Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 9 jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau

30-4-1975

Bài 13

«Vâng, tôi lấy danh dự hứa rằng tôi không nói dối. Cũng chẳng cần phải nói dối vì những người liên hệ với tôi trong tổ chức đã bị bắt hết. Tên tôi là Ngô Tỵ, 19 tuổi, học sinh lớp 12 trường Cộng Hòa. Ba tôi người Minh Hương, má tôi người Việt Nam. Nhà tôi nổi tiếng vì cái bảng hiệu Tám Mập, chuyên bán đồ nhậu ở ngã tư Phan Thanh Giản – Cao Thắng, gần rạp hát Đại Đồng. Tôi có chân trong hội múa lân của bang Triều Châu. Cách mạng vô Sài Gòn, tôi được chị Bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh kếp nạp vào đoàn và được làm phụ tá cho chị ấy, hoạt động tại các trường Régina Mundi, Marie Curie, Lê Quý Đôn thuộc phạm vi quận 3 là những trường của con nhà giầu học, nghiêng về chương trình Pháp. Chị Bí thư cần tôi vì chị ở bưng ra, chữ nghĩa chị rất kém.

Tôi hoạt động tích cực. Chị Bí thư có nhiều cảm tình với tôi, thường biểu dương tôi và khuyên tôi thoát ly gia đình theo cách mạng. Đôi khi, một mình tôi chủ trì những phiên họp ở các trường quận 3. Tôi đã giáo dục bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie, cấm chúng nó viết thông cáo bằng Pháp ngữ, Anh ngữ nặng tính chất chống đối. Tôi bị chúng nó ghét cay ghét đắng. Điều đó không thành vấn đề. Vấn đề là tôi đã đưa chúng nó vào sinh hoạt mới, kỷ luật mới, đời sống mới. Chị Bí thư trao súng K54 của chị cho tôi giữ. Chị dạy tôi cách xử dụng. Đi đâu tôi cũng đeo súng và rất hãnh diện. Tôi tự vẽ cho tôi một tương lai huy hoàng. Tôi sẽ trở thành đảng viên đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Tôi sẽ sang học bên Liên Sô. Tôi sẽ đem hết khả năng của tôi cống hiến đảng và nhân dân. Tôi đã đọc cuốn truyện liên xô, nhan đề: Thép đã tôi thế đấy và tôi rất yêu mến anh Pavel. Anh này đúng là biểu tượng của thanh niên cộng sản. Tôi còn đọc cuốn Ruồi trâu và tôi khinh bỉ Thiên Chúa Giáo. Tôi là ước mơ của bao nhiêu đứa bạn bằng tuổi tôi, được đảng chiếu cố, được đảng ban phát ân huệ để nở mày nở mặt với đời. Đời xưa quen gọi tôi là thằng chệt, thằng ba tàu, thằng hủ tíu…! Đời nay gọi tôi là “đồng chí”, là anh Tỵ. Ba má tôi hồ hởi, phấn khởi. Họ hàng tôi tự cho là có chỗ nương dựa ở xã hội mới.

Nhưng tại sao tôi thay đổi toàn bộ tư tưởng? Một buổi tối tháng 10, thằng bạn tôi là Trần Chiêm Đồng đến rủ tôi đi uống cà phê. Tôi theo nó. Đồng và tôi nói chuyện.

– Tư sản mại bản Chợ Lớn bị bắt nhốt ở Chí Hòa mày biết không?

– Biết. Bị bắt hồi tháng 9.

– Ông bang trưởng Đào Mậu cũng bị bắt.

– Thế hả?

– Ông bang Trần Thành nằm khám luôn.

– Thế hả?

– Các đội trưởng múa lân Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu trong Chợ Lớn bị bắt hết.

– Thế hả?

– Các hiệu trưởng trường Tàu vào ấp cả.

– Thế hả?

– Hội Tinh Võ bị giải tán rồi. Tinh Võ Môn bị Nhật Bản nó phá vỡ bảng hiệu! Tiếc rằng không có Lý Tiểu Long.

Trần Chiêm Đồng đưa ra những câu hỏi làm tôi choáng váng. Nó lại nhắc tôi tinh thần yêu nước của người Trung Hoa trong phim Tinh Võ Môn. Tôi cũng là võ sinh của Tinh Võ Môn. Ở hội múa lân là phải giỏi võ vì các hội khác bang thường thách thức thí võ và đánh nhau.

Chúng tôi im lặng một lát. Trần Chiêm Đồng thở dài.

– Đời này làm gì có Lý Tiểu Long.

Nó chưởi thề:

– Mẹ kiếp, bao nhiêu năm ăn cơm, uống nước của người Việt Nam, bây giờ, bảng hiệu Việt Nam bị gỡ xuống, nghĩ rất thẹn vì không có tinh thần Lý Tiểu Long. Cái thân phận Việt gốc Hoa nghìn năm bị khinh bỉ ở đất nước Việt Nam chỉ vì sống theo kiểu gió chiều nào nương chiều ấy. Nay, Việt cộng nó bắt bỏ tù, nó tịch thu tài sản, nó đuổi về vùng kinh tế mới, dám làm gì nó không? Kêu cứu ông Mao Trạch Đông, ông Tưởng Kinh Quốc đi!

Nó hỏi tôi:

– Bao giờ mày được vào đảng?

Tôi đáp:

– Còn lâu!

Nó chản nản:

– Đợi mày vào đảng để cứu các ông bang chắc các ông ấy rũ xác trong tù rồi.

Nó mỉa tôi:

– Năm nào mày đi tố cáo Việt cộng, năm nay mày đeo súng Việt cộng. Kỳ quá, Tỵ à!

Cái vụ này, tôi xin kể: Năm 1970, quán nhậu của ba tôi rất đông lính Cộng Hoà. Có người đến ăn nhậu rồi bỏ lại cái giỏ đỏ. Tôi chạy theo bảo người ấy trở lại lấy bị đồ. Người ấy bỏ chạy nhanh. Sinh nghi, tôi báo cảnh sát bắt người ấy. Rồi tôi về quán báo động. Khách hàng bỏ chạy tán loạn. Nhờ một sĩ quan công binh giỏi nghề chất nổ nên cái giỏ chất nổ để đồng hồ tự động đã bị vô hiệu hóa.

Nó tiếp:

– Nếu chất nổ không được sĩ quan “ngụy” hủy diệt, ba má mày chết hết, mày què cụt, hôm nay mày có theo Việt cộng không?

Tôi cứng họng không trả lời nổi. Nó dọa tôi:

– Việt cộng nó thù dai lắm, tội từ thuở lọt lòng nó còn lôi ra đấy. Mày đừng tưởng bở.

Nó chia tay tôi ở quán cà phê. Tôi về suy nghĩ cả đêm không ngủ. Đầu óc tôi muốn nổ tung. Hôm sau, tôi đến nhà Trần Chiêm Đồng thật sớm.

– Tối qua mày gợi những chuyện ấy với tao nhằm mục đích gì?

– Không nhằm mục đích gì cả.

– Mày cứ nói thật đi!

– Tao không còn tin mày nữa. Bây giờ, tao tự nhận tao là Quốc Gia, còn mày thì đã là Cộng Sản. Quốc Gia không tin Cộng Sản.

– Tao chưa là cộng sản.

– Mày đeo súng hoạt động cho cộng sản, mày là cái gì? Nói thật rồi mày có đi tố cáo thì đi, tao không sợ đâu. Mày lúc này cộng sản không ra cộng sản, ngụy không ra ngụy, mày mình dơi đuôi chuột. cộng sản nó bắt mày hôm nào tao chưa biết nhưng Quốc Gia về thì mày chết trước. Mày tưởng Quốc Gia chết rồi à? Mày tưởng ngụy nhào rồi à? Ngụy nhào, Mỹ cút nhưng Quốc Gia vẫn sống hiên ngang. Quốc Gia sắp về. Mày mù, mày điếc nên không biết gì cả. Mày tự chặt cầu rồi, mày, mày… Tội nghiệp mày quá!bần thần, ngồi đưa tay bưng mặt khóc. Trần Chiêm Đông vẫn nói trong tiếng khóc của tôi:

– Tao rất sợ sự phẫn nộ của quần chúng khi Quốc Gia trở về. Mày gây thù hận ở các trường quận 3 khiếp quá.

Tôi nức nở:

– Mày cứu tao! Mày là bạn thân nhất của tao, Đồng ơi!

Nó nói:

– Mày tự cứu lấy.

– Tao tự cứu tao bằng cách nào?

– Làm sao tao biết được!

– Mày nói mày là Quốc Gia. Quốc Gia mới hay Quốc Gia cũ?

– Quốc Gia mới.

– Tao có thể là Quốc Gia mới không?

– Tự mày hỏi mày đi. Mày nên về suy nghĩ kỹ lưỡng. Mày cần nhìn rõ cộng sản đã.

– Tao suy nghĩ kỹ rồi.

– Chưa đâu. Người Quốc Gia mới không đùa với cộng sản bằng truyền đơn vớ vẩn. Tao chắc mày đánh giá người Quốc Gia mới như mấy anh Phục Quốc. Không. Phục Quốc là mặt nổi, mặt chìm của người Quốc Gia mới là đồ chơi sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống hố thẳm của thời đại.

Tôi đâm ra nể sợ Trần Chiêm Đồng. Về sau, tôi phục nó, yêu mến nó hơn và mãi mãi tôi yêu mến nó. Bởi vì nó đã dẫn tôi đi trên con đường lạ lùng của tuổi trẻ ước mơ. Nó có vẻ không cần tôi vội vã. Nó bắt tôi suy nghĩ để tôi khỏi ân hận. Một tuần lễ sau, tôi lại tới nhà Trần Chiêm Đồng.

Nó hỏi tôi:

– Mày nhìn gì thêm về cộng sản chưa?

Tôi đáp:

– Rồi.

– Kể tao nghe!

– Nó đẩy tao vào đường chết. Nó chỉ thị tao phải cứng rắn với bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie mà nó thì lại ngọt xớt. Con mụ Bí thư chi đoàn nham hiểm thật.

– Nó cho mày giữ súng của nó để mày tự sát đấy.

– Tao sẽ bắn nó.

– Bắn nó đâu có chết chủ nghĩa cộng sản. Bắn chết chủ nghĩa cộng sản thì đảng cộng sản chết, chế độ cộng sản tiêu luôn. Người Quốc Gia mới chỉ cần bắn chết chủ nghĩa cộng sản thôi. Không bắn chết chủ nghĩa cộng sản, mọi việc chống đối, kháng chiến là trò đùa. Người Quốc Gia mới không võ trang bằng súng đạn Mỹ. Họ võ trang bằng tư tưởng. Tư tưởng mạnh hơn súng đạn.

– Ai dạy mày điều đó?

– Người Quốc Gia mới.

– Họ ở đâu?

– Sàigòn.

– Tao gặp được chứ?

– Được. Dù mày có phản bội, họ vẫn chấp nhận mày.

– Tao thật lòng.

– Mày chứng minh sự thật lòng của mày trước đi.

Tôi trả khẩu K54 cho chị Bí thư chi đoàn, báo cho chị ấy biết là tôi nghỉ hoạt động, không nêu lý do. Tôi đến các trường trung học ở quận 3 họp hành, xin lỗi và tuyến bố tự ý rút lui khỏi chức vụ phụ tá Bí thư. Tôi trả thẻ đoàn viên. Trần Chiêm Đồng hứa sẽ giới thiệu tôi với người Quốc Gia mới. Nó giữ lời hứa. Đồng dẫn tôi tới chùa An Lạc. Ngang qua một con hẻm, chúng tôi dừng lại vì công an đang ập vào một căn nhà và dân chúng lối xóm bu quanh đông nghẹt. Có gì lạ thế? Dân chúng nói, ông chủ căn nhà có thằng con trai 10 tuổi. Nó là thiếu niên quàng khăn đỏ tiên tiến, xuất sắc, gương mẫu. Nó đi họp hành tối ngày, người ta giáo dục nó kiểm soát cha mẹ và tố cáo với phường khóm ngay nếu phát hiện tội lỗi của cha mẹ. Hôm nay, thằng thiếu niên khăn đỏ, “cháu ngoan bác hồ” tố cáo cha nó chôn dấu súng với công an phường. Công an đến khám xét.

Chúng tôi tò mò đứng chờ kết quả. Công an còng tay bố thằng thiếu niên lôi đi với khẩu M16 bọc ni-lông dính đầy đất ướt. Thằng bé đã được học tập căm thù để đưa bố nó vào tù. Tôi nhìn rõ mặt thằng bé. Nó cười hớn hở khi ông phường trưởng xoa đầu biểu dương nó. Còn mẹ nó thì khóc sướt mướt. Hình ảnh đó, hôm nay tôi vẫn chưa quên. Tôi cám ơn Trần Chiêm Đồng đã lôi tôi ra khỏi tội ác. Chúng tôi bỏ đi. Lòng tôi dậy lên con sóng phẫn nộ. cộng sản là thế, là con nít cũng không tha đầu độc, hủy diệt tình nghĩa của nó. Tôi vào chùa An Lạc, gặp chú tiểu Thích Thanh Bần. Chú pha trà mời tôi uống và hỏi tôi:

– Anh viếng chùa hay tôi?

Trần Chiêm Đồng nói:

– Anh ấy viếng chú. Tôi đã bảo chú là anh Ngô Tỵ sẽ đến thăm chú.

Tôi nói:

– Hân hạnh quen biết chú.

Chú tiểu cười thật dễ thương.

– Đừng gọi tôi là chú nữa, tôi chưa xứng đáng để anh phải thủ lễ. Anh Đồng là bạn học cũ lại năng viếng chùa, chúng tôi coi nhau như anh em, cùng gia đình Phật tử cả.

Cạn chén trà, chú tiểu hỏi:

– Anh Tỵ gặp tôi là muốn tìm hiểu người Quốc Gia mới phải không?

Tôi đáp:

– Vâng, tôi tha thiết gặp mặt người lãnh tụ.

Chú tiểu lại cười:

– Theo tôi biết thì họ không có lãnh tụ, họ chỉ có người mở đường, người này chưa tiện gặp ai. Anh Đồng cũng chưa gặp.

Trong khi chú tiểu và tôi nói chuyện, Trần Chiêm Đồng ngồi im hút thuốc, uống nước.

– Thỉnh thoảng, người ấy ghé chùa, tôi có dịp nghe người ấy nói về tương lai dân tộc Việt Nam và cái thế tất bại của chủ nghĩa cộng sản. Người ấy quả là con người ước mơ. Anh Tỵ có nhiều mơ ước không?

– Tôi ít ước mơ lắm.

– Tuổi trẻ cần nhiều ước mơ. Ước mơ 10 ngọn núi rồi thực hiện 1 ngọn núi là đủ. cộng sản thật bất hạnh vì họ không biết ước mơ. Họ chỉ biết tạo ra đau khổ và bắt con người phải chịu đựng.

Giọng nói của chú tiểu quyến rũ vô cùng. Tôi nghe chú nói bằng cả tâm hồn tôi. Tôi không ngờ, chỉ bằng tuổi tôi thôi, mà chú ấy quảng bác quá. Chú ấy phân tích những sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và chứng minh hai chủ nghĩa này cùng đốn mạt và đã toa rập với nhau hủy hoại văn minh Việt Nam, cày nát quê hương Việt Nam và làm điêu đứng dân tộc Việt Nam. Chú ấy nói về chủ thuyết tiểu tư sản. Tôi ngẩn ngơ. Tôi mê mẩn và tôi chìm đắm vào cái chủ thuyết tuyệt vời đó. Chú ấy bảo cha đẻ của chủ thuyết này là người tôi muốn gặp mặt. Tôi rất tin tưởng vào cái thế tất thắng của người Quốc Gia mới.

Sau hôm đó, tôi thường lui tới chùa An Lạc. Mỗi lần ngồi nghe chú tiểu luận bàn thời thế là mỗi lần tôi vẽ thêm mơ ước. Tôi chưa gặp người mở đường cũng chưa được giao công tác gì. Tôi nghĩ họ còn thử thách tôi. Nếu họ giao công tác, bất cứ công tác nào, nguy hiểm cách mấy, tôi sẽ nhận và thực hiện bằng được. Tôi hơi buồn vì tưởng mình bị thử thách. Lần chót, chú tiểu xua tan lớp mây ngờ vực của tôi:

– Chiến đấu bằng tư tưởng khác với chiến đấu bằng súng đạn. Súng đạn chỉ giải quyết ở chiến trường, không giải quyết được lòng người. Đó là kinh nghiệm chiến thắng của cộng sản. Cuộc chiến đấu của chúng ta sẽ chiến thắng bằng chính tư tưởng của mọi người trong toàn thể dân tộc ta. Khi mọi người đều thấm tư tưởng mới thì vũ khí là trái tim mạnh hơn cả nguyên tử. Bởi vậy, chúng ta phải kiên nhẫn, phải chờ đợi tư tưởng thấm vào hồn.

Tư tưởng mới nằm trong chủ nghĩa tiểu tư sản. Tôi hiểu và tôi cảm thấy có cái gì khác lạ xứng đáng để tôi dấn thân. Sự liên hệ của tôi với Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần mới đến thế. Tôi đem những gì nghe được ở chùa An Lạc kể cho bạn hữu nghe, đứa nào cũng khoái và muốn đến chùa. Bạn hữu tôi lại kể cho những người quen thân khác. Và chú tiểu nói như thế là vận động tư tưởng là công tác trọng đại. Rồi, tự nhiên, công an bảo vệ chính trị tới nhà tôi bắt tôi giam nhốt. Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao, do đâu tôi bị bắt. Ông bảo tôi khai hết sự thật, tôi đã khai hết sự thật. Chẳng cần dấu diếm làm gì. Tôi đã thấy Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần ở cachot đối diện cachot tôi. Họ ra hiệu cho phép tôi nói thật, nói hết. Chiến đấu bằng tư tưởng là chiến đấu đẹp, là chiến đấu cho sự thật, cần chi phải gian dối.

Tôi còn muốn nói thật với ông rằng, không có thứ gì tẩy xóa nổi sự say mê chủ nghĩa tiểu tư sản đã khắc sâu trong tâm hồn tôi. Ông đừng dối lòng ông là ông không thèm làm người tiểu tư sản. Hãy liệng cái xe Honda của ông xuống sông rồi gạ đi chung xe với đồng chí của ông xem sao! À, lúc ấy ông sẽ thấy quyền tư hữu của cộng sản và ông mơ ước làm người tiểu tư sản hào sảng, thông minh, lãng mạn. Cái nôi của loài người không là chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà là chủ nghĩa tiểu tư sản.»

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 9 Jan 2026

Chương 13

Tình Mong Manh

Trước khi bước ra khỏi nhà Tố Nga quay lại nói nhỏ với em:

– Chị biết nhà mình thiếu gạo tháng này rồi nhưng chắc cũng sẽ xoay được thôi. Trưa về chúng mình sẽ liệu.

Tố Uyên vỗ vai chị:

– Chị cẩn thận, bọn quản giáo Hương và mấy đồng chí của nó bám chị em mình không được, coi chừng chúng dở trò hoặc theo dõi chuyện khác đấy!

Tố Nga ra khỏi nhà mang theo hai nỗi lo. Tình trạng kinh tế gia đình ngày một thiếu hụt, hai chị em cố xoay xở mọi bề nhưng ngày càng khó sống. Thầy mẹ đang tình trạng già yếu mà nhà lại không có con trai. Nỗi lo thứ hai, Tố Nga biết cuộc tình vô vọng với Nghi sẽ nhiều bất trắc nhưng Tố Nga không thể nào cưỡng lại được. Nghi thấy điều đó và cũng đã tâm sự với Tố Nga. Anh lo sợ về an ninh của Tố Nga và bản thân. Nếu mọi chuyện vỡ lở thì cái tội cấu kết với thành phần có tội phản động sẽ là của Tố Nga và với Nghi thì tội âm mưu trốn trại, quan hệ với thành phần xấu trong xã hội và biết đâu lại không thêm một cái án hiếp dâm ly kỳ không chừng! Bấy nhiêu đó thì chắc Tố Nga sẽ nguy khốn, còn Nghi, cũng có thể bỏ mạng. Nghi khuyên Tố Nga nên nhìn vào thực tế đời sống, nhưng cũng như bao nhiêu lần, anh không thể dứt khoát trước những dòng nước mắt lặng lẽ chảy dài trên đôi má của Tố Nga.

Tình yêu là trái cấm. Càng khó khăn cách trở, càng đam mê. Càng hồi hộp âu lo, càng liều lĩnh. Trong tim Tố Nga như có thêm một mệnh lệnh thầm kín nào đó, Tố Nga không thể nào hiểu được. Có lẽ đây là trường hợp đúng nhất để hiểu câu con tim có lý lẽ riêng của nó!

Cả hai tuần qua Tố Nga không gặp được Nghi. Lòng cô nôn nóng. Đợt hàng hợp tác xã phân phối về có cái tem phiếu được một ký thịt lợn, Tố Nga dành gần phân nửa, xào nấu, rồi tìm cách đi gặp Nghi. Cũng may là Tố Uyên lại biểu đồng tình với chị, nên chuyện lớn, chuyện nhỏ, hai chị em thường thì thầm với nhau.

Với buổi sáng nơi núi rừng chưa qua cơn ngái ngủ về đêm, con đường đất sỏi như rộng hơn. Tố Nga cắm cúi đi. Cô nghe cả tiếng lạo xạo trên đất theo từng bước chân. Nhịp tim cô cũng nôn nóng nhưng phân vân. Trạng thái mâu thuẫn tự nhiên, đến rồi đi, rồi lại đến. Cái gùi cô vẫn mang trên vai như cô đang đi rừng tìm măng. Cô không có được bước chân bay bổng của một người được tự do hò hẹn với người yêu. Cô không có được ước mơ được người yêu đứng đợi nơi chỗ hẹn hò, để được nhào tới ôm nhau và một nụ hôn như không bao giờ rời ra được. Cô vẫn phải cảnh giác! Núi rừng chung quanh, cây lá chung quanh như vẫn có đôi mắt nào đó, đang dòm ngó theo dõi. Hai tuần qua không gặp Nghi, Nghi sẽ ra sao? Có bao giờ hôm nay Nghi lại ốm, không đi theo toán cưa xẻ không? Tố Nga và Nghi chỉ luôn luôn như những kẻ gặp nhau tình cờ, không thể có hẹn hò như những cặp tình nhân khác.

Qua khỏi con đường mòn đi lên ngọn đồi có toán cưa xẻ của Nghi đã khá xa, nhưng đây cũng là mục đích của Tố Nga, để đánh lạc hướng những đôi mắt vô hình đang theo dõi. Nhìn trước sau, đường vẫn vắng vẻ, Tố Nga rẽ vào trong rừng và thoáng chốc đã mất hút trong cái mênh mông tĩnh mịch của núi rừng buổi sáng.

Tố Nga cố tranh thủ tìm cho được vài mụn măng bỏ vào gùi, để không ai có thể nghi ngờ cô nếu tình cờ gặp bộ đội hay quản giáo. Sau đó cô đi ngược về ngọn đồi nơi có toán cưa xẻ của Nghi. Dòng suối nơi lần đầu tiên Tố Nga gặp Nghi lại hiện ra. Dòng nước, dòng thời gian vẫn cứ róc rách trôi. Mới đó mà đã gần hai tháng qua và còn bao lâu nữa Nghi sẽ bị chuyển trại? Câu hỏi đến thật bất ngờ. Thật đau đớn.

Tố Nga không đi theo lối mòn quen, cô tìm một lối đi mới để đề phòng bất trắc. Đến lưng chừng đồi Tố Nga đã nghe được tiếng rèn rẹt của lưỡi cưa ăn vào gỗ. Rồi tiếng rèn rẹt mỗi lúc một lớn hơn, Tố Nga đã thấy được nhóm người cưa xẻ. Ngồi quan sát không thấy có ai lạ, Tố Nga ném một viên sỏi để bắn tin, viên sỏi đụng nhánh cây rơi xuống. Cô ném lần thứ hai thành công, rồi ngồi yên chờ đợi.

Nghe tiếng viên sỏi rơi xuống đất, Nghi hiểu. Toán cưa xẻ cũng hiểu. Nghi nói với Đương cốm điều gì đó, rồi lấy cái thùng vội vã đi xuống suối lấy nước. Đi một quảng, thấy không có gì nghi ngờ, Nghi rẽ vào lối khác.

Rừng núi lại như một vòng tay ôm bảo bọc cho đôi tình nhân gặp gỡ.

Tố Nga không nói được lời nào, chỉ nhìn Nghi, rồi lặng lẽ khóc. Cô khóc, vì thời gian sẽ không chờ đợi một ai. Rồi một ngày nào đó, có thể rất gần, rất bất ngờ Nghi sẽ bị đưa đi nơi khác và chắc chắn sẽ không một lời báo trước. Cái mong manh của tình yêu như những bóng nắng đang nhởn nhơ trước mắt rồi vội mất. Như những bong bóng trước hiên mưa nhà cô những chiều tha thiết. Vỡ nát. Tan biến. Và nhạt nhòa trong ảm đạm trời buồn.

Ôm Tố Nga trong vòng tay, Nghi không hiểu được tâm trạng của người yêu, nên hỏi:

– Em có chuyện gì buồn phải không? Có phải thầy mẹ biết và can ngăn?

Nghi lấy tay áo của mình, lau những giọt nước mắt cho Tố Nga.

– Không anh ạ. Bỗng dưng em thấy cái mong manh của cuộc tình nên khóc. Thế thôi.

Nghi thở dài. Anh cũng cảm thấy như vậy, anh nói:

– Chúng mình đều biết tình yêu sẽ không có đoạn kết và càng ngày càng nguy hiểm cho em hơn.

– Nhưng thà hoàn cảnh buộc chúng mình xa nhau, chứ riêng em không thể nào đủ can đảm chấm dứt. Mỗi lần gặp gỡ em luôn mang tâm trạng là lần gặp sau cùng.

– Em thật lãng mạn nhưng anh cũng cùng tâm trạng đó.

Nghi cuối xuống cởi chiếc giày màu nâu tím đã sờn rách, mà lúc còn ở trong Nam anh đã tự may bằng vải áo giáp nhuộm với màu trái lựu đạn khói trước sự ngạc nhiên của Tố Nga. Anh lần gở từ trong mũi giày, lấy ra một bọc plastic anh đã giấu trong đó. Anh nói:

– Anh biết những khó khăn về vật chất mà vô tình em phải gánh chịu thêm từ ngày chúng mình gặp nhau. Anh đoán được sự khó khăn đó của gia đình em và sự hy sinh của em và Tố Uyên. Cả nhóm cưa xẻ tụi anh đều hiểu điều đó. Mà lần nào gặp gỡ cũng như là lần sau cùng, do đó anh mong em nhận chút quà nầy.

Tố Nga ngạc nhiên và phân vân. Nghi ôm lấy Tố Nga, đặt lên môi cô một nụ hôn thật dài, rồi nói:

– Em nhận đi để anh vui.

– Mà vật gì thế cơ?

– Cái đồng hồ đeo tay của anh. Trước năm 1975 tại miền Nam nó có chút giá trị, nên anh nghĩ bây giờ có lẽ có giá trị nhiều hơn. Anh chưa bao giờ đăng ký nộp cho trại tù và cố giấu cho đến bây giờ.

Ngưng giây lát, Nghi tiếp:

– Chúng mình không có thời gian. Mong em đừng từ chối.

Tố Nga đón nhận và từng dòng nước mắt lại nhạt nhòa trên má.

– Là cái đồng hồ đẹp như thế nầy thì có lẽ cả đời em cũng không thể mơ mình có được.

Nghi nói thêm:

– Đừng quan trọng nó là vật kỷ niệm cần phải giữ lại. Em nên giải quyết tùy theo hoàn cảnh của gia đình.

Tố Nga tựa đầu nơi ngực Nghi. Nghi vỗ về:

– Em nghĩ có thể giúp tụi anh trong một kế hoạch trốn trại được không? Tụi anh biết, cho đến bây giờ vẫn chưa có một tù nào trốn trại và thoát được nhưng sớm muộn gì cũng chết, nên cố tìm cái sống trong cái chết, em nghĩ sao?

Đôi mắt Tố Nga chợt ráo hoảnh. Cô ngồi thẳng người lại, nhìn trực diện với Nghi:

– Em cũng có nghĩ đến điều nầy. Nhưng rừng núi rất hiểm trở, khó thể thoát.

Tố Nga tiếp:

– Anh đừng nói gì thêm cả. Em hiểu. Em chấp nhận vì yêu anh. Nhưng liệu có thoát được hay không? Ở đây có hai hướng đi theo hai lộ chính khác nhau. Một về hướng Yên Báy, xa khoảng hơn bốn mươi ki lô mét, rồi từ Yên Báy đi ngược lên biên giới Trung Quốc cả trăm ki lô mét. Hướng thứ hai, đi về Nghĩa Lộ, cũng hơn mấy trăm ki lô mét mới sang Lào. Nhưng cả hai tuyến đường đều không thể nào đi thoát được, vì công an và dân chúng. Còn băng rừng, lội suối thì vô cùng hiểm trở, em không thể biết được… Thực phẩm, quần áo, em có thể lo được và chôn giấu ngoài nầy.

– Tụi anh có ba người. Liệu có cách nào cải trang và di chuyển bằng xe ra Yên Báy và từ Yên Báy lên gần biên giới Trung Quốc, rồi từ đó tụi anh băng rừng?

– Trước mắt em thấy không có cách nào. Vì dân ở đây rất ít, nên mọi người nhẵn mặt với nhau. Chỉ một người di chuyển bằng xe, cả ô tô cơ động hoặc xe đạp cũng khó thoát rồi.

Nghi lần trong ve áo ra trao cho Tố Nga một mảnh giấy nhỏ, ghi địa chỉ nhà anh ở Sài Gòn. Anh nói:

– Em giữ cẩn thận mảnh giấy nầy, nếu bất cứ trường hợp nào chúng mình không còn liên lạc được với nhau thì địa chỉ nhà ba má anh ở Sài Gòn là nơi liên lạc. Đây là tín hiệu để ba má anh nhận diện được người mà anh tin tưởng và nhờ đưa tin. Phải có nét chữ viết của anh và loại giấy đặc biệt nầy. Nếu tụi anh trốn đi, em cố gắng tin cho ba má anh biết. Em đừng nghi ngại gì cả. Ba má anh hiền lành và phúc hậu lắm!

– Đi vào Nam thì chưa chắc em dám đi. Còn gửi thư thì em sẽ tìm cách an toàn để gửi nhưng thư từ trong Sài Gòn gửi tới đây không chắc gì không bị rà xét hoặc bị giữ lại tại công an để điều tra trước khi đến tay em. Công an đã nắm vững lý lịch từng gia đình và bọn chúng cũng bám theo Tố Uyên và em nữa. Chúng biết rõ gia đình em không có quen biết ai ở Sài Gòn cả anh ạ.

Tố Nga tiếp:

– Ờ nhỉ, thế sao anh lại không viết một lá thư cho gia đình để em gửi…

Vừa nghe Tố Nga mách nước, Nghi bừng tỉnh. Anh ôm chầm lấy Tố Nga:

– Anh đã nói là em vừa đẹp, vừa thông minh mà!

Tố Nga xúc động lắm. Cô cố đẩy Nghi ra:

– Cái anh này…

Giây phút tuyệt vời. Giây phút mặt trời như đứng lại nhìn xem cây lá vỗ về trên da thịt.

Tình nồng.

Tình say.

Tình đắm đuối.

Tình trăn trối.

Tình chia ly.

Chất ngất.

Nước mắt.

Mồ hôi.

Thời gian vỗ cánh.

Mây bay.

Và tình trăm năm.

Vài người bạn trốn khỏi trại Tập trung Bù Gia Mập

dongsongcu.wordpress.com

BS Trần Xuân Dũng

Posted on January 7, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

(Hình chụp: Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Ngọc Hạnh) Nguồn Internet

Câu chuyện này xảy ra vào khoảng tháng 4 năm 1977, tại trại Tập trung ở Bù Gia Mập.Khu trại K3 gồm 3 dãy nhà lá, sắp theo hình chữ U. Mỗi dãy có 3 căn. Nhà bếp và nhà ăn ở trong khoảng miệng của chữ U. Khi bị chuyển từ trại Suối Máu lên đây, anh em tù nhân đã cất những nhà này. Họ đều là những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt có rất nhiều Bác sĩ Quân Y, từ Thiếu tá đến Trung tá. Tôi chỉ nhắc lại sơ sơ một số nhỏ: Y sĩ Trung tá Nguyễn Đức Liên, Y sĩ Trung tá Phạm Hữu Thi. Y sĩ Thiếu tá Trần Văn Tích, Y sĩ Thiếu tá Bùi Nghĩa Bỉnh, Y sĩ Thiếu tá Hồ Trí Dõng, Y sĩ Thiếu tá Trần Xuân Dũng, Y sĩ Thiếu tá Vũ Văn Quynh.

Vũ Văn Quynh cùng học PCB với tôi ở Khoa Học Đại Học Sàigòn, năm 1958. Sau đó, cùng lớp Năm thứ 1 Y Khoa, Y Dược Đại Học Đường Sàigòn, ở đường Trần Quí Cáp. Cuối năm đó Quynh bị rớt. Kết quả là tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ sau tôi một năm.

Quynh rất vạm vỡ, nhưng không cao lớn. Tính Quynh bộp chộp. Thuận mồm thì nói, vui miệng thì cười. Không thâm hiểm, không nịnh bợ. Mỗi lần toe toét với anh em bạn bè, thì để lộ ra một hai cái răng vàng. Quynh từ Pháp về Việt Nam học PCB, nên nói tiếng Tây như mây bay gió cuốn. Tôi phục Quynh lắm.

Khi Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân về làm Chỉ Huy trưởng Trường Quân Y, một số Quân Y sĩ Nhảy Dù được kéo về theo. Thí dụ như Vũ Khắc Niệm, Đoàn Văn Bá, Hoàng Ngọc Giao, Vũ Văn Quynh. Quynh ở Đơn vị này cho đến khi mất nước vào tháng 4 năm 1975.

Khi bị nhốt trong những trại tập trung của Việt Cộng (mà chúng gọi là trại cải tạo), Quynh và tôi cùng gặp nhau ở khu K3 trại Suối Máu. Trại có 22 căn nhà. Tôi ở căn nhà số 6, Quynh ở căn nhà số 12. Tuy 2 số cách nhau như vậy nhưng thật ra hai đầu nhà chỉ cách nhau có một con đường chừng 3 thước. Do ngẫu nhiên bọn cai tù Việt Cộng chỉ định Quynh làm đại diện cho anh em tù trong căn nhà số 12, và tôi cũng bị chỉ định đại diện cho căn nhà số 6. Mỗi buổi chiều, trước giờ ăn cơm, cứ khoảng 5 rưỡi là Quynh và tôi đều phải tới hội trường gặp tên cai tù phụ trách, để nhận công tác cho ngày hôm sau, rồi về sắp xếp anh em.

Mặc dù cùng học, biết nhau nhiều năm và cùng ở trong hoàn cảnh tù, khổ sở cùng cực nhưng tôi và Quynh chưa bao giờ trở thành một đôi bạn chí thân – không lúc nào sơ hơn, mà cũng chẳng khi nào gần hơn.

Khi bị chuyển trại lên Bù Gia Mập, Quynh và tôi lại ở cùng một dãy. Quynh ở căn nhà gần cổng ra vào. Tôi ở căn giữa. Cả hai đều may mắn là không còn bị chỉ định đại diện cho tù nhân trong căn nhà nào cả.

Ngày ngày, 600-700 Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bị lùa lên núi đồi xung quanh trại để làm những công việc khổ sai. Chặt tre, đẵn gỗ, phá rừng, trồng lúa, trồng khoai mì, v.v

Tuy công việc nặng nề, nhưng ai cũng cảm thấy dễ chịu hơn lúc ở Suối Máu. Lý do là đỡ cuồng cẳng, và được thở không khí thiên nhiên. Trong khi ở Suối Máu, lúc nào cũng như bị nướng trong dãy nhà tôn vào mùa hè, và xung quanh là hàng rào kẽm gai với những họng súng đại liên trên vọng gác. Gần Sàigòn hơn, nhưng đúng là trong trại giam. Còn ở Bù Gia Mập, được lên núi, xuống đồi, không khí căng thẳng của tình cảnh bị tù đầy giảm bớt. Mặc dù vậy, nỗi thê lương vẫn đè nặng trong tim mỗi người. Ai cũng vẫn hiểu rằng: Ngày về xa lắm! Người ơi!

Vì trại ở gần biên giới Việt Miên, nên những người thân với nhau, thường nghĩ đến chuyện vượt biên giới để sang Cao Miên, rồi lần mò tìm đường sang Thái Lan để tìm Tự Do. Ngặt một nỗi, Miên bấy giờ cũng đang ở trong tay Khmer Đỏ. Cho dù có vượt được biên giới, rồi tới đất Miên đi chăng nữa, chắc gì đã thoát chết.

Do đó không ai tính đến chuyện đó nữa. Một hôm, như thường lệ những người tù của trại lại được đưa lên những ngọn đồi rải rác quanh đó để làm việc. Hôm đó trời nắng đẹp, không nóng lắm, vào khoảng tháng 4 năm 1977. Đến 5 giờ chiều, họ lại được trở về trại, rồi xuống nhà ăn, ăn cơm chiều.

Đang nửa chừng bữa, bỗng lũ công an cai tù của toàn trại, lăm lăm cầm tiểu liên AK 47 chạy tới, hạ lệnh mọi người phải lập tức trở về dãy nhà ở, và ai nấy phải ngồi yên tạÏi chỗ ngủ của mình. Đám tù đứng lên ngay. Người đã nuốt xong miếng cơm chót. Kẻ còn chút xíu trong lon hay trong ca, trong chén của mình cũng chỉ cần cầm cái đồ đựng đó đứng lên là xong. Về đến dãy nhà ở, không ai được phép di chuyển khỏi chỗ nằm của mình. Cấm không được trò chuyện.

Cả cái khoảng sân rộng, nằm giữa 3 dãy nhà nối tiếp nhau xếp thành hình chữ U, không một bóng người. Chỉ có những phần tử thuộc loài động vật nón cối, lăm lăm cầm AK 47 đi đi lại lại, sẵn sàng bóp cò tiểu liên nhả đạn. Ở mỗi đầu nhà hay dọc theo hai bên, những động vật này cũng đứng ngồi, hờm sẵn.

Những người tù chúng tôi đương nhiên không hiểu chuyện gì. Trong suốt chín tháng ở trại này, ngày hôm nay căng thẳng nhất. Những người lạc quan, bụng bảo dạ, chắc có đánh nhau ở vùng biên giới gần trại, nên bọn Việt Cộng phải canh giữ gắt, để phòng có một lực lượng nào đó đến phá trại giải thoát đám Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang bị giam. Những kẻ bi quan, không phải là không có lý do, nghĩ rằng, chỉ chốc lát nữa thôi sẽ có một đoàn xe vài chục chiếcMolotova kéo vào sân, chở cả lũ ra Bắc. Như một lần chuyển trại nữa, thế thôi ! Mỗi người, tự nêu một ảo vọng, hoặc tự nghĩ đến một nỗi kinh hoàng mới.

Khoảng mười lăm phút sau, mấy tên cai tù đi vào mỗi căn nhà, điểm danh, đếm từng người một, rồi bỏ đi. Trong căn nhà tôi ở, không thiếu một ai.

Trời tối hẳn, không khí căng thẳng càng trở nên ngột ngạt. Những động vật nón cối vẫn không ngớt lởn vởn. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi giật mình. Vài tràng súng AK nổ, vọng về từ hướng cái suối mà anh em vẫn thường xuống tắm giặt. Những người đang hy vọng có đánh nhau ở vùng biên giới, mắt sáng hẳn lên. Họ chờ những tràng súng lớn, dù của bên nào. Đại bác hay đại liên mà nổ lên, thì vui quá. Không phải vui tai, nhưng đủ cho ảo vọng lớn dần lên. Còn nhóm âu lo bị chở ra Bắc, không có phản ứng. Vài tiếng súng từ rừng vọng ra không thể mang lại ý nghĩa gì. Nhưng dù sao, chắc chắn là có chuyện rồi, ai cũng nghĩ thế.

Mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Khoảng 10 giờ tối, cai tù cho lệnh tất cả phải ra sân ngồi xuống.

Tên quản giáo lên tiếng. Ở bất cứ nơi đâu, và vào bất cứ lúc nào, lời mở đầu của 1 tên cai tù Việt Cộng cũng giống nhau. Bất biến. Lời ca tụng cái thằng Bác Hồ, cái đảng Cộng sản, và cái chính sách tập trung Sĩ Quan cũng như Công chức của Chính quyền cũ để cải tạo.

Đoạn tên quản giáo cho biết, chiều hôm đó, 6 tên Ngụy không chịu cải tạo đã bỏ trốn trại này.

Nó đọc tên:

– Vũ Văn Quynh

– Đỗ Đình Tiêu

– Tôn Thất Hy

và 3 người nữa.

Tôi giật mình. Trong số 6 người tôi biết 3. Mới chiều hôm trước, Bác sĩ Vũ Văn Quynh còn đứng trước cửa căn nhà tôi ở, bô bô với tôi và vài anh em khác, để lộ ra một hai chiếc răng vàng khi toe toét cười.

Còn Đỗ Đình Tiêu, tôi quen từ hồi còn bị nhốt trong trại Suối Máu. Người dong dỏng cao, Tiêu có khuôn mặt rắn rỏi. Một hôm khi nghe nói Tiêu có họ là Đỗ Đình, tôi buột miệng hỏi:

Vậy anh có họ gì với Đỗ Đình Phương không?

Tiêu đáp: Tôi là em ruột của Anh Phương.

Tôi bảo: Tôi là học trò Tây Ban Cầm của Anh Phương, và cũng là bạn của anh ấy nữa (Đỗ Đình Phương là đệ nhất danh thủ Tây Ban Cầm của Việt Nam Cộng Hòa – Dạy ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc).

Vì nghe tôi nói là bạn của Phương và đồng thời là bạn của Bác sĩ Lê Đình Tuân – anh rể của Phương, nên Tiêu cũng hoan hỉ trò chuyện. Chắc Tiêu nghĩ, có thêm 1 người liên quan chút ít với gia đình mình, thì cũng vui, để thỉnh thoảng có thể nói về những truyện trong nhà. Phương với Tiêu là con ông Đỗ Đình Đạo, một đảng viên có tên tuổi trong Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Sau khi Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20-07-1954, dân chúng miền Bắc nhốn nháo. Trong lúc mọi người sửa soạn di cư thì ông Đỗ Đình Đạo bị một nữ cán bộ Cộng sản tên là Thụy An lừa đến nhà rồi đầu độc chết. Báo chí đăng ngay tin đó trên trang nhất. Dư luận xôn xao. Nhưng chỉ vài ngày sau, vụ án mạng đó bị quên đi một cách mau chóng, vì những diễn biến dồn dập xảy ra trên đất Bắc và những ưu tư chồng chất trên đầu óc mọi người.

Ở Bù Gia Mập, Tiêu không ở trong cùng dãy nhà với tôi mà cũng chẳng ở cùng căn với Quynh.

Còn Tôn Thất Hy là một Thiếu tá Quân Cụ. Người rất cao, có thể tới 1m80, và đen. Tay chân hợp với kích thước cơ thể và rất mạnh.

Do hoàn cảnh nào, 6 người này quen nhau, và thân thiết với nhau, để rồi bàn tính cùng nhau trốn trại, tôi không rõ.

Sau khi đọc tên 6 người, tên quản giáo đe dọa chúng tôi đủ điều và trước khi dứt lời, hắn cho biết là công an của trại đã bắt lại được hết.

Đêm ấy, rất nhiều người không ngủ được. Tôi cũng không tài nào chợp mắt. Thỉnh thoảng, từ xa xa trong rừng vẫn vọng về vài tràng súng AK 47. Tôi nghĩ thầm: Tên quản giáo nói đã bắt được hết cả là nói láo. Nếu đã bắt được họ, sao công an của trại không giải ra cho mọi người thấy, đánh đập thẳng tay để khủng bố tinh thần anh em chúng tôi. Hơn nữa, nếu đã bắt được rồi, thì sao còn những tràng súng AK bắn ở trong rừng.

Ai cũng mong 6 người đó đi thoát. Họ có thoát được, những người khác mới nghĩ kế làm theo. Còn nếu họ bị bắt, ý nghĩ trốn trại của anh em sẽ bị xoi mòn.

Sáng ngày hôm sau, mọi người vẫn bị đưa đi lên đồi hay núi làm công việc khổ sai thường lệ. Lẽ dĩ nhiên, với sự tăng cường canh phòng của toán công an đi theo. Rồi những ngày kế tiếp, cũng không thấy bọn quản giáo dẫn 6 người ra trước mắt mọi người, để xử bắn, giống như cách chúng đã làm hồi ở Suối Máu, đối với mấy người bỏ trốn mà bị bắt lại.

Sau khi được thả về, tôi tìm cách vượt biển. May mắn thành công. Sống ở trên đất tự do, tôi bèn đem sách Y khoa ra học gạo lần nữa ở trong đời. Sau vài năm, được hành nghề Bác sĩ trở lại. Một hôm, khi tôi từ Phòng mạch vừa về tới nhà thì vợ tôi hỏi:

– Anh còn nhớ thằng M không? Nó là con của bà cô ruột em ấy mà?

– Có chứ! Có phải cái thằng to con mà tóc xù chứ gì? Tôi đáp.

– Đúng nó đấy.

– Độ này nó ra sao ? Có còn ở Hàng Sanh cùng với cô không? Tôi hỏi.

– Thì em đang định nói chuyện về nó với anh đây! Sau khi mình thoát khỏi Việt Nam thì nó cũng tìm cách vượt biển. Xui xẻo cho nó, bị Việt Cộng bắt đưa lên nhốt ở Bù Gia Mập. Em không biết có phải đúng chỗ anh bị giữ hồi trước không. Nhưng chắc chắn là Bù Gia Mập rồi.

– Bù Gia Mập rộng lắm. Có rất nhiều trại. Dù bị nhốt ở trại nào thì cũng khốn khổ. Tôi ngắt ngang.

– Vợ tôi nói tiếp: Chẳng biết bao lâu sau, nó trốn trại. Hôm nay em nói chuyện về nó, vì tuần trước em mới nhận được thơ của bà cô báo tin là nó đã tới được Mỹ, ở với nhạc phụ. Bà cô còn cho em số điện thoại để liên lạc với nhau. Chiều hôm nay em đã nói chuyện được với nó mấy tiếng đồng hồ liền.

– Nó kể: Bị nhốt ở Bù Gia Mập mấy năm, không được thả, tôi bèn tìm cách trốn trại. Tôi có biết phương hướng chính xác gì đâu. Chỉ phỏng đoán, nhắm về phía Sàigòn mà đi. Nhưng không thể nào giữ cho khỏi lạc được. Quanh quẩn mấy ngày. Một buổi xế chiều, đang loay hoay tìm lối ở trong rừng, tôi bỗng đá phải một cái xác. Nhìn xuống, thì đó là một bộ xương người rất lớn. Tôi hoảng sợ quá, muốn chạy mà không cất bước nổi. Mà chạy hướng nào bây giờ ? Tôi ráng nhìn quanh thì nổi da gà. Tôi thấy 5 bộ xương nữa, tổng cộng là 6. Bộ thì co, bộ thì duỗi, bộ nằm nghiêng, bộ nằm ngửa. Thịt, da trên mặt đã biến mất hết. Ròi bọ cũng không còn. Riêng có một bộ ngồi dựa vào gốc cây, hàm răng có vài cái răng vàng hắt ánh ra trong lúc trời chạng vạng tối ở giữa rừng. Nhìn thấy thế, tôi chẳng còn kịp suy nghĩ đến phương hướng gì nữa. Co giò chạy tuốt. Trời xui đất khiến làm sao, mấy ngày sau tôi cũng mò về được Sàigòn. Rồi lại vượt biển nữa. Sau đó được Mỹ nhận, vì có ông bố vợ đã định cư tại đó từ trước, bảo lãnh cho.

Vợ tôi ngưng kể lời người em họ.

Tôi ngậm ngùi, liên tưởng

Cũng xin nói thêm là sau khi được thả ra khỏi tù, tôi chưa hề kể cho vợ tôi nghe về việc trốn trại của 6 anh em kia. Rồi khi sống trên đất Tự Do, tôi cũng không đả động gì đến chuyện này cả. Còn cậu em họ vợ, tôi chưa bao giờ gặp lại sau thảm họa mất nước vào tháng 4 năm 1975. Và cậu ta cũng chưa bao giờ biết bạn bè tôi có những ai.

Kể từ năm 1991, mỗi khi có dịp đi tham dự Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, tôi đều để ý tìm Bác sĩ Vũ Văn Quynh. Đồng thời hỏi những đồng nghiệp, xem có ai gặp anh không. Ở Paris, ở Florida, ở Montréal, ở San Jose, không bao giờ tôi thấy Quynh cả. Và mỗi lần nhận được một cuốn – Danh Sách Y Sĩ Việt Nam trên Thế Giới Tự Do mới, tôi đều giở vần Q ra để tìm tên và địa chỉ Anh.

Trước khi gửi bài này cho Tập San Y Sĩ, tôi lại giở cuốn Danh Sách Y Sĩ Việt Nam trên Thế Giới Tự Do, xuất bản năm 2008 ra, tìm lần nữa. Trên hai trang 196, 197 vẫn không thấy tên Bác sĩ Vũ Văn Quynh.

BS Trần Xuân Dũng

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Hình bìa cuốn Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker, Nxb Hutchinson, London 1954; được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương từ số ra mắt 01.1964.

Lịch Sử Y Học

KENNETH WALKER

Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM

Bài 10 – Lịch Sử Y Học

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Kenneth Walker là một trong những thủ thuật gia lỗi lạc nhất của Anh quốc. Tốt nghiệp Đại học Cambridge và bệnh viện St. Bartholomew ở Luân Đôn, hội viên Học viện Giải phẫu Hoàng gia, ông nổi tiếng, ngoài y học thuần túy, về những tác phẩm y học và triết học của ông. Ông đã xuất bản: Lịch Sử Y Học và Lịch Sử của Máu. Ngoài ra ông còn cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí y học và khoa học lớn nhất hiện thời.

Trong cuốn Lịch Sử Y Học mà chúng tôi hân hạnh trình bày bản dịch dưới đây với quý vị độc giả, Kenneth Walker đã tóm tắt trong 20 chương, tất cả quá trình tiến hóa của Y học trong hơn 3000 năm, bắt đầu từ những văn minh tối cổ cho đến nền văn minh hiện đại, từ Hippocrates, Galien đến Pasteur, Fleming, cả một truyền thống lấy phụng sự làm động cơ, lấy lý trí làm hướng đạo, luôn luôn cố gắng cho đời thêm tươi đẹp, đáng sống. Tác giả đã phác họa hình ảnh người Y sĩ qua các thời đại: từ thầy phù thủy đội gạc hươu, qua thầy tư tế, đến người Y sĩ khoa học ngày nay, đội mũ trắng, mặc áo choàng trắng, và dĩ nhiên hay đeo kính trắng! Phù hợp với hình ảnh ấy, người y sĩ được thân chủ kính trọng và biết ơn, được xã hội bảo đảm một mức sinh hoạt khá.

Nhưng vinh lắm, lụy nhiều: xưa kia khoét mắt chặt tay, nay ba tòa kiện cáo, người y sĩ đã trải nhiều phen cay đắng. Ngoài ra, tác giả còn trình bày khái quát về việc huấn luyện y sĩ, từ khi tập sự đến lúc hành nghề, họ học hành ra sao và với tinh thần nào. Đấy là về phương diện nhân bản. Về mặt chuyên môn, tác giả chủ ý kể lại cho những người không chuyên môn đà tiến triển của khoa học y khoa: manh nha từ thế kỷ XVII cơ thể học, sinh lý học, tế bào học … Cơ thể học chẳng hạn, lại bắt đầu nhờ những họa sĩ nổi danh, trong đó có Léonardo da Vinci, Michelangelo và Rembrandt. Sau đó rất nhiều ngành mới xuất hiện: cơ thể bệnh lý với Morgagni, vi trùng học với Pasteur, phân tâm học với Freud. Đến nỗi người ta phải nhận rằng ngày nay bảy năm học y khoa ở trường đại học còn là quá ngắn! Những biến đổi về quan niệm căn bản của y học là quan niệm về bệnh tật cũng được tác giả trình bày cẩn thận. Khởi đầu là quan niệm siêu hình: bệnh do âm dương bất hòa, bệnh do thần linh quở phạt. Rồi đến Hippocrates, với quan niệm triết lý vững chãi hơn, đã dùng lý trí và quan sát thiết lập nền y học thực nghiệm. Cuối cùng là bộ ba Laënnec, Bernard, Pasteur đặt nền tảng khoa học cho nghề thuốc. Bởi là một hiện tượng xã hội, nên, hơn ở đâu hết, y khoa đã theo đúng tam trạng luật của Auguste Comte. Thời Trung cổ người ta còn tin rằng con người là một linh vật không thể mắc bệnh với các loài động vật khác. Khoa ký sinh trùng học ra đời đã lật đổ quan niệm đó. Bệnh dịch hạch chẳng hạn, theo quan niệm ngày nay, là một bệnh của loài gậm nhấm, mà con người chỉ tình cờ mắc phải.

Trong những chương cuối cùng, tác giả đã đặt ra những vấn đề khó khăn cho y học, mối nguy hại của những thầy “lang băm”, vấn đề khảo cứu và phát triển khoa học, v.v …

Lịch sử y học bắt đầu cùng với lịch sử loài người và là một phần của lịch sử đời sống trên mặt địa cầu. Người ta chờ đợi ở tác phẩm một quan điểm tiến hóa, và quả thật Kenneth Walker đã chứng tỏ được sự tiến bộ của loài người. Ở giữa cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ, bước tiến ấy cũng không là bao nhiêu; nhưng nhìn chung những đau khổ của nhân loại, ta thấy y khoa đã tiến bộ hữu hiệu trong công cuộc chống lại bệnh tật. Nơi đây người ta có thể vững lòng tin tưởng ở lý trí con người, ở tiến bộ khoa học, ở một tương lai xán lạn của nhân loại chống lại hoài nghi và hư vô chủ nghĩa.

Tuy thế, ngay ở mấy dòng đầu của chương nhất, tác giả đã thốt lên những lời kinh ngạc, thấy sự sống loài người vẫn tồn tại sau bao phiêu lưu mạo hiểm, bất chấp định luật đào thải tự nhiên của Darwin. Đời sống rút cục vẫn là một mầu nhiệm. Đấy là điểm hứng khởi của tác phẩm. Con tàu tự bến Luân Đôn, xuôi dòng sông Thames, đã tới cửa bể, du khách bàng hoàng nhìn chân trời mở rộng: một cuộc phiêu lưu mới bắt đầu. Chúng tôi ước mơ rằng, qua bản dịch dù còn nhiều sơ sót và sai lầm, mỗi độc giả viết thêm được cho cuốn sách “chương 21″. HÀ HỢP NGHIÊM

Ghi chú 56 năm sau (1963-2019):

Tác phẩm Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch và đăng từng kỳ trên Nguyệt san Tình Thương từ số đầu tiên. Cũng giống như các tác phẩm Nuôi Sẹo của Triều Sơn, Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian còn đang dở dang … Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được Hà Hợp Nghiêm dịch / chỉ mới đăng đến Chương VII trong tổng số 20 chương của cuốn sách; lý do báo Tình Thương bị đình bản năm 1967. Theo anh Hà Ngọc Thuần, thì sau biến cố 1975, bản dịch Lịch Sử Y Học để trong Tổng Y Viện Cộng Hòa và sau đó đã thất lạc hay bị thiêu hủy. Trong hơn nửa thế kỷ qua, Y học của nhân loại đã tiến thêm những bước khổng lồ, và trong Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn này, chúng tôi vẫn cho đăng lại Chương I: Y Học Thời Tiền Sử, như bước khởi đầu của Lịch Sử Y Học, cũng để bạn đọc có chút ý niệm về một công trình dịch thuật tài hoa và thận trọng của hai anh Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần, khi ấy cả hai anh mới đang là sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Y khoa Sài Gòn.

Chương I.

Y Học Thời Tiền Sử

Đời sống là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, vì nó bắt ta phải thích ứng liên tục với một môi trường luôn luôn thay đổi. Nhìn những khó khăn cơ thể chúng ta phải chống trả, ta không khỏi ngạc nhiên thấy chẳng những đời sống đã trường tồn trên trái đất mà còn tiến hóa dưới nhiều hình thức khác nhau. Nào là thay đổi bất ngờ của điều kiện thiên nhiên như từ nóng sang lạnh, từ ẩm ướt qua khô ráo, từ trời quang mây tạnh tới bão táp phong ba; nào là phải luôn luôn tìm kiếm thực phẩm, nào là những cuộc tấn công của các sinh vật khác cạnh tranh với ta; và còn biết bao nhiêu khổ nhọc khác. Tóm lại, từ triệu năm qua, con người đã gặp cả ngàn lẻ một sự rắc rối bất ngờ. Ngay từ lúc xuất hiện lần đầu trong đầm nước bùn lầy, con người đã phải chịu bệnh tật, ghẻ lở. Một trong những thiên ân quý giá nhất của con người là tự chữa lấy mình được, tự làm khỏi các bệnh tật được, là có cái tài mà ta gọi là năng lực trị liệu của tạo vật (vis medicatrix naturae). Loài vật cũng có một linh tính thúc đẩy chúng đi tìm những dược liệu khả đĩ cho cái năng lực trị liệu kia:

chó ốm nhai cỏ gà, cú mèo tắm bụi để trừ rận, động vật liếm các vết thương trên mình. Y nghệ con người phát sinh từ cái linh tính sơ thủy ấy của loài vật. Thế nên lịch sử y học bắt đầu cùng một lúc với lịch sử của các bệnh tật, mà bệnh tật lại có từ khi đời sống bắt đầu nẩy nở trên mặt địa cầu. Một mẫu tối cổ của bệnh tật còn giữ được trong bảo tàng viện cơ thể bệnh lý, có lẽ là dấu vết một chứng bệnh phát ra cách đây hàng triệu năm: mẩu đuôi của con khủng long tìm thấy ở tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ. Chú khủng long này bị ung thư xưong, và nhờ mẩu xương, ta còn có thể viết lại cuộc đời đau thương của con khủng long khổng lồ kia, đau đớn vì cái đuôi mỗi ngày một thêm cứng nhắc. Con vật đáng thương chắc phải khó nhọc lắm mới di chuyển đi tìm kiếm mồi được, đến nỗi hao mòn dần mà thác. Chuyện vật đã xong, giờ đến chuyện người. Cái mẫu cổ nhất về bệnh của con người đào thấy ở Java năm 1891, là xương đùi của một “ông tổ” chúng ta, người Pithecanthropus erectus: đầu trên cái xương có một mụn bự: lại ung thư xương!

Ngoài người Pithecanthropus bị tiêu diệt cách đây hàng triệu năm và chúng ta không biết chắc người ấy xuất hiện vào lúc nào. Thế nên thời đại của chiếc xương đùi trên kia cũng không xác định được, trừ phi … nói rằng: thời ấy xa xưa lắm lắm …

Chứng tích về bệnh tật con người phần lớn đều ở các xương, vì lẽ giản dị rằng di tích của tổ tiên con người chỉ có thể là những khúc xương. Những xác ướp Ai Cập còn giữ được nhiều dấu vết đặc thù của chứng cốt tiết viêm (osteoarthritis), cặn thống phong (gout) trong các khớp xương, vết lao xương sống, và ngay cả một ruột thừa viêm đã dính kết xung quanh. Người cổ Ai Cập hay mắc nhất hai chứng nướu viêm độc và phong thấp kinh niên. Hai chứng này thường đi đôi nhau; có thể răng mục là nguyên nhân của phong thấp chăng? Lại nữa, nướu viêm độc và răng mục thường do thiếu ăn sinh ra, như thế dân Ai Cập có thể đã từng thiếu sinh tố C. Vậy vào thời nào ta nên bắt đầu lịch sử y học? Một lịch sử bắt nguồn quá xa trong dĩ vãng đến nỗi những bước đầu chìm mất trong bóng tối thời gian? Ta hãy chọn là khởi điểm một thời đại xa ta chừng 17.000 năm. Thời đại này còn để lại tiểu tượng tối cổ của một vị phù thủy kiêm lang y, vẽ trên vách hang Ba-Anh-Em ở Pyrénées: thân mặc da thú, tay chân tô đầy vằn, trên đầu buộc một cặp gạc hươu. Khởi điểm rất thú vị cho cuộc nghiên cứu lịch sử y học, vì chính từ cái ông thầy lang phù thủy kia mà có người thầy thuốc ngày nay. Coi những dụng cụ và khí giới bằng đá lửa tìm thấy trong hang, chúng ta có thể kết luận rất hữu lý rằng những người này tất có đủ thông minh để tìm ra phương thuốc trị các vết thương và bệnh tật của họ. Tuy ma thuật vẫn giữ một vai trò quan trọng, ta đừng vội lầm tưởng rằng ông thầy lang kia chỉ là một thầy phù thủy suông. Trong cuốn “Y học, Ảo thuật và Tôn giáo”, bác sĩ Rivers đã nhấn mạnh rằng, ngay thời bây giờ, các dân tộc sơ khai vẫn còn dùng những phương thuốc “mẹ truyền con nối” để trị các bệnh mà theo ý họ, chưa cần tới thầy mo của bộ lạc.

Như trường hợp thổ dân ở Tân Ghi-nê, ngoài những bùa phép cúng tế của thầy mo, người dân còn dùng nhiều bài thuốc rất giản dị như cao dán bằng trái thốt nốt, trích huyết chữa nhức đầu, dùng đĩa giác hết đau, tắm hơi khỏi phong thấp … Ông thầy mo đeo sừng trên kia chắc sẽ bổ khuyết các nghi lễ cúng vái quỷ thần của mình bằng những nước thuốc, cao dán và hương dược tạp nhạp. Điều chắc chắn là người tiền sử đã liều mổ đầu, mổ óc. Vô số sọ tiền sử bị khoan thủng được tìm thấy ở Pháp, Áo, Ba Lan, Nga, Đức và Tây Ban Nha. Phần nhiều nhà nhân chủng học cho rằng đục như thế là để đuổi ma quỷ đã gây ra chứng điên, chứng động kinh hay nhức đầu, ra khỏi đầu người bệnh. Chung quanh lỗ khoan không có một vết thương nào khác; như thế đủ rõ rằng bị khoan không phải để nâng mảnh xương vỡ lên cho khỏi chạm vào não. Một số khác lại cho rằng họ đã khoan như thế trong lễ nghi tôn giáo. Sự phân loại lỗ khoan đầu ra lỗ khoan nghi lễ và lỗ khoan trị liệu không giải nghĩa thêm được gì về sự khác biệt giữa hai lý do kể trên. Bất cứ ai nghiên cứu lịch sử y học cổ sơ cũng nhận thấy rằng ông thầy thuốc trước hết là một ông thầy tư tế. Những bổn phận tôn giáo và y học của ông ta liên hệ mật thiết với nhau, đến nỗi không còn là riêng rẽ nữa.

Những Yếu Tố Thiên Nhiên Và Siêu Nhiên Trong Y Học

Độc giả sẽ thấy trong Lịch sử Y học, sự quan trọng tương đối của hai yếu tố – tôn giáo và nghệ thuật trị liệu – thay đổi tùy theo thời đại, lúc thì yếu tố này quan trọng hơn, lúc thì yếu tố kia. Trong nước cổ Ai Cập, yếu tố siêu nhiên hết sức quan trọng, chính ông thầy tư tế kiêm luôn nhiệm vụ thầy thuốc, vốn chỉ là thứ yếu. Trong những chỉ cảo về y học, thần chú và yêu thuật cũng nhiều ngang với thuốc men. Khi uống thuốc, con bệnh buộc phải đọc lời khẩn cầu, đại khái: “Hỡi linh dược, ta hoan hỉ chào mi! Hỡi linh dược, hãy trừ những bệnh hoạn trong tim và tay chân ta!” Về sau vào thời Hippocrates, người ta mới nhận rằng thuốc quan trọng hơn, lời phù chú chỉ còn là vấn đề cá nhân, người bệnh có thể đọc hay không tùy ý.

Đến thời Trung Cổ, một lần nữa, yếu tố siêu nhiên lại được quan trọng hóa dưới hình thức những nghi lễ khu tà tróc quỷ và những thánh tích có thần năng trị liệu. Thế kỷ XVII, bình minh của nền Y học khoa học, ông thầy tư tế tưởng như sẽ bị vĩnh viễn loại trừ ra khỏi y khoa. Theo với thời gian, các y sĩ càng ngày càng có nhiều quan niệm y học “duy vật” hơn. Nhưng sau cùng, ông thầy tư tế xuất hiện trở lại, lần này vai trò của ông hoàn toàn trần tục. Sau thất bại của những toan tính cắt nghĩa đời sống vật chất bằng cơ học, giải thích bệnh tật bằng từ ngữ mô tả các máy trục trặc, người y sĩ mới chú ý tới phần tinh thần bệnh nhân và hiểu rằng không thể lãng quên phần này được. Thế là một lớp tu sĩ trần tục mới, những nhà trị liệu tinh thần xuất hiện để trị “tâm bệnh”. Các ma thuật lại được dùng trong y học dưới hình thức khoa phân tâm và khoa dẫn dụ.

Nhờ năng lực hồi phục phi thường của cơ thể và sự mềm dẻo của tinh thần, con người khi đau ốm thường phục hồi hoàn toàn sức khỏe, bất kể đến những thay đổi thăng trầm và ngay cả những cách trị liệu đã chịu.

Giờ ta bắt đầu bước vào lịch sử của nghiên cứu y học trong những thời đại đầu tiên. Các ý kiến còn chưa thống nhất về việc định thời điểm cho cái ta gọi là “văn minh”. Thôi thì chúng ta đành theo truyền kỳ mà khởi đầu từ lúc con người linh cảm thấy tai biến sắp tới, rời bỏ lục địa Atlantide trước khi lục địa này chìm sâu dưới biển. Người ta di cư sang bờ biển Phi châu và miền tây Âu châu, rồi tản cư về phương Đông, xây dựng nên ba nền văn minh lớn: Ai Cập, Su-me và tiền Aryen của Ấn Độ để rồi trở thành những trung tâm phát huy văn hóa quan trọng vào bậc nhất.

Y Học Các Xú Su-Me Và Ba-By-Lon

Càng nghiên cứu văn minh Su-me, ta càng thấy cái vĩ đại và tầm quan trọng của nó. Thành Ur, thủ đô Su-me, nằm trên bờ song Euphrates, về phía đông vịnh Ba Tư, cách vịnh chừng trăm dặm. Nhờ công cuộc tìm tòi khảo cổ, chúng ta biết rằng người Su-me đã có một trình độ cao về thủ công cũng như về nghệ thuật. Đời sống cộng đồng được tổ chức rất chu đáo. Trên nhiều tấm bảng đất sét, những dòng chữ hình nêm  (cuneiform) cho ta biết rằng ở Ur có một y sĩ đoàn có lương tâm nghề nghiệp khá cao. Người ta đào được nhiều dao nhỏ bằng đồng, phải chăng đây là dao giải phẫu của các thủ thuật gia Su-me? Người Su-me bị tiêu diệt vào năm 2000 trước Công nguyên. Hai nền văn minh đến kế tiếp: người Assyrie ở bắc và người Ba-by-lon ở nam. Chúng ta sở dĩ hiểu rõ y học Ba-by-lon hơn y học Su-me là nhờ một bộ luật được soạn thảo và khắc trên một cột đá đen, theo lệnh của ông Hoàng rất thông minh Hammourabi (1948-1905 trước Công Nguyên). Ông này thấy cần phải lập pháp quy chế nghề y sĩ, nên đã ra nhiều sắc lệnh, trong đó có cả sắc lệnh về thù lao của thầy thuốc:

“Trị bệnh, mổ nhọt, hay chữa mắt cho một nhà quý tộc, y sĩ được thù lao 10 đĩnh bạc. Nếu bệnh nhân chỉ là một nô lệ, người chủ phải trả 2 đĩnh bạc.”

Cách điều xử trên đây rất có lợi cho người thầy thuốc, nhưng ở một đoạn văn khác, hành nghề y sĩ ở Ba-by-lon không phải là không nguy hiểm như:

“Nếu y sĩ mổ nhọt bằng dao đồng và làm chết bệnh nhân hay làm bệnh nhân hư một mắt, ông ta sẽ bị chặt hai tay”. Tuy nhiên hình phạt này chỉ áp dụng khi bệnh nhân là người quý tộc; chứ nếu chỉ là một tên nô lệ thì ông thầy ít may mắn kia phải bồi thường một nô lệ khác, hay phải trả nửa tiền mua nô lệ mới nếu tên nô lệ bệnh chỉ hỏng có một mắt. Tóm lại các đạo luật cho ta biết ở Ba-by-lon đã có tổ chức y sĩ hẳn hoi, và y sĩ thời ấy đã dám làm những cuộc giải phẫu nhỏ. Điều này không lạ, vì công cuộc khảo cổ đã gặp nhiều nền văn minh cổ hơn nhiều mà chẳng hề quá sơ khai như ta tưởng. Nghệ thuật thời thạch khí rất đáng được chú ý: lạ hơn nữa là đồ gốm đời cổ thạch khí lại có phần tinh xảo hơn đồ gốm thời tân thạch khí. Nói cách khác, càng biết nhiều chi tiết về người tiền sử, ta càng thấy người tiền sử khác xa với cái hình ảnh ước lệ của một động vật thô bạo nửa người, nửa khỉ, tay cầm rìu đá, tàn sát địch thủ.

Y học đã được coi rất quan trọng ở Ba-by-lon thời cổ. Sử gia Hérodote kể rằng bất cứ người Ba-by-lon trí thức nào cũng để ý đến y học. Cho nên có tục đặt bệnh nhân nằm ngoài đường để cho người qua lại, hoặc đã có cùng chứng bệnh, hoặc có biết những ca tương tự, có thể đoán bệnh và mách giùm cách chữa chạy. Không ai được quyền im lặng đi qua không hỏi đến căn bệnh của người nằm giữa chợ. Một dân tộc tò mò về y học như thế, dĩ nhiên không khi nào hài lòng với các thầy lang tài tử chữa bệnh ở giữa chợ. Người y sĩ chuyên nghiệp đã đến lúc phải xuất hiện. Sau đó, nhiều ông tự chuyên môn, đến nỗi ở Ba-by-lon cũng như ở Ai Cập có rất nhiều thầy chuyên trị riêng từng thứ bệnh.

Y Học Ấn Độ

Những tài liệu cổ nhất viết bằng Phạn văn có liên quan đến y học là hai bộ Rig-Veda (1500 trước Công nguyên) và Yajur-Veda (700 trước Công nguyên). Theo những tài liệu này thì môn thủ thuật giải phẫu Ấn Độ đã khá tiến bộ, mặc dầu kiến thức về cơ thể học rất ít ỏi. Ngày nay những nhà giải phẫu thẩm mỹ còn nói đến phương pháp vá mũi bằng một miếng da trán của thủ thuật Ấn Độ. Phương pháp này dùng để sửa những mũi quá tẹt và những cái mũi xấu số của các bà thích “ăn nem””! Một thủ thuật gia danh tiếng tên là Suśruta đã mô tả tỉ mỉ hàng trăm dụng cụ giải phẫu được sử dụng trong thời ông. Ngoài ra, người Ấn còn biết mổ tử cung lấy con và mổ đường tiểu lấy sạn.

Bộ Rig-Veda tuy cổ hơn, nhưng chỉ viết nhiều về triết lý và khoa học. Bộ Yajur-Veda có mô tả hệ thống huyết quản, tiến trước cả Harvey, người khám phá ra sự tuần hoàn. Trong đó còn có nhiều nhận xét xác đáng, như dịch hạch sẽ phát sinh ở nơi nào có nhiều xác chuột, sốt rét cơn do muỗi sinh ra, các triệu chứng lao gồm có ho dữ dội, sốt và khái huyết. Hơn 700 dược thảo và một số lớn thuốc dán, thuốc xông, thuốc bột còn ghi trong bộ sách vĩ đại này. Y sĩ Ấn Độ thời ấy không thuộc giai cấp Bà-la-môn, tức là giai cấp tu sĩ, mà thuộc giai cấp Vaisya. Theo luật, họ là người không thanh tịnh, không được hưởng các nghi lễ tống táng. Tuy không là thành phần của kinh Veda, bộ kinh điển tôn giáo của Ấn Độ, người ta cũng cho rằng bộ Yajur-Veda đã được thần linh hay vị đại sư nào đó đọc cho hai thủ thuật gia Charaka và Suśruta.

Y Học Ai Cập.

Nền văn minh cổ rực rỡ thứ ba là văn minh Ai Cập. Các thầy tư tế giữ quyền hành nghề y sĩ, y học liên quan mật thiết tới thần học. Minh chứng nhận xét này là Ai Cập có rất nhiều thần thánh bảo trợ Y khoa. Imhotep, Thần Trị Liệu, là một trong những y sĩ đầu tiên còn lưu danh cho hậu thế, Imhotep nghĩa là “người mang lại sự bình an”, thật không còn tên nào xứng đáng hơn cho một y sĩ chân chính. Sau khi chết Imhotep được tôn sùng như một vị thánh, rồi được thần hóa luôn. Nhiều thế kỷ sau, người Hy Lạp đồng hóa Imhotep với Thần Y của họ là Esculape. Điều không may là chúng ta ngày nay biết rất ít về những hoạt động y học của Imhotep mà lại biết khá nhiều về các công trình kiến trúc của ông. Chính Imhotep đã vẽ kiểu kim tự tháp Saqqarah. Nhiều tượng đồng tạc hình ông ta ngồi, chú mục vào một tờ chỉ cảo trên đầu gối: chắc lại là một đồ án kiến trúc. Dù sao, Imhotep vẫn là một y sư cự phách đồng thời là một kiến trúc sư có thiên tài, có thế mới được dân Ai Cập tôn thờ như Thần Y học trong bao thế kỷ.

Trong buổi sơ thủy của văn minh Ai Cập, thầy tư tế và thầy thuốc chỉ là một người. Mãi đến triều đại sau, y học mới thoát khỏi phạm vi tôn giáo. Dân Ai Cập không coi bệnh tật và sự chết như những hiện tượng tự nhiên, mà tin rằng một sức mạnh thù nghịch làm họ đau ốm. Theo sử gia Maspéro, sức mạnh ấy thuộc về thế giới vô hình, chỉ biểu hiện bằng những cuộc tấn công độc hại:

có thể là một ông thần, một con quỷ, hay hồn thiêng một kẻ quá vãng, đã nhập vào người bệnh, hoặc thừa cơ vô ý, hoặc là hung dữ quá con bệnh không chống được. Khi đã làm chủ được cơ thể con người, sức mạnh ma quái ấy bẻ xương mút tủy, uống máu nhai tim, gậm ruột, nhấm thịt, làm cho con người mòn mỏi rồi chết, nếu không đuổi được nó trước khi mình bị tàn phá quá nhiều. Người trị bệnh vì thế phải làm hai việc quan trọng. Trước hết phải tìm biết bản tính và tên họ của con yêu, rồi phải tấn công nó, trục xuất nó, tiêu diệt nó. Muốn thành công, cần phải cao tay ấn, tức là phải biết niệm chú, chế bùa. Nhiên hậu mới phục dược và ăn uống kiêng khem để trị các xáo trộn của cơ thể do quỷ mị gây ra. Thế nên, xem các tài liệu y học Ai Cập, ta thấy trước tiên là các lời phù chú, các biểu tượng và phương thức thần thông để trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Rồi mới đến các thứ thuốc: thuốc nước, thuốc súc miệng, thuốc sáp, thuốc bột, thuốc xông, thuốc để hậu môn, thuốc cao, thuốc đồ ** (poultices). Các thầy tư tế y sĩ Ai Cập còn biết sử dụng a-phiến, cỏ độc cần, các loại muối đồng, cỏ hải song và dầu thầu dầu.

Nếu thủ thuật giải phẫu Ai Cập rất thô sơ, thì trái lại, vệ sinh cá nhân và công cộng đạt tới trình độ rất cao, vượt hẳn Âu châu thời Trung Cổ. Y học tiến bộ lần lần, những thầy tư tế y sĩ ngoài bùa chú và nghi lễ rườm rà, đã biết cách khám bệnh nhân để truy ra căn bệnh. Đoạn chỉ cảo dưới đây về phép án chẩn các thứ bướu cho ta thấy rõ tiến bộ đó:

“Một cục bướu trên cơ thể con người, nếu nó giống như da thuộc, nếu da trên cái bướu đó nhấp nhấp ướt, nếu khi sờ, ta thấy nó chuyển động dưới tay trong khi tay ta đang yên, thì đó là một bướu thịt. Ta dùng lửa chữa nó.

“Nếu cục bướu trong cơ thể con người, xâm lấn mạch máu và cứng như đá, là một bướu mạch. Ta dùng dao cắt nó.

“Một cục bướu có mủ ở chân hay tay, nếu khi sờ ta thấy nó di động mà lớp thịt bên dưới vẫn căng thẳng, ấy là mủ đã gom lại. Lúc ấy ta dùng dao rạch nó ra”.

Một chỉ cảo khác chép cách chữa các vết thương và trẹo xương. Đặc biệt hơn nữa là trong đó có một cách chữa sái quai hàm rất giống với cách chữa của chúng ta ngày nay. Một tác giả y học dưới thời vua Ramsès đệ nhất đã biện minh cho mình như sau như trong bài tựa tác phẩm của mình:

“Tôi xuất thân ở trường Y khoa Héliopolis, các Tôn sư ở đấy đã dạy tôi phương pháp của các Ngài. Tôi còn tốt nghiệp trường Phụ khoa Sais, các Thánh Mẫu ở đấy đã truyền thụ cho tôi kỹ thuật của các Ngài. Tôi thuộc lòng các phù chú do chính Thần Thath hướng dẫn. Thần là người phát minh ra ngôn ngữ, là tác giả nhiều bài thuốc rất công hiệu, là người độc nhất quy định danh tiếng cho những nhà phù thủy và thầy thuốc học đạo của Ngài. Mỗi lời thần chú đều rất hay cho bài thuốc, và mỗi bài thuốc đều xứng hợp với lời thần chú của nó”.

Ta thấy ở đây có sự pha trộn giữa hai yếu tố của Y học Ai Cập: phù chú và thuốc men. Có thể nói đây là những bước đầu của một nền y học vừa tinh thần vừa hình thái: phù chú trị liệu tinh thần, thuốc men trị liệu thể xác. Năm 525 trước Công nguyên, sau chiến thắng Ba Tư, một trường Y khoa được lập ở Sais, miền Hạ Ai cập, trường này được sử gia Hérodote hết sức tán dương và được nhiều người đương thời chú ý.

Y Học Trung Hoa.

Ông thầy thuốc đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa là vua Thần Nông, sống vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Tuy chỉ là một y sĩ tài tử, vua Thần Nông rất ham mê tìm kiếm các y lý mới, và thí nghiệm ngay trên chính bản thân mình. Người ta cho rằng Thần Nông đã tìm ra nhiều dược thảo và độc dược. Tác phẩm “Bản Thảo” đã được in lại nhiều lần, kể cả lần tái bản năm 1911 ở Ai Cập. Viết sách mà truyền được hơn 4000 năm quả thật là hiếm có.

Một ông vua khác cũng rất thích y học là vua Hoàng Đế (2650 trước Công Nguyên). Trong thiên Nội kinh viết về sinh lý học, ta thấy có đoạn này:

“Máu cơ thể đều do tim phân phát … Máu luôn luôn tuần hoàn trong cơ thể không lúc nào ngưng”.

Thật khó mà biết rằng Hoàng Đế đã căn cứ vào đâu để kết luận chính xác như thế, bởi lẽ vốn hiểu biết của nhân loại thời ấy ít ỏi lắm. Harvey đã phải xét nghiệm tỉ mỉ hệ thống mạch quản mới khám phá ra sự tuần hoàn huyết. Trong nước Tàu cổ, người ta hầu như không biết gì về cơ thể học; vả lại việc mổ xẻ tử thi thường bị cấm ngặt. Với quyền thế một ông vua, Hoàng Đế có thể đã tìm tòi nhiều trong lãnh vực này chăng?

Vị vương giả thứ ba ham thích và nghiên cứu y học là vua Càn Long. Ông này lập hẳn một ủy ban chuyên môn để soạn bộ “Y Học Bảo Giám”, bách khoa y học vĩ đại, gồm 40 cuốn. Ta thấy ở đấy có những nguyên tắc y học Trung Hoa, rất nhiều phương pháp trị liệu, có cả khoa đấm bóp và châm cứu, cùng hai lý thuyết lớn của cổ Trung Hoa.

Thứ nhất là thuyết Ngũ hành: thổ, hỏa, thủy, mộc, kim; cơ thể con người được coi như do năm hành đó cấu thành. Thuyết tứ dịch của Tây phương có lẽ do thuyết ngũ hành này mà ra.

Thứ hai là thuyết Lưỡng nghi: Âm và Dương. Âm Dương là hai lực đối nhau, nhưng bổ túc cho nhau mà sinh ra vạn vật, tỉ như: lực và phản lực, trống và mái, nóng và lạnh, sống và chết … Mọi vật trong vũ trụ – nhất là sức khỏe của người ta – đều coi như phụ thuộc vào thế quân bình của năm hành. Trên quan điểm triết học, ngày nay ta cũng quan niệm rằng khỏe mạnh là do sự hòa hợp giữa một số yếu tố. Bệnh tật trái lại là một đổ vỡ, một nghịch âm trong sự hòa hợp đó.

Y Học Cổ Do Thái.

Y học cổ Do Thái rất thô sơ, trừ một số nguyên tắc rất hay về vệ sinh do luật Moise bắt áp dụng. Trong Cựu Ước, vai trò người thầy thuốc rất lu mờ bởi bệnh tật được coi là một hình thức giận dữ của Thần Linh. Vì thế con bệnh phải cầu đến các thầy tư tế. Những vị này giảng rằng ai sống theo luật Moise thì thể xác sẽ thanh sạch.

“Ta không phạt con bằng những tai ương Ta đã giáng xuống dân Ai Cập, vì ta là đấng Vĩnh Cửu hằng che chở con.” (Phát trình ký, XV-26)

Độc giả để ý rằng những tai ương nói trên đều là bệnh truyền nhiễm cả. Dân Do Thái, sở dĩ hơn dân tộc khác, là nhờ biết đề phòng bệnh truyền nhiễm. Quyền hành rộng lớn trong tay, các thầy tư tế Do Thái hành động với tư cách những nhà vệ sinh học đầy đủ tài năng. Trong khi đó thì ở những thời đại sau, người Hy Lạp hình như vẫn chẳng biết mô tê gì về bệnh truyền nhiễm cả. Người Do Thái ngừa lây bệnh bằng đủ mọi cách. Kinh Lê-vít có định rõ ràng và chính xác thế nào là thực phẩm, vật dụng tinh khiết hay ô uế, thế nào là vệ sinh khi hành kinh và lúc mang thai, thế nào là tổ chức ngừa lây bệnh. Thịt lợn có thể truyền ký sinh trùng như sán dẹp và sán kim; vậy tốt nhất là đừng ăn thịt lợn. Trong mọi trường hợp về bệnh lậu, bệnh bạch đái, bệnh phong cùi, kinh sách đều nhấn mạnh đến việc phòng ngừa: nào là cho người bệnh ở phòng riêng, nào là tẩy uế đồ dùng của người bệnh … Phương pháp tẩy uế được triệt để thi hành, chẳng hạn như san bằng nhà con bệnh ở, hay ít ra là quét vôi lại hoàn toàn. Những phương pháp phòng bệnh ghi chép trong Thánh kinh được coi là hữu hiệu đến nỗi người Âu phải bắt chước khi bệnh này lan tới Âu châu. Phần đóng góp của dân tộc Do Thái vào nền y học như thế chỉ là có trong lãnh vực vệ sinh và y học dự phòng.

Sưu tập những khẩu truyền dẫn giải luật Moise tôn giáo và dân sự, kinh Talmud còn ghi lại nhiều kiến thức y học chính xác hơn là những truyện bán truyền kỳ của Cựu Ước. Điều khoản thù lao cho y sĩ mãi sau mới được thêm vào, khi vai trò người thầy thuốc đã khá quan trọng:

“Ngươi phải trả công thầy thuốc cho xứng đáng, vì Đấng Tối Cao đã tạo ra người ấy, vì mọi phương dược thần hiệu đều do Thượng Đế ban phát và Nhà Vua tưởng lệ. Tài năng sẽ nâng cao địa vị người thầy thuốc và ông ta sẽ được các bậc quyền quý ngợi khen.” (Truyền đạo thư, 38, 1-5).

Lời nói trên, theo các nhà chú giải có uy tín, phát biểu một ý kiến mới được bổ khuyết về người y sĩ. Ngoài ra, không có bằng chứng nào tỏ rằng người thầy thuốc Do Thái đạt được địa vị cao trước thời Trung cổ, và ngay cả trong thời ấy nữa, bởi vì luật cấm cầu cứu đến họ, là những người tà giáo. Tuy nhiên thời đó ai cũng hiểu rằng chỉ có họ mới đủ tài khám bệnh. Trong những năm dài u tối vì dốt nát và lười biếng tinh thần, chỉ còn người thầy thuốc Do Thái và Hy Lạp giữ được nghề của Hippocrates. Người ta tránh sự cấm đoán bằng cách đi nước đôi: giữa công chúng, người y sĩ Do Thái bị gièm chê nhục mạ, trong bóng tối ông ta lại được thỉnh đi coi bệnh. Người thầy thuốc Do Thái, chung số phận với toàn thể quốc gia Do Thái, thấy mình vừa bị gièm chê vừa được trọng dụng, vừa bị ghét bỏ, vừa được quý mến, vừa bị xỉ vả vừa được ngợi khen.

Và cứ như thế cho đến khi Đại chiến Thế giới thứ hai bùng nổ.

Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM

[Chương 1, Tình Thương Số 1 & 2]

1/ các bà thích “ăn nem” là cách dịch thoát và ví von của Hà Hợp Nghiêm, từ câu “ông ăn chả bà ăn nem” chỉ đôi vợ chồng không chịu thua kém nhau trong quan hệ bất chính. Nem và chả là cách gọi khác nhau của hai miền Nam Bắc.

Người đàn bà ngoại tình bị trừng phạt cắt mũi.

2/ thuốc đồ / poultices như một loại thuốc đắp trên vùng đau hay viêm.

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau

30-4-1975

Bài 12

– Tớ phải nói thật với cậu là tớ mất công đi tìm Phục Quốc hai ba tuần liền rồi mà chẳng thấy Phục Quốc đâu. Tớ đâm nghi. Người ta bảo tớ rằng có nhiều Phục Quốc giả do sở Công An tung ra làm mồi để câu những anh nào thích chống đối.

– Vậy cậu tính sao?

– Tớ muốn thành lập một tổ chức riêng. Như thế, mình vừa giữ được bí mật vừa thực hiện nguyên vẹn đường lối của mình.

– Đường lối của cậu thế nào?

– Giản dị lắm, tớ chống cộng sản đến cùng.

– Tớ tin cậu nhưng những thằng khác nghi ngờ cậu. Mẹ cậu nằm vùng cỡ lớn, đảng viên, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Sông Bé, cậu đi chống cộng sản, ai dám tin.

– Cậu tin tớ là đủ. Cậu đừng nói gì về tớ.

– Bây giờ người ta nghi ngờ hết. Anh nào cũng chống cộng, đến 30-4 mới lộ mặt nằm vùng.

– Tớ con em cách mạng mà chống cộng mới hay.

– Hay mà khó tin.

– Khó tin mà có thật. Không chống cộng, tớ chẳng biết làm gì. Trường mình đã tan nát. Ông hiệu trưởng Nguyễn Sĩ Tế bị bắt, ông giám thị Đặng Lê Kim bị bắt luôn, con gái ông Kim phản động nặng, bị nhốt cả rồi. Chẳng lẽ tớ về Sông Bé làm công an hay đi thanh niên xung phong? Cậu muốn tớ trở thành công an không?

– Không, dĩ nhiên. Cậu chống cộng sản là chống má cậu, chấp nhận à?

– Chống ông nội tớ, tớ vẫn chống, nếu ông ấy cộng sản.

– Tại sao cậu ghét cộng sản vậy?

– Đời sống đổi thay cái rụp làm tớ choáng váng. Họ hàng tớ, bạn bè tớ ở Sông Bé khinh bỉ gia đình tớ ra mặt. Người ta mỉa tớ là con em cách mạng, là đảng viên tương lai, tớ rất xấu hổ. Tớ chống cộng sản, trước hết, để chứng minh tớ là quốc gia thuần túy. Sau hết, cộng sản làm đồng bào mình khổ quá. Tớ thù hận cộng sản vì nó gian ác mà nó cứ nói nó nhân đạo. Má tớ vênh vang lắm, tớ chỉ còn nhìn ra má tớ là một con mẹ đảng viên đắc thời. Tớ đã nói hết lòng tớ. Chơi với nhau, học với nhau mấy năm rồi, cậu phải hiểu tớ. Tớ không về Sông Bé, không trọ nhà chú tớ bên Thị Nghè nữa, tớ lang thang.

– Thì về đây mà sống tạm nương náu cửa Phật!

– Nay mai, cậu sẽ bị đuổi khỏi chùa. Nó sắp quốc doanh chùa. Nó cấm tu hành. Muốn tu thành thượng tọa, cậu phải chống cộng sản.

– Tớ không dám giết người.

– Chống nó bằng tư tưởng. Phật giáo là kẻ thù tư tưởng của cộng sản. Nó bắt vô số thầy chùa, cậu chưa hay à? Nó cho nổ tượng Phật ở biển hồ Pleiku rồi. Tha hồ mà tự thiêu, nó đứng nhìn thầy chùa tự thiêu, cười khanh khách.

– Cậu muốn tớ làm gì?

– Chống cộng sản.

– Cậu dám chống cộng sản mà tớ không dám sao? Chống thì chống, tu hay tù đồng nghĩa. Sống hay chết cũng đồng nghĩa.

Chú tiểu chùa An Lạc cảm khái nói một câu đầy khẩu khí của tráng sĩ chùa Tiêu Sơn. Hai thời đại khác nhau, hai hoàn cảnh càng khác nhau xa. Tiêu Sơn tráng sĩ chống nhà Tây Sơn để phục hồi quyền bính cho Lê Chiêu Thống, biểu tượng của một dĩ vãng ươn hèn, mục rã, tôi đòi. An Lạc tráng sĩ chống cộng sản, ít ra, vì những điều mà người bạn của tráng sĩ, cậu Hoàng Sơn Trường, đã tâm sự với tráng sĩ. An Lạc tráng sĩ, tên khai sinh là Nguyễn Kiến Thiết, pháp danh Thích Thanh Bần, cùng học trường Trường Sơn, cùng chung lớp 12 với Hoàng Sơn Trường.

– Cám ơn cậu đã đứng với tớ.

Hoàng Sơn Trường nói. Chú tiểu Thanh Bần mỉm cười, khuôn mặt chú, tự nhiên, đỏ au. Lòng chú đã dấy lên nỗi khát khao mới.

– Đừng cám ơn. Bây giờ, tớ làm gì?

– Kết nạp người trong gia đình phật tử. Càng đông càng tốt. Người trước việc sau. Mục đích cậu đã rõ, đường lối sẽ phổ biến từ từ. Trụ sở là chùa An Lạc.

– Được rồi.

– Châm ngôn của tớ lấy từ câu nói của Nguyễn Thái Học: “Không thành công tất thành nhân”. Tớ thù ghét cộng sản, tớ thù ghét cả cuộc sống ươn hèn. Tớ không có tham vọng gì cả.

– Tớ tham vọng gì?

– Chúng ta không có tham vọng. Tớ chống cộng để có đời sống bình yên với những kỷ niệm đẹp.

– Còn tớ, để tự do tu hành.

– Chúng ta hoàn toàn đồng ý nhé!

– Ừ.

Thật nhanh và thật đẹp, hai người tuổi trẻ đã kết hợp. Và một tổ chức chống cộng sản thành hình. Không một ly nước trà, không một điếu thuốc lá. Họ thảo luận với nhau ở dưới gốc cây đại sân chùa. Thường thường, để ngồi gần nhau, ở Việt Nam, mưu đồ đại sự đã thiên nan vạn nan. Ngồi gần nhau để tính chuyện kết hợp càng thiên nan vạn nan. Và nếu kết hợp để chiến đấu chống cộng sản thì đã luôn luôn là không tưởng. Dù ăn mặc trịnh trọng. Dù phòng họp điều hòa không khí. Dù rượu champagne mở bốp bốp. Dù thuốc lá thơm ngộp khói. Trong khung cảnh bình yên, cộng sản còn mút mít rừng già. Những phiên họp của không tưởng vẫn sẽ diễn tiến, ở nơi nào đó, ngoài Việt Nam. Và chẳng bao giờ diễn tiến tại Sài Gòn. Bởi vì Sài Gòn không còn cơ hội cho champagne nổ phù phiếm. Bài học kết hợp chiến đấu của học sinh Hoàng Sơn Trường và chú tiểu Thích Thanh Bần dạy những kẻ đầu cơ đại sự một điều khôn ngoan : Khi người ta chiến đấu cho mọi người, không vì tham vọng cá nhân, thì người ta dễ gần gũi, cảm thông, chia sẻ và đoàn kết.

Chùa An Lac ở quận 2, nằm sau đường Phạm Ngũ Lão. Qua mấy chế độ, An Lạc, tên ngôi chùa, đã đủ nói lên sự trầm tĩnh của kinh kệ, của chuông mõ, của nến nhang. Nó không sôi nổi quá đà như Xá Lợi, ồn ào quá khích như Ấn Quang, phô trương qua lố như Việt Nam Quốc Tự. Nó bình thường, không cần gào thét, không cần tuyên bố, không cần thuyết pháp công kích chuyện đời, không đòi hòa bình, không chống chiến tranh. Nhưng An Lạc đã đi vào lịch sử tranh đấu của dân tộc bằng tâm hồn đơn giản và sự thành tâm của chú tiểu Thích Thanh Bần. Tiếng chuông chùa An Lạc, với chú tiểu Thanh Bần, không còn là tiếng chuông mời gọi người về trầm tư mặc tưởng nữa. Mà là tiếng chuông dục ươn hèn thức tỉnh, thúc can đảm phóng lên vì nỗi thống khổ của đồng bào, của chúng sinh lầm than dưới gót phỉ quyền. Tiếng chuông chùa An Lạc gợi tưởng tiếng chuông chùa thời Lý của những thầy tăng mở nước vinh quang.

Chú tiểu Thanh Bần bắt tay vào việc. Thanh niên phật tử say sưa nghe chú thuyết nạn cộng sản. Chú là biểu tượng sáng chói của người tu hành sống đạo giữa đời và biết sống đạo giữa đời. “Tu hay tù đồng nghĩa. Sống hay chết cũng đồng nghĩa”. Câu nói thú vị của chú với Hoàng Sơn Trường làm nhớ nhà sư trẻ Hư Trúc dưới chân núi Thiếu Thất khi nhập cuộc chơi với Đoàn Dự, Kiều Phong. Chú hấp dẫn thanh niên. Chú lôi cuốn thanh niên vào mục đích cao cả. Đâu cần gồng mình chứng minh mình là lãnh tụ mà chú tiểu Thanh Bần đã là lãnh tụ cần thiết của thanh niên phật tử chùa An Lạc.

Một đêm, ở chùa An Lạc, Hoàng Sơn Trường nằm gác chân lên chân Thích Thanh Bần chuyện trò thầm thì.

– Tớ thấy mình phải võ trang bằng tư tưởng.

– Tư tưởng của mình là chống cộng sản.

– Không, chống cộng là mục đích, là lý tưởng thôi. Cha anh chúng ta đã chống cộng ba mươi năm, rốt cuộc thua cộng sản, cậu biết tại sao chưa?

– Chưa.

– À, tại vì họ thiếu tư tưởng hoặc tư tưởng của họ lạc hậu cả rồi. cộng sản nó thắng minh nhờ nó có tư tưởng mác xít, nó có học thuyết hẳn hoi.

– Nó có chủ nghĩa.

– Đúng. Cậu ở chùa được thày dạy thêm, được đọc nhiều sách, vậy tớ hỏi cậu vài câu. Nếu tớ sai thì mộng ước của tớ tiêu tan. Nếu tớ đúng thì tớ ôm ấp hoài bão.

– Hỏi đi.

– Đức Phật xưa có đọc sách nào không?

– Không.

– Khổng Tử, Lão Tử có đọc sách nào không?

– Không.

– Chúa Giêsu có đọc sách nào không?

– Không.

– Vậy mà họ đều lập thuyết, đều bất hủ.

– Ừ, tại vì thời đại tạo ra họ.

– Thế thì tớ có quyền lập thuyết, cậu ạ! Cậu thấy không, dân tộc mình khốn khổ, khốn nạn từ nửa thế kỷ nay vì những học thuyết ngoại lai. Tư bản đã đến. Vô sản đã đến. Cả hai học thuyết này đều bất lực trong sự tìm kiếm hạnh phúc cho dân tộc ta nói riêng, cho loài người nói chung. Cậu có thấy thằng tư bản nào học hành đến nơi đến chốn không? Cậu có thấy thằng vô sản nào đích thị là khố rách áo ôm không? Tinh hoa của tư bản và vô sản toàn là tiểu tư sản cả. Tiểu tư sản thông minh, tài hoa, lãng mạn mà cam đành làm tay sai cho tư bản và vô sản và bị chúng nó khinh bỉ, thù ghét.

– Cậu muốn lập thuyết tiểu tư sản.

– Chứ sao.

– Cậu muốn bắt chước Marx, Engels kêu gào: Tiểu tư sản các nước trên thế giới hãy vùng lên!

– Thuyết của tớ chưa chắc đã hay ho gì nhưng không có học thuyết là không có tư tưởng. Mà đánh cộng sản để thắng nó phải võ trang tư tưởng. Tuổi của tớ và kiến thức chưa cho phép tớ lập thuyết vĩ đại. Tớ kể sơ sơ cậu nghe: Dân mình rất chán vào hợp tác xã, vào công ty quốc doanh. Bản chất của dân mình – tớ chỉ nói dân mình thôi – là khoái tư hữu. Nông dân thèm quyền tư hữu nhất. Ai cũng thích có cái ao cá riêng của mình, thửa ruộng riêng của mình. Vân vân… Công nhân phải bám nhà máy ở thành phố nên đành làm chủ tập thể nhà máy! Bởi vậy, cộng sản nó không ưa nông dân. Đến lượt cán bộ trung cấp của cộng sản khoái tư hữu. Đứa nào cũng muốn cái radio riêng, cái xe Honda riêng, cái nhà riêng… Vậy thì cộng sản sao nổi! Vậy thì muôn năm tiểu tư sản. Thằng nghèo mạt biết thân phận nó không thể giàu bự nổi nên nó thù hận tư bản, bây giờ mình nói thật với nó rằng giàu bự không nổi nhưng giàu vừa vừa thì dư sức, thằng nghèo nó sẽ thù cả thằng vô sản là đứa cứ bắt nó nghèo mạt suốt đời. Đấy, sơ sơ thuyết của tớ. Mình võ trang tư tưởng tiểu tư sản, chắc chắn, sẽ có hậu thuẫn rộng lớn và sẽ tiêu diệt gọn cộng sản.

– Cậu mơ mộng quá.

– Sống là ước mơ.

– Vậy lập thuyết đi.

– Từ từ sẽ lập. Tớ và cậu sẽ là Marx-Engels và chùa An Lạc sẽ là nơi học thuyết tiểu tư sản ra đời. Chúng ta sẽ tuyên ngôn. Người Việt Nam đánh cộng sản bằng học thuyết của người Việt Nam, tạo hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam bằng học thuyết của người Việt Nam. Không, nhất định không có hạnh phúc vĩnh cửu cho dân tộc bằng tam dân chủ nghĩa của Tàu, tư bản chủ nghĩa của Mỹ, cộng sản chủ nghĩa của Đức, của Nga… Sớm mai, cậu nhớ rung giùm tớ hồi chuông cáo phó các thứ chủ nghĩa ngoại lai trên quê hương mình.

– Và thêm hồi chuông báo sinh chủ nghĩa mới, văn minh mới cứu rỗi dân tộc, cứu rỗi nhân loại ra đời.

– Ra đời ở chùa An Lạc.

– Đồng ý.

– Ra đời đúng quá độ tan rã của tư bản và cộng sản.

– Đồng ý.

– Ra đời từ đêm nay.

– Cậu làm tớ mê mẩn, Trường ơi! Này, nhà lập thuyết, tớ không biết hút thuốc lá nhưng bỗng tớ thèm hút. Cho tớ một điếu. Ở chùa suốt đời, dẫu đắc đạo, cũng chỉ tìm ra một thứ hạnh phúc cho riêng mình mà chữ nghĩa gọi là giải thoát. Giải thoát bằng tư tưởng Đức Phật. Chưa chắc kinh kệ đã đúng ý Đức Phật. Nếu đúng, vẫn là của Đức Phật, không phải của chính mình. Tôn giáo và nghi lễ giúp vui của nó đã trở nên vô tích sự trong đòi hỏi tích cực của giải thoát dân tộc. Tớ sẽ bỏ chùa. Nhân loại bên ngoài đi xa rồi mà ở bên trong, nhà chùa và nhà thờ, vẫn lải nhải giáo điều vu vạ là của Phật, của Chúa từ ngót 3000 năm, từ ngót 2000 năm. Tớ sẽ rung thêm hồi chuông báo tử cuộc đời tu hành viển vông của tớ.

Nhà sư trẻ vùng dậy. Nhà lập thuyết trẻ cũng vùng dậy. Trong bóng tối của trai phòng như trong bóng tối mông lung của thế giới hôm nay, một que diêm bật lửa. Đốm lửa nhỏ, đốm lửa tỏa ra đủ một vùng ánh sáng soi rõ hai khuôn mặt vừa lạ lùng vừa ngô nghê của thời đại. Hai khuôn mặt rất người, rất hiện thực. Hai tâm hồn ăm ắp ước mơ, sũng ướt mộng mị. Nhân loại đang hoài vọng thứ ánh sáng dẫn dắt con người về chốn bình yên tâm tưởng. Phải chăng, thứ ánh sáng ấy đã áng lên trong đêm mù mịt việt nam sau hòa bình của chiến tranh ý thức hệ ở chùa An Lạc? Đốm lửa châm hai ngọn đèn kỳ diệu. Đó là hai ngọn đèn nhận đường giữa mù khơi tư tưởng, trên giòng chìm đắm chủ nghĩa ngoại lai. Đó là hai trái tim nằm ở đầu hai điếu thuốc lá.

– Thầy chùa có thể trở thành nghệ sĩ không nhỉ?

– Tại sao không?

– Vậy tớ muốn trở thành người hát dạo. Tớ sẽ soạn ca khúc ca ngợi tình yêu và hạnh phúc của loài người đi hát rong đây đó, như thế hữu ích hơn là ngồi chùa gõ mõ tụng kinh và thuyết giảng con người loại bỏ tham vọng.

– Làm sao con người loại bỏ được tham vọng? Không tham vọng, con người sẽ là cái gì? Tham vọng là cứu cánh của đời sống. Đời sống thiếu tham vọng sẽ vinh quang hiu quạnh như Niết Bàn, nơi có mỗi một mình Thích Ca và Thiên Đàng của Giêsu cô độc. Nhưng, trước khi lên cõi riêng của mình, khi còn bấu víu đời sống, Thích Ca và Giêsu có tham vọng không? Có chứ, họ đã lập thuyết. Thế là họ đã tham vọng. Vấn đề đặt ra là tham vọng tốt hay tham vọng xấu. Còn diệt hết tham vọng thì hết chất người, hết nhân bản. Cậu sẽ chỉ ngộ nếu cậu làm người nghệ sĩ đi tạo niềm vui cho con người. Cứu khổ là tạo niềm vui. Cứu khổ không bao giờ là dọa nạt con người bằng bạo lực hay an ủi con người bằng câu kinh cũ rích. Tiếng chuông chùa và tiếng phong cầm nhà thờ buồn bã quá. Nó đã chẳng còn đủ khả năng giúp dân tộc mình vươn lên phá nát những màng lưới sắt chủ nghĩa khốn nạn chụp bủa, đè chĩu thân phận dân tộc mình. Tôn giáo là để gọi hạnh phúc về với hạnh phúc khi hạnh phúc đi vào bất hạnh. Tôn giáo không tạo nổi hạnh phúc, ít nhất, nó cũng đúng trong thời đại của chúng ta, hôm nay.

Im lặng. Hoàn toàn im lặng. Cậu học trò 18 tuổi tên là Hoàng Sơn Trường, lớn lên đầy tuổi chiến tranh việt nam; có mẹ là cộng sản; có bạn là thầy chùa; có nước việt nam chia lìa, tan nát, thù hận, tù đày, có dân tộc việt nam bất hạnh triền miên; có quê hương việt nam nghèo nàn, buồn bã. Cậu, thoạt đầu, bất bình nỗi cộng sản làm đau khổ đồng bào cậu, muốn chống đối cộng sản. Sau đó, cậu ưu tư về những kinh nghiệm chống cộng sản của cha anh. Và cậu thao thức tìm cách võ trang tư tưởng. Tình cờ, cậu ghé vô trường Văn Khoa, tham dự buổi học tập của trí thức Sài gòn. Cậu nghe người cán bộ hà nội mạt sát tiểu tư sản thậm tệ. Ra về, cậu suy nghĩ… Và cậu phác họa thuyết tiểu tư sản của cậu với chú tiểu Thích Thanh Bần. Người ta sẽ bỉ thử cậu, nếu nghe ai nói rằng cậu đòi lập thuyết. Bọn tư bản, thế kỷ trước, đã bỉ thử Karl Marx. Thế kỷ sau thì họ vỡ mày, vỡ mặt. Khi còn vô danh, việc làm phi thường của một người, thường chỉ bị miệt thị, ngó lơ. Chúa Giêsu, 1975 năm qua, chả từng bị bọn ngu xuẩn đóng đinh trên thánh giá bên cạnh những tội đồ trôm cướp đó sao! Và gần gũi nhất, hồ chí minh bồi tàu thủy đấy. Khi thành “cha già dân tộc” thì ngay ở Sài gòn chống cộng phừng phừng sau 1954, ai dám động tới hồ chí minh, kẻ đó sẽ bị chưởi rủa là đồ hỗn láo!

Vĩ nhân tương lai, dường như, không để ý chuyện thế nhân thời thượng coi rẻ mình. Chú tiểu Thích Thanh Bần ra kéo một hồi chuông khuya, hồi chuông chưa hề nghe từ có chùa An Lạc. Hồi chuông vang trong đêm vắng báo tử cái gì và khai sinh cái gì đây? Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường gởi hồn mình theo âm thanh một ước mơ thật mới: Mọi người dân Việt Nam đều sẽ trở thành một tiểu tư sản trong xã hội tự do, dân chủ, công bình thật sự.

Giá của Tự Do

Hồ Phú Bông
Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Chương 12

Giá Của Tự Do

Nghi phân vân quá. Phải chọn lựa một con đường. Nên tiếp tục nín thở qua sông như tình trạng nầy hay lại phải sắp xếp một chuyến vượt thoát. Sự chia tay Chẩn trong đau đớn là một dấu ấn trong đời. Là một thúc đẩy phải tìm sự sống. Phải có quyết định dứt khoát trong những ngày tới, không thể lần lữa. Có nên gợi ý với Tố Nga hay không? Là một câu hỏi quan trọng. Phải tìm câu trả lời.

Buổi tối Nghi gặp Nghiêm ở ngoài sân như tình cờ, nhưng cả hai đã hẹn trước để tránh tình trạng theo dõi của ăng tên. Nghi, Nghiêm và Chẩn đã có ý định trốn trại từ lâu nhưng mọi việc chuẩn bị chưa kịp thì bị chuyển trại liên tục. Do đó khi về trại nầy Nghi và Nghiêm ít nói chuyện với nhau để đánh lạc hướng ăng tên. Cuộc tình của Nghi và Tố Nga, toán cưa xẻ đều biết nhưng chi tiết thì chỉ có Nghiêm.

Nghi lên tiếng trước:

– Mày tính sao? Ở thì cũng chết và đi thì cũng chết. Tỉ lệ đi thoát thì gần như không có.

– Phần mày có tin được Tố Nga không?

– Tao tin, nhưng sợ cái vụng dại của đàn bà làm hỏng chuyện mà thôi.

– Mày yêu thật?

– Thân tàn ma dại như thế nầy mà nó yêu tao tha thiết, nên tao nghĩ là thật.

– Cuộc tình rồi sẽ đi về đâu?

– Chắc khó có câu trả lời.

– Nếu sắp xếp chu đáo thì phải có Tố Nga nhập cuộc, tao nghĩ vậy.

– Bây giờ còn chút sức khỏe nên có người bên ngoài hổ trợ thì hy vọng sẽ có tỉ lệ thành công cao hơn. Tao cũng nghĩ vậy.

– Mày thử gợi ý với Tố Nga, còn tao sẽ gợi ý với Lân, nó thế Chẩn.

– Phải thực hiện càng sớm càng tốt kẻo lại chuyển trại thì mọi việc phải trở lại từ đầu.

Nghiêm không ngủ được. Bao nhiêu câu hỏi cứ tràn về. Nghĩ đến chuyện trốn trại thì cùng lúc phải nghĩ đến cả trăm vấn đề có thể xảy ra. Nếu vượt thoát thì sẽ phải qua hướng Trung Quốc vì thời điểm nầy về chính trị rất thuận lợi. Hoàng Văn Hoan, Chủ tịch Quốc hội Cộng sản Việt Nam đã đào thoát sang Trung Quốc như vậy thì không lo đến việc bị giao trả trở về. Không khí chính trị đang căng thẳng giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam ngày một rõ ràng hơn. Mới hai năm trước, khi còn ở trong miền Nam, những bài báo trên tờ Nhân Dân và Sài Gòn Giải phóng thường được đọc tại lán, trong giờ nghe đọc báo trước khi đi ngủ, bao giờ cũng ra rả tình hữu nghị Việt Trung môi hở răng lạnh [1] Một điều đồng chí Mao Trạch Đông kính mến, hai điều đồng chí Châu Ân Lai, rồi sau đó là đồng chí Hoa Quốc Phong… nhưng với lịch sử thì chỉ như một cái chớp mắt, bây giờ lại là bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh, bọn Sô vanh nước lớn…

Tình nghĩa thầy trò từ môi hở răng lạnh đến sớm đầu tối đánh giữa hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam đã nói lên tính cách bất lương của chế độ vì chỉ có bọn bất lương mới thay đổi thái độ và ngôn ngữ xoành xoạch như sự sấp ngửa của một bàn tay.

Nếu đến được Trung Quốc trong giai đoạn nầy thì rất nhiều hy vọng sẽ có cơ hội được sang các nước tự do. Đấy là giấc mơ! Nhưng từ đây đến biên giới Trung Quốc bao xa, không biết địa hình, trong tay lại không có chút thực phẩm, thuốc men và núi rừng trùng điệp không thể định hướng, liệu có thoát được hay không? Chỉ mấy tháng trước đây khi vừa ra đất Bắc ở trại 5 thuộc nông trường trà Trần Phú đã có hai cuộc trốn trại bất thành.

Cuộc trốn trại thứ nhất do hai anh Lê Duyên Ngẩu và Hoàng Thao, thực hiện ba tuần sau khi đến Hoàng Liên Sơn. Ngày hôm trước, anh Thao được biểu dương về lao động tốt trước trại, tối hôm sau hai anh trốn. Hơn hai mươi ngày biền biệt tưởng đã thành công, nhưng hai anh Thao, Ngẩu bị lạc hướng trong núi sâu và cạn cả thực phẩm đành men ra rẫy ăn cắp sắn. Anh Thao, người Nùng, bị giết chết tại đó. Anh Ngẩu bị đánh tả tơi, bầm dập rồi bị dân quân giao nộp về lại trung đoàn. Khi toán rau xanh cử người đi khiêng về, anh Ngẩu chỉ còn như một xác chết. Thương tích đầy người. Râu tóc dài. Cơ thể mỏng như phiến lá dính vào chiếc cáng không thể nhận ra. Anh bị biệt giam, cùm riêng nơi phòng kỷ luật. Hôm sau khi cán bộ từ trung đoàn xuống làm việc, anh được mở xích cả tay chân, nhưng không thể đi được. Anh đã phải bò từ nhà kỷ luật đến nhà làm việc, cách xa gần ba trăm mét, trên con đường đất sỏi lởm chởm ven theo triền của hai sườn đồi khác nhau, với các bậc tam cấp lúc xuống, lúc lên, cao như đụng vào mũi. Đây là một hoạt cảnh không thể nào quên cho thân phận người tù của chế độ Cộng sản Việt Nam: một ông vệ binh tay cầm súng AK, đi sau một con vật người bò lệch bệch trên đất sỏi, bằng hai đầu gối và hai cánh tay. Cứ bò được năm ba bước lại gục đầu trên đất nghỉ mệt. Không phải chỉ có Nghiêm, mà bao nhiêu tù đang lao động trồng sắn và phá rừng trên các đồi quanh đó đều thấy rõ. Rất rõ. Có thể đây là mục đích của bộ chỉ huy trại! Họ muốn báo trước cho những tù có ý trốn trại nhìn cái gương của hai anh Thao, Ngẩu[2].

Tự do vô giá, nên cái giá của tự do phải trả bằng máu hoặc chính mạng sống, tù vẫn tìm cách ra đi.

Hai tuần lễ sau, đêm 19-8-1976, bác sĩ Nguyễn Hữu Thường và Đệ lại trốn. Gần hai tuần lễ sau đó, Đệ bị bắt và được giao trả về trại bình yên. Đây là một nghi vấn thật lớn. Sau thời gian bị giam cùm cách ly với mọi tù khác, Đệ được cho trở về lại lán. Đệ đã giữ yên lặng hoàn toàn chuyện trốn trại một cách khó hiểu. Mọi người trở nên e dè với Đệ. Mãi về sau, gạn hỏi, Đệ cho biết bác sĩ Thường đã được cộng sản Lào bắt đi. Thời gian sau đó, Đệ lại bảo bác sĩ Thường bị té núi gãy chân, nhưng không cho biết thêm chi tiết nào khác.

Bác sĩ Thường đã một lần tìm cách trốn trại ở trong Nam nhưng bất thành khi đang giả dạng làm đàn bà tại nơi hố đái của đàn ông lúc thân nhân đến thăm nuôi và bị bại lộ.

Bác sĩ Thường có quyết tâm trốn trại dù đã ra ngoài Bắc nhưng điều kiện thể chất không khỏe mạnh, lại không có kinh nghiệm về mưu sinh thoát hiểm, nên dù đã âm thầm hợp tác với một số tù khác nhưng bất thành. Cuối cùng bác sĩ Thường trốn với Đệ.

Khi đến trại 5, lần đầu tiên kiểm nghiệm, tù bất ngờ, nên bị trại tịch thu rất nhiều thuốc men và giao cho bác sĩ Thường giữ một số tượng trưng để làm nhiệm vụ y tế cho tù. Lợi dụng dịp cán bộ dẫn đi lên các triền núi cao, tiếp xúc và chữa bệnh cho các viên chức người Mèo, bác sĩ Thường làm quen và tìm hiểu địa hình, rồi sau đó cùng Đệ trốn trại. Một cuộc trốn như vậy coi như đã có chuẩn bị khá tốt, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Bác sĩ Thường đã chết, nhưng cái chết không rõ ràng. Có thể bị bắn, có thể bị phản bội hoặc tự sát bằng thuốc độc cyanide mà bác sĩ Thường luôn luôn cất giữ trong người. Cyanide là một loại thuốc để tự vẫn của các chiến sĩ biệt kích nhảy toán, vì bác sĩ Thường đã chuẩn bị việc tự sát chứ không để bị bắt trở lại.[3]

Phan, người thứ năm, tìm cách nghiên cứu địa hình để trốn trại. Trong khi đi lao động, anh men theo con suối, đi ngược dòng nước, tìm lên các đỉnh cao để xác định phương hướng. Khi chiều xuống, anh đóng vai đi lạc nên ra ngoài đường lớn đón xe nhờ chở về trại. Một chiếc xe quân đội chở anh rồi giao cho dân quân xã canh giữ, rồi thông báo về trại. Ông trung úy Đinh trưởng ban hậu cần được lệnh đi bắt Phan về.

Trời tối, Phan được thảnh thơi ngồi ngoài sân của một gia đình người Tày. Mấy người bên trong nhà đang lo bữa ăn tối trong ánh đèn dầu tờ mờ. Một cô bé và một chú bé, có lẽ con chủ nhà, tò mò đứng nhìn Phan rồi đem nước cho Phan uống. Những ánh sao trời dần dần hiện rõ. Trong triệu triệu vì sao ngôi sao nào là của Phan? Một ngôi sao đang lạc loài trong bóng đêm của cuộc đời và đang ngồi đợi bị dẫn dắt về lại trại giam!

Ông trung úy Đinh đến. Ông không nói gì, chỉ nhìn Phan rồi đi vào bên trong nhà. Họ chào hỏi và nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ Tày. Phan nghe xi xô to nhỏ, nhưng không hiểu gì. Hình như họ đang dùng chung bữa ăn tối muộn màng. Ăn vừa xong thì đám con nít cỡ 12,13,14 tuổi trong xóm kéo đến mỗi lúc một đông. Chúng nhìn Phan khá chăm chú nhưng Phan không nhìn lại. Cơn đói triền miên lại đến, thêm cái lạnh của đêm chớm về nên Phan cố thu người cho nhỏ lại giữ ấm. Đám con nít lòng vòng quanh Phan rồi tản ra. Chúng không biểu lộ gì thù hận, chỉ hiếu kỳ.

Trời tối đã lâu. Phan có chút ngạc nhiên sao chưa thấy ông cán bộ dẫn về trại. Bên trong nhà lại nghe tiếng Tày xi xô với đám nhỏ. Bỗng một giọng Việt hơi lớn hơn, vọng ra:

– Còn chần chờ gì nữa!

Nghe vậy, đám con nít vây lấy Phan và bắt đầu tấn công. Những đòn đánh không thù hận, không nguy hiểm. Chúng chỉ đánh cho có lệ. Phan ngồi yên chịu trận, hai tay ôm lấy đầu và cố bảo vệ khuôn mặt. Phan bình tĩnh và đủ sáng suốt để nghe ngóng tình hình chung quanh. Bỗng một tiếng dội của một thanh củi hoặc một thanh gỗ nào đó, được ném ra từ bên trong nhà cho đám trẻ. Một cú đánh chớp nhoáng, phang ngay vào mặt Phan, Phan chỉ kịp kêu lên một tiếng ối rồi bị ngất đi…

Khi tỉnh dậy, dòng máu tươi còn loang trên mặt. Trán Phan đã bị một vết thương nặng, lõm vào và tóe máu. Vết thẹo nầy là dấu vết không thể nào phai. Chắc chắn dấu vết nầy sẽ lưu lại mãi mãi trên khuôn mặt Phan và trong ký ức suốt cuộc đời còn lại, cùng với lời của ông trung úy Đinh nói với Phan sau đó:

– Anh biết đấy, các anh đã gây nợ máu với nhân dân, đến con trẻ cũng căm thù các anh. Cũng may cho anh là tôi đã can thiệp kịp lúc.

Cộng Sản nổi tiếng với chiến thuật du kích, tạo bất ngờ, đánh lén, rồi rút êm không để lại dấu vết, nhưng chắc chắn đây không phải là đòn du kích. Đây là một bài bản. Cán bộ đã sắp đặt với người dân và đặt biệt cho trẻ con, đối với tù từ miền Nam ra.

Tuổi thơ của con trẻ vốn không hận thù nhưng cán bộ đứng đàng sau dạy chúng thù hận và cung cấp vũ khí để chúng thực hiện. Đây là sự ném đá giấu tay của chế độ!

Bóng tối của chế độ không nằm trong chiến thuật nhưng trong chiến lược giáo dục và đào tạo tuổi thơ mang hận thù. Cung cấp vũ khí để chúng đánh đòn thù dù đối tượng của chúng chỉ là những con người bình thường nhưng bị Đảng tô vẽ như những bóng ma, ác quỷ. Khi chúng biết cười tươi trước máu đổ thì bản chất người, bản chất hiền lành, lương thiện của chúng đã mất rồi!

Đấy là kế hoạch trăm năm trồng người của ông Hồ Chí Minh!

Tương lai của chúng, của gia đình và xã hội sẽ đi về đâu trong thù hận giả tưởng chất ngất khôn nguôi? Phải chăng đây là con người vừa hồng vừa chuyên [4], là con người mới Xã hội Chủ nghĩa trong thiên đường Chủ nghĩa Xã hội mà đảng Cộng sản Việt Nam đang ra sức đào tạo?

[1] Lời ông Mao Trạch Đông

[2] Anh Lê Duyên Ngẩu, về sau, chết bất đắc kỳ tử tại trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa sau khi được con gái anh, mới 14 tuổi, một mình lặn lội từ miền Nam ra Bắc tìm thăm cha. Một cuộc thăm nuôi đầy xúc động.

[3] Năm 2000, người viết được biết, thân nhân của BS Thường đã cải táng mộ anh về miền Nam.

[4] Lời ông Hồ Chí Minh.

Nữ Đại tá Elizabeth Phạm (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Giám đốc kế hoạch, phối hợp tác chiến, Trường NATO Oberammergau (NSO)

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 7, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Đại tá Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Elizabeth Phạm (hình của vietculturalfest.org).

Nữ Đại tá Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Elizabeth Phạm là Sĩ quan cao cấp, Chuyên viên kế hoạch tác chiến liên hợp Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), hiện là Giám đốc kế hoạch tác chiến liên hợp của Trường NATO Oberammergau (NSO), Đức, kiêm Sĩ quan cao cấp đại diện Quốc gia Hoa Kỳ trong khối NATO. Bà được bổ nhiệm vị trí trên sau khi được thăng cấp Đại tá hồi tháng 2 năm 2024. Trong vị trí hiện tại, Đại tá Elizabeth Phạm, được giao trách nhiệm đào tạo và phát triển Sĩ quan và Chuyên viên cao cấp của hơn 32 Quốc gia đồng minh hoạt động trong khối NATO và các Quốc gia thuộc Chương trình đối tác vì hòa bình chiến lược tác chiến toàn diện, nhằm tăng cường Liên minh phòng thủ Minh ước Bắc Đại Tây Dương. Trường NATO Oberammergau (NSO) toạ lạc tại miền nam nước Đức, là cơ sở hàng đầu của khối NATO, đào tạo và giáo dục ở cấp độ tác chiến. Trường NSO tiến hành hàng trăm chương trình đa Quốc gia mỗi năm để hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động, chiến lược, chính sách, học thuyết hiện tại và đang phát triển. Hàng năm, Trường NSO đón tiếp 10.000 học viên và Sĩ quan/Chuyên viên tham dự hội nghị.

Đại tá Elizabeth Phạm sinh năm 1978, bà tốt nghiệp ưu hạng Đại học University of San Diego qua Chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) năm 2000. Cô theo thụ huấn khoá căn bản Sĩ quan TQLC và được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công TQLC tốt nghiệp mang cánh bay Gold Wing năm 2003. Sau đó cô xuyên huấn chiến đấu cơ F/A-18 thuộc Phi đoàn huấn luyện VMFAT-101.

Sau khi trở thành Phi công chiến đấu cơ F/A-18, Thiếu uý** Elizabeth Phạm được chỉ định phục vụ tại Phi đoàn VMFA(AW)-242, cô được điều động đến Al Asad, Iraq, thi hành hơn 130 phi vụ chiến đấu và 450 giờ bay yểm trợ Chiến dịch Tự do Iraq (OIF). Từ năm 2005 đến năm 2007, Trung uý** Elizabeth Phạm giữ chức Sĩ quan phụ tá và Sĩ quan Tình báo đơn vị. Đến năm 2008, Đại uý** Elizabeth Phạm trở lại Iraq với tư cách là Sĩ quan tăng cường thuộc Không đoàn 3 TQLC (3rd Marine Aircraft Wing)*** điều phối hơn 180 lệnh điều động hành quân Không quân, cho phép thực hiện 4.800 phi vụ chiến đấu khắp tỉnh Al Anbar. Cô cũng thực hiện các phi vụ chiến đấu với Phi đoàn VMFA(AW)-225 và Phi đoàn VMFA-115, tổng cộng 155 phi vụ chiến đấu trong 1.000 giờ bay an toàn trên chiến đấu cơ F-18 Hornet.

Đại uý Elizabeth Phạm** và các nam nữ phi công TQLC Hoa Kỳ (hình của media.defense.gov).

Sau thời gian chiến đấu tại Irag. Đại uý Elizabeth Phạm được chỉ định phục vụ tại Bộ Tư lệnh TQLC, phụ trách Phòng năng lực, giải quyết và cung cấp năng lực tác chiến yểm trợ OIF/OEF. Từ năm 2011 đến năm 2014, Thiếu tá** Elizabeth Phạm được thuyên chuyển đến nhận nhiệm sở tại Căn cừ Không quân TQLC Iwakuni (MCAS Iwakuni) tại Nhật Bản, nơi đây bà đảm nhận nhiều vị trí chỉ huy khác nhau bao gồm: Sĩ quan huấn luyện, Sĩ quan tác chiến và Sĩ quan thanh tra. Bà đã hoạt động 600 giờ bay trên phi cơ UC-12W, tham gia yểm trợ các cuộc tập trận khu vực như: BALIKATAN, COBRA GOLD và ULCHI FREEDOM GUARDIAN, cũng như các nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo/cứu trợ thảm họa, bao gồm Chiến dịch DAMAYAN tại Phi Luật Tân.

Năm 2017, Thiếu tá** Elizabeth Phạm tốt nghiệp Văn bằng Cao học nghiên cứu an ninh Quốc gia từ Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ và được chỉ định là Sĩ quan khu vực Đông Á. Từ năm 2017 đến năm 2020, bà giữ chức Giám đốc hợp tác an ninh khu vực cho Lực lượng viễn chinh TQLC 1 (I Marine Expeditionary ForceI (MEFI)****, chỉ huy các cuộc tập trận và các hoạt động hợp tác đa Quốc gia với các đồng minh. Từ năm 2020 đến năm 2022, Trung tá Elizabeth** Phạm là Sĩ quan tác chiến của Liên đoàn Truyền tin của Lực lượng viễn chinh TQLC 1, tích hợp các năng lực chiến tranh thông tin trên không gian mạng, không gian vũ trụ, chiến tranh điện tử, chiến dịch tâm lý, hoạt động dân sự-quân sự và tình báo.

Từ năm 2022 đến năm 2023, Đại tá Elizabeth Pham thụ huấn tại Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College) và tốt nghiệp Văn bằng Cao học nghiên cứu chiến lược an ninh Quốc gia.

Đại tá Elizabeth Phạm là nữ phi công gốc Việt đầu tiên bay loại chiến đấu cơ F/A-18 của Không quân TQLC và là nữ Phi công F/A-18 thứ tư trong Không quân TQLC Hoa Kỳ, bà dẫn đầu phi hành đoàn Phi công F/A-18 nữ đầu tiên trong Chiến dịch Tự do Iraq. Sĩ quan chỉ huy chiến đấu xuất sắc, thi hành 155 phi vụ chiến đấu với hơn 1.000 giờ bay chiến đấu cơ F/A-18 không gặp bất cứ trỡ ngại nào, bà được trao nhiều giải thưởng “E” về oanh kích mục tiêu và xuất sắc trong tấn công chính xác giành giải thưởng “Top Hook” cho thành tích đáp trên Hàng không mẩu hạm. Bà là Sĩ quan ủng hộ phát triển lãnh đạo chỉ huy–sáng lập và điều hành hội thảo lãnh đạo chỉ huy nữ của Căn cứ Không quân TQLC Iwakuni (MCAS Iwakuni) năm 2013–2014, thúc đẩy hoạt động cố vấn và phát triển nghề nghiệp cho các nữ quân nhân TQLC Hoa Kỳ.

Trung tá** Elizabeth Pham (hình của Mrs. K Tran via Mr. BMH chuyển).

Đại tá Elizabeth Phạm tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân lịch sử ngành hóa sinh, Đại học San Diego (University of San Diego); Văn bằng cao học nghiên cứu an ninh Quốc gia (vùng Đông Á), Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School); Văn bằng nghiên cứu Chiến lược an ninh Quốc gia, Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College); Tốt nghiệp xuất sắc, Trường Đại học chỉ huy và tham mưu TQLC Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps Command and Staff College).

Trong suốt thời gian phục vụ Quân chủng TQLC, bà được ân thưởng nhiều giải thưởng và các loại huy chương cao quý như: 4 huy chương Meritorious Service Medal with gold star in lieu of fourth award; 6 Huy chương Air Medal Strike/Flight with numeral; 2 huy chương Navy/Marine Corps Achievement Medal with gold star in lieu of second award. Tháng 6 năm 2023, bà thắng giải thưởng danh dự nghiên cứu AFCEA về đề tài: “Khám phá hệ thống vũ khí an ninh mạng xã hội: Phòng thủ chống lại ‘Vũ khí thuyết phục đại chúng” của Trung Quốc, từ giải thưởng học thuật cho niên khoá 2022–2023 của Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College) và Giải thưởng soạn thảo xuất sắc về chỉ huy và kiểm soát thông tin tác chiến của Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School).

Đại tá Elizabeth Phạm thuyết trình trước Sĩ quan khối NATO theo tu nghiệp tại trường NATO Oberammergau (hình của linkedin.com).

Đại tá Elizabeth Phạm được thăng cấp Thiếu tá năm 2011, Trung tá năm 2019. Đại tá năm 2024. Bà là phụ nũ gốc Việt thứ hai mang cấp Đại tá TQLC, trước bà là Đại tá Ly T. Fecteau, nay đã hồi hưu. Đặc biệt, phu quân của Elizabeth Phạm cũng mang cấp bậc Đai tá cùng phục vụ trong Quân chủng TQLC. Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Quân chủng TQLC hiện nay gồm có (không tính sĩ quan cấp Trung uý và Thiếu uý): 1 Thiếu tướng (hồi hưu), 4 Đại tá (1 hồi hưu), 7 Trung tá (5 vị hồi hưu), 26 Thiếu tá và khoảng 40 Đại úy.

Cho đến nay vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp Tướng trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng có một số vị nữ công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (Senior Executive Service (SES)) gốc Việt đã và đang phục vụ trong các ngành an ninh và Quốc phòng Hoa Kỳ như bà Elizabeth Phu, bà Giao phan, bà Dương Nguyệt Ánh, và một số phụ nữ khác đang phục vụ tại các Bộ, Sở Liên bang Hoa Kỳ. Ngạch công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (SES) tương đương với cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ, tuỳ theo thứ bậc và ngạch thâm niên của họ. Họ đảm nhận những chức vị quan trọng trong Quân đội như những vị Tướng, như trường hop của bà Giao Phan, nguyên là cấp chỉ huy thứ hai trong Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), vị trí của bà chỉ sau Phó đô đốc James P. Downey. Bà Giao Phan về hưu hồi tháng 3 năm 2023.

Hiện nay có 25 nữ Đại tá gốc Việt (không tính 8 vị hồi hưu) đang phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ. Chúng ta hy vọng sẽ có nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong thời gian sắp tới.

Chúc Đại tá Elizabeth Phạm thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: *Khoảng 70-80% Sĩ quan TQLC và 60% Sĩ quan Hải quân tốt nghiệp Chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) sẽ được phục vụ toàn thời sau khi tốt nghiệp; **Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ***Không đoàn 3 TQLC (3rd Marine Aircraft Wing) tương đương cấp số một Sư đoàn; ****Lực lượng viễn chinh TQLC 1 (I Marine Expeditionary ForceI (MEFI) tương đương với cấp số một Quân đoàn.

Nguyễn Quân

Nguồn tài liệu: aviation.marines.mil; NATO SCHOOL OBERAMMERGAU; linkedin.com; vietculturalfest.org; bienxua-Nữ Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gốc Việt Elizabeth Phạm được đề cử thăng cấp Đại tá; bienxua-Những Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Bài 10

Đá Nát Vàng Phai

Nguyễn Tường Phong

Ngửa mặt lên cao đối mặt trời

Nhỏ dòng máu khổ tuôn cho đời

Một nỗi đau riêng đành khép lại

Nghìn thu sang sảng tiếng Con Người.

Khi cầm bút viết bài này quả thật lòng tôi chất đầy phẫn nộ. Rất đơn giản, tôi vừa chứng kiến một đường chém hiểm và bẩn, chứa đầy ác tính của một số người gọi là Việt Nam, tự mệnh danh và tự mạo nhận là người Quốc Gia, lên cổ một người Việt Nam tử tế, phẩm cách; thứ người vốn đã quá hiếm hoi trong oán nghiệt chất chồng của đất nước hơn một thế kỷ loạn tâm vừa qua. Con người tử tế, phẩm cách đang phải nhận đường chém nhẫn tâm ấy không ai khác: Chính là Phan Nhật Nam- NgườiLính-Viết Văn Phan Nhật Nam.

Tôi thật vẫn không hề cho nhát kiếm kia hồ dễ chỉ là thứ ti tiện “ghen tài ghen sắc” thường tình của đám sâu bọ rác rưởi bởi cái ác tính có pha lẫn lối ngang ngược, độc đoán, thù vặt và xem thường dư luận ấy, ẩn chứa trong tâm địa của lũ thảo khấu tâm bệnh, mệnh danh này nọ quả đã đến độ kiệt cùng tính NGƯỜI. Nhưng tôi phải đau đớn thú nhận một điều, một điều tôi vẫn hằng tin tưởng và tôn trọng là Sự Thật và Lẽ Phải- Hiện nay, đang bị thách đố, khinh miệt một cách nghiêm trọng đáng sợ. Quả thật, sau bao năm chiến tranh, cái xã hội phó sản của cuộc chiến cưu mang quá nhiều con bệnh tâm thần nguy hại, cố chấp và đê tiện đã đến độ “đá nát lẫn vàng phai.”

Tôi thành thật gióng lên tiếng nói ngày hôm nay, không phải để đối chất vặt vãnh với những hạng người đang thủ đắc thứ não trạng tật nguyền không thuốc chữa kia, nhưng để gửi một thông báo đến khối đa số mà trong đấy còn biết bao con người tử tế, vẫn giữ nguyên vẹn được phẩm cách và tâm hồn trong sáng sau cơn tàn phá dập vùi của buổi lềnh dầy binh đao khói lửa. Cũng để cảnh cáo rằng những người tử tế phẩm cách sẽ phải cùng nắm tay nhau đứng thẳng người thách đố thói độc đoán hèn kém ti tiện, những trò vấy bẩn đã và đang tiếp diễn từ hai mươi năm qua. Chỉ vì, những người có lòng, tử tế và phẩm cách đã bị những lực bẩn giăng mắc khắp nơi được kết tập bằng phó sản của chiến tranh, gồm lòng ti tiện, ghen ghét, cực đoan, thù hận, độc đoán ám hại liên tục trong suốt thời đại trước sự chứng kiến của chúng ta. Từ Phùng Quán, Trần Dần, đến Ngô Đình Diệm, Hà Thúc Nhơn, Chu Tử, tiếp tục đến Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế … Và hiện nay, ở đây, nơi hải ngoại nầy là Phan Nhật Nam. Tôi tự nhận thấy có trách nhiệm để viết những dòng chữ này, để Sự Thật được sáng tỏ, để những tiếng gào thét mồm loa mép giải vô căn cứ, không xác đáng và ngập đầy thù hằn ti tiện kia phải cúi mặt trước sự cao thượng của một người cầm bút chân chính và phẩm cách. Một người với khối lượng tác phẩm trong hơn hai mươi năm qua chỉ biết hòa mình với nỗi đau chập chùng oán hờn của dân tộc. Người kêu tiếng thét về những thương đau uất hận của dân, của lính, của tập thể quân đội và những con người nhỏ bé bất, lực bị chiến tranh tàn phá. Người hằng xúc động trước cái chết của con người, của máu đỏ da vàng, của một người lính chết lòi ruột cùng vợ con được gói chung trong tấm “pông sô,” hay một xác tên du kích Việt Cộng chương cứng lềnh bềnh trôi trong đám lục bình trên giòng nước quê hương. Một người từng sống giữa đạn bom, sờ thấy máu, nhìn thấy giòi bọ lúc nhúc nơi xác người dân bỏ mặc bên bờ đường. Một người biết sức công phá của tầm đạn và cũng từng chịu đựng hoàn cảnh tự tay lên đạn, lẩy cò, nín thở chờ sức bộc phá theo tầm đạn vút về thân xác của đối phương, một người Việt Nam khác. Phan Nhật Nam là người ngập chìm những xúc cảm phẫn uất nhìn đồng đội ngã gục trong khi một số khác tiếp tục tàn phá đất nước và quân đội. Và anh đã mang nỗi đau của cả dân và lính Miền Nam mà quên khuấy đi nỗi đau riêng của chính mình.

Thật vậy, ba mươi năm trước, Phan Nhật Nam đã hào sảng bước vào đời bằng tất cả nhiệt tình và ý thức của người trai trẻ giữa cơn cuồng nộ tai ương đất nước. Nhưng thế đã đáng gì. Người cha của anh, trên quan điểm dân tộc, đã bỏ vợ con, gia đình, hiến thân cho cuộc kháng chiến chống thực dân của toàn dân từ 1945, 1950, rồi sau đó ông trở thành một người Cộng Sản người Việt Nam tin theo Chũ Nghĩa Cộng Sản. Và đấy là bắt đầu cho một chuỗi chập chùng oan nghiệt. Từ ngày khởi đầu nghiệp vận, người cầm bút phẩm cách Phan Nhật Nam cũng chẳng khá gì hơn kẻ “phản loạn” Hà Thúc Nhơn, một kẻ sĩ đã vì nỗi đau của dân, của lính, đã đứng lên kình chống cả một tập đoàn tham hũng VùngII (Vùng Duyên Hải, Miền Trung) của quân đội và bị chính tập đoàn sâu mọt ẩn nấp trong quân đội trù dập, triệt hạ. Riêng Phan Nhật Nam, sau khi trải tuổi trẻ mình theo ngày tháng lăn lộn gian nguy ngoài chiếntrường, anh may mắn một cách đau đớn hơn. Thật thế, xuất thân là một sĩ quan chuyên nghiệp, nhưng tương lai của một người như anh được chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng chữ “sĩ quan kém khả năng, thiếu tác phong” trong quân bạ, chính vì những hành động phải làm của một người tử tế và phẩm cách. Rồi anh tiếp tục bị trù dập vì dám đứng thẳng người trước những hiện tượng tiêu cực tồi tệ ẩn hiện trong tập thể quân đội. Một quân đội có tờ giấy khai sinh bằng tiếng Pháp, và được hoàn toàn ủy quyền cho những cấp chỉ huy, thuộc phó sản phẩm thặng dư của đoàn quân viễn chinh Pháp. Riêng anh, với trình độ và phẩm chất, anh tự trang bị cho mình một kiến văn bao quát, một nhận thức sắc bén để thấy rõ nét những nhược điểm của tập thể quân đội. Bắt đầu từ đấy, anh mang hết sức lực của một thân hình không quá năm mươi ký lô, với khối óc đơn độc không hơn một nắm tay để thét lên tiếng lời dõng dạc … Một người thiên vị nhất cũng không thể phủ nhận công trạng mà chỉ mình anh. Đúng! Chỉ mình anh đã làm được: Khai triển và trang bị Lòng Tự Tin, Niềm Tự Hào Chính Nghĩa cho một đạo quân bị thời thế đẻ ngược với tập thể người lính có số lương ngang với tiêu chuẩn khẩu phần hằng ngày của các quân đội thế giới văn minh. Thế nhưng, quân đội khốn khổ ấy đã trội vượt để đảm trách một nhiệm vụ cao cả, cùng lúc bị gặm nhấm soi mòn bởi một thế hệ chỉ đạo mà kiến văn phổ thông không vượt quá đỉnh đầu ruồi trên mũi khẩu FM đầu bạc.(*) Chúng ta hãy thử nhìn lại. Chiến thắng An Lộc, KonTum; lá cờ dựng trên cổ thành Quảng Trị năm 72; sức chịu đựng vô biên của căn cứ Tống Lê Chân không phải tự nhiên mà thành. Hẳn không phải do tài năng của các “ông tướng” của quân lực VNCH. Đó là kết quả từ máu xương của Người Lính Việt Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan trẻ tuổi ưu tú ngoại hạng của quân đội. Tuy nhiên, nói thế quả chỉ nhìn trên một tầm nhìn phiến diện. Kết quả vĩ đại ấy, đã buộc phải xuất phát từ lòng tự tin, phấn khởi, tự hào của quân dân miền Nam sau hơi phả nhiệm mầu của Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số Một và Mùa Hè Đỏ Lửa. Chân dung Người Lính Nam Việt Nam và lòng hy sinh cao cả của quân đội được đồng bào khắp nơi tuyên dương, đặt trọn niềm tin và cảm tình không phải tự nhiên xẩy đến một sớm một chiều do phép lạ. Lại càng hoàn toàn không phải do những cái loa phát ong ỏng vô hồn của một guồng máy cấp bộ như bộ Dân Vận, cũng chẳng thể được quảng bá do công lao và chính sách của một cơ quan cồng kềnh vĩ đại gồm hàng nghìn sĩ quan từ cấp tướng cho đến binh sĩ các cấp như Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của Bộ Tổng Tham Mưu.

Công lao ấy, chắc chắn không phải riêng của một cá nhân nào, nhưng dù với lòng ngụy tín cao độ nhất, chúng ta khó mà phủ nhận được sức mạnh của ngòi bút Phan Nhật Nam đã dự phần tạo nên những thành quả to lớn ấy. Trước tập thể quân đội và đồng bào Miền Nam, Phan Nhật Nam quả đã vượt quá những gì xứng đáng nhất đểlãnh nhận một phần vinh dự, cùng những chiến thắng lẫy lừng của người lính VN trong quân sử, kể từ chính nghĩa cao cả để chiến đấu đã được nhiệt tình của anh tiếp hơi thắp bùng lên giữa đêm đen của đạo tặc, rác rưởi, ô uế của những năm 63-73. Cuối cùng cái phần thưởng cao quý mà một người phẩm cách và nhiệt tình như anh nhận được, sau khi vắt óc và máu, góp phần thực hiện những thành quả to lớn cho đất nước và quân đội, là cái nghị định giáng cấp từ đại úy xuống trung úy, bị đuổi khỏi binh chủng và đầy xuống một đơn vị Địa Phương Quân tại Long An năm 1972. Vài ngày sau, anh trở thành một người lính đào ngũ. Nhưng, kẻ đào ngũ Phan Nhật Nam không chạy trốn bom đạn và gian khổ chiến trường do ươn hèn sợ hãi, nhưng tên sĩ quan đào ngũ khốn khổ ấy quay về với tiếng gọi của tập thể quân đội với nhiều ưu ái lẫn bạc tình. Anh trở lại chiến trường trong vị thế độc lập, với “khả năng tác chiến sắc bén” và hiệu quả gấp nghìn lần hơn vị trí của một đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng ngay đến cả tư lệnh sư đoàn, tư lệnh quân đoàn … Anh theo những đơn vị tổng trừ bị, xử dụng ngòi bút để viết lại toàn cảnh cuộc chiến can trường cùng tâm tư đau đớn của mỗi người lính, từng người dân trên khắp bốn vùng chiến thuật, bốn quân khu. Ngòi bút Phan Nhật Nam với Mùa Hè Đỏ Lửa vang dội không chỉ làm phấn khởi toàn Miền Nam, nhưng dưới ngòi bút của anh, chân dung bi phẫn và hung tráng của Người Lính Nam VN gây xúc động khắp dư luận thế giới đến nỗi tờ Paris Match phải thốt lên: “Mùa Hè Đỏ Lửa là bút ký chiến trường tuyệt vời nhất từ trước đến nay.

Và anh tiếp tục đi lên con đường đã chọn, để làm tròn sứ mệnh của một người lính, một người cầm bút, một trượng phu giữa cơn binh đao tàn phá của đất nước. Sau khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết, cả một Cục Chiến Tranh Chính Trị đầy đủ bá quan văn võ cùng những cấp tướng tá chỉ đạo ấy đã không có nổi, ngay chỉ một cá nhân, đủ khả năng, lẫn kiến thức về chiến tranh, và chính trị đối với người Cộng Sản hơn anh để đảm nhiệm những pha tranh cãi sắc bén, gay gắt khi giải thích việc áp dụng bản Hiệp Định Hòa Bình trong ban Quân Sự Liên Hợp Bốn Bên, nơi những địa điểm trao trả. Cùng đành, người ta đành phải lôi tên lính đào ngũ Phan Nhật Nam về giao trách nhiệm nặng nề khó nuốt và không chút sơ múi tơ hào gì với quyền lợi tương xứng. Lại một lần nữa, quân đội cần anh, nhưng những người trách nhiệm vẫn không có đủ công bằng để phục hồi danh dự cho Phan Nhật Nam. Họ cho anh “nhiệm chức” cấp đại úy để thay họ chống đỡ với những người cộng sản lão luyện cơ mưu. Năm ấy, 1973, trong một lần ra Hà Nội theo ban Liên Hợp Bốn Bên, người Cộng Sản Việt Nam đã xử dụng tình cha con, mang mối liên hệ gia đình để tuyên truyền vận động lôi kéo anh. Nhưng Phan Nhật Nam thẳng thắn, quyết liệt giữ vững lý tưởng chính nghĩa tự do của mình. Giai đoạn này, Tù Bình và Hòa Bình là một viên ngọc ngời sáng của những dòng bút ký, dựng nên cái nhìn toàn diện về nỗi đớn đau của tất cả con dân Việt Nam trong bi kịch chiến tranh và hòa bình.

-Một nhận xét sâu sắc về Người Cộng Sản, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Thành Phần Thứ Ba và tâm trạng não nề của những người Việt Nam trước một nền hòa bình không hề có thật. Ai có thể nói hơn anh về lời báo động khẩn thiết, chính xác nầy … Những lãnh đạo, kẻ làm chính trị, những “cách mạng” và cả đám … cò mồi! Năm 1975, tháng Tư tàn cuộc. Anh đi tù. Trong thời gian đầu, năm 1976, vì tình huyết thống, gia đình anh lại thêm một lần đối đầu với nghịch cảnh. Anh đã từ khước gặp lại cha già, một người cộng sản, sau một phần tư thế kỷ máu huyết phải chia lìa vì cuộc chiến, để tiếp tục cảnh tù tội với nhục nhằn đầy ãi. Năm 1990, sau mười bốn năm tù đầy (phần lớn là kiên giam) trở về, gia đình anh vẫn chưa thoát khỏi cảnh tàn phá phẫn hận của chiến tranh dù tiếng súng đã chấm dứt từ mười lăm năm trước. Cô em ruột trong gia đình họ Phan đã dùng hai mươi viên thuốc ngủ cực mạnh để tự mình giải quyết êm thắm cuộc xung đột ý thức của cha và của anh mình trong một gia đình đã quá nhiều đóng góp, chịu nhiều thống khổ chia lìa vì chiến tranh của đất nước trong suốt bốn mươi năm dài binh lửa. Nỗi đau riêng ấy được anh nén chặt trong tâm khảm của một đời khổ nhục với mười tám năm cách trở, tù tội, oan nghiệt. Lòng Hy Vọng, Đức Tin Thượng Đế tưởng có thể giúp anh tìm được bình an cho đoạn cuối phần đời khi anh lên đường sang Mỹ cuối năm 1993. Nhưng không phải vậy … Thực tế đời sống không như lòng người mong mỏi. Và anh vẫn câm lặng nén chặt nỗi đau riêng, ngửa mặt cao thượng để lòng bừng cháy với thống khổ trầm luân của dân tộc, đất nước. Nỗi đau nầy tràn dâng lớn lao hơn gấp bội phần so với cào xé cá nhân, đã hình thành hai tác phẩm mới nhất trong năm 1994. Đối với đa số độc giả, tinh thần tác phẩm rực sáng chính nghĩa dân tộc, nổi bật cái tâm của kẻ sĩ, cái dũng lược quân từ. Anh phóng bút với phong thái độc nhất Phan Nhật Nam, chữ nghĩa trong sáng, thẳng thắn và rõ ràng đúng phong thái người phẩm cách. Nhưng người viết văn nhiều khổ nạn vẫn ngập đầy gian nan trước những thói vấy bẩn hèn hạ, vu vạ với cách ngớ ngẩn, dốt nát, nghi ky của một vài cá nhân. Chưa hết, bản thuyết trình công phu “Sứ Mệnh Người Lính” phản ảnh nhận thức tinh tế, sự am hiểu tình hình với tầm nhìn sách lược của anh trong buổi hội thảo của Gia Đình Võ Bị đã bị bóp méo, đánh lạc hướng vì thành kiến mục nát, thể cách bịp bợm và lớn tiếng chụp mũ, bắt chẹt trên bình diện công tâm thì không có, mà chỉ thật ra do bệnh hoạn tâm thức và lòng chật hẹp, kém phẩm cách, kiến thức mới là điểm tẩy của vấn đề.

Ngày hôm nay, Tháng Sáu, 1995. Người viết văn nhiệt tình và phẩm cách Phan Nhật Nam tiếp tục bị chính “những kẻ. nhân danh chiến hữu – Bởi quả thật, ngay chính người cộng sản khi tấn công anh cũng không dám thẳng thắng tuyên bố chống đối anh về ý hệ- Bởi nền tảng của con người ấy là-Tính Thiện và Lòng Thành .. ” triệt hạ, chụp mũ vô lối, vô căn cứ qua cách thức vô học, vô ơn và bẩn thỉu. Con người ấy bị cả kẻ thù lẫn đồng đội triệt hạ. Gia đình ấy đã lãnh nhận đủ thương đau. Xin tất cả hãy một lần cẩn trọng. Đừng để kẻ đã mang cả cuộc đời quá khứ, hiện tại và tương lai cho đất nước thêm phần đau đớn- Chúng ta phải thực công bằng. Tôi xin nhắc lại một lần. Chúng ta cần tỉnh thức xét lại chính mình. Đừng để trời đất phải nổi cơn thịnh nộ vì một số trong chúng ta quả đã quá ác, tàn ác hơn cả chính cuộc chiến mà chúng ta đã hứng chịu. Thay vì chúng ta phải tuyên dương và chia sẻ niềm đau của riêng anh, nỗi đau to lớn gấp bội lần những tàn phá của chiến tranh trên bình diện cá nhân con người. Nỡ nào chúng ta vô tâm đứng nhìn cảnh “đá nát vàng phai”?

II,

Ngửa mặt lên cao ngất ngất trời

Tìm trong lịch sử bóng từng người

Nỗi đau kẻ sĩ bừng lên lửa

Viết dòng văn tựa, gió tơi bời.

Trong thực tế, một số người khắp nơi trên đất Mỹ đã rất hoang mang sau một loạt bài báo, truyền thanh có tính cách chụp mũ, vu vạ nhà văn Phan Nhật Nam. Sự thật, đa số mọi người phải bận rộn vì sinh kế và chỉ quan tâm một phần đến vấn đề nên không cần tìm hiểu sự việc cho cặn kẽ. Đây là kẽ hở duy nhất để thiên kiến của những kẻ chụp mũ, vấy bẩn người tử tế hoành hành. Điều này là nguyên cớ đưa đến tâm trạng não nề chán ngán khi bản thân nhận thấy Sự Thật và Lẽ Phải bị thương tổn – Điều mà tôi hằng tin tưởng từ ngày bắt đầu cầm bút. Với tâm trạng ấy, tôi đã không muốn viết gì nữa. Tuy nhiên, bài này thành hình là do nhận định của anh Trần Bích San như sau:

… Văn chương với Tấm Lòng sẽ lên đường cùng Sự Thật và Lẽ Phải. Giữa buổi điêu tàn này, bọn lưu manh ti tiện, đám rác rưởi ngụy tín có thể hoành hành tác động. Vận Nước đang suy, bao người tử tế, phẩm cách, đều bị trù dập, triệt hạ … Nhưng không lâu … Không lâu đâu, những tâm hồn trog sáng sẽlấy lại đất đứng. Thời gian sẽ làm công việc ấy, rác rưởi, ti tiện sẽ trôi đi để đá vàng hiện rõ. Đất nước sẽ có ngày … Phải Có Ngày.

Và tôi viết được đến những dòng chữ này vì còn tin tưởng vào Sự Thật và Lẽ Phải. Đá có thể nát, vàng có thể phai, nhưng chỉ nát phai vì vận nước đang thời suy mạt chứ không thể vì sâu bọ rác rưởi và lòng ti tiện.

Thế nên tôi vẫn mạnh dạn tin tưởng và tiếp tục ngửa mặt bước trên những thứ cặn bã phế thải, để cùng với những tấm lòng trong sáng, đóng góp cho một ngày mai với một quê hương có nhiều, có thật nhiều người tử tế và phẩm cách.

III,

Vì Sự Thật và Lẽ Phải, tôi khơi lại một cuộc đời riêng. Phần đời đã và hiện đang đau đớn cùng cực, được chôn chặt trong lòng mà chưa hề lần than vãn. Nam, Tôi thành thật mong Anh …

Ngửa mặt giăng tay lửa ngợp trời

Gió lên phần phật … Vẫn môi cười

Cùng nỗi đau chung rền đất nước

Giữa bóng Đêm …

Có Anh – Có Tôi.

New Orleans, 19- 6-95

Ngày Quân Lực,

Vẫn dậy lửa lớn của năm xưa

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 11

– Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?

Đó là câu hỏi của Dzũng quan tài. Tên thật của nó: Phan Tiến Dzũng. Trong tù nó nói Phan Tiến Dzũng ngon hơn Văn Tiến Dũng. Anh có ở phòng 6 khu C đề lao Gia Định năm 1976 không ? Nếu đã ở đó, anh phải biết Dzũng quan tài. Hoạ sĩ Choé, sau phiên họp phòng cuối tuần, đã mượn bút làm biên bản của thư ký tù, và tặng Dzũng quan tài bức hí hoạ chân dung nó. Dzũng nhỏ con, trông rất thư sinh, nhưng phong cách của nó là tay du đãng xịn , đại ca của nhiều thằng du đãng khác. Ngực nó không hề có xâm quan tài có hình cây nến cháy với giòng chữ : “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”. Nó xác định tên giang hồ của nó vì nó không sợ quan tài.

– Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?

Quý dao khó chịu:

– Mày hỏi hoài câu này. Thằng nào mà chẳng phục quốc được. Du đãng phục quốc mới sôi nổi. Việt cộng nó chơi võ, các bố phục quốc lớn bé chỉ chơi văn. Văn chống võ là kềnh. Truyền đơn thì nhằm nhò con mẹ gì! Phải dùng cái thuật của nhà Mộ Dung.

Dzũng quan tài búng mẩu thuốc văng xa:

– Đúng, lấy AK của nó bắn vô đầu nó. Cám ơn cách mạng, du đãng lại có trò chơi mới hay hơn trò chơi của Trần Đại, James Dean Hùng. Nhưng mà trò chơi nguy hiểm đấy. Nghìn lần bù chưa chắc có một lần chín. Mày nghĩ sao?

Qúy dao nhổi toẹt bãi nước miếng:

– Bọn tướng lãnh bỏ lính cút hết; bọn thủ tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu, bỏ dân cút hết; bọn lãnh tụ đảng phái bỏ đảng viên cút hết, du đãng rất nên gánh trách nhiệm đánh cộng sảng cứu nước . Lúc này thằng nào đám phất cờ lạm lại lịch sử thằng ấy mới ngon.

Dzũng quan tài chép miệng:

– Mình vẫn chỉ là du đãng!

Quý dao đưa ngón tay quẹt mép:

– Quan trọng con mẹ gì! Nữa mày có ứng cử tổng thống không mà lo sửa chữa tiểu sử? Biết chọn đường đi thì du đãng là anh hùng hơn cả anh hùng. Đâm thuê chém mướn cho dân tộc cũng là sự nghiệp phi thường. Giết ba cái thằng cường hào ác bá, ăn trộm ăn cướp của dân chúng, in lậu sách của các nhà văn mới được gọi là những trang hảo hán của thời đại thôi. Giết cộng sản, đập nó tan nát sẽ được phong làm Đấng Cứu Thế.

Dzũng quan tài khen bạn:

– Về quân sự, mày lúc nào cũng số một. Vậy mình chơi, chơi thật bạo.

Qúy dao vuốt tóc:

– Dĩ nhiên. Mình chơi cả văn lẫn võ. Văn với đồng bào. Võ với cộng sản. Dân Sàigòn lao đao hết rồi. Sau vụ đổi tiền, xóm tao nghèo mạt. Nó hốt tiền của dân, mình đòi lại giùm họ. Đấy, văn chương cho đồng bào để lấy điểm và để lẩn trốn dễ dàng. Tao đã nghiên cứu ngân hàng của nó. Ngon hơn ăn hủ tíu Thanh Xuân. Vẫn dùng cái thuật Mộ Dung Cô Tô thôi.

Dzũng quan tài quẹt que diêm châm điếu thuốc mới:

– Chiều nay gom anh em của mình lại.

Qúy dao gật đầu:

– Sống với cộng sản là chờ đi tập trung cải tạo là kể như chết rồi… Chơi bạo chết bạo sướng nhiều. Đồng ý, chiều nay…

Buổi chiều tháng 12 năm 1975, một nhóm thanh niên tụ tập ở căn nhà gần cổng xe lửa số 6, đường Nguyễn Hùynh Đức. Họ đàn sáo, ca hát như thể họ tập dượt để liên hoan chào mừng hai ngày lễ lớn sắp tới. Nhạc cách mạng vang vang lối xóm. Công an khu vực ngang qua, bằng lòng lắm. Phần mở đầu của bản trường ca không đến nổi dở. Dzũng quan tài vỗ tay ba tiếng:

– Qúy dao muốn nói chuyện với chúng mày. Tao cần nói trước , sẽ không có ân oán giang hồ gì giữa anh em nếu thằng nào bỏ cuộc chơi. Tao làm khá mà nói dở. Qúy dao nói giùm những điều tao muốn nói.

Qúy dao nhả khói thuốc:

– Chuyện bình thường thôi. Trước kia mình làm du đãng, bây giờ mình làm anh hùng. Trước kia mình chống cảnh sát, bây giờ mình chống cộng sản . Từ thảo khấu bước lên hàng hảo hán, con đường ngắn xỉn à. Nếu chúng mày đã đọc Thủy Hử, tất chúng mày đều rõ. Vậy đó, chỉ cần dựng lá cờ khởi nghĩa, bọn thảo khấu chống luôn triều đình, vì hạnh phúc của toàn dân, đâu thèm chống ba thằng quan lại địa phương nữa. Bọn cộng sản cũng giống nhu bọn Thủy Hử, cũng biết dựng lá cờ khỏi nghĩa. Cứ đọc tiểu sử của anh hùng cộng sản đi. Hồ Chí Minh là bồi tầu thủy. Tôn Đức Thắng là bồi tầu thủy, khác chi thằng Thiên Thời ăn trộm gà, thằng Trương Thanh bán bánh bao nhân thịt người . Những thằng tài ba lỗi lạc, tư cách đàng hoàng cỡ Trương Xung, Võ Tòng…thì bị cái triều đình thối nát dồn chúng nó lên Lương Sơn Bạc hoặc bị bọn Lương Sơn Bạc bầy mưu bẩn giết hết vợ con người ta, vu vạ triều đình để người ta phải …vô Đảng! Cộng sản rập khuôn Lương Sơn Bạc Cái hay của chúng nó là biết dựng cờ khởi nghĩa. Hễ biết dựng cờ khởi nghĩa thì thằng ăn cướp thành vị anh hùng. Ba cái thằng quốc gia đếch biết dựng cờ khởi nghĩa. Chúng nó chỉ biết vẽ cờ, may cờ, kéo cờ, chào cờ thôi. Do đó,chúng nó chuồn sang Mỹ hết rồi. Cái thế dân tộc hôm nay rơi xuống vai bọn trẻ. Khắp Sàigòn, Phục Quốc nổi lên chống chế độ cộng sản . Mấy em nữ sinh chân yếu tay mềm còn dám đương đầu với cộng sản, du đãng đành uống rượu chửi thề sao? Chiều nay tụ tập ở đây để trả lời câu hỏi ấy.

Hạnh búa nói:

– Tao trả lời ngay đây. Tao đã là Phục Quốc nhưng rắc truyền đơn mà không chết cộng sản, tao thèm chơi búa.

Tâm xích nói:

– Tao khoái siết cổ cộng sản.

Tất cả đồng ý chơi cuộc chơi mới. Qúy dao vê nát cái đầu lọc điếu thuốc đã hút hết:

– Du đãng bị xếp vào tội hình sự, hèn mọn lắm. Vậy nếu dính bẫy nhớ khai tôi chống phá cộng sản, sẽ được xếp vào hàng ngũ tù nhân chính trị. Điều thứ hai: từ nay không chơi dao bút, xích khoá nữa mà chơi bằng đầu và súng. Súng giết cộng sản ít, đầu tiêu diệt luôn cộng sản. Nhưng rất cần súng để hậu thuẫn đầu. Chúng ta cũng cần tiền,không phải để uống rưọu, chơi gái mà để làm sáng tỏ cuộc chơi. Nên, sẽ cướp các ngân hàng nhỏ. Mỗi thằng mày đều có một lô đàn em, hướng dẫn chúng nó trò chơi mới. Chúng ta cần súng. Có tiền tha hồ mua súng của bộ đội vì bộ đội ham radio, đồng hồ… Nếu phải giết người cướp súng thì giết công an, đừng giết bộ đội tốt dỉn khù khờ. Tao sẽ thảo một bức Chiến Thư, in đàng hoàng rồi rắc vung vít thành phố. Thế là du đãng dựng cờ khởi nghĩa vì dân tộc, tổ quốc, tự do, dân chủ mà đánh cộng sản. Có thằng nào phản đối không? Nếu không thì về sửa Honda cho ngon lành. Châm ngôn của chúng ta: “Xe trục trặc trong cuộc chơi là mình chết”.

Sau này, lịch sử sẽ ghi rõ về buổi chiều tháng 12 năm 1975, buổi chiều du đãng lãnh trách nhiệm đánh cộng sản thay thế bọn tướng tá đào ngũ trước 30-4-75; thay thế bọn dân biểu, nghị sĩ bỏ nước, bỏ đàn em chạy trốn ra ngoại quốc. Và thay thế luôn cả người Mỹ đã đầu hàng tủi nhục.

Chiến Thư của du đãng:

“Hãy nhìn Sàigòn hiện tại, bọn cộng sản xâm lược! Chúng mày bảo Mỹ nó muốn đưa dân tộc ta trở về thời kỳ đồ đá. Chúng mày bảo Mỹ nó tạo dựng phồn vinh giả tạo ở Miền Nam. Chúng mày bảo Mỹ nó đầu độc Miền Nam bằng tư tưởng thực dân mới. Chúng mày bảo Ngụy tay sai gian ác, tiếp tay Mỹ lập ra những nhà tù để giam nhốt các nhà ái quốc, để tra tấn các nhà ái quốc bằng những dụng cụ phi nhân bản. Nói tóm lại, chúng mày đẩy Mỹ Ngụy xuống hầm phân, xã hội Mỹ Ngụy là địa ngục, xã hội chúng mày là thiên đàng. Chúng mày nói nhiều quá vì chúng mày là vẹt. Đủ nghe rồi, bây giờ nghe chúng tao nói.

Từ chúng mày vào Sàigòn thì chỉ có nước mắt và nước mắt. Chúng mày, từ biển máu, sáng tạo ra đại dương nước mắt và Sàigòn đã ngụp lặn giữa đại dương nước mắt sóng gió chủ nghĩa cộng sản. Trong biển máu, con người chết ngon lành bằng viên đạn, bằng lưỡi mã tấu. Giữa đại dương nước mắt, con người chết sặc sụa, chết sợ hãi, chết kinh hoàng, chết tính từng giây. Chúng mày phi nhân bất nghĩa trong bóng tối để đại nghĩa ngoài ánh sáng. Chúng mày cướp nhà cướp của thì nói là tiếp thu, tiếp quản. Chúng mày bắt bỏ tù thì nói đưa đi học tập. Chúng mày bòn rút thì nói thay thế. Chúng mày độc tài, áp bức,x xiềng xích thỉ nói dân chủ cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc. Từng ấy tội là tạm đủ, nói rông dài sẽ biến thành bầy vẹt chủ nghĩa.

Chúng tao, vốn là những thằng tuổi trẻ bất mãn cuộc đời vì chúng tao thiếu lý tưởng để làm đẹp cuộc đời nên đành đi hoang và bị cuộc đời ngộ nhận gọi chúng tao là du đãng. Bọn thống trị Sàigòn cũ chẳng ưa gì chúng tao. Chúng nó truy nã chúng tao ráo riết. Tuy nhiên, chúng tao thấy chúng mày tố cáo tội ác Mỹ Ngụy mà chính chúng mày ác độc gấp mười lần Mỹ Ngụy nên chúng tao bốc máu nghĩa hiệp, quyết vì lương dân mà dựng cờ thế thiên diệt bạo.. Ấy là chúng tao cho chúng mày biết Miền Nam hào kiệt cơ man như lá rụng,chưa phải lúc nên chưa vùng dậy thôi, chúng tao chỉ là thứ tốt dỉnh trong rừng hào kiệt Miền Nam..

Báo cho chúng mày, bọn cộng sản xâm lược hay, đấng trượng phu không ưa đánh lén, chúng tao công khai gửi chiến thư. Để đồng bào trong nước , ngoài nước hiểu rõ tấm lòng của du đãng. Để thế giới hiểu rõ rằng, người Mỹ đầu hàng ở Việt Nam không có nghĩa là cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản ở Việt Nam đã chấm dứt. Sau hết, để chúng mày chuẩn bị giao tranh.

Ngày cuối tháng 12 năm 1975

Nhóm du đãng Bảo Quốc”

Với Dzũng quan tài và Qúy dao không cái gì là không thể làm được. Chiến thư đã sắp chữ, đã ấn loát tại một nhà in nhỏ quốc doanh miệt Phú Nhuận. Chủ nhà in bị trói lại. Công nhân răm rắp tuân lệnh khẩu súng của Hạnh búa. Ngay cửa nhà in, các hiệp sĩ Bảo Quốc canh gác. Chiến thư chở đi sau khi hoàn tất. Ngay buổi tối, Sàigòn, Gia Định, Chợ Lớn đầy chiến thư. Những ngày kế tiếp, truyền đơn ném ngay tại Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy doạ cho nổ cái nhà này khiến Nhà Triển Lãm vắng vẻ. Rồi truyền đơn kết án xử tử bọn Tin Sáng, bọn nằm vùng.. Truyền đơn hẹn ngày giờ đánh phá Sở Công An.. Dân Sàigòn say mê đọc những loại truyền đơn có lửa của nhóm du đãng Bảo Quốc. Hôm trước , một ngân hàng nhỏ ở Tân Định bị cướp, hôm qua đã có truyền đơn loan báo số tiền cướp được trả về cho dân chúng. Công an bị ám sát mỗi đêm. Cửa hàng quốc doanh bị ăn lựu đạn. Xe hàng Thống Nhất từ Hà Nội vào bị đốt cháy. Mật vụ ngoài Bắc vô phối hợp với mật vụ cục R ở đường Yên Đổ và Sở Công An thành phố ráo riết.

Chiến dịch càn quét những người có tiền án, tiền sự về trộm cướp, du đãng bắt đầu.. Tướng cướp Điền Khắc Quang dính mẻ lưới đầu, bị đưa ra Thanh Hoá. Du đãng về hưu, du đãng hết thời, thanh niên vô gia cư, vô nghề nghiệp bị bắt hết. Đại Cathay đã chết lâu, ba đàn em cự phách Tì,Cái, Thế gẫy cánh. Những Hùng phốc, Hùng sư tử, Mậu già..bị quét sạch.. Tất cả bị đưa đi Bù Gia Mập, bị chết dần, chết mòn. Nhưng du đãng Bảo Quốc còn nguyên vẹn vì họ chưa ai có tiền sự, tiền án, vì họ không thuộc hạng du đãng đầu trộm đuôi cướp, tống tiền, hãm hiếp. Chiến dịch cứ diễn tiến, du đãng Bảo Quốc không ngừng chơi.Nhiều truyền đơn của nhiều tổ chức sinh viên, học sinh Phục Quốc tiếp tay Bảo Quốc, ký tên Bảo Quốc mặc dù họ chưa hề quen nhau, gặp nhau. Phục Quốc mong Bảo Quốc rảnh tay chơi bạo hơn nữa. Một sự gắn bó rất âm thầm, rất đẹp. Trong nguy hiểm và vì đại nghĩa thật sự, người ta không phá nhau, không bôi bẩn nhau. Sàigòn phấn khởi, đặt niềm tin vào du đãng. Là đúng. Khi các vị anh hùng, các nhà ái quốc đã rủ nhau cút hết khỏi Việt Nam, kẻ nào dám ở lại chống cộng sản , kẻ ấy là hào kiệt, là vĩ nhân, là cứu tinh của dân tộc, dẫu kẻ ấy là du đãng đê tiện.

Chiến dịch càn quét du đãng thành phố chuyển sang giai đoạn càn quét sinh viên, học sinh không chịu đi học. Không đi học là không chấp nhận mái trường xã hội chủ nghĩa, là chống chế độ. Đến cao điểm của chiến dịch, Qúy dao bàn với Dzũng quan tài tạm ngưng.

– Tạì sao?

– Đó là binh pháp. Lùi ba bước tiến chín bước . Tiến trong lúc địch quyết tử là thua.

– Rồi làm gi?

– Hoạt động tích cực cho Cờ Đỏ,văn nghệ phường, thông tin văn hoá phường. Cái súng nghỉ thì cái đầu làm việc. Nó biết nằm vùg, mình tha gì nằm vùng. Áp dụng đúng thuật Mộ Dung Cô Tô. Mộ Dung Bác hơn hai chục năm nằm vùng ở Thiếu Lâm mưu đồ phục quốc. Tiêu Viễn Sơn hơn hai chục năm nằm vùng chùa Thiếu Lâm mưu đồ phục hận. Nằm đi, nằm chán thì vụt dậy.

– Tùy mày vì mày là cái đầu của anh em.

– Trước hết, mình tự dẹp cái Nhóm Du Đãn Bảo Quốc đi.

– Tại sao?

– Để nó tưởng mình tiêu rồi.

– Sau đó?

– Mình trưng bảng hiệu mới.

Qúy dao soạn Tuyên Ngôn khác cho Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản. Hai tháng ẩn mình, du đãng Bảo Quốc chơi lại. Đã được “học tập”, nếu bị bắt sẽ chịu đòn mà chối dài Bảo Quốc. Phường khóm không tin nhóm của Dzũng quan tài là du đãng. Chúng nó biết cách chơi. Từ trước ngày cộng sản vào Sàigòn, ở nơi chúng cư ngụ, chúng hiền lành, ngoan ngoãn và thường bị du đãng khu vực bắt nạt. Du đãng xịn là du đãng hoạt động trên đất người. Hoạt động trên đất mình là du đãng hạng bét, du đãng cướp giật.

Cuộc chơi sang giai đoạn thứ hai chỉ có mặt Dzũng quan tài , Qúy dao, Hạnh búa và Tâm xích. Bốn thằng trên hai chiếc Honda 90 xoáy thêm nòng máy. Bốn khẩu AK và đạn trong bốn cái hộp đàn guitare. Ai cũng có thể nghĩ bốn thằng à nhạc sĩ trình diễn. Chúng chạy theo chiếc xe chở tiền phát lương cho công nhân Vicasa ở khu kỹ nghệ Biên Hoà. Qúy dao đã nghiên cứu tình hình kỹ lưỡng. Chúng nó sẽ chơi ở nghĩa trang quân đội. Cách chơi ra sao, bốn đứa đã bàn nhau. Một điều quan trọng Qúy dao chưa hề biết là chiều hôm trước đã xẩy ra vụ bắn nhau giữa công anh tuần cảnh xa lộ với mấy tay hảo hán xa lộ. Hảo hán phóng Honda thoát hiểm. Sở Công An chỉ thị ngăn chặn tất cả Honda 90, kiểm soát giấy tờ, kiểm soát xe, kiểm soát người, kiểm soát hành lý. Gần đến ngã tư Thủ Đức, thấy công an làm hàng rào khám xét dân đi Honda, Qúy dao ra hiệu quay về Sàigòng, bỏ rơi cuộc chơi. Công an nhìn thấy, nghi ngờ, rượt theo.

Đến cầu sông Sàigòn, Hạnh búa bảo Tâm xích chạy chậm lại. Nó nhảy xuống, hô các bạn thẩy đồ chơi đi. Hạnh búa lượm nhanh và vất xuống sông. Nhiều người chứng kiến nhưng công an trên chiếc jeep còn chạy cách đầu cầu quá xa. không thể nhìn rõ sự việc ở giữa cầu.. Hạnh búa may mắn.Những người chứng kiến hành động của nó đều là ngụy dân Các bạn nó bị chặn tại ngã tư Hàng Xanh với những họng súng AK nhắm sẵn. Tâm xích không thèm đếm xỉa những họng súng. Nó rú ga lao đi. Tâm xích bị hạ. Chiếc Honda xoay tròn nhiều vòng trên thân thể đẫm máu của nó. Qúy dao và Dzũng quan tài bị bắt tại trận. Người ta tình nghi hai đứa là tàn quân và đồng bọn có đứa tẩu thoát nên giao chúng nó cho Quân Báo cục R ở đường Tô Hiến Thành Sàigòn khai thác. Qúy dao nhận mình là thủ lãnh Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản gồm bốn đứa. Dzũng quan tài không chịu khai. Hạnh búa thương bạn không chịu nổi đòn tra tấn nên tự ý nạp mạng. Khai thác chán chê và gom đủ ba đứa, Quân Báo cục R quy định tội của chúng nó là phản động, chống phá cách mạng và thẩy sang đề lao Gia Định. Vì Dzũng quan tài bị đánh gẫy răng, què chân nên nó được ở phòng tập thể. Hạnh búa bị đưa về Đại Lợi. Qúy dao nằm cachot khu B đề lao Gia Định.

Các bạn của chúng nó vẫn hoạt động bí mật bên ngoài . Nhưng không còn đánh lớn. Bởi thiếu cái đầu Qúy dao.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Chương 11

Ông Lái Đò Làng Cỗ Phúc

Trời mùa đông, ngày ngắn đêm dài nên đêm ở rừng xuống khá mau. Tù không có đồng hồ (vì cái gì có thể gọi là tư trang, kể cả cái cắt móng tay, dao cạo râu… đều phải nộp cho trại cất giữ) nên đời tù sống theo tiếng kẻng. Kẻng báo thức. Kẻng lao động. Kẻng trưa. Kẻng chiều. Kẻng tối học tập, phê bình. Kẻng điểm danh trước khi đi ngủ. Khi nghe ba tiếng kẻng sau cùng trong ngày, vô chuồng, thì đêm như đã vào khuya.

Đêm nay, Nghiêm thấy khó ngủ. Cái bụng lép kẹp, cồn cào, xay xát về đêm gây khó ngủ là chuyện bình thường nhưng chiều nay Khoa và Nghiêm đã có tăng cường thêm được một gô măng luộc ở ngoài rừng mà sao vẫn không ngủ được, hay là bị măng hành? Tiểu tổ hái măng không có vệ binh theo giữ nên trại ấn định chỉ tiêu và khu vực để vào đó đi tìm măng bẻ đem về. Sáng nay Khoa đem theo một cái gô, ngụy trang đựng nước uống, nhưng dùng để luộc măng. Nghiêm thì lo chỉ tiêu cho cả hai. Công việc nào cũng khó khăn. Phải lo chỉ tiêu cho cả hai người, không dễ, đã hẵng rồi, nhưng chuyện Khoa tìm cách đốt lửa luộc măng cũng không đơn giản chút nào! Củi vì mưa và sương đêm nên bị ẩm ướt, rất khó nhóm lửa. Phải thổi ù cả tai may đâu lửa mới bén. Khi lửa cháy thì phải lo quạt khói cho tan mỏng ra kẻo bị lộ mục tiêu mà củi càng ướt, khói càng nhiều. Tù thì không có quyền dùng lửa hộp quẹt. Tù nào giấu giữ hộp quẹt là có âm mưu trốn trại! Có vô số lý do để quy kết cho cái tội tày trời nầy. Chiều nay trước khi về trại, Khoa và Nghiêm chia nhau ăn gô măng lạt vì không có muối. Măng luộc không muối, nếu nhai kĩ sẽ bị ngấy đến tận cổ họng, không thể nào nuốt, cho nên chỉ nhai dập dập, lấy lệ, rồi ráng nuốt. Nửa gô măng nầy đêm nay lại hành hạ cái bao tử một cách khác, làm Nghiêm không ngủ được, cứ muốn ói ra. Nghiêm trở dậy, lần ra đầu hồi. Một bóng đen khác đã thu lu ở đó rồi. Nghiêm giật mình, cứ tưởng là cán bộ vô rình! Thì ra là Khoa. Khoa hỏi nhỏ:

– Măng hành?

– Tao nghĩ vậy.

– Có thể bụi măng mọc ngay gò mối hoặc ổ kiến.

– Ai nói với mầy là măng mọc ngay gò mối hay ổ kiến thì bị nhiễm độc?

– Tao đoán.

– Kim Dung cho các cao thủ võ lâm ăn nhiều độc vật nên có công lực thâm hậu mà!

– Vậy thì tao và mầy ráng chịu qua đêm, ngày mai mình sẽ có nội công thâm hậu.

– Mày vẫn còn đùa được, chưa sao!

– Ráng giữ, đừng cho ói. Ói là chén khoai mì buổi tối trào ra luôn.

Đêm lạnh. Tiếng chim lạ bỗng kêu trong đêm. Lẻ loi.

Khoa nói:

– Ráng vô ngủ, kẻo ăng tên báo cáo tụi mình bàn chuyện trốn trại.

Khoa và Nghiêm lò mò trở về chỗ ngủ.

Vừa chợp mắt thì Nghiêm giật mình thức giấc. Ánh đèn pin quét những tia sáng vào một số mùng ngủ. Việc nầy khá lạ, rất ít khi xảy ra. Ánh đèn pin soi khá kĩ nơi mùng Hải, bên cạnh Nghiêm, rồi đến một cái mùng khác ở khoảng gần giữa lán. Không một lời nói. Chắc chắn có nhiều tù thức giấc nhưng nhắm mắt giả vờ như say ngủ. Rồi ánh đèn pin mất hút.

Sáng đi lao động ngoài rừng, Khoa nói:

– Đêm qua họ vào kiểm soát thật kĩ mùng thằng Hải và thằng Chân.

– Chắc họ nghi hai đứa trốn trại.

– Hai đứa nó trốn hụt một lần ở trong Nam. Tao ở chung trại.

– Chắc họ đọc hồ sơ nên theo dõi kĩ?

– Cũng có thể là do ăng tên.

– Biết đâu họ nghe tiếng chim rừng kêu giống như báo động vì có người hay thú đi đến gần, lúc mầy và tao còn ở ngoài đầu hồi?

Nghiêm tiếp:

– Cái hộp quẹt của mầy phải giấu cho thật cẩn thận nếu họ phát hiện là bầm mình.

– Tao biết, nên không giấu trong người đâu. May lắm thì dùng thêm được một tháng nữa là cùng. Khô dầu là phải quăng thôi.

– Lúc đó gạ đổi cho dân địa phương. Zippo mà!

– Mày có lý. Để xem sao.

– Nhưng cũng thật nguy hiểm vì cán bộ trại hầu hết là người địa phương, vừa rành thổ nhưỡng, vừa có gia đình, dòng họ, anh em. Họ tự động quản lý tù vòng bên ngoài, vì tù sổng, cán bộ trại là thân nhân của họ sẽ bị khiển trách!

Buổi tối, tập trung điểm danh sớm hơn thường lệ. Ông cán bộ quản giáo phụ trách lán, dạy dỗ tù kĩ hơn:

– Đảng cho các anh ra đây nà để học hỏi nếp sống văn minh, nành mạnh. Đêm qua tôi và một một số các đồng chí nán khác vào kiểm tra đột xuất thì thấy một số các anh chưa chấp hành tốt đường nối chính sách. Cụ thể nán ta có anh Nguyễn Văn Hải, ngủ gì mà anh để tồng ngồng ra như vậy! Cái đẹp của người Việt ta nà kín đáo, không như văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy đầu độc ở miền Nam.

Bây giờ thì cả lán mới biết Hải ở truồng ngủ nhưng không ai dám cười! Vấn đề nầy không biết ai là người có văn hóa, văn minh? Người ngủ hay người rọi đèn pin vô mùng?

Tản hàng, Hải tâm sự riêng:

– Tao biết, họ kín đáo kiểm tra quần áo, chỗ ngủ của tao nhiều lần để canh chừng việc trốn trại, nên lần nầy vừa thấy ánh đèn pin bên ngoài, ráng chịu lạnh một chút, tao tuột quần xuống bày nguyên con, nhắm mắt nằm im cho họ ngắm thỏa thích! Chỉ tiếc là không có cán bộ gái!

***

Không có bản đồ nên không biết làng Cỗ Phúc nằm ở nơi nào trong khu vực nông trường trà Trần Phú, huyện Văn Chấn, tỉnh Hoàng Liên Sơn, chỉ biết là làng Cỗ Phúc cách nơi trại tù số 5 khoảng ba tiếng đồng hồ đi bộ. Làng nằm bên kia một dòng sông lớn (có thể là sông Hồng hoặc một nhánh của sông Hồng) nước chảy xiết về xuôi. Trời mùa đông. Lạnh. Gió heo may. Đám tù rách rưới, bị gậy như đám hành khất Cái Bang trong truyện võ hiệp của Kim Dung! Có khác chăng là Cái Bang của Kim Dung thì võ nghệ cùng mình và tự chọn một lối sống không bị ràng buộc trước những thế lực thống trị, còn đám tù cải tạo là một loại động-vật-mới của chế độ mà họ không dám minh bạch cho thế giới biết một tên gọi rõ ràng!

Như vừa trải qua những trận chưởng kinh thiên động địa trong hắc bạch giang hồ, đám tù Cái Bang tơi tả, thoát ra đến bìa rừng, thì bắt gặp một phong cảnh thật êm đềm, hoang vắng. Một dòng sông lớn trước mặt! Đường dẫn đến bến sông bên dưới ngoằn ngoèo như ruột dê với lau lách đìu hiu. Bầu trời mùa đông thật ảm đạm. Một chiếc thuyền nhỏ từ phía bên kia sông nhấp nhô, đang băng qua lượn sóng về phía bên nầy. Con thuyền nhỏ tròng trành như chiếc lá đang trôi giữa dòng, thật mong manh. Ông lái đò ngồi chèo với một cây dầm nhỏ, khuấy nước, rồi kẹp theo mạn thuyền giữ tay lái, khác hẳn với hình ảnh thật đẹp của cô lái đò đứng đàng sau ghe, lấy chân điều khiển bánh lái, hai tay giữ hai mái chèo hai bên, nhún nhảy, nhịp nhàng cho con thuyền rẽ sóng ở miền Nam. Phải chờ khá lâu đám tù Cái Bang mới từ từ nhận ra được chiếc nón lá cời, bộ đồ nâu bạc phết và khuôn mặt cháy nắng, teo tóp nhăn nheo như hột xí muội của ông lái đò. Hình ảnh ông lái đò trong một bài thơ nổi tiếng được nhiều người ngâm tao đàn ngày xưa đang ở ngay trước mặt. Ông lái đò trong bài thơ có cái bi tráng tiễn người đi chiến chinh. Ông lái đò trước mặt thì đưa khách qua lại sang sông, ở một vùng quê hoang dã, quạnh vắng.

Thuyền nan nhỏ, mỗi chuyến đò ngang chỉ có thể chở được bốn đến năm người nên cả đội tù Cái Bang là khách ngoại lệ. Ông quản giáo ra lệnh và chọn một nhóm tù trẻ, khỏe để sang sông, còn tất cả chờ đợi ở bên nầy. Ai không biết bơi thì đổi người khác. Bên kia sông có tre làng, có những thân cau cao vút vươn trên nền trời xám lẻ loi. Làng vắng vẻ, không thấy bóng người. Tĩnh mịch của vùng quê thật gợi nhớ. Tuổi học trò của Nghiêm cũng gắn bó với đò ngang. Quê nghèo được bao bọc bằng những dòng sông. Mỗi lần muốn ra phố đều phải qua đò ngang. Mỗi bến nước, một con đò. Đò Giữa, đò Dọc, đò Điện Bình, đò Hoa Trà, đò An Trường, đò Kẻ Thá, đò Hà Mật… Bao nhiêu bến đò ngang là bấy nhiêu kỷ niệm. Mùa mưa phùn gió bấc, gió chướng, thì mọi người ru rú trong cái tơi bằng lá hoặc chiếc áo mưa. Nam sinh quần xắn đến gối, dép móc trên ghi đông xe đạp gọn gàng nhưng nữ sinh thì áo dài vướng víu, dễ bị bùn dơ. Làm sao giữ chiếc cặp sách vở cho khỏi ướt, phải che chắn làm sao khi phải xắn quần đến gối khoe cặp bắp chân nõn nà. Quần áo dài trắng mà bị ướt, vải dính vào da thì da thịt như khỏa thân trước những cặp mắt hau háu của bọn con trai. Mùa hè đùa giỡn, nghịch nhau với làn nước hai bên mạn thuyền, đầy ắp tiếng tru tréo, cười đùa. Giọng con trai vỡ tiếng, giọng con gái trong vắt. Người lớn thường mắng mỏ, càu nhàu đám nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò! Tuy là quê nghèo nhưng một chuyến đò ngang cũng lớn, chở được mười mấy người. Quê nghèo đó đã hơn mấy mươi năm không gặp lại. Mấy mươi năm người khách qua đò ngày xưa bị nổi trôi theo dòng đời, đã quên hẳn bến sông! Nghiêm lặng người với kỷ niệm.

Bố Thục cũng có vẻ thẫn thờ. Ông vuốt chòm râu dài, lốm đốm sợi bạc. Chòm râu mà ông đã bị hạch sách đủ điều chỉ vì một lý do vô cùng đơn giản mà không ai giải quyết được. Lệnh của trại thì cấm để râu, tóc nhưng dao cạo râu thì bị tịch thu. Quản giáo bắt ông cạo râu. Ông nói không có dao. Quản giáo bảo hỏi tù văn hóa phụ trách hớt tóc. Tù văn hóa hớt tóc trả lời chỉ có một tông đơ cùn phải hớt cho 300 người. Chuyện râu cứ thế lòng vòng. Cuối cùng thì râu bố Thục cứ dài ra cho ông vuốt. Ông thấy mình già như ông già Cái Bang vuốt râu. Quê bố Thục ở ngoài nầy, bố di cư vô Nam năm 1954. Tuổi thanh niên của bố may mắn còn hưởng được chút tự do, tuổi già của lại phải quay trở về quê hương. Hành trình về cõi chết. Bố tâm sự:

– Tôi thì lá rụng về cội, cũng được đi! Nhưng mấy cậu thì… giải thích làm sao đây?

Ông lái đò cũng có chòm râu bắp. Loài dán dùng râu để nói chuyện, ông lái đò và bố Thục nhìn râu để hiểu ra nhau. Một ông đang sống trên sóng nước, nắng mưa. Một ông đang tù đày, khổ ải.

Ông quản giáo đi theo toán sang sông để vào làng mua bắp cải. Tù Cái Bang còn lại tìm chỗ nghỉ chân, chờ đợi. Ông vệ binh chiếm một gốc cây có vị thế tốt để quan sát, gà gật tựa lưng, còn tù Cái Bang thì tản mát, ngồi nhìn cây cỏ đìu hiu.

Qua hai chuyến để chở hết toán tù sang bên kia sông không ai hiểu tại sao ông lái đò không ở lại nơi cái chòi lá đơn sơ của ông bên đó để chờ toán mua bắp cải quay về,ông có thể tiết kiệm được sức lực khi phải chèo qua dòng sông rộng? Ông lại chèo ghe trống sang sông. Vào bến, cắm thuyền, ông lên bờ. Dáng ông còm cõi, lưng còng, bộ đồ nâu bạc phết. Áo ông dày cộm và vá chùm đụp. Cái quần dài xắn ngang gối khoe đôi ống chân đen đủi, khẳng khiu như hai thanh củi, đôi chân trần không có dép. Đến ông vệ binh, nói mấy câu mồi điếu thuốc vấn, rồi ông ra phía sau gốc cây đi thẳng vào lùm bụi . Ông có việc sinh lý cá nhân! Ông chậm rãi trở ra, có vẻ khoan khoái nhìn bố Thục, rồi ngoái đầu vào lùm cây, ông nói thật nhỏ chỉ vừa đủ nghe :

– Đừng cho nó thấy, xuất trưa của tôi để ở trong đó. Ông vào ăn cho khéo, tôi cảnh giác cho.

Ông lái đò trở lại gốc cây. Ngồi hút thuốc và nói chuyện với ông vệ binh để câu giờ.

***

Sau bữa sắn cơm tối, bố Thục kéo một hơi thuốc lào dài, ếm khói. Bố về chỗ nằm, vắt tay lên trán. Không nằm được bố lại trở dậy, ra ngoài đầu hồi, nhìn mông vô rừng. Bóng tối nhòe nhoẹt. Hải tắm dưới suối lên, ngừng lại chỗ bố, gợi chuyện:

– Đường xa quá, nên mệt hả bố?

– Oải chứ, nhưng ông lái đò cứ làm tôi nghĩ quẩn.

Hải yên lặng, bố tiếp:

– Ông dấm dúi cho tôi khẩu phần của ông. Chỉ cơm độn với dưa muối thôi. Tôi ăn nhưng xót lắm! Nghĩ đến hoàn cảnh của mình và tình thương lớn của ông.

***

Câu chuyện được kín đáo truyền miệng trong một số tù thân thiết nhau là mỗi đợt tù đi ngang qua bến sông, ông lái đò đều âm thầm quan sát tù nào già yếu nhất, để tìm cách dấm dúi một phần cơm.

Dũng biết ngày mai lán của Hải đi mua bắp cải. Tìm gặp Hải, Dũng giãi bày tâm sự:

– Cũng như bố Thục mấy tuần trước, tao đã nhận được một phần cơm của ông lái đò. Tao không biết lấy gì để bày tỏ cho ông lão biết tụi mình mang ơn ông về chuyện nầy! Ông lão thì già yếu quá, tao cũng muốn ông chống chỏi với cái lạnh khắc nghiệt trên sông nước, kéo dài mạng sống thêm chút nữa để thỉnh thoảng giúp đỡ bọn mình. Tao chỉ có mỗi cái áo lạnh đang mặc trên người, là của vợ tao đưa khi thăm nuôi ở trong Nam. Tao biết sẽ không còn dịp đi đến làng Cỗ Phúc lần thứ hai nên phải nhờ mầy. Mầy tìm cách theo toán qua bên kia đò, rồi quăng chiếc áo nầy vô túp lều nhỏ của ông lão nơi bến sông. Chắc chắn ông cũng không biết ai đã biếu ông chiếc áo ấm nầy, cũng như ông sẽ không bao giờ biết tên những người ông đã dấm dúi phần cơm, nhưng chắc ông hiểu được lòng biết ơn, tình nghĩa của tù miền Nam! Trái tim nhân hậu của ông sẽ kể cho con cháu ông, là những chứng nhân thầm lặng của cuộc đổi đời. Đường tù con dài, đói lạnh còn nhiều, nhưng nếu không làm được điều nầy thì lương tâm tao không thể nào yên được. Vợ tao sẽ tha thứ cho tao lý do bị mất cái áo.

Dũng vừa nói xong, để lại cái áo, rồi đứng dậy quay về lại lán ngay như sợ Hải không nhận lời. Hải một mình, trầm ngâm, rồi lấy khoát vào người.

Đây là một vật chứng tự nguyện trao đổi, nó thật nhỏ nhoi trong đời sống hàng ngày nhưng vô cùng quan trọng trên bước đường tù vô định của một tù đói! Một dấu ấn đậm nét trong nhau của những kẻ khốn cùng, của những con người mà Đảng muốn họ hận thù nhau!

***

Hai tuần nữa đến Tết, lán 8 được lệnh cho nghỉ làm buổi chiều, chuẩn bị cơm nước sớm để đi lao động ban đêm, khiêng mấy tạ nếp đi xay tại nhà máy của một nông trường trà. Không thể dùng quang gánh khiêng vì đường ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, lại đi ban đêm, chắc chắn sẽ vấp té và tai nạn. Không ai quan tâm đến thương tật của tù nhưng họ lo nếp sẽ bị đổ làm thiệt hại kinh tế. Do đó họ hướng dẫn tù dùng túi đựng quần áo cá nhân hoặc dùng quần dài cột chặt hai ống chânđể đổ nếp vào rồi cột lưng lại. Cái quần dài sẽ biến thành hình chữ U, vác trên hai vai vòng qua cổ. Vác theo cách nầy dễ chịu hơn là đeo ba lô, khi đi phải khom người về phía trước để cân bằng cơ thể. Nhưng đường xa, hai ống chân đầy thóc sẽ ép hai bên ngực gây khó thở.

Nhà máy xay nông trường có lẽ làm việc 24/24. Tù vác lúa nếp đến nơi khá khuya, nhưng nhà máy vẫn đông người. Đổ thóc chung vào những cái thúng đan bằng tre khá lớn rồi tù tản ra khắp nơi. Đây là lần đầu tiên tù có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với sinh hoạt của công nhân nông trường. Tiếng gọi là nhà máy, nghe thật quan trọng nhưng vô cùng thô sơ, từ trang thiết bị đến cách tổ chức thật nghèo nàn. Mấy bóng đèn điện tù mù không đủ sáng, bụi cám, thóc, bay mù trong không khí. Công nhân lam lũ, mệt nhọc, không thấy được chút sinh khí hay nụ cười. Những bài hát đầy xung động, những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt ngời sáng tương lai của công nhân trên những bích chương và phim ảnh thật mỉa mai với thực tế ở đây! Hải, Nghiêm ra bên ngoài dù lạnh, đểdễ thở hơn. Một chị đi ngang qua, Hải hỏi xin nước uống. Trong bóng tối không nhìn rõ mặt, chị hỏi:

– Các anh ở trại nào? Đợi đây. Cẩn thận, chúng quan sát đấy!

Chị hỏi, không đợi câu trả lời, rồi bỏ đi rất nhanh.

Hải nói:

– Có ý tốt. Không xấu.

Nghiêm:

– Có thể. Chờ xem.

Hải, Nghiêm còn dò dẫm, nghi ngờ. Những bài học chính trị tù được biết là người dân miền Bắc rất căm thù Mỹ-Ngụy miền Nam mà!

Một lúc sau, một anh công nhân đi đến gần, nói nhỏ, rồi cũng bỏ đi ngay:

– Hai anh lại đằng ấy, vợ tôi đã để nước và hai xuất cơm tối của chúng tôi, gói trong lá chuối. Các anh cẩn thận đấy!

Anh không đợi nghe lời cám ơn, rồi mất hút.

Những con người xa lạ, lại nhịn cả phần ăn tối để cho tù trong một trạng thái căn thẳng tự nó nói lên rất nhiều điều!

***

Hình như những bài học tù đã bị nhồi nhét từ Nam ra Bắc có cái gì đó ở phía đàng sau!

Một buổi chiều khi lán 7 trên đường đi lao động về, vừa lội qua dòng suối cạn, đến khúc quành có gờ đất dựng đứng do xe ủi làm đường bên dưới tạo nên, thì bị phục kích. Đá, sỏi từ trên đồi quăng xuống như mưa. Đường độc đạo không lối thoát nên tù chỉ còn cách lấy hai tay che đầu, chạy thoát về phía trước và la lớn báo động cho nhau. Những viên đá lớn nhỏ, đủ loại quăng xuống và tiếng đám con nít léo nhéo bên trên rượt theo đám tù. Hai ông vệ binh đứng lại nơi suối, nhìn và vỗ tay cười lớn. Một số tù bị u đầu, trầy trán, trầy tay nhưng thương tích không nặng.

Buổi tối, ông quản giáo vào sinh hoạt đặc biệt. Ông giải thích:

– Các anh nà tội đồ của dân tộc, theo Mỹ-Ngụy giết hại nhân dân, nên cách mạng đưa các anh đến vùng đất hẻo nánh nầy nà để bảo vệ mạng sống cho các anh. Dù chúng tôi đã giải thích với các em về chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước dành cho các anh, nhưng rất tiếc nà các em ở đây cũng ném đá các anh để trả thù việc các anh đã giết cha, chú, thân nhân của các em. Do đó, từ nay các anh không được đi riêng nẻ vì có thể bị giết chết bất cứ ở nơi nào. Các anh phải đi chung, về chung để được chúng tôi bảo vệ. Trẻ em vô tư mà còn căm thù, huống chi nà người nhớn! Trẻ em thì chỉ có đá sỏi vớ vẩn nhưng người nhớn thì có dao rựa, vũ khí trên tay… Hàng rào nứa quanh trại chỉ nà tượng trưng nhưng hàng rào nhân dân mới quan trọng. Chiều nay các anh học được bài học nhỏ để thấy hết mọi nguy hiểm của bản thân.

Ông quản giáo lý luận thật hùng hồn. Ông quên là ông đang nói chuyện với đám tù chứ không phải ông đang dàn dựng cho đám trẻ con. Ông lú lẩn. Sự dối trá đã trở thành đạo lý trong ngôn ngữ hàng ngày của ông. Đạo lý của chủ nghĩa của ông.

Một ngày nào đó ông mới có được kinh nghiệm của ông lái đò, của anh chị công nhân nhà máy xay ở nông trường trà Trần Phú. Ông sẽ kinh nghiệm được những kẻ trọn đời nghèo khó và chịu đựng. Những kẻ bị Đảng nhân danh!

Bi kịch là chính ông. Đảng nhân danh ông và ông cũng nhân danh Đảng!

Trong tận cùng của khổ đau và chịu đựng, trái tim nhân ái đã lớn dậy. Sự dối trá, gian ác và bạo ngược là những lớp phân lá mục phủ lên trên, và âm thầm ở bên dưới, hạt giống của những ông lái đò, anh chị công nhân nông trường sẽ nẩy mầm!