiếng phanh kít, rồi bánh xe làm vung vãi cả đá sỏi lót lối đi. Những ông lính vòi rồng, đội mũ đồng bóng loáng, nhảy xuống đất, trải các ống nước ra rồi chạy ồ vào nhà. Hơi hoảng, tôi quay lại phía tù nhân của chúng tôi. Giáo sư Charlot, mặt tái đi vì tức giận, nắm lấy hai vai Văn-Sợi lắc lấy lắc để như người ta rung cây cho quả rụng xuống.

– Thật không thể tưởng tượng được! Thật là bêu riếu cho cái bệnh viện này! Ngày mai, cả tỉnh sẽ bàn tán, chê cười! Chắc ông cứ tưởng ông thông minh lắm đấy, nhưng ông quá quắt lắm, quá lắm!

Mấy ông lính cứu hỏa đã chạy lên cầu thang, dẫn đầu là ông đội trưởng cao lớn trượng phu, nhảy bốn bực một lúc. Khi thấy chúng tôi ông hỏi lớn:

– Đâu? Cháy ở đâu?

Giáo sư Charlot giơ ngón tay trỏ tố cáo Văn-Sợi:

– Đây, ông này đây, vì ông này mà nên cơ sự. Ông ta chạy cùng hết trong bộ y phục khiếm nhã này, làm náo loạn cả bệnh viện lên.

Văn-Sợi thực đang ở một tình trạng khó xử. Rõ ràng là hắn chỉ muốn độn thổ cho xong.

Tôi khẽ thích cùi chỏ vào hắn.

– Thế nào bác, bác còn than mãi mình chỉ là “người phụ tùng” nữa hay thôi? Tôi cho rằng trong tấn tuồng này, bác đóng vai chính đấy.

Hắn thở thật mạnh. Trên môi điểm một nụ cười, mới đầu còn bẽn lẽn, rồi càng lúc càng tươi, toe toét đến tận mang tai.

– Bẩm, thưa bác sĩ, chính vậy ạ. Hừ, nếu bác sĩ còn muốn mổ cháu, cháu xin ký cả hai tay.

Tôi vẫn muốn mổ lắm chứ. Cuộc giải phẫu nhỏ này tiếp diễn nhanh chóng, không một trở ngại nhỏ. Khi được chở về phòng nằm, Văn-Sợi còn ngủ rất say, chứng tỏ hắn hít thuốc mê hăng lắm. Mấy ngày sau, chúng tôi thấy một sự thay đổi kỳ lạ trong mọi cử chỉ của hắn. Từ một bệnh nhân lúc trước luôn luôn nép mình sợ sệt, bây giờ hắn lúc nào cũng đói, háu ăn, và tự tin đến làm kinh ngạc mọi người. Hắn vui vẻ, gặp ai cũng bắt chuyện. Điều phi thường hơn nữa, là hắn bắt đầu “lấy le”. Hắn đã nổi danh vì cuộc phiêu lưu vừa rồi. Các bệnh nhân khác, các y-tá và ngay cả các y-sĩ, đều đến nói chuyện với hắn. Ai cũng muốn xem tận mắt con người đã chạy rông khắp các hành lang trong bộ y phục A-đam và đã làm náo loạn cả nhà thương. Ai đến cũng bảo hắn kể lại kỳ công của hắn. Và mỗi lần kể, hắn lại thêu dệt thêm những chi tiết bịa đặt

thật ngông. Khi hắn từ giã bệnh viện, không ai có thể nhận được nơi con người vui vẻ cởi mở này, cái ông phụ tá kế toán đã lạy lục xin tôi đừng mổ. Khi đến chào các cô y-tá, hắn dùng dằng thật lâu, rồi hắn lại khen tặng tôi – dĩ nhiên theo kiểu của hắn.

– Bẩm, thật không chê vào đâu được, bác sĩ ạ. Bác sĩ giỏi thật. Để cháu mách các bạn đến đây chữa bác sĩ.

Ba tháng sau, tôi lại thấy Văn-Sợi đến. Hắn ngồi xe cứu thương đưa một người bị tai nạn xe cộ đến bệnh viện.

– Bẩm, thưa bác sĩ, anh bạn đáng thương này làm cùng sở. Ảnh bị gãy cẳng. Cháu nói với ảnh ngay: Ô! không sao đâu, bồ ơi! Tớ biết một ông đốc mát tay số dzách; ông ấy búng tay một cái là xong. Ông đốc số dzách ấy là bác sĩ đấy. Bác sĩ đừng từ chối nhá

– bác sĩ làm tử tế, cẩn thận hộ cho.

Trong khi bệnh nhân được đem đi chiếu điện, Văn-Sợi ghé vào tai tôi tâm sự:

– Bác sĩ ạ, kể cũng lạ thật. Mà cũng chẳng qua là nhờ mấy “của nợ” của cháu ở … đằng sau. Cháu phải chịu đựng nó từ bao lâu nay, có phải không ạ? Nhưng bây giờ cháu chắc chắn là chính nhờ mấy “của nợ” ấy mà cháu mở mày mở mặt ra.

Tôi ngạc nhiên nhắc lại:

– Mở mày mở mặt ra à? Nhưng sao bác lại nghĩ thế?

– Vâng, để cháu xin cắt nghĩa bác sĩ nghe. Mồ xong, khi cháu đi làm việc lại, thật là “phọt-mi-đáp”! Bác sĩ nghĩ coi, chuyện mấy ông vòi rồng ấy mà, cả tỉnh ai cũng biết cả.

Ông sếp cháu cho gọi cháu lên ngay. Ôi chao! Ông ấy cứ rũ ra cười, cứ ôm bụng mà cười, vừa cười vừa vỗ đùi đen đét – cháu cứ tưởng ông ấy sẽ chết nghẹn vì cười mất.

Ông ấy nói: “Hà hà! Văn-Sợi ơi! Hay! Như thế mới đúng là một chiến công: lôi cả một đoàn vòi rồng đến chỉ vì muốn cắt một cục trĩ hạ! Bọn này cười vỡ bụng khi đọc báo! Văn Sợi ơi, anh sếp sòng lắm! Thôi, bây giờ cứ tiếp tục làm việc đi.”

Vâng, bác sĩ muốn tin cháu thì tin, chứ tự nhiên cháu thấy công việc không còn tẻ nhạt, buồn chán như trước nữa. Rồi tám ngày sau, xưởng của hãng ở ngoại ô nói cần một người kế toán giữ sổ lương. Vâng, có một mình mà trông coi lương bổng của hơn một ngàn thợ. Bác sĩ có biết ông chủ chọn ai không? Bác sĩ nhớ cho:

ông chủ chọn cháu, Trần-Văn-Sợi. Ông ấy lại tăng lương nữa chứ lị – nghìn hai một tháng, cũng khá đấy chứ ạ? Vâng, bác sĩ ạ, cháu hiểu rồi: chính vì mấy cục “của nợ”, bác sĩ đã cắt cho cháu, mà cháu không còn là một thứ “người phụ tùng”. Chỉ vì thế đấy thôi. Bởi vì bây giờ, cháu là một người đầy đủ, giống như mọi người.

Trăm sự cũng nhờ bác sĩ cả.

Tôi tiếp lời hắn trong khi bắt tay từ giã:

– Nhưng cũng nhờ mấy ông sở vòi rồng nữa chứ, như thế mới đúng chứ, bác Sợi nhỉ?

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 5, tháng 5.1964]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 16

Tháng 8 năm 1978, hai mươi tù nhân đặc biệt của đề lao Gia Định và khám Chí Hoà được đưa đi lao động cải tạo ở trại Sa Ác. Hai mươi tù nhân của chín, mười vụ khác nhau; của chín, mười tổ chức khác nhau; của chín, mười khuynh hướng khác nhau, đã ngồi chung trên một chiếc xe bít bùng, người tổ chức này dính vào tay người tổ chức kia bằng một cái còng số 8 của Mỹ do Cộng Sản xử dụng. Thân phận của họ dính liền với nhau. tự nhiên họ gần gũi, thân mật, gắn bó mà khỏi cần diễn văn rào đón thăm dò ngớ ngẩn.

Họ đến Sa Ác lúc 11giờ. Đoạn đường từ thị xã Bà Rịa vào Sa Ác gập ghềnh, lồi lõm, cát đỏ mịt mù khiến họ bị nhồi tung và ngộp thở. Sau thủ tục ghi danh nhập trại, khám xét hành lý, người ta dẫn họ vô căn nhà ở góc trại, khoá chặt cửa lại. Họ mệt nhọc, mỗi người tự kiếm chỗ nằm nghỉ ngơi dưỡng sức.

Sa Ác, địa danh không có tên trên bản đồ. Nó là một hòn đảo trong quần đảo ngục tù Xuyên Mộc. Nghe tên đã hãi hùng: Rơi vào chỗ chết, đi qua gỗ! Hàng chục trại tập trung khét tiếng toả nan ở hai đầu quạt Bầu Lâm, Bà Tô… Sa Ác là nơi mút mít rừng già. Nó nằm bên đây rặng Mây Tào, cái chân của dãy Trường Sơn. Bên kia là Hàm Tân. cũng rất phì nhiêu tù ngục, phồn vinh tập trung lao cải. Một giòng sông nhỏ cơ hồ một giòng suối chảy ngang. Hình như nó bắt nguồn từ núi Mây Tào xuôi xuống gặp một nhánh của sông La Ngà. Tên nó là sông Ray. Mùa mưa, sông Ray ngầu đỏ, nước mấp mé sân trại, cuốn xoáy thác lũ. Mùa nắng, cạn khô, xe hơi chạy qua để đi về Long Khánh. Đây vốn là mật khu cộng sản và là vùng oanh kích tự do của không quân Việt Nam. Đây còn là vùng lính Úc thi thố khả năng diệt du kích cộng sản.

Rừng già Sa Ác bị bom Mỹ làm cháy rụi nhiều khu, cây cối ngả nghiêng , hố bom rải rác như những cái ao nhỏ, nước đọng đen ngầu đầy xác lá mục thối. Hầm bí mật chứa vũ khí, lương thực, hầm tránh bom còn nguyên dấu tích. Còn nguyên cả những tấm nhựa plastic tả tơi trên những miệng hầm. Còn nguyên cả những trái bom cắm xuống đất không chịu nổ. Còn nguyên cả những trái mìn của lính Úc gài bẫy cộng sản, để tù nhân cải tạo lãnh đủ. Còn nguyên cả lựu đạn, dao cạo râu, nước ngọt Coca-cola, Sprite chế tạo tại Úc Đại Lợi chôn vùi dưới đất. Còn nguyên, còn nguyên…Chỉ thêm nhà tù, cái kẻng, giây thép gai, công an, tội phạm, đau khổ, thù hận, tuyệt vọng, cam đành tháng tháng, năm năm trên cái địa danh Sa Ác không có tên trên bản đồ nhân văn, kinh tế. Có hàng trăm ngàn địa danh như Sa Ác mà chỉ tù nhân Việt Nam được biết từ khi người Mỹ phủi tay tuyên bố “lịch sử đã sang trang”.

Hai mươi tù nhân đang ngủ ngon bị đánh thức dậy lãnh chiếu, chăn, chén,bmuỗng và cơm nước bữa trưa. Không có màn (mùng) cho tù nhân, dù Sa Ác đầy muỗi và thường xuyên có thứ bệnh sốt rét kỳ quái. Ăn uống xong, họ được vệ binh đeo AK dẫn ra sông ray tắm gội, giặt giũ rồi về học tập Nội Quy, Nếp Sống Văn Hoá Mới, Tiêu Chuẩn Cải Tạo… Họ được lệnh cấm liên hệ với bất cứ một cải tạo viên nào trong trại, giờ nghỉ như giờ lao động. Họ là một đội riêng. Một đội trừng giới. Cán bộ an ninh của trại chỉ định Trần Thế Tưởng làm đội trưởng.

– Tôi không làm đội trưởng nổi.

– Lý do?

– Tôi điếc.

– Anh điếc sao anh nghe rõ tôi nói?

– Tại cán bộ nói lớn.

– Các cán bộ khác cũng sẽ nói lớn.

Cán bộ an ninh chỉ định Đỗ Mậu Qúy làm đội phó kiêm thư ký.

– Tôi không biết ghi biên bản

– Học tập sẽ biết.

– Cán bộ chọn người khác đi.

– Mệnh lệnh đó, vừa học Nội Quy đã quên à, có làm không thì bảo!

– Tôi làm nhưng tôi đã nói trước với cán bộ rồi đấy nhé!

Buổi tối, Đội 37, hiểu với nhau là đội trừng giới, sinh hoạt chia tổ và chỗ nằm. Đội trưởng Trần Thế Tưởng nói:

– Tôi sẽ giả vờ điếc đấy, anh em đừng thắc mắc. Tôi cũng sẽ đóng kịch nữa đấy, anh em đừng thắc mắc. Chúng ta sẽ nói nhiều với nhau khi lao động ngoài bãi. Ở phòng, chúng ta phải im lặng, nó rình rập chúng ta.

Ngày hôm sau, Đội 37 đi lao động ngay, không được nghỉ ngơi một tuần những những trại viên khác mới nhập trại. Khi xếp hàng trong sân, chờ gọi xuất trại, cán bộ giáo dục lên lớp toàn thể trại viên và truyền lệnh cấm không được liên hệ với Đội 37. Như thế, cả trại biết Đội 37 là đội của những tay cực kỳ phản động, ngoan cường, bất khuất. Dù không nói bằng lời, họ đã bầy tỏ thiện cảm và lòng khâm phục của họ bằng mắt với hai mươi người tuổi trẻ.

– Đội 37!

Đội 37 được gọi xuất trại đầu tiên. Đội truởng ngồi. Các trại viên khác cũng ngồi ì vì Đội trưởng chưa ban lệnh đứng lên.

– Đội 37!

Phan Tiến Dzũng đứng dậy:

– Cán bộ hét thật lớn giùm. Đội trưởng của chúng tôi điếc!

Các trại viên cười khúc khích. Cán bộ trực trại nổi nóng, quát lớn:

– Đội 37!

Đội trưởng Trần Thế Tưởng đã nghe rõ, vụt dậy. Người ta đã giáo dục cả nếp sống quân sự hoá ở trại và Đội trưởng thuộc lòng. Thiếu-úy biệt kích, người có giọng sấm sét, biểu diễn màn…quân sự hoá:

– Tất cả… đứng dậy! Nón mũ lột ra. Hai hàng dọc, nhìn đằng trước ..thẳng.! Nghiêm! Báo cáo cán bộ Đội 37 tổng số 20, tham gia đủ 20…

– Tham gia cái gì?

– Tham gia lao động đủ 20. Chờ lệnh cán bộ.

– Cho đi!

Đội trưởng vẫn đứng. Cán bộ trực trại hét:

– Cho đi!

Đội trưởng nhận lệnh:

– Rõ!

Đã được dặn dò, cả đội dậm chân bước như diễn binh. Chẳng người nào của Đội 37 cười nhưng toàn thể trại viên cười quên luôn kỷ luật. Một luồng gió mới thổi vào sinh hoạt Sa Ác. Những họng súng của cai ngục bớt ghê gớm đi. Quyền uy của trực trại giảm vợi. Đội 37 đã diễu cợt Nội Quy, thứ pháp chế thu nhỏ của Nhà Nước xã hội chủ nghĩa. Ngang qua chòi trực, anh cán bộ trực trại hậm hực:

– Miệng thì lớn mà tai nhỏ!

Hai vệ binh và một quản giáo dắt đội ra bãi lao động. Quản giáo phải nói lớn. Đội nhận cuốc, xẻng, búa chim và … xe (miếng vỉ lớn đan bằng tre, hai bên là hai khúc tre, người đi trước , người đi sau khiêng đất). Công tác: Phá gò mối lấp hố bom! Mấy năm bị nhốt trong tù như bầy gà kỹ nghệ, thịt nhão, da mỏng dính, nay hai mươi tù nhân tư tưởng cầm cuốc phá gò mối khươm mươi niên, rắn chắc hơn cả tường gạch xây xi-măng, tay cậu nào cậu ấy rộp da hết.

Hoàng Sơn Trường và Ngô Tỵ khiêng đất gò mối đổ xuống hố bom. Họ đã gặp nhau ở đề lao Gia Định, đã chung phòng, đã trò chuyện. Thoạt đầu, Ngô Tỵ ngạc nhiên về “người dẫn đường” lùn tì, cận thị và đã tỏ ra chán nản. Rồi nghe nhà lập thuyết lùn tì luận về chủ nghĩa tiểu tư sản, Ngô Tỵ bái phục Hoàng Sơn Trường. Đứng trên miệng hố bom, Trường hỏi Tỵ:

– Cậu thấy rõ chưa?

– Thấy gì?

– Tư bản tạo ra hố bom, cộng sản bắt chúng ta lấp hố bom. Đó, hai chủ nghĩa khốn kiếp đó đầy đoạ dân tộc mình. Từ cái hố bom oan nghiệt này, chúng ta có thể suy ra muôn vàn thủ đoạn độc ác của tư bản và cộng sản .

– Chúng ta mở mắt thế giới?

– Không, chúng ta trồng hoa tiểu tư sản trên hố bom tư bản tạo ra và cộng sản bắt chúng ta san lấp.

– Cậu hay thật.

– Nhờ các cậu giúp tớ.

Nguyễn Kiến Thiết và Trần Chiêm Đồng cũng khiêng đất lấp hố bom. Đồng hỏi Thiết:

– Trường còn suy tư về chủ nghĩa tiểu tư sản chứ?

– Luôn luôn.

– Cậu ấy tin tưởng mãnh liệt?

– Mỗi ngày mỗi tin tưởng hơn. Nếu người nào phải chết, xin hãy là tôi, đừng bao giờ là Hoàng Sơn Trường. Một trăm ngàn tù nhân chết chẳng sao cả vì họ sống vô tích sự. Lại đến vượt biên sang Mỹ sang Pháp hưởng thụ và tranh giành nhau đủ thứ. Riệng Trường cần sống để giải thoát dân tộc và nhân loại. Cậu ấy được định giá trị bằng tinh hoa của 4000 năm văn hiến.

Bốn tù nhân phá một gò mối vẫn không đủ đất cho bốn người khiêng. Buổi lao động làm quen, quản giáo chưa thèm giục giã. Giờ giải lao, hai mươi người quây quần bên nhau. Trần Thế Tưởng nói:

– Anh em mình, chắc chắn, còn phải đi nhiều trại. Số phận chúng ta đã gắn lấy nhau chặt chẽ. Chúng ta tự coi chúng ta là bó đũa. Tách riêng ra, nó bẻ gẫy hết anh em ta. Tôi rất mong, có ngày, anh Lương Việt Cương làm Đội Trưởng. Anh Cương lớn tuổi nhất, điềm đạm, từng trải, tôi muốn anh lãnh đạo chúng ta.

Lương Việt Cương nói:

– Cám ơn anh Tưởng. Tôi nghĩ đã là bó đũa thì mỗi chiếc đũa là một lãnh đạo.

Phan Tiến Dzũng nói:

– Cần thiết một đại ca.

Đỗ Mậu Qúy nói:

– Và đại ca có cái đầu. Cứ coi anh Cương là cái đầu của chúng ta đi và anh Tưởng vẫn làm đội trưởng. Cần thiết nhất là chúng ta triệt để tin cẩn nhau, đừng để cộng sản nó tạo ra sự ngờ vực giữa anh em.

Trần Thế Tưởng nói kinh nghiệm bản thân của mình ở đề lao Gia Định và kết luận:

– Nhiều tù nhân còn khờ khạo lắm. Rốt cục, ghét nhau, nói xấu mhau, thù hận nhau vì thủ đoạn chia rẽ của cộng sản.

Hết giờ giải lao, cán bộ ra lệnh:

– Lấy dụng cụ làm việc.

Đội trưởng Trần Thế Tưởng truyền lệnh:

– Thu dụng cụ nghỉ việc!

Anh em thu dụng cụ cất gọn một chỗ rồi xếp hàng. Cán bộ hỏi đội trưởng:

– Tại sao nghỉ việc?

Đội trưởng đứng nghiêm báo cáo:

– Cán bộ ra lệnh thu dụng cụ nghỉ việc.

– Tôi nói : lấy dụng cụ làm việc.

– Tôi nghe không rõ, tưởng cán bộ thấy ngày đầu cuốc gò mối anh em phỏng rộp hết tay cho nghỉ.

– Anh điếc à?

– Tôi đã báo cáo tôi điếc.

– Lần sau nhớ nghe rõ nhé! Thôi, nghỉ thì nghỉ. Tập họp về tắm.

Đội 37 về sông Ray tắm sớm nhất, nhập trại sớm nhất. Anh em hài lòng tài kịch điếc của Trần Thế Tưởng. Buổi chiều làm việc tài tử như buổi sáng. Cung cách lao động này, một nghìn năm nữa chưa lấp hết hố bom tư bản. Buổi tối, Nguyễn Kiến Thiết đề nghị Hoàng Sơn Trường cho anh em biết về chủ nghĩa tiểu tư sản. Phan Tiến Dzũng và Đỗ Mậu Qúy canh gác vệ binh đi tuần rình rập. Với cặp kính cận thật dầy. gọng nhựa, Hoàng Sơn Trường rất triết gia. Cậu nói về sự bất lực của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Cậu thí dụ tù nhân Việt Nam bị cộng sản bắt phá gò mối lấp hố bom tư bản. Rồi cậu luận về cái hay cái đẹp của chủ nghĩa tiểu tư sản. Anh em say sưa nghe Trường. Họ đồng ý phải võ trang tư tưởng mới đánh thắng cộng sản được. Hai mươi tù nhân phấn khởi. Họ tin rằng họ sẽ làm những việc mà chưa ai làm nổi tử 30 năm nay.

Công việc tạm thời của họ là phá gò mối, lấp hố bom. Được nửa tháng, trong giờ giải lao, Lương Việt Cương nói:

– Tôi muốn thay đổi thái độ lao động.

Vương Huy Dũng hỏi:

– Là thế nào?

Cương giải thích:

– Công việc là công việc. Chúng ta thử cố gắng làm việc đến nơi đến chốn xem sao. Việc nhỏ làm đến nơi đến chốn,việc lớn sẽ làm đến nơi đến chốn. Đừng nghĩ cộng sản bắt ta làm. Hãy nghĩ đó là công việc. Chúng ta cần tập cho chúng ta thói quen làm việc, và phải hoàn thành công việc. Thí dụ đánh cộng sản là phải hoàn thành công việc đánh, là phải thắng. Người khác bảo mình sợ hãi cộng sản, thây kệ họ. Cộng sản tưởng mình khiếp nhược, tiến bộ, thây kệ nó. Anh em nghĩ sao?

Đinh Vượng nói:

– Tôi đồng ý.

Mọi người đồng ý. Đội trưởng đề nghị làm khoán với quản giáo. Quản giáo bằng lòng. Đội 37 làm hết việc là nghỉ, dù sớm hay muộn. Sang tháng sau, quản giáo tăng việc. Đội họp bàn.

– Không làm thêm. Không để nó bóc lột. Trở lại lề lối cũ.

Anh em lại ỳ ra. Quản giáo đành thua, trở về mức khoán đầu tiên. Công tác lấp hố bom chấm dứt, Đội 37 chuyển sang công tác nguy hiểm là đào bom chưa nổ và khiêng xếp một chỗ. Cộng sản muốn hại Đội 37. Hố bom lấp ngàn năm chưa hết, tại sao phải đào bom chưa nổ? Hoàng Sơn Trường lại thấy thêm cái thâm độc của tư bản và cộng sản. Buổi sáng thứ hai, trước khi nhận lệnh xuất trại, các đội tập họp đầy đủ trong sân, chờ cán bộ trực trại mở sổ, Đội trưởng 37 đứng lên báo cáo dõng dạc:

– Báo cáo cán bộ: Đội 37 không đi lao động hôm nay.

Sân trại xôn xao.

– Các anh chống đối lao động hả?

– Chúng tôi chống đào bom, khiêng bom.

– Vậy là chống mệnh lệnh cán bộ.

– Nhà nước đưa chúng tôi đi lao động cải tạo chứ không đưa chúng tôi vào chỗ chết. Muốn giết chúng tôi cứ việc đem ra bắn. Còn khiêng bom thì chúng tôi không khiêng. Trừ phi ông Phạm Văn Đồng đến đây bảo đảm tính mạng của chúng tôi.

– Được, các anh ở nhà làm việc với Ban Giám Thị.

Cán bộ lật sổ.

– Đội 1.

Đội trưởng Đội 1 đứng lên:

– Báo cáo cán bộ. Đội 1 cũng nghỉ lao động hôm nay. Gải mỉn phá núi rất nguy hiểm, cả đội bị tức ngực, sắp chết rồi. Cán bộ trực trại bước ra khỏi chòi trực, rút súng lục bắn chỉ thiên ba phát. Vệ binh ào ào kéo tới, súng chĩa thẳng vào các tù nhân đang ngồi trong đội ngũ. Cán bộ trại hăm hở bước tới, cách tù nhân mười thước, y đứng lại:

– Thằng nào sách động đứng lên!

Phan Tiến Dzũng tự Dzũng quan tài vọt dậy, phanh ngực áo ra:

– Tao đấy, mày dám bắn không?

Đỗ Mậu Qúy cũng đứng lên:

– Tao nữa!

Nguyễn Hữu Hạnh đứng theo:

– Cả tao nữa.

Cả đội 37 đứng lên hết. Cán bộ trực trại sợ hãi. Y lùi dần, lùi dần. Vệ binh lên đạn trấn áp. Giám thị trại đã đến. Nghe trực trại báo cáo, ông ta bước tới giữa sân, khuôn mặt bình tĩnh . Và ông ra lệnh cho vệ binh thôi chĩa súng doạ nạt. Và ông nói:

– Đào bom, gỡ bom không phải là công tác của các anh. Cán bộ chỉ thử thách xem sự tuân hành mệnh lệnh của các anh ra sao thôi.. Nếu các anh cứ chấp hành, cán bộ sẽ chuyển công tác ngay, ai để các anh chết vì bom Mỹ. Đội 37 sẽ được nghỉ lao động một tuần. Các anh phải kiểm điểm lỗi lầm. Đội 1 được nghỉ 5 ngày, chờ cán bộ giao công tác mới. Các đội khác đi lao động thường lệ.

Ba hôm sau, khi các đội đã xuất trại, một chiếc xe vân tải chạy vào sân. Lệnh khẩn trương: Toàn Đội 1 thu dọn hành lý chuyển trại. Đến nửa đêm Đội 37 cũng khẩn trương lên xe chuyển trại. Sa Ác loại trừ mầm mống sách động.

Đó là nghệ thuật của cai ngục!

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 14 Jan 2026

Chương 16

 Đất Lành – Kết

Công viên Hòa Bình trước nhà thờ Đức Bà hình vuông, có bốn lối vào theo hình chữ thập. Giao điểm là tượng Đức Mẹ đạp chân lên đầu con rắn, cỡ gấp đôi người thật. Đầu con rắn bị sứt mất một miếng nhỏ. Trụ để tượng khá cao. Thân trụ làm bằng đá hoa màu nâu đỏ. Chân trụ cũng là chỗ ngồi của đám thợ hình khi ế khách. Chắc hẳn cái công viên nầy không phải dùng để thương mại mà chỉ để thờ phượng. Một nơi trang nghiêm của thành phố. Mỗi chiều, một số người muốn tĩnh tâm, thường đến ngồi trên một số băng ghế đá chung quanh nhìn lên tượng Đức Mẹ cầu nguyện. Thế nhưng, không biết từ bao lâu, nơi trang nghiêm nầy đã trờ thành một địa điểm thương mại. Là địa bàn chính của Quốc doanh Nhiếp ảnh Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Nếu có khách chụp ảnh, muốn có một tấm hình ngồi trên băng ghế đá nhìn vô nhà thờ thì người thợ chụp ảnh không ngần ngại gì xin người đang ngồi cầu nguyện ở đó nhường chỗ và cũng chưa bao giờ gặp sự phản đối. Mọi người hình như đều có cái ẩn nhẫn, chịu đựng nhau. Phải chăng vì cùng cực khổ nên dễ cảm thông hay nhận được tình yêu từ Đức Mẹ nhân từ nên dễ tha thứ cho một người thợ kiếm cơm đang gặp khách? Cũng có thể vì đây là nơi kinh doanh của nhà nước, được cả nể, nên không ai dám đụng đến! Nếu phàn nàn cản trở, biết đâu lại không bị phiền phức đến luật pháp Xã hội Chủ nghĩa và ông công an, ba đời là thành phần bần cố nông, dĩ nhiên phải hành xử kiểu làm cản trở công việc của nhà nước là có ý chống đối chế độ! Một câu nhịn là chín câu lành có khi lại hay hơn!

Chính sách trần tục hóa những nơi tôn nghiêm của nhà nước thật có kết quả, khi hàng ngày đủ mọi chuyện thế tục đang diễn ra tại đây.

Ngoài số thợ chuyên nghiệp lâu đời, đám thợ hình còn lại đủ loại, đủ thành phần.

Loại bụi đời, lang bạt. Vừa chụp hình vừa bàn tính chuyện mua bán dâm, dùng địa điểm nầy để hẹn hò, mối lái. Loại nầy có Ấn Nổ và Hoàng Phi. Ấn Nổ tên thật là Ân nhưng mỗi lần có khách, tùy loại, anh ta “nổ” cách khác nhau. Ấn nút là nổ. Nổ như pháo. Đặc biệt khi gặp đám chị em ta thì lên giọng đại ca. Và đại ca cũng làm được việc là giới thiệu cho các em một số khách làn chơi thuộc loại ở các nơi xa mới về thành phố. Bù lại, khi ế khách, đại ca tìm đến được các em cho mùi mẫn không tính tiền. Đại ca với đàn em là Hoàng Phi cũng vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên đóng phim con heo với mấy em để chụp hình và chụp thêm một số hình lõa thể riêng của mấy em, thủ sẵn trong túi đồ nghề, để tùy loại khách đem ra làm mối hay gạ bán ảnh, đặc biệt cho loại khách về Sài Gòn công tác, muốn học văn minh và tìm chứng cớ đem về khoe với đơn vị.

Loại công nhân viên hãng phim Sài Gòn Giải phóng. Họ ăn cắp phim đem ra đây tiêu thụ. Họ nhờ vào tiếng tăm của hãng phim câu khách sộp để chụp hình thêm thu nhập. Họ giữ các chức vụ tổ trưởng, tổ phó như Đổng, Man, Khai và Đường. Bù lại, quốc doanh nhiếp ảnh cũng mượn hơi họ để quảng cáo với khách hàng. Vì mấy cái tên chánh quay phim, phó quay phim nổi bật trên màn ảnh các cuốn phim chiếu trong thành phố gây ấn tượng tốt cho khách, dù thật sự nghề nghiệp của họ cũng chẳng có liên hệ gì nhiều đến chuyện chụp ảnh ở đây. Và có rất nhiều trường hợp, vì họ quen với ánh sáng lý tưởng được bố trí tại các phim trường cho chủ đề nên không quen với loại ánh sáng thiên nhiên bên ngoài, nên số hình họ chụp bị hư, xấu còn nhiều hơn những người thợ bình thường!

Loại ngụy tạo danh tánh. Vì khi ra tù không nghề, không vốn, không hộ khẩu, lại bị kỳ thị mọi mặt nên lục soạn đồ cũ may đâu còn sót lại cái máy chụp ảnh thì nhờ đám thợ ảnh chuyên nghiệp, có uy tín trong nghề, giới thiệu đi làm mà không phải điền đơn, kê khai lý lịch, trắc nghiệm khả năng kỹ thuật. Thân, Tân, Cù Hè và Nghiêm thuộc loại nầy. Loại nầy thì hành nghề rất cẩn thận. Tận tụy. Thoạt nhìn thì họ yêu nghề rất mực. Nắng sớm, chiều mưa, đêm hôm khuya tối họ đều có mặt tại địa bàn. Đôi lúc công viên vắng tanh họ vẫn còn bám lại như những con cò đang đứng cô đơn trong quảng vắng, nhờ thế đôi lúc họ vớ được khách sộp. Các thành phần có tiền, sau khi ăn nhậu, lả lướt về khuya thường có thêm cái thú thích chụp ảnh với người đẹp! Chỉ qua vài mẩu đối thoại cũng có thể biết chút ít về thành phần xã hội của họ. Họ rất phông độ trước người đẹp và thợ chụp hình.

– Ông chụp lấy cho hết đỉnh tháp chuông nhà thờ cho tôi nhé!

Chữ lấy và cho tôi nhé cuối câu rất quan trọng! Ngôn ngữ loại sai bảo nầy không phải thứ dân thường! Nhưng bóng tối bao trùm, công viên thì chỉ có mấy ánh đèn đường vàng vọt chiếu sáng, tháp chuông nhà thờ lại cao nghễu nghệnh lờ mờ trong bóng đêm, nên người biết tối thiểu về chụp ảnh hẳn không ai có thể đưa ra một đòi hỏi lạ lùng như vậy! Cho nên phải rất khéo léo giải thích để khách hàng không mất cái hào hoa phông độ với người đẹp và chụp ảnh theo ý mình mà khách vẫn vừa lòng!

Nhóm nầy, thật sự là những người đem lại lợi nhuận cho công ty. Nhưng bên trong họ luôn luôn lo sợ, vì nếu tông tích bị lộ thì chắc chắn sẽ bị đưa ngay trở lại trại cải tạo và cái mũ CIA sẽ bị chụp ngay lên đầu! Chụp ảnh là số một trong số 13 nghề bị cấm làm, kể cả nghề hớt tóc! Nhưng TV, radio của nhà nước thì đường lối chính sách vẫn trước sau như một. Không phân biệt đối xử!

Loại nguy hiểm nhất là đám công an chìm! Họ vừa chụp ảnh, vừa săn tin, vừa hành nghề mật vụ. Họ là loại công an bảo vệ chính trị. Công an giao thông, công an kinh tế đều đứng đàng sau loại công an nầy! Chế độ tồn tại hay không là đám công an nầy.

Họ còn trẻ và có cái thính mũi của một loài chó săn. Có cái hiền lành, kiên nhẫn của một chú mèo nằm đợi con mồi. Mềm nhũn! Nhưng khi đã vung tay chộp bắt thì con mồi khó thể thoát thân vì lúc đó bộ móng vuốt khéo che giấu mới bung ra, cứng như thép, sắc như dao cạo chộp ngay vào yết hầu! Cuộc biểu tình đầu tiên chống chế độ tổ chức gần sở thú tháng 6 năm 1991 bị bể ngay từ đầu là do nhóm nầy. Họ nói năng từ tốn, không khoa trương, khoác lác nên rất dễ cho người khác tâm sự. Được cái số người nầy không ra hiện trường chụp ảnh thường xuyên. Đôi khi họ vắng mặt cả tháng dài. Thường họ ra hiện trường rất trễ, tám chín giờ đêm. Đến và đi rất bất chợt. Bin, Đen thuộc nhóm nầy.

Và thêm một ông biệt động thành tên Nhiên. Ông nầy nằm trong nhóm của ông La Văn Liếm, chỉ huy trưởng biệt động thành Sài Gòn. Hàng năm cứ đến ngày lễ kỷ niệm đơn vị đặc công của thành phố ông đều tham dự, rồi sau đó kể lại. Đây là niềm hãnh diện của ông. Ông biệt động thành tánh tình cởi mở, nói cười thỏa mái, ít câu nệ. Ông thuộc loại lè phè và cũng hơi ba phải. Điểm đặc biệt là đôi chân ông bị “xi cà que”! Ông là biệt động thành thứ thiệt hay dõm không ai biết chắc nhưng có thể là thiệt! Có thể nhờ tính tình loại ba phải ruột để ngoài da với đôi chân giống như tật nguyền nênông đánh lừa được cảnh sát Việt Nam Cộng hòa chăng? Ông hoàn toàn không có cái nhanh nhẹn, tháo vát và lầm lì, điều mà các thám tử thực hiện công tác giết người, phá hoại phải có. Nghề chụp hình của ông cũng rất khiêm tốn. Ông là tác giả thường trực của số hình chụp hư hoặc xấu nên thường bị khách hàng chê, đôi khi bị sỉ vả nhưng được cái cười hề hề, xin lỗi nên mọi chuyện cũng êm xuôi. Câu chuyện tôi chụp ông Lê Duẩn cụt cẳng được ông kể rất chi tiết rồi đưa hình cho cả đám thợ xem.

Hôm đó, bên thông tin văn hóa quận 1 bất ngờ cho người đến cửa hàng quốc doanh nhiếp ảnh (vì cửa hàng nầy trực thuộc quận 1) là họ cần ngay một người thợ.[1] Ông Minh, cửa hàng trưởng, định cho người chạy ra ngoài địa bàn nhà thờ Đức Bà tìm vì cửa hàng nằm ngay ngả tư Lê Thánh Tôn-Đồng Khởi (Gia Long cũ), chỗ văn phòng hàng không Việt Nam trước kia rất gần thì gặp ông biệt động thành bước vào. Ông Minh nghĩ cũng như những lần trước, chẳng có gì quan trọng, nên dù biết tay nghề của ông biệt động thành rất rõ nhưng ông biết thợ không thích chụp cho nhà nước vì vừa mất thì giờ, vừa rắc rối tiền bạc, lại chẳng được bao nhiêu nên tiện thể ông Minh thông báo cho ông biệt động thành.

Ông biệt động thành nhại giọng cán bộ kể:

– “Ông vớ bở! Đang thiếu chỉ tiêu ấy mà! Tớ đi ngay với ông văn hóa quạnh đang đứng chờ!”

Thật bất ngờ, đó là lần thăm viếng “đột xuất” bà chủ tịch Quận I của ông Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng. Theo tin đồn đãi thì bà chủ tịch là nhân tình cũ của ông Tổng bí thư, cho nên khi vừa thấy xe đỗ bà chạy tới, cận vệ vừa mở cửa xe thì ông Tổng bí thư cũng nhào ra. Hai người ôm nhau rất thắm thiết tình đồng chí và cái cảnh nầy ông biệt động thành không kịp trở tay! Cái máy xí lố cố không thể chụp từ xa và cũng không dám chạy lại gần do đó mấy tấm ảnh được chụp loạn xạ trong lúc nầy, không đúng khẩu độ và khoảng cách nên đều bị nhòe. Chỉ may mắn có được một tấm tương đối rõ thì lại không nằm ngay ngắn như những tấm ảnh bình thường. Phải để nghiêng tấm ảnh xem thì đầu của ông Lê Duẩn bị cắt sát mí tóc còn hai chân thì một cụt ngay chỗ đầu gối, một cụt thấp hơn. Còn bà chủ tịch, đang nhón gót cao cho vừa tầm ông Lê Duẩn, nhờ nằm gần đường chéo tấm hình, nên còn nguyên vẹn.

Ông biệt động thành đem tấm hình ra khoe rồi cười hề hề.

Không riêng gì ông biệt động thành, đám thợ hình thường có nhiều phi vụ đặc biệt đểkể cho nhau. Vừa vui, vừa giết được thời gian ế khách.

Ông Viện, tổ trưởng cũng có chân dạy thêm một lớp về nghệ thuật nhiếp ảnh đang rất thịnh hành ở thành phố. Những thành phần có máu mặt, thích chụp ảnh thường mướn mấy ông thầy nầy thực hiện. Viện còn trẻ, độc thân nhưng là thầy giáo nên ngôn ngữ và thái độ rất đáng tin.

– “Sau party, học trò của tôi dắt lại giới thiệu với tôi một người đẹp. Cô bé nhìn cũng dễ coi. Cô yêu cầu tôi chụp cho cô một số hình đặc biệt. Lúc nầy tôi đã hơi xỉn. Người đẹp có lẽ cũng vậy. Tôi không lạ gì những trường hợp như thế nầy nên nhận lời. Tôi hỏi: bao giờ? Người đẹp trả lời dứt khoát: tôi sẽ cho người đến đón anh tối mai. Tôi phân bua: muốn chụp ảnh đặc biệt, tôi phải có chút chuẩn bị. Sớm nhất là hai ngày sau. Người đẹp: như vậy thì tối thứ tư. Tôi nghĩ chắc người đẹp muốn chứng tỏ mình là thành phần ngon lành nên từ chối và nói: cho tôi địa chỉ tôi sẽ tìm đến. Cô học trò tôi nháy mắt. Tôi lại hiểu lầm: chắc con bé chịu đèn rồi nên tôi gật đầu. Đúng hẹn, khoảng chín giờ đêm có chiếc xe hơi đến đón làm tôi thật ngạc nhiên. Thời buổi nầy mà có xe hơi thì lạ lắm. Trong đời tôi cũng chưa bao giờ có được hân hạnh nầy.”

Viện mở túi đồ nghề lấy ra một xấp ảnh khá dày nhưng không cho xem. Đó là ảnh chụp ái nữ ông Nguyễn Văn Linh, Bí thư Thành ủy trong phòng riêng. Quần áo và trang trí dựa theo Playboy. Một số thợ ở đây cũng đã chụp loại hình tương tự cho một số cô trong giới ăn chơi vì đang là phong trào thời thượng của thành phố và thường đem ra khoe với đám thợ hình trước khi giao cho khách. Trường hợp của Viện rất đặc biệt nên Viện sợ không dám cho thợ xem. Không được nhìn thấy hình nhưng nghe Viện kể, đám thợ cứ cười lên hăng hắc và hít hà om sòm!

Imex, ngôi nhà hiện đại nhất của thành phố, được xây cất do quỹ tích lũy từ lương tháng của quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước 1975. Bên trong có thang máy. Dưới có tầng hầm cho xe hơi đậu. Imex nằm trên đường Nguyễn Huệ, bấy giờ là trung tâm thương mại xuất nhập cảng quan trọng nhất của thành phố. Ông Charles Đức, quốc tịch Pháp, chồng của đào cải lương Bạch Tuyết là giám đốc. Ông Charles Đức có nhiều liên hệ mật thiết với các lãnh tụ của chế độ, nên những nhân vật chóp bu thường đến đây. Họ đến cả về đêm. Trên sân thượng tòa nhà có một lều tranh và cũng là quầy rượu. Cây kiểng chưng bày rất đẹp. Ở đây có thể quan sát cả thành phố, Thủ Thiêm và sông Bạch Đằng. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh thỉnh thoảng dẫn vài nhóm học trò học nhiếp ảnh lên đây vào buổi chiều. Dân thường muốn đặt chân đến đây chắc hẳn phải qua cửa ải ông gác dan, mà danh từ mới gọi là bảo vệ. Thợ chụp hình gặp khách xịn, sau khi chụp mấy kiểu nơi chậu kiểng trước thềm nhà mà được ông bảo vệ gật đầu cho phép dùng thang máy lên sân thượng thì coi như trúng số. Mấy ông bảo vệ ởđây lúc nào cũng quần áo bảnh bao, không đồng phục và chỉ hút thuốc có cán nên rất nhiều người có vai vế mới đến tưởng lầm, cứ dạ thưa…

Sân thượng có cái cao của chóp bu, đứng ngồi trên đầu thiên hạ, là nơi mấy ông lãnh tụ thích đến chắc không phải vì việc nước. Đây là hang động hiện đại bí mật, trái ngược hẳn với địa đạo Củ Chi thời còn chiến tranh. Bên trên thì tiệc tùng, yến ẩm nhưng bên dưới vẫn vắng vẻ tránh được sự dòm ngó của người dân. Ở đây rất tĩnh lặng. Thứ tĩnh lặng uy nghi của những kẻ đầy uy quyền thụ hưởng! Thường thường các cô chiêu đãi được tuyển chọn đã được sắp xếp từ buổi chiều. Xe chở họ vào dưới tầng hầm rồi lên thẳng bên trong nên không một gặp mặt.

Imex là địa điểm 2 của Quốc doanh Nhiếp ảnh Quận I. Khu vực nầy là nơi ăn chơi hạng sang của thành phố. Bin và Nghiêm thường bám trụ ở đây về đêm. Bin biết khá rõ nhân dáng của các lãnh tụ dù là ban đêm thiếu ánh sáng. Một lần Bin chỉ ông Võ Nguyên Giáp mặc sơ mi trắng ngắn tay, áo ngoài quần với một cận vệ theo sau. Lần khác là ông Nguyễn Văn Linh, cũng đến đây khá khuya với một cận vệ. Họ đến như những người nhàn tản, rất bình thường, nên nếu không biết rõ thì rất khó nhận ra.

Vắng khách, đang ngồi tán gẫu với mấy thợ chụp hình khác dưới chân tượng Đức Mẹ, trước nhà thờ Đức Bà thì thấy Nghi đạp xe trờ tới. Nghiêm có chút ngạc nhiên, lên tiếng:

– Ủa, xích lô đâu mà đi xe đạp tới đây?

Nghi lờ vờ:

– Đổi tài. Nghỉ xả hơi một bữa!

– Khá không?

– Khá con mẹ gì!

– Có gì lạ không?

– Có. Có nên mới nghỉ xả hơi ra đây tìm mày.

– Tao cũng đang ngồi ngáp ruồi đây.

– Qua bà Hai kiếm cái cà phê. Nói chuyện.

Nghiêm quay qua nói với Thìn, người đang ngồi bên cạnh:

– Tôi bỏ tài. Anh cứ đôn lên.

Vì thợ đông nên phải chia tài, theo kiểu tài xế ở bến xe!

Nghiêm kêu hai cái cà phê đá. Cà phê đá ở đây nổi tiếng là ngon.

Nghi tâm sự việc sắp xếp của mình, rồi hỏi:

– Mày thấy như vậy có ổn không?

Nghiêm như chìm trong suy nghĩ, không trả lời. Nghi tiếp:

– Thằng Lân sẽ chở tao đến ga Bình Triệu và chờ bên ngoài. Mày và tao vào trong tìm. Mày cố làm sao chụp cho được cái ngơ ngác của cô nàng giữa đám đông và cái xúc động của tụi tao khi gặp lại nhau là hoàn thành thiên phóng sự của mày. Bốn năm năm đã trôi qua, tụi tao cũng chưa chắc dễ nhận ra nhau.

– Vậy mày có dặn bảo dấu hiệu gì để nhận diện không? Áo vàng, áo tím gì đó. Hay mang cái gùi trên vai chẳng hạn! Mà tại sao lại không thêm một cái vương miện bằng hoa lá rừng Hoàng Liên Sơn kiểu La Mã nhỉ? Bảo đảm trăm phần trăm, vừa dễ nhận, vừa không trùng với ai cả!

– Mày thì lúc nào cũng phịa thêm chuyện.

– Ừ, tiên nữ của rừng xanh mà! Coi chừng tao mê tiên nữ của mày cũng như tao đã mê tiên nữ Audrey Hupburn có đôi mắt to, tròn như mắt sóc, trong một phim đóng ở rừng. Khi cô nàng trốn người lạ thật kín ở trên một nhánh cây nhưng lại quên mặt hồ nước trong xanh bên dưới phản chiếu. Khuôn mặt và đôi mắt nàng nổi trên gợn sóng lăn tăn, làm trái tim tao xao xuyến. Đôi mắt đó đã làm cho tuổi chớm yêu của tao mê mẫn, nhớ mãi đến bây giờ.

– Cái khổ là cô nàng không có cái áo nào có màu sắc đặc biệt để khác lạ giữa đám đông. Và thư từ chỉ mới nhận được cái thứ ba nên cô nàng dặn tao mặc áo sơ mi xanh và đội nón lá.

Nghiêm cười thật thỏa mái:

– Gớm, chỉ lá thư thứ ba mà đã bỏ nhà chạy tuốt vô Nam tìm trai rồi!

Nghi giận đỏ mặt:

– Vừa phải thôi nghe mày!

Nghiêm trầm ngâm nhìn bạn. Ngày tháng Hoàng Liên Sơn lại hiện về. Là tháng năm không thể nào quên trong một đời người nhưng chắc chắn lúc nầy chưa phải là lúc ngồi nhìn lại. Từ sau 30-4-1975 đến bây giờ vẫn là một cuộc tản hàng! Một cuộc chạy! Đang tiếp tục chạy và vì thế không ai muốn đứng nhìn lại đoạn đường đã qua. Phải tiếp tục đoạn đường còn lại. Nhưng chuyện tình tưởng như vô vọng của Tố Nga bỗng dưng làm sống lại ngày tháng cũ. Mỗi người phải đương đầu với gian khổ một cách khác nhau, chịu những khắc nghiệt khác nhau. Những cánh bèo trôi dạt tưởng như vô định trước cơn sóng dữ lại gặp nhau. Lại tựa vào nhau. Bám vào nhau. Tố Nga đã can đảm và phản ứng dứt khoát, dám sống chết cho một tình cảm mong manh nhưng rất thật. Rừng núi Hoàng Liên Sơn không thể giam hãm được ước mơ của một trái tim không chấp nhận sự an bài của chế độ.

Uống thêm một ngụm cà phê, nhìn cái bồn chồn với toan tính của Nghi, Nghiêm thấy mừng cho bạn:

– Đùa với mày đó. Tao cũng xúc động không kém khi nghe tụi mày bắt lại được liên lạc với nhau. Cả bọn tao cũng mong được gặp cô nàng. Cái gian khổ và lãng mạn kết hợp nhau làm sao quên được. Mong rằng cuộc tình tụi mày kết thúc có hậu. Nhưng cái đẹp ở núi rừng và ở thành phố khác nhau mày có chuẩn bị tâm lý cho bà già chưa?

– Cả ông bà già đều phúc hậu mà. Tiêu chuẩn ưu tiên của ông bà già là tình yêu chân thật và biết hy sinh. Chính ba má tao hối thúc tao kêu con bé vào ngay và rất trông đợi để gặp con bé. Con bé viết thư cho tao cũng lo sợ vụ liều này lắm!

Mới đó đã hơn bốn năm trôi qua, kể từ ngày rời trại Khe Tối. Bước đường tù mịt mờ, đói khát, bị hành hạ, chết chóc luôn săn đuổi nhưng đời sống vẫn có sự bí mật ở phía trước! Không ai biết được cái sắp đến. Chỉ chuẩn bị. Mơ ước. Phấn đấu. Nhưng hiện tại bao giờ cũng mới mẻ và ngạc nhiên. Đó là sự sinh động cho dù thành công hay thất bại. Cứ nghĩ đã chết đi ở một trại tù nào đó, thân xác đã bị vùi dập ở một ven rừng nào đó như một số người thì giờ đây thân xác ấy đã tan rã trong lòng đất cho cây lá rừng vẫn xanh! Những trang hồi ký, những tập truyện, bây giờ cố vẽ lại, viết lại, thì ngọn gió vẫn vô tình lay động trên cành cây, ngọn cỏ nơi nấm mồ hoang vu! Làm sao quên được quá khứ, một đan kết của khổ đau và thù hận. Thứ thù hận của một chủ nghĩa không tưởng, thêu dệt để đày đọa con người vào một khuôn mẫu như đồ vật.

Ngày tháng sắp tới sẽ ra sao. Hiện tại vẫn là bóng tối. Tương lai vẫn mịt mờ cho cả một dân tộc không riêng gì cho những tù nhân được cho về! Nhưng sự chờ đợi của Nghi đã có thêm một ngày mới. Một dấu hiệu mới. Một chặng đường mới. Dù chưa biết được kết thúc nhưng sự nối kết đã nói lên một hạnh phúc mới. Loại hạnh phúc tìm được mà chỉ những kẻ kề cận cái chết trong cực hình mới thấm thía khi nếm được vị ngọt ở đầu môi.

Quán cà phê vĩa hè đang đông khách ra vào. Đây là nhà in của báo Lao Động nằm cạnh văn phòng tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn trước kia. Sau năm 1975 họ đã chiếm đoạt cơ sở nầy. Từ công viên Hòa Bình nhìn qua, dãy nhà văn phòng Tòa Tổng Giám Mục im lìm gần như hoang vắng. Chỉ có những cây sứ cùi đang còn cố vươn tay qua dãy hàng rào tường rêu mốc, như nhắc nhở người qua đường.

Nghiêm chưa bao giờ đọc tờ báo Lao Động nầy nhưng cơ ngơi của một tờ báo lại do cướp đoạt thì nội dung liệu có nói lên được cái tối thiểu của công lý?

Con tàu Thống Nhất cuối cùng rồi cũng bò vào bến. Chuyến tàu hôm nay về trễ gần một tiếng đồng hồ. Khi tiếng còi tàu vang lên Nghi, Nghiêm và Lân cùng đứng dậy quên hẳn cái uể oải của sự đợi chờ. Lân vui vẻ ra mặt, quày quả ra chiếc xích lô đậu gần đó còn quay đầu lại i ỉ một câu trong bài Lý con ngựa ô, chọc Nghi:

– Anh đưa nàng..là…anh đưa nàng là..là… dề din!

Nghi không trả lời cùng Nghiêm bon chen giữa đám đông vào trong. Cả hai cố gắng tìm một chỗ dễ quan sát. Dòng người nhốn nháo, xô bồ. Sân ga chật hẳn lại. Nghi mặc áo xanh và đội nón lá trông lạ huắc. Nhưng cái căng thẳng trên khuôn mặt Nghi mới đặc biệt.

Con tàu nhả ra đủ loại người. Chen lấn nhau hỗn độn. Tiếng rao hàng, tiếng mời chào bắt khách, tiếng tru tréo, la mắng chửi nhau om sòm. Sân ga với những tình khúc nên thơ và xúc động như lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế hoàn toàn không thấy ở đây. Nghi lẩm bẩm:

– Người người như thế nầy thì khó nhận ra lắm.

Nghiêm cầm cái máy chụp ảnh trên tay và túi đồ nghề đeo ở trước bụng đề phòng bọn đạo chích. Nghi kéo tay Nghiêm:

– Mình lùi trở lại để cô nàng dễ nhận ra tao hơn là đứng gần đây.

Khi lượng người giảm dần, Nghi chỉ tay về một người con gái đang bước xuống tàu:

– Có thể là cô nàng!

Nhưng một người đàn ông vừa chạy tới, đón đỡ cái xách tay. Nghiêm bất ngờ nghe một giọng nói nhỏ từ phía sau:

– Xin lỗi có phải anh Nghi đấy không ạ?

Nghiêm quay lại như một cái máy. Trong khoảnh khắc ấy, Nghiêm dang ra xa và đưa máy lên bấm theo tiếng ồ kinh ngạc của Nghi.

– Tố Uyên! Em đi có một mình? Chị Tố Nga đâu?

Nghiêm chụp vội thêm mấy tấm hình nữa, rồi lãng ra xa dành chút riêng tư cho bạn.

Từ xa nhìn lại, Nghiêm thấy Nghi như chết sửng và tái xanh. Sự việc gì đó đang xảy ra chắc chắn là quan trọng. Quan trọng hơn mọi điều đã tiên liệu. Nghiêm nghĩ ngay đến định mệnh!

Buổi tối, Lân và Nghiêm đạp xe đến nhà Nghi. Gõ cửa thật lâu. Má Nghi ra đón. Bà vỗ vai Lân và Nghiêm thì thầm:

– Tụi con tìm cách an ủi thằng Nghi. Hai bác thấy tinh thần nó suy sụp hẳn. Còn con nhỏ Uyên thì khóc đến sưng cả mắt.

Lân, Nghiêm vào. Lân không còn ồn ào kiểu cái miệng đi trước như mọi khi. Căn phòng khách như rộng hơn. Thật yên lặng. Từng tiếng tích tắc của cái đồng hồ đang treo trên tường nghe thật rõ. Ba Nghi và Nghi ngồi yên trên ghế. Tố Uyên dợm người đứng dậy nhưng Nghi ra dấu ngồi lại. Nghi chỉ tay qua Nghiêm và Lân, nói với Tố Uyên:

– Anh Nghiêm, anh Lân bạn tù cùng trại Khe Tối với anh.

Má Nghi lại ngồi bên Tố Uyên. Bà vỗ vỗ lên vai Tố Uyên:

– Con ăn uống tí chút gì đi để giữ sức khỏe. Đường xa mệt mà không ăn uống gì như thế nầy làm bác lo lắm. Bác đi lấy thức ăn lên cho con nghen?

Lân tiếp:

– Em nên nghe lời bác. Mọi người ở đây như trong một gia đình. Tất cả đều lo cho em.

Tố Uyên đứng dậy:

– Cám ơn hai bác và các anh.

Rồi quay qua nói với má Nghi:

– Con theo bác vào trong…

– Không. Không khách sáo gì ráo trọi. Con ngồi đây. Ngồi yên đây. Để bác lo cho. Phải có cái ăn, cái uống mới được.

Bà vừa nói, vừa ấn trên vai Tố Uyên, bắt ngồi xuống.

Không ai biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào. Vết thương lớn quá. Cả mọi người như ngộp thở. Yên lặng chờ đợi nhưng không biết chờ đợi cái gì! Một lời nói, dù là an ủi, cũng như một nhát dao cứa thêm vào vết thương đang rĩ máu, vào nỗi đau đớn tột cùng.

Cuối cùng Nghi lên tiếng:

– Tố Nga bị thằng chín ngón hiếp ngay buổi sáng tụi mình rời trại Khe Tối. Ngay tại chỗ cưa xẻ!

Tố Uyên tiếp:

– Chị lê về được đến nhà thì kiệt sức. Cả tuần lễ thầy mẹ và em phải chăm sóc cho chị. Chị uất ức lắm. Anh biết, một người con gái bị làm nhục như vậy đau đớn là thể nào! Yên lặng thì càng bị dồn nén, hành hạ mãnh liệt hơn. Lên tiếng thì xấu hổ. Chỉ còn con đường tự sát. Chị như không còn lối thoát. Chị tuyệt vọng. Tuyệt vọng về cả việc chia tay với anh Nghi. Vì thân phận tù các anh ai cũng nghĩ sẽ bỏ xác một nơi nào đó thôi. Nhưng cuối cùng chị cũng vượt qua được. Chị quên bản thân. Quên việc xấu hổ. Chị nói phải làm một cái gì, chị không bỏ cuộc. Chị phải đấu tranh. Nhất định chị phải tố cáo. Chính sự tố cáo của chị mới đưa đến thảm kịch.

Giọng kể đều đều của Tố Uyên thấm trong nước mắt, tiếp:

– Hôm xử ở quận, mấy tên công an xã đã từng đeo đuổi chúng em nhưng không được, cũng vào xem. Khi họ bắt chị trưng bằng cớ, chị bình tĩnh nhìn vào mặt ông trại trưởng kể từng chi tiết, dấu vết chị ghi nhận được trên người ông. Đám công an theo dõi cười khả ố làm tòa phải yêu cầu giữ trật tự.

Sau đó ông trại trưởng được ông chỉ huy phó trung đoàn xác nhận, ông ấy là cán bộ gương mẫu đã được đề nghị chiến sĩ thi đua hai năm liền! Còn ông trại trưởng thì tố cáo chị Tố Nga đã có liên lạc với các anh. Ông trưng bằng cớ lá thư tình của chị viết định tìm cách gửi cho anh Nghi sáng hôm đó, nhưng không dẫn chứng được tên người nhận vì trong thư chị chỉ viết anh yêu dấu chứ không đề tên anh. Ông trại trưởng nhân danh một chiến sĩ cấp thi đua, tố cáo ngược lại chị:

– Chị Tố Nga vi phạm luật pháp nhà nước, có quan hệ bất chính với tù cải tạo, chị sợ tôi tố cáo trước nhân dân nên vu oan cho tôi. Xin các đồng chí xét cho.

Kết thúc, họ xử vụ án không đủ bằng chứng buộc tội. Ông trại trưởng ung dung ra về.

Người trong xã biết sự thật nhưng luật pháp là của Đảng và nhà nước, mình làm sao chống lại nổi? Mình chỉ còn cách tự an ủi nhau thôi. Sau đấy người trong xã thường đến thăm viếng và động viên chị và gia đình thầy mẹ chúng em.

Bị dằn vặt cả mấy tháng dài, từ chuyện cũ họ đuổi gia đình chúng em ra khỏi Hà Nội đi kinh tế mới, chuyện chúng em không thể vào đại học đến chuyện oan ức của chị nên chị quyết định khiếu kiện lên tỉnh.

Chờ mãi. Chờ mãi không thấy ai trả lời nên chị trực tiếp lên tỉnh. Sáng hôm đó chị rời gia đình và không còn bao giờ trở về nữa! Lộ trình xe thì chỉ có một tuyến đường và mỗi một chiếc xe duy nhất nên mọi người đều nhẵn mặt nhau. Hôm đó không ai thấy chị lên xe đó! Chị bị mất tích nên cả xóm cùng với gia đình chúng em đổ xô đi tìm. Ba ngày sau xác chị nổi lên ngoài suối lớn.

Công an điều tra nói chị tự tử vì lý do không rõ!

Tố Uyên nghẹn ngào nấc lên.

Ba Nghi vốn hiền lành ít nói nhưng cũng không chịu đựng được nữa. Ông thở dài rồi bật thành tiếng:

– Quân khốn nạn. Chúng giết người để diệt khẩu!

Má Nghi sụt sịt, vỗ về Tố Uyên:

– Ông trời có mắt nghen con!

Căn phòng tê cứng. Một lúc sau Tố Uyên tiếp:

– Cả xã, cả huyện đang bàn tán xôn xao thì lúc đó quân Trung Quốc tràn qua đánh. Mọi người phải bỏ chạy. Rồi chiến sự tràn lan. Đến sau chiến tranh, họ tổ chức lễ tuyên dương. Ông trại trưởng thành anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân! Ông lên chức lớn hơn.

Thời gian trôi qua. Câu chuyện chị Tố Nga bị rơi vào quên lãng. Mọi người đều ngậm ngùi thương tiếc nhưng không còn ai muốn khơi dậy. Duy ngôi mộ của chị không bao giờ vắng hương khói, đó là tấm lòng của người dân trong xã an ủi linh hồn chị.

Xã hội chủ nghĩa thì thừa luật lệ để kết án người dân nhưng không có một luật lệ nào để có thể đem một anh hùng ra xử tội!

Một tuần lễ trôi qua thật nhanh, sáng nay Tố Uyên trở về. Lân đạp xích lô đến sớm ngồi uống cà phê với Nghi. Vợ chồng Nghiêm cũng đến tiễn đưa. Ba má Nghi lu bu với mấy giỏ xách hành lý nặng nề. Tố Uyên vẫn mặc bộ đồ hôm vào. Đôi mắt to tròn có chút quầng đen trông thật u buồn nhưng không dấu được nét thông minh. Mái tóc đen dài buông xõa ôm ấp một bên khuôn mặt trắng xanh. Trông Tố Uyên đẹp não nùng! Nghi nói với vợ chồng Nghiêm và Lân:

– Hai chị em giống nhau in hệt.

Lân hối thúc:

– Đến giờ rồi nghen. Coi chừng trễ tàu.

Nghi hỏi:

– Đồ nhiều quá, liệu mày đạp nổi không?

– Còn gân mà mầy!

Nghiêm nói:

– Vợ chồng tao đèo bớt một túi chạy theo tụi mầy.

Nhìn Nghi, Lân tiếp:

– Mầy lên ngồi trước đi.

Rồi quay qua Tố Uyên:

– Em lên ngồi chung với Nghi.

Tố Uyên phân vân. Có chút thẹn, nhìn ba má Nghi.

Má Nghi lên tiếng:

– Lên ngồi đi con. Cứ ngồi lên đùi của nó.

Ba Nghi cầm tay Tố Uyên, chậm rãi:

– Về thưa với anh chị như hai bác đã bàn với con mấy ngày qua. Thầy mẹ con và con cứ vô đây càng sớm càng tốt. Nhà bác cũng đủ chỗ cho gia đình con ở. Đàng nào hai bên cũng như một rồi. Thằng Nghi thì không thể đi với con ra ngoải vì thứ luật pháp của xã hội nầy không ai lường trước được.

Nghiêm chuẩn bị sẵn máy ảnh, lên tiếng:

– Phải có một tấm hình chụp chung cảnh nầy mới được. Mời hai bác đứng gần lại chiếc xe một chút.

Lân đang ngồi trên yên, một tay cầm lái chiếc xích lô, tay kia cầm cái nón lụp xụp, vẫy vẫy:

– Đóng phim hả?

– Mày thì lúc nào cũng xía vô được.

Nghiêm ra dấu:

– Nghi, mầy nghiêng đầu qua một tí để mái tóc Tố Uyên không che khuất khuôn mặt mầy.

Hoàng chạy vội đến bên cạnh chiếc xích lô, phía Tố Uyên, vừa lên tiếng:

– Chậm chậm nghe anh Nghiêm, còn em nữa.

[1] Thời điểm năm 1982.

Phỏng Vấn Thiếu tá phi công hải quân Hoa Kỳ Lê Hưng – Người từng lái máy bay L.19 kéo đại kỳ VNCH trên bầu trời Little Saigon

Posted by bienxua on 27 Mar 2016

Thanh Phong

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

LITTLE SAIGON – Hẳn bạn đọc còn nhớ, cách đây không lâu, vào những dịp mừng Ngày Quân Lực 19 tháng 6 hay dịp Tết Nguyên Đán, trên bầu trời Little Saigon, Nam California thường xuất hiện một máy bay trinh sát L.19 kéo theo lá đại kỳ Quốc Gia Việt Nam và tấm biểu ngữ “Mừng Ngày Quân Lực” v.v… Nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ bay lượn trên bầu trời, nhiều người trong chúng ta không khỏi xúc động và cũng rất tự hào về lá cờ vàng, biểu tượng của Người Việt Quốc Gia yêu chuộng tự do, dân chủ. Người đem đến niềm tự hào dân tộc và sự xúc động trong lòng mọi người chính là Thiếu Tá Phi Công Lê Hưng. Nhân dịp ông về Nam Cali tham dự ngày Đại Hội 3 các Phi Đoàn Quan Sát của Không Quân VNCH, chúng tôi được dịp gặp người phi công VNCH mà đến giờ này vẫn còn “đi mây về gió”. Chúng tôi rất ngưỡng mộ ông nên đã mời ông đến tòa soạn Viễn Đông để làm cuộc phỏng vấn, và khám phá ra nhiều điều thú vị về cuộc đời của một phi công tài hoa, nhiều may hơn rủi.

Sinh ra và lớn lên tại thành phố biển Nha Trang, nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, hàng ngày anh nhìn thấy những máy bay quân sự lên xuống, và những chàng trai khôi ngô, tuấn tú trong bộ đồ bay oai phong ngồi trong phòng lái và phút chốc bay vút lên không trung đã làm anh say mê, ngưỡng mộ và mong ước sẽ trở thành một phi công của Không Lực VNCH. Niềm mơ ước đó được thực hiện vào tháng 5 năm 1972 khi anh được trúng tuyển vào binh chủng Không Quân và thụ huấn tại TTHL Không Quân Nha Trang 1 tháng rưỡi, sau đó về Saigon thi Anh văn. Sau khi đậu Anh văn, anh là nhóm đầu tiên trong khóa đi du học Hoa Kỳ vào năm 1973 để trau dồi Anh ngữ và qua trường học lái máy bay. Tốt nghiệp xong, anh về nước vào tháng 9/1974 và được chuyển về Quân Đoàn IV tại Cần Thơ, lái A.37. Thời gian này là thời gian đất nước sắp bị mất vào tay giặc cộng, anh về Saigon và sau đó rời khỏi Việt Nam trên một chuyến máy bay vận tải qua Utapao, Thái Lan. Vài ngày sau anh được qua Guam và chừng một hai tuần sau thì được đưa qua Hoa Kỳ. Đặt chân đến trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas vào tháng 5/1975, lúc đó anh mới 22 tuổi. Phi công Lê Hưng nghĩ tới người thầy cũ đã huấn luyện và bảo lãnh mình là một vị Đại Tá Mỹ, anh liên lạc với vị Đại Tá đó, và được ông giúp đỡ tận tình. Vì tuổi đời còn quá trẻ, mộng bay bổng trên không trung chưa đạt, anh quyết chí vừa đi học vừa đi làm để nuôi mộng trở lại cầm lái máy bay. Sau khi hoàn tất bằng Cử Nhân Cơ Khí tại Đại học Texas Tech, anh xin gia nhập Không Lực Hoa Kỳ.
Dù đã thụ huấn xong về chương trình điều khiển phản lực cơ F5 từ những năm 1973 nhưng anh vẫn phải học lại từ đầu về căn bản quân sự, chịu huấn nhục gần nửa năm, sau mới được chuyển qua một Trung Tâm Huấn Luyện bay học gần 2 năm. Tại đây, tùy theo số điểm học, mỗi học viên được chỉ định học lái một loại phi cơ khác nhau từ phản lực cơ chiến đấu đến phi cơ vận tải, trực thăng các loại. Với điểm số tối ưu, anh Lê Hưng được chọn học lái oanh tạc cơ phản lực tại căn cứ gần Corpus Christi, Texas. Sau khi tốt nghiệp, anh được đưa về căn cứ Không Quân San Diego, California và giao cho lái chiếc S3, một loại khu trục phản lực chuyên săn tàu ngầm của Liên Xô trên vùng biển Đông.
Sau khi phục vụ tại đây hơn một năm, phi công Lê Hưng được chuyển sang phục vụ tại Hạm Đội 7 Thái Bình Dương, đóng tại Phi Luật Tân, bay trên vùng trời Đông Nam Á. Anh kể, vài lần anh bay tuần thám trên biển Đông, anh đã nhìn thấy những chiếc thuyền vượt biên của đồng bào ta. Anh bay sà xuống quan sát thấy ghe chết máy trôi vật vờ trên biển, đồng bào mình nằm la liệt trên ghe, anh đã thả máy đánh dấu tọa độ rồi gọi tàu Hải Quân Hoa Kỳ đến cứu. Có một lần, sau khi vớt người xong, Hải Quân cho trực thăng bốc anh đến gặp đồng bào mình. Mọi người hết sức ngạc nhiên không ngờ trong Không Lực Mỹ lại có một phi công Việt Nam có tình đồng bào tốt đẹp cao quý như thế. Họ cho biết ghe đã bị trôi lênh đênh trên biển 20 ngày rồi, không đồ ăn, nước uống, nếu không có anh kịp thời giúp đỡ thì không biết số phận họ ra sao. Trở về căn cứ, anh đem quần áo, thuốc men đến giúp đồng hương mình tại trại tỵ nạn, anh cũng gặp lại một số đồng đội xưa, cuộc trùng phùng diễn ra thật cảm động. Một vài lần khác, khi bay ngang vùng Cà Mau, anh đã nhìn thấy những đồng bào mình đang đốt rừng làm rẫy, mở tần số đài phát thanh Saigon, anh nghe hát bội, hát cải lương mà lòng dạ xót xa!
Là một phi công Hải Quân Hoa Kỳ, anh bắt buộc phải học đáp máy bay trên Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH), và đã từng đáp phi cơ nhiều lần trên đó, anh nói, mặc dù đã được huấn luyện rất kỹ lưỡng nhưng lần đáp đầu tiên anh vẫn cảm thấy rất hồi hộp vì khi bay ngang thấy phi đạo nó ngắn quá, nhưng chỉ vài lần đáp là quen và thích thú lắm. Tuy nhiên, bất cứ người phi công Hải Quân Hoa Kỳ nào cũng phải hồi hộp, căng thẳng khi phải đáp xuống HKMH vào ban đêm, không có lần đáp nào giống nhau, mỗi lần đáp đều khác nhau . Anh cũng từng lái loại máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không. Khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục về việc làm thế nào để hai chiếc máy bay có thể ráp nối ống dẫn xăng nhỏ xíu từ chiếc máy bay này qua máy bay kia. Anh Lê Hưng đáp: “Khi hai chiếc bay cùng một tốc độ thì không có gì khó khăn cả, hơn nữa máy bay của Mỹ trang bị dụng cụ rất tối tân, người phi công được huấn luyện rất chu đáo nên việc điều khiển phi cơ ném bom hay tiếp tế nhiên liệu trên không hoặc khi phải đáp khẩn cấp đều không có gì khó khăn trở ngại.

Trong cuộc chiến vùng Vịnh, phi công Lê Hưng cũng từng lái oanh tạc phản lực cơ A6 Intruder đi ném bom tại Iraq mặc cho hỏa lực phòng không của địch thi nhau nhả đạn, nhưng anh vẫn đánh trúng mục tiêu và bay về căn cứ an toàn.
Sau khi giải ngũ, anh được thuê mướn chuyên chở các khách VIP và các yếu nhân nước ngoài. Anh đã từng làm việc ở Arabia Saudi , Kualalumpua, Ấn Độ, Kazakistan, qua Ai Cập và bây giờ lái máy bay tư nhân bên Nigeria (Phi Châu) hai năm nay. Trả lời một câu hỏi khác của Viễn Đông, phi công Lê Hưng cho biết, anh cảm thấy anh là người rất may mắn, được công ty bên Canada chọn và giao cho anh những phi cơ đặc biệt chở các yếu nhân và nhiều lần chở các tài tử nổi tiếng (anh kể khá nhiều tên các giai nhân ) đi đây đi đó, và họ rất có thiện cảm với anh. Biết anh là một phi công Việt Nam, họ rất thán phục và quý mến. Loại phi cơ anh đang lái là loại máy bay chỉ có 14 chỗ ngồi. Trước đây lái phi cơ quân sự có vẻ chật hẹp với đầy những khí cụ và nút bấm, bây giờ lái loại máy bay này anh thấy nó rộng rãi, thoáng và tối tân, mình điều khiển dễ như một em nhỏ chơi game vậy; chỉ có lúc cất cánh và đáp thôi còn khi đã lên cao rồi thì cứ như ngồi chơi game vậy, computer làm việc hết cho mình.


Trả lời câu hỏi của chúng tôi rằng có khi nào anh nghĩ đến việc viết hồi ký hay viết sách về cuộc đời bay bổng của mình? Phi công Lê Hưng trả lời: “Tôi không hiểu tại sao, trong lòng tôi lúc nào cũng say mê vấn đề bay bổng; hiện tại tôi đang say mê ngồi trên buồng lái, bay bổng trên không trung, đi huấn luyện cho những phi công trẻ ở các nước khác và gặp gỡ những nhân vật quan trọng trên thế giới, đi đây đi đó, học hỏi được rất nhiều, nhìn thấy những tiến bộ và các sinh hoạt của các quốc gia khác để có dịp so sánh với đất nước mình, nên lúc này chưa thể làm chuyện đó vì đang rất bận bịu với công việc.”
Vào năm 1994 đến 1997, Thiếu tá phi công Lê Hưng là người khởi xướng việc kêu gọi các anh em cựu quân nhân QL/VNCH tại Nam Cali mặc lại quân phục, anh đã mua cả ngàn bộ quân phục về để phân phát cho các cựu quân nhân mình, nhưng một số niên trưởng tỏ ra ái ngại vì mặc cảm thua trong cuộc chiến, không mặc, nhưng sau này khi biết rõ ràng chúng ta không thua Việt cộng về mặt quân sự, chúng ta thua về chính trị thôi nên không lấy thế mà mặc cảm. Và sau đó, không chỉ ở Cali mà khắp nơi trên thế giới có phong trào các cựu quân nhân VNCH hãnh diện mặc lại bộ quân phục của mình. Ngay chính tại VN bây giờ, các bạn trẻ cũng đang thích thú được mặc quân phục của người lính VNCH. Anh cũng từng bay chở các chiến sĩ nhảy dù biểu diễn trong ngày khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, ngày Tết tại Garden Grove Park và bay nhiều lần trên bầu trời Little Saigon, Nam Cali kéo theo đại kỳ VNCH cũng như biểu ngữ, đóng phim và cuộc tranh cử Nghị Viên Westminster vào năm 1992, đem trực thăng đến tham dự trong những dịp diễn hành Tết Nguyên Đán tại Little Saigon… Anh cho đó là những việc đóng góp vào việc phục vụ cộng đồng..

Trước khi kết thúc cuộc phỏng vấn, chúng tôi xin anh đưa ra một lời khuyên đối với giới trẻ VN tại hải ngoại để họ có thể tiếp nối các anh, đem khả năng của mình phục vụ đất nước Hoa Kỳ và sau này khi chế độ cộng sản sụp đổ, họ có thể trở về xây dựng quê hương? anh Lê Hưng nói: “Khi về đây, tôi có sinh hoạt với Cộng Đồng, với Hội Không Quân miền Trung Cali, tôi thấy một điều đáng tiếc là có nhiều anh em Không Quân có nhiều kinh nghiệm phi hành nhưng không có cơ hội, không có chương trình để truyền lại kinh nghiệm cho giới trẻ và cho con em mình trong tương lai. Tôi thiết nghĩ, một ngày nào đó tôi mong muốn làm được điều đó, vì trong quá khứ tôi đã huấn luyện cho những người bạn bè cùng khóa đi bay, lấy bằng bay, bay biểu diễn v.và Tôi đã giúp một em lúc đó mới 17 tuổi nay đã trở thành một phi công dân sự. Trong tương lai, tôi hy vọng thành lập một công ty, xin được học bổng của những công ty lớn và cấp học bổng cho những con em mình thích về phi hành, dân sự cũng như quân đội, để các em sẽ trở thành những phi công cho Không Lực Hoa Kỳ và cho tương lai của ngành Hàng Không VN khi đất nước mình không còn cộng sản.”
Anh tâm sự: Trong suốt cuộc đời anh, anh chỉ tiếc một điều là chưa có dịp đem những điều đã được học hỏi, đem kiến thức và khả năng của mình phục vụ quê hương vì quê hương đã rơi vào tay giặc cộng. Trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH, anh rất ngưỡng mộ Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, vị Tướng đã chấp nhận ở lại chiến đấu với địch quân và bị chúng bắt đi tù 17 năm. Chuẩn Tướng Sang qua đời tại Nam California ngày 08.12.2002, phi công Lê Hưng đã cùng hai đồng đội lái 3 chiếc máy bay Cessna bay lượn trên bầu trời để tiễn biệt cố Chuẩn Tướng về an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Cổ Tích Không Quân – Bài học nhớ đời

Posted bienxua on August 5 2019

Raptor

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Lời người viết: Tại sao lại là “Cổ Tích Không Quân?” Xin thưa đây là những chuyện tôi đã được nghe kể từ rất lâu rồi, nay cố gắng nhớ và viết lại nên nhiều đoạn có thể không còn chính xác, nhất là những yếu tố thời gian, chức vụ, cấp bậc ..v..v.. Xin quý vị độc giả hãy rộng lượng tha thứ. Xin hãy lấy cái nội dung câu chuyện làm chính chứ đừng coi trọng chi tiết. Nếu có những thiếu sót không thể tránh khỏi thì xin quý vị hãy thầm nhủ rằng… có sao đâu vì đây chỉ là một chuyện… Cổ Tích. Tuổi nhỏ, chúng ta thường đọc hay được nghe chuyện cổ tích; khi đã lớn khôn chúng ta biết rằng những chuyện đó khó thể xảy ra trong thực tế! “Khó” có thật nhưng không ai dám khẳng định là không có! Ví dụ như ai có dám nói chuyện “Con Rồng Cháu Tiên” là không có thật? 18 đời Vua Hùng nhưng lại trải dài tời 2000 năm, vị chi tuổi thọ trung bình hơn… 110 tuổi! Hay là những chuyện cây nỏ thần Kim Quy cho Vua An Dương Vương để bảo vệ thành Cổ Loa mà sức sát thương thì… minigun ngày nay còn thua xa lắc? .v.v.. Vậy với những chuyện “Cổ Tích Không Quân” mà tôi sắp kể ra đây, có thật hay cổ tích thì quý vị muốn xếp vào “file” nào xin tùy nghi quyết định.

Ông Cố Vấn
Đầu năm 1970, Ông Jonh Paul Vann từ QĐIV chuyển lên Pleiku làm cố vấn cho Trung Tướng Ngô Dzu, tư lệnh Quân Đoàn II/Vùng 2 Chiến Thuật.
Xin nói vô chi tiết một chút về nhân vật này để quý độc giả biết thêm một người đã từng có một vị trí rất quan trọng trong “Việt Nam War”. John Paul Vann sinh ra và lớn lên tại vùng phụ cận Norfork, Virginia. Năm 1943, Vann gia nhập Không Quân và trở thành một pilot của US Army Air Corps. Khi Thế Chiến Thứ 2 chấm dứt vào năm 1945, Vann mang cấp bậc Thiếu Uý nhưng chưa kịp tham chiến. Năm 1947, US Army Corps tách ra thêm US Air Force, Vann đã chọn ở lại Lục quân và chuyển qua làm sĩ quan tiếp vận. Năm 1950, khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Vann phụ trách quân vận cho SĐ25 và đã lập được chiến công lớn do đã chỉ huy đơn vị tử thủ gần thành phố Pusan cho mãi đến khi được TQLC đổ bộ từ Ichon đến giải vây. Cuối năm 1950, khi Trung Cộng xua quân tràn xuống hiệp cùng quân CS Bắc Hàn xâm chiếm miền Nam thì lúc này Vann đã là Đại Uý đại đội trưởng biệt kích. Ông đã chỉ huy đơn vị này hoạt động thám báo suốt ba tháng trời ngay trong phòng tuyến của địch quân. Sau đó, vì có một đứa con lâm trọng bệnh Vann được rút về Mỹ. Năm 1954, Vann chuyển sang Schweifurt – Tây Đức làm đại đội trưởng súng cối hạng nặng của Trung Đoàn 16/SĐ25BB. Năm 1955, Vann lên Thiếu Tá và trở lại Âu Châu làm sĩ quan tiếp vận cho Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Âu Châu đóng quân ở Heidelgerg. Năm 1957, Vann trở về Mỹ học khoá Chỉ Huy Tham Mưu Trung Cấp và đến năm 1961 được thăng cấp Trung Tá.Qua Việt Nam
Vào năm 1962, Vann đến VN và làm cố vấn cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh SĐ7BB/QLVNCH. Trong trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963, Vann đã bay trên L-19 chỉ huy các đơn vị diện địa phản công lại với VC và cũng chính từ trận đánh này, Vann đã thấy rõ sự cồng kềnh, hỏa lực phi pháo hùng hậu của Mỹ nhưng lại kém hiệu quả khi chống với du kích chiến của VC. Ông ta nhờ ký giả David Halberstam của tờ New York Times cảnh báo đến dư luận và đổ dồn cơn thịnh nộ của ông ta lên người chịu trách nhiệm cao nhất: Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại VN, Tướng Paul D. Harkins. Vann bị buộc rời khỏi chức vụ cố vấn vào tháng 3/1963 và được giải ngũ vài tháng sau đó.Công việc của một viên chức dân sự

Vann trở qua VN vào năm 1965 và là một quan chức đại diện cho Viện Trợ Quốc Tế của Mỹ (AID). Sau một thời gian làm cố vấn cho cấp Tỉnh trưởng, Vann được giao trọng trách điều hành cơ quan CORDS vùng 3 CT. CORDS (Civil Operation and Revolutionary Development Support), Cơ quan hổ trợ phát triển và cải cách dân sự vụ, một tổ chức phức tạp bao gồm: USAID (viện trợ Mỹ) + USIS (Thông tin Hoa Kỳ) + CIA (Tình báo) + Chính phủ, hoạt động hổ trợ cho quân đội nhưng có quyền thay thế nhân sự bên quân đội nếu xét thấy cần thiết. Chính cơ quan CORDS đã vạch ra kế hoạch và hổ trợ cho Cảnh Sát Quốc Gia VNCH tiến hành chiến dịch “Phượng Hoàng”, tảo trừ các phần tử và tổ chức nằm vùng tại miền Nam VN. Đến năm 1968, Vann chuyển về làm xếp xòng CORDS vùng 4CT.J.P. Vann là một chiến lược gia có tầm nhìn sâu sắc và chính xác đối với chiến trường VN. Chính ông đã vạch ra chiến lược chống Cộng tại VN “Giao tranh cường độ thấp & nhỏ trong thời gian lâu dài” ngược lại với “Chiến tranh quy ước & cường độ cao trong thời gian ngắn” mà chính phủ và quân đội Mỹ đang theo đuổi lúc đó.
Trong một lần công tác trở về Mỹ năm 1968, cố vấn chính trị cho TT Johnson là Eugene Rostow đã hỏi Vann là liệu có thể chấm dứt chiến cuộc VN trong vòng sáu tháng không? … “No”… Vann trả lời: “Tôi thấy chúng ta cần nhiều lần lâu hơn con số đó”.
Chính sự thông minh nhưng hay đả kích người khác của Vann đã khiến cho nhiều tướng lãnh và quan chức “diều hâu” không ưa ông ta. Nhưng đối với các sĩ quan và nhân viên dưới trướng thì ông là một vị anh hùng của họ, bởi họ quá thấu hiểu sự giới hạn của chiến tranh quy ước đối với một chiến trường “quái đản” như “Việt Nam War” cho tới thời điểm đó.
J.P. Vann là một quan chức dân sự đầu tiên nắm quyền chỉ huy các đơn vị quân đội tác chiến trên một vùng trách nhiệm rộng lớn ở cấp quân khu. Một quyền lực tương đương với một tướng 2 sao Mỹ hay 3 sao QLVNCH.
Có thể vì có tài nhưng không gặp thời nên bất cứ nơi nào Vann đã đến, ông ta cũng để lại tai tiếng là một ông VIP hách dịch, kiêu căng đến mức ngạo mạn. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, tuy Vann chưa đến nhậm chức nhưng cả quân đoàn II đã râm ran chuyện “ngài cố vấn” sắp đến.

Nghi lễ chào đón!
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cho phi hành đoàn UH-1 (phi cơ riêng của Tư Lệnh QĐII/Vùng 2 CT) bay xuống phi trường Nha Trang đón ông cố vấn J.P. Vann lên Pleiku. Nhưng trong phi vụ này có một thay đổi khác với thường lệ, ngồi ghế Pilot không phải là Đại Uý X….(?) mà lại là… Trung Tá Lê Bá Định, Phi đoàn Trưởng Phi Đoàn 530, danh hiệu Thái Dương 01, Liên đoàn Trưởng Liên Đoàn 72 Tác Chiến KQ – Căn Cứ 92CT/KQ Pleiku.
Trong KQVN ngày trước có nhiều vị mà như lời NT Mệ đã gọi là những “KQ Dị Nhân”; dị nhân không mang một hàm ý xấu các vị đó đã dám làm, dám hành xử những chuyện không ai dám. Không phải vì cái “Tốt” đã khiến cho các vị đó thành “Dị Nhân”, nhưng chính là cái lòng yêu nước nhiệt thành, tất cả vì màu cờ sắc áo đã khiến các vị bất chấp mọi quy luật, lề lối thông thường để làm những chuyện kinh thiên, động địa!
Nếu quý NT nào trước đây đã phục vụ trong CC92CT/KQ/Pleiku thì hẳn vẫn sẽ mãi mãi nhớ đến Ông Trung Tá “Lê Bá Đạo” (Đinh Bá Lệ cũng chính là ổng). Với các NT cựu chiến sĩ Không Đoàn Biên Trấn Pleiku thì tôi xin phép miễn giới thiệu lại vị NT Thái Dương 01 làm chi cho thêm mất thì giờ của quý vị… Nhưng với quý vị độc giả chưa được “may mắn” biết đến Ông Bá Đạo thì xin các vị tìm đọc truyện ngắn “Tin đồn chết người” của NT Bắc Đẩu 01 Võ Ý sẽ biết được một phần nào – tại sao ông lại được bạn bè, anh em yêu mến đặt cho ông nick name đó. Xin dẫn sau đây 2 câu thơ mà chính ông là tác giả để các bạn trẻ biết thêm về một vị tiền bối văn võ song toàn của KQVN:

“Trung kiên một lòng vì Tổ Quốc
Sắc son một dạ với Không Gian”

Ngày trước, dù là anh em rất thân tình nhưng tôi thật lòng không dám hỏi ông vì sao ông lại có thêm một biệt danh nữa là “Định Mát”. Tôi bạo gan hỏi ngay tác giả đã đặt ra cái nickname này là Anh Ba Bụng (Lý Thành Ba – Ba Lý, một người bạn đồng khóa với ông) thì được Anh Ba Lý cho biết: “Cái thằng đó dễ thương lắm nhưng đừng có chọc nó. Nó mà điên lên thì họa may có trời mới cản nó được”. Còn với ông, tôi chỉ dám hỏi vì sao ông lại là ông Bá Đạo? Thì ông bật cười ha hả rồi nói: “Anh chỉ bá đạo với những thằng vô đạo thôi, mấy thằng như vậy mình chơi bá đạo nó mới tởn tới già”.

Khi biết đích thân Trung Tá Liên đoàn Trưởng LĐ72TC/KQ bay đi đón vị tân cố vấn của mình, Tướng Dzu rất vui lòng vì nghĩ rằng với tài bay bổng của ông Định, chắc ông cố vấn mới của ông sẽ rất hài lòng khi có một chuyến bay êm ả và ra lệnh cho BTL/QĐII chuẩn bị làm lễ tiếp đón trọng thể ngay bãi đáp trực thăng của quân đoàn. Nhưng Tướng Dzu không thể nào ngờ rằng trong phi vụ này, ông cố vấn sẽ gặp…. bão, bão lớn cấp 12!!!
Bay trực thăng không phải là nghề của ông Định, nhưng những ai đã từng biết ông thì phải công nhận: Trời sinh ra ông để ông bay. Chẳng những thế ông có thể bay được hầu hết các loại phi cơ mà KQVN có mà còn bay vào hàng cao thủ võ lâm nữa kia!
Khi đã cho tàu bình phi về hướng Pleiku, ông Định rất lịch sự tự giới thiệu và ngỏ lời chào đón ông tân cố vấn (Vann có mang headset) và mong rằng trong tương lai sẽ có dịp cùng ông cố vấn làm việc thật hiệu quả cho công tác chống Cộng. Hình như chỉ chờ có vậy, Vann lập tức xổ “bom chùm” nào là QLVNCH đánh giặc dở ẹt, SQ thì tham nhũng, ăn chơi; lính thì chết nhát, đụng trận chút xíu thôi đã la làng, cầu phi pháo yểm trợ í ới.v.v… Ông Định ôn tồn trả lời chuyện đó không thể như những gì ông Vann nhận xét, bởi nếu đúng như vậy thì chắc VC đã chiếm miền Nam lâu rồi! Vann xoay qua chỉa mũi dùi công kích KQVN, nào là bay dở, lạnh cẳng, chỉ giỏi chở hàng lậu và săn bắn trái phép. Những phi vụ nào bị phòng không bắn là cho tàu leo tuốt lên cao nên oánh bom trật lất, đánh nhầm luôn đơn vị bạn. Các tiền đồn xa xôi bị bê trễ hay thậm chí không bay tiếp tế.v.v.. Bị “chạm nọc” nhưng ông Định vẫn nhẹ nhàng lịch sự mời ông cố vấn hôm nào rảnh rỗi ghé qua căn cứ Pleiku chơi, rồi mời ông cùng tháp tùng các phi vụ hành quân của KQVN, thử coi pilot VN có như những gì Vann nói hay không? Bị ông Định dùng tài hùng biện gài vô thế bí, Vann tức tối chuyển qua đề tài dân VN. Nào là…. rồi thì là…….
Lần này, ông Định không đợi Vann dứt lời, ông chận ngang: “Ông không được nói như vậy, tôi xin nhắc cho ông nhớ, chính ông tổng thống của các ông đã nói dân tôi Việt Nam là bạn của nhân dân Hoa Kỳ”. Lúc đó tàu đã bay vào không phận Pleiku và chuẩn bị hạ cánh xuống bãi đáp trong BTL/QĐII. Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy hai hàng nhân viên, quan chức Việt & Mỹ đang đứng làm thành hàng rào danh dự chờ đón ông cố vấn. Trước khi cởi bỏ headset và seat-belt ra, Vann buông một câu độc địa: “Tôi rất tiếc vì TT của chúng tôi đã tuyên bố như vậy”.
Ông Định nhìn qua anh copilot (anh cũng quay nhìn ông, mặt anh tái mét, mắt đỏ ngầu vì từ nãy giờ anh đều nghe được hết các mẩu đối thoại của hai người), ông nói nhanh: “Toa đáp dùm, để moi trị thằng này mới được”. Nói xong, ông chui qua khe giữa 2 ghế bay, lòn ra đứng sau lưng ông cố vấn lúc này đang lom khom chuẩn bị bước xuống tàu vì chỉ còn cách mặt đất chừng 2 mét.
Ông Định co chân, tống một đạp thật mạnh vào mông ông cố vấn làm ông cố vấn bay từ trên trực thăng xuống, chúi mũi bò càng ngay trước mắt của các quan chức Việt & Mỹ. Không thèm nhìn xuống xem sự thể ra sao, ông Định chồm tới vỗ vai người copil, chỉ hướng ra hiệu cho anh bốc tàu lên, bay về đáp bên căn cứ KQ/Pleiku. Tàu vừa chạm đất, anh copil nhìn qua thấy ông Định lấy tay gỡ hai cái lon Trung Tá cất vô túi, gương mặt ông lạnh như đồng. Ông biết rằng cái đạp đó của ông có thể làm sụp đổ luôn cả công danh sự nghiệp của ông, nhưng ông vẫn đạp.
Không biết sau đó những hậu quả gì xảy ra cho ông Bá Đạo, chỉ biết rằng khi LĐ72TC trở thành Không Đoàn 72 CT thì vị Không Đoàn Trưởng là Trung Tá Lê Bá Định.

Mùa Hè đỏ lửa vùng biên trấn.
Năm 1971, để dành lại ảnh hưởng của Liên Xô đối với chính quyền CSVN đang bị Trung Cộng lăm le hất cẳng; Moscou đã rất hào phóng viện trợ “không hoàn lại” cho CSVN một số quân viện khổng lồ, cực kỳ tối tân cho chính quyền Hà Nội.
Một ngàn xe tăng T-54, PT-76 và cả loại xe tăng phòng không lần đầu tiên được xử dụng là ZSU-57-2 (xin xem trong web: http//en.wikipedia.org/wiki/ZSU-57-2), hàng ngàn hỏa tiễn phòng không SAM-2, SA-7, chống xe tăng AT-3; hàng ngàn khẩu đại bác hạng nặng 130 ly, hàng núi vũ khí cộng đồng, cá nhân + quân trang, quân dụng..v.v.. lại còn gởi cả chuyên gia Nga & Đông Âu sang huấn luyện cho quân CSBV xử dụng thành thạo các loại vũ khí và chiến cụ mới này. Với núi đồ chơi giết người được quan thầy Liên Xô dúi vào tay, CSVN hí hửng vạch ra một kế hoạch tổng tấn công miền Nam với mưu đồ dành dân, chiếm đất tạo áp lực trong bàn đàm phán Paris. Từ ngày 30-03-1972 là ngày bọn chúng bắt đầu phát động chiến dịch Nguyễn Huệ (cuộc tẩn tấn công miền Nam mùa Hè 1972 do CSVN đặt tên), cho đến ngày chấm dứt 22-10-1972, CSVN đã đạt được những “chiến thắng” mà cho đến ngày hôm nay vẫn được nhắc tới là đã tạo ra được một “Đại lộ kinh hoàng”, một “An Lộc”, một “KomTum” với hàng ngàn người dân vô tội đã tan xương nát thịt dưới những trận mưa pháo điên cuồng.

Mùa Hè đỏ lửa phủ chụp lên miền Nam vào lúc 11 giờ 30, ngày 30-03-1972 khi 50.000 ngàn quân VC với 200 chiến xa + ba trung đoàn pháo yểm trợ, tràn qua vĩ tuyến 17 tấn công QLVNCH&Mỹ tại ải địa đầu Quảng Trị thuộc QĐI. Đến ngày 5-4-1972, 50.000 ngàn quân VC với một lực lượng pháo binh, xe tăng hổ trợ giống như tại Quảng Trị đã xuất phát từ căn cứ trên đất Cao Miên tràn qua tấn công tỉnh Bình Long và bao vây thị xã An Lộc thuộc QĐIII. Tại QĐII, Tướng VC Hoàng Minh
Thảo chỉ huy mặt trận B3 cũng với 50.000 ngàn quân, âm mưu cắt đứt miền Nam ra làm hai nên ra lệnh tấn công Tỉnh Bình Định trước vào ngày 5-4-72, cô lập quốc lộ 1, con đường huyết mạch tiếp tế cho QĐI, và cho đến ngày 12-4-72, vùng biên trấn cao nguyên bắt đầu vang tiếng súng khi Cộng quân tấn công Dakto&Tân Cảnh của Tỉnh Kontum.

Không Đoàn 72 Chiến Thuật Pleiku
Trước áp lực đè nặng lên căn cứ KQ Pleiku với những trận mưa pháo ồ ạt của VC bằng hoả tiễn 122ly và pháo 130ly, cũng như Pleiku có thể bị bao vây, tấn công bất cứ lúc nào. Chỉ huy Trưởng Căn Cứ, kiêm Không Đoàn Trưởng 72 Chiến Thuật, Đại tá Nguyễn Văn Bá (cấp bậc khi đó là Trung Tá) cùng các sĩ quan tham mưu của ông đã có một quyết định vô cùng sáng suốt là di tản chiến thuật 50% quân số của KĐ về Nha Trang, luân phiên thay đổi, 1 tuần đi tắm biển, 1 tuần trở lên Pleiku tắm mưa pháo!!!. Chính vì vậy nên các quân nhân KQ “lên ca trực” phải làm tăng gấp đôi công việc, làm bù cho các anh em đồng đội đang đi “tắm biển”. Các phi hành đoàn phải bay mỗi ngày ít nhất hai phi vụ, thiệt hại cũng rất cao. Trong hai tháng 4 và 5-1972, chỉ tính riêng Phi đoàn 530 Thái Dương đã có 4 pilot tử nạn, 3 nhảy dù được trực thăng cứu thoát và 1 bị VC bắt, chuyện tàu bị đạn 12ly8, AK chỉ là “chuyện nhỏ”. Các phi đoàn khác như Bắc Đẩu 118, Sơn Dương 235, Lạc Long 229, Biệt đội Tản Thương 259 cũng bị nhiều thiệt hại.

Tri Ơn Ông Cố Vấn
Trong khoảng thời gian J.P. Vann là cố vấn cho QĐII, ông ta đã làm được nhiều việc, vừa làm công việc của một vị chỉ huy (một người dân sự với chức vụ chỉ huy ngang hàng với Tướng 2 sao), tham mưu cho QĐII, vừa làm nhiệm vụ của một cấp chỉ huy trực tiếp tại chiến trường, đôi khi ông ta lại trực tiếp chiến đấu với VC trên chiếc trực thăng OH-58A Kiowa, đây là chiếc trực thăng riêng do quân đội Mỹ dành riêng cho ông, trực thăng này được trang bị các phi cụ bay đêm tối tân nhất thời đó: Starlight scope (Dạ tinh viễn kính) và Infra Red (Hồng ngoại tuyến) và vũ khí là một khẩu đại liên M-60, một cây súng phóng lựu M-79. Ông Vann đã xông xáo bay khắp QĐII ngày đêm để chỉ huy các đơn vị quân đội Mỹ hổ trợ tích cực cho quân VNCH chống trả lại các cuộc tấn công điên cuồng của VC.
Chính ông cố vấn Vann đã trực tiếp đề nghị với TT Thiệu thay thế Tướng Dzu vì đã để mất 4 quận và một số đơn vị đồn bót của QLVNCH trực thuộc QĐII vào tay VC, lời đề nghị của ông đã được chấp thuận ngay trong buổi họp của BTL/QĐII. Ngày 15-5-72 Tướng Dzu ra đi và người thay thế ông là Tướng Nguyễn Văn Toàn (Quế tướng công).

Khi quân tử trả mối thâm thù
Người xưa có nói: “Kẻ tiểu nhân trả thù trong 3 ngày, nhưng người quân tử trả thù trong 3 năm”.
Và cái ngày ông Vann chờ đợi để gởi trả lại cho ông Bá Đạo cái đạp nhớ đời đã tới!

Hai Ngày sau khi Tướng Dzu ra đi, nửa đêm ngày 12-5-72, tiền đồn BenHet (Kontum) của Tiểu Đoàn 95, Liên Đoàn 22 BĐQ Biên Phòng bị Công quân bao vây, tấn công ác liệt. Tình hình rất nguy khốn vì VC tập trung một lực lượng bộ binh cấp trung đoàn+pháo binh hạng nặng yểm trợ hỏa tập cho từng đợt tấn công. Nếu không nhờ sự tiên liệu và sáng suốt của ông tiểu đoàn trưởng, khi về nhậm chức ông đã cho củng cố công sự phòng thủ rất kiên cố để chống pháo kích và tấn công thì chắc đơn vị của ông đã bị VC tràn ngập trong đêm rồi. Từ sáng sớm đã có máy bay 0-2 FAC của Mỹ từ Camp Holloway bay lên quần bao vùng hổ trợ cho tiểu đoàn BĐQ, nhưng do trần mây quá thấp, không thể dùng hỏa lực không yểm, O-2 FAC này chỉ có thể đề lô cho các FSB (Fire Support Base) bắn yểm trợ chặn bớt những đợt tấn công của VC mà thôi. Đến 1giờ trưa thì có O-2 Bắc Đẩu của PĐ118/KĐ72CT đến thay thế cho O-2 FAC của Mỹ. Tình hình thời thiết đã tốt hơn nên O-2 của PĐ118 đã gọi về Pleiku xin 1 phi tuần A-1 đánh bom theo đúng tọa độ mà O-2 FAC đã bàn giao lại, phi vụ này do Đại Uý N.H.M và Thiếu Uý N.N.H thuộc Phi Đoàn 530 thực hiện.

Nói là thời tiết tốt nhưng vì đang là mùa mưa trên cao nguyên nên các NT đã từng phục vụ ở vùng biên trấn hiểu rõ hơn ba tiếng “thời tiết tốt” này. Phi tuần A-1 này đã phải đánh bom xuyên mây, tôi còn nhớ trong một bài thơ tiếu lâm của một NT đăng trong Lý Tưởng trước 75 là mô tả: “Phòng không anh hổng thèm tránh; anh chỉ ngán đánh bom xuyên mây”, như vậy phi tác này rất nguy hiểm cho tính mạng của người phi công. Hai NT Thái Dương hôm đó, chẳng những không ngán mà còn đánh bom xuyên mây quá đẹp, quá chính xác ngay chóc mục tiêu do Bắc Đẩu 1118 đã chỉ điểm.
Đến chiều, từ bên BTL/QĐII điện sang KĐ72CT gọi hai ông Bá Chủ và Bá Đạo qua trình diện Tư Lệnh QĐII lập tức. Khi hai ông vô tới văn phòng của Tự Lệnh thì thấy có thêm ông cố vấn Vann đang chờ với bộ mặt vênh váo. Không đợi cho ông tư lệnh nói trước mà ông cố vấn tuyên bố ngay vô vấn đề là sẽ đưa hai ông Bá Chủ và Bá Đạo, hai anh pilot 530, hai anh pilot và quan sát viên 118 ra tòa án Quân Sự Mặt Trận QĐII vì tội: “Thiếu tinh thần trách nhiệm và tắc trách khi thi hành nhiệm vụ”; thay vì yểm trợ, hai máy bay khu trục A-1 của PĐ530 ban sáng đã đánh bom ngay vào đơn vị bạn, xoá sổ gần hết quân số của TĐ95 BĐQ Biên Phòng. Như để tăng thêm phần trầm trọng của những lời kết án này, ông cố vấn thảy lên bàn làm việc của Tư Lệnh QĐ một xấp hình chụp “hiện trường vụ án” do các biệt kích Delta nhảy xuống chiến trường chụp lại. Sau đó là những lời lẽ lên án Ông Bá Chủ và Bá Đạo của ông cố vấn Vann.
Nhưng khi trở về phòng HQCC của KĐ72CT phối kiểm lại, hai ông Bá Chủ và Bá Đạo thấy rõ ràng là FAC của KQVN đã nhận bàn giao mục tiêu địch và bạn từ 0-2 của FAC Mỹ, căn cứ theo đó cộng thêm sự chỉ điểm của đích thân ông TĐT/TĐ95BĐQ đã liên lạc trên tần số của máy PRC-25, nên các anh FAC KQVN đã chấm điểm cho khu trục oanh tạc, tại sao lại có chuyện đánh bom nhầm vào đơn vị bạn?
Gần cả tuần lễ, hai ông Bá Chủ và Bá Đạo, cùng các anh pilot PĐ530 và PĐ118 của phi vụ ngày hôm đó phải liên tục làm việc với An Ninh Quân Đội và Quân Pháp QĐII vì cú đánh nhầm chết người này. Nếu kết quả điều tra đúng là các anh đã “Thiếu tinh thần trách nhiệm và tắc trách khi thi hành ..v..v..” thì phen này các anh sẽ lãnh đòn trả thù của ông cố vấn Vann.

Sau đó, một cuộc họp được triệu tập tại QĐII dưới quyền chủ tọa của Tư Lệnh QĐ, sĩ quan Việt & Mỹ của BTL/QĐ, khi ông Vann bước vào phòng họp thì chưa có sự hiện diện của các sĩ quan KQ/KĐ72, ông Đại Tá, phó của Vann, thì thầm mấy câu vắn tắt cho Vann biết nội dung buổi họp, nghe xong ông cố vấn biến sắc và vội vã rời khỏi phòng họp, leo lên chiếc trực thăng riêng OH-58 và cất cánh mất dạng.
Khi hai ông Bá Chủ và Bá Đạo đến phòng họp, vừa an tọa thì Tướng tư lệnh QĐII vô đề: Vụ đánh bom nhầm, xóa sổ TĐ95BĐQ là hoàn toàn không đúng với sự thật; chính FAC của Mỹ đã tắc trách, bao vùng cả một buổi sáng mà không hề hay biết là Tiểu Đoàn 95 đã tự động tan hàng. Tiểu đoàn này có đến 95% quân số là người Thượng, họ thấy tình thế quá nguy hiểm nên đã cởi bỏ quân phục, đóng khố và chạy mất về buôn làng. Bọn chỉ huy VC thấy vậy liền cho quân của họ mặc quân phục này để giả dạng BĐQ âm mưu đánh úp các đơn vị khác của QLVNCH. Nhưng nhờ sự khôn khéo và kinh nghiệm chiến trường của vị TĐT/TĐ95BĐQ, ông đã dẫn trọn bộ chỉ huy của ông chạy thoát vô núi, và sau đó dùng máy truyền tin liên lạc với Bắc Đẩu 118, chỉ rõ mục tiêu cho Thái Dương 530 và kết quả là cả trăm tên VC đã bỏ mạng nhưng trên người mặc quân phục BĐQ. Gần một tuần sau đó, ông TĐT/TĐ95BĐQ đã về đến bộ chỉ huy Liên Đoàn 22BĐQ ở Pleiku và báo cáo trắng đen của sự việc.
Sau khi Tướng Tư Lệnh QĐII dứt lời, ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 72 CT Lê Bá Định xin phép cho ông được phát biểu bằng tiếng Mỹ với các cố vấn Mỹ, ông đã dùng tài hùng biện của mình, xỉ vả các cố vấn có liên quan đến việc đổ lỗi cho FAC của KQVN, cũng với mục đích là ông muốn nhắn gởi các lời xỉ vả này đến ông cố vấn Vann. Chấm dứt buổi họp, các cố vấn Mỹ chưa hề biết Trung Tá Lê Bá Định nên dò hỏi ông này là ai mà ổng dữ dằn qua vậy!

Chi tiết viết thêm: J.P. Vann đã bị tử nạn trong chuyến bay từ Pleiku đi Kontum trên chiếc máy bay OH-58 Kiowa của ông ta vào 9 giờ 20 đêm, ngày 9/6/1972. Theo kết quả điều tra thì viên phi công đã bị ảo giác (vertigo) vì bay thấp theo đường 14 và đã đụng phải ngọn cây gần đèo Chu Pao trong thời tiết rất xấu, trên phi cơ có ba người: Vann, pilot Lt. Ronald Doughtie và một Đại úy Bộ Binh tháp tùng đi Kontum, đúng ra người pilot kinh nghiệm và đắc dụng của Vann là Bob Richard nhưng ông này đã đi phép ở Bangkok và sau đó bị báo cáo vắng mặt không lý do, vì thế mà Vann đã chọn viên phi công mới Ronald Doughtie, mà chắc là chưa có nhiều kinh nghiệm cho kiểu bay bổng với Vann. Cuộc điều tra đã không hiểu vì sao Vann lại chọn lộ trình bay thấp và rất nguy hiểm khi bay ngay qua đèo Chu Pao, khu vực mà đang bị Cộng quân tạm chiếm trong thời tiết rất xấu mà đúng ra họ có thể liên lạc với USAF Ground Control Approach ở Kontum để được hướng dẫn bằng radar đến Kontum, vì sau phi cơ của Vann cũng có một chiếc trực thăng đã bay đáp an toàn tại Kontum bằng cách này. Còn phía VC thì họ rêu rao là đã bắn hạ được Vann, một kẻ thù nguy hiểm của họ.
Thi hài của J.P. Vann đã được bốc ngay sau đó và đã được đưa về Hoa Kỳ an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Lệ Hằng

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Bài 13.

Chuyện trò với Phan Nhật Nam

Điều bất ngờ rình chờ ở đâu đó, thỉnh thoảng lại chụp xuống cho người. Những kẻ may mắn có đời bình an ổn định, bất ngờ kia gây nên kỳ thú; riêng người cầm bút, căn cốt tận lòng thèm muốn mới lạ, phiêu lưu, và hiện thực nên từng ngày với đời sống ào ào sóng gió. Họ đi trước đời thường, tiên tri, nghi hoặc; họ lầm lũi phía sau, sục sạo dĩ vãng với vô vàn biến cố nguy nan như trí tưởng tượng riêng tư đầy bất trắc.

Phan Nhật Nam và Lệ Hằng là hai người bạn văn; họ quen biết, thân thiết từ ngày dưới mái trường trung học. Đời họ chia làm hai phần, những ban thưởng và những trừng phạt, ngọn roi đời bao phen quấn siết không thương tình, những biến cố kinh hoàng nhận chìm họ xuống … Hai kẻ viết văn tưởng chừng như đã có lần không chịu đựng nổi. Quả thực, không thể nào chịu nổi. Sau những đổi thay, đảo lộn thấm sâu ấn tượng và bang hoàng trí nhớ … Hai người ấy cuối cùng đã gặp nhau trong cảnh huống kỳ lạ, rất đỗi xót xa. Không còn biên giới giữa hai người bạn. Không cách biệt của hai giới tính. Bởi, hai người bạn ấy có chung một NỖI ĐAU.

Lệ Hằng (LH)- Chào nhà văn, người bay lượn tung trời, mấy nghìn miles, vòng lên, vèo xuống khắp nước Mỹ, cuối cùng chạy trời không khỏi nắng, đến đất Úc để phe ta ở đây bắt tôi bày cuộc phỏng vấn gay cấn này. Hai mươi năm … Chúa ơi! Bằng cả một đời con gái. Mới nghe thì tưởng là điều tự nhiên, nhưng hãy nghĩ lại …

Hai mươi năm động trời khủng khiếp. Nhưng thôi, anh có vài lời với người đọc Châu Úc đi; bạn văn, bạn lính, bạn tù, kể cả bạn giang hồ của anh ở đây chắc cũng không ít hơn bên Mỹ; là đàn bà mà tôi nghe các ông ấy đồn đã từ lâu … Từ ngày anh ra tù, nhất là năm ngoái, khi có cái chuyện trời ơi gì bên ấy.

Phan Nhật Nam (PNN)- Tại sao lại không nói liền với bạn đọc về hai người cầm bút; chứ đừng bằng cách thưa gởi khách sáo … “Chúng tôi xin thân ái chào quý vị độc gia … Chúng tôi rất cảm động được hầu chuyện cùng quý vị … Chúng tôi đền đáp tấm thịnh tình … Thỉnh thoảng lại cười cười … Xin quý vị cho tràng pháo tay!!” … Cứ như kép hát đang trên sân khấu Đại Nhạc Hội. Tôi không quen vụ này, xin cho thông qua. Hỏi đi bạn nhỏ ơi.

LH – Rất đồng ý với anh.

PNN – Mười bốn năm tù đầy lăng nhục, khốn khổ của hai mươi năm nước mất nhà tan không làm tôi quên được … Vẫn nhớ như in, chính xác cảnh đau thắt của những ngày cuối tháng Tư, 75. Hôm tán loạn đó, nghe cô bàn chuyện đổi tiền, tìm đường di tản. Chuyện ấy mà thành, không biết giờ này cô đã ra sao? Nói cho cô biết, tôi còn nhớ nhiều hơn nữa, những điều cô không ngờ. Cô nhớ lần chạm trán thứ nhất của hai kẻ viết văn sau đoạn thời gian thuở nhỏ, Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.

LH – Tù đầy, đói khổ vẫn không bào mòn trái tim ông chứ, tôi hơi lo đấy, nhưng chuyện đó tính sau. Hãy nói về ông, về cuốn sách. Hôm ấy là lần trình làng chính thức MÙA HÈ ĐỎ LỬA.

PNN – Hay quá, sao lúc này cô khiêm tốn, dịu dàng, biết nhường nhịn cho người như thế; ngày xưa chỉ cứ nhìn đâu lên trời. Từ trời xuống đến là ta thôi …

LH – Ngày còn bé ai chẳng thế. Anh tiếp phần mình đi

PNN – Vâng, phải nói rõ cho người đọc bây giờ được hiểu … Hôm đó, Nhà Hiện Đại tổ chức ra mắt ba cuốn,

THUNG LŨNG TÌNH YÊU, TÓC MÂY của Lệ Hằng và MÙA HÈ ĐỎ LỬA của Phan Nhật Nam. Tôi chẳng thể nào quên những buổi vui ấy; ngày đó cô nhỏ xíu mà cũng bày đặt khóc, cười, viết văn, làm báo … Sách cô toàn ô mai, xíu muội, bánh kẹo, tình thơ, ngày thơ … Sách tôi máu lửa, xác người; trang giấy khét lẹt thuốc súng. Tóm lại, không đồng dạng tí nào; vậy mà cô với tôi cùng chia chung chai sâm-banh, cắt chung một bánh ngọt hai tầng.

LH – Còn nữa chứ, cả ba cuốn sách đều do Đằng Giao trình bầy, nhà xuất bản Hiện Đại của Nguyễn Văn Thành lo phổ biến, quảng cáo, phát hành. Anh Thành và Hiện Đại là bệ phóng khởi đầu rất hào phóng và dễ thương đối với người viết.

PNN – Chỉ dễ thương thôi sao, anh ấy là gã tỉ phú đi chân đất, hàng đầu mã thượng, đúng nghĩa bằng hữu giang hồ. Cô có qua Mỹ, anh em ta, nghĩa là cả anh Thành, cô Huệ … Mình bày lại gánh hát 44/5 Công Lý … Nhưng đối với cô cái gì chẳng dễ thương, đất trời dễ thương, đàn ông dễ thương … Đời nó hành cho tả ra như thế chưa đủ ngán sao?

LH – Chuyện đó hạ hồi phân giải. Đáng nói ra, thuở xưa, chẳng ai nghĩ anh sẽ thành tay viết văn. Anh biếng học, ham chơi, ham đóng kịch … Anh biết mọi thứ trên đời; khổ thay cái đáng biết thì lại không; cái chuyện cơm áo gạo tiền, công danh chức phận. Những điều này anh mù tịt, làm sai be bét. Nhỏ Khanh, em anh, hai đứa cùng lớp, cùng tuổi; hôm hai đứa nhòm lên sân khấu xem anh đóng kịch cùng Nguyễn Bá Trạc, mặt mày vẽ than, làm trò, nhẩy múa … Cả hai chúi vào nhau, cười đau cả bụng. Rồi đến đêm kịch “Bỏ Trường Mà Đi”, chẳng nhớ vở kịch đầu đuôi ra làm sao, chỉ biết có nhiều đoạn cảm động làm bọn con gái khóc thút thít, mùi soa chuyền tay nhau tới tấp … Nhưng thật ra, cả trường đều nức lên chứ chẳng phải riêng bọn này. Dân Phan Châu Trinh lúc đó đồn ầm … Phan Nhật Nam đóng kịch giống hệt James Dean!! Kể cũng may, có lẽ nhờ mẹ anh với nhỏ Khanh ăn ở hiền lành, nên dẫu qua vở kịch đầu đời tiền định, mặt anh lầm lì, tan nát như James Dean mà anh vẫn sống được đến ngày nầy …

PNN – Cô nhắc đến đêm kịch ở Đà Nẵng … Trời đất ơi, sân trường ngày đó còn ngập đầy cát. Phải cát biển không nhỉ? Tôi không nhớ rõ, nhưng Đà Nẵng tuổi nhỏ của cô và tôi thì dày dặt cả một rừng dương. Rừng dương phía biển Thanh Bình mà ba mươi năm, bốn mươi năm sau vẫn phân biệt từng âm tiếng rì rào khi gió chuyển qua tàng lá … Chắc cô cũng thế thôi, đời đời cũng không quên nổi. Biết đâu cái mầm chủng tử văn chương của chúng ta đã được nẩy sinh từ những ngày thơ dại đó. Nhà cô ở phía Thanh Bồ, sát mé biển hẳn nặng dấu ấn hơn cả tôi. Coi chừng lại phát khóc chứ chẳng chơi. Vở kịch đêm đó đúng tên là “BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI … ĐI XUỐNG CUỘC ĐỜI.” Kịch do Đỗ Toàn viết chung với Võ Ý, cả hai sau này đều đi Không Quân. Đỗ Toàn, Đại Úy lái A 37, chết đúng ngày, đúng giờ ký kết “HIỆP ĐỊNH TÁI LẬP HÒA BÌNH TẠI VIỆT NAM”. Cũng tháng Giêng này hai mươi ba năm trước. Vở kịch như một điềm báo hiệu về định mệnh của mỗi người. Gặp cô lại hôm nay cũng là điều định mệnh. Con người cứ thế tự nhiên sống và chết thôi.

LH – Không phải “đi xuống” đâu, đúng ra phải nói ông bị “đá xuống cuộc đời”. Đời và sự ác, chúng hè nhau đá nát bấy người ông mấy phen chí mạng, như chỉ mành treo chuông. Đúng không? Thôi, bắt đầu từ đây, anh hãy nói tí ti về cuộc đời, sự nghiệp văn chương, ái tình nhớn, ái tình bé … Để người đọc có dịp chia sẻ vui buồn cùng ông – Ông nhà văn!!

PNN – Ghê chưa, nói cho cô biết, từ nhỏ đến giờ, tôi chỉ quen truy lùng người ta, chưa hề bị ai hỏi cung, vặn vẹo đến mức tinh quái như thế này. Phải chăng, ỉ thế cùng môn phái nên bày trò khống chế, áp bức nhau!?

LH – Chưa bao nhiêu đâu, anh còn bị dài dài. Thôi, mời ông tự khai làm Lý Lịch Trích Ngang, mười mấy năm đi tù, khai báo, tự kiểm chai cả tay rồi, chơi khó nhau làm chi anh Hai?

PNN – Thì đây, chẳng việc gì cần phải dấu, mà cô còn lạ gì mặt tôi, sao cô không giúp tôi, nói luôn với Bạn Đọc cho tiện.

LH – Tôi nói hộ sẽ bị nghi ngờ (… cười); với lại người ta ái mộ anh cơ mà.

PNN – Trình với bà … Thế này nhá, tôi tên thật Phan Ngọc Khuê. (Biết đâu mang cái tên hiền lành này, đời bớt phần khốn nạn …), sinh ngày 9 tháng 9, 1943, chánh quán thôn Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị. Chẳng biết lúc nào, tại sao, tên tuổi bổng nhiên thành Phan Nhật Nam, sinh ngày 28, tháng 12, 1942, làng Phú Cát, Thừa Thiên. Tóm lại, ngay từ đầu đã có gì bất thường, không thật.

H – Đời anh nó đã thế, gắng mà chịu, kêu ca nỗi gì nữa.

PNN – Thì tâm sự đôi điều với người đọc, cần gì kêu ca với ai. Từ cái “Phan Nhật Nam” dần hiểu ra, đời nó sẵn bày trò chơi nghiệt.

LH – Nói rõ ra đi ông, gỏn lọn như vậy ai hiểu nổi. À nhớ ra rồi, đấy là cách lúc nhỏ ông đã làm một lần, lúc thi lục cá nguyệt, ông không làm bài được, biên đại đáp số vào với lý luận … Thầy là giáo sư thì phải biết chứ cần gì phải giải rõ ra từ A đến Z!! Ông chơi ngông như thế cả trường không ai không biết.

PNN – Cô có trí nhớ tốt đấy; nhưng vụ “Phan Nhật Nam” hay phạm nan nhất, diễn nôm ra là: “Thằng Tù có thân thì đáp số là thế này: “Phan Nhật Nam là phạm nhân nan phận nan giải nhất”.

LH – Đáng đời chưa, ai biểu kêu căng phách lối để đất trời ghét cho.

PNN – Ta cũng không hề nhát gan, chấp nhận trận đánh thẳng mặt. Cũng như cái vụ đi lính Nhẩy Dù ấy mà …

Ra trường đứng thứ 189 trên 191; như thế cũng chỉ là đậu chót thôi vì hai thằng cha cuối cùng kia được điểm … vớt. Nhưng dù đứng thứ 189 lại bắt được một chỗ thơm như … máy: Binh Chủng Truyền Tin.

LH – Thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Có lời mừng cho ngươi, chẳng phải khi nào cũng chỉ gặp điều khốn nạn …

Phải không người bại trận?

PNN – Nhưng chính vì thế mới lộ ra điều … định mệnh!!

LH – Anh học làm kép mùi từ lúc nào vậy?

PNN – Đừng đùa trên khổ đau của “tha nhân”, thưa nhà văn … Nhà văn nữ hải ngoại!!

LH – Anh gọi như thế, tôi phóng đại anh thành “đại vănhào” cho biết tay. Nhưng thôi, đừng tố nhau nữa, ông nói rõ oan ưng về “cái gọi là định mệnh ấy đi”.

PNN – Đây nói rõ để “thông cảm nỗi lòng”: Được chỗ lính truyền tin bình yên kia như người khác thì mừng húm, về nhà bảo bu đi hỏi vợ, sinh con, đợi ngày lên quan lớn và tìm cách … tham nhũng!! Nếu phải chết chỉ do đút tay vào cầu chì bị điện giật thôi. Nhưng ở đây, tôi lại cạy cục xin xỏ thằng bạn cùng khóa, thằng cha này chọn được chổ nhẩy dù. Tôi nghiêm trọng chỉ cho hắn ta tương lai (rất bảo đảm) nằm thẳng cẳng “huy hoàng” trong xe tang hoặc vinh quang lên thiếu tá đi “xe jeep bọc nệm trắng”!! Anh cu sau phút hăng tiết đầu tiên đâm ra lạnh cẳng, thế là chịu hoán đổi cho tôi chỗ nhảy dù. Hôm ra mắt sách ở Atlanta, Georgia hồi tháng 7 vừa qua, gặp lại, anh chàng cảm động khóc nức lên trước đám đông với lời thống thiết. “… Ông Nam nầy gánh hết tai họa đời lính, đoạn trường tù đày 32 năm từ ngày ra trường cho tôi … Hắn ta tên Trần Tử Duy, người Nha Trang.

LH – Đúng là “phúc cho kẻ nào không thấy mà … ham”, ông Duy kia và anh. Đôi bên đều có lợi, phải không nào?

PNN – Hắn ta đi du học Mỹ, đậu kỹ sư điện tử, nói như thế nghe xuôi, chứ tôi thì được cái gì, dăm cuốn sách và lon đại úy nhiệm chức, tức cũng chỉ là trung úy thôi, trung úy thực thụ, bởi nhà binh không có trung úy tạm thời, nhiệm chức. Đại uý nhiệm chức-Trung úy thực thụ, mười hai năm kể từ ngày ra trường, nghĩa là lên được … một lon rưỡi!! Cám ơn nhà binh. Sang thật!! Cũng may, vi-xi nó vào sớm, muộn một chút nữa, biết đâu chỉ còn khoảng trung sĩ, thượng sĩ.

LH – Không phải người lính nào cũng là chiến sĩ đúng nghĩa. Nhìn lại đời, anh không thẹn với những bông Hoa Mai của anh là được rồi. Hơn nữa, đời lính đã giúp anh tạo nên một sự nghiệp khác … Gì cũng là nhà văn chứ bộ, nhà văn trẻ đang lên của quân đội … Danh xưng nghe khiếp quá.

PNN – Ai truyền cho cô cái tước kinh hoàng ấy đấy!!?

LH – Ông Chiêu, Nguyên Vũ chứ còn ai vào đây nữa, nhưng đâu phải mỉa mai, xiên xỏ gì anh.

PNN – Có lý do cả đấy, vì ông ta là người lancer Dấu Binh Lửa, chẳng lẽ lại tự thú mình đã in một cuốn sách tầm phào?!

LH – Đừng làm bộ khiêm tốn để tôi phải ca anh, không hẳn chỉ có Nguyên Vũ đâu, mà Đỗ Quý Toàn đã giới thiệu nồng nhiệt, cảm động trên Chương Trình Văn Học Nghệ Thuật ở Ti-vi Sài Gòn và ông Võ Phiến dành cho một địa vị đáng kể trong Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam và Ký, Bút, Kịch Miền Nam.

PNN – Đương nhiên Dấu Binh Lửa có giá trị riêng của nó. Cuốn sách đầu tay cũng là giòng chữ đầu đời, đọc lại thấy thương vô cùng.

Thôi gấp sách lại lòng nhủ thầm

Ai qua sống sót kẻ hành nhân

Chỉ chiếc bóng ta trên đường vắng

Vạn dặm dậy mờ hơi sương dâng

Đó cũng là lý do thúc đẩy tôi quyết định sửa chữa và tái bản Dấu Binh Lửa đầu tiên ở hải ngoại trong mùa hè vừa qua.

LH – Ơ hay ông thành … “nhà thơ” bao giờ thế nhỉ?!

PNN – Không phải một sớm một chiều đâu cô ơi, bởi “thi tất cùng nhi hậu công”; ông Tô Thùy Yên nếu không đi tù thì chưa chắc đã thấm hiểu …

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe động từ tâm lượng đất trời

Và Đỗ Phủ ngày xưa khó mà viết được Bành Nha Hành, Vô Gia Biệt nếu không nhiều phen sống dở, chết dở, khổ đau, khắc khoải …

LH – Thế là anh đã … “nhất trí” cùng với Phùng Quán,

Có những phút ngã lòng

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.

PNN – Chẳng phải nhất trí, mà tôi còn hiện thực tình cảnh “dùng dao viết thơ trên đá”, ở đây tôi không có đến con dao, mà phải trở ngược cái cán chiếc thìa để vạch lên tấm bệ nằm …. May là chiếc thìa inoxidable của Mỹ nên “viết” bao nhiêu cũng không … mòn. Cái thìa nầy tôi dùng để khuấy sữa cho thằng bé con, ngày đi tù tôi mang theo, đến bây giờ vẫn còn. Lê tất nhiên chỉ viết tắt các đề mục để có thể nhắc, nhớ lại … Mỗi ngày “làm thơ” một bận … Cứ như tập thể dục vậy … Luôn cả lúc thức giấc, chẳng biết đêm hay ngày vì khi nào cũng mờ mờ nhân ảnh … Ngày mới qua Mỹ, ở Tòa Soạn Người Việt, tôi đã nói với các ông, bà phe ta … Được làm thi sĩ là nhận một ân huệ lớn … Tôi không nói quá đâu.

LH – Nhưng nếu không làm thơ được thì sao?

PNN – Thì sống dở, chết dở, sống không ra dạng người, chết không yên nấm mồ. Bỏ cuộc cũng là cách chịu khổ. Nhưng rồi tất cả chỉ vô ích thôi, không giải quyết được gì cả. Nhưng chính trong cơn hấp hối kinh hoàng kia, phe ta vẫn lời lớn!!

LH – Khổ đau là ngọn lửa luyện kim, chẳng lẽ lại không xóa được biên giới tạm bợ, không thực giữa phe ta, phe nó hở nhà văn? Anh đã từng dựa lưng nỗi chết, chênh vênh bên bờ vực, thách thức với cả đao thủ phủ của anh, chẳng lẽ anh lại không dám nhảy một cái quyết định để đưa anh thành một nhà văn lớn thuần thành và đúng nghĩa – Người không bị quẩn chân, vướng cẳng với những chuyện thời sự tẹp nhẹp, bình thường đáng sợ của mỗi ngày chung quanh?!

PNN – Cô nói cũng phải, nhưng thù hận, thống khổ cũng phải được tôi luyện và hóa giải đi, nếu không, nó trở nên thành cái nghiệt cho chính cá nhân mình hoặc rộng lớn hơn cho cả dân tộc. Tuy nhiên, cũng tùy cách giải quyết, tùy phản ứng từng lúc. Có thể nặng ngàn cân tưởng như núi đè chặt người xuống, tình cảnh những năm đầu tiên của giai đoạn kiên giam lần thứ hai, 80, 81, 82 … Nhưng rồi sau quen dần và trạng thái huyền nhiệm có thật xẩy ra … Thời gian, không gian như được lọc sạch, nhẹ tênh. Những đêm mùa đông, từ phòng giam Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, sát biên giới Lào -Việt nhìn ra … Màu trăng, dáng núi, giây khắc cùng hòa vào nhau trong nguồn biền biệt toàn khối bất hoại, hiện thực nên dòng tâm cảnh kỳ diệu, cảm động …

Chỉ còn Chúa KY-TÔ

Để cùng tôi nói với

Chúa căng thân Thánh Giá

Tôi ngậm khổ từng giờ …

LH – Đấy phải chăng là nguyên do để người ở Mỹ cáo buộc anh tội kiêu ngạo Phạm Thánh, đặt mình ngang hàng với Đức KY-TÔ?

PNN – Tôi lại nghĩ đấy là những lời ca ngợi xứng đáng và mỹ lệ của một kẻ ngoại đạo dâng lên Con Thiên Chúa – Con Người Khổ Đau Jesus Nazareth. Do được thực chứng – Người chỉ tiến vào nước Trời qua khung cửa hẹp, hòa nhập cùng Thiên Chúa từ khổ đau, với khổ đau.

LH – Ngoài những suy tư huyền nhiệm Thần Học đó, anh làm gì với bảy năm tám tháng trong hầm kiên giam?

PNN – Cô nghĩ tôi có thể làm gì khác ngoài việc vận động những CHỮ trong đầu … Nguyễn Mạnh Côn khi còn ở Trại Z30D, Hàm Tân đã từng nói: “Thay vì viết “HÒA BÌNH, NGHĨ GÌ, LÀM GÌ … nên sửa lại ở TÙ, NGHĨ GÌ, LÀM GÌ?!!”. Và tôi nghĩ, cũng trong giòng so sánh này, chẳng phải riêng mình Nguyễn Mạnh Côn mà số đông người Miền Nam cũng đã không chuẩn bị đủ cho tình hình tồi tệ sau “hòa bình 73”; lại càng thảng thốt phũ phàng với “hòa bình thống nhất 75.” Kẻ sĩ, người có học, có lòng là những nạn nhân đầu tiên không đường cứu thoát. Nguyễn Mạnh Côn là điển hình về nỗi “thất bại tuyệt vọng” cực độ bi thảm này. Cái chết cũng hoàn toàn vô ích.

LH – Nhưng anh vẫn còn sống đấy?

PNN – Tôi có cách tự cứu riêng. Bí kíp sống còn ở trên bàn tay ấy

Tôi là kẻ chỉ quen viết văn

Nhưng giấy bút đã bị người lấy mất

Đêm đen thăm thẳm lạnh căm

Làm THƠ trên mười ngón tay tính nhẫm …

Cứ thế mà qua mười bốn năm với tình cảnh chết người như thế này …

Bước đằng trước ba bước

Bước đằng sau ba bước

Ngang dọc hai mươi mốt gang

Căn phòng chìm ảm đạm

Ta là ai họ Phan?

Người Nam giam đất Bắc

Đôi lúc chợt bàng hoàng

Phải chăng năm thứ tám …?!!

LH – Năm thứ tám là như thế, bây giờ năm hai mươi mốt, anh còn gì lo lắng, trăn trở như thuở ấy không?

PNN – Chỉ mong đừng bị cáo buộc, yêu cầu này nọ …

LH – Dựa vào những tiêu chuẩn nào để đòi hỏi, cáo buộc một người – Ở đây là một “người lính- viết- văn-bị cầm tù”? Nhân danh ai và ai có thẩm quyền? Phải chăng anh muốn nói: “Những người kia không muốn anh “được quyền trưởng thành trong khổ đau của chính mình” như ngày xưa anh đã kinh qua gian khổ lửa đạn hay sao?”

PNN – Cô cứ đọc trên sách, nhất là báo ở Mỹ thì rõ. Tại Úc này, hy vọng tình thế khác hơn. Ở đây, các bạn trẻ làm báo có nhiều nỗ lực rất đáng quý. Họ có cách thức của các ông ĐNg Yn, TrDT, VnLh, AhQn … Những người làm báo chuyên nghiệp của Sài Gòn thuở xưa. Tôi muốn nói đến nhật báo, lãnh vực ngày trước của tôi, hôm nay của cô. Ở Mỹ, số lượng, phẩm chất báo đúng định nghĩa, đếm không quá bàn tay; chỉ riêng vùng Orange County có hơn hai trăm hội đoàn, số lượng báo cũng phải sấp sỉ như “nhu cầu hội đoàn” này. Tôi có cảm giác  những người làm văn, làm báo ở đấy đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ … Lực trấn áp cấu thành do “công tác phối hợp nghệ thuật” giữa Bộ Thông Tin Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa (Tưởng như đang còn tồn tại ở Mỹ với những giới chức không hề quen việc và cực độ khắc nghiệt) và Phòng Phản Gián Đặc Trách Văn Nghệ Sĩ PA 15 của Việt Cộng. Sau 30 tháng 4, 75 cô có đi học cái lớp “bồi dưỡng chính trị” hẳn đã nếm mùi PA 15 của phe thắng trận nó vô luân và phi nhân như thế nào. Còn ngoài nầy, đáng lẽ đã ở Mỹ lâu, những người “làm báo, viết văn, làm chính trị …” kia không nên lập lại những trò kiệt cùng, nghiệt ngã tầm phào ấy. Cái trò mà tôi không muốn gọi ra tên … Nếu ở trong nước tranh Bùi Xuân Phái vẽ phố Hà Nội bị Trường Chinh phê bình “…thiếu sinh hoạt xã hội chũ nghĩa … “; thì ở Mỹ có cáo buộc khi viết “Người Lính Việt Nam là một nhiệm mầu … ” tôi là … cộng sản nằm vùng, vì thiếu chữ “cộng hoà “(mà phải là cộng hoà viết hoa, chữ romain mới được). Cũng một phần những ông “tổ sư chống cộng” nầy không đọc … sách và nghe nhạc bao giờ. Bởi lẽ, đấy là chương cuối của “Mùa Hè Đỏ Lửa” và bài hát Phạm Duy cũng phải nên sửa lại … Cộng hoà, cộng hoà … Cô nhớ khi viết văn!!

LH – Thì cũng có lần ranh an toàn kiểu “vệ sinh công cộng chứ”; chẳng lẽ cả một nền văn học, văn nghệ, báo chí hải ngoại sau hai mươi năm thử thách khổ nạn chỉ sản xuất rặc loại văn hóa Take Away hay Food to Go?

PNN – Chẳng những chỉ “to go” mà không biết đến cả “Go Về Đâu”. Tôi lại có thêm một ý nghĩ, chỉ một đoạn di tản dọc Tỉnh Lộ 7 từ ngày 15 tháng 3, 1975, đoạn đường Pleiku về Tuy Hòa qua sông Ba … Chỉ khúc sông này thôi cũng đủ cuốn trôi toàn thể những gì của khối lượng văn chương, thi ca Miền Nam trước ngày mất Ban Mê Thuộc, bỏ Tây Nguyên. Đấy là tình trạng của trước 1975. Nay sau hai mươi năm ở hải ngoại … Cô cứ kể ra đi?! Tuy nhiên, chúng ta vẫn hy vọng nơi Biên Khảo, Tạp Chí Văn Học, bởi người đi từ Miền Nam vốn thủ đắc được cái ở phía Bắc không có – Tự do tư tưởng và rộng rãi kiến văn.

LH – Công bằng một chút đi anh, giòng cuốn ấy cũng phải xóa luôn cái gọi là “văn chương giải phóng, hiện thực xã hội chủ nghĩa” ở Miền Bắc, cũng như của những tay “thợ viết” thuộc Cục R, Miền Nam.

PNN – Lẽ tất nhiên, nhưng tại vì cô đang đề cập đến văn học, văn hóa hải ngoại với những người viết phát xuất từ Miền Nam như cô và tôi; nên từ một phản ứng đã thành thói quen, tôi mới nhắc đến một cội nguồn, so sánh việc và người của, giữa chúng ta. Ở đây tôi nêu rõ một thí dụ, hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, người ta vẫn muốn và tiếp tục làm sống lại “người và việc” chung quanh người lính VNCH (Như trước 1975 – Coi như không có một chút nhỏ thay đổi.) Nhưng thực tế đau đớn của Miền Nam, của quân lực VNCH đã chứng nhận rằng: “Người Lính đó đã bị bức tử từ cao nguyên, nơi cầu tàu Đà Nẵng, trên bến phà Thuận An, Huế … Người lính đó đã bị đặt vào tình trạng bi phẫn “tự lột truồng” ngay buổi sáng 30 tháng Tư.” Cao Xuân Huy, Hà Thúc Sinh và rất nhiều người đã kể lại rõ, đủ, chính xác cuộc bức tử gớm ghê này. Nếu người lính ấy (trong đó có tôi), còn tồn tại hay chăng … Thì cũng chỉ hiện hữu với trái tim hóa đá bi thảm của chính họ. Nhưng văn học, văn nghệ hải ngoại hình như vẫn muốn phục sinh loại hình “ngộ nhận thê thảm” này bằng cách gán cho người lính những “tính lịch sử, tính xã hội”; những ngôn ngữ, cảnh sống họ không hề thực hiện kiểu “anh tiền tuyến, em hậu phương” của Sài Gòn trước 1975, hoặc những món ăn tâm lý, siêu hình nhẫn tâm vô dụng, bất khả thi … Trên chiều hướng này, văn học hải ngoại mà tôi dự phần trong hai năm qua đã và đang đặt nên những vấn đề “giả” với những nhân vật, sự kiện tiểu thuyết hiện thực hai tình trạng quá độ: Những nhân vật lịch sử được canh tân hóa qua ngôn ngữ hiện đại để giải quyết những vấn đề không hề cần thiết đối với sinh mệnh hiểm nghèo của dân tộc. Hoặc những người Việt được “Mỹ hóa” ở những khía cạnh tầm phào, những sinh hoạt bọt bèo, những phản ứng quảng cáo … Tất cả bày nên một bức tranh tuyệt vọng, cũng không hề có hy vọng phục hồi, bồi dưỡng tính chất Việt Nam đang trôi tuột sau hơn hai mươi năm nơi đất Mỹ cạn kiệt ngặt nghèo. Ở Trại Ty Nạn khắp vùng Đông Nam Á vẫn đầy ắp hằng vạn thuyền nhân Việt Nam. Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại cũng như đa số các dân tộc trên thế giới hầu như đã khô kiệt tình thương. Văn Học Hải Ngoại cũng rơi vào cách bất lực thảm hại này. Cảnh khổ đã ở vào tình trạng bão hòa, kín đọng. Con người bất tác động bởi lực Nhân Ái và im lặng cùng sự Ác. Người cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục cầm quyền được do từ điểm chí tử oan nghiệt này. Người trong nước cũng thế thôi.

LH – Hình như anh vẫn còn bị kẹt trong cái bẫy sập của lưỡng cực mà quân- dân ; thắng- bại; họ- ta là những thí dụ điển hình. Qua sách đã viết, anh làm người ta liên tưởng đến E. Maria Remarque với Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh. Nhưng anh hãy chú ý, Remarque chỉ cho người đọc thấy NGƯỜI LÍNH chứ không quan tâm mấy đến phân biệt người lính Đức, người lính Pháp; thế nên cuốn sách mỏng đó đã đưa Remarque lên đài bất tử của văn học thế giới. Rồi Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, cũng chỉ mấy trăm câu mà đủ cho nỗi đau của tất cả kiếp người. Nào có phân biệt gì đâu?!! Giả sử trong trận Waterloo, có một trong số bảy mươi hai ngàn quân thiện chiến của Napoléon được sống sót.

Kẻ sống sót ấy chắc hẳn sẽ viết mấy ngàn trang cho đủ? Anh là kẻ sống sót sau cuộc chiến lâu dài, lớn lao gấp bội …

PNN – Cô lên lớp anh cô quá thể!! Đau nhưng đúng quá. Tôi cũng biết, nếu không vượt lên trên, làm khác đi thì văn chương cũng chỉ là chuyện vụn vặt, thường tình, cho nên mấy mươi năm, tôi vẫn cố gắng là “nhà văn đang lên” như lời cô nhắc hồi nãy; nhưng dù sao cô cũng đừng quên, anh cô luôn là người lính với cái ba-lô chèn nặng những khổ đau.

PNN – Những khổ đau, uất ức đó có làm cho anh trở thành “anh hùng” không? Thiết nghĩ bản chất người lính là tuân lệnh, như Tôn Hành Giả đội vòng kim cô trên đầu … Biết thua nhưng lệnh tiến vẫn phải tiến; biết thắng nhưng lệnh bảo rút thì vẫn lui … Vậy cái gì làm nên anh hùng? Như trường hợp lính của viên trung úy Caley, sư đoàn America Mỹ ; lệnh vào Mỹ Lai (Quảng Ngãi) bắn phải đàn ba, trẻ em … Lính Việt Cộng giết người dân vô tội ở Huế, Tết Mậu Thân 1968 – Giết theo lệnh – Lệnh từ những kẻ không hề bóp cò, cầm súng.

Chính anh là người trả lời vấn nạn thảm khốc này: Anh hùng chỗ nào? Ở đâu? Chiến tranh thời nào cũng tàn độc, kẻ cầm súng tham chiến – Người Lính chỉ là nạn nhân. Chính kẻ khai chiến mới thật xứng đáng nhận lời kết án từ người viết văn – Người Viết Văn ca ngợi Tính Thiện bởi Lòng Thành – Bảo vệ, chiến đấu giữ gìn Sự Thật, và Phẩm Giá Con Người. Từ trước tới nay, anh chỉ ca ngợi Người Lính; anh mới làm được nửa công việc. Phải xét đúng, đủ về kẻ khởi chiến, gây cuộc đau thương, để thế hệ sau không rơi vào nhầm lẫn của chúng ta. Điều này là sứ mệnh Người Lính Viết Văn như anh …

PNN – Tôi nghĩ câu hỏi này đã được trả lời khá đủ qua truyện ngắn Hai Người Lính … Sau Một Lần trong Những Chuyện Cần Được Kể Lại. Vấn đề đúng quá nặng nề. Như một cuộc tra tấn. Tôi cũng không ham gì cực hình này.

LH – Nhưng ít nhất anh cũng còn ham một chút gì chứ …Tình yêu chẳng hạn, tiền của chẳng hạn??

PNN – Thôi, xin cô tha … Cô cho “qua” … Qua đây khốn khổ nguy biến quá nhiều. Quá đủ.

LH – Cám ơn nhà văn. Người đọc sẽ tìm ra những điều anh muốn nói, chưa nói kịp, nói đủ, trước khi đi tù qua những cuốn mới xuất bản gần đây.

Hai anh em tôi gởi “ôn”,

Hg Vn Gi

Sydney, Australia.

Tháng 1, 1996.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Dưới mắt Thượng Đế

13. Thiên đường đã mất

KANS KILLIAN

(ENTER UNS STENT NUR DER HERRGOTT)

NOH IRE SY-TUAN

Google image

Cách đây mấy năm, trong một tác-phẩm có minh-họa với tựa đề Khuôn Mặt Khổ Đau (Facies Dolorosa), tôi đã cố ghi qua ống kính những sự thay đổi đau đớn trên nét mặt. Buổi nay, tôi chọn trong đám người bị đày đọa trong đau khổ này, hình ảnh hai đứa trẻ mà những thay đổi trên nét mặt đã hằn tận đáy tâm hồn. Bệnh hoạn trong trường hợp thứ nhất chỉ là nguyên nhân gián tiếp của những sự cần cỗi khốc liệt và thảm thiết.

Còn trường hợp thứ hai tôi xin để độc giả suy-nghĩ và kết luận. Tuy-nhiên, chính trường-hợp sau này – mặc dầu về phương diện thuần túy y học chỉ là một giai đoạn, nhưng khắc sâu vào tâm khảm tôi, đã chỉ rõ thật tàn nhẫn những giới hạn của quyền lực y học.

Cô bé tên Johanna, vừa đúng mười lăm tuổi. Thật là một thảm cảnh khi Johanna được đưa tới bệnh viện. Thoạt tiên, chuông điện thoại reo vang. Ở đầu dây, tiếng nói của một cảnh sát viên run run vì cảm động. Ông ta vừa chứng kiến tai nạn: một chiếc xe khổng lồ chất đầy hàng ủi nhào cô bé xuống đất và cán lên bụng; cô bé kêu thất thanh, rồi ông tài, luống cuống cho xe “de” thế là chiếc xe lại cán lên nạn nhân một lần nữa.

– Nó không kêu nữa … mà cũng không động-đậy gì cả …nhưng còn thoi-thóp …

Vừa đặt ống nói xuống tôi lại nhận được điện thoại của viên y sĩ cứu cấp ở ngay nơi xảy ra tai-nạn:

– Xe cứu thương đến nhanh lắm nhưng tôi không chắc đứa bé còn sống khi được chở tới anh.

Tôi báo ngay cho phòng giải phẫu, rồi chạy đến liền, nhân tiện gọi luôn hai người phụ-tá. Mấy cô y tá đã sửa soạn xong bàn mổ. Chúng tôi cởi áo “blouse”, buộc “tablier” cao su, rồi bắt đầu rửa tay. Không để mất thì giờ, tôi dặn dò trước anh bạn đồng nghiệp phụ trách sang máu cho nạn nhân:

– Anh cho phân loại máu ngay. Chắc đứa bé mất nhiều máu lắm: anh cho truyền máu liền. Anh cứ lo phận sự của anh, gọi một cô y tá giúp anh một thể. Khi đứa bé tới là bắt tay vào việc. Năm phút sau, người gác cổng bệnh viện điện-thoại báo cho biết xe cứu thương đã về. Rồi tiếng chân bước nặng nề của những bác y công khiêng băng ca, tiếng nói của cô y tá trưởng:

– Đây, đây … Nhẹ nhẹ thôi! Các bác đặt xuống đây được rồi. Khi đẩy cánh cửa trước ra, tôi đã thấy hai bà sơ đang quỳ gối cầu kinh cạnh nạn nhân. Đứa bé đã chết rồi sao? Nhưng mà không, – nó còn thở. Một cô y tá cởi quần áo nạn nhân ra. Hơi bối rối, tôi cúi xuống quan sát. Thoạt nhìn, đứa bé không đến nỗi bị thương nặng lắm: một vài vết sây-sát và sưng bầm trên bụng, chỗ bánh xe đè lên. Nhưng mặt xám ngoét cắt không còn hột máu, đôi mắt đen, đồng-tử mở rộng, đảo như mất thần. Trong trạng thái bất-tỉnh gần như hôn mê, cô bé chỉ thở rất nhẹ. Anh phụ tá chép miệng:

“Hỏng!” Tôi chỉ lắc đầu. Tôi cảm tưởng như Thần Chết đã lướt tay trên khuôn mặt khả ái này. Bắt mạch ở tay không thấy gì, chỉ còn động mạch cổ là đập rất yếu và nhanh. Có điều lạ, nạn nhân không bị gãy xương: xương sườn, xương chậu và xương sống còn nguyên vẹn. Mới mười lăm tuổi, xương còn dẻo, nên đã uốn dưới sức nặng mà không gẫy. Nhưng chắc chắn nạn nhân đã xuất huyết trong bụng rất nhiều. Lá lách chắc đã nứt vỡ. Các bộ phận khác hay một trong những động mạch lớn trong bụng cũng có thể bị rách. Hiển nhiên, chúng tôi phải mổ bụng ra xem. Cô bé được đặt nằm trên bàn mồ. Bình dưỡng khí đã mở sẵn.

Ngay lúc ấy, anh nội trú mở cửa bước vào.

– Xin phép giáo sư. Người cha em nhỏ đang ở ngoài hành-lang, cứ đòi vào. Ông ta nói đứa bé đã chết rồi mà còn giấu ông.

Mặc dầu đã cố khuyên giải, ông ta chạy tìm điện-thoại cho vợ hay. Ông ta hét thật to: “Con Johanna đang hấp hối. Anh chắc nó đã chết luôn rồi. Đem giấy tờ bảo-hiểm lại cho anh ngay … “

Đang bận trông coi sửa soạn giải-phẫu, tôi nghe câu được câu chăng. Anh bạn trẻ phụ trách truyền máu loay hoay mãi không cho kim tiêm vào tĩnh mạch tay được; có thể các mạch đã xẹp lại vì mất nhiều máu quá. Tôi bảo anh:

– Thôi, rạch da mà tìm cho dễ!

Anh nội trú vẫn đợi tôi trả lời. Hơi mất bình tĩnh, tôi quay lại:

– Ra bảo ông ta im đi. Làm gì mà ầm ỹ vậy! Đứa bé còn sống, người ta đang sắp mồ cho nó đây.

Hai phút sau, bình máu bắt đầu chảy. Cô y tá xếp những tấm “champ” phủ kín người nạn nhân, chỉ để hở vùng giải phẫu ở bụng. Tôi đeo găng cao su và cầm dao giải phẫu. Đặt dao phía trên rốn, tôi rạch một đường thẳng ở giữa bụng, suốt qua da tới lớp sợi của mô liên-kết. Dưới lớp màng bụng còn nguyên vẹn ánh lên một chút nước đo đỏ: chắc máu đã chảy đầy bụng. Thật vậy, vừa rạch màng bụng ra, tôi thấy một vũng máu ngập các bộ phận. Hai người phụ tá đặt ngay đồ đề phanh thật rộng đường mổ ra.

Ngờ ngay lá lách bị nứt, tôi thọc tay trong vũng máu rồi lần lên phía trái. Ngay chỗ lá lách, thường nằm dưới hoành cách mô, tôi chỉ thấy những cục xốp như hải miên. Lá lách đã hoàn toàn bể nát. Tôi lôi một cục ra để xem xét: không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là một mảnh lá lách.

– Đưa máy hút đây! Nhanh lên!

Tay phải tôi nắm đầu ống hút cho vào bụng trong khi tay trái đầy dạ dầy và ruột từ bên trái vào giữa. Như thế tôi hy vọng sẽ thấyđáy vũng máu, vị trí thông thường của các mạch lá lách. Nhưng hút hoài mà máu ở đâu cứ chảy ra. Tuy thế trong khoảnh khắc một giây đồng hồ, tôi cũng thoáng thấy máu đỏ tươi vọt ra từ một động mạch, theo với nhịp tim. Cầm chiếc kẹp dài đợi sẵn ở tay cô y-tá, tôi kẹp được động mạch lá lách trước khi nó lại chìm mất dưới lớp máu phun như thác. Giờ đây, nguy hiểm nặng nề nhất đã tránh khỏi; tôi chỉ còn phải tìm xem máu có chảy ở đâu ra nữa không. Tôi tiếp tục hút, gỡ các cục máu đông, nhưng máu đen ở tĩnh-mạch vẫn cứ ri rỉ. Hiển-nhiên là còn một bộ phận khác nữa bị rách. Tôi nghĩ ngay đến gan, một bộ-phận cũng dễ bị va chạm làm nứt như lá lách. Tôi lần tay xem mặt trên lá gan. Ngón tay tôi đụng ngay một vết nứt khổng-lồ, kéo dài từ đỉnh lá gan đến tận túi mật, gần như cắt lá gan ra làm đôi.

Tai nạn thật thảm khốc: mọi hy vọng cứu sống hầu như tiêu tan. Làm sao đứa trẻ đáng thương này sống sót nổi với hai vết thương ghê gớm như vầy? Dù sao tôi không có quyền bỏ cuộc, tôi phải cố khâu lại lá gan đã nứt từ trên xuống dưới này lại. Một lần nữa, linh tính cô y tá cực kỳ mẫn nhuệ. Không đợi bảo, cô đưa cho tôi một cái kẹp kim-khâu kẹp sẵn một cái kim tròn nhẫn. Đúng là thứ kim phải dùng trong trường hợp này, những kim sắc ba cạnh chỉ làm rách thêm những mô mềm. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ những phút hồi hộp này. Tay trái bọc lá gan để kéo nó xuống, tôi khâu bằng tay phải. Người phụ tá nhẹ nhàng buộc mối chỉ ruột mèo. Khâu xong, tôi lại bắt đầu rút máu, đồng thời lấy hết những mảnh lá rách ra. Tôi cố nén một tiếng thở dài nhẹ nhõm: máu đã ngưng chảy, nạn nhân thôi còn lo mất máu nữa. Ít ra trong lúc ấy, nguy hiểm đã vượt qua. Trong mấy phút chót, tôi không cần mất nhiều thì giờ xem xét tình trạng chung cho cô bé. Toán truyền máu hoạt động rất hữu  hiệu; áp huyết lên, máu tuần hoàn rất khả quan. Anh bạn trẻ phụ trách truyền máu có thể mỉm cười tán đồng. Chuyên viên đánh thuốc mê cũng tỏ ra rất xứng đáng, chỉ cho mê rất nhẹ, cốt để gìn giữ cho cơ thể rất suy yếu của cô bé. Toán phụ tá này làm tôi rất hãnh-diện.

Sau khi đã xem tỉ mỉ dạ dày và ruột non, tôi lần lượt khâu màng bụng, lớp cơ bụng rồi tới da. Tuy cuộc giải phẫu cực kỳ nặng, tình trạng chung của cô bé cũng chẳng đến nỗi nào. Mặt vẫn còn xanh mét, nhưng đôi môi đã thoáng chút ánh hồng, như hứa hẹn buổi bình minh một cuộc đổi mới. Có điều cô bé thở còn yếu quá. Tôi cho chích một mũi thuốc trợ sức. Kết quả thấy ngay: hô-hấp và tuần-hoàn mỗi phút mỗi khả quan.

Thế mà chúng tôi vẫn chưa dám cho cô bé xuống bàn mổ.

Mãi một giờ sau – sáu-mươi phút chờ đợi lo âu, chúng tôi mới chắc là sự kích-ngất mổ đã qua: nhịp thở đều đặn, đồng tử thâu nhỏ lại như thường, và hai má hồng lên một chút. Bấy giờ chúng tôi mới yên tâm trao bệnh nhân cho các cô y tá. Tôi ra ngoài hành lang, theo sau là hai anh phụ tá. Chúng tôi mở rộng cửa sồ, tự thưởng một lồng ngực đầy khí xuân trong trẻo lòng lâng lâng yên tĩnh. Hai anh phụ-tá hút thuốc. Anh thứ nhì -vốn có tâm hồn thi-sĩ, thi-hứng dạt-dào – nói một mình giữa hai làn khói thuốc:

– Em bé đáng thương này nằm trên băng-ca – làm tôi tưởng đến một đóa phong quỳ đang úa …

Nghe tiếng chân vội vã trong hành lang, tôi quay đầu lại. Anh nội-trú khi nãy đi vào, bước gần như chạy. Anh vừa gây với người cha cô bé.

– Ông ta cứ quyết rằng con ông đã chết ngay tại chỗ. Hắn đòi tiền bảo-hiểm, hình như lên tới 20 ngàn mã-khắc. Bà vợ cũng mang biên lai đến rồi, ông chồng cứ dí vào mắt bắt tôi xem …

Tôi khẽ gắt:

– Để tôi liệu với ông này!

– Họ đợi giáo-sư ở phòng khách lớn.

– Được, để họ đợi.

Tôi thấy hai vợ chồng đang ngồi trên ghế. Thấy tôi, cả hai bật dậy. Người chồng, nhỏ thó, mảnh-khảnh, da mặt nhăn nheo như một quả ô mai, mắt cận thị hấp háy sau cặp kính gọng mạ kền, nhìn tôi vừa giận dữ vừa nham hiểm. Người vợ, cao hơn chồng một cái đầu, cúi đầu vẻ nhăn nhó.

– Chính tôi vừa mổ cho con gái ông bà xong. Ông bà muốn nói chuyện với tôi?

Người chồng không để tôi dứt lời:

– Thưa bác-sĩ, đúng thế, – con tôi đã chết rồi, phải không? Xin bác sĩ đừng nói quanh, vô ích; chúng tôi đã sẵn sàng chờ đợi … sẵn-sàng chịu đựng … bác sĩ cứ nói … chứ xe đè như thế thì …

Tôi ngắt lời:

– Không đâu. Con gái ông bà còn sống. Tôi còn có thể nói với ông bà rằng chúng tôi mong sẽ cứu sống được hẳn.

Người vợ ấp úng:

– Thưa bác sĩ, thế thì, thần diệu quá … tuyệt quá rồi còn gì?

Nhưng chúng tôi biết là không thể như thế được. Bác sĩ cứ nói sự thật với chúng tôi.

-Tôi xin nhắc lại là con bà sống. Đáng lẽ ông bà phải vui lên mới phải chứ, sao lại còn nghi ngờ gì?

Người chồng công nhận:

– Thưa bác sĩ, chắc chắn là chúng tôi vui mừng. Nhưng …

Ông ta ranh mãnh nhìn tôi rồi tiếp:

– Bác sĩ chắc cũng hiểu là tôi muốn chính tôi thấy nó sống …

– Bây giờ chưa phải lúc.

Thế là ông ta lồng lên:

– Tôi muốn thấy mặt con tôi, ngay bây giờ! Tôi muốn mắt tôi thấy rõ nó sống hay nó chết! Tôi có quyền, – tôi là cha nó. Nếu ông phản đối, tôi sẽ đi báo cảnh sát.

Tôi phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh; tôi nói:

– Chỉ khi nào tôi cho phép, ông mới được gặp mặt con gái ông. Dĩ-nhiên không phải hôm nay, cũng không phải ngày mai hay ngày kia. Với tư cách một người thầy thuốc, tôi có trách nhiệm về sinh mạng bệnh-nhân. Và khi chúng tôi đang cố sức cứu con gái ông, không ai được vào thăm nó cả. Còn ông muốn báo ai thì báo.

Tôi bỏ đi, không muốn nghe lời phản-đối của ông ta.

Đêm ấy, Johanna tỉnh lại dần dần. Trong đôi mắt bất định mở lớn, hiện rõ vẻ ngạc nhiên kỳ lạ của những trẻ em hồi tỉnh sau một cuộc đánh thuốc mê lâu dài. Một ánh mắt như nhìn lên từ vực thẳm hãi hùng, một vẻ mặt còn rung động nét kinh nghiệm khủng khiếp của nỗi đau đớn đầu tiên. Khi bệnh lâu khỏi, vẻ linh-động ấy lắng xuống, chuyển thành một vẻ u uất hoàn toàn, khiến nét mặt non trẻ trở nên cần cỗi đến não lòng. Ngồi ở đầu giường cô bé, tôi tự hứa hết sức tránh cho em sự thay đổi kia. Nhưng định mệnh đã không để tôi giữ lời …

Nhờ được nghỉ-ngơi tĩnh-dưỡng hoàn-toàn và được truyền một chai máu với một chai huyết tương và dung dịch đường, cô bé phục hồi mau lạ thường. Được bốn ngày, chúng tôi đã có thể coi như xong việc. Bây giờ tôi mới cho cha mẹ em vào thăm. Cô y tá được tôi giao cho nhiệm vụ săn sóc bệnh nhân mấy bữa sau có thuật lại cho tôi buổi viếng thăm đáng nhớ này.

– Mày đấy hả, Johanna? – lời người cha – Bây giờ mày thấy thế nào? Đau nặng phải không? Tao thấy rõ quá mà.

Cô y tá cải chính:

– Đâu có, Johanna khá mạnh rồi đấy; chứ hôm chở đến đây thì ai tưởng được rằng …

Bà mẹ xen lời:

– Tôi chẳng tưởng tiếc gì hết. Mặt mũi rũ ra như lá héo thế kia! Khổ thân con tôi, người ta có cho con ăn đủ không? Con gầy quá. Ở đây chắc thuốc men họ cũng keo-kiệt từng ống từng viên đấy, con nhỉ?

Cô bé nói nho-nhỏ:

– Con có được chích thuốc mà.

Người cha kêu lên:

– Chích hả? Tao phản-đối cái thủ đoạn ám-muội này. Nào, người ta chích gì cho mày?

– Con đâu có biết, cô bé nói nhỏ rồi nước mắt chợt tuôn trào.

Cô y tá vội giải thích:

– Thuốc trợ tim đấy thôi. Em đang cần mà.

Người cha đã hùng hồ khiêu khích:

– Tôi không muốn chích cho con gái tôi. Tôi cấm hẳn.

– Thế thì xin ông nói với y sĩ trưởng. Chúng tôi chỉ biết theo huấn lệnh của bác-sĩ.

Vừa nói cô y tá làm như vô tình để tay lên nút chuông điện. Một phút sau, cửa mở, nhường chỗ cho bà y tá trưởng lầu, một bà đã đứng tuổi có đủ kinh nghiệm đối phó với những người khách quấy rầy. Bà ta chỉ liếc qua cô bé còn đang nức nở, rồi dõng dạc:

– Mời ông bà ra ngay cho!

Hai vợ chồng riu ríu ra ngay, chẳng kịp giã từ con gái.

Chiều hôm ấy, Johanna lại sốt. Khi viên y-sĩ trực định chích thuốc trợ-tim, cô bé khóc, nói như van xin:

– Đừng, xin bác-sĩ đừng chích. Cha cháu đã cấm!

Thấy cô bé cứ khăng khăng không chịu đưa tay cho chích, lại sợ rằng nài ép quá sẽ làm cô bé mất tinh-thần viên y-sĩ phải báo cho tôi. Tôi đến, nói, giọng hiền-từ:

– Thế nào, Johanna, làm sao thế … tôi biết em lắm mà. Cha mẹ em, cứ để tôi nói cho. Nào đưa tay đây, tôi chích cho tim nó khỏe lên một tí.

Cô bé nhìn tôi như sợ sệt, do dự một giây rồi bằng lòng cho chích. Cả nhà thương đều biết chuyện ông bố tham tiền, đang tâm hắt hủi con gái mình. Thế là một hiện tượng lạ-lùng xảy ra: các bà sơ y tá, những người đã hy sinh lạc thú làm mẹ, tất cả đều lại nâng niu cô bé, tận tâm săn sóc, đến có thể nói rằng không một tình mẫu tử nào hơn được. Các bà chiều cô bé đủ mọi điều, cho cô cơ man kẹo bánh: hễ rảnh một tí là chạy đến kể chuyện hay đọc sách cho nghe. Hơn thế nữa, khi cha mẹ cô tới thăm, các bà vây quanh bệnh nhân một thành lũy bằng mũ vải trắng, bằng tình thương và uy quyền khiến cho người cha không sao có thể nóng giận mà nói năng khả ố được nữa.

Nhờ bầu không khí tràn ngập thương yêu, cô bé phục hồi rất mau. Năm tuần sau khi mồ, cô bé đã trở về nhà được. Thỉnh-thoảng cô trở lại, mang cho các cô y tá và tôi, vài bông hoa hái ở mấy khu rừng kế cận. Trong dáng bộ, trong nụ cười, chẳng còn dấu vết của sự sợ hãi vì tai nạn hay của những nỗi đau khổ dài dặc. Chừng sáu tháng sau, cô bé cùng người cha chính-thức trở lại thăm nhà thương. Ông này đã khởi tố đòi hãng bảo-hiểm, người chủ xe và tài xế bồi thường về thiệt hại vật chất lẫn tinh-thần. Tòa xử trước khi phán quyết, nhờ tôi khám lại cho cô bé thật kỹ-lưỡng nhất là tình trạng lá gan. Chúng tôi khám trong hơn hai giờ, thật cẩn thận, thật tỉ mỉ, nhưng không sao tìm được một dấu vết nhỏ, dĩ nhiên ngoại trừ vết sẹo mổ. Tình trạng sức khỏe phù hợp với kết quả cuộc khám-nghiệm: Johanna hoàn toàn mạnh, đôi má rám nắng hồng, nụ cười hồn nhiên trông thật xinh. Trong chứng thư, tôi chỉ ghi một hệ số tàn tật 15 phần trăm. Tôi không thể ghi hơn lên: gan vẫn tốt như thường, không có một vết dính nào cả ở màng bụng; còn như lá lách bị cắt thì chẳng có chi là khó chịu. Nhưng người cha không đồng ý như vậy. Thấy tôi tỏ vẻ vui mừng vì cô bé đã hoàn-toàn bình phục, ông ta suýt nữa nổi cơn tam bành. Ông nói sủi cả bọt mép:

– Bác sĩ không thấy nó khập khiễng à? Cả đời nó sẽ khập khiễng. Một đồ bỏ, người ta đã làm con gái tôi thành đồ vô dụng thảm thương. Trông thảm hại chưa!

Rồi ông ghé vào tai con:

– Sao con chưa nói với bác-sĩ … nói đi … con còn đau bụng lắm mà … Đau thế nào thì nói đi … Nói đi, ngốc ơi là ngốc!

Quá sợ-hãi, cô bé chỉ còn biết lắc đầu.

Tôi bình-tĩnh bảo:

– Em cứ nói thật đi, Johanna. Có thật em còn đau bụng không?

Vẻ bối rối hiện rõ trong ánh mắt hốt hoảng. Người cha tàn nhẫn nắm chặt cánh tay cô bé:

– Nói đi, nói với bác sĩ mày còn đau bụng đi! Đau ở đâu thì nói đi, con.

Rơm rớm nước mắt, cô bé nuốt nước bọt rồi quay lại nhìn tôi nói lí-nhí:

– Dạ thưa, không ạ, không phải thế ạ. Cháu không còn đau đớn gì cả.

Tôi suýt buột miệng khen lòng can-đảm của cô bé. Trước mắt tôi vẻ hồn nhiên trên khuôn mặt tươi trẻ kia đang thay đổi. Tôi đã tự hứa sẽ không để dáng ngây thơ kia sẽ mất hẳn. Như một áng mây đen, sự cằn cỗi đau đớn hiện dần trên nét mặt thanh tú của cô bé đã sớm biết sự đau khổ và lòng độc ác. Đấy mới chính là vết thương nặng và sâu đậm cô bé sẽ mang suốt đời. Thế mà người cha vô lương kia đã muốn dùng vết thương ấy để lãnh mấy chục ngàn bảo hiểm.

Chuyện thứ hai xảy ra ngày 10-5-1910. Nếu tôi còn nhớ đúng ngày đúng tháng cũng chỉ vì ngày đó là ngày phi cơ khởi đầu những cuộc oanh-tạc xuống thành phố Freiburg. Mãi về sau chúng tôi biết chính máy bay Đức theo lệnh của chính phủ Đức đã dội những loạt bom làm ở Đức quốc xuống thành phố Đức cổ kính này.

Sáng hôm đó tiết giữa hạ thật oi bức. Mặt trời dọi nắng như thét ra lửa. Trên những ngọn núi miền Rừng Đen mây thành chồng chất từng lớp. Sau khi đã làm hết việc buổi sáng ở nhà thương, tôi trở về nhà gần khu ngoại-ô. Trong khi chờ bữa cơm trưa, tôi cố ngồi làm việc nhưng không hăng hái cho lắm: oi-bức quá đỗi!

Bỗng nhiên tôi ngửng đầu nhìn lên trời. Át cả những tiếng động trong vườn vì ngoài phố, tiếng động cơ rầm rầm chuyển động xuất phát từ phía đông. Cầm chiếc ống nhòm tôi có từ đệ nhất thế chiến, tôi đi xuống quan sát chân trời. Tôi không lo ngại một chút nào cả. Sáng nay đài phát thanh đã loan báo địch tấn công mạnh ở Bỉ-quốc và Hòa-Lan; tôi cho rằng không lực Anh Pháp đang tập trung vào các khu vực mặt-trận này. Vả lại, địch có lợi gì mà oanh-tạc thành-phố đại-học hiền lành này?

Mấy phút sau, tôi thoáng thấy giữa một đám mây ba chiếc phi cơ. Nhưng lại bay mất hút ngay. Không có tiếng súng cao-xạ – vậy, không có phi cơ nào khác ngoài phi cơ của Đức. An tâm, tôi trở về phòng làm việc. Nhưng vừa ngồi vào bàn thì mấy tiếng nồ ầm ầm làm rung chuyển nhà cửa. Mười giây im lặng, thứ im lặng nhà mồ, tiếp ngay là một tràng tiếng nồ, gần hơn và dữ-dội hơn. Sau này chúng tôi tuy còn phải chịu những cuộc oanh tạc khủng khiếp gấp bội, nhưng vẫn còn nhớ kỷ niệm buổi oanh tạc đầu tiên này: có thể nói như một ông khồng lồ bằng thép tiến về phía chúng tôi với những bước nặng chình chịch làm rung chuyển mặt đất. Tôi chạy bồ xuống cầu thang gác, nhảy vội lên xe hơi. Trong đầu chỉ có một ý nghĩ: phải đến ngay bệnh viện, phải đến thật nhanh!

Chưa bao giờ tôi lại lái xe nhanh như thế! Thành phố như một ổ kiến bị chiếc gậy kẻ bộ hành hất đổ nóc tổ. Thiên hạ kẻ khoa tay múa chân, kẻ gọi nhau ơi ới, người chạy xuôi ngược. Rồi lên xe cứu-hỏa lao vùn vụt, rồi xe cứu thương còi hú liên-hồi: máy bay vừa ném ba dãy bom xuống phi trường, xuống trại lính và gần cầu xe lửa. Loạt bom thứ ba rơi vào một sân vận động tạo một cảnh-tượng tàn sát thảm khốc.

Tôi đến bệnh viện và các nạn nhân đầu tiên cũng vừa được chở tới. Chúng tôi liền tổ chức ngay một toán cứu cấp. Người đệ nhất phụ tá của tôi, đứng ở phòng nhận bệnh phụ trách lựa bệnh; những trường hợp nhẹ cho đưa đến khu cứu-thương còn những trường hợp nặng cho đưa lên lầu nhất, tập trung ở hành lang và mấy phòng gần khu giải-phẫu. Các y sĩ ngoại khoa chia ra từng toán có những  đồng nghiệp nội trú phụ tá trong việc cứu cấp các tình trạng kíchngất vì xuất huyết.

Khu giải phẫu đã chật ních! Hơn một trăm băng ca xếp hàng dọc theo hành lang, thế mà chưa hết, các nạn nhân chở đến tới tấp. Chiến tranh! Một chuỗi thảm-họa vô ích. Một đám nạn nhân vô-tội …

Vừa bước ra khỏi phòng giải phẫu để chỉ định những trường hợp nào khẩn cấp nhất, tôi bắt gặp trên một chiếc băng-ca vừa làm vội, một em gái nhỏ dễ thương độ bốn tuổi mặt cắt không còn hột máu; đôi mắt ngơ-ngác hiền dịu như con nai vàng. Đứng bên là một ông lão tóc đã bạc nhiều nhưng còn tráng kiện.

Tôi quay qua hỏi:

– Em bé này bị thương ở đâu?

– Hơi bom đã quạt mất cánh tay phải. Thưa, lão đã băng vội …

Tôi nhận thấy ông lão ấp úng nói chẳng ra lời chắc vì cảm-xúc. Lật tấm vải “tăng” phủ trên người đứa nhỏ, tôi thấy quả thật cánh tay phải đã bị đứt chỉ cách mấy phân là tới xương bả vai. Tuy vết thương thật rách xé và lởm chởm nhưng không còn chảy máu nữa vì được băng bó lại. Nhưng … tôi suýt giật bắn người … cánh tay đứt lìa còn đặt cạnh mình đứa trẻ, cánh tay mềm mại, bụ bẫm và trắng muốt, với bàn tay xinh xắn.

Bối rối, tôi lấy lại bình tĩnh:

– Làm sao lại có thể nhặt được cánh tay bị đứt lìa này … ai nhặt đây?

Ông lão cúi đầu chặm mắt kể lể sự tình. Thật không thể tin được! Lúc mấy quả bom rơi trên sân vận-động, chừng chục đứa trẻ đang chạy nhảy. Có đứa bị chết ngay, mấy đứa khác chỉ bị thương thôi. Đứa bé chạy đi trú bom ở bên kia đường dưới cửa tò vò lối đi vào tầu ngựa. Trong lúc khiếp sợ, bé chưa biết mình đã bị đứt lìa cánh tay; vì kích ngất đã làm tê-dại các dây thần kinh nên bé không thấy nhức nhối, đau đớn gì cả. Mãi sau thấy đau, bé mới chạy lại sân vận-động để tìm cánh tay đã mất. Chỉ sau khi tìm được cánh tay rồi, bé mới gục xuống, bất tỉnh. Khi ông lão đến, bé còn ôm chặt cánh tay vào ngực.

Tôi kinh ngạc:

Nhưng … ông biết … ông cũng thừa biết là tôi không thể khâu lại cánh tay này cho nó được! Tại sao ông lại còn đem theo làm gì?

Ông lão gạt nước mắt.

Vâng! thưa bác-sĩ lão cũng biết vậy. Nhưng vứt bỏ canh tay của nó lão cầm lòng làm sao được! Em bé xinh đẹp như thế kia …

Tôi đã cằn cỗi cứng rắn nhiều trong khi tiếp xúc hàng ngày với khổ đau của con người, nhưng bỗng nhiên tôi thấy cổ họng se thắt lại. Tôi cho khiêng đứa trẻ vào phòng giải-phẫu, truyền máu cho bé ngay rồi săn sóc vết thương. Sau khi đã cột động mạch chính nuôxem xét lại tình trạng các mạch và huyết nhỏ, tôi quyết định không khâu kín vết thương vì da thịt rách nát và đầy đất cát bẩn. Dần dần, bé thoát từ trạng thái hôn-mê để chìm dần vào giấc ngủ trầm lặng.

Sáng hôm sau, người tôi đến thăm bệnh trước nhất là bé. Trước cửa phòng, tôi gặp sơ Ursula, một nữ tu nhà tập còn trẻ, vài sợi tóc vàng còn lọt ra ngoài khăn trùm đầu. Tôi hỏi ngay giọng lo ngại:

– Thế nào “ma sơ”, bé ra sao?

Dạ … thưa bác sĩ cũng khá. Đêm vừa rồi bé cũng không quấy lắm hay yếu lắm … Tôi có cảm tưởng tai qua nạn khỏi rồi.

– “Ma sơ” giấu tôi điều gì? Chắc vừa có chuyện gì, phải không “ma sơ”?

– Dạ thưa bác sĩ. Không! Không có gì cả. Em bé chỉ đang chờ bác-sĩ đến để khâu lại cánh tay cho em. Búp-bê ta còn khâu cánh tay rách lại huống chi …

Người nữ tu không thể nói hết lời. Úp mặt trong đôi bàn tay nàng bỏ đi. Khi thấy đôi vai rung rung, tôi chợt hiểu nàng đang khóc

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 3-4, tháng 3-4, 1064]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 15

Căn phòng chỉ có hai người: Hoàng Sơn Trường và mẹ cậu. Nhà lập thuyết trẻ tuổi sửa lại cặp kính cận, nhìn mẹ và nhẹ nhàng hỏi:

– Mẹ còn gì để nói với con không?

Người mẹ ngắm khuôn mặt bơ phờ của con, ái ngại:

– Tại sao con không chịu khai?

– Con đã khai hết rồi.

– Khai sự thật cơ.

– Con đã khai đầy đủ sự thật.

– Còn điều cơ bản con dấu diếm

– Ai bảo mẹ thế?

– Các đồng chí chấp pháp.

– Bọn ngu ấy không chịu tin sự thật. Khi con nói thật mà chúng nó chẳng thích nghe, khai báo chi nữa!

– Ai đã xui con, đã dạy con viết cái chủ thuyết tiểu tư sản cực kỳ phản động ấy?

– Sự suy tư của con!

– Con qua mặt cả mẹ à?

– Con nói thật.

– Mẹ không tin.

– Tùy ý mẹ.

– Mẹ sẽ khước từ con, gia đình sẽ khước từ con. Con làm ô danh sự nghiệp cách mạng của mẹ.

– Không phải đâu, con muốn làm rạng danh gia đình. Tuổi trẻ cần lập chí. Chí của con đối nghịch chí của mẹ. Thế thôi. Vì sự nghiệp cộng sản của mẹ, mẹ cứ việc từ con, càng sớm càng tốt.

– Con bằng lòng nằm tù mãn kiếp?

– Vâng.

– Con phá hủy tương lai các em con.

– Mẹ về Sông Bé hoạt động đi! Con không còn gì để trả lời mẹ nữa.

Người Phó chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Sông Bé đập bàn đứng dậy, bỏ ra khỏi phòng. Một mình Hoàng Sơn Trường ngồi lại trong sự im lặng của căn biệt thự hoang vắng, căn biệt thự chủ nhân đã di tản, nay biến thành một thứ nhà tù. Cậu ngồi bất động. Thời gian bước chân kiến trên nỗi hiu quạnh. Và nỗi hiu quạnh nhỏ từng giọt xuống hồn cậu.

Buổi chiều đã vướng vất ngoài kia. Tia nắng vàng thoi thóp lọt qua khe cửa. Gói thuốc còn một điếu cuối cùng. Hoàng Sơn Trường cảm thèm ly nước lạnh. Môi cậu khô, cổ họng cậu khô. Khói thuốc làm cậu nhức đầu. Khói thuốc tụ ở mí mắt cậu. Đưa tay dụi mắt, hơi khói vướng mắt và nước mắt cậu ứa ra, ứa ra mãi.

Người công an mở cửa, bước vào phòng đúng lúc ấy. Ngọn đèn néon bật sáng trưng. Trường không có mù-soa lau mắt. Cậu gở kính ra. Người công an hỏi:

– Hối hận hả, cậu tiểu tư sản?

– Ông lầm rồi, ông cộng sản à!

– Tại sao khóc?

– Nếu nói thật rằng khói thuốc khiến tôi cay mắt, ông sẽ không tin. Nhưng nếu bắt chước những anh yêu nước giả vờ nói phét rằng tôi khóc vì thương xót tổ quốc, dân tộc, chắc ông dễ tin hơn. Vậy tôi chọn sự nói phét.

– Cậu đã nói phét?

– Đúng.

– Cậu nói phét là chính cậu định viết chủ thuyết tiểu tư sản?

– Việc này tôi nói thật.

– Nói phét.

Người công an khích Hoàng Sơn Trường. Cậu đâu có ngu.

– Ông muốn thảo luận về tiểu tư sản chủ nghĩa không?

Người công an hớn hở:

– Tôi rất thích nghe.

– Vậy, trước hết, tôi cần ly nước lạnh.

– Đồng ý. Cậu còn thuốc hút không?

– Hết.

– Muốn gì nữa. Nhớ rằng, muốn gì cũng được, chỉ cần chịu thảo luận sôi nổi về tiểu tư sản chủ nghĩa.

– Tôi rất muốn thảo luận.

Người công an trở ra. Lát sau, ông ta mang vào một chai nước lạnh, một cái ly cối đầy đá, hai gói thuốc Président, một hộp diêm Samasa. Hoàng Sơn Trường uống liền một hơi cạn hai ly nước. Rồi cậu hút thuốc và bắt đầu nói:

– Để dễ dàng hiểu tiểu tư sản chủ nghĩa của tôi, tôì hỏi, ông trả lời.

Người công an tròn xoe mắt:

– Can phạm hỏi công an?

Nhà lập thuyết cười:

– Tôi và ông thảo luận về chủ nghĩa mới. Ông tìm hiểu thì ông trả lời tôi cho nó dễ hiểu.

– Đồng ý.

– Mở đầu là câu hỏi nằm trong bản chất con người . Thí dụ: Ông cưới vợ thì vợ ông thuộc về riêng ông hay thuộc về tập thể?

– Dĩ nhiên, thuộc riêng tôi.

– Tức tài sản riêng của ông?

– Chứ sao?

– Nếu nhiều người khác đòi ngủ với vợ ông, ông tính sao?

– Tôi bảo vệ tài sản của tôi.

– Đó, tài sản của riêng ông tức là tư hữu. Bảo vệ tài sản tức là bảo vệ quyền tư hữu. Ông nặng chất tư hữu, ông giải thích giùm tôi, ông cộng sản chỗ nào?

Người công an gạt ly nước đổ tung xuống nền nhà.

– Bố láo!

Hoàng Sơn Trường chậm rãi:

– Trúng tim ông rồi hả? Ông nên thành thật đi! Người vô sản đòi bảo vệ quyền tư hữu! Khôi hài hay bố láo! Tôi hay ông?

Người công an nín thinh. Một lát, ông gật gù:

– Cậu có thể viết chủ nghĩa của cậu trên giấy không?

Hoàng Sơn Trường lắc đầu:

– Không.

– Vậy là cậu nói phét, cậu nghe lỏm ai nói, cậu kể lại chứ gì?

– Ông đánh giá tôi thấp quá. Ông kháy tôi rẻ tiền quá. Nếu ông muốn tìm hiểu chủ nghĩa của tôi, khuyên ông cứ bình tỉnh nghe tôi thí dụ rồi trả lời thí dụ của tôi. Dần dần, ông sẽ vỡ ra và ông sẽ tự hỏi ông còn là cộng sản không.

– Được, nếu thí dụ láo lếu, cậu đừng trách.

– Hoàn toàn đứng đắn. Thí dụ: Ông thích cái xe Honda của riêng ông để lau chùi, o bế, để muốn chở vợ con đi chơi lúc nào thì đi hay thích cái xe Honda tập thể, muốn đi phải đăng ký vài ngày?

– Tôi thích bỏ tiền sắm riêng Honda của tôi.

– Nó vĩnh viễn của ông?

– Nó là tài sản nhỏ của tôi.

– Là của riêng?

– Đúng.

– Của riêng, tiếng Hán-việt gọi là tư sản. Của riêng nhỏ gọi là tiểu tư sản, ông đã là tiểu tư sản rồi mà ông không biết, ông cứ chửi rủa giai cấp của ông, ông cứ nhận phứa ông là vô sản, cộng sản!

– Hay lắm, hay lắm. Nhưng ai mớm cho cậu những thí dụ đó?

– Tôi…tự biên tự diễn.

– Tôi đùa với cậu hơi lâu rồi đấy.

– Ông đừng đùa nữa.

– Ai là thầy cậu?

– Tôi. Ai là thầy của chủ tịch Hồ Chí Minh?

– Lénine vĩ đại.

– Ai là thầy của Lénine vĩ đại?

– Karl Marx và Fiedrich Engels.

– Ai là thầy của Karl Marx?

Người công an thộn mặt ra. Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường gỡ kính cầm trên tay:

– Ông giận tôi không thèm trả lời hả? Vậy tôi trả lời tôi giùm ông: Tư bản chủ nghĩa đẻ ra Karl Marx, tư bản là thầy của Karl Marx. Cộng sản chủ nghĩa đẻ ra tôi, cộng sản là thầy tôi. Nói rõ ràng, vì sự bất lực của chủ nghĩa cộng sản nên phải có chủ nghĩa tiểu tư sản.

Người công an vỗ vai nhà lập thuyết:

– Cậu có khùng không?

Nhà lập thuyết đáp gọn:

– Hình như tôi khùng!

Buổi tối, người ta cho Hoàng Sơn Trường ăn một dĩa cơm sường nướng. Cậu là can phạm đặc biệt nên không bị còng tay, còng chân. Tù nhân ở villa, ăn cơm dĩa, hút thuốc Présiden là tù nhân thượng hảo hạng. Ăn xong dĩa cơm sườn ngon lành, Hoàng Sơn Trường nằm dài ở góc phòng hút thuốc lá. Cậu rất sung sướng vì biết đích xác rằng cộng sản sợ hãi vũ khí tư tưởng. Và cậu chẳng còn ngạc nhiên tại sao cộng sản lên lớp chính trị nó coi thứ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ như cỏ rác mà lại thù hận nể nang ông Ngô Đình Nhu và chủ nghĩa cần lao nhân vị.

Đến nửa đêm, người ta bịt mắt đưa Hoàng Sơn Trường tới một nhà giam khác. Khi cậu được mở mắt, mở còng, trời đã sáng và cậu thấy mình nằm trong cachot. Người ta đã lấy lại thuốc lá và diêm. Tiêu chuẩn cơm dĩa chấm dứt luôn. Cửa gió cachot gài chốt bên ngoài kín mít. Trường không biết cậu bị nhốt tại nhà giam nào. Cậu ngủ li bì, bất cần thời gian. Cachot nhỏ hẹp, không tồi tệ mấy vì có cầu tiêu và vòi nước chảy ri rỉ.

Một hôm, người ta lại bịt mắt cậu, đẩy cậu lên xe hơi chạy vòng vo những nơi nào nơi nào rồi xe dừng lại. Người ta lôi cậu ra, nắm cánh tay cậu dìu cậu leo thang lầu, đưa cậu vào căn phòng gắn máy lạnh, mở mắt cậu và bảo cậu ngồi xuống ghế bọc da sang trọng trước cái bàn giấy lớn.

Một người đàn ông khoảng dưới 60 tuổi xuất hiện. Tóc ông ta đã bạc nhiều nhưng tướng ông còn quắc thước, nước da đỏ tươi, cặp mắt trong sáng. Hoàng Sơn Trường nhận ra ông ta, hình ông ta thường đăng trên báo “Sàigòn giải phóng”.

– Cậu biết tôi không?

– Dạ biết. Ông là ông Mai Chí Thọ.

– Tôi cũng biết cậu qua sự giới thiệu của mẹ cậu và của chú tiểu Thích Thanh Bần.

– Thưa ông , hân hạnh cho tôi quá.

– Học thuyết tiểu tư sản của cậu ra sao mà chú tiểu chùa An Lạc xưng tụng hết lời?

– Thưa ông, học thuyết của tôi gồm toàn thí dụ!

Một người công an đã bảo Hoàng Sơn Trương khùng, cậu muốn đóng vai trò điên khùng để tồn tại, noi gương Tôn Tẩn.

– Học thuyết…thí dụ?

– Vâng, thí dụ và thí dụ rồi vấn đáp.

– Cậu thử thí dụ xem nào.

– Thí dụ của chủ thuyết tiểu tư sản thường hay xúc phạm tới người muốn biết. Tôi sợ ông sẽ không hài lòng.

– Cứ thí dụ đi!

– Thưa ông , cái đồng hồ Rolex ông đeo trên tay của riêng ông hay là thuộc tài sản công cộng?

– Của riêng tôi.

– Nó là tư sản của ông?

– Tư sản nhỏ mọn, đáng kể gì.

– Thưa ông Giám Đốc, nếu có vị đồng chí nào lột cái Rolex của ông khơi khơi, ông nghĩ sao?

– Xin thì tôi cho, tự nhiên lột thì không được.

– Thì ông phải bảo vệ?

– Tôi bỏ tù!

– Thưa ông , đó là chủ thuyết của tôi.

Mai Chí Thọ phá ra cười. Hoàng Sơn Trường cười theo. Cậu nói:

– Ông nên theo chủ nghĩa tiểu tư sản đi!

Mai Chí Thọ vẫn cười ngất. Người cộng sản ít khi được cười, ít khi dám cười. Họ làm ra bộ nghiêm túc, khắc khổ thật tội nghiệp. Vớ được dịp cười vô tội vạ, Mai Chí Thọ cười như điên.

– Tôi theo chủ nghĩa tiểu tư sản?

– Vâng. Gốc của ông là trí thức tiểu tư sản, dẫu khước từ nó,tâm hồn ông vẫn cứ tiểu tư sản. Tôi xin phép lý luận: Cái đồng hồ Rolex là tư sản nhỏ mọn của ông như ông xác định. Vậy nó là tiểu tư sản. Ông đòi bảo vệ nó là ông đòi bảo vệ quyền lợi tiểu tư sản, ông đòi quyền tư hữu. Mãi mãi ông là tiểu tư sản.

Mai Chí Thọ hết cười. Ông ta đanh mặt lại:

– Cái mặt cậu cũng đòi lập thuyết?

Hoàng Sơn Trường nổi nóng:

– Thế kỷ trước, chắc đã có người khinh bỉ Karl Marx như ông khinh bỉ tôi hôm nay?

– Marx là vĩ nhân, cậu là tép riu.

– Trước khi trở thành vĩ nhân, Marx đã là tép riu. Thưa ông, tôi rất buồn vì người Việt Nam mình nặng tinh thần vọng ngoại. Tại sao một người Việt Nam không thể lập thuyết? Tại sao người Việt Nam suốt đời cứ phải bái tụng các chủ thuyết ngoại lai? Thuyết của tôi sẽ chẳng ra cái gì cả nhưng tôi tự hào tôi đã lập thuyết.

– Thuyết thí dụ?

-Vâng, thuyết thí dụ.

– Thuyết của cậu khôi hài, ngớ ngẩn. Nó sẽ dẫn cậu qua các nhà tù, các trại tập trung mãn kiếp cậu. Cậu chỉ là thằng nhỏ mới lớn lãng mạn và mơ mộng hão huyền, ham danh, thèm tiếng, thứ ngựa non muốn chứng tỏ ta độc đáo, ta khác đời. Thả cậu về cũng chẳng làm nên tích sự gì. Giữ cậu lại để cậu nhìn rõ cậu hơn, chừng nào hết ham luận bàn chủ nghĩa thí dụ sẽ thả. Còn thí dụ, còn nằm tù.

Hoàng Sơn Trường thấy không nên nổi nóng, không nên tự ái, cứ mặc kệ người cộng sản coi thường mình. Như thế có lợi cho sự tồn tại của mình hơn. Tư bản, ngảy xưa, nó bảo cộng sản là cái bóng ma. Cộng sản, ngày nay, nó tưởng tiểu tư sản chỉ là những thí dụ ngớ ngẩn. Nó tưởng thật hay nó giả vờ hay nó thấm đòn…thí dụ.? Mới thí dụ thôi, cộng sản đã nóng mặt. Đi vào toàn bộ tư tường sắp đặt thành hệ thống, cộng sản sẽ chết đứng, sẽ tan rã. Anh còn khoẻ và tôi đang yếu, tôi chưa thể nói hết với anh những điều tôi cần nói. Đợi tôi lớn hơn, từng trải hơn, tôi sẽ cho anh biết sức quyến rũ nam châm của tiểu tư sản chủ nghĩa cuốn hút các thứ chủ nghĩa khác. Và chính tiểu tư sản mới xứng đáng độc tôn. Vì nó thực sự tạo hạnh phúc cho con người.

– Cậu cần yêu cầu gì tôi không?

– Cám ơn ông , tôi không có yêu cầu gì cả.

– Cậu cần suy nghĩ.

– Vâng, tôi cần suy nghĩ nhiều.

– Suy nghĩ về tương lai của cậu.

– Vâng.

Người ta không bịt mắt Hoàng Sơn Trường nữa và cho cậu về đề lao Gia Định, nhốt cậu trong một cachot đủ ánh sáng và không bị còng. Những câu vấn đáp cuối cùng của Mai Chí Thọ và Hoàng Sơn Trường, mọi người ráng hiểu lấy ý mình.

Hoàng Sơn Trường nằm cachot hai tuần thì được gọi ra viết những ý nghĩ của cậu về “cái gọi là” tiểu tư sản chủ nghĩa. Cậu cố nhớ lại mấy trang nháp viết ở chùa An Lạc để dẫn vào những thí dụ và thí dụ! Càng bị viết cậu càng thí dụ vớ vẩn. Khi cạn thí dụ, cậu xào lại những thí dụ đã thí dụ. Những trang viết của cậu được báo cáo lên lãnh đạo cấp cao. Người ta kết luận cậu là thằng dở hơi, thằng cám hấp. Tuy nhiên, trong đầu óc cậu chứa chất nhiều tư tưởng phản động cần phải cải tạo dài hạn.

Nhà lập thuyết nằm trong cachot viết chủ nghĩa tiểu tư sản bằng nỗi cô đơn. Cậu bắt đầu lại những trang dẫn nhạp chẳng…thí dụ tí nào: “Cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa tư bản và cộng sản đã chấm dứt từ lâu. Bây giờ chỉ còn là tranh giành quyền lực, quyền làm chủ toàn thế giới của họ. Trong tranh giành quyền lực, họ đã thoả hiệp, toa rập gieo tai vạ xuống những vùng ảnh hưởng của họ, xuống đám tín đồ sùng bái chủ nghĩa của họ…” Hoàng Sơn Trường đã nói với chú tiểu Thích Thanh Bần:”Nhà chùa là sơ khởi, nhà tù là hoàn thành. Hoa nở ở nhà chùa, sẽ kết trái ở nhà tù”. Hoàng Sơn Trường tin tưởng chủ nghĩa tiểu tư sản của cậu sẽ thăng hoa, sẽ mặt trời rực rỡ làm tan bóng tối bất hạnh âm u đang bủa kín trái đất.

Cậu nằm tù hôm nay như Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập giá nghìn xưa. Hạnh phúc đẻ ra bất hạnh. Nhưng bất hạnh tạo ra hạnh phúc, nỗi bất hạnh của những tâm hồn đẹp..Hoàng Sơn Trường là một trong những tâm hồn đẹp của thời đại chúng ta, của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam rạng ngời….