Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 10 Jan 2026

Bài 12

Người Bạn, Ngọn Nguồn Sống Động Với Tôi

Quả thật, người cộng sản, những người cầm quyền thuộc hàng lãnh đạo các đảng cộng sản (Đông lẫn Tây; ở Việt Nam, Trung Cộng lại càng nổi bật, sắc nét), đã chứng tỏ khả năng gần như tuyệt đối hữu hiệu trong quá trình đánh bạt những kẻ thù của họ về mặt chính trị, tư tưởng. Giữa những “kẻ thù cần phải tiêu diệt” kia, oan nghiệt thay, người viết văn, kẻ xử dụng chữ nghĩa, những thi sĩ, nghệ sĩ … Tất cả những ai làm công tác văn hoá nghệ thuật, kể cả những nhà giáo dục, chức sắc các tôn giáo …. Tất cả những người nầy phải là nạn nhân hàng đầu, không cơ may dung thứ, nhận điều kiện giảm khinh. Rất nhiều lần, những nạn nhân nầy còn“được“đặt trước, đánh giá hạng cao hơn hẳn những đối thủ chính trị, những kẻ thù quân sự. Staline có thể “thật lòng” ở mức độ nào đó với Ngoại Trưởng Đức J. Von Ribbentrop hoặc với Tổng Thống Mỹ Roosevelt, nhưng đã không hề cho phép người đàn bà làm thơ, Anna Akhmatova (1888-1966) có cơ hội khoan hồng. Thời “băng tan” của Khrushchev bày ra tội ác giết hai mươi triệu người Nga của Staline, nhưng đã không hề nới giảm Điều Khoản 58 về định nghĩa:”Tội Chống Đối Chính Quyền Sô Viết”. Định nghĩa tác động, quyết định sinh mạng chính trị lẫn vật chất của tập thể Nhà Văn Sô Viết đến hơn nửa thế kỷ, trong đó những danh tính Boris Pasternak, Alexander Solzhenitsyn bị đày ải miệt thị đến độ tàn nhẫn nhất. Nói ra như một điều khôi hài thê thảm, “Hồi Ký Viết Dưới Hầm Tử Hình” của Fyodor Dostoiesky cũng đã bị xếp vào loại “sách phản động” dưới ánh sáng nghị quyết của Bộ ChínhTrị Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên sô.

Tương tự như trên, Hồ chí Minh và những người thừa kế của ông ta, có thể (mà lịch sử đã chứng tỏ tỷ lệ khả thi khá lớn) “nhất trí” với những Marius Moutet, Jean Sainteny; sau nầy với Bidault, Kissinger … Nhưng họ đã “không chút nương tay” với Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Khái Hưng, Nhượng Tống trước 1945; hoặc với Từ Chung Vũ Nhất Huy, Chu Tử Chu Văn Bình; Hồ Hữu Tường, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường … của Miền Nam trước và sau 1975. Nhất Linh chỉ sống sót được sau 1946 bởi đã may mắn thoát hiểm chứ không do từ “hoà hợp, hoà giải” của người cộng sản. Cái chết là biện pháp đầu tiên, duy nhất người cộng sản (Nói lại một lần, cộng sản Việt Nam là loại bậc thầy, hàng kiện tướng) thường áp đặt đối với những người không thuận cùng họ về mặt tư tưởng. Có thể có trường hợp biệt lệ, khi người gọi là “kẻ chống đối tư tưởng” kia được đánh giá “để sống có hiệu quả hơn cho chết”. Thực tế Việt Nam sau 1975 với những đối tượng hành xử (của người cs) là giới viết văn, làm báo, sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật Sài Gòn là chứng cớ mới mẻ, cụ thể nhất. Đứng về quan điểm Tội Phạm Học, với những điều khoản hình luật cho dù khắc khe nhất, kể cả cách nại ra những nhu cầu chính trị tối cần thiết (ảnh hưởng, quyết định lên tiến trình xét xử, thi hành án lệnh của ngành Tư Pháp) …. Cũng không ai có thể tìm đâu ra“yếu tố phạm tội” nơi những trang sách, giòng chữ chan hoà Tính Lành, Lòng Thiện của “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc …” với Doãn Quốc Sỹ. Thế nhưng, người viết văn vô cùng trung hậu kia đã là một “đối tượng cần phải trừng trị đích đáng, hạ nhục thậm tệ” với án tù gần mười ba năm. Thời hạn giam giữ vượt quá mức án giành cho phạm nhân bị án tử hình. Theo cách xét xử và thì hành án lệnh của cộng sản Hà Nội, nếu án tử hình không thi hành, được giảm thành chung thân, xong xuống dần 0,16, 12 năm … Có khi chỉ khoảng 9, 10 năm đã được phóng thích, cho ra “tự giác”, một hình thức quản chế tại chỗ.

Một người cứng cựa kiêu hãnh như Phan Khôi, với chin năm theo kháng chiến, con, cháu làm cán bộ cao cấp (Phan Thao, Phan Bôi), nhưng chỉ vì một vài bài văn đã sống không ra dạng người, chết không yên nấm mồ.

Mãi đến 1987, báo Nhân Dân, tạp chí Học tập còn đăng bài truy bách, hài tội người đã chết. Nói thật tình, cho dù cụ Phan có viết đến hàng ngàn nội dung như Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi … Dịch ra dăm ba chục sinh ngữ, phát không trên toàn thế giới; Hội Đồng Nobel Thuy Điễn trao đến hai lần giải thưởng … Thì chế độ Hà Nội chắc cũng không chịu một chút nhỏ ảnh hưởng, cho dù bằng đầu sợi tóc.

Đến đây, chúng ta phải nhận ra điều khốc liệt: “Nhà Văn, Người xử dụng chữ nghĩa là nạn nhân hàng đầu và mau mắn nhất của những lần đổi thay chế độ, bất cứ thời đại nào đối với tất cả những tập đoàn cầm quyền, thực thi bạo lực”.

Chế độ cộng sản, người cộng sản Việt Nam hiện thực sự nhẫn tâm bất công trên ở mức độ cao nhất với biện pháp ác hiểm nhất. Kể từ khi tổ chức bạo lực, quyền lực của họ có mặt trên quê hương chúng ta, thập niên 30, nay đã hơn nửa thế kỷ, hiện tượng oan nghiệt đau đớn (mà cũng thật sự không cần thiết) kia chưa có dấu hiệu chấm dứt. Không hề có khả năng chấm dứt. Cho dù chúng ta đang ở thời hạn cuối cùng Thế Kỷ 20. Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế và nhiều người nữa … Những người không thể nào “đe doạ an ninh quốc phòng” vẫn còn nơi nhà giam, ngục tối, ở Việt Nam.

Từ những lẽ trên, bản thân cá nhân “Người Lính Viết Văn” hoàn toàn không có biệt lệ tránh khỏi được vòng vây nguy biến giành riêng phận người cầm viết. Hình như đây cũng là mặt biểu trưng về “hiện tượng chậm tiến” của những xã hội khốn cùng do nghèo đói, chiến tranh, thực dân, cộng sản cùng lần xé nát hay chăng? Hơn thế nữa, chính bản thân, chứ không ai khác là kẻ cùng cực hứng chịu ngay tại trung tâm cơn bão, không mãy may hy vọng chống cự, thoát thân. Trong trận chiến không cân sức nầy, hắn ta quả thật đã là mục tiêu bị đánh dập thê thảm và tàn nhẫn nhất. Từ tình cảnh khốn đốn của ngày 4 tháng Ba, 1973 tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội với một giàn thông tín viên, văn công, ký giả vây bọc, dàn cảnh mưu thuật gài bẫy, tấn công. Đến lần điều động cả một tổ chức với những chức sắc văn hoá, chính trị cấp cao, giỏi nghiệp vụ, vững lập trường như TT Đăng Đàn với Bộ Văn Hoá cộng sản Miền Bắc, để hoàn thành nên ngàn trang sách cáo buộc hàm hồ ngang ngược trong “Mười Lăm Năm Văn Học Nô Dịch Mỹ-Nguy Miền Nam.” (Ở đâu ra cái “văn học cùng khốn “nầy hả trời?!). Nhưng lần “đánh” nầy dù sao cũng chỉ là đòn phủ đầu chung đối với toàn giới viết văn Miền Nam, không từ một ai, dù người đã chết như … Lê Văn Trương, Đinh Hùng; nữ giới Bà Tùng Long, Lan Phương … Những người hoàn toàn vô can vi tất cả những gì gọi là “âm mưu của lầu năm góc, tập đoàn “quân phiệt phát-xít cia” (?!)”. Phải đợi đến lần “tổng công kích dứt điểm” được chỉ huy bởi một “công thần văn hoá” hàng đầu của chế độ Miền Bắc, Chế Lan Viên, vận động cả cơ quan ngôn luận trung ương đảng, báo Nhân Dân, Tạp chí Học Tập, qua các buổi học tập trong các trại tù suốt năm 1978, chuẩn bị tư tưởng cho lần Tàu đánh Việt Nam. Một cá nhân viết văn, chỉ danh “phan nhật nam”, được nại ra như “dấu hiệu về lần sa đoạ tột cùng của tập đoàn văn học nô dịch mỹ- -nguy”- Trong tài liệu học tập của chiến dịch nầy, những danh từ riêng “không được viết hoa” để biễu lộ mức độ khinh miệt của người cộng sản đối với tất cả những ai gọi là “kẻ thù tư tưởng”, chứ không phải do lỗi đánh máy, in ấn. Đức Thánh Cha Jean Paul II được gọi xách mé không thương tiếc: “giáo hoàng la-mã giăng-pôn hai”. Người cộng sản HàNội cũng dùng đến những bĩ thử ngược ngạo tồi tệ nhất, “Nhà văn viết bằng máu. Nhưng máu phan nhật nam là nước lã”. Chế Lan Viên nhắc lại ví von kia trong hồi ký xuất bản ở hải ngoại nầy. Ông ta rất hãnh diện điều mình đã viết, cách đã sống qua, quyền lợi đã thâu hoạch (từ chế độ cộng sản), cho dù hiện đang tuổi 80; sau những biến cố 1989, 1991 ở Đông Au, tại Liên Sô. Ai đã có chút chạnh lòng cùng chúng tôi, “Người Lính ViếtVăn” bị hạ nhục?”

Tại sao phải “đánh giá cao” một cách không tương xứng và độc địa đến vậy? Vì, trước sau, chúng tôi vẫn chỉ là một cá nhân đơn độc, thực hiện công việc viết lách sau tấm áo lính, vị trí đã quen thân, hợp dáng, để giải toả một số vấn nạn tâm lý tình cảm khởi từ sự xung đột mang tính cách cá nhân đối với một hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Chúng tôi hoàn toàn “vô vụ lợi lẫn vô hại” trong quá trình hiện thực chữ nghĩa nầy. Những dòng chữ viết kia (của quá khứ cũng như hiện tại), chỉ mang vác ý hướng duy nhất: Xiển dương Tính Thiện cho dù được viết trong bão táp lửa đạn hoặc nỗi chết. Đơn giản hơn, đấy là những “Việc Thiện” nhỏ bé mà đứa trẻ coi như là nghĩa vụ thường ngày đối với một Hướng Đạo Sinh. Bản thân cũng chưa hề đòi hỏi, tranh chấp cùng ai (kể cả đối với người cộng sản) về những mục tiêu quyền lực chính trị lẫn kinh tế; cũng không gây vướng bận, choán chỗ, vị trí công, danh trong văn chương, học thuật để gây phiền lòng đến những “nhà” nghiêm khắc và khó khăn của lãnh vực nầy. Trước sau, chúng tôi chỉ là “Người Lính dụng chữ nghĩa nói về Nỗi Đau” về từng ngày sống trên quê nhà lậm Khổ Nghiệp. Chuyện khổ đau làm sao nói đến cho cùng. Công việc người lính, nói rõ ra chỉ để nhẹ đi phần phiền muộn. Khi một người ở vào tình cảnh phải bật khóc, (lại là gã trai trẻ, lính tráng) ắt hẳn hắn ta đang ở thế cùng chứ đâu để mở mặt trận tấn công, tranh chấp cùng ai?! Thế nhưng, chúng tôi chỉ nhận lại sự đánh giá “không công bằng”. Số đông những người cầm bút Sài Gòn, trước 1975 (và hải ngoại hiện tại) có bao giờ nhìn nhận bản thân chúng tôi như là một “văn hữu” thuần thành, chuyên nghiệp của riêng giới họ?! Trước 30 tháng Tư, 75, chúng tôi được gọi là “nhà văn quân đội với ký sự chiến trường ồn ào súng đạn” … Nghĩa là, chỉ xác định về một hạng, thứ “nhà văn hạn chế”, thành viên của một tập thể không có khả năng, cũng không là đối tượng văn học nghệ thuật. “Nhà Văn – Một vóc dáng cao xa. Ở nơi bí ẩn nào khác!”. Và hiện nay, ở Mỹ là: “… Một loại thứ văn chương HO nhàm chán thiếu chiều sâu trí tuệ, sáng tạo”. Chén đắng “không tử tế” nầy cần phải nói lại đầy đủ để hiểu:” Lần hạ nhục khởi đi từ 23 tháng Tư, 1995 tại Houston, lây lan tiếp theo khắp nước Mỹ, tràn tới những nơi đông Người Việt cư ngụ, cũng là những chỗ “Người Lính- Người Tù-Người Viết Văn” dự định đi đến” … là hệ quả tất yếu của một vấn đề tệ hại vốn dĩ có sẵn. Tất cả chỉ là “lần nối dài” của hiện tượng hằng có từ trước 1975, với mặt trước chiến tuyến là người cộng sản (tất nhiên) và bên nầy … (Xin phép vận dụng sự thẳng thắng cần thiết, cho dù gây mối cay đắng nhức nhối, không ai muốn nhận ra).

Vâng, bên nầy hướng tấn công, sau lưng chúng tôi, không ai khác, những người luôn nại đến những điều linh thiêng- Những “siêu yếu tố luôn được lợi dụng” bởi không ai bảo chứng, kể cả những những kẻ tráo trở vô lại làm điều bội bạc, bất lương; những tên tham nhũng phá nát toàn bộ hệ thống kinh tế, tài chánh quốc gia; những kẻ gây điêu đứng vận mệnh, chủ quyền đất nước- Đấy là hai trụ cột “cứu nguy”: “Lập trường Quốc Gia Dân Tộc; Tập thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà”. Kẻ cầm quyền cộng sản hiện nay ở Việt Nam cũng đang làm công việc tương tự nhưng với những danh hiệu cũ kỷ khác … “nhân dân, chủ nghĩa xã hội, độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng”. Những người (của cả hai “phe”) tham dự vào lần “đòi ném đá” (nói theo cách Bùi Bảo Trúc) lên “Người Lính- Viết Văn- Bị Cầm Tù”, quả tình chiếm thế thượng phong áp đảo trong trận đánh không cân sức vừa kể ra. Về phía cộng sản, họ có tỷ lệ thắng lợi quyết định rõ ràng hơn. Tuy nhiên, cả hai đều không tiên liệu được một điều: Cá nhân bị hạ nhục kia Có Bạn.Bằng Hữu bốn phương đứng đủ sau lưng hắn. Những Người Bạn đã cùng qua sống – chết.

Chúng Tôi đã từ rất lâu Bị Hạ Nhục,

Chúng Tôi vẫn từ lâu ở Vị Trí Chiến Đấu,

Bởi,

Chúng Tôi Có – Bạn.

Chúng tôi có Bạn. Những người đã từng gọi nhau bằng tiểu danh “thằng Rô, cu Lớn, cu Lé … ”. Người đã tham dự vào những trận “huyết chiến” với súng trường làm bằng bẹ chuối; gươm đao là ống đu đủ. Người khám phá được “bí mật” về chấm nốt ruồi nằm ẩn sâu trong con ngươi mà chính kẻ sở hữu kia cũng không hay biết. Người chứng kiến lúc những sợi tóc xanh đầu tiên chuyển màu trắng bạc, nhận ra nét mệt mỏi của Bạn trong giấc ngủ bất chợt sau bữa rượu hiu quạnh. Đấy là Hồ Công Lộ nơi cuối cùng Nam bán cầu, ở chấm nhỏ tận sâu thế giới, chốn có màu phượng đỏ như sân cát trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng và mùi gió biển thổi đến từ Tiên Sa, Mỹ Khê, Mỹ Thị. Trong tâm cảnh như thế, nên giữa giờ Giao Thừa, Bạn chợt hỏi: “Ông nhớ mình ăn tết cuối cùng với nhau, đến bây giờ là bao lâu”. Anh trả lời: “Lúc ấy, nhà ông vừa dời xuống Trẹm, cuối 1959″. Tiếng nói chìm xuống bùi ngùi … “Ừ, vậy là ba mươi sáu năm … ”. Đấy là Trịnh Diệu Tân với lời bật khóc: “…Cầm tay bạn, tôi có cảm giác như chạm phải những nhánh nè khô ở ngoài mình…”. Và một thân đàn bà gầy yếu, Võ Thị Thương tám giờ lái xe qua bão tuyết, đến cho kịp giờ họp mặt, để nói được câu ngắn ngủi: “Bạn tôi gọi thì tôi đến. Bốn mươi lăm năm mong thấy lại một lần nầy”. Tôi phải viết hẳn một bài riêng hoặc một cuốn sách mới nói hết chuyện về, của mỗi người, những NBTrạc, BNTô, VNChiêu, TTHải, Tuấn, Thảo, Bình … Kể hết trang giấy nầy liệu đủ tên chăng?

Ba mươi, bốn mươi năm … Đến một lúc nào đó, với những dáng hình ân cần ấy, ta thấy hình như “chính bản thân mình”– Là Chính Ta Không Biến Đổi.

Chúng tôi đã cùng với nhau đêm di hành qua núi đồi Đà Lạt đẫm sương mù và mưa khuất mặt, vùng rừng nức hương nhựa thông, ánh lửa mục tiêu sáng hồng vũng đêm dọi bóng bạn xuống bạt ngàn cây lá. Chúng tôi đã cùng với nhau chìm trong dòng nước đục ngầu, mùi bùn đước ngùn ngụt bốc lên xám tối vàm sông, mờ khói sóng biển Đông ngày giáp Tết. Nửa thân dầm nước bạc, nửa thân trần, tay giong súng lên cao, đám lính trẻ cười vui như đang trong hồi thích thú … Không một ai chạnh nhớ … Đang là chiều cuối năm … Mái ấm gia đình. Một buổi bình yên đoàn tụ … Bởi chúng tôi đang hân hoan trong Muà Xuân Bằng Hữu cuả riêng tuổi trẻ không hề tàn luị. Quả thật không hề mất đi tiếng cười thanh xuân hào sãng kia, dù hôm nay, trăm, ngàn người tuổi trẻ cuả ngày ấy, lượng vắng mặt đã quá phần đa số. Những Lô, Thông, Mễ, Lạc, Tâm, Túc, Trang, Đức, Cần … Tên người sống kẻ chết lẫn vào nhau. Bởi, chúng tôi luôn nghĩ về Bạn như một người đang sống đây, dù đã bao lâu không thấy mặt và cách bao xa.

Nhưng Bạn Lính không chỉ là những người cùng chung lứa tuổi, cùng khoá sĩ quan, cùng Trường Võ Bị. Có hằng hà cả triệu quân lực, của hết Bốn Vùng Chiến Thuật. Nầy, Đào Văn Năng, Biệt Động Quân số 103, Khóa 12 Rừng Núi Sình Lầy, người lấy khẩu AK 47 đầu tiên ở chiến trường Miền Đông, Đồng Xoài, Bình Dương, tháng Năm, 1965. Cũng là người chiếm hàng đầu “phạt trọng cấm” của một triệu quân lực Miền Nam; thâm niên cấp bực trung uý đáo hạng bảy năm. Tôi đứng bên cạnh không nhận ra, nhìn xuống khối bông băng lỗ chỗ những vết nám đen vì khói đạn rây khô cùng máu đọng. Đấy, thiếu uý Vũ Văn Bắc hai mươi tuổi, ở pháo binh Dù. Bắc đi lính vì không chịu nỗi tình cảnh quảng đường từ nhà đến giảng đường trường Luật. Từ Bà Quẹo Bắc phải qua Trại Hoàng Hoa Thám, bản doanh Sư Đoàn Dù; Trại Phạm Công Quân, Tiểu Đoàn 3; Trại Nguyễn Trung Hiếu, Tiểu Đoàn 1 … Có nghĩa, Bắc phải chứng kiến hằng ngày những xe GMC từ những nơi ấy đi ra đường phố Sài Gòn, hướng về Biên Hoà, nơi Nghĩa Trang Quân Đội. Trên xe, chiếc quan tài phủ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lắc lư … Người vợ xỗ tóc gục đầu trên nắp áo quan, đứa bé ôm ảnh cha ngồi ngó mông xuống lòng đường ầm vang xe máy. Không ai vội lướt nhìn lên. Bắc không đành lòng với cách lãnh đạm tàn nhẫn nầy. Bắc đi lính năm 1972 vì sách “Mùa Hè Đỏ Lửa” nói thật những chuyện nhỏ bé bi thiết đó.

Có hằng trăm, ngàn người tuổi trẻ vào lính trong những năm 70, dù rất nhiều người được tình trạng hoãn dịch.

“Người Lính-Viết Văn” viết về họ chứ không ai khác. Phải viết hết những Bạn Lính của mình. Công việc nầy là một bổn phận rất cảm động và đáng tự hào. Nhưng Bạn Lính không chỉ có cùng nhau khởi đầu lãng mạng, nhiều xức cảm, trí tuệ ấy. Bởi sau quyết định dấn thân vào chốn nguy nan kia, người Bạn Trẻ cùng chúng tôi hiểu được ra rằng, lần hiểu biết cũng là lúc tham dự trực tiếp vào những giờ phút khốc hại, mà dù trí tưởng tượng phong phú bao nhiêu cũng không có khả năng dự báo, chuẩn bị theo kịp. Đấy là, khi nằm ép mình sau mô đất, nhìn từ gốc cao su đến bờ rừng ngặt nghèo kia … Nơi xuất phát những tiếng nổ sắc gọn … Khô đục của AK, âm độc địa của thượng liên nồi … Cũng là lúc hiểu với nhau rằng, tự thân mỗi người đang có cảm giác lạnh. Lạnh đến phát run dẫu trời hạ chí Miền Nam hun hút lửa. Chúng tôi đã cùng nhau qua phút giây ngắn ngủi nhưng tưởng chừng thiên thu không đứt đoạn, không kết thúc ấy. Tiếp sau đó, cùng lần xốc dậy, giọng vỡ ra khàn đục những âm thanh khô rốc, hoang dã …. X … ung … xung … ph.. ong … Chúng tôi cùng lật bật chạy trên mô đất, ruộng lúa, gò cát, hố hầm săn sắc … vướng vít … Và bỗng nhiên có người ngã xuống … Thân hình quật ngược trên đất. Giây ba chạc đeo đạn bị bứt tung. Người bị nạn luống cuống những ngón tay trên ngực, nơi vết thương đang ứa thẫm, máu theo lỗ thủng từng giòng, từng chập tràn loang, sũi bọt … Đích thân …. đích thân … tui, tu .. i bị thương …!! Mắt Bạn hốt hoảng, quanh quất, tìm kiếm … Bỗng nhiên ánh mắt kia dịu xuống … Bạn thở hắt, nói nhỏ … Đích … thân … đích thân … đừng … đừng bỏ e .. em …

Chúng tôi hằng sống với Bạn như thế cho dẫu mười, hai mươi năm xa. Cho dẫu hai vùng địa cực. Cho dẫu nửa vòng trái đất. Đã mất hẳn vũ khí. Quân phục bị xé bỏ …Anh đã sống như thế với Thái “tây lai”, Ngọ “bài cào”, Cảnh “kèn”, Binh nhất Thiên, Hạ sĩ Hùng … Mà hơn ba mươi năm, khi nhận được lá thư, gởi đâu từ một ấp nhỏ ở Xuân Lộc, Long Khánh, Hùng vẫn nhắc lại cái hôm đóng quân nơi chợ Sịa … Anh đau thắt thật sự bởi kết luận cùng đành … Anh em khổ quá “đích thân” …Chúng tôi cũng đã sống như trên với Nguyễn Văn

Phán, Trần Như Hùng, Nguyễn Tiến Việt, Cao Xuân Huy, Nguyễn Tường Phong, Lê Xuân Nhị, Đào Quang Vinh, Đại Dương … Chúng tôi hằng sống như thế với mỗi Người Bạn Lính. Cảm động và sâu xa hơn … Chúng tôi cũng đã sống với nhau qua “cảnh chết- trại tù”. Cảnh địa ngục im lặng có thật mở ra từ đêm trước ngày hành quyết Lê Đức Thịnh, 16 tháng Tư, 1976, Long Giao, Long Khánh. Tổ, đội năm mười người; vài ba trăm của từng nhà, từng láng; ngàn, chục ngàn con người đồng nín thở thì thầm … Bao giờ … Bao giờ … bao giờ … bắn?! Mặt trời đầu mùa Hè xuống sau rừng cây cao su; mặt người ráng pha như máu thấm. Những con mắt láo liên, nhìn quanh quất như đã thấy tượng hình cái chết. Chết, ngày trước chúng tôi hằng sống cùng nó và đủ sức đương cự. Nhưng lúc ấy, trong tay có cây súng, tạo nên mối tự tin bình yên như lần lên máy bay với chiếc dù sau lưng. Nay cảm giác an toàn kia không còn. Cây súng đã bị đập vỡ. Chúng tôi tê liệt, co rúm, hoàn toàn trần trụi trước dãy giao thông hào sâu ba thước, bề ngang hai thước, đào lẫn khuất dười tàng cây, vòng quanh khu kho đạn, những nơi phải tinh ý lắm mới nhận ra. Thật đúng vị trí cho một hệ thống mộ tập thể. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Không một lời. Tình cảnh của đám người Do Thái dắt díu nhau, trần truồng bước vào phòng hơi ngạt … Như những ngày Mậu Thân, khi người cộng sản cần an toàn chính trị, bảo vệ tuyệt đối quyền lực. Trong những giờ phút trắng nhợt lặng lẽ kia- BẠN là nhu cầu sinh tử, không là cha, mẹ, vợ, con. Chúng tôi sống với nhau qua từng giây siết ngặt ấy – Với Nguyễn Xuân Trung, Trần Tử Thanh, Hà Khắc Quỳnh, Cao Xuân Hiệp, Nam “râu”; Hưng “híp”, Trọng” đểu” … Những người cho thêm khí thở từng hơi ngắn. Phải. Anh không hề nói quá lời. Ngày Hè, 1976 Anh và Bạn thở như cá vất lên bờ. Cũng những con mắt đỏ qua từng đêm trước ngày 19, tháng 6- Ngày Quân Lực- Cũng ngày xuống tàu Sông Hương đi ra Bắc. Trong toa xe kín cửa, chiều tối 23 tháng 6, anh tì cằm, thở trên vai bạn từng hơi ngắn .. Không can gì … Không can gì … Cầu Chúa đi …Một người nào đã nói. Bạn Tù!! Tiếng vỡ oà thống khoái của những người đang cùng dưới đáy vực. Người bình thản chia nhau hơi thuốc trước khi mở ra cánh cửa thống khổ, hiện thực cảnh địa ngục nơi trần thế. Đấy là khi anh cùng Thảo Trường chia nhau nhúm lá xanh xanh gọi là “thuốc”, thở hơi khói, quấn ống quần, cột con “dao tông” vào hông, bắt tay nhau, nói lời ngắn: “Gặp như thế nầy là biết đang còn sống. Phút tới, ngày mai, đi đâu, như thế nào … đếch cần biết”. Xong cả hai chui vào khoảng tối màu xanh lục đậm gọi là “vũng giang”. Phải, chỉ chui được như một loài bò sát mõng dẹp bởi vũng giang thuộc loại cây rừng thiên cổ, do từ khi có sự sống trên quả đất, nơi đây chưa hề có hơi người. Cũng không hề thấy dấu vết của loài thú bốn chân. Cùng lúc hiểu ra ý nghĩa của từ “gian nan” – Gian nan hoá ra là thế nầy thôi … Là trong vũng giang!! Ý nghĩ xen lẫn bồi hồi vì đột nhiên nhớ tới Bạn: “Không biết ông ấy có chịu nổi không; ông ấy là lính tham mưu, lại lớn tuổi hơn mình? Lúc ấy, mùa Đông, 1976. Mười hai năm sau, chúng tôi gặp nhau lần thứ hai. Gặp Thảo Trường đang trong trạng thái “hồn ma dương thế, … Kiến … kiến … giết nó đi .. Bạn chỉ vào cốc sữa nơi tay anh. Bấy giờ cũng là mùa Đông, năm 1988. Chúng tôi đang qua năm tù thứ mười bốn. Đố ai biết bạn anh phải thêm một hạn tù ba năm nữa. Chỉ chúng tôi sống với nhau. Cũng chỉ mỗi mình anh Với Bạn nơi ranh giới sống-chết lặng lẽ kia. Khi Bạn lên cơn sốt vỡ máu óc.

BạnTù là tiếng nói thì thầm thúc dục, giữ gìn, nâng đở vọng từ mông mênh đặc kín tầng đen, vào một giờ khắc không xác định, của một ai đó không quen .. anh … anh ….. na .. m … nam … ăn đi … có anh .. e .. m … c .. ó … vớ … i … an .. h .. “.Âm sắc người Miền Nam đưa dần anh qua hấp hối, hôn mê sau trận đòn mở đầu kỳ kiên giam, sau bảy ngày nhịn ăn để đợi … chết. Anh đã sống trong tình cảnh linh diệu đó với Biệt kích quân Hà Sơn, Nguyễn Công Thành, với Trần Văn Chí, Khoá 11 Quốc Gia Hành Chánh, với Cao Văn Bảy giáo sư Petrus Ký … Ngày cận kề, đi vòng về bên kia. Sau cái chết. Tháng Hai, 1979. BạnTù- Là nguyên nhân gây xúc động trưởng chừng kích ngất của một lần nơi khám tử hình trại Nam Hà, sau tám năm kiên giam kể từ 1981. Khoảng thời gian quá dài để không nhớ được rằng đã có lần ” Ta Có Bạn”; bởi kể từ thời gian xa xôi kia, ngày 25 tháng Tư, 1983, khi nghe ngoài cửa phân trại C, trại 5 Lam Sơn âm thanh, tiếng nói   Người Miền Nam lần cuối … Giọng Quảng Ngãi, Trần Xuân Lợi TQLC; cách gằn chữ của Phan Giỏi Sư đoàn 2 Bộ binh, người Quảng Nam … Để biết, vậy là Bạn đi về Miền Nam, mình ta với đơn độc ở lại – Cách chết sống im lặng nơi những phòng giam không mối nối với loài người, giữa những đồng bào cùng chung huyết tộc. Kể từ đấy đến hôm nay, 1988, nơi trại Nam Hà nầy … Lâu quá … mình không có bạn, không được nghe “người trong mình” ... Anh đã tán thán nhiều lần như thế giữa vũng tối, tại những hầm kiên giam chưa kịp xác định vị trí đã phải vội di chuyển đi nơi khác. Thế nên, vào buổi bất ngờ kia … Người đi sau gã tù trật tự đột nhiên cất tiếng:” … Nam … Nam … Tôi đây!!” Và người ấy cất chiếc nón lá … Ô .. Anh … anh … Uỷ!! Anh cầm tay BẠN … Vâng. Đây là Con Ngừời. Đây là Người Bạn. Anh biết nói gì hơn?! Cuối cùng, Bạn không phải chỉ giới hạn giữa những người đã một lần quen biết do chung số tuổi, chung màu áo lính … Người có thói quen về bữa rượu; người chia sẻ một hoàn cảnh từ tội ngặt nghèo … Không chỉ là thế, hoàn toàn ra khỏi mọi dự tính khi quanh anh có một tập hợp lạ lùng đa dạng vì tình cảnh: Người Bạn nầy là một khác biệt hẳn đối với một Người Bạn kia! Giữa những Bằng Hữu ấy không hề có chút tương đồng cho dù với một mẫu số chung nhỏ nhất. Bởi cô Đặng Hoà Bình ở Virginia có giải thích: “Tôi rời Việt Nam trước 30 tháng Tư với Mùa Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số I … Là những gì quý nhất trong những kỷ niệm một đời tôi ở Việt Nam. Ông chẳng biết tôi là ai, nhưng vì là một người đọc sách, và cũng là một trong những người được hưởng an bình nhờ công lao chiến đấu của ông và những người lính khác. Nên tôi thấy có bổn phận phải nói lên ý kiến dù không ai hỏi tới. Sự Hy Sinh của Người Lính không có gì đền bù được …”. Cùng lúc, người lớn tuổi Tôn Thất Đàm, 14592 Sheffield St, Westminster thì viết nên lời xót xa: “Tôi ấm ức mấy ngày, đi ra đi vào tức bực. Tôi nói với nhà tôi: “Tại sao con người có thể đối xử với nhau “ác” đến như thế. Người ta có thể bôi lọ nhau vì miếng cơm manh áo, chức tước hão huyền … Nhưng trên bình diện tư tưởng thì chớ. Đừng PHẠM VÀO TỘI ÁC …”. Người Bạn của anh cũng không cần phải có một số tuổi ấn định nào đó mới cấu kết nên mối cảm thông. Thế nên, dù là cậu bé còn trong độ tuổi thiếu nhi ngày rời khỏi nước, Lê Thắng Tiết ở Montréal đã làm một công việc đầy cảm khích, phát xuất từ lòng trung nghĩa, biết hàm ân: “Em tập trung những huy hiệu của các đơn vị Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, để nhớ các anh, cha em, chú em đã chiến đấu dưới những phù hiệu nầy cho Miền Nam. Em sưu tìm nó từ lúc em bắt đầu có suy nghĩ, nghĩa là từ khi đọc cuốn sách tiếng Việt đầu tiên, cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa của anh.”. Phùng Minh Hải Ohio, thì có cách biễu lộ thắm thiết riêng:”Em lái xe từ trên đó xuống đây, Trại Hè VềNguồn VI; tháng 9, 1995 Tennessee hơn sáu giờ, dự trại nầy để nghe anh nói chuyện, xong đêm nay em trở về đi làm ngay”. Hải lục hết các túi, đếm đủ tiền cho hai cuốn sách, lột chiếc đồng hồ trên tay:” … Anh là người không hề có tiền … Cho phép em … “.

Anh cười gượng, bởi cảm xúc quá lớn:”Không đúng thế đâu; trái lại anh là người “giàu nhất”. Có Nhiều Nhất”.

Bữa cơm trong căn nhà “đầm đìa việt nam”, mà có một lúc, anh nghĩ đang ở Phú Nhuận, Bà Quẹo … Bởi màu lá cây đong đưa trong không khí gây gây rét … Khối không khí tỉnh lạnh của 1966 qua 67, nơi vườn cau Bình Trị Đông, cạnh con kinh loáng sáng phản chiếu lên những trái bần xanh … Anh nghe ra mùi nắng, gió, bãi ruộng đã gặt nức bùn non chưa khô vỡ đầm đìa cùng hương sắc thăm thẳm Miền Nam rộ vàng Mai ngày Tết … Nhưng thật ra bởi cử chỉ, tiếng lời của Bạn … Một nhân dáng võ thuật chuyên nghiệp chân truyền, nên dẫu to lớn, thô tháp, vạm vỡ vẫn chắc vững, nhanh gọn. Và tiếng lời thì đúng của một người đang trong cơn hoan hĩ cùng cực của buổi “… Bằng hữu tự viễn phương lai bất diệc lạc hề …. Nào, nào … mời … Bác. Nào, ông xơi hộ tôi. Nào … ông với tôi ngờ đâu có được ngày nầy. Ông nhớ chứ … Năm ấy … ở Bà Rịa, ở Vũng Tầu .. ” Trần Huy Quyền cho anh sống lại đủ ngày vui của lần vừa qua hai mươi tuổi. Anh luôn linh động trẻ trung với Bạn. Cả hai không hề nghĩ ra … Qua Tết nầy là đã “quá ngũ tuần” …

Chiều cuối năm, Melbourne chợt lạnh bởi cơn gió thốc lên từ đia cực, thổi bay mái tóc nâu nhạt cuả Trần Như Hùng đang lóng coóng bế con nhỏ trên tay; Lê Đại Lãng cho tay vào túi lấy bao thuốc, mắt cúi xuống, di di chân trên nền đất; lời nói đuà thường lệ bỗng tắt ngang. Hai cô em, vợ Hùng và Lãng, chỉ chỏ những nhà lầu không có gì đổi khác. Bỗng tất cả động tác, lời nói đồng lần chùng lại …. Bé Ti hôn bác đi … Người lớn cất dấu, chuyền cảm xúc qua con trẻ. Anh lên xe, mắt nóng cay. Bởi, mấy mươi năm nay anh luôn đi một mình. Ngày anh rời đất Úc, có mặt đủ hết bốn ông, bốn bà Khoá 18; ba vợ chồng Khoá 21 và bốn cháu nhỏ. Nghiã là, hai thế hệ Võ Bị và ba thế hệ thương yêu. Anh hoàn toàn quên mất sự việc: “Những người mở đầu trận “đánh” ở Houston cũng thuộc những khoá 18 và 21 nầy”.

Nên,

Xin được nói lời cuối với Thật Lòng Hãnh Diện:

Tôi Là Một Người Việt Nam Vinh Hạnh.

Tôi Có Bạn.

11 THÁNG 1, 1997.

Một Năm Sau,

Từ Đất Bình An – Úc Châu.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment