This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nếu hiện tượng các nhạc sĩ chỉ viết có một bài duy nhất đôi khi gây thắc mắc thì trường hợp Trần Văn Lý có thể làm người ta ngạc nhiên. Bởi vì tên tuổi ông gắn liền với sinh hoạt của nền tân nhạc Việt Nam và nhất là ở miền Nam một thời. Ông là nhạc trưởng của nhiều ban nhạc cộng tác với các đài phát thanh, các hí viện, vũ trường, các hãng sản xuất đĩa hát …. và hầu hết các ca sĩ nổi danh lúc bấy giờ đều làm việc mật thiết với ông. Nghĩa là mọi điều kiện đều thuận lợi để ông sáng tác. Vậy tại sao Trần Văn Lý chỉ viết có một bài Mẹ Ơi!
Nhớ lại những buổi trình diễn tân nhạc tại các rạp ở Sài Gòn thuở ấy, khi khán giả đã đến đông đủ, các nhạc sĩ trong ban đã tề tựu đâu đó với các nhạc cụ đã chuẩn bị xong xuôi, so dây, thử tiếng rồi, người ta mới thấy vị nhạc trưởng từ ngoài cửa đi vào hoặc từ hậu trường sân khấu bước ra, ngồi xuống chiếc ghế trước dương cầm. Cây đàn, vài phút trước vừa được một người nào đó kéo tấm khăn che và mở sẵn nắp phím, sắp xếp lại những bản nhạc đặt trên giá. Nhạc trưởng Trần Văn Lý, khi mặc đồ lớn thường, khi mặc bộ đồ đuôi tôm, tùy theo các buổi trình diễn lớn nhỏ, ngồi xuống ghế và lập tức lướt tay trên hàng phím, và, các nhạc sĩ đã quen với lối làm việc, nhập vào cuộc hòa tấu ngay.
Tất cả mọi sự có một vẻ gì đó như như người ta thường nói “nặng phần trình diễn”, nhưng phải nói, dường như nó cũng góp phần làm cho thái độ thuởng ngoạn của khán giả nghiêm chỉnh hơn.
Những ca khúc duy nhất của một người hình như luôn mang trong nó một niềm bí ẩn, tựa một đám mây, một cơn gió, một lời nói chưa hết ý, một khuôn mặt người ta tình cờ bắt gặp trong đời, gần như không có liên hệ gì với mình, nhưng bỗng có lúc, không vì nguyên cớ nào cả người ta bỗng nhớ lại và chợt thấy lòng bâng khuâng.
Mấy tháng đầu, con đi du học xa vắng, trong thời gian đó Vương hổ tướng ở nhà tiễu trừ bọn giặc cướp. Khi chàng đã diệt trừ hết, kịp đến vụ lúa chín, dân đã có cơm ăn lúc đó đang giữa mùa thu, khí hậu ôn hòa, gió không lạnh lắm, nắng cũng không gắt lắm, chàng đem theo một nửa binh đoàn đi thị sát khắp vùng, ý chàng muốn khi nào con chàng đi du học về mọi việc trong ngoài đã được xếp đặt hoàn hảo. Chàng dự tính sẽ nhường chức đại tướng, tổng chỉ huy binh đội cho con, giao phó hết binh đoàn cho con, còn chàng chỉ giữ lại ít vệ binh.
Năm đó chàng đã năm mươi lăm tuổi, con chàng hai mươi, ngồi trên lưng ngựa chàng mơ màng, mộng tưởng thấy thằng con trai của chàng, nhưng sự thực với hai con mắt nhẫn nhục chàng chỉ thấy có đám nông dân với cánh
đồng lúa chín. Tuy nạn đói đã qua, song phong cảnh cũng như nhân vật hãy còn in dấu tích của hai năm thiên tai hồng thủy. Ruộng đất tuy có tốt nhờ đất phù sa, song vụ gặt năm nay muộn hơn mọi năm, nông dân người nào hai má cũng hóp, còn rất ít người già trẻ nhỏ.
Cuộc nhân sinh lại được tiếp diễn, nhiều đàn bà đã có thai, bụng đã to, chàng thấy sự phồn thịnh rồi sẽ trở lại, sự nhận xét như an ủi lòng chàng, trầm ngâm suy nghĩ, tự nhủ:
– Chắc Trời gieo tai nạn để cho ta biết cảnh khó khăn là thế nào, mấy năm gần đây ta thấy mọi việc trôi chảy dễ dàng quá. Có lẽ là một cuộc thử thách của Thượng đế kích thích cho ta còn làm lớn hơn nữa, ta đã có một đứa con nối nghiệp, nó sẽ thụ hưởng tất cả sự thành công, kết quả ta đã gom góp
được.
Trong cuộc đi kinh lý chàng đến một tỉnh mà xưa kia chàng đem quân đến vây hãm, chiếm đoạt, chàng để thằng Rỗ, cháu chàng thay chàng trông nom cai quản ở đó. Vương hổ tướng cho người vào trước báo tin chàng đến kinh lý.
Bây giờ thằng Rỗ không còn là một thanh niên, nó đã hẳn là một người lớn, lấy con gái người dệt lụa và đã sinh hạ được một hai đứa con. Khi nghe tin chú đi kinh lý, đã đến ở ngoài tỉnh, nó hết sức kinh ngạc, luống cuống. Mấy năm nay nó sống một cuộc đời êm đềm, bình thản, đến mực nó quên phứt nó là một quân nhân. Bản tính vui vẻ, dễ dãi, ham chơi, ưa mới lạ nó thích sống ở đấy, vừa sung sướng vừa có quyền thế, kẻ vì người nể. Ngoài công việc thu thuế, nó không phải bận bịu; có công việc gì khó khăn nặng nhọc đâu nên người nó mỗi ngày mỗi phát phì.
Mấy năm sau, nó trút bỏ cả quân phục, ăn mặc thường dân, trông như ông chủ nhà buôn, giàu có, trưởng giả. Nó quen thân với các nhà buôn trong tỉnh, nên mỗi lần đi thu thuế cho Vương hổ tướng, theo thói quen của các nhà buôn, có chút tiền trà nước, nên nó cũng có lợi riêng. Nó đã lấy danh hiệu Vương hổ tướng đặt thêm một vài thứ thuế nhẹ vào những món hàng mới lạ. Bọn con buôn biết cũng không ta thán, họ biết sự khuất tất đó, có lợi, ai cũng làm, họ lại còn lấy lòng nó, thỉnh thoảng biếu xén, ai cũng biết nó có quyền làm phúc trình lên chú nó nếu để mất lòng nó, có khi còn bị thiệt hại hơn.
Khi nghe tin chú đến, nó vội vàng giục vợ lấy ra một bộ quân phục. Bao nhiêu quân phục của nó, vợ nó đã cất kỹ trong rương. Nai nịt xong nó gọi hết cả tụi lính ra xếp hàng ở ngoài sân. Bọn lính cũng được ăn uống, chơi bời, nó dùng làm đầy tớ, không còn ra dáng lính tráng binh đội. Khi nó xỏ hai cái cẳng chân béo mập vào chiếc quần nhà binh cũ, nó nghĩ thật chán phải đeo bộ quần áo khổ cứng nhắc. Bụng nó bây giờ cũng to lớn, không sao kéo hai vạt áo kín bụng, nó phải đeo một chiếc dây lưng lớn để cho khỏi hở. Khoác bất đắc dĩ bộ quân phục nhá nhem cho xong, xếp bọn lính hàng ngũ qua quít cho xong, bây giờ yên chí chờ Vương hổ tướng đến thị sát.
Chỉ ở đó vài hôm, chàng hiểu rõ hết nội tình và ý nghĩa những bữa tiệc linh đình các nhà buôn trong tỉnh và ông Phủ tiếp đãi chàng. Chàng biết thằng cháu phải đeo bộ binh phục lấy làm bực bội khó chịu lắm, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nóng quá nó nới dây lưng, chàng biết áo chật không gài được khuy để hở cả bụng, chàng mỉm cười chua chát và nghĩ thầm:
– Ta nghĩ cũng đáng mừng đứa con trai ta dáng điệu đường hoàng không như thằng này con anh ta, thật giỏ nhà ai quai nhà ấy đúng con một anh lái buôn.
Chàng đối với cháu có vẻ thờ ơ lãnh đạm, không một lời ban khen úy lạo, chàng nói vẻ lạnh nhạt:
– Mày trông nom tập luyện bọn lính thế nào mà tụi nó chưa biết cầm súng ra làm sao. Bọn này cần phải thao luyện cho ra mặt trận. Sang năm mày còn chờ gì không mở một mặt trận để cho tụi này đi cho nó quen.
Thằng Rỗ nghe chú nói toát mồ hôi, nó ấp úng mấy câu trong miệng. Kể ra thằng này nếu có ai hướng dẫn, chỉ bảo nó cũng không đến nỗi hèn kém, có thể là một quân nhân, nhưng nó không phải là hạng có đủ tư cách có thể cầm quân điều khiển, có uy phong cho kẻ dưới sợ, bây giờ nó đã sống quen cuộc đời êm đềm sung sướng. Vương hổ tướng thấy bộ dạng nó lúng túng, chàng cười thầm lấy tay lắc chuôi kiếm thét to:
– Mày ở đây quen được sung sướng, tỉnh này xem ra cũng trù phú ta cho tăng thêm thuế. Đứa con trai ta đi học ở miền Nam tốn kém nhiều lắm, ý ta muốn mở rộng bờ cõi cho nó trong khi nó đi du học xa vắng. Mày phải hy sinh chịu khó ta cho tăng thuế nhất bội nhị, mày lo liệu thu hoạch cho ta.
Thằng Rỗ đã bí mật điều đình với các lái buôn trong tỉnh nếu chú nó đòi tăng thuế, nó sẽ hết sức bênh vực, nói ở đây tuy thế làm ăn khó khăn lắm, dân tình đói khổ, nếu nó nói đắc lực, chú nó nghe, bọn lái buôn sẽ nộp cho nó món tiền thưởng. Giờ đây nó nằn nỉ cố trình bày với chú, viện nhiều lý
lẽ, không nên tăng thuế. Vương hổ tướng không một chút mủi lòng, chàng hét to:
– Mày đừng nói lôi thôi, ở đây thế nào tao biết. Không có tội nào nặng bằng bất tuân thượng lệnh, mày là cháu ta hãy ngơ cho lần này, nhưng liệu nghĩ.
Tiếc món tiền thưởng, thằng Rỗ mặt mày nhăn nhó trông rất thảm thiết, nó viết thơ loan báo cho tất cả nhà buôn biết việc tăng thuế, bọn này họp nhau làm tờ điều trần lên Vương hổ tướng.
“… Thưa tướng quân, chúng con nộp không những thuế tướng quân, còn thuế ở tỉnh, thuế của nhà nước. Tất cả các thứ thuế, thuế Tướng quân nặng hơn hết, chúng con buôn bán chẳng còn được mấy lãi”.
Vương hổ tướng nghĩ đã đến lúc phải dùng uy vũ, phải cho họ biết thanh đoản kiếm. Cắt ngang những câu khách sáo rườm rà, không nghĩ ngợi gì chàng nói:
– Nếu tôi nói tử tế không nghe, tôi bắt buộc phải dùng uy lực.
Với những thủ đoạn đó, chàng trừng phạt thằng cháu tuy chàng vẫn để cho nó tại vị. Với những thủ đoạn đó, chàng đã củng cố địa vị trong tỉnh và toàn hạt. Khi mọi việc đã xếp đặt xong xuôi chàng trở về nhà chờ hết mùa Đông
chàng cho thám tử đi dò la tin tức, chàng tính toán xếp đặt kế hoạch. Chàng mơ vọng mở những cuộc chinh lược đại quy mô vào đầu mùa xuân tới, chàng mơ ước, tuy đã có tuổi, song còn đủ sức chiếm đoạt toàn tỉnh cho con.
Suốt cả mùa đông năm đó Vương hổ tướng lúc nào cũng mơ màng ước vọng đạt được mục đích. Chưa có mùa đông năm nào mà chàng lại cảm thấy vắng vẻ, cô đơn hơn năm đó nên chàng hay lui tới thăm nom hai vợ. Tuy đến nhà hai cô vợ chàng không thấy hứng thú, vui thêm tị nào, ở đấy chỉ có cô vợ mù chữ ở với mấy đứa con gái. Chàng không biết nói năng chuyện trò gì tuy là vợ con. Lắm lúc chàng nghĩ không biết cô vợ kia bây giờ thế nào, đi vắng đã bao nhiêu năm nay chàng chỉ biết cô này ở với con gái trong một căn nhà gần trường con học.
Đã có một lần cô vợ này có gửi cho chàng tấm ảnh cô và con gái chụp chung, chàng có cầm ngắm xem một lúc. Trông ảnh đứa con chàng đã lớn, người đẹp lắm. Con bé có vẻ tự do, lãng mạn, hai con mắt đen nhánh với bộ tóc cắt ngắn. Chàng không tưởng là con chàng, con bé này vào hạng gái tân thời, hay cười, hay nói liến láu. Chàng nhìn cô vợ lâu hơn, chàng làm như chưa quen biết bao giờ, chàng quên cả những đêm chàng vẫn lại với nàng. Chàng nhìn người trong ảnh, người trong ảnh cũng nhìn chàng, chàng cảm thấy khó chịu như khi xưa đứng trước mặt nàng, nàng như muốn nói gì mà chàng không muốn nghe, như nàng muốn cầu khẩn gì mà chàng không để nàng được thỏa mãn. Không muốn nhìn lâu nữa, chàng cất ảnh đi, lẩm bẩm nói một mình:
– Trong đời một người đàn ông không có đủ thì giờ nghĩ đến việc đó. Ta còn có công việc của ta, không có thì giờ hầu các mụ. Chàng thấy phấn khởi tinh thần, chàng cho thế là một nết rất hay, trong bao nhiêu năm chàng không gần đàn bà. Những lúc chàng cảm thấy cô đơn, buồn nhất là những đêm chàng ngồi một mình một bóng ở bên lò sưởi. Ban ngày chàng còn khuây khỏa, không buồn lắm, ban đêm chàng thấy sao buồn quá, âm thầm, cô đơn, như độ nào lúc thủa xưa. Những lúc đó chàng tự hoài nghi, nghĩ mình đã già, không biết đến xuân tới, chàng có làm được việc gì hay ho mới lạ không? Những lúc đó hai con mắt chàng ngơ ngác, miệng mỉm cười chua chát đau đớn, nghĩ mình lại thương nỗi mình. Trong đêm khuya chàng lẩm bẩm:
– Con người ta ít khi đã đạt được, đã thực hiện được những ước vọng của mình.
Một lúc chàng lại nghĩ:
– Một người, khi đã có con, những mưu đồ sự nghiệp có lẽ ba đời sau mới thực hiện hết được.
Chàng có một lão bộc, một người thuộc hạ tâm phúc, anh Sứt Môi, vẫn để ý trông nom chàng. Anh này thấy chủ, đêm khuya khoắt ngồi một mình trước lò than, nghĩ vơ vẩn, ban ngày người mệt mỏi không thiết trông nom bọn lính để cho họ ăn không ngồi rồi muốn làm gì thì làm, anh này bắt chấp cả nghi thức sư đệ, đi thẳng vào buồng chàng đem theo một hũ rượu nóng và ít thịt muối mặn. Anh đon đả vồn vã chuyện trò cố ép chàng uống rượu giải khuây. Có anh lão bộc chàng thấy cũng vui vui, chàng uống một chút rượu, rồi lại uống thêm một ít nữa, trong người thấy khoan khoái dễ chịu đã thấy buồn ngủ. Trước khi đi ngủ chàng nghĩ:
– Đời cua, cua máy; đời cáy cáy đào. Cái gì đời ta chưa làm được, con ta sau này sẽ làm.
Mùa Đông năm đó, chàng đã uống rượu nhiều, chàng không nhận ra chàng chưa bao giờ uống rượu nhiều như thế. Thấy chủ bớt ưu phiền, đã ngủ được, anh lão bộc cũng sung sướng, đắc chí. Khi nào chàng từ chối không muốn uống nữa, lấy tay khẽ đẩy hũ rượu, anh lão bộc lại cố nằn nì, lựa lời khôn khéo nài ép.
– Xin tướng quân uống thêm, khi có tuổi ai cũng lấy rượu để làm thú tiêu khiển, di dưỡng tuổi già. Tướng quân chớ quá câu nệ, buộc mình khắc khổ quá.
Muốn tỏ lòng ưu ái và cho tên lão bộc được vui lòng, chàng cố uống thêm. Đêm chàng đã ngủ được, như trút được nỗi ưu sầu, cô đơn vắng vẻ. Chàng càng tin mãnh liệt vào đứa con độc nhất, chàng tưởng chừng hai cha con chàng không bao giờ có thể có tư tưởng dị đồng, chàng không bao giờ nghĩ tư tưởng, hoài bão của con lại không giống như của chàng. Chàng mong cho chóng hết đông sang xuân để thực hiện chí nguyện.
Chợt một đêm trước xuân, Vương hổ tướng ở một mình trong phòng ấm áp, ngồi tựa lưng vào ghế, thiu thiu ngủ. Hũ rượu đặt trên bàn ngay trước mặt, thò tay với tới, chàng cởi thanh đoản kiếm đeo bên mình đặt bên cạnh hũ rượu. Thình lình giữa đêm trường tịch mịch của mùa đông tháng hạ, chàng đang mơ màng trong giấc điệp chợt có tiếng người, tiếng ngựa lao xao ngoài sân làm chàng thức giấc. Chàng chống hai tay vào thành ghế nhổm dậy, chưa biết tiếng người, ngựa nào, còn bàng hoàng, không hiểu mình
thức hay mê. Chàng chưa kịp hiểu ra sao, đã có người vội vã chạy vào
báo tin:
– Bẩm tướng quân, lệnh lang Thiếu tướng đã về.
Đêm hôm đó, cho đỡ rét, Vương hổ tướng uống rượu nhiều còn đang say chưa tỉnh, chàng đưa tay lên miệng lẩm bẩm:
– Ta đang mơ màng như gặp quân thù.
Chàng cố tỉnh giấc, đứng dậy ra ngoài sân. Ngoài sân sáng rực, dưới ánh lửa của ngọn đuốc, chàng nhận ra chính con chàng. Người tráng sĩ xuống ngựa đã lâu vẫn đứng chờ chàng.
Nhìn thấy cha, tráng sĩ nghiêng mình chào, tuy nghiêng mình chào, nhưng hai con mắt nhìn cha có vẻ lạ lắm, tựa như cừu địch. Sương gió của đêm đông lạnh lẽo, Vương hổ tướng rùng mình thấy rét, co vạt áo lại, chàng lạ
quá, do dự một lúc, hỏi con:
– Võ sư đâu ?… Sao con lại về?
Tráng sĩ trả lời, hai môi không thấy cử động:
– Võ sư với con xích mích, con đã bỏ hắn.
Vương hổ tướng – Pinterest photos/Samurai
Vương hổ tướng đã tỉnh rượu. Chàng đon chắc chắn đã xảy ra một việc gì đây, chàng không tiện hỏi trước bọn lính đứng xúm quanh, chỉ mong được nghe một cuộc đấu khẩu. Chàng quay người đi vào, bảo con theo sau. Hai cha con vào một căn phòng riêng, chàng cho hết gia đinh đầy tớ ra ngoài.
Chàng đứng không chịu ngồi, con cũng đứng. Vương hổ tướng ngắm con từ đầu đến chân, như chưa biết con bao giờ.
Chàng thủng thẳng hỏi:
– Mày mặc quần áo gì kỳ lạ vậy?
Tráng sĩ ngửng đầu, trả lời rất bình tĩnh, tự nhiên, câu trả lời đượm một vẻ ương ngạnh:
– Đây là quân trang của đạo quân cách mệnh.
Nói xong, thiếu niên thè lưỡi liếm môi, đứng ngay trước mặt cha.
Lúc đó Vương hổ tướng đã hiểu, con chàng xuống Nam đã làm gì, hiện giờ đây nó đã trở thành thế nào. Chàng đã hiểu bộ quân trang con mặc, đạo quân miền Nam, một cuộc chiến tranh lối mới mà tiếng đồn đã vang dội đến tai chàng.
Thốt nhiên chàng hét lên:
– Đạo quân đó là quân thù của tao.
Chàng ngồi phịch xuống ghế, tức quá nghẹn thở. Chàng thấy cơn uất hận, phẫn nộ, bừng bừng nổi dậy, như xưa kia đã có một lần với vợ Tám Beo. Chàng nắm thanh đoản kiếm sắc như nước, chỉ vào mặt con hét to:
– Mày là thù nghịch của tao, tao phải giết chết mày!
Nói xong chàng thở hổn hển, lần này chàng uất hận quá thấy người choáng váng, nuốt nước bọt ừng ực.
Giờ đây tráng sĩ không còn e lệ nhút nhát như xưa kia còn ấu trĩ. Vẫn đứng yên trước mặt cha, hiên ngang, bình tĩnh, tráng sĩ cởi khuy, phanh áo giơ chiếc ngực trước mặt cha, nói với một giọng bi ai, sầu thảm:
– Con đã biết cha muốn giết con, chỉ có cách đó để cha giải hận.
Nhìn thẳng vào cha nói tiếp:
– Giết con đi.
Tráng sĩ phanh ngực đứng chờ, dưới ánh nến, nét mặt cứng cỏi hiên ngang.
Vương hổ tướng không có can đảm giết con. Chàng biết chàng có quyền, chàng cũng biết bất cứ ai cũng có quyền giết được con nếu đứa con ngỗ ngược, phản bội, tuy biết vậy chàng không có đủ can đảm cầm dao giết con, chàng vứt thanh kiếm xuống nền nhà, đưa tay lên miệng lẩm bẩm:
– Ta nhu nhược quá … ta quá nhu nhược, một lãnh chúa như ta thật quá nhu nhược.
Tráng sĩ thấy cha lấy tay che miệng, vứt đoản kiếm xuống đất, chàng gài khuy áo, với một giọng rất trầm tĩnh, đứng trước mặt cha, trần thuyết, như đứng trước một lão tướng:
– Thưa cha, con biết cha không hiểu con, bất cứ người nào vào hạng tuổi cha cũng không hiểu nổi. Cha nghĩ xem cha có phải là đại diện cho tổ quốc không? Nước ta bị suy nhược và bị thế giới khinh miệt, cha có bao giờ nghĩ và hiểu không?
Vương hổ tướng rũ lên cười, chàng cố nín không cười ra tiếng, vẫn lấy tay che miệng chàng nói lớn:
– Mày không biết, trước mày đã có người nói với tao thế rồi. Khi tao còn trẻ tuổi … Mày tưởng chỉ riêng bọn trẻ chúng mày mới biết thế …
Nói xong Vương hổ tướng cố rặn ra cười, chàng cười khanh khách, con chàng chưa thấy bao giờ chàng lại có cái cười như thế. Tiếng cười chua chát của Vương hổ tướng như mũi tên nhọn đâm vào tráng sĩ, kích thích lòng phẫn nộ,
Vương hổ tướng cũng chưa bao giờ thấy thái độ con như thế.
Hắn dõng dạc nói lớn:
– Cha và con đây không cùng chung một lý tưởng. Thật ra cha chỉ là một kẻ phản nghịch, một tên trùm lâu la. Nếu bè bạn con biết cha, họ sẽ gọi là tên phản bội, nhưng họ không biết, đến tên cha họ cũng không hay; một lãnh chúa nhỏ mọn không nghĩa lý gì trong một cái quận huyện nhỏ bé.
Đó, con Vương hổ tướng đã nói với chàng, đã mạt sát chàng như thế, chàng đã suốt đời kiên nhẫn, tận tụy để gầy dựng cơ đồ.
Nói xong người thiếu niên nhìn thẳng cha, cảm thấy xấu hổ, im không nói gì, cổ và mặt ửng đỏ, mắt nhìn xuống, lấy tay cởi lần chiếc dây da, bao nhiêu đạn đeo ở người rơi loảng xoảng xuống nền gạch. Hắn đứng yên không nói một câu nào.
Vương hổ tướng không nói gì, chàng ngồi yên trong ghế vẫn lấy tay che miệng. Mấy lời con nói như thâm nhập vào trí phán đoán chàng, chàng cảm nhận một sự thoái tán của khí lực bị mất đi đã lâu. Trong tâm thức, chàng còn văng vẳng nghe mấy lời con nói. Phải, chàng chỉ là một lãnh chúa nhỏ nhen, một tiểu lãnh chúa trong một quận huyện nhỏ bé. Chàng lẩm bẩm sau bàn tay che miệng, không phải để bảo chứng nhưng do một thói quen đã lâu:
– Ta chưa hề bao giờ làm trùm bọn lâu la thảo khấu. Con chàng lúc đó cảm thấy nhục nhã xấu hổ quá nói rất nhanh:
– Không … không … không (như để che giấu sự xấu hổ) hắn nói tiếp:
– Thưa cha, con phải tìm nơi ẩn náu khi đạo quân cách mạng thành công, tiến lên mạn Bắc. Võ sư con đã dạy bảo con trong bao nhiêu năm, hắn tin ở con, hiện nay hắn là đại đội trưởng trong cơ đoàn con. Hắn không dễ dàng
tha thứ con nếu hắn biết con lựa chọn cha … chính cha …
Người thiếu niên buông câu nói lưng chừng, liếc mắt nhanh nhìn cha, trong khóe mắt có ẩn kín đáo một tình thương yêu luyến ái. Vương hổ tướng ngồi yên như không nghe thấy gì, chàng không trả lời. Thiếu niên lại nói, thỉnh
thoảng liếc mắt nhìn cha như muốn khẩn cầu một việc gì.
– Có gian nhà đất cũ kỹ, con có thể đến đó ẩn náu. Nếu họ tìm được con, họ chỉ thấy con là một nông phu tầm thường không phải con một lãnh chúa.
Nói đến đây thiếu niên mỉm cười, hy vọng với sự hài hước kín đáo đó làm xiêu lòng cha. Vương hổ tướng vẫn ngồi yên, không nói một câu nào.
Chàng không hiểu ý con trong câu “con đã lựa chọn cha”. chàng cảm nhận lòng sầu thảm, cay đắng, tiếc cả một đời tận tụy ra công xây đắp. Lúc đó chàng sực tỉnh cơn mộng ảo như người đi đã lâu trong chỗ sa mù, nhìn con trước mặt, tường chừng như một người nào xa lạ chưa quen biết bao giờ. Chàng đã cố công hun đúc, muốn nặn đúng khuôn mẫu đứa con trai độc nhất theo như mộng tưởng sự thực phũ phàng giờ đây đứa con đứng đó chàng không thể nhận được là ai.
Một nông phu tầm thường! Vương hổ tướng nhìn, ngắm đứa con, càng trông ngắm bao nhiêu chàng cảm thấy hình bóng quen thuộc xưa kia hiện lên, tràn ngập lòng chàng. Xưa kia hồi chàng còn niên thiếu, ở trong gian nhà đất chàng đã kinh tởm, bất lực đối với người cha già, người cha
đó đã chôn vùi, đi sâu vào dĩ vãng. Chàng đưa mắt nhìn con, lẩm bẩm sau lưng bàn tay như nói một mình:
– Không phải đứa con của một lãnh chúa.
Đột nhiên chàng thấy bàn tay cũng không kìm hãm được đôi môi rung chuyển, chàng nghẹn ngào muốn khóc. Chàng đã nức nở khóc nếu lúc đó người thủ túc tâm phúc, anh Sứt Môi, không vào đem theo một hũ rượu nóng, hơi bốc nghi ngút, thơm phức.
Cũng như mọi lần, khi vào phòng chàng, người lão bộc để ý nhìn sắc diện chàng, lần này anh thấy sắc thái khác thường của chủ, vội vàng rót rượu nóng vào một cái chén bỏ không trên bàn. Vương hổ tướng rút bàn tay trên miệng, vội vàng cầm chén rượu đưa lên môi uống.
Đến giữa tháng 4/2023, dân số Việt Nam chính thức đạt mốc 100 triệu người. Trong đó chưa kể số người nước ngoài đến sống và làm việc ở VN gần 105 nghìn người.
Ông Tây bán chuối chiên
Thống kê cho thấy người ngoại quốc tại VN đến từ hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, đông nhất là người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Ðộ, các nước Tây Á, Châu Phi, Châu Âu, Nam Mỹ… Phần lớn số người này sống tập trung ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Ðà Nẵng, Bình Dương, Ðồng Nai, Long An… Người nước ngoài ở VN tham gia làm nhiều ngành nghề. Ở đây chúng tôi không nói về số người nước ngoài đến VN bỏ vốn lớn đầu tư, lập công ty, doanh nghiệp, làm huấn luyện viên thể thao, vận động viên các bộ môn, các chuyên gia kinh tế, khoa học, y tế, quân sự…mà chỉ nói tới thành phần “cấp thấp” hơn và sau đó vì nhiều hoàn cảnh, không ít người trong số này buộc phải lăn lộn ra bên ngoài kiếm sống bằng đủ thứ nghề lao động tay chân, thậm chí đổ mồ hôi sôi nước mắt với mục đích kiếm tiền duy trì cuộc sống.
Vợ chồng ông Gilber Ciavaldini
Từ nhiều năm qua ở chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hốc Môn, người bản xứ thường nhìn thấy một ông Tây già bán vé số. Ông này có tên VN là Nam (và tên Ý Gilber Ciavaldini, 65 tuổi). Ông Nam cùng vợ cũng là một phụ nữ Ý thuê nhà trọ sống gần đó. Nhiều người cho rằng ông Nam là người Ý đầu tiên đi bán vé số ở khu vực này. Ông Nam cho biết: “Hàng ngày tôi bán khoảng 200-250 tờ vé số, tiền lời tạm đủ sống và nuôi bà vợ bị chứng tai biến hầu như không làm gì. Riêng những người thích mua vé số của tôi chắc họ cảm thấy tò mò, lạ lẫm.”
Tương tự, một ông Tây khác cứ khoảng gần 5 giờ sáng hàng ngày lại lúi húi đẩy xe chuối chiên của mình tới góc vỉa hè ngã tư TÐX – Nguyễn Cư Trinh (quận 1) bày biện các thứ ra bán tới 12 giờ trưa mới đẩy xe về. Ông này tên Fabrica, 50 tuổi, người Pháp. Dù không biết nhiều tiếng Việt nhưng ông Fabrica làm món bánh chuối chiên đúng kiểu VN rất ngon. Ông tâm sự: “Tôi nhập cảnh VN từ tháng 1/2020, mục đích ban đầu đi du lịch. Thế rồi cơn đại dịch Covid-19 bất ngờ ập tới, tôi xài hết khoản tiền dành dụm không còn gì. Một thời gian dài, tôi tình nguyện theo chân các đoàn từ thiện đi phân phát thực phẩm cho người dân VN và sống nhờ cái ăn ở đấy. Sau có người quen hướng dẫn tôi làm bánh chuối chiên bán vì tôi biết không ai có thể giúp đỡ mình mãi được. Hiện hàng ngày tôi bán được từ 120-150 bánh chuối chiên, giá 10 nghìn VNÐ/chiếc. Khách hàng là những người dân chung quanh và nhiều nhất là mấy em, mấy cháu học sinh…”
Giữ xe khu chung cư
Một người nữa là anh Stephan Zvonik (36 tuổi, người Ukraina) cho biết anh đến VN để “du lịch bụi” trước cả khi Nga dùng vũ lực tấn công Ukraina. Anh không có nhiều tiền và cũng không còn gia đình. Tiếp sau, anh quan sát thấy có nhiều người kéo loa vừa đi hát vừa bán kẹo cao su, thuốc lá. Vậy là Stephan Zvonik nảy ra ý nghĩ bắt chước họ làm nghề hát rong bằng cách đi thuê bộ loa kéo giá 200 nghìn VNÐ/ngày, cứ mỗi chiều tối đem ra phố đi bộ Bùi Viện hát hò và buôn bán. Sau thời gian ngắn, do khu chung cư anh đang thuê ở đang thiếu chân nhân viên giữ xe, được người quen với thiệu, anh bèn chuyển luôn qua nghề này hơn 1 năm nay.
Gần 2 năm qua, hai anh em người Nigeria Michael và Palinus Unachukwu nhận làm công việc nhân viên bảo vệ cho một tiệm karaoke ở quận Tân Bình. Michael cho biết: “Chúng tôi làm ở đây từ 8 giờ sáng đến 23 giờ khuya hàng ngày. Cuối năm 2021, khi đang ở Phú Nhuận, nhà thuê trọ của chúng tôi bị kẻ trộm cạy cửa, lấy mất toàn bộ giấy tờ, visa, tiền bạc đem theo. Trong thời gian chờ Ðại sứ quán hỗ trợ, vài người dân VN thấy vậy đã giới thiệu cho tôi công việc này. Từ đó chúng tôi không còn lo chuyện ăn ở nữa. Hàng tháng còn có lương để trang trải cuộc sống. Qua tháng 6 này chúng tôi được cấp lại visa, nhưng vẫn muốn ở lại Sài Gòn làm việc thêm ít lâu nữa”.
Bán hàng rong vỉa hè
Theo kết quả khảo sát, 84% số người nước ngoài được hỏi cho biết họ hài lòng với cuộc sống của mình ở VN. Ðặc biệt cảm thấy khá hạnh phúc và dễ chịu với mức chi tiêu sinh hoạt sống hàng ngày. Một điều đáng chú ý nữa là hầu hết người nước ngoài khi được hỏi đều cho rằng cư dân địa phương rất thân thiện. Có 83% số người nước ngoài cảm nhận bản thân họ “được chào đón tại quốc gia này” và 71% số người “có cảm giác nơi đây cũng giống như đang ở nhà mình”. Nói như Stephan Zvonik: “Nhiều người Việt rất tử tế, họ sẵn sàng trò chuyện vui vẻ thoải mái dù giữa tôi và họ không thể giao tiếp trọn vẹn bằng một thứ ngôn ngữ chung! Chính sự nồng hậu và dễ gần của người dân VN là những gì tôi thích nhất về cuộc sống ở đất nước này, trừ mấy ông chính quyền đôi khi làm khó dễ!”
Sài Gòn từ cuối năm 1995 đã xuất hiện dịch vụ cắt tóc thanh nữ. Thời điểm đó, các tiệm hớt tóc thanh nữ mọc lên như “nấm sau mưa” ở nhiều nơi như quận 1, 3, 4, 5, 9, 10, Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp, Thủ Đức và tồn tại mãi tới giờ.
Về sau này, các dịch vụ càng cạnh tranh nhau gay gắt. Gần như tiệm nào cũng sẵn có vài thủ pháp tuyệt chiêu độc đáo nhằm “vừa lòng khách đến” bởi nếu không “thượng đế” sẽ tìm qua những tiệm khác vui vẻ, thú vị hơn.
Một buổi trưa giữa tháng 3/2023, tôi và người bạn có mặt tại một tiệm hớt tóc thanh nữ T.N trên con đường thuộc quận 3. Ðây là ngôi tiệm khá bề thế, từ ngoài nhìn vào thấy một dãy ghế hớt tóc gần chục cái. Tuy nhiên, điều đầu tiên khiến bất kỳ “thượng đế” nào nhỡ bước chân vào nhất định phải chú ý là đội ngũ phục vụ toàn các cô gái trẻ xinh đẹp, chân dài cùng đồng phục áo hai dây, váy ngắn. Ðón chúng tôi là một cô tiếp tân, cho biết ở đây có phục vụ lấy ráy tai (30 nghìn VNÐ), cạo mặt, cạo râu (80 nghìn VNÐ), hớt tóc, gội đầu, làm móng (150 nghìn VNÐ), đắp mặt nạ, massage mặt hoặc toàn thân (150-250 nghìn VNÐ), tuy nhiên chưa tính khoản tiền “bo”… Cô tiếp tân còn hỏi tiếp chúng tôi cần nhân viên nào phục vụ cụ thể hay để cô chọn giúp. Người bạn tôi liền nêu đích danh cô gái anh muốn phục vụ, rồi quay sang chỉ vào tôi, bảo: “Còn ông này…Hai Lúa dưới quê lên, chưa biết gì, phiền em tìm cho ông một “gơ” (girl) chăm sóc!”. Cô tiếp tân cười, bảo chúng tôi ngồi vào ghế rồi hỏi muốn uống nước gì. Chừng 2 phút sau có một em bước đến, tự giới thiệu tên Giang, nói là người sẽ phục vụ tôi. Giang chừng 22-23 tuổi, dáng cao, tóc nhuộm hi-light. Nghe em nói bằng giọng miền Trung, tôi tò mò hỏi em phải người miền “ngoài” lưu lạc vào? Giang đáp: “Quê em Bình Ðịnh. Em vô 3-4 năm rồi, trước kia phụ bán quán cà phê…”. “Em làm hớt tóc lâu chưa?”. “Dạ, một năm”. Câu chuyện tạm đứt ngang tại đó khi Giang yêu cầu tôi ngồi yên để em hớt tóc.
Trong khi Giang đang hớt tóc thì có một cô gái khác bước đến tự giới thiệu là nhân viên…cắt móng tay! Hai cô làm việc rất nhẹ nhàng, nói chuyện thủ thỉ, làm tôi nghĩ nếu mình không có nghị lực riêng, ắt rất dễ… ngủ quên. Cắt tóc xong tới gội đầu, Giang mời tôi vào một phòng khác phía trong. Phòng này nhỏ hơn, đèn tối hơn. Trong phòng có 2 cái giường, lúc khách vào chỉ việc nằm ngửa ra và đầu thì thả lỏng xuống một cái bồn nước với hai loại nước nóng và lạnh. Xong xuôi, Giang bỏ mặc tôi nằm đó rồi đi ra ngoài trước khi dặn cô bạn làm móng với giọng đùa cợt: “Chị My chăm sóc giùm “ông xã” em chút nghen, em đi chuẩn bị phòng!”. Công đoạn sau cùng là massage và tôi lại được chuyển sang một phòng khác. Lần này là căn phòng trên lầu ngôi tiệm, được thiết kế khá kín đáo. Mỗi phòng chỉ có một chiếc giường có nệm dày, một khách và một nhân viên. “Công đoạn” gồm đắp mặt nạ, massage mặt và massage toàn thân. Nhân viên dùng tay vừa bắt đầu xoa bóp mặt, hút mụn. Do là chốn khá kín đáo nên khách và nhân viên có thể “đụng tay đụng chân” thoải mái với nhau. Bấy giờ Giang bắt đầu tỏ ra bạo dạn hơn. Em choàng qua người tôi nhằm cố tình cọ quẹt đôi bồng đảo đầy đặn, săn cứng và không thấy mặc áo ngực, chốc lát hai tay cô lại cố tình đụng chạm, sờ nắn vào những điểm nhạy cảm nhất trên người khách.
Hầu hết điểm hớt tóc thanh nữ quy tụ các em gái trẻ đẹp
Cũng qua Giang mà tôi biết được các tiệm hớt tóc gội đầu dạng này còn là nơi thư giãn trong một đôi giờ của những kẻ vừa máu gái vừa có chút tiền. Tôi vờ nói: “Cứ nằm vầy có gì đâu mà gọi là thư giãn nhỉ?”. Ðáp: “Anh này nói lạ? Có người nằm chung vừa massage vừa tâm sự mà anh nói “có gì đâu” là sao? Không ít người vào đây một đôi lần miết rồi “ghiền” luôn đó! Như cái anh bạn gì cùng đi chung với anh hay vào ngủ trưa với chị Thúy hoài, mà chị Thúy cũng chiều anh ấy lắm!”. “Chiều là sao em?”. “Là ví dụ như anh bo em 100 nghìn VNÐ thì anh nằm kế bên em nhưng không được sờ mó. Còn nếu bo cho em 200 nghìn VNÐ thì thoải mái, trừ mỗi “chuyện kia”!”. Tôi vờ hỏi: “Chuyện kia là gì?” “Anh khéo giả bộ! Ðàn ông các anh ai cũng biết cần gì em nói ra? Là…Oral sex đó!”. Tôi hỏi thêm: “Ủa vậy là chưa tới…Z hả?”. “Ở đây làm sao dám tới Z? Cảnh sát nó gài người là chết cả đám! Còn muốn “đi bay” em cho anh số phone riêng nhưng phải đợi sau 18 giờ khi em tan ca! Anh qua nhà nghỉ đặt phòng trước rồi nhắn tin, em tới liền!”. Khi đã đến nhà nghỉ, Giang mới lộ ra cô còn là một gái gọi.
Mồi chài khách hớt tóc hay khách… ngồi chờ?
Cô cũng cho biết tại tụ điểm hớt tóc thanh nữ nơi cô đang làm, còn gần chục nhân viên khác cũng chấp nhận “đi bay” (bán dâm) nếu khách có nhu cầu. Vẫn theo lời Giang, các cô phải “đi bay” là để kiếm thêm tiền vì số tiền làm ở tiệm thường không đủ trang trải chi phí cho cuộc sống riêng nếu chưa nói đến việc gửi về phụ giúp gia đình. Giang tiết lộ “Tụi em chỉ đồng ý “đi bay” ở ngoài khi gặp khách quen mặt thường xuyên đến tiệm hay người nào biết thông cảm, tánh tình dễ thương như…anh vậy!”.
…Tìm đến các tụ điểm này, các “thượng đế” sẽ không khó để có được số điện thoại riêng của các em và cũng tùy theo nhan sắc, tuổi tác của tiếp viên mà mức tiền cho một cuộc chơi trung bình từ 400 – 500 nghìn đồng/giờ, chưa tính tiền thuê phòng nhà nghỉ, khách sạn!
Vài tuần trước đây, đọc báo, thấy có ít dòng loan báo, ca sĩ Nhật Trường sẽ có một buổi trình diễn từ biệt khán giả sau 40 năm ca hát. Tất nhiên, Nhật Trường chỉ từ biệt khán giả với tư cách ca sĩ thôi. Chứ những sáng tác của anh, ký tên Trần Thiện Thanh thì hàng ngày người ta vẫn nghe hát trên các làn sóng điện, các sân khấu, video …
Nhật Trường hẳn có những lý do riêng khi quyết định ngừng hát. Vì tuổi tác chăng? Không. Nhật Trường đâu đã già!
Dù trong lúc trò chuyện với bạn bè thỉnh thoảng anh cũng có nói rằng mình già rồi, không muốn hát nữa. Không muốn hát nữa là vì không muốn hát nữa chứ không phải vì già. Anh Ngọc chắc chắn lớn tuổi hơn Nhật Trường. Nhưng Anh Ngọc vẫn hát, và vẫn được hoan nghênh như thường.
Hát nữa hay không hát nữa, nghĩ cho cùng, có phải cũng chỉ là một cuộc chơi? Vậy thì nói như Kim Thánh Thán xưa: “Chơi nữa là một cách chơi. Không chơi nữa lại cũng là một cách chơi”.
Vả lại, ngay phút này đây, nếu chúng ta, ai muốn nghe lại tiếng hát Anh Ngọc, tiếng hát Nhật Trường, có gì khó đâu? Nhưng cũng giống như trong một cuộc họp mặt, đã có người đứng lên, bỏ về, đó là dấu hiệu của một cuộc vui sắp tàn hay ít nhất nó cũng không còn đủ vui để lưu chân người nữa.
Nhớ lại những ngày khi cuộc chiến VN đang bước dần sang giai đoạn bi thảm nhất, nào Mùa Hè Đỏ Lửa, nào Cổ Thành, nào Bình Long anh dũng, từ cuộc hội đàm Paris thu dần về trại David với những cuộc cãi vả ba bè, bốn bên … Người ta cảm nhận sự tàn lụi sắp sửa của cuộc chiến, cảm
nhận cái chết gần kề, cái cảm nhận của những con kiến trước cơn bão lụt.
Anh không chết đâu em
Anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua …
Trên khăn tang cô phụ
Còn lóng lánh dấu ái ân …
Chính trong những ngày ấy Nhật Trường đã đóng góp tiếng hát, đóng góp những sáng tác tiếp sức cho những người cầm súng, cho những người phải khóc những người cầm súng, cố đứng vững cho đến ngày cuối cùng.
Vì, nhạc của chúng ta trong những ngày ấy, nghe lại mà xem, đã báo trước rằng đó là những ngày cuối cùng:
Ngày mai đi nhận xác chồng
Anh lên lon giữa hai hàng nến chong
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Hay trực thăng sơn màu tang trắng …
Anh Quốc ơi
Từ nay trong gió trong mây
Từ nay trong cõi xa xôi
Có hồn anh trong cõi lòng tôi …
Anh nằm xuống
Sau một lần đã đến đây …
Mùa mưa tới trong nghĩa trang này
Có loài chim thôi …
Ngay cả những bài không nói tới cái chết, thì cái nỗi bơ vơ chất chứa trong nó cũng đủ làm người ta rợn người, bởi vì, rõ ràng là người ta không biết mình sẽ đi về đâu, đúng hơn sẽ trôi giạt đến đâu, người ta sống như chỉ để chờ cái phút không còn [được] sống nữa:
Phố núi không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
May mà có em đời còn dễ thương ……
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên …
Phải nói rằng nhạc của chúng ta đã chạm tới niềm tuyệt vọng. Bởi vì, dù có viện dẫn đến mùa xuân hay tình để cứu vãn chăng nữa cũng chỉ còn những dư vị đắng cay:
Đây kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông cho làm kỷ niệm
….
Bên cạnh cái toàn cảnh đen tối đó, nhạc Trần Thiện Thanh vẫn là nhạc của hy vọng, vẫn [cố] duy trì những màu sắc tươi sáng:
Đồn anh đóng bên rừng mai
Nếu mai không nở
Anh đâu biết xuân về hay chưa …
Chợt nhớ tới sắc áo hôm nào
em đến thăm gác nhỏ …
Thư của lính ba-lô làm bàn
nên nét chữ không ngay
nhưng nhớ em thật đầy
Trần Thiện Thanh viết nhiều nhạc lính đến nỗi người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của rất nhiều bản tình ca đã có một thời làm mưa làm gió trong sinh hoạt âm nhạcViệt Nam.
Khi người yêu tôi khóc
trời cũng giăng sầu
Cho từng cơn mưa lũ xoay trong tâm hồn
Mây từ đâu trôi đến mờ dấu chân trời
Em tại sao em đến cho anh yêu vội
Cho một lần yêu cuối là những lẻ lọi
Em ơi hãy nói vạn lơi sầu đắng
như anh vừa trách anh
Những lời ca ấy, những lời tỏ tình ấy, một thời người ta có thể tìm thấy trong sổ tay, trong sách lưu niệm của nhiều nữ sinh, sinh viên. Nhiều cuộc tình nhờ nhạc của ông mà thành duyên.
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá …
Thực ra thì phải nói nhạc của Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường. Ông có một giọng ca ngọt ngào, dịu dàng, vừa đủ lãng mạn để hát những tình khúc của ông, những tình khúc luôn có một vẻ gì đó nửa thật, nửa mộng, năn nỉ, dỗ dành …
Không biết những người mới lớn lên ở đây, không biết gì về cuộc chiến tranh trên đất nước vừa qua, tìm thấy những gì trong nhạc Trần Thiện Thanh.
Nhưng những người đã chia sẻ với ông những ngày quê hương mịt mù thuốc súng, mỗi lần nghe lại nhạc của ông, nghe thấy nhạc của ông, không khỏi có lúc có cảm tưởng như nó vương vất những mảnh hồn, những mảnh đời tan nát của mình, những kỷ niệm đau đớn …
Xin cảm ơn Nhật Trường. Xin cảm ơn Trần Thiện Thanh. Cảm ơn những đóng góp của ông vào một quãng đời, dù đó là quãng đời chúng ta đã đánh mất.
Năm nay Trần Quang Lộc đã khá cao tuổi rồi. Nhưng nhớ lại những bài hát đầu tay của ông, người ta được nghe, cách đây khoảng bốn chục năm như “Về
Đây Nghe Em” hay “Em Theo Đoàn Lưu Dân” người ta phải tự hỏi, Trần Quang Lộc viết những bài hát ấy vào năm ông mấy tuổi?
Lúc ấy chưa ai biết đến cái tên Trần Quang Lộc. Một bài hát được viết ra và hát cho đám bạn bè loanh quanh nghe với nhau, cho đến lúc nó được phổ biến như một tác phẩm, đòi hỏi một thời gian. Như vậy, nếu những bài hát ấy đượcTrần Quang Lộc viết vào năm mười bảy, mười tám tuổi thì thật là lạ! Thế nhưng, những người có dịp được gặp Trần Quang Lộc và nghe ông hát, ắt còn phải ngạc nhiên hơn nữa, vì chỉ nguyên số lượng những bài ông đã viết [khi ấy] đủ để ông hát cho nghe ngày này qua ngày khác không hết! Và, hầu hết lại đều là những bài có thể xếp vào hàng các tác phẩm cả.
Về ngồi trên đồi cao
Gõ đàn hát chơi …
Ta thương thương ta lòng thật nhạt
Thương thay thương thay bọn tướng quân
Gõ đàn gõ đàn trong vách núi
Vỡ máu dâng đời những thanh tân
Hãy tưởng tượng một chàng trai mười bẩy, mười tám tuổi viết ra những câu như thế. Đây là một bài hát Trần Quang Lộc nói rằng mình viết ra để cho những người không biết đánh đàn có thể ôm đàn hát, vì chỉ việc giữ nhịp bằng cách dùng tay gõ vào thùng đàn. Quả thật, nghe và trông thấy Trần Quang Lộc “Gõ Đàn Hát Chơi” như thế, người ta không khỏi cảm thấy ngây ngất vì cái đẹp của thơ/nhạc, và nhất là cái chất người ta thường gọi là phiêu bạt, giang hồ.
Đêm nay ta dừng lại
Kể chuyện đời người nghe
Ta có hồn phiêu bạt
Sinh ra đời để đi
Được biết cái nhóm tạm gọi là “Ban Mê Thuột”, mà Trần Quang Lộc là một thành phần, trước 75 đã quy tụ được một số các bạn trẻ trong đó có rất nhiều người có tài như:
Vũ Hữu Định, Kim Tuấn, A Khuê, Phan Ni Tấn, Nguyễn Đình Hiếu, Hoàng Quân [Khoa] Hoàng Khởi Phong. Họ không họp thành nhóm đâu. Chỉ thỉnh thoảng tụ họp đọc hay hát cho nhau nghe, những bài thơ mới, những bài hát vừa viết xong.
Sau biến cố 75, họ hầu hết còn rất trẻ, tản mát mỗi người một phương. Người đi được, kẻ lưu lạc về Sài Gòn, tiếp tục đi học tại các trường đại học, một số đi học tập cải tạo, làm lao động, làm ruộng, làm rẫy, một số khác không có công ăn việc làm gì cả, lang thang, lếch thếch, sống theo cái kiểu “ghé đâu là nhà, ngã đâu là giường”. Chính trong thời gian này Trần Quang Lộc viết được rất nhiều nhạc. Gần như mỗi dịp gặp lại nhau bạn bè đều được Lộc hát cho nghe những sáng tác mới.
Phải nói thêm Trần Quang Lộc là một “nhân vật kỳ lạ”. Có những bài ai nghe cũng thích, Trần Quang Lộc có giọng hát rất hay, chơi Tây ban cầm không có gì xuất sắc, nhưng tự đệm cho mình hát thì phải nói là tuyệt vời. Trong giọng hát của Trần Quang Lộc có cái buồn giằng dặc của những ngày tháng người ta không biết đi đâu, về đâu, cái buồn chia tay, cái buồn gặp lại. Hình như người ta không sống với nhau được nữa. Vậy mà người ta vẫn phải tồn tại, vẫn phải ăn, vẫn phải cười nói, và phải riễu cợt tất cả các điều ấy, coi nhẹ hết thẩy những điều ấy.
Cái sống và cả cái chết đều nhuốm vẻ vừa buồn thảm vừa khôi hài. Nghe nói Vũ Hữu Định trong một bữa uống rượu với bạn trên sân trời một căn gác nhà người quen, anh đã cầm ly rượu bước ra khỏi lan can rồi rớt xuống, chết. Vũ Hữu Định say không còn biết trời đất gì nữa chăng?
Trần Quang Lộc trong ngày giỗ đầu tiên của Vũ Hữu Định đã viết một bài khóc bạn. Giai điệu của bài hát có âm hưởng của một bài văn tế, nếu lại được nghe chính Trần Quang Lộc hát, người ta có thể khóc được:
Đêm không trăng mổ ngực chơi
Giữa tuyệt cùng
Sương hoa đỏ
Linh hồn, linh hồn ơi
Mệt bước chân vui
Đi ngất ngất, đi lạnh lẽo trong đêm dài
Đêm không trăng
Của phố núi cao
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Có thật đã ngủ yên trên ngọn núi cao kia
Trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần
Người ơi! Ới hỡi người ơi!
Yêu thương thế giới tơi bời trái tim
Nào ngờ hơi thở im lìm
Tuyệt diệu đức tin …
Bài “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” của Trần Quang Lộc đã được hội nhạc sĩ ở trong nước tặng giải những bài hát viết về Hà Nội hay nhất. Sự thật thì Trần Quang Lộc đã viết bài ấy trước 75 và chưa nhìn thấy Hà Nội bao giờ.
Có một sự kiện cần phải nói rõ ở đây là một số bài hát của Trần Quang Lộc khi đã được phổ biến rồi, ở trong nước, có nhiều người than phiền về việc Trần Quang Lộc đã lấy thơ của họ để phổ nhạc, nhưng không đề tên họ và đã xẩy ra các vụ kiện cáo, xác minh trên báo chí.
Các người quen biết Trần Quang Lộc từ nhỏ, cùng trưởng thành với nhau, cho biết, người có thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc nhiều nhất là A Khuê, Tô Như Châu … Một số các bài hát Ngọc Chánh về Việt Nam sưu tập được và cho hát trong những CD của ban Shotgun không phải của Trần Quang Lộc.
Hiện Trần Quang Lộc và những người như A Khuê, Tô Như Châu vẫn còn sống và ở Việt Nam cả, thiết nghĩ, Trần Quang Lộc nên công khai làm sáng tỏ mọi chuyện, vì sự nghiệp của mình.
Các tác giả có thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc đều là bạn từ thời thơ ấu của Trần Quang Lộc. Những bài thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc đều hình như chưa hề được phổ biến công khai trên báo chí hay xuất bản, nên chỉ những người liên hệ biết với nhau.
Tại sao, các tác giả không cho công bố nguyên bản những bài thơ của mình, để tự nó làm sáng tỏ mọi việc?
Vì chỉ lấy bài “Về Đây Nghe Em”, thơ của A Khuê, người ta thấy có đến mấy lời ca khác nhau, nên cũng không biết sự thật bài thơ của A Khuê thế nào. Chẳng hạn có những đoạn được phổ biến ở hải ngoại, do Thái Thanh, Elvis Phương hát như sau:
Và thịt xương ta quên mang theo
Khi ngã xuống mênh mang tủi hờn
Và về đây nghe nhau thở dài trong đêm
Nhưng chính Trần Quang Lộc lại hát:
Nụ cười tươi trên môi em thơ
Đem ánh sáng hân hoan trên trời
Rọi vào đời cho ta tinh cầu yêu thương
Và đoạn cuối của bài hát thì có tới ba bốn lời ca khác nhau, và một lời ca Trần Quang Lộc thường hát như sau:
Về đây nghe em
Về đây nghe em
Về đây cùng hát trên sông nước này
Chở lòng người trở về quê hương
Chở lòng người vào dòng suối mát
Chở thật thà vào lòng dối trá
Và nhạc hoa xin tạ chút ơn
hạnh phúc khi đã gặp nhau
So sánh với cùng bài hát đã được thu thanh ở hải ngoại có rất nhiều câu, chữ, khác. Điều đáng kể là lời ca nào cũng hay. Vậy bản nào là bản chính? Cũng không thể nói có thể căn cứ vào những gì do chính Trần Quang Lộc hát. Bởi vì, cùng một bài, mỗi lần nghe Trần Quang Lộc hát, người ta lại có thể thấy vài câu khác với lần trước. Lại có cả những bài, nghe Trần Quang Lộc hát rồi, một dịp nào đó, gặp anh, xin được nghe lại, Trần Quang Lộc không nhớ được câu nào. Có nghĩa là anh quên hẳn cái bài ấy. Có thể tin được điều ấy không? Vậy mà đó là sự thật đấy!
Nhạc Trần Quang Lộc, ngoài giai điệu còn có ưu điểm về cả nhịp điệu nữa, vì dù vui hay buồn, nó luôn có một vẻ gì đó rộn rã, thúc giục. Đó cũng là điều giải thích vì sao đằng sau những bài hát có thể làm chẩy nước mắt của anh hình như lúc nào cũng còn dấu một nụ cười.
Chính nụ cười lại làm cho cái buồn, buồn hơn, và cứ thế nhân lên, lập lại, nếu người ta nghe và thuộc nhạc của Trần Quang Lộc. Nhạc của anh, ngay cả những bài tình ca cũng có hơi hướm dân ca và cả du ca nữa.
Mùa xuân năm đó, con trai Vương hổ tướng được đúng 15 tuổi, một hôm chàng đang đi tản bộ một mình ở ngoài sân, võ sư dạy con chàng học đến bảo chàng:
– Thưa tướng quân, tôi đã truyền thụ cho lệnh lang tất cả sở năng, sở kiến của tôi, lúc này lệnh lang cần phải đi bổ túc binh thư đồ pháp ở một trường võ bị, ở đó cùng các bạn đồng học rèn luyện chiến thuật, binh pháp.
Vẫn hay chàng cũng nhận viên võ sư nói đúng, con chàng cũng đã đến tuổi phải thao dượt, bổ túc thêm về chiến thuật, chàng nghĩ sao thời gian đi vun vút mau quá, chốc đã mười hai năm trời, chàng cho gọi con; đứng chờ con, thấy mệt, năm đó chàng đã già, ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở ngoài sân dưới gốc cây đỗ tùng. Khi cậu nhỏ ở cửa bước vào, cái cửa này thông sang hai bên sân, nom dáng điệu cậu ung dung, vững vàng, Vương hổ tướng ngước mắt nhìn con. Người cao lớn, nét mặt rắn rỏi, hai môi mím, đều đặn nom cậu là một người lớn không còn là một đứa trẻ nhỏ. Nhìn đứa con trai độc nhất, chàng hồi tưởng mới lúc nào khi nó còn nhỏ, mong sao cho nó chóng lớn, lúc đó nghĩ biết bao giờ nó mới lớn, thế mà ngoảnh đi ngoảnh lại nó lớn lúc nào. Thấy con, chàng có cảm giác như từ thời kỳ ấu trĩ, thằng bé nhảy một bước thành một người lớn. Nghĩ thời gian mau chóng quá, chàng thở dài, về vấn đề cho con đi học chàng nghĩ:
– Ý ta không muốn để cho nó học ở một trường miền Nam, cho nó bè bạn với tụi thanh niên miền đó.
Chàng ngoảnh lại viên võ sư lúc đó đang tẩn mẩn nhổ mấy sợi râu mép, chàng hỏi to:
– Ông có chắc nên cho thằng nhỏ theo học trường đó không?
Ít khi Vương hổ tướng hỏi ý kiến con, công việc của con chàng, nhất nhất do chàng lo liệu, định đoạt, lần này chàng hỏi con, ý mong con từ chối để có cớ chàng thoái thác. Cậu nhỏ lúc đó đang mải nhìn khóm huệ mọc ở dưới gốc cây đỗ tùng nghe tiếng cha hỏi vội vàng ngửng đầu trả lời:
– Nếu có thể cho con học một trường khác, có lẽ con thích hơn.
Câu nói đó không hợp ý chàng, chàng cau mày, kéo bộ râu cằm, vẻ tức giận hỏi có vẻ xẵng:
– Nếu không phải một trường võ bị, ý mày muốn học trường nào, bao nhiêu sách vở mày học từ trước đến giờ thì để làm gì? Mày phải học bổ túc về nghề võ để sau này có đủ khả năng làm một lãnh chúa chứ?
Cậu nhỏ ngập ngừng, khẽ trả lời:
– Con nghe nói hiện nay có những trường dậy về khoa canh nông, tất cả các môn về nghề trồng trọt.
Nghe cậu nói quá nhố nhăng, Vương hổ tướng hết sức sửng sốt. Chàng chưa từng nghe nói có cái trường nào dạy làm ruộng, trồng cây, chàng gầm lên:
– Hừ, điên thật, mày nói có những trường dạy về trồng lúa, làm ruộng, ý mày định nói bây giờ những anh nhà quê phải đi học cày, học cấy, học gặt, học hái. Tao còn nhớ ngày xưa, ông cụ vẫn thường nói, học gì cứ làm ruộng không cần phải học, cứ nom người bên cạnh làm thế nào bắt chước làm thế (chàng ngừng một lát, nói tiếp với một giọng gay gắt nghe lạnh người). Nhưng, thử hoi công việc làm ruộng có can dự gì đến tao với mày không? Tao với mày là theo đuổi nghề võ, làm lãnh chúa, mày phải đi học bổ túc một trường võ bị, nếu không muốn đi thì ở nhà theo tao cầm quân.
Cậu nhỏ này thở dài, và cũng như mọi lần, khi nào thấy cha giận giữ, nói to tiếng, cậu đứng lùi lại, miễn cưỡng nói:
– Vâng, con đi học một trường võ bị.
Thấy sự miễn cưỡng trong lời nói, trong dáng điệu, Vương hổ tướng giận lắm, chàng kéo dài hai bên râu mép, nhìn con, vừa buồn vừa giận, chàng biết chàng sẽ tức đến thế nào nếu biết rõ tư tưởng của nó giấu giếm chàng, chàng hét to:
– Sửa soạn quần áo mai đi.
Cậu con giơ tay chào (kiểu chào lối nhà binh, cậu đã học được) quay gót đi ra, không nói một lời.
Đêm đến chàng ngồi một mình trong phòng nghĩ đến con, sắp đi vắng xa nhà, chàng rùng mình sợ cho con đến ở một nơi xa lạ, với bọn người có tiếng là xảo trá, bất lương, chàng cho gọi người thủ hạ tâm phúc, anh Sứt Môi. Khi anh này đến, chàng quay lại nhìn bộ mặt gớm ghiếc, nhưng trung kiên của anh lính, chàng nói như van nài, khẩn cầu, không phải như lối một ông chủ sai bảo đầy tớ:
– Đứa con trai tôi, đứa con độc nhất của tôi, mai đi học ở một trường võ bị, tuy có viên võ sư dạy hắn học cũng đi kèm, tôi chưa hiểu bụng dạ người đó, nghe nói hắn đã ở ngoại quốc lâu năm. Tôi cho anh đi cùng với con tôi vì nội tất cả ở đây, anh là người độc nhất tôi có thể tin cậy, tôi biết rõ anh
hơn ai hết. Anh đã theo tôi từ lúc tôi còn hàn vi đến ngày nay tôi được giàu mạnh, anh đi thay tôi, trông nom cho nó.
Có một điều lạ là Vương hổ tướng vừa dứt lời, anh chàng Sứt Môi cố gặn giọng nói lớn có vẻ trịnh trọng, tiếng nói phát qua hai hàm răng the thé như tiếng còi:
– Thưa tướng quân, việc này tôi không thể tuân lệnh tướng quân, tôi xét tôi cần phải ở gần tướng quân. Nếu lệnh lang cần phải đi du học xa, tôi sẽ tuyển lựa trong bọn lính 50 tên khá nhất, đứng tuổi, tôi sẽ chỉ bảo cách thức phải trông nom, bảo vệ lệnh lang, còn tôi, tướng quân ở đâu, tôi phải ở đó. Tướng quân nên biết tướng quân rất cần phải có một người thân tín tuyệt đối trung thành. Trong một đạo quân lớn như ở đây thế nào cũng có những kẻ bất mãn, những đứa tâm địa hiểm độc, những hạng ương ngạnh, nóng nảy, những hạng so bì chỗ này tốt chỗ kia xấu và hiện nay đang có những tin đồn có một thế trận lạ lùng ở miền Nam.
Vương hổ tướng nghe nói, trả lời với một thành kiến cố định:
– Anh tự quan trọng hóa quá! Ta còn có anh “Diều Hâu” và anh “Chọc Tiết Heo” nữa mà.
Anh Sứt Môi tỏ vẻ khinh người, anh nhăn mặt nói:
– Một thằng tham lam và một thằng xuẩn ngốc, nếu có việc gì quan trọng, tôi rất khả nghi sự trung thành của một người, còn một anh chỉ có tài bắt ruồi, giá bảo giết người nào, anh có thể đấm chết người ta được, chí lự ngu ngốc lắm, có bảo hắn mới biết chứ để tự ý hắn không hiểu gì hết.
Anh chàng này nhất định khăng khăng từ chối mặc dù Vương hổ tướng đã thôi thúc bao nhiêu lần, chàng chưa bao giờ phải chịu một sự bất tuân thượng lệnh như lúc này của anh lính Sứt Môi. Thấy chủ cố nói mãi, anh phát cáu nói:
– Thôi được, sẵn có kiếm con đâm cổ tự tử chết, chứ bảo con đi nhất định con không đi.
Vương hổ tướng không biết làm thế nào, rút cục phải nhượng bộ. Thấy chủ đã phải chịu, anh này tỏ vẻ vui mừng, vừa lúc nãy anh cố làm to chuyện, nếu chủ không nghe anh đâm cổ tự tử. Ngay đêm hôm đó, anh suy tính, chọn 50 tên; họ đang ngủ anh dựng cả dậy, chửi rủa phủ đầu bọn này nên
thân, anh bắt ra đứng cả ngoài sân. Tụi này không hiểu chuyện gì, ngơ ngác, vừa ngáp vừa rét run, đêm mùa xuân gió thổi lạnh. Anh hét vang, tiếng nói the thé qua chiếc môi sứt:
– Nếu trong mồm vị tướng nhỏ có một chiếc răng đau là tội ở các anh, các anh phải chết. Bổn phận các anh phải trông nom, đề phòng, bảo vệ vị tướng nhỏ, đi đâu một bước các anh phải theo sát bện cạnh. Ban đêm các anh phải ngủ ngay xung quanh giường vị tướng nhỏ đó, ban ngày không được tin ai, nghe ai, ngay cả ông tướng nhỏ bảo gì cũng không được nghe. Nếu ông ta tự ý bảo không cần các anh, các anh phải nói: “Chúng tôi tuân lệnh lão tướng thân phụ của lệnh lang, ngài nuôi chúng tôi trả lương chúng tôi, chúng tôi phải nghe lời ngài phán bảo”.
Anh Sứt môi còn nói nhiều lắm, cố ý làm cho tụi này hoảng sợ và nhận định công việc giao phó có một tính cách cực kỳ quan trọng, anh lại nói tiếp:
– Nhưng nếu công việc các anh làm chu đáo, các anh sẽ có thưởng, chủ tướng chúng ta là người quảng đại, tôi sẽ nói với chủ tướng xin thưởng cho các anh.
Bọn người đồng thanh tỏ lời trung thành, họ biết chủ tướng ngoài cậu con trai, anh chàng Sứt Môi này là chân tay tâm phúc thân tín nhất. Họ cũng thích được đi các tỉnh xa lạ, được biết thêm nhiều thứ mới lạ.
Sáng hôm sau, Vương hổ tướng dậy sớm để tiễn con đi du học, chàng lưu luyến không muốn rời con, tiễn con đi một quãng đường xa. Cuộc hành trình vì thế bị chậm lại chút ít. Chàng cưỡi ngựa đi song song bên con, đi được một quãng xa, chàng ghìm cương ngựa, bảo con:
– Con ạ, cổ nhân có nói, bạn đi xa, dù có tiễn đưa đến ba ngàn dặm, rồi cũng là cuộc phân ly, cũng như ta và con bây giờ. Thôi ta trở lại nhé.
Chàng ngồi thẳng trên mình ngựa, nhận lễ tiễn biệt của con. Chàng ngắm con nhảy nhanh nhẹn lên lưng ngựa, quất ngựa đi nhanh, có 50 tên lính và viên võ sư đi sau hộ tống. Không muốn đứng nhìn con, chàng quay phắt ngựa trở về nhà trống trải có một mình.
Trong ba hôm liền, vừa buồn và nhớ con, chàng không thiết làm gì, ngong ngóng chờ những tên lính ở các bót gác trên đường con chàng đi qua về làm báo cáo hành trình của con.
Một anh lính ở trạm thứ nhất về báo:
– Thưa tướng quân, lệnh lang được bình yên mạnh khỏe. Có ý vui vẻ hơn trước, lệnh lang có xuống ngựa, thăm một cánh đồng, nói chuyện với một nông dân.
Vương hổ tướng lạ quá hỏi:
– Có biết hắn nói chuyện gì với nông phu không?
Anh lính cố nhớ lại, thưa:
– Lệnh lang hỏi nông phu gieo hạt gì, để ý xem thứ hạt nông phu đang gieo, có hỏi cách thức đóng trâu vào cày. Bọn nông dân thấy lệnh lang một võ tướng để ý đến việc đồng áng, cười ồ lên; lệnh lang không để ý đến bọn họ, chăm chú xem bọn họ buộc trâu vào cày làm sao.
Vương hổ tướng nghe nói ghét quá, chàng lẩm bẩm:
– Ta không hiểu một vị lãnh chúa để ý, thắc mắc muốn biết cách buộc trâu làm sao, hạt giống thế nào để làm gì?
Chàng suy nghĩ một lúc, hỏi:
– Anh còn gì nói nữa không?
Anh lính nghĩ một lúc nói tiếp:
– Đêm lệnh lang vào nghỉ ở một quán trọ, ăn bánh, thịt, cơm nếp, cá, uống một chén nhỏ rượu. Con theo lệnh lang đến đó rồi vội trở về trình lên tướng quân.
Rồi đến một anh lính khác, lại một anh lính nữa đến tường trình tin tức sức khỏe, ăn uống thế nào của con chàng. Chàng nhận liên tiếp các báo cáo về tin tức con chàng mãi đến hôm cậu con xuống tàu ở một giang khẩu chạy ra biển. Chàng chỉ còn chờ thư con. Khi đến nói để biết tin tức, các liên lạc viên không thể theo xa hơn được nữa. Vương hổ tướng xét qua các lời báo cáo, không hiểu chí lự của con thế nào, con đi vắng xa, chàng bồn chồn nóng ruột, thình lình có hai việc làm chàng lãng quên không nghĩ đến con. Việc thứ nhất, có các thám tử ở xa về tường trình:
– Chúng con xin trình lên tướng quân biết, hiện nay có một thế trận rất lạ kỳ, đang tiếp diễn bành trướng suốt từ Nam chí Bắc, trận này nghe nói để lật đổ chế độ cũ, một cuộc cách mạng khởi nghĩa chứ không phải như những trận
thường của các vị lãnh chúa.
Mấy ngày nay Vương hổ tướng tính nóng nảy hay gắt gỏng, nghe thám tử báo cáo, chàng nói có vẻ khinh thị:
– Có gì là lạ. Khi xưa ta còn trẻ, ta cũng đã nghe nói có khởi nghĩa, cách mạng ta cũng có tham dự những trận như thế, tưởng là có mục tiêu nào cao cả, các lãnh chúa liên kết lật đổ Vương triều, xong lại chia rẽ xâu xé lẫn nhau.
Các thám tử lục tục kéo về đều báo cáo tương tự như thế:
– Đó là một lối chiến tranh mới, chiến tranh của dân chúng, của thường dân.
Vương hổ tướng nghe báo cáo nhún vai, cau mày hét to:
– Tụi nó có súng ống gì không? Hay đánh nau bằng gậy gộc, lưỡi liềm … Chàng nói xong nguýt dài, khinh khỉnh, bọn này sợ quá, vừa ho vừa nhìn nhau.
Một người trong bọn đánh bạo nói:
– Chúng con thấy thế nào, nghe được thế nào, trình lại như thế.
Vương hổ tướng nói:
– Phải rồi, đó là công việc, bổn phận của các anh, nhưng các anh nghe đồn những chuyện phi lý.
Chàng cho bọn này lui ra, dù không tin cho là phi lý chàng cũng thắc mắc muốn biết rõ sự thực. Chàng chưa kịp suy nghĩ thì đã xảy ra trong vùng, ngay chỗ chàng ở, một việc làm chàng hết sức bực mình, không còn nghĩ được việc gì khác nữa. Mùa hạ năm đó đẹp đẽ vô cùng, mưa nắng thuận hòa, nước đã rút hết, ruộng được lớp đất phù sa, phì nhiêu, chỉ cần rắc ít hạt giống, lúa mọc rất tốt, rất nhanh, vụ gặt sắp tới sẽ được gấp bội khi trước.
Chờ cho đến ngày được gặt, có thóc, hãy còn một số đông dân đói, năm đó trộm cướp ngay trong chỗ Vương hổ tướng đóng quân mọc lên như rươi. Có những người đói khát tuyệt vọng, kết hợp thành đoàn, cướp bóc khắp nơi, đến khi Vương hổ tướng cho lính đi tiễu trừ thì không thấy trộm cướp đâu
cả. Tụi này như ma, khi ẩn, khi hiện. Các thám tử đến trình với chàng:
– Hôm qua bọn cướp ở phía Bắc, họ đốt phá làng nhà họ Trinh
– Cách ba hôm nay có một bọn cướp giết hết bọn lái buôn, đoạt hết hàng hóa, thuốc phiện, vải vóc …
Vương hổ tướng nghe bọn cướp táo bạo hoành hành, giận quá, chàng tức là vì những mối lợi của chàng bị cưỡng đoạt, chàng đang cần tiền để trả nợ anh Hai, chàng uất hận, muốn giết ngay một người nào cho hả cơn tức. Chàng thét như sấm, gọi các đội trưởng, truyền lệnh đem hết binh đội chia ra từng toán đi tiễu trừ giặc cướp khắp vùng, treo giải thưởng một cái đầu giặc đem nộp được lĩnh thưởng một đồng bạc.
Bọn lính hăm hở đi lục soát tìm kiếm bọn cướp, chặt đầu đem về lĩnh thưởng nhưng tuyệt nhiên không thấy một tên nào. Sự thật chính bọn nông dân, khi không bị ai lùng bắt, kết hợp lại đi ăn cướp.
Nếu họ nghe thấy động, có lính đi tuần tiễu, họ vẫn là lương dân, vẫn cày vẫn bừa ở ngoài đồng. Khi bọn lính đến họ lại còn kể cho nghe họ bị bọn cướp kia, bọn cướp nọ ngược đãi họ, họ kể vanh vách các toán cướp chỉ trừ toán của họ kết hợp, nếu có nói đến bọn cướp nào vẫn ẩn nấp trong làng, họ làm bộ ngơ ngác không biết gì hết. Vì Vương hổ tướng có treo giải thưởng, bọn lính cũng muốn có tiền thưởng họ gặp người nào trước nhất họ chặt đầu, xách về lĩnh thưởng, không ai có thể biết đầu đó là đầu tên cướp hay không phải.
Có nhiều người bị giết oan, tuy nhiên không ai dám than phiền vì ai cũng biết bọn lính do Vương hổ tướng sai đi tiễu trừ giặc cướp, mà người nào tố cáo cũng sợ bọn lính thù, nó không để cho cái đầu được yên lành.
Một hôm về giữa mùa hạ, lúa miến đã lên cao hơn đầu người, giặc cướp ở đâu nổi lên tứ phía như ong vỡ tổ. Vương hổ tướng phẫn nộ đến cực điểm, chàng than chinh cầm quân diệt trừ. Đã mấy năm nay, chàng nghỉ chưa cầm quân ra trận. Chàng được mật báo có một toán cướp nhỏ ở một làng nọ, bọn thám tử đã rình biết dân làng này ban ngày là nông dân, ban đêm đi ăn cướp. Ruộng ở làng ấy thấp như ở một lòng chảo, họ chưa cấy lúa được sớm như mọi nơi khác, thóc gạo trong làng hết không có gì ăn. Dân làng này về mùa đông, mùa xuân lại có thóc nên về hai mùa đó không bị đói.
Vương hổ tướng giận lắm khi biết đích xác bọn người này giảo quyệt, bất lương đêm đêm đến các làng lân cận cướp phá, ai chống cự lại họ, họ giết chết. Chàng thân chinh đem quân lại vây làng đó không để hở một khe nào có thể người trốn ra được. Khi bọn lính đã thắt chặt vòng vây, chàng và bọn tùy tùng đi ngựa vào làng bắt hết dân đinh già trẻ được một trăm bảy mươi ba người.
Bọn người này bị trói chặt, buộc chung cả vào một chiếc dây thừng, Vương hổ tướng truyền giải cả bọn đến một cái sân phơi thóc trước nha viên lý trưởng làng đó. Chàng ngồi trên mình ngựa, đưa mắt nhìn một cách khinh khỉnh bọn người khốn nạn bị cầm tù đứng cả ở dưới sân. Người thì vừa run, vừa khóc, người thì mặt xám như chàm đổ, cũng có người can đảm, thản nhiên, người già lão cam chịu số phận, cả già, cả trẻ, ai cũng chờ tử thần đến đón đi.
Khi biết vận mệnh bọn người này ở cả trong tay, Vương hổ tướng cảm thấy lòng căm tức, định tận sát, nguôi dần. Chàng không còn tính hung hãn, cương nghị như xưa, chàng đã thấy con chàng động lòng trắc ẩn khi nhìn thấy bọn người chết đói, tính khí chàng bị ảnh hưởng nhụt đi một phần nào.
Để giấu lòng từ tâm, chàng nhíu đôi lông mày, cong môi, gầm lên:
– Tội các ngươi đáng chết cả. Bao nhiêu năm nay các ngươi chưa biết ta hay sao, ta không dung túng trộm cướp trong hạt ta cai trị hay sao? Song ta là một người có chút từ tâm, ta còn nghĩ đến cha mẹ già con cái các ngươi, ta hãy tha chết cho các ngươi lần này. Nếu lần sau còn tái phạm, ta sẽ thẳng tay giết hết. Chàng ngoảnh lại đám lính đứng vây xung quanh bọn phạm nhân, nói:
– Các anh rút hết dao ở dây lưng ra cắt hết tai bọn này để họ nhớ lời tôi nói ngày hôm nay.
Bọn lính được lệnh, tiến lên một bước rút dao liếc ở đế giày xẻo hết tai của một trăm bảy mươi ba người già trẻ. Họ xếp cả đống tai trình chủ tướng.
Vương hổ tướng nhìn bọn cướp người nào hai bên má cũng có hai dòng máu chảy ròng ròng, chàng nói:
– Hai cái tai đó là vật kỷ niệm đời đời nhớ ngày hôm nay nghe không?
Nói xong chàng ngoảnh mặt đi, quất ngựa cho đi nhanh. Chàng vừa đi vừa nghĩ đáng lẽ phải giết chết bọn này để làm gương cho bọn cướp trong vùng mới phải. Có lẽ mình đã già, quá ư nhu nhược mà đem tha bọn này. Tuy nghĩ thế chàng lại nhủ thầm:
– Cũng vì con ta, ta đã sinh phúc cho một số nhân mạng. Một ngày kia ta sẽ bảo con, vì con, ta tha chết 173 người, chắc con nghe thế sung sướng lắm.
Trần Duy Đức là một trong những nhạc sĩ sáng tác rất được yêu mến ở hải ngoại kể từ thập niên 80. Phần lớn các ca khúc của Trần Duy Đức được phổ từ thơ Du Tử Lê. Thơ Du Tử Lê do Trần Duy Đức, Đăng Khánh, Anh Bằng, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng phổ nhạc, đã đánh dấu một giai đoạn nhạc Việt Nam sau 1975.
Đó cũng là thời điểm đất nước đất nước chúng ta trải qua một biến động lớn, vẫn còn gây chấn động trong lòng mọi người. Vì vậy, có thể nói, tình ca của chúng ta, trong giai đoạn này, cũng không còn hoàn toàn là tình ca nữa, âm nhạc và ngôn ngữ giống như những mảnh vỡ của đời sống, phản ánh sự tan nát, đau đớn. Cái đau đớn ở đây không phải là cái “thú đau thương” như người ta thường nói tới, như mặt bên kia, cái mặt thứ hai của hạnh phúc. Mà là cái đau làm người ta không thể yêu nhau được nữa. Cái tình chỉ để khám phá ra rằng, người ta không yêu nhau được nữa.
Nhà tôi đã cháy
Không còn gì ngăn cản tôi
nhìn trăng sáng
Trong cái buồn của câu thơ [Nhật Bản] đó, nhà đã cháy, nhưng [hình như] người ta vẫn còn cái nền nhà cũ để đứng ở đấy, ngồi ở đấy, nhìn trăng. Cái buồn của thơ chúng ta, nhạc chúng ta, là cái buồn không còn gì nữa. Người ta mất đến cả ngôn ngữ [lấy gì để tỏ tình đây?]
Vườn hạnh phúc
Một người đang tập nói
Cảm ơn em yêu dấu
Cho ta sống đến ngày hôm nay
Trí nhớ ta cùn nhụt
Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
Tôi với người chung một trái tim
Mọi sự hình như phải bắt đầu lại, người ta phải tập nghe một thứ ngôn ngữ mới, “bàn chân từng ngón ngưng hơi thở”, một thứ ngôn ngữ ngổn ngang, kiểu cách, phải chặt đứt ra, phải chắp nối lại, phải liên tưởng, phải biến dạng đi, để hiểu.
Trần Duy Đức đã lao mình vào dòng ngôn ngữ trúc trắc đó, đặt tên cho từng chữ của bài thơ bằng những ký hiệu âm thanh, quen được gọi là “do, si, la” để làm thành những bài hát. Và những bài hát đã được chấp nhận. Được nhiều người hát, được nhiều người nghe, nó trở thành sản phẩm [ngôn ngữ] của thời đại. Nó có sẽ tiếp tục như thế hay sẽ rẽ sang ngả khác, phải chờ thời gian mới biết được. Xin trích sau đây ý kiến của một vài người về nhạc Trần Duy Đức.
Bùi Bích Hà: “Có nỗi gì bơ vơ, vụn vỡ trong dòng nhạc của Trần Duy Đức. Cũng có những ước mơ sáng láng, đôi lúc lóe lên từ tiếng kêu gào của một niềm tuyệt vọng dịu dàng, sự mời gọi đến cùng và sẻ chia mà ông khao khát, mà ông cất giấu lửng lơ trong cái kén cô đơn của một người tự tách mình ra khỏi dòng sông đời có những điều nhân gian không hiểu.
Ngô Tịnh Yên: “Tôi thích Tan Theo Ngày Tháng Vội anh phổ từ thơ Du Tử Lê và cũng thích Khúc Mưa Sầu do anh một mình sáng tác.
Hoàng Dược Thảo: “… Mỗi bài thơ phổ nhạc phải được coi như một cái duyên, một mối cảm thông tuyệt diệu giữa người làm thơ và người viết nhạc … Tiếng nhạc Trần Duy Đức đã tạo ra được những âm vang tuyệt diệu cho những lời thơ tưởng chừng như không thể lãng mạn hơn của thi sĩ”.
Hồ Huấn Cao [Du Tử Lê]: “Họ Trần muốn đi đến những chân trời mà điểm gặp cũng là chỗ giao thoa giữa thơ và nhạc”
Chu Tất Tiến: “Người nghệ sĩ Trần Duy Đức tuy chưa thể so sánh với ‘nhà phù thủy âm thanh’ là Phạm Duy, nhưng đã làm cho người nghe bối rối, lạc đường, tuy không trữ tình như Trịnh Công Sơn, nhưng lại đặt ra những ưu tư lôi cuốn … Thêm vào đó, là lời thơ Du Tử Lê và những tên gọi của bản nhạc, chưa nghe đã thấy nồng nàn, chưa nghe đã thấy chút gì đó cuốn hút, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, như thế, chỉ nghe nhạc Trần Duy Đức phổ thơ Du Tử Lê không cũng đủ đã đời”.
Cao Đông Khánh: “Mười ca khúc, trong chủ đề Em Hiểu Vì Sao Chim Gọi Nhau phổ từ 10 bài thơ của Du Tử Lê, nhạc sĩ ra mắt, trình diện một khuôn mặt âm nhạc phong phú, đa dạng, nhưng vẫn giữ phong cách tùy thân của chính mình.
Trần Duy Đức có tác phẩm và trở thành tác giả là do nơi cái khí phách tùy thân căn bản đó”. Nguyên Sa: “Tôi thực sự phân vân không biết phải chọn
Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt do Hải Lý ca trong băng nhạc Rồi Em Bỏ Tôi Đi hay chọn Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, chọn Tan Theo ngày Nắng Vội hay chọn Khúc Tháng Chín … Tôi muốn nói sáng tác của Trần Duy Đức đều tay. Bài nào trong mười bài của Em Hiểu Vì Sao Chim Gọi Nhau hòa âm rất biến chuyển, rất sang cả của Trầm Tử Thiêng, đều ngang tầm với Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt.
Nhất quán đến cả những khoảng cách âm vực mênh mông, cái kiểu trống báo vừa xong đã xa đỉnh núi. Tiếng hát của người ca sĩ không chậm rãi đi từ bình nguyên âm thanh, theo những bực thang âm thanh đi dần lên ngọn đỉnh và phải tới cresscendo mới tới được đỉnh cao nhất. Trần Duy Đức khởi
đầu cuộc hành trình âm thanh hơn một lần từ đỉnh cao nhất. Trống báo vừa dứt giọng hát phải bay lượn như chim ngay trên những đỉnh cao nhất đó, rừng phải thổi gió ngay trên những đỉnh cao nhất đó rồi mới như sương, như mây, như mưa … tan theo ngày nắng vội. Không phải chỉ bay một lượn cánh, chỉ thổi một hơi dài, phải nhiều vòng cánh, phải hơi tiếp hơi”.
Riêng Trần Duy Đức tự nhận định về công việc của mình như sau: “Một bài thơ hay, vốn mang sẵn trong ngôn ngữ thi tính và những giá trị đặc thù của nó. Từng chữ, từng câu, từng vần, từng âm điệu đã được chính nhà thơ xử dụng, kết hợp một cách huyền ảo, kỳ diệu theo những phương thức riêng do thi sĩ an bài. Nhạc sĩ, khi làm công việc phổ nhạc, theo tôi, trước tiên phải cố gắng tôn trọng nguyên tác của bài thơ. Cái khó khăn kế tiếp là tạo dựng thành một chủ đề chính, bằng một cấu trúc riêng, mang sẵn trong nó những
hạn chế theo khuôn khổ của một ca khúc. Hầu từ đó khai triển bằng nghệ thuật sáng tạo, dẫn dắt dòng nhạc chuyển sang những chuỗi âm thanh kết nối, phù hợp với từng ý nghĩa tâm tình của từng chữ, từng câu, từng vần của bài thơ, để biến nó thành một bản nhạc theo thể điệu riêng của nhạc”.
Trong khoảng từ các năm 44 đến 54, ngoài các nhạc sĩ sống ở Hà Nội, viết ở Hà Nội, những người thời ấy còn được gọi là “đi theo kháng chiến” cũng có nhiều sáng tác đóng góp vào sự phồn thịnh của âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ.
Âm nhạc ở đây hiểu theo nghĩa vì nhạc mà làm chứ không vì lý do nào khác. Một trong những người có những sáng tác như thế là Tô Vũ. Phải nói ngay rằng nền tân nhạc của chúng ta khi ấy vẫn còn mới mẻ, các nhạc sĩ thường sáng tác theo một hình thức tương tự như nhau. Đại khái, một ca khúc gồm 32 trường canh với những ý nhạc chính được khai triển, thêm vào một điệp khúc, đoạn cuối trở lại ý nhạc chính. Bài hát có thể dài hay ngắn hơn một chút, nhưng cũng không ngoài cái khuôn mẫu ấy. Nhạc Tô Vũ đã được viết khác hẳn. Ông viết nhạc theo một phong cách riêng, không theo cái hình thức thịnh hành này.
Thêm vào đó, lời ca của Tô Vũ cũng rõ ràng không phải là những từ ngữ đã có sẵn, ước lệ, mà nó mang ý nghĩa ông muốn, ý nghĩa sáng tạo.
Vì thế, có thể nói, Tô Vũ đã thổi một luồng gió mới vào việc viết ca khúc thời ấy. Cũng là tình ca, nhưng tình ca của Tô Vũ đã nới rộng chân trời của những lứa đôi. Ông cũng cho thấy tình yêu có nhiều cách bầy tỏ. Người ta sống cũng có nghĩa là sống trong một hoàn cảnh, và đôi khi nói tới bất cứ điều gì trong hoàn cảnh đó, cũng có thể là đang nói tới cái tình của mình.
Rồi đây khi mùa dứt chiến tranh
Gió dâng khúc đàn thanh bình
Ta đi tìm thơ muôn phương
Gót in núi rừng thâm u
Và lướt trên muôn trùng sóng …
Toàn thể bài hát toát ra một vẻ gì đó giống như một bài kinh cầu nguyện. Một hình ảnh được nhắc tới tựa một dấu vết của hạnh phúc, của ước mơ, được thắp sáng và trở thành chính đối tượng của lời cầu nguyện.
Tình yêu như thế vừa có vẻ là lễ vật được hiến dâng vừa là ân sung được thừa hưởng. Nó có thể mất, có thể còn. Nhưng mất hay còn cũng ở trong trần thế này nên nó cũng không thể mất hẳn. Vì thế, dù có đau thương, mỗi tiếng hát vẫn là một lời ngợi ca hạnh phúc.
Trong nhạc Tô Vũ cũng không bao giờ người ta thấy lảng vảng hình bóng của cái chết. Đời sống không dễ dàng lắm đâu nhưng cũng không đến nỗi quá khó khăn. Bởi vì người ta có thể tìm thấy sự dịu dàng ở khắp mọi nơi. Nghe nhạc Tô Vũ người ta có cảm tưởng ấy. Ông không nói tới nỗi nhớ nhung nào cụ thể, nhưng người ta dường vẫn nghe tiếng réo gọi âm thầm ẩn sau mỗi câu nhạc và nỗi nhớ nhung vì thế cứ tràn ngập. Trong âm nhạc của chúng ta, tình ca của chúng ta, cókhông biết bao nhiêu trận mưa, nhưng có lẽ Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ là trận mưa hạnh phúc nhất. Trận mưa ấy có thể chia sẻ hân hoan cho những ai nghe và hát nhạc ông.
Bởi vì, chẳng cần phải là một tuyệt thế giai nhân, chỉ cần một tà áo hương nồng và một ánh mắt trìu mến, đủ để người ta trở thành người trong nhạc. Hay nói cách khác sống cái tình của mình trong nhạc. Có gì khó khăn đâu mà chúng ta không đạt được?
Ta ước mơ một chiều thêu nắng
Em đến chơi quên niềm cay đắng
Và quên đường về …
Hạnh phúc tuyệt vời và giản dị làm sao!
Chúng ta không biết rõ Tô Vũ sáng tác nhiều không, nhưng chỉ thấy 4, 5 bài được phổ biến, trong đó có một bài ít được biết là bài Làng Bến. Bài này, tự nó, hình như đã lọt ra ngoài dòng nhạc trữ tình của ông. Có lẽ vì thế nó không được yêu thích.
Nếu phải chọn trong mấy bài còn lại Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ, Tiếng Chuông Chiều Thu, xem bài nào là kiệt tác của Tô Vũ thì có lẽ số người yêu thích mỗi bài sẽ ngang nhau. Mặc dù Tiếng Chuông Chiều Thu có lẽ là bài Tô Vũ mất nhiều công phu hơn cả. Đó chỉ là cảm tưởng, nhận định chung [bề ngoài] của người nghe. Thực ra có những tác phẩm hay chỉ một câu thơ, một câu nhạc, người nghe tưởng chừng tác giả đã viết được một cách dễ dàng lại chính là những câu, những lời, người sáng tác mất nhiều công phu nhất. Tản Đà và bài thơ Tống Biệt chẳng hạn, là một trường hợp điển hình. Nghe nói, câu cuối của bài thơ này, khi mới làm, Tản Đà đã viết là: “Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi”. Mười năm sau ông mới sửa được chữ “soi” bằng chữ “chơi”. Và câu thơ trở thành: “Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”. Câu thơ hay hơn nhiều.
Và người ta gọi cái chữ “chơi” ấy của Tản Đà là “thần tự”. Trở lại với Tô Vũ. Ngoài mấy ca khúc chúng ta thường nghe, ông còn một ca khúc nữa rất được yêu mến, ký tên thật của ông là Hoàng Phú, đó là bài Ngày Xưa. Đây là một trong những bài sử ca hay nhất của Việt Nam, có thể dung cho các chương trình giáo dục.
Nói chung, qua nhạc, chúng ta biết một Tô Vũ tâm hồn nhậy cảm, phóng khoáng và rất nghệ sĩ. Có thể nói, bằng những sáng tác của mình, Tô Vũ đã
nâng nghệ thuật viết ca khúc của Việt Nam nói chung lên cao hơn một bực. Ông cũng được coi là một trong những nhạc sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta. Mỗi chữ, mỗi câu, ông đều viết xứng hợp với những giai điệu trau truốt của ông, hình ảnh, từ ngữ đều mới.
Nghe nhạc Tô Vũ người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn. Ông không triết lý, không khuyên răn ai điều gì. Nhưng cái đẹp, cái vẻ quý phái, trang trọng trong các ca khúc của ông, tự nó, làm thành một giới hạn. Người ta hiểu rằng người ta phải vượt qua cái giới hạn ấy mới thẩm nhập được vào cái đẹp, cái cao quý và, nhất là, nghệ sĩ luôn là một loài chim hiếm.
Tất cả các ca khúc của Tô Vũ, chúng ta được biết được nghe, đều đã được ông viết ra trước năm 1954. Sau đó, không biết ông có bao nhiêu sáng tác nữa, song không thấy được phổ biến. Nhưng chỉ với mấy bài Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ, Tiếng Chuông Chiều Thu, Ngày Xưa, cũng đủ để chúng ta gửi tới ông một bông hồng tạ ơn.
Riêng những người đã có dịp nghe nhạc hay hát nhạc Tô Vũ vào lúc đang được sống trong tình, thì chắc sẽ không phải chỉ có một bông hồng tạ ơn, phải không hỡi em yêu dấu?
Trong cuộc lữ hành, Vương hổ tướng nghĩ cho con đi theo là dại nhưng thực ra chàng không dám để con ở lại sợ có bọn người nào nham hiểm có ác ý gì chăng. Cho con về nhà các anh chơi, chàng băn khoăn, lo lắng không kém gì lo về tính mệnh con. Chàng sợ thằng nhỏ yếm nhiễm tính ươn hèn ủy mị của tụi trẻ con các anh, tính so kè, đê tiện, tham lam về tiền bạc của hạng con buôn. Chàng ra lệnh cho anh lính sứt môi không được rời con chàng một bước, chàng chỉ định mười anh lính già đã mãn, ngày đêm phải túc trực trông nom cậu nhỏ. Chàng dặn con phải đem sách ra học như khi ở nhà.
Chàng lưỡng lự chưa dám bảo con: “Chỗ nào có đàn bà, con gái không nên lai vãng đến” chàng không hiểu thằng nhỏ đã có những ý nghĩ về chuyện đàn bà chưa. Trong những năm chàng để con sống bên cạnh chàng ở trong tư thất, không có bóng dáng một người đàn bà, con hầu, con ở … ngoài mẹ và chị, thằng nhỏ tuyệt nhiên không biết một người đàn bà nào khác. Mấy năm gần đây sự thăm nom của mẹ cũng thưa thớt, mỗi lần cậu đến thăm mẹ cũng có vệ sĩ đi kèm theo. Chàng dùng những phương pháp độc đoán đó để bảo vệ con, cho sống riêng biệt, chàng có lòng đố kỵ muốn độc quyền sở hữu đứa con, khác nào như bọn đàn ông có máu ghen không muốn ai được dòm ngó, xâm phạm đến vợ mình. Mặc dù trong thâm tâm có sự lo ngại e dè, Vương hổ tướng cũng cảm thấy sung sướng hãnh diện lúc chàng cưỡi ngựa đến nhà anh, có thằng con cũng cưỡi ngựa đi sát bên mình. Chàng có ngông ý bảo thợ may cắt cho con một bộ quần áo đúng như của chàng, cũng cái áo bằng vải ngoại quốc có khuy đồng to, cũng gù vai, cũng đội chiếc mũ như chàng trên có gắn phù hiệu. Năm cậu nhỏ mười bốn tuổi, nhân ngày sinh nhật con, chàng cho người sang Mông Cổ sắm hai con ngựa giống nhau như hệt, chỉ khác một con lớn, một con nhỏ, hai con ngựa rất khỏe, cùng một màu da hung hung đỏ, cùng một thứ mắt trắng và lanh. Khi hai cha con đi ngoài phố, thiên hạ đứng lại ngắm xem, chàng thấy lời tán
thưởng của dân chúng, nghe rất mê ly như một bản đàn gảy bên tai:
– Kìa nhìn coi một vị lãnh chúa già, một vị lãnh chúa nhỏ sao mà giống nhau thế kia, khác nào như hai chiếc răng cửa.
Hai cha con chàng đến cổng nhà anh Cả, cậu nhỏ nhảy xuống ngựa cùng một lúc với cha, cùng một cử chỉ như cha, cũng đưa tay lên chuôi kiếm, cũng dáng điệu uy nghi lẫm liệt đi bên cạnh cha, cậu không ngờ cậu lại có thể giống cha như đúc, khác nào như bóng với hình.
Hai anh niềm nở đón tiếp chàng, các cháu nghe tin chú về lần lượt kéo nhau đến chào. Chàng liếc nhìn mọi người, nhận thấy những con mắt cảm phục nhìn con chàng, chàng khoái cảm khác nào người đang khát được chén rượu ngon. Mấy hôm sau ở nhà anh, chàng để ý xem xét các con anh, chàng không thể còn ngờ vực, có quan niệm rất chắc chắn con chàng hơn tụi trẻ này nhiều lắm; sự so sánh, suy nghiệm đó đem lại cho chàng thêm tinh thần phấn khởi, hăng hái vì đứa con độc nhất. Còn có nhiều lý do khác làm tâm thần chàng thêm phấn khởi.
Con trai lớn anh Cả bây giờ đã có vợ, chưa được đứa con nào, cả hai vợ chồng ở chung một nhà với anh chị Cả. Cậu này hao hao giống cha, đã thấy có bụng, tấm thân phì nộn, nõn nà có một lần mỡ bao phủ. Cũng như cha, cậu có vẻ uể oải, bần thần. Cậu buồn vì gia đình lủng củng, không có hòa khí, vợ đối với cha mẹ không ra thế nào, cô ả cậy là gái tân thời, có óc tự do tân tiến đối với mẹ chồng hỗn xược, khinh bỉ.
Khi không có ai cô thường hét vào tai chồng:
– Anh đừng có tưởng, dễ thường tôi là môn hạ cho con mụ già hợm ấy hở? Hắn không mở mắt ra mà xem, thời buổi này, con gái bây giờ không phải hầu mẹ chồng đâu nhớ.
Cô ả này không kiêng nể mẹ chồng một tí nào. Vẫn cái giọng hách dịch lỗi thời, chị Cả bảo con dâu:
– Khi tôi còn trẻ như cô, tôi phải hầu hạ mẹ chồng, bổn phận làm con ăn ở cho phải đạo, sáng nào tôi cũng phải bưng khay trà lên mời cụ xơi nước, ấy cũng nhờ thế tôi đã học được cách pha trà. Cô ả nghe nói hất mớ tóc ngắn ra sau gáy, đôi chân xinh xinh, không bị bó, đập xuống nền nhà thình thịch nói cong cớn, rất ngạo mạn vô lễ:
– Đàn bà chúng tôi bây giờ không phải quy lụy đứa nào hết.
Ấy những chuyện xích mích như thế, làm anh chàng rất buồn bực khổ tâm. Cậu này không còn dám quen thói như trước kia đi chơi, đánh bài đánh bạc, đĩ bợm để giài sầu; cô ả biết hết những nhà hát xướng, hồng lâu, thanh lâu những chỗ nào cậu thường hay lai vãng. Cô ả này lại bạo dạn, dám đi theo chồng ra tận ngoài phố, la hét ầm đường, nào là đàn bà ngày nay không phài cổ lỗ như ngày xưa, buồng the, không dám ló mặt ra ngoài, nào là nam nữ bình quyền tự do … Nghe tiếng the thé của cô ả, dân phố đổ xô lại xem lấy
làm thú vị. Cậu xấu hổ quá không còn dám thò đi đâu mà đi đâu cô ả cũng lẵng nhẵng theo sau. Cô này có máu ghen khiếp đảm, cận thúc thủ không dám giở một thủ đoạn nào, con hầu con ở con nào có mẽ người, cậu không dám dòm ngó. Bạn bè nào mà kéo cậu đi chơi hồng lâu, lúc trở về thì thật
khổ, cô vợ vừa kêu gào, bù lu bù loa khóc lóc làm loạn cả nhà. Một hôm anh chàng thổ lộ nỗi can tràng đau khổ cho bạn nghe, bạn xui khôn:
– Mày cứ dọa già mày phải lấy vợ lẽ đi. Tao cho thế là ăn chắc, đàn bà mà chồng phải đòi lấy vợ lẽ là ê lắm.
Nghe bùi tai, cho là đắc sách, cậu tuyên bố với cô vợ non, ý muốn tìm nàng hầu, chẳng thấy cô ả ê một tí nào, cô nổi ngay cơn tam bành, hai mắt trợn trừng, nguýt dài, thét om:
– Thời buổi như thời buổi ngày nay, đàn bà chúng tôi không thể nào tha thứ một chuyện kỳ dị quái gở ấy được. Cậu chưa kịp nghe ra sao, cô ả đã chồm chồm nhảy lên như con mèo vồ mồi, xỉa xói, hai bàn tay xinh xắn búp măng
tát lấy tát để vào hai má bánh đúc của cậu, cào trên mặt bốn vết dài đỏ ửng, cậu vừa đau vừa xấu hổ quá, năm hôm liền không dám ló mặt ra ngoài. Không dám phản công lại, đem bêu xấu bêu hổ con vợ cho bõ ghét vì há miệng mắc quai, bạn cậu chính là anh ruột cô, cha cô chính là ông Chánh Cẩm có quyền thế nhất tỉnh.
Nhưng đến đêm, anh yêu vợ đáo để, cô ả nằm thu hình nép sát bên cạnh anh, nom dễ thương quá, ỏn ẻn bên tai, làm như có vẻ hối hận lắm, cơn tức của anh chàng nguội dần rồi tiêu tan hết, cậu mê ly yêu quá, lắng tai nghe cô vợ thủ thỉ.
Cô tán hươu tán vượn, xui chồng xin tiền cha, có tiền cả hai vợ chồng ra chơi ít lâu ở một hải cảng trên bãi biển, sống theo lối mới với bọn trai thanh gái lịch. Nghe hay quá, y kế thi hành cậu vòi tiền cha, lần đầu không được, cô xúi bắt phải năn nỉ hỏi cho bằng được. Muốn cho êm thấm cửa nhà, khỏi ỳ èo, anh Cả phải nhượng bộ; để có tiền cho con, anh chỉ còn một cách là đem đoạn mại một phần ruộng còn sót lại. Cô ả mới nghe thấy bố chồng ừ ào cho tiền, suốt ngày chỉ lắp bắp nói những chuyện đi chơi, tấp nập sửa soạn hành lý, ba hoa khoe ở ngoài bãi biền thích lắm, có nhiều thú chơi, bọn phụ nữ ăn mặc rất đài điến, lịch sự. Nàng cần phải may một chiếc áo dài mới, một áo choàng lông thú cho hợp thời trang, quần áo mặc ở nhà tồi tàn, cổ lỗ, có mặc được họa may ở xó nhà quê như ở đây. Anh chồng nghe nói thích quá nao nức muốn đi ngay để ngắm những kỳ quan, hưởng những lạc thú, cả em trai chồng cũng mơ màng muốn được như cặp uyên ương này đi thừa lương ngoài bãi biển.
Phong vị nhà anh Hai (Vương thương gia) khác hẳn, con cái ăn mặc xuềnh xoàng, nhũn nhặn, buổi chiều ở cửa hàng về, ngồi chơi trên những chiếc ghế thấp, ngắm chú và con chú. Vương hổ tướng thấy trong lòng sung sướng được tụi trẻ con nhà anh trố mắt nhìn con chàng đeo chiếc đoản kiếm mạ vàng. Thỉnh thoảng cậu nhỏ lại phải tháo chiếc đoản kiếm đặt trên đùi cho tụi trẻ nhỏ mân mê xem vỏ kiếm. Trong ngôi nhà của thân phụ chàng, hai anh vẫn được đường hoàng, sung túc tựa như nạn đói không có ở trên trái
đất này, đồng ruộng không bao giờ ngập lụt, không có ai bị đói khổ. Song anh Cả (Vương điền chủ) và anh Hai (Vương thương gia) cũng đều biết ở mạn trên có nạn lụt lội, đói kém ghê gớm. Vương hổ tướng trình bày cho hai anh những khó khăn của chàng, lý do cuộc viếng thăm nhà lần này. Chàng nói:
– Bước gian nguy này các anh cứu được tôi ra tức là các anh tự cứu. Thế lực của tôi là bùa hộ mệnh cho các anh.
Hai anh cùng thông cảm câu nói đó, rất đúng, rất chí lý. Ngay trong tỉnh có hai anh em họ Vương ở cũng có dân đói, trong bọn đó có nhiều người thâm thù anh em nhà này. Họ ghen ghét Vương điền chủ vì anh có ruộng đất, ai cày cấy ruộng anh phải chia huê lợi cho anh, thật anh ngồi mát ăn bát vàng. Bọn nông dân cày sâu cuốc bẫm, hai sương một nắng, bao nhiêu mồ hôi nước mắt tạo ra được hột thóc, họ tưởng thuộc quyền sở hữu của họ. Nhưng khi lúa chín, họ phải chia sẻ một nửa cho một người ở ngôi nhà trên tỉnh, ung dung chỉ ngồi chờ thu huê lợi, lại những năm mất mùa, đói kém cũng đòi phần thóc chia. Những năm anh Cả còn nguyên cả số ruộng cho đến năm anh phải bán một phần lớn ruộng, anh không có khả năng làm một điền chủ. Một người như anh, chí lự bạc nhược, không biết suy nghĩ, tính toán,
lúc tức chỉ biết chửi bới, cãi lộn với bọn tá điền. Anh ghét cay ghét đắng bọn tá điền, anh ghét cái nghề làm ruộng chỉ vì anh thường hay túng thiếu tiền nong ăn tiêu trong gia đình, tiền anh tiêu xài riêng, bọn tá điền cố ý không bao giờ chia phần anh đầy đủ, thế nào cũng lươn khươn chịu lại ít nhiều. Bọn tá điền cũng ghét anh ghê lắm đến nỗi mỗi lần thấy anh đến, họ ngửa mặt lên trời, lẩm bẩm:
– Có hung thần đến kia, thể nào hôm nay trời cũng mưa.
Họ còn dám thóa mạ ngay trước mặt anh:
– Đối với ông cụ, ông là một người con bất hiếu. Ông cụ khi xưa lúc trở về già ơn trời giàu có, còn biết thương người nghèo. Ngày xưa ông cụ cũng làm ăn lam lũ vất vả như chúng tôi. Ông cụ cho mướn nhà, có thúc bách tiền nong bao giờ, những năm mất mùa, một hạt thóc ông cụ cũng không thèm đòi. Còn ông, ông sướng từ trong trứng sướng ra, ông có biết khổ là cái gì, ông chẳng có một chút từ tâm hỉ xả. Họ thâm thù anh, sự phẫn uất căm thù bộc lộ trong năm lụt, đói kém. Đêm nhà anh cổng đóng thật kỹ, họ còn kéo đến gọi cửa, họ nằm lăn ngay trên bực thềm, rên rỉ:
– Ông ơi, chúng tôi sắp chết đói cả, nhà ông có gạo ăn, có gạo nấu rượu, ông ơi.
Có bọn đi rong ngoài phố đến trước cửa nhà anh Cả, giữa ban ngày ban mặt nói to cho nghe thấy:
– Bọn nhà giàu nó vơ vét của mình, nó hút máu tụi mình, nếu có thể chúng mình sẽ giết hết.
Lúc đầu hai anh em họ Vương cũng không để ý mấy, sau thấy ngày nào cũng thế; để đề phòng biến cố có thể xảy ra, hai anh em phải thuê lính ở tỉnh đến gác cổng, cấm người lạ không được vào nhà. Về cuối năm đó, nhiều nhà giàu ở tỉnh và ở quê bị cướp, trộm cướp nổi lên như rươi, ngang nhiên hoành hành táo bạo cũng như mọi năm trời làm mất mùa đói kém. Tuy nhiên hai người con Vương Long vẫn được yên ổn, vì ông chánh cẩm chỉ huy quân đội trong tỉnh, gả con gái thông gia với họ nhà này, Vương hổ tướng, một lãnh chúa cũng ở gần đó. Bọn dân nghèo đói không dám động chạm đến anh em họ Vương, họ chỉ ta thán và nguyền rủa.
Túp nhà đất thuộc về họ Vương cũng được yên ổn, không bị bọn dân nghèo đói đến cướp phá. Gian nhà này ở trên một gò cao không bị ngập, suốt cả mùa đông năm ấy có nạn thiên tai hồng thủy, Hoa Lê vẫn sống ở đó với hai người, nàng bảo trợ. Cả vùng ai cũng biết Hoa Lê là một người nhân đức, giàu lòng bác ái, ai cũng biết nàng không có gì, vẫn phải xin trợ cấp lương thực ở nhà họ Vương. Nhiều người đói khổ chèo thuyền nan đến, nàng cũng chẩn cấp, nuôi cho ăn.
Một hôm, Vương thương gia đến túp nhà đất bảo nàng:
– Lúc này tình thế nguy hiếm lắm, trộm cướp nhiều quá hay cô hãy tạm dọn lên ở ngôi nhà trên tỉnh?
Hoa Lê nét mặt lúc nào cũng điềm đạm, nàng ung dung trả lời:
– Tôi nghĩ chả có gì đáng sợ, tôi phải ở đây vì có nhiều người khác còn trông cậy vào tôi.
Cũng một khi nàng sợ lắm; đói rét năm đó mỗi ngày một khốc liệt, có nhiều người đói quá, tuyệt vọng, gió rét dữ dội, nước lạnh buốt mà phải nằm trên chiếc thuyền nan, trên mảnh xuồng gỗ, bám bíu vào các ngọn cây, họ thấy nàng vẫn nuôi thằng Bướu với con dở người tuy tay họ cầm cơm, gạo nàng chẩn cấp, họ cằn nhằn ngay trước mặt nàng:
– Lúc này cô còn phải nuôi lũ ngợm này ư? Cô không biết có hàng bao nhiêu người với một hai đứa con sống sót, đang ngắc ngoải chờ chết.
Những lời tức tối than phiền lúc đầu còn nhẹ nhàng nàng không để ý, nhưng ngày nào cũng nghe họ nói có vẻ dọa nạt, Hoa Lê hoang mang, nàng nghĩ không biết có nên dắt hai đứa nàng bảo trợ này lên tỉnh không? Để hai đứa ở đây e một ngày kia, bọn dân đói ghen tức hai đứa ăn báo cô vô ích, họ sẽ giết chết, mà những đứa này yếu đuối chống chọi làm sao nổi. Con bé dở người năm nay đã ngần ấy tuổi mà hình dáng như một con bé nhỏ, hạng này có khi chết thình lình, đột ngột, bất đắc kỳ tử. Một hôm con bé (dở người) đang ăn cơm vừa ăn vừa cuộn chơi mảnh vải, chập choạng chạy ra ngoài cổng, đến chỗ mô đất nó thường ngồi chơi, lúc đó, chỗ ấy bị ngập, nó không biết, ngã lăn xuống nước. Hoa Lê vội vàng chạy lại lôi nó lên, nước lạnh buốt, con bé bị cảm hàn. Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ. Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:
– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.
Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.
Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:
– Bây giờ ý bà định thế nào?
Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:
Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ.
Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:
– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.
Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.
Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:
– Bây giờ ý bà định thế nào?
Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:
– Từ lâu tôi đã nói, khi nào con bé qua đời, tôi sẽ vào ở chùa. Tôi quen nhiều ni cô vẫn ước ao tôi đến nhập bọn. Tôi phát nguyện quy y đã lâu, được ở chùa ăn mày Phật, là tôi sung sướng mãn nguyện (nàng quay lại phía Vương điền chủ nói tiếp): ông bà cũng nên tiên liệu cho số phận thằng nhỏ (thằng Bướu). Có một ngôi chùa gần đây tôi xin cho nó ở lại đó, tôi có thể thỉnh thoảng lại thăm nom. Thằng này ốm đau luôn, hay nóng hay sốt. Các vị tăng ni một ngày hai buổi đi hành hương lên chùa làm lễ, tôi sẽ được gặp nó tuy không được nói năng, trò chuyện.
Ba anh em nhà họ Vương nhìn thằng Bướu, nó đứng níu áo Hoa Lê, thằng bé buồn thiu, con bé kia chết, không có ai làm bạn, chơi với nó. Bây giờ nó đã lớn, nhìn hai con mắt ngơ ngác, vô thần của nó, cái miệng nửa khóc nửa cười thật não ruột đau lòng. Vương hổ tướng nhìn thằng bé, lòng bùi ngùi ái ngại, chàng lại nghĩ đến con chàng tráng kiện, vạm vỡ, lòng chàng lại vừa mừng vừa buồn. Con chàng không hiểu gốc tích câu chuyện về thằng bé bị tật nguyền, cười với nó như để an ủi. Vương hổ tướng thấy cử chỉ của con, chàng cảm động, như để vỗ về thằng Bướu, chàng nói:
– Cháu ạ, nếu cháu không tật, chú đã hết lòng, nâng đỡ cháu như người anh họ cháu. Nhưng số phận cháu bị tật bệnh chú không biết nghĩ cách nào để giúp cháu. Thôi để chú đưa thêm tiền cho cháu đến chùa (chàng quay lại phía Hoa Lê) và tôi sẽ đưa thêm tiền cả phần của bà nữa, có tiền ở đầu cũng dễ chịu hơn, tôi chắc ở chùa cũng vậy, phải không bà?
Hoa Lê nhẹ nhàng trả lời, giọng nói chắc nịch:
– Tôi xin cám ơn, tôi không dám nhận, tôi ở chùa cùng với các ni cô, ăn chung, của chung, tiền bạc tôi không cần thiết. Nếu ông cho thằng nhỏ, tôi xin nhận giùm, vì nó có khi phải dùng đến tiền.
Câu nói của Hoa Lê thật tế nhị, ngụ ý kín đáo trách vợ chồng Vương điền chủ bỏ rơi thằng con, số tiền hai vợ chồng anh bố thí cho mẹ con nó quá ít ỏi. Nếu anh Cả có nhận ra câu nói đó là ngụ ý ám chỉ mình, anh cũng lờ như không hiểu, anh thản nhiên ngồi chờ để về nhà trên tỉnh. Anh người đẫy đà, to béo, đứng lâu mệt không chịu được, anh cần phải ngồi. Vương hổ tướng, hai mắt chăm chú nhìn thằng bé, chàng lại nói:
– Thế cháu có muốn đi ở chùa thật không hay cháu muốn ở đâu?
Thằng bé thấy hai con mắt to và dữ của chú, bất giác nó sợ, cúi gằm mặt xuống, nó ngắm lại thân hình tàn phế của nó, chậm rãi trả lời:
– Vâng, thời đành vậy, không ở chùa thì còn biết ở đâu (nó nghĩ một lát nói tiếp) có lẽ cái áo tràng nhà chùa có thể che kín được cái bướu ở lưng.
Chàng lại trố mắt nhìn thằng cháu, chợt nghĩ nhìn mãi không nên, chàng quay phắt người đi thẳng ra cửa. Đêm hôm đó Vương hổ tướng ở nhà hai anh, trước khi đi ngủ chàng đến bên giường con nằm. Cậu nhỏ này hãy còn
thức, thấy cha đến cậu hỏi:
– Thưa cha, cái nhà đất đằng ấy có phải cũng của ông nội con không?
– Phải, khi tao nhỏ đã ở đấy, sau ông làm được ngôi nhà này mới kéo cả lên tỉnh ở.
Cậu nhỏ đưa mắt lên đình màn, hai tay chắp sau gáy gối đầu, ngoảnh cổ lại phía chàng, hai mắt hau háu, hăm hở hỏi:
– Cái nhà ấy con thích lắm, ý con muốn được ở một gian nhà như thế xung quanh đồng ruộng, cây cối, trâu bò.
Vương hổ tướng nghe nói chối tai, chàng nói, chàng không để ý có vẻ hậm hực, vì thực ra con chàng cũng không nói gì là không phải:
– Tao xem mày nói mày không hiểu gì hết. Vẫn hay lúc nhỏ tao ở đó, nhưng sống trong cảnh tối tăm, ngu muội, tao mới tìm cách thoát ly bay nhảy.
Cậu nhỏ lại cố gân cổ nói thêm:
– Thế mà con thích … Con biết ở đấy thích lắm, hợp với ý con.
Mấy câu này tỏ sự nhiệt tâm, cuồng vọng của cậu, Vương hổ tướng thấy bực mình khó chịu, hầm hầm đứng dậy đi ra.
Đêm hôm đó, cậu bé ngủ mơ màng như đã sống ở túp nhà đất, giữa cánh đồng ruộng bát ngát. Hoa Lê lên tu ở trên chùa, thăng Bướu (con anh Cả)
cũng đến ở một ngôi chùa khác gần đó, gian nhà cũ kỹ bằng đất, từ nay vắng bóng ba người đã chung sống ở đó hằng bao nhiêu năm trời. Họ nhà Vương Long, không còn ai ở gian nhà đất, bây giờ chỉ có hai vợ chồng người tá điền già ở đó.
Một đôi khi bà già vợ người tá điền dành dụm được một chiếc bắp cải đã úa hay một nắm bột, gói vào mảnh vải con, đem lên chùa dấm dúi biếu Hoa Lê. Bà này đã sống gần gũi nàng, làm cho nàng hằng bao nhiêu năm, rất mến phục nàng, một người thùy mị phúc hậu. Ngay trong năm trời gây ra thiên tai, lụt lội, đói khổ, bà già vơ vét, có được một tí gì cũng thu thu đứng ở cổng ngóng chờ Hoa Lê đi ngang. Bây giờ nàng ăn mặc nâu sòng, theo như các ni cô, một chiếc áo tràng màu xám. Gặp được nàng, bà lão níu lấy, thều thào nói:
– Còn mỗi một con gà, nó vừa đẻ được một quả trứng, tôi vẫn để phần cô.
Vừa nói bà thò tay vào bọc lôi ra một quả trứng bé tí, thu thu giấu ở tay đưa cho Hoa Lê bắt phải cầm. Bà nói thều thào như có vẻ dỗ dành:
– Ăn ngay đi, cô ạ. Tôi thề với cô tôi nói thật, có khối các ni cô đã phát nguyện rồi mà vẫn ăn mặn, cả sư nữa nhiều ông vẫn còn rượu thịt. Đi vào đây, trong này kín, không ai nom thấy, cô nghe tôi cứ mút sống, trứng mới bổ lắm … Tội nghiệp, nom cô xanh lắm.
Hoa Lê từ chối không nhận, nàng đã phát nguyện quy y Tam Bảo, nguyện theo đúng tam quy ngũ giới, nàng khẽ lắc đầu, chiếc đầu nhẵn bóng, đội chiếc mũ xám hai tay mềm mại, sẽ sàng đẩy nhẹ tay bà lão nói:
: – Không bà ạ, bà còn cần hơn tôi, dù rằng tôi ăn không phạm giới, tôi ăn mày Phật, ăn uống đầy đủ. Mà dù có thiếu thốn, tôi cũng không dám ăn, tôi đã nhất tâm phát nguyện.
Nói thế nào bà lão cũng không nghe, bà bỏ tọt quả trứng vào khe áo trên ngực nàng, áo nàng mặc, vạt trước vắt ngang sang bên thắt lưng ra ngoài phía trên áo khác nào như một cái túi lớn. Bỏ được quả trứng vào lòng nàng, bà lão vội vã nhảy xuống xuồng đẩy ra giữa dòng, bà ngoảnh lại nàng, cười có vẻ đắc chí lắm.
Độ nửa giờ sau, Hoa Lê đem quả trứng đó bố thí cho một người đàn bà hành khất trông rất tiều tụy, lội nước cố men vào bờ ở trước cửa chùa. Người này ôm một đứa nhỏ, vạch vú cho con bú, hai cái vú trông rất thiểu não như hai miếng da nhăn nheo, đeo lủng lẳng trước ngực. Người đó đến trước cửa chùa kêu xin bố thí. Hoa Lê nghe tiếng vội chạy ra:
– Bà xem hai vú con, trước kia tròn trĩnh căng sữa, thằng bé này mũm mĩm như con chút chít.
Hoa Lê nhìn thằng bé, lèo nhèo, nhợt nhạt như xác chết, hai môi cố ngoạm chiếc vú da không còn một giọt sữa. Lẳng lặng, Hoa Lê rút trong bọc lấy ra quả trứng đưa cho người đàn bà, người này được của bố thí tốt quá, hí hửng, sung sướng. Hoa Lê sống một cuộc đời mới êm đềm bình thản, trong lòng lâng lâng của một kẻ tu hành, Vương hổ tướng từ nay không có dịp nào gặp nàng. Trong năm đó, có nạn hồng thủy, nạn đói hoành hành dữ dội, Vương hổ tướng ở vào một tình cảnh thập phần nguy ngập nếu Vương thương gia có thiện chí, rất có thể dễ dàng giúp chàng ra khỏi bước nguy nan. Hiện, anh Hai (Vương thương gia) có rất nhiều kho thóc dự trữ. Trời làm tai ương, lụt lội, trong khi thiên hạ lầm than, lâm vào cảnh túng quẫn đói rét, trái lại đối với anh Hai lại là một dịp để làm giàu. Như anh có tài tiên tri, biết trước cơ trời, anh tích trữ thóc để bán một giá rất đắt cho bọn nhà giàu. Anh không ngờ tới, đã thu được những món tiền khổng lồ, nhiều quá không còn biết dùng làm gì, anh chán ruộng đất không muốn tậu, đem cho nông dân vay rất nặng lãi bắt phải bảo đảm bằng vụ gặt năm tới. Khi nước rút ra, ruộng cày cấy được, có lẽ bao nhiêu thóc lúa trong vùng này thuộc về tay anh hết.
Tuy anh giúp đỡ bọn nông dân qua cơn đói, anh cũng biết họ vẫn ngấm ngầm căm ghét anh. Anh cũng biết trong tình thế hiện tại anh cũng cần nhờ uy danh của Vương hổ tướng, một lãnh chúa, bảo trợ tính mệnh, gia sản cho anh. Vì thế anh cũng phải buộc lòng cho Vương hổ tướng vay một số thóc rất lớn và một số tiền quan trọng, lời lãi phải chăng không quá hai mươi phân một đồng. Hai bên điều đình thỏa thuận lập khế ước ở trà thất, lúc đó anh Cả cũng có ở đấy, thấy tiền nong thóc lúa anh phát ngốt, thở dài bảo Vương hổ tướng:
– Chú Ba ạ, anh cũng ước ao được giàu có như chú Hai nó, sự thật đau đớn anh mỗi ngày một sa sút. Anh không có nghề như chú hai nó, anh chỉ có một chút tiền đặt lời còn một ít ruộng của cha để lại. Nhưng thôi cũng đáng mừng trong họ nhà ta cũng còn có người giàu có.
Anh Hai (Vương thương gia) nghe thấy anh Cả (Vương điền chủ) than phiền, anh nhếch mép cười chua chát, anh này có tính nói thẳng không chịu suy nghĩ, không biết lựa lời, anh nói:
– Nếu tôi được dư chút ít là vì tôi ra công chịu khó làm ăn, con cái tôi cũng phải làm, tập buôn tập bán, không có dám đua đòi lụa là, mà tôi cũng chỉ có một vợ.
Anh Cả tuy mấy năm gần đây tính cũng xuề xòa dễ dãi nhưng anh không chịu câu nói khích bác đó, anh biết hắn móc máy xỏ ngọt mình, ruộng nương bán dần bán mòn, bán cả ruộng để cho con đi chơi đú đởn ở ngoài bãi biển. Anh tức đầy ruột, nhịn không nổi anh nói to:
– Hừ, cha phải nuôi con cái chứ sao? Phải rồi, tôi yêu con tôi quá nên đang tuổi thanh niên của chúng nó, tôi cùm hãm, bắt chúng nó tối ngày ngồi sau quầy hàng. Nếu tôi thương cháu nội của cha, dễ thường tôi để chúng chết đói hở? Bổn phận tôi phải nuôi các con tôi … À mà phải rồi, có lẽ tôi không biết bổn phận vì tôi cho nó sung sướng như con nhà quan. Hừ!
Anh không nói được nữa! Đang gào, cơn ho nổi lên; mấy năm nay anh vẫn có chứng ho, mỗi lần lên cơn, đờm kéo lên, anh ho như xé ngực. Ngồi yên được một lúc, anh ngẫm nghĩ vẫn thấy tức, hai con mắt mở tròn xoe, như gắn sâu vào hai chiếc má bánh đúc, cái cổ to núc ních dần dần đỏ ửng. Anh
Hai hơi nhếch mép cười, đôi môi mỏng quẹt xám ngoét, anh biết anh Cả tức lắm vì câu anh nói kháy, anh ngồi yên không nói gì.
Khi công việc vay mượn đã điều đình xong, điều kiện đã được hai bên đồng ý, chấp thuận, anh Hai ngỏ ý muốn lập văn tự vi bằng. Vương hổ tướng nghe nói lập văn tự, văn khế, chàng kêu lên:
– Ô hay! Thế chúng mình không phải anh em ruột thịt hay sao mà còn vẽ làm văn tự?
Vương thương gia khéo vờ vịt, như để chữa:
– À, để ghi cho nhớ, độ này tôi đãng trí, hay quên lắm.
Anh vừa nói vừa đưa cho Vương hổ tướng ngọn bút lông, chàng không thể nào từ chối, phải biên tên vào văn tự.
Anh Hai lại vừa cười vừa nói:
– À quên, chú có đem theo con dấu không nhỉ?
Vương hổ tướng muốn cho xong chuyện kéo ở giây lưng con dấu bằng đá có khắc tên chàng, cầm dấu đóng vào văn tự nợ. Vương thương gia lúc đó mới chịu cầm văn tự, gấp lại nhét cẩn thận vào hầu bao.
Trước những cử chỉ ti tiện, hiềm nghi, Vương hổ tướng tuy có được mãn nguyện những điều chàng ước vọng, chàng nghĩ giận lắm chàng thề nhất định phen này phải mở mang bờ cõi, chàng nghĩ đáng tiếc mấy năm qua bỏ phí quá vì thế bây giờ mới bị tùy thuộc một người anh. Nhưng hiện giờ nhờ có sự cứu trợ, đoàn quân của Vương hổ tướng được bảo toàn, chàng bảo con và bọn vệ binh sửa soạn trở về bản doanh.
Lúc đó đang giữa mùa xuân, nước đã rút, đất đã khô tất cả dân quê nóng lòng chờ có mạ để cấy, họ như đã quên cái rét ghê gớm vừa qua, họ đã quên những người xấu số thiệt mạng, tất cả ngưỡng vọng vào mùa xuân mới.
Vương hổ tướng cũng nóng lòng muốn có sự đổi mới, chàng xin kiếu từ hai anh về bản trại. Hai anh mở tiệc khoản đãi chàng lên đường.
Sau bữa tiệc, chàng vào gian phòng thờ tổ tiên, đốt nến, thắp nhang. Khói hương nghi ngút, chàng kính cẩn làm lễ trước bàn thờ cha, và bảo thằng con theo chàng làm lễ. Ngắm con cử chỉ nghiêm trang, dáng điệu đường hoàng,
nghiêng mình làm lễ khấu đầu, chàng cảm thấy lòng tự hào khoan khoái mãnh liệt.
Ánh nến rung rinh, khói hương thơm ngát, chàng tưởng như tiền nhân ở cả trên bàn thờ chứng kiến thằng cháu họ Vương, chàng cảm thấy như đối với tổ tiên, chàng đã làm tròn nhiệm vụ. Khi làm lễ xong, hương đã hết, hai cha con Vương hổ tướng lên ngựa, cùng bọn tùy tùng thẳng đường về bản trại,
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.